Trái tim của hiểu biết

Dẫn nhập

Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa này tôi đã trì tụng trên bốn mươi năm, có lẽ hơn thế nữa, nhưng nghĩa của kinh đối với tôi vẫn còn thậm thâm vi diệu.

Đây là một bản kinh rất quan trọng, là một bức thông điệp của Đức Bồ Tát QUÁN THẾ ÂM gửi cho chúng ta. Chúng ta có thể đang có văn bản trong tay hoặc đã thuộc lòng nó, nhưng chưa chắc ta đã nhận được thông điệp của Ngài.

Hôm nay chúng ta có cơ hội cứu xét nội dung kinh. Sự thành công hay không của chúng ta hôm nay tùy thuộc ở sự kiện chúng ta có nhận thức thanh tịnh hay là không. Nhận thức thanh tịnh là nhận thức cần thiết để có thể hiểu được những lời Bụt dạy. Hôm qua quý vị đã nghe câu chuyện một người cha trẻ đánh mất đứa con. Câu chuyện này cũng được kể trong cuốn Tương Lai Văn Hóa Việt Nam:

Kinh Bách Dụ kể chuyện người lái buôn góa vợ vì dại dột mà đánh mất đứa con trai yêu quý. Đứa con trai ấy còn nhỏ tuổi, một hôm trong khi cha đi vắng bị kẻ cướp bắt cóc. Trước khi rút lui, kẻ cướp đốt nhà và đốt xóm. Khi người lái buôn về tới, ông ta thấy một tử thi thiếu nhi cháy đen ở đống tro tàn. Trong cơn hoảng hốt, ông ta cho đó là tử thi con ông. Ông khóc kể và làm lễ hỏa táng tử thi, rồi vì thương con quá, ông cất tro xương và một cái túi gấm, và đi đâu cũng mang theo mình. Mấy tháng sau, vào lúc nửa đêm, đứa con trai thoát được tay kẻ cướp và tìm về gõ cửa đòi vào. Người cha lúc ấy đang âu sầu ôm chiếc túi gấm đựng tro, không chịu đứng dậy mở cửa. Ông ta tin chắc con mình đã chết, và đứa trẻ đang gõ cửa xưng con ngoài kia là một đứa trẻ hàng xóm nào đó đang cố tình trêu ghẹo ông. Vì vậy, đứa con trai phải thất thểu ra đi, và người lái buôn kia vĩnh viễn mất con.

Bụt dạy: “Ôm lấy một kiến thức và cho đó là chân lý tuyệt đối tức là bít lấp tiến trình học hỏi và giác ngộ”.

Câu chuyện đó cho ta thấy nếu chúng ta ôm chặt những kiến thức sẵn có của chúng ta rồi thì ta không còn cơ hội để có thể tiếp đón chân lý nữa. Vì vậy hôm nay ta có cơ hội hay không là do ta có thể mở lòng ra và thoát ly được những cái thấy và cái nghe của ta trước đây hay không.

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh là quà tặng của Đức Bồ tát Quán Thế Âm. Đức Quán Thế Âm là một người biết lắng nghe, chính nhờ sự lắng nghe của Ngài mà Ngài thành đạo. Chúng ta trong những ngày qua cũng đã tập lắng nghe. Thứ nhất là tập lắng nghe chuông, rồi lắng nghe những âm thanh khác. Nhưng khả năng lắng nghe của ta tới đâu rồi thì chúng ta tự biết, nhìn vào những người khác mình cũng có thể nhận biết được phần nào.

Khi nghe một ý kiến gì, mình thường lấy nhận thức của mình so sánh với ý kiến đó. Nếu ý kiến người ta đưa ra phù hợp với ý kiến mình sẵn có trong lòng thì mình cho là ý kiến đó có thể chấp nhận được; còn khi người ta nói câu gì không phù hợp với nhận thức mình sẵn có thì mình không chấp nhận. Cũng giống như khi chơi banh, ta liệng banh vào tường, tường dội trái banh lại, tường không bao giờ chấp nhận trái banh. Nếu ta có những kiến thức chấp chặt, ta không thể tiếp nhận những ý kiến khác với ý kiến của ta nữa. Do đó mình phải biết thu hồi bức tường của mình lại để trái banh có thể vược qua.

Trong thiền học, những câu tuyên bố của các vị thiền sư lắm khi có vẻ động trời động đất, và chúng trái chống với nhận thức sẵn có của mình. Khi nghe một câu như vậy, nếu mình đưa kiến thức của mình so sánh, suy tư rồi bác bỏ thì mình sẽ mất cơ hội tiếp nhận. Cho nên mình phải cận thận lắm.

Trong bản kinh này Đức Bồ tát Quán Tự Tại là một thiền sư, và Ngài nói những câu nói rất động trời, nhưng chính vì Ngài có uy tín, nên khi nghe những câu đó chúng ta không dám cãi lại. Chúng ta bị uy hiếp bởi uy tín của Ngài. Nếu đó là do một người nào khác nói không mang danh Bồ tát Quán Tự Tại, có lẽ chúng ta sẽ gân cổ cãi lại cho đến cùng.

Hiểu danh từ
 

Trước khi đi vào kinh Tinh Yếu Bát Nhã ta cần duyệt qua một số danh từ. Những danh từ này giống như một giấy thông hành, nếu không nắm được ta sẽ không thể đi vào trong kinh; ta sẽ bị chận lại xét hỏi.

Danh từ đầu tiên là NGŨ UẨN tức là năm yếu tố kết hợp nên con người chúng ta: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Sắc là cơ thể của chúng ta và những giác quan trong cơ thể đó. Thọ là những cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu cũng không khó chịu. Tưởng là tri giác của chúng ta. Hành là tất cả những tâm tư của chúng ta gồm luôn cả thọ và tưởng. Thức là nhận thức của tâm ta.

Trong những ngày qua, ta đã học sơ lược về sắc, thọ và tưởng. Hôm nay ta đi sâu hơn một tí nữa vào tưởng, nhờ văn bản của Đức Quán Thế Âm Bồ Tát.

MƯỜI TÁM GIỚI là mười tám lãnh vực của hiện hữu. Ngoài mười tám lãnh vực của hiện hữu đó, không có gì nữa hết. Sáu lãnh vực đầu là sáu căn, tức là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; làm căn cứ phát xuất từ sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Đối tượng của sáu căn là sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Sáu căn là để đối với sáu trần, và khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì phát sinh ra sáu thức như ta đã học. Tất cả vạn pháp đều nằm trong mười tám giới đó. Tất cả thế gian, tất cả vũ trụ, vạn hữu đều nằm gọn trong vòng mười tám giới đó. Giới thứ nhất là mắt và giới cuối cùng là ý thức. Hai danh từ đó được vòng lại trong ngoặc đơn để quý vị biết cái đầu tiên là mắt, cái cuối cùng là ý thức. Trong Kinh Tinh Yếu quí vị sẽ đọc: “Không có mười tám giới, từ nhãn đến ý thức”.

Còn THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN là mười hai điều kiện liên hệ với nhau, nối tiếp nhau, tương sinh, tương diệt. Duyên đầu tiên là vô minh và duyên cuối cùng là lão tử, ở giữa có mười nhân duyên khác là hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sinh.

TỨ ĐẾ là bốn sự thật: khổ, tập, diệt và đạo. Khổ là sự có mặt của những đau khổ trong cuộc đời. Tập là những nguyên nhân xa hay gần đưa đến đau khổ. Diệt là sự vắng mặt của khổ đau, sự an lạc do công trình diệt khổ đem lại. Đạo là con đường, là phương pháp để thực hiện sự an lạc đó. Trí là prajna mà chúng ta đã học hôm qua, đó là Bát Nhã, là cái hiểu biết.

ĐẮC là sự chứng đắc, đạt được.

SỞ ĐẮC là cái đối tượng hoặc kết quả mà chúng ta đạt được.

Vào kinh
 

Bây giờ chúng ta hãy đi vào Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa

KINH TINH YẾU tức là Tâm kinh, cái cốt lõi của kinh.

TÂM có nghĩa là cốt tủy, tinh tuý, cái lõi. Ví dụ hạt sen có cái tim sen ở trong. Tim sen đó gọi là liên tử tâm.

Tại sao gọi đây là Tâm kinh, cốt lõi của kinh, là Kinh Tinh Yếu? Vì đây là một bản văn rất ngắn gọn, tóm tắt ý nghĩa toàn bộ ĐẠI BÁT NHÃ rất lớn, đọc năm này sang năm khác mới hết, và chưa chắc là đọc như thế là ta nắm được đại ý. Tâm kinh tức là đại ý cô đọng của toàn bộ Bát Nhã.

BÁT NHÃ là trí tuệ.

BA LA MẬT ĐA là đáo bỉ ngạn, là có khả năng đưa chúng ta đi sang bờ bên kia, bờ của sự giải thoát, không còn bị buộc ràng, không còn bị sai sử.

BÁT NHÃ BA LA MẬT là trí tuệ có khả năng đưa chúng ta đến bờ giải thoát, vượt khỏi sự sợ hãi. Đức Quán Thế Âm nổi tiếng là một người hay trao tặng cho chúng sanh món quà quý giá: đó là món quà vô uý. Vô uý là sự không sợ hãi.

Theo đạo Phật có ba loại quà ta có thể trao tặng người khác. Loại quà thứ nhất là quà vật chất (tiền bạc và của cải), gọi là tài thí. Loại quà thứ hai mà mình có thể trao tặng là giáo pháp của đạo Phật để người tu hành có thể thoát khổ, đó gọi là pháp thí. Nhưng món quà lớn nhất mà ta có thể trao tặng làm cho người kia đừng sợ hãi nữa, đó là vô uý thí.

Bát Nhã Tâm Kinh là một món quà. Chúng ta có khả năng tiếp nhận món quà đó hay không? Đó là vấn đề, người tặng thì đã tặng với tất cả tấm lòng, còn người nhận đã sẵn sàng để tiếp nhận chưa?

Quý vị có thể tưởng tượng một em bé cầm cục kẹo trong tay, cầm hoài mà không biết ăn. Mẹ nó mới nói rằng: “Ăn kẹo đi con, kẹo ngon lắm đó, ăn đi con!”. Rồi cũng không chắc là đứa bé đã biết ăn kẹo.

Tâm Kinh Bát Nhã là một kinh văn quan trọng mà chúng ta đã từng đọc tụng, có khi hàng mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm. Nhưng chúng ta thực sự tiếp nhận và hành trì được kinh ấy chưa? Đó là một câu hỏi lớn.

BỒ TÁT QUÁN TỰ TẠI

Bồ Tát là một người tỉnh thức (Bồ Tát từ chữ Bodhisattva mà ra, có nghĩa là con người tỉnh thức và đang giúp người khác tỉnh thức). Quán Tự Tại là tên Đức Quán Thế Âm (Avalokiteshvara). Quán Tự Tại là dịch theo kiểu mới, người xưa dịch là Quán Thế Âm.

KHI QUÁN CHIẾU THÂM SÂU BÁT NHÃ BA LA MẬT

Khi Ngài thực tập một cách thâm sâu về Prajana Paramita, tức là thứ Trí Tuệ có thể đưa chúng ta đến bờ bên kia.

TỨC DIỆU PHÁP TRÍ ĐỘ

Trí là sự hiểu lớn, Độ là có khả năng đưa ta qua bờ bên kia.

BỖNG SOI THẤY NĂM UẨN ĐIỂU KHÔNG CÓ TỰ TÁNH

Khi thực tập diệu pháp trí độ. Ngài phát hiện ra một điều là năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đều không có tự tánh riêng biệt của chúng, cái này nương vào cái khác mà có, không thể nào mỗi cái tự mà có được. Điều đó rất quan trọng. Không có hiện tượng nào tự mình có thể phát sinh và tồn tại, mà phải nhờ những hiện tượng khác mới có thể hiện hữu.

Trong kinh A Hàm, Bụt dạy: “Vì cái này có nên cái kia có đó, vì cái này không nên cái kia không, vì cái này sinh nên cái kia sinh, vì cái này diệt nên cái kia diệt” (Thử hữu tắc bỉ hữu, thử vô tắc bỉ vô, thử sinh tắc bỉ sinh, thử diệt tắc bỉ diệt). Những lời của Bụt tuy đơn sơ nhưng thâm thúy vô cùng. Đây là đạo lý nhà Phật về sự sinh trưởng và tồn tại của thế giới hiện tượng. Nếu đem nhận thức đó so sánh với nhận thức về sáng tạo thế giới của các tôn giáo, ta thấy đạo Bụt hoàn toàn khác biệt với các tôn giáo khác.

THỰC CHỨNG ĐIỀU ẤY XONG, NGÀI VƯỢT QUA TẤT CẢ MỌI ĐAU KHỔ, ÁCH NẠN

Thực chứng tức là thấy một cách trực tiếp, chứ không phải thấy bằng học hỏi và suy luận. Thí dụ như khi chúng tôi mời quý vị ăn sầu riêng, một thứ trái cây mà trước kia quý vị chưa bao giờ thưởng thức. Tôi nói rằng: “Đây là trái sầu riêng xin quý vị nếm”. Quý vị trực tiếp nếm sầu riêng, biết được thế nào là mùi sầu riêng. Còn nếu quý vị chưa bao giờ nếm sầu riêng như thế này, như thế kia, khác vị mít ở chỗ nào, giống vị cam như thế nào, thì dù tôi có nói suốt ngày, quý vị không thực chứng được mùi sầu riêng. Trong đạo Bụt đó được gọi là lý luận, tức là luận suông. Thực chứng, vì thế, là phải thực sự sống và nhận thấy rõ mình không thể là một cá thể riêng biệt tách rời với những cái ta nghĩ “không phải là ta” như không khí, mặt trời, như rừng, như những người xung quanh ta và ngay cả những người mà ta xem là thù nghịch. Thực chứng cũng không có nghĩa là đứng bên ngoài và nói suông rằng những cái đó có liên hệ với ta. Thực chứng phải là tương nhập hẳn vào da thịt của người kia, là đồng nhất với hiện tượng đó, thực chứng để tương nhập vào người đó để hiểu những cảm thọ, những tri giác và những vận hành của tâm thức người ấy mà sống có hòa điệu không tạo thêm đau khổ cho mình, cho người ấy và cho vũ trụ vạn vật.

Sau khi tự quán chiếu năm uẩn, Ngài đạt được cái thấy trực tiếp về năm uẩn. Tất cả những đau khổ tai nạn, Ngài đột nhiên vượt qua thoát hết và Ngài hoàn toàn giải thoát, sang tới bờ bên kia. Sở dĩ Ngài đạt tới bờ bên kia của sự giải thoát, của sự không sợ hãi, là chỉ nhờ Ngài thấy được một điều, một điều thôi: thấy được trong năm uẩn không có uẩn nào có tự tánh riêng biệt, năm uẩn nương vào nhau mà có.

Khi chứng nghiệm được chân lý cao siêu và mầu nhiệm đó, Ngài gọi thầy Xá Lợi Phất tới.

XÁ LỢI PHẤT là một trong những vị đại đệ tử của Bụt, tên tiếng Phạn là Sariputra, Ngài nói:

NGHE ĐÂY XÁ lỢI TỬ, SẮC CHẲNG KHÁC GÌ KHÔNG, KHÔNG CHẲNG KHÁC GÌ SẮC, SẮC CHÍNH THỰC LÀ KHÔNG, KHÔNG CHÍNH THỰC LÀ SẮC, CÒN LẠI BỐN UẨN KIA CŨNG ĐIỀU NHƯ VẬY CẢ.

Ban đầu Ngài nói về Uẩn thứ nhất, tức là sắc, là thân thể của chúng ta. Sắc là tất cả những hiện tượng sinh lý, vật lý. Trong kinh văn, chữ gây khó khăn cho nhiều người nhất là KHÔNG. Chữ KHÔNG ở đây, tiếng Phạn là Sunyata, dịch tiếng Việt là trống rỗng. Dịch ra chữ “không” cũng được, nhưng chữ “không” lại là một sự hiểu lầm: không có thể được hiểu là không có. Thí dụ chúng ta nói trái banh nó trống rỗng ở trong, nó rỗng ruột, đó là Sunyata. Nhưng mà có trái banh chứ. Có điều trái banh đó rỗng ruột mà thôi. Thành ra sau này nếu các học giả tương lai của Phật giáo Việt Nam đổi được chữ “không” thành chữ “rỗng” sẽ giúp được thế hệ tương lai nhiều lắm. Chữ rỗng hay hơn chữ không. Tiếng Anh dịch là empty. Empty là rỗng. Thí dụ chén trà empty thì vẫn có chén trà. Chữ empty (rỗng) không gây ra ấn tượng là chén trà không có mặt. Danh từ không trong tiếng Hán Việt cũng có nghĩa là rỗng. Như không tâm chẳng hạn. Không tâm tức là rỗng ruột: ví dụ rau muống gọi là không tâm thảo, thứ rau không có ruột. Khi chuyển sang dùng tiếng Việt, chúng ta có thể hiểu lầm “không” này là “không có”.

Thí dụ tờ giấy này đây, nó là một sắc pháp, một hiện tượng vật chất. Theo Quán Thế Âm Bồ Tát thì tờ giấy nó không, tức là rỗng. Nhưng chữ “rỗng” (chữ “không”) đó nghĩa là gì?

Nhiều người không hiểu Phật pháp nói rằng tờ giấy này nó “không có”, tại vì tuy bây giờ nó có đó, nhưng mai mốt nó sẽ không có; hoặc nó bị đốt đi, hoặc bị mục đi thành đất, cho nên tuy nó có đó mà cũng như không có đó. Câu giải thích này hoàn toàn sai với giáo lý đạo Bụt.

Theo giáo lý đạo Bụt, nếu tờ giấy này nó “không” thì nó không ngay từ bây giờ chứ không phải sau này nó mới không. Danh từ là đương thể tức không. Giáo lý đạo Bụt cơ bản là giáo lý vô ngã: sự vật không có tự thể riêng biệt (separate entity). Nếu mình nhìn vào tờ giấy này với con mắt của một vị Bồ Tát biết nhìn sâu vào trong lòng tờ giấy để thấy cội nguồn của nó, mình sẽ thấy có một đám mây đang bay trong tờ giấy này. Mình cũng không cần là thi sĩ mới thấy được đám mây, vì mình biết nếu không có đám mây thì không có mưa, cây rừng sẽ không thể mọc lên được, do đó chúng ta không có bột giấy. Nhìn vào tờ giấy này ta còn thấy mặt trời, vì nếu không có mặt trời chiếu lên thì không có loài thực vật nào mọc được, cho nên nhìn vào tờ giấy này, ta sẽ thấy ánh mặt trời chói lọi trong đó. Rồi ta còn thấy rừng cây xanh mướt, thấy những chiếc lá rụng, mục đi để cây rừng tươi tốt, ta thấy những chất khoáng trong lòng đất mà rễ cây hút lên để nuôi cây. Rồi ta thấy người tiều phu đã đốn cây đem về để làm bột giấy, thấy Ba Má của ông tiều phu (bởi vì nếu không có Ba Má ông tiều phu thì làm gì có ông tiều phu). Ta thấy luôn gạo lúa mà người tiều phu ăn hàng ngày để có thể đủ sức đi đốn cây.

Tóm lại, khi nhìn tờ giấy này bằng con mắt quán chiếu nhân duyên, ta thấy rằng không có hiện tượng nào trên vũ trụ mà không có mặt trong đó hết. Và tờ giấy này, nói cho đúng, nó đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó.

Khi dùng danh từ giấy, ta nên phân biệt hai thứ: một là tờ giấy và hai là thế giới không phải là giấy, những yếu tố không phải giấy. Ta có thể nói rằng: giấy được kết hợp bằng những yếu tố không phải giấy. Giấy là do những yếu tố không giấy tạo ra, giấy không thể tự có được. Giấy không có tự tánh hoặc có thể tự riêng biệt.

Nó có là nhờ những cái không phải nó bắt tay nhau tập hợp làm ra. Tờ giấy này tuy rỗng, không có tự tánh riêng, nhưng nó lại đầy cả vũ trụ vạn hữu trong đó. Vì vậy chữ “không” trong Tâm Kinh Bát Nhã chỉ có nghĩa là không có một tự thể riêng biệt.

Khi chúng ta nói rỗng thì phải nói rỗng cái gì mới được (empty means empty of something). Thí dụ mình nói trái banh trống rỗng, nhưng mình biết nó rỗng gì. Nó trống rỗng chất nhựa trong lòng nó, song trái banh nó đầy không khí. Vậy rỗng phải là rỗng cái gì. Tờ giấy này tuy trống rỗng cái tự ngã riêng biệt, nhưng nó lại đầy cả pháp giới vạn hữu trong nó.

Một vị thiền sư Việt Nam đời Lý có hai câu thơ:

Càn khôn rút lại đầu sợi tóc,
Nhật nguyệt nằm trong hạt cải mỏng.

Một sợi tóc tuy nhỏ mà có thể để cả trời và đất lên trên đầu nó. Một hạt cải tuy nhỏ nhưng mặt trăng và mặt trời có thể nằm gọn ở trong đó. Đây có nghĩa là bất cứ hiện tượng nào dù là một hạt cải, một sợi tóc chăng nữa, cũng có chứa đựng toàn thể vũ trụ, vì một cái là do tất cả những cái khác làm thành. Mỗi người trong chúng ta đều do cả vũ trụ hợp tác nhau làm thành. Không một hiện tượng nào trong vũ trụ vạn hữu mà không có mặt trong ta.

Trong ta có dòng sông (nếu không có dòng sông thì làm sao ta có nước uống), có mặt trời (nếu không có mặt trời thì làm sao có sự sinh trưởng của cây trái để mình ăn), có rừng cây (tạo ra dưỡng khí cho mình thở) v.v. Trong ta có đủ hết: vũ trụ vạn hữu đã nắm tay nhau để đưa chúng ta ra đời. Danh từ đạo Phật là Nhân Duyên Sinh, tức là những điều kiện phối hợp với nhau, cộng tác với nhau để làm cho mọi vật có mặt.

Uẩn nào trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) cũng không hết, vì uẩn nào cũng không thể tự mình tồn tại độc lập. Uẩn nào cũng phải nhờ các uẩn khác phụ giúp mới có thể có được.

Đồng xu có hai mặt: mặt trái và mặt phải. Sở dĩ có mặt phải là nhờ có mặt trái. Nếu một trong hai mặt mà không có thì mặt kia cũng không có luôn. Trái và phải nương nhau mà có. Con xúc xắc có sáu mặt, nhưng kỳ thực sáu mặt mà là một. Mặt này có là nhờ mặt kia, và sáu mặt nương nhau mà có.

Năm uẩn cũng vậy, chúng nương nhau mà có, chứ không thể có một cái tách rời. Ngày xưa, hồi sáu tuổi đi học, trong bài giảng khoa học đầu tiên tôi nghe cô giáo dạy: thân thể người ta chia ra làm ba phần: đầu, mình và chân tay. Hồi đó tuy nhỏ, nhưng tôi thấy rất là kỳ. Thân thể của mình mà chia ra làm ba phần như vậy (đầu riêng, mình riêng, tay chân riêng) thì làm sao mà chia được?

Năm uẩn cũng không thể chia ra như thế. Chia là để tạm hiểu thôi, chứ năm cái đó không thể nào tồn tại độc lập với nhau. Trong con người chúng ta, có đủ tâm, can, tỳ, phế, thận: tuy chia ra làm năm cái nhưng kỳ thực nếu không có tâm thì can có thể tồn tại được không? Nếu không có tỳ thì phế có được hay không? Tuy rằng năm mà kỳ thực là một. Những cơ quan trong cơ thể ta không thể tồn tại độc lập, cái này nương cái kia mà có. Vì thế Bụt dạy rằng: Thử hữu tắc bỉ hữu. Cái này có mặt cho nên cái kia có mặt, cái kia có mặt cho nên cái này mới có mặt. Tất cả mọi hiện tượng trong vũ trụ đã phối hợp lại để làm thành một hiện tượng. Nguyên nhân vũ trụ không phải một mà rất nhiều, nhiều trùng trùng vô tận.

Quan niệm một vị thần linh sáng tạo ra vũ trụ không phù hợp với nguyên tắc nhân duyên sanh của đạo Bụt. Khi ta nói thần linh sáng tạo ra vũ trụ, ta nghĩ rằng vị thần linh này không cần ai và không cần gì sáng tạo ra hết; điều này trái với định luật nhân duyên sinh. Khi nghe đạo Bụt phân tích con người chúng ta làm năm yếu tố Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức, chúng ta phải biết rằng đó là phân tích tạm để chỉ cho chúng ta phương thức tu học, chứ không phải nói rằng những yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức có thể tồn tại độc lập ngoài nhau.

Không sự vật nào trong vũ trụ có tự tánh riêng biệt hết. Đó là giáo lý căn bản của đạo Bụt.

Danh từ mà chúng ta lâu nay thường dùng trong dịp này là vô ngã.

Vô ngã tức là không có sự tồn tại độc lập. Không có cái gì, không có ai tồn tại độc lập được. Vô ngã còn có nghĩa là vô thường.

Vô thường là biến chuyển. Nếu không có biến chuyển thì làm sao có được. Thí dụ tờ giấy này. Nếu không vô thường và vô ngã, làm sao tờ giấy có mặt? Nếu không vô thường thì cây làm sao mọc lên. Muốn mọc lên cây phải vô thường.

Nếu không vô thường thì con cháu chúng ta làm sao lớn lên, làm sao chúng đi học mà lại giỏi được?

Chúng ta cần vô thường lắm. Nếu không có vô thường thì làm sao gieo bắp mà hạt bắp mọc thành cây bắp để rồi cho trái mình ăn? Cho nên ta đừng than khóc khi nghe hai tiếng “vô thường”.

Bụt đâu có nói rằng: “Vạn vật vô thường, các con hãy khóc đi”. Bụt chỉ nói rằng: “Vạn pháp vô thường, các con phải biết điều đó để tránh những khổ đau là do chỗ mình nhận cái vô thường làm cái thường. Nếu mình biết vô thường là vô thường thì mình đâu còn đau khổ nữa”.

Vô thường là một yếu tố rất tốt đẹp, rất căn bản, rất quan trọng, rất cần thiết cho sự sinh hoá của vạn vật. Và như vậy, chúng ta phải chấp tay cám ơn vô thường.

Lâu nay chúng ta nói đến hai chữ vô thường với một tâm niệm bi quan, chán đời, than vãn, vì chúng ta chưa hiểu. Chính nhờ vô thường mà vạn vật sinh trưởng tồn tại, và chúng ta có thể ngồi đây. Nếu không có chữ vô thường, chúng ta chưa ra đời được đâu.

Và chữ “không” cũng vậy, nó hay lắm. Nếu tờ giấy này nó không không, nghĩa là nó có tự thể riêng biệt của nó, thì làm sao có nó được. Chính nhờ nó không có tự thể riêng biệt nên mặt trời, rừng cây, đám mây mới tạo ra được nó. Do đó, “không” là căn bản của tất cả mọi hiện hữu. Một triết gia Phật giáo nổi tiếng ở thế kỷ thứ hai, một vị tổ sư của đạo Phật, Ngài Long Thọ, đã tuyên bố một câu rất hay trong cuốn Đại Trí Độ Luận: Nhờ có không mà mọi pháp đều có mặt hết (Dĩ hữu không nghĩa cố, nhất thiết pháp đắc thành). Quý vị phải xoá bỏ cái ấn tượng mà hai chữ vô thường để lại trong tâm chúng ta, xoá bỏ những cảm tưởng buồn bã, bi quan, chán đời. Và chúng ta biết rằng vô thường và không rất là cơ bản trong sự hiện hữu của vạn sự, vạn vật trong vũ trụ.

NGHE ĐÂY XÁ LỢI TỬ: SẮC CHẲNG KHÁC GÌ KHÔNG.

Nếu quý vị hiểu được không là gì rồi, thì khi nghe nói sắc chẳng khác gì không, mình sẽ cảm thấy vui sướng quá, vì biết rằng nhờ không mà có sắc. Và làm như nói sắc chẳng khác gì không chưa đủ nên Ngài lập lại: không chẳng khác gì sắc. Còn lại bốn uẩn kia, cũng đều như vậy cả.

Có hai em bé ở bên Canada, nghe bà nội đọc Tâm Kinh, ngang đó không hiểu nên tìm tới hỏi ba: “Thưa ba, bà nội đọc: sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc… tụi con chẳng hiểu gì hết”. Ba chúng mới ráng sức cắt nghĩa: “Này con, ví dụ bàn tay mình có năm ngón, đây là ba, đây là má, đây là bà nội, đây là hai con. Đứa con lớn tên là Mây Bay, đứa con nhỏ tên là Quyên Quyên. Giả dụ như ba bệnh thì tất cả mọi người trong gia đình đều buồn khổ hết phải không? Nếu con bị sốt thì tất cả đều buồn. Vì vậy nên tuy năm mà là một. Cái gì xảy ra cho một người là xảy ra cho tất cả mọi người. Sắc chẳng khác gì không, không chẳng khác gì sắc, sắc chính thực là không, không chính thực là sắc có nghĩa là tất cả chúng ta đều có trách nhiệm đối với nhau.

Bé Quyên Quyên nói rằng: “À, như vậy là đúng rồi. Mỗi khi chị Hai đánh con tức là chị Hai đánh chị Hai phải không Ba?” Ba nó nói: “Đúng như vậy, khi chị Hai đánh con tức là chị Hai tự đánh chị Hai và chị Hai đánh tất cả những người trong gia đình. Vậy cho nên, nghe đây con: Mây Bay tức là Quyên Quyên, Quyên Quyên tức là Mây Bay, Quyên Quyên chẳng khác gì Mây Bay, Mây Bay chẳng khác gì Quyên Quyên, còn lại bà nội, ba, má tất cả đều như vậy”. Ông ta nói giống hệt như trong Tâm Kinh. Quyên Quyên bảo: “Như vậy con phải học thuộc câu thần chú này, mỗi khi chị Hai sắp sửa đánh con thì con nói: Nghe đây chị Hai, Quyên Quyên chẳng khác gì Mây Bay, Mây Bay chẳng khác gì Quyên Quyên, Quyên Quyên chẳng khác gì ba, ba chẳng khác gì Quyên Quyên…”.

XÁ LỢI TỬ NGHE ĐÂY: THỂ MỌI PHÁP ĐỀU KHÔNG.

“Thể” là cái bản chất. Vạn pháp tức là mọi hiện tượng. Mặt trời là một pháp, dòng sông, hạt bụi, hòn sỏi, sự suy trí, sự thương, sự ghét, con mắt lỗ tai cũng đều là pháp.

Thể mọi pháp đều không: bản chất của mọi hiện tượng đều không, nghĩa là không có tự tánh riêng biệt.

KHÔNG SINH CŨNG KHÔNG DIỆT

Các pháp chưa bao giờ sinh ra hết, cũng không bao giờ diệt. Câu nói này của Đức Quán Tự Tại đi ngược với nhận thức thông thường của chúng ta. Chúng ta thường nghĩ cái gì cũng có sanh, cái gì cũng có diệt, và sinh diệt là cái mà chúng ta thấy hàng ngày. Vậy tại sao Đức Quán Thế Âm lại nói không sinh cũng không diệt?

Thực sự sinh có nghĩa là từ không mà trở thành có. Nếu mình có rồi thì mình đâu cần phải sinh nữa?

Nếu không có sinh tức là không có diệt.

Cô Như Ý đang ngồi trước mặt tôi đây sinh ngày 2-10-1972. Ta thử hỏi: Vậy trước ngày này, cô đã có chưa? Nghĩ cho chín, ta thấy cô đã có rồi trong bụng mẹ từ khoảng 25 tháng chạp năm 1971! Như vậy nếu là đã có rồi thì cô đâu cần phải sinh ra nữa? Cô không có mặt ở ngoài nhưng cô đã có mặt ở trong bụng mẹ cô rồi. Vậy thì ngày 2-10-1972 chắc không đúng là ngày cô sinh. Có lẽ ta phải chữa giấy khai sinh lại. Có thể ta phải thụt lùi chín tháng. Nhưng nếu ta quán chiếu tỏ tường, ta sẽ thấy Như Ý có mặt trước cả ngày mẹ cô có mang cô. Cô có mặt ở trong ba cô, mẹ cô, và ngay ở các thế hệ ông bà trước đó. Cô có mặt từ ngàn đời trước.

Có một Thiền Sư bảo học trò mình:

– Con hãy cho ta biết mặt mũi của con như thế nào trước khi chính mẹ con cũng chưa được sinh ra?

Chữ “mặt mũi” trong đạo Phật có nghĩa là chân tướng, bản thể.

Do đó câu hỏi đó mình có thể tìm về cội nguồn bản thể của mình, và mình có thể đạt được sự giác ngộ. Ta thấy rằng đi tìm ngày sinh của mình rất khó, vì từ cái không không thể nào trở thành cái có được. Từ ngàn xưa, Như Ý đã là một cái gì rồi, cô đã biến chuyển hoài, và hình thức hôm nay chỉ là một trong những hình thức của hiện tượng Như Ý thôi. Có thể là cô chưa bao giờ từng sinh ra hết.

Đó là sự thật mà Đức Quán Thế Âm muốn khơi mở cho chúng ta thấy. Chúng ta chưa bao giờ là số không. Đó là ý của câu: Thể mọi pháp đều không, không sinh cũng không diệt. Đã không sinh rồi thì làm sao mà có diệt?

Có thể nào mình làm cho hòn đá kia từ có trở thành không? Rất khó. Mình có thể nghiền nó thành bột, rồi rãi tung ra, nhưng đó đâu phải là biến nó thành không? Hòn đá chỉ trở thành bột đá.

Cây nhang mình đốt, nó cũng không phải đang từ có đi tới không. Mùi thơm của nhang đi vào trong không gian, nhiệt lượng của nó cũng đi vào không gian. Nó đang luân hồi. Tro của nhang sẽ đi vào đất để có thể trở thành một nụ hoa.

Một hột bụi dù nhỏ xíu đi nữa cũng không thể nào biến mất đi được. Nó chỉ biến đổi, nó có thể trở thành năng lượng và đi vào vũ trụ tồn tại dưới một hình thức khác.

Vì vậy, không ai có thể làm cho một vật từ có trở thành không, cũng như không ai có thể làm cho một vật từ không trở thành có. Thuyết sáng tạo “từ không mà thành có” không có nghĩa gì trong đạo Bụt.

Một đám mây khi gặp khí lạnh có thể cảm thấy sợ hãi, vì nghĩ rằng mình sẽ trở thành không. Sự thực không phải thế. Khi gặp khí lạnh, đám mây chỉ trở thành mưa, để rơi xuống trên ruộng đồng, trên cây cỏ, trên hoa lá, thì nó sẽ cho đó là một hình thái đi chơi rất vui sướng. Đám mây sẽ rung mình biến thành mưa một cách rất tự nhiên, rất điềm tĩnh, rất hoan lạc.

KHÔNG NHƠ CŨNG KHÔNG SẠCH

Ý niệm về nhơ và sạch cũng khác như ý niệm về sinh và diệt, nó nằm trong óc của chúng ta chứ không nằm trong thực sự.

Hôm qua trong bài học, chúng ta đã thấy rằng các ý niệm trên và dưới, Đông và Tây là những ý niệm ta có trong đầu óc chúng ta, chứ vũ trụ không có trên, không có dưới, không có Đông, không có Tây.

Khoa học gia Lavoisier của Pháp cũng đã nói rằng: “Không có gì sinh cũng không có gì mất đi”. Tuy là lời của một nhà khoa học, nhưng câu nói giống hệt như câu “không sinh cũng không diệt” của Tâm Kinh Bát Nhã.

“Không nhơ cũng không sạch” cũng vậy, chúng ta nói rằng bông hồng là thơm, là tinh khiết. Còn thùng rác thì trái lại rất hôi. Cố nhiên bông hồng là tinh khiết và thùng rác là hôi. Nhưng chúng ta cũng biết rằng chính bông hồng đó trong vòng một tuần lễ nữa sẽ trở thành một phần của thùng rác. Và thùng rác đó, nếu chúng ta biết cách làm vườn biết cách làm phân xanh, thì trong năm ba tháng sẽ trở thành những bông cúc, bông lan, bông hồng rất thơm.

Vậy khi nhìn bông hồng, và nhìn cho kỹ, ta đã thấy thùng rác. Và khi nhìn thùng rác cho kỹ, ta thấy bông hồng. Sự vật chuyển biến như vậy. Ý niệm dơ sạch là ý niệm của chúng ta. Dơ sạch còn có nghĩa là dơ sạch với ai.

Một cô gái giang hồ có thể có mặc cảm khổ đau là thân thể và tâm hồn ô uế. Cô nghĩ là cô không xứng đáng lạy Bụt. Khi tiếp xúc với người khác, cô cũng có cảm tưởng như vậy. Tuy bên ngoài cô làm ra vẻ tự nhiên nhưng bên trong cô lại có mặc cảm nhơ nhuốc. Song trong tinh thần Tâm Kinh Bát Nhã thì không có gì nhơ, không có gì sạch, và cô, nếu tu tập theo Bát Nhã, cô sẽ thấy rằng cô có thể vượt được ra ngoài dơ và sạch. Vì sao vậy? Sở dĩ cô trở nên một cô gái giang hồ, hay một cô gái bán Bar, là tại xã hội đã được cấu tạo như thế, và hoàn cảnh đưa đẩy cô phải làm nghề đó. Đất nước chúng ta, trong thời người Mỹ có mặt, đã tạo ra không biết bao nhiêu cô gái như vậy. Nói như vậy không có nghĩa là trong thời đại những người Pháp cai trị không có những cô gái giang hồ. Sở dĩ có những hiện tượng đó là vì hệ thống xã hội, cơ cấu xã hội và hệ thống kinh tế của chúng ta đã sản sinh ra chúng.

Đức Bụt dạy rằng vì cái này như thế này cho nên cái kia như thế kia, vì cái này có cho nên cái kia có, vì cái này sanh cho nên cái kia sanh, vì cái này diệt cho nên cái kia diệt. Sở dĩ cô ấy như vậy vì những người khác như thế kia. Đâu phải cô một mình chịu trách nhiệm. Tất cả chúng ta đều chịu chung trách nhiệm. Những nhà chính trị, giáo dục, kinh tế đều chịu trách nhiệm về cô hết. Sở dĩ mà ra thân thể như vậy cũng vì tất cả chúng ta. Trong chúng ta, có người có trách nhiệm nhiều có người có trách nhiệm ít, nhưng hễ còn một cô gái ăn sương, còn một anh tướng cướp thì tất cả chúng ta đều có trách nhiệm. Tại vì chúng ta sống ích kỷ ít hay ích kỷ nhiều, chúng ta không góp phần tạo môi trường và cơ cấu xã hội để giúp cho những cô bé, những chú bé nhỏ nghèo, thiếu tình thương, thiếu sự chăm sóc của cha mẹ, của học đường trở nên người xứng đáng. Nếu chúng ta mỗi người một tay, góp phần thay đổi cơ cấu xã hội, cơ cấu kinh tế, ta sẽ ngưng lại không cho sản xuất những con người như thế nữa. Nếu chúng ta tạo dựng ra được những môi trường sinh hoạt lành mạnh thì cô gái đáng thương kia có thể trở về sống đời lương thiện và lành mạnh hơn. Chỉ có ở Tâm Kinh Bát Nhã những người như cô gái đó hoặc những người đã vì thiếu trí tuệ, thiếu giáo dục mà phải phạm vào những tội lớn, những người đó mới tìm ra được con đường giải thoát mà thôi.

Chúng ta không thể nói rằng tôi rất sạch, tôi không chịu trách nhiệm về cô. Tại vì cô không biết đường đi nước bước, tại cô không cẩn thận nên lâm vào tình trạng đó thì mặc cô.

Nói như vậy là không hiểu Tâm Kinh Bát Nhã. Tâm Kinh Bát Nhã nói rằng vì cái này như thế này, nên cái kia như thế kia. Nếu là ô uế thì ô uế chung; nếu là tinh sạch thì tinh sạch chung. Đó là lý tương quan, tương duyên của vạn hữu. Hiểu như vậy ta mới có được tâm từ bi và ý thức trách nhiệm.

Chính nhờ Bát Nhã Tâm Kinh mà cô gái kia hay những phạm nhân kia có thể tự giải thoát khỏi mặc cảm tội lỗi.

Ngoài ra không có một tôn giáo nào mở được cửa giải thoát cho những người như vậy. Địa ngục sẽ chờ cô, đợi anh. Nhưng Bát Nhã Tâm Kinh lại là cánh cửa rất mầu nhiệm để giải thoát cho họ. Bông hồng chịu trách nhiệm về thùng rác và thùng rác chịu trách nhiệm về bông hồng. Hai cái tương sinh và tương tại.

KHÔNG THÊM CŨNG KHÔNG BỚT

Thí dụ như mặt trăng, chúng ta nghĩ rằng nó có khi khuyết, khi tròn. Nhưng thực ra mặt trăng luôn luôn là mặt trăng. Ta nghĩ rằng mình có thể hao mất đi hoặc có nhiều thêm lên; nhưng kỳ thực sự mất thêm đó nằm trong tư tưởng của chúng ta, chứ không nằm ở đâu cả. Chúng ta đã mất gì sáng qua và sẽ được gì sáng nay? Chỉ có sự biến chuyển mà thôi, không có sự còn mất hoặc thêm bớt.

CHO NÊN TRONG TÁNH KHÔNG KHÔNG CÓ SẮC, THỌ, TƯỞNG, CŨNG KHÔNG CÓ HÀNH, THỨC.

Năm uẩn đều có bản tánh không. Không có uẩn nào có thể tồn tại độc lập. Một uẩn có mặt là do bốn uẩn kia có mặt.

KHÔNG CÓ NHÃN, NHĨ, TỈ, THIỆT, THÂN, Ý (SÁU CĂN)

Đó là sáu giới đầu tiên của mười tám giới.

KHÔNG CÓ SẮC, THANH, HƯƠNG, VỊ, XÚC, PHÁP (SÁU TRẦN)

Đó là sáu giới thứ hai

KHÔNG CÓ MƯỜI TÁM GIỚI TỪ NHÃN ĐẾN Ý THỨC

Tức là cái thấy đến ý thức. Mười tám giới, từ nhãn giới cho đến ý thức giới, đều nương nhau mà được thành lập. Không giới nào có thể tồn tại độc lập. Một giới có mặt là do mười bảy giới kia có mặt. Chữ không ở đây có nghĩa là không có sự tồn tại biệt lập.

KHÔNG HỀ CÓ VÔ MINH, KHÔNG CÓ HẾT VÔ MINH, CHO ĐẾN KHÔNG LÃO TỬ, CŨNG KHÔNG HẾT LÃO TỬ

Bốn câu này nói về mười hai nhân duyên. Nhân duyên thứ nhất là vô minh, nhân duyên thứ hai là lão tử. Vô minh không thể nào tự mình có được, mà phải do mười một nhân duyên kia đưa nó ra đời. Và trong tất cả những nhân duyên khác cũng không có cái nào tự nó có được; cái nào cũng phải do những nhân duyên khác đưa đến. Vì vậy trong mười hai nhân duyên, nhân duyên nào cũng có tánh không.

KHÔNG KHỔ, TẬP, DIỆT, ĐẠO

Bốn sự thật (tứ đế) cũng có tự tánh không. Mỗi sự thật cũng dựa trên ba sự thật khác để thành lập, và vì thế bốn sự thật đều không, nghĩa là không có sự có mặt riêng biệt.

KHÔNG TRÍ CŨNG KHÔNG ĐẮC VÀ CÓ SỞ ĐẮC

Trí tuệ cũng như sự u mê phải nương nhau mà có.

Chỗ này chúng ta phải để ý lắm mới có thể hiểu được. Những cặp chống đối được nêu ra như là: sinh diệt, nhơ sạch, trong ngoài, trên dưới, phải trái, đông tây … Những cặp chống đối đều thuộc về nhận thức của chúng ta thôi, chứ không thể áp dụng trong sự thật.

Như nói về Đông Tây, có nhà triết học bảo rằng: Đông là Đông, Tây là Tây, Đông Tây không bao giờ gặp nhau. Nhưng theo diệu lý Bát Nhã thì Đông và Tây đều là không hết, nhờ Đông mà có Tây, nhờ Tây mà có Đông. Chẳng hạn điểm mà tôi chỉ bằng ngón tay đây là Đông hay là Tây? Nếu đứng bên này thì nó là Đông còn đứng bên kia thì nó là Tây. Do đó Đông Tây là một, sao có thể nói Đông Tây không gặp nhau? Chúng đâu cần phải gặp nhau vì Đông tức là Tây rồi.

Theo nhãn quan Bát Nhã, chúng ta nhìn phải trái và chánh tà cũng bằng cách ấy.

Khi ta có khái niệm về Bụt, ta cũng có khái niệm về cái đối lập với Bụt, tức là Ma. Chúng ta thấy Bụt và Ma là hai kẻ thù. Trên sự thật, Bụt làm ra Ma và Ma làm ra Bụt. Chân lý của thực tại vượt thoát ý niệm Bụt và Ma.

Trong kinh có câu “Niết bàn sinh tử thị không hoa”. Cả hai đều là hoa đốm giữa hư không, là những ý niệm mà chúng ta có ở trong đầu. Khi quý vị tập một vở kịch cho các em trong Gia Đình Phật Tử, nếu muốn đưa Bụt ra, thì phải đưa Ma ra để làm nổi bật Bụt. Bụt cũng cần Ma để hiện hữu. Khi muốn đưa ra một vị anh hùng, ta cũng cần phải đưa ra một tên gian manh để vị anh hùng đó nội bật. Sở dĩ anh hùng, đó là anh hùng đối với tên trộm cắp, sở dĩ là trộm cắp đó là tên trộm cắp đối với anh hùng. Sở dĩ là ngày, vì cái đó đối với đêm, sở dĩ là đêm vì cái đó đối với ngày.

Kinh điển có khi diễn tả Đề Bà Đạt Đa đã tạo rất nhiều khó khăn cho Bụt trong khi Ngài còn tại thế. Có kinh điển lại nói Đề Bà Đạt Đa là phương tiện để nêu rõ những đức tánh quảng đại, quang minh của Bụt. Bóng tối rất cần để người ta biết bóng tối là cái gì. Bụt có vai trò của Bụt. Ma có vai trò của Ma. Hai bên cần nhau. Tôi có viết một câu chuyện để nói về chân lý khó nhận đó:

“Có một hôm đang đứng gác cho Bụt ngồi Thiền trong động đá, đức A Nan thấy Ma vương lững thững đi tới. A Nan đâu có thích gặp Ma, thầy chỉ muốn gặp Bụt thôi. Ông núp sau cội cây, hy vọng Ma đi lạc đường cho khoẻ, chớ nếu nó quấy nhiễu Bụt thì vô ích quá. Nhưng không biết tại sao Ma vương Ba Tuần khôn quá, nó nhắm đúng động của Bụt mà đi tới.

A Nan không thể tránh được nữa. Thầy ló mặt ra, nói: “Anh còn tới đây làm chi? Anh không mắc cỡ sao? Anh không nhớ ngày anh bị đức Thế Tôn đánh bại xiểng niểng dưới cội Bồ Đề sao? Mặt mũi nào mà tới đây nữa, anh đi đi cho rồi! Bụt không tiếp anh đâu, anh là kẻ thù của Bụt”.

Thầy A Nan nói một thôi dài như vậy, vì hồi ấy thầy còn yếu. Thiên Ma Ba Tuần cười ha hả: “Thiệt vậy hả? Bụt có nói rằng Ngài có kẻ thù hả?” A Nan lúc đó mới chột dạ: hình như thầy mình chưa bao giờ dạy mình như vậy. Kết quả, thầy nói: “Thôi anh đứng đây. Để tôi vô thông báo với Ngài”. Bụng A Nan rất buồn, vì nếu vô thông báo mà Bụt đồng ý tiếp Ma vương thì rầu lắm, nên vừa đi vô thầy vừa hy vọng Bụt sẽ bảo rằng: Ra nói với nó là Ta không ở nhà, hoặc ta đang bận hội nghị. Nào dè, khi nghe báo, Bụt nói: “Vậy hả? Thiên Ma Ba Tuần ngoài đó hả? Hay quá! Vui quá!” Và Bụt đứng dậy, đi ra ngoài, tự thân đón tiếp Ma vương. Thầy A Nan buồn lắm, đi lò dò sau Bụt, thấy Bụt chấp tay chào Ma vương (“sen búp xin tặng người, một vị Bụt tương lai”), rồi cầm tay Ma vương hỏi “Sao, lâu nay anh mạnh giỏi không? Công việc như thế nào, làm ăn ra sao?” A Nan thiệt là buồn, thầy không ngờ đức Thế Tôn lại ưu ái đối với Ma vương như vậy. Bụt kéo Ma vương vào động, phân ngôi chủ khách, mời ngồi đàng hoàng, rồi quay lại bảo thầy A Nan đi pha trà. Thầy A Nan rầu lắm. Pha trà cho đức Bổn sư một ngày ba bốn chục lượt thầy cũng vui, nhưng pha trà cho Ma vương uống thì không vui tí nào. Song thầy mình đã dạy thì mình không thể không vâng lời. Trong khi đợi nước reo, A Nan lắng nghe để biết Bụt nói gì với Ma vương. Bụt lặp lại: “Sao? Hồi nãy tôi hỏi nhưng chưa nghe anh trả lời. Anh làm ăn khá không? Anh mạnh khoẻ không?”. Ma vương mới đáp: “Rầu lắm anh ơi, tôi chán làm Ma vương quá rồi! Bây giờ tôi muốn làm một cái khác”. Bụt hỏi tại sao chán. Ma vương nói: “Anh được mặc áo cà sa tôi chỉ được mặc áo giấy. Đi với anh ai cũng vui vẻ cười nói hết, còn đi với tôi toàn là bọn ma quỷ mặc áo giấy, nếu nói thì nói ra toàn những câu lắt léo trục trặc khó hiểu. Khi thở, họ thở ra toàn những khói nghi ngờ. Rồi bây giờ bọn lâu la của tôi lại bắt đầu nói những chuyện nào là trí tuệ, giải thoát, nào là công bằng xã hội, nào là Thiền, Tịnh, đạo pháp, dân tộc … đủ thứ hết. Nên tôi chán ngấy, muốn đem tất cả đệ tử của tôi giao hết cho anh. Bây giờ, tôi không muốn làm Ma vương nữa, tôi muốn anh cho tôi làm một cái khác”.

Thầy A Nan run quá. Nếu Bụt chấp nhận vai trò Ma vương, để Ma vương chấp nhận vai trò Bụt, thì đời mình coi như là tiêu ma. Bụt nhìn Ma vương rồi trang trọng nói: “Bộ anh nghĩ mình làm Bụt sướng lắm sao? Anh có biết mỗi ngày họ dán lên lưng tôi biết bao nhiêu nhãn hiệu không? Anh có biết là người ta đã đặt vào miệng tôi những câu nói không thể nào tưởng tượng được và bảo đó là do đức Thế Tôn thuyết hay không? Anh có biết là người ta làm một cái nhà thật lớn, đặt tượng của tôi lên để thu nhận nào chuối, nào xôi, nào ổi, nào xoài không? Có khi họ còn làm một cái kiệu để tượng tôi lên đó, đoạn khiêng tôi đi ngất nga ngất ngưỡng như người say rượu từ phố này sang phố khác. Nhân danh tôi, họ làm những chuyện rầu lắm, nào hội trưởng, phó hội trưởng, ra ứng cử bên này, ra ứng cử bên kia, không chịu tu học gì hết. Tôi nghĩ là anh nên làm bổn phận của anh cho đàng hoàng. Đó là tốt nhất. Mỗi người có một phận sự đặc biệt và phải làm với tất cả lương tâm của mình”.

Nói xong, Bụt đọc lại bài kệ tóm tắt nghĩa lý Ngài đã nói. Lúc đó nước bắt đầu sôi.

Câu chuyện đó, tôi viết để làm bài tựa cho một cuốn sách của một vị linh mục dòng Tên, xuất bản bên Mỹ, tựa là A Book of Psalms. Linh mục Daniel Berrigan là một người từng tranh đấu rất nhiều cho công bằng xã hội, cho hoà bình. Tôi nghĩ rằng hay hơn hết là mình nên để độc giả bên đó biết được một chút giáo lý bất nhị của đạo Bụt, để họ biết rằng khi nào mình còn chia hai phe chánh tà, thì thế giới vẫn còn loạn lạc, đau khổ. Ở các nhà thờ Tây phương, người ta thường gây cảm tưởng rằng chúng ta là dân của Thượng đế, rằng tất cả chúng ta đều làm đúng hết. Còn kẻ thù của chúng ta ở bên Nga, bên Tàu, bên những nước không thân thiện với chúng ta, họ đều là tà ma hết. Chia ra như vậy để chúng ta rất sung sướng được đứng về phe chánh và những người kia không đứng về phe chúng ta, tức đang đứng về phe tà ma.

Quan niệm này có thể gây chiến tranh, gây sự kỳ thị trên thế giới lâu nay. Trong những phim làm cho con nít Tây phương, vai bên phía chánh có nét mặt rất Tây phương, và nhiều khi nét mặt của những người bên phe tà lại có vẻ Á Đông. Đó là một hiểm hoạ kỳ thị rất lớn mà ta phải suy xét.

Cơ Đốc Giáo hiện đang được thực tập tại các nước Tây phương là một thứ Cơ Đốc Giáo đã bị Tây phương hoá rất nhiều, theo kiểu suy nghĩ Tây phương. Nếu chúng ta không khéo thì Phật giáo cũng sẽ được nhận thức qua lối suy tư của người Tây phương, rồi Phật giáo cũng sẽ biến hình, méo mó. Chúng ta phải thực tập Tâm Kinh Bát Nhã thật kỹ lưỡng để vượt thoát khuynh hướng lưỡng nguyên của tư tưởng Tây phương.

Nguyên tắc của chúng ta là nguyên tắc bất nhị (không phải là hai). Hôm trước chúng ta đã học phương pháp đối trị với thân và tâm. Thân và tâm của chúng ta là một, chứ không phải là hai. Những cảm thọ như giận, hờn, buồn, chán v.v. không phải là tà ma mà chính là chúng ta. Chúng ta phải đối trị những cảm thọ đó với tất cả sự ưu ái và với thái độ bất bạo động, ta mới có thể đạt tới sự an lạc.

KHÔNG TRÍ CŨNG KHÔNG ĐẮC VÌ KHÔNG CÓ SỞ ĐẮC

Tại sao vậy?

Sở đắc là kết quả chúng ta đạt được từ bên ngoài. Đạo Bụt nói rằng trong một hạt bụi đã có đầy đủ tất cả trí tuệ của vũ trụ vạn hữu. Trong con người đã có đầy đủ Phật tâm, do đó cái trí tuệ mà ta muốn đạt tới, ta không phải tìm cầu ở bên ngoài, vì trong chúng ta nó đã có sẵn. Trong tự tâm chúng ta đã có sẵn một đức Bụt. Mỗi khi ngồi thiền hoặc nghe tiếng chuông, chúng ta thực tập tỉnh thức, thì tự nhiên trong chúng ta được dựng nên một thiên đường rất nghiêm trang, và đức Bụt ở trong ta tự nhiên sáng chói hào quang.

Vấn đề là không phải đi tìm những cái ở ngoài ta, mà là làm sáng rỡ đức Bụt cùng sự giác ngộ đã sẵn có trong ta. Bởi thế nên gọi là không đắc vì không có sở đắc.

KHI MỘT VỊ BỒ TÁT NƯƠNG DIỆU PHÁP TRÍ ĐỘ (BÁT NHÃ BA LA MẬT) THÌ TÂM KHÔNG CHƯỚNG NGẠI, VÌ TÂM KHÔNG CHƯỚNG NGẠI NÊN KHÔNG CÓ SỢ HÃI, XA LÌA MỌI MỘNG TƯỞNG, XA LÌA MỌI ĐIÊN ĐẢO, ĐẠT NIẾT BÀN TUYỆT ĐỐI.

Mộng tưởng điên đảo là những tri giác sai lầm của chúng ta. Chúng tạo ra những sợ hãi và căm thù mà chúng ta đã là nạn nhân trong bấy lâu nay. Hồi nãy tôi có nói về đám mây. Khi đám mây biết rằng nó không sinh cũng không diệt, thì khi thời cơ tới, nó có thể an nhiên biến thành mưa. Và khi biến thành mưa, đám mây sẽ cười thích thú mà rơi xuống trên cây cỏ, trên ruộng đồng, để làm tròn nhiệm vụ nước mưa của mình.

Những đợt sóng trên biển cả cũng là do mưa mà thành.

Đứng về phương diện sóng, ta thấy có sự sinh, sự diệt của làn sóng trên biển. Nhưng nếu những làn sóng đó quán chiếu trong tự thân mình, chúng sẽ biết rằng chúng là nước. Đứng về phương diện hiện tượng thì sóng là sóng. Đứng về phương diện bản thể thì sóng là nước. Nếu sóng thấy được mình là nước, sóng sẽ không sợ hãi sinh tử nữa, vì tuy sóng có bắt đầu và có chấm dứt nhưng nước không có bắt đầu cũng không có chấm dứt. Nếu một làn sóng khi đổ xuống. Nếu làn sóng biết mình là nước nó sẽ mỉm cười vì nó biết mình sẽ trở nên một làn sóng khác. Đã là nước, thì nào còn có lên có xuống, có to có nhỏ. Bởi vậy đợt sóng chỉ đạt được giải thoát khi đợt sóng biết mình là nước.

Một chiếc lá cây cũng vậy.

Nhưng nếu biết quán chiếu theo Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa, tờ lá sẽ thấy rằng trong suốt mùa thu và mùa hạ, nó đã làm việc hết sức mình để nuôi dưỡng cây. Chúng ta thường nghĩ lá là con cháu của cây, ít khi ta nghĩ rằng lá cũng là mẹ của cây. Sự thực lá cũng là mẹ của cây, vì chất nhựa do các rễ cây hút từ dưới đất lên, chưa thể dùng để nuôi cây được: đó chỉ là nước lã thêm các chất khoáng mà thôi. Cây đưa nhựa thô lên, phân phát cho các tờ lá. Mỗi tờ lá có nhiệm vụ biến nhựa thô thành nhựa luyện, nhựa này có thể nuôi cây được. Những chiếc lá nho nhỏ là những nhà máy dùng ánh sáng mặt trời và các chất khí trong không khí biến nhựa thô thành nhựa luyện. Màu xanh của lá cũng do mặt trời và những chất khí làm ra. Khi luyện xong nhựa, lá trả chất nhựa này vào thân cây để nuôi dưỡng cây, do đó ta có thể nói rằng lá còn làm mẹ của cây nữa chứ không phải là con của cây mà thôi.

Tờ lá có thể quán chiếu rằng sự sống của nó chủ yếu là ở trong cây, chứ không phải là chỉ ở trong lá. Lá chỉ là một phần của cây, và lá đồng nhất nó với cây. Tờ lá vàng nhìn lại bản thân và biết rằng trong giai đoạn này nó chỉ là một phần của cây mà thôi. Những chất bổ nó tạo ra bây giờ đang nằm trong cây. Nếu lá nhận thức ra rằng nó là cây, đồng nhất nó với cây, cũng như đợt sóng đồng nhất với nước, thì chiếc lá đó sẽ không còn sợ hãi, sẽ thấy được sự bất sinh bất diệt của nó khi nó rơi xuống đất. Nó sẽ rơi xuống, một cách rất thanh thản, vừa rơi vừa múa và biết rằng nó tiếp tục làm công việc nuôi dưỡng thân cây. Nó sẽ biến thành đất mùn để lại bón cho cây và sẽ trở lại cây. Như vậy, nó thấy được sự bất sinh bất diệt của chính nó.

Ta cũng vậy. Chúng ta sợ hãi vì chúng ta thấy sự sinh diệt qua nhận thức sai lạc của chúng ta: vì vọng tưởng của chúng ta về sinh diệt, nên ta mới sợ.

Nếu ta quán chiếu được tự thể của mình, biết rằng mình là bản thể của sự sống, chỉ chuyển biến chứ không có sinh diệt, tất ta vượt thoát khỏi sự sợ hãi về sinh diệt. Và chúng ta sẽ bằng lòng với bất cứ hình thức nào mà mình sẽ tiếp nhận sau này.

Tôi thấy ở Việt Nam có rất nhiều ông cụ và bà cụ chuẩn bị cho cái chết của họ một cách vui vẻ. Cụ bảo con cháu đi mua cho cụ một chiếc áo quan bằng gỗ thật tốt. Rồi cụ sung sướng đi theo con cháu tới lựa gỗ, ủy thác cho thợ mộc làm những đường viền trên quan tài. Ngày rước áo quan về nhà, cụ vui vẻ ghê lắm, bảo đặt nó ngày trong phòng mình, ngày ngày ra vào vuốt ve thích thú. Và cụ không ngại gì chui vô nằm thử xem có vừa hay không. Nhưng phần lớn chúng ta thì không làm được như vậy, chúng ta sợ lắm.

Khi một người đàn ông trở thành ông nội hay ông ngoại rồi, ông ta thấy rằng những chất liệu của mình đã truyền cho các thế hệ cháu con. Khi thấy những đứa trẻ chạy chơi trong nắng sớm ngoài bãi cỏ, ông thấy ông là những đứa trẻ đó. Rồi ông mỉm cười sung sướng, thấy rằng mình đã lên đường đi luân hồi trong con và trong cháu.

Cũng như cây chuối, ban đầu chỉ có hai lá, với cái lá thứ ba còn cuộn tròn lại. Những chiếc lá đầu làm việc hết sức, chúng dồn tất cả năng lượng để nuôi những lá khác lớn lên, và chúng luân hồi vào những lá mới. Rồi những lá mới lại làm việc để cho những lá mới khác vươn lên nữa. Khi các lá chuối đầu tiên bắt đầu vàng héo chúng rất sung sướng. Tất cả những gì đã làm được để gởi về tương lai thì chúng đã làm rồi, và chính chúng cũng đang đi về tương lai. Còn đây chẳng qua chỉ là cái dư, cái bã của đời sống mà thôi, nên chúng rũ xuống với một niềm tin.

Chúng ta cũng vậy.

Khi hạt bắp đâm chồi thành cây bắp, thì tất cả công phu của nó là lấy những chất bổ trong tự thân mình để nuôi cho cây đi lên. Hạt bắp đó sẽ đi đến sự tàn hoại. Nếu nó không tàn hoại thì làm sao đưa được cây bắp đi lên. Vì vậy, hạt bắp thấy nó đang đi lên. Cái đang tàn hoại này chẳng qua chỉ là cái bã. Hạt bắp thoát khỏi sự sinh tử, nó thấy nó đã lên đường và sẽ trở thành một trái bắp có rất nhiều hạt.

Sự quán chiếu đó, ta có thể thực hiện được. Nếu không học Bát Nhã Tâm Kinh, không học quán chiếu theo đạo Bụt, ta không thấy được sự diễn biến của các hiện tượng trong vũ trụ. Quán được như vậy ta sẽ thoát ra khỏi sinh tử, ta sẽ có một nụ cười, sẽ vượt ra cái mà ta gọi là sự sợ hãi.

Sự sợ hãi là gánh nặng đè trĩu lên kiếp người chúng ta từ lúc sơ sinh đến khi nhắm mắt. Đức Quán Thế Âm hiến tặng chúng ta kinh này với mục đích giúp chúng ta vượt thoát sự sợ hãi, sự sợ hãi sinh tử. Quán về nhân duyên sinh, ta có thể vượt thoát mọi khổ đau của sự sống.

CHƯ BỤT TRONG BA ĐỜI Y DIỆU PHÁP TRÍ ĐỘ (BÁT NHÃ BA LA MẬT).

NÊN ĐẮC VÔ THƯỢNG GIÁC

Các đức Bụt thành đạo cũng chỉ nhờ phương pháp quán sát này mà thôi, chứ không nhờ phương pháp nào nữa.

VẬY NÊN PHẢI BIẾT RẰNG BÁT NHÃ BA LA MẬT LÀ LINH CHÚ ĐẠI THẦN, LÀ LINH CHÚ ĐẠI MINH, LÀ LINH CHÚ VÔ THƯỢNG, LÀ LINH CHÚ TUYỆT ĐỈNH, LÀ CHÂN LÝ BẤT VỌNG CÓ NĂNG LỰC TIÊU TRỪ TẤT CẢ MỌI KHỔ NẠN.

Vì Quán Thế Âm thấy được tự tánh của năm uẩn đều không, nên Ngài thoát khỏi mọi khổ nạn. Ngài nói kinh này là một linh chú, một chú có đại thần lực (đại thần), có ánh sáng (đại minh), một linh chú vô thượng tuyệt đỉnh, tức không có linh chú nào cao hơn. Đây cũng là chân lý bất vọng có năng lực tiêu trừ tất cả mọi khổ nạn.

CHO NÊN TÔI MUỐN THUYẾT CÂU THẦN CHÚ TRÍ ĐỘ BÁT NHÃ BA LA MẬT.

Sau khi Ngài nói với Xá Lợi Phất như vậy rồi, Ngài bảo sẽ đọc ra một câu linh chú.

Chú, tiếng Phạn là Dharani, có nghĩa một câu nói thoát ra trong trạng thái hết sức vững chãi. Thân, tâm và ngôn ngữ hoà hợp lại trong một định lực thật lớn, một câu nói có thể thay đổi được hoàn cảnh thì gọi là linh chú.

Trong gia đình, mỗi khi người cha ngồi lại trầm tư, suy nghĩ, im lặng trong ba bốn giờ, rồi kêu các con lại và nói lên một câu. Câu nói đó phải là một câu quan trọng.

Câu linh chú quan trọng hơn, vì Đức Bồ Tát vừa ở trong định ra, Ngài đã quán sát năm uẩn, Ngài vừa mới giác ngộ, thân tâm Ngài đang ở trong trạng thái định tĩnh rất lớn. Và ở trong trạng thái đó, Ngài đã nói ra câu linh chú có năng lực chuyển biến được tâm hồn chúng ta.

Cũng như trong trường hợp hai người trẻ thương nhau. Người con gái cứ đợi ngày này qua ngày khác câu nói của chàng trai để xác định tình yêu của chàng.

Câu nói chỉ có ba tiếng thôi, nhưng đợi hoài chưa thấy anh ta nói. Anh chàng cẩn thận lắm, vì anh vốn là người rất đứng đắn, là người có trách nhiệm, anh phải xét nghiệm lại trái tim mình trước khi nói.

Nói ra ba tiếng đó là đóng đinh vào cột, nên anh đâu có thể dễ nói được, đâu phải bất cứ ở chỗ nào, bất cứ trong lúc nào anh cũng nói được. Anh phải xét nghiệm và để cho tình yêu chín muồi mới nói. Dưới một cây hoa bằng lăng, vào một buổi sáng chủ nhật đẹp trời, lúc hai người đang ngồi im lặng, tự nhiên anh mở miệng nói ba tiếng mầu nhiệm kia. Không phải chỉ nói với miệng mà anh ta nói với tất cả tâm hồn, với tất cả con người anh. Thân, khẩu, ý hợp nhất lại. Khi nghe ba chữ đó, cô nàng run lên. Đó là một câu nói rất gần với một câu linh chú.

Khi một vị Bồ Tát an trú ở trong định nói ra một câu như vậy, thì câu nói có năng lực làm chúng ta chuyển đổi tâm trạng. Nhưng chúng ta có nghe được như cô gái đó không, chúng ta có chuẩn bị để nghe câu chú đó không?

Câu chú đó là:

GATE, GATE, PARAGATE,

PARASAMGATE, BODHI SVAHA

Nghe câu chú đó, có thể chúng ta nghe như những con trâu đang ăn cỏ mà nghe đàn vĩ cầm. Câu ấy sẽ không gây ảnh hưởng nào trên ta hết vì ta chưa chuẩn bị. Ta phải tập Thiền, tập thở, tập cười, tập định lực, ngồi yên lặng, thiết lập sự thông cảm với Đức Quán Âm. Có sự thông cảm sâu xa rồi, thì câu chú được đọc lên, tâm hồn sẽ chuyển đổi.

Gate: có nghĩa là qua rồi.

Paragate: qua bên kia rồi.

Parasamgate: tất cả vượt qua bên kia rồi.

Bodhi: tỉnh thức

Svaha: tiếng reo gọi vui mừng có năng lực thúc đẩy, tương đương với tiếng chào mừng hoặc hò dô ta của mình vậy.

Bây giờ, để cảm ơn Ngài, chúng ta nên cùng tụng bài Bát Nhã Tâm Kinh để chấm dứt. Chúng ta nên tụng với tất cả tâm hồn chúng ta, đừng tụng như là hát một bản nhạc, tụng tới đâu ta phải thấy, phải hiểu tới đó mới được.

KINH TINH YẾU BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA

Bồ Tát Quán Tự Tại
Khi quán chiếu thâm sâu
Bát Nhã Ba La Mật
(tức diệu pháp Trí Độ)
Bỗng soi thấy năm uẩn
Đều không có tự tánh.
Thực chứng điều ấy xong
Ngài vượt thoát tất cả
Mọi khổ đau ách nạn.
“Nghe đây, Xá Lợi Tử:
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả.
“Xá Lợi Tử, nghe đây:
Thể mọi pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành, thức
Không có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt, thân, ý (sáu căn)
Không có sắc, thanh, hương
Vị, xúc, pháp (sáu trần)
Không có mười tám giới
(Từ nhãn đến ý thức)
Không hề có vô minh
Không có hết vô minh
Cho đến không lão tử
Cũng không hết lão tử
Không khổ, tập, diệt, đạo
Không trí cũng không đắc
“Vì không có sở đắc
Khi một vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
(Bát Nhã Ba La Mật)
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi
Xa lìa mọi vọng tưởng
Xa lìa mọi điên đảo
Đạt niết bàn tuyệt đối.
Chư Bụt trong ba đời
Y diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Nên đắc vô thượng giác.
Vậy nên phải biết rằng
Bát Nhã Ba La Mật
Là linh chú đại thần
Là linh chú đại minh
Là linh chú tối thượng
Là linh chú tuyệt đỉnh
Là chân lý bất vọng
Có năng lực tiêu trừ
Tất cả mọi khổ nạn
Cho nên tôi muốn thuyết
Câu thần chú Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Nói xong đức Bồ Tát
Liền đọc thần chú rằng:
GATE
GATE
PARAGATE
PARASAMGATE,
BODHISVAHA.


Kinh Tinh Yếu Bát Nhã do Thầy Nhất Hạnh giảng tại chùa Pháp Hoa, Adelaide Úc, ngày 23-11-1986
Lưu Hoằng Nguyện thu thanh và chép ra
Lư Thị Hồng sắp chữ.

VI. Phương pháp hành trì

Hành trì chỉ quán là để đạt tới giải thoát, tức là đạt tới sự cởi mở những trói buộc. Cái gì trói buộc ta? Trước hết là sự quên lãng mà danh từ Phật học là thất niệm. Ta sống như trong một giấc mơ, ta bị lôi kéo về quá khứ, về tương lai, ta bị ràng buộc bởi những đau buồn, hờn giận, thắc mắc, sợ hãi. Trong hiện tại, giải thoát tức là vượt ra khỏi những trạng thái ấy để sống tỉnh táo, vui tươi, an nhiên và tịnh lạc. Sống như vậy mới là đáng sống. Sống như vậy, ta sẽ nguồn vui cho những người thân thuộc và cho những kẻ sống bên ta cũng như chung quanh ta. Đạo Bụt thường nói đến sự giải thoát tối hậu là giải thoát khỏi sinh tử. Cái chết là một niềm đe dọa lớn. Bao nhiêu thắc mắc và sợ hãi đã được phát sinh từ ý niệm chết. Thiền quán cũng là để cởi cho ta sợi dây thắc mắc và sợ hãi đó. Sau đây là những phương pháp hành trì kinh Quán Niệm Hơi Thở được trình bày một cách đơn giản theo tinh thần của kinh.

Hành giả nên chọn những pháp môn hành trì nào thích hợp với mình trong giai đoạn hiện tại để thực tập trước. Tuy mười sáu phép quán niệm hơi thở có liên hệ mật thiết với nhau, hành giả không nhất thiết phải hành trì theo thứ tự các phép quán niệm này. Thứ tự này không có nghĩa là đi tuần tự từ dễ đến khó. Pháp nào cũng mầu nhiệm như nhau, nếu dễ thì cũng dễ như nhau, khó thì cũng khó như nhau.

Tuy nhiên ta có thể nói những phép đầu chú trọng nhiều tới chỉ, và những phép sau chú trọng nhiều tới quán, tuy rằng chỉ và quán không khi nào tách biệt nhau. Có chỉ tức là đã có ít nhiều quán, và có quán tức nhiên là đã có chỉ. Sau đây là những chủ đề quán niệm được phân ra bảy loại như sau:

1. Theo dõi hơi thở trong đời sống hằng ngày: cắt ngang thất niệm và suy tưởng (hơi thở thứ nhất và thứ hai).

2. Ý thức về thân thể (hơi thở thứ ba)

3. Thực hiện thân tâm nhất như (hơi thở thứ tư)

4. Nuôi dưỡng bằng thiền duyệt (hơi thở thứ năm và thứ sáu)

5. Quán chiếu cảm thọ (hơi thở thứ bảy và thứ tám)

6. Điều phục và giải thoát tâm ý (hơi thở thứ chin, mười, mười một và mười hai)

7. Quán chiếu thực tướng vạn hữu (hơi thở thứ mười ba, mười bốn, mười lăm và mười sáu)

Người tại gia cũng như người xuất gia, phải biết thực tập hàng ngày chủ đề 1 (“theo dõi hơi thở trong đời sống hàng ngày”) và chủ đề 4 (“ nuôi dưỡng bằng thiền duyệt”). Mỗi lúc thực tập tọa thiền, nên luôn luôn bắt đầu bằng hai chủ đề ấy, rồi sau mới đi tới những chủ đề quán chiếu khác. Mỗi khi thấy tâm trạng bất an, chán nản, buồn bực v.v…thì nên thực tập chủ đề 5 (“ quán chiếu cảm thọ”). Chủ đề 7 là cửa ngõ thoát ly sinh tử, bậc đại trượng phu phải đi qua cửa ngõ này. Đây là tặng phẩm lớn nhất của Bụt. Sáu chủ đề trước đều có chỉ và quán, chủ đề thứ 7 nặng nhất về quán, hành giả khi đã có khả năng tập trung tâm ý khá vững (định lực) rồi thì nên đi vào chủ đề này.

1. Theo dõi hơi thở trong đời sống hàng ngày:
cắt ngang thất niệm suy tưởng (hơi thở thứ nhất và thứ hai)

Phần lớn đọc giả không phải là những hành giả sống trong rừng, dưới gốc cây hoặc trong tu viện… Trong đời sống hàng ngày, chúng ta lái xe, làm việc trong sở, chờ buýt, nói điện thoại, đi bộ từ cao ốc này sang cao ốc khác, chùi nhà, nấu bếp, dọn dep, phơi áo quần v.v…ta phải biết thực tập quán niệm hơi thở ngay trong khi chúng ta làm các công việc ấy.

Thường thường trong khi làm các công việc này ta cứ để trí óc suy nghĩ vẩn vơ từ chuyện này sang chuyện khác. Những mừng, vui , buồn, giận, bực tức, v.v…. cứ thay nhau đến rồi đi, thuận theo những dòng suy nghĩ mông lung đó. Như vậy, ta sống mà không nắm được chủ quyền của tâm ý, ta sống trong quên lãng. Vậy ta phải nắm lấy hơi thở ta, ý thức về hơi thở ta và theo dõi hơi thở của ta. Thở vào và thở ra, ta biết là ta thở vào hay thở ra, và ta mỉm miệng cười để chứng tỏ ta là ta, ta có chủ quyền trên ta. Bằng hơi thở có ý thức, ta thiết lập sự tỉnh thức (chánh niệm) trong giờ phút hiện tại. Thở và chỉ để ý đến hơi thở thôi, đó là ta đã thiết lập được chỉ, tức là sự định tâm. Hơi thở có ý thức giúp cho tâm ta khỏi phiêu lưu vào thế giới tạp niệm, nghĩa là thế giới của sự suy nghĩ miên man, vớ vẩn.

Phần lớn các công việc ta làm đều có thể đi đôi với phép theo dõi hơi thở này. Khi nào công việc đòi hỏi một sự chú tâm đặc biệt để tránh sự lầm lẫn hoặc tai nạn, ta cần phối hợp hơi thở ý thức với công việc. Ví dụ khi tôi đang nâng một nồi nước sôi đi từ phòng này sang phòng khác, hoặc là khi tôi đang bắt điện. Tôi ý thức được từng cử chỉ của bàn tay tôi. Tôi nuôi dưỡng ý thức ấy bằng hơi thở. “Tôi đang thở ra và ý thức rằng tay tôi đang nâng nồi nước sôi”. “Tôi đang thở vào và ý thức rằng tay phải tôi đang cầm sợi dây điện”. Khi tôi đang lái xe và sắp sửa qua mặt một chiếc xe khác, “tôi đang thở vào và biết rằng tôi đang qua mặt một chiếc xe khác”. “Tôi đang thở vào và biết rằng tình trạng khá an toàn”.v.v…Tuy nhiên, không phải ta chỉ cần phối hợp hơi thở có ý thức với công việc trong trường hợp công việc đòi hỏi nhiều sự chú ý. Ta cũng có thể phối hợp hơi thở có ý thức với bất cứ động tác nào của thân thể. “Tôi đang thở vào và đang ngồi xuống”, “tôi đang thở ra và đang lau bụi trên bàn”. “Tôi đang thở vào và mỉm cười một mình”. “Tôi đang thở ra và chuẩn bị bắt một ấm nước lên bếp”.

Đình chỉ được loạn tưởng (suy nghĩ miên man) và đình chỉ được thất niệm  (sống buông xuôi theo quên lãng) là một bước rất lớn trong thiền tập, mà bước này ta có thể thực hiện được bằng phương pháp theo dõi hơi thở và phối hợp hơi thở có ý thức với công việc ta làm hàng ngày.

Có những người mất hết an lạc và có thể phát điên chỉ vì không đình chỉ được loạn tưởng. Họ phải uống thuốc an thần để ngủ, mong rằng khi ngủ thì tâm trí được nghỉ ngơi. Nhưng khi ngủ, họ vẫn đi qua nhiều lớp mộng mị và những khổ thọ như lo âu sợ hãi và bực tức vẫn tiếp tục đến công phá. Suy nghĩ nhiều quá, bạn có thể bị đau đầu, bạn có thể sẽ bị tổn thất thần khí, vì vậy thực tập phép theo dõi hơi thở và phối hợp hơi thở ý thức với công việc hằng ngày bạn sẽ có thể cắt ngang dòng loạn tưởng, đồng thời thắp sáng được sự tỉnh thức. Thở ra và thở vào có ý thức, đó là một phép tu rất mầu nhiệm mà cũng là một phép tu thật đơn giản, ai cũng có thể thực tập được.

Đây là phép áp dụng hai hơi thở đầu trong số mười sáu hơi thở được nhắc đến trong kinh. Hành giả nên tìm đọc kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Niệm Xứ Kinh- Satipatthàna Sutta) để bổ túc cho kiến thức đã thu nhận từ kinh Quán Niệm Hơi Thở.

Những vị sống trong chùa, trong thiền viện hay trong những trung tâm thực tập thiền học cũng phải thực hành theo những điều đã chỉ dẫn ở trên. Tuy trong thiền viện có thời khóa buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều, nhưng người sống trong thiền viện vẫn sinh hoạt như bất cứ ai khác: đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc… Phối hợp ý thức về hơi thở và ý thức về những động tác của thân thể, đó là pháp môn cơ bản để chấm dứt loạn tưởng, sống trong tỉnh thức và vun trồng định lực.

Trong những phút đầu của giờ thiền tọa, hành giả cũng áp dụng phương pháp này để điều hòa hơi thở và nếu thấy cần thiết thì cũng có thể thực tập việc theo dõi hơi thở có ý thức này trong suốt buổi thiền tọa.

2. Ý thức về thân thể (hơi thở thứ ba)

Trong thiền tập, thân thể và tâm ý trở thành một hợp thể. Trong tư thế ngồi, nằm, đứng hay đi, ta có thể thực tập ý thức về thân thể ta, ban đầu từ những bộ phận khác nhau, và sau hết đến toàn thể hình hài của ta. Ta có thể bắt đầu bằng tóc trên đầu và đi tới ngón chân. Ví dụ bạn đang ở trong tư thế ngồi thiền. Sau khi điều chỉnh hơi thở,bạn bắt đầu thở ra và quán tưởng: “Tôi đang thở ra và có ý thức về tóc trên đầu tôi”. “Tôi đang thở vào và có ý thức về não bộ của tôi”. Cứ như thế bạn đi dần tới các ngón chân. Trong quá trình thực tập, có thể có những cảm giác và những nhận định được nảy sinh. Ví dụ khi đi ngang trái tim, tôi chợt thấy nảy sinh ra một cảm giác lo lắng về tình trạng trái tim của một người bạn thân. Tôi không xua đuổi cảm giác lo lắng đó. Tôi ghi nhận nó: “Tôi đang thở vào và ý thức rằng tôi đang có cảm giác lo lắng về tình trạng trái tim của bạn tôi”. Rồi bạn tiếp tục hành trình quán chiếu thân thể bạn dưới hơi thở có ý thức. Tôi thêm một ví dụ: khi đi ngang bộ tiêu hóa, tôi chợt thấy hàng triệu sinh vật vi tế đang cùng chung sống với tôi ngay trong ruột tôi. Tôi không xua đuổi cái thấy ấy. Tôi chỉ ghi nhận nó. “Tôi đang thở vào và có ý thức về những vi sinh vật đang cùng sống với tôi và trong tôi”. Nếu bạn thấy cái ý thức về sự cộng sinh của các vi sinh vật ấy là một đề tài thiền quán giàu có, bạn có thể ghi nhận như thế, tự hẹn sẽ trở về với đề tài thiền quán đó, và tiếp tục cuộc hành trình quán chiếu cơ thể của bạn.

Nên biết là chúng ta rất ít để ý tới các bộ phận của cơ thể ta và ta chỉ chú trọng tới chúng khi chúng đau nhức hay bắt đầu có bệnh tật. Bạn có thể bỏ ra hằng chục năm lên xuống ra vào lợi danh, nhưng chưa bạn chưa từng nắm lấy ngón chân út của bạn trong ý thức. Ngón chân út của bạn quan trọng lắm đấy. Nó đã dễ thương với bạn từ trước tới nay. Giả dụ một ngày mai nó có dấu hiệu ung thư trong nó, thì bạn mới tính sao?

Bạn có thể nghĩ rằng ý thức về thân thể là một việc làm không quan trọng lắm, không phải thế đâu. Hiện tượng sinh lý, tâm lý và vật lý nào cũng là một cửa ngõ đưa ta vào chân lý. Bạn có thể quán ngón chân út của bạn và thành đạo. Bản chất của phép tu là ngưng tụ tâm ý để nhìn trong ý thức các bộ phận của cơ thể. Thực tập như vậy, một ngày kia (có thể là ngày mai hay chính chiều hôm nay) bạn có thề sẽ thấy được điều kỳ lạ và sâu sắc có thể thay đổi được cái nhìn và cách sống của bạn. Tóc trên đầu bạn là một vật rất thường chẳng có gì là đặc biệt? Không phải thế đâu! Tóc trên đầu bạn là một sứ giả của chân lý đó. Bạn hãy tiếp nhận ủy nhiệm thư từ những sợi tóc ấy, nhìn cho kỹ và khám phá cho được sứ điệp mà mỗi sợi tóc mang trong nó. Hai mắt của bạn là những hiện tượng sinh lý tầm thường chẳng có gì là đặc biệt ư? Bạn lầm rồi đấy. Chúng là những cánh cửa mở để cho bạn đi vào cõi chân thể mầu nhiệm. Bạn đừng nên xem thường vật gì hết. Nhìn cho sâu, nhìn cho kĩ, bạn sẽ thấy. Đó là thiền tập

3. Thực hiện thân tâm nhất như (hơi thở thứ tư)

Trong một buổi thiền tập khác, bạn hãy quán chiếu toàn thể hình hài bạn mà không phân biệt từng bộ phận như trước. “Tôi đang thở vào và có ý thức toàn thân thể tôi” (hơi thở thứ ba của kinh). Trong trường hợp này bạn để hơi thở, thân thể và tâm quán chiếu phối hợp thành một. Hơi thở và thân thể là một. Hơi thở với tâm là một. Tâm với thân là một. Trong phút quán chiếu, tâm không phải là một thực thể tồn tại độc lập ngoài hơi thở và ngoài cơ thể. Biên giới giữa chủ thể quán niệm và đối tượng quán niệm không còn. Đây tức là “quán thân trong thân”. Tâm ý không “đứng ngoài” để quán chiếu nữa. Tâm ý là một với đối tượng quán chiếu. Đây là nguyên lý năng sở không tịch đã được triển khai rất đầy đủ trong truyền thống đạo Bụt đại thừa.

Thực tập như thế trong khoảng từ mười tới hai mươi phút bạn sẽ cảm thấy sự vận hành của hơi thở và của cơ thể bạn trở nên êm tịnh và vi tế, do đó tâm ý bạn cũng trở nên tĩnh lặng hơn nhiều. Khi bạn mới bắt đầu, cả ba thứ (tâm,hơi thở và than thể đều thô phù như bột xay chưa nhuyễn, như người cưỡi ngựa chưa thuần, như tiếng đại hồng chung mới thỉnh. Dần dần cả ba thứ trở nên thuần thục, êm tịnh và vi tế. Bột dần dần thành nhuyễn, ngựa dần dần phi êm, chuông đã bắt đầu ngân nga dìu dặt. Hơi thở thứ tư đưa bạn về phía ấy. “Tôi đang thở vào và làm cho toàn thân tôi an tịnh” “tôi đang thở ra và và làm cho toàn thân tôi an tịnh”. Giống như khi trời nóng bạn uống vào một ly nước chanh đá và cảm thấy mát ruột mát gan, hơi thở của bạn đi vào cơ thể làm an tịnh mọi tế bào trong đó. Đồng thời mọi  “tế bào” của hơi thở cũng trở nên an tịnh hơn và mọi “tế bào” của tâm ý bạn cũng trở nên an tịnh hơn. Ba là một, một là ba; thiền quán là như thế. Ngựa phi êm thì người cưỡi ngựa cũng êm; người cưỡi ngựa càng êm thì ngựa cũng thấy càng êm. Điều này cũng đúng với âm thanh của chuông, màng nhĩ của người nghe và chính người nghe nữa. Hơi thở này đem lại thiền duyệt cho bạn. Thiền duyệt là niềm vui và sự an lạc do thiền đem tới. Đó là thức ăn. Bạn được nuôi dưỡng bằng thiền duyệt thì bạn sẽ vui tươi, đằm thắm, rộng lượng, và những người sống chung với bạn cũng sẽ được thừa hưởng cái hạnh phúc ấy một phần nào.

Hơi thở thứ tư (thở vào và thở ra làm cho toàn thân an tịnh) tuy nhắm tới mục đích làm cho an tịnh sự vận hành của cơ thể (nguyên văn: an tịnh thân hành) nhưng kì thực cũng nhắm tới mục đích làm cho hơi thở và tâm ý an tịnh. Sự an tịnh của một trong ba yếu tố (tâm ý, hơi thở và cơ thể) kéo theo sự an tịnh của hai yếu tố khác. Trong thiền tập, sự phân biệt giữa tâm và thân không còn nữa, và vì vậy hành giả an trú trong trạng thái thân tâm nhất như và không còn thấy chủ thể quán niệm tồn tại ngoài đối tượng của quán niệm.

4. Thiền duyệt là thức ăn (hơi thở thứ năm và thứ sáu)

Người tập thiền phải biết tự nuôi dưỡng bằng thiền duyệt, nghĩa là bằng sự an vui của thiền định, để trưởng thành và để có đủ năng lực hành đạo và giúp đời. Đời vừa khổ đau vừa mầu nhiệm. Truyền thống đạo Bụt Phương Nam nhấn mạnh tới tính chất khổ đau, trong khi truyền thống đạo Bụt Phương Bắc không quên nhắc tới những mầu nhiệm của cuộc đời. Trúc tím, hoa vàng, mây trắng, trăng trong v.v… là những biểu hiện mầu nhiệm của pháp thân. Thân thể con người tuy rằng vô thường, vô ngã và bất tịnh nhưng cũng là vô cùng mầu nhiệm. Khi ngồi dưới gốc cây, nơi vắng vẻ, xa lánh cảnh náo nhiệt của thị thành, người hành giả cảm thấy thoải mái và an lạc. Cảm giác thoải mái và an lạc này ta cũng đạt được khi ta xa lìa được những nhiễu nhương và phiền toái của cuộc sống quanh ta. Mỗi cuối tuần, xa lánh được thị thành náo nhiệt và đầy phiền não và thoát được về miền quê, bạn cảm thấy vui mừng và thoải mái. Qua được một kì thi, bạn cảm thấy đã rũ bỏ được hết lo âu. Chấm dứt một ngày bận rộn, tắt được máy truyền hình, đốt lên một cây nhang cho thơm nhà, ngồi lại trong tư thế hoa sen và bắt đầu thực tập nụ cười và hơi thở, bạn cảm thấy một niềm vui. Đó là cảm giác an lạc thứ nhất của thiền tập. Hơi thở thứ năm (“ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui”, “ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui”) có nhiệm vụ giúp cho bạn có ý thức về cảm giác an lạc ấy. Dứt bỏ được những bận rộn, những phiền toái và những ưu tư vô ích, bạn đi vào chánh niệm với sự vui mừng. Từ sự vui mừng này bạn đi tới sự an lạc một cách dễ dàng.

Hơi thở thứ sáu thiết lập ý thức về sự an lạc. “Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc”. Sự an lạc này phát sinh từ sự thoát ly bận rộn, phiền toái và ưu tư. Sự an lạc này cũng phát sinh từ sự thoải mái của cơ thể và của tâm ý.

Khi đau răng ta thấy rằng không đau răng là một lạc thọ, nghĩa là một cảm giác dễ chịu. Vậy mà phần lớn những người không đau răng chẳng khi nào ý thức được cảm giác dễ chịu ấy. Khi hai mắt bị mù, người ta mới thấy rằng có đôi mắt sáng có thể thấy được mây trắng và trời xanh là một điều mầu nhiệm. Tuy vậy phần lớn những người có mắt sáng chẳng khi nào ý thức được sự mầu nhiệm đó. Thiền tập là để ý thức rằng nếu khổ đau có mặt thì mầu nhiệm cũng có mặt. An lạc là thức ăn đầu của thiền giả, và thiền giả không cần đi tìm kiếm sự an lạc ấy ở bên ngoài. Thiền giả chỉ cần ý thức được sự an lạc là tự khắc có an lạc. Lạc thọ cũng giống như khí trời, ta có thể thọ dụng tùy theo nhu cầu của ta. Ta thường phân biệt ba loại cảm giác(thọ): khổ thọ (cảm giác khó chịu), lạc thọ (cảm giác dễ chịu) và xả thọ (cảm giác trung tính, không khó chịu cũng không dễ chịu). Thiền giả, bằng công phu thiền tập của mình, biết biến những xả thọ thành lạc thọ để nuôi dưỡng mình. Những thứ lạc thọ do xả thọ biến thành đều có tính cách lành mạnh và bền bỉ hơn những loại lạc thọ khác. Khi được nuôi dưỡng thường xuyên bằng thiền duyệt, hành giả trở nên thoải mái, dễ chịu, rộng lượng và từ bi; vì vậy pháp lạc sẽ thấm sang những người bên cạnh. Có an lạc, ta mới chia sẻ được sự an lạc với kẻ khác và mới có đủ nghị lực để tiếp nối công việc độ sinh, vốn là một thứ công việc đòi hỏi nhiều gian khổ và kiên nhẫn.

5. Quán chiếu cảm thọ (hơi thở thứ bảy và tám)

Các hơi thở thứ bảy và tám cũng nhắm tới sự quán chiếu về cảm thọ. Cảm thọ tức là cảm giác. Không phải chỉ là những cảm giác an lạc mà cả những cảm giác không an lạc nữa. Những cảm giác như bực bội, giận hờn, bất an, lo âu, mệt mỏi, chán nản v.v… đều là những cảm giác không an lạc. Khi một cảm giác như thế có mặt, thiền giả nhận diện nó, ý thức được sự có mặt của nó, nói một cách khác hơn là thắp lên một mặt trời chánh niệm để soi sáng nó. Đó là công trình quán chiếu. Ví dụ như cảm giác bực bội. Thiền giả tự biết: “Sự bực bội có mặt trong ta. Ta đang là sự bực bội”. Và thiền giả thở vào và thở ra trong ý thức ấy.

Pháp Thiền quán của đạo Bụt được thiết lập trên cơ bản bất nhị, vì vậy hành giả không xem sự bực bội là một kẻ thù từ bên ngoài đột nhập vào mà trái lại còn ý thức được rằng trong giờ phút hiện tại mình chính là sự bực bội nữa. Do nhận thức đó, thiền giả không còn có ý chống đối xô đuổi và đánh phá sự bực bội. Thực tập thiền quán không phải là thiết lập một ranh giới giữa thiện và ác trong bản thân mình và biến bản thân mình thành một bãi chiến trường. Đạo Bụt kỵ nhất là việc ấy. Thiền giả đối xử với sự bực bội mình một cách từ bi và bất bạo động. Thiền giả đối phó với sự bực bội của mình bằng một tấm lòng lân mẫn như là đối phó với chính người em ruột của mình. Thắp sáng ý thức chánh niệm lên duy trì ý thức ấy cùng với hơi thở ra và hơi thở vào. Dưới ánh sáng của sự quán chiếu, niềm bực bội sẽ dần biến chất. Biến chất chứ không phải tiêu tán. Mỗi cảm giác là một vùng năng lượng. Cảm giác an lạc là thứ năng lượng có thể nuôi dưỡng. Cảm giác bất an là thứ năng lượng có thể tàn hại. Dưới ánh sáng của quán niệm, năng lượng bất an có thể biến thành năng lượng nuôi dưỡng.

Cảm giác (thọ) có nguồn gốc hoặc từ thân thể (sắc) hoặc từ tri giác (tưởng). Khi ta thiếu ngủ ta có thể có cảm giác mệt mỏi hoặc cáu kỉnh, và như vậy cảm giác có nguồn gốc từ thân thể. Khi ta có tri giác sai lạc về người hoặc về sự việc thì ta có thể có cảm giác tức giận, chán nản hoặc bực bội:cảm giác ở đây có nguồn gốc ở tri giác. Theo đạo Bụt, tri giác của ta rất dễ bị lầm lạc, vì vậy cho nên ta bị khổ sở nhiều. Thiền quán là nhìn sâu vào sự vật để thấy được chân tướng của sự vật và để vượt thoát những tri giác lầm lạc ấy. Nhận lầm sợi dây là con rắn, ta hoảng sợ la lên. Hoảng sợ là một cảm giác. Nhận lầm sợi dây là con rắn là một tri giác sai lạc.

Sinh hoạt có điều độ, giữ gìn cho cơ thể lành mạnh, ta có thể giảm thiểu những cảm giác khổ đau có nguồn gốc sinh lý. Quán sát vạn vật cho sâu sắc: mở rộng tầm hiểu biết và thương yêu, ta có thể giảm thiểu được phẩm và lượng của những cảm giác khổ đau có nguồn gốc tri giác. Quán chiếu một cảm giác tức là nhận biết được những nguyên do xa gần đã làm phát sinh cảm giác ấy. Đi  sâu vào sự nhận biết ấy tức là khám phá được tự tính (bản chất) của cảm giác.

Khi có một cảm giác như bực tức, lo sợ v.v…hành giả ý thức được sự có mặt của cảm giác này và nuôi dưỡng ý thức ấy bằng hơi thở. Duy trì hơi thở ý thức, hành giả kiên trì nhìn sâu vào bản chất của cảm giác. Hễ thấy được thì có giải thoát. Hơi thở thứ bảy nói về hoạt động tâm ý: “Ta thở vào (thở ra) và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta”. Hoạt động tâm ý ở đây là sự phát sinh, tồn tại và biến chất của các cảm giác vậy.

Hơi thở thứ tám nhắm đến sự biến cải năng lượng của cảm giác. “Ta đang thở vào (thở ra) và làm cho những hoạt động tâm ý của ta an tịnh”. Nhờ sự quán chiếu về bản chất của cảm giác mà thiền giả biến cải được năng lượng không an lạc của một cảm giác thành năng lượng an lạc. Khi ta hiểu được một người thì ta có thể chấp nhận và thương yêu người đó. Mà đã chấp nhận thì ta không còn trách móc và có cảm giác bực bội với người ấy như trước. Năng lượng của cảm giác bực bội trong trường hợp này, có thể được biến thành năng lượng thương yêu

6. Điều phục tâm ý và giải thoát cho tâm ý
(hơi thở thứ chín,thứ mười,thứ mười một và thứ mười hai)

Hơi thở thứ chín là hơi thở nhận diện những hoạt động tâm ý ngoài cảm giác. “Ta đang thở vào (thở ra) và có ý thức về tâm ý ta”. Tâm ý (citta) ở đây là tổng thể mọi hiện tượng tâm lý trong đó có tri giác,tư tưởng, suy luận, phân biệt, tưởng tượng và cả tiềm thức nữa.

Bất cứ một hiện tượng tâm lý nào phát  khởi trong ta, ta phải nhận diện nó bằng hơi thở có ý thức. Ta lại còn quán chiếu hiện tượng tâm lý ấy để thấy liên hệ giữa nó với toàn bộ tâm ý ta.

Với bốn hơi thở đầu ta có thể đồng nhất ta với hơi thở và cắt đứt mọi suy tư phân biệt và tưởng tượng. Hơi thở thứ chín này là để nhận diện các hiện tượng tâm ý như suy tư và tưởng tượng khi chúng ta phát khởi. Ta đừng nên quên rằng danh từ tâm (citta) là để chỉ cho mọi hiện tượng tâm lý như cảm giác, tri giác, suy luận v.v… với tất cả đối tượng của chúng chứ không phải là để chỉ một chủ thể tâm lý có tính cách bất biến và đồng nhất có thể tồn tại ngoài đối tượng nhận thức. Tâm là một dòng hiện tượng tâm lý luôn luôn chuyển biến sinh diệt, trong ấy sự phát sinh tồn tại và hoại diệt của một hiện tượng có liên quan đến sự phát sinh, tồn tại và hoại diệt của mọi hiện tượng khác. Biết nhận diện những hiện tượng tâm lý đang phát khởi là một công trình thực tập quan trọng. Những hoạt động của tâm ý ta thường thường là lăng xăng và náo động không khác gì một dòng thác đang chảy qua các khe đá: tâm thường được vì như một con vượn không ngừng chuyền cành này sang cành khác hay một con ngựa đang phi. Thấy được sự vận hành của tâm ý nhờ công trình nhận diện rồi, ta có thể nhiếp thu tâm ý và làm cho tâm ý ta lắng lại và cảm thấy an lạc trong trạng thái tâm ý lắng đọng này. “Ta đang thở vào (thở ra) và làm cho tâm ý ta an lạc”. Bạn hãy so sánh hơi thở này với hơi thở thứ tư và thứ tám. Hơi thở thứ tư nhắm đến sự an tịnh của thân thể. Hơi thở thứ tám nhắm đến sự an tĩnh của cảm giác. Hơi thở thứ mười này nhắm đến sự an tịnh của tâm ý. Ba hơi thở này có công dụng đưa ta vào hoan hỷ địa tức là trạng thái vui mừng an lạc của thiền định. Trạng thái này đem lại cho hành giả nhiều thư thái và an lạc và nuôi dưỡng được định lực của hành giả, nhưng hành giả sẽ không ngừng lại tại đây mà phải tiến tới quán chiếu để đạt tới tuệ giác, bởi vì chỉ có tuệ giác mới thực sự đưa ta tới giải thoát.

Hơi thở thứ mười một nào một nhắm đến sự tập trung ý vào một tượng duy nhất. Chỉ khi nào ta tập trung tâm ý bền bỉ trên đối tượng ta mới có thể quán chiếu được đói tượng ấy một cách hiện hữu. Đối tượng ấy có thể là hơi thở,là một hiện tượng sinh lý, một hiện tượng tâm lý (như cảm giác, tri giác, v.v…) hay một hiện tượng vật lý (như một chiếc lá hay một viên đá cuội). Các hiện tượng vật lý này cũng đều được kinh liệt vào hàng đối tượng của tâm ý, không tồn tại độp lập với tâm ý.

Đối tượng của tâm lý trong định là một vùng đối tượng nằm dưới ánh sáng quán chiếu của tâm ý, cũng như một ca sĩ đứng trong một vùng ánh sáng tròn (spotlight) trên sân khấu vậy. Đối tượng này có thể di chuyển trên không gian và thời gian, bởi vì nó cũng sinh động như tâm ý quán chiếu. Trong định, chủ thể quán chiếu và đối tượng quán chiếu trở nên nhất như. Hơi thở cũng là một đối tượng của tâm lý trong định. Khi ta để hết tâm lý vào hơi thở, tâm ta chỉ theo dõi hơi thở, tâm ta với hơi là một, đó là định. Định là ngừng tụ tâm ý trên một đối tượng duy nhất. Sau khi thực tập với hơi thở, bạn có thể thực tập với những hiện tượng sinh lý, vật lý và tâm lý khác. Có định thì công phu quán chiếu mới thành công.

Hơi thở thứ mười hai nhằm tháo gỡ cho những chổ kẹt của tâm lý: “Ta đang thở vào (thở ra) và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do”. Tâm ý của ta có thể đang bị ràng buộc bởi những đau thương hoặc những kỷ niệm về quá khứ, hoặc đang bị lôi kéo bởi những lo lắng và dự tính về tương lai, hoặc đang nằm dưới ảnh hưởng của những cảm giác bực tức, sợ hãi hay nghi ngờ của hiện tượng hoặc đang bị rối ren mờ mịt vì một tri giác thiếu sót… Có định, ta mới có khả năng quán chiếu và cởi mở những chổ kẹt đó do tâm ý ta. Cũng như khi ta muốn gỡ một nùi chỉ rối, ta phải có đủ thư thái và thì giờ. Quán chiếu tâm ý cho bình tĩnh và cho sâu sắc ta mới gỡ rối được cho tâm ý.

7. Quán chiếu về thực tướng vạn hữu
(hơi thở thứ mười ba,mười bốn,mười lăm và mười sáu)

Hơi thở thứ mười ba nhằm quán chiếu về tính cách vô thường của vạn hữu. Mọi hiện tượng đều vô thường (“chư hạnh vô thường”), sinh lý, tâm lý cũng như vật lý. Vô thường không chỉ có nghĩa là “nay còn mai mất”. Vô thường quán là một phép quán sâu sắc và mầu nhiệm không cùng. Không có một hiện tượng nào có cá thể riêng biệt và thường còn. Tất cả đều chuyển biến thường xuyên và không có tự ngã. Vì vậy vô thường cũng là vô ngã: đây là nhận thức căn bản của đạo Bụt về thực tính vạn hữu. Vô thường cũng có nghĩa là nhân duyên sinh: vạn vật nương vào nhau mà có mặt, vạn vật làm điều kiện sinh khởi và tồn tại cho nhau. Điều kiện tức là nhân duyên. Kinh (Trung A Hàm) nói: cái này có mặt vì cái kia có mặt, nếu cái này không có mặt thì cái kia cũng không (“nhược thử hữu cố bỉ hữu. nhược thử vô cố bỉ vô). Vô thường cũng có nghĩa là vô tướng: thực tại của vạn hữu thoát ly mọi khái niệm và ngôn từ, ta chỉ quen nắm bắt hiện tượng qua những phạm trù tri giác và tư tưởng, do đó không đi vào bản chất của thực hữu một cách trực tiếp. Những phạm trù ấy tức là tướng vậy. Ví dụ về sóng và nước thường được đưa ra để giúp ta hiểu được tính chất vô hướng của vạn hữu. Sóng thì có cao có thấp có sinh có diệt, nhưng bản thân của sóng (là nước) thì không cao thấp sinh diệt. Những “tướng” cao thấp sinh diệt không động tới được bản thân của nước. Ta khóc cười theo tướng, bởi vì ta chưa thấy được tánh. Tánh (Svabhàva) là tự thân của thực tại vạn hữu, tức là của ta vậy? Vô thường cũng là không: thực tại của vạn hữu là vô tướng, không thể được nắm bắt bằng khái niệm và ngôn từ, cho nên được gọi là không. Không ở đây không thể có nghĩa là không đối với có, mà chỉ có nghĩa là vô tướng, thoát ra ngoài mọi nắm bắt của khái niệm, trong đó có các khái niệm sinh, diệt, có, không, thêm, bớt, nhơ, sạch…(Tâm Kính Bát Nhã:”thể moị pháp là không: không sinh cũng không diệt, không nhơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt”). Vô thường cũng là vô tác: vạn hữu có mặt không phải là nhắm tới một mục đích tối hậu nào cả, và vì thế tính của vạn hữu không có thêm, không có bớt, không có thủy, không có chung, người hành giả không cần phải tìm kiếm một sự tu chứng ở bên ngoài, bởi trong tự thân của các pháp đều đã tròn đầy giác tính.

Hơi thở thứ mười bốn nhắm đến sự quán chiếu về tính cách tàn hoại của vạn pháp. “Ta đang thở vào (thở ra) và quán chiếu tính tàn hoại của vạn pháp”. Vạn pháp đều vô thường vì vậy nên phápnào cũng đang trên con đường đi tới tan rã. Một bông hồng, một đám mây, một thân người, một cây cổ thụ… tất cả đều đang đi tới tàn hoại. Đứng về phương diện tướng trạng mà xét thì tất cả các pháp đều đi qua các giai đoạn sinh, trú, dị và diệt. Sinh là phát sinh, trú là tồn tại, dị là biến hoại, diệt là không còn có mặt. Người hành giả mới thực tập cần quán chiếu cho rõ ràng tính cách vô thường và tàn hoại của vạn pháp trong đó có cả hợp thể ngũ uẩn của mình. Riêng về cơ thể, pháp cửu tướng quán đã dược thiền giả sử dụng ngay từ hồi Bụt còn hiện thế. Cửu tướng quán là quán chiếu về sự tan rữa và tàn hoại của một thể xác chết, từ khi trương phình ra cho đến lúc tan thành tro bụi. Xác chết  naỳ là một xác chết để ở bãi tha ma, nhưng cũng là xác thân của chính thiền giả sau này. Trong tác phẩm  Khóa Hư Lục, vua Trần Thánh Tông đã quán tưởng như sau “ khi xưa má mượt môi hồng, ngày nay tro tàn xương trắng… Công danh cái thế chẳng qua một giấc mộng dài, phú quý kinh người, khó tránh vô thường hai chữ. Tranh nhân chấp ngã rốt cuộc là không, khoe giỏi khoe hay rốt cuộc là không, khoe giỏi khoe hay rốt cuộc chẳng thực. Tứ đại rã rời thôi già trẻ; núi khe mòn mỏi hết anh hùng. Tóc xanh chưa mấy mà màu bạc đã pha, kẻ mừng chưa đi thì người điếu đã tới. Bảy thước xương khô mặc sức sân tham tiền của; một bao máu mủ, bao năm khổ luyện ân tình…” Quán thân như vậy mà quán tâm cũng như vậy. Tâm ý sắc sảo và lanh lợi hôm  nay sẽ có thể trở nên lẩm cẩm và chậm lụt ngày mai. Núi sông, nhà cửa, tài sản, sức khỏe đều được quán như thế.

Bạn có thể mỉm cười cho rằng phép quán này có chủ đích đưa ta tới tâm trạng bi quan, làm tiêu tán sự yêu đời và vui sống của chúng ta. Điều này đúng mà không đúng. Thuốc tuy đắng nhưng có thể chữa được bệnh tật của ta. Sự thật tuy phũ phàng nhưng có cách trị liệu. Sự thực là nền tảng  của giải thoát thực sự.

Sự sống rất mầu nhiệm và không có ngằn mé. Nhựa sống reo vang trong mọi sinh thể, từ khoáng vật qua thực vật đến sinh vật. Chỉ vì ta tự giam hãm ta trong ý niệm của một cái ta nhỏ bé nên ta lâm vào trạng thái mờ ám, hạn hẹp, lo sợ và đau buồn. Theo cái thấy hẹp hòi của ngã chấp, chỉ cơ thể ta, nhà cửa ta, vợ (chồng) con ta, sản nghiệp ta… mới là sự sống. Nhưng nếu thoát ra được những biên giới ta tự tạo cho ta, ta sẽ thấy sự giống nhau của ta có mặt khắp nơi và sự tàn hoại của những hiện tượng không động tới sự sống của ta được, cũng như sự sinh diệt của các làn sóng không  đụng tới sự tàn vong của nước. Quán chiếu về sự tính tàn hoại của vạn pháp như thế, ta có thể mỉm cười trước sinh tử và ta đạt được một niềm an lạc và vui sống rất cao.

Hơi thở thứ mười lăm chính là để đưa ta thoát ra cá thể đi vào đại thể. “Ta đang thở vào (thở ra) và quán chiếu về giải thoát”. Giải thoát ở đây là giải thoát khỏi những ý niệm sinh tử, còn mất, thêm bớt…, những ý niệm làm căn bản cho tham đắm, lo sợ và giận hờn. Giải thoát ở đây là tự do, là niết bạn, là sự vắng mặt của những biên giới thoát ra ngoài sinh diệt.

Hơi thở thứ mười sáu, cũng như hơi thở thứ mười lăm, nhằm giúp ta quán chiếu để buông bỏ tham đắm, lo sợ và giận hờn. Thấy được trong túi mình có viên quý ngọc, ta buông bỏ thái độ quỵ lụy và bỏn xẻn của một người bần cùng. Thấy được mình là con sư tử, ta không còn luyến tiếc chiếc vú của con cừu mẹ. Thấy mình là mặt trời, ta buông bỏ thói quen sợ gió của một cây đèn dầu. Cũng như thế, thấy được sự sống không biên giới, ta buông bỏ tất cả mọi giới ngục tù. Nhìn vào đâu ta cũng thấy ta, ta cũng thấy sự sống của ta, vì vậy ta phục vụ cho mọi hình thức của sự sống, cho mọi loài đang sống với chí nguyện của một vị bồ tát, nghĩa là một người thức tỉnh lớn.

Buông bỏ ở đây không có nghĩa là từ giã một cái để nắm bắt một cái khác. Buông bỏ ở đây là buông bỏ sự phân biệt, thấy được rằng không có gì mất đi cũng không có gì thêm vào, ranh giới giữa ta và người là giả tạo. Người hành giả không từ giã “thân phận con người” để tìm tới địa vị một đức Phật. Hành giả thấy Phật ngay trong thân phận con người của mình, không buông bỏ gì hết, cũng không tìm cầu gì hết. Đó là ý nghĩa của danh từ vô tác (có khi gọi là vô nguyện). Đó cũng là ý niệm về vô đắc mà đạo Bụt đại thừa đã phát triển một cách đầy đủ. Buông bỏ để là tất cả và để được hoàn toàn tự do. Điều này đã có nhiều người làm được, và mỗi người trong chúng ta có thể làm được nếu có ý chí.

Xin nhắc lại: thứ tự của mười sáu hơi thở là thứ tự của bốn lĩnh vực quán niệm: thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng tâm ý. Người hành giả thông minh biết điều phục hơi thở và thân tâm để vun bồi định lực trước khi đi sâu vào công trình quán chiếu. Thiền tập vừa nuôi dưỡng thân tâm vừa khơi mở cái thấy. Cái thấy đó làm cho hành giả không tham đắm cũng không chán ghét cuộc đời. Nó làm cho người hành giả an vui, trầm tĩnh, độ lượng và từ bi.

Cũng xin độc giả nhớ tìm đọc kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Niệm Xứ Kinh- Satipatthàna Sutta) và phối hợp những lời chỉ dạy của Bụt trong kinh này với kinh Quán Niệm Hơi Thở để tạo cho sự hành trì càng thêm có kết quả đẹp.

Trong mùa thủy tiên nở ở Pháp Thân Tạng
Tháng ba năm 1986

 

V. Quan niệm về hành trì

Kinh Quán Niệm Hơi Thở và kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Niệm Xứ) không đề cập đến phép đếm hơi thở, chưa đề cập tới trình tự sổ tức, tùy tức, chỉ, quán, hoàn và tịnh (lục diệu pháp môn), không nói tới tướng (kanisa), không nói tới tứ thiền và tứ vô sắc định. Những pháp môn ấy có thể đã được thiết lập bởi những thế hệ hành giả kế tiếp nhằm phục vụ những căn trí khác nhau của người thực tập. Những pháp môn ấy ta không nên xét đoán và bình phẩm trước khi ta thực tập.

Phép đếm hơi thở (sổ tức) đã được chấp nhận một cách rộng rãi và đã đi vào kinh luận, kinh Tăng Nhất A Hàm trong Hán Tạng (kinh thứ 125 Đại Tạng Tân Tu, Phẩm An Ban, quyển 7 và 8) chưa nói đến phép đếm hơi thở, nhưng đã nói về việc phối hợp hơi thở với tứ thiền. Kinh Tu Hành Đạo Địa (kinh thứ 606 của Đại Tạng Tân Tu,quyển 5) trong phẩm thứ 23 (được gọi là Sổ Tức Phẩm) đã đồng nhất phép quán niệm hơi thở với phép đếm hơi thở. Kinh này cũng nói tới tứ thiền.

Sổ tức là 1 phương pháp mà người mới học nên sử dụng. Thở vào, đếm “1”.Thở ra, đếm “1”. Thở vào, đếm “2”. Thở ra, đếm “2”. Như thế cho đến “10”,rồi bắt đầu trở lại. Nửa chừng nếu quên con số thì hành giả đếm trở lại “1”. Phép đếm giúp hành giả cắt bỏ loạn tưởng và tập trung vào hơi thở và con số. Khi đã đạt được sự chú tâm rồi, việc đếm trở thành nhàm và hành giả bỏ đếm để theo dõi hơi thở. Theo dõi hơi thở tức là Tùy Tức. Các bộ luận danh tiếng như Patisambhidà Magga (Vô Ngại Đạo Luận) Vimutti Magga (Giải Thoát Đạo Luận) và Visuddhi Magga (Thanh Tịnh Đạo Luận) đều dạy rằng trong khi thở nên chú tâm ở đầu mũi tức là nơi không khí đi vào và đi ra khỏi thân thể. Hình ảnh lưỡi cưa được đưa ra làm ví dụ. Khi ta cưa 1 cây gỗ, ta hay nhìn vào chỗ răng cưa bắt đầu đi vào cây gỗ. Ta không theo dõi răng cưa đi vào trong cây gỗ, ta chỉ nhận thức chỗ những răng cưa bắt đầu đi vào cây gỗ mà thôi. Ta không theo không khí đi vào cơ thể. Ta chỉ chú tâm ở đầu mũi nơi không khí ra vào. Nhiều vị luận gia cho rằng nếu theo dõi hơi thở đi vào cơ thể thì đối tượng chú tâm sẽ không thuần nhất và do đó khó đạt được định. Cũng vì vậy họ hiểu rằng chữ toàn thân của hơi thở (the entire breath body) chứ không phải là toàn bộ thân thể của hành giả. Theo sát văn mạch của kinh, ta thấy lối giải thích này không được ổn. Hơi thở thứ 3 là hơi thở trong đó đối tượng của sự chú ý (định) không phải chỉ là hơi thở mà còn là cả thân thể của hành giả, cũng như hơi thở thứ bảy bao gồm cả những cảm giác và hơi thở thứ chin bao gồm tất cả tâm ý.

Trong hơi thở thứ tư (“ta đang thở vào (thở ra) và làm cho toàn thân an tịnh”) chữ  toàn thân không còn có thể được hiểu là toàn thân của hơi thở được nữa. Tất cả bốn hơi thở đầu, đều lấy hình hài làm đối tượng, vì thân thể là lĩnh vực quán niệm thứ nhất trong tứ niệm xứ. Tuy trong hai hơi thở đầu đối tượng chỉ là thuần hơi thở, nhưng hơi thở cũng là một phần của hình hài. Sang tới hai hơi thở kế tiếp, trọn vẹn hình hài đã được lấy làm đối tượng.

Sở dĩ các tác phẩm Patisambhidà (Vô Ngại Đạo Luận, của Mahànàma), Vimuttimagga Giải Thoát Đạo Luận, của Upatissa) và Visudhimagga (Thanh Tịnh Đạo Luận, của Buddhghosa) đều khuyên hành giả để tâm ở chót mũi mà đừng theo hơi thở đi vào cơ thể là vì các tác giả cho rằng đi theo hơi thở vào thân thể thì tâm lý sẽ bị phân tán và không đi vào tứ thiền được. Giải Thoát Đạo Luận ra đời vào khoảng cuối thế kỉ thứ tư dương lịch, Vô Ngại Đạo Luận vào đầu thế kỉ thứ năm và Giải Thoát Đạo Luận sau đó không lâu. Các tác phẩm này đều nhấn mạnh đến sự cần thiết của chỉ (Samàtha ) như điều kiện căn bản của quán (vipassana). Chỉ đây là tứ thiền và tứ vô sắc định. Để tâm ở đầu chót mũi và ý thức về sự sinh khởi và xúc chạm của không khí ở nơi cửa ngõ của thân thể này thì cũng như người thợ cưa chỉ nhìn vào sự xúc chạm của những chiếc răng cưa với cây gỗ chứ không theo dõi những chiếc răng cưa mà đi vào đi ra cây gỗ. Dần dần hơi thở từ thô kệch trở nên tế nhị và cuối cùng không còn được phân biệt nữa. Lúc ấy một dấu hiệu tướng (kasina) sẽ hiện lên, có thể như là một nhúm bông gòn trắng, cho hành giả một  cảm giác mát mẻ và dễ chịu như gió mát. Nếu hành giả chú tâm vào tướng này thì sẽ đi vào định, vào sơ thiền. Sơ thiền là bước đầu. Sau đó có nhị thiền, tam thiền và tứ thiền. Trong các trạng thái thiền định, năm giác quan không còn hoạt động nữa, nhưng tâm ý hành giả vẫn hoàn toàn sáng suốt và tỉnh táo. Sau tứ thiền còn có tứ vô sắc định: cõi không gian vô biên, cõi tâm thức vô biên, cõi vật thể toàn không và cõi không phải tri giác cũng không phải không tri giác.

Thích Ca Mâu Ni  hồi chưa thành đạo đã có đến thụ giáo với các đạo sĩ Du già Bà La Môn và cũng đã thực tập tứ thiền và tứ vô sắc định với họ. Sau đó người đã nói rằng các trạng thái thiền định như  “vô sở hữu xứ” (cõi vật thể toàn không) và “phi tưởng phi phi tưởng xứ”(cõi không phải tri giác cũng không phải không tri giác) của đạo sĩ Uddaka không đưa con người tới nơi giải thoát được. Chính trong các kinh căn bản về thiền tập như kinh Quán Niệm Hơi Thở và kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm, người cũng không nói đến tứ thiền và tứ vô sắc định. Vậy ta phải đặt vấn đề về ảnh hưởng của các hệ thống Du Già –Ưu Bà Ni Sa Đàm (Upanishadic-Yogic) trên lĩnh vực thiền tập của đạo Bụt. Điều mà ta nên nhấn mạnh ở đây là phép tứ thiền và tứ vô sắc định không phải là những điều kiện cần thiết để đạt tới vị giác ngộ,trong khi các phép quán niệm mà Bụt dạy trong kinh Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm được xem như là “con đường duy nhất” để đi tới giải thoát. Có những hành giả lâu ngày thực tập không đi vào tứ thiền bèn nghĩ rằng mình không có khả năng tu tập giác ngộ. Có những hành giả chỉ vì ao ước đi vào tứ thiền mà lạc vào thiền bệnh, trở thành bất an. Thực tập đúng theo lời Bụt dạy trong kinh Quán Niệm Hơi Thở và Bốn Đối Tượng Quán Niệm thì sẽ không bị lạc vào những trường hợp đáng tiếc ấy.

Tại nước ta, vào đầu thế kỉ thứ ba, thiền sư Tăng Hội trong lúc đề tựa cho kinh An Ban Thủ Ý cũng đã nói đến tứ thiền rồi, nhưng tứ thiền của Tăng Hội được phối hợp với các phép quán: quán thân, quán trời đất, quán thịnh suy, tồn vong v.v… để đi tới giải thoát. Thiền Sư Tăng Hội cũng đã nói tới sáu pháp môn mầu nhiệm liên hệ tới phép quán niệm hơi thở (lục diệu pháp môn): đếm hơi thở (sổ tức) theo hơi thở (tùy tức), đình chỉ tâm ý (chỉ), quán chiếu vạn pháp (quán), trở lại nguồn tâm (hoàn) và vượt thoát ý niệm chủ thể và đối tượng (tịnh), Tăng Hội cũng đã nói tới phương pháp tập trung tâm vào chót mũi. Kinh Tu Hành Đạo Địa (Kinh thứ 606 của Đại Tạng Tân Tu) trong phẩm Sổ Tức (phẩm số 23) cũng nói đến tứ thiền, đến pháp sổ tức, đến lục diệu pháp môn và đến phương pháp tập trung vào chót mũi, nhưng chưa nói đến pháp Sổ Tức và đến lục diệu pháp môn.

Ta nên biết là các kinh điển đã được truyền khẩu hàng mấy trăm năm trước khi được chép xuống. Những ảnh hưởng bên ngoài có thể len vào trong bất cứ thời gian nào. Kinh Quán Niệm Hơi Thở (An Ban Thủ Ý Kinh) và Kinh Bốn Đối Tượng Quán Niệm (Niệm Xứ Kinh) được xem như là những bảo bối của sự tu tập hàng ngày đã được các vị xuất gia truyền lại từ thế hệ này sang thế hệ khác một cách cẩn trọng, vì vậy những sai lầm thất thoát và những ảnh hưởng bên ngoài đã có thể có rất ít. Trong lịch sử đạo Bụt, có những kinh điển đã được kết tập về sau,trong Nam Tông cũng như ở Bắc Tông, nhất là ở Bắc Tông. Cách thức truyền thừa hiểu biết và hành trì có thể làm biến dạng và khô cứng kinh điển. Các kinh điển đại thừa giúp ta nhìn trở lại và khám phá chiều sâu của những kinh điển nguyên thủy. Những tư tưởng lớn của các kinh điển Đại Thừa đều đã có hàm chứa trong các kinh điển nguyên thủy. Khi ta trở về với các kinh điển nguyên thủy, ta sẽ có một cái nhìn có gốc rễ và vững chãi hơn về kinh điển đại thừa. Nếu chỉ ngồi trên hai cánh của con chim Đại Thừa, có thể là ta sẽ bay quá xa, và đánh mất sự liên lạc với nguồn gốc của con chim ấy.

Tuy các kinh Quán Niệm Hơi Thở (An Ban Thủ Ý) và Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm (Niệm Xứ Kinh) tuy không nói đến tứ thiền và tứ vô sắc định, nhưng không phải vì thế mà không nhấn mạnh tới sự cần thiết của định lực, nghĩa là đến công dụng và sức mạnh của sựn tập trung tâm ý. Thiền quán có hai mặt: ngưng lại (chỉ), để nhìn thấy (quán). Ngưng lại là định, và nhìn thấy là tuệ. Quán niệm hơi thở hay quán niệm về những đối tượng khác như thân thể, cảm giác, tâm thức, đối tượng tâm thức v.v…đều là nhằm mục đích tập trung tâm ý trên một đối tượng để rồi có thể nhìn thấy được đối tượng ấy trong chiều sâu của nó. Tập trung tâm ý tức là ngưng (chỉ) sự rong ruổi của tâm ý từ đối tượng này sang đối tượng khác để chỉ dừng lại trên một đối tượng. Dừng lại trên một đối tượng để nhìn (quán) đối tượng ấy, và nhìn sâu vào đối tượng ấy. Chỉ và Quán do đó đi đôi với nhau. Nhờ có dừng lại ( chỉ) ta mới có thể nhìn (quán). Càng nhìn sâu (quán) thì sự tập trung ý (chỉ) càng lớn. Ngưng tụ tâm ý (chỉ) thì tự nhiên thấy (quán). Thấy (quán) thì tâm ý càng thêm ngưng tụ (chỉ). Ta có thể nói không có chỉ thì không có quán và không có quán thì chỉ không vững vàng. Điều ta cần nhớ tới ở đây là tuy các kinh Quán Niệm Hơi Thở và Bốn Đối Tượng Quán Niệm không nói đến tứ thiền và tứ vô sắc định, nhưng bản chất của kinh vẫn là sự tập trung tâm ý (chỉ) để mà quán chiếu (quán). Vậy ta không cần đi tìm đâu xa nữa, và hãy chỉ nắm lấy phương pháp đơn giản do Bụt chỉ dạy trong các kinh này.

IV. Phân tích nội dung

Kinh này có thể được chia làm sáu phần:

A. Phần thứ nhất nói về trường hợp trong đó kinh được nói ra.

Phần này cho ta thấy được hình ảnh và phong thái cộng đồng tu học hồi Bụt còn tại thế nơi vườn Kỳ Thọ nước Xá Vệ. Vườn Kỳ Thọ phải là một khu vườn rất rộng và có nhiều vây cối, tọa lạc không phải miền quê mà ngay tại thành Xá Vệ. Số lượng đệ tử xuất gia của Bụt cư trú với người lúc đó có thể trên dưới bốn trăm vị, một vị trưởng thượng có thể được giao cho công việc dạy dỗ mười vị, hai mươi vị, ba mươi vị hoặc bốn mươi vị xuất gia tân học… Mỗi buổi sáng, sau giờ thiền tọa, các vị khất sĩ ôm bát vào thành khất thực. Họ về tới trung tâm tu học trước giờ mặt trời đứng bóng để thọ trai. Có khi cả đại chúng được vua hay một nhà giàu sang thỉnh đến thọ trai. Chỉ những nhà thật giàu mới có thể có đủ chỗ ngồi và thức ăn cúng dường cho  một đại chúng đông đảo như thế. Những nhà nghèo khổ thì phải đợi các vị khất sĩ ôm bát đi ngang mới có dịp cúng dường. Cũng có những vị đàn việt chở thức ăn tới cúng dường đại chúng ngay tại trung tâm tu học. Bụt và đại chúng chỉ ăn một bữa trong một ngày. Buổi chiều và buổi tối hoàn toàn để dành cho sự học hỏi và thực tập. Tại trung tâm tu học không có bếp núc nấu nướng. Đại chúng không có trách nhiệm “ứng phú”như các vị xuất gia ngày nay, nghĩa là không phải đi cúng, làm đám ma, cầu siêu và cầu an cho người cư sĩ. Tuy vậy họ có chú nguyện cho người đàn việt trước và sau bữa ăn của họ. Sức chú nguyện của họ rất có hiệu quả bởi vì họ sống đời sống thanh quý và tu học rất nghiêm chỉnh.

Vào những buổi mát trời Bụt chỉ dạy cho học trò của người ngay ngoài trời, dưới những bóng cây. Có khi người dạy học vào những đêm có trăng, như trong trường hợp kinh này. Bụt đã chỉ dạy phép quán niệm hơi thở nhiều lần trước đó (bởi vì đã có nhiều vị đệ tử thực tập), nhưng đây là lần đầu người chỉ dạy thật cặn kẽ, có thể là vì hôm ấy các vị xuất gia từ miền quê quy tụ về khá đông và trong số đó có nhiều vị khất sĩ tân học. Những vị này sở dĩ được có dịp quy tụ về đây là vì họ đã kết thúc khóa an cư sớm hơn các vị cư trú ở trung tâm Kỳ Thọ một tháng. Mùa an cư năm ấy tại trung tâm Kỳ Thọ của Bụt và chư vị đệ tử kéo dài tới bốn tháng. Ta biết rằng Bụt muốn có dịp cho chư tăng trong xứ quy tụ về. Số lượng chư vị xuất gia có mặt đêm ấy có thể đã lên tới ngàn vị.

Đức Thế Tôn đưa mắt lặng lẽ quan sát số người đông đảo đó và mở lời khen ngợi. Rồi nhân đó, người nói kinh Quán Niệm Hơi Thở.

B. Phần thứ hai là trái tim của kinh. Phần này nói về mười sáu hơi thở phối hợp với bốn lĩnh vực quán niệm.

1. Bốn hơi thở đầu
Trong hơi thở 1 và 2, đối tượng quán niệm thuần túy là hơi thở. Tâm người thở là chủ thể quán niệm và hơi thở là đối tượng quán niệm. Hơi thở có thể ngắn hay dài, thô kệch hay nhẹ nhàng. Hơi thở ảnh hưởng tới tâm, tâm ảnh hưởng tới hơi thở. Tâm và hơi thở trở nên hợp nhất. Tâm và hơi thở là một. Hơi thở là một phần của của thân, cho nên quán niệm về hơi thở cũng là quán niệm về thân

Trong hơi thở 3, hơi thở được phối hợp với toàn thân, hơi thở không còn là một phần của thân nữa mà là một với toàn thân. Ý thức về hơi thở đồng thời cũng là ý thức về toàn thân. Tâm, hơi thở và toàn thân trở nên hợp nhất.

Trong hơi thở 4, sự vận hành hoạt động của thân bắt đầu trở nên lắng dịu và an tịnh lại. Sự an tịnh của hơi thở đưa tới sự an tịnh của cơ thể và của tâm: tâm, hơi thở và cơ thể đồng nhất trong sự an tịnh.

Ngay trong bốn hơi thở đầu, hành giả đã thực hiện phép “thân tâm nhất như”, nghĩa là thân với tâm không phải là hai thực thể riêng biệt. Hơi thở là môi giới mầu nhiệm tạo thành trạng thái nhất như đó.

2. Bốn hơi thở kế
Hơi thở 5 chuyển về Thọ. Thọ tức là cảm giác, có ba loại: khổ thọ (cảm giác khó chịu), lạc thọ (cảm giác dễ chịu) và xả thọ (cảm giác không dễ chịu cũng không khó chịu). Do điều chỉnh hơi thở, quán niệm hơi thở, và làm cho sự vận hành và hoạt động trong cơ thể (nguyên văn là kàyasamkhàra, thân hành) được êm dịu và vi tế mà cảm thọ vui thích phát sinh. Đây là lạc thọ, và là tiến trình tự nhiên do hơi thở 4 đem đến.

Trong hơi thở 6, cảm giác vui thích biến thành cảm giác an lạc và hành giả ý thức về sự an lạc (lạc: sung sướng) ấy.

Các hơi thở 7 và 8 vẫn chú ý vào cảm thọ, bất cứ cảm thọ nào có mặt, những cảm thọ của thân hành (kaya-samkhàra) và của tâm hành (cittasamkhàra). Tâm hành tức là hoạt động của tâm ý gồm có cảm thọ và tri giác. Cảm thọ có thể từ thân thể phát sinh mà cũng có thể từ tri giác phát sinh. Ý thức về cả thân hành và cả tâm hành tức là bao trùm được toàn bộ nền tảng của cảm giác.

Hơi thở 8 làm cho thân hành và tâm hành lắng đọng và an tịnh lại. Tới đây, hành giả thống nhất được thân, tâm, cảm giác và hơi thở một cách hoàn toàn.

3. Bốn hơi thở áp chót
Bốn hơi thở 9, 10, 11 và 12 chuyển về đối tượng tâm. Tâm (citta) là tất cả những hoạt động của tâm (tâm hành) gồm có cảm giác (thọ), tri giác (tưởng) và mọi trạng thái tâm lý (hành). Tâm lý học Phật giáo nói đến 51 loại tâm hành. Nhưng tâm cũng là nhận thức phân biệt và suy tư. Hơi thở 9 bao trùm tất cả hoạt động của tâm, ý thức được những phát hiện của tâm trong giây phút hiện tại . Những hoạt động của tâm tuy thiên hình vạn trạng, nhưng hành giả chỉ quán chiếu những gì đang phát hiện và hoạt động trong giấy phút hiện tại thôi. Hơi thở 10 có tác dụng làm cho tâm ý hoan lạc, bởi vì trong trạng thái an vui tâm dễ đi vào định hơn là trong trạng thái sầu não   lo lắng. Hành giả ý thức được là mình đang có cơ hội thiền tập, rằng không có giờ phút nào quan trọng bằng giờ phút hiện tại, biết an trú trong giờ phút hiện tại vì vậy cảm thọ hoan lạc phát sinh. Hơi thở 11 đưa hành giả vào sự tập trung tâm ý, lấy tâm nhìn tâm, lúc bấy giờ tâm là hơi thở, tâm là sự hợp nhất của chủ thể và đối tượng quán chiếu, tâm là sự an lạc. Tâm là lĩnh vực của quán chiếu và của định lực.

Hơi thở 12 nhằm cởi mở cho tâm nếu tâm còn bị ràng buộc. Ràng buộc hoặc bởi quá khứ hoặc bởi vị lai, hoặc bởi những tình tiết u uẩn khác. Nhờ quán chiếu hành giả biết đâu là những sợi dây ràng buộc làm cho tâm không được an lạc và giải thoát. Hành giả quán chiếu về bản chất của những ràng buộc ấy, để cởi trói cho tâm. Hơi thở liên tục thổi ánh sáng quán chiếu vào tâm để giải thoát cho tâm.

4. Bốn hơi thở cuối
Tâm không phải biệt lập với cảnh. Tâm là nhận thức, là cảm thọ, là yêu ghét, v.v… Nhận thức bao giờ cũng là nhận thức một cái gì, cảm thọ bao giờ cũng là cảm thọ một cái gì, yêu ghét bao giờ cũng là yêu ghét một cái gì. Cái gì ấy tức là đối tượng của tâm; tâm không thể phát hiện nếu không có đối tượng, tâm không thể hiện hữu nếu đối tượng của tâm không hiện hữu. Vì thế, tâm đồng thời là chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức.

Tất cả các hiện tượng sinh lý (như hơi thở, thần kinh, giác quan), tâm lý (như cảm giác, tri giác, nhận thức) và vật lý (như đất, nước, cỏ, cây, núi, sông) đều là đối tượng của tâm và do đó cũng là tâm. Tất cả đều được gọi là pháp.

Hơi thở 13 quán chiếu về tính chuyển biến vô thường của vạn pháp, tâm lý, sinh lý và vật lý. Chính hơi thở cũng là vô thường. Phép quán này rất quan trọng bởi vì nó khai mở cho ta thấy tính cách tương quan tương duyên của vạn vật cũng như tính cách vô ngã (không có tự ngã riêng biệt) của các pháp. Hơi thở 14 cho ta thấy pháo nào rồi cũng tan rã, tàn hoại, để ta không còn ý định nắm bắt riêng một pháp nào, trong đó kể cả những hiện tượng sinh lý và tâm lý trong ta. Hơi thở 15 cho ta thấy không kẹt vào bất cứ một pháp nào, không bị một pháp nào nắm bắt và sai sử tức là đạt tới một niềm vui lớn, niềm vui của giải thoát, của tự do. Hơi thở 16 chiếu rạng trên thái độ buông bỏ của ta, buông bỏ tất cả mọi gánh nặng của vô minh, của nắm bắt. Buông bỏ được tức là đạt tới giải thoát.

Mười sáu hơi thở trên phải được học hỏi và thực tập một cách thông minh. Tuy được trình bày có thứ lớp, những hơi thở này không nhất thiết là phải được thực tập theo thứ tự trên dưới. Có thể nhiều ngày tháng thực tập ta chỉ chuyên về một loại hơi thở thôi, ví dụ hơi thở 14. Tuy nhiên những hơi thở đầu có hiệu lực lớn cho việc tập trung  tâm ý; mỗi lần thiền tập ta nên đi qua những hơi thở ấy.

Mười sáu hơi thở tuy được trình bày một cách đơn giản, nhưng hiệu lực của chúng thật vô lượng vô biên. Tùy theo trình độ tu học của ta mà ta đi cạn hay đi sâu vào những hơi thở ấy. Bụt đã không muốn đưa ra nhiều lý thuyết sợ loạn tâm người mới học, cho nên đã sử dụng những từ ngữ thật đơn giản như vô thường, tàn hoại, giải thoát, buông bỏ, v.v… Kỳ thực ý niệm về vô thường bao hàm trong nó ý niệm vô ngã, không, duyên sinh, vô tướng và vô tác, rất quan trọng cho tiến trình quán chiếu để đi tới giải thoát.

C. Phần thứ ba nói về bốn lĩnh vực quán niệm.

Thực ra trong phần thứ hai bốn lĩnh vực quán niệm (tứ niệm xứ) đã được đề cập tới rồi, tuy danh từ tứ niệm xứ chưa được nêu lên. Bốn lĩnh vực quán niệm trong kinh này chỉ được đề cập và giảng giải một cách sơ lược thôi.Hành giả phải tìm đọc kinh Niệm Xứ để biết cặn kẽ hơn về những chi tiết

Bốn lĩnh vực quán niệm là thân thể, cảm giác, tâm và pháp(đối tượng của tâm).Công trình quán niệm ở đây được đặt dưới sự giám sát của hơi thở có ý thức

Ở đây ta nên đề cập tới các từ ngữ “quán thân trong thân”, “quán cảm thọ trong cảm thọ”, “quán tâm ý trong tâm ý”, “quán đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý”.

Bí quyết của thiền quán là chủ thể quán chiếu với đối tượng quán chiếu trở thành bất nhị (không phải là hai cái riêng biệt). Nhà khoa học thường cho mình là hoàn toàn khác biệt với đối tượng mình quan sát và đo lường. Người thiền giả trái lại phải xóa bỏ ranh giới giữa chủ thể và đối tượng. Khi ta quan sát vật gì, ta là vật ấy. “Quán thân trong thân” có nghĩa là trong khi quán hành giả không đứng bên ngoài như một thực tại biệt lập mà phải đồng nhất mình với đối tượng quan sát. Chỉ có đường lối ấy mới đưa hành giả đến chỗ thâm nhập và chứng nghiệm thực tại một cách trực tiếp. Trong thiền quán,không những thân tâm là  nhất như mà chủ thể và đối tượng cũng nhất như. Trong thiền quán những lưỡi dao chia cắt và những ranh giới phân biệt không cón có mặt. Thiền giả trở nên người tham dự (le participant) mà không còn là người quán sát (l’observateur)

Thiền quán trước hết là ý thức một cách minh mẫn những gì đang xảy ra trong bốn lĩnh vực thân, thọ, tâm và pháp. “Tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời”. Cuộc đời tức là vạn pháp. Tham đắm cũng như chán ghét là những lớp màn tâm lí ngăn cản không cho ta thấy được chân tướng của vạn pháp. Cả hai thái độ: một là ôm cứng, hai là ruồng bỏ, đều không có tính cách tỉnh thức và minh mẩn, vì vậy hành giả phải vượt thoát chúng mới có thể thành công trong công phu quán chiếu.

D. Phần thứ tư nói về sự phát sinh và trưởng thành của bảy yếu tố giác ngộ “thất giác chi”
dưới nổ lực quán chiếu và giám sát của hơi thở có ý thức.

Niệm là yếu tố căn bản. Niệm là ý thức, là sự tỉnh táo. Có duy trì và phát triển niệm thì công phu quán chiếu để thấy rõ được vạn pháp mới đưa hành giả tới thành công. “Công phu quán chiếu để thấy rõ vạn pháp” tức là trạch pháp vậy. Tinh tấn là sự bền bỉ, tinh cần. Hỷ lạc và khinh an là những niềm vui nuôi dưỡng tinh tấn. Định là kết quả tất yếu của niệm. Định làm phát sinh trí tuệ, sự hiểu biết và khi hiểu biết hành giả có thể buông bỏ, vượt thoát mọi so đo, phân biệt và yêu ghét thường tình. Buông bỏ tức là hành xả vậy. Người đạt được hành xả sẽ có một nụ cười vừa chứng tỏ được từ bi vừa chứng tỏ được sự hiểu biết.

E. Phần thứ năm, rất ngắn, nhắc rằng bảy yếu tố giác ngộ nếu được phát sinh và thực tập tinh cần, sẽ đưa đến trí tuệ và giải thoát.

G. Phần thứ sáu là câu kết thúc của kinh, được áp dụng cho tất cả các kinh.

III. Đại ý

Then chốt của kinh Quán Niệm Hơi Thở là mười sáu phương pháp thở ra và thở vào, phối hợp bốn lĩnh vực quán niệm. Hơi thở cũng được sử dụng như phương thức duy trì sự chú tâm để hành giả nhìn (nhìn kĩ, nhìn lâu, nhìn sâu), để thấy được bản chất của vạn pháp và đạt tới giải thoát.

Vạn pháp được chia làm bốn lĩnh vực gọi là bốn lĩnh vực quán niệm (tứ niệm xứ):thân thể, cảm giác, tâm ý và đối tượng nhận biết của tâm ý. Đối tượng nhận biết của tâm tức cũng là vạn pháp vậy. Tuy chia làm bốn nhưng kỳ thực chỉ có một, bởi vì tất cả bốn lĩnh vực quán niệm đều là đối tượng nhân thức của tâm. Khi tâm nhận thức tâm thì tâm cũng là đối tượng của tâm

Mười sáu phương pháp thở ra và thở vào được chia làm bốn nhóm, mỗi nhóm bốn hơi thở: nhóm đầu lấy thân thể làm đối tượng quán niệm, nhóm thứ hai lấy cảm giác làm đối tượng, nhóm thứ ba lấy tâm ý làm đối tượng, nhóm thứ tư lấy đối tượng tâm ý làm đối tượng.

Sau đó, khi trình bày mười sáu phép quán niệm hơi thở, Bụt nói đến bốn lĩnh vực quán niệm (tứ niệm xứ) và bảy yếu tố giác ngộ, nhắc nhở thêm rằng  phép quán niệm hơi thở nếu được thực hành liên tục sẽ đến sự thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm và nếu bốn lĩnh vực quán niệm nếu được thực hành liên tục sẽ đưa đến sự thành tựu bảy yếu tố giác ngộ. Bốn lĩnh vực quán niệm được Bụt nói tới cặn kẽ hơn trong kinh Niệm Xứ; bảy yếu tố giác ngộ cũng được nhắc tới trong kinh Niệm Xứ và trong các kinh khác. Vì vậy cho nên ta có thể nói then chốt kinh này là phép quán niệm hơi thở phối hợp với bốn lĩnh vực quán niệm.

II. Chú thích

1. Thành Xá Vệ (Sāvatthī): Thủ đô của Vương Quốc KOSALA nằm về phía tây kinh đô Ca Tỳ La Vệ (Kapilavastu).

2. Lễ tự tứ (Pravāraṇā) được cử hành vào cuối mùa mưa, tức là mùa an cư ba tháng của các vị khất sĩ. Lễ tự tứ là lễ trong đó mỗi vị tu sĩ có mặt cầu xin đại chúng chỉ bảo cho mình biết những thiếu sót và yếu kém của mình trong mùa tu học ba tháng vừa qua. Ngày trăng tròn là ngày cuối của mỗi tháng. Thường thường lễ tự tứ được tổ chức vào cuối tháng Assayuja – tương đương với tháng mười dương lịch, nhưng vào năm nói kinh này thì Bụt muốn lễ được tổ chức trễ hơn một tháng, tức là vào cuối tháng Kārtika – tương đương với tháng mười một dương lịch. Mùa an cư năm ấy như vậy dài tới bốn tháng.

3. Ngày trăng tròn tháng tư được gọi là ngày Komudī. Komudī có nghĩa là ngày trăng tròn của tháng Kārtika. Kumuda là loại sen trắng thường nở ra vào tiết này cho nên ngày trăng tròn tháng Kārtika được gọi là Komudī.

4. La Hán (arahat, tiếng Phạn: arhat): cũng đọc là lô hán hay a la hán, quả vị cao nhất của tiểu thừa. La Hán có nghĩa là ứng cúng (xứng đáng được cung dưỡng), sát tặc (giết được giặc phiền não) và bất sinh (không còn sinh tử luân hồi).

5. Phiền não: những sợi dây ràng buộc tâm ý như: tham, sân, si, mạn, nghi, tà kiến v.v. Tiếng Pali là kisela. Phiền não tương đương với lậu hoặc (āsava), những chất độc của tâm ý, nguyên do của sinh tử, như tham dục, tà kiến, vô minh.

6. Năm sợi dây ràng buộc đầu: đó là năm thứ đầu trong mười triền sử (saṃyojana) sau đây: kẹt vào tà niệm bản ngã, nghi hoặc, kẹt vào giới cấm và lễ nghi vô lý, tham dục, hờn giận, tham đắm thế giới hình sắc, tham đắm thế giới vô sắc, kiêu mạn, trạo cử (bất an) và vô minh. Triền sử là trói buộc và sai khiến.

Trong đại thừa, thập sử được kể như sau: tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến. Năm thứ đầu được gọi là độn sử, năm thứ sau được gọi là lợi sử.

7. Quả Bất Hoàn (Anāgāmi-phala): quả vị tu chứng gần quả vị La Hán nhất. Người đạt được quả vị này không còn trở lại luân hồi.

8. Quả Nhất Hoàn (Sakadāgāmi-phala): quả vị tu chứng thấp hơn Bất Hoàn một bậc. Người đạt quả vị này còn trở lại tái sinh một lần nữa.

9. quả Dự Lưu (Sotàpatti-phala): quả vị tu chứng thấp nhất. Người đạt được quả vị này được xem như là đã gia nhập vào dòng sông giác ngộ, thế nào cũng chảy về biển cả giải thoát.

10. tứ niệm xứ (Satipatthàna): bốn lĩnh vực quán niệm, tức là quán niệm thân trong thân, cảm giác trong cảm giác, tâm ý trong tâm ý và đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý.

11.tứ chánh cần (padhàna): bốn nổ lực chân chính: điều ác chưa phát sinh đừng để cho chúng có cơ hội phát sinh, điều ác đã phát sinh tìm cách tiêu diệt, điều thiện chưa sinh làm cho phát sinh, điều thiện đã sinh tìm cách duy trì và phát triển.

tứ như ý túc (iddhi-pàda): bốn con đường đi tới sự thực hiện sức mạnh tâm linh: quyết tâm, tinh tiến, tâm niệm và quán tưởng.

ngũ căn (indriyana): năm khả năng là đức tin, tinh tiến, chánh niệm, chánh định và trí tuệ.

ngũ lực (bala): năm sức mạnh.

thất bồ đề phần (bojjhanga): bảy yếu tố giác ngộ, sẽ được đề cập tới trong kinh.

bát chánh đạo phần (atthangika-magga): con đường tu học chân chính gồm tám yếu tố: cái thấy chân chính, nếp tư duy chân chính, ngôn ngữ chân chính, hành động chân chính, phương thức mưu sinh chân chính, tinh cần trong nẻo chính, quán niệm đúng chính pháp và thiền định đúng chính pháp.

Tất cả các phép tu trên đây cộng lại thành ba mươi bảy phép tu, được gọi là tam thập thất trợ đạo phẩm (bodhipakkhiya-dhamma).

11. từ, bi, hỷ, xả (brama-vihàra): bốn tâm trạng đẹp đẽ và quý báu không có biên giới. Thường được gọi là tứ vô lượng tâm. Từ là cho vui, bi là cứu khổ, hỷ là vui và vui cái vui của người, xả là buông bỏ, không tính toán hơn thiệt, không ôm ấp kiến thức và buồn giận.

12. cửu tưởng quán: phép quán tưởng về chín giai đoạn tàn hoại của một tử thi từ khi sình lên cho đến khi thành tro bụi.

13. 13 & 14. mừng vui và an lạc: danh từ pìti thường được dịch là hỷ (vui) trong khi danh từ sukha được dịch là lạc (sung sướng). Ví dụ này thường được đưa ra để so sánh hỷ và lạc: Người đi trong sa mạc thấy một dòng nước mát, đó là hỷ, và khi được uống nước mát, đó là lạc. Ở đây pìti được dịch là mừng vui và sukha được dịch là an lạc.

14. tính tàn hoại (viràga): sự phai lạt và tan rã dần dần của các pháp cũng như sự phai lạt và tan rã dần dần của ham muốn. Ràga nguyên có  nghĩa là màu hay nhuộm màu, bây giờ được dùng với nghĩa ham muốn. Viràga là sự tàn phai của màu sắc và của lòng tham muốn.

15. giải thoát: ở đây có nghĩa là sự biến diệt của lậu hoặc và phiền não.

16. buông bỏ: ở đây là buông bỏ những đối tượng mà mình thấy là ảo vọng, không có thực thể.

17. hỷ lạc xuất thế (niràmisa): một thứ hỷ lạc không nằm trong phạm vi dục vọng thân xác.

18. phân biệt và so đo: phân biệt chủ thể và đối tượng, cái ưa với cái ghét, cái được với cái mất. Danh từ upekkha (hành xả) có khi được dịch là indifference (sự lạnh nhạt, không tha thiết), có khi được dịch là equanimity (coi mọi cái như nhau). Tuy danh từ sau (equanimity) khá hơn danh từ trước (indifference), ý niệm buông bỏ vẫn còn là ý niệm căn bản trong từ upekkha. Buông bỏ ở đây là buông bỏ mọi sự phân biệt về chủ thể / đối tượng, yêu / ghét, được / mất, buông bỏ thành kiến, kiến thức, sở đắc v.v… Phật giáo đại thừa đã khai thác được tới nơi tới chốn ý niệm này.

Kinh Quán Niệm Hơi Thở

A.
Tôi nghe như sau:

“Hồi đó, Bụt còn ở tại thành Xá Vệ (1), cư trú trong vườn Kỳ Thọ với nhiều vị đại đệ tử nổi tiếng như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, Ca Diếp, Ca Chiên Diên, Câu Thi La, A Nậu Lâu Đà, Ưu Bà Đa, A Nan Đà v.v. Trong cộng đồng các vị khất sĩ, những vị trưởng thượng thì lo chăm sóc dạy dỗ các vị khất sĩ tân học, có vị chăm dạy mười người, có vị bốn mươi người. Các vị khất sĩ tân học được chăm sóc và dạy dỗ như thế dần dần thực hiện được nhiều tiến bộ.

Đêm ấy là một đêm trăng tròn ngày lễ Tự Tứ kết thúc mùa an cư (2). Đức Giác Ngộ ngồi ở ngoài trời và xung quanh người, chúng đệ tử khất sĩ quy tụ. Sau khi đưa mắt lặng lẽ nhìn đại chúng Bụt lên tiếng:

“Quý vị khất sĩ, tôi rất hài lòng về những thành quả mà quý vị đã đạt được trong sự tu học. Quý vị hãy tinh tiến lên nữa. Những gì chưa đạt được, hãy đạt cho được, và những gì chưa thực hiện, hãy thực hiện cho xong. Tôi sẽ ở đây, và đợi tại thành Xá Vệ này cho đến ngày trăng tròn chấm dứt tháng an cư thứ tư (3).”

Nghe tin Đức Thế Tôn bảo người sẽ lưu lại Xá Vệ cho đến ngày trăng tròn của tháng thứ tư, các vị khất sĩ lúc bấy giờ hành đạo rải rác ở những miền quê liền lên đường lục tục tìm đến Xá Vệ thăm người. Vào dịp này, các vị trưởng thượng lại càng chăm chú chỉ dạy các vị tân học, vị thì chỉ dạy mười người, vị thì hai mươi người, vị thì ba mươi người, vị thì bốn mươi người… Các vị khất sĩ tân học nhờ đó lần lượt đạt được nhiều tiến bộ đáng kể.

Bây giờ đây, đã đến ngày trăng tròn tháng tư và Bụt cũng đang ngồi ngoài trời với các khất sĩ. Người đưa mắt lặng lẽ quan sát đại chúng một hồi rồi lên tiếng:

“Quý vị khất sĩ ! Cộng đồng chúng ta đây quả là thanh tịnh và có thực chất tu học, không mang tính chất phù phiếm và ba hoa, xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được gọi là phước điền, xứng đáng được kính nể. Cúng dường cho một đại chúng như thế chắc chắn sẽ có công đức. Một cộng đồng như thế này thật là hiếm có và dù xa xôi mấy ai cũng phát tâm tìm tới để quy kính.”

“Này quý vị, trong đại chúng đây có những vị khất sĩ đã chứng quả La Hán (4), đã trừ hết mọi phiền não (5), đã trút bỏ được mọi gánh nặng, đã thành tựu được trí tuệ và giải thoát. Lại có những vị đã cắt được năm sợi dây ràng buộc đầu (6), chứng được quả Bất Hoàn (7), sẽ không còn trở lại luân hồi; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Nhất Hoàn (8), hàng phục được phần thô của các phiền não tham, sân và si, và chỉ cần trở lại một lần; có những vị đã cắt bỏ được ba sợi dây ràng buộc đầu, chứng quả Dự Lưu (9), đang vững chãi đi về quả vị giác ngộ; có vị đang thực tập tứ niệm xứ, có vị đang thực tập tứ chánh cần, có vị đang thực tập tứ như ý túc, có vị đang thực tập ngũ căn, có vị đang thực tập ngũ lực, có vị đang thực tập thất bồ đề, có vị đang thực tập bát thánh đạo (10), có vị đang thực tập Từ, có vị đang thực tập Bi, có vị đang thực tập Hỷ, có vị đang thực tập Xả (11), có vị đang thực tập cửu tưởng quán (12), có vị đang thực tập vô thường quán. Lại có những vị khác đang thực tập quán niệm hơi thở.”

B.
“Quý vị khất sĩ! Phép quán niệm hơi thở, nếu được phát triển và thực hiện liên tục, sẽ đem lại những thành quả và lợi lạc lớn, có thể làm thành tựu bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ); bốn lĩnh vực quán niệm nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa tới trí tuệ và giải thoát.”

“Làm thế nào để phát triển và thực tập phép Quán Niệm Hơi Thở, để phép này mang lại những thành quả và lợi lạc lớn?”

“Này đây, quý vị khất sĩ, người hành giả đi vào rừng hoặc tới một góc cây, nơi vắng vẻ, ngồi xuống trong tư thế hoa sen, giữ thân cho thẳng, và đặt vững chánh niệm trước mặt mình. Thở vào, người ấy biết rằng mình thở vào; Thở ra, người ấy biết là mình thở ra.”

    1. Thở vào một hơi dài người ấy biết: ta đang thở vào một hơi dài. Thở ra một hơi dài người ấy biết: ta đang thở ra một hơi dài.
    2. Thở vào một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở vào một hơi ngắn. Thở ra một hơi ngắn người ấy biết: ta đang thở ra một hơi ngắn.
    3. Ta đang thở vào và có ý thức về toàn thân thể ta; ta đang thở ra và có ý thức về toàn thân thể ta, người ấy thực tập như thế.
    4. Ta đang thở vào và làm cho toàn thân an tịnh; ta đang thở ra và làm cho toàn thân an tịnh, người ấy thực tập như thế.
    5. Ta đang thở vào và cảm thấy mừng vui (13); ta đang thở ra và cảm thấy mừng vui, người ấy thực tập như thế.
    6. Ta đang thở vào và cảm thấy an lạc (13); ta đang thở ra và cảm thấy an lạc, người ấy thực tập như thế.
    7. Ta đang thở vào và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta; ta đang thở ra và có ý thức về những hoạt động tâm ý trong ta, người ấy thực tập như thế.
    8. Ta đang thở vào và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta an tịnh; ta đang thở ra và làm cho những hoạt động tâm ý trong ta an tịnh, người ấy thực tập như thế.
    9. Ta đang thở vào và có ý thức về tâm ý ta; ta đang thở ra và có ý thức về tâm ý ta, người ấy thực tập như thế.
    10. Ta đang thở vào và làm cho tâm ý ta hoan lạc; ta đang thở ra và làm cho tâm ý ta hoan lạc, người ấy thực tập như thế.
    11. Ta đang thở vào và thu nhiếp tâm ý ta vào định; ta đang thở ra và thu nhiếp tâm ý ta vào định, người ấy thực tập như thế.
    12. Ta đang thở vào và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do; ta đang thở ra và cởi mở cho tâm ý ta được giải thoát tự do, người ấy thực tập như thế.
    13. Ta đang thở vào và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp; ta đang thở ra và quán chiếu tính vô thường của vạn pháp, người ấy thực tập như thế.
    14. Ta đang thở vào và quán chiếu về tính tàn hoại của vạn pháp (14); ta đang thở ra và quán chiếu về tính tàn hoại của vạn pháp, người ấy thực tập như thế.
    15. Ta đang thở vào và quán chiếu về giải thoát (15); ta đang thở ra và quán chiếu về giải thoát, người ấy thực tập như thế.
    16. Ta đang thở vào và quán chiếu về sự buông bỏ (16); ta đang thở ra và quán chiếu về sự buông bỏ, người ấy thực tập như thế.

Phép Quán Niệm Hơi Thở, theo những chỉ dẫn trên, nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đem đến những thành quả và lợi lạc lớn.

C.
Phát triển và thực tập liên tục như thế nào để phép quán niệm hơi thở có thể thành tựu được bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ)?

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra một hơi dài hay một hơi ngắn mà có ý thức về hơi thở và về toàn thân mình, hoặc có ý thức là đang làm cho toàn thân mình an tịnh, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán thân trong thân, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt khỏi mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Hơi thở vào và hơi thở ra có ý thức ở đây thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ nhất là thân thể.

Khi người hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về sự vui thích hoặc về sự an lạc, về những hoạt động của tâm ý, hoặc để làm cho những hoạt động của tâm ý an tịnh thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán cảm thọ trong cảm thọ, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Những cảm thọ được chứng nghiệm trong hơi thở có ý thức ấy thuộc về lĩnh vực quán niệm thứ hai là cảm thọ.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà có ý thức về tâm ý, làm cho tâm ý an tịnh, thu nhiếp tâm ý vào định hoặc cởi mở cho tâm ý được giải thoát tự do, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán niệm tâm ý trong tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời. Không quán niệm về hơi thở thì sẽ không phát triển được chánh niệm và sự hiểu biết.

Khi hành giả thở vào hoặc thở ra mà quán chiếu về tính cách vô thường hoặc về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp, về giải thoát và về sự buông bỏ, thì khi ấy hành giả đang an trú trong phép quán niệm đối tượng tâm ý trong đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời.

Phép Quán Niệm Hơi Thở nếu được phát triển và thực tập liên tục, sẽ đưa bốn lĩnh vực quán niệm đến chỗ thành tựu viên mãn.

D.
Nhưng nếu được phát triển và thực tập liên tục, bốn lĩnh vực quán niệm sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ đến chỗ thành tựu viên mãn. Bằng cách nào?

Khi hành giả an trú trong phép quán thân trong thân, quán cảm thọ trong cảm thọ, quán tâm ý trong tâm ý, quán đối tượng tâm ý nơi đối tượng tâm ý, tinh tiến, tỉnh thức, biết rõ tình trạng, vượt thoát mọi tham đắm cũng như mọi chán ghét đối với cuộc đời, thì lúc ấy chánh niệm của hành giả được duy trì vững chãi và bền bỉ, và hành giả đạt được yếu tố giác ngộ (giác chi) thứ nhất là niệm. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong chánh niệm để quán chiếu và quyết trạch về các pháp, đối tượng của tâm ý, thì yếu tố giác ngộ thứ hai được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố trạch pháp. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả an trú trong quán chiếu và quyết trạch về các pháp một cách bền bỉ, tinh cần, vững chãi thì yếu tố giác ngộ thứ ba được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố tinh tấn. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi mà hành giả đã an trú vững chãi và bền bỉ trong sự hành trì tinh tiến thì yếu tố giải thoát thứ tư được sinh khởi và phát triển, đó là yếu tố hỷ lạc xuất thế (17). Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi hành giả được an trú trong trạng thái hỷ lạc rồi thì hành giả cảm thấy thân và tâm của mình nhẹ nhàng và an tịnh, khi đó yếu tố giải thoát thứ năm được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố khinh an. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi thân và tâm mình đã nhẹ nhàng và thanh tịnh, hành giả có thể đi vào định một cách dễ dàng. Lúc đó yếu tố giải thoát thứ sáu được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố định. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Khi đã thực sự an trú trong định, hành giả không còn duy trì sự phân biệt và so đo (18) nữa. Khi đó yếu tố giải thoát thứ bảy là buông thả được sinh khởi và phát triển. Đó là yếu tố hành xả. Yếu tố này sẽ tiến dần đến sự thành tựu viên mãn.

Bốn lĩnh vực quán niệm (Tứ Niệm Xứ) nếu được phát triển và thực tập liên tục sẽ đưa bảy yếu tố giác ngộ (thất giác chi) đến chỗ thành tựu viên mãn như thế.

E.
Nhưng bảy yếu tố giác ngộ, nếu được phát triển và thực tập liên tục, làm thế nào để có thể đưa đến sự thành tựu viên mãn của trí tuệ và giải thoát?

Nếu hành giả tu tập theo bảy yếu tố giác ngộ, một mình tịnh cư, chuyên quán chiếu về tính cách phải tàn hoại của vạn pháp, quán chiếu về sự tự do, thì sẽ đạt tới khả năng buông bỏ. Đó là do tu tập bảy yếu tố giác ngộ mà thành tựu viên mãn được trí tuệ và giải thoát.

F.
Đó là những điều Đức Thế Tôn nói. Đại chúng ai nấy đều tỏ vẻ vui mừng được nghe người dạy.

Kinh Bát đại nhân giác

KINH TÁM ĐIỀU GIÁC NGỘ CỦA CÁC BẬC ĐẠI NHÂN

Là đệ tử Bụt
Thường phải hết lòng
Ngày đêm tụng niệm
Bát Đại Nhân Giác

Một là giác ngộ
Thế gian vô thường
Đất nước mong manh
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã
Sinh diệt biến đổi
Hư ngụy không chủ
Tâm là nguồn ác
Thân là rừng tội
Quán chiếu như thế
Dần lìa sinh tử.

Hai là giác ngộ
Đa dục là khổ
Sinh tử nhọc nhằn
Đều do tham dục
Thiểu dục vô vi
Thân tâm tự tại.

Ba là giác ngộ
Lòng dục không cùng
Tìm kiếm chẳng ngừng
Thêm lớn tội lỗi
Bồ Tát trái lại
Thường niệm tri túc
Sống nghèo hành đạo
Xem tuệ giác là
Sự nghiệp duy nhất.

Bốn là giác ngộ
Vì tính lười biếng
Nên bị đọa lạc
Phải tinh tiến tu
Phá giặc phiền não
Hàng phục tứ ma
Thoát ngục ấm giới.

Năm là giác ngộ
Chỉ vì si mê
Nên có sinh tử
Bồ tát thường nhớ
Học rộng nghe nhiều
Nuôi dưỡng trí tuệ
Thành tựu biện tài
Giáo hóa chúng sanh
Khiến cho mọi người.
Được niềm vui lớn.

Sáu là giác ngộ
Chỉ vì nghèo khổ
Mà nhiều oán hận
Tạo nhiều duyên ác
Bồ tát bố thí
Không nệ oán thân
Xóa bỏ thù hận
Không ghét kẻ ác.

Bảy là giác ngộ
Năm thứ dục lạc
Gây thành tội nạn
Người đã xuất gia
Tuy ở cõi tục
Không nhiễm thói đời
Pháp khí chỉ là
Ba y một bát
Chí nguyện xuất trần
Giữ đạo thanh bạch
Phạm hạnh cao vời
Đem lòng từ bi
Đối với muôn loại.

Tám là giác ngộ
Ngọn lửa sinh tử
Đang cháy hừng hực
Thống khổ vô biên
Phát tâm đại thừa
Độ cho tất cả
Nguyện thay chúng sanh
Chịu vô lượng khổ
Khiến cho muôn loài
Hoàn toàn đạt tới
Niềm vui to lớn

Tám điều nói trên
Các bậc đại nhân
Bụt và Bồ Tát
Đã giác ngộ được
Các ngài tinh tấn
Hành đạo theo đó
Un đúc từ bi
Phát triển trí tuệ
Cưỡi thuyền pháp thân
Tới bến niết bàn
Sau khi trở về
Trong cõi sinh tử
Các vị sử dụng
Tám điều nói trên
Để mà khai đạo
Cho chúng sinh thấy
Cái khổ sinh tử
Tâm lìa ngũ dục
Vào con đường thánh

Nếu đệ tử Bụt
Đọc tụng quán chiếu
Tám điều nói trên
Thì trong mỗi giây
Diệt vô lượng tội
Tiến về giác ngộ
Mau thành chánh giác
Vĩnh viễn xa lìa
Cõi sinh tử khổ
Và thường trú mãi
Nơi cõi an lạc.

PHẦN GIẢI KINH

XUẤT XỨ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

Kinh này do một vị tăng sĩ nước Parthia tên là An Thế Cao dịch từ Phạn văn ra Hán Văn tại trung tâm Lạc Dương đời Hậu Hán, trong khoảng thời gian từ năm 140 đến năm 171 của kỷ nguyên Tây lịch. Nguyên bản Phạn văn không biết còn lưu truyền hay không. Kinh văn rất cổ. Văn thể của kinh thuộc loại kết tập như kinh Tứ Thập Nhị Chương và kinh Lục Độ Tập. Kinh này dung hợp cả đạo Bụt Nguyên Thủy và đạo Bụt Đại Thừa. Tám điều mà kinh văn nói đến có thể coi như tám đề tài thiền quán. Mỗi đề tài lại có thể chia sẻ làm nhiều đề tài nhỏ. Xét về phương diện hình thức thì kinh văn rất đơn giản, nhưng đứng về phương diện nội dung thì tư tưởng của kinh rất sâu sắc màu nhiệm. Kinh Bát Đại Nhân Giác hoàn toàn không có tính cách luận thuyết. Toàn văn của kinh chỉ là đề tài thiền quán rất thực tiễn.

NỘI DUNG KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

Ta có thể rút ra từ trong kinh này mười một đề tài thiền quán chính yếu.

Đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ nhất là đoạn kinh thuyết minh về Phép Tứ Niệm Trú. Phép Tứ Niệm Trú là bốn phép thiền quán căn bản của đạo Bụt, sự quán chiếu thường trực về bốn đặc tính của thực hữu: vô thường, khổ không, vô ngã và bất tịnh.

Điều giác ngộ đầu nói về bốn phép thiền quán này và kết luận: nếu quán chiếu bốn đặc tính kia một cách cần mẫn thì có thể dần dần thoát ly được thế giới sinh tử.

Đề tài thiền quán thứ nhấttính cách vô thường của vạn hữu.
Mọi vật trên thế gian biết đổi trong từng giây từng phút, đó gọi là sát na vô thường. Mọi vật trên thế gian, kể cả sinh mạng, núi sông, chế độ chính trị v.v. đều trải qua những giai đoạn sinh trưởng, tồn tại, biến hoại và tiêu diệt. Sự tiêu diệt ấy gọi là nhất kỳ vô thường. Phải quán sát để thường xuyên nhìn thấy tính cách vô thường của mọi sự, mọi vật mới có thể tránh khỏi cái ảo tưởng về sự miên viễn của sự vật và không bị sự vật lôi kéo ràng buộc.

Đề tài thiền quán thứ haitính cách khổ đau và trống rỗng của sự vật.
Người Ấn Độ xưa có quan niệm về tứ đại, cho rằng bản chất của sự vật là đất (yếu tố rắn chắc), là nước (yếu tố lưu nhuận), lửa (nhiệt lượng) và gió (năng lượng), gọi chung là tứ đại. Bậc giác ngộ thấy rằng sự vật do tứ đại kết hợp cho nên khi có sự điều hòa của tứ đại thì có sự an lạc, còn khi thiếu sự điều hòa ấy thì có sự thống khổ. Vạn vật, vì do tứ đại kết hợp, không phải là những cá thể tồn tại vĩnh cửu, cho nên vạn vật có tính cách không hư, trống rỗng. Vạn vật vì vô thường cho nên khi bị ràng buộc vào vạn vật, người ta cũng bị sự vô thường làm đau khổ. Vạn vật vì trống rỗng cho nên khi bị ràng buộc vào vạn vật, người ta cũng bị sự trống rỗng làm cho đau khổ. Nhận thức được sự có mặt của khổ đau là khởi điểm của sự tu đạo. Đó là chân lý thứ nhất của bốn chân lý căn bản, còn gọi là Tứ Diệu Đế. Mất ý thức về sự có mặt của khổ đau, không quán niệm về tính cách khổ đau của vạn hữu thì dễ bị lôi kéo theo vật dục, làm tiêu mòn cuộc đời mình trong sự đuổi theo vật dục. Thấy được khổ đau mới có cơ tìm ra nguyên nhân của khổ đau để mà đối trị.

Đề tài thiền quán thứ batính cách vô ngã của tự thân.
Đạo Bụt dạy rằng con người do năm yếu tố hợp nên, gọi là ngũ uẩn: vật chất, cảm giác, tư tưởng, hành nghiệp và nhận thức. Nếu vật chất là do tứ đại cấu thành, trống rỗng, không có thực chất thì con người do ngũ uẩn kết hợp, cũng không có tự ngã vĩnh cửu, một chủ thể bất biến. Con người cũng thay đổi từng giây từng phút, cũng trải qua sát na vô thường và nhất kỳ vô thường. Nhờ nhìn sâu vào ngũ uẩn cho nên thấy “ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến đổi, hư ngụy không chủ” và đánh tan được ảo giác cho rằng thân này là một bản ngã vĩnh cửu. Vô ngã quán là một đề tài thiền quán quan trọng vào bậc nhất của đạo Phật. Nhờ vô ngã quán mà hành giả tháo tung được biên giới giữa Ngã và Phi Ngã, thấy được sự hòa điệu đại đồng của vũ trụ, thấy ta trong người và người trong ta, thấy quá khứ và vị lai trong hiện tại, và siêu việt được sinh tử. Khoa học ngày nay cũng đã khám phá được chân lý vô ngã. Chúng ta hãy đọc đoạn văn sau đây của nhà sinh vật học Lyall Watson để thấy được sự thật vô ngã qua con mắt của nhà khoa học. Lyall Watson không phải là một nhà Phật học, nhưng lời nói của ông sau đây phù hợp hoàn toàn với nguyên lý duyên sinh và vô ngã:

“Trên trái đất có sự sống, một sự sống duy nhất bao trùm mọi loài động vật và thực vật. Thời gian đã chia sẻ sự sống ấy ra hàng triệu mảnh, nhưng mảnh nào cũng chỉ là một phần của sự sống duy nhất đó. Một bông hồng là một bông hồng, nhưng đồng thời cũng là một con chim chào mào và một con thỏ. Tất cả chúng ta đều có chung một xương thịt, đúc từ một lò mà ra. Trong thiên nhiên, người ta đếm được 92 chất hóa học, trong đó có 16 chất quan trọng tạo thành bản chất của mọi sự sống. Trong số 16 chất này thì chất than (carbone) đóng vai trò trung ương vì nó có khả năng kết nên những dây chuyền phức tạp tạo thành vô số hợp chất. Tuy vậy, trong số hàng ngàn hợp chất ấy, chỉ có 20 chất Aminoacids là những nguyên tố tạo thành các loại proteins. Quan trọng hơn nữa là các proteins đó có tạo thành đúng lúc, đúng chỗ trên một quá trình diễn biến được định sẵn trong bản chất của bốn phân tử (molecules), bốn loại mà thôi, gọi là Base-nucléotides. Do yếu tố thời gian, không gian và do những quy luật định sẵn trong bốn loại phân tử đó mà chất protéines kia sẽ biến thành hoặc một vi khuẩn hoặc một con lạc đà. Mọi hình thái của sự sống đều được chỉ định hình thành trong ngôn ngữ đơn giản đó.

Sự sống cũng lại vâng theo luật nhiệt động (loi de thermodynamique). Theo luật ấy thì trạng thái tự nhiên của vật chất là sự hỗn mang, tất cả có khuynh hướng đi vào tan rã, tình cờ và hỗn độn. Tuy vậy những hình thái của sự sống lại được cấu tạo bởi những chất liệu được tổ chức rất tinh vi: từ hỗn độn, chúng tạo thành trật tự và chống lại khuynh hướng tan rã hoại diệt trong tự thân vật chất. Trật tự này được duy trì bởi sự thâu hút năng lực từ bên ngoài vào để cho guồng máy của sự sống được điều hành tiếp tục. Các hệ thống sinh lý hóa thường trực trao đổi chất liệu với những vật xung quanh. Đó là những quá trình nhiệt động mở, khác với hệ thống nhiệt tĩnh bên trong của các phản ứng hóa học thông thường. Đó là bí quyết của sự sống giữa các loài sinh vật và môi trường sinh hoạt của chúng, cũng như giữa các loài sinh vật với nhau, luôn luôn có một sự liên lạc thường trực. Tác động tương quan tương duyên nối liền mọi hình thái của sự sống lại thành một hệ thống rộng rãi của sự sống trong đó mọi hiện tượng đều tương thuộc vào nhau. Một liên hệ với tất cả, và mỗi chúng ta đều là một phần liên lạc của đại thể. (1)

(Lyall Watson, Histoire Naturelle du Surnaturel, Edition “J’ai lu”)

Nhà khoa học nếu chịu quán niệm thường trực về vô ngã nơi tự thân và nơi sự vật như thế thì cũng có ngày đạt ngộ dễ dàng vậy.

Đề tài thiền quán thứ tưtính cách bất tịnh của thân tâm.
Bất tịnh có nghĩa là không tinh sạch, không thánh thiện, không đẹp đẽ. Đứng về cả hai phương diện sinh lý và tâm lý, con người là bất tịnh. Đây không phải là một cái nhìn bi quan mà chỉ là một cái nhìn khách quan về con người. Thấy được cấu tạo của cơ thể, từ tóc trên đỉnh đầu cho đến máu, mủ, đàm, phân, nước tiểu, những vi khuẩn ẩn náu trong ruột và những bệnh tật cứ chực sẵn để phát sinh, ta thấy phần sinh lý của ta quả là bất tịnh. Phần sinh lý đó cũng là động lực thúc đẩy ta đi tìm sự thỏa mãn dục lạc, do đó, kinh gọi thân thể là nơi tích tụ của tội lỗi. Còn về phần tâm lý? Vì không thấy được sự thật về vô thường, khổ không và vô ngã của sự vật cho nên tâm ta thường trở thành nạn nhân của tham vọng thù ghét; do tham vọng và thù ghét mà tạo ra bao nhiêu lỗi lầm, cho nên kinh nói “tâm là nguồn suối phát sinh điều ác.” Đến đây chấm dứt đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ nhất.

Đề tài thiền quán thứ nămcàng lắm ham muốn thì càng nhiều khổ đau.
Đây là nội dung của kinh nói về điều giác ngộ thứ hai. Quan niệm thông thường về hạnh phúc là được thỏa mãn những ham muốn của mình. Ham muốn có năm loại: nhiều tiền bạc, nhiều sắc dục, nhiều danh vọng, nhiều món ăn ngon, nhiều sự ngủ nghê làm biếng. Nhưng ham muốn của con người là vô cùng mà sức lực của con người thì hữu hạn. Ham muốn mà không được thỏa mãn thì đau khổ. Ham muốn mà chỉ được thỏa mãn một phần thì còn phải chạy theo nó và cũng đau khổ. Càng chạy theo ham muốn, càng đau khổ. Chỉ khi nào con người thấy mệt nhoài vì sự chạy đuổi không ngừng đó thì con người mới thấy rằng mình đã bị lưới ham muốn ràng buộc, rằng hạnh phúc chân thật là sự thảnh thơi của thân và của tâm; mà sự thảnh thơi đó là do sự ít ham muốn mà có. Ít ham muốn không chạy theo năm món dục lạc, đó là đạt tới một bước dài của sự tự do và giải thoát.

Đề tài thiền quán thứ sáutri túc phá tham dục.
Tri túc là bằng lòng với những điều kiện sinh hoạt vật chất tạm đủ để sống mạnh khỏe mà hành đạo. Tri là biết, túc là đủ. Tri túc là một phương pháp hữu hiệu nhất để phá lưới tham dục, để đạt được sự thảnh thơi của thân tâm, để có thì giờ giúp đỡ người chung quanh, để rảnh rang mà hoàn thành sự nghiệp trí tuệ giác ngộ. Tri túc lại có thể tránh cho ta sự đồng đảng với những thế lực kinh tế bóc lột, sự tiêu xài quá mức và sự ô nhiễm môi trường sinh hoạt. Đây là nội dung đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ ba.

Đề tài thiền quán thứ bảy: tinh tấn phá biếng lười.
Sau khi đã ngừng sự đuổi theo tham dục, sau khi đã biết thực hành tri túc để thân tâm được thảnh thơi, người hành đạo không vì sự thảnh thơi đó mà lười biếng để cho tháng ngày trôi qua một cách uổng phí. Tinh tấn là sự cần mẫn ngày đêm, cần mẫn để dùi mài sự nghiệp trí tuệ, tức là sự nghiệp giác ngộ. Phải dùng thì giờ của mình để ngày đêm quán chiếu bốn sự thực căn bản: vô thường, khổ không, vô ngã và bất tịnh, tức là đối tượng của bốn phép thiền quán đầu tiên. Phải đi sâu thêm vào giáo nghĩa Tứ Niệm Trú, phải học phép quán niệm về hơi thở, về các tư thế của thân thể, về sự thành trú hoại không của thể xác, cảm giác, tri giác, hành nghiệp và nhận thức của mình. Phải tìm đọc những kinh điển chỉ dẫn rành mạch về phép tọa thiền, điều hòa hơi thở và quán niệm, như Kinh Tứ Niệm Xứ (tức là Kinh Quán Niệm), kinh An Ban Thủ Ý và kinh Đại Bát Nhã. Phải theo lời chỉ dẫn trong các kinh ấy mà hành trì một cách thông minh, nghĩa là phải chọn những cách tu thích hợp với trường hợp cá nhân mình, nếu cần thì gia giảm phép tu cho phù hợp. Hạ thủ công phu cho tới khi nào những phiền não căn bản như tham, giận, si mê, kiêu mạn, nghi ngờ và thành kiến đều bị nhổ tận gốc, thì tự nhiên ta thấy thân tâm thoát khỏi ngục tù của sinh tử, của ngũ ấm, của tam giới. Đây là nội dung của đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ tư.

Đề tài thiền quán thứ tám: trí tuệ phá si mê.
Trong các loại phiền não căn bản, si mê là thứ phiền não có gốc rễ vững mạnh nhất. Một khi gốc rễ của si mê bị bật tung thì các loại phiền não khác như tham lam, giận dữ, nghi ngờ và thành kiến đều dễ bị bật gốc. Biết vậy cho nên người hành giả phải nỗ lực quán chiếu về sự vô thường, vô ngã và nhân duyên sinh của vạn hữu. Một phen đào được gốc vô minh, không những hành giả tự giải phóng được cho bản thân mà còn giáo hóa cho những kẻ khác, đem họ ra khỏi sự kiềm tỏa của sinh tử. Đây là nội dung đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ năm. Bốn điều giác ngộ đầu có tác dụng tự độ, bốn điều giác ngộ sau, bắt đầu từ điều thứ năm, có tác dụng độ người. Vì vậy kinh này phối hợp được một cách vững chãi các khuynh hướng tiểu thừa và đại thừa của Phật giáo.

Đề tài thiền quán thứ chín: bố thí bình đẳng.
Có người cho rằng mình chỉ có thể bố thí khi mình có nhiều tiền bạc. Điều này không đúng. Người có nhiều tiền bạc đôi khi cũng có bố thí, nhưng sự bố thí này thông thường để mua danh lợi hay lấy lòng người xung quanh. Những người có lòng thương người thì ít khi giàu có, một phần vì họ luôn luôn chia xẻ với kẻ khác, một phần vì họ không có dạ làm giàu trên sự đau khổ của kẻ khác.

Danh từ bố thí của đạo Bụt thường bị hiểu là ném cho năm cắc một đồng. Thực ra bố thí là một hành động rất đẹp, rất khiêm nhượng, rất cao cả. Bố nghĩa là đồng đều, cùng khắp. Thí là làm ra, vốn là chữ Thi, trong danh từ Thi Hành. Vậy thì bố thí cũng có nghĩa là làm san bằng sự chênh lệch giàu nghèo. Tất cả những hành động nào làm cho con người bớt khổ, thực thi được công bằng xã hội đều là bố thí. Nói vậy không có nghĩa muốn bố thí thì phải làm chính trị. Làm chính trị để đi đến chỗ tranh dành quyền bính giữa các phe phái, gây chết chóc cho lương dân là trái ngược với tinh thần bố thí. Bố thí là hạnh tu đầu của sáu phép Ba La Mật. Ba La Mật có nghĩa là đưa người sang bờ bên kia, tức là bờ giải thoát: giải thoát khỏi bệnh tật, nghèo đói, vô minh, phiền não, sinh tử. Hành giả tu hạnh tri túc chỉ có tạm đủ để sống thì làm sao để bố thí? Xin đáp: chính vì tu hạnh tri túc mới có thể thực hành phép bố thí của đạo Bụt. Đại đa số người biết hy sinh cho nhân loại, đem cuộc đời mình để cứu giúp phụng sự cho nhân loại đều là những người sống một cuộc sống giản dị tri túc. Suốt đời lo việc danh lợi, làm gì có thì giờ để hành đạo, bố thí?

Mahatma Gandhi sống đời thật giản dị, vậy mà công trạng cứu nhân độ thế của ông ít ai sánh kịp. Xung quanh ta có hàng ngàn người suốt đời sống giản dị mà giúp ích cho không biết bao nhiêu đồng loại. Họ không có danh lớn như Gandhi nhưng hạnh tu của họ không kém gì Gandhi. Chỉ cần để ý một chút là ta nhận ra sự có mặt của họ. Họ không bố thí bằng sự giàu sang tiền bạc mà họ không có, tuy vậy họ bố thí bằng thì giờ, tâm não, sự thương yêu và cuộc đời của họ.

Phép bố thí của đạo Bụt là một phép bố thí bình đẳng, nghĩa là người hành giả không đem lòng kỳ thị khi thực hành bố thí. Người nghèo khổ thì ta bố thí. Tuy vậy trong số những người nghèo khổ cũng có người ác, người hiền; ta không chỉ lo bố thí cho người hiền. Kinh dạy: “Vì nghèo khổ cho nên con người hay sinh ra có nhiều oán hận căm thù và do đó tạo thêm những nhân xấu. Các bậc Bồ Tát biết thế cho nên chuyên tu phép bố thí, coi kẻ ghét người thương như nhau, bỏ qua những điều ác mà người khác đã làm đối với mình và không đem tâm ghét bỏ những ai đã làm ác”. Đoạn kinh trên thật đã lột trần tinh thần đại thừa của đạo Bụt. Oán thù và ác nghiệp có thể do sự nghèo khổ mà có; chỉ biết thuyết pháp mà không biết bố thí để làm vơi nổi khổ đau thì vẫn chưa đúng với tinh thần đạo Bụt. Mà một khi đã bố thí thì phải làm với tâm niệm hoàn toàn bình đẳng, không kỳ thị, không ghét bỏ những người đã vì nghèo khổ mà tạo nên ác nghiệp, gây nên căm thù. Cho nên đối với những người đã từng làm mình đau khổ, mình cũng phải thương xót và giúp đỡ.

Trên đây là nội dung kinh văn nói về điều giác ngộ thứ sáu. Muốn rõ thêm về Bố thí độ, xin đọc Lục Độ Tập Kinh (của Khương Tăng Hội, biên dịch tại Giao Châu vào thế kỷ thứ hai Tây lịch) và Đại Trí Độ Luận của Long Thọ.

Đề tài thiền quán thứ mười: tùy tục bất nhiễm.
Tùy tục bất nhiễm là ở trong cuộc đời, thuận theo cuộc đời để cứu độ cho người đời mà không bị năm món dục lạc của cuộc đời làm cho ô nhiễm. Cũng như hoa sen mọc dưới bùn mà không hôi tanh mùi bùn. Tu đạo giải thoát không phải là để tránh bỏ cuộc đời mà là để cứu độ cho đời. Khi bản lãnh chưa được vững chãi, người hành đạo trong cuộc đời có thể bị cuộc đời làm cho ô nhiễm. Vì vậy Bồ Tát phải luôn luôn quán niệm về tai hại của ngũ dục, nhất quyết sống theo hạnh tri túc để thực hành phép bố thí ba la mật. Tùy tục bất nhiễm cũng là trì giới ba la mật vậy.

Đó là nội dung đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ bảy.

Đề tài thiền quán thứ mười một: phát tâm đại thừa.
Phải có hạnh nguyện sâu rộng mới có thể vượt thắng những khó khăn và gian khổ trong lúc hành đạo giúp đời. Đau khổ của cuộc đời vô lượng thì chí nguyện hành đạo cũng phải vô lượng. Đại thừa tâm vì vậy là nguồn năng lực vô tận để hành đạo bố thí ba la mật. Chỉ có đại thừa tâm mới có đủ sức giúp ta gánh chịu bao nhiêu thử thách tủi nhục mà tiến tới trên bước đường hành đạo, đem lại nguồn vui lớn cho con người. Chỉ có đại thừa tâm mới có thể thực hành được những điều mà luận Bảo Vương Tam Muội căn dặn sau đây: “Một là khi quán niệm về thân thể, đừng mong cầu là mình không có tật bệnh: không tật bệnh thì tham dục dễ sinh. Hai là khi xử thế đừng mong cầu không có sự khó khăn: không khó khăn thì tâm kiêu sa nổi dậy. Ba là khi quán tâm đừng mong cầu không có chướng ngại: không có chướng ngại thì chỗ sở học dễ bị vượt bực. Bốn là khi lập chí hành động thì đừng mong cầu không có kẻ quấy phá: không quấy phá thì thệ nguyện không kiên cường. Năm là khi dự tính công việc đừng mong dễ thành: việc dễ thành thì dễ sinh khinh mạn. Sáu là khi giao tiếp đừng mong có lợi cho mình: giao tiếp mà vì lợi mình thì hao tổn đạo nghĩa. Bảy là đối với người đừng mong ai cũng thuận ý mình: thuận ý mình thì tâm sinh tự phụ. Tám là giúp người đừng mong báo đáp: mong báo đáp tức là tâm có ý đồ. Chín là thấy lợi thì đừng nhúng tay vào: nhúng tay vào thì si tâm đã động. Mười là oan ức không cần bày tỏ: bày tỏ oan ức thì oán hận kéo dài.”

Bụt khi thuyết giáo đã coi bệnh khổ là thuốc hay, coi hoạn nạn là sự thảnh thơi, coi chướng ngại là giải thoát, coi ma quân là bạn lữ, coi khó khăn là yếu tố thành công, coi người đối đãi tệ lậu với mình là tư lương, coi kẻ chống đối là rừng cây, vườn cảnh, coi sự thi ân là một đôi dép bỏ đi, coi sự từ bỏ lợi lộc là sự giàu sang, coi oan ức là cánh cửa đi vào hành động.”

Trên đây là nội dung đoạn kinh nói về điều giác ngộ thứ tám.

Tám điều giác ngộ bao hàm sáu phép tu Ba la mật (lục độ) của đạo Bụt đại thừa. Bố Thí Độ được nói đến trong điều giác ngộ thứ sáu. Trì Giới Độ được nói đến trong điều giác ngộ thứ hai, thứ ba và thứ bảy. Tinh Tấn Độ được nói tới trong điều giác ngộ thứ tư. Nhẫn Nhục Độ được nói tới trong điều giác ngộ thứ tám. Thiền Định Độ được nói tới trong điều giác ngộ thứ nhất và Trí Tuệ Độ được nói tới trong điều giác ngộ thứ năm.

Văn mạch, nội dung và phương pháp của kinh Bát Đại Nhân Giác rất thực tiễn, ngắn gọn và súc tích.

PHƯƠNG PHÁP HÀNH TRÌ KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC

Trên đây chỉ là những hướng dẫn sơ bộ cho người đọc kinh và thiền quán. Hành giả muốn hành trì kinh Bát Đại Nhân Giác, phải chọn những lúc thân tâm nhẹ nhàng, tắm rửa, đốt hương cho thơm nhà và đem kinh ra đọc chầm chậm để khám phá cho hết ý nghĩa sâu kín của kinh. Phải đem kinh nghiệm sống của mình ra mà đọc kinh. Chính kinh nghiệm sống của mình mới làm cho mình hiểu được kinh, chứ không phải là những lời giảng kinh của kẻ khác.

Mỗi khi ngồi thiền quán, nên đem từng đề tài của kinh ra chiêm nghiệm. Càng thiền quán nhiều thì càng phát hiện sâu sắc những ý chỉ của kinh. Tuy nhiên hành giả nên tìm đọc các kinh Quán Niệm và kinh An Ban Thủ Ý để bổ túc cho kinh Bát Đại Nhân Giác vốn rất thâm sâu và ngắn gọn. Hai kinh vừa nói trên đưa ra những chỉ dẫn cặn kẽ cho hành giả đi từng bước một, vô cùng quý giá đối với người hành trì Bát Đại Nhân Giác. Nếu phối hợp phương pháp điều hòa hơi thở dạy trong hai kinh ấy với phương pháp quán niệm mười một đề tài của kinh Bát Đại Nhân Giác, hành giả sẽ rất dễ thành công.

Nội dung kinh Bát Đại Nhân Giác rất vững chắc, đứng về cả hai phương diện Nguyên Thủy và Đại Thừa. Thật là một kinh rất quý. Tôi được học kinh từ lúc mười bảy tuổi ở lớp sơ học đệ nhất niên tại Phật học viện và học thuộc lòng. Nhờ học thuộc lòng cho nên tôi đã phối hợp ý kinh với Sổ Tức Quán một cách dễ dàng. Từ ấy đến nay, kinh Bát Đại Nhân Giác vẫn còn là bó đuốc soi đường rất quý giá cho tôi. Hôm nay có dịp giới thiệu với bạn đọc, tôi thành tâm ghi ơn cuốn kinh thâm diệu đó và xin chắp hai tay thành kính tụng:

“Nam Mô Pháp Bảo Diệu Nan Lượng Bát Đại Nhân Giác Kinh”

Mùa hè năm Mậu Ngọ
Thích Nhất Hạnh


Kinh này đã được Sư Ông dịch và chú giải, xuất bản lần đầu năm l982 tại Paris. Tái bản lần thứ tư năm 2001. Sách dạy về tám điều mà các bậc đại nhân đã giác ngộ. Đây là một kinh thâm diệu rất cổ và rất quý, có thể là một bó đuốc soi đường cho tất cả chúng ta. Trong kinh có câu: “Nếu đệ tử Bụt mà thường đọc tụng tám điều này thì mỗi khi quán niệm diệt được vô lượng tội, tiến tới giác ngộ, mau lên chính giác, vĩnh viễn đoạn tuyệt với sinh tử, thường trú trong sự an lạc.”

Chú giải kinh Kim Cương

Chú giải Kinh Kim cương gươm báu cắt đứt phiền não

Xin đại chúng lấy lòng thanh tịnh mà nghe kinh Kim Cưong. Tôi có xin đại chúng chớ vội đọc những chú giải và bị ảnh hưởng bởi chú giải. Chúng ta nên đi trực tiếp vào văn của kinh và nhờ vậy đôi khi có thể khám phá được những điều mà những nhà chú giải chưa khám phá được. Chúng ta có thể giảng kinh này trong vòng ba tháng, nhưng cũng có thể giảng trong một ngày hay trong một buổi và trong khi đọc kinh, chúng ta nên có tinh thần như là chúng ta đang tụng kinh. “Kim Cang kinh tụng chân thành từng trang”. Chúng ta phải đem nhận thức thanh tịnh của chúng ta mà tiếp xúc với lời kinh; Chúng ta phải đem những đau khổ và những kinh nghiệm của chúng ta ra để hiểu kinh và thường xuyên chúng ta phải đặt ngay câu hỏi là những điều Bụt nói đây có dính líu gì đến đời sống hàng ngày của mình hay không? Những ý niệm trừu tượng trên mây tuy đẹp đẽ vô cùng, tuy được nhắc đi nhắc lại nhiều lần nhưng có thể chẳng dính líu gì tới sự sống của mình cả. Vì vậy phương pháp học của chúng ta là luôn luôn đặt câu hỏi: Những điều nói trong kinh có dính líu gì đến tôi không, đến sự sống hằng ngày của tôi không? Những điều ấy có dính líu gì đến chuyện ăn cơm, uống trà, bổ củi, gánh nước… nói tóm lại, đến sinh hoạt hằng ngày của tôi không? Với tâm niệm đó quý vị sẽ khám phá ra những điều mà nhiều nhà chú giải không nói tới.

Tên của kinh là NĂNG ĐOẠN KIM CƯƠNG BÁT NHÃ BA LA MẬT ĐA KINH  (Vajracchedika Prajnãparamita Sutra). Năng đoạn là có khả năng chặt đứt, chặt đứt những phiền não và mê lầm của chúng ta. Ở Việt Nam cũng như Trung Hoa, ta hay có khuynh hướng nói tắt là kinh Kim Cương, nhấn mạnh đến danh từ Kim Cương; thật ra từ quan trọng trong này là NĂNG ĐOẠN, tức là khả năng cắt đứt. Do đó chúng ta nên tập cho có lề thói gọi kinh này là Kim Cương Năng Đoạn. Công phu hành trì kinh Kim Cương Năng Đoạn có thể giúp ta cắt đứt, đoạn trừ vô minh và tà kiến của chúng ta.

Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ, với đại chúng khất sĩ gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị.

Câu mở đầu kinh Kim Cang có thể cho chúng ta thấy rằng kinh này có khác với những kinh Bát Nhã khác. Kinh này không nói đến sự có mặt của hằng hà sa số những vị bồ tát từ cõi này hay cõi kia tới dự pháp hội. Chi tiết này cho ta thấy rằng kinh này là một trong những kinh ra đời sớm nhất trong toàn bộ văn học Bát Nhã. Mặc dù trong kinh Bụt có nói đến các vị Bồ Tát nhưng chủ lực của thính chúng lúc đó là các vị Thanh Văn.

Hôm ấy vào giờ khất thực, Bụt mặc áo và ôm bát đi vào thành Xá Vệ. Trong thành, Người theo phép thứ đệ khất thực. Khất thực xong, Ngưới xếp y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.

Đây là hành động được lặp đi lặp lại mỗi ngày của tăng chúng tu viện Cấp Cô Độc. Có một chi tiết mà chúng ta nên để ý là đi khất thực ta không được phân biệt nhà giàu và nhà nghèo, trái lại phải đi tuần tự từng nhà này sang nhà khác. Khất thực như vậy là một pháp môn hành đạo để chứng tỏ và biểu lộ tâm bình đẳng của mình và để có cơ hội tiếp xúc với mọi hạng người trong xã hội hầu làm công việc hoằng hoá. Đôi khi biết trước là nhà đó không dễ thương, không cúng dường mà mình vẫn phải đến và đứng yên vài phút đề chờ đợi dù biết trước rằng họ sẽ ra mắng vào mặt mình vài tiếng. Phải đứng đó để nhận lời mắng trước khi tiếp tục bước sang nhà khác.

Lúc ấy, từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, thượng tọa Tu Bồ Đề đứng dậy, trịch vai áo bên phải ra, quỳ chân hữu xuống, chấp tay cung kính bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát”.

Đây là học trò khen ngợi thầy. Thầy Tu Bồ Đề nói rằng trên đời này hiếm có một người như Bụt. Tại sao vậy? Tại vì Bụt có khuynh hướng yểm trợ và nâng đỡ cho các vị bồ tát. Như vậy có nghĩa là Bụt để ý tới những người có tâm địa bồ tát và nâng đỡ cho họ nhiều hơn là những người không có tâm địa bồ tát. Những người có tâm niệm bồ tát là những người tới tu với mục đích làm vơi những đau khổ không những của mình mà của người khác nữa. Tất cả các người khác đều là đối tượng của sự tu học của mình. Tôi tới tu không phải là để cho một mình tôi, tôi tới tu là để cho cả gia đình tôi, cả xóm làng tôi, cả đất nước tôi cùng được lợi lạc. Cũng như một chàng sinh viên ở Việt Nam ra được nước ngoài luôn nhớ tưởng rằng mình ra được tới đây là phải học, phải thành đạt để cho cả gia đình ở bên nhà được nhờ cậy. Chàng thanh niên đó không để cho những thú vui, những cạm bẫy của thành phố cám dỗ mình. Tôi biết có một chàng sinh viên Việt Nam hiện đang ở Bordeaux; anh chàng này viết trên bàn giấy anh ta mấy chữ: “Phải cắn răng lại mà tranh đấu”. Có lẽ anh ta nghĩ rằng trong một thành phố Tây Phương có quá nhiều cám dỗ về thanh và về sắc và nếu anh ta bị rơi vào những cám dỗ đó thì bao nhiêu trông đợi của gia đình bên kia sẽ không bao giờ được thành tựu. Cho nên anh ta quyết tâm học hành. Tâm niệm gần giống như tâm niệm Bồ tát của những người đang tu học. Mình tu không phải chỉ để cho riêng mình mà để cho đa số những người đang bị khổ đau. Khi thấy một anh chàng sinh viên như vậy, mình rất thương, mình nói: đối với những người như chàng sinh viên này ta phải có tâm yểm trợ và giúp đỡ. Còn với những anh chàng sinh viên chỉ biết ăn chơi và chìm đắm trong xã hội Tây Phương, quên mẹ, quên cha, quên anh, quên chị, thì ta biết ủng hộ mấy chàng đó không có công đức gì cả, không có hiệu quả chi cả. Vì vậy Bụt nhìn những người có tâm niệm Bồ Tát với cái nhìn đặc biệt và Bụt săn sóc, yểm trợ nhiều cho những người đó, không phải vì kỳ thị mà vì muốn đầu tư. Đầu tư vào Bát Nhã. Lâu nay tôi hay nói với giới trẻ là tôi muốn đầu tư vào giới trẻ. Vì sao? Không phải vì tôi kỳ thị người lớn, nhưng vì nghĩ rằng qua thời đại chiến tranh dai dẳng ở Việt Nam, tâm hồn người lớn bị thương tích quá nhiều nên đầu tư vào họ sẽ không bằng đầu tư vào người trẻ. Con người của chúng ta, sau thời gian ba bốn chục năm chiến tranh dai dẳng không còn được đẹp đẽ như xưa. Con người nhỏ mọn hơn, đa nghi hơn, nhiều giận hờn và thù oán hơn. Do đó nơi đất tâm gai góc và cỏ cú đã mọc đầy. Hạt giống gieo nơi đó khó mọc. Gieo một trăm hạt có thể chỉ có mười hạt hoặc hai chục hạt mọc mà thôi. Trong khi đó thì những người trẻ chưa bị nhiều thương tích lớn của chiến tranh, tương đối là những vết thương của họ nhẹ hơn. Tâm của họ là một miếng đất rất phì nhiêu, vì vậy nếu ta để dành những hạt giống để gieo vào đất tâm của họ thì trong một trăm hạt có thể lên tới bảy tám chục hạt. Lựa những người trẻ để gieo vào đất tâm của họ những hạt giống tốt, đó là công việc đầu tư có thông minh chứ không phải là kỳ thị người lớn. Cố nhiên là mình cũng phải giúp đỡ yểm trợ những người lớn tuổi nhưng mình biết rằng thì giờ, tâm lực và hạt giống của mình có hạn cho nên công việc gieo hạt giống vào những đám ruộng tốt phải được xem là ưu tiên.

Năm ngoái khi học kinh Đại Tạng Nam Truyền, ta có học tới chỗ một vị cư sĩ phân bì là tại sao Bụt chăm sóc các thầy và các sư cô nhiều hơn là chăm sóc họ. Bụt nói rằng vì các thầy và các sư cô đang để hết thì giờ và tâm lực vào chuyện tu học cho nên những thửa ruộng tâm của họ phì nhiêu hơn, vì vậy Bụt để thì giờ nhiều hơn cho các thầy và các sư cô. Thầy Tu Bồ Đề là một thầy lớn nên gọi là trưởng lão (Mahathera); thầy thấy rất rõ là Bụt có biệt nhãn với các bậc Bồ Tát, tức là những bậc đệ tử có chí nguyện lớn tu học – tu là vì đời chứ không phải chỉ để cho riêng mình – và Bụt yểm trợ đặc biệt cho những vị đó.

Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp (đặt niềm tin và giao trách nhiệm) cho các vị Bồ tát”. Nếu trong đại chúng mà có những vị chỉ muốn tu cho riêng mình thôi thì đại chúng làm sao mà tin tưởng và phó thác cho những người đó những công tác có lợi ích cho quần sanh? Vì vậy nên Bụt chẳng những đã yểm trợ cho các vị Bồ tát đó mà còn đặt niềm tin và giao trách nhiệm cho họ nữa.

Thế Tôn, những người con trai hiền và những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm sao mà điều phục tâm của họ?

Khi bước lên đường tu học thì mình có cái tâm tu học. Khi mình phát tâm Bồ tát, tức là tâm muốn đạt đến cái thấy cao nhất và cái sự nghiệp độ sinh cao nhất, thì cái tâm đó phải nương vào đâu và làm sao mà mình có thể điều phục được tâm mình?

Bụt bảo: “Hay lắm, thầy Tu Bồ Đề! Thầy nói thật đúng, Như Lai thường đặc biệt hộ niệm và giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát. Này, thầy hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai sẽ vì thầy mà trả lời. Những người con trai hiền hay những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì phải nương tựa và phải điều phục tâm của họ như thế này.”

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, chúng con rất mong được nghe người chỉ dạy”.

Bồ Tát (Bodhisattva) là người đã giác ngộ và đang giúp cho những người khác giác ngộ. Sattva có nghĩa là hữu tình. Chữ hữu tình hay hơn chữ người vì trong các loại hữu tình loài người chỉ là một loài thôi. Điều đó có nghĩa là các giống hữu tình khác cũng có khả năng giác ngộ. Bodhi là giác ngộ, bodhisattva là một sinh vật đã được giác ngộ và đang đi giác ngộ cho những loài hữu tình khác. Chúng ta chỉ đọc là bồ tát thôi nhưng kỳ thực ra, nói cho đủ là Bồ Đề Tát Đỏa. Còn chữ Ma Ha Tát (Mahasattava) nói cho đủ là ma ha tát đỏa. Maha là lớn, là đại; Mahasattava là đại hữu tình, đại nhân hoặc là con người lớn hoặc cũng có thể gọi là vĩ nhân.

Bụt bảo Tu Bồ Đề: “Các bậc bồ tát đại nhân nên hàng phục tâm họ như sau. Có cả thảy bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, hoặc sinh từ sự ẩm ướt, hoặc bằng sự biến hoá, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta phải đưa tất cả các loài đó vào Niết Bàn tuyệt đối để được giải thoát”.

Giải thoát đây là đạt tới Niết Bàn. Niết Bàn có nghĩa là tắt ngấm. Làm tắt ngấm những nguyên nhân của khổ đau, chấm dứt những nguyên nhân của khổ đau và đạt tới trạng thái an lạc không còn bị khổ đau dằn vặt thì gọi là giải thoát, là Niết Bàn hay là diệt độ. Các bậc đại nhân thường phát nguyện thật lớn là độ tất cả các chúng sanh, đưa tất cả các chúng sanh về tới cõi Niết Bàn tuyệt đối để cho họ thừa hưởng sự an lạc. Niết Bàn tuyệt đối cũng gọi là Niết Bàn Vô Dư, đối với Niết Bàn Hữu Dư, tức là Niết Bàn còn sót lại chút ít quả báo. Có người giải thích Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái Niết Bàn trong đó có cái thân ngũ ấm (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) vẫn còn tồn tại. Thân ngũ ấm còn lại trong vòng mấy chục năm đó gọi là hữu dư tức là quả báo còn sót lại. Và khi chết rồi, khi năm yếu tố (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ấy tan rã hoàn toàn rồi thì người đạt Niết Bàn đi vào Niết Bàn Vô Dư, không còn để lại dấu vết gì cả. Tôi không đồng ý lắm với lối giải thích đó. Những nguyên do của đau khổ đã gây ra trong quá khứ, khi được mình đoạn tận và chuyển hoá, cố nhiên sẽ không còn đưa tới kết quả đau khổ nữa, nhưng mà cái gì tồn tại một thời gian thật lâu đến khi bị cắt đứt vẫn có thể còn tiếp tục một thời gian mới ngưng hẳn được. Cái mà ta bảo là đã ngưng hẳn đây không phải là thân ngũ uẩn của mình mà chính là cái nghiệp báo còn lại. Ví dụ như khi mình bật quạt máy lên thì cánh quạt quay vù vù. Và khi mình tắt quạt, tuy điện cắt rồi mà cánh quạt vẫn còn quay. Nghĩa là nhân đã đoạn rồi nhưng quả vẫn còn. Quả đây là những cái quả khổ còn rơi rớt lại chớ không phải là thân ngũ uẩn. Thân ngũ uẩn là khác mà cái quả khổ là khác. Ví dụ là tuy Bụt đã giác ngộ rồi mà một hôm vẫn còn bị Đề Bà Đạt Đa lăn đá và bị thương nơi chân. Bị thương chân không phải là do ngũ uẩn. Bụt không còn nghiệp nhân, tại sao còn nghiệp báo? Mình chỉ có thể cắt nghĩa rằng tuy đã hết nghiệp nhân rồi nhưng cái đà nghiệp báo vẫn còn. Và như thế không phải có nghĩa là sau khi Bụt nhập diệt rồi, người mới đạt Niết Bàn Vô Dư. Kinh đại thừa hay nói là bồ tát cỡi trên sóng sanh tử mà đi. Cỡi trên sóng sanh tử là tuy có sanh có tử nhưng mà mình không chìm đắm trong sanh tử. Trong khi đi dạo chơi trong biển sanh tử các vị thánh nhân ấy đang an trú trong Vô Dư Niết Bàn chứ không phải là đang ở trong Hữu Dư. Tuy là có thân thể, tuy đang cỡi trên pháp thuyền mà đi nhưng họ không thấy khổ đau. Vì vậy Hữu Dư ở đây không phải là thân ngũ uẩn mà là những cái khổ đau còn rơi rớt lại do cái đà nghiệp báo. Câu kinh ta đang đọc này có nghĩa: bất cứ các loài chúng sanh nào, bất cứ sinh ra dưới hình thức nào, tôi cũng có nguyện muốn đưa họ từ biển sanh tử đi qua bờ Niết Bàn tuyệt đối. Câu này nói về chí nguyện lớn của một vị bồ tát. Đó là điều kiện tiên quyết để một con người trở nên một vị bồ tát, một con người giác ngộ, một con người lấy sự nghiệp giác ngộ làm sự nghiệp của đời mình, một con người gọi là Ma Ha Tát, một đại nhân, một con người mà Bụt đặc biệt giúp đỡ và ân cần giao trách nhiệm. Đây không phải chỉ là điều kiện căn bản mà còn là điều kiện đầu tiên. Nếu không có lời phát nguyện này thì không có gì hết. Nó là nền tảng của vô thượng bồ đề, của chí nguyện bồ tát. Bây giờ chúng ta hãy nhìn lại cái tâm của ta, nhìn lại cái tăng thân của chúng ta và thử đặt câu hỏi: câu kinh này có dính líu gì tới đời sống hôm nay của chúng ta ở xóm Thượng và xóm Hạ hay không? Chúng ta đang thực tập vì chúng ta hay vì những người khác? Chúng ta chỉ muốn thoát khỏi những cái khổ đau ray rứt trong tâm chúng ta hay là chúng ta thực tình đang có tâm niệm lớn tu học để sau này đem hạnh phúc tới cho đời? Nhìn lại để xem chúng ta có phải là con người mà Bụt đang nhìn, đang nâng đỡ, đang đầu tư vào hay không? Và nếu ta đang quả thực có tâm đó thì biết ngay rằng ta đang có; không phải là sau bao nhiêu năm tu học rồi tâm đó mới phát hiện. Nếu chúng ta quả thật đang có tâm ấy thì ta có thể thấy tâm ấy phát hiện ngay trong giờ phút này, ngay trong ngày hôm nay. Đối với con mèo, con chuột hay con sâu, con ốc ngay trong vườn rau của chúng ta, ta cũng sẽ biết đối xử với chúng bằng tâm bồ đề của chúng ta. Khi rửa nồi, thấy có mấy hạt cơm còn dư lại, ta cũng sẽ nghĩ rằng những hạt cơm này để ra một bên thì cũng có thể cho chim ăn được. Hành động nhỏ ấy, chứng tỏ rằng chúng ta có lòng thương tưởng đến mọi loài chúng sanh. Vậy nên đời sống hằng ngày của chúng ta hoặc biểu lộ hoặc không biểu lộ đại tâm của những vị bồ tát đại nhân. Trong khi chúng ta học kinh đại thừa, học về hành động của các vị bồ tát, chúng ta hãy tập nhìn lại bản thân, nhìn lại hành động hằng ngày của chúng ta, để quán sát cách chúng ta uống trà, cách chúng ta ăn cơm, cách chúng ta rửa nồi, cách chúng ta trồng rau… như vậy chúng ta sẽ biết được rằng chúng ta đã có hay chưa có cái đại tâm đó ở trong lòng. Điều đó mỗi người chúng ta có thể tự biết và các bạn cùng tu nhìn vào ta cũng có thể biết được phần nào. Những loài chúng sanh được nhắc đến trong kinh này đâu có ở xa ta. Trước hết họ là những sư tỷ, sư muội, sư huynh và sư đệ của mình. Họ đang có những niềm vui và những niềm đau của họ. Chúng ta phải thấy họ, tới với họ và cởi mở với họ. Còn như nếu chúng ta chỉ là một hải đảo cô đơn, độc lập, sống trong một tăng thân mà không thấy được tăng thân đó, không mỉm được một nụ cười với tăng thân đó thì chúng ta quả thực đang là những kẻ độc hành và không có tâm bồ tát. Ngoài những pháp huynh, pháp đệ, pháp tỷ và pháp muội còn những loài động vật và thực vật khác trong vườn, trong sân, trên trời… Tất cả đều là những loài chúng sanh mà câu kinh này nói tới. Chúng ta phải thấy được rằng những loài chúng sanh đó có liên hệ tới sự thực tập của chúng ta, sự tu học của chúng ta. Nếu trong chúng ta có cái tâm bồ đề kia thì tự nhiên ta sẽ thấy những chúng sanh đó có liên hệ trực tiếp với đời sống hằng ngày của chúng ta, ngay bây giờ. Sau khi nói câu quan trọng đó thì Bụt lại nói thêm một câu nữa, cũng rất quan trọng: câu này đi ngay tới phương pháp của Bát nhã. Nguyên tắc của Bát nhã là phải phát tâm đại thừa và đại bi thì mới gọi là bồ tát. Phương pháp của Bát Nhã là phải thực hiện những điều đó bằng tinh thần vô tướng. Đó là nội dung của câu kế tiếp:

Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát.

Đó là tiếng sét đầu của Kinh Kim Cương nhằm khơi mở tinh thần vô tướng. Hành giả thực hiện việc độ sanh một cách tự nhiên, không thấy có sự phân biệt đây là người làm, đây là người được giúp đỡ, đây là người độ và đây là người được độ, đây là người thực tập từ bi và đây là người hưởng thụ sự thực tập từ bi. Hành động với tinh thần đó mới đúng là hành động theo tinh thần Bát Nhã. Khi bàn tay trái bị thương, bàn tay phải lập tức nắm lấy và tìm cách băng bó. Trong khi đó bàn tay phải không tuyên bố: “Ta là bàn tay phải, ta đang săn sóc ngươi, ngươi là đối tượng hành đạo của ta. Chính vì ngươi mà ta phát được cái tâm từ bi”. Bàn tay phải không bao giờ nói và không bao giờ có tâm niệm như thế. Vị bồ tát cũng làm giống hệt như bàn tay mặt đối với bàn tay trái, không có ý niệm về người làm và người được thừa hưởng. Đó là tinh thần vô tướng. Tại sao? Tại vì bàn tay phải biết quá rõ là tay trái cũng chính là nó: tay phải và tay trái không phải là hai, giữa hai bên không có sự phân biệt. Đó là tinh thần tương tức(interbeing). Tương tức là cộng hữu, nghĩa là cùng có mặt với nhau, cùng nương trên nhau mà có mặt, cái này có vì cái kia. Với nhận thức tương tức đó, bàn tay trái giúp bàn tay phải một cách vô tướng, không thấy có bàn tay phải cũng không thấy có bàn tay trái. Khi một vị bồ tát làm việc độ sanh, vị ấy không thấy rằng mình đang độ một chúng sanh nào cả. Mình làm như là mình thở vậy. Người sư huynh mình đang đau khổ, mình tới an ủi giúp đỡ sư huynh một cách tự nhiên như mình thở hay uống trà. Mình không nói: Ta phải để ra một thời gian cho các sư huynh và các sư muội tại vì ta phải thực tập giáo lý, tại vì thầy đã nói như vậy, đã dạy mình phải làm như vậy. Không cần có tư tưởng phải giúp.Tự nhiên mình thấy cần phải làm như vậy, thế thôi. Không thấy có sư huynh cần phải giúp và không thấy rằng mình là người sư đệ cần phải giúp sư huynh. Điều này đâu phải là một điều khó hiểu. Nếu làm được theo tinh thần vô tướng thì sau này mình sẽ không nói: Cái huynh đó há, ngày xưa khi còn bệnh, mỗi ngày tôi đều giúp đỡ: “cạo gió nè, nấu cháo nè, tôi làm cái này, cái nọ…” và bây giờ thì tệ với tôi như vậy đó. Nếu bây giờ nói như thế thì ta biết là bao nhiêu năm qua, ta đã làm trong tinh thần hữu tướng hữu chấp và như vậy thì theo tinh thần Bát Nhã ta đã không có một chút công đức nào cả. Cái vô tướng nói đây là chuyện mình có thể sờ mó được. Đó không phải là những tư tưỏng cao vời trên trời dưói biển mà là chuyện mình có thể thực tập được ở đây và ngay ngày hôm nay. Nếu mình thấy một sư muội làm biếng hơi nhiều, làm biếng ngoài ngày làm biếng (bị chú: ở Làng Hồng mỗi tuần có một ngày gọi đùa là ngày làm biếng, không có chuông bảng, không có công khóa chính thức và mọi người được khuyến khích thực tập thư giãn càng nhiều càng tốt. Ngày này tuy vậy rất thanh tịnh và đầy chánh niệm) và trong khi làm việc cực nhọc mình bỗng nẩy sanh ra vài tư tưởng phiền não, nghĩa rằng mình đang làm việc cực như vầy mà cô ấy không chịu làm gì cả, chỉ ở trong phòng cô thôi và có thể là giờ này cô đang nghe nhạc v.v… Càng nghĩ mình càng thấy bực bội và trong khi có sự bực bội ấy thì những công tác mình đang làm sẽ không đem lại công đức tối thiểu nào cả. Mình làm là mình làm thôi. Không có mặt các sư huynh sư muội khác ở đây thì đã sao? Mình làm là làm cho mình thôi và cũng là làm cho đại chúng nữa vì đại chúng chính là mình. Và vì đang làm một cách vô tướng nên mình không nghĩ và không nói rằng: “mình làm nhiều còn người đó không làm gì cả”. Nếu còn có ý tưởng là mình làm nhiều mà người đó không làm gì cả tức là mình còn kẹt vào hữu tướng. Khi làm mà mình không thấy có ai đang làm và có ai không đang làm cả thì lúc đó mình đang thực sự tu hạnh vô tướng. Ai nói rằng chúng ta không áp dụng được tinh thần Bát Nhã ngay trong đời sống hằng ngày? Hãy áp dụng nó khi ta đang rửa nồi hoặc đang chùi nhà vệ sinh. Quý vị làm như bàn tay phải đang băng bó cho bàn tay trái với tinh thần vô phân biệt. “Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát” là như vậy. Nói như vậy không phải là nói suông. Có đưa qua thật, có đưa qua rất nhiều chúng sanh thật, nhưng mà thấy như là không có đưa người nào cả. Bụt không dạy chúng ta làm thể dục trí óc trong đầu với những tư tưởng này nọ. Bụt dạy chúng ta thật sự giúp đỡ và tế độ các loài chúng sanh. Nếu Bụt chỉ nói nội một câu đó mà các đệ tử đã có thể hiểu được thì quả thật là hay quá đi, tại vì chính câu nói đó chứa đựng đầy đủ nghĩa lý rồi. Nhưng vì thương một số người chưa hiểu nên Bụt nói tiếp để cắt nghĩa câu ấy:

Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu một vị bồ tát mà còn có khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả thì vị ấy không phải là một vị bồ tát đích thực.

Hồi nãy bàn tay phải của chúng ta đã là vị bồ tát đích thực vì vị bồ tát đó không có sự phân biệt, “ta là bàn tay phải, kia là bàn tay trái, ta đang giúp tay kia”. Nếu tay phải nói với tay trái là “ta đang giúp ngươi” thì bàn tay phải không phải là vị bồ tát. Trong câu kinh này có mấy danh từ quan trọng ta cần tìm hiểu:

Khái niệm về Ngã. Đây là ý niệm về một thực thể đồng nhất bất biến trong ta. Theo đạo Bụt thì không có cái đó. Không có cái gì thường tại bất biến trong ta cả. Đó là sự thực về Vô Ngã. Nếu một vị bồ tát còn thấy có một cái ngã thì vị bồ tát ấy chỉ có danh mà không có thực.

Khái niệm về Nhân. Nhân ở đây dịch từ chữ Pudgala nghĩa là con người. Thường đọc trong chữ Hán ta cứ nghĩ nhân đây là đối với ngã, nhân là người, ngã là mình, cũng giống như tự và tha. Nhưng kỳ thực chữ nhân đây chỉ có nghĩa là con người. Nếu cái mà chúng ta đây gọi là ngã là do những yếu tố phi ngã tạo thành, là thật sự không có ngã, thì nhân cũng vậy, cũng do những yếu tố phi nhân (không phải là người) tạo thành. Mặt trời, đám mây, thóc lúa, không gian v.v… đâu phải là người nhưng nhờ những yếu tố không phải là người đó mà có được cái chúng ta gọi là người. Vì vậy cho nên có ý niệm về người biệt lập với ý niệm về không người là sai lạc. Điều này cũng dễ hiểu. Chúng ta có ý niệm về ngã là tại vì chúng ta có ý niệm về những cái không phải là ngã. Chúng ta lấy lưỡi gươm chặt thực tại ra nhiều mảnh vụn và chúng ta gọi một mảnh là tôi, còn những mảnh còn lại không phải là tôi. Lưỡi gươm đó là lưỡi gươm của khái niệm phân biệt. Ý niệm về nhân cũng được tạo ra do lưỡi gươm phân biệt. Ví dụ khi ta nói trời sinh ra con người rồi sinh ra những thứ khác để phục vụ cho con người như trâu, bò, gà, vịt, cây cỏ, trời đất, trăng sao v.v… là ta bị kẹt vào nhân tướng. Mọi sự vật trên thế gian đều có đóng góp vào sự có mặt của con người cả, và những sự vật đó ta tạm gọi là những cái pháp không phải là người. Và chúng ta phân biệt ra hai bên, một bên là người và một bên là những cái không phải là người. “Ôi những mảnh rời nhau, khổ đau, tách ra ngoài đại thể” (thơ Nhất Hạnh). Ngã cũng vậy và Nhân cũng vậy. Những ý niệm phân biệt giữa Nhân và Không Nhân cũng như Ngã và Không Ngã đều là những ý niệm sai lầm được gọi là Ngã tướng và Nhân tướng. Nếu ta áp dụng cái thấy này vào đời sống hiện tại thì ta thấy rõ rằng quan niệm hiện tại của đa số chúng ta là chỉ có con người là quan trọng và tất cả vạn vật trong vũ trụ chỉ là để phục vụ con người. Thiên hạ làm mọi thứ để phục vụ con người trong khi đó họ tàn phá những yếu tố không phải người như rừng cây, sông hồ, biển cả, làm cho thiên nhiên ô nhiễm và hư nát hết. Và khi mà ta đã làm cho thiên nhiên ô nhiễm và hư nát thì con người của ta cũng sẽ ô nhiễm và hư nát. Con người đã bắt đầu bị ô nhiễm và hư nát trầm trọng và bệnh tật cũng như quái thai đã xuất hiện. Đó là kết quả của sự phân biệt giữa người và không người. Do đó bảo vệ những yếu tố không người tức là bảo vệ yếu tố người. Đây là nền tảng của cái thấy rất cần cho những nhà hoạt động về sinh môi.

Khái niệm về Chúng Sanh. Chúng sanh là các loại hữu tình. Ở đây chúng ta lại tiếp tục dùng lưỡi gươm phân biệt nữa. Trước kia chúng ta tách ngã rời ra những cái mà ta gọi là phi ngã, tách nhân ra khỏi những cái gọi là phi nhân. Bây giờ chúng ta lại tách chúng sanh ra khỏi những cái mà ta gọi là không chúng sanh. Chúng sanh ở đây tiếng Phạn gọi là Sattva, hữu tình. Mình tách hữu tình ra khỏi những cái mình gọi là vô tình. Ta cho cỏ cây đất đá là vô tình, và ta nói phải có từ bi với loài hữu tình và không cần từ bi với loài vô tình. Cái đó cũng là một kiến chấp. Cái mà ta gọi là vô tình đã giúp làm ra các loài hữu tình. Nếu mà ta đối xử tệ hại với cái mà ta gọi là vô tình thì ta đang giết những loài hữu tình. Thành ra hữu tình và vô tình tuy hai mà là một, giữa hai bên quả tình không có giới hạn. Một thi sĩ Pháp đã có lần hỏi: “Objets inanimés, avez vous donc une âme?” (“Các vật vô tình kia ơi, chúng bây có linh hồn không vậy?”). Có vẻ như ông ta bắt đầu đặt câu hỏi về nhận thức thông thường của chúng ta, cái nhận thức dựa trên sự phân chia những loài vô tình và hữu tình. Trong khi đó thì bài kinh sám nguyện của chúng ta có câu “tình dữ vô tình, đồng viên chủng trí” (“Con nguyện rằng nhờ sự tu tập của con mà các loại hữu tình và các loại vô tình đều đạt tới nhất thiết trí cả”). Người viết ra lời nguyện này đã vượt khỏi chúng sanh tướng. “Làm sao em biết bia đá không đau?” (nhạc Trịnh Công Sơn). Cái mà mình nghĩ là vô tình không hẳn là vô tình đâu. Năm uẩn của các loại chúng sanh được thiết lập bởi những yếu tố mà mình gọi là vô tình. Trịnh Công Sơn có nói thêm “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau”. Sỏi đá mà còn cần nhau, huống hồ là người. Đó là một tia chớp lòe của tâm thức. Nó cho thấy loài người, loài thú, loài cây, loài sỏi đá là một. Và lòng từ bi của chúng ta không có giới hạn. Khi chúng ta thật sự biết thương chúng ta thì chúng ta thương luôn những loài cây cỏ và đất đá. Cho nên khi lạy thù ân (tức là lạy để tỏ lòng biết ơn) không những chúng ta tỏ ra biết ơn cha mẹ, thầy bạn và mọi loài chúng sanh, mà chúng ta còn biết ơn luôn những loài cỏ cây và đất đá. Cái lạy đó là cái lạy giúp cho ta thấy được sự vô phân biệt giữa tình và vô tình, cái lạy nhằm quán tưởng sự bất nhị giữa hữu tình và vô tình. “Đệ tử nhớ ơn mọi loài chúng sanh cây cỏ và đất đá, cúi đầu đảnh lễ tam bảo thường trú trong mười phương”. Trong khi lạy hành giả phải quán chiếu thì mới thấy sâu tinh thần Bát Nhã.

Khái niệm về Thọ Giả. Thọ Giả là thời gian của một sinh mệnh. Khi mình vừa sinh ra thì thời gian đó bắt đầu và khi chết đi thì thời gian đó chấm dứt. Thời gian đó còn gọi là thọ mạng. Ta cứ nghĩ là ta chỉ được sống trong thời gian ấy thôi, trước đó thì ta chưa sống và sau đó thì ta không còn sống; và trong thời gian đó trong ta chỉ có sự sống thôi ngoài ra không có cái gì chết cả. Đây lại là một nhát gươm phân biệt chặt thực tại ra thành nhiều mảnh, cho rằng bên này là cái chết, bên kia là sự sống. Mình nghĩ rằng từ hôm má mình đưa mình ra đời thì mình mới bắt đầu sống và khi nhắm mắt là mình chết. Đó là một khái niệm sai lạc gọi là tướng thọ giả. Học kinh Bát Nhã ta thấy sinh và diệt là một và nếu không có diệt thì không có sinh. Chúng ta đi ngang sinh diệt trong mỗi giây phút. Trong thời gian mà ta gọi là thọ mạng thì cái diệt đi ngang cái sinh hằng triệu lần và do đó làm cho cái sinh có thể có mặt. Mỗi ngày trong cơ thể ta có hằng triệu tế bào chết đi. Tế bào óc, tế bào da thịt trong cùng khắp thân thể. Mỗi tế bào là một đơn vị của cơ thể. Nếu mỗi khi có một tế bào chết mình lại làm đám ma mà khóc thì mỗi ngày như vậy mình phải khóc đến bao nhiêu triệu lần? Trái đất của chúng ta là một cơ thể và mỗi chúng ta là một tế bào, chúng ta nghĩ chúng ta có đủ thì giờ để khóc và làm đám ma. Thấy được cái chết xảy ra trong mỗi giây phút để làm cho cái sống có thể có mặt ta mới thấy rõ cái chết cần thiết cho cái sống đến mức độ nào. Theo tinh thần Bát Nhã, đi tìm cái sống bằng cách chạy trốn cái chết là một thái độ không thông minh. Trong kinh Tạp A Hàm, Bụt nói: Có đủ điều kiện thì con mắt phát hiện, thiếu những điều kiện đó thì con mắt ẩn tàng. Cái thân và cái thức của mình cũng vậy. Thường thường mình chỉ thấy cái sanh khác với cái diệt. Cái sanh là cái mình ưa thích và ghì chặt lấy, còn cái diệt là cái mình lo lắng sợ hãi và muốn chạy trốn. Thái độ đó đưa tới rất nhiều lo lắng và sợ hãi. Sở dĩ mình có thái độ đó là vì mình đang bị kẹt vào một cái thấy gọi là thọ giả tướng. Chữ tướng trong nguyên bản tiếng Phạn là tưởng (samjnã). Tưởng là một tri giác (perception hoặc notion). Tưởng theo ánh sáng của Duy Thức học có hai phần: phần chủ thể (còn gọi là kiến phần) tức là phần BIẾT và phần đối tượng (còn gọi là tướng phần) tức là phần BỊ BIẾT. Thấy sợi dây mà nghĩ là con rắn, đó là một ảo tưởng hay vọng tưởng (perception erronnée). Bốn tri giác sai lầm, bốn vọng tưởng này là nguồn gốc cho nhiều khổ đau, nhiều phân biệt: Ngã tướng, Nhân tướng, Chúng Sanh tướng và Thọ Giả tướng. Một vị bồ tát đích thực là một vị bồ tát không bị kẹt vào bốn vọng tưởng đó. Tôi là người rất yêu thích thiên nhiên và quý vị cũng biết rằng khi từ thành phố về quê thì mình có cái thú là được đi tiểu ở ngoài thiên nhiên. Không khí ở ngoài rất là mát mẻ và đi tiểu ở ngoài dễ chịu hơn là đi ở những cầu tiêu thành phố nhiều, nhất là ở những nhà cầu dơ bẩn và hôi hám. Nhưng ngày xưa có nhiều khi tôi thật bối rối: tới gần một thân cây, tôi thấy cây đẹp quá và vì có niềm kính trọng với cây ấy thành ra tôi muốn đi tiểu gần đó, thấy như mình không dễ thương và không lễ phép. Tôi bèn xoay qua bên bụi cây khác và lại thấy cũng không được: tại sao mình phân biệt gốc cây này đẹp hơn bụi cây kia và tôi cũng không muốn đi tiểu vào nơi đó. Thành ra nhiều khi tôi đi rất xa mà vẫn chưa tìm ra được chỗ tiểu. Không biết quý vị đã từng bị lâm vào cái tình trạng khó xử đó chưa? Mình thường có cảm tưởng rằng phòng vệ sinh làm bằng gạch đá là loài vô tri thành ra mình có thể đi tiểu một cách an tâm hơn. Học Kinh Kim Cưong Năng Đoạn rồi thì mình thấy gỗ đá và xi măng cũng là mầu nhiệm. Chỉ có một nẻo thoát thôi là khi đi tiểu thì mình nên đi rất chánh niệm và rất cung kính, nhìn sâu và thấy rõ đây không phải là một hành động bất lịch sự. Đây là một hành động bình đẳng với mọi hành động khác trong đời sống bình thường như uống trà, rửa bát, lạy Bụt. Khi tôi lạy Bụt thì tôi cũng lạy bằng tinh thần chánh niệm này và xin quý vị cây cỏ thông cảm. Đó là kinh nghiệm của tôi và kinh nghiệm ấy đã được thực sự thấm nhuần công phu tu học của mình.

Này nữa, thầy Tu Bồ Đề. Vị bồ tát thực hiện phép bố thí nhưng không dựa vào bất cứ một thứ gì cả, nghĩa là không dựa vào sắc để bố thí, cũng không dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp để bố thí.

Tôi tin là quý vị đã hiểu câu này rồi dù là mới nghe đọc lần đầu. Nguyên tắc được đưa ra là khi làm công việc độ sanh thì ta phải làm với tinh thần vô tướng không phân biệt ta và người. Không nên dựa vào những vọng tưởng về Ngã, Nhân, Hữu Tình và Thọ Mạng. Tinh thần đó có thể biểu lộ trong hành động bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định. Ở đây Bụt đưa ra một ví dụ về Bố Thí. Có ba thứ bố thí: 1- tài thí, tức là hiến tặng những điều kiện vật chất để cho người kia đạt được an ổn về vật chất; 2 – pháp thí, hiến tặng phương pháp để người kia có thể sanh sống và tu tập; 3 – vô úy thí là hiến tặng sự an ninh, tâm trạng không sợ hãi. Những lực lượng cảnh sát nếu thực tập đúng luật thì đó là một sự hiến tặng an ninh cho chúng ta, đó là một hình thức vô úy thí. Nhưng trên thực tế lại có nhiều nhân viên cảnh sát lạm dụng quyền hành của họ và làm cho chúng ta sợ hãi, đó là họ làm ngược lại tinh thần hiến tặng an ninh (vô úy thí). Trong ba thứ bố thí ấy, vô úy thí là pháp môn thực tập rất lớn của bồ tát Quan Thế Âm. Có nhiều người vượt biên, trên ghe chỉ mang theo Tâm Kinh. Tâm Kinh là một kinh văn của hệ thống Bát Nhã, là một tặng phẩm về Vô Úy Thí. Đọc kinh đó mình thấy không sợ hãi. Thật ra khi thực tập điều Bụt dạy về Bốn Vọng Tưởng, không để cho Bốn Vọng Tưởng trấn ngự thì chúng ta đã đạt tới cõi không sợ hãi rồi. Khi thực tập bố thí, các vị Bồ tát thực tập theo tinh thần vô tướng, không bị ràng buộc bởi bốn vọng tưởng kia. Mà vọng tưởng do đâu mà có? Đó là do sự u mê của chúng ta về thực chất của sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vì không nhận thức thấu được bản chất của chúng, chúng ta đã có vọng tưởng về chúng và vì còn bị kẹt trong sự phân biệt nên chúng ta không thực tập được phép bố thí theo tinh thần của một vị Bồ tát. Ví dụ khi thấy một người đói, chúng ta đem thức ăn ra mời họ. Chúng ta có thể làm việc đó một cách tự nhiên, không cần hỏi đó là người Việt, người Pháp, người Mỹ hay người Phi Châu. Hễ đói thì ta đem thức ăn tới. Ví dụ thứ hai là khi đem thức ăn tới cho người ấy ta không thấy rằng ta là người đang thực tập Bát Nhã Bố Thí Độ, ta đang làm công việc mà Bụt đang trông cậy ta làm. Làm mà có phân biệt như vậy là tu có tướng (tướng Nhân và tướng Ngã) rồi. Bốn tướng mà ta được nghe Bụt nói vừa rồi là bốn tướng căn bản, bốn Vọng Tưởng lớn. Những vọng tưởng này là do những vọng tưởng khác tạo thành, những vọng tưởng về sắc, về thanh, về hương, về vị, về xúc và về pháp. Chúng ta tưởng sắc là những gì rắn chắc trong khi đó Bụt đã từng dạy rằng sắc chỉ như bọt nước. Vật chất có tính cách trống rỗng bên trong, không chắc thực và có tính cách tan rã dễ dàng. Ngày xưa mà dùng hình ảnh bọt nước để ví dụ cho sắc thật đã là hay quá rồi. Bây giờ khoa học tiến bộ chỉ cho ta thấy rằng cái mà ta gọi là vật chất thực sự bên trong chỉ là trống rỗng. Vật chất hầu như chỉ làm bằng không gian thôi. Cái mà chúng ta cho là rắn chắc bất di bất dịch kỳ thực không phải là rắn chắc bất di bất dịch. Những nguyên tử tập hợp thành một khối vật chất dù là đá, sắt hay gỗ, tất cả những nguyên tử ấy đều di động. Mỗi nguyên tử bên trong có nhân và xung quanh có nhiều điện tử xoay quanh với tốc độ gần ba trăm ngàn cây số một giây. Nhìn sâu vào vật chất ta thấy đó là một tổ ong luôn luôn di động, và sự di động đó mau hơn sự di động của những con ong rất nhiều. Và khi mình thấy được những điện tử đang xoay quanh những nhân nguyên tử với tốc độ gần ba trăm ngàn cây số một giây thì mình thấy cái quan niệm và cái thấy của mình về vật chất (về sắc) sai lạc quá chừng. Các nhà khoa học nói rằng khi đi vào thế giới nguyên tử họ thấy thế giới của nhận thức thông thường của mình là thế giới mộng ảo. Đi bằng con đường thiền quán hay là bằng con đường khoa học vật lý thì đều có thể thấy được điều đó. Vì vậy cho nên ngày xưa Bụt ví vật chất (sắc) là một đám bọt nước. Ví dụ đó diễn tả được không gian ở trong sắc. Nếu bọt nước tan ra thì không còn gì cả, bên trong chỉ toàn là hư không thôi. Rồi kinh cũng nói như vậy về thanh, hương, vị, xúc và pháp. Do nhận thức sai lầm của ta về sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp ta đã đi tới bốn khái niệm sai lầm chính là Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Cho nên vị Bồ tát trong khi thực tập hạnh bố thí phải vượt thoát ý niệm sai lầm về sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, và không còn bị kẹt vào những ý niệm đó. Không nương tựa, không trụ vào bất cứ gì, tại vì nếu nương vào một cái gì dễ sụp đổ thì mình cũng dễ sụp đổ. Một ngôi chùa, một trung tâm tu học như làng Hồng chẳng hạn, cũng chỉ là sắc; mình cần tới sắc nhưng mình không nương dựa và bám víu quá trên cái đó. Mình cứ tu học, cứ hành đạo, cứ thiền quán. Nếu không có làng Hồng thì mình cũng có thể tu chỗ khác, không phải là vì không có làng Hồng mà mình không thể tu. Như vậy mình đạt tới cái tâm rất là tự tại, vô úy, mình sử dụng được sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp một cách tự do, mình biết được cái thể tính của những pháp đó và không bị kẹt vào các pháp đó, không nô lệ cho những thứ đó. Những thứ đó khi tập hợp lại, không làm cho mình thêm niềm tin, và khi tan vỡ ra chúng cũng không làm cho mình mất niềm tin. Bồ Tát thực hiện sáu hạnh Ba La Mật (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ) phải làm theo tinh thần ấy. Nếu nghĩ rằng phải có tiền thì mới thực tập bố thí được là không đúng. Theo tôi, không có tiền thì tập bố thí còn dễ hơn. Đừng có than rằng “chúng ta đâu có tiền mà làm cái việc bố thí”. Thật sự chúng ta có thể hiến tặng rất nhiều niềm vui và hạnh phúc cho người khác. Có những thiếu niên đang lớn nói: Con phải có một nghề làm ra nhiều tiền thì mới giúp người được. Và cố nhiên là em muốn đi học bác sĩ hay kỹ sư. Ta biết rằng, khi học cho đậu được cái bằng bác sĩ thì hầu như tất cả thì giờ của mình sẽ bị cuốn hút vào trong đó. Hành nghề bác sĩ cũng bận rộn không kém. Mình bố thí cho mình còn không có thì giờ, nói gì bố thí cho người khác. Đó là một cái kẹt. Kẹt vào sắc, thanh…

Tu Bồ Đề, Bồ tát nên bố thí theo tinh thần ấy, không dựa vào tướng. Tại sao? Nếu Bồ tát bố thí mà không dựa vào tướng thì phước đức sẽ không thể nghĩ bàn.

Phước đức của người bố thí theo tinh thần vô tướng sẽ lớn như hư không. Chúng ta thường nói kết quả của sự tu học mà ta mong ước là thảnh thơi giải thoát. Sự thảnh thơi giải thoát mà được ví với hư không thì thật là lớn lắm. Nếu ngồi rửa nồi mà cứ nghĩ rằng mình đang làm việc cực nhọc trong khi các chị ấy chỉ biết ngồi chơi v.v… thì vừa làm ta vừa đau khổ. Vậy thử hỏi phước đức rửa nồi ấy được bao nhiêu? Ít lắm. Tuy rằng rửa xong ta có mấy cái nồi sạch thật đó nhưng mà phước của ta chỉ lớn bằng mấy cái nồi thôi. Còn nếu ta ngồi rửa nồi với tâm trạng thênh thang, thư thái mỉm cười, thì phước đức sẽ lớn bằng hư không. Tâm trạng thênh thang ấy đã có thể gọi là giải thoát. Và giải thoát là phước đức của chính mình. Quý vị đã thấy lời kinh dính líu tới đời sống hàng ngày của mình hay chưa?

Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Không gian về phía Đông có thể nghĩ lường được không?

– Bạch đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, không gian về phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Trên, phương Dưới có thể nghĩ và lường được không?

– Bạch đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, nếu bồ tát không nương vào đâu cả để thực hiện pháp bố thí thì phước đức cũng nhiều như hư không vậy, không thể nghĩ được, không thể lường được. Này Tu Bồ Đề, các vị bồ tát nên trú tâm theo những lời chỉ dẫn vừa đưa ra.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua thân tướng hay không?

– Bạch đức Thế Tôn, không. Cái mà Như Lai nói là thân tướng vốn không phải là thân tướng.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt. Nếu thấy được tính cách không tướng của các tướng tức là thấyđược Như Lai”.

Thân tướng Như Lai màu vàng, có tám mươi vẻ đẹp và ba mươi hai tướng tốt. Có thể nhận diện Như Lai qua thân tướng đó hay không? Tướng luôn luôn có liên hệ tới tưởng. Tưởng là nhận thức của chúng ta, mà nhận thức của chúng ta có nhiều trình độ sai lầm khác nhau, có khi chúng sai lầm nhiều, có khi chúng sai lầm ít. Khi nhận thức đạt đến phẩm chất gọi là trí tuệ rồi thì nhận thức không còn được gọi là tưởng nữa. Ta gọi nó là Bát Nhã. Bát Nhã vượt được các tướng, đó là trí. Ở đây chúng ta gặp cái có thể được gọi là biện chứng tư tưởng Bát Nhã (dialectics of Prajnãparamita). Thường thường trí óc chúng ta hay nhận thức sự vật qua nguyên tắc đồng nhất (principe d’identité). Nguyên tắc đồng nhất là căn bản của lý luận và nhận thức mà chúng ta thường dùng trong đời sống hằng ngày. Ví dụ A là A. Đó là luật đồng nhất. Thúy chỉ có thể là Thúy thôi, không thể là ai khác được. A không thể nào là B được. Thế nhưng soi ánh sáng Bát Nhã vào ta thấy phải vượt qua nguyên tắc đồng nhất ta mới thấy được sự thật. Bát Nhã nói: A không phải là A. Cái mà Như Lai gọi là thân tướng vốn không phải là thân tướng. Tại sao vậy? Sau này khi học sâu vào Kim Cương Năng Đoạn, ta sẽ thấy có những câu được lặp đi lặp lại nhiều lần như: Như Lai nói là phước đức nhiều, thật ra không phải là phước đức nhiều, cho nên mới gọi là phước đức nhiều.

Đây là ngôn ngữ của biện chứng Bát Nhã. Nhìn bông hồng, Bụt có nhận diện bông hồng là bông hồng như chúng ta không? Có chứ, nhưng mà trước khi nói bông hồng là bông hồng thì Bụt đã thấy được rằng bông hồng không phải là bông hồng. Bông hồng vốn do những yếu tố không phải là bông hồng làm ra và thật sự không thể có sự phân biệt rành rẽ giữa bông hồng và những cái không phải là bông hồng. Quý vị còn nhớ bốn vọng tưởng căn bản là Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Mạng không? Khi nhận thức, chúng ta dùng lưỡi gươm phân biệt chặt thực tại ra thành nhiều mảnh và nói: “Đây là A, và cố nhiên A không phải là B,C,D hay Đ”. Nhưng nhìn vào A dưới ánh sáng duyên sinh, chúng ta thấy A chỉ toàn là do B,C,D, Đ,E,G,H… hợp lại. A riêng biệt không bao giờ có thể tự mình có mặt. Nhìn vào A, và nhìn thật sâu, ta chỉ thấy B,C,D, Đ,E… mà thôi. Cho nên ta mới nói A không phải là A, và khi đã thấy A không phải là A rồi thì ta mới thật sự thấy được chân tướng của A. Còn nếu không thì ta chỉ có vọng tưởng về A mà thôi. Bây giờ quý vị hãy nhìn thử vào Thúy để thấy Thúy không phải là Thúy, để thấy muôn ngàn yếu tố đã tạo ra Thúy. Và khi đã thấy được Thúy như vậy rồi ta mới thật sự thấy Thúy. Và bây giờ có thể thấy Thúy với sự hiểu biết và thương yêu. Nếu không thì mình vẫn còn kỳ thị, vẫn còn giận hờn đủ thứ hết. Cái thấy đó là cái thấy có công dụng lấy ra hết những vô minh và những phiền não khác của mình. Khi nhìn một người mình thương hay một người nào mình ghét, ta phải nhìn như thế nào để thấy được rằng người đó không phải là người đó. Người đó sở dĩ mà như thế là do những nhân duyên giáo dục, kinh tế, xã hội, văn hóa, di truyền, mẹ cha v.v… tạo ra, và khi nhìn thấy được người đó như vậy rồi thì ta mới thật sự thương yêu được người đó, thấy được giá trị người đó, hay là chấp nhận được người đó trong trường hợp người đó có nhiều cái đã làm ta khó chịu. Ta biết những cái khó chịu kia không phải do người đó muốn mà do những điều kiện xa gần đã tạo ra trong người đó. Nếu mình thấy nơi Thúy có những cái dễ thương, những vẻ đẹp thì mình biết rằng những cái dễ thương đó, những vẻ đẹp đó là do những yếu tố này kia tạo ra. Và nếu mình muốn Thúy giữ được những yếu tố đó trong Thúy thì mình phải biết bảo vệ những yếu tố đó ngoài Thúy. Chớ không phải chỉ có bảo vệ những yếu tố Thúy mà đủ. Trong số những yếu tố làm cho Thúy dễ thương có cả bản thân mình nữa. Nếu mình tiếp tục sống tươi mát dễ thương thì Thúy sẽ tiếp tục tươi mát và dễ thương. Vì vậy nhìn vào A sâu sắc để thấy được rằng A không phải là A, như vậy mình mới bắt đầu thấy được A. Bụt nhìn bông hồng như vậy đó. Vì vậy Bụt không bị bông hồng ràng buộc, trong khi đó nhìn bông hồng chúng ta có thể bị bông hồng ràng buộc vì lẽ chúng ta còn trú tướng. Một vị thiền sư nói: Trước khi tu thiền, tôi thấy núi là núi và sông là sông. Trong khi tôi tu thiền, tôi thấy núi không phải là núi và sông không phải là sông nữa. Nhưng rồi sau đó tôi lại thấy núi là núi và sông là sông. Đó là biện chứng Bát Nhã. Mình có thể nói bông hồng vô tướng nhưng bông hồng vô tướng không có nghĩa là không có bông hồng, không có Thúy, không có sư cô Như Phước. Ta phải nhìn vào bông hồng, nhìn vào Thúy, nhìn vào sư cô Như Phước một cách sâu sắc để thấy cái không phải là bông hồng, cái không phải là thúy, cái không phải là sư cô Như Phước trong bông hồng, trong Thúy và trong sư cô. Thấy được như vậy rồi thì lúc đó mới thực sự thấy bông hồng, thấy Thúy, thấy sư cô Như Phước, và lúc đó thương mới thật sự là thương, bố thí mới thật sự là bố thí, trì giới mới thật sự là trì giới, nâng đỡ mới thật sự là nâng đỡ. Một người tu hành cũng có tướng của người tu: đầu tóc khác, áo mặc khác, cách đi, cách đứng, cách nằm, cách ngồi khác. Do những tướng đó mà mình nhận ra người tu. Nhưng mà những người tu hành có tính cách hình thức cũng có thể có những cái tướng đó. Cho nên nếu chỉ biết căn cứ vào tướng thì không được an ninh mấy. Ta phải làm thế nào để vượt được hàng rào của tướng mà đi vào nội dung. Nhận diện Như Lai qua ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp cũng là chuyện nguy hiểm, tại vì thiên ma cũng có thể hiện ra hình tướng như vậy và một vị Chuyển luân Thánh Vương cũng có thể có được ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp ấy. “Vì vậy tôi khuyên thầy đừng tìm Như Lai qua thân tướng”, Bụt đã nói thế. Bụt còn nói rằng hễ còn tướng thì còn hư vọng, nghĩa là hễ còn tưởng (tri giác) thì còn có thể bị lường gạt. Tưởng luôn luôn có nội dung là tướng. Và khi tu tập để tưởng được chuyển thành trí thì lúc đó tưởng không còn được gọi là tưởng nữa mà được gọi là tuệ. Lúc đó tuy các tướng vẫn còn đó nhưng không còn đánh lừa được mình nữa, và vì vậy cái nhìn bây giờ đã thành ra cái nhìn vô tướng. “Nếu thấy được tánh cách không tướng của các tướng tức là thấy được Như Lai”. Như Lai tức là sự chân thật, cái bản chất chân thật của sự sống, của trí tuệ, của tình thương và hạnh phúc, và chỉ khi nào mình thấy được tánh cách phi tướng của các tướng thì mình mới mong thấy được Như Lai. Ví dụ như bông hồng. Nhìn vào bông và không bị kẹt vào tướng của bông hồng, thấy được tánh cách không bông hồng của bông hồng thì bắt đầu thấy được Như Lai trong bông hồng. Nhìn vào một hòn sỏi, nhìn vào một cái cây, nhìn vào một em bé với phương pháp đó ta đều có thể thấy được Như Lai cả. Như Lai (Tathagatha) có nghĩa là không có tướng đến và không có tướng đi. Kinh Kim Cương Năng Đoạn định nghĩa Như Lai là không từ đâu tới cả và sẽ không đi về đâu cả. Không có tướng đến và không có tướng đi, không có tướng không và cũng không có tướng có, không có tướng sinh và cũng không có tướng diệt. Trong bản tiếng Hán, ta đọc: “vô sở tùng lai diệc vô sở khứ thị danh Như Lai” (không từ đâu tới cả và cũng không đi về đâu cả thì gọi là Như Lai).

Chúng ta tiếp tục học Kinh Kim Cương. Trước khi học tiếp, chúng ta hãy đọc lại kinh văn để ôn lại những gì mình đã nghe. Khi đã hiểu kinh văn rồi thì chúng ta sẽ nghe kinh này như là nghe nhạc:

Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ, với đại chúng khất sĩ gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Hôm ấy vào giờ khất thực, Bụt mặc áo và ôm bát đi vào thành Xá Vệ. Trong thành, Người theo pháp thứ đệ khất thực. Khất thực xong, Người xếp y bát, rửa chân. trải tọa cụ mà ngồi.

Lúc ấy, từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, thượng tọa Tu Bồ Đề đứng dậy, trịch vai áo bên phải ra, quỳ chân hữu xuống, chấp tay cung kính bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát. Thế Tôn, những người con trai hiền và những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm sao mà điều phục tâm của họ?”.

Bụt bảo: “Hay lắm, thầy Tu Bồ Đề! Thầy nói thật đúng, Như Lai thường đặc biệt hộ niệm và giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát. Này, thầy hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai sẽ vì thầy mà trả lời. Những người con trai hiền hay những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì phải nương tựa và phải điều phục tâm của họ như thế này”.

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, chúng con rất mong được nghe người chỉ dạy”.

Bụt bảo Tu Bồ Đề: “Các bậc bồ tát đại nhân nên hàng phục tâm họ như sau. Có cả thảy bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, hoặc sinh từ sự ẩm ướt, hoặc bằng sự biến hoá, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta phải đưa tất cả các loài đó vào Niết Bàn Tuyệt Đối để được giải thoát. Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu một vị bồ tát mà còn có khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả thì vị ấy không phải là một vị bồ tát đích thực.

Này nữa, thầy Tu Bồ Đề. Vị bồ tát thực hiện phép bố thí nhưng không dựa vào bất cứ một thứ gì cả, nghĩa là không dựa vào sắc để bố thí, cũng không dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp để bố thí. Tu Bồ Đề, bồ tát nên bố thí theo tinh thần ấy, không dựa vào tướng. Tại sao? Nếu bồ tát bố thí mà không dựa vào tướng thì phước đức sẽ không thể nghĩ bàn. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Không gian về phía Đông có thể nghĩ lường được không?”

– Bạch đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, không gian về phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Trên và phương Dưới có thể nghĩ và lường được hay không?

– Bạch đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, nếu bồ tát không nương vào đâu cả để thực hiện pháp bố thí thì phước đức cũng nhiều như hư không vậy, không thể nghĩ được, không thể lường được. Này Tu Bồ Đề, các vị bồ tát nên trú tâm theo những lời chỉ dẫn vừa đưa ra.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua thân tướng hay không?

– Bạch đức Thế Tôn, không. Cái mà Như Lai nói là thân tướng vốn không phải là thân tướng.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt. Nếu thấy được tính cách không tướng của các tướng tức là thấy được Như Lai”.

Quý vị có thấy khi mình đã hiểu kinh rồi thì đọc kinh nghe như nghe nhạc phải không? Chúng ta hãy đọc đoạn kế tiếp của kinh văn:

Thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt rằng: “Bạch đức Thế Tôn, trong tương lai, nếu được nghe những câu nói như thế, người ta có thể phát sinh lòng tin chân thật hay không?”.

Bụt bảo: “Thầy đừng nói thế. Năm trăm năm sau khi Như Lai diệt độ, sẽ có những người biết giữ giới và tu phước; những người đó khi nghe được những lời này sẽ có thể phát sinh lòng tin và nhận ra đó là sự thật. Ta nên biết rằng những người ấy đã gieo trồng những hạt giống tốt không phải ở nơi một vị Bụt, hai vị Bụt, ba, bốn, năm vị Bụt mà thật đã gieo trồng những hạt giống lành ở nơi vô lượng ngàn muôn vị Bụt. Người nào chỉ trong một giây phút thôi, phát sinh được niềm tin thanh tịnh khi nghe những lời những câu ấy, thì Như Lai tất nhiên BIẾT được người ấy, THẤY được người ấy và người ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế. Vì sao? Vì những người như thế không còn kẹt vào những khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh, về Thọ Giả, về Pháp, về Không Phải Pháp, về Tướng và về Không Phải Tướng. Vì sao? Nếu còn chấp vào ý niệm Pháp thì còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả và nếu còn chấp vào ý niệm Không Phải Pháp, thì cũng vẫn còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả như thường. Thế cho nên, đã không nên chấp vào pháp mà cũng không nên chấp vào Không Phải Pháp. Vì vậy mà Như Lai đã mật ý nói: Này các vị khất sĩ, nên biết rằng Pháp tôi nói được ví dụ như chiếc bè, Pháp còn nên bỏ, huống là Không Phải Pháp”.

Những lời Bụt giảng đó, thầy Tu Bồ Đề đã hiểu thấu được. Tuy thầy đã chấp nhận và tin tưởng được những lời ấy nhưng vì thấy các tư tưởng này cao siêu quá thầy sợ rằng sau này sẽ có những người khi nghe những câu nói như vậy sẽ sinh lòng nghi hoặc. Vì những điều Bụt nói trái chống quá với nhận thức thông thường của người ta, nên thầy mới e ngại như thế. Thầy nói: Bạch đức Thế Tôn, bây giờ có Người ngồi ở đó thì cái gì cũng dễ, nhưng sau này khi Người đã diệt độ rồi, chừng năm trăm năm sau, khi nghe những câu nói như thế này, có thể người ta khó phát được lòng tin và cho đây là sự thật. Bụt mới trấn an thầy Tu Bồ Đề, bảo rằng trong tương lai, năm trăm năm sau khi đức Như Lai vào Niết Bàn, thế nào cũng sẽ có những người biết thực hành giới luật, biết tu tập phước đức, và những người đó, khi có cơ hội nghe tới những lời và những câu này thì cũng có thể phát sinh được lòng tin và chấp nhận được những điều thầy vừa chấp nhận.

Sự thật, thưa đại chúng, bây giờ đã hai nghìn mấy trăm năm qua rồi mà trong số thính chúng này cũng có những người có khả năng chấp nhận được những điều Bụt nói và cho đó là sự thật. Bụt dạy: Những người đó không phải tự nhiên mà được như vậy. Khi nghe những điều khó tin, khó nhận và khó hiểu như vậy mà vẫn hiểu và chấp nhận được là vì những người đó đã có những hạt giống tốt trồng từ những kiếp xưa. Tâm mình là một thửa ruộng lớn, mình là một vị Bụt tương lai, và mỗi khi mình tạo tác một nhân tốt thì cố nhiên mình đã gieo một hạt giống tốt vào một vị Bụt, tức là vào tâm địa của chính mình. Ở đây Bụt nói rằng những người đó đã gieo trồng những nhân lành đó không phải ở nơi một vị Bụt mà hai vị, ba vị, bốn vị, năm vị và hằng hà sa số các vị Bụt. Trong câu này có hai từ ngữ mà ta phải chú ý lắm mới thấy được tầm quan trọng của chúng. “ Người nào chỉ cần trong một giây phút thôi phát sinh được niềm tin thanh tịnh khi nghe những lời, những câu ấy thì Như Lai tất nhiên BIẾT được người ấy, THẤY được người ấy và người ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như vậy”. Trong một giây rất ngắn như là một sát na mà phát khởi được lòng tin về những điều vừa nghe thì người đó đã có nhiều phước đức lắm và người đó chính Bụt đang trông thấy, đang nhìn thấy. Như Lai biết người đó đang đứng đó, đang ngồi đó, Như Lai thấy người đó đang đứng đó, đang ngồi đó. Những từ quan trọng trong câu này là BIẾT và THẤY. Được một đức Như Lai biết mình ở chỗ đó, thấy mình đang hành đạo ở đó là một nguồn cảm hứng vô biên, một nguồn an ủi vô biên, một nguồn yểm trợ vô biên cho người đang hành đạo. Điều này chỉ cần được xét trong trường hợp của chính mình thì mình cũng đủ biết. Nếu mình có được người bạn thân có thể biết mình, hiểu được mình, biết mình đang làm gì, đang theo đuổi sự nghiệp nào, thì mình đã thấy có sự yểm trợ rồi, có sự hộ niệm lớn rồi, huống hồ người thấy và biết mình đó lại là một bậc giác ngộ thì sức yểm trợ đó lớn biết bao nhiêu. Người đó không làm gì cả, người đó chỉ cần thấy mình thôi, chỉ cần biết rằng mình đang ở đó thôi, là mình đã có rất nhiều năng lực rồi. Có một hôm đọc lại một bài thơ mà tôi viết cho các em thuộc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, tôi chợt hiểu được câu này trong Kinh Kim Cương. Lạ thật, khi đọc kinh thì không hiểu hết mà khi đọc qua cái khác thì mình lại hiểu kinh. Đọc kinh như là trồng cây vào trong người của mình. Rồi khi đi ngắm trời, ngắm biển, ngắm mây, hóng gió, mình biết phải làm cách nào để trở về với cái cây mà mình đã trồng đó. Năm đó chiến tranh Việt Nam trở nên ác liệt vô cùng và con số người chết ở thôn quê tăng lên rất nhiều. Trong khi đó, các thanh niên, thiếu nữ, các cô, các chú và các thấy ở trong trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội đi ra ngoài làm việc rất đông và thỉnh thoảng tôi lại nghe tin các em chết, các thầy chết, các cô và các chú chết (mình phải đi ra ngoài trận mạc, hoặc xóm làng để mà tải thương, để mà giúp các em bé bị thương, những người lớn bị kẹt vào những vùng lửa đạn cho nên thân mạng mình cũng bị chiến tranh tàn hại như là thân mạng của đồng bào). Hồi đó có một bài thơ của tôi rất được ham chuộng, đó là bài: Kẻ thù ta không phải là người. Kẻ thù ta là tham lam, là vu khống, là bạo tàn. Chúng ta chống những cái cuồng tín, bạo tàn, tham lam, vu khống nhưng mà ta không chống con người. Phạm Duy đã soạn bài nhạc “Kẻ thù ta không phải là người” theo ý ấy. Các cô chú, các thanh niên, thiếu nữ trong trường Xã Hội đi ra làm việc thì phải chấp nhận sự kiện là đi ra thì có thể chết vì bom vì đạn hoặc vì một sự nghi kỵ nào khác. Các thanh niên về quê làm việc rất giỏi. Một hôm nọ có người nông dân hỏi: Chớ các anh lương tiền được chính phủ trả bao nhiêu mà làm giỏi như vậy? Mấy chú trả lời rất hay: Dạ thưa lương tiền gì đâu, chúng con đi làm công quả mà. Ngày xưa mình vào chùa làm công quả nhưng ngày nay loạn lạc, dân lành khổ quá, Bụt cũng phải ra ngoài này để mà phù trợ thì tụi con cũng phải đi ra tận ngoài này để mà giúp đỡ bà con, chứ không ở trong chùa làm công quả như xưa nữa. Trả lời như vậy là đúng. Đó là nói theo chủ thuyết “Đạo Phật đi vào cuộc đời” (Engaged Buddhism) phát sinh vào thời đó. Hồi đó tôi cũng có viết một cuốn sách tên là “Đạo Phật đi vào cuộc đời”. Có năm chàng Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội được phái tới một thôn làng tên Bình Phước ở gần bờ sông để thực tập. Hôm đó Sư cô Chơn Không, một nhân viên của ban giám đốc trường Xã Hội, đã tới thăm hỏi họ và họ có mời Sư cô ở lại nghỉ đêm để bàn công việc. Sư cô rất ưa ở lại nhưng vì đã lỡ hẹn trước với bà cụ rồi nên phải về. Đêm hôm đó năm chú bị giết. Nhưng có một chú sống sót. Chú kể lại là họ mang năm chú ra bờ sông và hỏi: Các anh có phải là Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội không? Mình nói: Dạ phải. Họ nói: Rất tiếc, chúng tôi buộc lòng phải giết các anh. Và họ bắn năm người trên bờ sông. Hồi đó tôi đã xuất ngoại, khi nghe tin các em và các chú bị ám sát và tử nạn trong công tác như vậy thì đau đớn vô cùng và tôi đã khóc. Có người bạn, giáo sư Windmiller, nói với tôi rằng: Tại sao thầy lại khóc? Thầy là một viên đại tướng thống lãnh một đoàn quân bất bạo động để làm công việc của tình thương. Cố nhiên là đoàn quân nào cũng phải gánh chịu những tổn thất cả. Mình đâu có làm việc giết người, mình chỉ đi cứu người thôi, mình là những chiến sĩ của tình thương thì thế nào đội quân bất bạo động của mình cũng không thể tránh được sự tổn thất. Tôi nói rằng tôi không phải là một vị tướng lãnh, tôi chỉ là một người thường. Tôi đã gọi các em tới để phục vụ và bây giờ các em chết thì tôi khóc. Và tôi có viết một bài thơ với nhan đề là “Dặn Dò” và gởi về cho các em trong trường Xã Hội, và yêu cầu các em đọc cho kỹ. Trong bài thơ đó tôi nói “đừng có bao giờ quay trở lại thù oán con người, dù con người có thù oán mình, đàn áp mình, có giết mình, dẫm lên sinh mạng mình như là dẫm lên giun dế. Nếu ở vào trường hợp phải chết vì bạo lực thì các em hãy quán từ bi và tha thứ cho những người đã giết và đã áp bức các em. Chết với tâm trạng từ bi như vậy thì mới xứng là con người của Bụt”. Chính khi tôi đọc lại bài này thì tôi hiểu được ý của Bụt trong Kinh Kim Cương Năng Đoạn. Cô Nhất Chi Mai, trước khi tự thiêu cũng đã đọc bài này trong băng nhựa để lại cho cha mẹ:

Xin hứa với tôi hôm nay
trên đầu chúng ta có mặt trời
và buổi trưa đứng bóng
Rằng: Em không bao giờ thù hận con người
Dù con người có đổ chụp trên đầu em
cả ngọn núi hận thù,
tàn bạo.
Dù con người giết em.
Dù con người
dẫm lên mạng sống em
như là dẫm lên giun dế.
Dù con người móc mật moi gan em
đầy ải em vào hang sâu tủi nhục,
em vẫn phải nhớ lời tôi căn dặn:
“Kẻ thù chúng ta không phải con người”
Xứng đáng chỉ có tình xót thương
Vì tôi xin em đừng đòi điều kiện
bởi không bao giờ oán hờn lên tiếng
đối đáp được
sự tàn bạo con người.
Có thể ngày mai
trước khuôn mặt bạo tàn
một mình em đối diện.
Hãy rót cái nhìn dịu hiền
từ đôi mắt
Hãy can đảm
dù không ai hay biết.
Và nụ cười em
hãy để nở
trong cô đơn,
trong đau thương thống thiết.
Những người yêu em
dù lênh đênh
qua ngàn trùng sinh diệt
vẫn sẽ nhìn thấy em.
Tôi sẽ đi một mình
đầu tôi cúi xuống
Tình yêu thương
bỗng trở nên bất diệt
Đường xa và gập ghềnh muôn dặm
nhưng hai vầng nhật nguyệt
sẽ vẫn còn
để soi bước cho tôi.

 

Chết trong sự đàn áp, tàn bạo và tủi nhục, nhưng nếu người đó mỉm cười được với lòng tha thứ thì người ấy quả thật có nhiều sức mạnh. Tôi xin đọc lại câu: Hãy rót cái nhìn dịu hiền từ đôi mắt, hãy can đảm dù không ai hay biết, những người yêu em dù lênh đênh trong ngàn trùng sinh diệt, vẫn sẽ nhìn thấy em. Chính nhờ đọc lại câu này mà tôi hiểu được Kinh. Nếu người kia chết được như vậy, chết được với lòng từ bi trong tâm hồn thì người kia cũng là ngọn đuốc soi sáng cho mình. Tôi sẽ đi một mình và đầu tôi cúi xuống, cúi xuống để nhớ người đó, để thấy được người đó, để biết người đó và do đó tình yêu thương bỗng trở nên bất diệt. Đường xa và gập ghềnh muôn dặm, nhưng hai vầng nhật nguyệt sẽ vẫn còn để soi bước cho tôi. Có ảnh hưởng qua lại giữa hai người, có từ bi, có sự tha thứ. Giữa mình với nhau, giữa những người thường, những chúng sanh, mà vẫn cần sự có mặt của nhau, người này cần được người kia thấy thì mới có thêm sức mạnh. Huống hồ là có được một vị Bụt nhìn thấy, thì dù trong cô đơn, đàn áp, khổ đau theo con đường lý tưởng, mình vẫn cảm thấy có một nguồn năng lực vô biên nâng đỡ mình. Trong những phút như vậy mình không trở nên yếu đuối và sẽ không phản bội lý tưởng từ bi của mình.

Người nào chỉ trong một giây phút thôi, phát sinh được niềm tin thanh tịnh khi nghe những lời những câu ấy, thì Như Lai tất nhiên BIẾT được người ấy, THẤY được người ấy và người ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế. Vì sao thế? Vì những người như thế không còn kẹt vào những khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh, về Thọ Giả, về Pháp, về Không Phải Pháp, về Tướng và về Không Phải Tướng. Vì sao? Nếu còn chấp vào ý niệm Pháp thì còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả như thường. Thế cho nên đã không nên chấp vào Pháp, cũng không nên chấp vào Không Phải Pháp. Vì vậy mà Như Lai đã mật ý nói: Này các vị khất sĩ, nên biết rằng, Pháp tôi nói được ví dụ như chiếc bè: Pháp còn nên bỏ, huống là Không Phải Pháp.

Trong bản chữ Nho không có các chữ tướng không phải tướng. Tướng đây là khái niệm. Mình có khái niệm về một cái gì thì tướng của cái đó hiện ra trong khái niệm mình. Ví dụ khi mình có khái niệm về bình trà thì trong khái niệm đó có hình ảnh của bình trà; đó là Tướng. Danh từ Phật học là Tưởng (perception). Danh từ ngoài đời là khái niệm (concept). Thường thường khái niệm về sự vật không phải là tự thân của sự vật. Ví dụ khi ta có khái niệm về bàn thì tướng bàn chẳng qua chỉ là khái niệm của chúng ta thôi, tướng ấy có thể rất khác với tự thân cái bàn. Khái niệm bàn của ta có thể rất khác với khái niệm về cái bàn của một con mọt. Đối với con mọt thì cái bàn là một kho lương thực và cái bàn không có những công dụng như để bình hoa, để cuốn sách, để viết lách như khái niệm bàn của chúng ta. Đối với một nhà khoa học thì khái niệm về bàn cũng có thể rất khác. Chúng ta đã tu, đang tu, nên khái niệm của chúng ta về Phật giáo rất khác với khái niệm về Phật giáo của những người chưa học và chưa tu theo đạo Bụt. Họ có những khái niệm về thiền hành, về ông thầy tu, về Bụt v.v… rất khác chúng ta. Các khái niệm của chúng ta về đạo Bụt gần với sự thật hơn. Nhờ công phu quán chiếu tu học, những cái tưởng của chúng ta càng ngày càng thoát ly những tướng sai lầm để một ngày nào đó đạt tới chất liệu của trí tuệ. Lúc đó chúng sẽ không được gọi là tưởng nữa mà gọi là trí. Chúng ta đã được nghe nói về bốn khái niệm Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả, giờ đây ta nghe thêm về khái niệm pháp.

Pháp là những sự vật, những hiện tượng (des choses). Cái giận, cái buồn, cái lo của chúng ta là những hiện tượng tâm lý gọi là những tâm pháp. Cái ghế, cái bàn, cái nhà, đỉnh núi, dòng sông là sắc pháp. Ngoài tâm pháp và sắc pháp còn có những hiện tượng không phải sắc mà cũng không phải tâm như được, thua, còn, mất, là tâm bất tương ưng hành pháp. Còn một loại pháp nữa là vô vi pháp không sinh diệt, không điều kiện hoá, không do những nguyên do tạo ra ví dụ như hư không chẳng hạn. Hư không theo học phái Hữu Bộ thì không sanh, không diệt, không do cái gì làm ra hết. Đó là một cách ví dụ thôi, thật ra hư không cũng do những cái khác làm ra. Thời gian làm ra không gian, tâm thức làm ra không gian. Có người đã dùng không gian để làm ví dụ cho pháp vô vi, nhưng thật ra không gian không hẳn là một pháp vô vi. Chân Như là một pháp vô vi. Nhưng mà nhìn cho kỹ thì Chân Như cũng không phải là một pháp vô vi. Sở dĩ chúng ta có khái niệm về Chân Như là tại vì chúng ta đã có khái niệm về Phi Chân Như. Nếu mà chúng ta cho Chân Như là một pháp khác với tất cả các pháp khác, thì tức là khái niệm về Chân Như đã được tạo ra do khái niệm về những cái mà chúng ta cho là Không Chân Như. Cũng như khi ta có khái niệm về tay trái thì tức khắc sinh ra khái niệm về tay mặt. Nếu có Chân Như tức là có những cái không phải Chân Như. Chính những cái không phải Chân Như đó đã sanh ra Chân Như. Có trên thì có dưới, có trong thì có ngoài, có thường thì có vô thường. Vì ta có quan niệm về thường nên ta mới có quan niệm về vô thường. Đó là luật tương đối. Trong định nghĩa thông thường, Pháp là hiện tượng nào có thể duy trì được đặc tính riêng của nó làm cho mình không có lầm lẫn nó với một hiện tượng khác. “Nhậm trì tự tánh, quỹ sanh vật giải”. Đó là định nghĩa sơ bộ, nhưng khi chúng ta đi theo biện chứng Bát Nhã, ta phải nói ngược lại: cái đó vốn không phải là cái đó thì nó mới thật là cái đó. Nhìn vào trong một pháp mà thấy được tất cả những cái không phải là pháp đó, thì lúc đó mới thật là bắt đầu thấy được pháp đó. Cho nên ta đã không kẹt vào khái niệm về pháp mà ta cũng không kẹt vào khái niệm về không phải pháp. Không phải pháp cũng tệ như pháp. Khi ta muốn vượt quan niệm pháp thì ta tạm sử dụng một cái quan niệm khác: đó là quan niệm phi pháp (không phải pháp). Nhưng khi vượt khỏi quan niệm pháp rồi thì ta có thể bị kẹt vào quan niệm không phải pháp. Ví dụ như khi ta nói “cái bông vàng” thì bông vàng là một pháp. Và để không kẹt vào khái niệm về bông vàng thì ta nói bông vàng này không phải là một tự thể riêng biệt, nó do những yếu tố không phải bông vàng làm ra, do đó không có cái pháp bông vàng riêng biệt. Nói như vậy là để vượt ra cái tướng (cái pháp) bông vàng, nhưng rồi ta cũng có thể bị kẹt vào cái không tướng (cái phi pháp) bông vàng. Vì vậy ta phải vượt luôn ý niệm về Không Phải Pháp. Cho nên trong biện chứng Bát Nhã ta thấy có ba giai đoạn: bông hường không phải là bông hường, cho nên mới là bông hường. Cái bông thứ ba nó rất khác với cái bông thứ nhất. Vì vậy Bát Nhã mới nói tới Không Không (Sunyata Sunyata) để giúp ta vượt thoát cái ý niệm về không. Và người tu trước khi tu thấy sông là sông, núi là núi, , trong khi tu thì thấy núi không là núi, sông không là sông, và sau khi tu thì lại thấy núi là núi, sông là sông. Bây giờ núi và sông rất là tự do. Cái tâm mình vẩn sống với sông và núi nhưng không còn bị ràng buộc gì cả. Thành ra cái thứ ba cũng là có. Nhưng cái có này không phải là cái có của cái thứ nhất mà là cái có trong mầu nhiệm, cái có trong tự do mà mình gọi là Diệu Hữu. Diệu hữu mà không phải là hữu. Tuy gọi là có nhưng không phải là cái có mê lầm như ngày trước. Bụt cũng thấy bông hồng, nhưng bông hồng của Bụt rất mầu nhiệm, đó là bông hồng của Diệu Hữu, còn bông hồng của chúng ta có thể là bông hồng của Hữu và bông đó còn chứa nhiều khái niệm sai lạc. Khi Bát Nhã nói tới Không thì đó là một cái Không rất mầu nhiệm, không phải là cái không trái với cái có. Đó là cái Không đã vượt ra khỏi cái và cái không của tương đối, của thế giới mê lầm trên kia. Cái Không ấy gọi là Chân Không (True Emptiness). Chân Không thì không phải là không. Chân Không rất là mầu nhiệm nên còn gọi là Diệu Hữu. Khi còn ở trong thế giới của Có Không thì chúng ta còn bị ràng buộc. Nếu mình nói “ông đó chết rồi, ông không còn nữa, tôi khóc, tôi buồn, tôi muốn tự tử” thì mình đang ở trong thế giới của Có Không tương đối và thông tục, thế giới của khái niệm còn chứa chất nhiều sự sai lầm. Nhưng nếu mình biết quán chiếu và đi vào thế giới mầu nhiệm của Bát Nhã thì mình có thể vượt thoát vừa cái có vừa cái không. Mình đi tới cái thế giới mà trong đó những ý niệm về còn, mất, có, không, sanh, diệt, một, nhiều, trên, dưới v.v… không còn nữa. Thế giới đó vẫn mầu nhiệm, vẫn diễn ra trước mắt và trong người của mình, thế giới đó gọi là thế giới của Chân Không hay là của Diệu Hữu. Chân Không tức là Diệu Hữu. Nếu ta còn loay hoay trong vùng tương đối thì Không không thể là Hữu được và Hữu không thể là Không được. Trên ngọn là thế giới của nguyên tắc đồng nhất. Còn dưới gốc là thế giới trong đó nguyên tắc đồng nhất đã bị phá bỏ. Nguyên tắc đồng nhất là căn bản của Ngã. Vậy thì không những quan niệm Pháp mình phải vượt thoát, mà quan niệm Không Phải Pháp mình cũng phải vượt thoát luôn. Tưởng phải được vượt thoát mà không phải tưởng cũng phải được vượt thoát. “Thế cho nên đã không nên chấp vào Pháp rồi mà cũng không nên chấp vào Không Phải Pháp”. Nghĩa là đã không nên chấp vào có rồi mà cũng không nên chấp vào không. Tại vì cả có cả không đều là mê lầm cả. Và như vậy ta đạt được tới Chân Không Diệu Hữu. Tới đây, kinh trích một câu mà ta đã học trong Đại Tạng Nam Truyền ở kinh Xà Dụ trong đó Bụt nói rằng Pháp của Bụt dạy giống như chiếc bè và đừng bị kẹt vào chiếc bè. Dạy giống như chiếc bè và đừng bị kẹt vào chiếc bè. Có nghĩa là pháp của Bụt mà nói ra mình cũng có thể bị kẹt vào và nghe pháp cũng nguy hiểm như bắt rắn vậy. Bắt rắn mà không biết cách thì người ta cầm lấy đuôi nó và vì vậy bị nó quay lại cắn chết. Người biết bắt rắn cầm cái nạng và khi thấy rắn thì ấn cái nạng vào khoảng cái cổ của nó và sau đó nắm cái cổ con rắn lên. Như thế thì sẽ không sao hết. Giáo lý của Bụt cũng như vậy. Giáo lý của Bụt là thuốc, ai có dùng thuốc thì biết thuốc có thể cứu người nhưng có khi cũng có thể giết người. Dùng không đúng thì giết người. Vì vậy không nên kẹt vào pháp. Những khái niệm về Không, Vô Thường, Vô Ngã rất có ích lợi, có khả năng tháo tung phiền não. Nhưng nếu ta không hiểu, cứ ngồi đó than vãn khóc thương: “trời ơi, vô thường vô ngã thì sống làm chi, chết cho rồi” thì hỏng hết. Bụt nói: Pháp mà còn không nên kẹt vào huống là không phải pháp. Vì vậy mà Như Lai đã mật ý nói rằng: Này các vị khất sĩ, nên biết rằng pháp tôi nói được ví dụ như chiếc bè, Pháp còn nên bỏ huống là Phi Pháp. Chữ mật ý này không có trong bản chữ Nho, chỉ có trong bản tiếng Phạn.

– Thầy Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao, Như Lai có đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác không? Như Lai có pháp gì để tuyên thuyết hay không?

Thầy Tu Bồ Đề thưa: “Theo con hiểu về điều Bụt dạy thì chẳng có một pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng không có một pháp nào riêng biệt được Như Lai tuyên thuyết. Vì sao? Vì những pháp mà Như Lai đã chứng và đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được . Đó không phải là pháp cũng không phải là không pháp. Vì sao? Vì tất cả các bậc hiền thánh đều do pháp vô vi mà trở nên khác người”.

Bụt muốn hỏi để kiểm soát lại xem Tu Bồ Đề đã hiểu được điều Người nói hay chưa và Tu Bồ Đề đã học nói được ngôn ngữ biện chứng Bát Nhã hay chưa. Bụt có đắc pháp giác ngộ chân chính và cao tột hay không? Và Bụt có pháp gì để thuyết ra hay không? Thầy Tu Bồ Đề trả lời: Bạch Thế Tôn, theo con hiểu về điều Bụt dạy thì chẳng có một pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng không có một pháp gì riêng biệt được Như Lai tuyên thuyết. Như vậy là thầy đã biết dùng ngôn ngữ của biện chứng Bát Nhã. Và bây giờ Thầy cắt nghĩa. Vì sao? Vì những pháp mà Như Lai đã chứng và đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được. Đó không phải là pháp, cũng không phải là không pháp. Trả lời như vậy là rất thông minh. Những ý này tuy Bụt đã nói trước và bây giờ Tu Bồ Đề lặp lại nhưng Thầy không bắt chước lặp lại từng chữ một. Thầy có nói câu này rất đặc biệt “không có một pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác cả”. Nếu mình nói có một pháp tên là vô thượng chánh đẳng chánh giác tức là mình đã dùng lưỡi gươm phân biệt chặt rời một miếng thực tại và gọi cái này là chánh đẳng chánh giác còn tất cả những cái kia không phải là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Như vậy tức là còn kẹt vào tưởng rồi. Nhìn vào vô thượng chánh đẳng chánh giác mình phải thấy tất cả những cái không phải là vô thượng chánh đẳng chánh giác trong đó, cũng giống như khi nhìn vào một bông hường mình thấy được tất cả những pháp không phải bông hường. Vì vậy thầy mới nói: không có cái pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác cả. Nghĩa là cái mà mình gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác nó không có một cái ngã riêng biệt. Nó không có một thực thể, một sự có mặt riêng biệt. Đúng theo biện chứng của ngôn ngữ này thì cũng không có một pháp gì riêng biệt được Như Lai tuyên thuyết. Nếu Như Lai có một pháp gì riêng biệt để tuyên thuyết thì pháp ấy cũng không có tính chất riêng biệt. Trong những pháp mà Như Lai đang nói nếu ta nhìn cho kỹ thì cũng thấy có tất cả những yếu tố không phải pháp. Ví dụ Như Lai có thể nói những chuyện như ăn cơm, rửa chén hay là lau chùi cầu tiêu: những pháp đó tuy không phải là pháp Bụt nhưng kỳ thực chúng cũng là pháp Bụt. Vì vậy sau này đọc câu “tất cả các pháp thế gian đều là Phật pháp” ta mới hiểu. Thành ra pháp của Bụt nói ra cũng không phải là một pháp riêng biệt được tách rời khỏi những pháp khác. Cũng như bông hường này không thể tách rời khỏi những pháp khác như là đám mây, mặt trời, vân vân… Vì sao? Vì những pháp mà Như Lai đã chứng và đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được. Điều này diễn tả được tinh thần “bất khả thủ, bất khả thuyết”. Không những các pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác, chân như, niết bàn, như lai… mình không thể diễn tả và nắm bắt được, mà tất cả các pháp khác như bông hường, ăn cơm, rửa chén v.v… mình cũng không thể diễn tả và nắm bắt được. Các pháp như Tu Bồ Đề, Xá Lợi Phất, La Hầu La, bé Minh hay cái nhà v.v… cũng không nắm bắt được. Vì tưởng là vì những pháp đó có sự bắt đầu và có sự chấm dứt cho nên ta cứ nghĩ rằng chúng độc lập với tất cả các pháp khác. Thật ra đi tìm nguyên ủy hoặc chung cục của các pháp đó cũng không được. Ví dụ như chú Hương Huệ. Nhìn chú, mình tưởng là mình nắm được chú nhưng thật sự khó nắm được chú lắm. Chú là một dòng sông thực tại. Mỗi phút có những pháp không phải Hương Huệ đi vào trong chú và trong phút đó có những pháp đi ra khỏi chú Hương Huệ. Có những yếu tố đi vào và những yếu tố đi ra ngay trong từng giây phút. Vì vậy nắm chú Hương Huệ bằng thân thể này, cảm giác này, tri giác tâm tư này và nhận thức này thì không thể nắm được đâu. Ta phải thấy rằng tuy vì chú Hương Huệ đang ở đây nhưng đồng thời chú cũng có thể ở những chỗ khác, đang ở hiện tại nhưng cũng có mặt trong quá khứ và tương lai. Thành ra nắm lấy chú Hương Huệ cũng rất khó chứ đừng nói là nắm Như Lai hay Tu Bồ Đề. Cái bông hường này mình cũng không nắm lấy được vì cái bông này cũng không có khởi nguyên và chung cục. Nó dính líu sâu sắc với tất cả các pháp trong vũ trụ và ta khó mà nhận diện ra nó. Trong thiền môn khi được trao truyền công án “ông hãy nói cho tôi biết mặt mũi ông ra thế nào trước khi mẹ ông được sanh ra đời”, mình phải bắt đầu đi tìm mặt mũi của mình, tìm bản lai diện mục của mình. Tìm khó lắm. Mình nắm bắt không được vì mình vốn là vô tướng. Và cũng vì là vô trước nên diễn tả cũng không được. Diễn tả Bụt đã không được mà diễn tả chú Hương Huệ cũng không được. Mình chỉ có một số tưởng, nghĩa là một số khái niệm về chú, và mình tưởng là mình đã nắm được chú qua các tưởng ấy; kỳ thực chú đã vượt thoát những ý niệm đó và những sự nắm bắt đó. Cũng giống như với mười ngón tay ta muốn nắm bắt không khí. Không khí tuột ra khỏi các ngón của chúng ta. Các pháp cũng vậy. Không thể dùng mười ngón tay của trí thức, của khái niệm và của tưởng mà nắm được các pháp. Vì vậy cho nên thầy Tu Bồ Đề mới nói rằng “vì những pháp mà Như Lai đã chứng và đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được. Đó không phải là pháp mà đó cũng không phải là không pháp”. Nói đó là một pháp thì cũng sai, tại vì nói đó là một pháp tức là ta đã đóng khung cái đó vào một khuôn khổ nào đó, và ta tách rời cái đó khỏi tất cả những cái khác. Nói đó là không pháp cũng sai vì đó là một pháp, nhưng không phải là thứ pháp có khuôn khổ như mình tưởng.

Vì sao? Vì tất cả các bậc hiền thánh đều do pháp vô vi mà trở nên khác người. Hai chữ hiền thánh được dịch từ chữ Arya Pudgala. Arya là tôn quý, Pudgala là người. Arya Pudgala trong văn mạch kinh điển là những người đã chứng được các thánh quả như Tư Đà Hoàn, A na Hàm, Tư Đà Hàm, A La Hán. Pháp vô vi (asamkrita dharmas) là những pháp không bị điều kiện hóa, những pháp thoát ra khỏi cái nắm bắt của khái niệm. Chính vì các bậc hiền thánh đã tiếp xúc, sống, thực chứng được pháp vô vi cho nên họ không còn kẹt vào những tướng, những ý niệm nữa, vì vậy họ được giải thoát và trở nên khác người. Đoạn này cho ta thấy các pháp là vô tướng, thoát ra khỏi những khuôn khổ mà trí óc chúng ta muốn dùng để nhốt chúng lại. Và khi nào đạt tới chân như của các pháp, nghĩa là đạt tới tính cách vô vi của các pháp thì con người giải thoát, không còn bị kềm chế bởi những khái niệm của trí óc. Trí óc chúng ta có những khuôn khổ, và chúng ta dùng những khuôn khổ đó đi đóng khung thực tại lại và sự đóng khung đó là việc chúng ta làm hằng ngày. Những cái khung đó ta gọi là tưởng, là khái niệm. Chúng ta tưởng là chúng ta nhốt được thực tại các pháp vào trong các khuôn khổ đó nhưng thật ra ta không nhốt được. Tu học là phá tung hết tất cả những khuôn khổ của trí óc và khái niệm để tự do đi vào biển thực tại không có phân biệt, không có ngằn mé.

– Này Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Nếu có người đem bảy thứ châu báu nhiều cho đến nỗi chứa đầy cả thế giới tam thiên đại thiên này để bố thí, thì người ấy có phước đức nhiều hay không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Bạch đức Thế Tôn, vì phước đức ấy trong tự thân chẳng phải là phước đức nên Như Lai mới nói là phước đức nhiều.

– Nếu có người tiếp nhận và hành trình kinh này dù chỉ một bài kệ bốn câu trong kinh thôi rồi đem giảng nói cho người khác nghe thì phước đức của người này còn lớn hơn phước đức của người kia. Tại sao? Này Tu Bồ Đề, tất cả các đức Bụt và pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác của các đức Bụt, đều xuất phát từ kinh này. Này Tu Bồ Đề, cái gọi là pháp Bụt, cái đó chính là cái không phải pháp Bụt.

Thế giới tam thiên đại thiên là thế giới của hằng triệu cõi nước. Nếu có người đem bảy thứ châu báu nhiều cho đến nỗi phải chất đầy cả tam thiên đại thiên thế giới mà bố thí thì phước đức nhiều hay không? Thầy Tu Bồ Đề nói “rất nhiều”. Nói vậy thôi, nhưng để chứng tỏ mình là con người tự do nên thầy Tu Bồ Đề mới giải thích “vì sao?” để Bụt thấy rằng tuy đang dùng ngôn ngữ nhưng thầy không bị ngôn ngữ khống chế. Vì sao? Vì phước đức ấy, trong tự thân chẳng phải là phước đức cho nên Như Lai mới nói là phước đức nhiều. Không có cái pháp riêng biệt nào gọi là bông hường, vì tất cả các pháp làm ra bông hường đều là những pháp không phải là bông hường cả: mây, mưa, không gian, thời gian, tâm thức v.v… những pháp làm ra bông hường đều không phải là bông hường cho nên bông hường không phải là bông hường và vì vậy Như Lai mới gọi nó là bông hường. Biết như vậy thì mình không còn bị danh từ đánh lừa và khống chế nữa. Mình có thể dùng danh từ bông hường mà không có sự nguy hiểm. Còn nếu không có được nhận thức đó thì danh từ sẽ là một sự ràng buộc. Chúng ta phải được giải phóng khỏi thế giới danh từ. Chúng ta không thể nào không dùng danh từ, nhưng dùng như thế nào để không bị trói buộc vào danh từ, đó là chủ đích của Bụt. Nếu có người tiếp nhận và hành trì kinh này, dù chỉ một bài kệ bốn câu thôi, rồi đem ra giảng nói cho người khác nghe, thì phước đức của người này còn lớn hơn phước đức của người kia nữa. Tại sao? Phước đức này là phước đức vô lậu – đó là sự giải thoát. Hạnh phúc do phước đức này đem lại là thứ hạnh phúc rất lớn chứ không phải là sự dồn chứa của những phước đức hữu lậu. Tại vì sao? Này Tu Bồ Đề, tất cả các đức Bụt và pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác của các đức Bụt đều xuất phát từ kinh này. Câu này là một lời tuyên bố lớn, bao hàm ý nghĩa Bát Nhã là mẹ của tất cả các vị Bụt và các vị bồ tát. Sau này, vì vậy ta có danh từ Phật mẫu.

Này Tu Bồ Đề, cái gọi là pháp Bụt, cái đó chính là cái không phải pháp Bụt”. Những người hành đạo đi vào các xã hội Tây Phương trong đó người ta chưa quen với đạo Bụt phải biết áp dụng tinh thần này. Đi giảng giải về Phật pháp mà bề ngoài mang quá nhiều hình thức ta sẽ vấp phải rất nhiều khó khăn. Nếu cho đạo Bụt là một cái gì hoàn toàn khác, hoàn toàn tách biệt ra khỏi những cái mà xã hội hiện đang có thì ta đã phạm vào một lỗi lầm lớn. Khi sang Tây Phương để chia xẻ đạo Bụt với người Tây Phương, tôi hay nói rằng: trong truyền thống văn hóa tinh thần của quý vị (hoặc là Do Thái Giáo hoặc là Cơ Đốc Giáo…), có những điều rất hay rất đẹp mà tôi coi như là có bản chất Phật pháp. Tuy rằng chúng không mang danh từ Phật pháp nhưng kỳ thực đó là Phật pháp, trong nội dung. Trong bữa ăn cuối cùng, Chúa Ki Tô đã cầm bánh mì lên, bẻ ra và chia cho mười hai người học trò. Người đã nói: Này các bạn, hãy ăn đi. Đây là thân thể tôi dâng hiến cho các bạn. Và khi rót rượu Chúa nói: đây là máu huyết của tôi dâng hiến cho các bạn, các bạn hãy uống đi. Ngày xưa khi gặp Hồng Y Danielou ở Paris trong một buổi hội thảo, tôi có nói: theo tôi thấy, Chúa Ki Tô lúc ấy đang dạy đệ tử về tinh thần chánh niệm. Trong ngày, tuy ăn cơm uống nước nhiều lần mà tâm ta để tận đâu đâu, và vì vậy mình chỉ đang ăn những bóng ma không thật. Ăn cơm trong chánh niệm là đi vào sự sống đích thực. Chúa Ki Tô nói như vậy là để cho những người đệ tử thực sự ăn miếng bánh mì mà Chúa chia xẻ với ý thức sáng tỏ là mình đang được ăn bánh với nhau. Có khác gì một bữa cơm chánh niệm đâu? Và nếu như những người đệ tử kia thông minh, họ sẽ giật mình, họ sẽ nâng niu, họ sẽ trân quý miếng bánh mì đó và họ sẽ ăn miếng bánh mì với tất cả tâm hồn và thân thể họ trong giờ phút hiện tại. Cái đó là Phật pháp rồi còn gì nữa? Tuy không dùng danh từ chánh niệm hay thiền quán nhưng nếu mười ba người ngồi ăn trong tinh thần tỉnh thức như vậy là thực tập phật pháp rồi còn gì. Tôi cũng nói với các thiền sinh ngoại quốc rằng khi họ đi vào trong văn hóa và truyền thống của họ, họ có thể khám phá ra những giá trị tinh thần rất đẹp đẽ. Đạo Bụt có thể giúp họ trở về khám phá lại những cái đẹp, cái hay đó. Và như vậy là tôi gián tiếp nói rằng tất cả các pháp đều là pháp Bụt cả. Vua Trần Thái Tông cũng nói rằng ăn cơm, uống nước là Phật pháp, đi tiểu và đi tiêu cũng là Phật pháp. Vì vậy cho nên Phật pháp không phải là cái gì có ngoài những cái gọi là không phải Phật pháp. Câu này rất rõ: Này Tu Bồ Đề, cái gọi là pháp Bụt, cái đó chính là cái không phải pháp Bụt”. Điều này không khó gì mấy, nhưng nếu không quen với ngôn ngữ này ta sẽ thấy bỡ ngỡ. Ban đầu ta có cảm tưởng như kinh lặp đi lặp lại một ý, nhưng nếu đọc cho kỹ ta sẽ thấy những chi tiết mới trong từng đoạn và ta phải đọc kỹ mới thấy. Hơn nữa phương pháp của kinh là giúp chúng ta gieo vào những hạt giống vì vậy khi ta lặp đi lặp lại nhiều lần một ý tưởng là ta gieo hạt giống đó nhiều lần trong tâm ta. Ta thấy rõ Bụt đang luyện cho Tu Bồ Đề sử dụng ngôn ngữ của sự phá chấp. Khi mình bắt đầu nói được ngôn ngữ của sự phá chấp thì mình sẽ từ từ đi vào quán chiếu và mình học được nội dung của sự phá chấp.

-Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị Tu Đà Hoàn có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Tu Đà Hoàn có nghĩa là đi vào dòng mà thật ra không có dòng nào để đi vào cả. Không đi vào dòng sắc, cũng không đi vào dòng thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vì vậy cho nên gọi là “đi vào dòng”.

Tu Đà Hoàn là quả đầu tiên trong bốn thánh quả, có nghĩa là được tham dự vào dòng thánh để xuôi về thánh quả. Giống như leo lên xe TGV cùng ngồi với các người khác thì ba bốn giờ đồng hồ sau cũng sẽ tới cùng một nơi tới, gọi là nhập lưu, đi vào dòng. Nhìn cho kỹ thì dòng đó có phải là một pháp tách rời với các pháp khác hay không? Và vì vậy thầy Tu Bồ Đề nói rằng: Tu Đà Hoàn có nghĩa là đi vào dòng nhưng thật ra không có dòng nào để đi vào cả. Không đi vào dòng sắc cũng không đi vào dòng thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vì vậy cho nên gọi là Tu Đà Hoàn. Đây cũng là sự tập luyện về ngôn ngữ Bát Nhã.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị Tư Đà Hàm có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Tư Đà Hàm có nghĩa là một đi một trở lại mà thật ra không có sự đi cũng không có sự trở lại. Vì vậy cho nên gọi là Tư Đà Hàm”.

Theo định nghĩa, một người Tư Đà Hàm sau khi qua đời rồi, sẽ trở về một lần nữa để tu tập và sau đó mới đạt được thánh quả A La Hán. Cho nên mới gọi là người một đi một trở lại. Bản tánh của các pháp là không tới cũng không đi, không từ đâu tới cả và cũng không đi về đâu cả. Cái bông hồng này không từ một góc không gian nào tới cả và cũng không đi về một địa điểm nào trong không gian cả. Khi có đầy đủ nhân duyên thì nó biểu hiện, khi những nhân duyên không đầy đủ thì nó ẩn tàng, vậy thôi. Con người mình cũng vậy, không lai cũng không khứ, không tới cũng không đi. Tư Đà Hàm có nghĩa là một đi một trở lại, mà sự thực thì làm gì có sự đi và làm gì có sự trở lại, vì vậy cho nên gọi là tư đà hàm.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị a Na Hàm có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả A Na Hàm” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? A Na Hàm có nghĩa là không trở lại. Mà thật ra làm gì có sự không trở lại? Vì vậy cho nên gọi là A Na Hàm.

Các vị đã đắc quả A Na Hàm thì không còn trở về Dục giới nữa. Sau khi tịch, họ vãng sinh tới một cõi khác, và tu tập đến khi đắc quả A La Hán, vì vậy gọi là “không trở lại”. Thầy Tu Bồ Đề nương trên nghĩa không trở lại đó để áp dụng ngôn ngữ biện chứng Bát Nhã. Sự trở lại đã không có rồi thì làm gì có sự không trở lại.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị A La Hán có thể nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả A La Hán” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Thật ra không có pháp nào riêng biệt được gọi là A La Hán. Bạch Thế Tôn, nếu một vị A La Hán nào khởi niệm rằng “Ta đã đắc quả A La Hán” thì vị đó còn chấp vào Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn thường nói con đã đạt tới Vô Tránh Tam Muội và trong Tăng thân, con là vị A La Hán ly dục đệ nhất. Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con đã đắc quả A La Hán thì chắc Thế Tôn đã không nói rằng Tu Bồ Đề là người ưa hạnh A Lan Na”.

A Lan Na (Arana) là không vùng vẫy, giao đấu và tranh chấp. Thầy Tu Bồ Đề nổi tiếng trong đại chúng là một người ưa hạnh Arana, nghĩa là thầy không có ý muốn hơn thua với ai. Đó là một vị A La Hán được xem là ly dục đệ nhất. Vô Tránh Tam Muội là một thứ định trong đó có sự an tịnh, an lạc hoàn toàn, không có sự mâu thuẫn tranh chấp.Ly dục là đã chuyển hóa được mọi dục vọng. Chính vì Thầy không có ý niệm Thầy là người đắc quả A La Hán và những người khác là người chưa đắc quả A La Hán nên Thầy thực sự là một vị A La Hán. Các em bé về làng Hồng, ăn chay cả tháng rất tự nhiên, không có thấy mình đang ăn chay. Đó là tinh thần vô hành vô tướng. Thầy Tu Bồ Đề hành được cái hành vô hành nên được Thế Tôn khen là ưa hạnh A Lan Na.

Bụt hỏi thầy Tu Bồ Đề: “Thuở xưa lúc còn theo học với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai có đắc pháp gì chăng?”.

– Bạch đức Thế Tôn, không. Ngày xưa khi còn ở với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai không có đắc pháp gì cả.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Bồ Tát có trang nghiêm cõi Bụt chăng?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Trang nghiêm cõi Bụt tức là không trang nghiêm cõi Bụt, vì vậy nên mới gọi là trang nghiêm cõi Bụt.

Khi giác ngộ rồi các vị Bụt và Bồ Tát thường hay mở ra một cõi nước để những người đồng điệu có thể tìm tới ở chung tu học. Mình làm mọi cách để chỗ đó trở nên dễ thương, đẹp đẽ và người sống nơi đó có nhiều hạnh phúc. Đó gọi là trang nghiêm cõi Bụt. Vị Bụt nào sau khi thành đạo cũng tạo ra một cõi Tịnh Độ (hay là cõi Bụt) để làm chỗ tu tập cho những người đồng chí hướng với mình. Thầy trò xúm nhau làm cho chỗ đó có điều kiện thuận lợi cho sự tu học. Những người xuất gia và các vị cư sĩ có tu có chứng ai cũng ưa làm như vậy. Họ lập những Tòng Lâm, những Tu Viện hoặc những trung tâm tu học. Họ làm cho những Tòng Lâm đó đẹp, mát, dễ thương, để người ta có thể tới đó tu học đông đảo và có hạnh phúc. Tầm giác ngộ và an lạc của họ càng lớn chừng nào thì cõi Tịnh Độ của họ càng dễ chịu chừng ấy. Bụt A Di Đà cõi an lạc là một người như vậy; Bụt Bất Động cũng có một cõi gọi là Diệu Hỷ. Tất cả quý vị sau một thời gian tu học nếu thấy rằng mình có sở đắc, có an lạc, nếu muốn chia xẻ hạnh phúc với những người khác thì cũng có thể hoặc đi về Việt Nam, hoặc đi về Hòa Lan, hoặc đi Thụy Sĩ, hoặc đi Hoa Kỳ… thiết lập những Phật độ nho nhỏ cho mọi người thừa hưởng. Đây là chuyện mọi người đều có thể làm, không phải là chuyện xa vời gì cả. Nhưng ta nên làm việc này với tính cách vô tướng, đừng nên ôm chặt lấy cái chùa hoặc cái trung tâm của mình. Thầy Tu Bồ Đề nói: trang nghiêm cõi Bụt tức là không trang nghiêm cõi Bụt, vì vậy nên mới gọi là trang nghiêm cõi Bụt. Như vậy là trang nghiêm cõi Bụt bằng tinh thần vô tướng, không ôm chặt lấy, không sầu khổ vì nó.

– Như thế đó, thầy Tu Bồ Đề, các vị Bồ Tát và đại nhân nên phát tâm thanh tịnh theo tinh thần ấy. Không nên dựa vào sắc mà phát tâm, cũng không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm. Chỉ nên phát tâm trong tinh thần vô sở trụ.

Vô sở trụ là không nương tựa vào bất cứ cái gì. Chữ phát tâm ở đây có nghĩa là có nguyện vọng, có ước muốn đạt tới sự giác ngộ cao cả lớn nhất gọi là nhất thiết trí. Câu hỏi đầu tiên mà thầy Tu Bồ Đề nêu ra là những người con trai và những người con gái nhà lành nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì tâm phải tựa vào đâu và mình phải điều phục cái tâm mình như thế nào. Thì đây là lời kết luận: Như thế đó, thầy Tu Bồ Đề, các vị Bồ Tát và đại nhân nên phát tâm thanh tịnh theo tinh thần ấy. Không nên dựa vào sắc mà phát tâm, cũng không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm. Chỉ nên phát tâm trong tinh thần vô sở trụ. Dựa vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp ở đây có nghĩa là bị kẹt vào các tưởng, các ý niệm, các khái niệm.

Này thầy Tu Bồ Đề, ví dụ có người có thân lớn như núi chúa Tu Di, thầy nghĩ sao? Thân ấy có lớn không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, lớn lắm. Vì sao? Cái mà Thế Tôn gọi là không phải thân lớn mới đích thực là thân lớn”.

Trong bản tiếng Phạn thân là atmabhava, chứ không phải là kaya. Núi Tu Di là vua của các núi. Trong đoạn này hai thầy trò vẫn còn đang sử dụng ngôn ngữ của biện chứng Bát Nhã. Khi Bụt hỏi “lớn không”, Tu Bồ Đề nói “lớn lắm” nhưng thầy rất có ý thức về ngôn ngữ của Bụt, biết rằng vì thực tại thoát ra ngoài ý niệm về lớn nhỏ thông thường nên Bụt mới nói là lớn. Mình phải ý thức cách dùng danh từ của Bụt và đừng ghì lấy bất cứ danh từ nào của Bụt đưa ra.

– Thầy Tu Bồ Đề, ví dụ như sông Hằng có bao nhiêu hạt cát là có bấy nhiêu dòng sông Hằng. Vậy thì cát của tất cả các sông Hằng ấy có nhiều không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Số lượng các sông Hằng đã là vĩ đại, huống là số lượng những hạt cát của các sông Hằng ấy”.

– Này Tu Bồ Đề, bây giờ tôi muốn hỏi thật thầy rằng, nếu có người con trai hay người con gái nhà lành nào đem châu báu chất đấy cả thế giới tam thiên đại thiên nhiều như cát của tất cả các sông Hằng kia mà bố thí thì phước đức có nhiều không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều.”

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nếu có người con trai hay người con gái nhà lành nào mà thọ trì kinh này dù chỉ một bài kệ bốn câu thôi và đem ra chia xẻ với người khác thì phước đức của người này còn nhiều hơn phước đức của người trước.”

Đoạn này đưa ra một ví dụ: mỗi hạt cát của sông Hằng là một sông Hằng. Ví dụ dùng để nói về số lượng mà mình không thể suy tính dù bằng toán. Bố thí châu ngọc đầy cả thế giới tam thiên đại thiên nhiều như số cát của những sông Hằng thì công đức cũng vẫn không bằng công đức thọ trì và chia sẻ nghĩa lý của Kinh Kim Cương Năng Đoạn với những người khác. Công đức của sự đọc tụng và hành trì Kinh Kim Cương rất lớn và ta thấy rằng qua câu kinh này Kinh Kim Cương đã bắt đầu trở thành đối tượng của sự thờ phụng lễ bái.

Còn nữa, thầy Tu Bồ Đề, mảnh đất nào mà nơi đó có người thuyết kinh này, dù chỉ là một bài kệ bốn câu thôi, thì nên biết rằng mảnh đất ấy là nơi mà tất cả các giới Thiên, Nhân và A Tu La đều phải hướng về cúng dường như là cúng dường tháp miếu của Bụt. Một mảnh đất mà còn như thế, huống gì là bản thân người đứng ra hành trì và đọc tụng. Tu Bồ Đề ơi, thầy nên biết rằng, một con người như thế đã thành tựu được chuyện hiếm có tối thượng. Nơi nào mà có kinh này là nơi đó có mặt của bậc đạo sư, hoặc một vị đệ tử lớn của người.

Vị đạo sư đây là Bụt. Trong đoạn này ta thấy ý niệm về địa điểm nơi kinh này được nói ra. Nơi đó có thể là một gốc cây, bãi cỏ hay là một tảng đá. Nơi nào có người thuyết lên kinh này, dù chỉ là một bài kệ bốn câu thôi, là nơi đó trở thành thánh địa, và mảnh đất đó đáng để cho các giới Thiên, Nhân và A Tu La quay về để thờ cúng, vì mảnh đất ấy có giá trị tương đương với tháp miếu thờ xá lợi của Bụt. Mảnh đất mà còn như thế, huống hồ là người đã đứng ra thuyết kinh. Người đó đã chuyên chở kinh trong da thịt, trong tâm hồn và sự sống của người đó. Người đó là nơi mà tất cả Thiên, Nhân và A Tu La đều phải quay về quy ngưỡng và cúng dường. Bụt đã nói: Tu Bồ Đề ơi, thầy nên biết rằng, một con người như thế đã thành tựu được chuyện hiếm có tối thượng. Gặp được kinh này và hành trì kinh này là một niềm hạnh phúc vô biên. Nơi nào mà có kinh này là nơi đó có mặt của bậc đạo sư, hoặc một vị đệ tử lớn nhất của người. Nơi nào mà có kinh này là có Bụt hoặc ít nhất thì cũng có một đệ tử cao tay của Bụt ở đó. Ta nhớ khi Vũ Hoàng Chương làm thơ ca ngợi bồ tát Quảng Đức, đã viết: “Chỗ người ngồi một thiên thu tuyệt tác, trong vô hình sáng chói nét từ bi”. Thầy Quảng Đức tự thiêu ở ngã tư Phan Đình Phùng và Lê Văn Duyệt. Khi Vũ Hoàng Chương nhớ tới chỗ đất mà thầy Quảng Đức ngồi, nhà thơ thấy ngay được đó là một thánh địa. Cũng có thể lúc đó Vũ Hoàng Chương chưa hề học Kinh Kim Cương nhưng ông ta đã thấy được như thế. Khi một người đem thân làm đuốc và muốn cứu độ chúng sanh thì tâm từ bi của người đó có thể làm cho chỗ ngồi của ông ta trở nên thánh địa. Chỗ đó phải dựng tượng mà thờ. Dù ở đó ta không dựng tượng và tháp nhưng chỗ đó vẫn là thánh địa như thường.

Lúc ấy thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt rằng: “Bạch Thế Tôn, nên đặt tên kinh này là kinh gì và chúng con nên phụng trì kinh này như thế nào?”.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nên gọi kinh này là kinh Kim Cương có năng lực chặt đứt phiền não và đưa sang bờ giải thoát: (Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật kinh). Hãy dùng danh từ ấy mà phụng trì kinh này, vì sao? Cái mà Như Lai gọi là Bát Nhã Ba La Mật vốn không phải là Bát Nhã Ba La Mật cho nên mới thật sự là Bát Nhã Ba La Mật”.

Bụt hỏi: “Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có pháp để nói không?”.

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, Như Lai chẳng có gì để nói cả”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Cát bụi do tam thiên đại thiên thế giới nghiền ra có nhiều không?

– Nhiều lắm, bạch Thế Tôn.

– Này Tu Bồ Đề, những cát bụi ấy Như Lai gọi không phải là cát bụi cho nên mới thực sự là cát bụi. Cái mà Như Lai gọi là thế giới tức không phải là thế giới cho nên được gọi là thế giới. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua ba mươi hai tướng không?

– Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Vì cái mà Như Lai gọi là ba mươi hai tướng đều không phải là tướng, vì vậy cho nên Như Lai mới gọi là ba mươi hai tướng.

– Tu Bồ Đề, nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng mà thực hiện việc bố thí và nếu có một người con trai hoặc một người con gái nhà lành khác biết thọ trì và đem kinh này ra giảng cho kẻ khác, dù chỉ thọ trì và giảng dạy bốn câu thôi, thì phước đức của người này cũng nhiều hơn phước đức của người trước.

Trong đoạn này điều ta ghi nhớ nhiều nhất là tên kinh. Thầy Tu Bồ Đề hỏi: Bạch Thế Tôn, nên đặt tên kinh này là kinh gì và chúng con nên phụng trì kinh này như thế nào? Vâng theo ý chỉ của người trên gọi là phụng. Trì là tiếp nhận và thực hành. Bụt nói nên đặt tên kinh này là Năng Đoạn Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật kinh. Ta gọi tắt là kinh Kim Cương. Kim Cương có khả năng cắt trừ những phiền não vô minh. Ba La Mật có nghĩa là đi sang bờ bên kia hoặc thành tựu hoàn mỹ (perfection). Bụt nhắc lại một lần nữa: nếu nhìn cho sâu thì ta thấy Bát nhã Ba La Mật không phải là một pháp riêng biệt. Tiếp đó Bụt nhắc lại là pháp của Bụt nói không có một tự tánh riêng biệt, vì vậy mới có câu “Như Lai” không có pháp để nói”. Tiếp đến là ví dụ có người đem thế giới tam thiên đại thiên mà nghiền ra cát bụi. Cát bụi đó rất nhiều. Ý niệm về nhiều cũng như ý niệm về thế giới phải được quán chiếu bằng trí Bát Nhã, như thế ta mới không bị kẹt. Tiếp đó là ý niệm về ba mươi hai tướng. Tuy rằng sử dụng các danh từ cát bụi, thế giới, tướng nhưng ta vẫn là con người tự do, không bị ngôn ngữ khống chế. Bụt nhắc lại một lần nữa: thọ trì kinh này và giảng thuyết kinh này dù chỉ là bốn câu thôi thì phước đức vẫn nhiều hơn là phước đức bố thí.

Nghe kinh này tới đây, thấm được nghĩa lý thâm sâu, thầy Tu Bồ Đề cảm động khóc rơi nước mắt. Thầy thưa: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật là bậc hiếm có, từ ngày theo Thế Tôn đạt được tuệ nhãn cho đến giờ, con chưa bao giờ được nghe kinh điển thâm diệu như hôm nay. Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnh và đạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất.Thế Tôn, cái thấy chân thật đó vốn không phải là cái thấy cho nên Như Lai mới gọi là cái thấy chân thực. Thế Tôn, ngày nay con nghe được kinh điển mầu nhiệm như thế này, được tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì kinh này cũng chưa phải là chuyện khó có lắm. Nhưng trong tương lai, khoảng năm trăm năm về sau mà có người được nghe kinh này lại có thể tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì thì chắc chắn sự có mặt của kẻ ấy là một sự hiếm có vào bậc nhất. Vì sao vậy? Vì những kẻ ấy sẽ không bị khống chế bởi khái niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Tại vì sao? Khái niệm về Ngã tức không phải là khái niệm. Các khái niệm về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả cũng không phải là những khái niệm. Vì sao? Vì thoát khỏi sự khống chế của các khái niệm cho nên có các vị Bụt”.

Chúng ta hãy đọc từng câu “Nghe kinh này tới đây, thấm được nghĩa lý thâm sâu, thầy Tu Bồ Đề cảm động khóc rơi nước mắt”. Điều này cũng thường thôi, vì khi ta nghe một điều thật hay hoặc thấy một cảnh thật đẹp thì ta cũng cảm động, có khi rơi nước mắt. Đó là những giọt nước mắt hạnh phúc. Thầy nói: từ ngày theo Thế Tôn đạt được tuệ nhãn cho đến giờ, con chưa bao giờ nghe được kinh điển thâm diệu như hôm nay. Tuệ nhãn này chưa phải là cái thấy nhất thế trí, tuệ nhãn này chỉ mới là cái thấy của vị A La Hán. Nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnh và đạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất. Lòng tin thanh tịnh là lòng tin vững chãi và trong sáng không có chút ít nghi ngờ nào xen lẫn vào. Năm trăm năm sau khi ngày Bụt nhập diệt là thời đại mà kinh Kim Cương xuất hiện. Kinh này khó hiểu, nói những điều ngược lại với nhận thức thông thường của thế gian, vì thế nếu người nào hiểu được thì phải biết rằng người đó có một căn tánh rất là hiếm có.

Ngày nay con nghe được kinh điển mầu nhiệm như thế này, được tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì kinh cũng chưa phải là điều khó có lắm, nhưng trong tương lai, khoảng năm trăm năm về sau mà có người được nghe kinh này lại có thể tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì thì chắc chắn sự có mặt của kẻ ấy là một sự hiếm có vào bậc nhất. Vì sao vậy? Vì những kẻ ấy sẽ không bị khống chế bởi khái niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Tại vì sao? Khái niệm về Ngã tức không phải là khái niệm, các khái niệm về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả cũng không phải là những khái niệm. Vì sao? Vì thoát khỏi sự khống chế của các khái niệm cho nên có các vị Bụt. Dịch đúng theo bản chữ Hán: lìa tất cả các tướng thì đó gọi là các vị Bụt. Các tướng đây tức là các khái niệm. Khái niệm là dịch chữ tưởng ra. Trong tưởng có hai phần, phần nhận thức và phần bị nhận thức. Phần bị nhận thức là tướng hay tướng phần. Phần nhận thức là phần chủ thể, tức kiến phần. Tướng Ngã, tướng Nhân, tướng Chúng Sanh và tướng Thọ Giả là tướng phần. Chữ tưởng khác chữ tướng: phía trên là chữ tướng nhưng phía dưới là chữ tâm. Tiếng Phạn là samjnã. Câu này ý nghĩa rất linh hoạt và mãnh liệt: “Thoát khỏi sự khống chế của các khái niệm thì tức đã là Bụt rồi”.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Đúng thế, đúng thế. Nếu có người được nghe kinh này mà không hoảng không sợ thì nên biết rằng những người như vậy rất là hiếm có. Tại sao? Này thầy Tu Bồ Đề ơi, cái mà Như Lai gọi là đệ nhất Ba La Mật vốn không phải là đệ nhất Ba La Mật cho nên mới được gọi là đệ nhất Ba La Mật.

Đệ nhất Ba La Mật là Parama-paramita. Paramita có khi dịch là sang bờ bên kia, có khi dịch là sự viên mãn (perfection). Tiếng Hán Việt là độ. Độ là đi qua bên kia, là cho quá giang.

Tu Bồ Đề, cái gọi là Nhẫn Nhục Ba La Mật, Như Lai nói không phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật nên mới được gọi là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề này, trong một tiền kiếp xa xưa, khi bị vua Kalinga cắt đứt thân thể, ta đã không bị kẹt vào khái niệm về Ngã, không bị kẹt vào khái niệm Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả. Vì nếu khi đó ta bị kẹt vào những khái niệm ấy thì ta đã sinh tâm oán hận Kalinga (Ca Lợi Vương) mất rồi.

Bụt dùng Nhẫn Nhục Ba La Mật, tức là một trong sáu Ba La Mật để làm ví dụ cho loại hành động theo tinh thần Bát Nhã. Chúng ta biết rằng theo kinh Phật Mẫu, trí tuệ Ba La Mật là bình chứa của tất cả các Ba La Mật khác. Nếu bình chứa không được nung kỹ thì tất cả những thứ chứa trong đó bị rịn ra hết. Vì vậy Trí Tuệ Ba La Mật (tức là Bát Nhã Ba La Mật) là căn bản. Ngày xưa sở dĩ Bụt tu Nhẫn Nhục Ba La Mật được là nhờ Bụt có Bát Nhã Ba La Mật. Ngày xưa khi bị vua Kalinga đem ra cắt xẻo từng phần của thân thể, Bụt không nổi sân si là nhờ Bụt có nhận thức Bát Nhã: tức là Bụt đã không bị kẹt vào tướng, không bị vướng vào khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả. Thành ra nếu còn tướng thì Bụt đã có thể sanh lòng oán hận và vì vậy có thể Bụt đã không thành công. Đó là một chứng minh. Cái mà mình tưởng là Nhẫn Nhục Ba La Mật thật ra không phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật vì vậy nó thật sự là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Và nếu ta nói tiếp thì Nhẫn Nhục Ba La Mật cũng là Bố Thí Ba La Mật, cũng là Trì Giới Ba La Mật v.v… là tất cả những cái không phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Như bông hồng kia, không phải chỉ là bông hồng, mà là tất cả những cái không phải bông hồng. Đây là lý luận và biện chứng của Bát Nhã. Nhẫn Nhục Ba La Mật mà không nhờ những cái không phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật thì không thể có được. Ngày xưa nếu Bụt không có Trí Tuệ Ba La Mật thì Bụt chẳng làm được Nhẫn Nhục Ba La Mật. Đọc đoạn này mình phải thấy lý luận đó, nếu không mình sẽ không hiểu tại sao đang nói về trí tuệ Bụt lại nói về nhẫn nhục.

Lại nhớ đến thuở xưa khi ta còn tu tiên theo hạnh nhẫn nhục, trong suốt năm trăm kiếp, ta đã tu tập để không bị kẹt vào các khái niệm Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Vậy nên thầy Tu Bồ Đề ơi, bồ tát khi phát tâm bồ đề vô thượng thì nên buông bỏ tất cả các khái niệm, không nên dựa vào sắc mà phát tâm, không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm, chỉ nên phát tâm vô trụ.

Tâm mà còn trụ tức là chưa thật sự trụ. Cho nên Bụt thường nói Bồ Tát không nên dựa vào sắc mà bố thí. Vì lợi ích thật sự của chúng sanh mà Bồ Tát thực tập bố thí theo tinh thần ấy. Đây là lặp lại những điều đã nói trước, và lặp lại điều mà Bụt đã nói ngay từ lúc đầu. Tâm vô trụ là tâm không có dựa vào cái gì hết, không kẹt vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Tâm mà còn trụ tức là chưa trụ. Thường thường mình hay nói muốn an tâm lập mạng thì “phải có đất cắm dùi”, tức là phải có chỗ trụ. Mà hễ mình trụ vào một cái gì còn biến chuyển còn thay đổi thì mình vẫn còn vấn đề còn chưa thực sự trụ. Phải tìm cái gì không thay đổi không biến chuyển mà trụ thì mình mới an tâm. Mà tất cả các pháp hữu vi đều thay đổi và biến chuyển cả, trụ vào những pháp biến dịch thì mình sẽ đổ nhào theo. Mùa hè năm nay tôi có giảng một bài nhắm tới cho một số thiền sinh ngoại quốc thuộc phái nữ, đã ly dị và đang nuôi con một mình. Sau khi ly dị họ được phép nuôi con. Và trong khi nuôi con họ vẫn có cảm tưởng rằng mình thiếu một chỗ dựa. Vì vậy tâm họ không an. Khi mới ly dị, họ cố gắng tìm cách dựa vào chính mình và họ đạt được tới một mức độ nào đó của sự không nương tựa vào kẻ khác. “Vô trú” ở đây là chỉ trông cậy vào mình thôi, không cần nhờ ai hết từ việc nuôi con đến việc dạy con v.v… Tuy nhiên trong tâm họ vẫn còn những hạt giống của sự ước muốn đi tìm một người đàn ông khác để nương tựa. Việc đã xảy ra là khi họ dựa vào một người đàn ông không vững chãi thì họ cũng nhào theo và cái chút ít vững chãi mà họ đạt được sau khi ly dị cũng bị tan biến. Vì vậy ta kết luận là không nên dựa vào những cái không vững chãi. Tôi nói với họ: ở đời có những cái vững chãi hơn mà quý vị nên tìm tới để làm nơi nương tựa. Ví dụ như đất. Vì đất vững chãi nên chúng ta có thể tin cậy vào đất. Không khí chúng ta thở cũng vững chãi và trung kiên, chúng ta có thể nương tựa vào không khí. Bụt, Pháp và Tăng là những yếu tố vững chãi, chúng ta nên dựa vào để từ từ đi tới chỗ vô trụ. Dựa vào những gì không vững chãi thì khi chúng tan biến, mình cũng sụp đổ theo. Cho nên nếu trụ tâm ở chỗ vô trụ là vững chãi nhất. Vạn Hạnh thiền sư trước khi tịch có hỏi các vị đệ tử như vầy: Các vị trụ ở đâu? Tôi thì tôi không trụ vào chỗ hữu trụ, cũng không trụ vào chỗ vô trụ. Tâm mà còn trụ tức là chưa trụ. Cho nên Bụt thường nói: Bồ Tát không nên dựa vào sắc mà thực hiện bố thí. Vì lợi ích thật sự của chúng sanh mà bồ tát thực hiện bố thí theo tinh thần ấy.

Như Lai đã nói tất cả các khái niệm đều không phải là khái niệm và tất cả các loài chúng sanh đều không phải là chúng sanh. Tu Bồ Đề, Như Lai là kẻ nói lời chính xác, là kẻ nói lời đúng với sự thật, là kẻ nói lời phù hợp với thực tại, là kẻ nói lời không dối trá, là kẻ chỉ nói một lời. Tu Bồ Đề, nếu có pháp mà Như Lai đã đắc thì pháp ấy không phải thật cũng không phải hư dối.

Câu này trong bản dịch Hán văn là “sở đắc pháp, thử pháp vô thật vô hư”. Xét trong Phạn Ngữ thì chữ hư này không có nghĩa là trống rỗng mà có nghĩa là dối gạt. Trống rỗng cũng có nghĩa là dối gạt nhưng phải hiểu theo cái nghĩa là tác dụng đánh lừa mình; ở trong vốn không có gì cả mà mình tưởng là có. Bụt nói cái pháp mà Như Lai đã đắc không phải là thật như chúng ta từng tưởng tượng, ôm lấy, níu lấy và ghì lấy, cũng không phải là hư, tức không phải là dối gạt. Sự thật nằm ở trung đạo, thoát ra khỏi các ý niệm thật và hư.

Tu Bồ Đề, nếu bồ tát còn dựa vào pháp mà thực hiện bố thí thì cũng như đi vào trong bóng tối, chẳng thấy được gì. Trái lại, nếu bồ tát không dựa vào pháp mà bố thí thì cũng như người có mắt đi trong ánh mặt trời, có thể thấy được tất cả mọi hình và mọi sắc.

Nếu còn có khái niệm, nếu còn bị kẹt vào tướng thì ta sẽ như người mù lòa đi trong bóng tối, không thấy được thực tại của chân như. Nhưng nếu không bị kẹt vào tướng, vào sắc, vào thanh, hương, vị, xúc và pháp nữa thì ta sẽ như người có hai mắt sáng đi trong ánh sáng mặt trời và do đó thấy được tất cả các hình sắc. Vạn hữu không phải không có. Tuy vạn hữu có mặt nhưng có một cách mầu nhiệm theo kiểu diệu hữu. Còn bị kẹt vào sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp, tuy ta thấy có nhưng đó là cái có kiểu phàm phu, kiểu hữu ngược với . Khi vượt được thế giới ý niệm rồi, ta đi ngay vào thế giới của diệu hữu, của chân như và ta thấy được tất cả mọi vật trong chân tính của chúng.

Tu Bồ Đề, trong tương lai nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào có khả năng tiếp nhận đọc tụng và hành trì kinh này thì người ấy sẽ được Như Lai nhìn thấy với con mắt trí tuệ của Người. Như Lai sẽ biết người ấy, sẽ thấy người ấy và người ấy sẽ thực hiện được công đức vô lượng vô biên.

Này thầy Tu Bồ Đề, nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào buổi sáng đem thân mạng mình ra nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, buổi trưa và buổi chiều cũng vậy, trong thời gian trăm ngàn vạn ức muôn lượng kiếp và nếu có một kẻ khác tuy không làm như thế, nhưng khi nghe đến kinh này thì đem lòng tin tưởng, không phản kháng lại thì phước đức của người này còn nhiều hơn phước đức của người kia. Nghe mà đem lòng tin còn có phước đức lớn như vậy, huống hồ là biên chép, hành trì, đọc tụng và giải thích cho kẻ khác được nghe. Tu Bồ đề, nói tóm lại thì kinh này có công đức vô biên, không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết, cũng không thể đo lường. Nếu có người nào có khả năng thọ trì, đọc tụng và phổ biến kinh này cho người khác biết thì kẻ ấy sẽ được Như Lai thấy tới, biết tới và người ấy sẽ thực hiện được công đức không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết, không có biên giới, không có đo lường, không thể so sánh. Người như thế có thể gánh vác sự nghiệp vô thượng chánh đẳng chánh giác của Như Lai. Tại sao? Này Tu Bồ Đề, nếu chỉ ưa thích pháp nhỏ, nếu còn vướng mắc vào Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả thì không có khả năng nghe, nhận, đọc tụng và giải thuyết cho kẻ khác. Tu Bồ Đề, bất cứ nơi nào mà có kinh này thì tất cả các giới Thiên, Nhân, A Tu La đều phải đến cúng dường, những nơi ấy đều được coi là bảo tháp cần được cung kính, hành lễ, đi quanh và cúng dường bằng hoa và bằng hương.

Trong đoạn này có vài chi tiết cần phải chú ý. Trong câu thứ ba “nghe mà đem lòng tin mà còn có phước đức lớn như vậy huống hồ là biên chép, hành trì, đọc tụng và giải thuyết cho kẻ khác được nghe”. Chữ biên chép này là một trong những chữ ta phải để ý. Trong thời gian kinh này được tạo dựng thì kinh điển không những được truyền khẩu mà cũng được biên chép xuống lá bối. Chúng ta biết là kinh tạng Pali được biên chép xuống lá bối khoảng thế kỷ thứ nhất trước tây lịch. Kinh Kim Cương được xuất hiện vào thời đại đó hoặc trước đó mấy chục năm. Kế đến là danh từ pháp nhỏ trong câu: “Nếu chỉ ưa thích pháp nhỏ thôi thì không có khả năng nghe nhận, đọc tụng và giải thuyết cho kẻ khác”. Pháp nhỏ đây cũng là pháp của Bụt, nhưng chưa phải là pháp lớn. Khi tìm tới Bụt, mình có thể thừa hưởng được gia tài của Bụt: gia tài đó có thể là những thứ vụn vặt như cái bàn, cái ghế, cái chổi v.v… mà mình thấy ở phòng ngoài. Nhưng nếu đi sâu vào thì mình sẽ thấy có ngọc ngà châu báu ở những phòng trong. Bằng lòng với những cái bàn, cái chổi, v.v… thì gọi là ưa thích pháp nhỏ. Trong gia tài Bụt có những bảo vật quý giá bằng ngàn bằng vạn. Là người thừa kế gia tài của Bụt, mình phải có khả năng thừa hưởng được những bảo vật đó, nghĩa là phải đi vào phía trong. “Pháp nhỏ” là những pháp có thể làm cho mình an tịnh đôi chút, bớt khổ đôi chút. Có người chỉ muốn tìm trong đạo Bụt những phương tiện trốn thoát đau khổ và dằn vặt của cuộc đời. Cuộc đời có những sóng gió, éo le, dằn vặt và tàn ác. Mình có thể tới cửa thiền chỉ với một mục đích nhỏ là để trốn tránh, để khỏi phải đương đầu với những cái khó khăn đó tuy trong trường hợp ấy mình cũng được tiếp nhận những giọt nước từ bi của Bụt nhưng những cái pháp đó chỉ là những pháp nhỏ. Còn pháp lớn là những nguồn năng lực khiến mình tái sinh làm một con người khác – mình trở thành một vị Bồ Tát có thể đem nguyện lực mình đi vào cuộc đời để cứu vớt nhiều người đang chìm đắm và đại nguyện ấy của mình là thứ chí nguyện không thể đo lường được. Đó là tâm Bồ Tát. Đó là pháp lớn.

Này nữa thầy Tu Bồ Đề, nếu một người con trai hoặc một người con gái nhà lành nào đọc tụng và hành trì kinh này mà bị người khác chê bai hủy báng thì người ấy sẽ tiêu trừ được các tội chướng trong các kiếp trước, kể cả những tội chướng có thể đưa người kia rơi xuống các nẻo ác và sau đó sẽ thực hiện được quả vị chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, ta nhớ vô lượng a tăng kỳ kiếp về trước, trước khi được gặp Bụt Nhiên Đăng, ta đã từng gặp tám trăm bốn vạn ức na do tha các vị Bụt. Và với vị nào ta cũng đều có cúng dường và hầu cận. Nếu vào thời mạt thế mà có người có khả năng đọc tụng và thọ trì kinh này thì phước đức đạt được còn lớn hơn hàng trăm ngàn vạn ức lần phước đức của ta ngày trước. Dùng thí dụ về toán số cũng không thể hình dung được phước đức ấy.

Đoạn kinh này có dùng tới chữ hủy báng. Hủy báng có nghĩa là khinh khi và bài bác (parimuta). Điều này cho ta thấy vào thời đó có những người lên án kinh này là không chính thống. Người đọc tụng kinh này có thể bị chê là đọc tụng những kinh không phải do Bụt nói mà do ma nói. Khi bị người ta chê bai, hủy báng và nhục mạ như vậy mà không giận hờn, vẫn có một niềm tin, tin vào cái chân lý được diễn tả bởi kinh này thì người hành trì sẽ được hưởng những phước đức vô lượng. Trước nhất là tội lỗi trong quá khứ sẽ tiêu tan hết, trong đó có những tội lỗi lớn có thể làm cho ta sa xuống ba nẻo ác (địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh). Sau đó là đạt được vô thượng chánh đẳng chánh giác. Đó là kết quả của sự thọ trì kinh này mà tâm lý không bị lay chuyển bởi sự chê bai và hủy báng của người khác. Chúng ta nên biết rằng trong thời đại đó, trì tụng kinh đại thừa khó hơn trong đời bây giờ, tại vì trong thời đại chúng ta việc thọ trì kinh đại thừa đã trở thành truyền thống rồi. Và những người hủy báng trong thời đại ta so sánh với thời đại ấy thì còn ít lắm. Trong thời đại ấy khi những kinh như kinh này vừa xuất hiện, việc trì tụng, biên chép và quảng bá có thể là mục tiêu cho biết bao đánh đổ và công kích. Bụt đưa ra ví dụ là ngày xưa trước khi gặp Bụt Dipankara, Bụt đã từng gặp tám trăm bốn vạn ngàn ức na do tha các vị Bụt và với vị Bụt nào ngài cũng có cúng dường và hầu cận, tuy vậy công đức đó cũng không lớn bằng công đức của người sinh ra trong thời mạt thế mà hành trì kinh này. Mạt thế tức là đời mà chánh pháp không còn rực rỡ huy hoàng nữa. Na do tha (nayuta) có nghĩa là một trăm ngàn, có khi có nghĩa là một triệu. Bụt nói rằng công đức của ngài ngày xưa không sánh được với công đức của người trì tụng kinh này trong thời mạt thế. Mạt là khúc chót, cái ngọn, ngược với chữ bổn có nghĩa là gốc.

Tu Bồ Đề, vào thời Mạt thế, nếu có một người con trai hay người con gái nhà lành nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì công đức đạt được lớn cho đến nỗi nếu ta nói ra thì sẽ có người hồ nghi, không tin và tâm có thể trở nên cuồng loạn. Tu Bồ Đề, nên biết: nghĩa lý của kinh này không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết và hoa trái của sự thọ trì kinh này cũng không thể nghĩ cho cùng, không thể nói ra hết”.

Ta nên nhớ lại chuyện chùi nồi và phước đức do chuyện chùi nồi mà có. Ta đã biết rằng nếu vừa chùi nồi vừa bực tức, “sao trong khi mình chùi nồi mệt như vầy mà mấy anh ấy cứ nằm ngủ trong phòng không chịu ra chùi nồi với mình” thì phước đức chùi nồi của ta chỉ lớn bằng cái nồi là cùng. Còn chùi nồi với tâm niệm an lạc, hoan hỉ và thanh tịnh, xem việc được chùi nồi là một hạnh phúc thì phước đức của sự chùi nồi này bất khả tư nghì, không thể dùng toán số thí dụ các hạt cát của bao nhiêu sông Hằng mà đo được.

Tu Bồ Đề, nên biết nghĩa lý của kinh này không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết và hoa trái của sự thọ trì cũng không thể nghĩ cho cùng và cũng không nói cho hết được. Vị nào nói “tôi giảng kinh này đã tới chỗ cạn tàu ráo máng rồi” là vị ấy chưa hiểu hết kinh này. Danh từ bất khả tư nghì ta được nghe lần đầu trong Tăng Nhất A Hàm. Bụt có nói tới bốn điều không thể nghĩ được và nói cho hết được. Thứ nhất là đức hạnh của một vị Bụt. Thứ hai là trạng thái của người ở trong định. Thứ ba là nghiệp và quả báo. Thứ tư là nguyên ủy của vũ trụ.

Trong đoạn tiếp đây Bụt lại lặp lại ý đoạn đầu, như giúp chúng ta tưới lại các hạt giống đã được gieo từ khi chúng ta bắt đầu đọc kinh.

Lúc ấy, thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt: “Thế Tôn, con xin phép được hỏi lại: người con trai hiền hoặc người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên dựa vào đâu và nên hàng phục tâm mình như thế nào?”.

Bụt bảo: “Thầy Tu Bồ Đề, người con trai hiền hoặc người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì nên phát tâm như thế này: ta phải đưa hết tất cả chúng sanh qua bờ giác ngộ nhưng khi đưa tất cả những chúng sanh qua bờ giác ngộ rồi thì ta chẳng thấy có chúng sanh nào được giác ngộ cả. Vì sao thế? Này thầy Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát mà còn vướng vào các khái niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả thì vị ấy chưa phải là vị Bồ Tát chân thật. Tại sao như thế?

Tu Bồ Đề, thật ra chẳng có pháp gì riêng biệt được gọi là tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác để mà phát ra cả. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Ngày xưa khi còn ở với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai có đắc pháp gì gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác hay không?”.

– Bạch Đức Thế Tôn, không. Theo cách con hiểu lời Bụt dạy thì không có pháp gì sở đắc gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác cả.

Bụt dạy: “Đúng như thế, đúng như thế! Này Tu Bồ Đề, thật ra không có pháp gì gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai có đắc. Nếu có thì Bụt Nhiên Đăng đã không thọ ký cho ta như thế này: “Sau này ngươi sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni”. Chính vì không có pháp có thể đắc gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác cho nên Bụt Nhiên Đăng mới nói với ta như thế. Vì sao? Như Lai có nghĩa là chân như của các pháp. Nếu có người nói Như Lai đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác thì người đó lầm: chẳng có pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác nào để mà đắc. Tu Bồ Đề, pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai đắc ấy, thật ra không phải thật cũng không phải hư. Cho nên Như Lai đã từng nói: tất cả các pháp đều là pháp Bụt. Cái mà ta gọi là tất cả các pháp thật ra không phải là tất cả các pháp cho nên mới gọi là tất cả các pháp. Tu Bồ Đề, cũng ví dụ như thân người cao lớn.”

Tu Bồ Đề thưa: “Cái mà Như Lai gọi là thân người cao lớn, chẳng phải là thân người cao lớn”.

– Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng thế, nếu một vị Bồ Tát nghĩ rằng ta phải độ tất cả chúng sanh thì vị ấy chưa phải là vị Bồ Tát. Vì sao? Tu Bồ Đề này, không có pháp gì riêng biệt gọi là Bồ Tát cả. Cho nên Bụt đã nói tất cả các pháp đều không có Ngã, không có Nhân, không có Chúng Sanh, không có Thọ Giả. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nghĩ “ta phải trang nghiêm đất Bụt” thì người đó chưa phải là Bồ Tát. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là trang nghiêm đất Bụt vốn không phải là trang nghiêm đất Bụt cho nên mới gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nào thông đạt được lý vô ngã vô pháp thì Như Lai gọi người đó là một vị Bồ Tát đích thực.

Đoạn kinh này dài, có những phần mà ta đã hiểu rồi nhưng cũng có vài chỗ chúng ta cần đi trở lại. Nếu các vị có bản chữ Hán trong tay thì các vị tìm tới đoạn thứ ba: Như thị, như thị… Bụt dạy: Đúng như thế, đúng như thế! Này Tu Bồ Đề, thật ra không có pháp gì gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai có đắc. Nếu có thì Bụt Nhiên Đăng đã không thọ ký cho ta như thế này: “Sau này ngươi sẽ thành Bụt hiệu là Thích Ca Mâu Ni”. Vì sao? Như Lai có nghĩa là chân như của các pháp. Các pháp có những tướng trạng bên ngoài gọi là vọng tướng mà khi tâm ta nắm bắt lấy chúng thì tâm ta là vọng tưởng. Những ý tưởng có sanh, có diệt, có cao, có thấp, có nhiều, có một, những vọng tưởng đó không phải chân như của các pháp. Nếu phá tan được tất cả vọng tưởng về các pháp và đi thẳng vào bản chất chân thật của các pháp thì mình tiếp xúc với chân như. Mà thấy được chân như của các pháp là thấy được Như Lai và thấy được Như Lai là thấy được chân như của các pháp. Cho nên ở đây kinh lại đưa ra một phương trình mới: Như Lai là chân như các pháp. Nếu có người nói Như Lai đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác thì người đó lầm: Chẳng có pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác nào để mà đắc. Khi mình có ý nghĩ rằng mình chưa có cái đó và bây giờ mình có cái đó tức là mình đã có ý niệm về cái được và cái mất. Lúc đó mình chưa thấy chân như. Mình chỉ thấy thực tại qua lăng kính vọng tưởng của mình thôi. Qua lăng kính vọng tưởng, ta thấy có còn, có mất, có được và có thua. Ý niệm về đắc tương đương với ý niệm về thất. Những ý niệm ấy đều là vọng tưởng. Do vọng tưởng ấy ta không thấy được chân như của vạn pháp, và ta lầm.

Nếu có người nói Như Lai đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác thì người đó lầm: chẳng có pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác nào để mà đắc cả. Tu Bồ Đề, pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác Như Lai đắc ấy, thật ra kông phải thật cũng không phải hư. Các khái niệm về thật và về hư cũng là những khái niệm. Thường thường mình vẫn nghĩ rằng những cái có sinh, diệt, nhiều, ít, còn, mất, là vọng tưởng và chính chân như mới thật là không vọng tưởng, vì vậy mình lại sáng tạo thêm một cặp chống đối nữa: thật và hư. Thật tức là không nói dối, và hư là có nói dối. Nhưng chân như cũng vượt thoát hai ý niệm ấy. Chân như không phải thật mà cũng không phải hư. Đây chỉ là vấn đề toán học mà thôi. Nếu quý vị nói tất cả các pháp đều không thật, chỉ có chân như mới là thật, thì quý vị lầm to. Tại vì các quan niệm về thật và về hư không dính líu gì tới chân như cả. Quan niệm về thật và về hư còn nằm bên phía vọng tưởng. Cho nên Như Lai đã từng nói: Tất cả các pháp đều là pháp Bụt. Đây là một câu nói rất quan trọng. Có một thiền sư nói: ăn cơm, uống nước, đi tiêu, đi tiểu v.v… Đều là pháp Bụt cả, vì pháp Bụt được chế tạo bởi những pháp không phải là pháp Bụt. Ngoài những pháp không phải pháp Bụt thì không thể nào có pháp Bụt được cả. Ví dụ bông hồng là do những yếu tố không phải bông hồng làm ra. Điều này ta sẽ thấy rõ hơn khi học kinh Bảo Tích: “Nhứt thiết pháp giai thị Phật pháp” (Sarvadharma Buddhadharma). Những người đem đạo Bụt giảng dạy cho xã hội Tây Phương phải biết điều này rất rõ, phải đi vào thế giới của văn hóa Tây Phương, phải thấy được những giá trị trong gia tài các truyền thống đạo đức văn hóa Tây Phương và phải có khả năng sử dụng và biến chế tất cả những thứ đó thành Phật pháp. Những hiện tượng say sưa nghiện ngập làm tan nát gia đình những thanh niên vướng vào vòng ma túy, thói tà dâm làm tan nát biết bao gia đình, tất cả những thứ đó đều có thể chuyển thành Phật pháp cả. Phật pháp là gì? Phật pháp là những câu trả lời cho những băn khoăn và đau khổ của con người hiện tại. Nếu mình không đi vào những đau khổ đó, không quán chiếu vào những đau khổ đó, không tìm ra được những câu trả lời cho những đau khổ đó thì những cái mình nói không phải là Phật pháp. Tôi nhớ mang máng có một nhà triết học nói rằng: Một câu hỏi thông minh, một câu hỏi đích thực là một câu hỏi bao giờ cũng hàm chứa đủ yếu tố của câu trả lời. Cũng giống như một bài toán. Khi ông thầy ra một bài toán đúng pháp thì thế nào đáp số cũng nằm sẵn trong bài toán. Nếu những khó khăn được đặt thành câu hỏi đích xác thì thế nào câu trả lời cũng từ trong ấy hiện ra. Khi ta nói câu trả lời nằm ngay ở câu hỏi thì có nghĩa là ta nói Phật pháp chính là thế gian pháp. Hai câu ấy giống nhau.Ví dụ khi ta đặt ra câu hỏi: Ai sanh ra vạn vật vũ trụ? Chúng ta sẽ không tìm được câu trả lời, vì câu hỏi đó được đặt sai, đó là một câu hỏi không chính xác. Tại sao không chính xác? Tại vì một câu hỏi như vậy tiềm tàng một ý niệm có sẵn: vũ trụ do một nguyên nhân độc nhất sanh ra. Theo sự quán sát của chúng ta thì không có bất cứ một hiện tượng nào đã được sinh ra do một nguyên nhân duy nhất cả. Mỗi sự vật đều do muôn ngàn vạn ức nguyên nhân hợp lại mới thành. Ví dụ như cái bông. Cái bông không phải do một nguyên nhân sanh ra. Nó có nhân duyên, tăng thượng duyên, đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên của nó. Nó có mặt trời, có đất, có đám mây, có phân, có tâm thức, đủ thứ … Vì câu hỏi “ai sanh ra vũ trụ vạn hữu” không chính xác nên ta không thể nào tìm ra đáp số trong câu hỏi đó. Nghệ thuật đặt câu hỏi rất quan trọng. Khi đã đặt được câu hỏi một cách chính xác rồi thì những đáp số có thể tìm thấy trong câu hỏi. Những vấn đề khổ đau của xã hội Đông phương cũng như Tây phương về chiến tranh, về hận thù, về dục vọng, ti hiềm v.v… nếu chúng ta đặt được chúng một cách chính xác thì chúng ta sẽ tìm ra được giải đáp. Mà khi tìm ra giải đáp chính xác rồi thì ta biết Phật pháp đang nằm tại đó, dù ta không dùng những danh từ Phật pháp. Đi hoằng pháp ở Tây phương ta phải theo cái nguyên tắc tất cả các pháp đều là pháp Bụt. Lúc đó quý vị sẽ thành công, sẽ không còn như một giọt dầu nằm trong một bát nước nữa. Nếu quý vị Phật tử Tây phương đem vào xã hội của quý vị một thứ đạo Bụt rất lạ kỳ, thì đạo Bụt sẽ bị dội, và bát nước sẽ đẩy giọt dầu ra. Do đó Tây phương phải biết xây dựng đạo Bụt bằng chất liệu văn hóa Tây phương. Hành đạo bằng cách bắt chước y hệt cách hành trì của người Tây Tạng, Việt Nam, Thái Lan, Tích Lan, đem những giọt dầu vào trong bát nước của Tây phương thì sẽ không thành công được. Các vị phải thực tập một cách thông minh để một ngày kia có thể dùng những pháp thế gian để mà xây dựng nên những kiến trúc của Phật pháp trong xã hội các vị. “Tất cả các pháp đều là pháp Bụt”. Chỉ có mấy chữ đó thôi nhưng nếu khai thác chúng ta sẽ thấy được tất cả chiều sâu của ý Bụt. Đoạn kinh này có vẻ giống hệt những đoạn kinh trước. Nhưng nếu ta đọc kỹ thì chúng ta cũng thấy có những yếu tố mới.

Tu Bồ Đề, cũng ví dụ như thân người cao lớn”. Tu Bồ Đề thưa: Cái mà Như Lai gọi là thân người cao lớn, chẳng phải là thân người cao lớn. Bụt nói rằng tất cả các pháp trước hết đều là những ý niệm, trong đó có ý niệm về Bồ Tát.

Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng thế, nếu Bồ Tát nghĩ rằng ta phải độ tất cả chúng sanh thì vị ấy chưa phải là vị Bồ Tát. Vì sao? Tu Bồ Đề này, không có pháp gì riêng biệt được gọi là Bồ Tát cả. Cho nên Bụt đã nói tất cả các pháp đều không có Ngã, không có Nhân, không có chúng sanh, không có Thọ Giả. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nghĩ “ta phải trang nghiêm đất Bụt” thì người đó chưa phải là Bồ Tát. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là trang nghiêm đất Bụt vốn không phải là trang nghiêm cho nên mới gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nào thông đạt được lý vô ngã vô pháp thì Như Lai gọi người đó là một vị Bồ Tát đích thực. Trong khi sử dụng ngôn ngữ của biện chứng Bát Nhã ta phải thực tập đạo lý vô ngã và vô pháp. Đạo Bụt bộ phái đã nói tới vô ngã, và Hữu bộ nói rằng: Tuy ngã không có nhưng các pháp thì có thật, và chính chúng đã gây ra ấn tượng như là ngã có thực. Ngã vô pháp hữu là lập trường của Hữu Bộ. Đạo Bụt đại thừa mở ra một cánh cửa khác cho ta thấy rằng cái mà chúng ta gọi là pháp cũng là vô ngã. Không những con người là vô ngã mà cái bàn cũng vô ngã, cái nhà cũng vô ngã. Thành ra ngã cũng không mà pháp cũng không. Tu học phải bắt đầu bằng sự quán chiếu một cách thực tế chứ không nên ngồi đó sử dụng danh từ mà chơi trò thể thao trí óc. Đó gọi là trò lý luận.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt thịt không?

Mắt thịt là nhục nhãn, là mắt mà tất cả chúng ta đều có, có thể thấy được cái bông, thấy được màu xanh và màu trắng. Bụt là bậc giác ngộ, nhưng Bụt có con mắt của người thường hay không?

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt thịt”.

Bụt hỏi: “Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt trời hay không?”.

Mắt trời là thiên nhãn, con mắt của chư thiên, thấy xa, thấy gần, thấy trong đêm tối, thấy xa ngàn vạn dặm.

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt trời”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt tuệ không?

Mắt tuệ là mắt có thể thấy chân tướng vô ngã và vô thường của các pháp.

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch có, Như Lai có mắt tuệ”.

Mắt tuệ tức là mắt của các vị Thanh văn và Duyên giác.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt pháp không?

Pháp nhãn là con mắt của vị bồ tát có thể thấy được chân không của các pháp, thấy được bồ đề tâm, thấy được đại nguyện, thấy được sự kiện tất cả chúng sanh với mình cùng chia xẻ bản thể không và thấy được sự giải thoát của mình là một với sự giải thoát của tất cả chúng sanh.

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có mắt pháp”.

Bụt hỏi: “Như Lai có mắt Bụt không?”.

– Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt Bụt.

Mắt Bụt là con mắt có thể thấu suốt được quá khứ, hiện tại và vị lai, có thể thấy được tâm của tất cả mọi loài chúng sanh trong quá khứ, trong hiện tại và trong vị lai. Năm câu hỏi đó và năm câu trả lời đó là để cho ta thấy rằng Bụt không những có con mắt của Bụt mà còn có con mắt của Bồ Tát, con mắt của Thanh Văn, con mắt của loài trời và con mắt của loài người cũng như của các loài chúng sanh khác. Điều này sẽ cho chúng ta một cảm giác dễ chịu, vì chúng ta thấy Bụt cũng có con mắt thịt như mình, và do đó chúng ta cảm thấy gần gũi với Bụt hơn. Những gì Bụt có thể làm được, mình cũng có thể làm được.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Cát trong sông Hằng, Bụt có thấy là cát không?

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai cũng gọi cát là cát vậy”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Nếu mỗi hạt cát trong sông Hằng là mỗi sông Hằng, thì số lượng thế giới Bụt nhiều như số cát trong tất cả những sông Hằng ấy có nhiều không?

– Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Trong tất cả các thế giới ấy có đủ tất cả các loài chúng sanh mà tâm lý các chúng sanh ấy cũng có đủ loại. Vậy mà loại tâm lý nào trong số ấy Như Lai cũng đều biết hết. Tại sao? Tu Bồ Đề, tại vì cái mà Như Lai gọi là các loại tâm ý đều không phải là các loại tâm ý. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không bắt được, tâm hiện tại không nắm bắt được mà tâm vị lai cũng không nắm bắt được.

Với đoạn này Bụt bắt đầu nói về tâm, và đây là nền tảng của tâm học. Chúng ta sẽ thấy giáo lý này phát triển rất nhiều trong kinh Bảo Tích. Trong bộ Bảo Tích, có một kinh chỉ chuyên nói về tâm thôi, gọi là Hiển Thức Kinh. Kinh này được xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ hai hay thứ ba của Tây lịch. Đây là những viên đá nền tảng về tâm học. Kinh ấy cũng có nói về mắt thịt của Bụt, mắt trời của Bụt, mắt pháp của Bụt, mắt tuệ của Bụt và mắt Bụt của Bụt. Đoạn kinh ta đang học đây nói sơ về mắt Bụt của Bụt, mắt này có thể thấy được tâm chúng sanh. Bụt có cái thấy rất sâu sắc về tâm ý của chúng sanh. Bụt nói rằng có bao nhiêu cát của sông Hằng là có bấy nhiêu sông Hằng, những cõi thế giới nhiều như số cát của tất cả sông Hằng rất nhiều, và chúng sanh sống trong những thế giới đó có đủ loại và cố nhiên là rất nhiều. Vậy mà tâm ý của chúng sanh nào Bụt cũng biết hết. Điều này có nghĩa là Bụt có nhận thức sâu sắc về tâm: tâm đây không phải chỉ là tâm của tâm lý học nghĩa là của khoa học, những hiện tượng tâm lý đã và đang hiện cho mình nhận xét: tâm đây là gốc rễ và bản chất của những hiện tượng tâm lý. Bản chất này vượt thoát tính chất sanh diệt của các hiện tượng tâm ý. Tâm lý học chỉ nghiên cứu những hiện tượng tâm lý phát hiện bên trên, còn tâm học của đạo Bụt nghiên cứu tâm ở tận gốc rễ. Ấy vậy mà loại tâm ý nào trong số ấy Như Lai cũng đều biết hết. Tại sao? Tại vì cái mà Như Lai gọi là các loại tâm ý đều không phải là các loại tâm ý cho nên mới được gọi là các loại tâm ý. Có nghĩa Bụt thấy được không những phần hiện tượng của các loại tâm ý mà luôn cả phần bản chất của các loại tâm ý nữa.

Vì sao vậy? Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không nắm bắt được, tâm hiện tại không nắm bắt được, mà tâm vị lai cũng không nắm bắt được. Nếu muốn biết về tâm, muốn hiểu về tâm mà cứ chạy theo để nắm bắt những hiện tượng tâm ý thì làm sao có được một sự hiểu biết chân thật về tâm? Cho nên tâm lý học khó nắm bắt được tâm chân thật. Tâm học nhờ đi sâu vào bằng thực chứng nên mới nắm bắt được tâm. Còn lý luận, nghiên cứu, so sánh về những hiện tượng tâm ý thì không thể nào nắm bắt được tâm, tại vì tâm quá khứ không nắm bắt được, tâm tương lai cũng không nắm được mà tâm hiện tại cũng thế: vừa phát khởi thì liền tiêu diệt.

Tới đây tôi nhớ chuyện một thiền sinh nọ muốn lên thăm thiền sư Sùng Tín ở Long Đàm. Dưới chân núi có một bà nọ mở quán, bán thức ăn chay cho thiền sinh và cho họ nghỉ đêm trước khi họ leo núi để tham vấn Thầy. Bữa nọ có ông thầy tới quán đã khuya, xin ngủ trọ để hôm sau lên núi. Bà bán quán thoáng thấy thầy có mang theo kinh Kim Cang trong một cái túi vải rách. Bà ta cũng giỏi và bà vốn đã đọc kinh Kim Cang thuộc lòng. Sáng đó ngủ dậy, ông thầy nói: “Bà ơi, tôi sắp lên núi đây, bà cho tôi ăn điểm tâm đi”. Bà cụ hỏi: Thầy muốn điểm tâm nào? Tâm quá khứ, tâm hiện tại hay tâm vị lai? Ông thầy ngạc nhiên và thẹn thùng quá nên quyết định không lên núi nữa. Nhưng bà cụ khuyên cứ lên gặp thầy Long Đàm như thường.

Nếu gặp bà cụ hỏi như vậy tôi sẽ trả lời: “Tôi không cần tâm quá khứ, hiện tại, vị lai gì cả: tôi đói bụng và chỉ muốn điểm cái tâm này thôi (vỗ vào bụng đói của mình)”. Những tư tưởng tâm quá khứ không nắm bắt được, tâm hiện tại và tâm tương lai không nắm bắt được … tuy có nghĩa lý thâm sâu nhưng vẫn là những khái niệm trước một cái thực tại sống động rất rõ ràng là mình đang đói bụng. Đói thì cần điểm cái đó thôi, vì đó là thực tại, là sự sống trong giây phút này và tại đây. Việc chi mà ông thầy kia phải ngán cái bà bàn quán lắm mồm lắm miệng?

Những đoạn mà chúng ta sẽ nghe đây có liên can đến vấn đề danh từ và ý niệm. Chúng ta thường dùng một danh từ để gọi một ý niệm. Và khi chúng ta nhận thức được tự thân sự vật rồi thì chúng ta thấy rằng ý niệm không phải là sự vật mà danh từ để chỉ ý niệm cũng không phải là sự vật. Giữa danh từ, ý niệm và sự vật có một khoảng cách. Danh từ và ý niệm thì bất động, chết cứng, trong khi thực tại là một dòng lưu chuyển. Đem cái khung chết cứng để chứa đựng một cái gì sống động và lưu chuyển thì không được. Cho nên ta phải cẩn thận lắm trong khi nói năng.

Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Nếu có người đem châu báu nhiều cho đến nỗi phải chất đầy cả thế giới tam thiên đại thiên mà bố thí thì người đó có được nhiều phước đức không?

– Bạch đức Thế Tôn, được phước đức rất nhiều.

– Này thầy Tu Bồ Đề, nếu phước đó là phước đức thật thì Như Lai đã không nói là người ấy đạt được nhiều phước đức. Chính vì phước đức ấy vốn không có thực thể cho nên Như Lai mới nói người ấy đạt được phước đức nhiều. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua sắc thân đầy đủ không?

– Bạch không, cái mà Như Lai gọi là sắc thân đầy đủ thì không phải là sắc thân đầy đủ cho nên mới gọi là sắc thân đầy đủ.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua tướng mạo đầy đủ không?

– Thưa Thế Tôn, không. Không thể nhận diện Như Lai qua tướng mạo đầy đủ. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là tướng mạo đầy đủ thì không phải là tướng mạo đầy đủ cho nên mới gọi là tướng mạo đầy đủ.

Cụ túc sắc thân là cái thân thể của Bụt có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp, dịch là tướng mạo đầy đủ. Trong đoạn kinh này cả Bụt và cả thầy Tu Bồ Đề đều nói là không thể nhận diện Như Lai qua hình tướng sắc thân, vì hình tướng sắc thân dù sao cũng là cái tướng và trên cái tướng ấy mình dán lên một cái nhãn hiệu, gọi nó bằng một cái tên, và tên gọi cũng như tướng trạng đều là những gì có khuôn khổ và không thể nào chứa đựng được một cái thực tại linh động không có khuôn khổ.

Đoạn kinh kế tiếp cũng diễn tả cùng một tinh thần, cũng nói về danh từ, ngôn thuyết và về ý niệm.

– Tu Bồ Đề, thầy đừng bảo rằng Như Lai có ý niệm: ta sẽ thuyết pháp. Đừng nghĩ như thế. Vì sao? Nếu có người nghĩ rằng Như Lai có pháp để nói tức là người đó phỉ báng Bụt vì lẽ người đó không hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề, thuyết pháp có nghĩa là không có pháp nào được nói, như vậy gọi là thuyết pháp.

Lúc đó huệ mạng Tu Bồ Đề bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, đời sau khi được nghe pháp này chúng sanh có thể phát sanh lòng tin hay không?”.

Bụt dạy: “Tu Bồ Đề, những chúng sanh đó không phải là chúng sanh mà cũng không phải là không chúng sanh. Vì sao thế? Tu Bồ Đề, cái mà Như Lai gọi là không phải chúng sanh mới thực sự được gọi là chúng sanh”.

Chúng ta có còn nhớ ví dụ về cái chén trà không? Nhìn vào cái chén trà, thấy được những yếu tố không phải chén trà trong đó thì lúc đó sử dụng danh từ chén trà mới không nguy hiểm. Nhìn vào A mà thấy A không phải là A thì lúc đó mới thật là thấy A. Cái A này không còn là một chướng ngại nguy hiểm nữa. Trong đoạn kinh này có danh từ huệ mạng. Huệ mạng là đời sống của trí tuệ, một danh xưng của những vị đã đạt tới trí tuệ rồi như huệ mạng Tu Bồ Đề, huệ mạng Xá Lợi Phất … Những đoạn văn này tập cho chúng ta thấy được rằng ý niệm, lời nói, danh từ, và những nhãn hiệu dán lên các ngôn thuyết và ý niệm đó đều là những khuôn khổ cứng nhắc và không thể chứa đựng được thực tại. Nhớ được điểm đó thì chúng ta có thể hiểu được những đoạn kinh ấy dễ dàng.

Tu Bồ Đề bạch Bụt: “Thế Tôn, pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Bụt đắc có phải là cái vô sở đắc?”.

Bụt nói: “Đúng thế, Tu Bồ Đề, đối với vô thượng chánh đẳng chánh giác ta chẳng có một chút xíu nào là pháp sở đắc, cho nên mới gọi nó là vô thượng chánh đẳng chánh giác”.

Tới đây ta đi đến khái niệm gọi là vô đắc. Nếu chúng ta tưởng tượng ra một pháp riêng biệt mà Bụt đã đắc thì cái pháp đó không còn được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác nữa. Chính ý niệm về vô thượng chánh đẳng chánh giác đã làm tan biến nội dung của vô thượng chánh đẳng chánh giác rồi. Và vì vậy cho nên Bụt nói: “Ta không có đắc cái gì cả”. Đó là tinh thần vô đắc.

Em đến đây bằng đôi mắt hồn nhiên

nhìn màu xanh của pháp thân hiển hiện

dù thế giới tan tành

nụ cười bông hoa cũng không bao giờ còn

tan biến

chúng ta đã được gì hôm qua, và sẽ mất

gì sáng nay?

em đến đây; theo ngón tay tôi, nhìn thẳng

vào thế gian điểm tô bằng ảo tượng

hoa mặt trời mọc rồi

Muôn hoa khác đều quay về quy ngưỡng

(Thơ Nhất Hạnh)

Hoa mặt trời nói tới trong bài thơ là trí tuệ Bát Nhã.

Đối với vô thượng chánh đẳng chánh giác ta chẳng có một chút xíu nào là phương pháp sở đắc, cho nên mới gọi nó là vô thượng chánh đẳng chánh giác. “Chút xíu nào” là để dịch tiếng Phạn anu, có nghĩa là hạt nhân nguyên tử.

– Này nữa, thầy Tu Bồ Đề! Pháp ấy bình đẳng, không có cao thấp nên gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu tập tất cả các thiện pháp theo tinh thần vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả thì đạt được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, cái gọi là thiện pháp thì Như Lai bảo không phải là thiện pháp, cho nên đó mới thật là thiện pháp.

Bây giờ chúng ta đi sang một ý niệm mới gọi là bình đẳng tánh (samata). Bình đẳng có nghĩa là không này cũng không kia, không tự cũng không tha, không nhiều cũng không ít, không quý cũng không tiện, không cao cũng không thấp. Tất cả các pháp đều bình đẳng cả. Không tự cũng không tha có nghĩa là không có cái gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác biệt lập ngoài những cái mà ta gọi là không phải vô thượng chánh đẳng chánh giác. Không có cái bình trà biệt lập ngoài những cái mà ta gọi là không phải bình trà. Mây là nước, nước là mây, không có mây ngoài nước, không có nước ngoài mây. Pháp ấy bình đẳng không có cao thấp nên gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Cũng giống như mặt trăng. Ta tưởng mặt trăng có khi mờ khi tỏ, khi khuyết khi đầy, khi có khi không. Nhưng sự thật mặt trăng không có những thuộc tính đó: là khuyết, tròn, mờ, tỏ, có, không. Mặt trăng không có những cái mình tưởng. Từ ý niệm vô đắc chúng ta đã đi đến ý niệm về bình đẳng tính.

– Tu Bồ Đề, giá dụ có người tom góp bảy thứ châu báu chứa đầy từng đống cao như tất cả các núi Tu Di trong thế giới tam thiên đại thiên này để mà bố thí thì công đức của những người ấy đem so với công đức của những người đọc, tụng và thọ trì kinh Kim Cương Năng Đoạn này rồi đem giảng nói cho người khác nghe thì trăm phần không được một, trăm ngàn vạn ức phần không được một. Phước đức của người hành trì kinh, dù chỉ là hành trì một bài kệ bốn câu, cũng không thể nào dùng ví dụ hay toán học để mà diễn tả nổi.

– Tu Bồ Đề, các vị đừng có bảo rằng Như Lai có ý niệm “ta sẽ độ chúng sanh”. Tu Bồ Đề, đừng nghĩ như thế. Tại sao vậy? Sự thật thì không có chúng sanh nào để cho Như Lai độ. Nếu Như Lai nghĩ là có thì Như Lai đã vướng vào khái niệm ngã, khái niệm nhân, khái niệm chúng sanh và khái niệm thọ giả rồi. Tu Bồ Đề, cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu cho là có ngã. Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu.

Kinh Kim Cang có nhiều đoạn lặp đi lặp lại như trên để càng tụng chúng ta càng thấm thía. Nếu chỉ nghe một lần thôi ta có thể có cảm tưởng là đã hiểu rồi, ta sẽ quá tin, quá tự đắc, điều đó có thể là nguy hiểm. Tụng kinh giống như xoa bóp, phải có công phu mới thành. Thật ra Như Lai cũng dùng ngôn ngữ và ý niệm như tất cả mọi người khác: Như Lai cũng nói hoa là hoa, rác là rác, bồ đề là bồ đề, phiền não là phiền não, nhưng Như Lai không bị kẹt vào những ý niệm và những tên gọi. Còn chúng sanh quen nhìn vào những cái đó như những vật cứng chắc và do đó bị kẹt vào tướng. Cho nên Như Lai mới dùng loại ngôn ngữ này để giúp cho chúng sanh quán chiếu từ từ để có thể thoát khỏi. Đôi khi Bụt cũng nói như là có ngã. Ví dụ như Bụt nói: “Thầy A Nan ơi, thầy có muốn đi lên núi Linh Thứu với tôi không?”. Khi nói “thầy A Nan ơi” là dùng ý niệm “nhân” rồi, khi nói “đi với tôi không?” là dùng ý niệm “ngã” rồi. Như Lai cũng dùng danh từ và ý niệm, nhưng như lai không kẹt còn chúng sanh khi dùng chúng thì lại bị kẹt. Cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu cho là có ngã. Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu. Câu này có một ý thật hay, gọi kẻ ấy là phàm phu nhưng đồng thời cũng thấy kẻ ấy là một vị Bụt. Không phải hễ gọi kẻ đó là phàm phu thì mình khinh rẻ ông ta liền. Mỗi khi nói đến chữ Bụt là chúng ta có sự kính nể, không bao giờ chúng ta dám nghĩ là trong con người của Bụt và của các vị bồ tát có thể có rác được, vì chúng ta sợ tội bất kính. Trong khi đó giáo lý Bát Nhã của đạo Bụt nói rằng ngũ uẩn của Bụt cũng có chất hữu cơ. Bụt là do những yếu tố không phải Bụt làm thành.Tịnh là do những yếu tố bất tịnh làm nên. Tính chất của tình thương trong đạo bụt là bất nhị, vì trong tình thương ấy người thương và người được thương không còn là hai. Sông, biển, rừng, núi, đất, đá v.v… đều là cơ thể của mình. Bảo vệ sinh môi do đó là bảo vệ chính mình. Tình thương trong đạo Bụt cũng có tính chất hữu cơ. Trong tinh thần tương tức, tất cả các vấn đề trên thế giới và của con người ta đều được giải quyết bằng các nguyên tắc bất nhị và hữu cơ. Giải quyết các vấn đề Irak, Iran, Palestine ta cũng phải theo tinh thần bất nhị và hữu cơ. Phải biết những đau khổ của bên này là những đau khổ của bên kia, sự dại dột bên này là sự dại dột của bên kia, sự nóng giận của bên này bên kia cũng lãnh đủ và sự ngu dốt của bên kia bên này cũng lãnh đủ hết. Đó là cái nhìn hữu cơ của đạo Bụt về tình thương và sự tranh chấp.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có nên quán tưởng Như Lai qua ba mươi hai tướng không?

Tu Bồ Đề nói: “Thưa vâng, thưa vâng, phải dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”.

Đạo Bụt có những phép quán tưởng trong đó có phép quán niệm Bụt. Theo pháp quán này, mình hình dung Bụt với những tướng tốt trang nghiêm, đôi khi mình gọi tên Bụt để cho hình dung Bụt hiện ra, như vậy là để mình đạt tới sự thảnh thơi an lạc trong lòng. Các thầy đã quen cách quán đó, và mỗi khi muốn thấy hình ảnh Như Lai thì thường quán ba mươi hai tướng. Vì vậy mà thầy Tu Bồ Đề đã vô tình vội nói: “Thưa vâng, thưa vâng, phải dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”.

Bụt nói: “Nếu nói lấy ba mươi hai tướng mà quán tưởng Như Lai thì một vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai sao?”.

Theo tinh thần Kim Cương, ta không nên đồng nhất cái thân ba mươi hai tướng đó với Bụt, và hãy thử đi tìm Bụt ở những nơi không có ba mươi hai tướng. Bụt trong bùn lầy nước đọng, Bụt trong người hánh khất bị phong, bị hủi. Phải thấy được Bụt như vậy, phải có một cái thấy vô tướng về Bụt. Ở đây kinh không có chủ ý nói phép quán Bụt qua ba mươi hai tướng kia là sai lầm. Đối với người mới học mới tu công phu quán Bụt qua ba mươi hai tướng có thể làm cho trong tâm hồn dịu lại và niềm tin vững chãi hơn lên:

Sen quý nở đài giác ngộ

Hào quang chiếu rạng mười phương

Trí tuệ vượt tầm pháp giới

Từ bi thấm nhuận non sông

Vừa thấy dung nhan điều ngự

Trăm ngàn phiền não sạch không

Hưóng về tán dương công đức

Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.

Trong những buổi công phu, chúng ta thường quán niệm Bụt ngồi trên tòa sen với ba mươi hai tướng tốt với tất cả hào quang, chúng ta xưng tán Như Lai để thân tâm khoẻ khoắn và an tịnh. Đang có chuyện buồn khổ, hành giả thường hình dung ba mươi hai tướng của Bụt và khi quán tưởng dung nhan của thầy mình hành giả thấy trong lòng mát mẻ. Kinh Kim Cương không cấm chúng ta làm như vậy. Ý kinh là chúng ta phải từ từ biết quán Bụt ở nơi những cái ngoài ba mươi hai tướng. Kinh không phủ nhận giá trị của phép quán ba mươi hai tướng; kinh chỉ muốn cho người học trò lớn lên để có thể thấy được Bụt trong những yếu tố mà mình gọi là không phải Bụt. Ghì riết lấy Bụt thì Bụt cũng đến chết ngạt mất. Có một thiền sư kia không ưa dùng chữ Bụt mấy vì ông thấy người ta lợi dụng chữ Bụt quá nhiều. Một hôm ông tuyên bố trong đại chúng: “Mỗi lần bất đắc dĩ phải dùng tiếng Bụt thì sau đó tôi phải đi súc miệng ba lần”. Nói như vậy là nói theo ngôn từ Bát Nhã. Người nghe có thể nghĩ rằng câu nói có vẻ bất kính, nhưng đối với một người đã thấy được Bát Nhã thì đó là một sự ca ngợi Bụt. Nói được như vậy tức là đã hiểu được Bụt khá sâu sắc. Hôm ấy trong đại chúng có một người khách quý. Nghe xong, người ấy đứng dậy phát biểu như sau: “Thưa thầy, tôi cũng vậy, mỗi lần nghe thầy nói tiếng Bụt tôi phải ra sông rửa lỗ tai ba lần”. Chủ như vậy, khách như vậy mới thật là xứng đáng; cả hai đều vượt thoát được những danh từ có thể bị hư hỏng bệnh tật và không còn khả năng chuyên chở. Có những người dùng quá nhiều danh từ Phật giáo, nhưng không chuyên chở được chút nào giáo lý của Bụt. Vì vậy chúng ta phải cẩn thận: kẻ thù ta là một rổ danh từ (nhạc Phạm Duy). Đoạn kinh văn trên diễn tả sự cần thiết vượt thoát hình tướng, vượt thoát khái niệm, vượt thoát ngôn từ.

Tu Bồ Đề nói: “Thế Tôn, con hiểu lời Bụt dạy rồi, không nên dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”.

Lúc bấy giờ Thế Tôn nói lên bài kệ này:

Tìm ta qua hình sắc

Cầu ta qua âm thanh

Là kẻ hành tà đạo

Không thể thấy Như Lai.

Ban đầu hành giả có thể hình dung Bụt với ba mươi hai tướng tốt, có thể nằm mơ thấy Bụt nữa, nhưng sau khi chữa trị thương tích rồi hành giả phải tiến tới chứ đừng nên ôm ấp những hình ảnh và ý niệm đó mãi mãi. Bụt có thể tìm thấy trong bùn lầy nước đọng, trong sinh, lão, bệnh, tử. Niết Bàn được làm bằng chất liệu của sinh, lão, bệnh và tử. Giải thoát được làm với những chất liệu của phiền trược. Giác ngộ được làm bởi những chất liệu mê mờ. Chúng ta phải gieo những hạt giống bồ đề trên đất chứ không thể gieo trên hư không, như ta đã học trong kinh Bảo Tích.

Đoạn kinh sau này chỉnh lại những sai lầm mà ta có thể vấp phải khi đọc đoạn trên.

– Tu Bồ Đề, thầy đừng nghĩ rằng Như Lai đạt tới vô thượng chánh đẳng chánh giác mà không cần tới các tướng đầy đủ. Tu Bồ Đề, đừng nghĩ như thế. Tu Bồ Đề! Thầy đừng nghĩ là khi phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác ta phải coi các pháp là hư vô, đoạn diệt. Đừng có nghĩ như thế. Kẻ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác không chủ trương rằng các pháp là hư vô đoạn diệt.

Hư vô đoạn diệt là một kiến chấp đối chọi với kiến chấp thường còn. Khi nhìn vào cái bàn, bông hoa hay cái vô thượng chánh đẳng chánh giác, ta có thể thấy những phép đó như những pháp thường còn có thể tách rời ra khỏi những pháp khác mà tồn tại thì chúng ta lâm vào tình trạng gọi là chấp thường. Và khi chúng ta đi sang mé bên kia và cho là không có cái gì hết thì chúng ta rơi vào một cái hố khác gọi là chấp đoạn. Thường cũng không được mà đoạn cũng không nên. Đoạn là anihilation. Giải thoát không phải là tìm tới hư vô đoạn diệt. Đoạn kinh trước dặn ta đừng chấp vào ba mươi hai tướng. Nghe như thế có người sẽ nghĩ rằng ba mươi hai tướng đó không có một giá trị nào cả. Thật ra sự tu học luôn luôn làm phát ra những tướng đẹp, những dung nghi, những hoan hỷ, những hoa trái của sự tu học đó vốn là có thật, nhưng chúng không hiện hữu theo kiểu kiến chấp mà chỉ hiện hữu theo kiểu mầu nhiệm.

– Tu Bồ Đề, nếu có một vị bồ tát đem bảy thứ châu báu nhiều cho đến nỗi chất đầy cả các thế giới nhiều như các sông Hằng mà bố thí thì công đức ấy cũng không lớn bằng công đức của một người đã hiểu được rằng tất cả các pháp đều là vô ngã và chấp nhận được sự thực đó một cách hoan hỷ. Vì sao? Tu Bồ Đề! Vì bồ tát không cần phải tom góp phước đức.

Tu Bồ Đề bạch Bụt: “Thế Tôn, bồ tát không cần tom góp phước đức nghĩa là sao?”.

– Tu Bồ Đề, bồ tát tạo phước đức mà không vướng mắc vào ý niệm phước đức cho nên ta mới nói là bồ tát không cần tom góp phước đức.

Tất cả những điều vị bồ tát làm, những điều vị bồ tát nói, những tư duy của bồ tát đều có thể tạo nên vô lượng phước đức, nhưng bồ tát không bị vướng vào những cái đó, vì thế Bụt nói bồ tát không tom góp phước đức. Khi mình vào chùa rửa nồi và tự nói làm như thế là để bòn chút công đức thì mình không phải là bồ tát. Phải thấy được niềm vui ngay trong khi rửa nồi. Rửa nồi xong, mình không tới nói với thầy: “Thầy ơi, con rửa hết đống nồi của thầy rồi đó, thầy có thấy con giỏi không?”. Vậy là hỏng hết. Trong đoạn kinh này có mệnh đề chấp nhận sự thực đó một cách hoan hỷ. Mệnh đề đó được dịch từ bốn chữ đắc thành ư nhẫn của kinh bản Hán văn. Nhẫn (tiếng Phạn: ksanti) ở đây có nghĩa là chịu đựng được sự thật. Nếu có người biết được sự thực về vô ngã của các pháp và chịu đựng được sự thực đó; chịu đựng được ở đây có nghĩa là cái lòng mình lớn, có thể dung chứa được sự thực đó chứ không phải là sự thực đó đang nặng nề đè nén mình.

– Tu Bồ Đề, nếu có kẻ nói: “Thế Tôn có tới, có đi, có ngồi, có nằm”, kẻ ấy không hiểu được điều ta nói. Tại sao? Như Lai có nghĩa là không từ đâu tới cả và cũng không đi về đâu cả, cho nên gọi là Như Lai.

Có nơi định nghĩa Như Lai là từ Chân Như tới và sẽ đi về Chân Như. Đã là Chân Như thì làm gì có tới và có đi, vì vậy đây là để nói về sự thực vô khứ vô lai của vạn vật. Những đoạn kinh trước đã nói về vô trước, bình đẳng, bất nhị, không thường và không đoạn. Đoạn kinh này nói về sự thật vô khứ vô lai. Sự thật này không những chỉ áp dụng cho Như Lai mà cho tất cả các pháp.

– Tu Bồ Đề, nếu có người con trai hay người con gái nhà lành nào đem thế giới tam thiên đại thiên nghiền thành bụi nhỏ thì thầy nghĩ sao? Bụi nhỏ như thế có nhiều không?

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Nếu bụi nhỏ mà có thật thì Bụt đã không gọi chúng là bụi nhỏ. Cái mà Bụt gọi là bụi nhỏ vốn không phải là bụi nhỏ cho nên mới là bụi nhỏ. Thế Tôn! Cái mà Như Lai gọi là thế giới tam thiên đại thiên, nó không phải là thế giới cho nên mới gọi nó là thế giới. Vì sao? Nếu thế giới mà có thật thì đó là một hợp tướng. Cái mà Như Lai gọi là một hợp tướng vốn không phải là một hợp tướng cho nên gọi là một hợp tướng”.

– Tu Bồ Đề! Cái gọi là hợp tướng chỉ là một ước lệ ngôn ngữ không có thực chất. Chỉ có kẻ phàm phu mới bị vướng mắc vào đó mà thôi.

Đoạn này rất quan trọng. Trước hết Bụt nói về ví dụ đem thế giới này nghiền nát ra thành bụi nhỏ, tức là thành ra những vi trần (nguyên tử). Vào thời của Bụt, người ta nghĩ sự vật được thành lập do sự tập hợp của vi trần. Nhiều người thời nay cũng còn nghĩ thế. Cái bàn hay cái bình trà đều là do sự tập hợp của những nguyên tử. Một số những nguyên tử tập hợp lại và làm thành cái bàn hay cái bình, và khi nhận thức cái bàn hay cái bình, ta làm phát khởi trong ý niệm một hình ảnh mà ta gọi là một hợp tướng, tức là cái tướng hòa hợp ngược với tướng đơn vị là nguyên tử hay vi trần. Vi trần là đơn vị. Khi những vi trần tới với nhau, chúng làm ra một sự vật, cái sự vật ấy là hợp tướng. Mình có hai ý niệm: một là ý niệm vi trần, hai là ý niệm hợp tướng. Cả hai đều sai lầm. Lý do cả hai đều là ý niệm, mà ý niệm thì không thể chứa đựng được sự thật. Có người dịch danh từ hợp tướng là seizing on a material object. Nhìn vào hợp tướng hay nhìn vào vi trần mà thấy chúng không phải là hợp tướng cũng không phải vi trần thì lúc đó mới thoát được sai lầm. Bởi vì cả hai (vi trần và hợp tướng) đều là những ước lệ ngôn ngữ, không có thực chất, chỉ có kẻ phàm phu (người chưa giác ngộ) mới bị vướng mắc vào đó mà thôi. Khi nói đến tướng ta nhớ tới những danh từ như tổng tướng (tướng chung), biệt tướng (tướng riêng). Tướng có thể được dịch là mark, sign, concept, notion. Nếu cho rằng thế giới có thật như trong ý niệm thì đó là một hợp tướng, đó là trường hợp vướng mắc vào một đối tượng. Cái mà Như Lai gọi là một hợp tướng vốn không phải là một hợp tướng cho nên gọi là một hợp tướng. Tu Bồ Đề! Cái gọi là hợp tướng chỉ là một ước lệ ngôn ngữ không có thực chất. Chỉ có kẻ phàm phu mới bị vướng mắc vào đó mà thôi. Ở đây chúng ta thấy rằng chúng ta không thể tuyên bố gì về sự thật của thực tại cả, vì lẽ ngôn từ và ý niệm của chúng ta không thể chuyên chở được thực tại của sự vật. Đoạn kinh này nói về tính cách bất khả thuyết (không thể diễn bày) của sự vật. Khi chúng ta nói về sự thật của sự vật chúng ta chỉ căn cứ trên ý niệm về vi trần và về hợp tướng, nhưng sự thật là khi cả hai ý niệm được vượt thoát ta mới có thể tiếp xúc thực sự với thực tại mà thôi.

– Tu Bồ Đề, nếu có kẻ bảo Bụt có nói về ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến, kẻ ấy có hiểu được ý ta không?

– Thưa không, Thế Tôn. Kẻ ấy không hiểu được ý Như Lai. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến vốn không phải là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến, cho nên mới là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến.

– Tu Bồ Đề! Kẻ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác phải biết như thế về tất cả các pháp, phải thấy như thế về tất cả các pháp, phải tin hiểu như thế về tất cả các pháp, mà không nên có khái niệm về pháp. Tu Bồ Đề! Cái gọi là khái niệm về pháp, Như Lai nói không phải là khái niệm về pháp, cho nên mới gọi là khái niệm về pháp.

Người đọc kinh Kim Cương chưa thấm có thể phát khởi ý niệm là bốn tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả là những kẻ thù của tuệ giác, của chân như, của như lai và sẵn sàng đày ải bốn tướng ấy ra ngoài vòng hiện hữu. Ở đây Bụt muốn cứu chữa thái độ lưỡng nguyên đó. Người nói tất cả các pháp đều là khái niệm: ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả là những khái niệm, mà không ngã, không nhân, không chúng sanh và không thọ giả cũng là những khái niệm. Ta không thể buông bỏ một loại khái niệm để rồi bị vướng mắc vào một loại khái niệm khác. Khái niệm về vô ngã đã nương vào khái niệm ngã mà phát sinh, giống như bông hồng nương vào những yếu tố không phải bông hồng mà tồn tại. Nhìn sâu vào lòng khái niệm ngã, ta có thể thấy khái niệm vô ngã. Lông rùa và sừng thỏ là những vật không có trong thực tại, nhưng ý niệm về lông rùa và sừng thỏ là những ý niệm có thật và đã được phát sinh từ những ý niệm khác như lông, sừng, rùa và thỏ. Nhìn sâu vào thực tại của các ý niệm lông rùa và sừng thỏ, ta có thể thấy được bản chất của thế giới, của chân như và của như lai. Bụt dạy chúng ta không nên kỳ thị các khái niệm về ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả. Những khái niệm này phải được đặt ngang hàng với các khái niệm không, chân như, như lai và vô thượng chánh đẳng chánh giác. Các khái niệm nương nhau mà sinh khởi. Khái niệm là một pháp. Khái niệm là tướng. Bụt đã từng dạy: nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt. Tướng nào cũng vậy. Tướng ngã, tướng nhân hay là tướng chân như, tướng như lai cũng vậy. Theo đạo lý duyên sinh, các pháp nương vào nhau để sinh khởi. Nhìn vào một pháp, ta thấy được tất cả các pháp. Đây là chủ đề mà Kinh Hoa Nghiêm sẽ khai thác. Điều thiết yếu ở đây là ta đừng kỳ thị các khái niệm ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả, vì những khái niệm ấy cũng là pháp, cũng không có tự tánh như bất cứ pháp nào. Đừng kỳ thị chúng, và cũng đừng chạy theo những khái niệm đối lập. Biết được một khái niệm là một khái niệm tức là đã vượt thoát khái niệm đó, và đồng thời vượt thoát cái pháp mà khái niệm ấy đại diện. Lúc đó ta bắt đầu có kinh nghiệm trực tiếp với thực tại mầu nhiệm.

Nếu vô thượng chánh đẳng chánh giác là không thì các tướng ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả cũng không. Tại sao chúng ta kỳ thị và sợ hãi chúng?

– Tu Bồ Đề, nếu có người đem bảy thứ châu báu số lượng lớn đến nỗi chứa đầy các thế giới nhiều tới vô lượng a tăng kỳ để bố thí thì phước đức cũng không bằng phước đức của một người con trai hay một người con gái nhà lành khi người này phát tâm bồ đề, đọc tụng thọ trì kinh này và đem giải thuyết cho người khác nghe, dù chỉ là một bài kệ bốn câu trong ấy. Giải thuyết theo tinh thần nào? Giải thuyết mà không kẹt vào tướng, như như và không động chuyển. Vì sao thế?

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bào, ảnh,

Như sương, như chớp lòe,

Hãy quán chiếu như thế.

Sau khi nghe Bụt nói kinh này, thượng tọa Tu Bồ Đề và các vị khất sĩ, nữ khất sĩ, Ưu bà tắc, Ưu bà di và tất cả các giới Trời, Người, A Tu La đều rất hoan hỷ tin tưởng tiếp nhận để thực hành.

Trong những đoạn cuối này của Kinh có một bài kệ rất đẹp. Bụt căn dặn phải thực tập và giải thuyết kinh này theo tinh thần nào thì mới thực sự có phước đức lớn.

1/ Giảng thuyết mà không kẹt vào tướng. Tu sĩ hay cư sĩ nên giảng thuyết kinh này theo tinh thần vô tướng. Khi đã được học kinh rồi thì nhìn một vị giảng sư, một vị giáo sư đang giảng kinh quý vị sẽ thấy ít nhiều là người đó đang giảng kinh trong tinh thần vô tướng hay là đang giảng kinh trong màn lưới lúng túng của khái niệm. Cái thấy của người đó, cách giải kinh của người đó, cái ý niệm “tôi là người giảng kinh còn quý vị là người đang nghe kinh”, những cái đó quý vị có thể nghe và cảm nhận được trong lời thuyết pháp. Nghe một người giảng kinh Kim Cương, mình sẽ thấy người ấy còn kẹt ít hay nhiều vào những khái niệm ngã, nhân, chúng sanh và thọ giả. Thật sự nếu còn kẹt nặng vào bốn cái ấy thì đâu có giảng kinh Kim Cương được một cách đích thực. Tinh thần Bát Nhã sẽ không thoát ra được trong lời giảng. Đó là điều kiện đầu tiên: vượt thoát tướng.

2/ Tinh thần như như. Như như là phù hợp với sự thực. Người đó phải tiếp xúc được với sự thực bất nhị, sự thực bất khả thuyết và sự thực vô phân biệt và khi tiếp xúc được với chân như rồi thì giống như khi mình đã đào giếng tới chỗ có nước. Khi mình đã được trực tiếp uống nước giếng của tuệ giác thì mình không còn kẹt vào bốn tướng kia nữa và khi tiếp xúc với mình, người khác có thể thấy được mình đã thoát được các tướng đó, dù chỉ là mới một phần.

3/ Không động chuyển. Dù có bị la mắng, báng bổ, dù có bị buộc là giảng kinh ngoại đạo, có bị chê là không hiểu kinh mà cũng giảng kinh, thì người giảng kinh cũng an lạc tươi cười không giận hờn gì hết. Đó là chứng cớ thứ ba cho thấy người này đang giảng kinh Bát Nhã với tinh thần vô tướng và như như. Người ấy đang giảng kinh trong tinh thần không động chuyển. Bụt cho một bài kệ để kết thúc kinh. Bản chữ Hán của bài kệ như sau:

Nhất thiết hữu vi pháp

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như lộ diệc như điện

Ưng tác như thị quán

Trưóc hết ta hãy tìm hiểu những từ trong bài kệ.

Hữu vi pháp là các pháp được sinh khởi tồn tại và hoại diệt theo luật duyên khởi. Huyễn là có mà không thật, như những trò huyễn thuật. Những sự vật kia, tuy ta có thấy rõ ràng đó, có nghe rõ ràng đó, nhưng chúng đều không thật. Cái bàn này đối với ta chắc thật như vậy đó, nhưng nhà khoa học vật lý có thể bảo: “Cái mà anh tưởng là cái bàn thật sự nó là huyễn. Nó không phải như anh thấy đâu. Khi đi vào trong nó tôi chỉ thấy không gian, và những điện tử trong đó chạy với tốc độ gần tốc độ ánh sáng mặt trời như một đàn ong vĩ đại”. Cái nhìn của nhà vật lý học đã khác với cái nhìn của mình và nhà khoa học có thể đã thấy gần sự thật hơn mình. Vạn vật như huyễn, chúng hiện hữu đó nhưng không hiện hữu theo cách mình tưởng.

Bào tức là bọt nước. Ảnh tiếng Phạn là timira, một hình ảnh tuy mình có thấy nhưng không có thật. Ví dụ khi dụi mắt thật mạnh rồi mở mắt ra ta thấy có những ngôi sao hoặc những bông hoa trên trời. Ta tưởng như sao đó và hoa đó có thật, nhưng không phải thế.

Như lộ diệc như điện. Lộ là những hạt sương, điện là những chớp lòe.

Ưng tác như thị quán. Có nghĩa là nên quán chiếu như thế.

Bản dịch như sau:

Tất cả pháp hữu vi

như mộng, huyễn, bào, ảnh

như sương, như chớp lòe

hãy quán chiếu như thế.

Bốn câu này không những chỉ có nghĩa là các pháp vô thường. Nhiều người đọc kinh tới đây vẫn nghĩ rằng ý Bụt muốn nói là các pháp vô thường, như mây, như khói, như bóng chớp. “Các pháp vô thường”, đúng là Bụt có dạy như thế, nhưng không phải ở đây. Ở đây Bụt muốn nói những gì mà mình THẤY không phải là tự thân sự vật. Mình tưởng mình nắm được thực tại, kỳ thực mình đang nắm những bóng hình huyễn mộng. Phải quán chiếu sâu sắc để thoát khỏi ảo giác về thực tại. Những câu kinh như vậy ta có thể nương vào khoa học mà chứng minh được một phần nào. Nhà khoa học nguyên tử nào cũng nói khi đi sâu vào đời sống của thế giới vật thể cực vi họ đều thấy những nhận thức thông thường hằng ngày của mình rất buồn cười. Nhà khoa học tuy vậy cũng phải sống như mọi người, cũng phải uống trà, uống sữa, ăn cơm như mọi người. Dù biết rằng cái bánh mì kia toàn là không gian và rất ít vật thể mà ông ta cũng phải ăn như thường. Thì Bụt cũng vậy. Bụt biết là các pháp như mộng, huyễn, bào, ảnh, nhưng mà Bụt vẫn sống, vẫn ăn cơm và uống nước. Nhưng có một điều khác là Bụt sống với tinh thần vô chấp và vô tướng, còn chúng ta thì không thể.

Sau khi nghe Bụt nói kinh này, thượng tọa Tu Bồ Đề và các vị khất sĩ, nữ khất sĩ, Ưu bà tắc, Ưu bà di và tất cả các giới Trời, Người, A Tu La đều rất hoan hỷ, tin tưởng tiếp nhận để thực hành.

Ở đây chúng ta thấy có một điều đặc biệt: không có vị bồ tát nào trong thính chúng cả. Đây là một chứng cớ cho ta thấy Kinh Kim Cương là một trong những kinh xuất hiện sớm nhất trong lịch sử văn học Bát Nhã. Giảng xong Kinh Kim Cương Năng Đoạn, tôi xin có đôi lời kết thúc. Kinh Kim Cương là để học, để quán chiếu nhưng cũng là để tụng. Tụng là một trong những phương pháp hành trì hay nhất của Kinh Kim Cương. Để tâm hồn lắng đọng, tụng Kinh này trong đêm khuya, thỉnh thoảng quý vị sẽ đạt tới những cái thấy sáng chói và bất ngờ. Tụng Kinh Kim Cương cũng như tưới tẩm những hạt giống tuệ giác nằm sâu trong lòng đất tâm của chúng ta. Nếu có ai hỏi tại sao đã hiểu kinh rồi mà còn tụng kinh nhiều lần, ta sẽ trả lời: tụng kinh là tưới nước. Tưới một lần không bao giờ đủ. Phải được tưới tẩm thường xuyên, những hạt giống tuệ giác mới nẩy mầm và đâm chồi. Huống nữa cái thấy của chúng ta về Kim Cương chưa có thể gọi là thấu đáo. Càng tụng đọc, ta càng có cơ hội mở mang tuệ giác của ta. Tụng kinh ta thấy Bụt và thầy Tu Bồ Đề tiếp tục đối thoại với nhau và nhắc lại nhiều lần những điều đã nói. Đó cũng là một hình thức tụng. Chúng ta đừng ngại sự lặp đi lặp lại. Có những câu nói mà ta cần lặp đi lặp lại trọn đời. Có những bài hát càng hát càng thấm. Kinh Kim Cương cũng vậy.

Chúng ta đã có may mắn được học kinh này với nhau. Mai mốt nếu có cơ hội chúng ta sẽ cùng học lại. Và chắc chắn lần sau chúng ta sẽ có thêm nhiều khám phá mới. Xin đại chúng chắp tay trì tụng bài hồi hướng để tỏ lòng biết ơn Tam bảo.

Trì thuyết kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên.

Kim cương gươm báu cắt đứt phiền não

Kinh Kim cương gươm báu cắt đứt phiền não

 Đây là những điều tôi được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Kỳ Thọ Cấp Cô Độc gần thành Xá Vệ, với đại chúng khất sĩ gồm một ngàn hai trăm năm mươi vị. Hôm ấy vào giờ khất thực, Bụt mặc áo và ôm bát đi vào thành Xá Vệ. Trong thành, Người theo phép thứ đệ khất thực. Khất thực xong, Người về lại tu viện thọ trai. Thọ trai xong, Người xếp y bát, rửa chân, trải tọa cụ mà ngồi.

Lúc ấy, từ chỗ ngồi của mình trong đại chúng, thượng tọa Tu Bồ Đề đứng dậy, trịch vai áo bên phải ra, quỳ chân hữu xuống; chấp tay cung kính bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, người thật là bậc hiếm có! Thế Tôn thường đặc biệt hộ niệm và đặc biệt giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát. Thế Tôn, những ngưòi con trai hiền và những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên nương tựa vào đâu và làm sao mà điều phục tâm của họ? ”.

Bụt bảo: “Hay lắm, thầy Tu Bồ Đề! Thầy nói thật đúng, Như Lai thường đặc biệt hộ niệm và giao phó sự nghiệp cho các vị bồ tát. Này, thầy hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai sẽ vì thầy mà trả lời. Những người con trai hiền hay những người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì phải nương tựa và phải điều phục tâm của họ như thế này”.

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, chúng con rất mong được nghe người chỉ dạy”.

Bụt bảo Tu Bồ Đề: “Các bậc bồ tát đại nhân nên hàng phục tâm họ như sau. Có cả thảy bao nhiêu loại chúng sanh, hoặc sinh bằng trứng, hoặc sinh bằng thai, hoặc sinh từ sự ẩm ướt, hoặc bằng sự biến hoá, hoặc có hình sắc, hoặc không có hình sắc, hoặc có tri giác, hoặc không có tri giác, hoặc không phải có tri giác cũng không phải không có tri giác, ta phải đưa tất cả các loài đó vào Niết Bàn tuyệt đối để được giải thoát. Giải thoát cho vô số, vô lượng, vô biên chúng sanh như thế, mà kỳ thực ta không thấy có chúng sanh nào được giải thoát. Vì sao? Này Tu Bồ Đề, nếu một vị bồ tát mà còn có khái niệm về Ngã, về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả thì vị ấy không phải là một vị bồ tát đích thực.

Này nữa, thầy Tu Bồ Đề. Vị bồ tát thực hiện phép bố thí nhưng không dựa vào bất cứ một thứ gì cả, nghĩa là không dựa vào sắc để bố thí, cũng không dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp để bố thí. Tu Bồ Đề, bồ tát nên bố thí theo tinh thần ấy, không dựa vào tướng. Tại sao? nếu bồ tát bố thí mà không dựa vào tướng thì phước đức sẽ không thể nghĩ bàn. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Không gian về phía Đông có thể nghĩ lường được không?”.

– Bạch đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, không gian về phương Tây, phương Nam, phương Bắc, phương Trên và phương Dưới có thể nghĩ và lường được hay không?

– Bạch Đức Thế Tôn, không.

– Này thầy Tu Bồ Đề, nếu bồ tát không nương vào đâu cả để thực hiện pháp bố thí thì phước đức cũng nhiều như hư không vậy, không thể nghĩ được, không thể lường được. Này Tu Bồ Đề, các vị bồ tát nên trú tâm theo những lời chỉ dẫn vừa đưa ra.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua thân tướng hay không?

– Bạch Đức Thế Tôn, không. Cái mà Như Lai nói là thân tướng vốn không phải là thân tướng.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nơi nào có tướng là nơi đó còn có sự lường gạt. Nếu thấy được tính cách không tướng của các tướng tức là thấy được Như Lai”.

Thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt rằng: “Bạch Đức Thế Tôn, trong tương lai, nếu được nghe những câu nói như thế người ta có thể phát sinh lòng tin chân thật hay không?”.

Bụt bảo: “Thầy đừng nói thế. Năm trăm năm sau khi Như Lai diệt độ, sẽ có những người biết giữ giới và tu phước; những người đó khi nghe được những lời này sẽ có thể phát sinh lòng tin và nhận ra đó là sự thật. Ta nên biết rằng những người ấy đã gieo trồng những hạt giống tốt không phải ở nơi một vị Bụt, hai vị Bụt, ba, bốn, năm vị Bụt mà thật đã gieo trồng những hạt giống lành ở nơi vô lượng ngàn muôn vị Bụt. Người nào chỉ trong một giây phút thôi, phát sinh được niềm tin thanh tịnh khi nghe những lời những câu ấy, thì Như Lai tất nhiên BIẾT được người ấy, THẤY được người ấy và người ấy sẽ đạt được vô lượng phước đức như thế. Vì sao? Vì những người như thế không còn kẹt vào những khái niệm về Ngã, về Nhân, Về Chúng Sanh, về Thọ Giả, về Pháp, về Không Phải Pháp, về Tướng và về Không Phải Tướng. Vì sao? Nếu còn chấp vào ý niệm Pháp thì còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả và nếu còn chấp vào ý niệm Không Phải Pháp, thì cũng vẫn còn kẹt vào tướng Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả như thường. Thế cho nên, đã không nên chấp vào Pháp mà cũng không nên chấp vào Không Phải Pháp. Vì vậy mà Như Lai đã mật ý nói: Này các vị khất sĩ, nên biết rằng Pháp tôi nói được ví dụ như chiếc bè, Pháp còn nên bỏ, huống là Không Phải Pháp”.

– Thầy Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao, Như Lai có đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác không? Như Lai có pháp gì để tuyên thuyết hay không?

Thầy Tu Bồ Đề thưa: “Theo con hiểu điều Bụt dạy thì chẳng có một pháp gì riêng biệt được gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác, cũng không có một pháp nào riêng biệt được Như Lai tuyên thuyết. Vì sao? Vì những pháp mà Như Lai đã chứng và đã nói thì không thể nắm bắt được, cũng không thể diễn tả được. Đó không phải là pháp cũng không phải là không pháp. Vì sao? Vì tất cả các bậc hiền thánh đều do pháp vô vi mà trở nên khác ngưòi”.

– Này Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Nếu có ngưòi đem bảy thứ châu báu nhiều cho đến nỗi chứa đầy cả thế giới tam thiên đại thiên này để bố thí, thì người ấy có phước đức nhiều hay không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Bạch Đức Thế Tôn, vì phước đức ấy trong tự thân chẳng phải là phước đức nên Như Lai mới nói là phước đức nhiều”.

– Nếu có người tiếp nhận và hành trì kinh này dù chỉ một bài kệ bốn câu trong kinh thôi rồi đem giảng nói cho người khác nghe thì phước đức của người này còn lớn hơn phước đức của người kia. Tại sao? Này Tu Bồ Đề, tất cả các đức Bụt và pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác của các đức Bụt, đều xuất phát từ kinh này. Này Tu Bồ Đề, cái gọi là pháp Bụt, cái đó chính là cái không phải pháp Bụt.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị Tu Đà Hoàn có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả Tu Đà Hoàn” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Tu Đà Hoàn có nghĩa là đi vào dòng mà thật ra không có dòng nào để đi vào cả. Không đi vào dòng sắc, cũng không đi vào dòng thanh, hương, vị, xúc và pháp. Vì vậy cho nên gọi là “đi vào dòng”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị Tư Đà Hàm có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả Tư Đà Hàm” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Tư Đà Hàm có nghĩa là một đi một trở lại mà thật ra không có sự đi cũng không có sự trở lại. Vì vậy cho nên gọi là tư Đà Hàm”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị A Na Hàm có nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả A Na Hàm” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? A Na Hàm có nghĩa là không trở lại. Mà thật ra làm gì có sự không trở lại? Vì vậy cho nên gọi là A Na Hàm”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Một vị A La Hán có thể nghĩ rằng: “Ta đã đắc quả A La Hán” không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Thật ra không có pháp nào riêng biệt được gọi là A La Hán. Bạch Thế Tôn, nếu một vị A La Hán nào khởi niệm rằng “Ta đã đắc quả A La Hán” thì vị đó còn chấp vào Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Bạch đức Thế Tôn, Thế Tôn thường nói con đã đạt tới Vô Tránh Tam Muội và trong Tăng thân, con là vị A La Hán ly dục đệ nhất. Thế Tôn, nếu con nghĩ rằng con đã đắc quả A La Hán thì chắc Thế Tôn đã không nói rằng Tu Bồ Đề là người ưa hạnh A Lan Na”.

Bụt hỏi thầy Tu Bồ Đề: “thuở xưa lúc còn theo học với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai có đắc pháp gì chăng?”.

– Bạch đức Thế Tôn, không. Ngày xưa khi còn ở với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai không có đắc pháp gì cả.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Bồ tát có trang nghiêm cõi Bụt chăng?

– Bạch Thế Tôn, không. Vì sao? Trang nghiêm cõi Bụt tức là không trang nghiêm cõi Bụt, vì vậy nên mới gọi là trang nghiêm cõi Bụt.

– Như thế đó, thầy Tu Bồ Đề, các vị Bồ Tát và đại nhân nên phát tâm thanh tịnh theo tinh thần ấy. Không nên dựa vào sắc mà phát tâm, cũng không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm. Chỉ nên phát tâm trong tinh thần vô sở trụ.

– Này thầy Tu Bồ Đề, ví dụ như có người có thân lớn như núi chúa Tu Di, thầy nghĩ sao? Thân ấy có lớn không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch đức Thế Tôn, lớn lắm. Vì sao? Cái mà Thế Tôn gọi là không phải thân lớn mới đích thực là thân lớn”.

– Thầy Tu Bồ Đề, ví dụ trong sông Hằng có bao nhiêu hạt cát là có bấy nhiêu dòng sông Hằng. Vậy thì cát của tất cả các sông Hằng ấy có nhiều không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Số lượng các sông Hằng đã là vĩ đại, huống là số lượng những hạt cát của các sông Hằng ấy”.

– Này Tu Bồ Đề, bây giờ tôi muốn hỏi thật thầy rằng, nếu có người con trai hay người con gái nhà lành nào đem châu báu chất đầy cả thế giới tam thiên đại thiên nhiều như cát của tất cả các sông Hằng kia mà bố thí thì phước đức có nhiều không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều”.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nếu người con trai hay người con gái nhà lành nào mà thọ trì kinh này dù chỉ một bài kệ bốn câu thôi và đem ra chia xẻ với người khác thì phước đức của người này còn nhiều hơn phước đức của người trước.

Còn nữa thầy Tu Bồ Đề, mảnh đất nào mà nơi đó có người thuyết kinh này, dù chỉ là thuyết một bài kệ bốn câu thôi, thì nên biết rằng mảnh đất ấy là nơi mà tất cả các giới Thiên, Nhân và A Tu La đều phải hướng về cúng dường như là cúng dường tháp miếu của Bụt. Một mảnh đất mà còn như thế, huống gì là bản thân người đứng ra hành trì và đọc tụng. Tu Bồ Đề ơi, thầy nên biết rằng, một con người như thế đã thành tựu được chuyện hiếm có tối thượng. Nơi nào mà có kinh này là nơi đó có mặt của bậc đạo sư, hoặc một vị đệ tử lớn của người”.

Lúc ấy thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt rằng: “Bạch Thế Tôn, nên đặt tên kinh này là kinh gì và chúng con nên phụng trì kinh này như thế nào?”.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Nên gọi kinh này là kinh Kim Cương có năng lực chặt đứt phiền não và đưa sang bờ giải thoát: (Năng Đoạn Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật kinh). Hãy dùng danh từ ấy mà phụng trì kinh này, vì sao? Cái mà Như Lai gọi là Bát Nhã Ba La Mật vốn không phải là Bát Nhã Ba La Mật cho nên mới thật sự là Bát Nhã Ba La Mật”.

Bụt hỏi: “Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có pháp để nói không?”.

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch Thế Tôn, Như Lai chẳng có gì để nói cả”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Cát bụi do tam thiên đại thiên thế giới nghiền ra có nhiều không?

– Nhiều lắm, bạch Thế Tôn.

– Này Tu Bồ Đề, những cát bụi ấy Như Lai gọi không phải là cát bụi cho nên mới thật sự là cát bụi. Cái mà Như Lai gọi là thế giới tức không phải là thế giới cho nên được gọi là thế giới. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua ba mươi hai tướng không?

– Bạch đức Thế Tôn, không. Vì sao? Vì cái mà Như Lai gọi là ba mươi hai tướng đều không phải là tướng, vì vậy cho nên Như Lai mới gọi là ba mươi hai tướng.

– Tu Bồ Đề, nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào đem thân mạng nhiều như số cát sông Hằng mà thực hiện việc bố thí, và nếu có một người con trai hoặc một người con gái nhà lành khác biết thọ trì và đem kinh này ra giảng cho kẻ khác, dù chỉ thọ trì và giảng dạy bốn câu thôi, thì phước đức của người này cũng nhiều hơn phước đức của người trước.

Nghe kinh này tới đây, thấm được nghĩa lý thâm sâu, thầy Tu Bồ Đề cảm động khóc rơi nước mắt. Thầy thưa: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thật là hiếm có, từ ngày theo Thế Tôn đạt được tuệ nhãn cho đến giờ, con chưa bao giờ được nghe  kinh điển thâm diệu như hôm nay. Thế Tôn, nếu có người nghe được kinh này mà có lòng tin thanh tịnh và đạt được cái thấy chân thật thì nên biết người ấy đã thực hiện được công đức hiếm có vào bậc nhất. Thế Tôn, cái thấy chân thật đó vốn không phải là cái thấy cho nên Như Lai mới gọi là cái thấy chân thực. Thế Tôn, ngày nay con nghe được kinh điển mầu nhiệm như thế này, được tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì kinh này cũng chưa phải là chuyện khó có lắm, nhưng trong tương lai, khoảng năm trăm năm về sau mà có người được nghe kinh này lại có thể tin, hiểu, tiếp nhận và hành trì thì chắc chắn sự có mặt của kẻ ấy là một sự hiếm có vào bậc nhất. Vì sao vậy? Vì những kẻ ấy sẽ không bị khống chế bởi khái niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả. Tại vì sao? Khái niệm về Ngã tức không phải là khái niệm, khái niệm về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả cũng không phải là những khái niệm. Vì sao? Vì thoát khỏi sự khống chế của các khái niệm cho nên có các vị Bụt”.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Đúng thế, đúng thế. Nếu có người được nghe kinh này mà không hoảng không sợ thì nên biết rằng những người như vậy rất là hiếm có. Tại sao? Này thầy Tu Bồ Đề ơi, cái mà Như Lai gọi là đệ nhất Ba La Mật vốn không phải là đệ nhất Ba La Mật cho nên mới được gọi là đệ nhất Ba La Mật .

Tu Bồ Đề, cái gọi là Nhẫn Nhục Ba La Mật, Như Lai nói không phải là Nhẫn Nhục Ba La Mật nên mới được gọi là Nhẫn Nhục Ba La Mật. Tại sao? Tu Bồ Đề này, trong một tiền kiếp xa xưa, khi bị vua Kalinga cắt đứt thân thể, ta đã không bị kẹt vào khái niệm về Ngã, không bị kẹt vào khái niệm về Nhân, về Chúng Sanh và về Thọ Giả. Vì nếu khi đó ta bị kẹt vào những khái niệm ấy thì ta đã sinh tâm oán hận Kalinga (Ca lợi Vương) mất rồi.

Lại nhớ đến thuở xưa khi ta còn tu tiên theo hạnh nhẫn nhục, trong suốt năm trăm kiếp, ta đã tu tập để không bị kẹt vào các khái niệm Ngã, Nhân, Chúng sanh và Thọ Giả. Vậy nên thầy Tu Bồ Đề ơi, bồ tát khi phát tâm bồ đề vô thượng thì nên buông bỏ tất cả các khái niệm, không nên dựa vào sắc mà phát tâm, không nên dựa vào thanh, hương, vị, xúc và pháp mà phát tâm, chỉ nên phát tâm vô trụ.

Như Lai đã nói tất cả các khái niệm đều không phải là khái niệm và tất cả các loài chúng sanh đều không phải là chúng sanh. Tu Bồ Đề, Như Lai là kẻ nói lời chính xác, là kẻ nói lời đúng với sự thật, là kẻ nói lời phù hợp với thực tại, là kẻ nói lời không dối trá, là kẻ chỉ nói một lời. Tu Bồ Đề, nếu có pháp mà Như Lai đã đắc thì pháp ấy không phải thật cũng không phải hư dối.

Tu Bồ Đề, nếu bồ tát còn dựa vào pháp mà thực hiện bố thí thì cũng như đi vào trong bóng tối, chẳng thấy được gì. Trái lại, nếu bồ tát không dựa vào pháp mà bố thí thì cũng như người có mắt đi trong ánh mặt trời, có thể thấy được tất cả mọi hình và mọi sắc.

Tu Bồ Đề, trong tương lai nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào mà có khả năng tiếp nhận, đọc tụng và hành trì kinh này thì người ấy sẽ được Như Lai nhìn thấy với con mắt trí tuệ của Người. Như Lai sẽ biết người ấy, sẽ thấy người ấy và người ấy sẽ thực hiện được công đức vô lượng vô biên.

Này thầy Tu Bồ Đề, nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào buổi sáng đem thân mạng mình ra nhiều như số cát sông Hằng mà bố thí, buổi trưa và buổi chiều cũng vậy, trong thời gian trăm ngàn vạn ức vô lượng kiếp, và nếu có một kẻ khác tuy không làm như thế, nhưng khi nghe đến kinh này thì đem lòng tin tưởng, không phản kháng lại thì phước đức còn nhiều hơn phước đức của người kia. Nghe mà đem lòng tin còn có phước đức lớn như vậy, huống hồ là biên chép, hành trì, đọc tụng và giải thích cho kẻ khác được nghe. Tu Bồ Đề, nói tóm lại thì kinh này có công đức vô biên, không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết cũng không thể đo lường. Nếu có người nào có khả năng thọ trì, đọc tụng và phổ biến cho người khác biết thì kẻ ấy sẽ được Như Lai thấy tới, biết tới và người ấy sẽ thực hiện được công đức không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết, không có biên giới, không có đo lường, không thể so sánh. Người như thế có thể gánh vác sự nghiệp vô thượng chánh đẳng chánh giác của Như Lai. Tại sao? Tu Bồ Đề này, nếu chỉ ưa thích pháp nhỏ, nếu còn vướng mắc vào Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả thì không có khả năng nghe, nhận, đọc tụng và giải thuyết cho kẻ khác. Tu Bồ Đề, bất cứ nơi nào mà có kinh này thì tất cả các giới Thiên, Nhân, A Tu La đều phải đến cúng dường, những nơi ấy đều được coi là bảo tháp cần được cung kính, hành lễ, đi quanh và cúng dường bằng hoa và bằng hương.

Này nữa thầy Tu Bồ Đề, nếu một người con trai hoặc một người con gái nhà lành nào đọc tụng và hành trì kinh này mà bị người khác chê bai phỉ báng thì người ấy sẽ tiêu trừ được các tội chướng trong các kiếp trước kể cả những tội chướng có thể đưa người kia rơi xuống các nẻo ác và sau đó sẽ thực hiện được quả vị chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, ta nhớ vô lượng a tăng kỳ kiếp về trước, trước khi được gặp Bụt Nhiên Đăng, ta đã từng gặp tám trăm bốn vạn ức na do tha các vị Bụt. Và với vị nào ta cũng đều có cúng dường và hầu cận. Nếu vào thời Mạt thế mà có người có khả năng đọc tụng và thọ trì kinh này thì phước đức đạt được còn lớn hơn hàng trăm ngàn vạn ức lần phước đức của ta ngày trước. Dùng thí dụ về toán số cũng không thể hình dung được phước đức ấy.

Tu Bồ Đề, vào thời Mạt thế, nếu có một người con trai hay một người con gái nhà lành nào thọ trì, đọc tụng kinh này thì công đức đạt được lớn cho đến nỗi nếu ta nói ra thì sẽ có người hoài nghi, không tin và tâm có thể trở nên cuồng loạn. Tu Bồ Đề, nên biết: nghĩa lý của kinh này không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết và hoa trái của sự thọ trì kinh này cũng không thể nghĩ cho cùng, không thể nói cho hết”.

Lúc ấy, thầy Tu Bồ Đề thưa với Bụt: “Thế Tôn, con xin phép được hỏi lại: người con trai hiền hoặc người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác thì nên dựa vào đâu và nên hàng phục tâm mình như thế nào”.

Bụt bảo: “ Thầy Tu Bồ Đề, người con trai hiền hoặc người con gái hiền nào muốn phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác, thì nên phát tâm như thế này: ta phải đưa hết tất cả chúng sanh qua bờ giác ngộ nhưng khi đưa tất cả những chúng sanh qua bờ giác ngộ rồi thì ta chẳng thấy có chúng sanh nào được giác ngộ cả. Vì sao thế? Này thầy Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát mà còn vướng vào các khái niệm về Ngã, Nhân, Chúng Sanh và Thọ Giả thì vị ấy chưa phải là vị Bồ Tát chân thật. Tại sao như thế?

Tu Bồ Đề, thật ra chẳng có pháp gì riêng biệt gọi là tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác để mà phát ra cả. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Ngày xưa khi còn ở với Bụt Nhiên Đăng, Như Lai có đắc pháp gì gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác hay không?”

– Bạch đức Thế Tôn, không. Theo cách con hiểu lời Bụt dạy thì không có pháp gì sở đắc gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác.

Bụt dạy: “Đúng như thế, đúng như thế! Này Tu Bồ Đề, thật ra không có pháp gì gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai có đắc. Nếu có thì Bụt Nhiên Đăng đã không thọ ký cho ta như thế này: “Sau này ngươi sẽ thành Bụt hiệu là Thích Ca Mâu Ni”. Chính vì không có pháp có thể sở đắc gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác cho nên Bụt Nhiên Đăng mới nói với ta như thế. Vì sao? Như Lai có nghĩa là chân như của các pháp. Nếu có người nói Như Lai đắc pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác thì người đó lầm: chẳng có pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác có thể đắc. Tu Bồ Đề, pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Như Lai đắc ấy, thật ra không phải thật cũng không phải hư. Cho nên Như Lai đã từng nói: tất cả các pháp đều là pháp Bụt. Cái mà ta gọi là tất cả các pháp thật ra không phải là tất cả các pháp cho nên mới gọi là tất cả các pháp. Tu Bồ Đề, cũng ví dụ như thân người cao lớn”.

Tu Bồ Đề thưa: “Cái mà Như Lai gọi là thân người cao lớn, chẳng phải là thân người cao lớn”.

– Tu Bồ Đề, Bồ Tát cũng thế, nếu một vị Bồ Tát nghĩ rằng ta phải độ tất cả chúng sanh thì vị ấy chưa phải là vị Bồ Tát. Vì sao? Tu Bồ Đề này, không có pháp gì riêng biệt được gọi là Bồ Tát cả. Cho nên Bụt đã nói tất cả các pháp đều không có Ngã, không có Nhân, không có Chúng Sanh, không có Thọ Giả. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nghĩ “ta phải trang nghiêm đất Bụt” thì người đó chưa phải là Bồ Tát. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là trang nghiêm đất Bụt vốn không phải là trang nghiêm cho nên mới gọi là trang nghiêm. Tu Bồ Đề, nếu một vị Bồ Tát nào thông đạt được lý vô ngã vô pháp thì Như Lai gọi người đó là một vị Bồ Tát đích thực.

– Tu Bồ Đề thầy nghĩ sao, Như Lai có mắt thịt không?

Thầy Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt thịt”.

Bụt hỏi: “Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt trời hay không?”.

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt trời”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt tuệ không?

Tu Bồ Đề thưa: “Bạch có, Như Lai có mắt tuệ”.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Như Lai có mắt pháp không?

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai có mắt pháp”.

Bụt hỏi: “Như Lai có mắt Bụt không?”.

– Bạch Thế Tôn, có. Như Lai có mắt Bụt.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Cát trong sông Hằng, Bụt có thấy là cát không?

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, Như Lai cũng gọi cát là cát vậy”.

– Tu Bồ Đề thầy nghĩ sao, nếu mỗi hạt cát trong sông Hằng là mỗi sông Hằng, thì số lượng thế giới Bụt nhiều như số cát trong tất cả những sông Hằng ấy có nhiều không?

– Bạch Thế Tôn, rất nhiều.

Bụt bảo thầy Tu Bồ Đề: “Trong tất cả các thế giới ấy có đủ tất cả các loài chúng sinh mà tâm lý các chúng sinh ấy cũng có đủ loại. Vậy mà loại tâm lý nào trong số ấy Như Lai cũng đều biết hết. Tại sao? Tu Bồ Đề, tại vì cái mà Như Lai gọi là các loại tâm ý đều không phải là các loại tâm ý, cho nên mới gọi là các loại tâm ý. Vì sao vậy? Tu Bồ Đề, tâm quá khứ không nắm bắt được, tâm hiện tại không nắm bắt được, mà tâm vị lai cũng không nắm bắt được.

Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Nếu có người đem châu báu nhiều cho đến nỗi phải chất đầy cả thế giới tam thiên đại thiên mà bố thí thì người đó có được nhiều phước đức không?”.

– Bạch đức Thế Tôn, được phước đức rất nhiều.

– Này thầy Tu Bồ Đề, nếu phước đó là phước đức thật thì Như Lai đã không nói là người ấy đạt được nhiều phước đức. Chính vì phước đức ấy vốn không có thực thể cho nên Như Lai mới nói người ấy đạt được phước đức nhiều. Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua sắc thân đầy đủ không?

– Bạch không, cái mà Như Lai gọi là sắc thân đầy đủ thì không phải là sắc thân đầy đủ cho nên mới gọi là sắc thân đầy đủ.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có thể nhận diện Như Lai qua tướng mạo đầy đủ không?

– Thưa Thế Tôn, không. Không thể nhận diện Như Lai qua tướng mạo đầy đủ. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là tướng mạo đầy đủ thì không phải là tướng mạo đầy đủ cho nên mới gọi là tướng mạo đầy đủ.

– Tu Bồ Đề, thầy đừng bảo rằng Như Lai có ý niệm: ta sẽ thuyết pháp. Đừng nghĩ như thế. Vì sao? Nếu có người nghĩ rằng Như Lai có pháp để nói tức là người đó phỉ báng Bụt vì lẽ người đó không hiểu được điều ta nói. Tu Bồ Đề, thuyết pháp có nghĩa là không có pháp nào được nói, như vậy gọi là thuyết pháp.

Lúc đó huệ mạng Tu Bồ Đề bạch với Bụt rằng: “Thế Tôn, đời sau khi được nghe pháp này chúng sanh có thể phát sanh lòng tin hay không?”.

Bụt dạy: “Tu Bồ Đề, những chúng sanh đó không phải là chúng sanh mà cũng không phải là không chúng sanh. Vì sao thế? Tu Bồ Đề, cái mà Như Lai gọi là không phải chúng sanh mới thực sự được gọi là chúng sanh”.

Tu Bồ Đề bạch Bụt: “Thế Tôn, pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác mà Bụt đắc có phải là cái vô sở đắc?”.

Bụt nói: “Đúng thế, Tu Bồ Đề, đối với vô thượng chánh đẳng chánh giác ta chẳng có một chút xíu nào pháp sở đắc, cho nên mới gọi nó là vô thượng chánh đẳng chánh giác”.

– Này nữa, thầy Tu Bồ Đề! Pháp ấy bình đẳng, không có cao thấp nên gọi là vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu tập tất cả các thiện pháp theo tinh thần vô ngã, vô nhân, vô chúng sanh, vô thọ giả thì đạt được quả vô thượng chánh đẳng chánh giác. Tu Bồ Đề, cái gọi là thiện pháp thì Như Lai bảo không phải là thiện pháp, cho nên đó mới thật là thiện pháp.

– Tu Bồ Đề, giá dụ có người tom góp bảy thứ châu báu chứa đầy từng đống cao như tất cả các núi Tu Di trong thế giới tam thiên đại thiên này để mà bố thí thì công đức của những người ấy đem so với công đức của những người đọc tụng và thọ trì kinh Kim Cương Năng Đoạn này rồi đem giảng nói cho người khác nghe thì trăm phần không được một, trăm ngàn vạn ức phần không được một. Phước đức của người hành trì kinh, dù chỉ là hành trì một bài kệ bốn câu, cũng không thể nào dùng ví dụ hay toán học để mà diễn tả nổi.

– Tu Bồ Đề, các vị đừng có bảo rằng Như Lai có ý niệm “ta sẽ độ chúng sanh”. Tu Bồ Đề, đừng nghĩ như thế. Tại sao vậy? Sự thật thì không có chúng sanh nào để cho Như Lai độ. Nếu Như Lai nghĩ là có thì Như Lai đã vướng vào khái niệm Ngã, khái niệm Nhân, khái niệm Chúng Sanh và Thọ Giả rồi. Tu Bồ Đề, cái mà Như Lai nói là có ngã vốn không phải là có ngã mà người phàm phu cho là có ngã. Này Tu Bồ Đề, kẻ phàm phu đó, Như Lai không cho đó là phàm phu cho nên mới gọi họ là phàm phu.

– Tu Bồ Đề, thầy nghĩ sao? Có nên quán tưởng Như Lai qua ba mươi hai tướng không?

Tu Bồ Đề nói: “Thưa vâng, thưa vâng, phải dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”.

Bụt nói: “Nếu nói lấy ba mươi hai tướng mà quán Như Lai thì một vị Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Như Lai sao?”.

Tu Bồ Đề nói: “Thế Tôn, con hiểu lời Bụt dạy rồi, không nên dùng ba mươi hai tướng mà quán Như Lai”.

Lúc bấy giờ Thế Tôn nói lên bài kệ này:

Tìm ta qua hình sắc

Cầu ta qua âm thanh

Là kẻ hành tà đạo

Không thể thấy Như Lai

– Tu Bồ Đề, thầy đừng nghĩ rằng Như Lai đạt tới vô thượng chánh đẳng chánh giác mà không cần tới các tướng đầy đủ. Tu Bồ Đề, đừng nghĩ như thế. Tu Bồ Đề! Thầy đừng nghĩ là khi phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác ta phải coi các pháp là hư vô, đoạn diệt. Đừng có nghĩ như thế. Kẻ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác không chủ trương rằng các pháp là hư vô đoạn diệt.

– Tu Bồ Đề, nếu có một vị bồ tát đem bảy thứ châu báu nhiều cho đến nỗi chất đầy cả các thế giới nhiều như cát sông Hằng mà bố thí thì công đức ấy cũng không lớn bằng công đức của một người đã hiểu được rằng tất cả các pháp đều là vô ngã và chấp nhận được sự thực đó một cách hoan hỷ. Vì sao? Tu Bồ Đề! Vì bồ tát không cần phải tom góp phước đức.

Tu Bồ Đề bạch Bụt: “Thế Tôn, bồ tát không cần tom góp phước đức nghĩa là sao?”.

– Tu Bồ Đề, bồ tát tạo phước đức mà không vướng mắc vào ý niệm tạo phước đức cho nên ta mới nói là bồ tát không cần tom góp phước đức.

– Tu Bồ Đề, nếu có kẻ nói: “Thế Tôn có tới, có đi, có ngồi, có nằm”, kẻ ấy không hiểu được điều ta nói. Tại sao? Như Lai có nghĩa là không từ đâu tới cả và cũng không đi về đâu cả, cho nên gọi là Như Lai.

– Tu Bồ Đề, nếu có người con trai hay người con gái nhà lành nào đem thế giới tam thiên đại thiên nghiền thành bụi nhỏ thì thầy nghĩ sao? Bụi nhỏ như thế có nhiều không?

Tu Bồ Đề nói: “Bạch Thế Tôn, rất nhiều. Vì sao? Nếu bụi nhỏ mà có thật thì Bụt đã không gọi chúng là bụi nhỏ. Vì sao? Cái mà Bụt gọi là bụi nhỏ vốn không phải là bụi nhỏ cho nên nó mới là bụi nhỏ. Thế Tôn! Cái mà Như Lai gọi là thế giới tam thiên đại thiên, nó không phải là thế giới cho nên mới gọi là thế giới. Vì sao? Nếu thế giới mà có thật thì đó là một hợp tướng. Cái mà Như Lai gọi là một hợp tướng vốn không phải là một hợp tướng cho nên gọi là một hợp tướng”.

– Tu Bồ Đề! Cái gọi là hợp tướng chỉ là một ước lệ ngôn ngữ không có thực chất. Chỉ có kẻ phàm phu mới bị vướng mắc vào đó mà thôi.

– Tu Bồ Đề, nếu có kẻ bảo Bụt có nói về ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến, kẻ ấy có hiểu được ý ta không?

– Thưa không, Thế Tôn. Kẻ ấy không hiểu được ý Như Lai. Vì sao? Cái mà Như Lai gọi là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến vốn không phải là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến, cho nên mới là ngã kiến, nhân kiến, chúng sanh kiến và thọ giả kiến.

– Tu Bồ Đề! Kẻ phát tâm vô thượng chánh đẳng chánh giác phải biết như thế về tất cả các pháp, phải thấy như thế về tất cả các pháp, phải tin hiểu như thế về tất cả các pháp, mà không nên có khái niệm về pháp. Tu Bồ Đề! Cái gọi là khái niệm về pháp Như Lai nói không phải là khái niệm về pháp, cho nên mới gọi là khái niệm về pháp.

Tu Bồ Đề, nếu có người đem bảy thứ châu báu số lượng lớn đến nỗi chứa đầy các thế giới nhiều tới vô lượng a tăng kỳ để bố thí thì phước đức cũng không bằng phước đức của một người con trai hay một người con gái nhà lành khi người này phát tâm bồ đề, đọc tụng thọ trì kinh này và đem giải thuyết cho người khác nghe, dù chỉ là một bài kệ bốn câu trong ấy. Giải thuyết theo tinh thần nào? Giải thuyết mà không kẹt vào tướng, như như và không động chuyển. Vì sao thế?

Tất cả pháp hữu vi

Như mộng, huyễn, bào, ảnh

Như sương, như chớp lòe

Hãy quán chiếu như thế.

Sau khi nghe bụt nói kinh này, thượng tọa Tu Bồ Đề và các vị khất sĩ, nữ khất sĩ, Ưu bà tắc, Ưu bà di và tất cả các giới Trời, Người, A Tu La đều rất hoan hỷ, tin tưởng tiếp nhận để thực hành.