Người vô sự – bình giảng: Tinh Yếu Lâm Tế Lục

NGƯỜI VÔ SỰ
_________________________________

Thích Nhất Hạnh – Phần bình giảng: Tinh Yếu Lâm Tế Lục
_________________________________

Tinh yếu tức là phần cốt lõi. Tinh yếu ở đây có nghĩa là trái tim.

Trong Lâm Tế Lục, Tổ có nói rằng mục đích của Tổ là đánh phá, trị bệnh và cởi trói. Như vậy thì mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và mắc kẹt vào đấy. Vì vậy nếu ta học Lâm Tế Lục với mục đích tìm cầu những tư tưởng uyên áo để đàm luận và để mắc kẹt vào chúng là ta đã đi ngược với ý của Tổ. Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay Tịnh Độ…, trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập.

Đoạn văn trên có nghĩa là những điều dạy trong Lâm Tế Lục không phải là một sự tập hợp của những giáo điều. Giáo điều, tiếng Anh là dogma. Điều này rất quan trọng. Những điều Tổ nói không được coi như là khuôn vàng thước ngọc để thờ phụng mà chỉ là những dụng cụ, những biện pháp để đánh phá, trị bệnh và cởi trói. Điều này rất đúng với tinh thần đạo Bụt. ‘Không được xem những điều Bụt dạy là chân lý tuyệt đối để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động để gây ra thánh chiến’. Đó là nội dung giới thứ nhất của mười bốn giới Tiếp Hiện. Giáo lý về vô thường, vô ngã và tương tức không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ mà đó là những dụng cụ để chúng ta tự cởi trói cho mình. Khi học giáo lý vô thường, vô ngã và tương tức, chúng ta chỉ mới học qua ý niệm về vô thường, vô ngã và tương tức mà chưa phải là có tuệ giác. Chúng ta đừng lầm cái hiểu và cái ý niệm của chúng ta về vô thường, vô ngã và tương tức là những tuệ giác về vô thường, vô ngã và tương tức. Hai cái rất khác nhau. Những cái mà chúng ta học được và đem đi nói tùm lum đó, không phải là tuệ giác. Đó chỉ là những dụng cụ Bụt đưa ra để chúng ta sử dụng trong thiền quán và thực tập. Ví dụ, Bụt đưa cho chúng ta một cây cuốc để cuốc đất trồng khoai, để có khoai ăn. Mục đích là có khoai, chứ không phải là lấy cái cuốc đem để trên bàn thờ để thờ. Cái cuốc không bao giờ làm cho mình no được hết, mà ta phải biết dùng cái cuốc để cuốc đất trồng khoai. Cho nên quan trọng nhất là khoai mình trồng ra để ăn, chứ không phải là cái cuốc. Cái cuốc chỉ là một dụng cụ thôi. Giáo lý đạo Bụt cũng vậy, là những dụng cụ cho chúng ta sử dụng để khơi mở tuệ giác. Mục đích của giáo lý là những phương tiện mà những phương tiện đó là để đánh phá, khơi mở và chỉ bày. Ví dụ như ngón tay chỉ mặt trăng. Ta thấy rõ ràng ngón tay không phải là mặt trăng, nhưng nếu không có ngón tay thì ta không biết phương hướng để nhìn về mặt trăng. Nhờ ngón tay mà ta nhìn thấy được mặt trăng. Vì vậy những điều Bụt dạy phải coi như là những phương tiện, những chiếc bè để đưa ta qua bờ bên kia. Nhưng chiếc bè không phải là bờ bên kia, có được chiếc bè trong tay rồi không có nghĩa là ta đã qua được bờ bên kia.

Ngay câu đầu tiên này đã nói lên được tinh thần của Tổ Lâm Tế rồi. Ngài dặn rằng, những điều Bụt dạy đó là để đánh phá: đánh phá thành trì của sự cố chấp, đánh phá các chứng bệnh gọi là bệnh không tiêu, bệnh không có đức tin, bệnh đi tìm kiếm ở ngoài. Đánh phá để cởi trói cho ta từ những kiến thức, những thành kiến, những nhận thức sai lạc làm ta không cựa quậy được. Những điều Tổ nói có công dụng như vậy. Bất cứ một điều nào, một câu nói nào, hay một biện pháp nào có thể giúp ta đánh phá được thành trì của sự ngu dốt, của sự cố chấp, trị được bệnh và giúp cho ta thảnh thơi, đều là Phật Pháp, cho dù đó là của Tổ nói hay của bất cứ một người nào nói. Tuy vậy, chúng ta cũng không nên coi đó là khuôn vàng thước ngọc, không được coi là đối tượng của sự thờ phụng, không được coi là chân lý tuyệt đối. Có chiến tranh, có hận thù, phần lớn là do cuồng tín và cố chấp vào một cái thấy, một cái hiểu của mình, và cho đó là chân lý tuyệt đối. Vì vậy ta cho rằng người nào không theo ta là người đó đi theo con đường tà và đáng để cho ta tiêu diệt. Nếu ta là người Tiếp Hiện xuất gia hay tại gia thì ta phải thấy rằng giới đầu tiên của mười bốn giới Tiếp Hiện đã nói lên thái độ tự do, phá chấp của đạo Bụt rồi.

Như vậy, mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và bị mắc kẹt vào. Tư tưởng uyên áo tức là những tư tưởng rất sâu xa, rất mầu nhiệm, rất khó hiểu. Chữ mystical thought không dịch được mấy chữ tư tưởng uyên áo. Mystical là thần bí. Tư tưởng uyên áo không phải chỉ có thần bí mà thôi. Trong khi học một kinh hay đọc một bài triết học, ta có khuynh hướng cho rằng trong kinh đó hay trong bài triết học đó có những tư tưởng rất sâu, rất khó hiểu, nó đại diện cho chân lý tuyệt đối, và mục đích của ta là phải nắm cho được những tư tưởng đó, hiểu những tư tưởng đó, vì vậy ta đã để hết tâm trí vào việc đào bới và nắm cho được những tư tưởng đó.

Thái độ đi tìm kiếm những tư tưởng uyên áo để chất chứa làm kho tàng gia bảo của mình, làm kiến thức của mình là thái độ không nên có trong khi đọc Lâm Tế Lục. Nhưng phần lớn chúng ta đều học hỏi với tinh thần đó. Chúng ta đi kiếm chác chân lý, kiếm chác những tư tưởng uyên áo trong kinh điển để chất chứa mà chúng ta không đi tìm thuốc để trị bệnh. Thành ra trong chữ uyên áo này có cái ý profound, mysterious, complicated, precious, absolute. Nếu đọc Lâm Tế Lục với ý niệm đi tìm những tư tưởng uyên áo để chất chứa vào kho kiến thức của mình là sai. Mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và mắc kẹt vào đó.

Hiện nay bên Tàu, bên Nhật, bên Việt Nam và bên Đại Hàn người ta đang học Lâm Tế Lục như đang nghiên cứu một văn bản rất bí hiểm: phân tích từng chữ, từng câu và đàm luận rất nhiều. Đó chính là chuyện Tổ kỵ nhất, ghét nhất. Rất tội nghiệp cho Tổ cũng như rất tội nghiệp cho Bụt. Những điều Bụt dạy trong các kinh điển rất đơn giản, rất thực tế, nhưng đến khi tập hợp lại những điều đó thì ta lại viết ra thành những bộ sách rất khó hiểu. Khi đọc kinh, ta thấy quá dễ dàng, quá đơn giản, nhưng đến khi đọc luận (abhidharma) thì ta thấy ‘trời ơi là nhức cái đầu’, rất khó chịu. Giống như một sợi tóc chẻ ra làm tám, rồi lấy một phần tám chẻ ra làm tám nữa, rất chi chít và rất mệt. Văn học abhidharma đã rất khô khan. Đáng lý nền văn học abhidharma là để hệ thống hóa và làm cho nền văn học của khế kinh (sutra) dễ hiểu hơn. Nhưng ngược lại, nền văn học abhidharma đã làm cho nền văn học sutra bí hiểm hơn, rắc rối hơn và khó hiểu hơn. Thành ra phận sự của ta là phải đánh phá, phải cởi trói và phải trả lại cho đạo Bụt tính đơn giản (simplicity), tính tự nhiên, tính thực dụng của nó. Đã có rất nhiều người Phật tử đi sâu vào trong công trình nghiên cứu và suy tư, và đã làm cho giáo lý đạo Bụt trở thành một cái gì rất rắc rối. Họ gọi đó là uyên áo, cho đó là mầu nhiệm, mà họ không biết là họ đã làm mất thì giờ của rất nhiều thế hệ học giả và hành giả sau này. Vì vậy, nếu ta học Lâm Tế Lục với mục đích tìm cầu những tư tưởng uyên áo để đàm luận và để mắc kẹt vào là chúng ta đã đi ngược với ý của Tổ.

Đây là một tiếng chuông chánh niệm. Nếu trong khi đọc Lâm Tế Lục mà ta thấy rã ra những khối u mê, ta thấy được chứng bệnh gọi là mắc kẹt, gọi là tiêu hóa không thông bắt đầu được giải tỏa, thì chúng ta biết rằng chúng ta đang học Lâm Tế Lục đúng. Còn nếu càng đọc càng thấy khó, càng đọc càng thấy nhức đầu, đó là ta đang học sai.

Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay Tịnh ?ộ…, trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập.

Thi thiết là đặt bày ra. Đặt bày ra với mục đích là giúp người ta hiểu. Ví dụ như khi giảng về tái sinh và luân hồi, ta lấy ra một cây đèn cầy và một tờ giấy rồi đốt tờ giấy đó, và nói là tờ giấy vô sinh bất diệt v.v…, thì tất cả những điều đó đều là thi thiết. Thi thiết tức là những phương tiện quyền xảo (skillful means). Tổ dạy ta là đừng bị kẹt vào những phương tiện quyền xảo đó. Tất cả những danh từ, những ngôn ngữ, những hình ảnh ta đưa ra là muốn giúp cho người kia thấy được sự thật (nhưng người kia có thể bị kẹt vào những ngôn ngữ, hình ảnh, hay tư tưởng đó), cho nên ta phải khéo léo và người nghe cũng phải khéo léo thì mới không sinh ra tình trạng hiểu lầm rồi bị mắc kẹt.

Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay Tịnh ?ộ…, trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Đó chỉ là chữ nghĩa, chỉ là những ý niệm. Khi đưa một ngón tay để chỉ mặt trăng, người đưa ra ngón tay có thiện ý giúp cho người kia thấy được mặt trăng, nhưng nếu người kia nhận lầm ngón tay là mặt trăng, thì có sự thất bại. Sự thất bại của người đưa ngón tay và sự thất bại của người nhìn ngón tay. Lúc đó ngón tay trở thành ngục tù giam hãm người kia. Nếu người kia nắm lấy ngón tay và nghĩ rằng đây là mặt trăng, thì người kia bị rơi vào bẫy sập. Vì vậy tất cả những lời Bụt dạy, tất cả những lời Tổ dạy, dù hay cách mấy, dù khéo cách mấy cũng có thể trở thành những ngục tù, những bẫy sập.

Ý niệm này được diễn tả rất khéo léo trong Kinh Xà Dụ, tức là Kinh Người Bắt Rắn. Đức Thế Tôn nói: ‘Giáo lý của ta quý vị phải học hỏi thông minh, áp dụng một cách khéo léo thì mới đưa lại lợi lạc cho quý vị. Còn nếu quý vị không khéo léo, không thông minh thì những giáo lý ấy có thể hại quý vị, có thể trở thành những bẫy sập, những ngục tù cho quý vị. Cũng như một người bắt rắn biết dùng nạng đè lên cổ nó, rồi lấy tay nắm vào cổ nó thì nó không làm được gì ngu+o+`i ?ó; còn nếu nắm lấy đuôi của nó thì thế nào nó cũng quay lại mổ ngu+o+`i ?ó chết’. Chưa có một vị giáo chủ nào, một bậc thầy nào dám ví giáo lý của mình như một con rắn, có thể nguy hiểm. Dù đó là Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Ngũ Căn, Ngũ Lực, Thất Bồ Đề Phần, Bát Thánh Đạo Phần, cũng có thể nguy hiểm nếu không học hỏi một cách thông minh, nếu biến những giáo lý thành những giáo điều để thờ phụng. Đó là thông điệp của kinh Người Bắt Rắn, và đó cũng là thông điệp của kinh Kim Cương. Kinh Kim Cương là sự tiếp nối của kinh Người Bắt Rắn. Kinh Kim Cương là kinh Đại Thừa, còn kinh Người Bắt Rắn là kinh Nguyên Thỉ. Câu nói nổi tiếng của kinh Kim Cương là: ‘Giáo lý của ta cũng như chiếc bè để đi qua sông, mình phải có khả năng buông bỏ chiếc bè và đừng có cho chiếc bè là bờ bên kia. Cái gọi là Pháp mà còn phải buông bỏ huống hồ những cái không phải là Pháp’. Pháp thượng vị xả hà huống phi pháp (Pháp đích thật mà còn phải buông bỏ, huống hồ không phải là Pháp đích thật). Câu nói đó là một câu rất nổi tiếng của kinh Kim Cương. Tư tưởng đó nằm ngay ở trong kinh Người Bắt Rắn, một kinh Nguyên Thỉ. Một kinh được coi là kinh Tiểu thừa nhưng lại là mẹ của kinh Đại thừa bởi vì trong đó có tất cả những tư tưởng uyên áo của kinh Đại thừa. Đó là kinh nói về sự phá chấp, nói về phương pháp học hỏi và thực tập sao cho thông minh để đừng bị kẹt vào những cái bẫy sập của các bậc thầy. Các bậc thầy nói ra điều gì, ta đừng có mù quáng tin theo và cho đó là khuôn vàng thước ngọc. Ta phải dùng trí tuệ của mình để hiểu một cách thông minh và đem áp dụng một cách thông minh thì lúc đó ta mới là học trò giỏi.

Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập. Điều này rất rõ. Bụt, Pháp và Tăng là ba danh từ. Khi nghe nói Bụt, Pháp và Tăng, ta cúi đầu, chắp tay lại, quỳ xuống, và nghĩ ngay đến Bụt, Pháp và Tăng là ở trên mây hay ở mười phương thế giới, còn ở trong ta chẳng có gì hết. Lúc đó là ta đã rơi vào bẫy sập rồi. Nghe nói Tịnh Độ ở Phương Tây, ta hướng về phương đó nói: ‘Thôi, mình phải phát tâm nhàm chán cõi Ta Bà này để sau khi chết qua bên đó cho khỏe’. Nói như vậy là rơi vào bẫy sập rồi. Mà bẫy sập giăng ra khắp nơi và bước một bước là ta có thể rơi vào bẫy sập liền lập tức.

Hiện bây giờ có rất nhiều siêu thị: siêu thị tâm linh, siêu thị tôn giáo v.v…, mà ở đó bày ra biết bao nhiêu món hàng, biết bao nhiêu bẫy sập, ta chỉ cần động chân một cái là rớt vào một cái bẫy, và có thể rơi vào cái bẫy đó suốt đời. Rất nguy hiểm. Cho nên tinh thần của Tổ là tinh thần phá chấp, tinh thần bảo tồn tự do để đừng bị rơi vào những bẫy sập. Tổ Huệ Năng nói: ‘Tự quy y Phật’ – con về nương Bụt trong con. Đó là một cách chữa lại để giúp ta thoát ra khỏi bẫy sập. Cho rằng Bụt ở ngoài ta, ta cần sự nương tựa và ta phải đi kiếm sự nương tựa đó ở bên ngoài, còn trong ta thì không có gì để nương tựa hết. Đó là rơi vào bẫy sập rồi. Cho nên ‘về nương Bụt trong con’ là để thấy được trong ta có tự tánh Bụt và ta có thể Quy Y được nơi tuệ giác đó, nơi sự vững chãi đó, nơi hải đảo tự thân đó. ?ó là một cách cứu chúng ta thoát khỏi một trong những cái bẫy sập. Vậy thì ta nên hỏi là ta có đang ở trong những cái bẫy sập hay không? Ta có phải là con người tự do hay không?

Các vị đã thọ giới Tiếp Hiện, đã tụng giới Tiếp Hiện năm này sang năm khác, quý vị có thấy tinh thần này ở trong những giới đầu của mười bốn giới Tiếp Hiện hay không? Chúng ta đọc mỗi tháng hai lần, nhưng có thể chúng ta không thấy được chiều sâu của những điều này. Chúng ta đọc như những con vẹt mà không thấy được tinh thần phá chấp, không thấy được bầu trời bao la của tự do ở trong đạo Bụt. Không được vướng vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào dù là những giáo nghĩa Bụt dạy. Có tôn giáo nào, có truyền thống nào dám nói rằng ‘đừng có tin mù quáng vào kinh điển của tôi, tin mù quáng vào kinh điển của tôi có thể là nguy hiểm’ không? Nhưng trong đạo Bụt các thầy đã nói như vậy đó. Nói rằng kinh điển có thể là con rắn, không khéo là nó có thể trở lại cắn mình.

Tinh thần phá chấp trong đạo Bụt là nét rất đặc thù của truyền thống Phật Giáo. Tự do này không phải là thứ tự do chính trị, tự do này lớn hơn nhiều. Đó là tự do nhận thức, tự do đối với những ý niệm, những lý thuyết, những chủ nghĩa. Những lý thuyết, những chủ nghĩa là những nhà tù rất lớn, nó giam hãm không phải một người, hai người mà là hàng trăm triệu người. Nó làm cho hàng trăm triệu người ngất ngư trong vòng hai chục năm, ba chục năm, bảy chục năm, mà chưa có cơ hội giải tỏa. Rất dễ sợ. Liên bang Xô Viết là một ví dụ. Liên bang Xô Viết bị giam hãm trong ngục tù của ý thức hệ Mác Xít bảy mươi năm, đã tạo ra rất nhiều bi kịch cho chính người dân ở trong nước. Người nào không tin vào chủ nghĩa thì bị đày, bị phạt, bị đưa vào nhà thương điên và cho rằng bi. điên mà thực tế ho. không hề điên gì hết. Đảng không thể chấp nhận được những người nói ngược lại đường lối, chủ thuyết của Đảng. Để tiêu diệt người đó, Đảng nói người đó bi. be^.nh tâm tha^`n và yêu ca^`u bác sĩ ký một tờ giấy xác nhận là ông này bi. tâm tha^`n, cần phải đưa vào bệnh viện tâm tha^`n để điều trị. Biết bao nhiêu người đã bị đưa vào bệnh viện tâm tha^`n. Đó là hậu quả của thái độ cuồng tín và cố chấp. Vì vậy mục đích đầu tiên của giáo lý và sự thực tập của đạo Bụt là để công phá thành trì của cuồng tín và cố chấp. Cho nên mục đích của Tổ là đánh phá, mà đánh phá bằng những phương tiện quyền xảo, và Lâm Tế Lục là thứ vũ khí rất lợi hại.

Khi nghe một điều gì hay học một cái gì, ta có khuynh hướng muốn nắm lấy điều đó, giữ lấy cái đó, chứa chấp nó và coi như của gia bảo. Đến khi nghe người khác nói khác cái ta vừa mới học thì ta chịu không nổi, vì ta đã đồng nhất ta với ý niệm đó, giáo lý đó. Ta đã bị rơi vào trong bẫy sập. Nhưng nếu có người đến tìm cách tháo bẫy sập cho ta, ta lại giận người đó, trách người đó: ‘Tại sao tôi đang yên lành trong bẫy sập của tôi mà ông lại tới móc tôi ra khỏi làm gì?’ Sự thật là sau khi ta thoát ra khỏi cái bẫy sập này, ta có thể lại rơi vào một cái bẫy sập khác. Vì vậy con đường tâm linh có rất nhiều chướng ngại và nguy hiểm mà nếu không có minh sư, không có bạn lành thì ta có thể bị kẹt rất nhiều lần. Do đó ta phải có thái độ phóng khoáng, sẵn sàng học hỏi, sẵn sàng buông bỏ. Và thiện tri thức là để giúp ta vào những lúc đó.

Liên bang Xô Viết đã ôm lấy lý thuyết chủ nghĩa Mác xít trong vòng bảy mươi năm, đã tạo ra biết bao nhiêu khổ đau, bế tắc, và cho đến một ngày mới thấy rõ ràng là ho. đã bỏ ra bảy mươi năm một cách rất oan uổng. Trong bảy mươi năm đó họ vẫn tin tưởng rằng con đường này là con đường duy nhất để đưa tới sự phồn vinh của dân tộc và của đất nước, ngoài ra không còn con đường nào khác. Người học đạo cũng vậy. Người học đạo cũng có thể giam mình bảy mươi năm trong một cái bẫy sập. Xin quý vị nghĩ lại và đặt câu hỏi rằng: Mình có đang ở trong một cái bẫy sập hay không? Mình có đang mắc vào những tiện nghi trong cái bẫy sập đó của mình hay không?

Ta không nên đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng, lầu các của Di Lặc ngoài ta. Ta phải chấm dứt mọi tìm cầu. Phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân trong giây phút hiện tại. Bản thân trong giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những gì ta muốn tìm cầu: pháp thân, bát nhã, giải thoát, Bụt, Tổ và các cõi nước trang nghiêm. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó. Nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói có diệu dụng nhận diện và tiếp xúc với mọi mầu nhiệm của sự sống: Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ biểu hiện thành sáu đạo thần quang: khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy. Năm uẩn là vô thường nhưng bản tâm biểu hiện nhờ năm uẩn là con người thật của ta thì không sinh, không diệt, không có, không không, vượt thoát mọi khái niệm. Đó là con người thật không có vị trí (nghĩa là không thể được đồng nhất với một uẩn trong năm uẩn hoặc cả năm uẩn). Con người thật đó là Bụt. Bụt không phải là một thực thể có ngoài con người thật đó. Bụt và chúng sinh không phải là hai thực thể riêng biệt (Phật sinh vô nhị). Nếu không thấy được điều này, nếu không có đức tin vững chãi nơi sự thật này, thì không bao giờ chấm dứt được sự tìm cầu, phóng thể, vẫn không dừng lại được để làm một con người vô sự, vẫn còn có khuynh hướng chán phàm yêu thánh, vẫn chưa có được hạnh phúc và an vui thật sự.

Ta không nên đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng, lầu các của Di Lặc ngoài ta. Đây là lời của Tổ nói. Là người học đạo, ta luôn luôn đi tìm cầu: ta đi tìm cầu Thượng Đế, ta đi tìm cầu Chúa Ki Tô, ta đi tìm cầu Allah, ta đi tìm cầu Thiên Quốc, ta đi tìm cầu Bụt và Bồ Tát v.v…, ở ngoài ta. Đó là tâm trạng của số đông. Ở các giáo lý, ta được học rằng tất cả đều nằm ở trong trái tim của ta: Thượng Đế nằm ở trong trái tim của anh, Thiên Quốc nằm ở trong trái tim của chị, Tịnh Độ là duy tâm, Phật ở trong tâm. Chúng ta nghe những điều đó nhưng chúng ta đâu có tin. Những giáo nghĩa đó đâu phải là không có? Có đó, nhưng vì chúng ta không chịu tin, chúng ta chỉ muốn tin rằng chúng ta là con số không, nghèo đói xác xơ, cho nên muốn đi tìm kiếm một chút tình thương, một chút trí tuệ ở bên ngoài. Đó là thái độ của đa số và đó là thái độ mà Tổ Lâm Tế muốn công phá trước tiên. Thành ra đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa ở trong tương lai và ở địa phương khác hay ở một thế giới khác, là lỗi lầm đầu tiên mà chúng ta mắc phải. Nếu chúng ta biết trở về trong giây phút hiện tại, sống cho sâu sắc với giây phút hiện tại, tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại, thì tất cả những gì chúng ta tìm cầu sẽ biểu hiện ra ngay trong giây phút hiện tại đó. Thiên Quốc hay Tịnh Độ, Thượng Đế hay Chúa Ki Tô, Bụt Thích Ca hay Bụt Di Lặc trong tương lai đều có mặt trong giây phút hiện tại.

Ta phải chấm dứt mọi tìm cầu. Đây đích thực là giáo lý của Bụt. Đó là giáo lý Vô Tác (apranihita), một trong Ba Cánh Cửa Giải Thoát. Ba Cánh Cửa Giải Thoát là Không, Vô tướng và Vô tác. Vô tác tức là không đặt trước mình một đối tượng để tìm cầu và chạy theo. Chấm dứt sự tìm cầu, vì cái mà ta tìm cầu đã có sẵn trong ta, ngay trong giây phút hiện tại. Cũng như một đợt sóng: nó bất an, nó khổ đau, nó lo sợ, nó đi tìm cầu giải thoát và một nền tảng vững chãi, nó vươn tới để tìm cầu, nhưng kỳ thực cái nó đi tìm cầu lại chính là bản thân nó. Nếu nó biết nó chính là nước rồi thì nó giải thoát, nó không còn bị những ý niệm sinh, diệt, có, không, còn, mất làm cho thất điên bát đảo nữa. Vả lại, sóng mà đi tìm nước thì thật là buồn cười. Sóng đâu có cần phải vươn tới một phương trời nào khác để đi tìm nước, bởi vì sóng đã là nước ngay trong giây phút hiện tại rồi. Những cái mà chúng ta đi tìm cầu đã đang có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Anh đang là cái mà anh muốn trở thành đó. You are already what you want to become. Niết Bàn hay Tịnh Độ đã đang nằm sờ sờ ngay trong bản thân ta và chung quanh ta trong giây phút hiện tại. Cái đó gọi là vô tác, cánh cửa giải thoát thứ ba và cũng là nền tảng của giáo lý Vô Đắc: không có đắc cũng không có sở đắc, không có tìm cầu cũng không có đối tượng của sự tìm cầu.

Ta phải chấm dứt mọi sự tìm cầu, phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân ngay trong giây phút hiện tại. Bản thân trong giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những gì ta muốn tìm cầu: pháp thân, bát nhã, giải thoát, Bụt, Tổ và các cõi nước trang nghiêm. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó, nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta.

Đây là một đề tài muôn thuở trong đạo Bụt, bởi vì giáo lý đạo Bụt dựa trên tuệ giác gọi là vô ngã. Trong khi đó, ta nói tới bản thân như là một cái ngã. Chúng ta biết có nhiều quan niệm về ngã:

1- Cho rằng năm uẩn này là ta, là ngã. Đó là tà kiến thứ nhất.

2- Cho rằng thân này không phải là ngã mà là của ngã (ngã sở) – thân này không phải là ta nhưng là của ta. Năm uẩn không phải là ta, nhưng năm uẩn là vật sở hữu của ta. Đó là tà kiến thứ hai.

3- Cho rằng thân này không phải là ta, nhưng ta có trong thân này và thân này có trong ta. Cái đó gọi là tương tại. Đó là tà kiến thứ ba.

Tương tại nghĩa là có trong nhau. Ba quan niệm đó được lặp lại nhiều lần trong kinh Bụt dạy cho thầy La Hầu La. Bụt nói rằng: Thân này không phải là ta, không phải là của ta, cũng không phải ở trong ta, mà ta cũng không phải đang ở trong thân này. Đó là ba kiến chấp:

1- Ta là uẩn (ngã)

2- Ta không phải là uẩn nhưng uẩn thuộc về ta (ngã sở).

3- Ta ở trong uẩn, uẩn ở trong ta (tương tại).

Trong tiếng phạn có chữ Atma là ngã, và có chữ Pudgala là người (có khi dùng chữ Purusa). Có khi ta thấy hai cái là một: Atma tức là Pudgala. Pudgala dịch âm là Bổ đặc già la. Trong hai mươi mấy tông phái Phật giáo, có một phái gọi là Pudgalavada, chủ trương có con người và gần như là chủ trương có ngã. Nói như vậy là vì tông phái này tự xưng là căn cứ trên kinh điển và ưa trích dẫn một câu trong kinh Tăng Nhất A Hàm: ‘Có một con người trên thế gian mà sự xuất hiện của con người đó đem lại không biết bao nhiêu lợi lạc cho thế gian và cho muôn loài. Người ấy là ai? Người ấy là Bụt’. Câu đó rất nổi tiếng. Họ chỉ cần trích dẫn câu đó, đủ để chứng minh là có con người, tức là có cái ngã của đức Thế Tôn, trong khi giáo lý của đạo Bụt là vô ngã. Tất cả các kinh sư, cũng như các giảng sư, các pháp sư đều diễn thuyết và đều dùng tất cả mọi lý luận có thể có được, để chứng minh là không có ngã, không có con người, thì phái Pudgalavada chủ trương là có con người, có ngã. Phái Pudgalavada gần như được coi là phái không chính thống, vì đã công nhận là có con người và có ngã. Nhưng phái này lại có rất nhiều người theo. Sử ghi chép lại là khi ngài Huyền Trang qua Ấn Độ thỉnh kinh, phái này rất mạnh, có ít nhất là năm mu+o+i ngàn thầy đi theo.

Ý hướng chấp ngã là một ý hướng rất sâu dày, vì vậy tuy Bụt nói vô ngã, nhưng đệ tử của Người cũng cố tìm ra một cái ngã để bám vào. Rất khó suy tư nếu nói là không có ngã, cho nên đã sinh ra một quan niệm rất vi tế về ngã đó là: phi tức phi ly uẩn, gồm hai phần là phi tức uẩn (không phải là uẩn) và phi ly uẩn (không phải ngoài uẩn mà có). Quan niệm này rất tế nhị, nó cố gắng chứng minh là có một cái ngã và đồng thời tìm cách để thoát ra khỏi ba kiến chấp mà Bụt đã dạy trong kinh La Hầu La. Nghi~a là: cái ngã đó có, nhưng nó không phải là uẩn, và cũng không phải lìa uẩn mà có.

Phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi khi nghe nói tới bản thân, chúng ta có thể nghĩ là năm uẩn. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó. Chữ hẳn này rất khéo, nó không phải là năm uẩn, nhưng cũng không phải tìm cầu ngoài năm uẩn. Ta không đồng nhất ta với năm uẩn, nhưng ta biết rằng ngoài năm uẩn thì cũng không có bản thân. Phi tức phi ly nghĩa là không phải cái đó, nhưng cũng không phải lìa cái đó mà có được.

Vì năm uẩn vô thường có đó không đó, nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói có diệu dụng nhận diện và tiếp xúc với mọi mầu nhiệm của sự sống: Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ biểu hiện thành sáu đạo thần quang: khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy. Năm uẩn là vô thường nhưng bản tâm biểu hiện nhờ năm uẩn là con người thật của ta thì không sinh, không diệt, không có, không không, vượt thoát mọi khái niệm. Đó là con người thật không có vị trí.

Người thật ở đây là dịch từ chữ chân nhân. Vô vị chân nhân, con người thật không có vị trí. Vô vị nghĩa là không xác định được vị trí trong không gian và thời gian. Các nhà khoa học vật lý, khi nghiên cứu về những vật thể li ti, những chất điểm (elementary particals), những hạt điện tử (electrons), hay những giới tử (mesons), cũng đã nói như vậy: không thể nào xác định được vị trí của một điện tử trong không gian và trong thời gian. Nhưng không thể nói là điện tử không có. Con người thật của chúng ta cũng vậy. Không thể nói là không có con người thật, nhưng xác định nó trong vị trí không gian và thời gian như Lộc Uyển ở Escondido thì không được. Lộc Uyển thì ta có thể nói là ở south California hay Escondido, nhưng đi sâu vào bản thân thực tại của một điện tử, một trung hòa tử, một giới tử thì không thể xác định được vị trí của chúng ở trong không gian và thời gian như vậy. Vị ở đây không phải là một chức vị như chức vị tổng thống, bộ trưởng, tri khố, tri xa, giáo thọ, hay thức xoa ma na. Vị ở đây không phải là một vị trí hay một chức vị. Vô vị chân nhân nghĩa là con người thật không có vị trí, không thể được đồng nhất với một uẩn trong năm uẩn hoặc cả năm uẩn.

Bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói, có diệu dụng và có thể tiếp xúc được với mọi mầu nhiệm của sự sống. Ta có chân tâm sáng chói đó, nhưng ta không sử dụng, ta cứ lo sử dụng tâm lo sợ, tâm tìm cầu, tâm tham muốn. Chân tâm sáng chói nghĩa là có công dụng mầu nhiệm, có khả năng tiếp xúc được với tất cả mầu nhiệm của sự sống. Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ, biểu hiện thành sáu đạo thần quang (cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc chạm và cái tư duy). Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần thì biểu hiện ra sáu thức. Với sáu thức đó, ta có thể làm ra tất cả các phép lạ mà chư Bụt và chư Bồ tát đã làm. Ví dụ, ta ngồi đây nhìn núi. Nếu ta biết sử dụng cái thấy của mình thì cái thấy đó có thể trở thành một đạo hào quang, có khả năng chiếu sáng, cho ta nhìn thấy núi là một sự mầu nhiệm. Ngày hôm qua, ngồi với thị giả bên cửa sổ, tôi chỉ cho thị giả thấy ngọn núi ở phương Tây. Tôi nói:

– Con nhìn kìa, con có thấy tòa núi đó không? Nó là một cái chung cư vĩ đại, có biết bao nhiêu loài đang sống trong chung cư đó một cách rất tiện nghi. Có hàng triệu sinh vật đang sống ở đó, mỗi loài có chỗ cư trú riêng, có thực phẩm và có quyến thuộc riêng của nó. Nhìn đi con!

Lúc đó, ta thấy được loài người của mình chỉ có mặt chừng năm trăm người trên núi mà thôi, một phần rất nhỏ của núi rừng Lộc Uyển. Ta cũng có một vài cư xá, có kho thức ăn, và cũng đi lên đi xuống. Trong khi đó, trên ngọn núi kia hàng trăm vạn chúng sanh cũng đang làm như vậy một cách rất im lặng. Họ có nền văn minh của họ, và họ có chỗ cư trú riêng. Khi nhìn như vậy, ta thấy rất mầu nhiệm. Ta thấy được liên hệ giữa ta và các loài sinh vật. Ta kính trọng họ, họ kính trọng ta. Vậy thì, cái thấy đó do đâu mà có? Đó là do sử dụng đạo thần quang thứ nhất: cái thấy của ta. Bụt và chư vị Bồ Tát nhìn cuộc đời như vậy. Nhìn bầu trời, nhìn ngân hà, nhìn mặt trăng, nhìn đám mây, nhìn dòng suối, nhìn ngọn núi, v.v… ta thấy được tất cả những nhiệm mầu trong thế giới Hoa Tạng đang có mặt trong giờ phút hiện tại. Cái một nằm trong cái tất cả. Sự sống của con người không thể có mặt nếu thiếu sự có mặt của các loài khác. Không khí chúng ta đang hít thở trong mỗi giây mỗi phút này là do các loài khác cung cấp. Hít vào một hơi thở, chúng ta cảm thấy rất biết ơn: nếu không có những loài cây đứng xung quanh đây và chúng cũng đang thở thì ta không có được dưỡng khí đó để thở. Đó là một phép lạ. Phép lạ đó giúp ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Hoàn cảnh đó là Tịnh ?ộ hay là địa ngục thì cũng do ta có biết sử dụng sáu đạo thần quang của mình hay không mà thôi. Sáu đạo thần quang luôn có đó, ta không thể nói là không có. Nếu ta để tâm lo buồn, giận hờn, tìm kiếm, tuyệt vọng, v.v… phát khởi và trấn ngự, đó là ta đang không biết sử dụng sáu đạo thần quang mà chịu chết trong hoàn cảnh của mình. Vấn đề là phải trở về để sử dụng một cách khéo léo sáu đạo thần quang đó, tức là sáu thức. Khi sáu thức bị những phiền não che lấp thì ta sử dụng rất khó khăn. Nhưng nếu được thầy, được bạn chỉ dẫn và nhắc nhở, thì ta bắt đa^`u biết sử dụng được sáu đạo thần quang đó để có thể nuôi dưỡng và làm biểu hiện thế giới của Hoa Tạng. Những lâu đài của đức Di Lặc, những hàng châu báu trang nghiêm của cõi Tịnh Độ có mặt ngay bây giờ và ngay tại đây.

Chính bản thân năm uẩn của chúng ta cũng rất mầu nhiệm. Những phép thần thông mà chư Bụt và chư Bồ Tát làm được thì ta cũng có thể làm được, và làm được ngay bây giờ và ngay ở đây. Sở dĩ ta làm được là do ta biết sử dụng sáu đạo thần quang. Khi nó bị mê mờ, bị phiền não thì ta gọi nó là thức. Nhưng khi nó tự do thì ta gọi nó là trí. Cũng là nó mà thôi. Cũng như ly nước đục, nếu để cho lắng lại thì thành ly nước trong, nhưng nếu đổ ly nước đục đi thì không còn ly nước nữa, mà cũng không có nước trong. Vì vậy Tổ mới nói rằng: Các vị đang ngồi nghe pháp đây – chính các vị là Phật, là Tổ. Chính các vị có thể sử dụng sáu đạo thần quang để làm cho lâu đài, đền các của đức Di Lặc có mặt trong giờ phút hiện tại. Quý vị có thì giờ ngắm núi hay không? Sử dụng đạo thần quang thứ nhất để ngắm núi đi, rồi các vị sẽ thấy rằng cái mà mình đi tìm cầu nó đang nằm ngay ở tại chỗ. Và nếu ta không có hạnh phúc là tại vì ta chứ không phải tại vì người kia.

Con người thật đó là Bụt. Bụt không phải là một thực thể có ngoài con người thật đó. Bụt và chúng sinh không phải là hai thực thể riêng biệt (Phật Sinh vô nhị). Phật tức là Bụt. Sinh là chúng sinh. Thường thường, chúng ta phân biệt hai cái khác nhau: chúng sinh thì không phải là Bụt, mà Bụt không phải là chúng sinh. Trong giáo lý này, Bụt và chúng sinh không phải là hai cái tách rời nhau: ngoài cái này thì không có cái kia, ngoài cái kia thì không có cái này; ngoài Bụt thì không có chúng sinh, ngoài chúng sinh thì không có Bụt. Vì vậy cái mà ta gọi là người, là ta, là chúng sinh đó, nếu nhìn cho kỹ thì sẽ thấy Bụt ở trong đó.

Nếu không thấy được điều này, nếu không có đức tin vững chãi nơi sự thật này, thì không bao giờ chấm dứt được sự tìm cầu, phóng thể, vẫn không dừng lại được để làm một con người vô sự, vẫn còn có khuynh hướng chán phàm yêu thánh, vẫn chưa có được hạnh phúc và an vui thật sự.

Đoạn văn này có thể rất hiện đại. Hiện bây giờ khoa học cũng đang đi tìm nguồn gốc của tâm thức. Có một môn khoa học tên là Neuroscience, khoa học về thần kinh não bộ, đang tìm mọi cách để nghiên cứu và tìm hiểu là thức được phát hiện từ những căn bản nào:

1- Thức có phải là não bộ hay không?

2- Thức và não bộ có phải là hai thực tại khác nhau không?

3- Não bộ nằm trong thức, hay thức nằm trong não bộ?

Khoa học não bộ đang khám phá ra nhiều điều rất hay. Trước hết, họ khám phá ra rằng trong não bộ không có một trung tâm nắm chủ quyền và ra lệnh. Khoa học đã không tìm thấy một trung tâm như vậy ở trong não bộ. Trong quân đội thì có tổng tư lệnh, nơi đưa lệnh xuống cho các đơn vị nhỏ. Ở các đơn vị cũng vậy. Nhưng trong não bộ của chúng ta, không có một trung tâm điều khiển, không có một đại bản doanh, không có một đơn vị đưa lệnh ra. Người ta chỉ thấy có nhiều phần khác nhau của não bộ, mỗi phần có một lĩnh vực hoạt động riêng, và nếu các phần đó không hợp tác với nhau, không có truyền thông với nhau, thì không làm phát sinh được ý thức. Vì vậy khoa học bây giờ, kể cả khoa sinh lý học và khoa học về não bộ, đã cho thấy rõ sự thật về vô ngã.

Ngày xưa, các triết gia có khuynh hướng nghĩ rằng trong đầu mình có một chủ thể, một cái ngã nằm đâu đó trong óc. Cái chủ thể đó nhìn ra bằng cửa con mắt, lắng nghe bằng cửa lỗ tai, và tiếp nhận những dữ kiện của thế giới bên ngoài rồi tự tạo ra hình ảnh của thế giới bên ngoài đó. Thế giới bên ngoài đúng hay sai thì chưa biết, nhưng nhờ sáu cái cửa đó mà cái ngã nhỏ xíu ở bên trong nhận thức được thế giới bên ngoài. Bây giờ khoa học đã chứng minh rõ ràng rằng không có cái anh chàng nhỏ xíu nằm ở trong nhìn ra ngoài cửa sổ để tiếp nhận dữ kiện. Bây giờ khoa học não bộ thường dùng hình ảnh của một dàn nhạc hòa tấu gồm có những nhạc công khác nhau, sử dụng những nhạc khí khác nhau và có sự truyền thông với nhau. Nhìn vào, ta có thể thấy bản nhạc, ta có thể thấy dụng cụ, ta có thể thấy nhạc công, ta thấy đủ tất cả. Nhưng tất cả những cái đó không phải là nhạc. Chỉ khi nào bản nhạc được đánh lên thì chúng ta mới nghe được nhạc. Trước đó, ta không thể nào nhận thức được bản nhạc dù đã có những nốt nhạc, đã có những nhạc khí, đã có những nhạc công ở đó. Chỉ khi nào có sự phối hợp, chỉ khi nào nhạc khí được tấu lên, thì bản nhạc mới hình thành, lúc đó chúng ta mới nghe được bản nhạc. Ý thức (consciousness) cũng vậy. Nó không phải là một cái gì có sẵn ở bên trong, nó không trốn ở trong những tế bào hay trong bộ óc của mình, mà nó là sự truyền thông giữa những tế bào óc với nhau. Mỗi bộ phận, mỗi vùng khác nhau của bộ óc, đi về phía chuyên môn. Một vùng không làm gì được hết, nhưng khi tất cả các vùng hợp tác với nhau và phối hợp với nhau thì tự nhiên phát sinh ra thức. Vì vậy Đức Thế Tôn dạy là thức (cũng như sắc, thọ, tưởng và hành) chỉ là một trong năm uẩn thôi. Nghĩa là thức muốn được biểu hiện thì phải dựa trên sắc, thọ, tưởng, và hành; hành muốn biểu hiện thì phải dựa trên sắc, thọ, tưởng, và thức. Sắc là cơ thể của ta, nếu muốn biểu hiện cũng phải dựa trên thọ, tưởng, hành, và thức. Cho nên không có một uẩn nào trong năm uẩn mà tự mình có mặt, hay độc lập với bốn uẩn kia được. Tất cả các uẩn đều phải dựa trên các uẩn khác mà biểu hiện. Đó là lời dạy của đức Thế Tôn trong rất nhiều kinh điển. Thông thường ta nghĩ rằng khi chết rồi, thì sắc, thọ, tưởng và hành không còn nữa, chỉ còn lại thức và thức sẽ đi đây đó để chờ dịp nhập vào một thân xác mới. Điều đó không đúng! Như vậy là trái với khoa học và Phật pháp. Theo khoa học và Phật pháp thì một uẩn dựa trên năm uẩn kia mà biểu hiện. Thức cũng vậy. Điều đó đã được chứng minh rất rõ ràng trong khoa học về thần kinh não bộ.

Khi chúng ta tư duy theo tinh thần của đạo Bụt, chúng ta sẽ không thấy rằng thức sinh khởi mà chỉ thấy thức biểu hiện. Cũng như sắc, thọ, tưởng và hành, chúng ta không nhìn chúng như có sinh khởi mà là có biểu hiện. Sinh khởi nghĩa là từ không mà trở thành có, còn biểu hiện thì có nghĩa khác. Biểu hiện nghĩa là đang ẩn tàng trong những nhân và những duyên của nó, khi nhân duyên phối hợp với nhau đầy đủ, thì có sự biểu hiện. Biểu hiện như vậy không phải là sinh. Em không phải tạo sinh mà chỉ là biểu hiện. Khi tư duy theo tinh thần đạo Bụt, chúng ta thấy chỉ có sự biểu hiện. Những biểu hiện đó, bản chất của chúng là không sinh, không diệt, không tới, không đi. Thức không từ đâu tới, và sau khi biểu hiện rồi, cũng không đi đâu cả. Vì vậy bản chất của năm uẩn cũng là bất sinh bất diệt. Không những Bụt là bất sinh bất diệt mà năm uẩn cũng bất sinh bất diệt (Phật Sinh vô nhị).

Tổ nói tới sáu đạo thần quang, tức là sáu thức: nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Khi sáu thức bị che lấp, mê mờ, trĩu nặng thì chúng không phải là thần thông; khi sáu thức được giải phóng thì chúng là thần thông. Khi sáu thức bị mê mờ thì được gọi là chúng sinh; khi sáu thức được giải phóng thì được gọi là Bụt. Điều này giúp chúng ta hiểu được ý của Tổ, tức là Bụt cũng từ sáu thức đó mà chúng sinh cũng từ sáu thức đó. Vì vậy đi tìm giải thoát, đi tìm Bụt, đi tìm tịnh độ, đi tìm thập địa, đi tìm tam thân, v.v… ở ngoài năm uẩn, ở ngoài sáu đạo thần quang là một điều không tưởng. Chúng ta phải trở về với năm uẩn, trở về với sáu đạo thần quang để nhận diện rằng những gì mình đi tìm đã đang ở ngay trong tự thân của năm uẩn và sáu đạo thần quang.

Khi đọc đoạn văn trên, chúng ta thấy rằng năm uẩn không phải là ta, sáu đạo thần quang cũng không phải là ta, nhưng Tịnh Độ có mặt trong đó. Ngày xưa có một triết gia người Pháp tên là Descartes, muốn chứng minh rằng có một cái ta, và ông đã chứng minh một cách rất toán học. Công thức toán học của ông là: ‘Je pense donc je suis’ (tôi đang tư duy, vì vậy cái tôi của tôi đang có mặt). Ông cho rằng ‘Tôi tư duy’ (je pense) là một sự thật. Điêu khắc gia Auguste Rodin có tạc một tượng một người đang tư duy, gọi là ‘Le penseur’ (kẻ tư duy). ‘Tôi tư duy’ – tức là ‘tôi là một con người và tôi đang suy tư’. Đó là sự thật. Rõ ràng mình thấy ông đó (Le penseur) đang trầm ngâm, đang tính toán, đang suy nghĩ, thì cái chuyện ‘tôi tư duy’ là chuyện thật chứ không phải là một chuyện bày đặt ra. Căn cứ trên nhận xét đó, Descartes đi đến kết luận: ‘donc je suis’. Nói rằng ‘tôi đang tư duy’ chứng tỏ rằng ‘tôi đang có mặt’, tức là phải có cái ngã, phải có cái tôi. Nói rằng ‘có tôi đây’ nghĩa là có cái ngã đây. Ông là nhà triết học, nhưng ông muốn làm theo kiểu nhà toán học: nếu anh công nhận là anh đang tư duy, thì anh cũng công nhận là anh đang có mặt như một cái ngã. Lý luận sắc bén giống như là không thể nào đập phá được: nếu không có tôi thì ai tư duy?

Trong Duy Biểu học, chúng ta biết rõ là có 51 tâm sở, trong đó có những tâm sở biến hành (xúc, tác ý, thọ, tưởng, tư), những tâm sở biệt cảnh (dục, thắng giải, niệm, định, tuệ). Năm tâm sở phổ biến nhất và có mặt luôn luôn trong mọi lúc là xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư. Xúc tức là sự xúc chạm; tác ý tức là để ý tới; thọ tức là cảm thọ (feeling); tưởng tức là tri giác; tư tức là quyết định. Và những tâm sở khác như là tâm sở thiện (tín, tàm, quý), tâm sở bất thiện (tham, sân, si), tâm sở bất định (hối, miên, tầm, từ). Hối tức là hối hận. Miên tức là buồn ngủ. Hai tâm sở tầm và từ là hai tâm sở thuộc về tư duy. Tầm từ tức là tư duy. Nghĩ tới là tầm (initial thinking), đi sâu vào sự suy nghĩ là từ (applied thinking). Cái tư duy mà Descartes nói đến thuộc về tầm và từ. Trong Duy Biểu học, chúng ta thấy năm mươi mốt tâm sở này đều nằm ở trong tàng thức dưới dạng những hạt giống (chủng tử). Mỗi khi có một hạt giống được tưới tẩm, nó sẽ phát hiện trên ý thức và được gọi là tâm hành (khi nó chưa phát hiện thì gọi là chủng tử). Ví dụ ta có một cái đĩa DVD, trong đó có những dữ kiện đã được cất giữ như hình ảnh và âm thanh. Cầm cái đĩa trong tay, ta không thấy tiếng và hình gì trong đó. Nhưng nếu bỏ cái đĩa vào máy vi tính và mở ra, thì hình ảnh và âm thanh sẽ phát hiện. Khi chưa phát hiện thì chúng được gọi là chủng tử. Ở dạng chủng tử thì chúng ta không thấy được, nhưng không có nghĩa là nó không có mặt đó. Nó đang ở trong the^’ tiềm tại (hạt giống). Bỏ vào trong máy vi tính, bấm nút hiệu lệnh một cái thì nó biểu hiện ra (hiện hành). Ý thức được ví như là màn ảnh của máy vi tính và tàng thức được ví như là cái đĩa DVD. Chúng ta có năm mươi mốt loại chủng tử mà chúng ta không nhận diện được, không thấy được là tại vì chúng chưa biểu hiện. Ví dụ như cái giận. Khi chủng tử giận biểu hiện thành tâm hành giận thì ta mới thấy được cái giận. Giận là một tâm hành. Khi chủng tử tầm (suy tư) biểu hiện, nó biểu hiện như một tâm hành. Trong Duy Biểu học, chúng ta thấy trong một tâm hành gồm có hai phần: kiến phần (chủ thể) và tướng phần (đối tượng). Kiến phần gọi là darsanabhaga. Tướng phần là nimittabhaga. Vậy thì tâm hành giận có chủ thể giận và đối tượng giận. Chánh niệm cũng vậy. Chánh niệm cũng có kiến phần và tướng phần. Kiến và tướng nương vào nhau và cùng biểu hiện một lượt. Bất cứ tâm sở nào trong năm mươi mốt tâm sở cũng đều như vậy. Khi biểu hiện trên màn ảnh của ý thức nó chỉ là một tâm hành. Nhưng nhìn kỹ vào trong mỗi tâm hành, thì chúng ta thấy có kiến phần và tướng phần, và không cần có một cái ngã nào hết. Vì vậy khi nói về tư duy thì chỉ có tư duy mà không cần có chủ thể của tư duy (there is a thought, but there is no thinker). Cái giận, khi nhìn một cách khoa học thì mình thấy chỉ có tâm hành giận biểu hiện mà không có một cái ngã nằm sẵn đó để nó giận. Cho nên, khi Descartes nói: ‘tôi tư duy vì vậy cho nên có tôi’, Bụt nói: ‘Không phải đâu! chỉ có tầm thôi, không có cái ngã nằm sau tầm; chỉ có từ thôi, không có cái ngã nằm sau từ’ (there is only the thought). Điều này rất quan trọng và quý vị có thể thực tập được. Mỗi khi cái giận nổi lên, quý vị nói: ‘A! đây là tâm hành giận. Không có ai đứng phía sau cái giận đó hết’. Ví dụ sự chứng đắc quả ‘Đã Về – Đã Tới’ thì chỉ có hiện tượng ‘Đã Về – Đã Tới’ chứ không có người chứng đắc. Có quả vị chứng đắc mà không cần có người chứng đắc; có Niết Bàn mà không cần có người đi vào Niết Bàn; có Tịnh Độ mà không cần có người đi vào Tịnh Độ. Không cần có cái ngã. Sự thật là như vậy. Và sự thật này rất khoa học. Khoa học càng ngày càng đi tới gần nhận thức đó. Vậy thì ‘je pense donc je suis’ là một lý luận sai lầm. Nó sai lầm vì không có cái tôi (je), mà chỉ có cái tư duy (pense). No thinker, only thought. Đạo Bụt dạy rằng chỉ có năm mươi mốt tâm hành thôi, mà không cần có một cái ta núp sau đó. Có hành động mà không có người hành động (there is an action, there is no actor).

Đức Thế Tôn xuất hiện như một hiện tượng mầu nhiệm: có trí tuệ lớn, có tình thương lớn. Những tâm hành tốt đẹp ấy của Đức Thế Tôn liên tiếp phát hiện như một dòng chảy mầu nhiệm, cái đó gọi là Bụt. Đức Thế Tôn không cần có ngã, nhưng ta không thể nói là Đức Thế Tôn không có mặt. Đức Thế Tôn có mặt rất rõ ràng, tại vì tâm từ ấy có thật, tâm bi ấy có thật, sự mầu nhiệm ấy có thật. Vì vậy Đức Thế Tôn vô ngã, và chúng ta cũng vậy. Chúng ta có năm mươi mốt tâm hành, chúng ta phải làm thế nào để những tâm hành tốt luôn luôn có dịp biểu hiện. Làm được như vậy thì chúng ta sẽ rất đẹp và chúng ta sẽ không khác gì Đức Thế Tôn. Khi dùng tuệ giác của đạo Bụt để quán chiếu câu ‘je pense donc je suis’, chúng ta thấy câu đó sai ngay tu+` lúc kho+?i su+.. Ta giả định có cái tôi (je), và giả định có hành động tư duy (pense), và cho là hai cái đó khác nhau. Nhưng nhìn cho kỹ, ngoài tư duy không thể nào có cái tôi được và ngoài cái tôi không thể có cái tư duy được. Tác giả làm như có cái tôi (je) riêng và cái tư duy (pense) riêng. Sai lầm là ngay chỗ đó. Cho nên kinh nói rằng có sự chứng ngộ mà không cần có cái ngã để chứng ngộ (có người chứng ngộ). Có thể có niềm vui nhưng không hẳn phải có người có niềm vui đó. Sự thật là chỉ có những tâm hành phát hiện, mà những tâm hành đã phát hiện thì cái này nối tiếp cái kia, trong đó có tâm hành tuệ (hiểu biết). Tâm hành tuệ có thể hướng dẫn, đóng góp phần của nó để có thêm niệm, thêm định, và thêm những cái đẹp, cái hay. Vì vậy chúng ta có thể hy vọng rằng trong những năm kế tiếp, các nhà khoa học thần kinh não bộ có dịp làm việc chung với các nhà tu thiền, các nhà tâm lý học Phật giáo, để đi tới một cái thấy chính xác về tâm thức. Khoa học rất mong mỏi, hiếu kỳ, muốn biết và muốn trả lời được câu hỏi: Tâm thức phát hiện như thế nào? Có ngã hay không? Có ý chí tự do hay không? Nếu tất cả đều là cơ giới (mechanic) thì làm sao có ý chí tự do (free will)? Những nhà tâm lý học Phật giáo làm việc với những nhà khoa học thần kinh não bộ sẽ có thể đưa tới những kết quả rất bất ngờ, rất đẹp.

Người nào có khả năng vận dụng được cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang kia thì có thể ngay tại đây, trong giờ phút này tiếp xúc được với thế giới hoa tạng, với tam thân, với hằng sa Bụt và Bồ tát, có thể ứng thân hiện vật, độ đời, giúp người, và thấy rằng tất cả những cảnh giới này cũng đều là những hình ảnh phản chiếu (quang ảnh) của cái tâm sáng chói và mầu nhiệm kia.

Mỗi ngày của cuộc sống là một cơ hội lớn. Hiện thời, năm uẩn đang phát hiện và sáu đạo thần quang đang có mặt. Nếu ta là một nhà nghệ sĩ đích thực, ta có thể làm biểu hiện ra thế giới Tịnh ?ộ và tam thân. Ta sống một cách rất mầu nhiệm và hướng dẫn một cách rất mầu nhiệm cho người khác cũng được sống như vậy. Ta có thể làm Bụt, làm Bồ Tát ngay trong cuộc sống hiện tại của mình thay vì ngụp lặn trong biển khổ đau vì ta có đầy đủ điều kiện để làm như vậy. Bụt và Bồ Tát không phải là những ý niệm mơ hồ, trừu tượng, không phải là những thực tại nằm ngoài ta. Bụt và Bồ Tát là có thật, ngay trong giây phút hiện tại, ngay trong năm uẩn và sáu đạo thần quang.

Đọc đoạn này, chúng ta nên ghi nhớ hai điều:

1. Chúng ta có thể sống mầu nhiệm ngay trong giây phút hiện tại. Không cần phải đi tìm những mầu nhiệm đó ở một thời gian khác và ở một không gian khác.

2. Chúng ta có thể sống với tuệ giác vô ngã trong từng giây phút của đời sống hàng ngày.

Tuệ giác vô ngã thiết yếu vô cùng cho sự sống của mình và cho sự sống của xã hội. Bởi vì tất cả những sợ hãi, những lo lắng, những buồn khổ, những hờn giận và những bạo động của con người đều có nguồn gốc từ ý niệm về ngã. Sở dĩ con giận cha cũng vì chưa thấy được tính vô ngã của mình và của cha mình. Mình tưởng mình và cha mình là hai thực tại tách biệt, ai ngờ mình chính là cha mình, là sự nối tiếp của cha mình. Nền văn minh của chúng ta hiện nay đang dựa trên ý niệm về ngã. Chủ nghĩa cá nhân đang trấn ngự, và chúng ta đi tìm hạnh phúc cho một cái ngã. Chúng ta không thấy được rằng hạnh phúc chỉ có được trong cái thấy vô ngã mà thôi. Ngay trong lĩnh vực của sự chữa trị tâm lý, người ta cũng sử dụng ý niệm về ngã để chữa trị. Phần lớn những triệu chứng bệnh tâm lý – người ta nói – là do mặc cảm thua kém, mặc cảm tự ti của mình mà ra (low self-esteem). Vì vậy muốn chữa trị mặc cảm tự ti, người ta dùng phương thuốc tự tôn (high self-esteem). Trong khi đó, dưới ánh sáng tuệ giác của đạo Bụt, mặc cảm tự ti cũng như mặc cảm tự tôn đều là những chứng bệnh, tại vì tất cả đều dựa trên ý niệm về ngã. Không những mặc cảm tự ti (liệt mạn) và mặc cảm tự tôn (thắng mạn) đều là bệnh mà mặc cảm mình bằng người khác (đẳng mạn) cũng là bệnh. Ba mặc cảm đó đều dựa trên ý niệm về ngã. Vì vậy chúng ta phải sống đời sống hàng ngày như thế nào để thấy được tính vô ngã của mình và của vạn hữu. Đây là nẻo thoát cho ta và cho nhân loại.

Tại Làng Mai, chúng ta đã có những phương pháp thực tập để có thể tiếp xúc được với tính vô ngã, để sống được với tuệ giác vô ngã trong đời sống hàng ngày. Khi nhìn thầy ta, chị ta, em ta, cha ta, mẹ ta, ta có cơ hội để thấy rằng mình không phải là một cái ta riêng biệt. Mỗi khi có tâm hành như tâm hành giận, tâm hành ganh, tâm hành buồn no^?i lên, ta có cơ hội để thấy rằng đó chỉ là một tâm hành, không có một cái ngã nằm phía sau. Công phu của chúng ta là ở chỗ đó. Công phu của chúng ta không phải là lao tác mệt nhọc, như là lạy 1080 lạy mỗi ngày cho toát mồ hôi. Công phu của chúng ta là trong mỗi giây phút hàng ngày phải thấy được tính vô ngã. Thấy được tính vô ngã rồi thì giải thoát. Công phu hàng ngày là thấy được rằng hạnh phúc có thể có được ngay trong giờ phút hiện tại. Bụt, Thánh Chúng, Bồ Tát cũng như cõi Tịnh Độ có thể có mặt ngay trong giờ phút hiện tại. Công phu hàng ngày ở đây đưa lại những chuyển hóa, những nuôi dưỡng và hạnh phúc. Công phu hàng ngày ở đây không phải là lao tác mệt nhọc, để rồi mong mỏi có một sự chứng đạo hoặc một kết quả nào đó ở trong tương lai.

Mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt nguyên thỉ là vị La Hán, mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt đại thừa là vị Bồ Tát, còn mẫu người lý tưởng trong thiền Lâm Tế là con người vô sự. Con người vô sự là con người không chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Bụt, là Tổ, là Niết bàn, là Tam thân, là Tịnh độ. Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt ta chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ.

Trong thời Bụt còn tại thế chưa có sự phân chia thành Đại thừa và Tiểu thừa. Những danh từ Đại thừa và Tiểu thừa mới có sau này, và do phái Đại thừa đặt ra. Thường thường, những người thuộc phái Đại thừa nói rằng người thuộc phái Tiểu thừa chỉ biết lo cho mình mà không biết lo cho người khác. Làm như là tất cả những người trong truyền thống Tiểu thừa đều là ích kỷ và những người trong truyền thống Đại thừa đều là Bồ Tát, đều là những người biết lo cho người khác. Sự thật thì dù là Tiểu thừa hay Đại thừa, cái đó tùy thuộc ở thái độ hơn là ở giáo lý. Chúng ta biết rằng trong giáo lý của đạo Bụt, sự thực tập vô ngã là căn bản. Nếu thực tập thành công, chúng ta trở thành vị A La Hán, chúng ta đã bỏ được ý niệm về ngã. Bỏ được ý niệm về ngã rồi thì không còn có sự phân biệt giữa ta và người nữa. Vì vậy không thể nói vị A La Hán chỉ lo cho mình mà không lo cho người. Đại thừa cũng vậy, nếu bỏ được cái ngã rồi thì không còn phân biệt ta và người nữa. Cho nên nói rằng Tiểu thừa chỉ lo cho mình mà không lo cho người là không đúng. Nếu những người Tiểu thừa thực tập thành công và buông bỏ được ý niệm về ngã thì họ không khác gì những người Đại thừa đã thực tập thành công. Trong phái Đại thừa cũng có người thực tập thành công và có người không thành công. Thời Đạo Bụt nguyên thỉ cũng có người thành công và có người không thành công. Do đó sự phân biệt vị Bồ Tát và vị La Hán, hai mẫu người lý tưởng của hai truyền thống, là không đúng lắm. Làm như một vị Bồ Tát lớn hơn vị La Hán, trong khi Đức Thế Tôn cũng được gọi là một vị La Hán. La Hán có nghĩa là ứng cúng và ứng cúng có nghĩa là xứng đáng được cúng dường. Trong mười danh hiệu của Bụt thì có danh hiệu La Hán, mà Đức Thế Tôn đâu phải là kẻ chỉ biết lo cho mình chứ không lo cho người?

Thiền sư Tăng Hội là Tổ sư của dòng thiền Việt Nam. Trong những trước tác của Ngài, Ngài nói rằng: A La Hán chính là vị Bồ Tát. Trong lịch sử văn học Phật giáo thế giới, chỉ mới thấy có thiền sư Tăng Hội nói câu đó, chưa thấy ai nói câu đó cả. Còn mẫu người lý tưởng trong thiền Lâm Tế là con người vô sự. Nếu vị A La Hán chưa phải là con người vô sự, thì chưa phải là con người lý tưởng. Nếu vị Bồ Tát chưa phải là con người vô sự thì cũng chưa phải là con người lý tưởng. Vì vậy nếu những người theo phái thiền Lâm Tế cảm thấy mình thảnh thơi, không còn lo lắng gì nữa, mình là con người vô sự, mình sống an lạc hạnh phúc trong giây phút hiện tại, thì những người ấy đã thành công. Gọi mình là A La Hán cũng được, gọi mình là Bồ Tát cũng được, nhưng gọi mình là người vô sự thì mình thích hơn.

Con người vô sự là con người không chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Bụt, là Tổ, là Niết bàn, là Tam thân, là Tịnh ?ộ. Con người vô sự là con người Đã Về Đã Tới, không còn thấy thiếu thốn một cái gì nữa mà phải đi tìm cầu, dù đối tượng tìm cầu đó là Bụt, là Tổ, là Niết Bàn, là Tam thân, là Tịnh độ. Con người vô sự là con người đã tiếp xúc được với tất cả những cái đó ngay trong giây phút hiện tại và ngay trong bản thân. Con người vô sự là con người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một giáo pháp, một lý thuyết, một đường lối nào nữa. Con người vô sự không còn đi tìm tòi học hỏi nữa. Con người vô sự là con người vô học. Vô học ở đây có nghĩa là không cần học hỏi nữa, chứ không phải là không có học vấn. Nói như vậy không có nghĩa là con người vô sự không cần đọc sách, không cần đọc kinh, bởi vì đọc sách, đọc kinh không phải là để tìm cầu mà là để tưới tẩm những hạt giống tốt của mình đã có sẵn. Khi học hỏi với tâm niệm là ta không có tuệ giác đó cho nên ta phải đi tìm tuệ giác đó trong sách vở, trong văn chương, trong kinh điển – nghĩ rằng trong kinh điển có những tuệ giác mà ta không có – thì khi đó là ta đang tìm cầu chân lý và tuệ giác qua kinh điển. Nếu ta biết rằng kinh điển hay giáo lý là những phương tiện để giúp cho ta tiếp xúc được với chân lý và tuệ giác có sẵn trong ta, thì kinh điển và giáo lý trở thành có ích lợi. Còn khi ta cho rằng kinh điển và giáo lý chứa đựng chân lý mà ở ta không có, thì khi đó kinh điển và giáo lý trở thành có hại. Ví dụ như ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay có ích lợi nếu ta biết lợi dụng ngón tay để nhìn thấy mặt trăng nhưng nếu không khéo thì ta sẽ bị kẹt vào ngón tay và ta cho ngón tay là mặt trăng. Kinh điển cũng vậy. Kinh điển và giáo lý là ngón tay. Nếu ta nghĩ rằng trong kinh điển có chân lý, có tuệ giác thì ta bị kẹt. Vì vậy khi ta đọc kinh và học hỏi để có cơ hội đánh động được tuệ giác ở trong bản thân mình, để tuệ giác bừng mở, thì kinh điển sẽ có ích lợi. Ta phải học theo phương pháp đó, nếu không ta sẽ còn chạy theo, sẽ chưa dừng lại được.

Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Vì vậy con người vô sự không phải là con người cuồng tín: cuồng tín vào một giáo pháp, cuồng tín vào một chủ thuyết. Khi ta đã có tuệ giác rồi thì kinh điển và giáo lý trở thành vỏ trấu, trở thành rơm rác. Khi đó ta đã biết sử dụng kinh điển và giáo lý một cách rất thông minh, ta không còn bị kẹt vào kinh điển và giáo lý nữa. Những người đi trước ta cũng được hướng dẫn như vậy. Họ sử dụng kinh điển và giáo lý một cách rất thông minh. Họ không cho đó là chân lý, mà họ coi đó là phương tiện, là chiếc bè để đưa họ đi tới bến bờ chân lý.

Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ.

Sự kiện là ta dừng lại rồi, ta không còn đi tìm cầu nữa, làm cho ta có cơ hội tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Vì vậy con người vô sự là con người có tự do: tự do đối với sự tìm cầu, tự do đối với quá khứ và tương lai, và do đó có khả năng sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, sống có chánh niệm, không có nghĩa là ta làm ngơ trước những đau khổ đang xảy ra chung quanh mình. Một cách rất tự nhiên, như hít thở, ăn cơm, uống nước v.v…, những gì ta nói hay làm đều có thể làm vơi bớt khổ đau trong cuộc đời rồi.

Chúng ta làm việc độ sinh và cứu đời, nhưng chúng ta không bị lý tưởng độ sinh và cứu đời kéo chúng ta ra khỏi giây phút hiện tại. Chúng ta không phải là những người vì say mê một lý tưởng, say mê một lý thuyết, say mê một đường hướng, rồi đánh mất sự sống. Có lý tưởng là điều rất đẹp. Nhưng nếu ta bị lý tưởng đó cuốn đi, bỏ mất sự sống trong hiện tại, đó là điều rất đáng tiếc. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ. Khi say mê một lý tưởng, ta đánh mất giây phút hiện tại thì ta cũng đánh mất luôn cái tâm sáng chói của ta. Cái tâm thức mầu nhiệm, sáu đạo thần quang đang có mặt, chính là cái tâm sáng chói. Sáu đạo thần quang đó là dụng cụ, là nền tảng của sự sống, của chư Bụt và chư vị Bồ Tát. Chính nó hé mở cho ta cánh cửa Phật độ để ta có cơ hội sống an lạc trong cõi Bụt.

Bụt không phải là đối tượng tìm cầu của ta, đừng lấy Bụt làm mục tiêu lý tưởng của mình, đừng cho Bụt là một thực thể tồn tại ngoài ta. Hình ảnh của ta xây dựng trong đầu về Bụt không phải là Bụt. Bụt ấy có sinh, có trú, có hoại, có diệt, Bụt ấy không đáng là hình ảnh lý tưởng mà ta chạy theo. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thật biệt lập ngoài ta, không phải là những phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện.

Bụt phải là một thực tại trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta sống có tỉnh thức, có chánh niệm, có an lạc, có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, thì chúng ta là Bụt rồi. Nếu chúng ta nghĩ Bụt là cái gì mình chưa có, mình không có, Bụt là cái không thể có mặt trong giây phút hiện tại được, Bụt chỉ có thể có mặt ở trong tương lai và ở một địa phương khác, thì lúc đó Bụt trở thành một chướng ngại cho hạnh phúc của ta. Vì vậy người nào đi tìm Bụt như một thực thể ở bên ngoài và trong tương lai, thì người đó đang đi ngược với giáo lý của Đức Thế Tôn. Hình ảnh của ta xây dựng trong đầu về Bụt không phải là Bụt. Chúng ta có rất nhiều ý niệm về Bụt. Hồi còn ấu thơ, ta có một ý niệm khá ngây thơ về Bụt. Khi lớn lên, ta bỏ ý niệm hồi ấu thơ và có một ý niệm khác. Hiện bây giờ chúng ta cũng đang có một ý niệm về Bụt, và ý niệm về Bụt này cũng cần phải bỏ đi. Tất cả mọi ý niệm về Bụt đều cần phải bỏ đi, tại vì Bụt không thể nào được nhận thức qua một ý niệm. Bụt phải là một thực tại, có mặt trong giây phút hiện tại. Khi ta đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm, uống nước mà có chánh niệm, có thong dong, có thảnh thơi, thì đó là Bụt đang đi, đứng, nằm, ngồi, ăn cơm và uống nước. Còn Bụt của ý niệm thì không phải là Bụt. Bụt do ta tạo ra trong đầu thì không phải là Bụt. Bụt ấy có sinh, có trú, có hoại, có diệt, Bụt ấy không đáng là hình ảnh lý tưởng mà ta chạy theo. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thật biệt lập ngoài ta, không phải là những phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện. Ý niệm về Bụt ở trong ta không phải là Bụt tự thân, không phải là Bụt đích thực, mà đó là hình ảnh về Bụt, đó là Ma Bụt. Ma Bụt có thể hớp hồn ta, khiến cho ta đánh mất sự sống trong giây phút hiện tại, đánh mất Bụt tự thân. Bụt tự thân đang có mặt trong giây phút hiện tại, trong mỗi hơi thở, trong mỗi bước chân, trong mỗi nụ cười, trong Giới, trong Niệm và trong Định. Thường thường người ta nói Ma khác với Bụt, Ma là kẻ thù của Bụt. Nhưng kỳ thực, nếu ta có ý niệm về Bụt, ý niệm đó cũng là Ma. Nếu để một ý niệm về Bụt kéo mình đi, tức là mình bị Ma Bụt hớp hồn, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền. Nếu không chém đầu Ma Bụt, thì Bụt chân thật không thể xuất hiện được. Ý niệm của ta về Bụt là Ma, bỏ ý niệm về Bụt thì ta có Bụt liền, bởi vì Bụt là Bụt tự thân mà không phải là Bụt của ý niệm. Cũng giống như ta có bản đồ của thành phố Paris và ta cho bản đồ này là Paris, thì thất bại. Paris không phải cái bản đồ Paris. Paris là một thực tại. Khi ta có ý niệm về Bụt, thì ý niệm đó không phải là Bụt. Ý niệm đó có thể trở thành đối tượng của sự vướng mắc của ta, cho nên phải chém đầu Ma Bụt. Cũng như cái bản đồ của Paris, phải đốt cái bản đồ đi, và nói: ‘Đây không phải là Paris, đây chỉ là bản đồ của Paris thôi’. Tổ cũng vậy. Nếu ta có ý niệm về Tổ, thì đó là Ma Tổ và nếu ta có ý niệm về Ta, thì đó là Ma Ta, có ý niệm về Bạn của ta, thì ý niệm đó là Ma Bạn. Khi ta có ý niệm về một cái gì đó thì cái ý niệm đó là Ma, vì ta chưa tiếp xúc được với thực tại của cái đó. Ta giận con Ma đó, ta ganh với con Ma đó, ta thương con Ma đó, ta chạy theo con Ma đó…, chứ không phải là ta tiếp xúc được với tự tánh của thực tại. Cho nên vấn đề là khi Ma xuất hiện, phải chém đầu liền. Trong Lâm Tế Lục có câu là ‘phùng Phật sát Phật’, tức là ‘gặp Bụt phải chém đầu liền’. Bụt ở đây cố nhiên là Ma Bụt, là ý niệm về Bụt mà ta có. Hồi nhỏ, có em bé tưởng Bụt là cái ông ngồi cả ngày trên bàn thờ và cứ nhìn xuống mấy nải chuối. Nếu ta không chém đầu cái ý niệm đó, thì làm sao ta có được cái thấy sâu sắc hơn về Bụt. Vì vậy tất cả những ý niệm ta có về Bụt đều phải chém đầu hết.

Ở thế kỷ thứ hai mươi, trong văn hóa Tây Phương, cũng có khuynh hướng tương tự như vậy trong Cơ Đốc giáo. Có một ngành thần học gọi là Theology of the Dead of God, tức là nền thần học nói về cái chết của Thượng Đế. Theo nguyên tắc là Thượng Đế không sinh không diệt, tại sao lại nói Thượng Đế chết? Đó là cái ý niệm của mình về Thượng Đế, và cái ý niệm đó phải chết. Chúng ta có ý niệm về Thượng Đế, chúng ta cho đó là sự thật, và chúng ta nhân danh Thượng Đế để chúng ta đi chinh phục, để chúng ta bắt ép, thì Thượng Đế đó là Ma Thượng Đế, cần phải chém đầu liền. Vì vậy cho nên mới có tư trào thần học gọi là Theology of the Dead of God. Cái này tương tự như tinh thần của Lâm Tế. Một bên là sát Phật, một bên là sát Thượng Đế. Có một cuốn sách khác, với nhan đề là Your God Is Too Small, dịch là ‘Thượng Đế của anh nhỏ xíu’ (nhỏ bằng hột đậu phụng!). Thượng Đế đó không đáng để cho anh tôn thờ, tại vì quan niệm của anh về Thượng Đế quá nhỏ bé. Thượng Đế đó chỉ có đi theo phe anh mà thôi: Chúa chỉ ban phúc cho nước Mỹ thôi (God bless America), Chúa không ban phúc cho các nước khác. Thượng Đế đó nhỏ xíu bằng hột đậu phụng, không đủ để cho mình chiêm ngưỡng. Chừng nào ta phá bỏ tất cả ý niệm của ta về Thượng Đế, thì Thượng Đế tự thân mới có thể biểu hiện được. Chừng nào ta phá bỏ hết ý niệm của ta về Bụt, thì Bụt tự thân mới có thể biểu hiện được. Người vô sự là người đã phá bỏ được hết mọi ý niệm, con người đó có thể an trú được trong hiện tại và tiếp xúc được với Bụt tự thân, không còn bị Ma Bụt hớp hồn, và mỗi ngày không phải chạy Đông, chạy Tây, chạy Nam, chạy Bắc để tìm Bụt nữa. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thực biệt lập ngoài ta, không phải là phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện.

Tất cả những giáo lý khác cũng vậy. Các tạo tác như ý niệm về tam thân, tam bảo, niết bàn, tam pháp ấn đều là những cái được tạo dựng để giúp đưa chúng ta đi vào trong thế giới của thực tại, của giác ngộ. Nếu chúng ta bị kẹt vào những ý niệm đó, thì chúng ta bị sập vào những cái bẫy của cổ nhân. Cố nhiên, cổ nhân (Bụt và Bồ Tát) không có ý đánh lừa chúng ta, không có ý giương những cái bẫy để chúng ta bị sập vào đó, nhưng vì chúng ta vụng về không biết sử dụng những phương tiện khéo léo của các ngài nên chúng ta mới bị sập vào. Đây cũng là tinh thần của kinh Người Bắt Rắn (Xà Dụ kinh). Trong kinh Bụt nói rằng: ‘Giáo lý của ta rất vi diệu. Nó có khả năng giúp cho quý vị đi tới giải thoát. Nhưng nếu quý vị không biết cách học hỏi, cố chấp vào hình tướng của giáo lý, thì quý vị sẽ bị kẹt vào giáo lý đó, và giáo lý đó trở thành nguy hiểm cho quý vị. Giống như người bắt rắn, không biết bắt rắn mà nắm lấy đuôi rắn thì thế nào cũng bị rắn quay lại mổ’. Vì vậy những thi thiết, giáo lý, những phương tiện của cổ nhân đưa ra, chúng ta phải khéo léo tiếp nhận, nếu không thì những cái đó sẽ trở lại hại mình. Cũng trong kinh Người Bắt Rắn, có dùng hình ảnh của chiếc bè (sau này được kinh Kim Cương dùng lại). Chiếc bè không phải là bờ bên kia, nhưng nếu chúng ta nghĩ chiếc bè là bờ bên kia, thì chúng ta sẽ không bao giờ sang được bờ bên kia. Nếu biết rằng chiếc bè không phải là bờ bên kia, thì chúng ta có thể sử dụng chiếc bè một cách thông minh để đi qua bờ bên kia. Nghĩa là những thi thiết, những giáo lý, những phương tiện của cổ nhân (Bụt và Bồ Tát) hiến tặng, chúng ta phải khôn khéo sử dụng như khôn khéo sử dụng chiếc bè. Nếu không, chúng ta sẽ bị rắn cắn, chúng ta sẽ không bao giờ sang được bờ bên kia. Vì vậy, chúng ta cần phải có thanh gươm của trí tuệ và có thái độ sẵn sàng của chàng dũng sĩ cầm gươm trí tuệ, mỗi khi có một bóng Ma xuất hiện thì chặt đầu liền.

Con người thật, con người vô sự không bao giờ bị cảnh vật lôi kéo, vì vậy luôn luôn giữ được tự do. Cảnh giới Ma không lôi kéo ta được đã đành, cảnh giới Bụt cũng không lôi kéo ta được. Tại vì ta đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức, Ma và Bụt bất nhị, đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và cả Bụt.

Ta đã tự do rồi thì có ai lôi kéo được ta đâu. Có tự do là có Bụt. Ma lôi kéo không được mà Bụt lôi kéo cũng không được. Tại sao lại bị Bụt lôi kéo nữa? Còn bị lôi kéo tức là ta còn đang trong tình trạng thiếu thốn, tìm cầu. Tại vì ta đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức, Ma và Bụt bất nhị, đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và Bụt. Con người vô sự không chạy trốn Ma và cũng không chạy theo Bụt, bởi vì con người vô sự đã dừng lại rồi. Nhìn Ma cũng không sợ tại vì ta biết đó là Ma, nhìn Bụt cũng không ham bởi vì ta biết đó chỉ là một hình ảnh có thể kéo ta đi. Ta có Bụt tự thân rồi, ta không cần phải chạy theo một hình ảnh Bụt nào khác nữa. Bụt không phải là một hình ảnh, không phải là một đối tượng tìm cầu. Cũng như ta có cái đầu rồi, tại sao ta còn đi tìm một cái đầu khác nữa? Trong lúc hoảng hốt, ta nghĩ ta không có đầu và chạy đi tìm cầu cái đầu khác, tức là ta đang bị bệnh tâm thần. Diễn Nhã Đạt Đa là một anh chàng bị bệnh tâm thần. Chúng ta cũng vậy, có thể chúng ta cũng đang bị bệnh tâm thần. Chúng ta có đủ hết vậy mà chúng ta vẫn còn chạy đi tìm: chúng ta đi tìm Thượng Đế, chúng ta đi tìm Thiên quốc, chúng ta đi tìm Niết Bàn, chúng ta đi tìm Bụt. Cũng như đợt sóng đi tìm nước. Đợt sóng mà đi tìm nước thì nghe rất buồn cười, vì đợt sóng ngay trong giây phút hiện tại đã là nước rồi. Con người vô sự là con người không còn đi tìm cầu nữa, con người đứng yên được trong giây phút hiện tại. Con người thật, con người vô sự không bao giờ bị cảnh vật lôi kéo (cảnh vật có thể là Bụt, Bụt có thể là cảnh vật. Cảnh vật này là Ma), vì vậy luôn luôn giữ được tự do. Cảnh giới Ma không lôi kéo ta được đã đành, cảnh giới Bụt cũng không lôi kéo ta được. Tại vì ta đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức. Cũng như người làm vườn, thấy rác không sợ, thấy hoa cũng không mừng, vì biết rằng rác kia có thể làm thành hoa, hoa kia sẽ trở thành rác. Cho nên người làm vườn không kỳ thị giữa rác và hoa. Con người thật, con người vô sự cũng không kỳ thị giữa Ma và Bụt. Ma và Bụt không hai. Đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Thấy Ma thì không sợ, không ngán, không ghét và thấy Bụt cũng không ham, cũng không đánh mất mình. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và cả Bụt. Đánh dẹp Ma đã đành rồi, nhưng đánh dẹp luôn cả Bụt, tại vì Bụt cũng có thể là một thứ Ma, nếu mình để mình kẹt vào một ý niệm về Bụt.

Tổ khuyên mọi người đừng ỷ lại vào kẻ khác, dù họ tự gọi là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng, đừng đi tìm kiến giải nơi từ chương, nơi kinh điển, nơi văn cú, đừng kẹt vào các danh từ, đừng hy vọng tìm giải thoát và trí tuệ nơi sự học hỏi và nghiên tầm kinh điển. Tìm giải thoát và giác ngộ nơi sự nghiên tầm kinh điển cũng như hy vọng tìm được những giọt nước mát trong một bộ xương khô. Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. Phải trở về giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói đang có mặt ngay tại đây thì mới có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ đang là những thực thể sống động nơi giây phút này.

Đừng ỷ lại vào kẻ khác, dù họ tự gọi là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng. Ta tu không phải là vì người kia tu mà vì ta tu. Nếu như thế thì khi người kia không tu nữa ta cũng sẽ không tu nữa? Không nên như vậy. Ví dụ, thầy của ta không tu nữa, không phải vì vậy mà ta không tu nữa. Thầy ta không tu nữa thì kệ thầy, ta cứ tiếp tục tu. Sư anh ta không tu nữa thì kệ sư anh, ta cứ tiếp tục tu. Ta đi tu không phải là vì một người, dù người đó là Bụt hay là thầy. ‘Bụt ơi, con đi tu là vì Ngài đó! Thầy ơi, con đi tu là tại vì con thương thầy nên con mới đi tu đó!’ – Không nên có thái độ như vậy. Đi tu là vì cái gì chứ không nên vì một người, dù người đó tự xưng là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng.

Đừng đi tìm kiến giải nơi từ chương, nơi kinh điển, nơi văn cú, đừng kẹt vào các danh từ, đừng hy vọng tìm giải thoát và trí tuệ nơi sự học hỏi và nghiên tầm kinh điển. Ta vẫn học hỏi và nghiên tầm kinh điển, nhưng ta cần biết rõ kinh điển là phương tiện, là chiếc bè, là ngón tay. Ta có niềm tin rằng chân lý và tuệ giác đã có sẵn trong ta. Học hỏi và nghiên tầm kinh điển là để có cơ hội đánh động tới những tuệ giác trong người ta và làm cho chúng phát hiện. Không nên đi tìm tuệ giác, đi tìm chân lý dưới dạng những lý thuyết, dưới dạng những tư tưởng uyên áo.

Tìm giải thoát và giác ngộ nơi sự nghiên tầm kinh điển cũng như hy vọng tìm được những giọt nước mát trong một bộ xương khô. Bộ xương khô làm sao mà cất chứa được giọt nước cam lộ? Vì vậy đi tìm tự do, giác ngộ, giải thoát ở lý thuyết, ở chủ nghĩa, ở kinh điển là việc không thể xảy ra. Những cái đó phải ứa ra từ trái tim. Cho nên đọc kinh là để có cơ hội trở về với trái tim. Đọc kinh với tư cách là một con người tự do chứ không phải là một con người nô lệ. Kinh điển cũng rất nguy hiểm. Không phải tất cả những gì trong kinh điển đều phản chiếu tính giác ngộ của Bụt và Bồ Tát. Nhiều khi do truyền thừa sai lầm, có những câu ngược lại với những điều Bụt nói. Khi ta đọc, ta phải mỉm cười và phải thấy được những điều đó. Có những câu nói với con nít, ta phải biết rằng câu này là để nói với con nít. Không phải câu nào được nói ra, ta cũng phải cúi đầu mà nghe, mà tin. Phải căn cứ vào tuệ giác của ta chứ đừng căn cứ vào chữ nghĩa. Cũng như khi nghe một người nói chuyện, ta đừng chấp vào những điều người đó nói, những danh từ người đó dùng để ro^`i ta giận, ta ganh, ta buồn, và ta hiểu lầm người đó. Phải thấy được tâm của người đó và tâm của mình. Vì vậy trong khi nói chuyện với người kia, ta phải là con người tự do. Ta không để mình trở thành nạn nhân của sự hiểu lầm, của những danh từ mình đang sử dụng, và cách thức mình tiếp nhận những danh từ đó. Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. nhưng nếu biết sử dụng giáo điển thì ta có thể làm biểu hiện được da thịt và sự sống. Khi có tuệ giác rồi, tất cả những cái đó là trấu, là rơm, mà không phải là cái gì thần bí hay ghê gớm lắm. Thánh Augustin đã viết một bộ sách về thần học nổi tiếng là Suma Theologyca, dịch là Thần Học Đại Toàn, ?u+o+.c nhiều người rất kính phục, vì bộ sách đó nói lên được tinh yếu của giáo lý Cơ Đốc giáo. Khi sắp tịch, Thánh có nói một câu: ‘Thôi đừng đọc cái đó nữa. Cái đó là vỏ trấu, cái đó là rơm rác của tôi thôi’. Thánh đã để hết tất cả trái tim và cuộc đời của mình để viết bộ Thần Học Đại Toàn, vậy mà đến giờ phút chót, tự nhiên Thánh có một cái thấy nào đó và từ cái thấy đó Thánh nói: Thôi đừng đọc cái đó nữa, cái đó là rơm, là rác, là vỏ trấu, không đáng để cho quý vị đọc. Vua Trần Anh Tông cũng có sáng tác nhiều bức tranh thủy mạc rất đẹp. Đến khi gần băng hà, vua đã ra lệnh đốt hết tất cả những bức tranh đó. Qua hai chuyện có cùng một thái độ, ta thấy rằng những cái mà ban đầu ta cho là nghệ thuật cao, nhưng sau đó ta lại thấy không là gì hết, bởi vì khi đó ta đã đạt được một cái thấy rất mầu nhiệm và sâu sắc.

Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. Bộ xương khô cũng có thể có ích lợi, nhưng nó chỉ là bộ xương khô, nó không phải là sự sống. Phải trở về giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói đang có mặt ngay tại đây thì mới có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ đang là những thực thể sống động nơi giây phút này. Đây là sự thực tập trở về trong giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói (sáu đạo thần quang) đang có mặt ngay tại đây để có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ, đang là những thực thể sống động nơi giây phút này mà không cần đi tìm cầu ở đâu hết.

Người tu đạo không cần phải dụng công mệt nhọc. Đừng đày đọa thân thể và tâm trí bằng cách chạy đi tìm cầu. Trong tinh thần vô đắc ta phải thấy rằng ta đã là cái ta đang tìm cầu rồi, cũng như đợt sóng tự biết mình là nước, có thể ngưng ngay lại sự bôn ba đi tìm nước. Phương pháp thực tập là dừng lại, bởi vì giây phút hiện tại nào cũng là giây phút trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, từ bước chân, hơi thở, cho đến hành động ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu. Không cần đi đâu hết, không cần làm gì nữa. Cái mà ta đi tìm đã có sẵn ngay ở đây. Vì vậy ta có thể thực sự là một người vô sự. Nếu ta tiếp tục đày đọa thân tâm vì sự thực tập, vì sự tìm cầu, vì sự nghiên cứu, vì sự dụng công khổ nhọc của mình thì ta đi ngược với con người của Tổ và của Bụt, và ta cách xa với Tổ và Bụt như trời xa cách đất.

Trong khi tu tập nếu ta thấy cực khổ quá, ta than thở là tại sao ta lại đi đày đọa tấm thân này như vậy, thì ta không phải là người tu đạo đích thực. Đày đọa thân thể và tâm trí bằng cách chạy đi tìm cầu là điều không nên làm. Trong tinh thần vô đắc, ta phải thấy rằng ta đã là cái ta đang tìm cầu rồi, cũng như đợt sóng tự biết mình là nước, có thể ngưng ngay lại sự bôn ba đi tìm nước. Nếu sóng biết mình là nước rồi thì đâu cần đi tìm nước nữa. Ta cũng vậy, nếu ta biết ta là Niết Bàn, là giải thoát, là giác ngộ, là Tịnh Độ rồi thì ta không đi tìm cầu nữa. Không đi tìm cầu ở bên ngoài và trong tương lai, ta trở về và tiếp xúc với tất cả những cái đó trong giây phút hiện tại. Phương pháp thực tập là dừng lại (stop), bởi vì giây phút hiện tại nào cũng là giây phút trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, từ bước chân, hơi thở, cho đến hành động ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu. Đây là giáo lý của Tổ, rất phù hợp với sự thực tập của Làng Mai. Giây phút nào cũng là giây phút trở về. Trở về ngôi nhà đích thực của chính mình. Từng bước chân, từng hơi thở, cho đến những hành động như ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu, cũng là để trở về với quê hương đích thực của mình. Không cần đi đâu hết, không cần làm gì nữa. Cái mà ta đi tìm đã có sẵn ngay ở đây, vì vậy ta có thể thực sự là một người vô sự. Nếu ta tiếp tục đày đọa thân tâm vì sự thực tập, vì sự tìm cầu, vì sự nghiên cứu, vì sự dụng công khổ nhọc của mình thì ta đi ngược với con người của Tổ và của Bụt, và ta cách xa với Tổ và Bụt như trời xa cách đất. Đây chính là những lời Tổ nói. Tu làm sao để mỗi giây phút đều có an lạc. Tu làm sao để đừng có cảm tưởng là mình đang lao tác mệt nhọc, mình đang đày đọa thân và tâm của mình. Điều này tùy thuộc vào nhận thức của ta. Ta đang ngồi thiền, mà nếu ta ngồi thiền với tâm niệm tìm cầu, chối bỏ giây phút hiện tại, thì ta sẽ không thấy được chính sự ngồi yên là một điều mầu nhiệm. Còn nếu ta ngồi thiền mà thấy rõ ràng ta đang là Bụt, là Tổ, sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong giây phút hiện tại và ta đang được ngồi ở đây, thì tự nhiên buổi ngồi thiền trở thành rất thanh thản, rất nhẹ nhàng; hơi thở cũng như thế ngồi của ta trở thành những cái rất mầu nhiệm, và ta có an lạc và hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.

Đọc tới đây, chúng ta thấy rõ những điều Tổ nói là những điều có công năng đập phá, cởi trói và trị liệu. Rõ ràng là Tổ không đưa ra một lý thuyết để cho chúng ta học hỏi, tôn thờ, hay kính ngưỡng. Những điều Tổ nói có tác dụng đập phá những thái độ, những nhận thức của ta, đưa lại cho ta tự do. Vì vậy phẩm chất giải thoát trong Lâm Tế Lục rất cao. Lâm Tế Lục cũng có tinh thần của Trung Quán Luận. Trung Quán Luận không đưa ra một lý thuyết, Trung Quán Luận chỉ đập đổ tất cả những khái niệm và những lý thuyết. Các khái niệm về nhân, về quả, về trước, về sau, về tới, về đi, về một, về nhiều, v.v… đều bị đập vỡ hết. Lâm Tế Lục cũng theo tinh thần và theo truyền thống đó. Những người đi theo các truyền thống tâm linh trên thế giới, hầu hết ai cũng có sự mong cầu, ai cũng có niềm hy vọng. Hầu hết ai cu~ng đều có cảm tưởng rằng mình chỉ là đau khổ, mình chỉ là trống không, mình chỉ là nghèo khó, và sự thực tập hàng ngày của mình là đi tìm cầu, đi xin xỏ, đi nài nỉ, đi ăn mày một ít công đức và hạnh phúc của những người khác: người đó là Bụt, là Tổ, hay là Chúa. Đa số là như vậy. Trong khi đó, Tổ dạy rằng: Con đường ấy không phải là con đường của Bụt. Con đường của Bụt là con đường chấm dứt sự tìm cầu, dừng lại và trở về trong giây phút hiện tại để khám phá bản thân mình là một thực tại mầu nhiệm, để có thể có hạnh phúc bây giờ và ở đây. Đây là tinh thần của giáo lý vô đắc.

Con người vô sự là con người tự do, ở đâu cũng làm chủ được mình. Nếu mình có được cái thấy chân thật (kiến giải chân chính) thì mình không còn bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp, kể cả những tướng sinh, trú, dị, diệt của Bụt Thích Ca, và vì vậy mình cũng không bị kẹt vào hóa thân Bụt. Dù sự vật quanh mình và chính bản thân năm uẩn của mình có đang đi ngang qua những tướng sinh, trú, dị, diệt ấy mình cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn vui hay thương ghét. Mình không bị cảnh đoạt. Mình luôn luôn đứng vào vị trí chủ động, đứng vững trong chánh kiến của mình và không trở nên nạn nhân của hoàn cảnh, của kẻ khác, không than phiền rằng hoàn cảnh như thế đó, người ta như thế đó cho nên tôi đã phải như thế này. Mình chuyển được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thể chuyển được mình. Mình luôn luôn là con người thật của mình trong bốn động tác đi, đứng, nằm, ngồi, mình không cần phải đóng kịch, dù là đóng vai giải thoát, đóng vai giác ngộ, đóng vai đại thiền sư. Cái này gọi là ‘tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân’. Con người thật có nghĩa như thế.

Con người vô sự là con người tự do, ở đâu cũng làm chủ được mình. Chữ tự do đây không phải là tự do chính trị, hay những loại tự do mà chúng ta phải tranh đấu ở ngoài xã hội mới có. Tự do ở đây là tự do đối với những phiền não, những tham vọng, những thèm khát, những giận hờn, những tuyệt vọng, những ganh ti., những lo lắng, những tính toán hơn thiệt. Tất cả những tâm hành đó đều làm cho chúng ta mất tự do. Và con người vô sự trước hết là con người tự do đối với những tâm hành tiêu cực đó. Ở đâu cũng làm chủ được mình. Trong bất cứ hoàn cảnh nào con người vô sự cũng có thể an lạc, cũng có thể mỉm cười, cũng có thể cảm thấy thoải mái được.

Nếu mình có được cái thấy chân thật (kiến giải chân chính) thì mình không còn bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp, kể cả những tướng sinh, trú, dị, diệt của Bụt Thích Ca, và vì vậy mình cũng không bị kẹt vào hóa thân Bụt. Kiến giải chân chính là danh từ của Tổ Lâm Tế. Đó là chánh kiến. Tổ không dùng chữ chánh kiến, vì thiên hạ dùng chữ chánh kiến quá nhiều nên chữ đó đã bị lờn, cho nên Tổ đã dùng chữ kiến giải chân chính. Cũng như chữ trí tuệ và từ bi, người ta đã dùng nhiều quá, nên ở Làng Mai chúng ta ưa dùng chữ hiểu và thương hơn, vì nó hiện thực, dễ đi vào lòng người và dễ hiểu hơn. Hiểu và thương tức là trí tuệ và từ bi. Ở đây cũng vậy, có danh từ chánh kiến (right view, samadrsti) nhưng Tổ không dùng, Tổ dùng bốn chữ chân chính kiến giải. Đó là cái thấy chân thật, là tuệ giác. Khi có tuệ giác rồi thì ta không còn bị kẹt vào các tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp. Ví dụ, khi ta thấy bông hoa bắt đầu sinh ra, đó là tướng sinh của bông hoa. Khi ta thấy bông hoa lớn lên và nở ra, đó là tướng trú của bông hoa. Và khi ta thấy bông hoa có sinh và có trú thì ta biết thế nào bông hoa cũng có dị, tức là có biến đổi. Cho nên khi bông hoa bắt đầu tàn thì ta sẽ không buồn, và khi bông hoa không còn nữa thì ta cũng không đau khổ. Đó là ta không kẹt vào tướng sinh, trú, dị, diệt của bông hoa. Cũng như vậy, khi ta nhìn một người và nhìn bản thân ta, nếu ta không bị kẹt vào các tướng sinh, trú, dị, diệt, thì ta sẽ không lo lắng và không sợ hãi. Nếu ta có kiến giải chân chính, ta sẽ tiếp xúc được với bản chất bất sinh, bất diệt, và không còn bị lung lay bởi tướng sinh, trú, dị, diệt của người kia và của chính ta nữa. Bụt Thích Ca là một hóa thân mà không phải là pháp thân. Mà ta đã là hóa thân thì ta có sinh, có trú, có dị và có diệt. Cho nên Bụt Thích Ca cũng không phải là đối tượng tìm kiếm của ta. Thành ra Bụt Thích Ca có đó hay không có đó, ta cũng không bị kẹt vào hóa thân của Bụt. Dù sự vật quanh mình và chính bản thân năm uẩn của mình có đang đi ngang qua những tướng sinh, trú, dị, diệt ấy mình cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn vui hay thương ghét. Ở đây, ta thấy rõ ràng là kiến giải chân chính tức là cái thấy không bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị và diệt. Trú là tồn tại. Dị nghĩa là khác. Bắt đầu hư hoại gọi là dị. Diệt giống như là không còn nữa. Có kiến giải chân chính thì ta sẽ không còn là nạn nhân của buồn vui hay thương ghét. Đó là con người vô sự, con người tự do, con người không bị cảnh đoạt. Con người bị cảnh đoạt sẽ trở thành nạn nhân của nó. Đoạt tức là lấy đi, là chiếm hữu. Cái cảnh kia không thể làm cho ta bực mình, sợ hãi và tuyệt vọng được nữa. Ta không còn bị cảnh làm cho xao xuyến, sợ hãi, bực bội, và mất hết nhân cách của ta được nữa.

Mình không bị cảnh đoạt. Mình luôn luôn đứng vào vị trí chủ động, đứng vững trong chánh kiến của mình và không trở nên nạn nhân của hoàn cảnh, của kẻ khác, không than phiền rằng hoàn cảnh như thế đó, người ta như thế đó cho nên tôi đã phải như thế này. Ta không đổ lỗi cho người khác. Nếu có những yếu kém, những lỗi lầm là tại vì ta, chứ ta không nên đổ lỗi cho người khác: tại sư anh làm như vậy, cho nên tôi phải làm như vậy; nếu sư anh không làm như vậy, thì tôi đâu có như vậy; nếu sư chị không làm như vậy, thì tôi đâu đến nỗi như vậy. Ta không đổ lỗi cho người khác và cũng không đổ lỗi cho hoàn cảnh. Người vô sự vì vậy đứng vững trong cái thấy của mình, không tìm cách bào chữa cho mình, mình luôn luôn làm chủ chính mình.

Mình chuyển được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thể chuyển được mình. Có một thiền sư nói: Một ngày hai mươi bốn giờ đồng hồ không nắm được tôi, nhưng tôi nắm được hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày. Đó là vì ta có chủ quyền, ta thay đổi được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thay đổi được ta. Ta ở trong cuộc đời nhưng không bị cuộc đời làm cho chìm đắm, cũng như hoa sen ở trong bùn nhưng không bị hôi tanh mùi bùn. Đó là con người vô sự, con người tự do, con người có kiến giải chân chính. Mình luôn luôn là con người thật của mình trong bốn động tác đi, đứng, nằm, ngồi. Trong khi đi, chính là ta đang đi; trong khi đứng, chính là ta đang đứng; trong khi nằm, chính là ta đang nằm; trong khi ngồi, chính là ta đang ngồi. Mình không cần phải đóng kịch, dù là đóng vai giải thoát, đóng vai giác ngộ, đóng vai đại thiền sư. Thành ra con người vô sự là con người thật, con người không cần phải đóng kịch. Và cái này gọi là ‘tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân’. Đây là danh từ của Tổ. Tùy xứ tác chủ là bất cứ ở trong hoàn cảnh nào ta cũng làm chủ được mình, ta không tìm cách phân minh: Tôi sở dĩ mà hư hỏng, mà tệ như thế này là tại vì hoàn cảnh, tại vì những người khác. Ở đâu ta cũng làm chủ, ở đâu ta cũng có chủ quyền (sovereignty) của mình, gọi là tùy xứ tác chủ. Lập xứ đắc chân là bất cứ chỗ nào, chỗ ta đang đứng, chỗ ta đang ngồi, v.v… ta cũng là con người thật của ta, ta làm chủ hoàn cảnh và ta không cần phải đóng kịch. Đó gọi là tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân. Tám chữ này là nguyên tắc của Tổ. Mà con người thật cũng có nghĩa là như vậy.

Vì mình có khả năng sống với con người thật của mình cho nên mình không cần phải làm dáng làm điệu. Mình đâu có cần phải chứng tỏ mình là giải thoát, là giác ngộ. Mình có thể sống một cuộc sống bình thường, mình chỉ cần làm một con người bình thường. Con người bình thường này là con người vô sự, có giá trị cao hơn cả những vị Bồ tát tự xưng là đang đi trên con đường viên đốn, đang đi ngang qua mười địa, đang đi vào tịnh độ, tại vì các vị này vẫn còn mang theo tâm niệm yêu thánh, ghét phàm, vẫn còn cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, chưa dừng lại được. Con người vô sự mới đích thực là con người đáng được chư thiên ca tụng, được địa thần nâng gót, được chư Bụt muôn phương xưng tán. Tại vì con người vô sự là con người hoàn toàn tự do, vô tướng, không làm dáng làm điệu, không cần để lại vết tích gì.

Ta không cần phải giả bộ là cái mà ta không phải. Ta không muốn chứng tỏ cho người ta thấy, ao ước cho người ta thấy ta là một người đặc biệt, một người giải thoát. Cũng như bông hoa kia nở trong ngõ ngách một cách rất tự nhiên. Nó không hề đau khổ khi không có ai nhìn ngắm, và cũng không hãnh diện khi người ta tới ngắm nhìn nó. Mình có thể sống một cuộc sống bình thường, mình chỉ cần làm một con người bình thường. Con người bình thường này là con người vô sự, có giá trị cao hơn cả những vị Bồ Tát tự xưng là đang đi trên con đường viên đốn, đang đi ngang qua mười địa, đang đi vào tịnh độ. Tại vì các vị này vẫn còn mang theo tâm niệm yêu thánh ghét phàm, vẫn còn cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, chưa dừng lại được. ‘Nếu vị Bồ Tát nào còn thấy mình là Bồ Tát thì vị đó chưa phải là Bồ Tát’, đó là một câu ở trong Kinh Kim Cương. Nếu ta là giáo thọ mà ta cứ nghĩ mình là giáo thọ, thì ta chưa phải là giáo thọ. Nếu ta là thầy tu mà ta thấy mình là thầy tu, hơn người, thì ta chưa phải là thầy tu đích thực. Nếu ta tự hào với vị trí đó, danh hiệu đó, hay địa vị đó thì ta chưa thực sự đứng ở vị trí đó, chưa thật sự có danh hiệu đó, hay chưa nằm ở trong địa vị đó. Nếu một vị Bồ Tát đang đi qua mười địa mà còn thấy mình đang đi qua mười địa, thì vị Bồ Tát đó chưa phải là vị Bồ Tát đích thực; nếu một vị thấy rằng mình đã giải thoát, thì vị đó chưa phải là giải thoát, vì vị đó đã bị kẹt vào hai ý niệm giải thoát và không giải thoát, ý niệm về thánh và về phàm, vẫn có cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, vẫn chưa dừng lại được. Ở đây, chúng ta thấy định nghĩa con người vô sự là con người không còn đi tìm cầu, không còn phân biệt phàm và thánh, là con người đã dừng lại được. Dừng lại được là một quả vị rất lớn, đã về đã tới, không còn đi tìm cầu nữa, không còn ham muốn nữa. Con người vô sự như vậy rõ ràng là con người đã hoàn toàn về, đã hoàn toàn tới, không có cảm tưởng là mình thấp, cũng không có cảm tưởng là mình cao. Con người vô sự mới đích thực là con người đáng được chư thiên ca tụng, được địa thần nâng gót, được chư Bụt muôn phương xưng tán. Đứng về phương diện hình thức, con người vô sự có dáng dấp rất bình thường, không có gì đặc biệt: không có hào quang, không đội mũ tì lư, không ngồi trên pháp tòa cao ngất. Nhưng chính con người vô sự đó là đối tượng yêu thương, đối tượng cung kính của chư Bụt và chư vị Bồ Tát, đáng được chư Bụt ca ngợi, đáng được địa thần nâng gót chân mỗi khi bước. Vì vậy con người vô sự là con người lý tưởng của Tổ Lâm Tế. Nếu ta là con người vô sự, thì ta có thể nhận diện được những con người vô sự khác, vì ta biết thế nào là con người vô sự, vì họ không cần có một hình tướng bên ngoài. Trong sách luận ngữ có câu: ‘Nhân bất tri, nhi bất uẩn, bất diệc quân tử hồ’, nghĩa là người ta không biết mình là ai, không thấy được cái giá trị của mình mà mình không buồn giận thì mình đích thực là người quân tử. Có rất nhiều tài năng, có rất nhiều đức tính, nhưng không cần người ta phải công nhận là mình có tài năng, có đức tính, mà vẫn có hạnh phúc. ‘Nhân bất tri, nhi bất uẩn, bất diệc quân tử hồ’ có nghĩa tương đương với con người vô sự của Tổ Lâm Tế. Tại vì con người vô sự là con người hoàn toàn tự do, vô tướng, không làm dáng làm điệu, không cần để lại vết tích gì. Đó là những chữ của Tổ dùng: không làm dáng, không làm điệu, không cần được công nhận, không cần để lại dấu vết cho hậu thế trong tương lai, không mong cầu trở thành bất tử trong văn chương, trong lịch sử. Sự nghiệp của ta là giải thoát, là chánh kiến, là trí tuệ, chứ không phải là cái danh mà ta sẽ để lại trong lịch sử. Nó khác với câu thơ của Nguyễn Công Trứ:

Đã mang tiếng ở trong trời đất

Phải có danh gì với núi sông

Ta không cần phải có danh với núi sông, ta chỉ cần sống hạnh phúc, sống tự do trong giây phút hiện tại. Có thể là Nguyễn Công Trứ lúc nói hai câu đó đã chưa đạt tới địa vị của con người vô sự, nhưng sau đó thì Nguyễn Công Trứ đã đạt được, và hai câu nói đó đã trở thành quá khứ. Con người vô sự không cần danh, không cần để lại tên tuổi mình trong lịch sử, vì cái đó không có nghĩa gì cả. Vấn đề là ở giây phút hiện tại: giây phút hiện tại có tự do và vô sự là cái quý nhất.

Con người vô sự này chính là Bụt, là Tổ đích thực. Ngay trong giờ phút này, con người (vô sự) ấy đang ở trên quê hương của mình, không cần đi tìm cầu gì nữa. Ngay trong giờ phút này, con người ấy có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước, và dù năm uẩn của mình vẫn còn là năm uẩn có sinh có diệt, người ấy vẫn có thể ngay trong giờ phút hiện tại, biểu diễn được phép thần thông là đi an lạc ngay trên mặt đất (địa hành thần thông). Người ấy không cần đi đâu hết, không cần phải ra khỏi tam giới. Tam giới đối với người ấy chỉ là quang ảnh. Người ấy có tự do cho nên người ấy thảnh thơi ngay tại nơi này, những yếu tố của tam giới là dục, sắc và vô sắc không động được người ấy.

Con người vô sự này chính là Bụt, là Tổ đích thực. Nhận diện được Bụt và Tổ cũng rất khó, vì ta thường có khuynh hướng đi tìm Bụt và Tổ với những cái vòng hào quang và những hình tướng, trong khi con người vô sự không cần có hào quang, không cần có hình tướng. Bụt như vậy đó. Tổ như vậy đó. Bụt có thể sống ngay bên cạnh ta mà ta không biết. Tổ có thể sống ngay bên cạnh ta mà ta không biết. Tại vì con người vô sự chính là Bụt, chính là Tổ. Nhưng nếu ta không biết quý sự có mặt của con người vô sự, thì ta sẽ không thấy được Bụt và không thấy được Tổ. Ngay trong giờ phút này, con người ấy đang ở trên quê hương của mình, không cần đi tìm cầu gì nữa. Con người vô sự là con người đang có quê hương, là con người không đang đi tìm cầu nữa. Con người đó đã về tới quê hương của mình rồi. Con người vô sự tức là con người đã về, con người đã tới. Và đây là chữ của Tổ: Ngay trong giờ phút này, con người (vô sự) ấy đang ở trên quê hương của mình, không cần đi tìm cầu gì nữa. Nếu anh đang còn đi tìm cầu, thì anh chưa phải là người vô sự: anh chưa về, anh chưa tới. Ngay trong giờ phút này, con người ấy có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước. Con người vô sự có phép thần thông, và phép thần thông của người vô sự là sử dụng được sáu đạo thần quang của mình: nhìn trời xanh thấy được trời xanh, nhìn mây trắng thấy được mây trắng; mỗi bước chân có thể bước thanh thản trên Tịnh Độ được liền và mỉm cười khi nghe tiếng chim hót, thông reo, hoa nở. Đó là có tịnh độ ứng thân hiện vật. ng thân tức là có mặt ra. Ta có mặt như một con người, ta có mặt như một cái cây, ta có mặt như một đám mây và ta có mặt như một vị Bồ Tát. Hiện vật là ta có thể biểu hiện ra bất cứ trong hình thức nào. Thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước. Với sáu đạo thần quang thì không có gì là không làm được: muốn có Tịnh ?ộ thì có Tịnh ?ộ, muốn có lầu các của Bồ Tát Di Lặc thì có lầu các của Bồ Tát Di Lặc, muốn có ngày quán niệm thì có ngày quán niệm, muốn có khóa tu thì có khóa tu, muốn đi thiền hành thì có đi thiền hành, muốn có trung tâm tu học thì có trung tâm tu học, v.v… muốn gì thì có đó.

Có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước, và dù năm uẩn của mình vẫn còn là năm uẩn có sinh có diệt, người ấy vẫn có thể ngay trong giờ phút hiện tại, biểu diễn được phép thần thông là đi an lạc ngay trên mặt đất (địa hành thần thông).

Đây là bốn chữ ở trong Lâm Tế Lục: Địa hành thần thông. Địa hành thần thông tức là phép lạ đi trên mặt đất. Người ta thường nói phép lạ là đi trên lửa, đi trên nước, đi trên mây, còn Tổ nói phép lạ là đi trên mặt đất. Ai mà không đi trên mặt đất được, nhưng nếu ta đi với niềm lo lắng, niềm sợ hãi, sự tham đắm, thì ta đang không thể hiện thần thông. Nhưng nếu ta là một con người tự do, thì mỗi bước chân đi trên mặt đất là một phép thần thông. Con người vô sự, con người tự do là con người có thể đi một cách hạnh phúc, đi một cách tự do trên mặt đất, và đi như vậy tức là thể hiện thần thông. Cho nên chúng ta mới có bài kệ:

Đặt chân lên mặt đất

Là thể hiện thần thông,

Từng bước chân tỉnh thức

Làm hiển lộ pháp thân

Ta có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, với tịnh độ mười phương, nếu ta là một con người tự do, nếu ta là một con người vô sự. Người ấy không cần đi đâu hết, không cần phải ra khỏi tam giới. Người ta thường nói tu học là để ra khỏi ba cõi: cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Tam giới bất an nghĩa là trong ba cõi không có sự an ổn, giống như cái nhà cháy, mình phải lập tức ra khỏi cái căn nhà cháy đó. Vì vậy mà người ta nghĩ rằng giải thoát tức là ra khỏi ba giới, ba cõi. Trong khi tất cả mọi người đều nói là chúng ta phải làm sao thoát ra khỏi ba cõi thì Tổ nói: ‘Đồ ngu, ra khỏi ba cõi thì các anh đi đâu?’. Không cần đi đâu hết, đứng ngay ở trong ba cõi và trở thành con người tự do, thì đám cháy liền tắt và ba cõi trở thành nơi tự do. Điều này rất gần với bản ý của Đức Thế Tôn. Ba cõi là do tâm mình tạo ra và Tịnh ?ộ cũng do tâm mình tạo ra.

Trong tác phẩm Hoàng Tử Bé, hoàng tử bé yêu cầu anh chàng phi công trẻ vẽ cho mình một con cừu, tại vì trên hành tinh của hoàng tử bé chưa có một con cừu. Trong Kinh Hoa Nghiêm Bụt dạy rằng: Tâm là một anh chàng họa sĩ (Tâm như họa sư). Tâm có thể vẽ ra bất cứ một cái gì. Tâm bao gồm tâm cá nhân và tâm cộng đồng. Chính tâm cộng đồng của chúng ta vẽ ra tam giới để thiêu đốt ta, cũng chính tâm cộng đồng của chúng ta vẽ ra một Tịnh ?ộ để ta rong chơi. Ta có thể nói tâm vẽ cho ta một trung tâm tu học, một tăng thân đẹp, v.v… tất cả đều do tâm. Vì vậy ba cõi là một tác phẩm của tâm, Tịnh ?ộ cũng là tác phẩm của tâm. Nếu tâm ta tự do, an lạc, thì ta vẽ ra cõi Tịnh ?ộ. Ta đâu cần phải đi đâu, chỉ ngồi ở đây mà vẽ, vẽ cho mình một cõi Tịnh ?ộ để mình sống an lạc mỗi ngày. Con người tự do, con người vô sự là con người sáng tạo ra tịnh độ cho mình, và cho những người khác. Người ấy không cần đi đâu hết, không cần phải ra khỏi tam giới. Tam giới đối với người ấy chỉ là quang ảnh. Quang ảnh tức là cái sự phản chiếu của tâm. Người ấy có tự do cho nên người ấy thảnh thơi ngay tại nơi này, những yếu tố của tam giới là dục, sắc và vô sắc không động được người ấy.

Tổ Lâm Tế rất có ý thức là những lời nói của Tổ chỉ là những phương tiện đánh phá, cởi trói và trị bệnh, cho nên Tổ không muốn chúng ta xem những lời nói ấy là chân lý tuyệt đối để học hỏi và tôn thờ. Tinh thần này là tinh thần của Kinh Kim Cương: Giáo lý của Bụt là chiếc bè để đưa ta qua bờ bên kia, chứ không phải là đối tượng của sự thờ phụng. Những lời nói của Tổ Lâm Tế không phải là những tư tưởng uyên áo để mà học hỏi, để mà trân quý, để mà cất giữ như một vật sở hữu.

Tổ Lâm Tế rất có ý thức là những lời nói của Tổ chỉ là những phương tiện đánh phá, cởi trói và trị bệnh nên Tổ không muốn chúng ta xem những lời nói ấy là khuôn vàng thước ngọc để học hỏi và tôn thờ. Tổ dạy rằng những lời Tổ nói chỉ là những bức vẽ được thực hiện trong hư không, chúng ta đừng bị kẹt vào chúng. Tổ dạy: Để độ đời, có khi ta phải mặc đủ thứ áo: áo thanh tịnh, áo giải thoát, áo giới luật, áo vô phân biệt… Thấy những chiếc áo ấy người ta phát sinh kiến giải rồi bị mắc kẹt vào những kiến giải ấy. Vì vậy có khi ta phải cởi hết áo ra, để cho người ta thấy được con người. Con người có thể mặc áo. Nhưng con người không phải là áo. Chỉ khi nào thấy được con người, ta mới tiếp xúc được với con người, và với con người trong ta, và chỉ lúc ấy ta mới buông bỏ được tất cả những gông cùm mình từng mang lấy xưa nay, những gông cùm do cổ nhân (Bụt, Tổ) thi thiết và đem tới. Thấy được con người thật, họ mới đạt được quả vị vô sự.

Tổ dạy rằng những lời Tổ nói chỉ là những bức vẽ được thực hiện trong hư không, chúng ta đừng bị kẹt vào chúng. Khi vẽ trên vải hay trên giấy, người ta còn có thể cất giữ được, trưng bày được, nhưng vẽ những bức họa màu trên hư không thì không có cách gì để cất giữ. Tổ muốn nói như vậy. Những điều Tổ nói là để chữa bệnh, để tháo gỡ, và những điều đó chỉ có giá trị của những phương tiện mà không nên cất giữ những điều đó để làm gia bảo. Ví dụ như đem về một chiếc bè, rồi đặt lên bàn thờ để thờ phụng, điều đó rất tức cười. Chiếc bè ấy phải được sử dụng để qua bờ bên kia chứ không phải để cất giữ hoặc để phụng thờ. Cũng vậy, những lời của Tổ nói như là những bức họa màu vẽ ở trên hư không, không ai có thể chiếm hữu để làm của riêng, để mà tự hào.

Tổ dạy: Để độ đời, có khi ta phải mặc đủ thứ áo: áo thanh tịnh, áo giải thoát, áo giới luật, áo vô phân biệt… Thấy những chiếc áo ấy người ta phát sinh kiến giải rồi bị mắc kẹt vào những kiến giải ấy. Vì vậy có khi ta phải cởi hết áo ra, để cho người ta thấy được con người. Con người có thể mặc áo. Nhưng con người không phải là áo. Chỉ khi nào thấy được con người, ta mới tiếp xúc được với con người, và với con người trong ta, và chỉ lúc ấy ta mới buông bỏ được tất cả những gông cùm mình từng mang lấy xưa nay, những gông cùm do cổ nhân (Bụt, Tổ) thi thiết và đem tới. Thấy được con người thật, họ mới đạt được quả vị vô sự.

Đây là nói về những giáo lý trong thánh kinh, trong kinh điển…, những cái mà Tổ gọi là thi thiết, là tạm đặt ra để giúp đời, giúp người. Tất cả những gì các vị thánh nhân thi thiết ra để cứu đời, giúp người chỉ là những phương tiện, vậy mà chúng ta lại cứ xem như là những bảo vật, như là những cứu cánh. Tất cả những điều được dạy như là Tam thân, Tứ Đế, Bát Chánh Đạo, Thập Địa, Tịnh Độ…, đều là những phương tiện. Nếu ta có thái độ của người tín đồ là nắm bắt và thờ phụng thì ta bị kẹt. Vì vậy con người vô sự là con người có khả năng buông bỏ tất cả những thứ ấy. Những cái đó, Tổ cho là những chiếc áo. Chúng ta có khuynh hướng muốn nhận ra Bụt, nhận ra Tổ qua những chiếc áo. Muốn dạy, muốn hướng dẫn thì phải sử dụng những phương tiện. Nhưng phải dạy và hướng dẫn như thế nào để đưa người ta tới trạng thái giải thoát và an lạc; để người ta thấy rằng giải thoát, an lạc không phải là những chiếc áo; để người ta phân biệt được áo và người, chứ không phải là để người ta mặc thêm vào những chiếc áo đó. Những chiếc áo, những phương tiện, những giáo hóa kia có mục đích duy nhất là giúp cho người ta khám phá ra con người thật của họ. Con người thật đó là Bụt, là con người vô sự, là con người không có lo lắng, không có buồn khổ, không có ganh ti. và không có tham vọng. Bởi vậy quá trình tu tập là quá trình lột áo. Mặc vào một cái áo, ta thấy đẹp quá nên muốn mặc luôn. Rồi khi có cái áo khác thay vào, ta lại thấy cái áo mới đẹp hơn, nên cứ thay áo hoài… Và cứ như vậy, suốt đời ta chỉ là những chiếc áo thôi. Ta phải là cái gì hơn cái áo và cái gì hơn cái áo đó chính là con người thật của mình. Mục đích của Tổ là giúp cho chúng ta thấy được con người thật của mình, cho nên ta phải có can đảm để lột tất cả các áo, dù đó là áo Thiền Sư, áo Bồ Tát, áo Bụt, áo Tổ, áo Giải Thoát, áo Niết Bàn. Lột hết! Vì vậy có khi ta phải cởi hết áo ra, để cho người ta thấy được con người. Con người có thể mặc áo. Nhưng con người không phải là áo. Chỉ khi nào thấy được con người, ta mới tiếp xúc được với con người, và với con người trong ta, và chỉ lúc ấy ta mới buông bỏ được tất cả những gông cùm mình từng mang lấy xưa nay, những gông cùm do cổ nhân (Bụt, Tổ) thi thiết và đem tới. Gông cùm đó là giáo lý, là những khái niệm, những phương tiện, dù đó là Tịnh Độ, là Tam thân, là Tam Bảo, là Thập Địa. Con người thật không phải là con người nô lệ – nô lệ cho những ý thức hệ, nô lệ cho những giáo lý.

Trong giới luật Tiếp Hiện, giới thứ nhất là: Đừng bị kẹt vào bất cứ một chủ nghĩa nào hay một lý thuyết nào, dù đó là giáo nghĩa Bụt dạy. Đó là đi đúng theo tinh thần Tổ Lâm Tế. Chúng ta phải có tự do đối với những lý thuyết, với những chủ nghĩa, dù là với lý thuyết Phật Giáo. Tức là phải cởi áo ra để thấy cho được con người thật của mình. Cổ nhân (Bụt và Tổ) đã thi thiết và đem tới tặng cho ta những chiếc áo đó, ta phải biết cách sử dụng để tìm ra con người thật của mình, rồi cuối cùng ta phải lột bỏ tất cả những chiếc áo đó. Thấy được con người thật, họ mới đạt được quả vị vô sự. Vô sự là quả vị mà chúng ta tìm cầu, nhưng không thể nào tìm cầu ở ngoài được. Vô sự tức là tự do. Vô sự có thể dịch là no bussiness, no projects, no worries, no problems. Chữ sự này có nhiều nghĩa. Ở Làng Mai có bài hát là ‘Nowhere to go, nothing to do’ (Không đi đâu nữa, có chi để làm) có thể gọi là Vô Sự. Tuy rằng chúng ta cần phải đi đây đi đó, chúng ta cần phải làm cái này cái kia, nhưng chúng ta làm và đi trong tinh thần vô sự. ‘Somewhere to go, something to do’ (đi đâu cũng tới, thấy chi cũng làm) cũng là Vô Sự. Đây là những chữ mới không có ở trong giáo điển. Khi mình có tuệ giác, có một cái thấy mới thì thường thường mình có những chữ mới để die^~n tả cái tuệ giác của mình hay cái thấy của mình một cách rất tươi mát và rất thật. Chữ vô sự cũng như chữ vô vị là những chữ mới của Tổ mà Tổ đã sử dụng để nói ra được cái thấy, cái tự do của Tổ. Cố nhiên là đã có những chữ cũ như giải thoát, như vô đắc, nhưng những chữ đó được dùng nhiều quá rồi. Và vì người ta dùng nhiều quá cho nên hầu như không còn ý nghĩa nữa. Vì vậy khi ta có một kinh nghiệm mới, một cái thấy mới, ta thường có khuynh hướng tìm những chữ mới để nói ra cái kinh nghiệm, cái sở đắc đó. Đối với Tổ Lâm Tế, chúng ta thấy có những danh từ rất mới, như danh từ vô sự, danh từ phùng Phật sát Phật (gặp Bụt thì giết Bụt). Chúng ta thấy rõ là Tổ Lâm Tế có đức vô úy rất lớn. Khi đã nắm được sự thật rồi thì ta không sợ chữ nghĩa nữa, ta có thể sử dụng bất cứ chữ nào mà không ngại người ta hiểu lầm mình. Những danh từ như là địa hành thần thông, lập xứ đắc chân, tùy xứ tác chủ, vô vị chân nhân, v.v… là những danh từ rất mới. Nhờ những danh từ đó, Tổ có thể truyền đi được cái thấy của Tổ.

Không nên đi tìm Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn, không nên đi tìm Quan Âm ngoài biển Nam Hải, không nên đi tìm Phổ Hiền ở Nga Mi Sơn. Các vị làm gì có mặt trên đó. Các vị đang có mặt tại đây, trong giờ phút này, trước mặt chúng ta, trong tâm chúng ta. Phải tiếp xúc với các vị ngay trong giờ phút này. Nếu thất bại thì sẽ thất bại mãi mãi trong tương lai, tại vì Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm không có trong tương lai và không thể tiếp xúc được trong tương lai. Ta là kẻ đại trượng phu, tại sao ta phải đi tìm Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngoài ta. Ta chính là Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngay tại đây, trong giây phút hiện tại.

Ở Trung Quốc, bốn vị Bồ Tát lớn được coi như là đang trấn ngự bốn ngọn núi thiêng. Trước hết, Ngũ Đài Sơn là chỗ của Bồ Tát Văn Thù; Phổ Đà Sơn ngoài biển Nam Hải là chỗ của Bồ Tát Quan Âm; Nga My Sơn là chỗ của Bồ Tát Phổ Hiền; Cửu Hoa Sơn là chỗ của Bồ Tát Địa Tạng. Sự thực tập của phần lớn người Phật tử Trung Quốc là đi hành hương, vì họ nghĩ rằng các vị Bồ Tát đang có mặt ở các nơi linh thiêng đó. Điều này không phải chỉ đúng trong đạo Bụt mà cũng đúng trong các tôn giáo khác. Người ta đi tìm các thánh địa, người ta tin tưởng rằng các đức thiêng liêng có mặt ở tại những thánh địa đó. Ở nhiều nước Phật giáo, có nhiều người tìm tới những vùng đất thiêng liêng với tâm niệm hết sức cung kính. Có nhiều người đi ba bước lạy một lạy (tam bộ nhất bái). Đi bao nhiêu ngày cũng được, miễn là tới nơi thì thôi.

Tổ Lâm Tế dạy: Trên Ngũ Đài Sơn không có đức Văn Thù đâu, đừng đi tới đó cho uổng công. Trên Phổ Đà Sơn không có đức Quan Âm đâu, đừng đi tới đó cho mất công; Nga My Sơn và Cửu Hoa Sơn cũng vậy, ở những nơi ấy không có đức Phổ Hiền và Địa Tạng đâu, đừng đi cho mất công. Nhưng người ta vẫn đi (mà đệ tử của thiền sư Lâm Tế hình như đi còn nhiều hơn những người khác nữa!). Theo tinh thần này, Tổ dạy là các vị Bồ Tát đó đang có mặt trong giây phút hiện tại, và có mặt ngay tại đây, chúng ta không cần đi tới các nơi đó. Nếu muốn tiếp xúc với các vị bồ tát kia, chúng ta chỉ cần an trú trong hiện tại và ngay tại đây. Tại vì các vị ấy đang có mặt trong tâm của mình. Nếu tất cả mọi người đều theo lời dạy của Tổ Lâm Tế, thì các ngành hoạt động du lịch sẽ bị tê liệt. Hiện bây giờ, một số nước – nhất là Trung Quốc, rất muốn phát triển ngành du lịch (Tourism) vì người ta cho rằng những miền đất thiêng, các ngôi chùa cổ là những nguồn lợi rất lớn. Vì vậy người ta đã có những buổi hội thảo về du lịch, gọi là Đạo Bụt và Du Lịch (Buddhism and Tourism) – người ta cho rằng đạo Bụt có thể là một nguồn lợi rất lớn cho ngành du lịch. Cũng vì vậy mà những tu viện, những ngôi chùa nổi tiếng luôn đầy khách du lịch và không còn giữ được tính cách thiêng liêng của một nơi tu tập nữa. Đó là điều rất đáng tiếc! Việt Nam cũng có khuynh hướng bắt chước bên Trung Quo^’c, vì du lịch đem lại nguồn lợi rất lớn cho đất nước. Vì vậy nếu người Phật tử không biết gìn giữ tính cách thiêng liêng của ngôi chùa thì sẽ biến ngôi chùa của mình thành một trung tâm du lịch và ?ie^`u ?ó rất đáng tiếc. Sự thật là khi mình tới chùa hay tới những nơi thanh tú thì cảnh vật ở những nơi ấy dễ làm cho tâm hồn và thân thể mình nhẹ nhàng. Điều đó rất tốt. Chùa thường được thành lập ở trên những ngọn núi cao, cho nên khi người dân thành phố rời được thành phố để lên được chùa trên núi, thì trong thân và trong tâm của họ có sự an lạc. Hành hương cũng có ích lợi cho sức khỏe tâm linh chứ không phải không. Nhưng cái ích lợi này không dính dáng tới chuyện đi tìm các vị Bồ Tát ở những nơi đó. Sống ở thành phố, hệ thần kinh của mình bị căng thẳng nhiều, vì lo lắng và vất vả, và vì cuộc đời rất nhiêu khê và khó khăn. Vì vậy những ngôi chùa ở ngoại ô thành phố hoặc ở trên núi, thanh vắng và đẹp đẽ, là một nguồn an ủi rất lớn cho dân thành phố. Các ngôi chùa đó đóng một vai trò rất quan trọng là làm êm dịu hệ thần kinh của thị dân. Điều đó chúng ta phải công nhận. Có nhiều thầy trụ trì, nhiều sư cô trụ trì chăm sóc chùa rất hết lòng, đã làm cho chùa trở thành một nơi mát mẻ và êm dịu. Ta tới chùa để đi bộ, nghe tiếng chuông, nghe tiếng tụng kinh…, để tâm hồn mình dịu xuống. Chuyện này là chuyện có thật. Nhưng chuyện này không dính líu tới chuyện đi tìm các vị Bồ Tát. Còn chuyện tam bộ nhất bái (ba bước lạy một lạy) là một sự thực tập. Từ chỗ ta ở lên tới địa điểm của các vị Bồ Tát kia nhiều khi phải đi tới mười lăm hay ba mươi ngày, và nếu ta đi ba bước lạy xuống một lạy thì đó là một cơ hội để mình thực tập thiền lạy. Vị Bồ Tát hay ngôi chùa đó trở thành đối tượng thực tập của mình. Sự thực tập tam bộ nhất bái này cũng đem tới nhiều ích lợi. Nhưng chuyện này cũng không dính líu tới chuyện vị Bồ Tát kia có mặt ở đó hay không. Trước khi ?ức Thế Tôn nhập diệt, ngài A Nan có hỏi: ‘Bạch ?ức Thế Tôn, sau này nếu có người muốn niệm Bụt, thì những người đó làm thế nào trong phương pháp thực tập niệm Bụt (Buddhànussati)?’. Đức Thế Tôn nói: ‘Có bốn nơi mà họ có thể đi thăm: nơi ta sinh ra, nơi ta thành đạo, nơi ta chuyển pháp luân và nơi ta nhập niết bàn. Đệ tử của ta sau này, nếu muốn thì có thể tới thăm những chỗ đó’. Hiện bây giờ Phật tử trên thế giới hay đi về Ấn Độ và Nepal để thăm bốn địa điểm này: nơi đức Thích Ca giáng sinh, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập diệt. Đến những nơi ấy là để tiếp xúc với Bụt tự thân nhiều hơn, chứ hoàn toàn không có nghĩa là Bụt chỉ có mặt ở bốn nơi ấy mà không có ở những nơi khác. Thành ra, hành hương là một sự thực tập đem lại nhiều lợi ích, nhưng không có nghĩa là các vị Bồ Tát và Đức Thế Tôn đang có mặt ở những nơi ấy mà không có mặt nơi mình đang cư trú hay những nơi khác. Lời dạy của Tổ rất quan trọng và có giá trị rất lớn. Nhưng có bao nhiêu người có thể làm được? Đại đa số các Phật tử Trung Quốc bây giờ đều đang thực tập hành hương và thăm viếng bốn ngọn danh sơn kia. Có một số rất ít người ngồi yên tại chỗ và nói: ‘Khỏi cần phải đi tới đấy, khỏi tốn tiền máy bay, khỏi tốn tiền xe hơi, khỏi mất thì giờ đi. Mình chỉ cần ngồi ở đây và tiếp xúc với vị Bo^` Tát mà mình ngưỡng mộ’. Tổ nói: ‘Các vị Bồ Tát làm gì có mặt trên đó’. Đối với Tổ Lâm Tế, phải đi ra Phổ Đà Sơn mới gặp được đức Quan Thế Âm và phải đi lên Ngũ Đài Sơn mới gặp được đức Văn Thù là chuyện rất ngây thơ. Điều đó rất rõ ràng, nhưng có mấy ai nghe Ngài đâu. Có mấy ai thật sự là đệ tử của thiền sư Lâm Tế! Tổ nói thì Tổ nói, mình đi thì mình cứ đi. Xã hội, đất nước không thích lời khuyên này của Tổ. Làm theo lời dạy của Tổ thì sẽ không có ngành du lịch, người ta se~ không có công ăn việc làm và ngoại tệ se~ không đi vào đất nước của mình. Vì vậy cho nên Lâm Tế Lục không có lợi ích cho ngành du lịch.

Không nên đi tìm Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn, không nên đi tìm Quan Âm ngoài biển Nam Hải, không nên đi tìm Phổ Hiền ở Nga Mi Sơn. Các vị làm gì có mặt trên đó. Các vị đang có mặt tại đây, trong giờ phút này trước mặt chúng ta, trong tâm chúng ta. Phải tiếp xúc với các vị ngay trong giờ phút này. Nếu thất bại thì sẽ thất bại mãi mãi trong tương lai, tại vì Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm không có trong tương lai và không thể tiếp xúc được trong tương lai.

Tương lai chỉ ở trong tương lai, không bao giờ là hiện tại. Và khi nó trở thành hiện tại rồi thì nó không còn là tương lai nữa. Ta là kẻ đại trượng phu, tức là người có can đảm, vậy tại sao ta phải đi tìm Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngoài ta? Ta chính là Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngay tại đây, trong giây phút hiện tại. Nếu Văn Thù là trí tuệ, thì trong ta có hạt giống trí tuệ; nếu Phổ Hiền là hành động, thì trong ta có hạt giống của hành động; nếu Quan Âm là tình thương, thì ta có hạt giống của tình thương trong tâm ta. Ta chỉ cần tiếp xúc, tưới tẩm và làm cho những hạt giống đó biểu hiện là ta đang tiếp xúc với đức Văn Thù, đức Phổ Hiền và đức Quan Âm ngay tại đây và trong giây phút hiện tại.

Từ bỏ sự tìm kiếm bên ngoài không phải là để bắt đầu một sự tìm kiếm bên trong. Cái mà ta tìm cầu bên ngoài đã không có thì bên trong làm gì có! Trong và ngoài chỉ là hai ý niệm. Động cũng không phải là nó mà tĩnh cũng không phải là nó. Đừng tưởng tĩnh là cửa ngõ và bức màn vén cho ta thấy sự thật. Sự thật vượt ra ngoài động và tĩnh, vượt ra khỏi trong và ngoài. Công án cũng như mặc chiếu đều là sự tìm cầu, không thể đưa ta tới trạng thái vô sự.

Khi nghe nói không nên tìm Bụt và Tổ bên ngoài, ta sẽ tự bảo: ‘Thôi bây giờ mình nên đi tìm Bụt và Tổ bên trong mình’. Sau khi bị cha(.n một ngã rồi, con chuột quay lui đi ra ngã khác, thì Ngài la.i giơ tay cha(.n luôn cái ngã còn lại. Cái mà ta tìm cầu bên ngoài đã không có thì bên trong làm gì có! Trong và ngoài chỉ là hai ý niệm. Ta nghĩ Ngũ Đài Sơn là ở ngoài, còn năm uẩn của ta là ở bên trong. Kẹt vào ý niệm về ngoài và ý niệm về trong cũng không nên. Ngoài là ngoài cái gì, trong là trong cái gì? Động cũng không phải là nó mà tĩnh cũng không phải là nó. Đừng tưởng tĩnh là cửa ngõ và bức màn vén cho ta thấy sự thật. Đi tìm sự thật ở trong cái động cũng không có, mà đi tìm ở trong cái tĩnh cũng không có. Sự thật vượt ra ngoài động và tĩnh, vượt ra khỏi trong và ngoài. Đi tìm ở ngoài là động, trở về với bản thân là tĩnh. Tìm ở cái động không có, thì người ta nghĩ rằng nên tìm ở cái tĩnh. Nhưng Tổ nói: ‘Động và tĩnh không phải là những xứ sở mà ta có thể đi tìm được’. Cũng như trong, ngoài không phải là chỗ ta đi tìm. Nếu ngoài không phải là chỗ ta đi tìm và trong cũng không phải là chỗ ta đi tìm, thì công án cũng như mặc chiếu đều chỉ là sự tìm cầu, không thể đưa ta tới trạng thái vô sự. Bây giờ, người ta vẫn còn nói tới hai khuynh hướng thiền: công án và mặc chiếu. Công án tức là đưa ra một đề tài để quán chiếu. Mặc chiếu là không cần đề tài, không cần đầu đề. Mặc chiếu tức là ngồi yên và lấy tâm của mình soi chiếu một cách yên lặng (silence shining). Đó là hai khuynh hướng thiền có từ đời Đường cho đến bây giờ. Có người nghĩ rằng, công án có gốc từ Tổ Lâm Tế (trong khi đó, Tổ Lâm Tế nói: ‘Đừng có làm vậy!’); còn mặc chiếu có gốc từ Tổ Tào Động (Tào Sơn và Động Sơn). Trong quá khứ, đã có sự kiện thiền công án lên án thiền mặc chiếu và thiền mặc chiếu công kích thiền công án. Bắt đầu từ đời Đường, hai khuynh hướng đó chống đối nhau. Nhưng có một lúc trong giới thực ta^.p thiền mặc chiếu người ta lại bắt đầu thực tập thiền công án, và trong thiền công án người ta cũng bắt đầu thực tập thiền mặc chiếu. Trong khi đó, tinh thần của Tổ: Ngoài không phải là chỗ ta đi tìm, trong cũng không phải là chỗ ta đi tìm. Động không phải là chỗ ta đi tìm, mà tĩnh cũng không phải là chỗ ta đi tìm. Nếu ta bị kẹt vào ý niệm trong và ngoài, động và tĩnh, thì ta vẫn thất bại như thường. Quan trọng là ở chỗ không còn tìm cầu, hễ còn tìm cầu thì còn thất bại, dù tìm ở ngoài hay ở trong, ở động hay ở tĩnh. Theo tinh thần của Tổ, phương pháp mặc chiếu là tĩnh, phương pháp công án là động, và cả hai phương pháp đều là sự tìm cầu. Công án là tìm cầu, mặc chiếu cũng là tìm cầu. Đã là tìm cầu thì không thể đưa ta tới trạng thái vô sự được. Còn tìm cầu tức là còn chạy. Nhưng phần lớn đệ tử của thiền sư Lâm Tế đều làm ngược lại lời dạy này, đều đang tìm cầu bằng những công án, tại vì ai cũng nghĩ rằng công án là thiền Lâm Tế. Trong khi đó, giáo lý căn bản của Tổ Lâm Tế rõ ràng là giáo lý không tìm cầu.

Để độ người, ta có thể hoặc đoạt cảnh, hoặc đoạt nhân, hoặc đoạt cả cảnh và nhân, hoặc không cần đoạt cái gì hết. Đoạt cảnh là giúp cho người ta chấm dứt sự tìm cầu bên ngoài. Con chó có Phật tính không? ?ại ý của Phật pháp là gì? Chủ ý của Tổ Đạt Ma là gì? Tất cả những cái ấy đều là bẫy sập. Tìm hiểu tất cả những cái đó không có ích lợi gì cho sự thực hiện tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân cả. Phải đoạt tất cả những cảnh đó. Nếu cần thì đánh. Nếu cần thì hét. Nhưng học nhân có thể trở về và mắc kẹt vào chủ thể nhận thức, nghĩ rằng mình đã thoát được đối tượng nhận thức. Nhưng chủ thể làm gì có, nếu đối tượng không có? Cho nên đoạt cảnh xong cũng phải đoạt người. Đoạt cảnh mà giúp người ta đừng kẹt vào người thì hay rồi, nhưng nếu người ấy còn kẹt vào nội hướng, vào chủ thể thì phải đoạt luôn. Có khi đoạt người có thể giúp kẻ kia thoát luôn cả cảnh cùng một lúc. Đó là những phương tiện đánh phá, cởi trói, trị bệnh, có gì là thần kỳ bí hiểm?

Đoạt tức là lấy đi để không có chỗ bám víu, để có cơ hội buông bỏ nhận thức sai lầm. Đoạt cảnh là giúp cho người ta chấm dứt sự tìm cầu bên ngoài. Ví dụ như có người đi tìm cầu Bụt Thích Ca, mình nói: ‘Bụt Thích Ca có phải là đối tượng tìm cầu của anh đâu! Bụt Thích Ca là một con người sinh ra, lớn lên, già và chết. Anh đi tìm một hiện tượng sinh, trú, dị, diệt để làm gì? Có phải anh đang đi tìm cầu một cái gì tuyệt đối, một cái gì bất sinh, bất diệt, phải không?’ Mình làm cho người kia khủng hoảng tinh thần. Khủng hoảng tinh thần thì buông bỏ được sự tìm cầu và có một cơ hội mới. Đó gọi là đoạt cảnh.

Con chó có Phật tính không? ?ại ý của Phật pháp là gì? Chủ ý của Tổ Đạt Ma là gì? Tất cả những cái ấy đều là bẫy sập. Đây là ba công án nổi tiếng. Có một vị thiền sinh tới hỏi: ‘Con chó có Phật tính hay không?’ Thiền sư trả lời ‘có’. Tại vì các loài đều có Phật tính, không những loài người mà loài động vật, thực vật và đất đá đều có Phật tính cả. Thiền sư nói như vậy là để cho chúng ta có thêm niềm tin, để cho chúng ta thấy được là ta cũng có thể đạt được cái mà Bụt và Tổ có thể đạt được, tức là Phật sinh bất nhị – không có sự khác biệt giữa Phật và chúng sinh. Chúng sinh giác ngộ thì thành Phật, Phật mà không giác ngộ thì là chúng sinh. Đó là một nền tảng, đó là một sự khích lệ, đó là một nhận thức căn bản, từ đó ta có niềm tin mà đi tới. Nhưng nếu ta cho đó là giáo lý cần phải học hỏi, cần phải truyền bá, cần phải đàm luận, thì câu trả lời đó trở thành giáo điều, trở thành bẫy sập. Vì vậy khi có thiền sinh thứ hai lên hỏi: ‘Con chó có Phật tính không?’ thì thiền sư thấy rằng, nếu nói có thì người này sẽ kẹt vào chữ ‘có’ và sẽ không có lợi ích gì cho anh ta hết, cho nên thiền sư đã nói không (vô). Và chữ vô đó, vô tình trở thành ra một công án rất nổi tiếng. Tiếng Nhật Bổn là Mu. Biết bao nhiêu thế hệ đã tham công án Cẩu tử Phật tánh và chữ vô đó. Làm mất thì giờ của không biết bao nhiêu người, vì trong khi tham cứu, họ đi tìm cầu. Nếu sử dụng công án để đừng đi tìm cầu nữa, thì rất hay. Nhưng nếu công án là một sự mời mọc người ta đi tìm cầu cái mà họ không có, thì điều đó đi ngược lại với tinh thần của Tổ Lâm Tế. Con chó có Phật tánh không? Đó là cái bẫy sập. Không biết bao nhiêu người đã rơi vào cái bẫy sập đó mà không biết, đã bỏ phí không biết bao nhiêu thì giờ và tâm lực vào trong sự tham cứu công án ấy. Công án này đã trở thành trò chơi của một số người ‘ăn không ngồi rồi’ đi tìm sự thành đạt tâm linh.

Khi người thiền sinh đến hỏi: ‘Con chó có Phật tánh không?’, vị đó tin rằng thầy mình sẽ nói có, và câu hỏi đó là để một lần nữa cho vị này xác quyết cái quan điểm của họ, cái thấy (view) của họ. Để cho người đệ tử bị kẹt vào trong cái thấy (kiến chấp) tức là hại người đệ tử đó, vì vậy thiền sư đã dùng chữ không (vô) để cho người đệ tử này thất điên bát đảo. Thái độ anh ta chắc ăn quá! Anh ta hỏi câu đó là muốn chứng tỏ cho thầy thấy là mình cũng biết giáo lý ‘tất cả chúng sinh đều có Phật tính’, thì thế nào thầy cũng khen. Ai dè thầy nói ‘không’ khiến anh ta thất điên bát đảo. Cái đó gọi là đoạt cảnh. Đoạt cảnh tức là làm cho xính vính người (nhân) hỏi. Khi đối tượng nhận thức được lấy đi, thì chủ thể nhận thức bị sụp đổ.

Đại ý (cốt tủy) của Phật pháp là gì? Câu hỏi đó thường được đưa ra hỏi. Có cơ hội được tham vấn với một thiền sư là một điều rất quý giá, nhưng vì không biết hỏi câu gì cho đáng, cho nên cứ hỏi câu hỏi đó cho rồi. Có nhiều người trong chúng ta thật sự không có câu hỏi. Câu hỏi thật sự là mũi tên cắm vào cơ thể của ta, làm cho ta đau nhức. Câu hỏi làm cho mình mất ăn mất ngủ, câu hỏi của đời mình, cái thao thức lớn của mình, thì câu hỏi đó mới thật sự là một câu hỏi. Có những người không có câu hỏi nhưng mà có cơ hội được gặp thiền sư, và vì không biết hỏi câu gì nên cứ hỏi: Đại ý của Phật pháp là gì? Rất dại! Thường thường, ai hỏi câu đó đều bị đánh. Tổ Lâm Tế ngày xưa cũng đã bị đánh vì câu hỏi đó.

Có một vị thiền sinh hỏi: Mục đích của Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ qua bên Tàu để làm gì? Có rất nhiều câu trả lời cho câu hỏi này. Có nhiều câu trả lời rất hay. Thiền sư hỏi lại: ‘Ông ấy qua hồi nào?’ Anh thiền sinh kia khựng lại. ‘Qua hồi nào, nói tôi nghe’. Cái đó gọi là đoạt cảnh. Hoặc giả thiền sư có thể trả lời: ‘Anh hỏi như thế để làm gì? Anh hỏi Tổ qua có chủ đích gì có ích lợi gì cho anh không?’ Đó cũng là một cách trả lời trong tinh thần đoạt cảnh. Có một vị hỏi: ‘Chủ đích của Tổ Đạt Ma qua bên Tàu là gì?’ thì bị đánh. Bị đánh xong rồi nhưng cũng còn nói: ‘Đánh thì đánh, nhưng con vẫn chưa biết được chủ đích của Tổ’. Thầy bèn đánh thêm. Cứng đầu vô cùng. Cảnh đã bị đoạt rồi, lại mọc ra lần nữa. Giống như cây hẹ, cắt lá hẹ này thì lá hẹ khác mọc ra. Đó là những chứng bệnh trầm kha của con người. Lòi ra một cái đầu, vừa chặt đứt cái đầu này lại lòi ra một cái đầu khác.

Tất cả những cái đó đều là bẫy sập. Tìm hiểu tất cả những cái đó không có ích lợi gì cho sự thực hiện tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân cả. Dù biết được con chó có Phật tánh hay không có Phật tánh, dù biết được đại ý Phật pháp là gì, dù biết được chủ ý của tổ Đạt Ma là gì, thì những cái đó đều không giúp gì được cho ta trong phương diện tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân (chỗ nào mình cũng làm chủ được mình, và ở vào vị trí nào mình cũng giữ được con người chân thật của mình, cũng giữ được nhân cách của mình). Đắc chân là bảo tồn được con người thật của mình. Ta không bán rẻ linh hồn của ta, dù ở địa vị nào ta cũng có thể làm được như vậy. Phải đoạt tất cả những cảnh đó. Khi người thiền sinh hỏi một câu hỏi, nếu câu hỏi đó có mục đích tìm cầu, có mục đích thỏa mãn một giáo điều, thỏa mãn những tìm cầu của tri thức, thì vị thiền sư phải chặt cho đứt, phải đoạt cho được cái cảnh đó, vì những cái đó vô ích. Người ta đã phí hết cuộc đời của họ trong sự tìm cầu, ta phải đoạt cho hết những cái đó. Nếu cần thì đánh. Nếu cần thì hét. Có khi đoạt bằng cây gậy, có khi đoạt bằng tiếng hét. Đó là những phương tiện rất mạnh. Nếu cần thì đánh, nếu cần thì hét. Đánh và hét, người ta nói đó là những thi thiết thuộc về thiền Lâm Tế. Làng Mai cũng thuộc thiền Lâm Tế, nhưng không có đánh và cũng không có hét. Nhưng học nhân có thể trở về và mắc kẹt vào chủ thể nhận thức, nghĩ rằng mình đã thoát được đối tượng nhận thức. Khi cảnh bị đoạt rồi, ta nghĩ rằng ta đã thoát được đối tượng nhận thức. Nhưng chủ thể nhận thức làm gì có, nếu đối tượng nhận thức không có? Ví dụ, ta ăn xôi hay là ăn muesli. Cảnh tức là xôi hay muesli. Nếu bỏ xôi, bỏ muesli đi, thì không có chuyện ăn. Ăn, luôn luôn là ăn cái gì. Không có xôi, không có mueslei, thì sẽ không có chuyện ăn. Thành ra, không có đối tượng nhận thức thì chủ thể nhận thức cũng không có. Cho nên trở về để bám víu vào chủ thể nhận thức cũng không được. Cho nên đoạt cảnh xong cũng phải đoạt người. Tâm của ta luôn luôn có đối tượng. Tâm không có đối tượng thì không phải là tâm. Ví dụ, khi giận là ta giận cái gì, giận ai, thì mới có cái giận được. Khi buồn là ta buồn ai, và buồn cái gì, thì mới có cái buồn được. Không thể có giận, có buồn mà không có đối tượng của cái giận, của cái buồn được. Khi nhận thức một điều gì, ta phải có đối tượng nhận thức thì mới có nhận thức. Người Tây phương cũng thấy được điều đó. Người Tây phương nói rằng: ‘Consciousness is always consciousness of something’. Tức là không thể nào có chủ thể nhận thức nếu không có đối tượng nhận thức. Điều này rất căn bản, là điều Bụt dạy. Hầu hết mọi người nghĩ rằng có một cái tâm sẵn đó: cái tâm đó đi ra ngoài để thấy, nghe, suy nghĩ và đi tìm đối tượng. Giống như ta có sẵn một cái thước ở trong túi và có thể lấy cái thước đó ra để đo bề ngang, bề dọc, bề dài, bề cao. Cái tâm không phải như cái thước. Nó không có sẵn bên trong để ta đem ra nhận thức cái này hay cái kia. Nhận thức luôn luôn bao hàm đối tượng nhận thức và chủ thể nhận thức. Chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức nương vào nhau mà có mặt cùng một lần. Cũng như là phải với trái, trên với dưới, hai cái phải đi đôi với nhau, không thể nào có một cái trước rồi cái kia có sau được. Vì vậy cho nên đoạt cảnh tức là đoạt luôn cả người (đoạt nhân). Nếu ta nghĩ rằng cảnh đã đoạt rồi, mà người vẫn còn, thì vẫn thất bại. Cho nên đoạt cảnh xong cũng phải đoạt người. Người ta không bị kẹt vào trần cảnh, nhưng người ta cũng có thể bị kẹt vào chủ thể (tâm). Tâm là kiến phần, cảnh là tướng phần. Nếu nghĩ rằng bỏ tướng phần để có thể trở về kiến phần là không đúng, vì kiến phần không thể nào có được nếu không có tướng phần. Đoạt cảnh mà giúp người ta đừng kẹt vào người thì hay rồi, nhưng nếu người ấy còn kẹt vào nội hướng, vào chủ thể thì phải đoạt luôn. Vì vậy đoạt cảnh rồi phải đoạt nhân luôn. Có khi đoạt người có thể giúp cho người kia thoát luôn cả cảnh cùng một lúc. Đó là những phương tiện đánh phá, cởi trói, trị bệnh, có gì là thần kỳ bí hiểm? Nếu ta coi những công án, những tiếng hét, những cái đánh là thần kỳ bí hiểm, thì ta lầm. Tất cả những cái ấy đều là phương tiện để đoạt cảnh và đoạt nhân, giống như cây búa, cái cưa, không có gì là bí hiểm cả. Không có gì bí hiểm mà phải đi tìm cầu. Nếu ta đọc những đoạn văn ấy để rồi đi tìm cầu những ý nghĩa sâu sắc mà ta tin là có mặt bên trong đó là thất bại. Đọc một công án rồi đi tìm cầu những ý nghĩa triết học sâu sắc nằm trong công án, đó là một thất bại, vì đó là sự tìm cầu. Sự tìm cầu đó là cảnh. Do đó phải đoạt cảnh, đoạt cảnh xong phải đoạt luôn cả nhân.

Kiến giải chân chính không phải là kết quả của công phu nghiên tầm học hỏi. Kiến giải chân chính là cái thấy sâu sắc về tính không sinh không diệt, không người không ta, không có không không của vạn pháp. Thấy được là thấy ngay, không thấy được thì có nói qua nói lại nhiều lần cũng vô ích. Cho nên đệ nhất cú, câu khai thị đầu, là cơ hội duy nhất. Đánh mất cơ hội này thì đánh mất hết. Đệ nhị cú là sự vớt vát. Đệ nhị cú chỉ là sự an ủi. Đệ tam cú là sự thất bại hoàn toàn. Tứ liệu giản không có gì bí hiểm thì tam huyền, tam yếu cũng như tiếng hét và cây gậy, cũng không có gì là bí hiểm. Trong quá trình học hỏi và tu chứng, công phu tham vấn được dựa trên nguyên tắc chủ và khách. Chủ đáng lý là phải độ được khách. Chủ là người thiện tri thức và khách là người đến tham vấn. Có khi khách giúp được chủ. Có khi khách giúp được khách. Có khi chủ giúp được khách. Có khi chủ giúp được chủ. Có khi chủ và khách đều giúp được nhau. Có khi chủ và khách làm hại cho nhau. Đó là những trường hợp ta có thể nhận diện nếu ta có được trực giác của chánh kiến. Cũng không có gì là bí hiểm trong tứ tân chủ.

Kiến giải chân chính là chánh kiến. Chánh kiến chỉ có thể có được do công phu tu chỉ và tu quán mà không phải là kết quả của công phu nghiên tầm học hỏi. Kiến giải chân chính là cái thấy sâu sắc về tính không sinh không diệt, không người không ta, không có không không của vạn pháp. Cái thấy này không phải là kiến thức khái niệm. Cái thấy này là tuệ giác. Tuệ giác về tính không sinh không diệt, không người không ta, không có không không. Mà thấy được là thấy ngay, không thấy được thì có nói qua nói lại nhiều lần cũng vô ích. Cho nên đệ nhất cú, câu khai thị đầu, là cơ hội duy nhất. Trong truyền thống thiền Lâm Tế, người ta nói tới tam cú tức là ba câu nói. Câu thứ nhất (đệ nhất cú) là phương tiện khai mở. Nhờ câu nói này mà ta có cơ hội thấy được, ta có cơ hội có được tuệ giác, có được sự giác ngộ. Nếu câu nói đầu không có khả năng giúp cho ta khai mở được cái thấy là ta thất bại rồi. Cho nên vị thiền sư có cố gắng nói câu thứ hai và thứ ba cũng vô ích mà thôi. Cho nên đệ nhất cú, câu khai thị đầu, là cơ hội duy nhất, đánh mất cơ hội này thì đánh mất hết. Khi thầy nói với ta một câu mà ta ngơ ngơ ngẩn ngẩn thì cũng giống như khi ta đang chết đuối được thầy đưa cho một cây sào mà ta bắt trượt. Đó là câu khai thị đầu. Thành ra có nói qua nói lại, có giải thích cũng vô ích, vì ta đã thất bại rồi. Giống như bật đèn, nếu bóng sẵn sàng và không bị hư, thì khi bật công tắc nó sẽ sáng liền, còn nếu bóng bị hư thì có bật năm sáu lần nó cũng không sáng. Vậy thì đừng tiếp tục vô ích, đừng có hỏi đi hỏi lại. Câu đầu là đủ rồi. Câu đầu là cơ hội duy nhất của ta. Đệ nhất cú là quan trọng. Trong liên hệ với thầy, câu khai thị đầu của thầy là câu quan trọng nhất. Nếu ta không thấy, không đạt được tuệ giác ngay từ đầu, thì thầy có cố gắng nói thêm một vài câu nữa cũng vô ích.

Có một lần, vua Lý Thái Tông đi vào gặp một vị thiền sư ở trong núi. Nhà vua hỏi: ‘Thiền sư ở trong núi này được bao nhiêu năm rồi?’ Thiền sư trả lời bằng hai câu thơ:

Đản tri kim nhật nguyệt

Hà thức cựu xuân thu?

Đản tri kim nhật nguyệt là chỉ biết ngày hôm nay, giờ hôm nay. Hà thức cựu xuân thu là tại sao phải đi tìm những mùa xuân, những mùa thu ở trong quá khứ. Ý của thiền sư là: Vua hỏi câu đó để làm gì? Quan trọng là giây phút hiện tại, chúng ta đang có cơ hội ngồi với nhau bây giờ và ở đây này. Tại sao phải hỏi những câu đó? Hỏi có ích lợi gì đâu. Ta phải biết an trú trong hiện tại. Cho nên gặp tôi mà hỏi ‘Thầy về Loubès Bernac được bao nhiêu năm rồi?’ là rất vô ích. Hỏi như vậy tức là mình không có câu hỏi nào khác. Vua lại hỏi: ‘Như vậy nghĩa là làm sao? Xin thầy cắt nghĩa cho’. Thiền sư nói: ‘Đa ngôn (nói nhiều) vô ích’. Không nói nữa. Vì vậy ăn thua là ở câu đầu. Câu đầu mà trượt rồi thì có nói thêm cũng vô ích. Nói thêm chẳng qua chỉ để cho người ta góp nhặt thêm một vài kiến thức, khái niệm, còn tuệ giác thì không có. Thấy được là thấy ngay, không thấy được thì có nói qua nói lại nhiều lần cũng vô ích. Cho nên khi pháp đàm, mình phải thấy được tinh thần đó. Người nói, phải có cái gì đó để nói thì mới nói, mà cái ta nói đó không đánh động được tuệ giác trong con người của ta và của kẻ khác thì đó là một sự thất bại, thất bại cho cả hai bên.

Đệ nhị cú là sự vớt vát. Câu thứ hai là sự vớt vát. Nó chỉ cho ta thêm một vài khái niệm. Nó làm thỏa mãn một vài nhu yếu của trí năng. Trong tinh thần của thiền, đệ nhất cú là cơ hội duy nhất. Nếu trượt qua rồi, hỏi thêm để có câu trả lời thứ hai thì đó chi? là sự vớt vát. Đệ nhị cú là một sự an ủi, vớt vát. Đệ tam cú là sự thất bại hoàn toàn. Đó là tinh thần của tam cú.

Nếu tứ liệu giản không có gì bí hiểm thì tam huyền, tam yếu cũng như tiếng hét và cây gậy, cũng không có gì là bí hiểm. Tứ liệu giản là bốn phương pháp tiếp xử và giúp cho thiền sinh: đoạt cảnh bất đoạt nhân, đoạt nhân bất đoạt cảnh, nhân cảnh câu đoạt và nhân cảnh bất câu đoạt. Thứ nhất là đoạt cảnh không đoạt người, thứ hai là đoạt người không đoạt cảnh, thứ ba là vừa đoạt người vừa đoạt cảnh và thứ tư là không đoạt người cũng không đoạt cảnh. Không đoạt cảnh cũng không đoạt người vì người đó là một cao sĩ, người đó là một thiện tri thức, người đó không cần bị đoạt cái gì hết. Đó là bốn cách tiếp xử của thiền sư Lâm Tế. Đây là những phương pháp tiếp xử của Tổ mà không phải là những tư tưởng kỳ bí khie^’n ta phải nặn óc mà học hỏi. Có khi là tứ liệu giản, có khi là tam huyền, có khi là tam yếu và có khi là sử dụng tiếng hét và cây gậy, tất cả những cái đó đều là những dụng cụ, những phương tiện để cởi trói và trị liệu, không có gì là bí hiểm. Vì vậy một thiền sinh mà đi học hỏi và tìm hiểu những tư tưởng huyền bí trong đó thì người ấy đã đi lạc đường.

Trong quá trình học hỏi và tu chứng, công phu tham vấn được dựa trên nguyên tắc chủ và khách. Chủ đáng lý là phải độ được khách. Chủ là thiện tri thức, là thầy. Khách là thiền sinh. Chủ là người thiện tri thức và khách là người đến tham vấn. Có khi khách giúp được chủ. Đôi khi ta là giáo thọ, nhưng kỳ thực ta còn dở hơn người thiền sinh đến tham vấn mình. Có khi khách giúp được khách. Có khi chủ giúp được khách. Có khi chủ giúp được chủ. Có những trường hợp như vậy. Có khi chủ và khách đều giúp được nhau. Có khi chủ và khách làm hại cho nhau. Cột cho nhau thêm những sợi dây khác nữa. Đó là điều ta có thể thấy được trong khi ta đọc những câu vấn đáp, nghe những cuộc đàm luận. Đó là những trường hợp ta có thể nhận diện nếu ta có được trực giác của chánh kiến. Cũng không có gì là bí hiểm trong tứ tân chủ. Trong bốn liên hệ khách và chủ (tứ tân chủ) cũng vậy, không có gì là bí hiểm cả.

Tuệ giác không phải là kiến thức khái niệm. Tuệ giác có khả năng mang tới sống động và tự do trong giây phút hiện tại. Kiến thức không làm được việc ấy. Cho nên không hiểu thì bị đòn đã đành mà hiểu cũng bị đòn như thường, nếu ‘hiểu’ chỉ là kiến thức suông mà không phải tuệ giác. Nếu thấy được điều này, ta có thể cảm thông được với những gì đang xảy ra trong các cuộc đối diện: Ta không nên cố tìm trong các mẩu đối thoại và hành xử (khám biện) ấy những tư tưởng đặc thù hoặc những ý chỉ sâu sắc. Những gì ta thấy đang xảy ra giữa các đương sự là cơ hội của họ. Nếu đứng ngoài mà quán sát ta sẽ không thấy được gì. Nếu ta bước vào trong, đem hết sự sống của ta ra tham dự thì ta có thể có một cơ hội để tuệ giác bừng mở. Nếu bước vào trong mà ta không cảm được một cái gì hết, thì có nghĩa là trường hợp đó không phải là trường hợp của ta, thế thôi. Cũng như khi ta đứng ngắm một bức tranh siêu thực, ta đừng cố tìm hiểu nghĩa lý. Ta đừng nói là ‘ta không hiểu’. Hiểu hay không hiểu ta cũng lãnh ba mươi gậy như thường. Tổ không có ý muốn khuyên ta chấm dứt sự học hỏi và thực tập giới, định và tuệ. Tổ chỉ muốn ta đừng mắc kẹt vào sự học hỏi và thực tập mà thôi. Học hỏi để trở thành học giả, tam tạng pháp sư, thuyết giảng thao thao bất tuyệt, Tổ không cần cái đó. Cái đó Tổ gọi là nghiệp địa ngục. Bản chất của nó là sự tìm cầu, không hẳn là sự tìm giải thoát mà là sự tìm cầu danh lợi. Ta cần học hỏi, ta cần hành trì, nhưng sự học hỏi và hành trì ấy phải có tác dụng giúp ta trở thành con người vô sự, con người giải thoát. Bằng không, những học hỏi và những thực tập đó chỉ là gông cùm.

Khi học Phật học tại các trường đại học, chúng ta có thể có được những kiến thức khái niệm về Phật pháp khá sâu sắc. Bây giờ đây, ở các trường đại học, người ta dạy một cách khá khoa học. Đứng về phương diện bác ngữ học (philology) cũng như về phương diện sử học (history), ta có thể nắm vững những gì ta ?ã học về Phật học, và khi nói ra có bằng cớ, bằng chứng rõ rệt. Đó là cái học ở các trường đại học. Nhưng cái học ở trong tu viện thì khác. Trong tu viện, ta đem những gì ta học ra và áp dụng ngay vào trong đời sống hàng ngày. Có thể trong tu viện, ta học không có tính khoa học bằng các trường đại học. Điều này ta cần phải sửa đổi: ta phải học cho có khoa học. Ta phải biết lợi dụng những khám phá mới của khoa học khảo cổ và khoa học bác ngữ. Điều này là điều chúng ta mong muốn sẽ xảy ra trong các Phật học viện trong những năm tới. Khoa khảo cổ học và khoa bác ngữ học soi sáng cho mình rất nhiều, đứng về phương diện tính chất xác thật của văn bản mình đang học. Kinh Thủ Lăng Nghiêm (Suramgama) có hai bản: một bản là Lăng Nghiêm Tam Muội (Lăng nghiêm đại định) – có bản tiếng Phạn, phát xuất từ Ấn Độ; một bản là Đại Phật Đỉnh Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm, rất nổi tiếng ở Trung Quốc và Việt Nam. Kinh Thủ Lăng Nghiêm được sáng chế tại Trung Quốc. Đó là một sự thật mà các nhà khảo cổ học và các nhà bác ngữ học đều công nhận. Khi ta biết được như vậy thì rất có lợi ích cho ta về phương diện hiểu được tiến trình của tư tưởng Phật giáo. Bây giờ nhờ khoa bác ngữ học (philology) và khoa khảo cổ học (archaeology) mà người ta khám phá ra được nhiều điều về các kinh điển đại thừa: kinh nào xuất hiện ở địa phương nào và vào thời điểm nào ở Ấn Độ; đồng thời khám phá ra được những đoạn nào người ta thêm vào sau, và những đoạn nào có trước. Tất cả những điều đó ngày xưa tại các Phật học viện chúng ta không biết nhiều. Hiện bây giờ, các Phật học viện cần phải cải tiến, phải biết lợi dụng những khám phá mới khoa học để mà học Phật. Tuy nhiên, tu viện có đặc điểm mà các trường đại học không có được là khi mình học một kinh gì hay một giáo lý gì, chúng ta có thể đem ra thực tập liền. Thực tập như vậy có thể thay đổi được con người của ta, giúp ta chuyển hóa được những phiền não. Còn học ở trường đại học thì để có kiến thức khái niệm và bằng cấp. Ta có thể đậu bằng tiến sĩ Phật học, có thể giảng dạy được, có thể khảo cứu được, nhưng ta không có cơ hội chuyển hóa những khổ đau ở trong chính con người mình. Cho nên người tu không học theo kiểu chất chứa những kiến thức khái niệm mà là để chuyển hóa thân tâm. Trong Lâm Tế Lục, Tổ nói rằng kiến thức khái niệm là một chuyện mà tuệ giác là một chuyện khác. Tuệ giác tức là bát nhã (insight). Tuệ giác đó không thể do học mà có được, tuệ giác phải do thực tập mà có. Thực tập nhìn sâu thì có tuệ giác. Ví dụ, vô thường, vô ngã là những tuệ giác mà không phải là những kiến thức khái niệm. Chúng ta có thể học và hiểu rất thấu đáo về giáo lý vô thường và vô ngã; chúng ta có thể nói thao thao bất tuyệt về vô thường và vô ngã và có thể giảng những bài giảng rất hay về vô thường và vô ngã, nhưng chất liệu của những bài giảng đó hay những bài viết đó chỉ là kiến thức khái niệm. Trong lúc đó, trong đời sống hàng ngày, chúng ta vẫn sống như chúng ta không biết vô thường là gì, vô ngã là gì. Nhìn sự vật, chúng ta thấy sự vật là thường và chúng ta đối xử với những người khác như là những cái ngã biệt lập, và chính chúng ta, chúng ta cũng là một cái ngã. Vì vậy kiến thức khái niệm không thể chuyển đổi được con người của ta. Tuệ giác có khả năng mang tới sống động và tự do trong giây phút hiện tại. Nó làm ta trở thành con người sống động (alive) và tự do (free) trong giây phút hiện tại. Cái tự do đó, cái sống động đó xảy ra được trong giây phút hiện tại. Ta là người tu, ta phải cảm nhận được sự sống động đó và sự tự do đó trong giây phút hiện tại. Nếu trong giờ phút hiện tại mà ta bị ràng buộc, ta thấy không có sức sống, ta cảm thấy bị những phiền não sai sử, thì lúc đó tuy ta có học Phật nhiều, nhưng cái học của ta chỉ là những kiến thức khái niệm. Ta chưa biết áp dụng chúng vào trong đời sống hàng ngày. Ta không khác gì những người đi học Phật học tại trường đại học. Ta không có sự sống linh động: mắt ta không sáng, hai chân ta bước không có niềm tin, ta không có nụ cười, ta không có niềm vui và nhất là ta không có tự do, không có tự do đối với phiền não, tham, sân, và ganh tỵ. Trong giây phút hiện tại, ta không có hạnh phúc. Do đó ta biết là ta không có tuệ giác, ta chỉ có kiến thức mà thôi. Kiến thức không làm được việc đó, đó là việc của tuệ giác làm.

Ngày hôm kia, tôi có nói chuyện với một vị thượng tọa. Vị thượng tọa này nói rằng vị giáo thọ ngày xưa của ông ta nổi tiếng là một nhà khảo cứu Phật học, và công trình biên tập cũng như viết lách của vị giáo thọ đó đã được thế giới công nhận. Hiện bây giờ đến tuổi tám mươi hòa thượng đó (vị giáo thọ ngày xưa) lại không có hạnh phúc. Sức lực của vị hòa thượng đó không còn nữa, hai tay và hai chân ngài run rẩy. Những cái ngày xưa chưa thấy bộc lộ nơi hòa thượng bây giờ được bộc lộ ra. Ví dụ như cái ngã, cái sân, cái ích kỷ, cái dục, v.v… Ngày xưa còn trẻ, vị hòa thượng đã tìm cách trấn ngự chúng, không cho chúng biểu lộ, nhưng không có nghĩa là chúng đã được chuyển hóa và tiêu diệt. Bây giờ vì sức lực thân thể không còn, vị hòa thượng đó không có khả năng kiềm chế, cho nên cái ngã và những tâm hành phiền não, ham muốn, ích kỷ, sân hận kia biểu lộ ra. Vị thượng tọa rất lấy làm thất vọng về thầy của mình.

Vị hòa thượng kia đã thành công như là một nhà học giả (scholar), một nhà hành động (activist), nhưng chưa thành công như là một người tu. Đến tuổi bảy mươi, tám mươi mà chưa thành công, thì có thể coi như là một sự thất bại. Những người tu còn trẻ phải biết điều này: mục đích của người tu không phải để trở thành một nhà học giả, tuy rằng làm một nhà học giả cũng có ích lợi cho đời. Mục đích của người tu cũng không phải để hoàn thành những sự nghiệp nghiên cứu, mặc dù hoàn thành sự nghiệp nghiên cứu cũng có ích lợi cho đời. Ta học tiếng Phạn, học chữ Nho, học tiếng Tây Tạng, ta nghiên cứu, ta sáng tác, ta giảng dạy hay, v.v… cũng có ích lợi lắm. Nhưng những ích lợi đó không phải là sự giải thoát, không phải là sự chuyển hóa, vì mục đích đi tu lúc ban đầu của ta là để chuyển hóa bản thân và để giúp đời. Ta học tiếng Pali, tiếng Sanskrit, học chữ Hán hay học kinh điển; ta say mê, ta muốn thành công, ta muốn trở thành một vị pháp sư giỏi, một nhà nghiên cứu hay, v.v… chuyện đó cũng không có hại gì vì những cái đó đều có thể giúp cho sự nghiệp hành đạo của ta. Nhưng nếu bỏ chuyện tu đi, để cho sự nghiệp nghiên cứu và học hỏi trở thành mục tiêu chính của đời mình, thì ta sẽ đánh mất mục đích chính của đời ta là chuyển hóa những phiền não, đam mê, sân hận, ích kỷ… trong con người mình. Như vậy không thể gọi ta là một hành giả thành công được. Ví dụ, quý vị đang ở dưới lầu và quý vị cần một cuốn kinh ở thư viện trên lầu. Quý vị đứng dậy và đi lên cầu thang để tìm cuốn kinh đó. Mục đích của quý vị khi đi tìm cuốn kinh là gì? Quý vị đọc cuốn kinh đó là để tra cứu và hiểu rõ thêm để áp dụng vào đời sống hàng ngày hay là để giảng dạy? Từ chỗ quý vị đứng dậy, rồi đi lên lầu để lấy cuốn kinh đó, quý vị đi như thế nào? Quý vị đi một cách thảnh thơi hay là quý vị sẽ chạy hoặc là nhảy một lần hai, ba bậc cấp để lấy được cuốn kinh? Lấy cuốn kinh là mục đích của quý vị lúc đó, nhưng mục đích chính của quý vị là sống an lạc và thảnh thơi trong từng giây phút. Một ví dụ khác: trong lúc quý vị đang nấu ăn cho đại chúng và quý vị cần mươi trái cà chua ngoài vườn. Cái cách quý vị đi từ nhà bếp ra vườn rau để hái cà chua chứng tỏ quý vị có khả năng sống tự do trong giây phút hiện tại hay không. Nếu đi ra vườn hái cà chua mà trong mỗi bước đi có an lạc, có thảnh thơi, có tự do, có sự sống, đó là quý vị đang áp dụng cái hiểu, cái biết, cái thấy của mình về giáo lý trong từng bước chân. Điều đó quan trọng nhất. Còn nếu quý vị hấp tấp chạy ra vườn để có cà chua, thì quý vị phải tự hỏi lại mình rằng mục đích của mình là có cà chua hay là có tự do và giải thoát? Không lẽ mục đích của ta lúc đó chỉ là những trái cà chua nhỏ bé thôi sao? Cũng như vậy, mục đích của ta không phải chỉ là cuốn kinh. Mục đích cu?a ta là có được sự sống tự do ngay trong giây phút hiện tại. Sống an lạc được trong giây phút hiện tại thì mới có cơ hội để chuyển hóa tâm hành bộp chộp và tập khí đi tìm hạnh phúc trong tương lai của ta. Vì vậy mỗi khi quý vị gấp gáp đi lấy một cái gì, đi tìm một cái gì, hay đi làm một việc gì, quý vị hãy tự hỏi mình: Mục đích của mình là cái đó, hay là an trú thảnh thơi trong giây phút hiện tại? Tôi rất cần mấy trái cà chua, nhưng không phải vì mấy trái cà chua mà tôi đánh mất sự thực tập của tôi, đánh mất sự sống của tôi. Lấy cuốn kinh cũng là quan trọng, nhưng không phải vì đi lấy cuốn kinh mà tôi đánh mất sự sống trong giây phút hiện tại, đánh mất tự do của tôi. Chỉ nghĩ tới trái cà chua hay là cuốn kinh, thì lúc đó ta đã bỏ mất mục đích chính của đời mình để đi theo mục đích phụ. Trở thành một nhà học giả cũng vậy, cũng không phải là mục đích chính của ta, dù làm một nhà học giả cũng có những niềm vui.

Tuệ giác có khả năng mang tới sống động và tự do trong giây phút hiện tại. Kiến thức không làm được việc ấy. Vì vậy cho nên không hiểu thì bị đòn đã đành mà hiểu cũng bị đòn như thường, nếu ‘hiểu’ chỉ là kiến thức suông mà không phải tuệ giác. Khi thiền sư nói ra một câu nào đó, ta có thể hiểu hay là không hiểu. Không hiểu thì ba mươi gậy, hiểu cũng bị ba mươi gậy. Đó là một đoạn trong Lâm Tế Lục. Ta không hiểu thiền sư nói gì thì bị đánh là thường, mà ta hie^?u cũng bị đánh như thường. Tại vì sao? Tại vì cái hiểu đó là cái hiểu khái niệm. Vì thế khi thầy hỏi ta một câu, mục đích của thầy là để làm cho ta khơi mở được tuệ giác. Ta chạm được tuệ giác, thì ta thành công và thầy cũng thành công. Còn nếu ta đi tìm một câu trả lời trong khái niệm, thì tìm ra hay không tìm ra cũng đều là sự thất bại của mình và của thầy, vì cái mà thầy muốn không phải là một câu trả lời, hay một cái hiểu khái niệm. Cái mà thầy muốn là tuệ giác ta đạt được. Khi thầy hỏi một câu, không phải là thầy muốn ta trả bài. Thầy không có ý kiểm tra xem ta có thuộc bài hay không, mà câu hỏi đó là để giúp ta chạm được tới tuệ giác trong con người mình. Trong trường hợp ta nói là mình không hiểu thì ta thất bại đã đành, nhưng trong trường hợp ta nói mình hiểu (hiểu theo cái hiểu khái niệm) thì cũng thất bại luôn. Những mẩu đối thoại giữa thiền sư và thiền sinh thường là như vậy. Khi đệ tử của thiền sư Triệu Châu hỏi: ‘Mục đích của tổ Đạt Ma khi sang Tàu là gì?’, thì thiền sư Triệu Châu nói với đệ tử: ‘Nhìn cây tùng ngoài sân kìa!’ (Đình tiền bách thọ tử). Câu nói này là để giúp cho người đệ tử tỉnh thức, chứ không phải để cho đệ tử thấy rằng: ‘A! có một cây tùng đang đứng trước ngõ’. Thiền sư thấy chúng ta đang bị kẹt vào những suy tư và những tìm cầu kiến thức, thiền sư thấy rất tội nghiệp cho chúng ta nên thiền sư mới chỉ ra ngoài: ‘Nhìn cây tùng trước sân kìa’, hy vọng là ta có thể trở về được với giây phút hiện tại. Chạm được vào cây tùng nghĩa là chạm được tới sự sống màu nhiệm thì ta thấy được là có sự sống ở trong mình và chung quanh mình, để ta không còn bị kẹt vào những tìm kiếm, đeo đuổi. Nhìn cây tùng mà chạm được sự sống thì ta có tự do, ta có tuệ giác. Còn nếu ta nói: ‘A! Thầy vừa chỉ cho mình cây tùng, thì chắc là có ý nghĩa triết học gì sâu sắc lắm trong câu nói của thầy’. Trong trường hợp này ta cũng kẹt luôn. Câu ‘Đình tiền bách thọ tử’ đã trở thành một công án rất nổi tiếng bên Tàu ngày xưa. Câu chuyện truyền đi xa, và khắp nơi trong nước, trong giới hành giả, ai cũng đều bàn luận sôi nổi về câu ‘đình tiền bách thọ tử’. Người ta mắc kẹt vào trong câu nói đó và cứ hỏi không biết có nghĩa lý gì sâu sắc ở trong câu nói đó hay không. Ai cũng cố gắng đi tìm cái nghĩa lý sâu sắc ở trong năm chữ đó. Mục đích của thiền sư là giải phóng người đệ tử, nhưng khi nói ra năm chữ đó thì thiền sư đã trói buộc không biết bao nhiêu người. Họ đi tìm kiến thức khái niệm, họ đi tìm nghĩa lý thâm uyên của năm chữ đó. Có phải là tai hại không? Thà rằng đừng nói gì hết.

Có một hành giả ở rất xa, tận miền Đông Nam, nghe công án đó thì rất thao thức muốn biết nghĩa lý thâm uyên của nó nên đã lên đường tìm về chùa Bách Lâm (nơi thiền sư Triệu Châu ở). Đi hết mấy tháng trời, nhưng khi vị ấy tới nơi thì thiền sư Triệu Châu đã tịch. Mục đích của vị đó là muốn gặp trực tiếp thầy Triệu Châu để hỏi cho ra ý nghĩa ‘đình tiền bách thọ tử’, vì ở địa phương của vị đó, người ta đàm luận quá nhiều mà không ai đồng ý với ai hết về nội dung của năm chữ kia. Lúc đó, một vị đệ tử lớn của thiền sư Triệu Châu ra tiếp vị khách tăng này. Cố nhiên là vị khách tăng rất thất vọng khi nghe nói thiền sư Triệu Châu đã viên tịch. Thiền sư tịch rồi thì mình đành phải hỏi vị đệ tử lớn thôi, cho nên vị ấy đã đưa công án ra hỏi:

– Bạch thượng tọa, ‘cây tùng ngoài sân trước’ là có nghĩa gì?

Vị thượng tọa hỏi:

– Cây tùng nào?

– Cây tùng mà thiền sư đã nói trong câu ‘cây tùng ngoài sân trước’ đó.

Vị thượng tọa nói:

– Tôi đâu có nghe thầy tôi nói về cây tùng nào đâu.

– Đâu có lý như vậy! Cả nước đều nghe câu đó hết mà?

Vị thượng tọa nói:

– Thầy đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi. Thầy tôi chưa bao giờ nói về cây tùng ở sân trước hết.

Vị thượng tọa này thấy rằng, năm chữ ‘đình tiền bách thọ tử’ đã gây ra tác hại rất nhiều, đã trói buộc rất nhiều người, vì vậy ông quyết định giết cây tùng này. Tuy rằng ông biết ngày xưa thầy mình có nói câu đó, nhưng mà ông cứ chối phăng: ‘Ông đừng có vu oan giá họa cho thầy tôi. Thầy tôi chưa bao giờ nói về cây tùng o+? sân trước he^’t’. Đạo Bụt có mục đích giúp cho người ta đạt tới tuệ giác. Nhưng phần lớn chúng ta đều là những người đi tìm kiếm kiến thức khái niệm để rồi bị kẹt. Chúng ta phải ý thức rằng chúng ta đừng nên tiếp tục đi tìm kiến thức khái niệm nữa. Khi gặp một thiền sư thứ thiệt thì ta đừng bỏ phí thì giờ để học hỏi những kiến thức khái niệm. Cái đó học ở trường đại học đã có đủ rồi. Ta nên học những gì để có thể chuyển hóa những khổ đau và những bế tắc của mình. Những lời thầy ta nói, nếu thầy ta quả là thiện tri thức, thì những lời đó có tác dụng giúp ta chạm được vào sự sống, bỏ được những thành kiến, chuyển hóa được những phiền giận và tập khí. Vì mục đích của vị thầy là giúp người đệ tử chuyển hóa, chứ không phải để trao truyền những kiến thức khái niệm. Thiền sư (zen master) không phải là giáo sư (professor). Thiền sư Lâm Tế đã nói rất rõ: ‘Mục đích của tôi không phải là trao truyền những kiến thức khái niệm cho mấy ông. Mục đích của tôi là đánh, là phá, là cởi trói, là trị liệu cho các ông.’

Nếu thấy được điều này, ta có thể cảm thông được với những gì đang xảy ra trong các cuộc đối thoa.i. Đọc trong các ngữ lục, chúng ta thường thấy có những cuộc đối thoại giữa thiền sư và đệ tử. Chúng ta cũng tò mò muốn biết ý nghĩa của các cuộc đối thoại đó, và nếu đọc những đoạn đối thoại đó với mục đích tìm kiếm ý nghĩa của cuộc đối thoại đó thì ta thất bại. Trong cuộc đối thoại có hai người: một vị thầy và một người đệ tử, một vị thiện tri thức và một người cầu học hay một người chủ và một người khách. Chủ, theo nguyên tắc, là phải giúp cho khách. Nhưng đôi khi cũng xảy ra trường hợp là khách giúp cho chủ, tức là người tìm học có thể giúp được cho thiền sư. Trong những trường hợp đó, hai người trực tiếp đối diện với nhau, và họ có những tâm tư đặc biệt của họ, còn ta là người đứng ngoài. Khi đọc một mẩu đối thoại giữa thiền sư và người đệ tử, ta là người đứng ngoài. Nếu đứng ngoài với tư cách một quan sát viên để tìm hiểu ý nghĩa của câu chuyện, thì mình sẽ thất bại. Nhưng nếu đặt được ta vào trong trường hợp của người hỏi, người đệ tử, thì ta có cơ hội hơn. Nghĩa là khi nghe thiền sư hỏi câu đó, ta đặt được ta vào trong trường hợp của người đệ tử tới tham học, thì ta có một cơ hội để tiếp xúc với tuệ giác của mình. Ta có thể cũng sẽ thất bại như người ở trong cuộc, nhưng ta cũng có cơ hội thành công. Ta trở thành người đệ tử kia, và thiền sư Triệu Châu hiện đang nói với ta chứ không phải là đang nói với người đệ tử kia. Người đệ tử ở trong truyện có thể thất bại, nhưng ta có thể thành công. Thiền sư nói câu đó một ngàn ba trăm năm về trước với vị thiền khách kia, nhưng vị thiền khách kia đã thất bại. Đến khi ta đọc lại câu chuyện mà ta không đọc với thái độ tìm kiếm kiến thức khái niệm, thì ta có thể có cơ hội thành công. Ta ‘làm ăn’ có thể khá hơn vị thiền khách kia nếu ta đưa tất cả tấm lòng ra đón nhận câu nói của thiền sư. Có những điều Bụt nói trong thời của Bụt mà có người không hiểu, nhưng khi ta nghe, ta có thể hiểu được nếu ta thấy rằng Bụt đang nói cho mình. Cố nhiên, khi Bụt nói cho một người nào đó là Bụt đang đo^’i trị căn cơ của người đó, nhưng đôi khi căn cơ ta phù hợp với căn cơ đó thì ta có cơ hội thấy được, cảm được điều Bụt nói. Vì vậy khi đọc ngữ lục, phải đọc với tâm niệm mình là đương sự. Và nếu chạm được tuệ giác, thì đó là điều may mắn, còn không chạm được tuệ giác thì thôi, đừng cố tìm hiểu nghĩa lý huyền bí gì ở trong đó, vì nếu ta có tìm ra được gì đi nữa thì đó cũng chỉ là kiến thức khái niệm mà thôi. Đừng nên đi tìm! Vậy mà hầu hết các nhà học giả bây giờ đọc Lâm Tế Ngữ Lục và những ngữ lục khác với mục đích là đi tìm kiếm. Đi tìm để biết Tổ nói cái gì trong đó. Tổ có nói gì đâu. Tổ chỉ đánh, chỉ đập, chỉ hét, chỉ khai mở, chỉ cởi trói. Tổ không nói gì mà ta đi tìm cái Tổ nói là hỏng rồi. Mục đích của Tổ là đập vỡ khối u mê của ta, cởi trói cho ta. Vì vậy khi đọc những mẩu đối thoại kia, ta có một cơ hội. Nhưng nếu ta không ở vào căn cơ đó, đọc mà không cảm thấy gì hết, thì ta cứ cho qua thôi, đừng tự cho là mình dốt, mình không hiểu gì hết, mình ngu. Không nên có mặc cảm! Công án đó, câu chuyện đó có thể không phải là để cho ta. Cũng như khi nghe một bản nhạc mà thấy hay thì nó hay, còn không thấy hay thì thôi, đừng cho là mình ngu, mình không biết thưởng thức bản nhạc này. Hoặc là ta nghe nói có một bức họa bán rất đắt tiền, cả triệu đồng, ta nghĩ chắc là nó phải đẹp lắm, nên người ta mới bán với giá đó, và ta tới xem. Nhưng ta không thấy đẹp, rồi ta tự trách: tại sao mình ngu vậy, bức họa này rất đẹp, mà sao mình không thấy đẹp? Không cần phải tự trách như vậy. Nếu ta thấy nó đẹp, thì nó đẹp. Nếu ta không thấy nó đẹp, thì thôi. Đừng có đi tìm hiểu tại sao nó đẹp mà ta không thấy là nó đẹp. Đi tìm hiểu thì không khác gì ta là đồ ngu thiệt. Thành ra, khi đọc các mẩu đối thoại trong các ngữ lục thì phải coi như là ta đang đi xem trăng, đang nghe nhạc: một là cảm được, hai là không cảm thấy gì hết, và ta hãy đi qua bức tranh khác, đi qua bản nhạc khác. Như vậy ta đỡ tốn thì giờ rất nhiều.Vì vậy cho nên không hiểu thì bị đòn đã đành mà hiểu cũng bị đòn như thường, nếu ‘hiểu’ chỉ là kiến thức suông mà không phải tuệ giác. Nếu thấy được điều này, ta có thể cảm thông được với những gì đang xảy ra trong các cuộc đối thoa.i: Ta không nên cố tìm trong các mẩu đối thoại và hành xử (khám biện) ấy những tư tưởng đặc thù hoặc những ý chỉ sâu sắc. Những gì ta thấy đang xảy ra giữa các đương sự là cơ hội của họ. Nếu đứng ngoài mà quán sát ta sẽ không thấy được gì. Nếu ta bước vào trong, đem hết sự sống của ta ra tham dự thì ta có thể có một cơ hội để tuệ giác bừng mở. Nếu bước vào trong mà ta không cảm được một cái gì hết, thì có nghĩa là trường hợp đó không phải là trường hợp của ta, thế thôi. Cũng như khi ta đứng ngắm một bức tranh siêu thực, ta đừng cố tìm hiểu nghĩa lý. Ta đừng nói là ‘ta không hiểu’. Hiểu hay không hiểu ta cũng lãnh ba mươi gậy như thường. Tổ không có ý muốn khuyên ta chấm dứt sự học hỏi và thực tập giới, định và tuệ. Tổ chỉ muốn ta đừng mắc kẹt vào sự học hỏi và thực tập mà thôi.

Đừng nói Tổ bảo ta không nên học.Ta phải học như thường. Ta vẫn phải học chữ Hán, tiếng Pháp, tiếng Sanskrit, tiếng Pali, và ta phải học kinh, học giới và học luật như thường. Nhưng phải học theo tinh thần Tổ dạy: học để mà tu, chứ không phải học để thành học giả. Tổ chỉ muốn ta đừng mắc kẹt vào sự học hỏi và thực tập mà thôi. Học hỏi để trở thành học giả, tam tạng pháp sư, thuyết giảng thao thao bất tuyệt, Tổ không cần cái đó. Cái đó Tổ gọi là nghiệp địa ngục. Muốn trở thành, muốn làm học giả, anh cũng xuống địa ngục như thường, vì anh tham danh, vì anh muốn làm nhà lãnh đạo. Làm tam tạng pháp sư anh cũng đi xuống địa ngục như thường. Cái đó Tổ gọi là nghiệp địa ngục. Bản chất của nó là sự tìm cầu, không hẳn là sự tìm ca^`u giải thoát mà là sự tìm cầu danh lợi. Ta cần học hỏi, ta cần hành trì, nhưng sự học hỏi và hành trì ấy phải có tác dụng giúp ta trở thành con người vô sự, con người giải thoát. Bằng không, những học hỏi và những thực tập đó chỉ là gông cùm. Chuyện này ta làm được. Nếu sư cô muốn hái cà chua, thì sư cô cứ ra vườn hái, nhưng đi từ bếp ra vườn phải thảnh thơi, an lạc, giải thoát trong từng bước chân. Mục đích của sư cô không phải là trái cà chua mà mục đích của sư cô là thảnh thơi, an lạc. Có phải như vậy không? Sư chú lên lầu lấy cuốn kinh. Điều đó được chứ sao không. Nhưng lấy cuốn kinh không phải là mục đích của đời mình. Lấy cuốn kinh là việc thứ yếu, cái việc chính là an lạc, giải thoát. Vì vậy từ chỗ đang ngồi, đứng dậy, lên lầu lấy cuốn kinh sư chú phải đi từng bước, đi cho có giải thoát, có an lạc. Đối trị được cái tập khí muốn chạy theo danh lợi, chạy về tương lai, sự thực tập giải thoát này phải có trong từng giây từng phút. Cái gì là mục đích chính của đời ta? Mục đích chính của đời ta là trở thành người học giả, người lãnh đạo, hay mục đích chính của đời ta là có được an lạc, hạnh phúc, tự do? An lạc, hạnh phúc, tự do có thể có trong giây phút hiện tại, chứ không phải trong tương lai.

Trong khóa tu tiếng Pháp tại Làng vừa rồi, các thiền sinh rất hạnh phúc. Thiền sinh Pháp về Làng trong khóa tu giống như là con về nhà cha mẹ mỗi năm. Họ rất vui. Họ không thể không về được. Người Pháp được về dự khóa tu tiếng Pháp thì rất hạnh phúc. Cũng giống như người Việt về dự khóa tu tiếng Việt. Tạo hạnh phúc cho một người đã là chuyện may mắn, chuyện hy hữu rồi, huống hồ là có cơ hội tạo hạnh phúc cho cả sáu bảy trăm người. Trong khóa tu ấy, tất cả chúng thường trú chúng ta, các thầy, các sư cô, các cư sĩ, người nào cũng đem hết tài năng của mình ra để đóng góp. Ban nấu nướng làm đủ mọi cách để làm hạnh phúc cho thiền sinh. Ban văn phòng làm hết tất cả những gì mình có thể làm được để thiền sinh có hạnh phúc. Ban giáo thọ cũng vậy. Và mỗi người trong chúng, trong cương vị của mình, sử dụng tài năng và trái tim của mình để làm cho thiền sinh có hạnh phúc. Công trình đó là công trình của tập thể, không phải là công trình một người ở trong chúng. Điều này là một điều rất đẹp. Chúng ta làm như vậy không phải là để được tiếng khen, dầu là khi nghe khen, mình cũng thấy vui vui. Nhưng sự thật làm như thế là để thực tập. Khi chúng ta thấy được và biết được qua ngày thứ hai, ngày thứ ba, ngày thứ tư, ngày thứ năm, những người thiền sinh có chuyển hóa, thì ta có rất nhiều niềm tin vào pháp môn của mình. Niềm tin đó được tưới tẩm. Đó là một điều ích lợi. Ta biết rất rõ là nếu ta không thảnh thơi, không an lạc, thì ta không thể nào giúp được cho những thiền sinh tới với mình. Và ta biết rằng, nếu niềm an lạc, sự thảnh thơi của ta càng lớn, thì những người thiền sinh tới với ta càng được thừa hưởng nhiều. Cho nên sự có mặt của những người thiền sinh cũng là trợ duyên cho chúng ta tu tập. Một khóa tu thành công, không phải chỉ là thành công cho những người thiền sinh mà cũng là thành công cho chính chúng ta. Chúng ta thấy được rằng chúng ta đang đi trên một con đường chân chính, một con đường đe.p, một con đường đáng đi. Chúng ta thấy được rằng, nếu muốn sự nghiệp hành đạo của chúng ta thành công hơn trong tương lai, chúng ta phải hạ thủ công phu về phương diện tu tập trong giây phút hiện tại. Bởi vì mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười của chúng ta đều có thể đem lại hạnh phúc cho chúng ta và cho những người khác. Do đó, những buồn phiền, những giận hờn, những bế tắc của ta, ta phải biết xử lý nó. Đó chính là đối tượng của sự tu học của ta, và ta đã có những pháp môn rất rõ ràng, rất hữu hiệu để làm được chuyện này. Vì vậy mỗi ngày chúng ta đều có tiến bộ trong công trình chuyển hóa, đồng thời sự học hỏi của chúng ta sẽ có ý nghĩa hơn và sẽ giúp cho chúng ta thêm trong vấn đề tu tập chuyển hóa. Còn nếu chúng ta chỉ nghĩ đến sự học hỏi kiến thức khái niệm, thì chúng ta cũng sẽ như vị hòa thượng kia, tới bảy mươi, tám mươi tuổi rồi, có danh, có địa vị, nhưng không có giải thoát. Đó là một điều đáng tiếc.

Con người vô sự là con người tùy xứ tác chủ nên không phải là con người thụ động. Trái lại, người ấy luôn luôn đứng về phía chủ động. Ta không thể nào nói rằng: nếu người tu đạo không theo đuổi một chí hướng, không thao thức thực hiện một lý tưởng, không có mục đích theo đuổi, thì ai sẽ là người tế độ chúng sinh, cứu vớt những loài đang chìm đắm trong biển khổ? Bụt là một người vô sự, không tìm kiếm một cái gì. Nhưng Bụt là một người hoạt động độ sinh không ngừng nghỉ. Con người vô sự tuy rất tích cực trong việc giúp đời độ người, nhưng không bao giờ bị kéo theo hoàn cảnh và công việc, không bao giờ đánh mất mình trong mong cầu, trong dự án, trong công việc. Con người vô sự luôn luôn còn là mình, còn tự do, không bao giờ bị ‘burn out’ (hết xí quách), cho nên con người vô sự còn mãi thong dong.

Chữ vô sự ở đây có thể hiểu là tự do, có thể hiểu là không bị những tham muốn, những dự án kéo mình đi. Tùy xứ tác chủ là bất cứ ở đâu ta cũng làm chủ được mình. Vì vậy người nào có thể tùy xứ tác chủ thì người đó đích thực là người vô sự. Ta đã là người vô sự rồi thì ta có khả năng tùy xứ tác chủ, ta không phải là con người thụ động (passive). Thụ động tức là để cho người ta kéo ?i, để cho hoàn cảnh kéo ?i, ta không tự chủ được. Ta thấy ta là nạn nhân của hoàn cảnh, là nạn nhân của người khác. Ta than phiền rằng: tại vì hoàn cảnh như thế kia cho nên tôi mới như thế này; tại vì người kia như thế kia, cho nên tôi mới phải lao đao khốn khổ như thế này. Ta cảm thấy ta là nạn nhân. Và khi thấy mình là nạn nhân thì ta sẽ oán trời trách đất, nguyền rủa xã hội, nguyền rủa hoàn cảnh, nguyền rủa con người. Con người vô sự là con người không thấy mình là nạn nhân. Thấy mình là nạn nhân rồi thì ta không có ý chí, ta không còn chủ động (active), ta trở nên thụ động (passive). Trái lại con người ấy luôn luôn đứng về phía chủ động. Con người đó luôn luôn đặt ra câu hỏi: Trong tình trạng này, mình phải làm gì? Mình phải làm gì để cho tình trạng tốt đẹp ra? Mình phải làm gì để cho tình trạng chuyển đổi? Mình phải làm gì để có thể thay đổi được tình trạng, thay đổi được những người chung quanh? Nếu nhìn lại cho kỹ, ta sẽ thấy rằng không có người nào mà đã không là nạn nhân của xã hội và của những người khác. Tại vì trong xã hội có những u mê, có những bạo động, có những căm thù, có những thèm khát, và con người bị trấn ngự bởi những yếu tố đó, cho nên con người làm khổ nhau, làm khổ những loài khác, làm khổ cho hoàn cảnh. Vì vậy nói tới nạn nhân thì không có ai không là nạn nhân. Bị người ta hành hạ, bị người ta đè nén, bị người ta lạm dụng, bị người ta làm cho bầm dập…, không có người nào tránh thoát được những trường hợp như vậy, kể cả Siddhatta (Ta^’t ?a.t ?a). Siddhatta trước khi thành Phật và ngay sau khi thành Phật cũng đã từng bị như vậy. Ta nên nhớ rằng trong ta cũng đang có những yếu tố của vướng mắc, của tham dục, của thèm khát, của giận hờn, của bạo động và của kỳ thị. Vì vậy có những người đã từng là nạn nhân của ta, có những người đang là nạn nhân của ta. Vì ta có u mê, có giận hờn, có vụng về và kỳ thị trong tự thân, cho nên ta đã gây khổ đau cho chính ta và cho người khác. Nạn nhân đầu tiên của ta là chính ta. Ta làm khổ mình, và ta làm khổ những người khác. Nếu nói rằng: ‘Chỉ có tôi là nạn nhân thôi, tất cả những người khác, họ không có cái đau khổ của tôi. Họ chỉ làm cho tôi đau khổ thôi’, đó không phải là cái thấy đúng, không phải là chánh kiến. Cho nên khi nào ta cảm thấy ta là nạn nhân, thì ta phải ngồi lại, suy nghĩ và quán chiếu để thấy rằng ai cũng có thể là nạn nhân cả. Ta có thể là nạn nhân của chính mình. Nếu ta phát tâm bồ đề, có ý chí muốn được chuyển hóa, thì ta có thể tự cứu được mình, và có thể cứu được những người và những loài khác. Khi ta phát được tâm bồ đề, phát ra được cái ý chí vĩ đại đó, thì ta không còn là nạn nhân, ta không còn thụ động nữa mà ta bắt đa^`u đóng vai trò chủ động. Cho nên bồ đề tâm, ý chí muốn hành động, muốn thay đổi, rất quan trọng. Ta chưa làm gì hết, ta mới chỉ có nhận thức thôi, mới có ý chí thôi, mà khổ đau đã giảm thiểu đến tám mươi, chín mươi phần trăm rồi. Vì vậy thay đổi nhận thức là một việc làm rất quan trọng. Biết bao nhiêu người chết đuối trong biển khổ của sự thất vọng, chỉ vì nghĩ rằng mình là nạn nhân. Có những người nói: Tôi bị lạm dụng từ khi còn nhỏ, bị người này hiếp đáp, bị người kia hiếp đáp; cả đời tôi, tôi chỉ là nạn nhân, nạn nhân của cha mẹ, nạn nhân của anh em, nạn nhân của bạn bè, nạn nhân của xã hội, nạn nhân của hoàn cảnh, nạn nhân của chiến tranh, cho nên bây giờ tôi mới như thế này, tôi bất lực, tôi không làm được gì cả. Những người ấy sống mà chỉ đóng vai trò của một nạn nhân và chìm ngập trong biển khổ của sự tuyệt vọng.

Mỗi lần ngã là một lần đứng dậy,

Để cuộc đời nhường một bước đi lên.

Đó là thái độ của người chủ động. Tuy là có những khổ nhục, nhưng ta không bị chết chìm trong biển khổ nhục đó, ta đứng dậy. Đứng dậy như một vị anh hùng, một vị Bồ Tát, và khi cái tâm đại trượng phu ấy được phát khởi, thì tự nhiên đau khổ rơi rụng rất mau. Chưa làm gì hết, nhưng khổ đau đã rơi rụng rất nhiều. Nếu ta là nhà tâm lý trị liệu, ta phải thấy được điều này. Phần lớn những người có bệnh tâm thần cứ nghĩ rằng mình là nạn nhân của sự lạm dụng, của sự đè ép, của sự bủa vây của người khác, và cho rằng đã bị như vậy rồi thì mình sẽ phải mang những vết thương suốt đời, mình không thể nào lành được, cho nên mình phải khóc thật nhiều, mình phải biểu lộ cho được cái niềm đau nỗi khổ đó ra, thì mình mới bớt bệnh được. Nhưng sự thật là mỗi khi ta than khóc, ta biểu lộ niềm đau, ta tưới tẩm hạt giống của niềm tin rằng mình là nạn nhân, thì hạt giống của sự đau khổ càng lớn. Ta chỉ cần ý thức rằng tuy có sự vụng về tu+` phía mình, và có sự vụng về tu+` phía những người khác nhưng ta vẫn có thể đứng dậy được.

Đứng dậy em ơi sống cõi đời

Đời dù khổ nhục đến mười mươi

Em nên điểm phấn tô son lại

Ngạo với nhân gian một nụ cười

Hãy đứng dậy, đừng làm nạn nhân nữa. Đó là thái độ cần có. Khi ta có ý chí đó, thì bệnh ta bắt đầu thuyên giảm liền. Nếu ta là một nhà tâm lý trị liệu giỏi, ta có thể tạo ra được sự chuyển biến này trong tâm hồn của người bệnh. Nếu không thì ta chỉ có thể nói: ‘Anh nên khóc đi, khóc cho đỡ đau đi, nói ra đi cho nó nhẹ bớt’. Càng khóc, càng nói ra thì ta càng khổ. Nói như vậy không có nghĩa là ta không được khóc, không được nói. Khóc một lần thôi, nói một lần thôi. Tại sao ngày nào ta cũng phải khóc, ngày nào ta cũng phải nói để tưới tẩm những hạt giống đã quá chín muồi đó? Người ta chỉ có khả năng nghe ta được một vài lần thôi, lặp lại nhiều lần người ta nghe hoài cũng ngán lắm. Chỉ có những nhà tâm lý trị liệu mới chịu khó ngồi nghe, còn những người khác thì chỉ có thể nghe một vài lần là đủ.

Khi quán chiếu ta thấy rằng không phải ta là người duy nhất có niềm đau. Người kia, người đã từng hãm hại ta, lạm dụng ta, làm tình làm tội ta, cũng có những niềm đau. Người đó có thể là cha, là mẹ, là chồng, hay là vợ của ta. Và khi quán chiếu như vậy, thấy được nỗi khổ niềm đau của người kia, thì ta làm phát sinh ra hiểu biết và từ bi. Ta thấy rằng người đó cũng đang cùng ngồi trên một chiếc thuyền với mình, đồng hội đồng thuyền, đồng khổ với nhau, thì sự hận thù, sự trừng phạt không cần nữa. Chất bạo động trong người không còn thì ta thấy rằng ta cần phải làm một cái gì đó để giúp mình, cứu mình và để giúp được người kia. Cái quán chiếu đó phát sinh tâm từ, tâm bi. Tâm từ là tâm muốn cho người kia có được hạnh phúc. Tâm bi là tâm muốn cho người kia khỏi khổ đau. Không những ta muốn cho ta không khổ, được vui, mà ta cũng muốn cho người kia cũng được như thế. Khi có tâm từ và tâm bi thì tự nhiên đau khổ tan rã, rơi rụng. Đó chỉ mới là kết quả của công phu quán chiếu thôi. Rất hay. Vậy thì con người vô sự là con người đứng vào trường hợp nào cũng đóng vai chủ động. Tùy xứ tác chủ, tức là chủ động, không than phiền và luôn có khả năng mỉm được nụ cười.

Ta không thể nào nói rằng: nếu người tu đạo không theo đuổi một chí hướng, không thao thức thực hiện một lý tưởng, không có mục đích theo đuổi, thì ai sẽ là người tế độ chúng sinh, cứu vớt những loài đang chìm đắm trong biển khổ? Có phải khi vô sự thì ta khỏi phải làm gì hết, khỏi phải có một kế hoạch nào, một dự án nào, vậy thì ai đứng ra lo giúp đời? Người ta hay chủ trương rằng phải có thao thức, phải có một chí hướng, phải có một lý tưởng, thì ta mới có được một nguồn năng lượng trong tự thân, thì ta mới làm việc được.

Bụt là một người vô sự, không tìm kiếm một cái gì. Nhưng Bụt là một người hoạt động độ sinh không ngừng nghỉ. Chúng ta biết rằng trong ba cánh cửa giải thoát có một cánh cửa gọi là vô nguyện. Vô nguyện tức là không có đối tượng để theo đuổi (aimlessness). Khi ta thực hiện được vô nguyện, không tìm cầu nữa, thì ta thật sự có hạnh phúc, ta là người vô sự. Bụt là người vô sự, nhưng không phải là một người nhàn cư không làm gì hết. Trong bốn mươi lăm năm, Bụt đã làm rất nhiều, đã không ngừng công việc hóa độ của Người. Đến giờ phút lâm chung cũng còn độ được một người xuất gia. Như vậy người vô sự không phải là người không có từ, không có bi. Mà từ và bi chính là hai động lực rất mạnh, khiến cho ta trở thành một con người hành động, một con người chủ động. Người vô sự không phải là người không có năng lượng. Năng lượng của người vô sự là năng lượng từ, bi và trí tuệ. Ở đây ta thấy rõ rằng con người giải thoát, con người vô sự là một con người rất hoạt động. Lý do là con người này có năng lượng của từ, của bi, và của trí tuệ. Có những người không có năng lượng từ, bi và trí tuệ, nhưng cũng rất hoạt động, vì nguồn năng lượng trong họ là nguồn năng lượng của dục. Họ thèm khát danh, cho nên họ rất siêng năng, họ rất hoạt động. Họ thèm khát giàu sang, cho nên họ rất hoạt động, làm việc cả ngày cả đêm. Họ muốn có quyền hành, vì vậy họ rất hoạt động, họ để hết thì giờ để xây dựng quyền hành của họ. Họ thèm khát sắc dục, vì vậy họ rất hoạt động, họ làm đủ mọi cách để chiếm hữu, để thành công. Cho nên ta phải phân biệt hai nguồn năng lượng: một là năng lượng dục, hai là năng lượng từ bi. Con người vô sự không có dục, nhưng có rất nhiều từ bi. Người có từ bi có thể hy sinh thân mạng của mình để cứu độ chúng sinh, vì vậy năng lượng của từ bi rất lớn. Khi ta nói một bài pháp thoại, bài pháp thoại này có thể được nói với năng lượng của từ bi, hay là với năng lượng của dục. Pháp thoại là Phật pháp, nhưng nếu ta nói pháp với tâm niệm là phô bày kiến thức của mình, để cho người ta khâm phục, để cho người ta khen ngợi, thì tuy ta cũng hăng hái nói bài pháp đó, nhưng nguồn năng lượng này không phải là một nguồn năng lượng lành. Nghe bài pháp thoại người ta cũng thấy rõ là trong bài pháp này không thật sự có từ, có bi, cho dù là đề tài của bài pháp là từ bi. Tại vì người nói pháp đã nói với cái ý muốn phô bày kiến thức của mình về từ và về bi. Khi thấy người ta khổ, ta nói một bài pháp có công năng giúp cho người ta bớt khổ, thì người ta nghe sẽ bớt khổ liền, vì người ta thấy được con đường chuyển hóa. Bài pháp không phải được nói với tâm niệm ham danh, cầu mong sự khen ngợi, mà được nói với động lực của từ bi. Một vị giáo thọ trẻ có thể nói với động lực đầu, tức là muốn cho người ta thấy mình cũng là giáo thọ giỏi, cũng không thua sư anh, sư chị của mình, không thua thầy của mình. Nói pháp như vậy chưa phải là nói một bài pháp đích thực, dầu trong bài pháp không có gì sai lạc, câu nào cũng nói đúng với kinh điển. Nhưng động lực của bài pháp chưa phải là từ, là bi đích thực, mà là sự phô trương. Khi còn trẻ, ta có thể đi qua giai đoạn đó. Nhưng khi đã lớn tuổi rồi, ta không thấy có sự cần thiết của lời khen ngợi nữa, và ta sẽ nói với tâm từ bi. Nói pháp như thế nào để có ích lợi, vì ta không muốn mất thì giờ của ta, cũng không muốn mất thì giờ của người khác. Vì vậy bài pháp của ta đích thực là một bài pháp. Khi nghe một bài pháp, ta có thể thấy được tính phô trương, tính thực tế hay mục đích cứu độ của bài pháp. Cho nên nói pháp là tốt hay là không tốt, điều đó còn tùy. Làm chùa cũng vậy. Làm chùa cũng có thể làm bằng từ bi, hoặc làm bằng tâm niệm chủ chùa, muốn chiếm hữu và muốn có niềm vui vì chùa mình đẹp, chùa mình lớn, chung quanh vùng này không có chùa nào được bằng chùa mình. Làm chùa như vậy không có phước bao nhiêu, có thể còn có tội nữa. Còn làm chùa với thao thức là có một cơ sở để người ta tới tu học, và động lực làm chùa là tâm niệm từ bi, thì làm chùa là một hành động rất đẹp. Học hỏi cũng vậy. Học hỏi để có khả năng hiểu được giáo lý, đem ra thực tập và để cứu người, thì học hỏi đó là từ bi. Còn học hỏi để có bằng cấp, có danh lợi, để chứng tỏ mình hơn người, thì cái học hỏi đó không phải là cái học hỏi của người vô sự. Người vô sự không có nghĩa là người làm biếng học. Người vô sự cũng học nhiều, nhưng học với ý chí lớn.

Con người vô sự tuy rất tích cực trong công việc giúp đời độ người, nhưng không bao giờ bị kéo theo hoàn cảnh và công việc, không bao giờ đánh mất mình trong mong cầu, trong dự án, trong công việc. Không bao giờ đánh mất mình trong dự án, trong mong cầu, trong công việc là ?ie^`u rất quan trọng. Ta làm không phải vì tiếng khen, vì danh lợi, vì quyền thế, mà vì tình thương. Sống trong chúng, ta cũng biết rằng khi ta làm với tình thương thì ta có hạnh phúc lớn, còn khi làm không có tình thương thì ta sẽ đau khổ. Ta tự hỏi tại sao việc này chỉ có một mình ta làm mà người khác không chịu làm. Nhu+ vậy dù ta có đang làm đi nữa, thì cũng không có công đức bao nhiêu, vì ta làm không phải là do động lực của tình thương đẩy tới. Quan trọng là khi hành động thì hành động đó không làm cho ta đánh mất mình. Ta vẫn ‘tùy xứ tác chủ’, trường hợp nào ta cũng tự làm chủ được. Vì vậy chàng dũng sĩ xuống núi độ đời phải là người vô sự. Nếu chàng dũng sĩ xuống núi độ đời không phải là người vô sự, thì chàng dũng sĩ cũng có thể bị kéo theo danh vọng, quyền hành và sắc dục, và chàng sẽ đánh mất mình.

Con người vô sự luôn luôn còn là mình, còn tự do, không bao giờ bị ‘burn out’ (hết xí quách), cho nên con người vô sự còn mãi mãi thong dong. Tổ khuyên chúng ta: đừng chạy theo danh lợi, đừng chạy theo sự nghiệp, đừng bỏ thì giờ mua vui (đi tìm cái vui), đừng ham xây cất chùa lớn. Thật ra có chùa lớn cũng vui. Nếu ta xây cất chùa lớn với lòng từ bi chứ không phải để khoe khoang thì hay lắm. Đừng vận động làm tăng thống. Đừng vận động làm trụ trì, làm hòa thượng. Đừng cố thi đậu bằng tiến sĩ, đừng cầu mong chức vụ đại thiền sư. Nếu chuyện đó phải xảy ra thì cũng được, nhưng đừng có mong cầu. Đó là những cái người đời tìm kiếm, còn ta đi tu rồi, không lý ta cũng tìm kiếm cái đó hay sao? Chỉ cần mỗi ngày một bát cơm, một manh áo, một chiếc giường nhỏ. Sống đơn giản như vậy, không đòi hỏi tiện nghi nhiều, ta có rất nhiều thì giờ để làm con người tự do, để hết thì giờ vào công phu học hỏi và tu tập hàng ngày. Bụt đã sống như vậy, và Bụt đã dạy mình như vậy. Tổ đã sống như vậy, và Tổ cũng dạy ta như vậy. Tại sao ta lại muốn đi tìm cho nhiều? Để thì giờ để sống thật với mình. Sống thật với mình tức là lập xứ đắc chân. Ở chỗ nào ta cũng là ta. Ta không đóng kịch, ta không đóng một vai trò khác, ta muốn ta là con người thật của mình, ta muốn người ta thấy ta trong con người thật của mình, chứ không muốn người ta thấy ta là một con người khác. Tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân. Đứng trong hoàn cảnh nào, địa vị nào, ta cũng vẫn là con người thật (chân nhân) của mình. Để thì giờ để sống thật với mình, để trở thành con người vô sự, giải thoát thật sự. Vô sự đây có nghĩa là giải thoát. Đối với sự nghiệp, với những dự án, v.v… không còn có gì lôi kéo ta đi được nữa, tuy rằng ta vẫn làm, vẫn sống, vẫn phụng sự. Niềm vui của ta là do tâm từ, tâm bi đem lại. Thấy người ta bớt khổ, ta có niềm vui; thấy người ta mỉm cười được, ta có niềm vui. Ta được nuôi dưỡng bởi những niềm vui đó, chứ không phải là niềm vui được người khen ngợi và trọng vọng.

Tất cả những công phu học hỏi và tu tập đều phải giúp cho mình trở nên thong dong, đem lại hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Con người vô sự là con người có khả năng sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, vì con người đó không còn bị những dự án, những mong cầu kéo đi. Sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại nhưng vẫn tạo ra những lợi lạc cho các loài hữu tình. Sống hạnh phúc trong hiện tại, không gây khổ đau cho những người khác và hạnh phúc của ta lan tới người khác. Trên căn bản hạnh phúc đó, ta có thể làm được những việc khiến cho người ta bớt khổ và có niềm vui. Nếu không làm được như vậy, thì tất cả đều chỉ là gông cùm. Chùa cũng là gông cùm, pháp cũng là gông cùm, lý tưởng cũng là gông cùm, mà dự án cũng là gông cùm, vì những thứ này khiến cho ta đánh mất mình, làm ta không còn tự do, ta không còn là con người thật của mình nữa. Vì vậy cái mà ta tưởng là đẹp lắm, cái mà ta gọi là lý tưởng, cũng là gông cùm, vì cái đó làm cho ta đánh mất sự sống trong giây phút hiện tại. Con người thật của ta, vô vị chân nhân, cũng như con người thật của Bụt, đang có mặt đích thật trong giờ phút hiện tại. Đó không phải là cái ta đi kiếm trong tương lai hay ở một chỗ khác. Hạt giống đó có thật ở trong ta. Hãy trở về vận dụng cái tâm sáng chói với sáu đạo thần quang để nhận diện nó. Nó có đó. Con người thật của ta (vô vị chân nhân), con người tự do, con người thong dong đang có mặt trong ta, phải tiếp xúc với nó, phải nhận diện nó. Nhận diện bằng cái gì? Ta nhận diện bằng nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức của ta. Đó là sáu đạo thần quang. Nó không phải là sáu trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp) đang mang tính thành, trú, hoại, không. Con người thong dong đó, con người thật đó là Phật tự thân. Nó không phải là một vật. Vì vậy gọi nó là một vật thì không đúng. Tại vì nó không phải là đối tượng của sáu giác quan. Trong khoa học thần kinh não bộ (neuroscience) bây giờ người ta cũng nói như vậy. Họ nói: tâm thức không phải là một vật. Nó là một sự biểu hiện. Nếu ta muốn nắm bắt nó như nắm một vật thì không bao giờ nắm được, bất khả đắc. Nhưng nó có mặt thật sự. Khi ta nhận diện được nó, thì ta trở thành con người tự do. Tại vì ta vốn là tự do. Nhưng nó đang có mặt kia, và ta chỉ cần nhận diện nó. Nhận diện ở đây tức là thức dậy và ý thức được rằng cái đó đang có mặt. Cái đó không phải là một vật.

Câu cuối cùng trong phần khai thị của Lâm Tế Lục giống như là một công án. Con người thật của mình, ta gọi là vô vị chân nhân, đang có mặt. Vấn đề là ta có nhận diện được hay không? Trong khi ngồi thiền, trong khi đi thiền, trong khi hái rau, trong khi cắt cỏ, và trong khi rửa chén, ta phải ngồi thiền, đi thiền, hái rau, cắt cỏ, và rửa chén như thế nào để con người thật của mình được hiện rõ ra. Khi có thể tiếp xúc được với con người thật của mình thì ta mới chấm dứt được tất cả mọi tìm cầu, mới có được an lạc và hạnh phúc, và những đau khổ của ta mới rơi rụng hết.

Người vô sự – Lâm Tế Lục – bình giảng: Khách và chủ

NGƯỜI VÔ SỰ
_________________________________

Thích Nhất Hạnh – Phần bình giảng Lâm Tế Ngữ Lục
_________________________________

Bốn Trường Hợp Khách và Chủ

Này các bạn tu, giả dụ có kẻ học nhân từ nơi khác đến tham học. Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau, khách bèn nói ra một câu để thăm dò vị thiện tri thức đang ngồi trước mặt. Kẻ ấy ném ra một câu hiểm hóc vào khóe miệng của vị thiện tri thức, có ý muốn hỏi: ‘Thầy có hiểu cái này chăng?’ Nếu vị thiện tri thức biết đó là một cái đối tượng (cảnh) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố. Vị học nhân sẽ tìm lại được thái độ bình thường của mình, và sẽ xin vị thiện tri thức nói lên cho một lời. Vị thiện tri thức cũng sẽ làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn tìm cầu mới này. Lúc đó vị học nhân sẽ nói: ‘Thầy thật là một vị thượng căn thượng trí, là một vị đại thiện tri thức’. Và vị thiện tri thức sẽ nói: ‘Đạo hữu hoàn toàn chẳng phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu’.

Đây là một đoạn cùng với những đoạn khác ở trong Lâm Tế Lục nói về Tứ Tân Chủ (bốn trường hợp khách và chủ). Khách và chủ phải phân biệt. Có khi khách không phải là khách; có khi chủ không phải là chủ. Tứ Tân Chủ là bốn cách để đối trị căn cơ trong truyền thống Lâm Tế mà ta phải nắm cho được.

Này các bạn tu, giả dụ có kẻ học nhân từ nơi khác đến tham học.

Học nhân tức là người đi học đạo. Thiện tri thức đây tức là bậc thầy, là người để ta tới tham vấn; thiện tri thức đây còn gọi là chủ, và học nhân là khách; thiện tri thức có thể là nhà phân tâm học, và học nhân là người bệnh được nhà phân tâm phân tích tâm lý.

Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau.

Có chủ, có khách. Khách là người bệnh, khách là người tới học. Chủ là thiện tri thức, là nhà tâm lý trị liệu, là pháp sư, là giáo thọ. Có thể trong người mình có cả hai nhân vật đó.

Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau, khách bèn nói ra một câu để thăm dò vị thiện tri thức đang ngồi trước mặt.

Ta có một mớ kiến thức, một mớ kinh nghiệm, hay một vài kiến giải và ta muốn đem ra để thử vị thầy.

Kẻ ấy ném ra một câu hiểm hóc vào khóe miệng của vị thiện tri thức.

Kẻ học nhân này đôi khi đã học được một điều gì, và rất lấy làm tâm đắc với những gì mình đã học được, cho nên có ý muốn khoe với thầy để chứng tỏ rằng ta cũng là một người nào đó, ta cũng có một chút giá trị nào đó, ta không phải là con số không. Người bệnh cũng vậy. Người bệnh có thể rất giỏi về lý thuyết tâm lý trị liệu. Tới nhà tâm lý trị liệu rồi hỏi thử một câu chứng tỏ là ta cũng biết nhiều về điều này chứ không phải là một tên khờ dại không biết gì cả.

Có ý muốn hỏi: ‘Thầy có hiểu cái này chăng?’

Thầy có biết cái này không? Đây là thái độ của một số đệ tử đi tham học, tới thử thầy.

Nếu vị thiện tri thức biết đó là một đối tượng (cảnh).

Thường thường, kẻ học nhân không phải tới với một cái tâm trống rỗng. Nếu họ tới cầu đạo với cái tâm trống rỗng, không có những thành kiến thì không sao. Nhưng họ thường tới với ý định, họ đưa điều đó ra và thăm dò ý thầy: ‘Thầy có biết cái này là cái gì không?’ Đó là cảnh. Vị thầy sẽ quyết định là nên đoạt cảnh hay đoạt nhân. Đoạt tức là lấy đi đối tượng đó cho họ chưng hửng. Điều này gọi là tước khí giới.

Nếu vị thiện tri thức biết đó là một cái đối tượng (tạo tác của tâm ý, cái mà người ta bám víu vào, bị kẹt vào) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố.

Là một vị thầy đích thực thì có thể nhận diện được rằng đó là một cái đối tượng (mà bên kia đang khoe), thì vị thầy nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố. Phương pháp ‘nắm lấy và liệng vào hố rác’ có thể là một nụ cười, một tiếng hét, hay là một cây gậy.

Vị học nhân sẽ tìm lại được thái độ bình thường của mình.

Nếu vị thầy thành công, thì có sự thay đổi ngay nơi người học đạo. Người ấy không còn dương dương tự đắc, không còn thử vị thầy nữa.

Trong văn mạch của thiền, có những trận gặp gỡ giữa vị thiền sư và thiền sinh, gọi là thiền chiến (zen battle). Đôi khi trận đánh chỉ xảy ra trong một phút. Có khi trận đánh thành công cả thầy lẫn trò; có khi trận đánh thất bại, thì thầy trò đều thất bại.

Nếu vị thiện tri thức biết đó là một cái đối tượng (cảnh) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố (hay thùng rác cũng được). Vị học nhân sẽ tìm lại được thái độ bình thường của mình, và sẽ xin vị thiện tri thức nói lên cho một lời.

‘Thôi con chịu thua thầy rồi, thầy dạy cho con đi, con sẽ nương vào lời dạy của thầy.’

Vị thiện tri thức cũng sẽ làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn tìm cầu mới này.

‘Ngày xưa anh đã đi tìm cầu, anh đã thỏa mãn đạt được đối tượng tìm cầu của anh. Và anh đem đến khoe với tôi, tôi nhận ra được và tôi đã đem liệng nó vào hố rác. Bây giờ anh lại muốn tìm cầu một cái khác. Anh muốn có một cái khác để thay thế cái anh vừa mới mất hả?’

Họ tới tìm ta với cái bệnh. Ta lấy cái bệnh của họ ra rồi, họ lại xin thêm cái bệnh khác nữa. Ta là thiện tri thức, ta là bậc thầy, không có lý nào ta đã giúp cho người kia buông bỏ cái bệnh ấy rồi, bây giờ ta lại cho người kia ghì thêm một cái bệnh khác nữa? Anh ta là người đã có đầu rồi, anh ta còn muốn đi tìm thêm cái đầu thứ hai nữa. Là người thiện tri thức giỏi, là người thầy giỏi, mà tạo cho người ta chồng thêm một cái đầu nữa, thì trông sao được. Vì vậy cho nên, vị thiện tri thức cũng sẽ làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn tìm cầu mới này.

Lúc đó vị học nhân sẽ nói: ‘Thầy thật là một vị thượng căn, thượng trí, là một vị đại thiện tri thức.’

Lúc này kẻ học nhân có tâm trạng tôn sùng vị thiện tri thức: ‘Thầy là một vị thượng căn, thượng trí, thầy là một vị đại thiện tri thức, con xin thờ thầy làm thầy suốt đời.’ Tâm trạng tôn sùng đó cũng rất nguy hiểm. Không phải nguy hiểm cho vị đệ tử – người đi tìm học – nó nguy hiểm ở chỗ là vị thầy không có những điều mà vị học trò mong ước, và cũng nguy hiểm cho vị thầy nữa. Tại vì nếu vị thầy không thật sự là một vị thiện tri thức, thì vị thầy đó sẽ kẹt vào khái niệm: ‘Ta là người có tuệ giác, và anh chàng này đang cung kính ta, là người cần đến ta.’

Vị thiện tri thức sẽ nói: ‘Đạo hữu hoàn toàn chẳng phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’

Chữ đạo hữu, chúng ta phải hiểu theo nghĩa là cả xuất gia và tại gia. Trong ngôn ngữ Phật giáo Việt Nam bây giờ, người ta dùng chữ Phật tử để gọi người cư sĩ, và chữ đạo hữu cũng là gọi cho người cư sĩ. Đó là một sự lầm lạc. Tại vì người xuất gia cũng là Phật tử và cũng có thể là đạo hữu của nhau. Thành ra với người cư sĩ, ta nên gọi là Phật tử cư sĩ, với người xuất gia thì gọi là Phật tử xuất gia. Đừng dùng chữ Phật tử để chỉ cho cư sĩ không thôi, rất là sai lầm, chữ đạo hữu cũng vậy. Cũng như khi chúng ta dùng chữ tăng ni, làm như ni không phải là tăng, nhưng kỳ thực, ni cũng là tăng. Ễ

Hoặc vị thiện tri thức có thể đưa ra một đối tượng (cảnh) và đùa bỡn với vị học nhân. Vị học nhân có khả năng nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh), không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó và từ tư thế khách ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ. Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học nhân hét. Vị thiện tri thức cũng có thể lại sử dụng những thứ ngữ ngôn trăm lối của mình mà dằn mặt vị học nhân. Nhưng vị học nhân có thể nói : ‘Cái ông thầy sói đầu này chẳng biết phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu’. Vị thiện tri thức liền ca ngợi : ‘Ngươi thật là một người tu học chân chính’.

Hoặc vị thiện tri thức có thể đưa ra một đối tượng (cảnh) và đùa bỡn với vị học nhân.

Trong trường hợp này, không phải vị học nhân (khách) đưa ra một đối tượng mà chính vị thiện tri thức (chủ) đưa ra một đối tượng.

ỄTheo Luật Tứ Phần, có đủ bốn người gọi là tăng.

Thiền sinh vừa tới là vị thầy muốn đưa ra phương pháp để dạy liền, nếu không người kia không có cơ hội. Trường hợp này, vị thầy đưa ra một đối tượng để đùa bỡn với vị học nhân.

Vị học nhân có khả năng nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh), không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó.

Đây là một học nhân có bản lĩnh, không bị lừa dối.

Và từ tư thế khách ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ.

Giữa hai người chưa biết ai là thầy, người tham vấn hay người được tham vấn.

Trong bản chữ Hán có khóm danh từ ‘hạ hạ tác chủ’. Nó có nghĩa là người đó luôn luôn đứng vào tư thế chủ, không để cho bên kia làm cho mình trở thành nạn nhân. Chữ hạ hạ ở đây có nghĩa là bước nào cũng vậy, giây phút nào cũng vậy. Mỗi phút, mỗi giây, trong tiến trình của sự trao đổi đó, thì giây phút nào ta cũng đứng vững trong cái thế không bị kẹt, không bị rơi vào bẫy, gọi là hạ hạ tác chủ.

Vị thiện tri thức cũng giống như nhà phân tích tâm lý (analyst). Còn vị học nhân là người tới để được phân tích, bây giờ không còn là đối tượng của phân tích nữa mà là chủ thể của sự phân tích. Chưa biết ai là người phân tích (analyst), cũng chưa biết ai là người bị phân tích (analyzed). Chưa biết mèo nào cắn mĩu nào; chưa biết nhà tâm lý trị liệu giúp bệnh nhân, hay bệnh nhân giúp nhà tâm lý trị liệu; chưa biết là vị thiện tri thức giúp được học nhân, hay là học nhân giúp được vị thiện tri thức; chưa biết được là thầy sẽ giúp trò, hay trò sẽ giúp thầy.

Trong trường hợp này mình thấy vị học nhân (đệ tử) có bản lĩnh rất lớn. Vì khi vị thầy đưa ra một đối tượng, vị học nhân không bị kẹt vào đó, mà vẫn đứng vững trên lập trường của mình. Vị học nhân có khả năng nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh), không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó và từ tư thế của khách, ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ. ‘Hạ hạ tác chủ bất thọ cảnh hoặc’. Tức là giây phút nào cũng làm chủ được, không bị cảnh đó làm cho mê hoặc.

Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học nhân hét.

Thị hiện nửa thân ở đây không có nghĩa là lột áo sơ mi của mình ra, mà tựa như mặt trăng của ngày mồng bảy mồng tám chỉ lộ ra một nửa khuôn trăng. Thị hiện nửa thân tức là không đem hết con người của mình ra để trình bày mà chỉ hé một nửa để cho người kia thấy, và để cho người kia đoán một nửa còn lại như thế nào.

Thị hiện nửa thân có hai trường hợp:

1- trường hợp chân chánh: Vị học nhân có đủ khả năng để không cần vị thầy phải đưa ra hết những gì thầy thấy. Vị thầy chỉ đưa ra một ít ánh sáng để cho người học trò có thể thấy được điều ấy là đủ.

2- trường hợp giả trang: Vị thầy chưa có những chứng đắc sâu sắc, nhưng giả bộ che lấp trong những điều như là mình có chứng đắc: ‘Tôi chưa nói cho anh biết có những cái chứng đắc rất sâu sắc, những cái rất mầu nhiệm…’

Có người nói rằng vị thầy thị hiện nửa thân là để đưa ra một tuệ giác, một sự khai thị mà chỉ có đương sự, người tham gia (participant) mới hiểu và mới thấy, còn những người bàng quan (observer) thì không thể hiểu được. Cũng như khi ta nói chuyện với một người, thì chỉ có người này hiểu thôi, còn tất cả những người khác không ai hiểu hết, đó gọi là thị hiện nửa thân. Trong những buổi pháp thoại, có những vị thiền sinh ngồi nghe giảng và nghĩ rằng: ‘Điều này là Thầy đang nói riêng cho mình. Tại sao Thầy nói đúng tim đen của mình quá? Chỉ có mình mới có tâm trạng đó thôi.’ Vị thiền sinh đó cho rằng thầy đang thị hiện nửa thân và thầy đang nói riêng cho mình.

Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học nhân hét.

Vị học nhân thấy rõ nửa thân này là không xác thật.

Vị thiện tri thức cũng có thể lại sử dụng những thứ ngữ ngôn trăm lối của mình mà dằn mặt vị học nhân.

Chuyện này thường xảy ra lắm. Thấy người kia không phục, ta bèn lôi ra hết những kiến thức mà ta đã được tiếp nhận từ thầy để mà thuyết giảng: ‘Tôi có trăm binh ngàn tướng, anh tưởng tôi chỉ có chừng đó thôi hả?’ Rồi đem ra những điều mình đã học để dằn mặt vị học nhân như ta là một cái gì đó (I am something).

Nhưng vị học nhân có thể nói: ‘Cái ông thầy sói đầu này chẳng biết phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’ Vị thiện tri thức liền ca ngợi: ‘Ngươi thật là một người tu học chân chánh.’

Đó là trường hợp khách khán chủ, thay vì chủ khán khách. Đây không phải là trường hợp thầy giúp trò, soi sáng cho trò, mà là trường hợp trò soi sáng cho thầy. Trong trường hợp đầu là trường hợp chủ khán khách. Chủ, khách rõ ràng. Không phải khi ta là chủ thì ta thật là chủ đâu, có thể ta sẽ bị đặt vào trong vị trí của khách; không phải khi ta là khách thì ta luôn luôn là khách đâu, mà ta có thể từng bước từng bước đứng ở vị trí của chủ (hạ hạ tác chủ).

Đó đây có những vị thầy (thiện tri thức) không có khả năng biện biệt được tà chính. Khi có học nhân tới hỏi về cảnh trí của Bồ Đề, Niết Bàn và Ba Thân, các vị lão sư mù này liền tìm mọi cách giải thích. Bị các vị học nhân kia chê trách, họ liền lấy gậy đánh, nói rằng đã đi học đạo mà còn vô lễ. Thật ra, quý vị cũng đừng giận họ, bởi vì họ tuy được gọi là thầy mà chưa có con mắt tuệ, thế thôi.

Đó đây có những vị thầy (thiện tri thức) không có khả năng biện biệt được tà chánh.

Có nhiều vị giáo thọ (dharma teachers) không phân biệt được tà chính, họ chỉ có một mớ kiến thức khái niệm đủ để đi làm ăn.

Khi có học nhân tới hỏi về cảnh trí của Bồ Đề, Niết Bàn và Ba Thân, các vị lão sư mù này liền tìm mọi cách để giải thích.

Họ thao thao bất tuyệt nói Niết Bàn là cái này, Bồ Đề là cái kia, Tam Thân là cái nọ… tại vì họ học đã nhiều rồi. Khi không có tuệ giác, không có giải thoát đích thật, thì những vị thầy ấy bị các vị học nhân kia (khách) chê trách và lấy gậy đánh. Các vị thầy (chủ) bắt chước thiền sư, lấy gậy đánh lại. Nói rằng: ‘Đã đi học đạo sao còn vô lễ! Ta là thầy, ngươi là đệ tử, tại sao dám nói ta là không có tuệ giác, không có giải thoát, không có chuyển hóa?’

Thật ra, quý vị cũng đừng giận họ, bởi vì họ tuy họ được gọi là thầy mà chưa có con mắt tuệ, thế thôi.

Thấy Tổ dễ thương không? Trông bề ngoài dữ như vậy, luôn luôn sẵn sàng để hét và đánh, nhưng kỳ thực Tổ rất là hiền lành, và dễ thương.

Này các bạn tu, theo kiến giải của thiền tông, thì sống chết là lẽ tuần hoàn (trong vũ trụ). Ta cần phải để hết tâm ý trong khi tham vấn. Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng có lời qua tiếng lại. Hoặc ứng hiện ra những hình tướng khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương sự. Có khi lại sử dụng những phương tiện cơ quyền như mừng giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư tử hay trên lưng voi chúa…

Trong trường hợp một học nhân đích thực thì người này có thể hét lên hoặc đưa ra một cái bẫy (bình keo) trước mặt vị thiện tri thức. Nếu vị này không nhận ra được cái ‘cảnh’ ấy mà lại rơi vào trong cái bẫy, cứ nương vào cái ‘cảnh’ ấy đặt ra đủ thứ mô hình, thì vị học nhân lại có thể hét lên nữa. Nếu vị thiện tri thức còn chưa chịu buông bỏ, thì đó thật là trường hợp của một bệnh nan y. Trường hợp này gọi là trường hợp khách khán chủ.

Này các bạn tu, theo kiến giải của thiền tông thì sống chết là lẽ tuần hoàn trong vũ trụ. Ta cần phải để hết tâm ý trong khi tham vấn.

Tham vấn không phải là để có thêm những kiến thức về Phật pháp, mà tham vấn là để có cơ hội vượt thoát được sống và chết.

Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng có lời qua và tiếng lại.

Không có lý tới gặp thầy rồi ngồi yên; thầy ngồi yên, trò cũng ngồi yên, không nói lời nào.

Hoặc ứng hiện ra những hình tướng khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương sự.

Tại vì đương sự tới với một mục đích gì đó, một căn cơ nào đó, hay họ tới với một tâm trạng khổ đau, hay hoàn cảnh bị bế tắc. Cũng như một người tới với một vị bác sĩ y khoa hay tâm lý trị liệu, tức là người ấy có vấn đề gì đó. Là một vị thầy hay một nhà trị liệu thì ta phải dò hỏi, phải quán sát, phải biết sử dụng con mắt của mình, lỗ tai của mình, và phải biết sử dụng lời nói của mình.

Trong y khoa Đông phương ngày xưa, khi chẩn bệnh có ba yếu tố gọi là vọng, văn và vấn. Vọng tức là phải quán sát nét mặt của người ấy, da mặt của người ấy, tướng của người ấy để coi sức khỏe của họ như thế nào. Văn là nghe tiếng người đó nói: ‘Thầy ơi, tôi đau nơi ngực, tôi đau nơi bụng mỗi khi ăn vào.’ Sau khi quan sát, sau khi nghe, thì vị y sĩ mới đưa ra những câu hỏi, gọi là vấn. Sau khi vọng, văn và vấn, thì lúc đó vị y sĩ mới đưa ra bệnh án để trị liệu, gọi là thiết. Nhà tâm lý trị liệu thời nay cũng nên làm như vậy. Khi người bệnh tới thì phải quán sát người đó đi, đứng, nằm, ngồi, phản ứng như thế nào. Không cần phải nói, chỉ quán sát thôi cũng hiểu được rất nhiều về con người này. Thiền sư cũng vậy, chỉ cần nhìn con người kia mở cửa đi vô và đóng lại, ngồi xuống thì biết được rất nhiều về người đó rồi. Các vị thầy trong thiền môn nói rằng chỉ cần nhìn một chú sa di đi, đứng, nằm, ngồi và thỉnh chuông, không cần hỏi cũng biết vị này ở trong chùa được mấy tháng. Điều ấy có thật. Chỉ cần nhìn người bệnh hay người đến tham vấn, nương vào câu hỏi, ta biết được tâm trạng của người đó rất rõ. Nếu là một người thầy giỏi, một vị thiện tri thức giỏi, một người biết quán cơ khi nhìn một người, khi nghe người đó hỏi, thì ta đã biết nhiều về người đó rồi, huống hồ là ta hỏi một câu rồi người đó trả lời, thì lại càng biết thêm, không cần tốn nhiều thời gian.

Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng có lời qua tiếng lại. Hoặc ứng hiện ra những hình tướng khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương sự.

Ta có nhiều phương pháp khác nhau. Khi đi khám bệnh, bác sĩ nói: ‘Anh há miệng ra cho tôi xem’ hoặc ‘Anh thử ho một tiếng’…, tất cả những đòi hỏi ấy là để vị bác sĩ biết được căn bệnh của mình. Người thiền sinh đến tham vấn cũng vậy. Có khi vị thầy phải sử dụng toàn thân để đối phó với đương sự, có khi chỉ hiện nửa thân thôi.

Có khi lại sử dụng những phương tiện cơ quyền như mừng, giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư tử hay là trên lưng voi chúa.

Những chuyện ấy ta có thể làm được. Ở đây ta thấy có hai danh từ của thiền là Cơ và Quyền. Cơ, nguyên văn đọc là chữ Ki, nhưng ta quen đọc là cơ, có nghĩa là một cái máy (machine), là những dụng cụ được đặt ra để sử dụng. Ví dụ như ở nhà quê khi múc nước dưới giếng sâu, muốn lấy nước lên, dân quê phải dùng cái cần để cột cục đá rất nặng. Khi nâng cục đá lên thì cái gàu đi xuống, đến khi gàu nước đầy thì họ thả cục đá ra, để cái cần rơi xuống kéo gàu nước lên cho khỏi tốn công. Vị thiền sư cũng có những phương tiện quyền xảo đặt ra để có thể khám phá ra chân tướng của thiền sinh. Bác sĩ cũng vậy. Bác sĩ cũng có những phương pháp để tìm hiểu bệnh nhân của mình. Nếu không hiểu được người ấy thì không có cách gì giúp được người ấy cả. Quyền, có nghĩa là một phương tiện sử dụng tạm thời, chứ không phải là vĩnh viễn.

Giáo sư Démiville dịch chữ quyền sang tiếng Pháp là expedience (phương pháp thích hợp), và chữ cơ là mobile (thay đổi). Phương tiện quyền xảo chỉ sử dụng tạm thời thì gọi là phương pháp thích hợp. Nó không hẳn là phải có giá trị muôn đời, nó không phải là chân lý. Ví dụ như có một thiền sinh tới hỏi: ‘Bạch thầy, con chó có Phật tánh không?’ Người thầy trả lời: ‘Không’. Chữ ‘Không’ đây là quyền. Theo nguyên tắc thì tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, nhưng tại vì người hỏi bị kẹt vào ý niệm ‘tất cả chúng sanh có Phật tánh’, cái kiến thức đó không giúp ích gì cho người đó cả về sự tu học mà chỉ chứa chất thêm khái niệm, chỉ làm cho người đó nặng nề thêm thôi. Vì vậy vị thầy nói ‘không’ là để giúp cho người đó có cơ hội buông bỏ. Chữ ‘không’ đó có phải là chân lý hay không phải là chân lý không là vấn đề, nó chỉ là một phương pháp giúp cho người hỏi đừng bị kẹt. Đọi là cơ, quyền. Nhưng ta cũng đừng bị kẹt vào những cơ, quyền đó.

Hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư tử hay trên lưng voi chúa.

Ngồi trên lưng sư tử là hiện thân của đức Văn Thù, tức là thị hiện trí tuệ không còn chỗ nghi ngờ, gọi là đại trí. Ngồi trên lưng voi chúa là hiện thân của đức Phổ Hiền, tượng trưng cho hành động lớn, gọi là đại nguyện. Có khi ta phải hiện thân Văn Thù, có khi ta phải hiện thân Phổ Hiền để độ người, tại vì trong ta có đủ cả Văn Thù và Phổ Hiền. Đôi khi trong ta cũng có Diệm Nhiên Vương. Có khi ta thị hiện như một con quỷ Dạ Xoa, tức là nổi giận lên hay tỏ ra buồn bã. Ví dụ như tôi nói: ‘Thầy buồn lắm con ơi, con làm như vậy thầy sống không có nổi!’ Đó là tôi thị hiện cái buồn của mình ra để cho đệ tử thấy mà thay đổi. Không hẳn là tôi phải buồn như vậy. Những cái đó đều là cơ quyền. ‘Con mà làm như vậy chắc thầy chết quá!’ Nhưng kỳ thực tôi đâu cần phải chết, mà tôi chỉ thị hiện như vậy thôi, nhưng không phải là tôi làm bộ. Trong tôi có những điều như vậy: trong tôi có Phổ Hiền, có Văn Thù, có Quan Âm, có Diệm Nhiên Đại Sĩ.

Trong trường hợp một học nhân đích thực thì người này có thể hét lên hoặc đưa ra một cái bẫy (bình keo) trước mặt vị thiện tri thức.

Vị thiện tri thức nếu không phải là chính thống đích thực thì có thể bị kẹt vào cái hố keo của ta như thường. Trong nguyên văn là để ra một cái hố keo để cho thầy dính chơi.

Nếu vị này không nhận ra được cái ‘cảnh’ ấy mà lại rơi vào trong cái bẫy, cứ nương vào cái ‘cảnh’ ấy đặt đủ thứ mô hình, thì vị học nhân lại có thể hét lên nữa.

Thầy kia cứ thao thao bất tuyệt, cứ muốn giảng giải cho ta. Thầy cứ đưa ra những cái mà thầy đã học, và rõ ràng là cái bình keo ta đưa ra thầy bị dính vào đó. Thầy không giải thoát cho thầy được, thì làm sao thầy giúp cho ta giải thoát được?

Nếu vị thiện tri thức còn chưa chịu buông bỏ, thì đó thật là trường hợp của một bệnh nan y.

Trong trường hợp này, chủ không còn là chủ nữa, chủ hoàn toàn thất bại, chủ trở thành khách. Và chính vị học nhân, người đi tìm học, người tới tham vấn, đứng vào phía chủ.

Trường hợp này gọi là trường hợp khách khán chủ.

Chủ không khán khách được mà khách khán chủ. Khán tức là nhìn, là phân tích (analyse).

Có nhiều người bệnh tìm tới nhà tâm lý trị liệu. Nhà tâm lý trị liệu đưa ra nhiều cảnh càng làm cho rắc rối thêm. Người bệnh này không đến nỗi như vậy, người này không vướng vào những gì nhà tâm lý trị liệu đưa ra, lại còn thấy được cái bệnh của nhà tâm lý trị liệu nữa. Trong trường hợp này là khách khán chủ, đệ tử giúp thầy. Tại vì thầy chính là người bị bệnh, thầy chính là người cần được giải thoát.

Hoặc giả vị thiện tri thức chẳng đưa ra cái gì hết, mà cứ đợi kẻ học nhân đưa ra cái gì thì đoạt lấy cái đó. Kẻ học nhân có thể tuy bị tước đoạt tất cả những gì mình muốn đưa ra mà vẫn còn chống cự lại, chết vẫn không chịu buông ra. Trường hợp này là trường hợp chủ khán khách.

Trường hợp này là trường hợp của người học đạo đưa ra rất nhiều đề nghị, và đề nghị nào cũng bị đoạt hết, cũng bị quăng vào hố rác, nhưng mà vị học nhân cứ tiếp tục không chịu thua. Có những người như vậy.

Trường hợp này là trường hợp chủ khán khách.

Trong trường hợp này chủ còn là chủ, nhưng khách không được thừa hưởng gì hết. Trường hợp này là trường hợp nan y. Trường hợp thứ nhất cũng là trường hợp nan y, hai trường hợp này xảy ra rất nhiều. Mà nó xảy ra hầu hết trong các trường hợp.

Hoặc giả kẻ học nhân đứng trước vị thiện tri thức đưa ra một đối tượng (cảnh) thanh tịnh. Vị thiện tri thức nhận ra được đối tượng ấy, nắm lấy và liệng xuống hầm sâu. Vị học nhân liền nói: ‘Thầy quả là một vị thầy lớn.’ Vị thiện tri thức trả lời: ‘Ối chà, anh chẳng biết cái gì là tốt cái gì là xấu.’ Vị học nhân bèn lạy xuống. Trường hợp này gọi là chủ khán chủ.

Hoặc giả kẻ học nhân đứng trước vị thiện tri thức đưa ra một đối tượng (cảnh) thanh tịnh.

Có nghĩa là tôi không có cảnh để cho thầy đoạt; tôi không bị vướng vào cảnh (đối tượng) nào hết.

Vị thiện tri thức nhận ra được đối tượng ấy (nói là không có đối tượng nhưng đó cũng là một đối tượng), nắm lấy và liệng xuống hầm sâu. Vị học nhân liền nói: ‘Thầy quả là một vị thầy lớn.’ Vị thiện tri thức trả lời: ‘Ối chà, anh chẳng biết cái gì là tốt và cái gì là xấu.’

Tức là vị thiện tri thức không bị rơi vào trong cái bẫy mà vị học nhân đưa ra: ‘Ta là người thầy lớn, còn người kia là người tới tham học với ta. Người kia không có cái mà ta có.’ Vì vậy cho nên vị thiện tri thức mới nói: ‘Ối chà, anh chẳng biết cái gì là tốt và cái gì là xấu.’ ‘Anh đừng nói vậy!’

Vị học nhân bèn lạy xuống. Trường hợp này gọi là chủ khán chủ.

Chủ khán chủ tức là chủ thành công, và khách cũng thành công. Cả hai bên đều là chủ cả. Chủ khán chủ: bên này là chủ, bên kia cũng là chủ.

Ngày xưa có hai vị thủ tọa của hai thiền đường: Đông đường và Tây đường. Họ đi ra và đồng thời thấy nhau, thì họ cùng hét lên một lần. (Hai người vừa thấy nhau cùng một lúc và cùng hét lên một lần.) Sau đó có người tới hỏi Tổ: ‘Trong hai vị đó có ai là chủ, có ai là khách không?’ ‘Trong trường hợp đó có phân chủ khách không?’ Tổ mỉm cười, nói: ‘Chủ khách rõ ràng như vậy mà không thấy sao? Nếu muốn hỏi thêm thì đi theo họ mà hỏi.’ Những câu chuyện đó, những mẩu đối thoại đó, ta có thể hiểu nếu ta nắm được tinh yếu của Lâm Tế Lục.

Hoặc kẻ học nhân trình diện trước vị thiện tri thức như một người có mang gông cùm. Vị thiện tri thức thấy thế liền đem tới và đeo thêm cho vài cái gông và vài cái cùm khác. Vị học nhân vui mừng quá đổi đến nỗi không phân biệt được (ai là chủ ai là khách). Trường hợp này gọi là khách khán khách.

Hoặc vị học nhân trình diện trước vị thiện tri thức như một kẻ có mang gông cùm.

‘Tôi đã đọc tới ba trăm quyển sách Phật học. Đọc từ Suzuki cho đến Trungpal Rinpoche, Mật tông cho đến Nam Tông, Nhật Bổn… rất nhiều.’

Vị thiện tri thức thấy thế liền đem tới và đeo thêm cho vài cái gông và vài cái cùm khác.

Chuyện này xảy ra rất thường xuyên trong đời sống hàng ngày.

Vị học nhân vui mừng quá đổi đến nỗi không phân biệt được (ai là chủ ai là khách). Trường hợp này gọi là khách khán khách.

Thất bại hoàn toàn! Không có ai là chủ hết. Cả hai đều là khách.

Này các vị đại đức! Những gì tôi vừa nói chỉ là để giúp quý vị nhận diện được ma quái và tà đạo, và phân biệt được tà và chính.

Người vô sự – Lâm Tế Lục – bình giảng: Bốn phép độ người

NGƯỜI VÔ SỰ
_________________________________

Thích Nhất Hạnh – Phần bình giảng Lâm Tế Ngữ Lục
_________________________________

Bốn Phép Độ Người

Trong một buổi tham vấn chiều, thiền sư khai thị: ‘Có lúc đoạt người không đoạt cảnh, có lúc đoạt cảnh không đoạt người, có lúc đoạt cả người cả cảnh, có lúc không đoạt người cũng không đoạt cảnh.’

Lúc bấy giờ có một vị xuất gia hỏi: ‘Đoạt người không đoạt cảnh là sao?

Thiền Sư đáp: ‘Nắng dậy gấm thêu đầy mặt đất

Hài nhi tóc rủ bạc như tơ.’

So sánh các bản dịch với bản văn này, chúng ta thấy có một ít sự sai khác. Sự sai khác này chứng tỏ là ta có cái hiểu và cái thấy khác với các dịch giả khác. Điều này rất quan trọng.

Đoạn này thuộc về bốn phép độ người, gọi là Tứ Liệu Giản, tức là tùy theo trình độ, căn cơ của người đến tham vấn, đến học hỏi mà chúng ta sử dụng một trong bốn pháp đó. Giáo sư Démiville dịch Tứ Liệu Giản là Les Quatre Alternatives de Lin Tsi, tiếng Anh có thể dịch là The Four Kinds Arrangements of Subject and Object.

Trong khi đọc đoạn văn này, chúng ta hãy đọc như là đọc một bài thơ. Đừng cố công tìm hiểu chữ nghĩa nhiều cho mệt óc. Chúng ta không nên quan trọng quá cái chuyện đó. Nếu chúng ta thấy được điều gì đó thì cũng vui, mà không thấy cũng không sao.

Trong một buổi tham vấn chiều, thiền sư khai thị: ‘Có lúc đoạt người không đoạt cảnh, có lúc đoạt cảnh không đoạt người, có lúc đoạt cả người cả cảnh, có lúc không đoạt người cũng không đoạt cảnh.’

Câu chuyện xảy ra trong một buổi tham vấn chiều. Buổi sáng, có những sự đối đáp và dạy chúng, còn buổi chiều thì Tổ giảng về cái thấy của Tổ, gọi là vãn tham. Vãn tham tức là tham vấn buổi chiều.

Lúc đó có một thầy đứng lên hỏi: ‘Bạch thầy, đoạt người không đoạt cảnh là sao?’ Tổ trả lời: ‘Nắng dậy gấm thêu đầy mặt đất, hài nhi tóc rủ bạc như tơ.’

Đoạt người không đoạt cảnh, tức là đừng để ý tới chủ thể, chỉ để ý tới đối tượng.

Nhận thức luôn luôn bao gồm chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức. Người đời thường chỉ nhìn cảnh vật, nhìn người, chỉ thấy cảnh mà không thấy tâm. Những cái ta có thể thấy, có thể nghe, có thể cảm, có thể sờ mó được, thì ta cho là có thật. Ta không thấy đó là do tâm biến hiện ra, và tâm can thiệp vào những sự kiện ấy, trong triết học gọi là Thực Tại Luận Chất Phác (Naive Rèalism).

Sự có mặt của một bông hoa là sự thật, điều đó chúng ta không thể nào chối cãi. Anh có sanh ra đời hay không có sanh ra đời, tôi có sanh ra đời hay không có sanh ra đời, thì bông hoa cũng có đó. Nó độc lập ngoài chủ thể nhận thức của ta. Bông hoa là một thực tại độc lập không dính líu gì tới anh và tôi cả, đó gọi là Thực Tại Luận Chất Phát. Trong trường hợp này, ta không kể đến chủ thể nhận thức, chỉ nói đến đối tượng nhận thức (bông hoa). Có những người đến học, hay đến tham cứu với ta, ta có thể để họ đứng ở trong trường hợp đó, không cần sự can thiệp của tâm họ, chỉ nhận xét sự thật qua đối tượng nhận thức của mình mà thôi, đây là chủ trương của phái Thực Tại (Realism). Ví dụ, có người tới than với tôi rằng: ‘Thầy ơi! Tại sao đời con khổ quá? Tại sao cái này như thế này, cái kia như thế kia…?’ Nếu đứng trên lập trường Thực Tại Luận, tôi sẽ không trả lời: ‘Tại vì cái tâm của con nó sanh ra như vậy.’, mà tôi sẽ cắt nghĩa cho họ: ‘Cái này liên hệ đến cái kia, cái kia liên hệ đến cái nọ.’

Đoạt người không đoạt cảnh là sao? Lấy đi chủ thể gọi là đoạt người, tức là không chú ý tới chủ thể nhận thức (tâm) chỉ chú ý tới cảnh vật (đối tượng của tâm) là đoạt người không đoạt cảnh. Hình ảnh Tổ Lâm Tế đưa ra là: Nắng dậy gấm thêu đầy mặt đất, hài nhi tóc rủ bạc như tơ. Nghĩa là: Mùa xuân có nắng, cây cối xanh tươi, hoa nở khắp nơi… cảnh vật như gấm thêu. Đó là đối tượng của nhận thức. Trong khi đó, có một cô bé (chú bé) đang chơi ở ngoài nắng với hoa, mà tóc của cô bé (chú bé) lại bạc như tơ. Đối với một em bé Trung Quốc, tóc trắng là một điều không thể xảy ra. Ở Tây Phương thì có thể có những em bé tóc trắng, bên Tàu thì tóc của bé nào cũng đen.

Hình ảnh một em bé chơi trong nắng mai mà tóc lại bạc trắng là một sự phủ nhận. Nó cho ta biết có những mâu thuẫn không thể giải quyết được nếu đứng về lập trường của Thực Tại Luận, tức là ở đây có sự can thiệp của tâm vào cảnh. Cũng như cụ Nguyễn Du nói: ‘Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu, người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.’ Thành ra đứng trên lập trường của Thực Tại Luận, có những trường hợp mâu thuẫn mà ta không thể giải thích được. Ví dụ, tại sao có người nhìn mặt trăng thấy đẹp, thấy vui, lại có người nhìn mặt trăng thấy buồn rầu? Điều ấy là tại mặt trăng hay tại ta?

Đây là điều tiên đoán, chứ không hẳn là ý của Tổ như vậy. Có thể Tổ không có ý gì cả, chỉ đưa ra câu thơ. Thành ra ta đừng bị kẹt. Chính Tổ cũng khuyên ta là đừng bị kẹt vào những ý niệm, những hình ảnh của người khác đưa ra. Nếu ta có thấy thì thấy, không thấy thì thôi, không quan trọng.

Hỏi tiếp: ‘Đoạt cảnh không đoạt người là sao?’

Thiền Sư đáp: ‘Lệnh vua truyền khắp trong thiên hạ

Biên thùy tướng sĩ khói mây tan.’

Trường hợp thứ hai là đoạt cảnh không đoạt người (đoạt cảnh bất đoạt nhân). Tức là lấy đi đối tượng nhận thức, đưa người tham vấn trở về tâm của họ (chủ thể nhận thức). Lập trường của những nhà Duy Thức là tất cả những cảnh vật mà chúng ta thấy hoàn toàn là do những biến hiện của tâm thức. Những gì anh thấy, anh nghe, anh cảm,… những gì làm khổ anh, làm cho anh chìm đắm, chúng không phải là những thực tại độc lập bên ngoài mà do tâm anh tạo tác ra. Khuynh hướng này là trở về để nhìn tâm, và không công nhận thực tại bên ngoài là một cái gì có thật.

Chúng ta thấy trong lịch sử của tư tưởng Phật giáo cũng có những khuynh hướng tương đương như vậy. Phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivâda) chủ trương rằng tất cả là có thật. ‘Nhất thiết hữu’ nghĩa là tất cả đều có thật, trong đó có khuynh hướng của Thực Tại Luận, còn gọi là khuynh hướng đoạt nhân bất đoạt cảnh. Duy thức luận, Pháp tướng tông thì chủ trương rằng tất đều do tâm, và những cảnh tượng ta thấy, ta nghe, ta cảm đều là những biến hiện của tâm thức. Trường phái Duy Biểu tượng trưng cho lối thực tập thứ hai, gọi là đoạt cảnh bất đoạt nhân. Hình ảnh được Tổ đưa ra là: Lệnh vua truyền khắp trong thiên hạ, biên thùy tướng sĩ khói mây tan. Trong nguyên văn là ‘tuyệt yên trần.’ Tuyệt tức là hoàn toàn không còn gì, yên tức là khói và trần là bụi. Khói và bụi là những dấu hiệu của chiến tranh. Khi có một đoàn quân xâm nhập vào lĩnh thổ ở biên cương, lính ở biên thùy không có kính viễn vọng như bây giờ, vì vậy họ phải leo lên lầu gác rất cao để nhìn xa, khi thấy bụi cuốn phía chân trời, họ biết quân địch sắp xâm nhập vào biên thùy, thì họ phải báo động về cho trung ương gấp. Ngày xưa không có fax cũng không có điện thoại cầm tay, cho nên lính biên thùy dùng khói làm tín hiệu. Khi có dấu hiệu của sự xâm nhập, họ đốt phân chó sói phơi khô, thì nó tỏa lên một ngọn khói đen ngòm. Đồn canh cách đó mười cây số hay hai mươi cây số thấy khói thì biết là có giặc. Tại đồn canh đó cũng lấy phân chó sói phơi khô để đốt lên,… cứ như vậy mà chuyền về kinh đô để cho nhà vua biết rằng ở biên thùy đang có giặc. Chữ yên ở đây ta phải hiểu là khói, tức là dấu hiệu của chiến tranh. Hồi đó, ở biên thùy luôn luôn có những bộ lạc giặc dấy lên, và đe dọa cho an ninh của đất nước. Tổ Lâm Tế ở miền Tây Bắc không xa biên thùy bao nhiêu, do đó hình ảnh ‘khói và bụi’ là hình ảnh rất thực tế mà chính Tổ đã trông thấy, đã cảm nhận, cho nên đã đưa vào thi ca, đưa vào trong thiền ngữ.

Hai câu thơ có sự mâu thuẫn nhau. Lệnh vua truyền khắp trong thiên hạ: Khi lệnh vua được ban ra, tức là có chiến tranh, tất cả mọi người đều phải đề cao cảnh giác, đều phải giữ gìn biên thùy cho đàng hoàng. Biên thùy tướng sĩ khói mây tan: Trong khi đó, ở biên thùy, vị chỉ huy trưởng của quân đội lại thấy không có dấu hiệu gì của chiến tranh cả, không có khói cũng không có bụi (tuyệt yên trần). Có sự mâu thuẫn giữa hai bên: một bên ban lệnh phải chuẩn bị chiến tranh, một bên lại không có một dấu tích gì chứng tỏ là có chiến tranh.

Khi chúng ta chỉ đi vào thuần tâm thức thôi mà không có cảnh thì không đúng lắm. Nếu không có cảnh làm gì có tâm, và nếu không có tâm làm gì có cảnh, chủ thể và đối tượng là hai cái phải nương vào nhau. Khi ta thấy thì phải thấy cái gì mới gọi là thấy, khi ta nghe thì phải nghe cái gì mới gọi là nghe, khi ta nghĩ thì phải nghĩ cái gì mới gọi là nghĩ. Chủ thể và đối tượng là hai cái không thể nào tách rời ra, chỉ có chủ thể mà không có đối tượng, điều đó không đúng. Nhưng có những trường hợp ta phải ở với người thiền sinh đó trong tư thế nội quán để dẫn dắt họ, trường hợp này là trường hợp đoạt cảnh bất đoạt nhân, lấy đi đối tượng chỉ giữ lại chủ thể.

Hỏi: ‘Còn đoạt cả người cả cảnh là sao?’

Thiền Sư đáp : ‘Hai quận Biện Phần không liên lạc

Dân chúng một mình một cõi riêng.’

Đây là trường hợp thứ ba: Lấy luôn cả cảnh cả người. Đó là trường hợp của phi tưởng phi phi tưởng, không phải tri giác mà không phải là không có tri giác. ‘Phi tưởng’ tức là không có tri giác. Lấy đi chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức rồi thì làm gì còn tri giác nữa, nhưng đây không phải là tình trạng vô tri như gỗ đá, cho nên nói phi tưởng không thôi thì không đúng, vì vậy mới có phi phi tưởng. Cái anh gọi là vật đó thật ra không có, mà cái anh gọi là tâm – nguồn gốc của vật – cũng không có luôn. Tại vì sao có tâm mà không có vật, có vật mà không có tâm? Đó gọi là trường hợp đoạt cả nhân cả cảnh cùng một lúc. Đây là một trạng thái thiền định rất sâu, trong đó chủ thể nhận thức không còn, mà đối tượng nhận thức cũng không còn. Không có ranh giới giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức là phi tưởng (no perception) phi phi tưởng (no non-perception).

Trường hợp thứ nhất là chỉ có đối tượng nhận thức; trường hợp thứ hai là chỉ có chủ thể nhận thức; trường hợp thứ ba là không có đối tượng nhận thức cũng không có chủ thể nhận thức.

Hình ảnh ‘Hai quận Biện Phần không liên lạc, dân chúng một mình một cõi riêng’ diễn tả tình trạng hai tỉnh biên giới hoàn toàn bị cô lập, không liên lạc được với chánh quyền trung ương nên không nhận được lệnh gì của trung ương. Đó là hình ảnh của sự cô lập; hình ảnh của sự không tiếp xúc với thực tại; hình ảnh của một người ngồi trên núi chìm đắm trong thiền quán, không biết chuyện gì xảy ra cho mình và cho cảnh vật xung quanh.

Hỏi: ‘Còn không đoạt người cũng không đoạt cảnh là sao?’

Thiền Sư đáp : ‘Vua bước lên điện báu

Ông già quê hát ca.’

Hình ảnh thứ tư là hình ảnh hòa bình: Vua bước lên điện báu, hội hợp với quần thần; trong khi đó, tại các miền quê có những ông già nhà bảy tám chục tuổi ra đường ca hát với bọn trẻ. Âu ca tức là hát để ca tụng hòa bình. Đây là sự thiết lập trở lại giữa chủ thể và đối tượng, có đối tượng có chủ thể, nhưng không còn sự ngăn cách; không kẹt vào duy vật luận của trường hợp thứ nhất; không kẹt vào duy tâm luận của trường hợp thứ hai; không kẹt vào chủ nghĩa hư vô của trường hợp thứ ba, tuy rằng có công nhận cảnh và người, nhưng người với cảnh trong trường hợp này không phải là người và cảnh của hai trường hợp đầu: có cảnh, nhưng không còn là cảnh của trường hợp thứ nhất (đoạt nhân bất đoạt cảnh); có tâm, nhưng không phải là tâm của trường hợp thứ hai (đoạt cảnh bất đoạt nhân). Trong nhà thiền nói rằng: ‘Trước khi tu, tôi thấy núi là núi, sông là sông. Khi tu được một thời gian, tôi thấy núi không còn là núi, sông còn là sông. Sau khi tu chứng rồi, tôi lại thấy núi là núi, sông là sông.’ Nghĩa là cái thấy của tôi bây giờ không còn yếu tố của chấp trước nữa, tôi không còn chấp núi chỉ là núi, sông chỉ là sông.

Triết học Ấn Độ có quan niệm Tứ Cú, tức là bốn mệnh đề:

1- Mệnh đề thứ nhất là có (being).

2- Mệnh đề thứ hai là không (non-being)

3- Mệnh đề thứ ba là cũng có cũng không, hay vừa có vừa không (both being and non-being).

4- Mệnh đề thứ tư là không có cũng không không (neither being nor non-being).

Tứ Cú rất quan trọng trong nền triết học tư duy của Ấn Độ.

Tứ Liệu Giản (four arrangements) cũng đi theo phương thức đó. Có là một quan niệm, và Không là một quan niệm khác. Quan niệm về Có tương đương với Liệu Giản thứ nhất, cùng quan niệm với Thực Tại Luận Chất Phát, tức là đoạt người không đoạt cảnh. Quan niệm về Không tương đương cho Liệu Giản thứ hai: Cái anh nói có ấy thật sự không có, đó là do tâm của anh biến hiện ra. Liệu Giản thứ ba là không Có cũng không Không, tức là đoạt nhân và đoạt cảnh cùng một lúc. Thứ tư của Tứ Cú thành ra cái thứ ba của Liệu Giản. Thứ tư của Liệu Giản là vừa Có cũng vừa Không; tuy là Có kỳ thực là Không, tuy là Không kỳ thực là Có.

Tứ Pháp Giới trong hệ thống giáo lý Hoa Nghiêm cũng có một quan niệm tương tợ. Tứ Pháp Giới tức là bốn lĩnh vực của hiện hữu:

1- Sự pháp giới: Sự tức là sự vật. Sự là thế giới của hiện tượng.

2- Lý pháp giới: Lý tức là nguyên tắc, là bản thể, là tâm. Lý là thế giới của bản thể.

3- Sự Lý vô ngại: Thế giới của hiện tượng và thế giới của bản thể không chống chọi nhau.

4- Sự Sự vô ngại: Giữa hai hiện tượng không có sự chống nhau.

Chúng ta nhớ lại hình ảnh đầu tiên Tổ đưa ra là: Mùa xuân nắng ấm và hoa nở khắp nơi, có một cô bé đang đùa chơi mà tóc của bé lại bạc trắng, thì có một cái gì mâu thuẫn, chướng ngại. Tại vì ta chưa đi qua lĩnh vực ‘Sự Lý vô ngại’ cho nên trong Sự vẫn còn mâu thuẫn. Khi nào từ quan niệm về cảnh đi vào quan niệm về nhân, mà ta thấy được giữa cảnh và nhân có sự thông suốt, thì lúc đó ta có khả năng đi tới trình độ gọi là Sự Sự vô ngại, lúc bấy giờ ta sẽ thấy tóc em bé không còn trắng nữa.

Ta tưởng rằng chỉ có thế giới của thực tại, nào ngờ còn có thế giới của tâm. Khi đi vào tâm, ta lại phủ nhận sự thật về thế giới khách quan. Cả hai trường hợp đều có sự mâu thuẫn hết. Nhưng tới được bước thứ ba thì thấy giữa hai bên có sự hòa điệu, giữa Sự và Lý, giữa Nhân và Cảnh. Khi đi tới bước thứ tư (Sự Sự vô ngại), nhìn lại bước đầu (Sự pháp giới) thì thấy không còn mâu thuẫn nữa. Ở Sự pháp giới, ta thấy núi là núi, sông là sông. Đi vào Lý pháp giới, ta thấy núi không còn là núi, sông không còn là sông (tại vì sông nằm trong núi, núi nằm trong sông). Khi đạt tới Sự Sự vô ngại thì khi trở về Sự pháp giới, ta thấy núi trở lại là núi, sông trở lại là sông, nhưng không thấy có sự mâu thuẫn nữa. Đó là một hình ảnh rất thiền.

Tổ Lâm Tế là học trò của Tổ Hoàng Bích. Chúng ta hãy đọc câu này của Tổ Hoàng Bích để thấy rằng Tổ Lâm Tế rõ ràng chịu ảnh hưởng của thầy mình. (Hoàng Bích là tên của một cái núi. Tổ ở trên núi đó nên có tên là Hoàng Bích. Tên của Tổ Lâm Tế cũng vậy. Lâm Tế không phải là pháp danh, Lâm Tế là tên của cái vùng Tổ cư ngụ). Câu này trích trong tác phẩm ‘Hoàng Bích Sơn, Đoạn Tế thiền sư truyền tâm pháp yếu’. Tức là những tinh yếu của sự trao truyền tâm ấn, do thiền sư Đoạn Tế ở núi Hoàng Bích nói lại.

Phàm phu thủ cảnh

Đạo nhân thủ tâm

Tâm cảnh song vong

Nãi thị chân pháp

Vong cảnh do dị

Vong tâm chí nan

Nhân bất cảm vong tâm

Khủng lạc không vô lao mô xứ

Bất tri không bổn vô không

Duy nhất chân pháp giới nhỉ.

‘Phàm phu thủ cảnh’. Thủ cảnh tức là nắm lấy cảnh, kẹt vào cảnh. Cảnh là đối tượng nhận thức, tiếng Phạn là visaya. Những người phàm phu – thông tục (ordinary people) ngây thơ, thì bị kẹt vào cảnh – đối tượng của tâm (object). Họ thấy núi là núi, sông là sông, người là người. Đây là trường hợp đoạt nhân bất đoạt cảnh.

‘Đạo nhân thủ tâm’. Còn người tu – đạo nhân (the one who practices the path) thì kẹt vào tâm. Đây là trường hợp đoạt cảnh bất đoạt nhân.

‘Tâm cảnh song vong, nãi thị chân pháp’. Song (both) là cả hai. Khi tâm và cảnh đều không còn, thì mới đúng là pháp chân thật.

‘Vong cảnh do dị, vong tâm chí nan’. Vong tức là quên. Quên cảnh thì rất dễ, nhưng quên tâm thì rất khó; cho rằng không cảnh mà có tâm thì dễ, nhưng nói rằng không có tâm luôn thì rất khó (taking away the object is still easy, but taking away the mind is very difficult).

‘Nhân bất cảm vong tâm’. Con người không dám buông tâm. Tại vì sao vậy?

‘Khủng lạc không vô lao mô xứ’. Khủng là sợ; lạc là rơi vào; lao tức là đi tìm, đi mò, đi vớt; mô tức là sờ mó. Tại vì con người sợ rơi vào chỗ không có gì để nương tựa.

‘Bất tri Không bổn vô không, duy nhất chân pháp giới nhỉ’. Con người không biết rằng cái Không đó vốn không phải là không (ngược với cái có), cái Không đó chính là Nhất Chân Pháp Giới (pháp giới chân thật). Con người không dám buông tâm, vì buông tâm rồi thì không còn gì nữa, thành ra họ sợ ý niệm không còn gì cả. Khi đọc câu này của Tổ Hoàng Bích, ta hiểu được Tứ Liệu Giản cũng chịu ảnh hưởng của lời dạy này. ‘Nhất chân pháp giới’, tức là Liệu Giản thứ tư: không phủ nhận cảnh cũng không phủ nhận người, không phủ nhận đối tượng cũng không phủ nhận chủ thể. Ban đầu là phủ nhận chủ thể, nhưng công nhận đối tượng. Thứ hai là phủ nhận đối tượng, nhưng công nhận chủ thể. Thứ ba là phủ nhận cả hai. Và điều đó đưa tới sự sợ hãi, cho nên người ta thường bị kẹt vào đó. Liệu Giản thứ tư cho thấy chủ thể và đối tượng không phải là không. Nếu Liệu Giản đầu là Hữu, thì Liệu Giản thứ tư là Diệu Hữu; Nếu Liệu Giản đầu là Không, thì Liệu Giản thứ tư là Chân Không.

Người vô sự – Lâm Tế Lục – bình giảng phần Đối trị căn cơ

NGƯỜI VÔ SỰ
_________________________________

Thích Nhất Hạnh – Phần bình giảng Lâm Tế Ngữ Lục
_________________________________

Đối Trị Căn Cơ

Đối trị căn cơ tức là tùy theo trường hợp, tâm lý và hoàn cảnh đặc biệt của người thiền sinh mà đưa ra những biện pháp để giúp người đó tháo gỡ những bế tắc của họ cũng giống như một vị y sĩ. Khi người bệnh tới, vị y sĩ phải biết rõ tình trạng của người bệnh rồi đưa ra những phương dược để trị cho người đó, đó là đối trị căn cơ. Mỗi người có một căn cơ khác nhau: người thì chậm, kẻ thì mau, người thì bị kẹt nhiều, kẻ thì bị kẹt ít. Người có bản tính chậm không có nghĩa là người đó khó, đôi khi họ chậm nhưng họ lại tới trước những người đi mau. Đối với những người chậm, ta có phương pháp giúp cho những người chậm; đối với người những mau, ta có phương pháp giúp cho những người mau; đối với những người có sầu khổ nhiều, ta có những phương pháp khác; đối với những người ham chơi, ta còn có phương pháp khác nữa. Chúng ta phải thấy được căn và cơ của người đó. Căn cơ của một người tức là trường hợp của người đó, tình trạng sức khỏe của người đó, hoàn cảnh của người đó và tình trạng tâm lý (mentality) của người đó nữa.

Quan Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền sư lên pháp tọa. Thiền sư bước lên nói: ‘Hôm nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi mới lên ngồi trên pháp tòa này. Nếu nói đến chuyện chính thức đề xướng việc lớn của truyền thống tổ tông Thiền, tôi sẽ không thể mở miệng ra được và quý vị cũng sẽ không biết đặt chân vào đâu. Nhưng hôm nay vì quan Thường Thị cứ thỉnh cầu mãi thì làm sao tôi còn có thể dấu kín được tông chỉ cương yếu của Thiền? Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao?

Có một vị xuất gia bước ra hỏi :

– Đại ý của Phật pháp là gì?

Thiền sư hét.

Vị xuất gia kia lạy.

Thiền sư nói:

– Ông thầy này có thể nói chuyện được đấy.

Quan Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền sư lên pháp tọa. Thời gian này có một nhà chính trị – quan phủ họ Vương – ông rất hâm mộ và thường lui tới với những nhà chức trách khác để cùng học đạo với thiền sư Lâm Tế. Chữ Thường Thị có nghĩa là cố vấn bình thường (ordinary adviser to the King). Ông là quan phủ nhưng cũng có thể làm tai mắt cho vua, cố vấn cho vua về tình trạng địa phương của ông.

Quan Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền sư lên pháp tọa. Thiền sư bước lên nói: Hôm nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi mới lên ngồi trên pháp tòa này.

Nghĩa là tôi không muốn lên trên này ngồi đóng vai thiền sư, tôi không thích như vậy. Vì thuận theo nhân tình, tại vì người ta đòi như vậy, cho nên tôi phải làm như vậy. Tại sao ta là thầy tu mà ta không muốn thuyết pháp? Có lẽ vì sự trông chờ, đòi hỏi của người ta mà ta biết là ta không thể thỏa mãn họ được. Không phải vì ta không có khả năng, không có kiến thức, nhưng những cái họ đòi ta không cung cấp được. Thí dụ như họ đòi hỏi kiến thức Phật pháp, mà ta thì đã chán ngấy kiến thức Phật pháp rồi. Ta biết rằng, họ có học thêm bao nhiêu đi nữa thì những tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến của họ cũng trơ trơ không thay đổi. Thành ra ta có lên giảng thêm một giờ đồng hồ nữa cũng không ích lợi gì. Do đó, vị thiền sư không thích. Quý vị có hiểu được tâm trạng của Tổ hay không? Có biết bao nhiêu người trong thời của Tổ đang đánh mất thời gian của họ và đánh mất thời gian của những người tới học với họ. Thuận theo nhân tình tức là vì người ta muốn nên ta phải làm, bất đắc dĩ mà làm nhưng trong bụng không thích. Tại vì có cầu mới có cung và có cung mới có cầu. Cầu tức là những đòi hỏi để được thỏa mãn, và cung là những cái được sản xuất ra để thỏa mãn những đòi hỏi đó. Quần chúng đòi hỏi cái này, ta phải cung cấp cái này. Nhưng trong trường hợp của Tổ, Tổ không muốn cung cấp những cái người ta cầu, vì Tổ biết rõ cái cung cầu đó không đưa người ta đi tới đâu hết. Nói như thi sĩ Lưu Trọng Lưu: Vô ích! Vô ích! Vô ích!

Hôm nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi mới lên ngồi trên pháp tòa này. Nếu nói đến chuyện chính thức đề xướng việc lớn của truyền thống tổ tông Thiền, tôi không thể mở miệng ra được.

Chuyện đáng nói, cần nói là đề xướng việc lớn của truyền thống Thiền, tôi không làm được, không nói được, vì chuyện đó không thể thực hiện được bằng nói năng, ngôn ngữ, tại vì mở miệng ra là sai, cho nên tôi chỉ có thể ngồi yên và mỉm cười thôi. Tôi không thể mở miệng ra được và quý vị cũng sẽ không biết đặt chân vào đâu. Quý vị cũng sẽ luống cuống không biết đặt chân vào đâu, vì đây không phải là lĩnh vực của sự học hỏi, đây không phải là lĩnh vực của sự nghiên cứu. Đây là lĩnh vực của giác ngộ, của sự sống. Đây là chuyện thở, chuyện đi, chuyện ăn cơm, chuyện sống mỗi giây phút trong Tịnh Độ, trong an lạc, chứ không phải chuyện để nói và để nghe. Chuyện nói và chuyện nghe là để cho các trường đại học. Các trường đại học có khả năng cấp phát những bằng tiến sĩ Phật học. Nếu muốn chuyện đó, quý vị có thể đi sang trường Harvard hay trường Oxford. Ở đây, tại thiền viện Lâm Tế không làm chuyện đó, không có cung cấp những nhu yếu đó.Vì vậy cho nên tôi mở miệng không được mà quý vị cũng sẽ không biết đặt chân vào chỗ nào. Chỉ khi nào là tri kỷ với nhau, quý vị mới có thể tham dự vào chuyện này được. Còn đòi hỏi điều này, còn cần cung cấp cái kia, quý vị còn đi vòng ngoài thôi. Nhưng hôm nay vì quan Thường Thị cứ thỉnh cầu mãi, làm sao tôi có thể dấu kín được tông chỉ cương yếu của Thiền? Tôi phải làm cái gì đó. Thấy tội không?

Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao?

Tức là mở ra một cuộc đối thoại. Có thể trong cuộc đối thoại đó có một ánh lửa xẹt ra, và ánh lửa đó có thể đốt cháy được màn vô minh đang che lấp tâm của ta. Đây gọi là những thiền chiến (Zen battle). Thiền sư sắp mở một trận chiến về thiền. Cuộc chiến là một cuộc đối thoại. Trong những cuộc thiền chiến đó, có khi hai bên đều thua xiểng liểng, có thể trầy da, tróc vẩy, dập đầu, u trán như chơi. Quý vị nào đã từng hành nghề tâm lý trị liệu, quý vị chắc cũng có một ít kinh nghiệm. Đôi khi phải đánh giặc với người kia. Đôi khi cần phải đánh đấm, vật lộn với nhau thật chứ không phải chỉ bằng lời nói thôi. Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận. Ta là tướng quân muốn xông ra vòng đạn. Trong trận Thiền chiến là một cuộc đọ sức ngang ngữa giữa thiền sư và thiền sinh, giữa thiện tri thức và học nhân.Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao? Ở ngoài đời, khi muốn hỏi một câu gì, ta giơ tay lên ta hỏi. Hỏi xong thì được trả lời. Nếu anh chỉ dùng trí năng để hỏi, để góp nhặt một vài kiến thức, đó là chuyện ở trường học, nhưng trong thiền không phải như vậy. Ở đây, mục đích của ta không phải là đi kiếm chác một ít những kiến thức Phật pháp mà là chiến đấu với thiền sư. Ở Làng Mai, trong những buổi vấn đáp, trên bục giảng thường có để hai chiếc ghế, thầy ngồi một ghế và người hỏi phải lên ngồi một ghế đối diện, đó là thiền chiến. Ta nên đưa ra câu hỏi có thể giúp ta vượt thoát khỏi tình trạng bế tắc và tuyệt vọng; còn nếu ta lên hỏi một câu có tính cách bác học, tìm hiểu một vài ý niệm về Phật pháp thì chỉ làm mất thì giờ của thầy, làm mất thì giờ của ta và làm mất thì giờ của đại chúng. Đây không phải là trường học, không phải là Phật học viện, không phải là trường Cơ Bản Phật học cũng không phải là trường Cao Cấp Phật học, đây là một thiền viện, và đây là một cuộc chiến. Hỏi câu nào phải có khả năng phá vỡ được tù ngục, phải là câu hỏi sống chết, nếu không đừng có lên hỏi. Đừng có hỏi những câu như ‘Bát Chánh đạo là gì?’, tại vì những câu hỏi như vậy chỉ cần mở Phật học tự điển ra xem là được rồi. Tại sao phải lên hỏi thầy chứ? Vì vậy cho nên, nếu không có câu hỏi thì đừng có lên hỏi. Nếu có hỏi, câu hỏi của ta phải có khả năng xé toang màn vô minh và giải phóng được không phải chỉ cho riêng ta mà đôi khi giải phóng được cho thầy và cho cả đại chúng đang cùng ngồi đó nghe nữa. Cái đó là thiền chiến. Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao? Nêu ra những kinh nghiệm của ta, những đau nhức của ta, những thất vọng của ta, những vết thương cũ chưa lành của ta… Đem sự sống ra đây, đừng có đem trí năng, vô ích !

Có một vị xuất gia bước ra hỏi: Đại ý Phật pháp là gì? Thiền sư hét. Chữ đại ý Phật pháp dịch đúng chữ là ‘the great idea of the Buddhism’. Chữ đại ý cũng có nghĩa là ý chính (main idea), là cốt lõi, là tinh ba, hay là trái tim của Phật pháp. Có thể vị xuất gia này đã học xong chương trình Phật Pháp Cơ Bản, hay vị này có thể đã học xong Trung Cấp Phật học và đang lên Cao Cấp Phật Học, và thấy rõ những năm học đó không có dính líu gì tới ta hết. Nếu cần đăng đàn thuyết pháp, vị xuất gia này cũng có thể nói về Phật pháp một giờ, hai giờ. Nhưng vị này đang bị lúng túng, không biết cốt lõi của Phật pháp thực sự. Tất cả chúng ta người nào cũng có thể cho một bài pháp thoại về đại ý Phật pháp, về tinh ba của Phật pháp. Chúng ta có thể nói như thế này: ỀPhật pháp là phương pháp giúp cho ta sống tỉnh thức, an lạc trong giờ phút hiện tại, để ta có định, có tuệ, có khả năng tiếp xúc sâu sắc và hiểu thấu được tính chất bất sinh, bất diệt của thực tại và để ta vượt thoát được những sầu đau, lo sợ.Ể Nói như vậy cũng được. Nhưng nó có ích lợi gì cho người kia hay không? Người kia đem những gì ta nói về có xài được không? Có sử dụng được hay không? Có nhiều khi ta đem hết trái tim của ta ra trình bày một vấn đề, đến khi người đó đứng dậy hỏi thêm một câu, ta rất là tuyệt vọng! Té ra hồi nãy đến giờ, ta cho cả một trái tim, người đó không nhận được một chút tối thiểu nào cả. Chúng ta đã từng biết như vậy, đã từng thấy như vậy, cho nên mới hiểu được Tổ Lâm Tế khi bị hỏi một câu như ‘Đại ý Phật pháp là gì? ’. Thay vì than ‘trời đất ơi!’, thiền sư hét. Bây giờ quý vị hiểu chưa? Thiền sư hét. Tức là lấy gươm chặt nó đi. Anh cần cái đó hả? Cái đó có thể giúp được anh hay không? Anh đã có bao nhiêu là định nghĩa về đại ý Phật pháp rồi, bây giờ anh còn muốn có thêm một cái để so sánh với những cái anh đang có hả? Đó không phải là công việc của tôi, tôi không phải là người đi bán những ý niệm, anh đừng hòng mua được một cái từ nơi tôi, tôi không phải là người bán hàng. Tiếng hét đó có nghĩa như vậy. Tiếng hét đó là một lưỡi gươm có khả năng chặt đứt khuynh hướng đi tìm tòi bằng trí năng và chất chứa kiến thức của ta.

Vị xuất gia kia lạy. Vị xuất gia này có hiểu hay là không hiểu, điều đó ta không biết được, vì ta không có trực tiếp biết về người đó. Thành ra, cái lạy đó có thể là một sự giác ngộ, cái lạy đó có thể là sợ.

Thiền sư nói: Ông thầy này có thể nói chuyện được đấy. Đây rất là từ bi. Ví dụ như có một người vừa lên hát cho ta nghe, không hay lắm, nhưng ta cũng nói khá hay để khuyến khích người đó. Ví dụ này có thể giúp cho quý vị hiểu được câu nói của thiền sư. Quý vị muốn tìm hiểu tư tưởng uyên áo gì ở trong này? Trong này có ẩn chứa một tư tưởng uyên áo gì hay không? Ông thầy này là ai vậy? Ông có mặt ở trong đại chúng này không? Có thể ông là ta. Vì vậy cho nên khi đã học phần Dạy Chúng (Khai Thị) rồi, chúng ta mới có cơ hội để có thể hiểu được những mẩu đối thoại như vậy.

Trong các buổi Đối Trị Căn Cơ này, phần lớn những người tới hỏi đều đứng hết, chỉ trừ những vị trưởng lão, hay những vị khách quý như quan Thường Thị họ Vương mới được ngồi.

Một vị khác hỏi :

– Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào, và tiếp nối tông phong của ai ?

Sư đáp :

– Ngày xưa hồi tôi còn ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi đặt câu hỏi, ba lần bị đánh.

Vị này suy nghĩ. Sư liền hét. Sau đó sư còn đánh thêm cho một cái và nói :

– Thầy đừng có mong đóng cọc trong hư không.

Một vị khác hỏi: Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào, và tiếp nối tông phong của ai? Tức là muốn hỏi về bối cảnh và gốc gác của pháp môn, là muốn hiểu về tổ tiên, nguồn gốc của giáo pháp và sự thực tập của Tổ Lâm Tế. Cũng như người ta hỏi ta là đạo Bụt gì: truyền thống Vipassana, hay truyền thống thiền Lâm tế, hay truyền thống thiền Tào Động. Họ muốn dán cho ta một cái nhãn hiệu. Này là thiền Lâm Tế, tôi biết thiền Lâm Tế. Này là thiền Tào Động, tôi biết thiền Tào Động. Đây là Vipassana, tôi biết truyền thống Vipassana. Thành ra, chúng ta đã có sẵn những nhãn hiệu, chỉ việc lấy ra dán vào đây một cái, dán vào kia một cái. Đó là thói quen của chúng ta. Đây là người Mỹ, dán nhãn hiệu Mỹ; đây là người Hòa Lan, dán nhãn hiệu Hòa Lan; đây là người Mễ Tây Cơ, dán nhãn hiệu Mễ Tây Cơ. Làm như là chúng ta đã biết Mỹ là cái gì rồi, Hòa Lan là cái gì rồi, và Mễ Tây Cơ là cái gì rồi vậy. Thật ra chúng ta không hề biết một tí gì về những người đó. Đây là người Cộng sản, đây là người Tư bản, đây là người chống cộng, đây là người theo cộng. Chúng ta đã có sẵn những nhãn hiệu để dán lên cho người ta. Chúng ta thương hay chúng ta ghét là do chúng ta thương cái nhãn hiệu đó, hay chúng ta ghét cái nhãn hiệu đó mà thôi. Chỉ khi nào tôi dán cho anh nhãn hiệu là quân phiến loạn, là quân khủng bố (terrorist), khi đó tôi mới có khả năng bóp cò súng để cho anh chết. Tôi mới có thể nói rằng ‘anh không có trên cuộc đời này thì cuộc đời này sẽ đẹp thêm’. Còn nếu tôi thấy được anh là con người có đau khổ, có lo lắng, có vợ, có con cần phải chăm sóc, thì tôi đâu có thể bắn anh. Tất cả đều là vấn đề dán nhãn hiệu. Khi nào chúng ta thấy được con người đích thực ở trong mỗi một con người, lúc đó chúng ta sẽ không làm cái chuyện đi dán nhãn hiệu nữa. Dán nhãn hiệu để chúng ta tôn sùng, hay dán nhãn hiệu để chúng ta tiêu diệt. Vì vậy mục đích của Tổ Lâm Tế là đi tìm con người, chứ không phải là đi dán nhãn hiệu, dù đó là nhãn hiệu Cơ Đốc giáo, Phật giáo, Thiền hay Tịnh Độ. Trong túi của chúng ta có rất nhiều nhãn hiệu. Không biết lấy ở đâu mà chúng ta có nhiều nhãn hiệu quá như vậy, rồi chúng ta đem ra dán. Như vậy là chúng ta hoàn toàn tự cô lập ta. Chúng ta không tìm thấy được con người đích thực. Chúng ta phần lớn đều làm công việc dán nhãn hiệu. Tổ Lâm Tế nói: ‘Đừng làm như vậy con. Đừng có dán nhãn hiệu, phải để cho ta được tự do để có cơ hội tiếp xúc với con người thật.’ Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào và tiếp nối tông phong của ai? Nghĩ rằng khi có được những câu trả lời, chúng ta có thể sẽ hiểu được thiền sư hơn. Chúng ta có sẵn một cái khuôn khổ rồi đặt thiền sư vào trong khuôn khổ đó cho dễ nhận diện hơn. Khuynh hướng và thói quen đi dán nhãn hiệu biểu hiện rất là rõ qua câu hỏi này. Nhưng thiền sư là một con người đích thực, thiền sư là một chân nhân. Chân nhân, dịch tiếng Anh là true human being. Muốn nhét một con người đích thực vào bất cứ một cái khuôn nào cũng không có được.

Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào và tiếp nối tông phong của ai? Sư đáp: Ngày xưa hồi tôi còn ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi đặt câu hỏi, ba lần bị đánh.

Tổ trả lời như vậy, chúng ta thấy thương quá. Không phải thương vì Tổ bị đánh mà thương vì cái cách của Tổ nói với người kia. Đáng lý Tổ phải nói rằng: Anh có muốn bị đánh không mà hỏi câu đó? Hỏi như vậy là đáng lý bị ăn đòn. Đi hỏi chuyện dán nhãn hiệu, tìm danh từ, bị ăn đòn là phải rồi. Nhưng Tổ không đánh. Tổ nói: ‘Ngày xưa tôi cũng làm như anh vậy, ba lần hỏi ba lần tôi bị thầy tôi đánh.’ Vị này suy nghĩ. Suy nghĩ tức là vẫn sử dụng cái đầu của ta như thường. Câu nói của Tổ đáng lý phải làm bung ra một cái thấy, nhưng nó đã thất bại. Nó không làm bung ra một cái thấy, vì ông này lại níu vào câu nói của Tổ, ông tiếp tục suy nghĩ. Sư liền hét, tức là thiền sư hét. Thiền sư dùng tới vũ khí thứ hai. Ban đầu, dùng câu trả lời rất nhẹ nhàng, nhưng đã thất bại, bây giờ dùng biện pháp mạnh hơn là hét một tiếng để cho người kia ngưng suy nghĩ. Cái sào đầu tiên đưa cho người kia nắm lấy để đừng chết đuối, nhưng người kia chụp không được, bây giờ đưa ra cái sào thứ hai, đó là tiếng hét. Sau đó sư còn đánh thêm cho một cái, tức là cái sào thứ ba. Ban đầu là một câu nói rất dễ thương, thất bại rồi cho thêm một tiếng hét, tiếng hét cũng không thành công, mới đánh một cái. Ba lần đều thất bại. Đây là sự thất bại của ai? Có rất nhiều mẩu đối thoại như thế này chứng tỏ là có sự thất bại. Có hết đâu, Tổ còn nói thêm: Thầy đừng có mong đóng cọc trong hư không. Ta đóng một cái cọc vì ta muốn có một chỗ vững chãi để cột một con lừa, hay cột một con bò, hay giăng một cái lều. Phải vậy không? Muốn cắm lều thì phải đóng cọc vào trong đất, chứ đóng vào trong nước thì không được, đóng vào hư không cũng không được. Chúng ta muốn tìm một căn cứ vững chãi để chúng ta nương tựa. Nhưng nếu chúng ta đi tìm những thứ đó trong lĩnh vực của suy tư, của khái niệm, thì chẳng khác gì chúng ta đang đóng cọc trong hư không. Người đóng cọc trong hư không đó là ai? Có phải là ông thầy đó hay là chính ta đây? Hãy thử tự hỏi ta: Lâu nay ta có đang đi tìm cọc để đóng, hay là chỉ đóng cọc trong hư không? Chưa bao giờ ta có một chỗ an tâm lập mạng cho vững chãi, thành ra ta đừng bỏ phí thì giờ đóng cọc trong hư không.

Có vị tọa chủ lên hỏi :

– Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không làm sáng lên được tính Bụt trong ta ?

Thiền sư nói :

– Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới.

Tọa chủ thưa :

– Không có lý Bụt lại đánh lừa người ?

Sư hỏi :

– Bụt ở đâu ?

Vị tọa chủ không nói được.

Sư bảo :

– Có quan Thường Thị ở đây mà thầy lại muốn gạt ông thầy tu già này hả ? Rút lui mau, rút lui mau ! Để chỗ cho người khác hỏi.

Thiền sư lại nói :

– Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc pháp hôm nay. Còn ai muốn hỏi hay nói gì nữa không ? Hãy mau ra đây. (Tôi nói trước cho quý vị biết) khi quý vị vừa mở miệng ra, thì quý vị đã đánh mất cái liên hệ rồi. Tại sao ? Quý vị có nghe đức Thế Tôn nói rằng ‘pháp không dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên’ hay không ? Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa tới, cho nên hôm nay chúng ta chỉ có được những giây leo ký sinh (những lời nói lẻ), chỉ có tác dụng làm ủng trệ cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên rút lui.

Rồi thiền sư hét lên và nói : ‘Những người niềm tin bạc nhược kia ơi, bỏ ra cả ngày để chỉ nói qua nói lại như vậy cũng vô ích thôi ! Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, vậy xin tạm biệt !’

Có vị tọa chủ lên hỏi (tọa chủ ở đây là một vị giáo thọ, dharma teaher): ‘Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không làm sáng lên được tính Bụt ở trong ta ?’

Đây là nghề của chàng. Nghề của chàng là đi giảng (dharma teacher). Ta đi giảng pháp thì ta phải tin rằng pháp có khả năng làm sáng lên Phật tánh trong con người ta và trong những người nghe. Nếu ta không tin như vậy, ta sẽ không đi giảng. Nếu người ta không tin như vậy, ai tới nghe lời giảng của ta. Ai lại chịu đi mua một cái vé để tới nghe pháp nếu họ không tin rằng pháp có thể làm sáng lên tâm Bụt ở trong ta. Cả hai bên, giáo thọ và người tới nghe giáo thọ, đều phải tin như vậy. Vị tọa chủ nói như vậy rất hợp lý, nhưng cái lý của vị tọa chủ với cái lý của tổ Lâm Tế rất khác nhau. Giáo lý ba thừa là Thanh Văn thừa, Duyên Giác thừa và Bồ Tát thừa. Giáo lý đó được diễn đạt bằng mười hai thể tài, tức là mười hai cách: chánh kinh, ca vịnh, ký thuyết, kệ tụng, nhân duyên, soạn lục, bản khởi, thử thuyết, sinh xứ, quảng giải, vị tằng hữu pháp và thuyết nghị. Giáo lý ba thừa được diễn bày qua mười hai thể tài đó, không lý không có ích lợi gì hết sao? Tức là muốn vấn nạn (challenge) Tổ: ‘Thầy nói sự học hỏi không có ích lợi gì hết sao? Đó là nghề của con, không lý con không được đi hành nghề sao?’ Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không làm sáng lên được tính Bụt ở trong ta? Thiền sư nói: ‘Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới.’ Tổ nói ta giảng giải thao thao về giáo lý ba thừa, mười hai thể tài (thập nhị bộ kinh), nhưng những phiền não, đam mê, giận hờn, nghi ngờ, ganh tỵ… còn y nguyên thì ta giảng làm cái gì chứ? Chúng ta nghe giảng để làm gì nếu cái chuyện nghe giảng không dính líu gì tới hạnh phúc, đời sống của chúng ta. Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới. Quý vị phải biết thở, phải biết nắm lấy bước chân, phải biết nắm lấy tâm ý, phải biết nhận diện những tâm hành của ta và có sự giải thoát. Đó là ý của Tổ. Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới. Quý vị để gai góc, cỏ hoang mọc đầy trong vườn tâm của ta thì làm sao tánh Bụt ở trong quý vị sáng lên được? Do đó, anh có giảng dạy Phật pháp ba mươi năm cũng vậy, chị có đi nghe giáo lý ba mươi năm cũng vậy. Câu Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới, rất là hay. Nếu có sự giác ngộ, câu này đủ để cho ta xài rồi, ta nên lạy xuống một cái rồi đi về. Nhưng vị tọa chủ này cứng đầu, còn ráng hỏi thêm một câu. Tọa chủ thưa: Không có lý Bụt lại đánh lừa người? Tức là Bụt có diễn thuyết, có giảng dạy, và những lời giảng dạy của Bụt có ghi vào Tam Tạng kinh điển rõ ràng, không lý tất cả những cái đó đều vô ích, không lý Bụt đi bán hàng giả, đánh lừa người ta. Ông giáo thọ (hay cô giáo thọ) này cứng đầu thiệt!

Sư hỏi: ‘Bụt ở đâu ?’ Tọa chủ vừa nói đến Bụt, Tổ hỏi liền: Bụt ở đâu? Bụt là một thực thể ngoài thầy hay ở trong thầy? Thầy biết gì về Bụt mà nói. Cũng như trong công án, thoại đầu ‘niệm Phật thị thùy’, rất nổi tiếng, hiện bây giờ còn được thực tập ở Trung Quốc, ở Đại Hàn và các nước Phật giáo. Niệm Phật thị thùy, dịch là ‘Ai là người đang niệm Bụt?’ Ai là người đang tụng kinh? Ai là người đang ngồi thiền? Đó là câu hỏi. Câu hỏi đó là một sự mời mọc: mời chúng ta đi trên một chuyến tham khảo và khám phá. Khám phá cái gì? Khám phá ta là ai, người đang niệm Bụt. Đó là một công án thiền, một thoại đầu thiền. Mục đích của công án là giúp cho ta tìm ra mặt mũi ta là ai. Hầu hết những người thực tập công án đó, hay thoại đầu đó, đều vướng vào một cái mà họ không biết. Chuyện niệm Bụt: Nam mô A Di Đà Phật (Namo Amita Fo), đang xảy ra. Khi có niệm là có năng niệm và sở niệm, người niệm và người bị niệm. Có phải vậy không? Sự kiện gì cũng bao gồm năng và sở, nói một cách khác là có chủ thể và đối tượng. Chủ thể niệm và đối tượng niệm. Chủ thể niệm là ai? Ai là người đang niệm Phật? Câu thoại đầu này mời ta đi một chuyến du hành để có thể tìm ra được người đang niệm Bụt là ai. Thoại đầu này sở dĩ có một địa vị quan trọng vì nó đóng vai trò bắt một chiếc cầu giữa Thiền và Tịnh. Tại sao trong thiền lại nói chuyện niệm Bụt làm chi? Tại vì người đề xướng ra thoại đầu thấy rõ ràng là người niệm Bụt cũng có thể hành thiền được. Có những người vừa hành thiền vừa hành Tịnh Độ. Vì vậy cho nên câu thoại đầu này đánh động được sự tò mò không riêng gì người tu thiền mà kể cả người tu Tịnh Độ nữa. Trong Thiền có truyền thống thiền thất, tức là bảy ngày tu thiền liên tiếp. Trong Tịnh Độ có truyền thống Phật thất, tức là niệm Bụt luôn bảy ngày (hiện đang thịnh hành ở Việt Nam). Thoại đầu ‘Ai là người niệm Phật?’ có mục đích giúp cho ta khám phá bản thân ta là ai. Phần đông chúng ta tưởng ta biết ta là ai rồi. Câu thoại đầu này có ý nói ‘Anh chưa biết anh là ai đâu, anh phải đi tìm anh mới được.’ Thế là chúng ta đổ xô đi tìm năng niệm (ai) mà quên là trong câu thoại đầu này còn có sở niệm, tức là Bụt. Chúng ta làm như chúng ta biết Bụt là ai rồi vậy. Cái chìa khóa của thoại đầu này là ở chỗ đó, chữ Bụt. Ai là người niệm Bụt? Câu này có năm chữ, phần lớn mũi dùi chĩa về chữ Ai, ít khi chĩa về chữ Bụt, tại vì mọi người đều tự cho là ta biết Bụt là ai rồi.

Có một thầy, người Đại Hàn, đậu bằng tiến sĩ của trường đại học Luân Đôn, kiến thức Phật học rất thâm uyên.. Hôm đó, tại trường đại học Đông Quốc ở Hán Thành, tôi có giảng về đề tài này, ‘Ai là người niệm Bụt?’. Tôi có nói một câu bằng tiếng Anh rất đơn sơ làm thầy lúng túng, dịch không được. Chúng ta không thể nào nói tiếng Anh của thầy không giỏi, tại vì thầy đã có bằng tiến sĩ của Anh. Tôi nói như thế này: ‘If you think you know who the Buddha is, you are wrong.’ Thầy lúng túng, thầy không dịch được. Không phải vì câu đó có gì khó mà vì thầy bị bất ngờ. Ai cũng nghĩ rằng ta biết Bụt là ai rồi, ta chỉ chưa biết ta là ai thôi. Quả thật, nếu ta biết Bụt là ai rồi thì ta cũng biết ta là ai. Con đã tìm ra Thế Tôn, con đã tìm ra con… Hai câu đó phải đi đôi với nhau. Hễ con tìm ra con thì con tìm ra Thế Tôn. Hễ con tìm ra Thế Tôn thì con tìm ra con. Bụt không phải là một thực thể ở ngoài mà ta có thể đi tìm cầu. Cho nên Tổ có ý dạy thầy tọa chủ vì thầy có biết gì về Bụt đâu mà thầy nói. Sư hỏi: Bụt ở đâu? Vị tọa chủ không nói được. Không nói được, vì đây không phải là lĩnh vực của sự tư duy nữa. Xáp trận với thiền sư thì con đường tư duy bị cắt đứt (the path of thinhking is blocked). Trong thiền gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tức là con đường ngôn ngữ bị cắt đứt. Người kia đâu còn làm ăn gì được nữa. Họ đã quen tung hoành trong lĩnh vực của ngôn ngữ và tư duy, đến khi tới với thiền sư Lâm Tế, thiền sư cắt đứt con đường đó, thành ra họ đâu có nói cái gì được nữa.Vị tọa chủ không nói được. Sư bảo: Có quan Thường Thị ở đây mà thầy lại muốn gạt ông thầy tu già này hả? Rút lui mau, rút lui mau! Để chỗ cho người khác hỏi. Anh giỏi Phật pháp lắm, anh thao thao bất tuyệt, nhưng chỗ này không phải để cho anh diễn võ dương oai, để khoe khoang kiến thức Phật giáo của anh. Đây là chỗ làm thế nào cho lửa trí tuệ xẹt ra để đốt cháy bức màn vô minh, chứ không phải chỗ để trình diễn kiến thức, thông minh của anh. Rút lui mau! Thầy làm tôi mất thì giờ, thầy làm đại chúng mất thì giờ. Rút lui mau! Để chỗ cho người khác hỏi. Thiền sư lại nói: ‘Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc pháp hôm nay’. Có ý định thết đãi vì có quan Thường Thị. Nhà chính trị đâu có thì giờ nhiều. Họ tới đây, ta muốn đãi họ ăn ngon, chứ ta đâu có muốn dọn ra rác rưới. Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc pháp hôm nay. Còn ai muốn hỏi hay nói gì nữa không? Hãy mau ra đây! Đâu dám nữa. Nghe Tổ nói như vậy là sợ quýnh lên rồi, đâu dám ra nữa. (Tôi nói trước cho quý vị biết) khi quý vị vừa mở miệng ra, thì quý vị đã đánh mất cái liên hệ rồi. Tại sao? Quý vị có nghe đức Thế Tôn nói rằng ‘pháp không dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên’ hay không? Những lời khuyên giải, những lời đàm luận của quý vị không phải là pháp. Pháp không dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên, nghĩa là Pháp không phải là cái mà ta có thể tìm cầu được. Không phải như gieo một hạt bắp thì được một trái bắp, Pháp không phải như vậy. Pháp không có nhân cũng không có duyên. Pháp là một sự thật, hoặc nó biểu hiện hoặc không biểu hiện mà thôi. Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa tới, cho nên hôm nay chúng ta chỉ có được những giây leo ký sinh (những lời nói lẻ), chỉ có tác dụng làm ủng trệ cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên rút lui.

Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa tới. Chữ tin này nên dịch là confidence, không nên dịch là faith. Đây là niềm tin nơi khả năng tự thân, nơi khả năng Phật tính của ta, nơi hạt giống giác ngộ đang có. Nếu biết tin vào điều đó thì đâu có đi tìm con đường kiến thức khái niệm. Ta sẽ không nghĩ rằng Bụt là một thực thể bên ngoài, còn ta là một con số không. Vì vậy cho nên tin nơi Phật tính của ta, nơi khả năng giác ngộ của ta, là nền tảng của thành công. Nếu thiếu đức tin đó, ta chỉ là một người ăn mày. Ta không thể nào thành công được khi còn ăn mày trí tuệ, ăn mày từ bi và ăn mày hạnh phúc. Tại vì chúng ta không có niềm tin đó, cho nên chúng ta mới đi tìm cầu như vậy. Rốt cuộc những gì chúng ta chế tác ra chỉ toàn là những giây leo ký sinh. Danh từ thiền là ‘cát đằng’, ở đây dịch là những lời nói lẻ. Trong những buổi pháp đàm, những buổi pháp thoại, chúng ta có thể đưa ra toàn những lời nói lẻ (cát đằng), không ích lợi gì cho ta, không ích lợi gì cho người khác. (Những lời nói lẻ) chỉ có tác dụng làm ủng trệ cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên rút lui. Buổi tiệc Pháp này hoàn toàn thất bại. Khi đọc đoạn này, ta có thất bại hay không? Thất bại với ai? Có thể khi đọc những đoạn này, ta đạt tới những gì mà đương sự đã không đạt tới được. Tổ đang nói với ta, ta đang ở trong Pháp hội của Tổ; Tổ đang hét, Tổ đang trợn mắt nhìn ta. Ta đã không tiếp nhận những cát đằng (giây leo), và ta có thể thành công. Ta có thể làm ăn hay hơn ông tọa chủ (dharma teacher) này. Sướng hơn nữa là ta đang được ngồi, tại vì trong Pháp hội của Tổ, mọi người đều phải đứng.

Rồi thiền sư hét lên (tiếng hét cuối cùng của buổi tham vấn) và nói: ‘Những người niềm tin bạc nhược kia ơi, bỏ ra cả ngày để chỉ nói qua nói lại như vậy cũng vô ích thôi! Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, vậy xin tạm biệt!’ ‘Tạm biệt’ được dịch từ chữ nho là trân trọng, tiếng Anh là take good care of your self.

Xin quý vị để tâm bình an theo dõi đoạn này. Chúng ta có thể theo dõi bằng mắt. Đừng sử dụng trí năng lý luận để đọc, có như vậy thì trong khi đọc chúng ta xem chúng ta có cái thấy gì không. Giống như đi vào một phòng triễn lãm tranh, chúng ta trực tiếp với những bức tranh, nếu không có người hướng dẫn và cắt nghĩa. Đừng đợi người hướng dẫn đến cắt nghĩa cho ta. Hãy trực tiếp với bức tranh, coi thử ta có thấy cái gì không, có cảm cái gì không. Hãy đọc bằng tâm trạng đó.

Có lần thiền sư đến Hà phủ. Quan Thường Thị họ Vương thỉnh thiền sư lên pháp tòa.

Lúc bấy giờ có thầy Ma Cốc bước ra hỏi :

– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính ?

Thiền sư nói :

– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính ? Nói mau, nói mau !

Ma Cốc kéo thiền sư xuống tòa rồi tự ngồi lên trên tòa. Thiền sư đến gần, nói : ‘Không hiểu’. Ma Cốc còn đang lưỡng lự thì thiền sư kéo Ma Cốc xuống, rồi tự ngồi lên. Ma Cốc đi ra khỏi pháp đường. Thiền sư cũng đi xuống.

Ai thấy gì không, giơ tay lên nói thử! Chữ ‘Không hiểu’ được dịch từ chữ ‘bất thẩm, bất thẩm’. Ở đây, chúng ta có thể hiểu như là một câu hỏi thăm: ‘Anh có mạnh giỏi hay không?’. Cho nên ta sửa chữ ‘Không hiểu’ thành ‘Thượng tọa mạnh giỏi không?’ Đây là một vở kịch. Ta là Ma Cốc hoặc là Lâm Tế, ta ở trong cuộc chứ không phải đứng ngoài để quan sát.

Từ thế kỷ thứ IX đến thế kỷ thứ XXI, không biết bao nhiêu người đã đọc đoạn này rồi. Có thể nó không có nghĩa gì hết. Có thể căn cơ ta vừa chín tới nên đọc ngang đây ta thấy một cái gì đó. Đây là một bản nhạc, nếu tôi có nói cái gì đi nữa thì cũng như tôi chơi một bản nhạc khác, chứ không phải bản nhạc của tôi là để giải thích bản nhạc này. Bản nhạc không phải dùng để giải thích. Mục đích của một bản nhạc là để đi vào lòng người chứ không phải để giải thích những bản nhạc khác. Để xem quý vị có cơ hội thứ hai không, có thấy một cái gì ở trong bản nhạc hay không. Sau này, nếu con cháu chúng ta hỏi nội dung vở kịch này muốn nói gì, thì chúng ta ít nhất cũng bắt được một bản nhạc khác lên cho họ nghe.

Có lần thiền sư đến Hà Phủ. Tức là thiền sư được mời tới trụ sở của quan phủ tỉnh. Quan phủ tỉnh Thường Thị họ Vương có sắp đặt một pháp đường trong phủ, và mời thiền sư lên pháp tòa. Cố nhiên, thầy Lâm Tế có một số thầy khác đi theo, trong đó có thầy Ma Cốc. Ma Cốc là tên của một ngọn núi, trên đó có rất nhiều cây gai (loại dệt bố). Tên của thiền sư là Bảo Triệt, Ma Cốc Bảo Triệt, là con cháu của thiền sư Mã Tổ Đạo Nhất. Ta gọi thầy với cái tên của một ngọn núi là để tránh gọi thẳng tên của thầy, nếu không thì có vẻ bất kính đối với thầy. Thầy Ma Cốc là một thầy lớn, có thể bằng tuổi thầy Lâm Tế hoặc có thể hơn. Lúc đó thầy Ma Cốc bước ra hỏi: ‘Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính?’ Đức Đại Bi đây là đức Bồ Tát Quan Thế Âm. Đức Quan Thế Âm được mô tả là có ngàn cánh tay, ngàn con mắt. Ngàn con mắt để thấy được tất cả mọi khía cạnh và thấy được xa. Ngàn cánh tay để có thể cứu độ được nhiều trường hợp trong cùng một lúc. Câu hỏi là: Trong ngàn con mắt đó, con mắt nào là con mắt chính? Trong câu hỏi có ý phân biệt: chính và phụ. Thay vì đưa ra một câu trả lời, thiền sư Lâm Tế hỏi lại câu hỏi đó để cho người hỏi có thể tự tìm ra được câu trả lời mà không cần phải một người khác. Trong này hàm ý rằng: ‘Tại sao phải hỏi tôi? Ông có Bụt trong lòng, có tuệ giác trong lòng, tại sao không tự hỏi lại đi hỏi tôi? Hỏi tôi, tôi lại sử dụng biện pháp gì đó để trình bày ra cái thấy của tôi, rồi ông kẹt vào cái thấy đó, ông kẹt vào biện pháp đó, chỉ có hại cho ông thêm. Tại sao ông không tự tìm lấy, vì ở trong ông đã có sẵn tuệ giác đó rồi.’ Chúng ta có thể nói những điều này vì nó phù hợp với những lời dạy của Tổ Lâm tế trong những phần đã học. Tức là chúng ta phải có đức tự tin là chúng ta có tuệ giác đó trong con người của ta. Tại sao chúng ta không trở về với con người của ta để tìm, để tự thấy, mà lại vận dụng những ngôn từ và khái niệm để đi tìm cầu từ một người khác? Vì vậy cho nên Tổ lấy câu hỏi của thầy Ma Cốc mà hỏi ngược lại chính thầy. Chúng ta phần lớn đều làm biếng. Chúng ta ưa hỏi thầy, ưa đi tìm hỏi một người khác. Cố nhiên chúng ta tin thầy của ta cho nên chúng ta mới hỏi. Nhưng thầy không thể trao truyền trực tiếp tuệ giác của thầy cho chúng ta được, thầy chỉ có thể dùng một mớ ngôn từ để diễn đạt, và chúng ta có thể kẹt vào mớ ngôn từ đó rồi cũng không giải quyết được gì. Người nào cũng phải qua cầu rồi mới biết. Giống như có đứa nhỏ thấy lửa đẹp quá, nó đưa tay vào rờ lửa, thì tay nó bị phỏng. Lần sau, nó không dám đưa tay vào sờ lửa nữa và nó cũng sẽ hiểu được vì sao người lớn không bao giờ sờ tay vào lửa hết, người lớn lúc nào cũng lấy một cây sắt để xử lý củi và lửa. Khi chưa có kinh nghiệm về lửa, nó có thể hỏi: Tại sao người lớn làm vậy? Và người lớn có thể cắt nghĩa. Nhưng cắt nghĩa không bằng chính nó tự kinh nghiệm lấy. Khi chúng ta tự kinh nghiệm lấy thì không cần hỏi và không cần sự giải thích nữa. Chúng ta đã đi qua cái cầu đó, đã từng khổ đau và đã thực chứng được điều đó, nhưng con em chúng ta thì chưa. Chúng ta rất muốn trao truyền kinh nghiệm của ta, nhưng chúng ta không làm được. Những bậc làm cha mẹ, những bậc làm thầy, thường thường có kinh nghiệm này. Ta thương con, ta trao truyền kinh nghiệm của ta, nhưng con ta không tiếp nhận được. Nếu có, con ta chỉ là tiếp nhận vài ý niệm mơ hồ mà thôi. Nó phải chạm vào lửa, có phỏng tay rồi, nó mới kinh nghiệm trực tiếp được những gì người lớn đã nói. Vì vậy cho nên thủ thuật dùng câu hỏi của người đó để hỏi lại người đó cho người đó tự tìm, rất là phổ thông trong nhà thiền. Nếu đọc ở trong các bộ ngữ lục, chúng ta sẽ thấy phương pháp này được sử dụng bởi rất nhiều thiền sư. Sau này nếu có người hỏi, chúng ta cũng có thể lặp lại câu hỏi đó và hỏi thẳng người đó. Người đó có thể thấy được câu trả lời, và cám ơn ta. Nếu họ tự trả lời được, cái hiểu của họ sâu hơn, thật hơn là khi họ tiếp nhận câu trả lời từ ta. Câu trả lời của người khác phải đi qua trung gian của khái niệm và ngôn từ, thành ra ta tưởng là ta tiếp nhận tuệ giác của người đó rồi, kỳ thật ta chỉ tiếp nhận được một mớ khái niệm và một mớ danh từ, ta chưa có tuệ giác thật sự. Ta đã từng làm thầy, ta rất thương đệ tử; ta đã từng làm cha mẹ, ta rất thương con; ta rất muốn nó tiếp nhận, nhưng trao bằng lời chưa đủ. Phải đợi nó vấp ngã, bị trầy da, phỏng trán, nó mới nhận ra được tình thương đó, sự trao truyền đó. Vì vậy cho nên dùng ngay câu hỏi của người đó hỏi lại người đó, để họ tự tìm ra. Biện pháp đó phù hợp với những điều Tổ vừa mới dạy trong những đoạn văn mà chúng ta đã học. Chúng ta phải có đức tin nơi khả năng hiểu và chứng đạt của ta, và đừng luôn luôn đi tìm cầu ở một người khác. Nhiều khi người đó thương ta nên khai thị cho ta, nhưng ta lại kẹt vào những kiến giải, những ngôn từ của người đó, thì cũng như không. Trong văn học Thiền, phương pháp lặp lại câu hỏi cho đương sự tự nhìn lại được sử dụng rất nhiều.

Thiền sư nói (hỏi trở lại): Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính? Nói mau, nói mau! ‘Nói mau, nói mau!’, Tức là đừng sử dụng trí năng (intellect) của ta, lý luận của ta mà hãy sử dụng trực giác hay tuệ giác của ta để thấy. Con đường suy luận không đưa tới sự thật. Nói mau, nói mau! là không cho thời gian để suy nghĩ. Tức là câu trả lời không phải là một ý niệm, một tư tưởng. Tuệ giác không phải là những tư tưởng. Nói mau, nói mau! tức là một là thấy, hai là không thấy. Cũng như khi ta nghe đàn một bài nhạc. Có người hỏi: Bài nhạc làm sao? Rồi ta ngồi suy nghĩ thì không được. Bản nhạc đó là chỉ trực tiếp, phải vậy không?

Trong giáo lý của Tổ Lâm Tế, ta thấy có chủ và khách. Người hỏi có vị trí của học nhân, tức là thiền khách. Người trả lời có vị trí của thiện tri thức, tức là thiền chủ. Người tới tham vấn là khách, người trả lời tham vấn là chủ. Khách là học trò, chủ là thầy. Một bên là học nhân, một bên là thiện tri thức. Vậy thì, thầy Ma Cốc (người hỏi) là khách. Đáng lý thiền sư Lâm Tế phải trả lời (tức là đứng trong địa vị người chủ), thì thiền sư Lâm Tế lại đi hỏi lại. Như vậy, thiền sư Lâm Tế từ địa vị chủ sang đóng vai trò của khách. Anh hỏi tôi, tức là anh đang đứng vị trí của người khách (học nhân). Bây giờ tôi hỏi lại anh câu đó, nghĩa là tôi bắt anh phải đứng ở vị trí của người chủ, còn tôi đứng vai trò của người khách. Bắt buộc anh phải làm chủ và tôi làm khách. Chính vì vậy cho nên thầy Ma Cốc nói: ‘Tại sao thầy đang làm chủ, bây giờ thầy bắt tôi làm chủ? Mà tôi làm chủ thì tôi phải lên ngồi trên tòa’. Cho nên thầy Ma Cốc liền kéo thiền sư Lâm Tế xuống và lên ngồi. Đó là ngôn ngữ của thiền: thầy bắt tôi đứng ở vị trí chủ, thì tôi phải ngồi chỗ này mới đúng. Lúc đó, đáng lý thiền sư Lâm Tế hỏi lại câu hỏi của thầy Ma Cốc: ‘Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính?’ để đóng vai trò khách, nhưng thiền sư không hỏi như vậy mà lại hỏi: ‘Thầy có khỏe không?’ Làm cho Ma Cốc ngạc nhiên! Ngạc nhiên quá đi! Thành ra, thầy Ma Cốc lưỡng lự, thầy không ngờ tình trạng xoay lại như vậy. Thiền sư không hỏi câu đó nữa mà hỏi câu hỏi khác là để đánh lạc hướng tất cả, để lật ngược lại thế cờ. Và thầy Ma Cốc đã không đóng vai trò thiện tri thức được, tại vì thầy Ma Cốc lưỡng lự. Thầy Ma Cốc không biết thầy này đang muốn nói cái gì nên không trả lời được. Thiền sư không cho thầy Ma Cốc thì giờ ngồi đó để suy nghĩ câu ‘Tại sao ông nói câu đó?’, tại vì suy nghĩ như vậy thì hóa ra là đang sử dụng trí năng (intellect). Đó là sự thất bại của thầy Ma Cốc. Vì vậy cho nên, trong khi thầy Ma Cốc còn đang lưỡng lự, thiền sư Lâm Tế đã kéo thầy Ma Cốc xuống và ngồi lên tòa lại. Tức là, anh đang ở vai trò khách, tôi nhường anh đóng vai trò chủ để tôi đóng vai trò khách mà anh làm chủ không được, vì vậy cho nên tôi lấy lại vai trò chủ của tôi. Lúc đó là một sự thất bại: thầy Ma Cốc rời khỏi, thầy Lâm Tế cũng rời khỏi.

Đó là một vở kịch, một màn kịch. Đoạn này có liên hệ tới giáo lý Tứ Tân Chủ (bốn trường hợp Khách và Chủ). Ta là khách, nhưng có thể trong một trận chiến, ta bắt buộc phải đứng vào vị trí chủ. Ta là chủ mà đôi khi ta bị dồn vào thế phải đứng vào là khách. Từ học nhân, ta có thể trở thành vị thiện tri thức. Từ vị thiện tri thức, ta phải trở về đóng vai trò của vị học nhân.

Nếu không muốn dùng câu hỏi đó để hỏi lại, ta vẫn có thể dùng phương tiện quyền xảo khác. Nếu không muốn đưa ra một câu trả lời vì sợ người ta nắm lấy câu trả lời đó, hoặc vì người ta chỉ có được kiến thức và khái niệm về câu trả lời đó, thì ta cũng có thể hỏi một câu hỏi khác. Câu trả lời cũng có thể nằm dưới dạng của một câu hỏi. Ví dụ khi nghe thầy Ma Cốc hỏi: ‘Trong ngàn mắt ngày tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính?’, thiền sư Lâm Tế có thể hỏi lại một câu hỏi khác: ‘Mắt nào mà không phải là mắt chính?’ Tại vì trong câu hỏi đó có ý phân biệt rằng trong ngàn con mắt đó, thế nào cũng có con mắt quan trọng hơn. Thành ra có sự phân biệt, có sự kỳ thị trong câu hỏi của thầy Ma Cốc. Vì vậy cho nên chúng ta có thể trả lời bằng cách hỏi lại như: ‘Mắt nào mà không phải là mắt chính?’ Hoặc là: ‘Đây là ở đâu mà nói chính với không chính?’…, những câu như thế đều có thể sử dụng được hết. Vị thiền sư có thể dùng vô số phương tiện quyền xảo để giúp người kia đập vỡ câu hỏi của họ, để họ thấy rằng con đường tìm cầu bằng khái niệm, bằng lý luận không bao giờ đưa tới giác ngộ. Khi quán chiếu, chúng ta thấy được tính tương tức của vạn pháp: cái một chứa đựng được cái tất cả, cái tất cả có thể thấy được trong cái một, lúc đó ý niệm về ta, về người, về chính, về phụ, sẽ tan biến. Đó là vấn đề quán chiếu mà không phải là vấn đề lý luận. Quán chiếu về vô thường, vô ngã và tương tức là những pháp quán chiếu căn bản. Còn thiền công án (hay thoại đầu) có thể đưa người ta đi lạc, tại vì trong đời sống hàng ngày, họ sẽ không được thắp sáng bởi sự quán chiếu về vô thường, vô ngã, nhân duyên và tương tức.

Một hôm thiền sư lên pháp đường nói :

– Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước cửa mặt của quý vị. Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem !

Lúc bấy giờ có một vị xuất gia đi lên, hỏi :

– Con người thật không có vị trí là gì ?

Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy vị ấy, bảo :

– Thầy nói đi, thầy nói đi (con người thật không có vị trí là gì ?)

Vị ấy lưỡng lự. Thiền sư bèn thả vị ấy ra rồi nói :

– Con người thật không có vị trí là cái cọng cứt khô gì ?

Nói xong liền quay về phương trượng.

Đoạn này rất nổi tiếng, tại vì có ‘cứt khô’ ở trong.

Ngày xưa vua Trần Thái Tông có tham cứu về công án này. Và vua đã làm ra một bài kệ kiến giải trong bài Phổ Khuyến Sắc Thân Khóa Hư Lục:

Vô vị chân nhân xích nhục đoàn

Hồng hồng bạch bạch mạc tương man

Thùy tri vân quyện trường không tỉnh

Thúy lộ thiên biên nhất dạng sơn.

Dịch là:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au

Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau

Ai hay mây cuốn trời quang tạnh

Hiện rõ bên trời dáng núi cao.

‘Vô vị chân nhân thịt đỏ au’, tức là con người thật không có vị trí nằm trên đống thịt đỏ au. ‘Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau’: Màu hồng và màu trắng của xương thịt có thể đánh lừa ta, có thể cho ta ý niệm ta là sắc thân này. ‘Ai hay mây cuốn trời quang tạnh’: Gió thổi cuốn hết tất cả mây, trời sáng, không có mưa. ‘Hiện rõ bên trời dáng núi cao’: Nhìn về phương Đông và phương Tây, ta thấy hiện ra dáng núi rất rõ, tại vì không còn mây che phủ nữa. Ta thấy được sự thật. Ta thấy được con người thật của ta. Đây là một bản nhạc của vua Trần Thái Tông. Nếu có một thiền sinh, một người khách hỏi về đoạn này, chúng ta có thể ngồi yên. Ngồi yên cũng là một bản nhạc. Chúng ta có thể đánh một khúc nhạc khác để giúp cho người đó có cơ hội thấy và chạm được con người thật của họ, không có nghĩa là bản nhạc đó là một lối để giải thích cho bản nhạc kia. Ta phải có bản nhạc của chính ta.

Một hôm thiền sư lên pháp đường nói. Lúc này không có ai hỏi hết, thiền sư tự nói. Tức là thiền sư đưa ra một thoại đầu, một công án, một chủ đề, một đối tượng để quán chiếu. Thể tài này gọi là ‘vô vấn tự thuyết’. ‘Vô vấn tự thuyết’ là không có ai hỏi mà ta tự nói. Trong kinh Kim Cương, thầy Tu Bồ Đề hỏi: ‘Những người con trai, những người con gái nhà lành nên dựa vào đâu mà phát khởi tâm bồ đề, mà hàng phục tâm?’ do câu hỏi này nên Bụt nói kinh Kim Cương. Có những kinh, như kinh A Di Đà, thì không có ai hỏi cả. Bụt tự gọi các thầy đến mà nói: ‘Từ đây đi về phương Tây có một cõi như vậy…’, đó gọi là ‘vô vấn tự thuyết’. Ở đây cũng vậy, đoạn này là ‘vô vấn tự thuyết’. Không có thiền sinh nào lên hỏi, Tổ tự nói thôi. Tổ nói rằng: Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí. Đó là bốn chữ ‘vô vị chân nhân’. Vị tức là địa vị, hay là vị trí. Chữvị này có người hiểu là nấc thang địa vị ở trong xã hội: giám đốc, phó giám đốc, nhân viên, thiếu tá, đại úy, hay là lính. Đây là chữ của thiền sư đặt ra mà không dùng danh từ Phật học. Cũng như Làng Mai đặt ra những chữ để sử dụng, như là Tăng Nhãn, hoặc là Làm Mới, hoặc là Soi Sáng, những chữ này không có trong tự điển Phật học. Tổ Lâm Tế cũng vậy. Tổ đặt ra những chữ mới, tại vì chữ cũ đôi khi đã bị lờn, bị bệnh, làm người ta hiểu lầm. Những chữ mới, nếu sử dụng không khéo, mai mốt cũng bị nhiễm trùng (virus), cũng đau, cũng ốm như thường, và ta lại phải tìm những phương pháp để diệt trừ những con vi-rút đó. Nếu chữa không được, ta phải đặt ra chữ mới. Chân nhân là con người thật. Hai chữ này rất quan trọng. Con người thật không có vị trí này, ta không thể đi tìm trong không gian hay trong thời gian mà được. Sắc thân này, ta có thể tìm vị trí của nó trong cái khung không gian và thời gian. Giống như chiếc thuyền trên biển gặp nạn, căn cứ vào tọa độ của chiếc thuyền đang ở độ mấy, góc mấy, người ta tìm tới và cứu giúp. Nhưng với con người thật không có vị trí này, chúng ta tìm không được ở trong không gian và thời gian. Con người thật này, nó có đó chứ không phải không có. Nhưng nếu chúng ta muốn nắm lấy con người thật này bằng những phạm trù không gian, thời gian, có và không, tới và đi, sanh và diệt, thì không được. Chữ ‘vô vị’ ở đây là không có vị trí, nghĩa là ta không nắm bắt được. Đó là chữ rất hay của Tổ Lâm Tế để thay cho chữ ‘bất khả đắc’. Bất khả đắc tức là không thể nắm bắt được, không thể ghì chặt được. Cũng như hạt điện tử của khoa học Vật Lý mới. Một hạt điện tử, chúng ta nắm không được. Chúng ta có thể nắm bắt một con thỏ, một con mèo, nhưng với hạt điện tử thì chúng ta không thể quy định được vị trí, thời gian của nó. Nó như một con ma. Vì vậy cho nên nếu dùng phương pháp bắt thỏ, bắt mèo thì không thể nào nắm được hạt điện tử. Các nhà khoa học vật lý biết rõ điều này. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta là người tu, là thiền giả, chúng ta cũng biết rõ là chúng ta không thể nắm bắt được Bụt.

Chúng ta nhớ lại câu chuyện của thầy A Nậu La Độ bị một số các du sĩ ngoại đạo hỏi: ‘Đức Thế Tôn sau khi chết là còn, hay không còn, hay vừa còn vừa không còn, hay vừa không còn vừa không không còn?’ Phải để đức Thế Tôn vào một trong bốn phạm trù đó thì họ mới có thể nắm được đức Thế Tôn. Cũng may là thầy A Nậu La Độ nói rằng: ‘Tôi chưa từng nghe đức Thế Tôn nói là có thể đi tìm đức Thế Tôn ở trong bốn phạm trù đó (còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn). Đó là những tọa độ, những vị trí mà chúng ta dùng để đi tìm đức Thế Tôn. Sau khi thầy A Nậu La Độ trở về thuật lại câu chuyện đó với đức Thế Tôn, Đức Thế Tôn hỏi thầy rằng: ‘A Nậu La Độ, thầy có thể tìm được Như Lai trong cái sắc thân này hay không?’ Thầy nói: ‘Không! Như Lai không phải là sắc thân này’. Sắc thân tức là đống thịt đỏ au như máu, như huyết, như xương, như tủy. Đống thịt đỏ au đó đâu phải là Thế Tôn. Vua Trần Thái Tông cũng nói là ‘hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau’ (hồng hồng bạch bạch mạc tương man). Phần lớn chúng ta có khuynh hướng đồng nhất ta với cái sắc thân này. Đức Thế Tôn cũng hỏi như vậy: ‘Này A Nậu La Độ, con có nghĩ rằng thầy là cái sắc thân này không?’ Thầy nói: ‘Thưa không phải, đức Thế Tôn không phải là sắc thân này. Tại vì sắc thân này có đó, nhưng mai mốt nó cũng tàn hoại. Vì vậy cho nên không thể đồng nhất hóa đức Thế Tôn với sắc thân của Ngài.’ Bụt lại hỏi: ‘Như vậy có nên đi tìm Như Lai ngoài sắc thân này hay không?’ Thầy nói: ‘Thưa không được’. Phi tức phi ly, nghĩa là không phải nó cũng không phải ngoài nó (not identical but not something different). ‘Tức’ được dịch là identical, something different là ‘ly’. Rồi đức Thế Tôn hỏi thêm: ‘Không thể tìm Như Lai nơi sắc thì tìm nơi thọ có được không?’ Và cứ như thế, Bụt lần lượt đi qua các uẩn còn lại. Thầy A Nậu La Độ thấy rõ là không thể đồng nhất hóa đức Thế Tôn với một trong năm uẩn, cũng không thể nói đức Thế Tôn tồn tại ngoài một trong năm uẩn. Rốt cuộc không tìm được đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn cười nói: ‘Như Lai đang ngồi đây mà thầy tìm còn không được. Đợi đến lúc xác thân này tan rã rồi thì làm sao tìm được.’ Vì vậy cho nên bản chất của đức Thế Tôn là không thể nắm bắt. Chúng ta không thể nào nắm bắt thực tại bằng khái niệm, bằng những phạm trù không gian và thời gian. Đó là giáo lý Bất Khả Đắc. Đó là vô vị. Ta phải hiểu chữ vô vị là không có vị trí trong không gian và thời gian. Chữ vô vị không có trong kinh, là do Tổ đặt ra, và nó trở thành hai chữ rất quan trọng. Con người thật không phải là năm uẩn cũng không phải ngoài năm uẩn. Nhưng trong đời sống hằng ngày, chúng ta u mê, cho nên chúng ta mới đồng nhất chúng ta với sắc thân này. Người ta khen sắc thân này đẹp, chúng ta nghĩ là ta đẹp; người ta chê sắc thân này không đẹp, chúng ta có mặc cảm ta không đẹp. Như vậy mà chúng ta bị lên xuống hoài. Đối với thọ, tưởng, hành và thức, chúng ta cũng đồng nhất ta với những uẩn đó. Khi buồn, chúng ta nói là ta buồn; khi vui, chúng ta nói ta vui. Chúng ta buồn hay vui, con người thật của chúng ta không phải là những cảm thọ cũng không phải là cái gì khác hơn những cảm thọ. Chúng ta có con người thật của ta, nhưng chúng ta không sống được với nó. Chính vì không nhận thức được con người thật, cho nên chúng ta cứ phải sống với những cái chúng ta tưởng là con người thật của ta, nhưng kỳ thực là không phải. Và chúng ta đã và đang để hết cả cuộc đời của ta sống trong sự u mê đó. Cho nên tu nghĩa là phải làm thế nào để thấy được con người thật của ta. Con người thật không có vị trí. Con người thật không bị những phạm trù có, không, tới, đi, sanh, diệt… điều kiện hóa. Nếu thấy được con người thật rồi, chúng ta rất khỏe. Chúng ta không còn lên xuống nữa, cho dù các uẩn của ta có lên và xuống.

Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước cửa mặt của quý vị. Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem! Tức là hãy sống cho có chánh niệm. Hãy nhận diện con người thật của ta. Khi thấy được con người thật của ta, thì ta không bị trầm luân nữa. Chúng ta có thể nói con người thật đó là Bụt, Bụt của tự thân. Nếu chúng ta nói Bụt của tự thân không phải là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, thì chúng ta sai; nhưng nói Bụt của tự thân nằm ngoài sắc, thọ, tưởng, hành, và thức, thì chúng ta cũng sai. Bởi vì nói như vậy nghĩa là Bụt tự thân có vị trí rồi. Tổ từng dạy chúng ta: Thần thông diệu dụng có ngay bây giờ, chúng ta có thể sử dụng được sáu đạo thần thông đó ngay trong giờ phút hiện tại. Thí dụ ta ngồi đây, ta biết là ta ngồi đây. Ta ngồi đây, ta biết rằng xung quanh ta là núi, và trên kia là trời xanh. Ta biết rằng, ta đang có mặt với Tăng Thân. Những cái đó là thần thông diệu dụng. Có những người sống một trăm năm, nhưng họ không bao giờ biết rằng họ đang có mặt. Vậy thì chánh niệm cho chúng ta biết rằng chúng ta đang có mặt. Và chúng ta đang có mặt trong sự liên hệ mầu nhiệm với vạn pháp. Chúng ta thấy mây ở trên trời, nhưng mây cũng ở trong mạch máu chúng ta. Chúng ta thấy ánh sáng ở ngoài nhưng chúng ta biết ánh sáng cũng đang ở trong ta. Đó là diệu dụng. Chúng ta biết là ta ngồi đây và tất cả các tổ tiên và con cháu của ta cũng đang ngồi đây. Cái thấy sâu sắc đó là diệu dụng. Có cái diệu dụng tức là có con người thật. Nhưng chúng ta không sống được với con người thật đó, với cái diệu dụng đó, vì chúng ta đã quen chạy theo những cái không phải là con người thật của ta lâu lắm rồi. Con người thật không phải là con người muốn làm gì thì làm: muốn ngủ trưa thì ngủ trưa, muốn chơi cờ tướng thì đánh cờ tướng, muốn trốn thiền thì không ngồi thiền. Những chuyện đó không phải là con người thật. Con người thật là con người mầu nhiệm, tức là sự sống mầu nhiệm phát hiện nơi ta. Năm uẩn của chúng ta có thể đóng vai trò giúp cho sự biểu hiện đó. Nhưng sự tan rã của năm uẩn không động tới được con người mầu nhiệm, tại vì bản chất của con người mầu nhiệm là vô sinh bất diệt. Là người tu, thành tựu lớn nhất là nhận cho ra con người mầu nhiệm đó. Nếu không làm được chuyện đó thì uổng một đời tu. Trong khi ngồi, trong khi đứng, trong khi đi, Tổ mỉm cười nhận diện được con người thật của Tổ, và Tổ muốn tất cả những đệ tử của Tổ cũng làm được như vậy. Thành ra Tổ nói: ‘Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước cửa mặt của quý vị.’ Rất rõ ràng! Vậy mà chúng ta không thấy, vậy mà chúng ta vẫn không tiếp xúc được. Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem! Tại vì suốt ngày chúng ta quen chạy đi tìm những cái mà chúng ta cho là hạnh phúc. Chúng ta không thấy được cái diệu dụng thần thông đó đang tỏa chiếu mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày. Cái diệu dụng thần thông đó, nhiều khi ta tiếp xúc được. Ta biết rằng, cái diệu dụng thần thông có đó thì con người thật của ta có đó. Đó là lời mời mọc thắm thiết: ‘Này các con, các con đừng để cho ngày tháng trôi qua trong cuộc đi tìm những tiện nghi tầm thường, những lời khen ngợi không quan trọng. Các con phải làm thế nào để tiếp xúc được với tinh hoa của sự sống đang biểu hiện trong giây phút hiện tại. Nếu không có chánh niệm, không có tỉnh thức thì các con sẽ không tiếp xúc được, sẽ không thấy được, như vậy rất là uổng phí một đời người. Nếu các con chưa thấy được thì nhìn lại đi!’. Đó là một lời mời (invitation).

Có một thầy muốn đi tìm bằng trí năng, bước lên hỏi: ‘Con người thật không có vị trí là gì?’ Người này không có thói quen quán chiếu, vẫn có ý muốn Tổ nói cho ta biết con người thật là cái gì. Tức là cần thêm một cái định nghĩa nữa. ‘Tổ nói thêm đi, con người thật không có vị trí đó là cái gì? Tổ nói đi để cho con có thêm một mớ kiến thức, con có thể ghi chép lại rồi con nói lại với người khác’. Tổ đã mời như vậy thì ta nên ngồi quán chiếu, nhưng ta vẫn muốn đi tìm bằng trí năng. Khi nghe thầy này hỏi câu đó thì chúng ta đã thấy ‘hỡi ôi!’ rồi. ‘Chắc là thầy này muốn kiếm thêm những định nghĩa, những tư liệu, để ông viết luận án về con người thật không có vị trí cho văn bằng tiến sĩ.’ Thiền sư Lâm Tế thấy tội nghiệp quá. Cho nên phương pháp của thiền sư giúp thầy đó là bước xuống pháp tòa, đi tới nắm lấy thầy đó (tức là không có cho đường thoát nữa) và hỏi: ‘Thầy nói đi, thầy nói đi (con người thật không có vị trí là gì?)’. Thầy nói đi. Tại sao phải hỏi tôi? Tức là thiền sư Lâm Tế cho vị đó thêm một cơ hội. Quý vị có thấy không? Thiền có một ngôn ngữ, một phương pháp mà chúng ta có thể nhận diện được. Thiền không phải là sự suy tư. Thiền phải là một cái thấy trực tiếp không đi qua trung gian của suy luận và kiến thức thu lượm được trong khi học hỏi. Tổ không cho phép suy tư: thấy là thấy, không thấy là không thấy, chứ không phải nhờ suy tư mà thấy được. Vị ấy lưỡng lự. Lưỡng lự tức là không thấy. Đưa cho một cái sào, nắm lấy không được. Đưa cho cái sào thứ hai, nắm lấy cũng không được nữa. Đó là hai cái sào. Thiền sư bèn thả vị ấy ra, trong niềm thất vọng rất lớn thiền sư nói: ‘Con người thật không có vị trí là cái cọng cứt khô gì?’ Trong câu này có giọng hơi bực. Ngày xưa không có giấy đi vệ sinh, thành ra họ dùng cái que gỗ để chùi cho sạch sau khi đi cầu. Chùi xong, rửa cái que sạch lại để dùng cho lần khác. Nó rất là ‘sinh thái’, không phải phá rừng lấy cây làm giấy. Nhưng cọng cứt khô cũng có thể hiểu là ngày xưa không có nhà cầu nên đi cầu ở ngoài trời, đến khi trời nắng, phân khô lại thành cái cọng vậy thôi. Vậy ta có thể hiểu hai cách: cọng cứt khô, tức là cái que gỗ dùng thay giấy đi cầu, hoặc nó là cọng phân để nhiều ngày dưới nắng. Điều đó chứng tỏ sự thất vọng của vị thầy đến dường nào và cũng để cho người kia đừng bị kẹt thêm nữa. Nó còn có một điểm hay nữa là hình ảnh cọng cứt khô rất trái ngược với hình ảnh con người thật không có vị trí rất tinh khiết, rất cao cả. Khi đưa ra con người thật không có vị trí, người ta dễ bị kẹt vào cái gì thật là tinh khiết, thật là cao cả, tách rời ra những cái gì gọi là tầm thường. Thành ra hình ảnh cọng cứt khô là để trung hòa hóa. Nhưng đó chỉ là ý phụ. Ý chính là không thể đi tìm con người thật bằng kiến thức và khái niệm. Nếu chúng ta vẫn giữ lấy kiến thức và khái niệm của ta về con người thật, thì cái kiến thức và khái niệm đó chỉ có giá trị ngang bằng cọng cứt khô mà thôi.

Thiền sư vừa lên pháp đường thì có một vị xuất gia ra lạy. Sư hét. Vị xuất gia nói :

– Xin lão hòa thượng đừng thử con.

Thiền sư hỏi:

– Thầy nói tôi nghe đi, cái (tiếng hét) ấy đã rơi vào đâu?

Vị xuất gia liền hét.

Trong nguyên văn là một vị tăng ra lạy, nhưng nếu nói là một vị tăng thì không hay lắm thay vì để là một vị xuất gia. Tại vì chữ ‘tăng’ có nghĩa là đoàn thể, là sangha. ‘Một vị tăng’ thì nghe hơi kỳ, thành ra chúng ta phải học dùng chữ lại cho đàng hoàng. Cố nhiên là khi thiền sư lên pháp tòa thì có một vị xuất gia ra lạy thôi, chứ chưa hỏi gì hết. Chúng ta không biết được trong tâm vị xuất gia đó có câu hỏi hay không có câu hỏi, hay có mục đích gì khác, mà có thể vị thiền sư cũng không biết luôn, nhưng chắc chắn là có một động cơ nào đó thúc đẩy vị xuất gia này đi ra lạy. Sư hét. Tiếng hét này là để đối phó với cái động cơ đang có ở trong tâm vị xuất gia đó. Động cơ đó có thể là một câu hỏi, hay một ý định đôi khi muốn lên để được người ta thấy như vậy thôi. Có nhiều thiền sinh ở Làng cũng vậy, họ không có câu hỏi gì đặc biệt, nhưng thấy có cái ghế ngồi để gần thầy thì cũng muốn lên ngồi chơi vậy thôi. Thành ra có một động cơ gì đó trong tâm vị xuất gia, và thiền sư hét là hét cái đó. Chúng ta là những người đứng ngoài cuộc, chúng ta không biết vị xuất gia đó nghĩ gì, có ý định gì, nhưng chúng ta biết rõ là phải có cái gì đó cho nên vị xuất gia đó mới đi ra lạy. Tổ đã làm gì? Đó là tiếng hét để giúp cho đương sự nhìn lại cái động cơ (motivation) đã thúc đẩy ta, hay là câu hỏi của ta. Vị xuất gia thấy ngỡ ngàng. Chưa nói gì, ta chỉ mới lạy thôi mà đã bị hét. Vị xuất gia nói: Xin lão hòa thượng đừng thử con. Ta chưa đủ sức để đối phó với một mãnh lực tâm linh rất lớn, như đem vàng thử lửa. Thiền sư hỏi: Thầy nói tôi nghe đi, cái (tiếng hét) ấy đã rơi vào đâu? Tiếng hét của thiền sư rơi vào đâu? Nó có công năng gì hay không? Nó rơi vào trong phạm trù nào: đoạt nhân hay đoạt cảnh, hay là vừa đoạt nhân vừa đoạt cảnh? Bây giờ vị xuất gia hét trở lại. Vị xuất gia hét trở lại là vị xuất gia từ địa vị khách (học nhân) lên đóng vai trò chủ (thiện tri thức), và đối phó với câu hỏi kia của thiền sư. Chúng ta chỉ nên đọc như vậy thôi. Nếu chúng ta nhảy vào vòng chiến để trở thành đương sự thì trong tâm chúng ta có thể sáng ra và chúng ta thấy được một cái gì đó, còn nếu như không thấy gì hết thì chúng ta sẽ ‘ghi nhận và cho thông qua’.

Có một vị thầy khác lên hỏi :

– Đại ý của Phật pháp là gì ?

Thiền sư hét. Thầy ấy lạy. Thiền sư hỏi :

– Khuyết điểm là ở chỗ nào ?

Thầy ấy nói :

– Nếu tái phạm sẽ không tha thứ lần nữa.

Thiền sư liền hét.

Có một vị thầy khác lên hỏi: Đại ý của Phật pháp là gì?

Có hai câu hỏi người ta thường hay hỏi, đó là ‘Đại ý của Phật pháp là gì?’ và ‘Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua đây có mục đích gì?’ (Tổ sư Tây lai ý). Trong các giới thiền gia có nhiều người nói như sau: ‘Mục đích của họ không phải đi tìm một câu trả lời, cũng không phải để tìm một sự thật khách quan. Mục đích của họ là để có một cơ hội được thầy nhìn thấy tâm của họ và làm cho cái tâm đó được sáng tỏ và bình an. Vì vậy cho nên điểm quan trọng ở đây không phải là câu hỏi mà là cơ hội được tiếp xúc với thầy và được thầy soi sáng cho tâm được an để thấy rõ con đường.’ Ở Làng Mai, chúng ta đã đề nghị một câu trả lời cho những câu hỏi đó là: mind your own business. Nếu có đệ tử tới hỏi: Bạch thiền sư, chủ đích của Tổ Sư Bồ Đề Đạt Ma qua bên Tàu là cái gì? Thì ta nói: Tại sao con không lo thở đi, không lo đi thiền hành đi, không lo tu tập đi, mà hỏi câu đó làm gì? Vì vậy cho nên ta có thể trả lời bằng câu ‘mind your own business’. Tức là lo phần ta đi, hỏi vớ vẩn làm gì. Đó là một trong những câu trả lời. Nó tiết kiệm cho chúng ta không biết bao nhiêu là thì giờ.

Có một vị thầy khác lên hỏi: Đại ý của Phật pháp là gì? Thiền sư hét. Tiếng hét này có thể có nghĩa là hỏi câu đó làm gì, có ích lợi gì cho thầy đâu mà thầy hỏi; tiếng hét đó có thể làm cho người kia thấy rằng giờ phút được tiếp xúc với thầy rất quý báu, đừng để thì giờ hỏi những câu hỏi có tính cách kiến thức khái niệm, rất uổng; tiếng hét đó có thể có dụng ý là: Tại sao không chịu đi con đường kinh nghiệm trực tiếp mà lại đi qua trung gian của suy luận, của tìm tòi như vậy để làm cái gì? Tiếng hét đó có thể có nhiều nghĩa. Thì thầy ấy lạy. Lạy xuống, như là đã hiểu được tiếng hét đó. Thiền sư thấy không có bảo đảm lắm. Thiền sư hỏi: Khuyết điểm là ở chỗ nào? Tức là thầy có lỗi gì mà bị hét, thầy nói thử ra coi. Thầy ấy nói: Nếu tái phạm sẽ không tha thứ lần nữa. Tức là lần sau con sẽ không làm như vậy nữa, hoặc con sẽ không hỏi những câu vớ vẩn như vậy nữa, hoặc con sẽ không có quen thói đi tìm kiếm bằng trí năng, bằng kiến thức khái niệm nữa. Khi thầy ấy trả lời như vậy, thiền sư liền hét một lần nữa. Chúng ta hãy coi như ta đang xem một vở kịch giữa hai người và chúng ta không biết hẳn cái gì đã xảy ra trong tâm của người này hay trong tâm của người kia, người thiện tri thức và người học nhân (chủ và khách). Nhưng trong trường hợp ta đang có một tâm ý gì tương tự, nếu tâm của ta là tâm của thầy (thiện tri thức) hoặc là tâm của học trò (học nhân), thì khi đọc ngang đây chúng ta có thể thấy được một cái gì đó, hoặc không thấy cái gì hết.

Hôm ấy hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa thấy nhau thì đồng thời cùng hét. Có một thầy hỏi thiền sư:

– Trong trường hợp này có chủ có khách đàng hoàng không ?

Thiền sư nói:

– Chủ khách rõ ràng đó.

Và thiền sư nói:

– Đại chúng, nếu quý vị muốn biết về nguyên tắc tứ tân chủ thì hãy tới hỏi hai vị thủ tọa hai thiền đường.

Nói xong thiền sư bước xuống.

Hôm ấy hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa thấy nhau thì đồng thời cùng hét. Vị thủ tọa của Đông Đường và vị thủ tọa của Tây Đường, hai vị đi ra vừa gặp nhau đồng thời cùng hét. Thì có một thầy hỏi thiền sư Lâm Tế: Trong trường hợp này có chủ có khách đàng hoàng không? Người hét trước có thể là chủ hoặc là khách, và người hét sau cũng có thể là chủ hoặc là khách. Nhưng ở đây, cả hai người cùng hét một lần thì làm sao phân biệt được ai là chủ, ai là khách, tại vì phương pháp giáo hóa của thiền sư Lâm Tế là phân chủ khách đàng hoàng. Những câu đối thoại chúng ta nghe, chúng ta phải biết bên nào là chủ, bên nào là khách. Chủ là thầy, khách là trò; chủ là thiện tri thức, khách là người đến tham vấn. Có trường hợp chủ trở thành khách, khách đóng vai trò của chủ, và nó đã từng xảy ra trong Thiền tông.

Đông Đường thường thường là chỗ cho thiền sinh thường trú, còn Tây Đường là chỗ vừa có thường trú vừa có thiền sinh khách. Hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa gặp nhau là đồng thời cùng hét. Có một thầy hỏi thiền sư trong trường hợp này có chủ, có khách đàng hoàng không. Thiền sư nói: Chủ khách rõ ràng đó. Tức là trong trường hợp này vẫn có chủ, vẫn có khách. Rồi thiền sư nói: Đại chúng, nếu quý vị muốn biết về nguyên tắc tứ tân chủ thì hãy tới hỏi hai vị thủ tọa hai thiền đường. Nguyên tắc tứ tân chủ tức là nguyên tắc của bốn trường hợp chủ và khách. Đó là phương pháp tiếp xử; đó là phương pháp độ đời; đó là phương pháp học hỏi trong truyền thống Lâm Tế; đó là phương pháp của Tổ Lâm Tế. Tổ nói, muốn biết bốn trường hợp tứ tân chủ thì tới hỏi hai vị thủ tọa, tại vì họ là những đương sự, họ có những kinh nghiệm trực tiếp. Trong giây phút đó, có thể người nào cũng là chủ hoặc người nào cũng là khách, hoặc trong giây phút đó người nào cũng vừa là chủ vừa là khách.

Thiền sư lên pháp đường, có một vị xuất gia hỏi:

– Đại ý Phật pháp là gì ?

Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có một vị xuất gia khác lên hỏi :

– Đại ý Phật pháp là gì ?

Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự, liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo :

– Này đại chúng, người vì pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm về trước hồi còn ở với tiên sư Hoàng Bích, ba lần tới hỏi về đại ý Phật pháp ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngải cứu (armoise) vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy ?

Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong chúng đi lên, nói :

– Con đây có thể làm được việc ấy.

Thiền sư cầm gậy đưa cho vị kia. Vị kia ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.

Thiền sư lên pháp đường, có một vị xuất gia hỏi: Đại ý Phật pháp là gì? Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Đưa phất trần lên cũng là một cách trả lời, và câu trả lời đó được đáp ứng lại bằng tiếng hét của vị thiền giả. Lại có một vị xuất gia khác lên hỏi: Đại ý Phật pháp là gì? Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Cùng một câu hỏi mà có hai cách trả lời: Trước, thiền sư đưa phất trần lên, thiền sinh hét và bị đánh; Sau, thiền sư cũng đưa phất trần lên, thiền sinh hét nhưng thiền sư không đánh mà lại hét. Chúng ta tưởng làm thế này thì thiền sư trả lời như thế này và làm thế kia thì thiền sư trả lời như thế kia. Kỳ thực, phương pháp đối trị không thể nào dò được, nó không phải là một cái máy: làm thế này thì cách trả lời là như thế này, làm thế kia thì cách trả lời sẽ như thế kia… Đôi khi đối với người khác làm như vậy thì phản ứng như thế này, đến khi ta cũng làm như vậy thì phản ứng có thể ngược lại. Đó gọi là ứng cơ, là tùy vào từng trường hợp và căn cơ của người hỏi.

Vị ấy do dự, liền bị thiền sư đánh. Có do dự, tức là người đó có hoang mang, không nắm được ý chỉ và không có cái thấy nào hết. Ví dụ như ta đang chết đuối, có người đưa cho cây sào nhưng ta nắm trật – đó là do dự – nếu nắm được, người trên bờ sẽ kéo lên bờ và ta khỏi chết đuối. Cũng vậy, khi thiền sư hét một tiếng hay nói một câu, cũng như là đưa cho thiền sinh nắm cây sào: một là nắm được, hai là không nắm được. Khi có sự do dự tức là chưa nắm đuợc. Tại vì cái hiểu ở trong thiền không đi qua trung gian suy luận mà là cái biết trực tiếp (trực giác), chứ không phải chờ suy nghĩ một hồi rồi có thể hiểu đuợc. Cái thấy, cái biết ở đây là trực giác và tuệ giác mà không phải là mớ kiến thức khái niệm do tư duy mà ra. Tuệ giác không thể do suy nghĩ mà có thể đạt đuợc. Tuệ giác đến tự nhiên và trực tiếp bằng trực giác.

Thiền sư mới bảo: Này đại chúng, người vì pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Những người thật sự khao khát chân lý, những người đó không sợ chết, không sợ nặng nhọc, không sợ khổ đau, không sợ khó khăn. Người vì pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm về trước hồi còn ở với tiên sư Hoàng Bích, ba lần tới hỏi về đại ý Phật pháp ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngãi cứu (armoise) vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy? Nói như vậy thôi, lúc bị đánh Tổ cũng rất là hoang mang. Khi thầy Lâm Tế còn trẻ, có hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật Pháp. Lần đó, thầy thủ tọa ‘xúi’ thầy Lâm Tế: ‘Sư chú ở đây lâu rồi mà chưa được trực diện thầy, sư chú viện cớ lên hỏi đi.’ Thế là thầy Lâm Tế lên hỏi tổ Hoàng Bích về đại ý Phật Pháp. Hỏi một lần bị đánh, hỏi lần thứ hai cũng bị đánh, hỏi lần thứ ba cũng bị đánh, thầy chán nản xin đi. Thấy vậy, thầy thủ tọa lên bạch với tổ Hoàng Bích: ‘Sư chú đó thông minh, rất có lòng, có thể là một pháp khí trong tương lai. Lát nữa sư chú lên chào Thầy xin đi, xin Thầy nói cho một vài câu.’ Khi thầy Lâm Tế lên chào từ giã, tổ Hoàng Bích hỏi: ‘Đi đâu?’ Thầy nói: ‘Con chưa biết.’ Tổ Hoàng Bích dạy: ‘Thôi đi tới chỗ của thầy Đại Ngu đi.’ Và thầy Lâm Tế đã đến chỗ của thầy Đại Ngu. Khi bị đánh, Tổ không có hạnh phúc cho nên Tổ đã xin đi. Nhưng khi nói với đại chúng, Tổ nói tựa như được đánh là hạnh phúc lắm.

Tới thầy Đại Ngu, thầy Đại Ngu hỏi: Ở đâu tới vậy?

– Con ở đạo tràng của Thiền Sư Hoàng Bích.

– Tại sao bỏ nơi đó mà tới đây?

– Con ở đó mấy năm rồi mà không có cơ hội để tham vấn, cho nên con đã đánh liều lên tham vấn thầy con. Vừa hỏi xong là bị đánh. Hỏi ba lần, ba lần bị đánh, con chán nản và thất vọng quá nên xin đi. Thầy con dạy con tới đây.

Thầy Đại Ngu nói:

– Con thiệt là dại, lòng từ bi của thầy Hoàng Bích lớn như vậy mà không thấy được, dại quá đi!

Nhờ câu nói này, thầy Lâm Tế hiểu được. Và thầy Lâm Tế đã dám nói ra một câu rất gan: A! Hiểu rồi, thì ra Phật Pháp của thầy Hoàng Bích cũng không có gì ghê gớm lắm.

Thầy Đại Ngu nói: ‘Anh chàng này vừa than phiền là không hiểu, là khổ đau, là thất vọng, rồi bây giờ dám nói như vậy.’ Nghe như vậy, thầy Lâm Tế đánh thầy Đại Ngu ba cái. Tại sao phải đánh người đã khai ngộ cho ta thấy được cương lĩnh yếu chỉ và lòng từ bi của thầy ta? Nội dung của ba cái đánh này có thể ta chưa hiểu được, nhưng nhờ câu nói sau đây của thầy Đại Ngu, chúng ta mới biết được ba cái đánh này là ba cái đánh thương, tựa như công nhận thầy Đại Ngu là thầy, người đã khai mở tâm trí cho thầy Lâm Tế để có thể hòa nhập vào trong dòng mạng mạch của Phật Pháp. Sau khi thầy Đại Ngu nhận ba cái đánh đó, thầy nói:

– Ta không dính líu gì tới chuyện này, con là đệ tử của thầy Hoàng Bích chứ không phải đệ tử của ta.

Thầy Lâm Tế quay về chốn cũ. Thầy Hoàng Bích hỏi: ‘Ở đâu về đó?’

– Con từ Thầy Đại Ngu về.

– Thầy Đại Ngu nói gì?

Thầy Lâm Tế kể lại và nói: ‘Nhờ thầy Đại Ngu khai mở như vậy, cho nên con mới thấy rõ được tình thương của Thầy lớn như thế nào, mới thấy được ý chỉ Thiền Tông qua lời Thầy.’ Tổ Hoàng Bích nói: ‘Ừ, anh chàng đó chừng nào gặp ta sẽ biết tay.’ Lúc đó thầy Lâm Tế nói: ‘Đâu cần phải chờ, gặp liền bây giờ đây nè’, rồi đánh thầy mình ba cái. Đây là ba cái đánh tỏ tình. Lúc này thầy Lâm Tế đã thấy được ba cái đánh của thầy mình là tình thương mà không phải là ghét bỏ. Trước đó, ba cái đánh làm cho thầy bơ vơ, thầy bối rối, thầy muốn bỏ chùa đi, vì thầy tưởng đó là ghét bỏ, là không thương, nhưng sau khi bỏ đi năm lần, bảy lượt thì khám phá ra đó là thương yêu. Qua đoạn này, chúng ta thấy rõ là khi giận tưởng đó là roi là vọt, nhưng giác ngộ rồi mới biết đó là ngọt là bùi. Do đó, thiền sư Lâm Tế nói với đại chúng là tổ Hoàng Bích đánh ta ba cái đó như là lấy một cành ngải cú rờ vào đầu, rất là nhẹ nhàng. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy? Tức là có ai lên đánh tôi được ba cái như là thầy tôi đã đánh không. Có một thầy dại dột nói lên: Con đây có thể làm được việc ấy. Và vị kia đi lên. Thiền sư cầm gậy đưa cho vị kia. Vị kia ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Ngần ngại khi lấy gậy là chứng tỏ có sự do dự, không có khả năng làm thầy, không có khả năng đánh thiền sư ba cái. Thế là, thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.

Đây là lần đầu tiên chúng ta nghe giải thích ba cái đánh đó là một cách tỏ tình (love declaration), vì chưa có vị nào chú giải Lâm Tế Lục như vậy cả. Nhìn quanh, chúng ta thấy số người học giáo lý đạo Bụt rất nhiều, người xuất gia cũng như người tại gia, nhưng họ học giáo lý chỉ để trở thành những nhà Phật học. Học nhiều như vậy đó, nhưng tánh tình của họ vẫn không thay đổi và những khổ đau của họ vẫn còn y nguyên. Tại vì họ không áp dụng được, không tiêu hóa được. Chúng ta hãy tưởng tượng con tằm ăn lá dâu mà không tiêu hóa được thì nó làm sao có thể làm ra những sợi tơ lụa óng ánh. Hầu hết chúng ta đều học Phật theo kiểu đó, cho dù chúng ta đang học Phật học cơ bản hay Phật học cao cấp. Nhét vào rất nhiều những kiến thức khái niệm, nhưng không tiêu hóa được, không giúp ích gì cho ta và không giúp ích gì cho người, trái lại ta dễ trở thành cao ngạo, dễ mắc chứng bệnh bế tắc. Trong bài kệ của ni sư Như Minh có nói về chuyện bế tắc, không tiêu (indigestion), và nhờ mận Làng Mai mới tiêu hóa được những thứ đã thâu lượm, đã tích tụ và làm độc trong người trong bao nhiêu năm qua. Bây giờ nhìn vào các cộng đồng Phật Giáo (ở Việt Nam, ở Pháp cũng như ở Mỹ), chúng ta thấy cái chuyện học Phật cũng còn y nguyên như vậy. Vì vậy cho nên thiền là một cách phản ứng lại với tư trào học Phật như vậy. Theo thiền, tuệ giác không cần phải đi ngang qua sự học hỏi giáo lý, và tuệ giác là sự nối tiếp giữa thầy và trò mà không cần phải đi ngang qua chữ nghĩa. Trong nhà thiền có câu giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự. Bất lập văn tự là không căn cứ trên chữ nghĩa. Câu này có nghĩa là thiền được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác mà không hề dính tới giáo lý. ‘Giáo ngoại biệt truyền bất lập văn tự’ là một phản ứng rất mạnh đối với những người học Phật không tiêu hóa được. Họ học chỉ để nói, để tích trữ, cho nên càng học tính kiêu mạn của họ càng lớn. Họ không chuyển hóa được bản thân, không giúp được người. Thành ra phản ứng đó rất tự nhiên.

Rất nhiều người tin rằng sự đạt đạo không phải là do chất chứa kiến thức, cho nên có một số người đã đi tới thái độ cực đoan là nhất định không đọc một câu kinh, không sờ tới một cuốn kinh, và nghĩ rằng sự chứng ngộ chỉ tới được bằng con đường tâm ấn. Tâm ấn tức là một sự trao truyền trực tiếp từ trái tim của thầy tới trái tim của người đệ tử mà không cần phải chữ nghĩa, không cần phải văn tự. Từ thái độ quá khích đó lại tạo ra một phản ứng khác, thành ra có hai phong trào đi song song với nhau: Thiền tông và Giáo tông. Thiền tông và Giáo tông là hai tông phái đối lập nhau: một bên căn cứ vào sự học hỏi giáo lý để có thể tu tập được, một bên cho sự học hỏi giáo lý là một chướng ngại. Ngay trong thời đại của tổ Lâm Tế đã có những bậc thầy, như thầy Tông Mật, đã nói thiền và giáo có thể đi đôi với nhau một cách tuyệt hảo. Nếu chúng ta học giáo lý với tâm không vướng mắc vào chữ nghĩa, vào khái niệm, thì giáo lý vẫn đi đôi tuyệt hảo với thiền. Đó là một sự thật. Bụt có nói: ‘Giáo lý của ta như là ngón tay để chỉ mặt trăng, đừng lầm ngón tay là mặt trăng.’ Nếu học giáo lý trong tinh thần đó, chúng ta có thể thấy được tuệ giác trong mỗi lời kinh. Hơn nữa, trong tam tạng kinh điển, nền văn học của Thiền rất lớn, những tác phẩm nói về thiền cũng như những ngữ lục rất nhiều. Sau này, Thiền tông cũng đã sử dụng những kinh điển Đại thừa như là kinh Kim Cương, kinh Bát Nhã và nhất là kinh Hoa Nghiêm, vì vậy mới có phong trào Thiền Giáo Nhất Trí (The Oneness of zen and teaching), tức là Thiền và Giáo đi đôi với nhau.

Trong Lâm Tế Lục, chúng ta thấy khuynh hướng ‘ruồng bỏ văn tự, chê trách sự học hỏi’ rất là rõ ràng. Pháp môn tu học cũng như những buổi đối đáp giữa thầy và trò biểu lộ rõ rệt cái ý thức là nếu kẹt vào văn chương, ngôn ngữ, giáo lý, thì người đó không thể có cơ hội nắm được chân lý, đạt tới tuệ giác. Với ý thức đó, chúng ta sẽ có cơ hội hiểu được Lâm Tế Lục nhiều hơn, hoặc những bộ Lục khác của Thiền tông. Con đường của chúng ta là con đường Thiền Giáo Nhất Trí. Chúng ta phải biết sử dụng giáo lý một cách thông minh để đừng bị lâm vào tình trạng khó tiêu và làm độc trong cơ thể của ta.

Thiền sư lên pháp đường, và khai thị :

– Một người đứng trên chót vót đỉnh cô phong không có đường ra, còn một người đứng giữa ngã tư không tiến thối được. Giữa hai kẻ ấy, ai tới trước, ai tới sau? Đừng giả bộ làm Duy Ma Cật cũng đừng đóng vai Phó đại sĩ. Xin chào quý vị.

Thiền Sư lên pháp đường, và khai thị. Pháp đường là nơi nói Pháp. Khai thị tức là giảng. Bài giảng này chỉ có một câu thôi, tiếp đó là một câu hỏi. Một người đứng trên chót vót đỉnh cô phong không có đường ra, còn một người đứng giữa ngã tư không tiến thối được. Giữa hai kẻ ấy, ai tới trước, ai tới sau? Đừng giả bộ làm Duy Ma Cật cũng đừng đóng vai Phó đại sĩ. Xin chào quý vị.

Một người đứng trên chót vót đỉnh cô phong không có đường ra. Đỉnh cô phong là một đỉnh núi đơn độc, chỉ có một ngọn núi nên không thể nhảy sang ngọn núi khác được. Đó là trường hợp của một người. Không biết làm ăn ra sao mà người đó tự nhiên thấy mình đang đứng trên một đỉnh núi đơn độc, nguy hiểm, không nẻo tiến thối. Còn một người đứng giữa ngã tư không tiến thối được. Một người khác cũng lâm vào tình trạng như vậy, đứng giữa ngã tư không biết đi về hướng nào, hoàn toàn bối rối. Câu hỏi: Giữa hai kẻ ấy, ai tới trước, ai tới sau? So sánh người nào tới trước và người nào tới sau. Nói xong, thầy Lâm Tế bước xuống pháp tọa và đi về phòng riêng để đại chúng muốn nghĩ sao thì nghĩ.

Trong đại chúng đây, có ai có cảm giác là ta đang ở trong tình trạng đó hay không? Tình trạng tiến thối lưỡng nan. Đó là một trong những bài hát của Trịnh Công Sơn, tiến thối lưỡng nan sau một trận bịnh rất nặng. Có thể ta đang ở trong trạng thái đó. Ta chịu trận, ta chịu chết, ta không có nẻo thoát. Đừng giả bộ làm Duy Ma Cật. Ông Duy Ma Cật rất có biện tài. Mà cũng đừng đóng vai Phó đại sĩ. Phó đại sĩ cũng là một vị cư sĩ rất nổi tiếng, một Duy Ma Cật của Trung Quốc sống vào cuối thế kỷ thứ năm, đầu thế kỷ thứ sáu. Đứng ở trong tình trạng đó, hoàn cảnh đó, tình huống đó, ta không cựa quậy được, ta chết cứng, ta không có nẻo ra. Vậy mà ta cứ khoác lác rằng ta thấy được con đường, ta đang giải thoát, ta đang đứng cao hơn tất cả mọi người. Kỳ thật, ta đang ở trong cái thế hoàn toàn bí.

Thiền sư lên pháp đường, nói :

– Có một người đang mãi mãi ở ngoài đường mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa, có một người đã lìa nhà cửa, nhưng mà không đang ở ngoài đường. Trong hai người ấy, ai là kẻ đáng được thiên và nhân cúng dường ?

Nói xong liền bước xuống.

Thiền Sư lên pháp đường, nói: Có một người đang mãi mãi ở ngoài đường mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa. Ở ngoài đường nhưng chưa rời khỏi nhà bao giờ. Còn có một người đã lìa nhà cửa, nhưng mà không đang ở ngoài đường. Ngộ chưa? Lìa nhà thì phải ở ngoài đường chứ? Ở đây nói lìa nhà rồi mà không phải ở ngoài đường, tôi biết ở đâu? Còn người đang ở ngoài đường mà thiệt chưa từng rời nhà. Trong hai người ấy, ai là kẻ đáng được thiên và nhân cúng dường? Trong hai người đó, người nào đáng được chư thiên và loài người cúng đường? Nói xong thiền sư bước xuống và đi về phương trượng. Phương trượng là chỗ ở của vị trụ trì hay vị tọa chủ.

Đoạn này chắc chắn nói về chuyện xuất gia. Đi ra ngoài đường tức là bỏ nhà, bỏ đời sống gia đình, bỏ đời sống hệ lụy để trở thành một người tự do, một người giải thoát. Xuất gia, tiếng Anh dịch là going forth nghĩa là lên đường. Đứng về phương diện hình thức, người xuất gia đang ở trên đường; đứng về phương diện nội dung, người đó chưa rời khỏi nhà, tức là người đó chưa xuất gia thiệt. Mang tiếng là người xuất gia, đầu cạo trọc, mặc áo nâu, nhưng kỳ thật không phải người xuất gia. Một người đang mãi mãi ở ngoài đường mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa. Tức là tự nhận ta là người xuất gia, mang hình thức của người xuất gia mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa vì vẫn còn đi tìm những tiện nghi vật chất, những tiện nghi tình cảm. Và có một người đã lìa nhà cửa, nhưng mà không đang ở ngoài đường. Có một người đang sống đời cư sĩ, không mang hình thức xuất gia, nhưng người đó đã xuất gia rồi, vì trong tâm người đó vắng lặng, đã buông bỏ tất cả và không còn ý niệm đi tìm cầu nữa. Trong hai người đó, người nào đáng được chư thiên và loài người cúng dường?

Bài giảng này có một câu thôi, nhưng các thầy và các sư cô đã thấy thấm lắm, phải không? Đâu cần nói nhiều, nói một câu như vậy đủ để cho các thầy, các sư cô ngồi suy nghĩ, xem thử ta đã xuất gia thiệt hay chưa? Còn đối với những người chưa xuất gia, họ có hơn ta hay không? Có thể họ đang hơn ta vì họ có nhiều thảnh thơi và tự tại. Xuất gia rồi nhưng bước chân của ta có thanh thản hay không? Hơi thở của ta có giúp ta an trú trong giây phút hiện tại không? Ta có đang đi tìm kiếm những gì mà người ngoài đời đang đi tìm kiếm hay không? Ta có xứng đáng làm chỗ nương tựa của loài người và loài trời hay không? Những câu hỏi đó có thể tự ta trả lời được. Ta đã thọ giới Sa Di hay Giới Lớn rồi, nhưng ta có nên cạo đầu lại lần nữa hay không? Đó là câu hỏi của thiền sư Lâm Tế.

Xuất gia có nghĩa là ra khỏi nhà. Nhà này là nhà phiền não, nhà đam mê, nhà tham dục, nhà hận thù, nhà u mê. Trong khi chưa xuất gia, ta có thể đang ở trong một tình huống rất khó khăn, không vùng vẫy được. Ta là ai? Ta là người vợ; ta là người chồng; ta là người cha; ta là người con. Ta kẹt cứng, không vùng vẫy được. Và ta mong ước có một hoàn cảnh khác, vì ta không hề có hạnh phúc. Ta đi tìm hạnh phúc trong sự mơ ước, trong mộng tưởng, tại vì thực tế rất phủ phàng. Giống như trường hợp của một đạo hữu, một thiền sinh đang có mặt ở đây:

‘Con và nhà con vừa mới ly thân, và nhà con đang mưu mô nói với cảnh sát là con đã đánh, đã dọa nạt, đã hành hạ bả. Bả nói láo như vậy để cho con không có quyền giữ con con và đi thăm mấy đứa con của con. Vì vậy cho nên con rất đau khổ. Con đang muốn làm tất cả những điều con có thể làm để chứng tỏ rằng bà ta là người có lỗi, bà ta nói dối, bà ta lừa gạt, bà ta đang đi theo một người đàn ông khác. Và hai đứa tụi con sẽ ra tòa. Bây giờ con đang ở đây, ở Lộc Uyển. Con làm thế nào để đối phó được với cái niềm đau nỗi khổ, cái chấn động đó khi mà bà ta đang nói dối, đang tìm đủ mọi cách để đem các đứa con con đi và không cho con có cơ hội để gặp con của con. (My wife and I just broke up and she is being very deceptive by telling the police that I have threatened and harrassed her. She has lied about this to prevent me from seeing my children. Of course this causes me much great pain. I am filled with desire to do everything I can to expose her to friends and family as a liar as well as a cheat, as she has been seeing another man. We’ll be going to court. How do I deal with the shock and hurt that she is lying to keep me away from the children?)’

Đây là một trong những tình trạng khó. Tình trạng này không khác gì với tình trạng đứng ở trên đỉnh núi cô phong, rất là cô đơn, không biết tiến thối thế nào, không biết phải làm gì. Nếu không có gì thay đổi, ta sẽ tiếp tục vùng vẫy như đã từng vùng vẫy trong quá khứ. Nhưng tình trạng bây giờ tiến thối lưỡng nan mà ta càng vùng vẫy thì càng lún sâu thêm nữa. Vậy ta có đường thoát hay không? Theo lời Bụt dạy, tình huống nào cũng có một lối thoát hết. Đừng nghĩ đó là tình huống của người tại gia thôi, thật sự người xuất gia cũng có thể bị kẹt, cũng có thể không biết đường đi, cũng có thể nằm trong sự tranh chấp, cũng có sự buồn giận, cũng có sự tuyệt vọng, cũng đang tìm cầu và không làm sao đứng yên được ở chỗ ta đang đứng, không ngồi yên được ở chỗ ta đang ngồi. Cho nên đây không phải chỉ là vấn đề của người tại gia mà thôi. Và có những người mang hình thức tại gia nhưng trong tâm họ đã xuất gia rồi, còn có những người hình thức là xuất gia nhưng trong tâm họ vẫn còn tại gia. Họ vẫn còn vướng víu, mắc kẹt. Họ ngồi ở chỗ đó như là ngồi trên đống lửa, ngồi trên than hồng, ngồi ở chỗ có gai góc, không cảm thấy thoải mái. Không cảm thấy thoải mái, không có an lạc, không an trú được trong giây phút hiện tại, tức là chưa xuất gia. Trong khi đó, có những người chưa xuất gia nhưng họ thảnh thơi, họ an trú được trong hiện tại, thì họ đã là những người xuất gia rồi. Trong bản chất, họ xứng đáng được loài người và chư thiên cúng dường.

Nếu quý vị hoặc là người xuất gia, hoặc là người tại gia đã từng tu học, đã từng đem áp dụng những pháp môn Bụt dạy, thầy dạy trong đời sống hằng ngày, nếu quý vị đã từng thực tập để thoát ra khỏi những tình huống khó khăn cho chính bản thân, thì khi có một người tới để nhờ quý vị soi sáng và tháo gỡ, như là vị thiền sinh trong lá thư này, thì quý vị sẽ giúp cho người đó như thế nào? Còn nếu quý vị chưa đem những điều mình học vào thực tập, chưa tháo gỡ được cho mình, thì làm sao khi có một người tới cầu xin quý vị giúp đỡ như trong trường hợp này mà có thể giúp đỡ được? Quý vị không thể được gọi là pháp khí. Và có thể là quý vị đang làm giống hệt như người này, quý vị cũng đang bí, cũng đang tranh đấu không ngừng, và càng tranh đấu càng lún xuống. Có thể trường hợp này là một tiếng chuông chánh niệm, trường hợp này đôi khi là trường hợp của chính ta. Trường hợp tôi đâu đến nỗi như vậy! Nhưng bản chất của nó có thể là như vậy, nó có cùng một bản chất. Giống như cái bánh to và cái bánh nhỏ có cùng một bản chất: chất bột và chất đường. Nếu quý vị có thể giải quyết được vấn đề đó trong tầm cỡ này, thì quý vị có thể giải quyết được vấn đề đó ở tầm cỡ lớn hơn.

Một người bạn tu có thể giúp ta thấy được tình trạng để biết rằng ta nên làm gì, hay là không nên làm gì trong tình trạng đó – tình trạng đứng một mình trên đỉnh cô phong không ai đưa tay ra đỡ ta, cứu ta. Trong tình trạng đứng giữa ngã tư đường và hoàn toàn mất phương hướng thì sự có mặt của một sư anh, một sư chị, một sư em, một vị thầy là để giúp ta đi qua trạng huống khó khăn vậy. Nhưng nếu trong trường hợp ta không có một tăng thân, không có một người anh, một người chị hay một người bạn tu, thì ai giúp ta đây? Ví dụ như Đức Thế Tôn ngồi dưới gốc cây Bồ Đề, ai đã giúp Ngài trong những lúc khó khăn? Năm người cùng tu với Siddhattha đã bỏ đi rồi, còn lại một mình dưới gốc Bồ Đề mà có những khó khăn thì ai giúp? Siddhattha phải tự nương vào mình, vì trong người Siddhattha có Phật tính, có khả năng, có con đường. Con đường đó tuy chưa được phát hiện nhưng đã có ở trong đó. Không có bài toán nào mà không có đáp số. Ra được một bài toán là thế nào cũng có đáp số. Đó là nguyên tắc của Tứ Diệu Đế, và sự thật thứ nhất là một bài toán.

Sự thật thứ nhất là Khổ đế. Đế là sự thật. Khổ đế là bài toán mà Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phải đọc và phải viết nó xuống cho rõ ràng. Bài toán của ta là bài toán nào? Ta nói ta khổ, nhưng phải biết ta khổ cái gì? Ta phải thấy được cái khổ của ta, ta phải nhận diện cho ra cái khổ của ta. Nếu ta nói ta khổ mà không biết là ta khổ cái gì thì đâu được. Cũng giống như khi ta đau, ta phải nói là tôi đau ở hông bên trái, hay là hông bên phải, đè chỗ này thì đau, đè chỗ kia thì không thấy đau. Vì vậy cho nên phải có một cái nhìn, một sự quán chiếu về cái đau của ta. Khi ra một bài toán, bài toán đó phải đầy đủ chi tiết, lúc đó ta mới tìm ra đáp số được. Cũng như vậy, ta có thể tự quán chiếu xem ta bịnh gì? Ta đau ở chỗ nào? Có những triệu chứng nào? Nếu ta mơ hồ với chính cái bịnh của ta, thì ông bác sĩ có thể đặt ra những câu hỏi để giúp ta thấy rõ bịnh trạng của ta hơn. Ông sẽ làm gì? Ông sẽ làm ba chuyện: Trước tiên là ông quán sát ta – là chuyện mà các bác sĩ ngày xưa hay làm nhất. Nhìn ta, ông đã có một ý niệm rồi. Đó là vọng. Vọng tức là nhìn, là quan sát. Rồi ông nghe ta kể lể, nghe ta than thở: Bác sĩ ơi, tôi đau ở chỗ này; tôi khạc ra cái này… Đó gọi là Văn, tức là ông lắng nghe ta nói. Nghe ta nói xong, ông nghe mạch của ta nhảy, rồi ông hỏi. Đó là vấn. Vấn là đặt câu hỏi. Ông hỏi những câu như: Đau từ hồi nào? Qua ba giai đoạn vọng, văn và vấn, ông bác sĩ có thể tìm ra chân tướng của cái bịnh. Ông quán sát, ông nghe ta than thở, ông đặt những câu hỏi và ông đi tới cái hiểu, rồi ông kết luận ta bịnh gì, sau cùng là ông làm ra bịnh án. Nương vào bịnh án đó ông đưa ra phương thuốc chữa trị, gọi là Thiết. Vọng, văn, vấn và thiết là bốn giai đoạn mà ông thầy thuốc phải đi qua. Nếu ta là người tu ta cũng làm giống hệt như vậy. Còn ta thấy trong người đau nhức, trong người khó chịu nhưng ta chỉ biết vùng vẫy, cựa quậy thì không có ích gì. Ta phải quán chiếu niềm đau nỗi khổ đó và phải gọi tên nó cho được. Đó là những loại đau khổ nào và nó có nguồn gốc từ đâu? Đó là sự thật thứ hai, tập đế. Tập đế tức là những nguyên do đưa tới khổ đau kia. Trường hợp này cũng là một thứ bịnh, một nỗi khổ, nhưng nếu ta chỉ biết nói khổ và vùng vẫy thôi thì không được. Ta phải nhìn cho kỹ cái khổ của ta. Ta phải tự hỏi tại sao chuyện ra cớ sự như vậy? Tại sao khi hai người mới cưới thì chuyện không có như vậy? Tại sao khi mới cưới, hai người có rất nhiều hy vọng, rồi hai người làm ăn ra làm sao mà bây giờ chuyện thành ra như vậy? Ta phải chịu trách nhiệm tới mức độ nào và người kia chịu trách nhiệm tới mức độ nào? Cách ta suy tư, cách ta nói năng, cách ta hành xử như thế nào? Cách người kia suy tư, nói năng, hành sử như thế nào? Cách ta phản ứng như thế nào? Cách người kia phản ứng như thế nào? Áp dụng vọng, văn, vấn và thiết để giải quyết khổ đau của ta. Nếu không ngồi yên lại để quán chiếu, để nhìn cho rõ, để đặt vấn đề, để đưa ra tất cả những chi tiết của bài toán thì không thể nào tìm ra được đáp án. Và vì vậy cho nên tự đặt ra những câu hỏi đó là quán chiếu về khổ, sự thật thứ nhất. Quán chiếu về sự thật thứ nhất để tìm ra được nguyên do của nó, đó là tập đế.

Ta đang có bất an, ta không có hạnh phúc, ta ngồi như ngồi trên đống lửa, ta không có khả năng an trú được, nhưng ta lại không tìm hiểu nguyên do vì sao. Ta có khuynh hướng nghĩ là tại vì ta chưa tới được chỗ đó, chưa làm được chuyện đó cho nên ta đau khổ chứ không biết rằng là khi đến được chỗ đó rồi, ta vẫn tiếp tục đau khổ như thường. Trong khi đang đau khổ ở đây, ta hay nghĩ rằng lúc này không phải lúc của ta, chỗ này không phải là chỗ của ta, nếu ta ở một chỗ khác, hay ở vào một thời điểm khác, thì có thể là nó sẽ không như vậy. Đó là sự tưởng tượng của ta. ‘Ở đây nếu không có hạnh phúc thì ta phải ở chỗ khác thôi’, ta nói một cách buông xuôi như vậy. Bây giờ không có hạnh phúc thì phải đợi tới tương lai mới có hạnh phúc, đó là cách suy nghĩ thông thường của con người.

Khi ông thầy thuốc đi qua bốn giai đoạn quán sát, nghe ngóng, tìm hiểu và nghiên cứu, tức là ông đi qua giai đoạn quán chiếu khổ đế và tập đế. Khi đã có đầy đủ dữ kiện, ông có cách chữa trị, gọi là đạo đế. Đạo đế tức là con đường để thay đổi tình trạng, chữa lành căn bịnh, chuyển hóa những khổ đau. Đó là đáp số của bài toán. Còn ở đây, đương sự đang đau khổ, đương sự đang lâm vào tình trạng tuyệt vọng, ấy vậy mà đương sự vẫn quyết định tiếp tục tranh đấu. Sự thật là càng tranh đấu thì càng lún xuống. Nếu ta khăng khăng tiếp tục tranh đấu thì ta càng sa lầy sâu hơn, tại vì ta không biết phương hướng thì làm sao ta thấy lối ra, làm sao ta biết rõ tình trạng của ta. Trong tình trạng của vị thiền sinh này, cũng như trong nhiều tình trạng khác cũng vậy, vấn đề không phải là ‘Phải làm gì?’ mà quan trọng nhất là không nên làm gì hết. Đó là câu trả lời đầu tiên. Không nên làm gì hết! Tại vì anh đang không phải ở trong tư thế để có thể làm bất cứ cái gì hết. Anh càng làm thì càng lún, vì vậy cho nên anh không nên làm gì hết; chị không nên làm gì hết. Đó là câu trả lời của Bụt. Chuyện đâu còn có đó. Án binh bất động. Phải ngồi cho yên. Vì vậy cho nên anh chọn lên ở Lộc Uyển là đúng, nhưng ở Lộc Uyển không phải để suy nghĩ là ta nên làm cái gì. Anh lên Lộc Uyển để được ngồi yên và đem hết tất cả con người, tâm tư của mình để ngồi yên cho được. Ngồi yên được thì khó lắm. ‘Con ngồi ở đâu cũng là ngồi trên đống lửa: ở dưới kia cũng là đống lửa, lên trên này vào ngồi trong thiền đường cũng là đống lửa, ngồi ăn cơm trưa với đại chúng cũng là đống lửa… Tình trạng của con như vậy, thầy đã không giúp còn bảo con phải ngồi yên, thì làm sao con ngồi yên đây?’ Trước hết, ta phải biết rằng, nếu cái tâm của ta đầy những hờn giận, đầy những thù ghét, đầy những tuyệt vọng, thì không có một hành động nào có thể cứu ta ra được cả, vì vậy cho nên ta phải an cái tâm lại. Đừng làm gì hết là một hành động đòi hỏi rất nhiều nghị lực và nhiều tuệ giác. Có tuệ giác mới có khả năng ngồi yên không làm gì hết trong tình huống gay go như vậy. Tuệ giác đó bắt đầu từ nhận thức là làm bất cứ điều gì trong tình trạng này cũng có thể gây thêm đổ vỡ. Bây giờ ta thấy người đó là kẻ thù và ta quyết một sống một chết với người đó. Nếu ta thắng ta thấy đã, và ta có mấy đứa con cho ta; còn người kia khổ nhiều chừng nào thì càng tốt chừng đó, tại người đó đã dám làm cho ta khổ. Đó là lề lối suy tư của ta đang đi về hướng đó. Người đàn bà đó là một người lăng loàn, là một người không có tình nghĩa, là một người phản phúc, dối trá; người đàn bà đó phải bị trừng phạt, và người đàn bà đó càng khổ nhiều càng tốt. Người đó càng khổ nhiều thì ta càng thấy đã chừng đó. Ta phải làm cho người đó thất bại hoàn toàn. Đó là tâm tư của ta. Với tâm tư đó, nhận thức đó, ta thất bại là thường, cho nên ta hãy lắng nghe xem Bụt dạy như thế nào. Bụt dạy rằng ta phải chiến thắng ta trước, tức là phải vượt thoát những căm thù, những vô minh trước. Ta phải là người chiến thắng, nhưng không phải chiến thắng người kia và làm cho người kia đau khổ mà chiến thắng những vô minh, những giận hờn, những tàn ác ngay trong ta. Ta làm như xưa nay ta chưa từng có vụng về, chưa có lỗi lầm và tất cả những đau khổ của ta là do người kia làm ra cả… Điều đó hoàn toàn không đúng. Ít nhất là ta cũng có một phần trách nhiệm trong sự đổ vỡ này, có thể là năm mươi phần trăm, có thể là nhiều hơn, nhưng không thể nói rằng ta hoàn toàn không có trách nhiệm. Ta phải thấy cho được những điều đó. Và những điều đó là những điều khó thấy. Trong liên hệ anh em, chị em, cha con, hay vợ chồng mà có những khó khăn thì đừng nói tất cả trách nhiệm là quy về người kia, nói như vậy là không đúng. Khi hai tay ta cầm một chiếc đũa, nếu ta muốn bẻ gẫy chiếc đũa đó thì rất dễ. Nhưng nếu chỉ có một tay cầm chiếc đũa thì dù nó có muốn bẻ gẫy bao nhiêu đi nữa mà tay kia không cộng tác thì không bao giờ chiếc đũa gẫy được. Chiếc đũa chỉ có thể bị gẫy khi có sự cộng tác của cả hai tay. Cũng vậy, tại ta cũng muốn bẻ gẫy liên hệ cho nên nó mới gẫy, nếu ta không muốn bẻ gẫy thì liên hệ sẽ không bao giờ gẫy. Tình trạng là như thế đó. Ta không nên hoàn toàn đổ lỗi cho người kia. Sự thật nó đơn giản tới cái mức đó. Anh cứ tới quỳ dưới đức Thế Tôn, rồi nhìn lên, anh thở, anh lắng nghe đi, thì anh sẽ nghe đức Thế Tôn nói:

– Con là một người đáng thương.

Đúng như vậy, anh rất cần tình thương của đức Thế Tôn. Nếu anh ngồi yên, anh thở và anh lắng nghe thêm, đức Thế Tôn sẽ nói:

– Mấy đứa con của con cũng đáng thương lắm, tội nghiệp chúng.

Đức Thế Tôn đã nói thì đúng thôi. Mà nếu anh ngồi lắng nghe thêm, anh sẽ nghe đức Thế Tôn nói:

– Người đàn bà mà con đang hận thù đó cũng rất đáng thương.

Những câu nói đó, nếu anh lắng nghe thì anh nghe được liền: ‘Con rất đáng thương, mấy đứa con của con cũng rất đáng thương và người đàn bà đó cũng rất đáng thương. Ta không muốn bất cứ đứa nào đau khổ cả; ta không muốn cho con đau khổ mà ta cũng không muốn cho người đàn bà đó đau khổ, và ta cũng không muốn cho những đứa con con đau khổ. Nếu con là đệ tử của ta, con phải phát nguyện thực tập như thế nào để con thương được cả ba: con, người đàn bà đó và những đứa con con.’ Nếu anh nghe được câu nói đó của đức Thế Tôn, chắc chắn anh sẽ lạy xuống cảm ơn Ngài: Con tìm ra đường rồi. Con sẽ sống và thực tập như thế nào để tình thương của con có thể ôm lại được con, con của con và cả người đàn bà đó thì con mới xứng đáng là học trò của đức Thế Tôn. Anh bắt đầu có con đường. Đạo đế hiển hiện. Đó là con đường dập tắt hận thù trong chính bản thân của ta và giúp dập tắt hận thù nơi đối tượng kia nữa. Con đường đó không phải là một sự mơ ước, con đường đó là một cách thực tập rất cụ thể. Có những cách suy tư thực hiện được việc dập tắt hận thù, đó là cách suy tư theo đường hướng của Từ, của Bi, của Hỷ và của Xả. Có những lời nói, những lá thơ, có thể đi theo đường hướng biểu lộ được Từ, được Bi, được Hỷ và được Xả; có những hành động nhẹ nhàng, chăm sóc, đầy từ ái, sẽ cứu anh, cứu được những đứa con của anh và cứu được người mà ngày xưa anh đã nguyện thương yêu. Vì anh đã thất bại, anh đã làm cho người thương trở thành kẻ thù, cho nên anh tới chùa để nghe cho được tiếng nói của đức Thế Tôn. Tiếng nói đó, nó có trong trái tim của mỗi người, tại vì đức Thế Tôn ở trong ta chứ không chỉ ở trên bàn thờ. Bụt ở trong trái tim, lắng nghe Bụt trong tim ta và tiếp nhận được thông điệp đó thì ta thấy được con đường. Thấy được con đường là khoẻ rồi, dù chưa đi bước nào nhưng đã khoẻ, đã giải thoát rồi. Khi anh đã biết nhìn anh bằng con mắt của từ bi và đã phát ra tâm từ bi, thì anh thương được người đó cũng như thương được những đứa con của anh và thấy rằng có một con đường có thể giúp ta ôm lấy cả ba để chuyển hóa, dù lúc đó anh chưa làm gì hết mà anh đã khỏe rồi. Anh bắt đầu có trí tuệ, có sự an tĩnh, và nếu anh chịu học hỏi, thì Tam Bảo sẽ soi sáng cho anh như những lời dạy trong kinh Diệt Trừ Phiền Giận, kinh Soi Gương. Tất cả những kinh như vậy là để soi sáng cho ta, đó là lời Bụt dạy. Tăng thân sẽ soi sáng cho anh. Có những thầy, có những sư cô, có những đạo hữu đã từng đi qua con đường đó, họ soi sáng cho anh, họ chỉ cho anh con đường Từ Bi, con đường của Bụt. Chỉ có Từ Bi mới đáp lại được hận thù thôi. Anh còn mang hận thù thì anh còn khổ và anh còn làm khổ người ta. Anh là người xuất gia cũng vậy; chị là người xuất gia cũng vậy. Đây không phải chỉ là sự thực tập của người tại gia mà thôi. Giáo pháp của đức Thế Tôn rất cụ thể. Tư duy như thế nào để khơi dậy được suối Từ Bi (khơi suối thương yêu). Khi suối thương yêu bắt đầu phun lên là ta đã bớt khổ rồi dù chưa làm gì hết. Thấy được con đường sáng thì thế nào ta cũng giúp được cho người khác. Quan trọng là ta có bớt khổ hay không. Còn đang bị lửa địa ngục đốt cháy thì ta làm gì đi nữa cũng chỉ gây thêm khổ đau cho ta và cho người khác. Vì vậy cho nên lời khuyên đầu tiên của Bụt là anh đừng làm gì hết. Nếu anh đang đứng trên một đỉnh núi cao và anh có lòng thương đó, thì đỉnh núi cao trở thành một chỗ rất thoải mái. Và nhờ đứng trên đỉnh núi cao đó mà anh thấy được rất nhiều cái đẹp, tuy chỗ đó là một cao điểm của đời anh nhưng nó không phải là chỗ bí nữa. Ta ngã ở đâu thì ta phải chống ở đó mà đứng dậy, đừng đi tìm kiếm ở những nơi khác mà lầm tưởng rằng những nơi đó sẽ không có vấp ngã. Sư cô cũng vậy. Sư chú cũng vậy. Đừng nghĩ rằng ta phải tới chỗ đó rồi mới có giải pháp hay ngày mai mới có giải pháp. Không! Giải pháp nằm ngay bây giờ và ở đây. Phải tìm lối thoát ngay trong lúc này và tại chỗ này. Nếu sư chú thất bại, nếu sư cô thất bại thì ngày mai cũng sẽ thất bại, tới được chỗ đó rồi cũng sẽ thất bại.

Giáo lý này dành cho cả giới xuất gia và tại gia, tại vì theo cái thấy của thiền sư Lâm Tế, một vị xuất gia chưa chắc đã xuất gia hoàn toàn và một vị tại gia có thể xứng đáng hơn một vị xuất gia nếu vị đó đã chấm dứt sự tìm cầu, có được thanh thản và an trú được trong giây phút hiện tại.

Tinh yếu Lâm Tế Lục

Trong Lâm Tế Lục, Tổ có nói rằng mục đích của Tổ là đánh phá, trị bệnh và cởi trói. Như vậy thì mục đích của Tổ không phải là đưa ra những tư tưởng uyên áo để chúng ta học hỏi, đàm luận và mắc kẹt vào đấy. Vì vậy nếu ta học Lâm Tế Lục với mục đích tìm cầu những tư tưởng uyên áo để đàm luận và để mắc kẹt vào chúng là ta đã đi ngược với ý của Tổ. Những giáo lý và những phương tiện thi thiết của người xưa (người xưa ở đây là Bụt và Tổ) sẽ trở thành những cái bẫy sập giam hãm ta, vì vậy ta hãy cẩn thận, hãy nhớ tất cả những thi thiết ấy, dù là tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng hay tịnh độ…, trước hết đều là những giả danh (Tổ gọi là danh từ suông, văn cú, chữ nghĩa). Nếu ta mắc kẹt vào những thi thiết ấy, cho chúng là những thực tại khách quan có mặt ngoài ta, là ta đã bị sa vào bẫy sập.

Ta không nên đi tìm cầu Bụt, Tổ, Bồ Tát, tam thân, thập địa, thế giới hoa tạng, lầu các của Di Lặc ngoài ta. Ta phải chấm dứt mọi tìm cầu. Phải ngưng sự tìm cầu ngay và hãy trở về bản thân trong giây phút hiện tại. Bản thân trong giây phút hiện tại chứa đựng tất cả những gì ta muốn tìm cầu: pháp thân, bát nhã, giải thoát, Bụt, Tổ và các cõi nước trang nghiêm. Bản thân ở đây không hẳn là năm uẩn, vì năm uẩn vô thường có đó không đó. Nhưng bản thân cũng không phải là một cái gì có thể nhận thức ngoài năm uẩn, bởi vì nhờ có năm uẩn nương nhau mà ta nhận diện được bản thân ấy vốn là con người thật của chính ta. Con người thật ấy là chân tâm sáng chói có diệu dụng nhận diện và tiếp xúc với mọi mầu nhiệm của sự sống: Tổ gọi đó là cái tinh minh sáng rỡ biểu hiện thành sáu đạo thần quang: khả năng thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm và tư duy. Năm uẩn là vô thường nhưng bản tâm biểu hiện nhờ năm uẩn là con người thật của ta thì không sinh, không diệt, không có, không không, vượt thoát mọi khái niệm. Đó là con người thật không có vị trí (nghĩa là không thể được đồng nhất với một uẩn trong năm uẩn hoặc cả năm uẩn). Con người thật đó là Bụt. Bụt không phải là một thực thể có ngoài con người thật đó. Bụt và chúng sinh không phải là hai thực thể riêng biệt (Phật sinh vô nhị). Nếu không thấy được điều này, nếu không có đức tin vững chãi nơi sự thật này, thì không bao giờ chấm dứt được sự tìm cầu, phóng thể, vẫn không dừng lại được để làm một con người vô sự, vẫn còn có khuynh hướng chán phàm yêu thánh, vẫn chưa có được hạnh phúc và an vui thật sự.

Người nào có khả năng vận dụng được cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang kia thì có thể ngay tại đây trong giờ phút này tiếp xúc được với thế giới hoa tạng, với tam thân, với hằng sa Bụt và Bồ tát, có thể ứng thân hiện vật, độ đời, giúp người, và thấy rằng tất cả những cảnh giới này cũng đều là những hình ảnh phản chiếu (quang ảnh) của cái tâm sáng chói và mầu nhiệm kia.

Mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt nguyên thỉ là vị La hán, mẫu người lý tưởng trong đạo Bụt đại thừa là vị Bồ tát, còn mẫu người lý tưởng trong thiền Lâm Tế là con người vô sự. Con người vô sự là con người không chạy theo nắm bắt bất cứ một cái gì nữa cả, dù đó là Bụt, là Tổ, là Niết bàn, là Tam thân, là Tịnh độ. Con người vô sự là người đã dừng lại, không còn dính mắc vào một lý thuyết, một giáo pháp, một đường lối nào nữa hết. Con người vô sự có tự do, có khả năng sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không bị bất cứ một cái gì có thể kéo đi, kể cả lý tưởng độ sinh, cứu đời. Bởi vì lý tưởng độ sinh cứu đời cũng có thể bắt mình chạy đi tìm cầu, bỏ mất giây phút hiện tại, bỏ mất cái tâm sáng chói và sáu đạo thần quang đang có mặt, vốn là nguồn gốc của tất cả chư Bụt và các Phật độ.

Bụt không phải là đối tượng tìm cầu của ta, đừng lấy Bụt làm mục tiêu lý tưởng của mình, đừng cho Bụt là một thực thể tồn tại ngoài ta. Hình ảnh của ta xây dựng trong đầu về Bụt không phải là Bụt. Bụt ấy có sinh, có trú, có hoại, có diệt, Bụt ấy không đáng là hình ảnh lý tưởng mà ta chạy theo. Bụt ấy là một bóng Ma, gọi là Ma Bụt, có thể hớp hồn ta, vì vậy gặp Ma Bụt ta phải chém đầu liền, gặp Ma Tổ cũng vậy, ta cũng phải chém đầu. Ta phải chém đầu tất cả các loài Ma, bởi vì tất cả những tạo dựng của trí óc, tất cả những thi thiết của cổ nhân chỉ có giá trị của thuốc hay trị bệnh, nếu ta xem những cái đó là những thực tại có thật biệt lập ngoài ta, không phải là những phương tiện chữa trị các căn bệnh si mê, tham ái, sân hận và tìm cầu của ta thì chúng trở thành chướng ngại, trở thành bẫy sập, vì vậy ta phải chặt đầu chúng mỗi khi chúng xuất hiện.

Con người thật, con người vô sự không bao giờ bị cảnh vật lôi kéo, vì vậy luôn luôn giữ được tự do. Cảnh giới Ma không lôi kéo mình được đã đành, cảnh giới Bụt cũng không lôi kéo mình được. Tại vì mình đã thấy rằng Ma và Bụt tương tức, Ma và Bụt bất nhị, đó là bệnh và thuốc có mặt một lần để trị nhau, để nương nhau. Con người vô sự vì thế thấy Ma cũng mỉm cười và thấy Bụt cũng mỉm cười. Con người vô sự có thể đánh dẹp được cả Ma và cả Bụt.

Tổ khuyên mọi người đừng ỷ lại vào kẻ khác, dù họ tự gọi là Bụt, là Tổ, là đại thiền sư, là thánh tăng, đừng đi tìm kiến giải nơi từ chương, nơi kinh điển, nơi văn cú, đừng kẹt vào các danh từ, đừng hy vọng tìm giải thoát và trí tuệ nơi sự học hỏi và nghiên tầm kinh điển. Tìm giải thoát và giác ngộ nơi sự nghiên tầm kinh điển cũng như hy vọng tìm được những giọt nước mát trong một bộ xương khô. Giáo điển chỉ là những bộ xương khô. Phải trở về giây phút hiện tại, vận dụng cái tâm sáng chói đang có mặt ngay tại đây thì mới có thể tiếp xúc được với giải thoát và giác ngộ, tiếp xúc được với Bụt và Tổ đang là những thực thể sống động nơi giây phút này.

Người tu đạo không cần phải dụng công mệt nhọc. Đừng đày đọa thân thể và tâm trí bằng cách chạy đi tìm cầu. Trong tinh thần vô đắc mình phải thấy rằng mình đã là cái mình đang tìm cầu rồi, cũng như đợt sóng tự biết mình là nước, có thể ngưng ngay lại sự bôn ba đi tìm nước. Phương pháp thực tập là dừng lại, bởi vì giây phút hiện tại nào cũng là giây phút trở về ngôi nhà đích thực của chính mình, từ bước chân, hơi thở cho đến hành động ăn cơm, mặc áo, uống nước, đi cầu. Không cần đi đâu hết, không cần làm gì nữa. Cái mà mình đi tìm đã có sẵn ngay ở đây. Vì vậy mình có thể thực sự là một người vô sự. Nếu mình tiếp tục đày đọa thân tâm vì sự thực tập, vì sự tìm cầu, vì sự nghiên cứu, vì sự dụng công khổ nhọc của mình thì mình đi ngược với con người của Tổ và của Bụt, và mình cách xa với Tổ và Bụt như trời xa cách đất.

Con người vô sự là con người tự do, ở đâu cũng làm chủ được mình. Nếu mình có được cái thấy chân thật (kiến giải chân chính) thì mình không còn bị kẹt vào những tướng sinh, trú, dị, diệt của vạn pháp, kể cả những tướng sinh, trú, dị, diệt của Bụt Thích Ca, và vì vậy mình cũng không bị kẹt vào hóa thân Bụt. Dù sự vật quanh mình và chính bản thân năm uẩn của mình có đang đi ngang qua những tướng sinh, trú, dị, diệt ấy mình cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn vui hay thương ghét. Mình không bị cảnh đoạt. Mình luôn luôn đứng vào vị trí chủ động, đứng vững trong chánh kiến của mình và không trở nên nạn nhân của hoàn cảnh, của kẻ khác, không than phiền rằng hoàn cảnh như thế đó, người ta như thế đó cho nên tôi đã phải như thế này. Mình chuyển được hoàn cảnh mà hoàn cảnh không thể chuyển được mình. Mình luôn luôn là con người thật của mình trong bốn động tác đi, đứng, nằm, ngồi, mình không cần phải đóng kịch, dù là đóng vai giải thoát, đóng vai giác ngộ, đóng vai đại thiền sư. Cái này gọi là ‘tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân’. Con người thật có nghĩa như thế.

Vì mình có khả năng sống với con người thật của mình cho nên mình không cần phải làm dáng làm điệu. Mình đâu có cần phải chứng tỏ mình là giải thoát, là giác ngộ. Mình có thể sống một cuộc sống bình thường, mình chỉ cần làm một con người bình thường. Con người bình thường này là con người vô sự, có giá trị cao hơn cả những vị Bồ tát tự xưng là đang đi trên con đường viên đốn, đang đi ngang qua mười địa, đang đi vào tịnh độ, tại vì các vị này vẫn còn mang theo tâm niệm yêu thánh, ghét phàm, vẫn còn cái nhìn nhị nguyên, vẫn còn đi tìm cầu, chưa dừng lại được. Con người vô sự mới đích thực là con người đáng được chư thiên ca tụng, được địa thần nâng gót, được chư Bụt muôn phương xưng tán. Tại vì con người vô sự là con người hoàn toàn tự do, vô tướng, không làm dáng làm điệu, không cần để lại vết tích gì.

Con người vô sự này chính là Bụt, là Tổ đích thực. Ngay trong giờ phút này, con người (vô sự) ấy đang ở trên quê hương của mình, không cần đi tìm cầu gì nữa. Ngay trong giờ phút này, con người ấy có thể ứng thân hiện vật, thể hiện thần thông, tiếp xúc với chư Bụt mười phương, rong chơi nơi mọi cõi nước, và dù năm uẩn của mình vẫn còn là năm uẩn có sinh có diệt, người ấy vẫn có thể ngay trong giờ phút hiện tại, biểu diễn được phép thần thông là đi an lạc ngay trên mặt đất (địa hành thần thông). Người ấy không cần đi đâu hết, không cần phải ra khỏi tam giới. Tam giới đối với người ấy chỉ là quang ảnh. Người ấy có tự do cho nên người ấy thảnh thơi ngay tại nơi này, những yếu tố của tam giới là dục, sắc và vô sắc không động được người ấy.

Tổ Lâm Tế rất có ý thức là những lời nói của Tổ chỉ là những phương tiện đánh phá, cởi trói và trị bịnh nên Tổ không muốn chúng ta xem những lời nói ấy là khuôn vàng thước ngọc để học hỏi và tôn thờ. Tổ dạy rằng những lời Tổ nói chỉ là những bức vẽ được thực hiện trong hư không, chúng ta đừng bị kẹt vào chúng. Tổ dạy: Để độ đời, có khi ta phải mặc đủ thứ áo: áo thanh tịnh, áo giải thoát, áo giới luật, áo vô phân biệt… Thấy những chiếc áo ấy người ta phát sinh kiến giải rồi bị mắc kẹt vào những kiến giải ấy. Vì vậy có khi ta phải cởi hết áo ra, để cho người ta thấy được con người. Con người có thể mặc áo. Nhưng con người không phải là áo. Chỉ khi nào thấy được con người, ta mới tiếp xúc được với con người, và với con người trong ta, và chỉ lúc ấy ta mới buông bỏ được tất cả những gông cùm mình từng mang lấy xưa nay, những gông cùm do cổ nhân (Bụt, Tổ) thi thiết và đem tới. Thấy được con người thật, họ mới đạt được quả vị vô sự.

Không nên đi tìm Văn Thù trên Ngũ Đài Sơn, không nên đi tìm Quan Âm ngoài biển Nam Hải, không nên đi tìm Phổ Hiền ở Nga Mi Sơn. Các vị làm gì có mặt trên đó. Các vị đang có mặt tại đây, trong giờ phút này trước mặt chúng ta, trong tâm chúng ta. Phải tiếp xúc với các vị ngay trong giờ phút này. Nếu thất bại thì sẽ thất bại mãi mãi trong tương lai, tại vì Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm không có trong tương lai và không thể tiếp xúc được trong tương lai. Ta là kẻ đại trượng phu, tại sao ta phải đi tìm Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngoài ta. Ta chính là Văn Thù, Phổ Hiền và Quan Âm ngay tại đây, trong giây phút hiện tại.

Từ bỏ sự tìm kiếm bên ngoài không phải là để bắt đầu một sự tìm kiếm bên trong. Cái mà ta tìm cầu bên ngoài đã không có thì bên trong làm gì có! Trong và ngoài chỉ là hai ý niệm. Động cũng không phải là nó mà Tĩnh cũng không phải là nó. Đừng tưởng Tĩnh là cửa ngỏ và bức màn vén cho ta thấy sự thật. Sự thật vượt ra ngoài động và tĩnh, vượt ra khỏi trong và ngoài. Công án cũng như mặc chiếu đều là sự tìm cầu, không thể đưa ta tới trạng thái vô sự.

Để độ người, ta có thể hoặc đoạt cảnh, hoặc đoạt nhân, hoặc đoạt cả cảnh và nhân, hoặc không cần đoạt cái gì hết. Đoạt cảnh là giúp cho người ta chấm dứt sự tìm cầu bên ngoài. Con chó có Phật tính không, đại ý của Phật pháp là gì, chủ ý của Tổ Đạt Ma là gì? Tất cả những cái ấy đều là bẫy sập. Tìm hiểu tất cả những cái đó không có ích lợi gì cho sự thực hiện tùy xứ tác chủ, lập xứ đắc chân cả. Phải đoạt tất cả những cảnh đó. Nếu cần thì đánh. Nết cần thì hét. Nhưng học nhân có thể trở về và mắc kẹt vào chủ thể nhận thức, nghĩ rằng mình đã thoát được đối tượng nhận thức. Nhưng chủ thể làm gì có, nếu đối tượng không có? Cho nên đoạt cảnh xong cũng phải đoạt người. Đoạt cảnh mà giúp người ta đừng kẹt vào người thì hay rồi, nhưng nếu người ấy còn kẹt vào nội hướng, vào chủ thể thì phải đoạt luôn. Có khi đoạt người có thể giúp kẻ kia thoát luôn cả cảnh cùng một lúc. Đó là những phương tiện đánh phá, cởi trói, trị bệnh, có gì là thần kỳ bí hiểm?

Kiến giải chân chính không phải là kết quả của công phu nghiên tầm học hỏi. Kiến giải chân chính là cái thấy sâu sắc về tính không sinh không diệt, không người không ta, không có không không của vạn pháp. Thấy được là thấy ngay, không thấy được thì có nói qua nói lại nhiều lần cũng vô ích. Cho nên đệ nhất cú, câu khai thị đầu, là cơ hội duy nhất. Đánh mất cơ hội này thì đánh mất hết. Đệ nhị cú là sự vớt vát. Đệ nhị cú chỉ là sự an ủi. Đệ tam cú là sự thất bại hoàn toàn. Tứ liệu giản không có gì bí hiểm thì tam huyền, tam yếu cũng như tiếng hét và cây gậy, cũng không có gì là bí hiểm. Trong quá trình học hỏi và tu chứng, công phu tham vấn được dựa trên nguyên tắc chủ và khách. Chủ đáng lý là phải độ được khách. Chủ là người thiện tri thức và khách là người đến tham vấn. Có khi khách giúp được chủ. Có khi khách giúp được khách. Có khi chủ giúp được khách. Có khi chủ giúp được chủ. Có khi chủ và khách đều giúp được nhau. Có khi chủ và khách làm hại cho nhau. Đó là những trường hợp ta có thể nhận diện nếu ta có được trực giác của chánh kiến. Cũng không có gì là bí hiểm trong tứ tân chủ.

Tuệ giác không phải là kiến thức khái niệm. Tuệ giác có khả năng mang tới sống động và tự do trong giây phút hiện tại. Kiến thức không làm được việc ấy. Vì vậy cho nên không hiểu thì bị đòn đã đành mà hiểu cũng bị đòn như thường, nếu ‘hiểu’ chỉ là kiến thức suông mà không phải tuệ giác. Nếu thấy được điều này, ta có thể cảm thông được với những gì đang xảy ra trong các cuộc đối diện: Ta không nên cố tìm trong các mẫu đối thoại và hành xử (khám biện) ấy những tư tưởng đặc thù hoặc những ý chỉ sâu sắc. Những gì ta thấy đang xảy ra giữa các đương sự là cơ hội của họ. Nếu đứng ngoài mà quán sát ta sẽ không thấy được gì. Nếu ta bước vào trong, đem hết sự sống của ta ra tham dự thì ta có thể có một cơ hội để tuệ giác bừng mở. Nếu bước vào trong mà ta không cảm được một cái gì hết, thì có nghĩa là trường hợp đó không phải là trường hợp của ta, thế thôi. Cũng như khi ta đứng ngắm một bức tranh siêu thực, ta đừng cố tìm hiểu nghĩa lý. Ta đừng nói là ‘ta không hiểu’. Hiểu hay không hiểu ta cũng lãnh ba mươi gậy như thường. Tổ không có ý muốn khuyên ta chấm dứt sự học hỏi và thực tập giới, định và tuệ. Tổ chỉ muốn ta đừng mắc kẹt vào sự học hỏi và thực tập mà thôi. Học hỏi để trở thành học giả, tam tạng pháp sư, thuyết giảng thao thao bất tuyệt, Tổ không cần cái đó. Cái đó Tổ gọi là nghiệp địa ngục. Bản chất của nó là sự tìm cầu, không hẳn là sự tìm giải thoát mà là sự tìm cầu danh lợi. Ta cần học hỏi, ta cần hành trì, nhưng sự học hỏi và hành trì ấy phải có tác dụng giúp ta trở thành con người vô sự, con người giải thoát. Bằng không, những học hỏi và những thực tập đó chỉ là gông cùm.

Con người vô sự là con người tùy xứ tác chủ nên không phải là con người thụ động. Trái lại, người ấy luôn luôn đứng về phía chủ động. Ta không thể nào nói rằng: nếu người tu đạo không theo đuổi một chí hướng, không thao thức thực hiện một lý tưởng, không có mục đích theo đuổi, thì ai sẽ là người tế độ chúng sinh, cứu vớt những loài đang chìm đắm trong biển khổ? Bụt là một người vô sự, không tìm kiếm một cái gì. Nhưng Bụt là một người hoạt động độ sinh không ngừng nghỉ. Con người vô sự tuy rất tích cực trong việc giúp đời độ người, nhưng không bao giờ bị kéo theo hoàn cảnh và công việc, không bao giờ đánh mất mình trong mong cầu, trong dự án, trong công việc. Con người vô sự luôn luôn còn là mình, còn tự do, không bao giờ bị ‘burn out’ (hết xí quách), cho nên con người vô sự còn mãi thong dong. Tổ khuyên chúng ta: đừng chạy theo danh lợi, đừng chạy theo sự nghiệp, đừng bỏ thì giờ mua vui, đừng ham xây cất chùa lớn, đừng vận động làm tăng thống, đừng cố thi đậu bằng tiến sĩ, đừng mong cầu chức vụ đại thiền sư. Chỉ cần mỗi ngày một bát cơm, một manh áo, một chiếc giường nhỏ. Để thì giờ để sống thật với mình, để trở thành một con người vô sự, giải thoát thật sự. Tất cả những công phu học hỏi và tu tập đều phải giúp cho mình trở nên thong dong, đem lại hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Nếu không làm được như vậy, thì tất cả đều chỉ là gông cùm. Con người thật của ta, vô vị chân nhân, cũng như con người thật của Bụt, đang có mặt đích thật trong giờ phút hiện tại. Hãy trở về vận dụng cái tâm sáng chói với sáu đạo thần quang để nhận diện nó. Nó không phải là sáu trần đang mang tính thành, trú, hoại, không. Nó không phải là một vật, vì vậy gọi nó là một vật thì không đúng. Nhưng nó đang có mặt kia, và ta chỉ cần nhận diện nó.

 

 

Du hành

Trong thời gian còn tu học với tổ Hoàng Bích, sự tu tập của thiền sư rất thuần nhất. Vị thủ tọa có ý khen rằng tuy thầy thuộc về lớp sau nhưng thầy có những điểm đặc biệt. Thủ tọa hỏi:
– Thầy ở đây lâu chưa?
Thiền sư đáp:
– Được ba năm.
Thầy thủ tọa:
– Đã từng được tham vấn sư tổ chưa?
Thiền sư đáp:
– Con chưa từng tham vấn và cũng chẳng biết tham vấn về đề tài gì.
Thủ tọa bảo:
– Tại sao thầy không tới hỏi hòa thượng đường đầu ‘đại ý của Phật pháp là gì?’
Thiền sư liền tới hỏi tổ Hoàng Bích câu ấy. Hỏi chưa hết câu đã bị tổ đánh. Thiền sư trở về. Vị thủ tọa hỏi: ‘Sao?’
– Con chưa hỏi xong câu hỏi thì bị đánh. Con không hiểu tại sao.
– Vậy cứ tới hỏi lại lần thứ hai xem sao!
Thiền sư tới hỏi lần thứ hai. Và cũng bị tổ Hoàng Bích đánh. Như thế cho đến ba lần.
Thiền sư trở về hỏi vị thủ tọa:
– Cảm ơn Thủ tọa đã từ bi chỉ bảo cho con tới tham vấn hòa thượng, nhưng ba lần con hỏi là ba lần con bị hòa thượng đánh. Con tự hận là vì có nhiều chướng duyên nên không lãnh hội được ý chỉ sâu sắc của hòa thượng. Nay con xin giã từ đi nơi khác.
Thủ tọa nói:
– Nếu thầy đi thì nên tới từ giã hòa thượng trước khi đi.
Thiền sư lạy rồi rút lui. Vị thủ tọa tới hòa thượng thưa:
– Cái thầy còn trẻ tới tham vấn ấy có thể là một pháp khí tương lai đấy, vậy khi thầy ta tới từ giã xin hòa thượng dùng phương tiện để tiếp độ thầy ấy một chút. Trong tương lai thầy ấy có thể trở nên một cây đại thụ làm bóng mát cho rất nhiều người trong thiên hạ.
Khi thiền sư tới từ biệt tổ, tổ nói:
– Con không nên đi đâu cả, chỉ nên đi tới thầy Đại Ngu ở đầu sông Cao An mà thôi. Thầy Đại Ngu sẽ giúp con.
Thiền sư liền đi tới Đại Ngu. Đại Ngu nói: ‘Thầy từ đâu tới?’
Thiền sư nói: ‘Từ tu viện Hoàng Bích tới.’
Đại Ngu: ‘Hoàng Bích có nói gì không?’
Thiền sư:
– Ba lần tôi tới hỏi về đại ý Phật pháp, ba lần tôi bị đánh. Tôi không biết là tôi có lỗi hay không có lỗi.
Đại Ngu nói:
– Hoàng Bích như một bà ngoại từ mẫn đã hết lòng hết sức giúp thầy vượt qua những khó khăn, vậy mà thầy lại còn nói có lỗi hay không có lỗi!
Nghe thế, thiền sư đại ngộ. Thiền sư nói:
– Thì ra Phật pháp của hòa thượng Hoàng Bích đâu có gì ghê gớm lắm đâu!
Đại Ngu nói:
– Cái con quỷ đái dầm này, vừa than có lỗi không lỗi đó thì nay lại dám nói Phật pháp của Hoàng Bích không có gì là ghê gớm! Thầy thấy được cái gì, nói nghe xem, nói nghe xem!
Thiền sư mới thụi vào hông Đại Ngu ba cái. Đại Ngu đẩy thiền sư ra, nói:
– Thầy của ông là Hoàng Bích, chuyện này chẳng có dính líu gì đến tôi.
Thiền sư liền từ giã Đại Ngu trở về với tổ Hoàng Bích. Thấy thiền sư trở về, Hoàng Bích nói:
– Cái anh chàng này cứ đi đi về về như thế bao giờ mới chấm dứt?
Thiền sư nói:
– Chỉ vì hòa thượng từ bi quá nên con phải trở về.
Làm lễ xong, thiền sư đứng hầu một bên. Hoàng Bích hỏi:
– Đi đâu về thế?
– Mới đây theo lời dạy đầy tình thương của hòa thượng, con đã đến tham vấn Đại Ngu. Nay con mới về.
Hoàng Bích: ‘Đại Ngu có nói gì không?’
Thiền sư liền kể lại đầu đuôi câu chuyện. Hoàng Bích nói:
– Cái lão Đại Ngu kia, đợi khi có dịp nắm được lão, ta sẽ đánh cho lão một trận.
Thiền sư liền nói:
– Đâu có cần đợi làm gì, hòa thượng? Hãy tiếp nhận ngay bây giờ đi.
Nói xong thiền sư liền thụi vào Hoàng Bích. Hoàng Bích la:
– Cái thằng điên này, dám tới hang cọp vuốt râu hùm hả?
Thiền sư bèn hét.
Hoàng Bích nói:
– Thị giả đâu, dẫn thằng khùng này vào trong tăng đường đi.
Sau này Quy Sơn có dịp kể lại chuyện này cho Ngưỡng Sơn và hỏi Ngưỡng Sơn:
– Hồi ấy Lâm Tế tiếp nhận năng lượng từ Đại Ngu hay từ Hoàng Bích?
Ngưỡng Sơn nói:
– Nếu không cỡi đầu cọp, thì làm sao vuốt được đuôi cọp?
Thiền sư đang trồng tùng. Tổ Hoàng Bích hỏi:
– Trong núi sâu trồng tùng làm gì nhiều thế?
Thiền sư đáp:
– Trước là để làm cảnh cho sơn môn, sau là để làm tiêu chuẩn cho các thế hệ tương lai.
Nói xong, thiền sư lấy cuốc dộng xuống đất ba lần.
Hoàng Bích nói:
– Tuy là vậy nhưng thầy cũng đã bị tôi cho ăn ba chục gậy rồi (là ít) đấy.
Thiền sư lại dộng cuốc xuống đất ba lần nữa, rồi rên lên ư ử. Hoàng Bích nói:
– Tông phong của ta đến thế hệ của ngươi sẽ được hưng thịnh lớn trên đời.
Sau này Quy Sơn lặp lại lời này hỏi Ngưỡng Sơn:
– Lúc ấy Hoàng Bích chỉ phó chúc cho một mình Lâm Tế hay còn phó chúc cho ai khác?
Ngưỡng Sơn:
– Còn chứ, nhưng tại vì hòa thượng quá lớn tuổi rồi nên tôi không nói làm chi đó thôi.
Quy Sơn nói:
– Tuy vậy tôi cũng muốn biết, thầy cứ nói xem.
Ngưỡng Sơn:
– Một người chỉ ngón tay về phương Nam, cả nước Ngô lẫn nước Việt đều tuân hành theo lệnh. Gặp gió lớn thì ngừng. (tiên đoán về hòa thượng Phong Huyệt)
Thiền sư một hôm đứng hầu thiền sư Đức Sơn. Đức Sơn nói:
– Hôm nay tôi mệt.
Thiền sư nói:
– Ông già này đang nói mơ gì đó?
Đức Sơn liền đánh.
Thiền sư lật đổ thiền sàng. Đức Sơn mới ngưng.
Thiền sư đang xới đất trong một buổi chấp tác toàn chúng, thì thấy Tổ Hoàng Bích tới, liền chống cuốc đứng yên. Hoàng Bích hỏi:
– Anh chàng này mệt rồi hả?
Thiền sư nói:
– Cuốc chưa nhấc lên mà mệt gì.
Hoàng Bích liền đánh thiền sư một cái. Sư giật lấy gậy của Hoàng Bích xô một cái, Hoàng Bích ngả xuống. Tổ Hoàng Bích gọi:
– Thầy Duy Na, thầy Duy Na, tới đỡ tôi dậy đi.
Thầy Duy Na tới gần nói:
– Tại sao hòa thượng lại để cho anh chàng điên này làm một điều vô lễ như thế?
Hoàng Bích đứng lên được rồi liền đánh thầy Duy Na. Thiền sư thấy thế dộng cuốc xuống đất và nói:
– Ở các nơi khác thì người ta hỏa táng. Còn ở đây thì chỉ chôn sống.
Sau này Quy Sơn có dịp hỏi Ngưỡng Sơn:
– Tại sao Hoàng Bích lại đánh vị Duy Na?
Ngưỡng Sơn:
– Tên giặc thiệt thì đã chạy mất, còn người đuổi giặc lại bị ăn đòn.
Có một hôm ngồi ở tăng đường, thiền sư thấy Tổ Hoàng Bích đến, liền nhắm mắt lại. Hoàng Bích giả làm bộ sợ, đi về phương trượng. Thiền sư đi theo về phương trượng lễ tạ. Lúc ấy có thầy thủ tọa đang đứng hầu bên tả Hoàng Bích. Hoàng Bích nói:
– Thầy này còn trẻ, nhưng là kẻ biết được vấn đề.
Thủ tọa nói:
– Chân hòa thượng không chấm đất, mà hòa thượng lại ấn chứng cho cái anh chàng trẻ này.
Tổ Hoàng Bích lấy tay tự vả vào miệng Tổ một cái. Thầy thủ tọa nói:
– Nếu hòa thượng biết thì không sao.
Thiền sư đang ngủ trong tăng đường. Hoàng Bích thấy thế, lấy gậy gõ vào thiền sàng một cái. Thiền sư ngửng đầu lên thấy Hoàng Bích, liền nhắm mắt ngủ lại. Hoàng Bích lại gõ thêm một tiếng, rồi đi lên lầu trên. Thấy vị thủ tọa đang ngồi thiền, Hoàng Bích nói:
– Lầu dưới, người trẻ đang ngồi thiền, tại sao trên này thầy còn ngồi với vọng tưởng?
Thủ tọa nói:
– Cái ông già này làm gì thế?
Hoàng Bích gõ thêm một cái trên thiền sáng rồi đi ra.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn câu chuyện Hoàng Bích vào tăng đường ấy có nghĩa gì. Ngưỡng Sơn nói:
– Một lá bài hai mặt.
Một hôm có buổi chấp tác của cả đại chúng, thiền sư đi sau. Tổ Hoàng Bích quay lại, thấy thiền sư tay không, hỏi:
– Cuốc để đâu?
Thiền sư nói:
– Có một người lấy đi mất rồi.
Hoàng Bích nói:
– Tới gần đây để cùng đàm luận.
Thiền sư đến gần. Đưa cuốc lên trời, Tổ nói:
– Cái này đây trong thiên hạ không ai giật khỏi tay ta.
Thiền sư liền giật lấy cuốc của Hoàng Bích, đưa lên và nói:
– Vậy tại sao bây giờ nó nằm trong tay con đây?
Hoàng Bích nói: ‘Hôm nay đã có rất nhiều người chấp tác rồi.’ Nói xong liền trở về tăng viện.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– Cây cuốc đang nằm trong tay Hoàng Bích tại sao lại vào tay Lâm Tế?
Ngưỡng Sơn:
– Giặc là tiểu nhân, nhưng nếu có trí, thì tiểu nhân có thể hơn người quân tử.
Thiền sư đem thư của Tổ Hoàng Bích cho Quy Sơn. Lúc ấy Ngưỡng Sơn làm tri khách. Tiếp thư, Ngưỡng Sơn hỏi:
– Cái này là thư của Hoàng Bích, còn thư của người đưa thư đâu?
Thiền sư liền thụi Ngưỡng Sơn một cái. Ngưỡng Sơn ôm lấy Thiền sư, nói:
– Sư anh biết được như thế là hay rồi, chúng ta hãy thôi đừng đối đáp nữa.
Và cả hai cùng đi tới Quy Sơn. Quy Sơn hỏi:
– Học chúng của sư anh Hoàng Bích có được bao nhiêu vị?
Thiền sư đáp: ‘Có bảy trăm vị.’
Quy Sơn: ‘Trong số ấy ai là người dẫn dắt?’
Thiền sư: ‘Người ấy vừa mới trao thư cho thầy đấy.’
Rồi thiền sư hỏi: ‘Ở đây hòa thượng có bao nhiêu vị trong học chúng?’
Quy Sơn nói: ‘Một ngàn năm trăm vị.’
Thiền sư nói: ‘Nhiều quá nhỉ!’
Quy Sơn nói: ‘Học chúng của sư anh Hoàng Bích ta cũng rất đông.’
Thiền sư chào từ giã Quy Sơn. Ngưỡng Sơn đưa Thiền sư ra, nói:
– Nếu mai này sư anh đi lên miền Bắc, sư anh sẽ có một chỗ cư trú.
Thiền sư nói: ‘Sao có thể như thế được?’
Ngưỡng Sơn nói:
– Cứ đi đi thì biết. Sau này sẽ có một người phụ tá cho sư anh, người này sẽ là có đầu mà không có đuôi, có thỉ mà không có chung.
Sau này thiền sư lên Trấn Châu quả gặp Phổ Hóa ở đấy. Khi thiền sư xuất hiện làm việc hóa độ, thì có Phổ Hóa phụ tá. Chưa ở với Phổ Hóa bao lâu thì Phổ Hóa đã đi, toàn thân không còn lưu dấu vết.
Giữa mùa an cư kết hạ, thiền sư đến thăm Tổ Hoàng Bích, thấy Tổ đang xem kinh. Thiền sư nói:
– Lâu nay con cứ tưởng thầy là một con người, ngờ đâu thầy chỉ là một vị hòa thượng già, đậu đen ngậm đầy miệng.
Thiền sư ở lại vài hôm rồi tới từ giã Tổ Hoàng Bích mà đi. Tổ nói:
– Nhà ngươi bỏ an cư tới đây là đã phá hạ, mà tới đây rồi lại không ở cho hết hạ lại còn bỏ đi.
Thiền sư nói:
– Con chỉ tạm đến đây vài ngày để thăm thầy thôi.
Hoàng Bích liền đánh và đuổi đi. Đi được vài dặm đường, thiền sư bỗng có nghi vấn về việc này, cho nên trở lại để ở cho hết hạ.
Hết hạ rồi, một hôm thiền sư đến từ giã Tổ Hoàng Bích. Tổ hỏi:
– Thầy đi đâu?
Thiền sư nói:
– Nếu không phải đi Hà Nam thì đi Hà Bắc.
Tổ liền đánh. Thiền sư nắm Tổ lại không cho Tổ đánh tiếp, rồi thụi Tổ một cái. Tổ cười lớn và gọi:
– Thị giả, đem thiền trượng và kỷ án của sư ông Bách Trượng đến đây cho ta.
Thiền sư nói:
– Thị giả, đem lửa tới đây cho ta.
Tổ Hoàng Bích nói:
– Nói gì thì cứ nói, nhưng con hãy mang những thứ này theo với con. Sau này con sẽ có thể ngồi trên lưỡi của thiên hạ cho xem.
Sau này, Quy Sơn có dịp hỏi Ngưỡng Sơn:
– Lâm Tế có hơi bất nghĩa với Hoàng Bích không?
Ngưỡng Sơn nói: ‘Không.’
Quy Sơn nói: ‘Nghĩa là thế nào?’
Ngưỡng Sơn nói: ‘Biết ơn mới có thể đền ơn.’
Quy Sơn nói:
– Từ xưa tới nay đã có trường hợp nào như thế chưa?’
Ngưỡng Sơn:
– Có chứ, nhưng chuyện đã xảy ra quá xưa rồi, mình không muốn nhắc đến.
Quy Sơn:
– Tuy nhiên tôi vẫn muốn nghe. Nói đi.
Ngưỡng Sơn:
– Trong hội Lăng Nghiêm, thầy Anan tán thán Bụt: ‘Đem hết thân tâm này ra để cứu độ chúng sinh trong các cõi nhiều như vi trần thì mới gọi là báo đáp được ân đức của Bụt.’ Đó chẳng phải là báo ân sao?
Quy Sơn nói:
– Đúng vậy! Đúng vậy! Cái thấy của mình ngang bằng cái thấy của thầy làm cho mình chỉ có được một nửa uy đức tâm linh của thầy. Cái thấy của mình nếu hơn cái thấy của thầy thì mình mới xứng đáng là sự tiếp nối của thầy.
Thiền sư đến thăm tháp của Tổ Bồ Đề Đạt Ma. Vị tháp chủ hỏi:
– Hòa thượng lễ Bụt trước hay lễ Tổ trước?
Thiền sư đáp:
– Tôi không lễ Bụt mà cũng không lễ Tổ.
Tháp chủ:
– Bụt và Tổ có oán cừu gì với hòa thượng mà hòa thượng không lễ?
Thiền sư liền phất tay áo ra đi.
Trong một chuyến hành cước, thiền sư ghé đạo tràng của thiền sư Long Quang. Khi Long Quang lên pháp đường, thiền sư ra hỏi:
– Không đưa mũi giáo ra, làm sao để chiến thắng?
Long Quang cứ ngồi yên. Thiền sư nói:
– Làm kẻ thiện tri thức lớn mà không thi triển phương tiện quyền xảo gì hết sao?
Long Quang trừng mắt nhìn thiền sư, nói: ‘Hừ!’
Thiền sư lấy tay chỉ Long Quang và nói:
– Ông già này hôm nay thua cuộc rồi!
Thiền sư đến Tam Phong. Hòa thượng Bình hỏi:
– Từ đâu tới?
– Từ đạo tràng Hoàng Bích.
Bình nói:
– Hoàng Bích có nói gì không?
Thiền sư nói:
Hôm qua trâu vàng lâm khốn đốn
Đến nay chửa thấy vết chân nào.
Bình nói:
Gió thu lồng sáo ngọc
Ai chính kẻ tri âm?
Thiền sư:
Vạn trùng quan san đà vượt thấu
Mà không ở lại chốn trời xanh.
Bình: ‘Câu hỏi của thầy hơi cao đấy.’
Thiền sư:
Rồng sinh ra Kim phụng
Phá vỡ trời lưu ly.
Bình: ‘Thôi ngồi xuống uống trà đi.’ Rồi hỏi:
– Mấy hôm trước đây, thầy ở đâu?
Thiền sư:
– Tôi ở đạo tràng Long Quang.
Bình: ‘Long Quang gần đây ra sao?’
Thiền sư liền bỏ đi ra.
Thiền sư đến viếng đạo tràng của thiền sư Đạo Từ. Đạo Từ đang ngồi trong phương trượng. Thiền sư hỏi:
– Ngồi yên trong thất thì thế nào?
Từ đáp:
Xanh xanh tùng đứng ngàn đông lạnh
Tay già hoa nở vạn miền xuân
Thiền sư:
Viên trí xưa nay từng siêu việt
Ba non mở được vạn trùng quan.
Từ bèn hét. Thiền sư cũng hét.
Từ hỏi: ‘Thế nào?’ Thiền sư phất tay áo bỏ ra.
Thiền sư đến Nhượng Châu, gặp thiền sư Hoa Nghiêm. Hoa Nghiêm giả bộ dựa trên chiếc gậy để ngủ. Thiền sư nói:
– Hòa thượng, ngủ làm gì?
Nghiêm nói:
– Vị thiền khách này không giống những vị thiền khách khác.
Thiền sư nói:
– Thị giả! Đem trà lại mời hòa thượng.
Thiền sư Hoa Nghiêm mới gọi thầy Duy Na tới, dặn:
– Sắp cho vị thượng tọa này ngồi ở ghế thứ ba.
Thiền sư đến thăm thiền sư Túy Phong. Túy Phong hỏi:
– Thầy từ đâu tới?
– Từ đạo tràng Hoàng Bích tới.
– Hoàng Bích có nói câu gì để khai thị cho người ta không?
– Hoàng Bích không nói câu gì cả.
– Tại sao lại không được?
– Dù có nói thì cũng không lặp lại được.
Túy Phong nói: ‘Cứ thử lặp lại xem.’
Thiền sư nói: ‘Một mũi tên bay vào trời Tây.’
Thiền sư đến thăm thiền sư Tượng Điền, hỏi:
– Không phải phàm mà cũng không phải thánh, thầy thấy sao nói liền đi.
Tượng Điền nói:
– Ông thầy già này chỉ như thế này thôi.
Thiền sư liền hét và nói:
– Một bọn trọc đầu đông đảo tới đây để mong tìm được cái chén bát nào?
Thiền sư đến thăm thiền sư Minh Hóa. Minh Hóa hỏi:
– Đi đi tới tới hoài như thế để làm cái gì?
Thiền sư nói:
– Chỉ để cho mòn đôi giép cỏ.
Minh Hóa hỏi:
– Cuối cùng để làm gì?
Thiền sư nói:
– Ông già này chẳng biết thế nào là trò chuyện cả sao?
Thiền sư đi thăm thiền sư Phụng Lâm, nửa đường gặp một bà già. Bà hỏi:
– Thầy đi đâu?
Thiền sư: ‘Tôi đi thăm Phụng Lâm.’
Bà nói: ‘Lúc này Phụng Lâm không có nhà.’
Thiền sư: ‘Thế Phụng Lâm đi đâu?’
Bà già bước đi. Thiền sư gọi: ‘Này bà!’ Bà quay đầu lại, thì bị thiền sư đánh.
Thiền sư tới Phụng Lâm. Phụng Lâm hỏi:
– Tôi có chuyện muốn hỏi. Được không?
Thiền sư nói:
– Làm sao xẻ thịt gây vết thương?
Lâm:
Biển lặng trăng không bóng
Cá đớp vì tự mê
Thiền sư:
Trăng biển đã không bóng
Cá lội làm sao mê?
Lâm:
Thấy gió biết sóng dậy
Nhìn nước biết buồm xuôi
Thiền sư:
Một vầng chiếu rọi non sông lĩnh
Cười lên một tiếng đất trời kinh
Lâm:
Muốn đem ba tấc soi trời đất
Đối cơ một cú nói lên xem
Thiền sư:
Gặp người kiếm khách nên trình kiếm
Chẳng phải người thơ chẳng tặng thơ
Nghe như thế, Phụng Lâm mới thôi. Thiền sư lúc ấy lại nói một bài kệ tụng:
Đạo lớn đại đồng
Đừng ngó tây đông
Lửa đá không kịp
Chớp lòe chẳng thông.
(Sau này) Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– ‘Lửa đá không kịp, chớp lòe chẳng thông’, xưa nay các bậc thánh tăng lấy gì để giúp người?
Ngưỡng Sơn: ‘Thầy nghĩ sao?’
Quy Sơn: ‘Chỉ có ngôn thuyết, không có ý nghĩa gì thật.’
Ngưỡng Sơn nói: ‘Không phải thế đâu!’
Quy Sơn: ‘Vậy thì thầy hiểu thế nào?’
Ngưỡng Sơn nói:
– Chính thức, thì một cây kim không lọt vào được. Tư riêng thì xe ngựa đều có thể chạy qua.
Thiền sư đến thăm thiền sư Kim Ngưu. Trông thấy thiền sư, Kim Ngưu đưa ngang cây gậy ngồi xổm chận đường vào cửa. Thiền sư lấy gậy đập xuống ba cái và đi vào trong pháp đường, ngồi vào ghế thứ nhất. Kim Ngưu vào thấy thế hỏi:
– Thói thường thì khi chủ khách gặp nhau, mỗi người đều thực tập uy nghi. Thượng tọa từ đâu tới mà hành xử vô lễ như thế?
Thiền sư nói:
– Hòa thượng đang nói cái gì thế?
Kim Ngưu sắp mở miệng thì bị thiền sư đánh một cái. Kim Ngưu giả bộ ngả xuống. Thiền sư lại đánh thêm một cái nữa. Ngưu nói:
– Hôm nay tôi không gặp may.
Sau này Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn:
– Trong hai vị tôn túc ấy có ai thắng ai bại không?
Ngưỡng Sơn nói:
– Thắng thì thắng hết, bại thì bại hết.
Lúc sắp thoát hóa, thiền sư ngồi trên đơn và nói:
– Sau khi tôi chết, đừng để cho chánh pháp nhãn tạng của tôi bị tiêu diệt, nghe không.
Thầy Tam Thánh bước ra thưa:
– Chúng con sẽ không dám làm cho chánh pháp nhãn tạng của thầy tiêu diệt đâu.
Thiền sư hỏi:
– Thế thì sau này có người đến hỏi thầy, thầy sẽ trả lời người ấy làm sao?
Tam Thánh liền hét.
Thiền sư nói:
– Có ai ngờ rằng chính con lừa mù này sẽ làm cho chánh pháp nhãn tạng của tôi bị tiêu diệt hay không?
Nói xong, ngồi đoan nghiêm mà thị tịch.
Thiền sư tên húy là Nghĩa Huyền, họ Hình, người Nam Hoa thuộc quận Tào Châu. Hồi còn nhỏ đã thông minh khác thường. Lớn lên nổi tiếng là có hiếu. Sau khi xuất gia rồi thọ Giới Lớn, được cư trú tại học viện, có dịp học hỏi và nghiên cứu giới luật, và bác lãm về Kinh Luận. Nhưng một hôm sư than thở: ‘Tất cả những thứ này đều là phương thuốc độ đời, không phải là tinh hoa được truyền lại từ ngoài kinh và giáo (giáo ngoại biệt truyền). Liền khoác áo du phương, ban đầu tới học với thiền sư Hoàng Bích. Sau đó lại đi yết kiến thiền sư Đại Ngu. Những cơ duyên và ngữ cú này đều có ghi chép ở phần hành lục. Sau khi được thiền sư Hoàng Bích ấn chứng, thiền sư liền tìm lên Hà Bắc, cư ngụ tại vùng Đông Nam thành Trấn Châu, tiếp cận bờ sông Hô Đà, trụ trì tại một thiền viện nhỏ. Tên Lâm Tế là do cuộc đất mà được đặt ra. Lúc bấy giờ thiền sư Phổ Hóa đã có mặt ở đấy rồi, khùng khùng điên điên trong nhân gian, là thánh hay phàm chẳng ai biết được. Thiền sư tới đó thì trước hết phụ tá cho Phổ Hóa. Khi sự nghiệp hóa độ của thiền sư bắt đầu hưng thịnh thì Phổ Hóa thoát hóa toàn thân, rất phù hợp với lời tiên đoán của thiền sư Ngưỡng Sơn về sự xuất hiện của một ‘Tiểu Thích Ca.’ Gặp thời chiến tranh, thiền sư liền bỏ nơi ấy ra đi. Quan Thái Úy Mạc Quân Hòa biến ngôi nhà trong thành của mình thành ra một ngôi chùa cũng lấy tên là chùa Lâm Tế và mời thiền sư đến cư trú ở đấy.
Sau đó thiền sư phất áo đi về phương Nam tới phủ Hà Bắc. Quan Thường Thị họ Vương là phủ chủ đã tôn kính tiếp mời thiền sư như một vị đạo sư của mình.
Ở đấy không lâu, thiền sư về chùa Hưng Hóa ở phủ Đại Danh và ở tại tăng đường phía Đông. Một hôm, không bệnh tật gì, thiền sư vén áo ngồi yên, nói chuyện với đệ tử là Tam Thánh vài câu, rồi im lặng qua đời. Đó là ngày mồng mười tháng giêng năm Đinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông thứ tám đời Đường. Môn đồ đem toàn thân thiền sư nhập tháp ở phía Tây Bắc phủ Đại Danh. Vua sắc ban cho thiền sư tên thụy là Tuệ Chiếu Thiền Sư, tháp hiệu là Trừng Linh.
Nay chắp tay cúi đầu ghi lại đại lược.
Tiểu sư nối dòng pháp là Bảo Thọ ở Trấn Châu hiệu là Diên Chiểu kính ghi chép.

Đối trị căn cơ

Quan Phủ Thường Thị họ Vương cùng với các quan thỉnh thiền sư lên pháp tọa. Thiền sư bước lên nói: ‘Hôm nay vì việc bất đắc dĩ thuận theo nhân tình cho nên tôi mới lên ngồi trên pháp tòa này. Nếu nói đến chuyện chính thức đề xuống việc lớn của truyền thống tổ tông Thiền, tôi sẽ không thể mở miệng ra được và quý vị cũng sẽ không biết đặt chân vào đâu. Nhưng hôm nay vì quan Thường Thị cứ thỉnh cầu mãi thì làm sao tôi còn có thể dấu kín được tông chỉ cương yếu của Thiền? Vậy thì có vị chiến tướng nào muốn phất cờ mở trận thì hãy xin ra đối diện với đại chúng đây để nêu ra vài chứng cứ xem sao?
Có một vị xuất gia bước ra hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư hét.
Vị xuất gia kia lạy.
Thiền sư nói:
– Ông thầy này có thể nói chuyện được đấy.
Một vị khác hỏi:
– Thiền sư xướng lên khúc hát của truyền thống nào, và tiếp nối tông phong của ai?
Sư đáp:
– Ngày xưa hồi tôi còn ở với thầy Hoàng Bích, ba lần tôi đặt câu hỏi, ba lần bị đánh.
Vị này suy nghĩ. Sư liền hét. Sau đó sư còn đánh thêm cho một cái và nói:
– Thầy đừng có mong đóng cọc trong hư không.
Có vị tọa chủ lên hỏi:
– Giáo lý của ba thừa và của mười hai thể tài không lý không làm sáng lên được tính Bụt trong ta?
Thiền sư nói:
– Cỏ hoang của (vườn tâm) thầy, thầy chưa từng xới.
Tọa chủ thưa:
– Không có lý Bụt lại đánh lừa người?
Sư hỏi:
– Bụt ở đâu?
Vị tọa chủ không nói được.
Sư bảo:
– Có quan Thường Thị ở đây mà thầy lại muốn gạt ông thầy tu già này hả? Rút lui mau, rút lui mau! Để chỗ cho người khác hỏi.
Thiền sư lại nói:
– Vì việc lớn cho nên chúng ta mới thiết lập ra buổi tiệc pháp hôm nay. Còn ai muốn hỏi hay nói gì nữa không? Hãy mau ra đây. (Tôi nói trước cho quý vị biết) khi quý vị vừa mở miệng ra, thì quý vị đã đánh mất cái liên hệ rồi. Tại sao? Quý vị có nghe đức Thế Tôn nói rằng ‘pháp không dính tới văn tự, không thuộc nhân cũng không do duyên’ hay không? Chỉ vì đức tin của quý vị nơi tự thân còn chưa tới, cho nên hôm nay chúng ta chỉ có được những giây leo ký sinh (những lời nói lẻ), chỉ có tác dụng làm ủng trệ cái tâm của quan Thường Thị và của các quan khác, và làm cho Phật tính của quý vị ấy thêm lu mờ. Tốt hơn là nên rút lui.
Rồi thiền sư hét lên và nói: ‘Những người niềm tin bạc nhược kia ơi, bỏ ra cả ngày để chỉ nói qua nói lại như vậy cũng vô ích thôi! Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, vậy xin tạm biệt!’
Có lần thiền sư đến Hà phủ. Quan Thường Thị họ Vương thỉnh thiền sư lên pháp tòa.
Lúc bấy giờ có thầy Ma Cốc bước ra hỏi:
– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính?
Thiền sư nói:
– Trong ngàn mắt ngàn tay của đức Đại Bi, con mắt nào là con mắt chính? Nói mau, nói mau!
Ma Cốc kéo thiền sư xuống tòa rồi tự ngồi lên trên tòa. Thiền sư đến gần, nói: ‘Thầy có khỏe không?.’ Ma Cốc còn đang lưỡng lự thì thiền sư kéo Ma Cốc xuống, rồi tự ngồi lên. Ma Cốc đi ra khỏi pháp đường. Thiền sư cũng đi xuống.
Một hôm thiền sư lên pháp đường nói:
– Trên đống thịt đỏ au này có một con người thật không có vị trí, thường đi ra đi vào ngay trước cửa mặt của quý vị. Ai chưa thấy được thì hãy nhìn kỹ xem, nhìn kỹ xem!
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia đi lên, hỏi:
– Con người thật không có vị trí là gì?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy vị ấy, bảo:
– Thầy nói đi, thầy nói đi (con người thật không có vị trí là gì?)
Vị ấy lưỡng lự. Thiền sư bèn thả vị ấy ra rồi nói:
– Con người thật không có vị trí là cái cọng cứt khô gì?
Nói xong liền quay về phương trượng.
Thiền sư vừa lên pháp đường thì có một vị xuất gia ra lạy. Sư hét. Vị xuất gia nói:
– Xin lão hòa thượng đừng thử con.
Thiền sư hỏi:
– Thầy nói tôi nghe đi, cái (tiếng hét) ấy đã rơi vào đâu?
Vị xuất gia liền hét.
Có một vị thầy khác lên hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư hét. Thầy ấy lạy. Thiền sư hỏi:
– Khuyết điểm là ở chỗ nào?
Thầy ấy nói:
– Nếu tái phạm sẽ không tha thứ lần nữa.
Thiền sư liền hét.
Hôm ấy hai vị thủ tọa của hai thiền đường vừa thấy nhau thì đồng thời cùng hét. Có một thầy hỏi thiền sư:
– Trong trường hợp này có chủ có khách đàng hoàng không?
Thiền sư nói:
– Chủ khách rõ ràng đó.
Và thiền sư nói:
– Đại chúng, nếu quý vị muốn biết về nguyên tắc tứ tân chủ thì hãy tới hỏi hai vị thủ tọa hai thiền đường.
– Nói xong thiền sư bước xuống.
Thiền sư lên pháp đường, có một vị xuất gia hỏi:
– Đại ý Phật pháp là gì?
Thiền sư đưa phất trần lên. Vị ấy hét và bị thiền sư đánh cho một cái. Lại có một vị xuất gia khác lên hỏi:
– Đại ý Phật pháp là gì?
Thiền sư cũng đưa phất trần lên. Vị ấy hét. Thiền sư cũng hét. Vị ấy do dự, liền bị thiền sư đánh. Thiền sư mới bảo:
– Này đại chúng, người vì pháp thì không sợ táng thất thân mạng. Hai mươi năm về trước hồi còn ở với tiên sư Hoàng Bích, ba lần tới hỏi về đại ý Phật pháp ba lần tôi được ban cho một gậy, cũng giống như được tiên sư sờ đầu bằng một cành ngãi cứu (armoise) vậy. Đến hôm nay tôi vẫn còn nhớ đến lần được Ngài đánh. Vậy thì ai có thể lên đây giúp tôi sống lại giây phút ấy?
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia rời chỗ ngồi trong chúng đi lên, nói:
– Con đây có thể làm được việc ấy.
Thiền sư cầm gậy đưa cho vị kia. Vị kia ngần ngại khi tiếp nhận cây gậy. Thiền sư liền đánh cho vị ấy một gậy.
Thiền sư lên pháp đường, có vị xuất gia hỏi:
– Chuyện đầu lưỡi gươm bén là chuyện gì vậy?
Thiền sư nói:
– Nguy rồi! Nguy rồi!
Vị kia lưỡng lự, liền bị thiền sư đánh cho một cái.
Lại có người hỏi:
– Trong trường hợp người hành giả Thạch Thất giả gạo, giây phút anh ta quên mất việc dậm chân xuống chày thì anh ta đi đâu?
Thiền sư nói:
– Chìm xuống suối sâu.
Thiền sư lại nói:
– Dù có ai tới với tôi đi nữa thì tôi cũng không phụ lòng người ấy. Luôn luôn tôi biết kẻ ấy từ đâu tới. Nếu người ấy tới với tư thế ấy, thì người ấy cũng giống như tự đánh mất mình, nếu người ấy không tới với tư thế ấy, thì cũng như không có dây mà người ấy tự trói mình. Này quý vị, bất cứ lúc nào cũng vậy, đừng có đắn đo suy nghĩ loạn lên như thế. Hiểu hay không hiểu đều là sai lầm. Tôi nói huỵch toẹt ra như thế đó. Thiên hạ có nói hành tôi thì cứ nói, không sao. Quý vị đứng lâu mỏi chân rồi, xin hẹn dịp khác!
Thiền sư lên pháp đường, và khai thị:
– Một người đứng trên chót vót đỉnh cô phong không có đường ra, còn một người đứng giữa ngã tư không tiến thối được. Giữa hai kẻ ấy, ai tới trước, ai tới sau? Đừng giả bộ làm Duy Ma Cật cũng đừng đóng vai Phó đại sĩ. Xin chào quý vị.
Thiền sư lên pháp đường, nói:
– Có một người đang mãi mãi ở ngoài đường mà chưa hề lìa khỏi nhà cửa, có một người đã lìa nhà cửa, nhưng mà không đang ở ngoài đường. Trong hai người ấy, ai là kẻ đáng được thiên và nhân cúng dường?
Nói xong liền bước xuống.
Thiền sư lên pháp đường. Có vị xuất gia hỏi:
– Câu nói thứ nhất là gì?
Thiền sư đáp:
ấn tam yếu nhấc ra, điểm son rõ
Không hề lưỡng lự, chủ khách phân.
– Còn câu nói thứ hai?
Diệu giải ngại gì câu vấn đáp
Cơ quan thi thiết chẳng ngăn dòng.
– Còn câu nói thứ ba?
Hãy nhìn con rối đang trình diễn
Có người dây kéo núp bên trong.
Thiền sư lại nói:
– Một câu nói phải có đủ ba huyền môn. Một huyền môn phải có đủ ba yếu lĩnh. Phải có quyền phải có dụng. Các vị hiểu như thế nào?
Nói xong, thiền sư bước xuống.
Tổ Hoàng Bích vào nhà bếp, hỏi thầy đầu bếp:
– Thầy làm gì đó?
Thầy đầu bếp trả lời:
– Con đang nhặt gạo cho chúng tăng.
Tổ Hoàng Bích hỏi:
– Mỗi ngày ăn nhiều ít?
Thầy đầu bếp nói:
– Hai thạch rưỡi.
Tổ Hoàng Bích:
– Như thế có nhiều quá hay không?
Thầy đầu bếp:
– Vậy mà còn sợ thiếu đấy.
Tổ Hoàng Bích liền đánh thầy đầu bếp một cái.
Thầy đầu bếp thuật chuyện này cho thiền sư Lâm Tế nghe. Thiền sư nói:
– Tôi sẽ hỏi ông già cho thầy về việc này.
Thiền sư vừa đến đứng bên tổ Hoàng Bích thì tổ liền kể lại câu chuyện. Thiền sư nói:
– Thầy đầu bếp không hiểu, xin hòa thượng cho một câu trả lời để con chuyển lại cho thầy ấy.
Rồi thiền sư hỏi:
– Như thế có nhiều quá hay không?
Tổ Hoàng Bích nói:
– Tại sao (thầy ấy) không nói ngày mai lại phải ăn thêm một bữa nữa?
Thiền sư nói:
– Nói ngày mai mà làm gì? Phải ăn ngay ngày hôm nay chứ!
Nói xong thiền sư đánh tổ một cái. Tổ Hoàng Bích nói:
– Cái thằng điên này hôm nay dám tới đây vuốt râu hùm hả?
Thiền sư liền hét và đi ra.
Sau đó có dịp Quy Sơn hỏi Ngưỡng Sơn về chuyện này:
– Hai vị tôn túc kia nói với nhau như thế là có ý gì?
Ngưỡng Sơn:
– Thầy nghĩ gì?
Quy Sơn nói:
– Nuôi con mới biết công lao mẹ hiền.
Ngưỡng Sơn nói:
– Không phải vậy đâu.
Quy Sơn nói:
– Vậy thì sao?
Ngưỡng Sơn nói:
– Cái đó cũng nghiêm trọng chẳng khác như đưa giặc về phá nhà.
Thiền sư hỏi một vị xuất gia:
– Thầy từ đâu tới?
Vị này hét.
Thiền sư liền chào và mời vị kia ngồi xuống. Vị kia lưỡng lự, bèn bị thiền sư đánh.
Thiền sư thấy một vị xuất gia đến, liền nâng phất trần lên. Vị xuất gia làm lễ, liền bị thiền sư đánh.
Lại một vị xuất gia khác đến, thiền sư cũng nâng phất trần lên. Vị này tỏ ra không quan tâm đến. Thiền sư cũng đánh vị này luôn.
Một hôm, thiền sư cùng thiền sư Phổ Hóa đi phó trai tại nhà một thí chủ.
Thiền sư hỏi:
– Sợi lông nuốt cả biển cả, hạt cải đựng được núi Tu Di, đó là diệu dụng thần thông, hay sự thực vốn là như thế?
Phổ Hóa kéo đổ cả mâm cơm. Thiền sư nói:
– Sao mà thô tháo như thế? (Sao không có uy nghi tế hạnh gì cả?)
Phổ Hóa nói:
– Đây là đâu mà nói thô nói tế?
Ngày hôm sau thiền sư lại cùng Phổ Hóa đi phó trai. Thiền sư lại hỏi:
– Hôm nay thức ăn cúng dường cũng tương tợ như hôm qua, phải không?
Phổ Hóa cũng kéo đổ bàn cơm như hôm trước. Thiền sư nói:
– Được thì được đấy, nhưng mà thô tháo thì vẫn rất thô tháo.
Phổ Hóa nói:
– Đồ đui! Trong Phật pháp thì có gì là thô có gì là tế?
Thiền sư bèn le lưỡi.
Một hôm đó, thiền sư cùng với hai vị trưởng lão Hà Dương và Mộc Tháp ngồi sưỡi chân trong tăng đường. Thiền sư nói:
– Ngày nào Phổ Hóa cũng làm kẻ điên ngoài phố chợ. Chẳng biết ông ta là phàm hay là thánh.
Ngay lúc ấy Phổ Hóa đi vào. Thiền sư liền hỏi:
– Thầy là phàm hay là thánh?
Phổ Hóa nói:
– Thầy hãy nói đi: tôi là phàm hay là thánh?
Thiền sư hét. Phổ Hóa lấy tay chỉ ba người và nói:
– Hà Dương là cô dâu mới, Mộc Tháp là thiền lão bà, còn Lâm Tế là một đứa bé con, nhưng nó lại có được một con mắt.
Thiền sư nói:
– Tên giặc này!
Phổ Hóa vừa đi ra vừa kêu: Có giặc! Có giặc!
Một hôm Phổ Hóa đang ăn bắp cải sống ở tăng đường. Thiền sư liền nói:
– Lớn như một con lừa!
Phổ Hóa liền giả tiếng lừa kêu. Thiền sư nói:
– Tên giặc này!
Phổ Hóa vừa đi ra vừa kêu: Có giặc! Có giặc!
Phổ Hóa thường đi rung chuông ngoài phố chợ và nói:
– Phía sáng tới thì đánh phía sáng, phía tối đến thì đánh phía tối, bốn phương tám hướng đến, thì xoay vần mà đánh, hư không đến thì ta đây đánh hết mình.
Thiền sư sai một vị thị giả đi, dặn khi nghe Phổ Hóa nói như thế thì níu thầy ấy lại và hỏi: ‘Nếu không có cái gì tới thì sao?’ (Vị thị giả làm y như thế). Phổ Hóa đẩy thị giả ra và nói:
– Ngày mai sẽ có trai tăng ở Đại Bi Viện.
Nghe kể lại câu chuyện, thiền sư nói:
– Xưa nay mình vẫn nghi cái anh chàng này.
Có một vị lão túc tới tham vấn, không làm lễ chào hỏi cũng không vấn an. Vị này hỏi:
– Làm lễ là phải hay không làm lễ phải?
Thiền sư hét. Vị lão túc làm lễ. Thiền sư nói:
– Hay thay, bọn giặc cỏ này.
Vị lão túc la: ‘Giặc cỏ! Giặc cỏ!’ Và đi ra.
Thiền sư nói:
– Đừng nói vô sự là tốt.
Lúc bấy giờ có một vị thủ tọa đang đứng hầu một bên thiền sư. Thiền sư hỏi:
– Có lỗi hay không có lỗi?
Vị thủ tọa đáp:
– Cả hai đều có lỗi.
Thiền sư hỏi:
– Lỗi ở chỗ nào?
Vị thủ tọa đi ra.
Thiền sư nói:
– Đừng nói vô sự là tốt.
Sau này có người kể lại câu chuyện với Nam Tuyền. Nam Tuyền phê bình:
– Ngựa quan đạp nhau.
Nhân vào phó trai ở một doanh trại của quân đội, thiền sư gặp một viên sĩ quan đứng đón ở cửa. Trỏ vào một cây cột trần, thiền sư hỏi:
– Cái này là phàm hay thánh?
Vị sĩ quan không nói được.
Thiền sư đánh vào cây cột trần và nói: ‘Dù có nói được hay không thì nó cũng chỉ là một cây cột gỗ.’ Bèn đi vào.
Thiền sư hỏi viện chủ: ‘Thầy vừa từ đâu về?’
Viện chủ: ‘Đi ra quận bán lúa về.’
Thiền sư: ‘Bán được hết không?’
Viện chủ: ‘Bán được hết.’
Thiền sư lấy gậy vạch một đường trước mặt, hỏi:
– Bán được cái này không?
Viện chủ hét. Thiền sư đánh.
Vị điển tọa tới. Thiền sư kể lại câu chuyện. Vị điển tọa nói:
– Viện chủ không hiểu được ý của hòa thượng.
Thiền sư nói:
– Còn thầy, thầy hiểu không?
Điển tọa nghiêng mình làm lễ, cũng bị thiền sư đánh luôn.
Có vị tọa chủ (giảng sư) tới thăm viếng, thiền sư hỏi:
– Tọa chủ giảng những kinh luận nào?
Tọa chủ:
– Con còn dở lắm, chỉ giảng sơ sài được luận Bách Pháp Minh Môn.
Thiền sư nói:
– Có kẻ thông suốt cả giáo lý ba thừa và mười hai thể tài, lại có kẻ không biết gì về giáo lý tam thừa và mười hai thể tài, hai kẻ ấy giống nhau hay khác nhau?
Tọa chủ nói:
– Hiểu được thì giống nhau, không hiểu được thì khác nhau.
Lúc ấy Lạc Phổ đứng sau lưng làm thị giả, nói:
– Thưa tọa chủ, ở đây là đâu mà nói giống nhau hay khác nhau?
Thiền sư quay lại hỏi:
– Thị giả, vậy thì chú nghĩ sao?
Thị giả liền hét. Sau khi tiễn tọa chủ đi, thiền sư hỏi thị giả:
– Hồi nảy chú hét tôi hả?
Thị giả nói: ‘Vâng.’ Thiền sư bèn đánh thị giả.
Thiền sư nghe Đức Sơn đời thứ hai có nói: ‘Nói được thì lãnh ba mươi gậy, không nói được cũng lãnh ba mươi gậy’, bèn sai Lạc Phổ đi đến, dặn rằng:
– Sau khi hỏi: ‘Nói được sao cũng lãnh 30 gậy?’, chú hãy đợi cho Đức Sơn đánh thì hãy giật gậy và đẩy cho ông ta một cái mạnh, xem ông ta hành xử ra sao?
Lạc Phổ làm y như lời dặn. Đức Sơn thấy thế liền rút vào phương trượng. Lạc Phổ về thuật lại cho thiền sư hay. Thiền sư nói:
– Từ trước tới nay, ta đã từng nghi ông già ấy. Tuy nhiên, chú thấy thế nào?
Lạc Phổ còn đang lưỡng lự thì bị thiền sư đánh.
Quan Thường Thị họ Vương một hôm đến thăm thiền sư. Hai người cùng đứng trước tăng đường nhìn vào. Quan hỏi:
– Các thầy ở đây có học kinh không?
Thiền sư nói: ‘Không học kinh.’
Quan hỏi:
– Vậy các thầy có học thiền không?
Thiền sư nói: ‘Cũng không học thiền.’
Quan hỏi:
– Kinh cũng không học, thiền cũng không học, thì làm cái gì nữa?
Thiền sư nói:
– Tôi chỉ dạy họ làm Bụt làm Tổ thôi.
Quan Thường Thị nói:
– Bụi vàng tuy quý, nhưng rơi vào mắt cũng xốn lắm.
Thiền sư bảo:
– Vậy mà xưa nay tôi cứ ngỡ ông là một kẻ tầm thường.
Thiền sư hỏi Hạnh Sơn:
– Thế nào là khoảng đất trống và con trâu trắng?
Hạnh Sơn rống ra tiếng trâu!
Thiền sư: ‘Thầy câm hả?’
Hạnh Sơn nói: ‘Còn hòa thượng thì sao?’
Thiền sư nói: ‘Con vật này!’
Thiền sư hỏi Lạc Phổ:
– Lâu nay, một người dùng gậy, một người dùng tiếng hét. Người nào thân thiết hơn?
Lạc Phổ:
– Cả hai đều không thân thiết.
Thiền sư hỏi:
– Thầy hiểu nghĩa chữ thân thiết thế nào?
Lạc Phổ hét, và bị thiền sư đánh.
Thấy một vị xuất gia đến, thiền sư đưa hai tay ra. Vị xuất gia không nói gì. Thiền sư hỏi: ‘Thầy có hiểu không?’
Vị xuất gia: ‘Con không hiểu.’
Thiền sư nói: ‘Núi Côn Lôn khó mở, ta cho ngươi hai đồng.’
Đại Giác đến tham vấn. Thiền sư đưa phất trần lên. Đại Giác trải tọa cụ. Thiền sư ném phất trần xuống đất. Đại Giác liền lấy tọa cụ lên, đi vào tăng đường.
Trong chúng các thầy bàn với nhau:
– Thầy này có quen thân gì với thiền sư của chúng mình không, tại sao không lễ bái mà cũng không bị ăn đòn?
Nghe nói thế, thiền sư cho gọi Đại Giác đến. Thiền sư nói:
– Đại chúng đây nói rằng thầy chưa chào hỏi tôi.
Đại Giác trả lời:
– Thiền sư mạnh giỏi không?
Rồi trở vào với chúng.
Trong thời gian hành cước, thiền sư Triệu Châu có dịp ghé lại thăm thiền sư, gặp lúc thiền sư đang rửa chân. Triệu Châu hỏi:
– Mục đích của Bồ Đề Đạt Ma qua đây là gì?
Thiền sư nói:
– Đúng vào lúc tôi đang rửa chân.
Triệu Châu tới gần ghé tai làm bộ nghe. Thiền sư nói:
– Bây giờ tôi phải lại đổ thêm một chậu nước dơ nữa hay sao?
Triệu Châu liền bỏ đi.
Có thượng tọa Định đến tham vấn, hỏi:
– Đại ý của Phật pháp là gì?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, nắm lấy thượng tọa Định, đánh cho thượng tọa một cái, rồi thả thượng tọa ra. Thượng tọa Định đứng yên.
Có một vị xuất gia đứng đó nói:
– Thượng tọa Định, sao không lạy xuống đi!
Thượng tọa Định lạy xuống thì bỗng dưng đại ngộ.
Ma Cốc đến tham vấn, vừa trải tọa cụ vừa hỏi:
– Mười hai mặt của Quan Âm, mặt nào là mặt chính?
Thiền sư từ thiền sàng bước xuống, một tay nắm tọa cụ, một tay kéo Ma Cốc tới gần, hỏi:
– Quan Âm mười hai mặt bây giờ đang đi đâu?
Ma Cốc xoay mình lại, định lên thiền sàng ngồi thì thiền sư nắm lấy gậy định đánh. Ma Cốc giật gậy. Cả hai sau đó cùng nắm gậy đi vào phương trượng.
Thiền sư hỏi một thầy:
– Có lúc tiếng hét giống như lưỡi gươm báu của Kim Cương Vương ; có lúc tiếng hét giống như sư tử lông vàng đang ngồi xổm ; có lúc tiếng hét giống như chiếc sào dò bóng cỏ ; có lúc tiếng hét không có tác dụng của tiếng hét. Thầy hiểu không?
Vị xuất gia lưỡng lự, liền bị thiền sư đánh.
Thiền sư hỏi một ni sư:
– Thiện lai hay ác lai?
Ni sư hét. Thiền sư cầm gậy nói:
– Nói đi, nói đi!
Ni sư hét thêm một tiếng thứ hai nhưng vẫn bị thiền sư đánh.
Long Nha hỏi:
– Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn độ qua có mục đích gì?
Thiền sư nói:
– Đem thiền bản lại đây cho ta.
Long Nha đưa thiền bản. Thiền sư tiếp lấy thiền bản và đánh Long Nha. Long Nha:
– Đánh thì cứ đánh nhưng mục đích của tổ sư vẫn chưa thấy rõ ràng.
Sau đó, Long Nha đến thăm Thúy Vi, và hỏi:
– Tổ sư từ Ấn độ qua có mục đích gì?
Thúy Vi nói:
– Đem bồ đoàn lại đây cho ta.
Long Nha đưa bồ đoàn. Thúy Vi tiếp lấy bồ đoàn và đánh Long Nha. Long Nha nói:
– Đánh thì đánh nhưng mục đích của tổ sư cũng vẫn chưa thấy rõ ràng.
Sau này, Long Nha làm Viện chủ, có một vị xuất gia đi vào thiền thất hỏi:
– Trong thời gian hòa thượng đi hành cước có tham vấn hai vị tôn túc, vậy hòa thượng có công nhận (tuệ giác) của hai vị ấy không?
Long Nha nói:
– Công nhận thì có công nhận, nhưng mục đích của tổ sư vẫn chưa thấy rõ ràng như thường.
Đồ chúng của thiền sư Kỉnh Sơn có tới 500 vị, nhưng trong số ấy có rất ít người đến tham thỉnh thiền sư. Tổ Hoàng Bích phái thiền sư đến thăm Kỉnh Sơn. Trước khi đi, tổ hỏi:
– Con đến đấy sẽ làm gì?
Thiền sư nói:
– Đến đó con mới biết sẽ làm gì.
Đến nơi, còn mang nguyên áo nón du hành, thiền sư đi thẳng vào pháp đường để gặp Kỉnh Sơn. Kỉnh Sơn vừa ngửng đầu lên thì thiền sư liền hét. Kỉnh Sơn vừa mở miệng chưa kịp nói gì thì thiền sư đã phất tay áo đi ra.
Ngay sau đó có một thầy hỏi Kỉnh Sơn:
– Cái ông thầy kia mới tới, có nói qua nói lại gì với hòa thượng không mà hét như vậy?
Kỉnh Sơn nói:
– Thầy ấy từ đạo tràng của Hoàng Bích tới đấy. Nếu muốn biết thì đi hỏi ông ta đi.
Năm trăm đồ chúng của Kỉnh Sơn sau đó bị phân tán quá hơn một nửa.
Một hôm ngoài phố chợ, Phổ Hóa ngỏ lời xin chiếc áo một tấm. Ai cũng cho áo, nhưng Phổ Hóa không nhận. Nghe vậy thiền sư bảo viện chủ mua cho Phổ Hóa một chiếc quan tài. Lúc Phổ Hóa về, thiền sư nói:
– Tôi vừa mới may cho thầy một chiếc áo một tấm rồi đó.
Phổ Hóa liền vác chiếc quan tài đi qua phố chợ, nói:
– Lâm Tế vừa may cho tôi một chiếc áo một tấm. Bây giờ tôi sẽ đi ra cửa Đông để thoát hóa hình hài này.
Người ngoài chợ đi theo Phổ Hóa để xem. Nhưng tới nơi Phổ Hóa lại nói:
– Ngày hôm nay tôi chưa thoát hóa đâu. Ngày mai tôi sẽ thoát hóa tại cửa Nam.
Ngày hôm sau Phổ Hóa cũng nói là chưa thoát hóa, đợi ngày hôm sau nữa mới thoát hóa ở cửa khác. Ba ngày như vậy nói mà không làm nên không còn ai tin nữa. Đến ngày thứ tư chẳng có ai đi theo, Phổ Hóa một mình đi ra ngoài thành phố, tự nằm vào trong quan tài và đậy nắp lại, nhờ một người qua đường đóng đinh áo quan. Tin tức chuyền đi, lập tức người trong thành phủ đổ ập tới rất đông. Họ đòi mở quan tài ra. Nắp quan tài mở ra thì không thấy Phổ Hóa trong ấy nữa. Người ta chỉ nghe tiếng chuông rung trong hư không càng lúc càng xa.
Trong một buổi tham vấn chiều, thiền sư khai thị: ‘Có lúc đoạt người không đoạt cảnh, có lúc đoạt cảnh không đoạt người, có lúc đoạt cả người cả cảnh, có lúc không đoạt người cũng không đoạt cảnh.’
Lúc bấy giờ có một vị xuất gia hỏi: ‘Đoạt người không đoạt cảnh là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Nắng dậy gấm thêu đầy mặt đất
Hài nhi tóc rủ bạc như tơ.’
Hỏi tiếp: ‘Đoạt cảnh không đoạt người là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Lệnh vua truyền khắp trong thiên hạ
Biên thùy tướng sĩ khói mây tan.’
Hỏi: ‘Còn đoạt cả người cả cảnh là sao?’
Thiền Sư đáp: ‘Hai quận Biện Phần không liên lạc
Dân chúng một mình một cõi riêng.’
Hỏi: ‘Còn không đoạt người cũng không đoạt cảnh là sao?
Thiền Sư đáp: ‘Vua bước lên điện báu
Ông già quê hát ca.’

Dạy chúng

 

1- Thiền Sư dạy:

– Thời bây giờ, người học Phật cần phải có chánh kiến. Có chánh kiến rồi thì sinh tử không còn động được tới mình nữa, lúc ấy ở và đi đều tự do, không cần đi tìm cái siêu việt mà cái siêu việt tự tìm tới mình. Này các bạn tu (đạo lưu), các vị cổ đức ngày xưa vị nào cũng đều có hiến tặng con đường thoát cho người, còn chỗ chỉ dạy của ông thầy tu núi này chỉ là khuyên các vị đừng có để cho người ta làm mê hoặc. Sử dụng được lời khuyên này thì hãy sử dụng liền, đừng có chần chừ nghi hoặc. Người tu học thời nay nếu không thành đạt được, đó là vì sao? Đó là vì họ không có đức tự tin. Bởi vì quý vị không đủ đức tự tin cho nên quý vị cứ bận rộn (gấp gáp) chạy theo hàng vạn thứ hoàn cảnh bên ngoài rồi bị các hoàn cảnh ấy xoay chuyển làm mất hết tự do. Nếu quý vị ngừng được những tư tưởng chạy đuổi tìm cầu ấy lại thì quý vị sẽ thấy giữa quý vị và Tổ Phật không có gì khác nhau. Quý vị có muốn biết Tổ Phật là ai không? Tổ Phật chính là quý vị đang đứng trước mặt tôi mà nghe pháp đấy. Kẻ tu hành mà không có đủ đức tự tin thì cứ hướng ra ngoài mà rong ruổi tìm cầu. Dù mà tìm được một cái gì thì cái ấy cũng chỉ là những hình thái đẹp đẽ của văn tự mà không phải là cái năng lượng tuệ giác sống động của Tổ sư. Chư vị thiền đức ơi, đừng có lầm! Trong giây phút hiện tại này mà quý vị không gặp gỡ được Tổ Bụt thì trong ngàn vạn kiếp sau quý vị sẽ phải luân hồi trong ba cõi, cứ tiếp tục chạy theo để nắm bắt những cảnh huống dễ chịu để rồi sẽ liên tiếp sinh vào trong bụng trâu lừa.

Này các bạn tu, theo cái thấy của ông thầy tu núi là tôi đây thì quý vị có khác gì đức Thích Ca đâu? Ngày hôm nay, trong mọi sinh hoạt thường nhật của chúng ta, quý vị còn cảm thấy thiếu thốn điều gì? Có lúc nào mà sáu đạo thần quang của quý vị ngừng chiếu tỏa? Ai mà thấy được như thế thì sẽ suốt đời là một kẻ vô sự.

Này các vị đại đức, ba cõi không an, giống như nhà lửa, nơi đó không phải là chỗ cư trú lâu dài của quý vị. Quỷ vô thường mỗi phút giây đều ra tay sát hại, không phân biệt già trẻ, quý tiện. Nếu quý vị muốn không khác với Tổ Phật thì đừng hướng ngoại tìm cầu. Mỗi tâm niệm mà phát ra được ánh sáng thanh tịnh, đó là pháp thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị; ánh sáng vô phân biệt phát ra từ tâm niệm của quý vị chính là báo thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị; ánh sáng vô phân biệt phát ra từ mỗi tâm niệm của quý vị chính là hóa thân Bụt đang ở ngay trong nhà của quý vị. Ba Thân ấy không là gì khác ngoài quý vị đang đứng trước mặt tôi nghe pháp. Cái công dụng (mầu nhiệm) này chỉ có thể có được khi quý vị không hướng ngoại truy cầu. Nương tựa vào các nhà nghiên cứu và chú giải kinh luận người ta đi tìm Ba Thân như những tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì không phải như thế. Ba Thân ấy chỉ là danh ngôn, và cũng chỉ là ba cái nương tựa vào nhau mà có. Các vị cổ đức đã nói: ‘Thân là dựa vào ý nghĩa mà thành lập, độ là dựa vào bản thể mà luận.’ Vậy thì thân của pháp tánh và độ của pháp tánh thật ra (rõ ràng) chỉ là quang ảnh.

Này các vị đại đức, các vị nên biết rằng cái con người đang cầm nắm và đùa giỡn được với quang ảnh đó là nguồn gốc của chư Bụt. Đối với kẻ ấy, chỗ nào cũng là nhà để trở về (nơi nào cũng là quê hương trở về của người tu tập). Sắc thân tứ đại của quý vị không biết nói pháp nghe pháp, tỳ vị gan mật không biết nói pháp nghe pháp, hư không không biết nói pháp nghe pháp… vậy thì cái gì biết nói pháp nghe pháp? Đó là cái sáng rỡ rõ ràng không chút mảy may hình tướng trước mặt quý vị đấy. Chính cái đó biết nói pháp nghe pháp. Nếu thấy được như thế thì quý vị sẽ không khác gì với Tổ với Bụt. Chỉ có một điều là giữ nó cho miên mật, đừng để cho nó bị gián đoạn, mắt chạm đến đâu là thấy được đến đấy.

Chỉ vì tình thức phát sinh nên trí tuệ ngăn cách, cũng vì tri giác biến đổi cho nên chân thể bị biến hình, vì thế mới có luân hồi trong ba cõi, chịu đựng mọi thứ khổ đau. Theo cái thấy của tôi, thì không có gì là không thâm diệu, không có gì là không giải thoát.

Này các bạn tu, tâm pháp không hình tướng, thông suốt mười phương, nơi mắt gọi là cái thấy, nơi tai gọi là cái nghe, nơi mũi gọi là cái ngửi, nơi miệng gọi là đàm luận, nơi tay gọi là cầm nắm, nơi chân gọi là cái chạy nhảy, tất cả chỉ từ một cái tinh minh (shining) chia ra thành sáu hòa hợp. Chỗ nào tâm ý không còn phát sinh thì chỗ ấy cũng là giải thoát. Tôi nói như thế nghĩa là sao? Chỉ vì mọi thứ tìm cầu của quý vị chưa chấm dứt cho nên quý vị mới bị lọt vào những cái bẫy của cổ nhân bày ra.

Này các bạn tu, hãy thử sử dụng cái thấy của tôi xem. Hãy chặt đứt hết những cái đầu của mọi báo thân và hóa thân của Bụt. Hãy thấy rằng các bậc Bồ-tát trong mười địa chỉ là những người làm công, các vị Đẳng Giác và Diệu Giác đều là những tên tù đang mang gông cùm, các vị La-hán, Bích-chi đều như những cái hố xí, Bồ Đề và Niết Bàn đều như những cái cọc buộc lừa. Tại sao? Chỉ vì các vị không thông đạt được cái Không của ba a tăng kỳ kiếp cho nên quý vị mới gặp phải những chướng ngại (mà quý vị đang có). Nếu là một người tu chân chính thì quý vị sẽ không như thế. Chỉ nên tùy duyên giúp làm tiêu nghiệp cũ, cứ thanh thản mặc áo, cần đi thì đi, cần ngồi thì ngồi, đừng có một khoảnh khắc nào mong cầu quả vị Bụt.

Tại sao? Người xưa nói: ‘Nếu muốn tìm Bụt bằng cách lao tác, thì Bụt sẽ trở thành điềm báo trước của sinh tử.’

Này các vị đại đức! Thì giờ quý báu, quý vị hãy ngừng lại cái tâm bôn ba chạy sang nhà láng giềng để học thiền học đạo, tìm câu tìm chữ, cầu Tổ cầu Bụt, cầu thiện tri thức. Đừng lầm lạc như thế. Này các bạn tu, các vị chỉ có một cha một mẹ, vậy thì còn đi tìm gì nữa? Các vị hãy tự nhìn lại đi! Cổ nhân nói: ‘Diễn Nhã Đạt Đa (Yajnadatta) tưởng đã mất đầu, nhưng khi cái tâm đi tìm cầu ngưng lại là chàng đạt tới vô sự (sans affaires) ngay.’

Các vị đại đức, các vị hãy sống cuộc đời của chính mình một cách rất bình thường, đừng làm dáng làm điệu. Có một bọn đầu hói không phân biệt được thế nào là tốt xấu, nói rằng mình thấy thần thấy quỷ, chỉ Đông vẽ Tây, cầu mưa cầu tạnh, bọn này quyết chắc sẽ phải trả nợ đã vay, và sẽ có ngày trước mặt Diêm Vương nuốt hòn sắt nóng. Con cái nhà lành có thể bị bọn dã hồ tinh mị này mê hoặc, một ngày nào đó bọn ấy cũng sẽ phải trả nợ tiền cơm tiền gạo, không tránh thoát được đâu.’

2- Thiền Sư khai thị chúng như sau:

– Này các bạn tu, các vị rất cần tìm cầu cho được chánh kiến, phải biết đi hiên ngang trong thiên hạ để khỏi bị bọn yêu tinh nói trên mê hoặc. Con người cao quý nhất là con người vô sự! Chỉ cần đừng nghĩ đến chuyện tạo tác (đến chuyện sự nghiệp). Chỉ nên làm một con người bình thường. Nếu quý vị cứ nghĩ tới chuyện hướng ngoại tìm cầu và tính toán tức là quý vị đã sai lầm rồi vậy.

Hãy đừng cầu Bụt, Bụt chỉ là danh từ suông. Các vị có biết kẻ đi tìm cầu là ai không? Các Bụt và Tổ trong ba đời từ xưa nay cũng chỉ đi tìm Pháp. Ngày hôm nay các vị tham thiền học đạo cũng chỉ là để cầu Pháp. Được Pháp thì mới giải quyết xong, còn chưa thì vẫn còn luân hồi trong năm đường. Mà Pháp là gì? Pháp là pháp của tâm. Tâm không hình, thông suốt mười phương, có diệu dụng ngay trước mắt. Vì người ta không có đủ tín tâm nên mới nhận lầm danh từ và câu nói, hướng về phía văn tự để tìm cầu pháp của Bụt; cũng vì vậy cho nên mới bị xa cách với Pháp như trời xa đất.

Này các bạn tu, nếu tôi nói Pháp thì Pháp ấy là gì? Tôi nói Pháp của tâm địa, có thể giúp ta vào phàm vào thánh, vào tịnh vào uế, vào chân vào tục. Nhưng không phải cái chân tục phàm thánh nơi quý vị có thể được diễn bày bằng các danh từ và các ý niệm về chân tục phàm thánh. Với lại cái chân tục phàm thánh ấy không bao giờ tự gọi mình bằng các danh từ chân tục phàm thánh.

Này các bạn tu, nếu nắm được cái then chốt này thì nên áp dụng ngay vào đời sống hàng ngày. Đừng nên vướng vào danh tự. Tôi gọi đó là huyền chỉ (nguyên tắc mầu nhiệm).

Pháp của ông thầy tu núi này nói ra với pháp của người trong thiên hạ nói ra rất khác. Dù cho Văn Thù, Phổ Hiền có xuất hiện ra trước mặt, mỗi vị hiện một thân khác nhau đến hỏi pháp, thì vừa mở miệng nói ra ‘Bạch Hòa Thượng’ là tôi đã có thể nhận ra được chân tướng của họ rồi. Tôi cứ ngồi yên đây, hễ có ai tới gặp tôi là tôi liền nhận ra được chân tướng và tung tích của người ấy. Tại sao thế? Tại vì cái thấy của tôi khác: ngoài thì không kẹt vào ý niệm phàm thánh, trong thì không dựa vào những cái gọi là nguyên tắc căn bản, vì vậy cái thấy ấy được thông suốt, chẳng còn chỗ nghi ngờ.’

 

3- Thiền Sư khai thị:

– Này các bạn tu, trong Phật pháp không cần có sự dụng công (mệt nhọc). Nguyên tắc là bình thường vô sự (tenir dans l’ordinaire, sans affaires), mặc áo ăn cơm, đi tiêu đi tiểu, mệt thì đi nghỉ. Kẻ ngu có thể cười ta nhưng người trí sẽ hiểu ta. Cổ nhân nói: ‘Hướng ngoại để công phu, toàn là bọn ngu xuẩn.’ Các vị nên tùy nơi làm chủ, nơi nào cũng chân, không để cảnh duyên bên ngoài lôi kéo. Như vậy thì dù có tập khí ngàn xưa, có gây năm nghiệp vô gián thì tất cả cũng thành ra biển cả giải thoát. Người học đạo ngày nay, phần lớn đều không hiểu pháp, giống như con dê gặp gì cũng ăn, không phân biệt thầy tớ chủ khách. Những kẻ ấy lấy tâm tà vào đạo, sẵn sàng đi vào những nơi huyên náo, không thể gọi họ là người xuất gia chân chính. Họ chỉ là những người thế tục. Người xuất gia chân chính thì phải có được những chánh kiến bình thường: phân biệt được Bụt với Ma, Chơn và Ngụy, Phàm và Thánh. Được như thế mới gọi là chân xuất gia. Nếu không phân biệt được Ma với Bụt, thì chỉ xuất một gia này để vào một gia khác, gọi là chúng sanh tạo nghiệp, chưa được gọi là xuất gia. Bây giờ đây lại có một loại hiện tượng nữa gọi là hiện tượng Bụt Ma, đồng thể không phân biệt, như nước với sữa hòa lại. Nghe nói Ngỗng Chúa chỉ uống sữa. Các bạn tu mắt sáng thì theo tôi nên đánh ngã cả Ma lẫn Bụt, nếu quý vị còn có khuynh hướng yêu thánh ghét phàm thì quý vị sẽ còn phải chìm đắm trong biển sinh tử dài dài.’

Hỏi: ‘Thế nào là Bụt, thế nào là Ma?’

Thiền Sư đáp:

– Trong tâm của quý vị mà có một tư tưởng nghi ngờ (vô minh) thì đó là Ma. Nếu quý vị đạt tới tính vô sinh của vạn pháp, biết rằng tâm là huyễn hóa, thật ra không có một đối tượng nào, một hiện tượng nào có thật, đâu đâu cũng là thanh tịnh, thì đó là Bụt. Tuy vậy, người ta thường nghĩ là Bụt và Ma là hai cảnh giới nhiễm tịnh khác nhau. Theo cái thấy của tôi thì không có Bụt cũng không có chúng sinh, không có xưa không có nay, đạt được thì đạt ngay, không cần phải đi qua thời gian, không cần tu không cần chứng, không được không mất, trong bất cứ thời gian nào đều cũng không hề có một pháp nào khác biệt. Nếu có một pháp nào khác hơn, thì tôi nói pháp đó cũng chỉ là mộng, là huyễn, đó là tất cả cái gì tôi muốn nói.

Này các bạn tu, mỗi vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp đây, ngay trong giờ phút hiện tại, đều là bản chất sáng tỏ rõ ràng, người nào cũng không bị ủng trệ, người nào cũng thông suốt mười phương, tự tại trong ba cõi, người nào cũng có thể tự do đi vào mọi cảnh giới không bị trở ngại, mỗi người trong thời gian một nháy mắt có thể thấu nhập pháp giới, gặp Bụt thì nói chuyện Bụt, gặp Tổ nói chuyện Tổ, gặp La-hán nói chuyện La-hán, gặp ngạ quỷ nói chuyện ngạ quỷ, rong chơi khắp mọi quốc độ để giáo hóa chúng sinh mà không cảm thấy một giây phút nào xa cách, ở đâu cũng thanh tịnh, ánh sáng soi thấu mười phương, thấy được vạn pháp là nhất như.

Này các bạn tu, ngày nay muốn làm một kẻ đại trượng phu thì phải tỏ ngộ được sự thật bản lai vô sự. Chỉ vì đức tin của quý vị chưa chín cho nên quý vị còn tiếp tục tìm cầu trong mỗi giây phút, bỏ đầu tìm đầu, không tự mình dừng lại được.

Các vị cứ hình dung những vị gọi là Bồ-tát viên đốn hiện thân, đi vào pháp giới, hướng về tịnh độ, ghét phàm yêu thánh mà xem. Nếu có những vị Bồ-tát như thế thì họ vẫn còn vướng vào sự nắm bắt và buông bỏ, trong tâm họ ý niệm về nhiễm tịnh vẫn còn. Theo kiến giải của Thiền, thì không thể như vậy. Cái mà tôi chủ trương là tất cả đều phải đang xảy ra ngay trong giờ phút này, không cần đợi tương lai. Trong giây phút hiện tại, thuốc và bịnh phải chữa trị lẫn nhau cùng một lúc, bởi vì thuốc và bịnh là hai cái tương đãi; ngoài ra không có cái gì khác gọi là có thật. Nếu thấy được như thế thì đó là người xuất gia chân thật, xứng đáng có thể được tiếp nhận phẩm vật cúng dường tương đương mười ngàn lạng vàng mỗi ngày.

Này các bạn tu, đừng để cho các bậc lão sư (giả mạo) đây đó ấn chứng bừa bãi để rồi đi rêu rao: ‘Tôi đã hiểu thế nào là thiền, tôi đã hiểu thế nào là đạo’, để rồi cứ biện luận thao thao như một dòng thác chảy. Tất cả những hành động đó chỉ là để tạo thêm nghiệp địa ngục. Nếu là người học đạo chân chính, thì ta không cần đi bươi móc những lỗi lầm của thế gian mà chỉ cần lập tức tìm cầu chánh kiến. Đạt được kiến giải chân chính tròn đầy mới gọi là thành công.

Hỏi: ‘Thế nào là chánh kiến?’

Thiền Sư đáp:

– Chánh kiến là thấy được tính cách thành, trú, hoại, không của các pháp khi quý vị đi vào phàm thánh, nhiễm tịnh, đi vào các quốc độ của chư Bụt bất kỳ ở đâu, đi vào lầu các của Di Lặc, đi vào pháp giới của Tỳ Lô Giá Na. Chánh kiến là thấy được các tướng không tới không đi, không sinh không diệt của các hiện tượng xuất thế, thành đạo, chuyển pháp luân và nhập Niết Bàn của Bụt. Chánh kiến là thấy được tường tận tướng Không của các pháp, rằng không pháp nào có thật khi quý vị đi vào pháp giới vô sinh, rong chơi trong các quốc độ, và đi vào thế giới hoa tạng. Chánh kiến là thấy rằng chính cái con người không cần chỗ tựa đang nghe pháp kia chính là mẹ của chư Bụt. Tại sao? Tại vì các đức Thế Tôn đều do chỗ không nương tựa mà phát sinh. Nếu ngộ được vô y thì thấy rằng bản chất của Bụt cũng là vô đắc. Thấy được như thế là chánh kiến. Người tu không hiểu, cứ chấp vào danh và cú, bị những danh từ như thánh, phàm, v.v.. làm trở ngại khiến cho mắt tuệ của họ không mở ra được, do đó họ không thấy được thực tại một cách rõ ràng. Mười hai thể tài của giáo lý cũng chỉ là để làm rõ sự thật này. Người tu chẳng hiểu mới hướng tới văn cú để vọng tìm kiến giải. Đó là thái độ đi tìm chỗ bám víu nương tựa, làm cho mình rơi vào vòng nhân quả, chưa có thể thoát khỏi vòng sinh tử trong ba cõi.

Nếu các vị muốn được tự do đi lại trong sinh tử thì hãy nhận diện cho được con người đang nghe pháp đây, tuy là vô hình, vô tướng, vô căn, vô bản, không có trú xứ, nhưng linh động hoạt bát vô cùng, có thể thi thiết ra muôn ngàn diệu dụng, mà công dụng nào cũng đều có tính cách vô trụ.

Trái lại, nếu càng có ý niệm tìm cầu thì càng cách xa, càng sai trái. Tôi gọi điều này là bí quyết (mầu nhiệm).

Các bạn tu, đừng tự đồng nhất mình với cái anh bạn mộng huyễn này, tại vì sớm muộn gì chàng ta cũng phải được trả lại trong tay quỷ vô thường. Trong thế giới này, các vị cần những gì để tìm giải thoát? Các vị chỉ cần một bát cơm, một manh áo, ngoài ra phải để hết tâm lực và thì giờ để tìm thiện tri thức, đừng phí uổng ngày giờ, đuổi theo sự vui chơi. Thì giờ quý báu, cuộc sống vô thường, nói chung là bốn đại (địa, thủy, hỏa, phong) và nói riêng là bốn tướng (sanh, trụ, dị, diệt) đều đang bức bách ta. Các vị bây giờ đây phải nhận diện bốn cảnh vô tướng để cho đừng bị hoàn cảnh lôi kéo.

Hỏi: ‘Bốn cảnh vô tướng là bốn cảnh nào?’

Thiền Sư đáp:

– Một niệm vô minh (nghi ngờ) nổi lên là quý vị bị đất làm chướng ngại.

Một niệm tham ái nổi lên là quý vị bị nước làm chướng ngại.

Một niệm sân hận nổi lên là quý vị bị lửa làm chướng ngại.

Một niệm hí hửng nổi lên là quý vị bị gió làm chướng ngại.

Nếu thấy được như thế thì quý vị không còn bị hoàn cảnh lôi kéo, ở đâu quý vị cũng sử dụng được hoàn cảnh, nổi lên ở phương Đông thì lặn xuống ở phương Tây, nổi lên ở phương Nam thì lặn xuống ở phương Bắc, nổi lên ở phía giữa thì lặn xuống ở phía bên, nổi lên ở phía bên thì lặn xuống ở phía giữa, đi trên nước như đi trên đất, đi trên đất như đi trên nước. Tại sao làm được như thế? Đó là tại vì quý vị đã thấy được bốn đại là như mộng như huyễn.

Này các bạn tu, cái kẻ đang ngồi nghe pháp đây không phải chỉ là bốn đại của quý vị, kẻ đó đang sử dụng được bốn đại mà bốn đại không sử dụng được kẻ đó. Thấy được như thế thì đi ở tự do. Theo cái thấy của tôi, là ta không nên chán ghét cái gì hết (hoặc yêu thích cái gì hết). Quý vị yêu cái thánh, ghét cái phàm phải không? Thánh chỉ là danh từ thánh. Có những hành giả leo lên núi Ngũ Đài Sơn để tìm đức Văn Thù. Làm thế là sai rồi. Trên núi Ngũ Đài Sơn làm gì có đức Văn Thù? Quý vị có muốn biết đức Văn Thù không? Văn Thù chính là cái diệu dụng trước mặt quý vị, xưa nay vẫn thế, ở đâu cũng không hề có sự nghi ngại. Đó là đức Văn Thù sống động. Cái ánh sáng vô phân biệt của mỗi niệm trong tâm của quý vị chiếu tới đâu thì đức Phổ Hiền chân thật hiện ra tới đó. Mỗi niệm trong tâm của quý vị mà không bị trói buộc, chỗ nào cũng tự do thì đó là tam muội của Bồ-tát Quan Thế Âm.

Ba cái ấy thay phiên nhau làm chủ và làm bạn. Khi xuất hiện thì cả ba đều xuất hiện, một là ba, ba là một. Thấy được như thế mới có khả năng học kinh học giáo.

 

4- Thiền Sư dạy chúng:

– Người học đạo thời nay cần có đức tự tin, đừng hướng ra ngoài mà tìm cầu. Tìm cầu như thế rốt cuộc chỉ vướng vào trần cảnh, không phân biệt được tà chính. Nói rằng có Bụt có Tổ thì đó cũng chỉ là những dấu tích trong kinh giáo. Thói thường thì khi có ai nêu lên một câu, một lời trong kinh ra, dù nghĩa lý là ẩn hay hiển, thì mình có khuynh hướng lập tức đặt ra nghi vấn, rồi nhìn trời nhìn đất, tìm tới kẻ khác mà tham vấn và càng tham càng thấy mờ mịt. Kẻ đại trượng phu là người không cần bàn vua bàn giặc, bàn thị bàn phi, bàn sắc bàn tài, không bỏ hết thì giờ vào sự đàm luận. Tôi đây, mỗi khi có người tới, dù người ấy xuất gia hay tại gia, tôi cũng nhìn thấy được tường tận gốc gác của kẻ ấy, nhận diện được rằng tất cả những âm thanh, danh từ và văn cú mà kẻ ấy đưa ra đều là mộng huyễn, và cũng thấy được con người thật của kẻ ấy, con người thật không bị trần cảnh làm chướng ngại. Cái cách nhìn này chính là tông chỉ huyền diệu của Bụt. Cảnh giới của Bụt không bao giờ tự xưng mình là ‘cảnh giới của Bụt.’ Chính cái con người học đạo vô y (không nương tựa bám víu) ấy mới chứng nghiệm được cảnh giới kia. Nếu có ai tới hỏi tôi về Bụt, tôi sẽ ứng hiện cảnh giới thanh tịnh; muốn hỏi tôi về Bồ-tát, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới từ bi; muốn hỏi tôi về Bồ Đề, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới tịnh diệu; muốn hỏi tôi về Niết Bàn, tôi sẽ làm ứng hiện cảnh giới tịch tĩnh. Cảnh thì muôn ngàn sai khác, nhưng người thì không. Vì vậy cho nên ta có thể ứng vật hiện hình, như mặt trăng trong nước.

Này các bạn tu, nếu quý vị muốn đạt được pháp chân như thì phải trở nên một bậc đại trượng phu (con người lớn) mới được, còn nếu cứ yếu đuối và cứ tiếp tục thỏa hợp thì không bao giờ thành. Cũng như một cái bình rạn nứt không thể chứa được đề hồ. Nếu muốn làm pháp khí lớn thì phải cương quyết không để cho kẻ khác lường gạt, tới đâu cũng tự mình làm chủ (active sovereignty, not as a victim), đứng đâu mình cũng chân thật là mình (vrai, true). Có ai đến mình cũng không bị ảnh hưởng. Có một niệm nghi ngờ là ma vương đã thâm nhập. Đối với một vị Bồ-tát, nghi hoặc tức là cơ hội của Ma sinh tử. Khi cảnh vật hiện tới, thì phải quán chiếu. Phải tin ở diệu dụng đang có của tâm, thì sẽ thấy được vô sự. Mỗi niệm của quý vị có công năng sinh ra ba cõi rồi theo cảnh giới đó mà có sáu trần. Trong cái ứng dụng hằng ngày của quý vị, quý vị đang thiếu thốn cái gì? Trong một sát na, quý vị có thể đi vào nhiễm tịnh, đi vào lầu các Di Lặc, đi vào các cõi nước ba Mắt, rong chơi mọi nơi và chỉ thấy tất cả đều là giả danh (không danh).

Hỏi: ‘Các cõi nước của ba Mắt là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Các vị và tôi đi vào cõi nước của Tịnh Diệu, mặc áo Thanh Tịnh, nói về Bụt Pháp Thân, rồi đi vào cõi nước Vô Sai Biệt, mặc áo Vô Sai Biệt, nói về Bụt Báo Thân, rồi đi vào cõi nước Giải Thoát, mặc áo Quang Minh, nói về Bụt Hóa Thân. Tất cả các cõi nước của ba Mắt ấy đều do nương tựa (y) vào thể và vào nghĩa mà biến hiện. Theo kinh luận, thì Pháp Thân là căn bản, Báo Thân và Hóa Thân là công dụng. Theo cái thấy của tôi thì Pháp thân không biết thuyết pháp. Vì thế cho nên cổ nhân nói: thân thì nương vào nghĩa mà thành lập, độ thì căn cứ vào thể mà luận bàn (cái thân được thành lập do ý nghĩa người ta gán cho chúng. Các độ chỉ có mặt đứng về phương diện thể tánh của chúng mà thôi) (thân y nghĩa lập, độ cứ thể luận); thân của pháp tánh và độ của pháp tánh như thế rõ ràng đều là những pháp được kiến lập. Các cõi nước cũng như thế, đều nương vào nghĩa và vào thể mà thiết lập, tất cả đều chỉ là lá vàng và nắm tay không mà người ta sử dụng để gạt trẻ thơ!

Tất cả chỉ là như trái tật lê và gai ấu, toàn là chuyện đi tìm những giọt nước mát trong một mảnh xương khô. Ngoài tâm không có pháp, trong tâm cũng không có pháp, vậy quý vị đi tìm gì?

Các vị, đâu đâu người ta cũng nói tới đạo, rằng có tu thì có chứng. Đừng lầm. Dù có tu chứng đi nữa thì cái đó cũng chỉ là nghiệp sinh tử. Nói mình tu lục độ vạn hạnh, tôi thấy đó cũng là tạo nghiệp. Cầu Bụt cầu Pháp là tạo nghiệp địa ngục, cầu Bồ-tát cũng vậy, học kinh học giáo cũng là tạo nghiệp. Bụt và Tổ sư là những người vô sự. Đối với các bậc ấy, hữu lậu hay hữu vi, hoặc vô lậu hay vô vi, đều là nghiệp ‘thanh tịnh.’

Có một bọn đầu sói mắt mù, ăn no liền ngồi xuống thực tập thiền quán, nắm giữ tâm niệm không cho phát khởi, chán ồn ưa tĩnh: phép thực tập của họ chẳng qua chỉ là pháp ngoại đạo. Có vị Tổ sư đã nói: ‘Những kẻ tập trung tâm ý để quán chiếu cái tịnh rồi lấy tâm quán chiếu bên ngoài, hoặc nhiếp tâm lắng lại bên trong, ngưng tâm vào định, những kẻ ấy đều đang tạo tác. Còn quý vị, những người đang ngồi đó để nghe pháp, quý vị làm thế nào để con người của quý vị có thể tu, có thể chứng, có thể trang nghiêm tốt đẹp? Con người của quý vị không thể tu, không thể chứng, không thể trang nghiêm! Nếu dạy người ta trang nghiêm được thì cái gì mà không trang nghiêm được? Đừng lầm!

Này các bạn tu, nếu các bạn nắm bắt lấy những lời của các hạng thiền sư ấy rồi cho đó là chân đạo, cho rằng đó là những bậc thiện tri thức bất khả tư nghì, còn mình là tâm phàm phu không dám đo lường các bậc tôn túc ấy, thì quả thật các vị là những kẻ đui mù. Đó là thứ thành kiến mặc cảm mà quý vị sẽ mang theo suốt đời, và như thế là quý vị cô phụ đôi mắt của chính mình quá! Quý vị như một con lừa con đứng trên băng giá và đang run lên cầm cập: ‘Tôi không dám hủy báng các bậc thiện tri thức đâu, tôi sợ tạo thành khẩu nghiệp.’ Này các bạn tu, chỉ khi nào mình là một vị thiện tri thức lớn mình mới dám hủy Bụt báng Tổ, chỉ trích cuộc đời, mới dám bài xích giáo điển trong tam tạng, mới dám la mắng người khác như la mắng con nít, mới có thể trong các hoàn cảnh thuận nghịch tìm ra được con người. Cho nên trong mười hai năm qua, ngó lại đời mình, cố tìm cho ra một cái gì có tính chất của nghiệp báo, dù nhỏ như hạt cải mà tôi cũng không tìm ra được. Chúng ta thường chỉ gặp những vị thiền sư giống như các cô dâu mới về nhà chồng, cứ nơm nớp sợ sẽ bị người ta đuổi ra khỏi chùa, không cho ăn cơm. Cũng vì thế mà họ chẳng có an cũng chẳng có lạc. Các bậc tiền bối có tinh thần tiên phong từ xưa đến nay đi đâu cũng bị người ta không tin mà lại còn bị xua đuổi. Cái đó mới là cái quý. Chứ nếu đến đâu ai cũng tin cũng công nhận ngay thì làm được cái gì? Vì vậy cho nên một khi con sư tử rống lên là lập tức con dã can vỡ óc.

Này các bạn tu, ở đâu người ta cũng nói có đạo để tu, có pháp để chứng. Các vị nói chứng pháp gì, tu đạo gì? Trong đời sống của quý vị hiện nay, quý vị đang thiếu thốn cái gì, quý vị muốn tu bổ chỗ nào nữa? Những sư bé sanh sau đẻ muộn vì không hiểu thấu chỗ ấy cho nên cứ mãi chạy theo bọn chồn hoang tinh mỵ, cứ để cho bọn này huyên thuyên nói ra những điều có công năng ràng buộc kẻ khác, cho rằng ‘lý hành phải tương ứng, ba nghiệp phải hộ trì’ mới có thể thành Bụt. Họ cứ tiếp tục nhai đi nhai lại những điều như thế, giống hệt như mưa dầm dai dẳng mùa Đông.

Cổ đức có dạy: ‘Giữa đường gặp người đạt đạo, tốt nhất là đừng nói chuyện tu với họ.’

Cũng vì vậy cho nên lại có người nói:

‘Nếu ta có ý tu đạo, thì đạo sẽ chẳng để cho ta tu. Rồi đủ các thứ cảnh giới tà vạy sẽ dành nhau sinh khởi. Một khi lưỡi gươm trí tuệ rút ra thì sẽ không còn một vật gì nữa. Vì khi bên sáng còn chưa xuất hiện thì bên tối đã thành sáng rồi.’

Và cũng vì vậy cho nên cổ nhân nói: ‘Tâm bình thường là đạo.’

Này các vị đại đức! Các vị đang đi tìm gì? Trong giây phút hiện tại, các vị đang ngồi trước mặt tôi nghe pháp, sáng rỡ và rõ ràng, không cần nương tựa vào đâu cả, các vị không thiếu thốn gì hết mà phải đi tìm cầu.

Nếu quý vị muốn giữa quý vị và chư Bụt chư Tổ không có gì khác thì quý vị phải thấy điều này, đừng có nghi ngờ gì nữa, đừng có sai lầm gì nữa. Nếu cái thấy này cứ được tiếp tục duy trì như thế mãi (tâm tâm bất dị) thì quý vị là những vị Tổ sống. Nếu cái thấy ấy không còn được như thế (tâm nhược hữu dị) thì giữa tánh và tướng sẽ có sự phân biệt. Sở dĩ tâm không khác cho nên tánh và tướng mới không bị phân biệt ra làm hai.

Hỏi: ‘Thế nào gọi là cái thấy được tiếp tục (tâm tâm bất dị)?’

Thiền Sư đáp:

– Đặt câu hỏi là đã có sự phân biệt (sự sai khác) rồi, và làm cho tánh tách rời khỏi tướng.

Này các bạn tu, xin đừng lầm. Tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian đều không có tự tánh, đều là vô sinh, cho nên chúng chỉ là giả danh (tên gọi suông), chính cái tên cũng là trống rỗng. Tại sao quý vị lại nhận cái danh làm cái thật? Như vậy là lầm lớn.

Giả sử có gì đi chăng nữa, thì đó cũng chỉ là những biểu hiện nương dựa vào nhau, gọi là y (y tha). Bồ Ủề cũng thế mà Niết Bàn cũng thế, giải thoát cũng thế, mà Ba Thân cũng thế. Cảnh trí (connaissance des objects) cũng thế mà Bồ-tát hay Bụt cũng thế, đều là những cảnh do y biến. Quý vị tìm cái gì nơi những cảnh giới Bụt được biểu hiện trên sự nương tựa (vào nhau) đó? Tam thừa và mười hai thể tài giáo pháp cũng chỉ là giấy vệ sinh. Bụt là thân huyễn hóa, Tổ là những vị tỳ kheo già. Quý vị có phải do mẹ mình sinh ra hay không? Đi tìm Bụt quý vị sẽ bị ma Bụt hớp hồn, đi tìm Tổ sẽ bị ma Tổ trói buộc. Các vị càng cầu càng khổ, tốt hơn hết là chỉ nên vô sự. Có một bọn thầy tu đầu sói hay nói với người học đạo: ‘Bụt là mục tiêu tối hậu (cứu cánh). Phải tu trong ba a-tăng-kỳ-kiếp lớn (ba đại vô lượng kiếp) cho công thành quả mãn thì mới thành Bụt được.’ Này các bạn tu, nếu nói Bụt là cứu cánh, là mục tiêu tối hậu, thì tại sao chỉ mới có tám mươi năm đã phải nằm nghiêng giữa hai cây sala trong rừng Song Lâm tại thành Câu-thi-na mà chết? Bụt bây giờ ở đâu? Cho nên ta phải biết rõ ràng Bụt cũng sinh tử như ta, không khác. Nếu nói có ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp là Bụt, thì hóa ra Chuyển Luân Thánh Vương cũng là Bụt sao? Cho nên phải biết rằng tất cả đều là huyễn hóa. Cổ nhân bảo: ‘Như Lai hiện thân tướng, vì chiều theo thế gian, sợ người sinh đoạn kiến, tạm thiết lập giả danh. Tạm gọi băm hai tướng, tám mươi cũng hư thanh, có thân không giác thể, vô tướng mới chân hình.’

Các vị nói Bụt có sáu thần thông không thể nghĩ bàn. Vậy thì chư thiên, chư thần tiên, các loài A-tu-la và các loài quỷ có sức mạnh lớn, vì có thần thông cho nên họ là Bụt cả hay sao? Các bạn tu, các bạn chớ lầm! Khi đoàn A-tu-la giao chiến với quân trời Đế Thích bị thua, cùng với 8.400 quyến thuộc núp vào trong một lỗ củ sen, họ có thần thông như vậy, liệu họ có là Bụt là Thánh chăng? Theo chỗ tôi nói thì tất cả những cái đó chỉ là thần thông của nghiệp và thần thông của sự nương tựa (nghiệp thông, y thông).

Sáu phép thần thông của Bụt rất khác. Bụt đi vào cảnh giới của Sắc mà không bị sắc mê hoặc, đi vào cảnh giới của Thanh mà không bị thanh mê hoặc, đi vào cảnh giới của Hương mà không bị hương mê hoặc, đi vào cảnh giới của Vị mà không bị vị mê hoặc, đi vào cảnh giới của Xúc mà không bị xúc mê hoặc, đi vào cảnh giới của Pháp mà không bị pháp mê hoặc, tại vì Bụt đã đạt tới cái thấy là sáu cái (sắc, thanh, hương vị, xúc và pháp) đều biểu hiện tính Không (không tướng) và những cái ấy đều không thể ràng buộc người tu không bám víu (vô y đạo nhân). Những người tu này tuy vẫn còn mang chất liệu hữu lậu của năm uẩn mà đã có thể thực hiện được phép lạ là đi trên mặt đất (địa hành thần thông).

Này các bạn tu, Bụt chân thật thì vô hình, Pháp chân thật thì vô tướng.

Tại sao quý vị lại nương vào trên cái huyễn hóa mà tạo tác ra những mô hình để nắm bắt? Dù có nắm bắt được cái gì đi nữa, thì cái ấy cũng chỉ là chồn hoang tinh mỵ, không phải là Bụt chân thật, mà chỉ là kiến giải của ngoại đạo. Người tu chân chính thì không nắm bắt Bụt, nắm bắt Bồ-tát, A la hán, không nắm bắt những cái gì gọi là hay đẹp nhất trong ba cõi. Người ấy một mình thong dong, không bị sự vật nào câu thúc. Dù trời đất có đảo ngược tôi cũng không bị một chút nghi hoặc nào làm cho ngần ngại. Dù cho chư Bụt mười phương có xuất hiện trước mặt thì tôi cũng không khởi một tâm vui mừng. Dù cho địa ngục và ba đường dữ xuất hiện trước mặt tôi thì tôi cũng không khởi một niệm sợ hãi. Tại sao thế? Tại vì tôi đã thấy được tướng không của các pháp, khi biểu hiện gọi là có, khi không biểu hiện gọi là không, ba cõi đều do tâm, vạn pháp đều do thức. Cũng vì vậy cho nên tất cả đều là mộng huyễn, đều là hoa đốm giữa hư không, tại sao ta phải đi tìm bắt cho mệt nhọc?

Duy chỉ có con người thật của các bạn đang có mặt nghe pháp trong giờ phút này và ngay ở đây mới có thể đi vào lửa mà không bị cháy, đi vào nước mà không bị trôi, đi vào địa ngục và ba đường mà như đi du ngoạn trong công viên, đi vào giới ma đói và súc sinh mà không nhận chịu quả báo. Tại sao như thế? Tại vì các vị không kỳ thị bất cứ một cái gì. Nếu quý vị còn yêu thánh ghét phàm thì quý vị sẽ còn bị nổi chìm trong biển sinh tử. Phiền não do tâm mà có, nếu vô tâm thì phiền não làm sao trói buộc được ta? Không mất công phân biệt, không kẹt vào tướng thì tự nhiên chứng đắc được đạo quả ngay trong khoảnh khắc.

Nếu các vị cứ bôn ba chạy đi tìm người mà học đạo thì dù có học hỏi trong vô lượng kiếp cuối cùng cũng vẫn còn qua lại trong cõi sinh tử. Chẳng bằng làm một con người vô sự, đi vào chùa, xếp bằng lại mà ngồi.

Này các bạn tu, giả dụ có kẻ học nhân từ nơi khác đến tham học. Sau khi chủ khách đã trông thấy nhau, khách bèn nói ra một câu để thăm dò vị thiện tri thức đang ngồi trước mặt. Kẻ ấy ném ra một câu hiểm hóc vào khóe miệng của vị thiện tri thức, có ý muốn hỏi: ‘Thầy có hiểu cái này chăng?’ Nếu vị thiện tri thức biết đó là một cái đối tượng (cảnh) thì ông ta sẽ nắm ngay lấy cái đó và liệng nó vào trong hố. Vị học nhân sẽ tìm lại được thái độ bình thường của mình, và sẽ xin vị thiện tri thức nói lên cho một lời. Vị thiện tri thức cũng sẽ làm như đã làm, và sẽ chặt đứt được luôn cái ý muốn tìm cầu mới này. Lúc đó vị học nhân sẽ nói: ‘Thầy thật là một vị thượng căn thượng trí, là một vị đại thiện tri thức.’ Và vị thiện tri thức sẽ nói: ‘Đạo hữu hoàn toàn chẳng phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’

Hoặc vị thiện tri thức có thể đưa ra một đối tượng (cảnh) và đùa bỡn với vị học nhân. Vị học nhân có khả năng nhận diện được rằng đó chỉ là một đối tượng (cảnh), không để mình rơi vào trong cái bẫy của đối tượng đó và từ tư thế khách ông chuyển ra đứng vào tư thế chủ. Vị thiện tri thức bây giờ thị hiện nửa thân, và vị học nhân hét. Vị thiện tri thức cũng có thể lại sử dụng những thứ ngữ ngôn trăm lối của mình mà dằn mặt vị học nhân. Nhưng vị học nhân có thể nói: ‘Cái ông thầy sói đầu này chẳng biết phân biệt được cái gì tốt cái gì xấu.’ Vị thiện tri thức liền ca ngợi: ‘Ngươi thật là một người tu học chân chính.’

Đó đây có những vị thầy (thiện tri thức) không có khả năng biện biệt được tà chính. Khi có học nhân tới hỏi về cảnh trí của Bồ Đề, Niết Bàn và Ba Thân, các vị lão sư mù này liền tìm mọi cách giải thích. Bị các vị học nhân kia chê trách, họ liền lấy gậy đánh, nói rằng đã đi học đạo mà còn vô lễ. Thật ra, quý vị cũng đừng giận họ, bởi vì họ tuy được gọi là thầy mà chưa có con mắt tuệ, thế thôi.

Có một bọn sói đầu không biết được tốt xấu ra sao, cứ chỉ Đông trỏ Tây, ưa mưa thích tạnh, khen chiếc đèn lồng này đẹp hay cây trụ kia xinh. Nhìn họ xem, để coi lông mày của họ còn có bao nhiêu sợi! Những cơ sự như thế xảy ra không phải là không có nguyên do. Kẻ học nhân không hiểu, cho nên tâm trí bị mê cuồng. Những kẻ đó hoàn toàn là một bọn chồn hoang tinh mị. Những bậc học nhân chân chính thấy họ thì khúc khích cười chê, nói rằng bọn sói đầu mù mắt này chỉ gây rối loạn và mê hoặc trong nhân gian.

Này các bạn tu! Những người xuất gia còn trẻ thì cần phải học đạo; tôi đây (hồi còn trẻ) ngày nào cũng lưu tâm học hỏi giới luật và uy nghi, và đã từng nghiên cứu tìm hiểu và tham vấn không biết bao nhiêu kinh luận. Sau một thời gian tôi mới biết đó chỉ là những phương dược cứu đời, được diễn bày qua hình thức lý thuyết. Vì vậy cho nên tôi đã nhất thời buông bỏ tất cả để đi tham vấn và thực tập thiền. May mắn vì gặp được các bậc thiện tri thức lớn cho nên tôi mới có được con mắt đạo để có khả năng nhìn thấy rõ ràng, nhận ra được ai thật sự là những vị cao túc đang có mặt trên đời, ai là giả dối. Cái thấy này không phải tự mình có được từ khi mẹ mình sinh ra, mà là một cái thấy do sự mài dũa, luyện tập, thể nghiệm và nghiên tầm rồi một mai tự mình chứng ngộ.

Này các bạn tu, nếu các bạn muốn có được kiến giải đúng theo sự thật thì đừng để cho người khác mê hoặc. Bất cứ nội hướng hay ngoại hướng, hễ gặp cái gì thì đừng sợ hãi mà phải tìm cách diệt ngay cái đó. Gặp Bụt thì giết Bụt, gặp Tổ thì giếp Tổ, gặp A-la-hán thì giết A-la-hán, gặp cha mẹ thì giết cha mẹ, gặp thân quyến thì giết thân quyến, như vậy mới giải thoát được. Đừng để cho sự vật trói buộc thì ta mới có thể ung dung tự tại.

Trong số các bạn tu bốn phương, chưa từng có một người nào tới đây mà không mang theo một cái gì mà họ đang vướng mắc phải. Ông thầy núi là tôi đây hễ nhận ra được cái đó thì đánh liền. Nếu họ diễn tả cái ấy bằng tay thì tôi đánh vào tay, nếu họ diễn tả cái ấy bằng miệng thì tôi đánh vào miệng, nếu họ diễn tả cái ấy bằng mắt thì tôi đánh vào mắt. Chưa có một ai tới mà chứng tỏ được rằng mình có độc lập tự do, tất cả đều vướng vào những cái bẫy sập của cổ nhân giăng ra. Tôi đây, tôi không có pháp nào để hiến tặng cho quý vị cả. Tôi chỉ giúp trị bệnh và cởi trói cho quý vị.

Các vị học giả từ các nơi tới, quý vị hãy thử đừng nương tựa vào bất cứ một vật nào xem! Tôi muốn bàn bạc với các vị. Từ mười lăm năm nay, tôi thực sự chưa gặp được một (con) người, chỉ gặp toàn những hồn ma nương tựa vào tre vào gỗ, vào cỏ vào lá, những con chồn hoang tinh mị đang gặm nhấm loạn xạ trên những đống phân. Thật là những bọn mù. Họ chỉ làm uổng phí những phẩm vật cúng dường của tín thí mười phương. Kiến giải của họ chỉ nghèo nàn như thế đó, vậy mà họ cứ tuyên bố: ‘Chúng tôi là những người xuất gia.’

Tôi muốn nói với quý vị rằng không có Bụt, không có Pháp, không có Tu cũng không có Chứng. Quý vị đi tìm cầu cái gì từ nơi người khác? Quý vị thiếu thốn cái gì? Đừng làm như những kẻ đui mù, trên cái đầu của mình lại muốn đặt thêm một cái đầu khác. Này các bạn tu, trong giờ phút này, cái diệu dụng của quý vị không có khác gì cái diệu dụng của Tổ của Bụt cả. Chỉ vì quý vị không có niềm tin cho nên quý vị mới đi tìm cầu bên ngoài. Đừng có lầm lẫn. Không có pháp nào ở ngoài để tìm, không có pháp nào ở trong để đạt. Chi bằng nên nghe lời tôi, hãy nghỉ ngơi đi và thực tập làm một người vô sự. Cái gì đã phát khởi, đừng để cho nó tiếp tục; cái gì chưa phát khởi, đừng để cho nó phát khởi. Làm được như thế còn có giá trị hơn mười năm đi hành cước.

Theo cái thấy của tôi thì quý vị có cần phải làm gì đâu, chỉ nên sống cho bình thường thôi. Hãy mặc áo, ăn cơm, ngày này qua ngày khác làm một người vô sự. Các vị từ bốn phương tới đây đều nghĩ rằng mình là những người có tâm cầu Bụt, cầu Pháp, cầu giải thoát, cầu ra khỏi ba cõi. Đồ ngu. Ra khỏi ba cõi thì quý vị đi đâu? Bụt và Tổ đều là những danh từ mà người ta ưa thích, để người ta sử dụng mà trói buộc chính mình. Quý vị có biết ba cõi là gì không? Ba cõi chính là đất tâm của chính quý vị, những người trong giây phút này đang ngồi đây nghe pháp. Một niệm tham dục của quý vị phát khởi, đó là dục giới. Một niệm sân hận của quý vị phát khởi, đó là sắc giới. Một niệm nghi ngờ của quý vị phát khởi, đó là vô sắc giới. Những cái ấy đều là bàn, ghế, chiếu, giường đang có mặt trong căn nhà của quý vị. Ba cõi không bao giờ tự nói rằng ‘chúng tôi là ba cõi.’ Chính quý vị đang có mặt tại đây với cái tinh minh sáng chói chiếu rõ muôn vật, chính quý vị là người ước lượng thế giới và cho ba cõi mỗi cõi một cái tên.

Này các vị đại đức! Sắc thân bốn đại này là vô thường, kể cả tỳ, vị, gan, mật, tóc, lông, răng, móng. Nếu nhìn vào, ta chỉ thấy tướng Không của các pháp. Khi quý vị ngưng lại được mọi ý niệm thì đó đã là cội Bồ Đề. Nếu ý niệm mà chưa ngưng được thì đó là cây vô minh. Vô minh không có chỗ ở, không có thỉ chung, nếu quý vị không ngưng được tâm ý thì quý vị sẽ leo lên cây vô minh, đi vào sáu nẻo, chui qua bốn cách thọ sinh để mang lông và đội sừng. Nhưng nếu quý vị ngưng được thì quý vị đạt ngay tới thế giới của pháp thân thanh tịnh. Đạt được trạng thái một niệm không sinh (nhất niệm bất sinh) thì quý vị leo lên được trên cây Bồ Đề, biến hóa thần thông trong ba cõi, sử dụng hóa thân sinh ra từ ý (ý sinh thân), đạt được pháp hỷ và thiền duyệt, hào quang nơi thân sẽ bắt đầu tự chiếu, nghĩ tới cái mặc thì sẽ có ngàn muôn lớp áo gấm sa, nghĩ tới cái ăn thì sẽ có đầy đủ hàng trăm hảo vị và quý vị sẽ không bao giờ lâm vào các chứng bệnh ngặt nghèo. ‘Bồ Ủề không có chỗ ở (trú xứ) vì vậy cho nên gọi nó là vô đắc.’

Này các bạn tu, là bậc đại trượng phu (con người lớn), các vị còn nghi ngờ gì nữa? Cái diệu dụng đang xảy ra trong giờ phút hiện tại, đó là ai vậy? Nắm được nó để sử dụng, và đừng bị kẹt vào danh tự, cái đó gọi là huyền chỉ (tông chỉ huyền diệu). Ai thấy được như thế, kẻ ấy không còn bị một cái gì làm trở ngại. Người xưa nói: ‘Tâm tùy vạn cảnh mà đổi thay, và cái đổi thay này đâu có gì là lạ? Hãy tùy theo sự thay đổi ấy mà nhận ra tự tánh của mình, nhận ra được rồi thì vượt thoát cả mừng lẫn lo.’

 

5- Này các bạn tu, theo kiến giải của thiền tông, thì sống chết là lẽ tuần hoàn (trong vũ trụ). Ta cần phải để hết tâm ý trong khi tham vấn. Khi chủ và khách gặp nhau, thế nào cũng có lời qua tiếng lại. Hoặc ứng hiện ra những hình tướng khác nhau, hoặc sử dụng toàn thân mà đối phó với đương sự. Có khi lại sử dụng những phương tiện cơ quyền như mừng giận, hoặc hiện nửa thân, hoặc ngồi trên lưng sư tử hay trên lưng voi chúa…

Trong trường hợp một học nhân đích thực thì người này có thể hét lên hoặc đưa ra một cái bẫy (bình keo) trước mặt vị thiện tri thức. Nếu vị này không nhận ra được cái ‘cảnh’ ấy mà lại rơi vào trong cái bẫy, cứ nương vào cái ‘cảnh’ ấy đặt ra đủ thứ mô hình, thì vị học nhân lại có thể hét lên nữa. Nếu vị thiện tri thức còn chưa chịu buông bỏ, thì đó thật là trường hợp của một bệnh nan y. Trường hợp này gọi là trường hợp khách khán chủ.

Hoặc giả vị thiện tri thức chẳng đưa ra cái gì hết, mà cứ đợi kẻ học nhân đưa ra cái gì thì đoạt lấy cái đó. Kẻ học nhân có thể tuy bị tước đoạt tất cả những gì mình muốn đưa ra mà vẫn còn chống cự lại, chết vẫn không chịu buông ra. Trường hợp này là trường hợp chủ khán khách.

Hoặc giả kẻ học nhân đứng trước vị thiện tri thức đưa ra một đối tượng (cảnh) thanh tịnh. Vị thiện tri thức nhận ra được đối tượng ấy, nắm lấy và liệng xuống hầm sâu. Vị học nhân liền nói: ‘Thầy quả là một vị thầy lớn.’ Vị thiện tri thức trả lời: ‘–i chà, anh chẳng biết cái gì là tốt cái gì là xấu.’ Vị học nhân bèn lạy xuống. Trường hợp này gọi là chủ khán chủ.

Hoặc kẻ học nhân trình diện trước vị thiện tri thức như một người có mang gông cùm. Vị thiện tri thức thấy thế liền đem tới và đeo thêm cho vài cái gông và vài cái cùm khác. Vị học nhân vui mừng quá đổi đến nỗi không phân biệt được (ai là chủ ai là khách). Trường hợp này gọi là khách khán khách.

Này các vị đại đức! Những gì tôi vừa nói chỉ là để giúp quý vị nhận diện được ma quái và tà đạo, và phân biệt được tà chính.

Này các bạn tu, chân lý khó đạt tới, Phật pháp rất u huyền, tuy nhiên ta vẫn có thể đi vào các lãnh vực ấy để đạt được kiến giải. Ngày này qua ngày khác, tôi chỉ ngồi đây mà thuyết giảng và đánh phá, nhưng hầu hết bọn họ có chịu để ý đâu. Ngàn lần vạn lần họ vẫn tiếp tục dẫm chân lên những vùng đất đen tối, không nhận ra được một cái gì rõ ràng, độc lập, chiếu sáng. Chỉ vì các vị còn thiếu đức tự tin, cứ đi tìm kiến giải trên chữ nghĩa văn cú. Nửa đời người đã đi qua (nửa cõi trăm năm đã đi qua) mà cứ vẫn còn ỷ lại vào kẻ khác, tiếp tục khiêng tử thi của chính mình như một gánh nặng mà đi trong cõi nhân gian. Có ngày thế nào họ cũng sẽ phải trả tiền giày dép!

Này các vị đại đức! Khi nghe tôi nói rằng ngoài kia không có pháp gì để tìm cầu cả, thì lại có những kẻ học nhân hiểu lầm, nghĩ rằng phải đi tìm ở bên trong. Họ ngồi xuống bất động, quay mặt vào tường, lưỡi dán vào đóc họng, cho rằng đó là pháp môn của Bụt, của Tổ. Họ lầm to! Nếu quý vị cho cái tĩnh (cảnh thanh tịnh bất động) là đạo thì quý vị đã nhận cái vô minh là ông chủ. Người xưa đã nói: ‘Lẵng lặng là cái hầm sâu đen ngòm, thật là dễ sợ.’ Nếu ngược lại, quý vị nhận cái động là đạo thì hóa ra các loài cây cối đang động đậy ngoài kia đều là đạo hay sao? Động là phong đại, bất động là địa đại, động và bất động cả hai đều không có tự tính. Nếu quý vị muốn tìm nó trong cái động, nó sẽ đứng trong cái tĩnh; nếu quý vị muốn tìm nó trong cái tĩnh, nó sẽ đứng trong cái động, giống như con cá trong dòng suối đang vỗ sóng nhảy lên.

Này các vị đại đức, động và bất động chỉ là hai cảnh giới: con người tu không vướng mắc (vô y đạo nhân) có thể sử dụng cả động và bất động.

 

6- Như tôi đây, khi có học giả tới, thì tôi sử dụng ba phép quyết đoán để đối phó với ba loại căn cơ. Nếu người có căn cơ dưới trung bình tới, tôi sẽ đoạt cảnh của họ, nhưng không đoạt pháp của họ. Nếu người có căn cơ trên trung bình tới, tôi sẽ đoạt cả cảnh cả pháp của họ. Nếu là người có căn cơ bén nhạy tới, tôi sẽ không đoạt cảnh cũng không đoạt pháp cũng không đoạt người. Nếu là người có kiến giải vượt bực tới, tôi sẽ sử dụng toàn thân để đối phó, mà không liệt họ vào một loại căn cơ nào cả.

Này các vị đại đức! Trong trường hợp này, pháp lực của kẻ học nhân sẽ không để cho một ngọn gió nào đi qua và tốc độ của pháp lực ấy lửa đá và điện quang cũng không vượt qua được. Vị học nhân ấy chỉ cần chớp mắt là đã đánh mất sự tương giao, chỉ cần khởi ra một niệm là đã đi vào sự sai trái. Có hiểu được hay không là chỉ ngay trong giây phút đó mà thôi.

Này các vị đại đức, các vị mang bát, mang túi và mang một khúc ruột già đầy phân đi tới người ta để tìm cầu Phật và Pháp, quý vị có biết ai là kẻ đang đi tìm cầu ấy không? Đó là một kẻ sống động, linh hoạt, không vương vào dây mơ rễ má nào cả, lùa thì không vào, xua cũng không đi, chạy tìm thì nó càng lúc càng xa, không tìm thì nó đứng ngay trước mặt, tiếng nói của kẻ ấy đang vọng ngay vào tai quý vị. Không có đủ niềm tin nơi đây thì thật phí cả một cuộc trăm năm.

Các bạn tu, chỉ trong một khoảnh khắc là ta có thể đi vào cảnh giới của Hoa Tạng, đi vào cảnh giới của Bụt Tỳ Lô Giá Na, đi vào các quốc độ của giải thoát, của thần thông, của thanh tịnh, đi vào pháp giới, đi vào uế, đi vào tịnh, đi vào phàm, đi vào thánh, đi vào ngạ quỷ súc sinh và nơi nào ta cũng không tìm kiếm ra được cái gọi là sinh tử. Tất cả đều chỉ là danh từ suông (không danh), là hoa đốm huyễn hóa trong hư không, không đáng để ta nhọc công đi tìm bắt. Lúc đó thì ta sẽ buông bỏ được hết tất cả mọi cái đắc, thất, thị và phi.

Này các bạn tu, cái thấy về Phật pháp của tôi, tôi đã tiếp nhận từ các hòa thượng Ma Cốc, Đan Hà, Đạo Nhất, Lô Sơn và Thạch Đầu. Sự trao truyền của truyền thống này đã phổ biến trên thiên hạ, nhưng vì chưa tin nhận được nên nhiều người còn nhạo báng. Như ý chỉ của Tổ Đạo Nhất, thuần nhất và không tạp loạn như thế, mà cả ba trăm năm mươi người tới học cũng không nắm bắt được. Tổ Lô Sơn thảnh thơi và chính chân như thế, nắm vững được cả hai chiều thuận nghịch như thế, mà đệ tử cũng còn hoang mang không thăm dò được bờ mé của trí tuệ ngài. Tổ Đan Hà cũng vậy, đùa giỡn với hạt châu, khi ẩn khi hiện, kẻ học nhân tới không ai là không bị Tổ la mắng. Hành tung của Tổ Ma Cốc thì đắng như vỏ cây Hoàng bá, ai đến gần cũng không được. Tổ Thạch Củng thì bí quyết là tìm người trên đầu một mũi tên làm cho ai nấy cũng đều sợ hãi. Còn cái cách hành xử của ông thầy tu núi là tôi đây thì đó là sự thành hoại chân thực (chân chính thành hoại). Tôi đùa bỡn với sự thần biến tâm linh, tôi đi vào được trong tất cả mọi cơ cảnh, và ở đâu tôi cũng duy trì được (bản lĩnh của mình là) vô sự, cảnh không bao giờ đoạt được tôi. Nếu có ai tới tìm, tôi sẽ đi ra nhìn người ấy. Kẻ ấy không biết tôi. Tôi liền mặc áo vào. áo có nhiều thứ. Kẻ học nhân nhìn thấy áo, trong tâm liền phát sinh kiến giải, kẹt ngay vào ngôn cú của tôi. Tội nghiệp cái ông thầy đui mù không mắt này quá đi; ông ta nhận lầm cái áo là tôi, cho tôi là hoặc vàng hoặc xanh hoặc trắng hoặc đỏ. Thấy thế tôi mới cởi hết áo đi và để lộ cái ‘thanh tịnh’ ra. Vị học nhân thấy thế, liền sinh tâm vui mừng và ham muốn. Tôi liền cởi bỏ luôn cái áo ‘thanh tịnh’ ấy ra nữa. Bấy giờ kẻ học nhân thất kinh, hoang mang, cuống cuồng bỏ chạy, nói rằng tôi ‘trần truồng như nhộng.’ Tôi mới nói với kẻ ấy: ‘Chú có biết cái con người mặc áo trong tôi là ai chưa?’ Hốt nhiên kẻ kia quay đầu lại và nhận ra tôi.

Này các vị đại đức! Các vị đừng có kẹt vào cái áo. Áo là bất động, chỉ có người mới có thể mặc áo. Có cái áo thanh tịnh, có cái áo vô sinh, có cái áo Bồ Đề, có cái áo Niết Bàn, có áo Tổ, có áo Bụt.

Các vị đại đức, nếu những cái đó chỉ là âm thanh, danh từ và văn cú thì tất cả đều chỉ là những chiếc áo được biến hiện ra, vận dụng từ huyệt khí hải dưới rốn đi lên làm hàm răng lách cách phát ra thành câu, thành ý, nên biết rõ những thứ ấy chỉ là trò huyễn hóa.

Này các đại đức, bên ngoài là hành động phát ra âm thanh ngôn ngữ, bên trong là tâm tư làm phát sinh ý niệm, tất cả đều chỉ là những loại áo. Tại sao các vị lại nhận những cái áo ấy làm kiến giải chân thật? Nếu cứ tiếp tục như thế thì dù có tu trải qua muôn vạn kiếp nhiều như vi trần thì cũng chỉ là để hết mặc áo này lại mặc áo khác (chưa phải là thần thông mà chỉ là y thông), chưa thoát ra được luân hồi sinh tử. Tất cả đều không bằng thực tập vô sự. ‘Gặp nhau không biết nhau, trò chuyện tên chẳng biết.’

Đời nay, người tu không đạt được đạo cũng vì cứ nhận lầm danh tự làm kiến giải. Họ ghi chép lại những câu nói, những lời lẽ của các ông già đã chết vào trong một cuốn sách lớn, đem cất dấu trong bốn năm lớp túi vải, không cho ai nhìn thấy, cho những điều ghi chép trong đó là ‘huyền chỉ’, rồi cất dấu bảo trọng. Lầm to! Này bọn mù kia, trong những khúc xương khô ấy, các anh tìm sao cho ra một giọt nước mát? Có một bọn không biết thế nào là xấu tốt, từ trong giáo pháp rút ra những huyền đàm lý luận, chế thành văn cú lý nghĩa, giống như bỏ vào miệng những cục phân rồi nhả ra và mớm lại cho kẻ khác, chẳng khác gì người thế tục chơi trò chuyền miệng. Một đời đi qua oan uổng, vậy mà cứ nói ‘ta là người xuất gia.’ Khi có kẻ đến tham vấn về Phật pháp, chúng ngậm miệng, không nói nên lời, hai mắt mở ra, thất thần và đen ngòm như những chiếc ống khói, còn miệng thì trệ xuống như thể một chiếc đòn gánh trĩu nặng hai đầu. Những kẻ như thế thì dù Bụt Di Lặc có ra đời bây giờ đi nữa, họ cũng bị đày đi các thế giới khác hoặc bị gửi xuống địa ngục để nhận chịu quả báo đau khổ.

Này các vị đại đức, các vị bôn ba khắp nơi để tìm kiếm cái gì cho đến nỗi hai bàn chân của quý vị bành ra như thế? Có Bụt đâu mà tìm, có Đạo đâu mà thành, có Pháp đâu mà đắc? Bụt với các tướng tốt mà bạn đang đi tìm ấy không giống bạn đâu. Muốn tự biết bản tâm bạn, thì phải thấy được Bụt với bạn không hợp cũng không ly.

Này các bạn tu, chân Phật vô hình, chân Đạo vô thể, chân Pháp vô tướng, cả ba pháp ấy dung hợp nhau làm thành một. Ai không thấy được điều này thì còn là chúng sinh với nghiệp thức mang mang.

Hỏi: ‘Xin Thiền Sư khai thị cho chúng con: chân Phật là gì, chân Pháp là gì, chân Đạo là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Bụt thật (chân Phật) là sự thanh tịnh của tâm mình. Pháp thật (chân Pháp) là ánh sáng của thân mình. Đạo thật (chân Đạo) là ánh sáng thanh tịnh vô ngại (chiếu soi) khắp chốn. Ba cái là một; cả ba đều là giả danh mà không thật có. Người học đạo chân chính thì phải duy trì chánh niệm về ba đối tượng ấy một cách miên mật. Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn-độ sang đây, chỉ cốt đi tìm kiếm cho được một con người không bị kẻ khác làm mê hoặc. Cuối cùng ngài gặp được Huệ Khả, Tổ thứ hai. Chỉ với một câu nói thôi ngài đã giúp cho Tổ Huệ Khả giác ngộ và thấy rõ rằng tất cả công phu trước đó đều là vô dụng. Theo cái thấy của tôi, thì chúng ta không khác gì Tổ và Bụt, hiểu ngay được câu đầu thì ta trở thành bậc thầy của Tổ và Bụt, và nếu đến câu thứ hai ta mới hiểu thì ta cũng có thể trở thành bậc thầy của loài người và loài trời. Nhưng nếu đến câu thứ ba mới hiểu thì ta tự cứu ta cũng còn chưa được huống hồ là mong làm thầy thiên hạ.

Hỏi: ‘Tổ Bồ Đề Đạt Ma qua đây có ý gì?’

Thiền Sư đáp: ‘Nếu đã có ý, thì tự cứu mình cũng chưa được (huống hồ để độ người).’

Hỏi: ‘Nếu không có ý, thì làm sao Tổ thứ hai đắc pháp được?’

Thiền Sư đáp: ‘Đắc tức là vô đắc.’

Hỏi: ‘Nếu đắc quả là bất đắc, thì làm sao lại có cái ý ‘bất đắc’?’

Thiền Sư đáp:

– Cũng vì đi tìm tâm khắp nơi mà không ngưng được, cho nên Tổ mới nói: ‘Ôi hay! Kẻ trượng phu kia! Sao ngươi có đầu rồi mà còn đi tìm đầu mãi vậy?’ Nghe được câu nói ấy mà biết đem ánh sáng trở về soi chiếu tự tâm, không còn tìm cầu cái gì khác nữa, thì mình biết được thân và tâm mình không khác gì với thân và tâm của Tổ và Bụt, và ngay trong giây phút này đạt được trạng thái vô sự. Cái đó mới gọi là đắc pháp.

Này các đại đức! Trong giờ phút này đây vì vạn bất đắc dĩ cho nên tôi mới nói ra những lời nói không mấy tao nhã. Quý vị đừng có vì vậy mà hiểu lầm tôi. Theo cái thấy của tôi thì thật ra chẳng có đạo lý gì để cho ta thuyết giảng. Nếu cần làm gì thì cứ làm đi, nếu không thì cứ nghỉ ngơi đi cho khỏe.

Khắp nơi người ta nói lục độ vạn hạnh là Phật pháp, còn tôi thì tôi nói đó chỉ là những phương tiện điểm trang, những phương tiện để mình làm Phật sự chứ chưa phải là Phật pháp. Cho đến những việc như trì trai, giữ giới, bưng một bát dầu đừng để nó sóng sánh rơi ra một giọt,… tất cả những cái ấy nếu không có khả năng làm cho con mắt đạo của quý vị sáng ra thì rốt cuộc quý vị cũng phải bị người ta đòi trả tiền cơm nước như thường. Tại sao?

‘Vào đạo không thông lý

Luân hồi đền tín thí

Trưởng giả tám mươi mốt

Cây khô ra mộc nhĩ’

Dù cho quý vị có ở một mình trên đỉnh cô phong, mỗi ngày ăn một bữa, ngồi thiền suốt đêm, không đặt lưng xuống, tu tập sáu thời một ngày tinh chuyên, thì quý vị cũng chỉ là những người đang tạo nghiệp. Dù cho quý vị có bố thí cả quốc thành, thê tử, đầu, mắt, tủy não, voi ngựa, bảy báu, mọi thứ đều đem ra cho hết thì những cái ấy rốt cuộc cũng chỉ làm đau nhức thân tâm, đem về những quả báo khổ đau. Tất cả đều không bằng làm một kẻ vô sự, thuần nhất, không tạp loạn. Cho dù các vị Bồ-tát đã đi qua mười địa có muốn đem hết tâm mình mà đi tìm dấu vết của một người tu vô sự như thế cũng không tìm ra được. Sở dĩ người ấy được chư thiên ca tụng, được Địa thần nâng gót, được chư Bụt mười phương xưng tán, là tại vì sao? Tại vì những người tu ấy, ngay trong giây phút hiện tại, đang ngồi đây nghe pháp mà đang không để lại dấu vết gì.

Hỏi: ‘Bụt Đại Thông Trí Thắng ngồi trong đạo tràng trong mười kiếp liên tục mà Phật pháp không biểu hiện trước mắt, và ngài không thực hiện được Phật đạo.’ Câu ấy có nghĩa gì?

Thiền Sư đáp:

– Đại Thông có nghĩa là ở đâu cũng tự mình đạt tới được sự thật vô tánh và vô tướng của vạn pháp. Trí Thắng có nghĩa là ở đâu cũng không có một niệm nghi hoặc, không thấy mình có đắc bất cứ một pháp nào. Bụt có nghĩa là sự thanh tịnh của tâm, ánh sáng (của sự thanh tịnh) ấy thấu triệt được cùng pháp giới. Mười kiếp liên tục ngồi ở đạo tràng chính là mười ba la mật. Phật pháp không biểu hiện trước mắt có nghĩa là Phật vốn không sinh, Pháp vốn không diệt, thì làm sao biểu hiện trước mắt? Không thực hiện được Phật đạo có nghĩa là Bụt đâu có cần thành Bụt nữa. Cổ nhân nói: ‘Bụt thường ở thế gian mà không nhiễm pháp thế gian.’ Này các bạn tu, nếu quý vị muốn làm Bụt thì đừng tùy thuộc vào vạn vật. Tâm sinh thì mọi pháp sinh, tâm diệt thì mọi pháp diệt, một tâm không sinh, thì các pháp không làm gì mình được nữa.

Trong thế gian cũng như ngoài thế gian (xuất thế gian) chẳng có Bụt mà cũng chẳng có Pháp, không thật sự có trong giây phút hiện tại mà cũng chẳng sẽ là không trong tương lai. Dầu nói có cái gì đi nữa, thì đó cũng chỉ là những danh ngôn và chương cú, chỉ có tác dụng tiếp dẫn được bọn con nít. Phương tiện thiết lập ra như thuốc để trị bệnh, sự biểu hiện danh cú có ra là vì thế. Với lại danh cú không tự gọi mình là danh cú. Chính quý vị đang có mặt đây trong giờ phút này với cái linh giác thấy, nghe sáng rỡ như một ngọn đuốc chiếu sáng kia, chính quý vị mới là người đã an bày ra tất cả các danh cú.

 

7- Các vị đại đức, phải tạo ra năm nghiệp vô gián thì mới được giải thoát.

Hỏi: ‘Năm nghiệp vô gián là gì?’

Thiền Sư đáp:

– Năm nghiệp vô gián là giết cha, giết mẹ, làm Bụt chảy máu, chia rẽ tăng đoàn và thiêu đốt linh tượng. Cha ở đây có nghĩa là vô minh. Nếu quý vị ngưng được sự tìm cầu, dù cho trong một khoảnh khắc, cái sinh khởi và cái hoại diệt (của các Pháp) như tiếng vang âm hưởng với hư không, nếu quý vị trong trường hợp nào cũng vô sự được, thì đó là đã giết được cha vô minh. Mẹ đây là sự tham ái. Nếu quý vị trong khi đi vào cõi Dục để tìm cầu đối tượng của sự tham ái mà có thể, dù cho trong một khoảnh khắc, thấy được rằng các pháp đều Không và bất cứ nơi đâu cũng được vô trước, đó gọi là giết được mẹ tham dục. Bụt ở đây là sự vướng mắc vào các kiến giải phân biệt. Nếu quý vị đi vào trong pháp giới thanh tịnh mà không làm phát sinh những kiến giải phân biệt, dù chỉ trong một sát na, tới đâu cũng giữ được trí vô phân biệt của mình, đó là quý vị đã làm Bụt (của biến kế sở chấp) chảy máu. Tăng đoàn ở đây là sự vướng mắc vào các ý niệm phiền não và sở y. Nếu quý vị đạt được cái thấy là tất cả các phiền não và kết sử đều Không và chẳng có chỗ nương tựa (sở y), thì dù chỉ trong một khoảnh khắc, quý vị cũng đã phá được tăng đoàn của phiền não, kết sử và sở y. Kinh tượng ở đây là những ý niệm về nhân duyên, về tâm và về pháp. Nếu quý vị, dù chỉ trong một khoảnh khắc, thấy được tính Không của nhân duyên, của tâm và của pháp và đoạn trừ được tất cả những khái niệm mình có về nhân duyên, về tâm và về pháp, đó là quý vị đã thiêu đốt được các kinh tượng của khái niệm, của tâm và của pháp.

Này các vị đại đức! Nếu làm được như thế, các vị sẽ không còn bị kẹt vào các danh từ phàm và thánh.

Quý vị trong mỗi ý niệm đã quen nhìn vào nắm tay không và ngón tay chỉ, cho đó là sự thật, dựa trên căn cảnh mà hình dung ra các pháp hư ngụy không thật có. Các vị có mặc cảm tự ty, cho nên chỉ biết khúm núm co rút mình lại, và tiếp tục nói: ‘Ta chỉ là một kẻ phàm phu, còn vị ấy là một bậc thánh nhân.’ Bọn trọc đầu ngu ngốc kia ơi! Tại sao các ngươi lại chạy đi hối hả tìm cái chết bằng cách đội lốt sư tử lên đầu để kêu thành tiếng của những con dã can như thế? Là kẻ đại trượng phu mà tại sao các ngươi không thở ra được khí phách của kẻ đại trượng phu? Những gì đã có sẵn trong nhà mình mà mình không tin, lại cứ đi tìm kiếm ở những nhà khác? Tại sao lại cứ sa vào cái bẫy danh cú của cổ nhân, hết nương vào âm lại tựa vào dương, rốt cuộc chẳng tự mình đạt được gì cả. Gặp hoàn cảnh nào cũng bám vào, gặp đối tượng nào cũng nắm bắt, tiếp xúc tới đâu thì bị lừa gạt tới đó, quý vị không hề có tiêu chuẩn nhận thức nào cả.

Các bạn tu, các bạn đừng bị kẹt vào lời nói của ông thầy tu núi này. Tại sao? Tại vì những lời tôi nói không thực sự có nền tảng nào cả, đó chỉ là những bức vẽ nhất thời trên không gian, dù chúng là những hình tượng có màu có sắc. Này các bạn tu, đừng lấy Bụt làm tiêu chuẩn tuyệt đối. Theo tôi thì cái quan niệm ta có về Bụt ấy đó cũng như một cái hố xí, và theo nghĩa đó, Bồ-tát và La-hán cũng chỉ là những kẻ đem tới gông cùm. Vì vậy cho nên mới có hiện tượng Văn Thù mang gươm tới giết Cồ Đàm và Ương Quật Ma đem đao tới chém Thích Ca.

Này các bạn tu, Bụt không phải là cái gì mà quý vị có thể nắm bắt được, cho đến giáo lý ba thừa, năm tánh, đốn giáo, viên giáo, tích môn, bản môn… Tất cả chỉ là thuốc và bệnh cùng hiện khởi đối lập nhau nhất thời, không phải là những pháp có thật. Mà dù cho có cái gì đi nữa thì đó cũng chỉ là những cái giả bày như có thật, những biểu hiện tạm thời dưới dạng văn tự để cho công chúng có tạm thời mà sử dụng. Chỉ nói thế thôi!

Này các bạn tu, có một bọn thầy tu thực tập hướng nội công phu, nghĩ rằng mình đang mong cầu pháp xuất thế. Họ lầm. Cầu Bụt thì mất Bụt. Cầu Đạo thì mất Đạo. Cầu Tổ thì mất Tổ. Các đại đức! Đừng lầm. Tôi không cần quý vị giải thích kinh luận cho hay, không cần quý vị làm quốc vương hay đại thần, tôi không cần quý vị biện giải thao thao như một dòng sông, tôi cũng không cần quý vị trở thành những bậc thông minh và trí tuệ. Tôi chỉ cần quý vị có được kiến giải chân chính. Nếu quý vị có giảng giải được một trăm bộ kinh luận đi nữa thì quý vị cũng không bằng được một ông thầy tu tầm thường mà vô sự. Giảng giải được kinh luận một cách thao thao chỉ làm cho các vị thêm tự hào tự đắc và sinh ra khinh miệt kẻ khác. Đó cũng chỉ là tâm sự của bọn A-tu-la, chỉ nghĩ đến thắng bại. Vô minh và sự tranh chấp nhân ngã chỉ làm lớn lên cái nghiệp địa ngục. Tỳ khưu Thiện Tinh (Sunaksatra) đấy, thông giải được mười hai thể tài của kinh điển vậy mà vẫn phải rơi vào địa ngục như thường, không còn được ở lại trên trái đất. Hơn hết là nên vô sự và chấm dứt mọi tìm cầu, đói thì ăn, buồn ngủ thì nhắm mắt lại, kẻ ngu có thể cười ta, nhưng người trí sẽ hiểu được ta.

Này các bạn tu, đừng đi tìm cầu gì trong văn tự để cho tâm mình thêm động, trí mình thêm mệt và phổi mình phải hớp vào những luồng khí lạnh, vô ích. Chi bằng thấy được trong một khoảnh khắc rằng các hiện tượng duyên khởi là vô sinh và siêu việt được cả các vị Bồ-tát quyền học trong ba thừa.

Các vị đại đức, đừng chần chừ cho qua ngày tháng. Ngày xưa, khi chưa thấy đạo, còn đang ở trong vùng mờ mịt đen tối, tôi đã không lúc nào dám làm biếng, bầu máu nóng trong người luôn luôn thúc đẩy tôi bôn ba đi tham cầu học đạo. Sau đó nhờ đạt được trí lực, bây giờ mới có dịp ngồi đây nói chuyện với quý vị. Tôi khuyên quý vị là đừng vì chuyện cơm áo và danh lợi mà để thì giờ đi qua. Gặp được thiện tri thức là một điều hy hữu, cũng giống như gặp hoa ưu đàm đang độ nở, lâu lắm mới có một lần. Có những vị từ khắp nơi về đây nghe nói có lão già Lâm Tế, liền tìm tới định vấn nạn thử giăng bẫy để lừa tôi nói ra những lời ngôn giáo, nhưng các vị ấy đã thất bại. Và khi lão tăng này đã đưa toàn thân ra để phơi bày công dụng, thì quý vị ấy ngồi đó hai mắt tráo trưng, miệng câm như hến, hoang mang đến nỗi không biết trả lời tôi ra sao. Tôi xin nói cho quý vị biết: với sức dẫm đạp của rồng voi thì lừa ngựa không thể nào chịu nổi.

Các vị ấy đã đi khắp nơi, đã trỏ ngực vỗ sườn, nói rằng mình hiểu thiền hiểu đạo. Nhưng các vị ấy đã không thể không tới đây, có khi đi thành hai người, có khi đi ba người một lúc, nhưng rốt cuộc tới đây họ cũng chẳng phô trương được một cái gì cả. Úi chà! Các vị cứ khiêng cái thân và cái tâm ấy của quý vị đi khắp nơi để khua tung hai mảnh da môi, lừa gạt dân trong xóm, coi chừng có ngày sẽ bị ăn thiết bổng. Bọn họ không phải là thật người xuất gia đâu, kỳ thực họ đang bị lùa về cảnh giới A-tu-la. Chỗ chí lý của đạo không phải là dùng lý luận để đề cao giáo lý của mình và để chinh phục người đạo khác. Chư Bụt và chư Tổ nối tiếp nhau cũng (đi theo tinh thần này và) không có chủ đích nào khác. Nếu các ngài có thiết lập ngôn giáo thì những ngôn giáo này cũng chỉ nằm trong những mô thức giáo hóa đưa người vào các phạm trù ba thừa, năm tánh và quả báo trời người. Giáo pháp viên đốn thì không như thế. Đồng tử Thiện Tài thật ra chưa từng đi qua một cuộc tham vấn tìm cầu nào cả.

Các vị đại đức! Đừng sử dụng tâm ý một cách lầm lạc. Biển lớn không bao giờ chấp nhận tử thi. Mang gánh nặng của tâm lý tìm cầu mà rong ruổi khắp nơi trong thiên hạ, điều này chỉ gây thêm chướng ngại cho cái thấy của chính tâm mình. Nếu mặt trời không bị mây che thì khắp nơi bầu trời được chiếu sáng. Mắt không bị dụi thì sẽ không có hoa đốm trong hư không.

Này các bạn tu! Nếu các bạn muốn sống theo tinh thần của Pháp thì chỉ cần chấm dứt nghi ngờ. Triển khai ra thì ôm lấy cả pháp giới, thu vén lại thì tơ tóc cũng không dung, một mình sáng rỡ, chưa từng thiếu thốn. Cái mà tai không nghe, mắt không thấy, ta gọi nó là cái gì? Người xưa nói: Nói nó là một vật thì cũng không đúng. Quý vị hãy tự mình quán chiếu xem có cái gì khác hơn không? Nói mãi cũng không cùng, mỗi người phải tự nỗ lực. Xin chào quý vị!

Dẫn nhập

 

Chúng ta sẽ bắt đầu bằng phần thứ hai của Lâm Tế Lục là phần Dạy Chúng (Khai thị).

Tổ Lâm Tế là một người con có hiếu, và rất thông minh. Tổ xuất gia từ hồi còn nhỏ. Tổ đã được học rất nhiều kinh, luật và luận. Nhưng sau đó, Tổ thấy phong trào học Phật tuy rầm rộ, mà nhiều kẻ tu hành không đàng hoàng, chỉ lo tìm kiếm danh, lợi và địa vị, cho nên Tổ chán và quyết định tu thiền để đạt tới sự chứng ngộ. Có lúc Tổ tuyên bố: ‘Tất cả những gì ta học trong kinh, luật, luận đều vô ích. Làm sao cho mỗi giờ phút trong đời sống hàng ngày, ta sống được cho thật, đừng đánh mất cuộc đời trong sự tìm kiếm học hỏi.’ Phần lớn những người xuất gia thường đánh mất đời mình trong sự học hỏi, tìm kiếm.

Chúng ta nên nhớ rằng Lâm Tế Lục không phải là một tác phẩm do Tổ Lâm Tế viết ra. Tổ không có mục đích làm ra một tác phẩm. Đây là văn nói. Tổ chỉ dạy buổi sáng, buổi trưa và buổi chiều. Những đoạn chúng ta đang học đây là nội dung những lời Tổ dạy vào buổi chiều cho nhiều người, gọi là Khai Thị. Đệ tử của Ngài là Pháp Sư Tuệ Nhiên đã ghi chép lại. Tiếc là thầy Tuệ Nhiên không ghi hôm nay là ngày mấy, lúc mấy giờ chiều, năm mấy. Chúng ta chỉ biết rằng Tổ nói những lời ấy vào buổi chiều, còn buổi sáng thì có những vấn đáp. Tổ thử xem chúng ta tu chứng tới đâu. Nếu tu chứng không đàng hoàng thì Ngài đánh. Lâm Tế Lục kêu gọi chúng ta trở về sống cuộc đời của chính ta một cách đàng hoàng đích thực mà đừng phí đời mình trong sự tìm kiếm, dù đó là tìm kiếm Niết Bàn, tìm kiếm chân tâm, tìm kiếm giác ngộ.

Đọc Lâm Tế Lục chúng ta sẽ khám phá ra con người thật của thiền sư Lâm Tế, và chúng ta cũng thấy được con người thật của thiền sư Lâm Tế ở trong ta, chứ không phải không. Nguyên bản của Lâm Tế Lục bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn Cơ. Nhưng chúng ta sẽ không bắt đầu bằng phần này mà bắt đầu bằng phần thứ hai, gọi là phần Khai Thị. Tại sao? Tại vì những người chưa biết gì về thiền, về phương pháp của Tổ mà bắt đầu bằng phần Đối Trị Căn Cơ thì có thể cảm thấy bối rối, lạc lõng. Khai Thị có nghĩa là chỉ bày, chỉ bày cho những thiền khách hoặc những đệ tử bằng những ngôn từ rất từ bi. Đọc Lâm Tế Lục, chúng ta sẽ thấy được đức từ bi lớn của Tổ. Có nhiều khi Tổ la mắng: ‘Bọn bay ngu quá, không có đủ niềm tin ở bản thân của mình…’, lời nói khá nặng, nhưng kỳ thực rất từ bi. Điều đó không khó hiểu gì cả. Nếu ta mở rộng lòng ra thì ta hiểu được tất cả những điều Tổ nói, không có gì là bí hiểm cả. Nó giống như: Ăn cơm đi! Dạ, ăn cơm xong rồi. Vậy thì uống nước đi! Ngồi chơi đi ! Rất là đơn giản.