An lạc

Đời sống tâm linh

Nếu ta có một chút hiểu biết, thương yêu, an lạc cũng đã là quý rồi. Đó là vàng bạc châu báu của ta. Hôm nay ta có thể làm nhiều điều để làm tăng trưởng những phẩm chất ấy trong ta. Khi bước đi, nếu ta có khả năng bước được một bước chân an lạc, chế tác thêm sự vững chãi và tự do là ta đang phục vụ cho thế giới. Chỉ như thế ta mới có thể phụng sự được. Nếu ta không có những phẩm chất vững chãi, thảnh thơi, an lạc trong tự thân thì dù có làm gì lớn lao đi nữa ta cũng không thể phục vụ cho thế giới. Vấn đề không phải là phải làm gì mà là phẩm chất. Phẩm chất an lạc, vững chãi và hy vọng. Mỗi hành động của ta phải bắt nguồn từ đó. Bởi vì an lạc, vững chãi, tự do luôn luôn tìm đường đi của chúng, luôn luôn tìm hướng để hành động. Đó là đời sống tâm linh của ta.

Vấn đề cơ bản là chúng ta phải chế tác bình an và tập nhìn sâu. Trước hết ta phải làm cho thân tâm lắng dịu. Không có sự yên tĩnh và thanh tịnh thì những cảm xúc, giận dữ, tuyệt vọng sẽ không chịu đi và chúng ta sẽ không có khả năng nhìn thấy được thực tại. Làm lắng dịu và thanh tịnh thân tâm là bước thiền tập đầu tiên.

Bước thứ hai là nhìn sâu để hiểu. Nhờ có hiểu mới có thương. Từ nền tảng hiểu biết thương yêu này chúng ta sẽ hiểu được những gì nên làm và những gì không nên làm. Đó là thiền tập. Tất cả chúng ta, những nhà chính trị, quân đội, thương gia… phải thiền tập. Chúng ta phải thực tập cho thân tâm lắng dịu và nhìn sâu vào bản chất của sự vật. Mọi người sẽ yểm trợ ta làm điều này và chúng ta cùng yểm trợ cho nhau.

Hạt giống bạo động

Ta đừng nghĩ rằng hạt giống bạo động ở đâu đó xa lắc xa lơ. Hạt giống bạo động luôn có trong ta. Ta có thể nhận diện những hạt giống bạo động ấy trong tâm ta, qua những suy nghĩ, lời nói, hành động trong đời sống hằng ngày, qua cách hành xử, thái độ, qua những nỗi sợ hãi lo lắng của ta về bản thân và về những người khác. Tự thân của suy nghĩ cũng có thể bạo động. Suy nghĩ bạo động sẽ dẫn đến lời nói và hành động bạo động. Và như vậy những bạo động trong tâm ta sẽ biểu hiện ra trên thế giới.

Những cuộc chiến hằng ngày xảy ra trong tâm thức ta và trong gia đình ta liên quan đến những cuộc chiến giữa các sắc tộc và các quốc gia trên thế giới. Tin chắc mình biết rõ sự thật và những ai không có niềm tin giống mình là sai sẽ gây nên nhiều tổn hại. Khi ta tin chắc vào một điều gì đó và cho đó là chân lý tuyệt đối thì ta sẽ bị kẹt vào cái thấy riêng của ta. Chẳng hạn như nếu ta tin rằng đạo Bụt là con đường duy nhất đưa đến hạnh phúc thì có thể ta cũng đang hành động bạo động bằng cách kỳ thị và loại trừ những người theo các truyền thống tâm linh khác. Khi bị kẹt vào cái thấy của mình thì ta không thể thấy và hiểu được thực tại. Kẹt vào cái thấy của mình có thể rất nguy hiểm, nó ngăn cản ta không cho ta đạt đến cái cái thấy cao hơn, có nhiều tuệ giác sâu sắc hơn.

Chúng ta thường nghĩ rằng bạo động và chiến tranh là một hành động, một sự kiện có bắt đầu và kết thúc rõ ràng, nhưng nếu nhìn sâu vào bản chất của các cuộc chiến tranh, ta sẽ thấy rằng chiến tranh có xảy ra hay không thì những hạt giống của chiến tranh đã có rồi. Chúng ta không cần phải đợi đến lúc chiến tranh xảy ra mới thấy sự có mặt của chiến tranh. Khi quân đội rút quân trở về quê hương, ta có cảm tưởng chiến tranh kết thúc, nhưng điều đó có thể không đúng. Chiến tranh có thể vẫn còn đó. Tuy cuộc chiến đã kết thúc nhưng sự hận thù sợ hãi vẫn còn đó trong trái tim, tâm hồn của những người lính, công dân và đồng đội của họ. Khi cuộc chiến tranh xảy ra, nếu nhìn sâu ta sẽ nhận ra được nhiều mặt trong cuộc chiến đó như kỳ thị tôn giáo, kỳ thị chủng tộc, hận thù dân tộc, bỏ mặc con cái, khai thác quá mức nguồn tài nguyên của thế giới. Tuy nhiên chúng ta cũng biết rằng những hạt giống bình an, hiểu biết và thương yêu cũng đang có đó, nếu biết vun trồng tưới tẩm thì chúng sẽ lớn lên.

Nếu ta nhận ra được hạt giống bạo động cắm rễ trong ta qua cách nói năng, suy nghĩ, hành động hằng ngày thì ta có khả năng thức tỉnh và sống một cuộc sống mới. Ta có thể quyết tâm sống trong chánh niệm, trong bình an. Chiếu ánh sáng ý thức vào trong những gốc rễ của bạo động, ta có thể chấm dứt được cuộc chiến tranh từ khi mới bắt đầu chớm nở trong tâm. Chấm dứt được cuộc chiến tranh trong tâm thức, chắc chắn ta sẽ biết cách chấm dứt cuộc chiến tranh bên ngoài.

Đạo Bụt dấn thân

Ở Việt Nam, chúng ta đã bắt đầu phong trào đạo Bụt dấn thân. Chúng ta muốn đạo Bụt có mặt khắp nơi trong mỗi bước đi của sự sống, không phải chỉ có ở chùa mà còn ở trong xã hội, trong các trường học, trong gia đình, trong sở làm hay thậm chí trong cả giới chính trị, quân đội. Tình thương và sự hiểu biết cũng nên có mặt khắp nơi.

Rất nhiều người trong chúng ta rất háo hức làm việc cho hòa bình, nhưng lại không có bình an trong tâm. Ta kêu gọi hòa bình một cách giận dữ, và ta cũng la mắng giận dữ những người đang kêu gọi hòa bình như ta. Ngay cả những người dành trọn đời mình cho công việc hòa bình đôi khi cũng đấu tranh lẫn nhau. Nếu không có bình an trong tâm thì sẽ không có sự hòa hợp giữa những người làm công tác hòa bình. Và nếu không có sự hòa hợp thì sẽ không có hy vọng. Nếu chúng ta bị chia rẽ, nếu chúng ta đang ở trong tình trạng tuyệt vọng thì chúng ta không thể phục vụ được, không thể làm được bất cứ điều gì. Bình an phải được bắt đầu bằng chính tự thân mình bằng sự thực tập ngồi yên, đi thiền, chăm sóc thân thể, buông bỏ những căng thẳng trong thân thể và cảm thọ. Vì vậy, thiết lập thân tâm an lạc là nền tảng căn bản của việc làm hòa bình. Thiết lập bình an phải đến trước. Và công tác hòa bình sẽ đến sau dựa trên nền tảng căn bản đó.

Giây phút mà ta ngồi xuống, bắt đầu thở vào làm lắng dịu thân tâm thì bình an có mặt. Thở như vậy cũng giống như cầu nguyện. Khi có yếu tố bình an trong ta thì ta có thể truyền thông đến những người khác và ta có thể giúp người khác bình an như ta. Chúng ta cùng trở thành một cơ thể an lạc, một tăng thân an lạc. Sự thực tập có thể đem đến cho ta bình an ngay lập tức. Khi có bình an hơn, tươi vui hơn, ta có thể thành công hơn trong việc tiếp xúc và kêu gọi mọi người tham gia vào công việc kêu gọi hòa bình. Vì có bình an, nhìn bình an, nói bình an, hành động bình an nên ta có khả năng thuyết phục nhiều người tham gia vào công việc hòa giải và làm tăng tiến hòa bình.

Chúng ta không thể có bình an bằng cách thương thuyết và hoạch định. Chúng ta phải học cách thở, cách làm lắng dịu thân tâm và có khả năng giúp người khác cũng làm như vậy. Nếu trong ta không có yếu tố bình an, mọi người không có yếu tố bình an thì ta có làm cũng vô ích, không có hành động nào của ta có thể thực sự được coi là hành động hòa bình.

Chúng ta phải thực tập chế tác bình an trong xí nghiệp, sở làm, trong thành phố, trường học. Thầy cô giáo phải thực tập bình an và dạy cho học sinh cách thực tập chế tác bình an. Tổng thống hay chủ tịch của một nước, người đứng đầu của một đảng phái chính trị phải thực tập chế tác bình an, phải cầu nguyện cho sự bình an trong tự thân trước khi người ấy có thể kêu gọi những tổng thống, chủ tịch khác tham gia vào công tác hòa bình. Rất lý tưởng nếu mỗi cuộc hội nghị hòa bình có thể bắt đầu bằng sự thực tập thiền hành, thiền tọa. Và có người hướng dẫn thiền buông thư để lấy đi những căng thẳng, giận hờn, sợ hãi trong thân tâm. Đó là đưa con đường tâm linh vào đời sống chính trị và xã hội, là đạo Bụt nhập thế.

Cử chỉ anh hùng

Hiểu và thương là hai nguồn năng lượng rất mạnh mẽ, đối nghịch với sự thụ động và ngu dốt. Nếu ta nghĩ rằng từ bi là thụ động, là yếu đuối hay hèn nhát thì ta không biết hiểu thương đích thực nghĩa là gì. Nếu ta nghĩ rằng những người từ bi là không chống cự, đối kháng, không dám thách thức cho những bất công xã hội thì ta đã sai lầm rồi. Họ là những chiến binh, những anh hùng, nữ anh hùng mang lại rất nhiều chiến công. Khi hành động với lòng từ bi, bất bạo động là chúng ta đang hành động trên nền tảng của tuệ giác bất nhị, chúng ta phải rất mạnh mẽ. Chúng ta không hành động vì sự giận dữ, không trừng phạt hay đổ lỗi. Từ bi lớn lên liên tục trong ta, và ta có thể thành công trong việc đấu tranh chống lại những bất công xã hội. Ngài Mahatma Gandhi chính là người như thế. Ngài không có bất kỳ một thứ bom đạn, súng ống hay một đảng phái chính trị nào. Ngài chỉ hành động đơn giản dựa trên tuệ giác bất nhị, trên sức mạnh của tình thương mà không phải trên sự giận hờn.

Con người không phải là kẻ thù của ta. Kẻ thù của ta là vô minh, bạo động, bất công trong mình và trong người kia. Khi chúng ta được trang bị bằng từ bi và hiểu biết thì chúng ta không đấu tranh chống lại người khác mà chống lại khuynh hướng xâm chiếm, thống trị và bóc lột. Chúng ta không muốn giết người khác mà chúng ta cũng không để kẻ khác thống trị bóc lột ta và những người khác. Chúng ta phải bảo vệ chính mình. Ta không ngu dốt. Ta rất thông minh và có tuệ giác. Từ bi không có nghĩa là để cho người khác bạo động với chính họ và bạo động với ta. Từ bi nghĩa là thông minh sáng suốt. Hành động bất bạo động xuất phát từ tình thương chỉ có thể là hành động thông minh.

Bồ tát ngàn mắt ngàn tay

Trong những ngôi chùa ở các nước châu Á có tượng Bồ tát Quan Âm ngàn tay. Mỗi tay cầm một pháp khí đại diện cho những lĩnh vực hành động khác nhau mà qua đó Bồ tát có thể biểu hiện tình thương và trí tuệ của mình. Một tay Ngài cầm quyển kinh hay một quyển sách nói về khoa học chính trị, một tay Ngài cầm pháp khí như chuông khánh, tay khác cầm một dụng cụ âm nhạc. Hình ảnh của Bồ tát ngàn tay trong xã hội hiện đại có thể có một tay cầm máy vi tính. 

Có thể một trong những cánh tay của Bồ tát lại cầm súng. Chúng ta cũng có thể mang theo vũ trang mà vẫn làm một vị Bồ tát được. Ở các chùa Việt Nam, chúng ta thường thấy hình ảnh của hai vị Bồ tát. Bên tay trái là tượng một vị Bồ tát rất đôn hậu, luôn mỉm cười và rất thân thiện, trong khi bên phải là hình ảnh một vị Bồ tát rất dữ tợn đang vung vũ khí. Tên của vị Bồ tát này Diện Nhiên Vương, khuôn mặt Ngài đang bốc cháy, mắt Ngài cũng đang bốc cháy, lửa và khói bay ra từ miệng và mũi Ngài. Đây là hình ảnh của một vị Bồ tát đang thị hiện làm một người ác, rất hung dữ nhưng lại bảo hộ cho chúng ta. Vị Bồ tát này có khả năng giữ cho cô hồn không quậy phá. Khi cúng cô hồn, chúng ta niệm danh hiệu Ngài, xin Ngài đến giúp đỡ, bởi vì cô hồn rất ồn ào và lộn xộn. Chúng ta cần Bồ tát Diện Nhiên Vương, cần tính hung dữ của Ngài để giúp lập lại trật tự, bởi vì chỉ có Ngài mới có thể thuần hóa được những cô hồn hoang dại mà thôi.

Tuy nhiên, đặc tính trông có vẻ dữ tợn này cũng là biểu hiện của Bồ tát Quán Thế Âm, người mang nhiều hình thức khác nhau – như mẹ hiền Quán Thế Âm, Bồ tát Diện Nhiên Vương hay thậm chí là hình thức cô hồn – để hiểu hơn những người mà Ngài muốn đến giúp và có truyền thông tốt với họ. Một số biểu hiện này có thể không giống như những ý niệm thông thường chúng ta có về các vị Bồ tát. Nếu chỉ đi tìm Bồ tát Quán Thế Âm trong một hình dáng dễ thương, nhẹ nhàng, xinh đẹp thì có thể chúng ta đánh mất Ngài. Chúng ta phải nhìn sâu để nhận ra được Bồ tát Đại Bi Quán Thế Âm trong nhiều hình thức khác của Ngài. Nếu nhìn kỹ vào hình ảnh của Bồ tát ngàn tay, ta sẽ thấy rằng trong mỗi lòng bàn tay của Ngài có một con mắt. Con mắt tượng trưng cho sự hiểu biết, cho tuệ giác, đó là trí tuệ bát nhã. Chúng ta cần từ bi và trí tuệ để đi xa hơn trên con đường này. Trí tuệ đem đến tình thương, sự tử tế và lòng từ bi. Bồ tát Quán Thế Âm có rất nhiều tay bởi vì tình thương cần được bày tỏ qua nhiều hình thức, phương tiện và công cụ khác nhau. Đó là lý do mà trên mỗi cánh tay của Bồ tát lại cầm một công cụ khác nhau, và trong mỗi lòng bàn tay lại có một con mắt trí tuệ.

Cuộc cách mạng hòa bình

Có người sống suốt cuộc đời họ chỉ để tìm cách trả thù. Ước muốn này sẽ mang lại khổ đau lớn, không chỉ cho người kia mà còn cho chính họ nữa. Hận thù là ngọn lửa đốt cháy mọi tâm hồn và nó chỉ có thể được dịu đi bởi lòng từ bi. Lòng từ bi được tìm thấy ở đâu? Người ta có bán ngoài siêu thị không? Nếu có thì ta chỉ việc mua nó mang về nhà và ta có thể bán đi tất cả những hận thù bạo động trên thế giới một cách dễ dàng. Nhưng từ bi chỉ có thể được tạo dựng trong trái tim ta bằng sự thực tập của chính mình.

Bây giờ nước Mỹ đang bị bốc cháy bởi những sợ hãi, khổ đau và hận thù. Chỉ có cách duy nhất để làm lắng dịu nỗi khổ đau của ta là trở về với chính mình để tìm hiểu tại sao ta có quá nhiều bạo động như vậy. Cái gì đã khiến cho những người khủng bố có quá nhiều hận thù đến nỗi họ phải hy sinh cả tính mạng và tạo ra nhiều khổ đau cho những người khác đến như vậy? Chúng ta có thể thấy được những hận thù lớn của họ nhưng nằm bên dưới hận thù ấy là cái gì? Đó là bất công. Tất nhiên chúng ta phải tìm cách ngăn chặn những bạo động trong họ, thậm chí ta cũng có thể giam họ vào tù khi những hận thù của họ đang bốc cháy. Nhưng điều quan trọng là ta phải nhìn sâu và đặt câu hỏi: “Ta đã làm gì để đóng góp vào sự bất công trên thế giới?”

Đôi khi những người mình thương như con cái, cha mẹ, vợ chồng… đã nói hoặc làm điều gì đó thô lỗ khiến ta khổ đau và giận dữ. Ta nghĩ rằng chỉ có ta là khổ đau, còn người kia không khổ. Kỳ thực người kia cũng khổ đau. Nếu không khổ đau thì họ đã không nói, không hành xử giận dữ như vậy. Người ta thương không biết cách đi ra khỏi khổ đau. Vì vậy người ấy trút tất cả những hận thù và bạo động lên ta. Trách nhiệm của ta là tạo ra năng lượng từ bi để làm lắng dịu trái tim ta để có thể giúp đỡ người kia. Nếu ta trừng phạt người kia thì người kia chỉ khổ đau thêm thôi. Dùng bạo động để tiêu diệt bạo động chỉ tạo thêm bạo động, bất công và khổ đau, không chỉ cho người kia mà còn cho chính ta nữa. Tuệ giác này có trong mỗi chúng ta. Thở sâu, chúng ta có thể tiếp xúc được tuệ giác này. Nếu năng lượng từ bi và tuệ giác này trong người Mỹ được nuôi dưỡng, dù chỉ trong vòng một tuần thôi, sẽ làm giảm đi mức độ giận dữ và hận thù trong nước. Tất cả chúng ta nên thực tập cho thân tâm lắng dịu, định tĩnh, tưới tẩm hạt giống từ bi, tuệ giác đã có sẵn trong chúng ta và học hỏi nghệ thuật tiêu thụ chánh niệm. Làm được điều này, ta sẽ tạo ra được một cuộc cách mạng hòa bình đích thực, chỉ có loại cách mạng này mới có thể giúp chúng ta ra khỏi tình trạng khó khăn.

Nhãn hiệu

Chúng ta bị chia cách nhau bởi những nhãn hiệu và ngôn từ, như người Do Thái, người Palestine, người Phật tử, người Thiên Chúa và người Hồi giáo. Khi nghe những từ này gợi lên trong đầu ta một hình ảnh và ngay lập tức ta cảm thấy xa lạ với những người khác, với những nhóm khác. Chúng ta đã hình thành nên nhiều cách suy tư khiến chúng ta chia cách nhau, và làm cho nhau đau khổ. Vì thế điều quan trọng là ta phải khám phá ra nhân tính trong người kia và giúp người kia khám phá ra nhân tính trong mình. Là con người, chúng ta giống y chang như nhau. Nhưng nhiều lớp nhãn hiệu đã ngăn cản người kia không cho họ thấy được ta là một con người. Nghĩ rằng mình là Phật tử hay nhân danh mình là Phật tử có thể là một điều bất lợi, bởi vì nếu ta nhân danh Phật tử thì đó có thể là một chướng ngại không cho họ khám phá ra con người trong ta. Người Thiên Chúa, Do Thái giáo hay Hồi giáo cũng vậy. Đặc điểm này có thể là một phần quan trọng để nhận diện mình, phân biệt mình với người khác, nhưng đó không phải là toàn bộ con người mình. Người ta bị kẹt vào những hình ảnh, khái niệm này nên không thể nhận ra nhau là con người. Chúng ta phải lột đi tất cả những nhãn hiệu ấy để con người có thể được hiển lộ, đây đích thực là sự thực tập cho hòa bình. Bởi vì người ta quá kẹt vào nhãn hiệu và tên gọi nên điều quan trọng là chúng ta phải dùng ngôn ngữ hòa ái dịu dàng để nói với nhau về những vấn đề khác biệt và bất công.

Bất công gây nên khổ đau cho cả hai phía trong bất kỳ một cuộc tranh luận cá nhân nào. Điều quan trọng là chúng ta phải hiểu điều đó. Một khi hiểu biết và từ bi được nảy sinh trong trái tim ta thì độc tố giận hờn, bạo động, tuyệt vọng, hận thù sẽ được chuyển hóa. Con đường quá rõ ràng. Phương án giải quyết duy nhất là phải lấy độc tố ra khỏi người mình và đưa tuệ giác, từ bi vào. Sau đó chúng ta sẽ nhận ra nhau là con người. Đừng để mình bị lừa gạt bởi những tên gọi và những nhãn hiệu bên ngoài như đạo Bụt, đạo Do Thái, đạo Hồi, người thân Mỹ, người thân A-rập,… Đây là một quá trình giải thoát giác ngộ, thoát khỏi những khái niệm, vô minh, kỳ thị. Trái đất này rất xinh đẹp và đủ chỗ cho tất cả chúng ta, tại sao ta lại đi giết hại lẫn nhau. Nếu chúng ta có khả năng nhìn nhau là con người với những khổ đau riêng thì chúng ta sẽ không cam tâm bắn nhau. Chúng ta sẽ cùng nhau cộng tác để có cơ hội sống chung an lạc hòa bình.

Bao dung

Mỗi chúng ta phải tự đặt câu hỏi là trái tim mình lớn bao nhiêu? Làm thế nào để trái tim ta lớn lên mỗi ngày? Trái tim mình có đủ lớn để bao dung ôm hết mọi người không? Thực tập bao dung được dựa trên nền tảng hiểu biết, thương yêu và từ bi. Khi chúng ta thực tập nhìn sâu để hiểu được nỗi khổ đau thì giọt nước cam lộ sẽ ứa ra trong trái tim ta một cách tự nhiên. Từ bi có thể được tiếp tục lớn lên bất tận trong ta. Nhờ tập hiểu và tập nhìn sâu mà từ bi trong ta lớn lên mỗi ngày. Với tình thương và sự hiểu biết này chúng ta có thể ôm ấp, chấp nhận tất cả mọi người, mọi loài, chấp nhận được tất cả những gì đang xảy ra chung quanh mình.

Thông thường trong một cuộc xung đột, ta nghĩ rằng nếu những người bên kia, những người chống đối ta, những người tin những điều khác ta không còn nữa thì ta mới có hạnh phúc bình an. Cái suy nghĩ đó khiến ta tàn phá và hoại diệt phía bên kia để đẩy những con người kia ra khỏi cộng đồng, xã hội của ta. Nhưng nhìn sâu, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta khổ đau, họ cũng khổ đau. Nếu ta thực sự muốn sống an toàn, hạnh phúc thì chúng ta phải tạo ra một cơ hội cho những người bên kia cũng được sống như vậy. Nếu ta biết cách làm cho phía bên kia đi vào trái tim ta, nếu ta có ước muốn đó thì không những ta bớt khổ ngay mà ta còn tạo ra được những cơ hội sống an toàn và hòa bình. Khi có ước muốn thực tập bao dung thì chúng ta sẽ dễ dàng đặt câu hỏi: “Chúng tôi có thể làm gì để giúp quý vị được sống trong an toàn? Xin quý vị hãy nói cho chúng tôi biết”. Chúng ta phải bày tỏ những quan tâm của chúng ta cho vấn đề an ninh của họ, cho những nhu yếu được sống trong an toàn, xây dựng lại đất nước, củng cố xã hội. Khi chúng ta có khả năng giải quyết những vấn đề xung đột bằng cách này thì tình hình được chuyển hóa rất nhanh chóng. Nền tảng cho sự chuyển hóa, yếu tố đầu tiên phải làm là thay đổi ngay trong chính trái tim mình. Chúng ta mở rộng trái tim để ôm ấp phía bên kia, chúng ta muốn cho phía bên kia cơ hội sống trong bình an giống như chúng ta.

Xã hội và đất nước nào còn bị giam mình trong những cuộc xung đột, nếu thực sự muốn tìm cách sống bình an thì cần phải thực tập bao dung. Chúng ta có khả năng chấp nhận sự thực là phía bên kia cũng cần một nơi để sống, cần những yếu tố an ninh an ổn để có thể đảm bảo cho một xã hội bình an, thịnh vượng không? Nhìn sâu vào tình trạng của phía bên kia chúng ta hiểu được rằng họ cũng giống như chúng ta, họ cũng chỉ muốn có một nơi an ninh hòa bình để sống. Hiểu được những khổ đau và hy vọng của ta, ta sẽ hiểu được những khổ đau và hy vọng của nhóm người khác. Chúng ta biết rằng nếu bên kia không có an toàn và hạnh phúc thì chúng ta cũng sẽ không có an toàn và hạnh phúc. Đó là tương tức. Với tuệ giác này, chúng ta có khả năng mở rộng trái tim ra để ôm lấy phía bên kia. 

Hòa giải

Sự an lạc và tình thương yêu luôn luôn đi đôi với sự hiểu biết và không kỳ thị. Có kỳ thị là còn phân biệt, còn phe phái. Chỉ có con mắt thương yêu mới nhìn được thực tại từ mọi quan điểm. Người biết thương yêu có thể nhìn thấy mình có mặt nơi mọi người, và vì có thể nhìn từ mọi quan điểm cho nên có thể vượt được mọi quan điểm để thiết lập được loại hành động phù hợp nhất với đại bi tâm. Ý nghĩa cao cả nhất của hai từ Hòa giải là ở chỗ đó. Hòa giải không phải là thỏa hiệp với sự mê vọng và tàn ác; trái lại, hòa giải là chống đối thường trực với mọi hình thức mê vọng và tàn ác nhưng với tâm đại bi và cái nhìn siêu việt phe phái. Phần đông trong chúng ta đều theo phe phái, phân biệt chính, tà tốt xấu căn cứ trên những dự kiện ít ỏi mà ta thu lượm được, hoặc trực tiếp hoặc qua các hoạt động tuyên truyền. Chúng ta thường cần một sự bất bình trong lòng mới hành động mạnh mẽ được, nhưng bất bình không đủ. Thế giới chúng ta không thiếu những người dấn thân hoạt động. Chỉ thiếu những người có nhận thức rộng rãi để có thể thương yêu, có thể từ bỏ phe phái mà ôm trọn được cả thực tại nhân loại trong lòng như một gà mẹ ấp ủ tất cả các con gà con của mình dưới hai cánh xòe rộng. Thực tập về duyên sinh là một trong những phương tiện đi vào nhận thức ấy. Có nhận thức ấy rồi ta sẽ không còn dễ dãi vung thanh gươm phân biệt lên để chia cắt thực tại nữa. Ta sẽ vượt được ranh giới phe phái, thoát khỏi bức tường chánh tà, tốt xấu, thấy được phương tiện và cứu cánh chỉ là một. Ta hãy quan sát cho đến khi nào ta có thể thấy rằng khuôn mặt nào trên xe buýt cũng có thể là khuôn mặt ta, thân hình con trẻ gầy gò nào ở Uganda cũng là thân hình ta, cho đến khi nào ta có thể đói, có thể đau trong cơ thể của mọi loài thì ta thực hiện được cái thấy vô phân biệt và đại bi tâm.

Những đứa con của trái đất

Chúng ta đều là con của trái đất, một ngày nào đó ta cũng phải trở về với đất. Đất Mẹ đã sinh ra ta, nuôi dưỡng ta, và cuối cùng sẽ đưa ta trở về với Mẹ. Sự sống là vô thường. Cỏ cây cũng như ta, được đất Mẹ sinh ra, sống được một thời gian rồi cũng trở về lại với đất Mẹ. Khi cây cỏ tan hủy, chúng trở thành phân bón cho rau trái trong vườn. Rau tươi và phân xanh là những phần của một thực tại. Không có cái này thì sẽ không có cái kia. Sau một thời gian chừng vài tháng, phân xanh lại trở thành hoa quả thơm ngon. Cây xanh và đất Mẹ nương vào nhau mà hiện hữu. Nếu cây cỏ xanh tươi thì đất Mẹ cũng xanh tươi, nếu cây cỏ cằn cỗi thì đất Mẹ cũng cằn cỗi. Ta cũng đóng góp một phần vào việc đó.

Rất nhiều sinh vật trên trái đất đã yêu thương ta một cách vô điều kiện. Tiếng chim hót thánh thót cho ta biết bao niềm vui; dòng nước trong xanh, cây cối xanh mát, không khí trong lành đã tỏ lòng thương yêu ta rất mực mà không hề đòi hỏi ta một điều gì cả. Ta rất cần tình thương đó của vạn vật nhưng ta vẫn tiếp tục hủy hoại phẩm chất của không khí, nguồn nước và cây xanh. Ta cần phải cố gắng hết sức mình để hạn chế tối đa việc gây tổn hại các loài sinh vật khác. Khi làm vườn, ta nên học cách trồng những loại cây giúp ngăn ngừa sâu bọ bên cạnh những loại hoa quả, ngăn ngừa cả nai và thỏ vào phá vườn mà không làm chúng bị tổn thương. Thay vì dùng thuốc trừ sâu làm bằng các chất hóa học, ta có thể dùng thuốc trừ sâu làm bằng những chất liệu thiên nhiên để bảo vệ các loài chim và ong mật. Ta nên luôn tìm cách giảm bớt khổ đau gây ra cho các loài sinh vật khác. Giết hại động vật, tàn phá cây cối và làm ô nhiễm không khí tức là làm hại chính ta. Ta nên học cách thương yêu không điều kiện đối với mọi loài chúng sanh trên trái đất để chúng có cơ hội vui hưởng trọn vẹn đời sống của chúng.

Cây sồi cần được là cây sồi một cách trọn vẹn. Nếu cây sồi không còn là cây sồi thì tất cả chúng ta sẽ gặp rắc rối. Trong những kiếp trước ta đã từng là đá cuội, là mây trời hay cây cỏ. Cũng có thể ta đã là một cây sồi. Không phải chỉ có đạo Bụt mới nói như vậy mà các nhà khoa học cũng đã xác nhận như thế. Loài người chúng ta mới xuất hiện đây thôi. Trước khi là người, chúng ta đã từng là cây cỏ. Chúng ta phải nhớ quá khứ của mình, nhớ lại những kiếp xa xưa để học bài học khiêm cung từ cây sồi.

Nền sinh thái học của chúng ta phải có chiều sâu và chiều rộng. Tâm thức của ta rất dễ bị ô nhiễm. Ti vi, phim ảnh, sách báo là những phương tiện để học hỏi nhưng cũng dễ trở thành những hình thức đầu độc. Chúng có thể gieo trồng những hạt giống lo âu, giận hờn, sợ hãi và làm ô nhiễm tâm thức ta. Những thứ này cũng có khả năng tàn hại ta như ta đã tàn hại môi trường qua phương thức nuôi trồng bằng chất hóa học, chặt phá cây rừng và làm ô nhiễm nước sông. Chúng ta cần phải học cách chăm sóc giữ gìn sự lành mạnh của trái đất cũng như chăm sóc giữ gìn sự lành mạnh của tâm thức ta, không thì đời sống của ta sẽ dần dần bị mọi thứ bạo động xâm chiếm.

Ta thường cho rằng loài người là giống thông minh, nhưng khi so sánh mình với các loài phong lan hay các loài ốc sên, ta thấy mình chưa thông minh gì lắm. Hoa phong lan biết nở ra những đóa hoa với những đường nét vô cùng tinh xảo và tuyệt mỹ, con ốc sên cũng vậy, biết làm cho mình một cái vỏ ốc thật vừa vặn xinh đẹp. Trước những sáng tạo đầy thẩm mỹ của hoa phong lan cũng như của con ốc sên, ta muốn cúi đầu bái phục; ta cũng muốn chắp tay tỏ lòng ngưỡng mộ cung kính trước các loài bướm đầy màu sắc rực rỡ, trước cây hoa mộc lan đang nở hoa thật diễm lệ, sáng rực cả một góc trời. Khi ta biết kính trọng các loài khác, ta cũng làm lớn mạnh những đức tính cao quý trong ta.

Nghệ thuật

Bằng cách sống của mình, bằng cách sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật chúng ta có thể đóng góp vào công việc thức tỉnh cộng đồng của dân tộc ta. Các vị Bồ tát là những người tỉnh thức và có ước muốn giúp người khác tỉnh thức. Các nhà nghệ thuật, diễn viên, nhà làm phim, người viết tiểu thuyết cũng có thể có cảm hứng trở thành một vị Bồ tát, giúp mọi người tỉnh thức, giúp mọi người tiếp xúc được với hạt giống an vui hạnh phúc và chuyển hóa những hạt giống kỳ thị, sợ hãi, tham lam. Các nghệ sĩ có khả năng làm được tất cả những điều này. Nếu có ước muốn đó, ta sẽ có rất nhiều niềm vui và năng lượng, danh vọng quyền hành sẽ không hấp dẫn được ta. Không có gì có thể so sánh được với niềm vui này, niềm vui biết được cuộc sống của ta trên trái đất này rất tốt đẹp và hữu ích.  

Một ngày nọ ở thành phố New York tôi gặp một học giả Phật giáo và kể cho cô ấy nghe về việc thực tập chánh niệm trong lúc trồng rau. Tôi rất thích trồng xà lách, cà chua và những thứ rau quả khác. Tôi thích ra vườn mỗi ngày. Cô ấy nói: “Thầy không nên trồng rau, thầy nên để thì giờ để viết sách làm thơ. Thơ của thầy rất hay. Ai cũng có thể trồng rau nhưng không phải ai cũng làm thơ hay như thầy”. Tôi nói với cô: “Nếu tôi không trồng rau thì tôi cũng không làm thơ được”.

Khi tôi trồng rau hay tưới vườn, tôi không nghĩ tới chuyện viết sách hay làm thơ. Tôi tập trung tâm ý hoàn toàn vào việc trồng rau và tưới vườn. Tôi tận hưởng từng giây phút và làm trong trạng thái không suy nghĩ. Dừng suy nghĩ rất có lợi. Tác phẩm nghệ thuật của ta được thai nghén trong chiều sâu tâm thức ngay cả khi ta không suy tư về nó. Giây phút ta làm ra nó chỉ là giây phút sinh, giây phút ta cho ‘đứa con’ ra đời. Đối với tôi, phải có giây phút ta cho đứa con trong ta lớn lên để ta có thể làm một cách hay nhất, và kiệt tác của ta có thể chứa đựng tuệ giác, hiểu biết và từ bi.

Công việc nghệ thuật có thể giúp người ta hiểu được bản chất khổ đau của họ, có khả năng chuyển hóa những thứ tiêu cực và làm lớn mạnh những điều tích cực trong họ. Viết sách, làm phim, sáng tác một tác phẩm nghệ thuật có thể là một hành động thương yêu. Hành động thương yêu đó nuôi dưỡng ta và nuôi dưỡng người khác. Nếu ta hạnh phúc, nếu ta biết cách sống sâu sắc mỗi giây, phút của đời sống hằng ngày thì hiểu biết, thương yêu, an vui sẽ đến với ta. Tác phẩm của ta sẽ phản ảnh được tuệ giác này và ta có thể chia sẻ cho người khác.

Công việc hòa bình

Cuộc sống đầy rẫy khổ đau nhưng cuộc sống cũng tràn đầy những mầu nhiệm như trời xanh, mây trắng, nắng ấm, ánh mắt trẻ thơ… Cuộc sống không chỉ có khổ đau, chúng ta phải biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Bất cứ lúc nào, những mầu nhiệm ấy cũng có mặt khắp nơi trong ta và chung quanh ta.

Nếu tự thân ta không có hạnh phúc, bình an thì chúng ta không thể hiến tặng hạnh phúc và bình an cho ai được, kể cả những người ta thương, những người ta cùng chung sống trong một mái ấm gia đình. Có bình an, hạnh phúc thì chúng ta sẽ mỉm cười và nở ra như một bông hoa, khi đó, mọi người chung quanh ta, từ gia đình cho đến xã hội, ai cũng được thừa hưởng. Chúng ta có cần cố gắng để hạnh phúc không? Có cần cố gắng để thưởng thức vẻ đẹp của trời xanh không? Có cần phải thực tập để có thể tận hưởng được vẻ đẹp đó không? Không. Chúng ta chỉ tận hưởng thôi. Mỗi giây, mỗi phút của đời sống hằng ngày đều có thể như thế cả. Bất cứ lúc nào, ở đâu, chúng ta cũng có khả năng thưởng thức nắng ấm, thưởng thức sự có mặt của nhau, hay thưởng thức hơi thở của chính mình. Chúng ta không cần phải đến Trung Quốc để ngắm trời xanh. Không cần phải đi về tương lai để thưởng thức hơi thở. Chúng ta có thể tiếp xúc với chúng ngay bây giờ. Nếu chúng ta chỉ để ý đến khổ đau thôi thì rất tội nghiệp.

Chúng ta quá bận rộn đến nỗi không có thời gian để nhìn mặt những người ta thương, kể cả những người trong gia đình ta. Ta cũng không có thời gian để nhìn lại chính mình. Xã hội đã tạo ra một lối sống mà ngay cả khi có thời gian rảnh rỗi, ta cũng không biết cách trở về tiếp xúc với bản thân. Ta đánh mất thời gian quý giá của ta bằng cả triệu cách: mở ti vi ra xem, nhấc điện thoại lên gọi, nổ máy xe đi đâu đó… Chúng ta không quen đối diện với chính mình, chúng ta chán ghét bản thân và muốn chạy trốn khỏi bản thân.

Thiền là ý thức những gì đang xảy ra trong thân thể, cảm thọ, tâm hành và thế giới. Mỗi ngày có hàng ngàn trẻ em chết đói. Những nước siêu cường quốc có đủ vũ khí hạt nhân để tiêu diệt hành tinh của chúng ta nhiều lần. Tuy nhiên mặt trời mọc sáng nay rất đẹp, những đóa  hồng nở ven tường sáng nay là một mầu nhiệm. Cuộc sống đáng sợ nhưng cuộc sống cũng mầu nhiệm. Thiền tập là tiếp xúc với cả hai mặt. Đừng nghĩ rằng chúng ta phải trang nghiêm mới thực tập được. Kỳ thực, thực tập giỏi, chúng ta phải cười nhiều.

Gần đây, khi đang ngồi với một nhóm trẻ, thấy Jim cười rất đẹp, tôi nói: “Jim, con cười đẹp lắm!”. Em trả lời: “Cám ơn Thầy”. Tôi nói: “Con không cần phải cám ơn Thầy. Ngược lại Thầy phải cám ơn con. Bởi vì nhờ nụ cười của con mà sự sống đẹp hơn. Vì vậy thay vì nói cám ơn, con có thể nói: “Đâu có gì đâu thưa Thầy, tự nhiên thôi mà!”

Nếu em bé mỉm cười được, nếu người lớn mỉm cười được thì điều đó rất quan trọng và đáng quý. Nếu trong đời sống hằng ngày ta có thể mỉm cười, ta có khả năng bình an và hạnh phúc thì không những ta mà tất cả mọi người đều được thừa hưởng. Đó là nền tảng căn bản nhất của công việc chế tác hòa bình. Khi thấy Jim cười, tôi rất hạnh phúc. Nếu cậu bé ý thức rằng cậu đang làm cho người khác hạnh phúc thì cậu có thể nói: “Bạn quá tuyệt vời”.

Năm Giới Tân Tu

Năm giới tức là năm phép thực tập chánh niệm, biểu hiện được một cách cụ thể giáo lý Tứ đế và Bát chánh đạo, con đường của Bụt, con đường của hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trị liệu, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Năm giới mang theo tuệ giác Tương tức, tức là Chánh kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng. Sống và thực tập theo Năm giới là chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ tát đang đi. Năm giới này đại diện cho cái thấy của đạo Bụt về một nền tâm linh và đạo đức toàn cầu. Biết rằng đang được đi trên con đường của Bụt, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng cho hiện tại và sợ hãi cho tương lai.

Đây là Giới Thứ Nhất: Bảo Vệ Sự Sống

Ý thức được những khổ đau do sự giết hại gây ra, con nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác Tương tức và lòng Từ bi, để có thể bảo vệ sự sống của mọi người, của mọi loài và môi trường sống. Con nguyện không giết hại, không để kẻ khác giết hại và không tán thành bất cứ một hành động giết hại nào, trên thế giới, dù là trong tâm tưởng hay trong cách sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị; con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị, không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trên thế giới.

Đây là Giới Thứ Hai: Hạnh Phúc Chân Thật

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thời giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.

Đây là Giới Thứ Ba: Tình Thương Đích Thực

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con nguyện thực tập theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau. Những liên hệ tình dục do sự thèm khát gây nên luôn mang tới những hệ lụy, và đổ vỡ cho con và cho người khác. Con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức lâu dài. Con sẽ làm mọi cách để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và nguyện nuôi lớn các đức Từ, Bi, Hỉ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực, làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ vô lượng tâm, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong tương lai.

Đây là Giới Thứ Tư: Lắng nghe và ái ngữ

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con nguyện học hạnh Ái ngữ và Lắng nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt nỗi khổ đau của người. Con nguyện tìm cách đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói gì khi cơn giận đang có mặt trong con. Con nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của cơn giận ấy, để nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang giận. Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe sâu để có thể giúp người kia thay đổi và vượt thoát những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh tinh tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết, thương yêu, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con, để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

Đây là Giới Thứ Năm: Nuôi Dưỡng và Trị Liệu

Ý thức được những khổ đau do sự tiêu thụ thiếu chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, nuôi dưỡng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ; không để lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong xã hội, và trong môi trường sống.

Cảm xúc và các mối quan hệ

Em bé bị thương

Trong mỗi chúng ta, ai cũng có một em bé bị thương bên trong. Khi còn nhỏ tất cả chúng ta đều trải qua những giai đoạn khó khăn và khổ đau nên mang theo trong lòng nhiều thương tích. Để bảo vệ và phòng hộ cho chính mình, không muốn cho những khổ đau ấy xảy ra trong tương lai, ta có khuynh hướng quên đi những khổ đau thời thơ ấu. Mỗi lần tiếp xúc với những khổ đau như thế ta có cảm tưởng là ta không thể chịu nỗi và ta muốn nhận chìm những cảm thọ, những ký ức này xuống dưới vùng vô thức. Và ta không dám đối diện với em bé này đã nhiều năm rồi.

Tuy nhiên, không phải vì ta không muốn để ý tới nó mà nó không có. Đứa trẻ bị thương luôn luôn có đó, muốn sự chú ý của ta. Đứa bé lên tiếng: “Em đây nè, em đây nè, chị không thể tránh em. Chị không thể chạy trốn em”. Chúng ta muốn chấm dứt khổ đau bằng cách gởi em bé đó vào một nơi sâu kín nhất trong ta, càng sâu càng tốt. Nhưng chạy trốn không có nghĩa là hết khổ mà chỉ là kéo dài nỗi khổ ra hơn.

Ý thức được là ta đã bỏ quên em bé bị thương, ta sẽ cảm thấy thương xót nó và bắt đầu chú ý tới nó, chế tác năng lượng chánh niệm bằng cách ngồi thiền, đi thiền, thực tập hơi thở ý thức. Với hơi thở và bước chân ý thức, ta có thể chế tác ra năng lượng chánh niệm và trở về với nguồn tỉnh thức, tuệ giác trong mỗi tế bào cơ thể ta. Năng lượng chánh niệm sẽ ôm ấp, trị liệu ta và trị liệu em bé bị thương trong ta.

Chức năng đầu tiên của chánh niệm là nhận diện mà không phải là đấu tranh. Ta có thể dừng lại bất cứ lúc nào và ý thức về em bé bên trong. Khi nhận diện được em bé bị thương, điều đầu tiên ta cần làm là chào nó. Chỉ cần như vậy thôi. Có thể đứa bé đó đang rất buồn. Nếu ý thức được điều đó, ta có thể thở vào và nói: “Thở vào tôi biết là nỗi buồn đang có đó. Xin chào nỗi buồn. Thở ra, tôi sẽ chăm sóc em đàng hoàng”.

Khi nhận diện được em bé bị thương bên trong rồi thì chức năng thứ hai của chánh niệm là ôm ấp nó. Sự thực tập này rất thú vị. Thay vì đấu tranh chống lại những cảm xúc, ta trở về chăm sóc chúng đàng hoàng. Chánh niệm mang đến cho nó một người bạn, người bạn đó là định. Nhận diện và ôm ấp em bé bên trong một cách nhẹ nhàng sẽ làm vơi đi nỗi khổ niềm đau. Tuy những khó khăn còn đó nhưng ta sẽ không khổ đau nhiều nữa.

Sau khi nhận diện và ôm ấp em bé bên trong, chức năng thứ ba của chánh niệm là làm lắng dịu và làm vơi đi nỗi khổ niềm đau. Ôm ấp em bé một cách nhẹ nhàng ta có thể làm lắng dịu những cảm xúc khó chịu và ta bắt đầu thấy dễ chịu. Ôm ấp những cảm xúc mạnh bằng niệm và định, ta sẽ có khả năng thấy được gốc rễ của những tâm hành này, biết được những nỗi khổ niềm đau của ta từ đâu đến. Hiểu được gốc rễ của chúng thì khổ đau sẽ giảm bớt. Vì vậy chánh niệm là nhận diện, ôm ấp và làm vơi nỗi khổ đau.

Năng lượng chánh niệm chứa trong nó năng lượng chánh định và tuệ giác. Định giúp ta tập trung vào một đối tượng. Sự tập trung giúp cho cái thấy của ta trở nên rõ ràng và sáng tỏ, ta sẽ đạt được một tuệ giác. Tuệ giác luôn có sức mạnh giải thoát. Nếu ta biết cách duy trì chánh niệm thì định lực sẽ phát sinh. Nếu biết cách duy trì định lực thì tuệ giác cũng sẽ phát sinh. Năng lượng chánh niệm có khả năng giúp ta nhìn sâu và đạt được tuệ giác, có tuệ giác thì ta sẽ chuyển hóa khổ đau một cách dễ dàng.

Như lý tác ý

Nếu ta bị lạm dụng khi còn là một em bé bảy tuổi, thì ta cứ mang theo trong mình hình ảnh em bé bảy tuổi đầy thương tích và sợ hãi đó. Khi nghe điều gì gợi cho ta nhớ lại những khổ đau ấy thì tự động ta trở về sống với hình ảnh ngày xưa. Nhiều thứ ta thấy, ta nghe, ta đang gặp phải trong hiện tại làm cho ta nhớ lại những khổ đau quá khứ ấy.

Thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh quá khứ có thể làm cho ta sợ hãi, giận dữ và thất vọng. Ta gọi đó là phi như lý tác ý, bởi vì nó làm cho ta không an trú được trong giây phút hiện tại mà chìm đắm trong những khổ đau của quá khứ. Điều quan trọng là bất cứ lúc nào tâm ta hướng về nơi ấy, hướng về những hình ảnh quá khứ ấy thì ta phải tìm cách xử lý những nỗi buồn, nỗi sợ hãi và nỗi khổ đau đang phát khởi trong ta.

Tiếng chuông chánh niệm nhắc ta dừng lại những suy nghĩ, nói năng để trở về với hơi thở vào ra. Tiếng chuông chánh niệm có thể đưa ta ra khỏi hình ảnh khổ đau để tận hưởng hơi thở vào ra của mình một cách sâu lắng, để làm lắng dịu thân tâm và mỉm cười. Khi khổ đau phát khởi, ta trở về với hơi thở và nói với mình rằng: “Thở vào tôi biết là khổ đau đang có trong tôi”. Sự thực tập của ta là nhận diện và ôm ấp những cảm xúc để làm chủ chính mình. Nếu thực tập tốt thì ta có khả năng đi xa hơn. Với năng lượng niệm và định, ta có khả năng trở về với hình ảnh quá khứ để biết được nguyên nhân nào làm cho nó phát sinh: Sở dĩ tôi đang có tâm hành, cảm xúc này là bởi vì tôi đã tiếp xúc với những thứ kia.

Nhiều người trong chúng ta không có khả năng thoát ra khỏi thế giới của hình ảnh. Với năng lượng chánh niệm, ta nhận ra được khổ đau của quá khứ chỉ là hình ảnh, nó không có thật. Trong khi đó cuộc sống với tất cả những mầu nhiệm luôn luôn có đó và ta có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại, ý thức được như vậy là ta có thể thay đổi được toàn bộ tình trạng.

Mũi tên thứ hai

Chúng ta đã đánh mất khả năng nghỉ ngơi, đã lo lắng quá nhiều và không để cho cơ thể mình trị liệu. Cho dù có đi nghỉ hè vài tuần đi nữa, ta cũng không biết cách nghỉ ngơi. Những lo lắng, căng thẳng, sợ hãi làm cho tình trạng sức khỏe ta càng tệ hại thêm. Thiền tập có khả năng giúp ta buông thư những căng thẳng, ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn và có công năng trị liệu rất lớn. Vì vậy điều quan trọng là ta phải học lại nghệ thuật nghỉ ngơi và buông thư.

Khi ta có bình an thì những yếu tố của thân và tâm làm việc với nhau rất hòa hợp. Đó là mấu chốt làm nên sức khỏe. Những thành phần khác của cơ thể sẽ đến với nhau và làm việc một cách hài hòa. Những hóa chất trong cơ thể cũng được tiết ra đúng với liều lượng ta cần. Ta sẽ không tạo ra quá nhiều hóa chất như hoóc-môn adrenaline[1].

Đức Bụt thường nói về mũi tên thứ hai. Khi bị mũi tên bắn vào người, ta rất đau đớn. Nếu mũi tên thứ hai bắn trúng ngay vào chỗ đau đó thì nỗi đau sẽ lớn gấp mười lần. Đức Bụt dạy khi có những nỗi đau trong thân hoặc trong tâm, ta theo dõi hơi thở vào ra, nhận diện sự có mặt của chúng mà đừng thổi phồng tầm quan trọng của chúng lên. Nếu ta lo lắng, sợ hãi, chống đối, giận dữ nỗi đau của ta thì ta đã làm cho nỗi đau ấy tăng lên gấp mười lần hoặc hơn nữa. Nỗi lo lắng là mũi tên thứ hai. Chúng ta phải bảo vệ bản thân mình, đừng để cho mũi tên thứ hai bắn vào vì mũi tên thứ hai cũng từ mình mà ra.

Hạt giống

Mục đích của thiền tập là nhìn sâu vào lòng sự vật để thấy rõ gốc rễ, cội nguồn của chúng. Bất cứ một hành động nào ta làm, nếu nhìn sâu vào, ta cũng nhận ra được hạt giống của nó. Hạt giống đó có thể là do ông bà tổ tiên ta trao truyền lại. Bất kể ta làm gì, tổ tiên ta cũng đều làm với ta. Ba, ông bà nội, cố nội cùng làm với ta; mẹ, ông bà ngoại, cố ngoại cùng làm với ta. Tất cả tổ tiên ta đều có mặt đó trong mỗi tế bào cơ thể ta. Có những hạt giống được gieo trồng trong suốt dòng sinh mạng của ta, nhưng cũng có những hạt giống đã được gieo trồng trước khi hình hài này biểu hiện.

Đôi khi ta làm những điều mà chính ta không muốn nhưng ta vẫn cứ làm. Tập khí lôi kéo, thúc đẩy ta, khiến ta làm những điều không ý thức. Đôi khi ta làm mà không biết là ta đang làm. Thậm chí có khi ta không muốn làm mà ta vẫn cứ làm. Có khi ta nói: “Tôi không muốn làm điều này, nhưng nó mạnh hơn tôi và nó đẩy tôi đi”. Đó là hạt giống, là tập khí có thể do nhiều thế hệ trong quá khứ trao truyền lại.

Chúng ta được thừa hưởng rất nhiều từ ông bà tổ tiên ta. Nhờ chánh niệm, ta ý thức được những tập khí mà các thế hệ đi trước trao truyền lại. Chúng ta có thể thấy được rằng cha, mẹ, ông, bà ta cũng có những yếu kém tương tự như ta. Chúng ta ý thức mà không lên án, phán xét, không đổ lỗi là những tập khí này do ông bà tổ tiên tạo nên. Ta có thể mỉm cười với những vụng về yếu kém và tập khí của ta. Nhờ có ý thức, ta có thể chọn lựa để có thể hành động bằng cách khác. Chúng ta có thể kết thúc vòng luân hồi khổ đau ngay bây giờ.

Có thể trong quá khứ ta đã từng làm những điều mà ta đã được trao truyền ngoài ý muốn và ta đổ lỗi cho chính mình. Ta xem mình như là một bản ngã biệt lập, đầy những yếu kém. Nhưng với sự thức tỉnh, ta có thể bắt đầu chuyển hóa và buông bỏ những tập khí này. Với sự thực tập chánh niệm ta nhận ra rằng ta đang hành động theo tập khí. Đó là ý thức đầu tiên mà chánh niệm đem đến. Sau đó nếu ta thích thú thì chánh niệm và chánh định sẽ giúp ta nhìn sâu và tìm ra gốc rễ của những hành động ấy.

Hành động đó có thể bắt nguồn từ những chuyện xảy ra hôm qua hay từ 300 năm về trước mà gốc rễ của nó còn nằm sâu trong ông bà tổ tiên ta. Một khi ý thức được hành động của mình, ta biết được hành động ấy có đem lại lợi lạc hay không, nếu nó không lợi lạc thì ta quyết định không lặp lại nữa. Ý thức được tập khí và chú tâm hơn về những suy nghĩ, lời nói và hành động, ta có thể chuyển hóa chúng, không những cho bản thân mà còn cho cả ông bà tổ tiên. Chúng ta thực tập không chỉ cho riêng ta mà còn cho cả ông bà tổ tiên, con cháu và cho cả thế giới.

Nếu ta có khả năng mỉm cười với những bất trắc thì ta phải trân quý nó. Nếu ta làm được như thế thì tổ tiên ta cũng có khả năng mỉm cười với những khó khăn bất trắc trong họ. Nếu một người có thể giữ được bình tĩnh và mỉm cười được với những khó khăn bất trắc, thì thế giới sẽ có một cơ hội tốt hơn cho hòa bình. Điều chính yếu là ý thức được những hành động của ta. Chánh niệm sẽ giúp ta hiểu được hành động ấy từ đâu đến.

Nội kết và bế tắc

Áp đặt, xua đuổi hay phủ nhận nỗi đau trong thân tâm chỉ làm cho nỗi khổ đau ấy lớn mạnh hơn. Nỗi khổ đau của ta cũng chính là ta, hay nói chính xác hơn là một phần của ta. Phủ nhận nó tức là phủ nhận chính mình. Ngay khi ta chấp nhận được cảm thọ này thì ta bắt đầu có bình an hơn, và nỗi đau cũng bắt đầu giảm đi. Mỉm cười với nỗi đau là cách hay nhất, thông minh nhất và đẹp nhất mà ta có thể làm. Không có cách nào hay hơn cả.

Mỗi khi ta nhận diện được khổ thọ và làm quen với nó thì ta bắt đầu tiếp xúc được với chính mình. Từ từ chúng ta nhìn sâu vào bản chất và gốc rễ của nỗi đau. Sợ hãi, bất an, giận dữ, buồn rầu, ganh tị và vướng mắc làm ngăn chặn những cảm thọ và suy tư của ta, chúng ta cần thời gian và cơ hội để nhận diện chúng và nhìn sâu vào chúng. Hơi thở chánh niệm giúp ta đi qua được những nỗi đau. Chánh niệm là nhận diện sự có mặt của các cảm thọ, chấp nhận chúng, làm cho chúng lắng dịu và tiếp tục quan sát cho đến khi thấy được bản chất của khối nội kết. Chánh niệm là con đường duy nhất để chuyển hóa. Tất cả những hạt giống khổ đau đều có mặt trong ta; nếu ta sống trong thất niệm, lãng quên thì những hạt giống ấy sẽ bị tưới tẩm mỗi ngày. Chúng sẽ lớn mạnh lên và khối nội kết sẽ trở nên vững chắc hơn. Tuy nhiên, hơi thở ý thức sẽ chuyển hóa được những nội kết khổ đau ấy.

Nội kết cũng có thể được xem như những thứ ràng buộc, những nút thắt của những khối khổ đau nằm sâu trong tâm thức ta. Những nút thắt được tạo ra khi ta phản ứng lại những gì người khác nói và làm, hoặc khi ta đè nén những suy tư và cảm thọ. Ta có thể nhận diện được những ràng buộc đang cột chặt ta qua những khổ đau hoặc những tâm hành làm ta nghiện ngập không thể dừng lại được, như giận dữ, hận thù, tự hào, nghi ngờ, buồn rầu, vướng mắc. Chúng được tôi luyện bởi sự vô minh, thiếu hiểu biết, bởi những nhận thức sai lầm về bản thân và thực tại. Bằng sự thực tập chánh niệm, ta có thể nhận diện, chuyển hóa những cảm xúc và khổ đau khi chúng mới phát khởi để chúng không trở thành những khối nội kết. Khi không phản ứng lại những lời nói và hành động của người khác thì ta có khả năng giữ cho tâm mình được bình an định tĩnh, không tạo nên những nội kết, ràng buộc, ta sẽ nếm trải được niềm vui và hạnh phúc lớn hơn. Gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cũng được thừa hưởng từ sự hiểu biết và thương yêu lớn ấy.

Vượt qua những cảm xúc mạnh

Cảm xúc mạnh giống như một cơn bão. Nếu nhìn vào một cái cây đang trong cơn bão ta thấy ngọn cây oằn oại, rất mong manh, có thể gãy đổ bất cứ lúc nào. Ta sợ cơn bão sẽ làm ngã gãy cây. Nhưng nếu nhìn xuống thân cây, ta sẽ nhận ra rằng những cái rễ của nó đã cắm sâu vào lòng đất và cái cây đó có thể chịu đựng được qua cơn bão. Chúng ta cũng là một cái cây. Trong khi cơn bão cảm xúc đi lên, ta đừng chú tâm lên đầu hoặc lên tim vì chúng như phần ngọn của cây. Ta phải rời khỏi trái tim, con mắt của cơn bão và trở về với thân cây. Thân cây của ta là ở vùng đan điền (cách dưới rốn một cm). Tập trung ở đan điền và chỉ chú tâm vào sự phồng lên xẹp xuống của bụng. Tiếp tục theo dõi hơi thở, ta sẽ đi qua được cơn bão cảm xúc.

Điều quan trọng là ta phải hiểu được rằng cảm xúc chỉ đi lên, ở lại một lúc rồi ra đi. Khi cơn bão tới, nó ở lại một thời gian rồi sau đó cũng đi qua. Vào giây phút khó khăn này phải nhớ rằng ta giàu có hơn cảm xúc của ta nhiều lắm. Điều này rất đơn giản ai cũng biết, tuy nhiên ta cần phải nhắc đi nhắc lại rằng ta giàu có hơn cảm xúc của ta nhiều. Nhiều người khổ đau là vì họ không biết đối diện với cảm xúc.

Chúng ta không nên đợi cho cảm xúc xuất hiện rồi mới thực tập, vì như thế chúng ta sẽ bị cơn bão cuốn đi. Chúng ta phải luyện tập ngay bây giờ, ngay khi cảm xúc chưa xuất hiện. Chúng ta có thể ngồi hay nằm và thực tập hơi thở chánh niệm, sử dụng sự phồng xẹp của bụng làm đối tượng chú tâm của mình. Thực tập như vậy mỗi ngày mười phút thì nội trong hai mươi ngày là ta sẽ biết cách xử lý khi có cảm xúc mạnh đi lên. Sau mười hay hai mươi phút cảm xúc sẽ đi qua và ta sẽ được an toàn, không bị cơn bão cuốn đi.

Chăm sóc cơn giận

Cơn giận có sức mạnh đốt cháy và hủy diệt. Nếu không biết cách thực tập chánh niệm, ta sẽ bị cơn giận thiêu đốt và hủy hoại. Ta khổ đau và những người chung quanh ta cũng khổ đau. Vì vậy khi thấy cơn giận đi lên, ta phải làm gì ngay lập tức. Điều quan trọng là ta nên hành động mà không nên phản ứng. Chúng ta hành động bằng cách mời hạt giống chánh niệm lên. Chúng ta thở vào thở ra, bước những bước chân ý thức, chế tác năng lượng chánh niệm để chăm sóc cơn giận.

Giả sử như một người mẹ đang làm việc trong phòng khách và nghe con mình khóc. Người mẹ dừng công việc, đi vào phòng ẵm em bé lên và ôm nó một cách dịu dàng. Khi năng lượng của cơn giận phát khởi ta cũng làm y như vậy. Cơn giận của ta là em bé bị ốm. Ta phải chăm sóc nó, cho nó lắng dịu.

Người hành giả biết rằng cơn giận không phải là kẻ thù của mình, cơn giận là đứa bé đang đau khổ. Ta phải chăm sóc đứa bé, sử dụng năng lượng chánh niệm để ôm ấp cơn giận bằng cách nhẹ nhàng nhất. Người ấy có thể nói: “Thở vào, tôi biết cơn giận đang có trong tôi. Thở ra, tôi ôm ấp cơn giận một cách bình yên”.

Khi thở như vậy, ta có hai nguồn năng lượng: năng lượng giận và năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm được tiếp tục chế tác bởi hơi thở ý thức và bước chân thiền hành sẽ lan vào vùng năng lượng giận.

Vào mùa hè, nếu đi vào một căn phòng quá nóng thì ta mở cửa sổ hoặc mở máy quạt hay máy điều hòa nhiệt độ lên. Không khí lạnh không cần phải đuổi khí nóng ra ngoài. Hơi lạnh chỉ đi vào nhẹ nhàng ôm lấy hơi nóng. Mười lăm phút sau không khí sẽ khác. Khi đưa chánh niệm vào cơn giận cũng vậy. Không có sự đấu tranh trong sự thực tập này. Cơn giận không phải là kẻ thù của ta, nó chính là ta. Chúng ta không nên bạo lực với chính mình. Đừng nói rằng chánh niệm là thiện còn cơn giận là ác, cái thiện phải chống lại cái ác. Trong các phương pháp thực tập chánh niệm không có đấu trường để chiến thắng. Giả sử ta đang có một cơn giận rất mạnh mà ta có cảm giác là nó không nguôi thì ta phải rất kiên nhẫn. Bằng cách chế tác năng lượng chánh niệm và ôm ấp cơn giận một cách nhẹ nhàng, ta sẽ thấy lắng dịu.

Tiêu thụ chánh niệm

Để quên đi khối khổ đau, buồn phiền, sợ hãi và bạo động ta tìm cách tiêu thụ và đánh mất mình trong sự tiêu thụ đó. Tại sao ta phải bật ti vi lên? Tại sao ta phải xem ti vi khi chương trình chẳng có gì thú vị? Ta xem bởi vì ta muốn khỏa lấp nỗi đau buồn, sợ hãi và giận dữ bằng một thứ gì đó. Ta không muốn chúng đi lên, vì vậy ta đè nén chúng bằng cách tiêu thụ.

Có những nỗi cô đơn, sợ hãi và trầm cảm trong ta mà ta không muốn đối diện, vì vậy ta cầm tờ báo lên, mở radio, bật ti vi, nhấc điện thoại hay xách xe chạy. Ta làm mọi thứ để tránh chạm trán với chính mình. Tiêu thụ như thế là một cách trốn chạy; và những sản phẩm ta tiêu thụ tiếp tục mang độc tố của bạo động, sợ hãi, giận hờn vào ta. Đàn áp những cảm thọ khổ đau, đè nén những suy tư tiêu cực, ta tạo ra những bế tắc trong tâm, làm cho chúng không lưu thông được. Như thế, ta tạo nên triệu chứng trầm cảm và bệnh tâm thần.

Khi máu huyết không lưu thông tốt thì ta có những đau nhức trong thân thể như đau đầu, đau lưng, đôi khi đau khắp cả mình mẩy. Tập thể dục, xoa bóp cho máu huyết lưu thông tốt, ta cũng làm cho những triệu chứng đau nhức trong cơ thể biến mất. Tâm thức ta cũng vậy. Nếu ta ngăn chặn những suy tư tiêu cực bằng cách tiêu thụ thì ta cũng làm cho tâm ta bị bế tắc, không lưu thông được, và như vậy những triệu chứng của các bệnh tâm thần sẽ xuất hiện. Vì thế điều quan trọng là không nên đè nén hay đàn áp, hãy cho phép những nỗi sợ hãi, đau khổ, buồn chán đi lên.

Và ta chỉ có thể làm được điều này khi đã sẵn sàng, hoặc khi những nỗi khổ đau bị tràn ngập. Ta có thể mời những suy tư tiêu cực lên cùng với năng lượng chánh niệm được chế tác qua sự thực tập của chúng ta. Năng lượng chánh niệm có mặt đó để nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa. Nếu ta có thực tập, nếu ta biết cách ngồi, thì năng lượng của niệm định trong ta sẽ đủ mạnh để làm công việc nhận diện, ôm ấp và làm cho khổ đau lắng dịu. Sau khi được ôm ấp bởi năng lượng chánh niệm và có sự lắng dịu thì năng lượng của sự sợ hãi, giận hờn, trầm cảm trong ta sẽ yếu đi.

Năng lượng thương yêu

Tất cả chúng ta đều sợ rằng nhu yếu thương và được thương của ta không được thỏa mãn. Nỗi sợ cô đơn luôn có đó trong mỗi chúng ta. Ta phải nhận diện nỗi sợ hãi và nhu yếu đó. Phải nhìn sâu vào chúng. Thương yêu là biết an ủi vỗ về, biết hiến tặng sự hiểu biết và cảm thông. Hiểu là suối nguồn của thương yêu. Ta sẽ cảm thấy đau khổ nếu không ai hiểu ta. Và khi người đó không hiểu ta nghĩa là người đó không thể thương ta. Không có sự hiểu biết thì tình thương cũng không thể có mặt. Sự thật là ta cần hiểu, cần thương. Và ta đi tìm người có thể cung cấp cho ta cả hai thứ ấy.

Giá như ai đó hiểu và thương mình. Giá như người đó đang ở đâu đó. Nhưng chúng ta phải đặt lại câu hỏi: “Ta có khả năng hiểu và thương người kia không? Ta có khả năng chế tác hiểu biết và thương yêu mà chính ta cũng cần không? Bởi vì nếu ta không có khả năng chế tác năng lượng hiểu biết thì ta không làm được gì cả.

Giáo pháp của Bụt nhằm giúp ta chế tác năng lượng hiểu và thương. Nếu ta có khả năng chế tác nguồn năng lượng này thì trước tiên nó sẽ giúp ta thỏa mãn nhu yếu được thương. Sau đó với khả năng hiểu và thương ta có thể ôm ấp người kia. Ta có thể làm cho người kia hạnh phúc khi chính ta hạnh phúc. Hạnh phúc tạo ra thêm hạnh phúc, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu.

Vì vậy vấn đề không phải là làm thế nào để được thương và được hiểu, mà là ta có khả năng chế tác được tình thương và thấu hiểu được chính mình hay không. Nếu làm được điều đó ta sẽ thấy sung sướng, bởi vì nguồn năng lượng này làm ta thỏa mãn và làm cho những người xung quanh ta cũng thỏa mãn. Đó là tình thương của Bụt. Tình thương chân thật là như vậy. Thực ra, thương một người là cơ hội để học thương tất cả mọi người. Nếu ta có khả năng hiểu và thương thì ta có thể làm ngay bây giờ không cần phải chờ đợi. Nếu ta thành công trong lĩnh vực này thì nỗi sợ hãi, lo lắng của ta biến mất, ta sẽ thấy sung sướng ngay.

Hiểu

Đôi khi ta tin rằng hành động của ta phát xuất từ tình thương, nhưng nếu hành động ấy không dựa trên nền tảng của hiểu thì nó sẽ mang lại khổ đau. Ta muốn làm cho ai đó hạnh phúc và ta tin chắc rằng ta làm điều đó vì tình thương, nhưng hành động của ta có thể làm cho người kia khổ đau rất nhiều. Cho dù ta tin rằng hành động của ta xuất phát từ tình thương thì ta cũng gây cho con ta, vợ ta, chồng ta, bạn ta hay đồng nghiệp của ta khổ đau trầm trọng, bởi vì ta không đủ hiểu người đó. Vì vậy ta cần có con mắt hiểu biết, cần có tuệ giác để làm công cụ thương yêu một cách hiệu quả.

Nếu ta không hiểu được khó khăn, khổ đau, không hiểu được ước muốn sâu sắc của người kia thì ta không thể thương được người đó. Vì vậy điều quan trọng là ta phải kiểm tra lại với người kia và xin người kia giúp đỡ. Người cha phải hỏi con: “Cha có hiểu con đủ không? Cha có làm cho con khổ vì sự thiếu hiểu biết của cha không?”

Người mẹ cũng phải có khả năng hỏi con mình: “Con có nghĩ là mẹ hiểu con không? Con nói cho mẹ nghe để mẹ có thể thương con đúng cách”. Đó là ngôn ngữ của yêu thương. Nếu mình thành thật thì con mình sẽ nói cho mình nghe những khổ đau của chúng. Và khi hiểu được nỗi khổ đau của chúng, ta sẽ không làm những điều gây khổ đau cho con mình nữa, những điều mà ta tin chắc là ta làm chỉ vì hạnh phúc và sự an sinh của chúng. Hiểu sâu là bản chất của thương yêu. Cánh tay của Bồ tát là biểu trưng cho hành động nhưng hành động của chúng ta phải được hướng dẫn kỹ càng bằng con mắt hiểu biết.

Bốn câu thần chú

Trong đạo Bụt có nói về thần chú. Thần chú là một phép thần, một khi phát ra là có thể thay đổi được toàn bộ tình trạng, tâm thức, cơ thể hoặc một con người. Nhưng thần chú phải được nói ra trong trạng thái định tĩnh, trạng thái mà trong đó thân và tâm hoàn toàn hợp nhất. Những gì ta nói trong trạng thái này sẽ trở thành thần chú.

Vì vậy tôi sẽ giới thiệu cho quý vị bốn câu thần chú rất linh nghiệm, không phải bằng tiếng Sanskrit, tiếng Tây tạng hay tiếng Anh mà bằng tiếng Việt.

Câu thần chú thứ nhất là: “Em yêu, anh có mặt đây cho em”. (Hay: “Mẹ ơi, con có mặt đây cho mẹ”). Có thể tối nay ta thực tập thở chánh niệm trong vài phút để đưa thân tâm về lại với nhau, rồi đến gần người ta thương, ta nhìn vào mắt người kia bằng niệm định và bắt đầu nói lên câu thần chú: “Em yêu, anh thật sự có mặt đây cho em”. (Hay: “Mẹ ơi, con thật sự có mặt đây cho mẹ”). Ta phải nói câu này bằng cả thân tâm, sau đó ta sẽ thấy sự chuyển hóa.

Có mặt là bước đầu tiên. Công nhận sự có mặt của người kia là bước thứ hai. Thương là công nhận, được thương là được người kia công nhận. Nếu ta thương một ai đó mà ta không biết hoặc cứ lờ đi sự có mặt của người ấy thì đó không phải là tình thương chân thật. Có thể ta không muốn bỏ mặc hay thờ ơ với người ấy nhưng cách ta làm, ta nói, ta nhìn không biểu hiện được ước muốn công nhận sự có mặt của người kia. Khi được ai đó thương, ta muốn người kia công nhận sự có mặt của ta. Đây là một sự thực tập rất quan trọng. Ta có thể làm tất cả những gì cần thiết để có thể làm được điều này: Nhận diện sự có mặt của người thương vài lần trong ngày.

Để đạt được mục đích này, ta cũng cần thực tập thân tâm hợp nhất. Thực tập thở vào thở ra năm, bảy lần, rồi đến gần người kia, nhìn vào người kia, mỉm cười và bắt đầu câu thần chú thứ hai: “Em yêu, anh biết em có đó nên anh rất hạnh phúc”. (Hoặc: “Mẹ ơi, con biết mẹ có đó nên con rất hạnh phúc”). Nếu ta thực tập như vậy với niệm định hùng hậu, ta sẽ thấy người kia nở ra ngay như một đóa hoa. Được thương là được công nhận. Ta có thể thực tập như thế vài lần trong ngày, điều này không khó. Đây đích thực là thiền tập.

Câu thần chú thứ ba thường được dùng trong những trường hợp người thương của ta khổ đau. Sống có chánh niệm, ta biết được những gì đang xảy ra cho ta trong giây phút hiện tại. Vì vậy ta cũng dễ dàng thấy được khi người thương của ta khổ đau. Ngay lúc đó ta đến với người kia, với thân tâm hợp nhất và định tĩnh, ta phát ra câu thần chú thứ ba: “Em yêu, anh biết em đang khổ đau và anh đang có mặt đây cho em”. (Hoặc: “Mẹ, con biết mẹ đang khổ đau nên con có mặt đây cho mẹ”). Bởi vì khi khổ đau, ta rất cần sự có mặt của người ta thương. Khi ta khổ mà người ta thương không biết ta đang khổ thì ta càng khổ hơn. Vì vậy điều ta có thể làm ngay lập tức là có mặt thật sự cho người ta thương và nói lên câu thần chú với tất cả chánh niệm của mình: “Em yêu, anh biết em đang khổ nên anh có mặt cho em đây”. Chưa làm gì mà người kia đã thấy bớt khổ rồi. Sự có mặt của mình là một phép lạ. Hiểu được nỗi khổ của người kia là một phép lạ và chúng ta có thể hiến tặng phép lạ cho người ta thương ngay lập tức.

Câu thần chú thứ tư khó thực tập hơn. Câu này thực tập khi chính ta đau khổ và ta nghĩ rằng nỗi khổ của ta do chính người ta thương nhất trên đời tạo ra. Nếu như một ai khác nói hay làm điều đó với mình thì chắc mình sẽ ít khổ hơn. Nhưng đằng này chính người mình thương nhất trên đời nói điều đó với mình, làm điều đó với mình, vì vậy mà mình khổ hơn. Mình tổn thương nặng nề vì nỗi khổ đau của mình do người mình thương nhất gây nên. Mình muốn chạy vào phòng đóng cửa lại, một mình mình khóc, một mình mình hay. Mình không muốn đến với người kia để cầu cứu sự giúp đỡ. Chính cái tự ái này là một chướng ngại.

Theo lời Bụt dạy, trong tình thương chân thật không có chỗ cho sự tự ái. Mỗi khi khổ đau, ta phải tới với người kia để cầu cứu sự giúp đỡ. Đó là tình thương chân thật. Đừng để tự ái chia cách mình. Nếu ta nghĩ rằng tình thương của ta dành cho người kia là tình thương chân thật thì ta phải vượt qua tự ái, phải luôn luôn tới với người kia. Chính vì vậy mà tôi phát minh ra câu thần chú này. Thực tập để đưa thân tâm về lại với nhau trước khi tới với người đó nói câu thần chú thứ tư: “Em yêu, anh đang khổ, và anh cần em giúp đỡ”. (Hoặc: “Mẹ ơi, con đang khổ và con cần mẹ giúp con”).

Truyền thông chánh niệm

Ngày nay truyền thông giữa người với người, giữa những cá nhân, gia đình và quốc gia đã trở nên rất khó khăn. Tuy nhiên có những phương pháp cụ thể để tự rèn luyện cách truyền thông bất bạo động, để tình thương trong mỗi người được đánh thức, để chúng ta có thể hiểu nhau, thông cảm cho nhau.

Nói lời ái ngữ và lắng nghe sâu là những thực tập tinh yếu cho việc truyền thông bất bạo động. Truyền thông chánh niệm nghĩa là ý thức những gì ta đang nói và sử dụng ngôn ngữ hòa ái, có ý thức, là lắng nghe người khác một cách sâu sắc để hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng ta có thể dùng phương pháp này trong bất kỳ lúc nào, ở đâu, trong tình huống nào.

Để cho cơ thể khỏe mạnh, trái tim ta phải bơm máu liên tục. Để cho mối quan hệ của ta lành mạnh, ta cũng cần truyền thông chánh niệm liên tục. Tuy nhiên nhiều người thấy khó để truyền thông có hiệu quả, bởi vì họ có quá nhiều tuyệt vọng và giận hờn. Cho dù khi đến với người kia, ta có thiện chí muốn lắng nghe hết lòng nhưng nếu ta không có khả năng sử dụng ái ngữ, định tĩnh thì không có hy vọng người kia sẽ nghe ta và hiểu những gì ta nói. Có thể ta có chủ tâm dùng ái ngữ và định tĩnh nhưng thường khi bắt đầu nói thì nỗi khổ đau, tuyệt vọng và sợ hãi đi lên. Mặc dù với thiện chí tốt nhất, ta cũng bắt đầu phàn nàn, đổ lỗi và phê phán gắt gao. Lời nói của ta bắt đầu phát ra một năng lượng khiến người kia chống lại ta, bởi vì họ không thể chịu nổi những gì ta đang nói. Truyền thông giữa ta và người kia bị đổ vỡ. Khi tình hình như thế xảy ra, ta phải học đi học lại cách truyền thông. Điều quan trọng là làm thế nào để học cách lắng nghe sâu và sử dụng ái ngữ? Để làm được điều này trước tiên ta phải chăm sóc nỗi đau và cơn giận của chính ta. Bằng cách thực tập hơi thở chánh niệm và bước chân thiền hành, ta làm lớn mạnh nguồn năng lượng chánh niệm trong ta. Ta cần tập luyện trong vòng vài tuần hay thậm chí vài tháng để có thể vượt qua nỗi đau và sử dụng ngôn ngữ từ ái. Khi chánh niệm hùng hậu, ta sẽ dễ dàng nhìn sâu hơn vào tình trạng của ta để làm phát khởi hiểu biết và thương yêu.

Khả năng lắng nghe sâu cũng vậy. Nếu ta không có khả năng ôm ấp, chuyển hóa niềm đau, hờn giận của chính ta thì sẽ khó để lắng nghe niềm đau của người khác, đặc biệt là khi lời nói của người kia đầy phán xét tiêu cực, đầy tri giác sai lầm và mang tính đổ lỗi. Trong thâm tâm ta, ta biết rằng ta nên lắng nghe và ta đã cố gắng hết sức nhưng thường thì sau vài phút ta không còn nghe nổi nữa cho dù là thêm một lời. Ta thấy quá đầy. Cho dù ta đã phát nguyện là bất kể lời nói có khiêu khích cách mấy, có quyết đoán không đúng ta vẫn ngồi yên lắng nghe bằng tâm từ bi nhưng ta không thể làm được điều đó. Thiện chí của ta biến mất bởi vì ta không thể xử lý được nỗi đau đang lớn lên trong ta.

Tuy nhiên, nếu ta có khả năng lắng nghe thì chỉ trong vòng một giờ người kia sẽ bớt khổ đi nhiều. Lắng nghe với tâm cởi mở, ta sẽ có khả năng làm cho tình thương sống dậy. Ta sẽ hiến tặng cho người kia cơ hội để bày tỏ những khổ đau của họ.

Lắng nghe như thế đòi hỏi phải có sự tập luyện. Thực tập hơi thở chánh niệm và bước chân thiền hành có thể chuyển hóa hạt giống giận dữ và bực bội trong ta, cho phép trái tim ta mở rộng để lắng nghe người khác bằng tình thương và lòng bi mẫn.

Con người đích thực

Thông thường trong đời sống gia đình, người ta phải thương lượng thỏa hiệp để có bình an. Người ta mua một ít bình an để có thể cầm cự qua ngày. Nếu ta cũng sống như vậy thì ta không phải là một bậc đại nhân, mà chỉ là một cái bát nứt, không thể chứa được một bát cháo. Nếu muốn trở thành một pháp khí lớn ta phải quyết tâm không để cho người khác lừa gạt mình.

Thiền sư Lâm Tế đã khuyên chúng ta nhiều lần  phải làm chủ hoàn cảnh của mình. Điều đó không có nghĩa là ta phải đấu tranh hay đàn áp người kia. Giả sử ta có một người bạn rất dễ nổi giận, ta nghĩ người đó đang có vấn đề và ta tìm cách đè cơn giận của người kia xuống. Ta có thể nghĩ rằng vì người kia lên giọng nên ta phải lên giọng. Hoặc, ta có thể làm chủ chính mình trong tình huống này, thương những khó khăn của người kia. Đôi khi người đó không phải là con người trong hiện tại, mà là con người trong quá khứ nhưng ta nghĩ đó là nguyên nhân chính của vấn đề. Ta nói rằng ta hành xử như vậy là vì ba mẹ ta hay ai đó đã hành xử với ta như thế khi ta còn nhỏ. Nhưng mỗi người đều có một nghiệp lực riêng và mỗi người đều là người thầy trong chính hoàn cảnh hiện tại của mình, mà không phải nô lệ cho quá khứ hay hiện tại của người khác.

Con người đích thực không đi tìm người thầy bên ngoài. Ta phải có trách nhiệm cho vận mệnh của ta, ta phải có trách nhiệm cho lời nói, suy nghĩ, hành động của ta. Chánh niệm giúp ta làm được điều này. Ta sẽ nhận ra: “Tôi đang suy nghĩ như vậy, tôi có trách nhiệm cho những suy nghĩ của tôi. Tôi đã nói như vậy, tôi có trách nhiệm cho những lời nói của tôi. Tôi làm như vậy và tôi có trách nhiệm cho hành động của tôi”. Ta phải biết rằng mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi suy nghĩ đều mang theo chữ ký của mình. Chúng ta phải có trách nhiệm cho nó, phải có trách nhiệm với chính tự thân mình. Cho dù ở đâu, đứng hay ngồi thì ta cũng là một con người tự do. Ta vẫn là ta. Ta là người thầy cho chính mình. Chúng ta chỉ cần sống với tám chữ: “Dù ở đâu cũng làm người đích thực” là đủ để làm học trò của thiền sư Lâm Tế, xứng đáng là sự tiếp nối của Ngài. Hãy viết tám chữ này treo lên đâu đó để nhắc nhở mình.

Tri giác sai lầm

Có một người đàn ông bỏ nhà đi rất lâu. Trước khi đi, vợ ông có thai nhưng ông không biết. Khi ông ta trở về thì vợ sinh con. Ông ta nghi ngờ đứa con này không phải của ông, và tin rằng nó là con hàng xóm, người thường qua giúp việc cho gia đình ông. Ông ta nhìn đứa bé một cách nghi ngờ và ghét nó. Nhìn mặt đứa bé là ông thấy mặt người hàng xóm. Một ngày nọ người anh của ông đến thăm, thấy cậu bé, người anh thốt lên: “Nó giống mày như đúc, như một khuôn đúc ra vậy”. Chuyến viếng thăm của người anh là một sự kiện hạnh phúc, giúp người cha buông bỏ được tri giác sai lầm. Chính tri giác sai lầm này đã thống trị, làm khổ người vợ 12 năm. Nó làm cho người cha khổ đau cùng cực, làm cho người vợ điêu đứng và tất nhiên cũng làm cho cậu bé khổ đau vì sự hận thù.

Ta luôn hành động dựa trên những tri giác sai lầm. Ta không nên tin chắc vào bất kỳ một tri giác nào của mình. Khi nhìn cảnh mặt trời lặn, có thể ta tin rằng ta đang thấy mặt trời thực, nhưng nhà khoa học cho ta biết rằng mặt trời mà ta thấy là mặt trời của cách đây tám phút. Từ một khoảng cách xa như thế ánh nắng mặt trời phải mất tám phút để đến trái đất của chúng ta. Khi nhìn một vì sao ta cũng nghĩ là vì sao đang ở đó, nhưng ngôi sao kia có thể đã biến mất cách đây một, hai hay mười ngàn năm rồi.

Ta phải cẩn thận với tri giác của ta nếu không ta sẽ khổ đau. Ta có thể viết xuống tờ giấy câu “có chắc không?” treo lên trong phòng. Trong các bệnh viện và các phòng khám y khoa, người ta cũng bắt đầu treo những câu như: “Dù chắc chắn rồi vẫn phải kiểm tra lại”. Đây là một lời cảnh báo rằng nếu không tìm ra bệnh sớm thì sẽ khó để điều trị. Các bác sĩ y khoa không nghĩ đến các tâm hành. Họ nghĩ đến căn bệnh chưa phát hiện. Nhưng chúng ta cũng có thể sử dụng khẩu hiệu này: “Dù chắc chắn rồi vẫn phải kiểm tra lại”. Ta đã làm cho tự thân khổ đau. Ta đã xây nên địa ngục cho chính mình và cho những người thương bởi tri giác sai lầm. Ta có chắc về tri giác của ta không?

Có những người khổ đau mười, hai mươi năm vì tri giác sai lầm. Họ nghĩ rằng người kia đã phản bội họ, thù ghét họ cho dù người kia chỉ không đáp lại thiện chí của họ. Là nạn nhân của tri giác sai lầm, ta sẽ làm cho chính ta và những người chung quanh khổ đau rất nhiều.

Khi giận dữ hoặc khổ đau, ta phải trở về kiểm tra lại nội dung và bản chất tri giác của ta. Nếu ta có khả năng lấy đi tri giác sai lầm thì hạnh phúc an vui sẽ được phục hồi, ta sẽ có khả năng thương lại người kia.

Buông bỏ

Buông bỏ nghĩa là buông bỏ cái gì đó. Cái đó có thể là đối tượng của tâm thức do ta tạo nên: một ý niệm, một cảm thọ, một mong muốn hay một niềm tin. Kẹt vào ý niệm đó có thể gây nên nhiều khổ đau và hệ lụy. Chúng ta muốn buông bỏ nó đi nhưng buông như thế nào? Chỉ muốn thôi thì không đủ. Trước tiên ta phải nhận diện nó như một cái gì có thật. Ta phải nhìn sâu vào bản chất của chúng và xem thử chúng từ đâu đến, bởi vì những ý niệm này được phát sinh từ những cảm thọ, cảm xúc và những kinh nghiệm quá khứ của ta, từ những điều mà ta đã thấy và đã nghe. Với năng lượng chánh niệm, chánh định ta có thể nhìn sâu và khám phá ra gốc rễ của những ý niệm, cảm thọ, cảm xúc, mong muốn này. Chánh niệm và chánh định đưa đến tuệ giác. Tuệ giác giúp ta buông bỏ đối tượng của tâm thức.

Giả sử ta có một ý niệm về hạnh phúc, về những điều kiện làm nên hạnh phúc của ta. Ý niệm này có gốc rễ trong ta và trong môi trường ta sống. Nó cho ta biết những điều kiện nào ta cần để có hạnh phúc. Ta ôm ấp ý niệm này mười, hai mươi năm và bây giờ ta nhận ra rằng chính ý niệm này làm ta đau khổ. Có thể trong đó có yếu tố của vô minh, tham lam và giận dữ. Những yếu tố này là bản chất của khổ đau. Mặt khác ta biết rằng ta cũng có những yếu tố khác như niềm vui, sự buông bỏ hay tình thương đích thực. Nhận ra những yếu tố này cho ta những giây phút hạnh phúc đích thực. Khi ta chế tác được những giây phút hạnh phúc đích thực thì việc buông bỏ những đối tượng tham đắm trở nên dễ dàng hơn, bởi vì ta có tuệ giác, rằng những đối tượng tham đắm này không làm ta hạnh phúc.

Rất nhiều người muốn buông bỏ nhưng họ không làm được vì họ chưa đủ tuệ giác, họ chưa thấy được những thứ khác, những cánh cửa khác mang tới cho họ hạnh phúc an vui. Sợ hãi là một yếu tố ngăn cản ta buông bỏ. Ta sợ rằng nếu buông bỏ thì ta không còn gì để bám víu. Buông bỏ là một sự thực tập, là một nghệ thuật. Một khi ta đủ mạnh, đủ quyết tâm thì ta sẽ buông bỏ những phiền não dễ dàng.

Mặc cảm tự ti

Nhiều người có ý niệm rằng họ không giỏi gì cả, họ không thể thành công như những người khác. Vì vậy họ không thể hạnh phúc. Họ ganh tị với những thành đạt và địa vị của người khác, trong khi họ tự cho họ là thất bại vì không có những thành công như những người khác.

Ta phải giúp cho những người có tư tưởng như thế. Ta phải tới với người đó và nói: “Anh không nên có mặc cảm tự ti. Tôi thấy trong anh có những hạt giống rất tốt có thể được phát triển và làm cho anh trở thành bậc đại nhân. Nếu nhìn sâu và tiếp xúc với những hạt giống hiền thiện trong anh, anh sẽ có khả năng vượt qua mặc cảm vô dụng và biểu hiện bản chất thật của anh”. Thiền sư Quy Sơn có viết: “Kẻ kia đã là đấng trượng phu thì tại sao ta lại không? Đừng nên có mặc cảm tư ti mà chùn bước chịu thua”. 

Những từ này đánh thức chúng ta. Trong xã hội hiện đại, các nhà tâm lý trị liệu báo cáo rằng nhiều người khổ đau vì mặc cảm tự ti. Họ thấy họ không có giá trị, không có gì để hiến tặng; và họ rơi vào trạng thái trầm cảm, không còn sinh hoạt bình thường, không còn khả năng chăm sóc cho bản thân hay cho gia đình. Các nhà tâm lý, trị liệu, chăm bệnh, thầy giáo, cô giáo, các nhà lãnh đạo tâm linh, những ai gần gũi với những người này phải có bổn phận giúp họ thấy được thực chất của họ rõ ràng hơn để họ có thể giải phóng chính họ ra khỏi sự vô minh, rằng họ là vô dụng. Nếu ta biết bạn ta, những người trong gia đình coi họ là vô dụng, bất lực, không có khả năng làm những điều hay ho, có ý nghĩa; và những độc ảnh tiêu cực này lấy đi hạnh phúc của người đó thì ta phải giúp người đó lấy đi cái mặc cảm này.

Ta cũng phải thực tập để không tạo thêm những mặc cảm vô dụng nơi người khác. Trong đời sống hằng ngày, có khi ta nôn nóng, bực bội, vì thế ta đã nói những điều chỉ trích, phán xét, khó nghe, đặc biệt liên quan đến con cái ta. Khi chúng bị nhiều áp lực vì công việc, học hành, bố mẹ thường mắc sai lầm là nói những điều gắt gỏng, không dễ thương, hay đổ lỗi trong những lúc căng thẳng bực bội. Đất tâm của đứa bé còn rất non nớt, tươi mới vì vậy nếu ta gieo những hạt giống tiêu cực như thế vào con ta thì ta sẽ hủy diệt khả năng hạnh phúc của chúng. Vì vậy phụ huynh, thầy cô giáo, anh chị em, bạn bè, tất cả phải rất thận trọng. Ta phải thực tập chánh niệm để tránh gieo vào tâm thức của con em, học sinh, những người trong gia đình, bạn bè… những hạt giống tiêu cực.

Trị liệu quá khứ

Hiện tại của ta là hiện tại của tất cả tổ tiên ta. Họ vẫn còn sống trong ta. Mỗi khi ta cười là tất cả các thế hệ tổ tiên, con cháu và tất cả các thế hệ tương lai cũng đang mỉm cười. Chúng ta không chỉ thực tập cho bản thân mình mà cho tất cả mọi người, cho tất cả các dòng sinh mạng. Nếu ta đã gây nên những lầm lỗi làm cho người thương của ta khổ đau mà người đó không còn sống nữa thì ta cũng đừng tuyệt vọng. Ta có thể trị liệu vết thương trong chính tự thân mình. Người mà ta nghĩ đã qua đời thực ra vẫn còn sống trong ta. Ta có thể làm cho người kia mỉm cười. Giả sử khi bà ta còn sống, vì thất niệm ta đã nói những điều khiến cho bà đau khổ và ta vẫn còn ân hận. Thì hãy ngồi xuống, thở những hơi thở chánh niệm, quán tưởng bà đang ngồi với mình và nói: “Bà ơi, con xin lỗi bà, con sẽ không bao giờ nói những điều như thế nữa với bà hay với bất cứ người nào con thương”. Nếu ta thành tâm, định tĩnh và nói ra những lời chánh niệm, ta sẽ thấy bà trong ta mỉm cười và vết thương được trị liệu. Lỗi lầm là do những vụng về, thất niệm trong tâm gây ra nên cũng từ tâm mà chuyển hóa. Đó là lời Bụt dạy.

Cho dù ta nghĩ rằng quá khứ đã qua rồi, tương lai thì chưa đến, nhưng nếu nhìn sâu ta sẽ thấy được thực tại lớn hơn thế. Quá khứ nằm trong hiện tại vì hiện tại được làm bằng quá khứ. Theo giáo lý này thì nếu ta thiết lập thân tâm vững chãi trong giây phút hiện tại và tiếp xúc được với hiện tại sâu sắc, ta cũng tiếp xúc được với quá khứ và có khả năng sửa chữa quá khứ. Đây là giáo lý và là một sự thực tập rất mầu nhiệm. Ta không cần phải mang vết thương suốt đời. Tất cả chúng ta ai cũng có khi thất niệm. Dù ta đã gây nên những lỗi lầm trong quá khứ, nhưng điều đó không có nghĩa là ta phải luôn mang theo tội lỗi ấy mà không chuyển hóa được. Tiếp xúc sâu sắc với hiện tại, ta tiếp xúc được với quá khứ. Chăm sóc hiện tại ta sẽ sửa chữa được quá khứ. Thực tập làm mới là thực tập của tâm. Một khi đã nhận ra những lỗi lầm ta đã gây ra trong quá khứ, ta quyết tâm không bao giờ lặp lại nữa. Vết thương được trị liệu. Đó là một sự thực tập mầu nhiệm.

Đi với ba mẹ

Khi đi, ta đi cho ai? Ta có thể đi để đến một nơi nào đó, nhưng ta cũng có thể đi như một sự thiền tập. Chúng ta có thể đi cho ba mẹ, ông bà. Ba mẹ, ông bà ta có thể không biết cách đi thiền hành. Tổ tiên của ta có thể sống cả đời mà không có cơ hội bước đi những bước chân an lạc hạnh phúc, không biết thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại. Đó là một điều đáng tiếc mà ta không nên lặp lại.

Tất cả tổ tiên và các thế hệ tương lai đang có mặt trong ta. Giải thoát không phải là vấn đề cá nhân. Một khi tổ tiên trong ta còn khổ đau thì ta không thể hạnh phúc được và ta sẽ trao truyền khổ đau ấy cho con cháu ta.

Đã đến lúc ta phải giải phóng cho tổ tiên ta và cho các thế hệ tương lai bằng cách giải phóng chính mình. Nếu ta có thể bước được một bước chân tự do hạnh phúc, tiếp xúc được với đất Mẹ một cách chánh niệm thì ta có thể bước được một trăm bước hạnh phúc tự do. Ta đi cho ta, cho các thế hệ tổ tiên và cho con cháu ta. Tất cả chúng ta đều trở về và cùng nhau tìm lại hạnh phúc bình an.

Khi bước đi, ta quán tưởng mẹ ta cũng đang bước với ta. Điều này không có gì khó cả vì ta biết rằng chân ta là sự tiếp nối của bàn chân mẹ. Thực tập sâu sắc ta sẽ thấy được mẹ có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Cơ thể ta cũng là sự tiếp nối của cơ thể mẹ. Khi bước một bước, ta có thể nói: “Mẹ ơi, đi với con mẹ nhé”. Tự nhiên ta cảm được mẹ trong ta đang bước với ta. Có thể trong suốt cuộc đời của mẹ, mẹ không có nhiều cơ hội để bước đi trong giây phút hiện tại để tiếp xúc với đất Mẹ như ta. Từ từ tình thương và lòng từ bi trong ta phát khởi. Đó là nhờ ta thấy được mẹ đang bước với ta. Đây không phải tưởng tượng mà là một thực tại.

Ta có thể mời ba cùng đi với ta. Ta có thể mời người thương cùng đi với ta ngay bây giờ, ở đây. Ta có thể mời người ấy đi với mình mà không cần có con người bằng xương bằng thịt của họ ở đó. Ta là sự tiếp nối của tổ tiên ta. Tổ tiên ta hoàn toàn có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Khi ta bước một bước chân an lạc thì ta biết rằng tất cả tổ tiên ta cũng đang bước bước chân ấy với ta. Hàng triệu bước chân cùng bước một lần. Với kỹ thuật phim ảnh người ta có thể tạo ra hình ảnh đó. Hàng ngàn bước chân đang cùng bước một lần. Tâm ta cũng có thể làm được điều ấy. Tâm ta có thể thấy được hàng ngàn, hàng triệu bước chân của tổ tiên ta đang cùng bước với ta. Sự thực tập quán tưởng này sẽ phá tan đi ý niệm mình là một cái ngã riêng biệt. Ta đi và tổ tiên ta cũng đi.

Ta có thể đi bằng đôi chân của mẹ. Mẹ thật tội nghiệp, mẹ không có nhiều cơ hội để đi như vậy. Ta có thể nói với mẹ: “Mẹ ơi, mời mẹ đi với con”. Và ta có thể đi với mẹ, trái tim ta sẽ ngập tràn tình thương. Ta giải thoát cho ta và đồng thời giải thoát cho mẹ, bởi vì sự thật là mẹ có trong ta, trong mỗi tế bào cơ thể ta. Ba ta cũng hoàn toàn có mặt trong mỗi tế bào cơ thể ta. Ta có thể nói với ba: “Ba ơi, mời ba đi với con”. Tức thì ta bước đi bằng đôi chân của ba. Rất lý thú và bổ ích. Điều này không khó. Ta không cần phải gồng mình hay đấu tranh để làm chuyện này. Ta chỉ cần ý thức và mọi chuyện sẽ xảy ra rất mầu nhiệm. Ta cũng có thể ngồi cho mẹ. Có rất nhiều người mẹ không có cơ hội để ngồi yên mà không làm gì cả. Đây là một công việc rất quan trọng. Chúng ta chỉ ngồi và thở cho có chánh niệm, đó là điều mà ta có thể làm cho mẹ, cho dù mẹ ta đã qua đời hay còn sống với ta, cho dù mẹ ở xa ta hay gần ta, ta cũng có thể làm được điều ấy. Sau khi có thể đi cho người thương, ta có thể đi cho những người đã làm ta điêu đứng. Đi cho những người đã công kích ta, những người đã tàn phá nhà cửa, đất nước và dân tộc ta. Những người này đã không hạnh phúc. Họ không đủ tình thương cho chính họ và cho những người chung quanh. Họ làm cho đời sống của ta, của gia đình và của dân tộc ta trở nên nghèo nàn khốn đốn. Và đến lúc ta có thể đi cho họ. Đi như thế ta trở thành Bụt, trở thành Bồ tát tràn đầy tình thương và cảm thông, đầy từ bi và hiểu biết.


[1] Chất hoóc-môn tiết ra từ tuyến thượng thận, làm tăng huyết áp, tim đập nhanh và hoạt động như một tác nhân truyền tín hiệu thần kinh khi cơ thể bị căng thẳng hay gặp nguy hiểm.

Giác ngộ

Tương tức

Nếu là một nhà thơ, ta sẽ thấy được đám mây đang trôi nổi trong tờ giấy này. Không có mây thì sẽ không có mưa, không có mưa thì cây sẽ không lớn lên được. Và không có cây thì ta không thể làm nên giấy. Đám mây là tinh hoa của tờ giấy. Nếu đám mây không có thì tờ giấy cũng không. Vì vậy ta có thể nói mây và giấy tương tức.

Tương tức dịch ra tiếng Anh là interbeing, chưa có trong từ điển tiếng Anh. Nhưng nếu ta kết hợp tiếp đầu ngữ inter (là nhau, trong nhau) với động từ to be (có) thì ta có một từ mới là interbeing (có trong nhau, tương tức). Nếu nhìn sâu hơn nữa vào tờ giấy, ta sẽ thấy mặt trời trong đó. Nếu không có mặt trời thì rừng cây không thể lớn lên được. Thực ra nếu không có mặt trời thì không có gì có thể tồn tại. Vì vậy ta biết mặt trời cũng có mặt trong tờ giấy. Tờ giấy và mặt trời tương tức. Nếu tiếp tục nhìn, ta sẽ thấy được người tiều phu đốn cây mang về xưởng máy để chế tạo ra giấy. Ta cũng thấy được những hạt lúa trong đó. Ta biết được người tiều phu không thể sống được nếu không có cơm ăn hằng ngày. Vì vậy hạt lúa làm thành cơm cũng có mặt trong tờ giấy. Cha mẹ người tiều phu cũng có mặt trong đó. Nhìn như thế ta sẽ thấy nếu không có những thứ ấy thì tờ giấy cũng không biểu hiện được.

Nhìn sâu hơn một chút ta cũng thấy ta trong đó. Điều này cũng không khó lắm vì khi nhìn vào tờ giấy ta thấy tờ giấy cũng là một phần của tâm thức ta. Tâm thức bạn cũng có trong đó mà tâm thức tôi cũng có trong đó. Vì vậy ta có thể nói mọi thứ đều có trong tờ giấy. Ta không thể chỉ ra bất cứ thứ gì mà không có trong tờ giấy: thời gian, không gian, đất mẹ, cơn mưa, những chất khoáng trong lòng đất, mặt trời, đám mây, dòng sông và hơi nóng. Tất cả cùng tồn tại với tờ giấy. Vì vậy ta nên đưa từ interbeing (tương tức) vào từ điển tiếng Anh. Có là có trong nhau (tương tức). Ta không thể có một mình ta. Ta tương tức với tất cả những thứ khác. Tờ giấy này có vì tất cả những yếu tố khác có.

Giả sử ta trả một trong những yếu tố làm ra giấy về lại nguồn gốc của nó, như trả ánh nắng mặt trời về cho mặt trời thì cái gì sẽ xảy ra? Ta nghĩ tờ giấy có tồn tại được không? Không. Không có ánh nắng mặt trời thì không có gì có thể tồn tại được. Nếu trả ông tiều phu về cho mẹ của tiều phu thì giấy cũng không có. Thực tế, giấy được làm bằng những yếu tố không phải giấy. Nếu ta trả những yếu tố không phải giấy về với nguồn gốc của nó thì giấy cũng không có. Không có những yếu tố không phải giấy như tâm thức, người tiều phu, ánh nắng mặt trời… thì cũng không có tờ giấy. Mỏng như tờ giấy mà nó cũng chứa đựng cả toàn thể vũ trụ.  

Bụt

Bụt không phải là Thượng đế, không phải là trời thần. Ngài là một con người như chúng ta, cũng khổ đau như chúng ta. Nếu chúng ta đến với Bụt với một trái tim rộng mở thì Ngài sẽ nhìn thấy chúng ta, hai mắt Ngài chứa đầy lòng từ bi và nói với ta rằng: “Bởi vì tim con có nhiều khổ đau nên con có thể đi vào tim ta”.

Cư sĩ Vimalakirti nói: “Vì thế gian bệnh nên ta bệnh, vì con người khổ đau nên ta phải khổ đau”. Đức Bụt cũng tuyên bố như vậy. Đừng nói rằng vì ta có quá nhiều khổ đau nên ta không thể đến với Bụt. Đúng ra là vì trong tim ta có những niềm đau nỗi khổ nên ta mới có thể truyền thông với Bụt. Khổ đau của tôi và khổ đau của bạn là điều kiện căn bản để ta đi vào trái tim của Bụt và để Bụt đi vào trái tim ta.

Trong suốt 45 năm hành đạo đức Bụt cứ lặp đi lặp lại câu: “Trong suốt 45 năm hành đạo ta chỉ nói về khổ đau và con đường chuyển hóa khổ đau”. Khi ta nhận diện được những khổ đau của ta thì đức Bụt trong ta sẽ nhìn thấy chúng, sẽ khám phá ra những nguyên nhân dẫn đến những nỗi khổ đau ấy và đưa ra những hành động để có thể chuyển hóa khổ đau thành an vui, hạnh phúc và giải thoát. Khổ đau là phương tiện mà Bụt thường dùng để giải phóng cho mình và đó cũng là phương tiện mà ta có thể sử dụng để được giải thoát tự do. 

Biển khổ rất mênh mông, nhưng nếu quay đầu lại thì ta sẽ thấy bờ. Hạt giống khổ đau trong ta có thể rất mạnh, nhưng đừng đợi đến khi hết khổ đau rồi mới hạnh phúc. Khi một cái cây trong vườn bị bệnh ta phải chăm sóc nó, nhưng đừng quên những cây khỏe mạnh còn lại. Cho dù trong tâm ta có những nỗi khổ niềm đau, ta cũng có thể tận hưởng những mầu nhiệm của sự sống, mặt trời lặn rất đẹp, nụ cười của trẻ thơ rất hồn nhiên, cây cối rất xanh tươi và nhiều bông hoa rất diễm tuyệt. Cuộc sống đâu phải chỉ có khổ đau. Đừng giam mình trong những nỗi khổ đau ấy.

Nếu ta đã từng đói thì ta biết rằng có được một bát cơm đầy là một điều hết sức mầu nhiệm. Nếu ta đã từng khổ đau vì rét thì ta thấy có được một tấm chăn hay một chiếc áo ấm quý hóa biết chừng nào. Nếu ta đã từng khổ đau, ta sẽ trân quý những yếu tố tạo nên thiên đường đang có mặt quanh ta. Đừng trốn chạy khổ đau, mà cũng đừng quên thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống vì mình và vì lợi ích của nhiều người.

Tôi lớn lên trong thời kỳ chiến tranh, chung quanh tôi luôn có sự hủy diệt: trẻ em, người lớn, của cải, toàn bộ đất nước. Là một người trẻ tôi khổ đau cùng cực. Những vết thương chiến tranh trong tôi vẫn chưa được chữa lành. Có những đêm tôi thức trắng để ôm ấp đất nước, dân tộc tôi, ôm ấp hành tinh xanh với hơi thở chánh niệm. Một khi cánh cửa ý thức mở rộng thì ta không thể đóng lại được.

Không có khổ đau ta không thể lớn lên được. Không có khổ đau ta không thể có hạnh phúc an vui. Xin đừng chạy trốn khổ đau. Hãy ôm ấp nó và trân quý nó. Hãy đến với Bụt, ngồi với Bụt và bày tỏ những khổ đau cho Bụt. Ngài sẽ nhìn ta bằng con mắt chánh niệm từ bi, chỉ cho ta cách ôm ấp khổ đau và nhìn sâu vào nó. Bằng tình thương và sự hiểu biết chúng ta sẽ có khả năng trị liệu những vết thương trong trái tim và những vết thương trên thế giới. Đức Bụt gọi khổ đau là sự thật cao quý, bởi vì khổ đau có khả năng chỉ cho ta con đường giải thoát giác ngộ. Hãy ôm ấp khổ đau và để nó chỉ cho ta con đường đi đến an lạc.

Vô thường

Đức Bụt dạy tất cả mọi thứ như: đóa hoa, cái bàn, ngọn núi, chế độ chính trị, sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành, nhận thức… đều vô thường. Ta không thể tìm thấy bất cứ một thứ gì thường hằng. Hoa vô thường, nó sẽ tàn phai và thối rữa nhưng điều đó không ngăn cản ta yêu thích hoa. Kỳ thực ta có thể yêu hoa hơn vì ta biết cách trân quý khi nó còn sống. Nếu ta thấy được hoa là vô thường thì khi nó héo tàn ta không khổ đau. Vô thường không phải là một ý niệm. Đó là một sự thực tập giúp ta tiếp xúc được với thực tại.

Khi nghiên cứu học hỏi về vô thường ta phải đặt câu hỏi: “Lời dạy này có dính líu gì đến đời sống hằng ngày, những khó khăn và khổ đau của ta không?” Nếu ta hiểu vô thường như là một triết lý thì đó không phải là lời Bụt dạy. Mỗi khi nhìn hay lắng nghe, ta phải thấy được đối tượng mà ta đang nhìn, đang nghe là vô thường. Chúng ta phải nuôi dưỡng tuệ giác vô thường suốt ngày.

Nhìn sâu vào vô thường ta thấy rằng sự vật sở dĩ thay đổi là vì nhân duyên của nó thay đổi. Nhìn sâu vào vô ngã ta thấy được một cái tồn tại là nhờ những cái khác tồn tại. Ta thấy rằng những thứ khác đều làm nhân duyên cho nó tồn tại. Tất cả những thứ khác có trong nó.

Đứng về phương diện thời gian ta nói là vô thường, đứng về phương diện không gian ta nói là vô ngã. Tất cả mọi thứ không thể giữ nguyên trạng thái của nó trong hai giây liên tục, vì vậy mà không có gì có thể được gọi là một cái ngã thường tại. Trước khi bước vào phòng này thì ta đã khác rồi, tâm cũng khác mà thân cũng khác. Nhìn sâu vào vô thường ta thấy được vô ngã. Nhìn sâu vào vô ngã ta thấy được vô thường. Ta không thể nói: “Tôi có thể chấp nhận được vô thường, còn vô ngã thì khó quá. Tôi không thể chấp nhận được”. Thực ra chúng chỉ là một.

Hiểu được vô thường cho ta tự tin, an vui và hy vọng. Vô thường không nhất thiết phải đưa đến khổ đau. Không có vô thường thì sự sống không thể tồn tại được. Không có vô thường làm sao con gái ta có thể lớn lên thành một cô thiếu nữ xinh đẹp? Không có vô thường thì những chế độ áp bức chính trị không bao giờ thay đổi. Ta nghĩ rằng vô thường làm cho ta khổ đau. Đức Bụt đưa ra hình ảnh con chó bị người ta liệng cục đá, nó giận cục đá và quay lại sủa cục đá. Không phải vô thường làm cho ta khổ đau, cái làm cho ta khổ đau là trong khi sự vật vô thường mà ta cứ muốn nó thường, muốn nó không thay đổi.

Ta phải học cách trân quý giá trị của vô thường. Nếu ta đang khỏe mạnh và ý thức về vô thường, ta sẽ chăm sóc ta đàng hoàng hơn. Ý thức rằng những người thương của ta là vô thường, ta sẽ trân quý hơn người ta thương. Vô thường dạy cho ta biết tôn trọng và trân quý mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, cũng như trân quý những thứ quý giá trong ta và chung quanh ta. Thực tập về vô thường, chúng ta sẽ tươi mát và dễ thương hơn.

Nhìn sâu là một cách sống đáng quý. Ta có thể thực tập hơi thở ý thức để tiếp xúc sâu sắc với sự vật và hiểu được tự tính vô thường của chúng. Sự thực tập này giúp ta thôi không phàn nàn đời là vô thường không có gì đáng sống. Nhờ vô thường mà có sự chuyển hóa, đổi thay. Chúng ta nên học cách nói: “Cám ơn vô thường, vô thường vạn tuế”. Nhờ vô thường mà ta có thể chuyển hóa khổ đau thành hạnh phúc, an vui.

Nhìn sâu thấy rõ

Tiếp xúc với sự sống trong giây phút hiện tại, ta có thể thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Vô thường và vô ngã không phải là những mặt tiêu cực của sự sống mà là nền tảng vững chắc của sự sống. Vô thường là sự chuyển biến liên tục của sự vật. Không có vô thường thì cũng không có sự sống. Vô ngã là sự tương quan tương duyên của vạn vật. Không có sự tương quan tương duyên này thì không có gì có thể tồn tại được. Không có mặt trời, đám mây, đất mẹ thì hoa tulip không thể có được. Chúng ta thường thấy buồn về vô thường và vô ngã bởi vì chúng ta quên đi sự thật rằng không có vô thường, vô ngã thì sự sống không thể tồn tại. Ý thức về vô thường, vô ngã không lấy đi niềm vui sống của chúng ta. Trái lại chúng cho ta thêm sự vững chãi, tự do, giúp ta sống một nếp sống lành mạnh. Chỉ vì người ta không thấy được tính vô thường, vô ngã của vạn vật nên mới khổ đau. Họ cho những gì vô thường là thường, những gì vô ngã là ngã.

Nhìn sâu vào đóa hoa hồng ta có thể thấy được tính vô thường của nó rất rõ ràng. Đồng thời ta cũng thấy được những cái đẹp và trân quý những giá trị của nó. Vì thấy được sự vô thường mong manh nên ta thấy hoa đẹp hơn, quý hơn. Càng mong manh thì càng đẹp và càng quý, như cầu vồng, hoàng hôn, sao băng, hoa quỳnh nở vào ban đêm… Nhìn mặt trời mọc trên núi Thứu, nhìn thành phố Vaisali, nhìn cánh đồng lúa chín vàng, đức Bụt cũng thấy được vẻ đẹp của chúng và Ngài đã nói điều ấy với thầy Anan.

Nhìn sâu vào tính vô thường của sự vật, thấy được những đổi thay và sự tan biến của chúng, đức Bụt không khổ đau hay thất vọng. Chúng ta cũng vậy, bằng cách quán chiếu sâu sắc, hiểu được tính vô thường, vô ngã của vạn vật, chúng ta có thể vượt thắng được những cơn khổ đau, tuyệt vọng và thấy được những giá trị mầu nhiệm của cuộc sống hằng ngày. Một ly nước trong, một làn gió mát, một bước chân thanh thản nhẹ nhàng… tất cả những thứ ấy là những mầu nhiệm của sự sống cho dù chúng là vô thường, vô ngã.

Cuộc sống khổ đau, nhưng cuộc sống cũng mầu nhiệm. Già, bệnh, chết, tai nạn, đói khổ, thất nghiệp và những thảm họa thiên nhiên là những thứ ta không thể tránh được trong cuộc sống. Nhưng nếu ta có tuệ giác sâu sắc, tâm ta không vướng bận thì ta có thể chấp nhận được chúng một cách bình thản và như vậy khổ đau đã giảm đi rất nhiều. Điều này không có nghĩa là ta nhắm mắt trước khổ đau. Bằng cách tiếp xúc với khổ đau, ta làm phát khởi tình thương và nuôi dưỡng được đại bi tâm. Khổ đau trở thành yếu tố nuôi dưỡng cho nên ta không sợ khổ đau. Khi trái tim ta ngập tràn từ bi, ta sẽ tìm mọi cách để làm vơi đi khổ đau của kẻ khác.

Sở dĩ loài người có những tiến bộ, đó là nhờ trái tim thương yêu. Chúng ta cần học hỏi cách quán chiếu sâu sắc vì lợi ích của người khác từ những người có tình thương lớn. Rồi người khác có thể học hỏi từ ta cách sống trong giây phút hiện tại và hiểu được tính vô thường, vô ngã của vạn vật. Tuệ giác này sẽ làm vơi nhẹ khổ đau.

Sợ hãi những bất trắc xảy ra làm cho con người sống trong sự lo lắng, héo hon. Không ai có thể biết và lường trước được những rủi ro có thể xảy ra cho ta và cho người thương của ta, nhưng nếu ta học cách sống tỉnh thức, sống sâu sắc trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, đối xử với những người chung quanh ta nhẹ nhàng, cảm thông thì ta không có gì tiếc nuối khi có chuyện không may xảy đến cho ta và cho người kia. Sống trong giây phút hiện tại, ta có khả năng tiếp xúc với những yếu tố tươi mát, lành mạnh và mầu nhiệm của sự sống, giúp ta có khả năng trị liệu những vết thương trong ta. Mỗi ngày ta trở nên mầu nhiệm hơn, tươi mát hơn và lành mạnh hơn.

Vô đắc

Không có gì để làm, không có gì để chứng, không có chương trình dự án để theo đuổi, đó là giáo lý về vô tác (có khi gọi là vô nguyện hay vô đắc), một trong ba cánh cửa đi vào giải thoát. Hoa hồng có cần làm gì không? Không, mục đích của hoa hồng là làm hoa hồng. Mục đích của mình là làm chính mình. Chúng ta không cần phải trở thành một người khác. Ta như thế đã là quá tuyệt vời rồi. Lời Bụt dạy cho phép ta là ta, tự do thênh thang, tận hưởng trời xanh mây trắng và tất cả những gì tươi mát có công năng trị liệu trong giây phút hiện tại.

Ta không cần phải đặt ra mục tiêu phía trước để chạy theo. Ta đã có tất cả những gì ta muốn tìm kiếm. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Ta đã là một đức Bụt rồi, tại sao ta không nắm tay một đức Bụt khác mà đi thiền hành? Đây là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm (Avatamsaka sutra). Tất cả những điều kiện hạnh phúc đã có sẵn. Chúng ta không cần phải chạy theo, không cần phải cố gắng, không cần phải tìm kiếm, không cần phải đấu tranh. Ta chỉ cần là ta. Có mặt trong giây phút hiện tại, ngay nơi này là thiền tập sâu sắc nhất. Nhiều người không thể tin được việc đi mà không có mục đích, đi chỉ để đi mà không cần tới. Người ta nghĩ rằng phải cố gắng tranh đua mới là chuyện bình thường và thiết yếu. Thử thực tập vô nguyện (aimlessness) trong vòng năm phút, ta sẽ thấy mình hạnh phúc đến chừng nào trong năm phút ấy.

Tâm kinh Bát Nhã nói rằng “không trí cũng không đắc”. Thiền tập không phải để đạt được giải thoát giác ngộ, bởi vì giác ngộ đã có trong ta rồi. Ta không cần phải đi tìm đâu nữa. Ta không cần phải có một mục đích. Không phải ta thực tập để đạt được một địa vị cao hơn. Thực tập vô nguyện ta thấy ta không thiếu gì cả. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Cái cố gắng của ta là dừng lại. Trong giây phút hiện tại này, chỉ cần nhìn tia nắng xuyên qua cửa sổ hay nghe tiếng mưa rơi là ta đã có bình an rồi. Ta không cần phải chạy theo gì nữa cả. Ta có thể tận hưởng hạnh phúc trong mỗi giây phút. Người ta thường hay nói vào Niết bàn hay nhập Niết bàn, nhưng ta đã ở trong Niết bàn rồi. Đâu cần phải vào nữa. Vô nguyện và Niết bàn là một.

Vượt thoát sinh tử

Chính ý niệm sinh tử lấy đi hạnh phúc an vui của ta trong đời sống hằng ngày. Thiền tập là giải phóng ta ra khỏi nỗi sợ hãi phát sinh từ ý niệm sinh tử ấy. Đó là công dụng của thiền, giúp ta thấy được thực tại một cách sâu sắc. Tiếp xúc được với tính tương tức là tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt.

Ý niệm về diệt và về không rất nguy hiểm, làm người ta khổ đau rất nhiều. Theo lời Bụt dạy thì KHÔNG chỉ là một ý niệm, không thể áp dụng cho thực tại. Đức Bụt nói rằng: “Khi nhân duyên đầy đủ thì sự vật xuất hiện, khi nhân duyên thiếu vắng thì sự vật ẩn tàng”. Chúng không sinh cũng không diệt, chỉ là biểu hiện. Những ý niệm như sinh diệt, có không, không thể áp dụng cho thực tại. Con sóng biết mình là nước nên nó vượt thoát sinh tử, vượt thoát CÓ – KHÔNG. Sóng là sóng.

Người ta dùng từ chân như để mô tả thực tại. Nhưng ngôn từ và ý niệm thì không thể dùng để diễn bày thực tại. Niết bàn hay thực tại tối hậu không thể diễn bày vì nó vượt thoát tất cả mọi ý niệm. Niết bàn là sự đoạn diệt mọi ý niệm. Hầu hết những khổ đau của ta đều phát xuất từ ý niệm. Nếu ta vượt thoát được ý niệm thì lo lắng sợ hãi sẽ biến mất. Niết bàn hay thực tại tối hậu là bản chất của vô sinh bất diệt. Nó hoàn toàn tự do. Ta cần phải tiếp xúc sâu sắc với thực tại để buông bỏ những sợ hãi xuất phát từ ý niệm sinh tử.

Ta sợ cái không. Ta nghĩ rằng ta là một ai đó, là một cái gì đó. Hôm nay ta còn là ta, và ta sợ rằng một ngày nào đó ta không còn nữa. Nhưng không thể từ có mà trở thành không. Đức Bụt nói bằng một ngôn ngữ rất đơn giản là: “Cái này có vì cái kia có”. Điều này nói lên sự biểu hiện của tất cả mọi hiện tượng dựa trên nguyên lý căn bản của duyên sinh. Khi điều kiện đầy đủ thì nó biểu hiện. Thấy nó biểu hiện ta gọi là có, điều đó không đúng. Cũng vậy, khi nó chưa biểu hiện ta không thấy, ta gọi nó là không cũng không đúng. Đơn giản chỉ là biểu hiện và không biểu hiện.

Không phải vì ta không thấy mà ta nói nó không có. Ở Làng vào tháng Tư ta không thấy hoa hướng dương, nhưng không phải vì vậy mà ta nói hoa hướng dương không có. Hoa hướng dương đang ẩn tàng trong lòng đất, chúng chỉ thiếu một điều kiện để biểu hiện, đó là nắng ấm. Ta nói hoa hướng dương không có là không đúng.

Vậy thì chết là gì? Chết đơn giản là dừng lại của sự biểu hiện để tiếp tục biểu hiện lại dưới một hình thái khác. Vào mùa đông ta không thấy chuồn chuồn, bươm bướm. Ta nghĩ chúng đã chết rồi. Nhưng khi mùa xuân đến bỗng nhiên ta thấy chuồn chuồn và bươm bướm xuất hiện. Vì vậy mà những cái ta không thấy ta không thể nói là không có và những cái ta thấy ta cũng không thể nói là có.

Có và không chỉ là những ý niệm. Căn cứ trên nhận thức của ta chỉ có biểu và vô biểu. Nếu nhận thức và tuệ giác ta đủ sâu thì ta vượt thoát được những ý niệm có không, sinh diệt. Đây là mức độ cao nhất của giáo lý đạo Bụt. Chúng ta đang đi tìm cách thoát khổ, nhưng cách thoát khổ hay nhất là tiếp xúc được tính vô sinh bất diệt.

Tịnh độ

Tất cả chúng ta đều biết rằng những mầu nhiệm của sự sống luôn có đó cho ta như trời xanh, mây trắng, dòng sông, cơn mưa, đóa hoa, chim chóc, cây cỏ, trẻ thơ… Hôm qua đi thiền hành tôi thấy hai đóa hoa tím trên cỏ. Chúng rất lành lặn, nhỏ nhắn, xinh xắn và đẹp đẽ. Tôi hái tặng cho hai thượng tọa từ Việt Nam mới qua. Tôi nói với hai vị: “Hoa này chỉ có ở Tịnh độ thôi”. Tôi nghĩ là hai vị hiểu được thông điệp của tôi. Bởi vì nếu có chánh niệm, có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống thì Tịnh độ đang có mặt cho ta ở đây và bây giờ.

Kỳ thực thì cõi Tịnh độ luôn có đó. Vấn đề là ta có thật sự có mặt cho cõi Tịnh độ hay không? Có mặt cho cõi Tịnh độ không khó lắm. Chỉ cần ta nhìn, bước đi và tiếp xúc bằng chánh niệm. Ta có thể nói Tịnh độ có mặt 24 giờ mỗi ngày cho ta, miễn là ta luôn thắp sáng chánh niệm trong mình.

Ta có khuynh hướng nghĩ rằng đây là một cõi đầy rẫy khổ đau và ta muốn tìm tới một nơi không có khổ đau. Định nghĩa của tôi về cõi Tịnh độ không phải là nơi không có khổ đau vì khổ đau và hạnh phúc tương tức nhau. Hạnh phúc chỉ được nhận diện trong bối cảnh khổ đau. Vì vậy ta cần khổ đau để nhận diện hạnh phúc. Nhìn sâu hơn một chút ta thấy hạnh phúc không thể có được nếu không có hiểu biết và thương yêu. Người hạnh phúc là người có nhiều hiểu biết và thương yêu. Không có hiểu và thương ta không thể tới được với ai cả, hoàn toàn cô lập, lẻ loi và cô đơn. Nhìn và quan sát quanh ta, ta sẽ thấy rõ là những ai có đầy hiểu biết và thương yêu là những người hạnh phúc, họ không đau khổ. Để thực sự hạnh phúc ta phải vun trồng hiểu biết và thương yêu. Nhưng nếu khổ đau không có thì ta cũng không thể vun trồng hiểu và thương. Bằng cách tiếp xúc với khổ đau mà hiểu biết và thương yêu phát khởi. Ta hãy tưởng tượng đến một nơi không có khổ đau, làm sao con cái ta có cơ hội để phát khởi hiểu biết và chế tác thương yêu?

Bằng cách tiếp xúc với khổ đau mà ta có thể học hỏi được cách chế tác hiểu biết và thương yêu. Nếu cõi Tịnh độ không có khổ đau thì ở đó cũng không có hiểu và thương, không có hiểu và thương thì ta cũng không thể gọi là Tịnh độ. Điều này rất đơn giản và rõ ràng. Vì vậy mà định nghĩa của tôi về nước Chúa hay cõi Tịnh độ của Bụt là một nơi có nhiều cơ hội cho ta học hiểu và học thương. Có nhiều hiểu và thương thì ta không còn sợ khổ nữa.

Cũng giống như một người làm vườn bằng phương thức hữu cơ giỏi thì ta không còn sợ rác nữa bởi vì ta biết cách chuyển rác thành hoa. Đó là cái nhìn bất nhị. Đóa hoa mà tôi hái tặng cho hai vị thượng tọa hôm qua là những mầu nhiệm. Nếu không có chánh niệm thì ta không thể tiếp xúc với chúng. Những mầu nhiệm của sự sống luôn có mặt đó trong giây phút hiện tại trong ta và chung quanh ta. Bộ não ta cũng là một mầu nhiệm. Hai mắt ta cũng mầu nhiệm. Trái tim ta cũng mầu nhiệm. Tất cả những tế bào trong cơ thể ta cũng mầu nhiệm. Mọi thứ chung quanh ta đều mầu nhiệm. Tất cả những thứ ấy đều thuộc về cõi Tịnh độ nhưng ta hoàn toàn lãng quên. Ta kẹt vào những lo lắng, sợ hãi, bất an, tuyệt vọng, ganh tỵ và ta đánh mất cõi Tịnh độ.

Tích môn và bản môn

Có hai thế giới. Thế giới mà ta đang nhìn thấy, tiếp xúc và sống với trong đời sống hàng ngày là thế giới tích môn. Một thế giới khác vượt thoát thời gian và không gian là thế giới bản môn. Tất cả mọi hiện tượng đều thuộc về hai thế giới này. Khi nhìn con sóng trên mặt đại dương ta thấy được hình tướng con sóng. Ta định vị con sóng trong thời gian và không gian. Không gian và thời gian không phải là hai thực thể tách biệt. Không gian được làm bằng thời gian và thời gian được làm bằng không gian. Nhìn con sóng theo cái nhìn tích môn, ta thấy nó có bắt đầu, có kết thúc, có sinh, có diệt. Con sóng có thể cao, thấp, dài, ngắn, đẹp, xấu. Ta có thể mô tả con sóng bằng nhiều tính từ khác nhau. Ý niệm về sinh diệt, cao thấp, bắt đầu chung cuộc, đến đi, có không có thể áp dụng cho con sóng trong thế giới tích môn.

Ta cũng vậy, cũng được mô tả bằng những ý niệm này. Khi nhìn vào tích môn ta thấy ta có và ta không có. Ta sinh ra rồi sau đó ta lại chết đi. Ta có bắt đầu và có kết thúc. Ta đến từ một nơi nào đó và ta sẽ đi về một nơi nào khác. Đó là tích môn. Tất cả chúng ta đều thuộc về thế giới tích môn. Bụt Thích Ca Mâu Ni cũng thuộc về tích môn, Ngài là một con người, cũng được sinh ra ở Kapilavastu, nhập diệt ở Kushinagar, và đã hành đạo trong suốt 80 năm.

Tuy nhiên, tất cả chúng sinh, tất cả vạn vật cũng đều thuộc về thế giới bản môn, thế giới không bị ràng buộc, giới hạn bởi những ý niệm không gian và thời gian, sinh diệt, đến đi. Con sóng là con sóng nhưng đồng thời nó cũng là nước. Con sóng không cần chết đi mới trở thành nước. Nó đã là nước trong giây phút hiện tại rồi. Chúng ta không thể nói nước có hoặc không, đến và đi. Nước luôn luôn là nước. Khi nói về sóng ta cần những ý niệm để mô tả như con sóng đi lên và biến mất. Nó đến từ đâu đó và nó sẽ đi về đâu đó. Con sóng có bắt đầu, có kế thúc, có cao thấp, có đẹp xấu, có sinh diệt. Tuy nhiên, tất cả những khác biệt này không thể áp dụng để mô tả cho con sóng trong thế giới bản môn vì bản chất của nó là nước. Kỳ thực, ta không thể tách rời con sóng ra khỏi thế giới bản môn.

Cho dù ta thường nhìn nhận sự vật trong thế giới tích môn nhưng ta cũng có thể tiếp xúc được với bản môn. Vì vậy sự thực tập của ta giống như con sóng. Khi sống đời sống của con sóng trong tích môn ta nhận ra rằng ta cũng là nước và đang sống đời sống của nước. Đó là tinh yếu của sự thực tập. Nếu ta hiểu được tự tính không đến không đi, không có không không, không sinh không diệt, ta sẽ không sợ hãi và có khả năng an trú trong bản môn, trong Niết bàn, bây giờ ở đây. Ta không cần chết đi để vào Niết bàn. Khi chúng ta thâm nhập được tự tánh của chính mình thì chúng ta đã ở trong Niết bàn rồi. Chúng ta sống trong tích môn nhưng đồng thời ta cũng sống trong bản môn như Bụt vậy.

Trốn tìm

Một ngày nọ khi đi thiền hành ở xóm Thượng, tôi thấy mình sắp giẫm lên một chiếc lá vàng. Lúc đó là mùa thu, tất cả những chiếc lá đều chuyển màu, rất đẹp. Khi thấy chiếc lá vàng xinh đẹp tôi không muốn giẫm lên nó, nên hơi ngập ngừng. Nhưng rồi tôi lại mỉm cười và nghĩ: “Chiếc lá này chỉ giả bộ vàng, giả bộ rụng thôi”.

Đứng về phương diện tích môn, chiếc lá sinh ra trên cành cây từ một nụ xanh tươi vào mùa xuân. Nó ở trên cành suốt mấy tháng, rồi mùa thu nó đổi màu và một ngày khi gió lạnh thổi đến thì nó rơi xuống đất. Nhưng nhìn sâu vào thế giới bản môn, ta có thể thấy được chiếc lá chỉ giả bộ sinh ra, giả bộ ở trên cây mấy tháng, rồi giả bộ chết. Giáo lý duyên sinh và vô ngã cho ta thấy được tự tánh không sinh không diệt của tất cả mọi hiện tượng. Một ngày khác chiếc lá sẽ giả bộ sinh ra trở lại trên một cành cây khác. Thực ra nó chỉ đang chơi trò trốn tìm với ta.

Chúng ta cũng đang chơi trò trốn tìm với người khác. Không phải chỉ có Bụt mới giả bộ sinh và giả bộ nhập Niết bàn. Ta cũng vậy, cũng giả bộ sinh, giả bộ sống rồi giả bộ chết. Có thể ta nghĩ rằng mẹ ta đã qua đời và không còn ở với ta nữa. Nhưng sự ra đi của mẹ chỉ là giả bộ thôi, rồi một ngày nào đó, khi nhân duyên đầy đủ thì mẹ sẽ xuất hiện trở lại dưới một hình thái khác. Nếu có đủ tuệ giác ta sẽ nhận ra mẹ trong những hình thái mới. Ta phải nhìn sâu vào người thương của ta để nhận ra tự tính của họ. Chúng ta thương thầy, thương ba, thương mẹ, thương anh, thương chị, thương con, khi những người thương của ta qua đời ta thấy buồn khổ, tiếc nuối, ta nghĩ rằng ta mất người đó. Nhưng trong bản môn thì không có gì mất đi cả. Tự tính của người thương là không sinh không diệt. Nếu có khả năng tiếp xúc với bản môn, ta sẽ mỉm cười với chiếc lá vàng, và cũng  mỉm cười được với tất cả những đổi thay đang diễn ra trong đời sống này.

Không sợ hãi

Nhìn sâu vào nỗi sợ hãi, ta thấy ẩn chứa trong đó cái ước muốn thường hằng. Ta sợ sự đổi thay. Sự giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng của ta phát sinh từ tri giác sai lầm, từ ý niệm có không, đến đi, lên xuống. Nếu quán chiếu sâu sắc ta sẽ thấy được những ý niệm này không thể áp dụng cho thực tại. Ta có thể tiếp xúc được với tự tính của ta, tiếp xúc được với bản môn, điều này sẽ đưa tới sự không sợ hãi. Tin tưởng vào tuệ giác vô sinh bất diệt, ta sẽ hạnh phúc an vui trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

Hãy quán chiếu về đám mây đang bay trên bầu trời. Đám mây không muốn thay đổi. Nó sợ chết, nó sợ tan biến trở thành số không nên nó khổ đau. Nhưng nếu quán chiếu sâu sắc, đám mây sẽ thấy nó không thể chết được. Đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành băng, nhưng đám mây không thể biến mất. Không thể được. Khi đám mây thấy được tự tánh vô sinh bất diệt thì nó không còn sợ hãi nữa. Nó hiểu rằng trở thành đám mây đang bay trên trời cũng mầu nhiệm mà trở thành mưa, thành tuyết rơi xuống đất cũng mầu nhiệm không kém. Vì vậy nó không còn là nạn nhân của nỗi sợ hãi nữa, bởi vì nó quán chiếu và tiếp xúc được với tính bất diệt. Không có gì có thể chết đi được. Ta không thể từ có mà trở thành không. Sự sống là một quá trình thay đổi. Không thay đổi thì sự sống không thể tồn tại. Một khi chúng ta hân hoan chấp nhận được điều này thì sợ hãi không còn nữa. Đó là quán chiếu.

Thiền sư

Mục đích của sự thực tập là trở về ngôi nhà đích thực để nhận ra tự tính của mình. Ta phải sống như thế nào để chánh niệm luôn được thắp sáng trong giây phút hiện tại, chiếu ánh sáng vào mỗi hành động, ta có thể thấy được tự tính của mình. Khi đi ngang qua cây tùng trước sân ta phải thấy được nó. Nếu không thấy được cây tùng trước sân làm sao ta mong thấy được tự tính của ta?

Thiền sư là người đã giác ngộ, là người luôn thấy được thực tại sống động, là người sau khi bị đánh mất mình trong những khái niệm đã trở về ngôi nhà đích thực, thấy được cây tùng trước sân và thấy được tự tính của mình. Vì thế mà người ấy cũng không muốn để cho đệ tử mình lang thang trong thế giới ý niệm, lãng phí thời gian, lãng phí sự tỉnh thức và lãng phí đời sống của mình. Người thầy luôn thấy thương đệ tử mỗi khi đệ tử đặt ra những câu hỏi về lý thuyết Phật giáo như pháp thân, như lai, hoặc những điều tương tự. Người đệ tử này vẫn còn tìm kiếm thực tại qua khái niệm. Vì vậy thiền sư tìm cách hay nhất để đưa học trò mình thoát khỏi thế giới khái niệm để sống với thực tại. Hãy nhìn cây tùng trước sân! Hãy nhìn cây tùng trước sân!

Một ngày nọ có một thầy hỏi Ngài Triệu Châu, nói cho ông ta nghe về thiền. Ngài Triệu Châu hỏi: “Con ăn sáng chưa?” – “Thưa thầy con ăn sáng rồi”. – “Vậy thì đi rửa bát đi”.

“Đi rửa bát đi” cũng giống như nói “Đi sống với sự sống đang có thật đi”. Thay vì giải thích cho học trò nghe về thiền, người thầy mở cửa và mời học trò đi vào thực tại. “Đi rửa bát đi”. Câu này không có gì huyền bí cả. Rất đơn giản, rõ ràng và trực tiếp. Không có gì bí ẩn, khó hiểu, cũng không mang nghĩa biểu tượng. Nó nói lên một sự thật rất cụ thể.

Ba cánh cửa giải thoát

Có một công án thiền rất nổi tiếng: “Bộ mặt thật trước khi ta sinh ra là gì?” Quán chiếu điều này giúp ta nhận ra tính vô sinh bất diệt của thực tại và của chính mình. Nhà khoa học Pháp thế kỷ 18 Antoine-Laurent Lavoisier nói rằng: “Không có gì sinh ra mà cũng không có gì chết đi”. Không những Phật tử mà nhà khoa học cũng nhìn sâu vào thực tại để khám phá ra sự thực này. Tâm kinh cũng nói: “Không sinh cũng không diệt, không bớt cũng không thêm”. Nếu ta chưa từng sinh ra thì làm sao ta chết đi được? Khi không thấy rõ thực tại thì ta có khuynh hướng một là nắm bắt hai là chán ghét.

Ta thường nắm bắt sự sống và chạy trốn cái chết. Nhưng theo lời Bụt dạy thì từ vô thỉ tất cả vạn pháp đều ở trong Niết bàn. Vậy tại sao ta nắm bắt một thứ và trốn chạy thứ khác. Trong bản môn không có khởi đầu và không có chung cuộc. Ta nghĩ là có một cái để cho ta đạt đến và cái đó nằm ngoài ta, nhưng mọi thứ đã có sẵn rồi. Vượt thoát được ý niệm trong và ngoài, ta biết rằng đối tượng mà ta muốn đạt được đó đã có trong ta. Ta không cần phải đi tìm kiếm ở đâu cả, trong không gian cũng như trong thời gian. Nó đã có sẵn trong giây phút hiện tại. Quán chiếu về vô đắc rất quan trọng. Đối tượng ta muốn đạt được là ta đã đạt rồi. Ta không cần phải đạt thêm bất cứ một thứ gì nữa. Ta đã có rồi, ta đã là cái ta muốn trở thành rồi.

Giáo lý vô đắc phát sinh từ giáo lý vô nguyện. Giáo lý về Ba cánh cửa giải thoát có trong tất cả các trường phái Phật giáo. Cánh cửa giải thoát thứ nhất là không. Mọi thứ đều không. Nhưng không là không cái gì? Không có một cái ngã biệt lập. Bông hoa có đầy đủ mọi thứ trong vũ trụ như mặt trời, đám mây, không khí, không gian… Nhưng nó không có một cái ngã riêng biệt. Đó là ý nghĩa của không. Chúng ta có thể sử dụng giáo lý này làm chìa khóa để mở tung cánh cửa đi vào thực tại.

Cánh cửa giải thoát thứ hai là vô tướng. Nếu ta thấy hoa chỉ là hoa mà không thấy được mặt trời, đám mây, đất mẹ, thời gian và không gian… trong đó thì ta bị kẹt vào hình tướng của hoa. Khi tiếp xúc được tính tương tức của hoa thì ta thực sự thấy được hoa. Nếu ta thấy một người mà không thấy được tổ tiên, văn hóa, môi trường, xã hội và sự giáo dục của người ấy thì ta thật sự không thấy được người ấy. Ta chỉ thấy được hình tướng bên ngoài của một cái ngã biệt lập của người ấy thôi. Nếu nhìn người ấy cho sâu sắc ta sẽ thấy được toàn thể vũ trụ, và ta sẽ không bị lừa gạt bởi hình tướng bên ngoài. Đó gọi là vô tướng.

Cánh cửa giải thoát thứ ba là vô tác. Ta đã là cái ta muốn trở thành rồi. Ta không cần phải trở thành một cái khác, một người khác. Tất cả những gì ta làm là phải thực sự là ta. Ta không cần phải chạy theo cái gì cả. Ta đã chứa đựng cả vũ trụ rồi. Đơn giản, ta chỉ cần trở về với chính mình để tiếp xúc với nguồn an lạc, hạnh phúc đã có trong ta và chung quanh ta. Ta đã về, ta đã tới. Không có gì để làm. Đây là chiếc chìa khóa thứ ba để mở tung cánh cửa thực tại. Vô tác và vô đắc là sự thực tập rất thâm sâu.

Phiền não chính là bồ đề. Chúng ta có thể cưỡi trên sóng sinh tử mà đi. Chúng ta có thể an nhiên ngồi trên thuyền từ trên biển vô minh với một nụ cười vô úy. Dưới ánh sáng tương tức, ta có thể thấy hoa trong rác và thấy rác trong hoa. Chính trên nền tảng phiền não, khổ đau mà ta có thể quán chiếu để đạt được giác ngộ và an lạc. Cũng giống như nhờ bùn mà ta có thể trồng sen.

Những vị Bồ tát đã chứng nhập được vô sinh bất diệt nên ngày đêm an lành, không còn sợ hãi nữa. Với sự tự do đó, họ có khả năng làm được rất nhiều thứ để giúp những người đang đau khổ. Ta có thể trở thành Bụt trong thế giới khổ đau, phiền não này. Khi đạt được giải thoát tự do ta có thể an nhiên cởi trên sóng sinh tử mà đi để giúp cho những người đang còn chìm trong biển khổ.

Người vô sự

Thiền sư Lâm Tế đã phát kiến ra từ người vô sự, là người không bận rộn, không cần phải làm gì và không cần đi đâu nữa. Đây là một con người lý tưởng. Trong đạo Bụt Nguyên thủy, con người lý tưởng là A la hán, là người đạt đến giải thoát giác ngộ. Trong đạo Bụt Đại thừa, con người lý tưởng là Bồ tát, là người có tình thương lớn, luôn luôn cứu giúp người trên con đường giải thoát giác ngộ. Theo thiền sư Lâm Tế, người vô sự là người không cần tìm cầu hay nắm bắt bất cứ thứ gì kể cả tìm cầu Bụt. Con người này đã thật sự dừng lại, không còn kẹt vào bất kỳ một học thuyết hay một giáo lý nào. Người vô sự là con người chân thật trong mỗi chúng ta.

Đây là giáo lý căn bản và thiết yếu của thiền sư Lâm Tế. Khi có khả năng dừng lại và thực sự sống với giây phút hiện tại, ta tiếp xúc được với những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chúng ta không bị quá khứ, tương lai lôi kéo, không bị chìm đắm trong những suy nghĩ, cảm xúc, ý niệm hay dự án, kế hoạch. Thông thường ta nghĩ rằng ý niệm ta có về cái gì đó sẽ là cái đó. Ví dụ như ý niệm về Bụt là Bụt. Tuy nhiên ý niệm của ta về Bụt có thể chỉ là ý niệm mà không phải là Bụt. Ta nghĩ đức Bụt là một con người được sinh ra, lớn lên, đi xuất gia, thành đạo và nhập diệt. Nếu đi tìm một đức Bụt như thế thì chúng ta chỉ đi tìm cái hình bóng của Bụt, đi tìm một con ma Bụt. Và như vậy thì ý niệm của ta về Bụt có thể là một chướng ngại cho ta. 

Thiền sư Lâm Tế nói rằng gặp Bụt chém Bụt. Khi ta thấy một cái gì, ta phải chặt đứt hết tất cả những ý niệm, những quan điểm của ta; kể cả những ý niệm về Bụt và giáo pháp của Ngài. Giáo pháp của Bụt không phải là những quyển kinh nằm trong tủ hay trên kệ cao trong chùa, mà là những phương thuốc để trị bệnh. Giáo pháp của Bụt là phương tiện quyện xảo giúp ta thoát ra khỏi vô minh, tham đắm, giận hờn và chuyển hóa tập khí đi tìm những gì ngoài ta để nương tựa mà không tin vào con người thật của chính mình.

Tuệ giác không có trong kinh điển hay trong pháp thoại. Chúng ta không thể đi tìm giải thoát giác ngộ trong quá trình nghiên cứu kinh điển Phật giáo. Đi tìm giải thoát giác ngộ trong kinh điển cũng giống như hy vọng tìm nước trong mớ xương khô. Trở về với giây phút hiện tại, sử dụng cái tâm thanh tịnh, trong sáng đang có ngay bây giờ ở đây, ta có thể đạt được giải thoát giác ngộ, giống như Bụt và các vị đệ tử của Bụt đã sống với thực tại ngay trong giây phút hiện tại. Người mà không có gì để làm là người có chủ quyền. Người đó không cho mình là quan trọng và không cần lưu lại gì cho mai sau. Con người chân thật là con người năng động, sống trong môi trường này nhưng không bị vướng bận bởi môi trường này, ung dung, tự tại. Mặc dù tất cả mọi hiện tượng đều đi qua quá trình thành trụ hoại diệt, thì con người chân thật cũng không trở thành nạn nhân của sự buồn phiền, hạnh phúc, thương yêu, hận thù. Người ấy ý thức như một con người bình thường cho dù đang đứng, đang đi, đang nằm hay đang ngồi. Người ấy không đóng vai thiền sư. Đây là điều mà thiền sư Lâm Tế muốn nói: “Dù đang ở đâu cũng nắm lấy chủ quyền của mình và sử dụng chỗ đó như chỗ ngồi tỉnh thức”.

Nụ cười của Bồ tát

Các vị Bồ tát cũng sống trong thế giới của chúng ta – thế giới sinh, diệt, thường, ngã. Nhưng nhờ quán chiếu về vô thường, vô ngã mà các vị Bồ tát tiếp xúc được với bản môn, vượt thoát được sợ hãi về ý niệm có không, một khác, đến đi, sinh diệt. Họ an nhiên cưỡi trên sóng sinh tử mà đi, tự do, không vướng bận. Họ có khả năng sống trong thế giới của sóng nhưng vẫn an trú vững chãi trong tự tính của nước.

Trong kinh Pháp Hoa (Lotus sutra) cụm từ cưỡi trên sóng sinh tử mà đi thường được dùng để mô tả các vị Bồ tát. Các vị Bồ tát Quán Âm, Phổ Hiền, Dược Vương và Diệu Âm đã chứng minh được điều ấy trong đời sống này. Đây là thế giới hành động. Trong thế giới đau khổ, các vị Bồ tát vẫn có thể mỉm cười với lòng từ bi và đức vô úy, bởi vì họ có khả năng nhìn bằng cái nhìn bất nhị giữa phiền não và bồ đề, tiếp xúc được với Niết bàn. Giáo pháp của Bụt có nói về ba loại bố thí, đó là tài thí, pháp thí và vô úy thí (không sợ hãi). Trong đó vô úy thí là lớn nhất. Bởi vì các vị Bồ tát đã vượt thoát được sợ hãi nên có khả năng giúp được rất nhiều người. Không có gì quý hơn đức vô úy. Đó là món quà lớn nhất mà ta có thể hiến tặng cho người ta thương. Nhưng nếu ta không có thì ta không thể hiến tặng được. Thực tập và tiếp xúc được với bản môn ta cũng có thể mỉm một nụ cười vô úy như các vị Bồ tát. Cũng giống như các vị Bồ tát, ta không cần phải chạy trốn phiền não. Ta không cần phải đến một nơi nào khác để đạt được giải thoát giác ngộ.

Phiền não và giác ngộ là một. Khi tâm ta vô minh, mê mờ thì ta phiền não; khi tâm ta chân thật, trong sáng thì phiền não không còn, chỉ có giải thoát giác ngộ. Chúng ta không còn sợ sinh tử nữa bởi vì ta tiếp xúc được với tính tương tức. Những ai làm việc giúp những người hấp hối cần phải thực tập vô úy và vững chãi để giúp họ ra đi được bình an. Nếu ta biết cách tiếp xúc với bản môn, tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt thì ta vượt thắng được tất cả mọi sợ hãi. Khi ngồi với người hấp hối ta có thể gây được nguồn cảm hứng, bình an cho họ. Vô úy là sự thực tập lớn nhất trong đạo Bụt. Để vượt thoát tất cả những nỗi sợ hãi, ta phải tiếp xúc với chính mình và nhìn bằng con mắt từ bi.

Tâm kinh Bát Nhã nói: “Bồ tát Quán Tự Tại khi quán chiếu thâm sâu Bát Nhã Ba La Mật, tức diệu pháp trí độ, bỗng soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh. Thực chứng điều ấy xong, Ngài vượt thoát tất cả mọi khổ đau ách nạn”. Ngài tiếp nhận được nguồn năng lượng vô úy nên có khả năng giúp được cho nhiều người. Một khi thấy được phiền não tức bồ đề, chúng ta có thể cưỡi trên sóng sinh tử mà đi.

Người làm vườn không đuổi theo hoa mà cũng không chạy trốn rác. Người ấy chấp nhận cả hai, chăm sóc cả hai. Người ấy không vướng mắc vào hoa mà cũng không chán ghét rác. Bởi vì người ấy thấy được cả hai hoa và rác tương tức. Người ấy bình an với hoa mà cũng bình an với rác. Một vị Bồ tát xử lý phiền não và bồ đề cũng giống như người làm vườn thiện xảo xử lý hoa và rác, không phân biệt. Người đó biết cách chuyển hóa, vì vậy người ấy không còn sợ hãi nữa. Đó là tinh thần của Bụt.

Chánh đạo

Khi thấy mình đang đi đúng đường là ta có hạnh phúc. Ta không cần phải đến đích mới hạnh phúc. Đúng đường ở đây ẩn ý cho những phương cách cụ thể mà ta sống trong mỗi giây, mỗi phút. Trong giáo lý đạo Bụt có Bát chánh đạo. Đó là chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Chúng ta có thể sống với Bát chánh đạo trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Điều đó không những làm cho bản thân hạnh phúc mà còn giúp cho những người chung quanh ta hạnh phúc. Thực tập Bát chánh đạo ta sẽ trở nên an vui, tươi mát và có nhiều từ bi.

Hãy nhìn cái cây trước sân. Cái cây không cần phải làm gì cả. Nó đứng đó, hùng hồn, tươi mát, xinh đẹp; và tất cả mọi người đều được thừa hưởng. Đó là một sự mầu nhiệm. Nếu cái cây không còn là cái cây nữa thì tất cả chúng ta đều lâm nguy. Cái cây chỉ cần là cái cây đích thực thì ta có niềm vui và hy vọng. Vì vậy nếu ta có khả năng thực sự là ta thì ta đã làm rồi. Hành dựa trên vô hành. Hành động là sự có mặt.

Có những người làm rất nhiều nhưng lại gây nhiều khổ đau cho người khác. Càng cố giúp thì càng làm cho người khác khổ đau cho dù họ có thiện chí tốt. Bởi vì họ không đủ bình an và hạnh phúc. Tốt hơn là đừng nên cố gắng nhiều quá mà chỉ cần ngồi đó, chỉ cần là mình. Tức thì bình an và từ bi có mặt. Trên nền tảng đó, tất cả những gì ta nói, ta làm đều mang lại kết quả tốt đẹp. Nếu ta có khả năng làm cho một ai đó vơi đi nỗi khổ, niềm đau, nếu ta có khả năng làm cho ai đó mỉm cười, ta sẽ thấy ta xứng đáng và hạnh phúc. Thấy mình có ích cho xã hội đó là một nguồn hạnh phúc. Có được con đường và bước đi hạnh phúc trên con đường này, ta không cần phải trở thành một người khác. Ta đã đạt được cái mà ta cần rồi. Nếu ta đặt ra một mục đích phía trước thì ta sẽ chạy suốt đời, và hạnh phúc không bao giờ có được. Hạnh phúc chỉ có được khi ta có khả năng dừng lại, trân quý giây phút hiện tại và trân quý chính bản thân mình. Ta không cần phải trở thành một người khác. Ta đã là một mầu nhiệm của sự sống rồi.

Chánh niệm

Những mầu nhiệm của sự sống

Khi ngồi cạnh một dòng suối, ta thấy sung sướng được nghe tiếng suối reo, được thấy dòng nước lấp lánh đang chảy, được ngắm nhìn những hòn sỏi bóng loáng và những cây xanh bên bờ suối. Ta với suối là một, ta hưởng được sự tươi mát, trong sáng và thanh tịnh của dòng suối. Nhưng rồi chỉ trong chốc lát, ta lại chán dòng suối vì tâm ta không an, trái tim ta nặng nề, lo lắng, bận rộn, suy nghĩ miên man về những thứ khác. Và ta không còn là một với dòng suối nữa.

Nếu ngồi trong một khu rừng yên tĩnh mà tâm ta bận rộn, ruổi rong về phố thị thì rừng có cũng như không. Khi ta sống bên cạnh một em bé hay một người bạn hiền thì sự tươi mát và thân thiện của người đó làm cho ta thấy khỏe khoắn, thư giãn. Ta được hưởng sự tươi mát và thân thiện đó. Ta là đứa trẻ, ta là người bạn. Nhưng nếu ta không an, tâm ta bận rộn không có mặt ở đó thì đứa bé và người bạn đó có cũng như không. Ta phải ý thức về sự quý giá của đứa bé hay của người bạn để thưởng thức sự có mặt của họ, để bồi đắp và nuôi dưỡng họ, để họ mãi là niềm hạnh phúc của ta. Nếu dại dột và thất niệm ta sẽ trở nên bất mãn, đòi hỏi quá đáng hoặc la mắng cãi cọ với họ thì ta sẽ mất họ. Đợi khi họ đi rồi ta mới nhận ra sự quý giá của họ và thấy tiếc nuối, thì khi đó đã quá trễ, có thương tiếc cũng vô ích.

Sự sống chung quanh ta tràn đầy những mầu nhiệm như ly nước trong, tia nắng ấm, con bươm bướm, chiếc lá, nụ hoa, tiếng cười hay giọt mưa… Nếu sống trong tỉnh thức, ta sẽ dễ dàng nhận ra được những mầu nhiệm ấy đang có mặt khắp nơi. Trong ta cũng có vô số những mầu nhiệm. Đôi mắt ta có thể thấy được cả hàng ngàn sắc màu và hình ảnh, tai ta có thể nghe được tiếng ong hoặc tiếng sấm, óc ta có thể suy tưởng được từ một hạt bụi cho đến một thiên hà, trái tim ta thổn thức theo được nhịp tim của biết bao nhiêu loài sinh vật khác. Những lúc mệt mỏi hoặc chán nản vì những căng thẳng và áp lực của cuộc sống, có thể ta không thấy được những mầu nhiệm ấy, tuy nhiên chúng luôn luôn có đó cho ta.

Ta hãy nhìn cây táo trước sân nhà, nó là một thực tại mầu nhiệm. Hãy để ý, lân mẫn và chăm sóc nó, ta sẽ hưởng được sự mầu nhiệm ấy. Mới có một tuần mà nó tươi tốt hẳn lên, những chiếc lá xanh hơn và bóng hơn. Những người chung quanh ta cũng vậy. Nhờ có tỉnh thức mà ta để tâm nhiều hơn, thương yêu hơn và thông cảm hơn. Phong thái của ta không những nuôi dưỡng và làm đẹp cho ta mà còn nuôi dưỡng và làm đẹp cho những người chung quanh. Một người sống trong chánh niệm, bình an thì không những cả nhà được nhờ mà có thể làm thay đổi cả xã hội.

Tâm ta tạo ra mọi thứ. Đỉnh núi tuyết lấp lánh hùng vĩ kia, khi ta ngắm nó thì ta với nó là một. Nó tồn tại hay không tùy thuộc vào ý thức của ta. Khi tâm ta có mặt thì dù ta nhắm mắt lại đỉnh núi tuyết ấy cũng còn đó. Khi ngồi thiền, tuy có đóng bớt những cánh cửa giác quan lại, ta vẫn cảm nghe được sự có mặt của toàn thể vũ trụ. Tại sao? Tại vì tâm ta đang có mặt. Ta nhắm mắt lại cũng chỉ để thấy rõ hơn. Hình ảnh và âm thanh của thế giới không phải là kẻ thù của ta. Kẻ thù của ta là thất niệm, là sự vắng mặt của tâm, vắng mặt của chánh niệm.

Ngôi nhà đích thực

Ngôi nhà đích thực của ta là ở đây, ngay bây giờ, không giới hạn bởi thời gian, không gian, quốc gia hay chủng tộc. Ngôi nhà đích thực không phải là một ý niệm trừu tượng, mà là cái ta có thể tiếp xúc được, chạm được và sống được trong mỗi phút giây. Với năng lượng chánh niệm, chánh định, năng lượng tỉnh thức của Bụt, ta có thể tìm thấy ngôi nhà đích thực của ta ngay trong giây phút hiện tại khi thân và tâm ta thư giãn hoàn toàn. Không ai có thể lấy ngôi nhà đó đi được.

Ngừng nói chuyện và suy tư, trở về theo dõi hơi thở vào ra thật sâu, ta sẽ thấy thoải mái dễ chịu trong ngôi nhà đích thực của mình và ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với những mầu nhiệm của sự sống. Đây là con đường mà đức Bụt đã chỉ dạy cho chúng ta. Khi thở vào, ta đưa thân và tâm về lại với nhau và trở thành một với thân tâm. Thiết lập thân tâm trong niệm và định, ta bước một bước. Nếu ta bước được một bước trong chánh niệm thì ta cũng sẽ bước được những bước khác và những bước khác nữa trong chánh niệm. Ta có một tuệ giác, một cái thấy đây là ngôi nhà đích thực của ta, ta đang còn sống, ta đang có mặt hoàn toàn và ta đang tiếp xúc với sự sống rất rõ ràng. Ngôi nhà đích thực của ta là thực tại vững chắc mà ta có thể tiếp xúc được bằng đôi chân, đôi tay và bằng tâm thức của ta.

Đó là nền tảng cho ta tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình và nhận ra ngôi nhà đích thực trong giây phút hiện tại. Tất cả chúng ta đều có hạt giống của niệm và định. Thở một hơi thở chánh niệm hay bước một bước chân ý thức là ta có thể đưa tâm trở về với thân. Trong đời sống hằng ngày, thân và tâm ta thường đi hai hướng khác nhau. Chúng ta thường ở trong trạng thái xao lãng, tán loạn. Thân thì ở một nơi mà tâm lại ở một nẻo. Thân ta thì đang mặc áo mà tâm ta lại bận rộn lo nghĩ về quá khứ hoặc tương lai. Tuy nhiên giữa thân và tâm có một cái gắn liền với nhau, đó là hơi thở. Ngay khi trở về với hơi thở ý thức, thở cho nhẹ nhàng thư thái thì thân và tâm hợp nhất với nhau rất nhanh. Trong khi thở vào, đừng nghĩ ngợi gì cả, chỉ tập trung tâm ý vào hơi thở vào. Đầu tư hoàn toàn con người mình vào hơi thở vào. Ta trở thành một với hơi thở vào. Và như vậy là ta có định. Định trên hơi thở vào sẽ đưa thân tâm về lại với nhau. Chỉ trong vòng một giây thôi là ta có thể làm được điều ấy. Tự nhiên ta thấy ta có mặt hoàn toàn và thật sự đang sống.

Định

Định làm phát sinh hỷ lạc. Khi uống trà thì giá trị của ly trà phụ thuộc vào định lực của ta. Chúng ta phải uống trà với một trăm phần trăm con người mình. Niềm vui thật sự là uống trà trong định. Khi đi, nếu chúng ta có định lực một trăm phần trăm thì niềm vui của ta sẽ lớn hơn rất nhiều. Chúng ta phải đầu tư một trăm phần trăm thân tâm của mình trong khi bước đi. Chúng ta sẽ chứng nghiệm được đang còn sống và bước đi trên hành tinh này là những điều mầu nhiệm.

Thiền sư Lâm Tế nói rằng: “Phép lạ là đi trên mặt đất mà không phải đi trên mặt nước hay đi trên than hồng”. Phép lạ là đi trên mặt đất, tại sao ta không thực hiện phép lạ bằng cách đi? Một bước chân chánh niệm có thể đưa ta về với an lạc/chính mình/thiện lànhcõi Tịnh độ. Điều này chúng ta có thể làm được. Chúng ta có thể làm ngay ngày hôm nay. Cuộc sống quá đỗi quý giá chúng ta không nên đánh mất mình trong những ý niệm, giận hờn hay tuyệt vọng. Chúng ta phải đánh thức sự sống mầu nhiệm. Chúng ta phải sống cho trọn vẹn, cho thật sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. 

Khi nâng ly trà trên tay, ta phải có mặt một trăm phần trăm. Một hơi thở vào sâu, một hơi thở ra nhẹ và thân tâm hợp nhất là ta có thể làm được điều ấy. Ý thức là mình đang còn sống. Chỉ mất mười hay mười lăm giây thôi, tự nhiên ly trà hiển lộ cho ta với tất cả những mầu nhiệm, ý vị, thanh tao của nó.

Khi cầm một quyển sách hay mở cửa, tôi luôn đầu tư một trăm phần trăm con người tôi vào đó. Điều này tôi học được khi thầy tôi dạy tôi cách dâng hương. Cây hương rất nhỏ và rất nhẹ, nhưng khi nào cũng cầm bằng hai tay. Khi dâng hương chúng ta phải đầu tư một trăm phần trăm con người mình vào hai bàn tay và vào hai ngón tay. Năng lượng chánh niệm phải có mặt ở đó. Chúng ta có thể xem việc dâng hương là một nghi lễ nhưng đúng thực đó là một hành động ý thức, là một định lực. Chúng ta dâng hương cho Bụt, nhưng Bụt có thật sự cần hương không? Thật ra chúng ta đang dâng lên sự bình an, hỷ lạc và định lực của ta cho Bụt.

Tự do

Điều kiện căn bản của hạnh phúc là tự do. Nếu trong tâm ta có điều gì đó khiến ta cứ suy nghĩ hoài rồi kẹt vào nó thì ta không có tự do. Nếu kẹt vào những buồn giận trong hiện tại hay nuối tiếc về quá khứ, hoặc lo lắng về tương lai thì ta không thực sự có tự do để thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt ngay bây giờ và ở đây. Trời xanh, mây trắng, hoa vàng, chim chóc, những cái cây vững chãi xinh đẹp, những khuôn mặt dễ thương của trẻ con có thể nuôi dưỡng và trị liệu ta trong giây phút hiện tại.

Nhiều người trong xã hội không có hạnh phúc, cho dù những điều kiện hạnh phúc luôn có đó. Tập khí luôn đẩy họ đi, làm cho họ phải vội vã, ngăn không cho họ hạnh phúc trong cái bây giờ, ở đây. Chỉ cần một chút luyện tập là ta có thể học cách nhận diện tập khí mỗi khi nó trồi lên. Tại sao ta phải chờ đợi để có hạnh phúc? Khi đi ta đi như thế nào mà mỗi bước chân đưa tới sự nuôi dưỡng và trị liệu. Điều này không khó, chúng ta có thể làm được.

Cho dù chúng ta là một thương gia đang đi qua lại trong văn phòng, hay một đại biểu quốc hội đi qua lại trong trụ sở quốc hội, hay một cảnh sát đang thi hành nhiệm vụ trên đường, chúng ta cũng có thể luôn bước đi trong chánh niệm và thưởng thức từng bước chân của mình. Nếu biết được nghệ thuật đi trong chánh niệm thì chúng ta hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại bây giờ, ở đây. Chúng ta có mặt cho sự sống và sự sống có mặt cho chúng ta.

Trong chúng ta ai cũng có khuynh hướng chạy. Ta chạy suốt đời và bây giờ cũng vẫn tiếp tục chạy, chạy về tương lai. Ta đã tiếp nhận tập khí này từ cha mẹ ông bà và tổ tiên ta. Ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có ở tương lai, hạnh phúc đang đợi ta ở đó. Khi biết cách nhận diện tập khí chạy, ta có thể sử dụng hơi thở chánh niệm, mỉm cười với tập khí và nói: “Xin chào người bạn cũ, tôi biết là bạn đang ở đó”. Thì ta sẽ có tự do vượt thoát khỏi tập khí. Ta không cần phải đấu tranh với nó. Trong sự thực tập không có sự đấu tranh. Chỉ cần nhận diện và ý thức những gì đang xảy ra. Khi tập khí chạy xuất hiện, ta chỉ mỉm cười và trở về với hơi thở chánh niệm thì tập khí sẽ không còn ràng buộc sai khiến ta nữa, ta tiếp tục thưởng thức hơi thở vào ra và tận hưởng giây phút hiện tại.

Nghỉ ngơi

Này các bạn, giả sử có một người nào đó ném viên sỏi lên trời và viên sỏi rơi xuống dòng sông. Sau khi viên sỏi chạm được mặt nước thì nó từ từ chìm xuống dòng sông. Nó rơi xuống dưới đáy sông mà không cần một nỗ lực nào cả. Khi viên sỏi rơi xuống đáy sông thì nó tiếp tục nghỉ ngơi. Nó để cho dòng nước đi qua nó.

Viên sỏi đến được đáy sông bằng con đường ngắn nhất bởi vì nó cho phép nó rơi mà không cần một cố gắng nào. Khi ngồi thiền ta cũng cho phép mình nghỉ ngơi như viên sỏi vậy. Ta thả lỏng cơ thể và để cho mình rơi xuống một cách tự nhiên trong tư thế ngồi, trong tư thế nghỉ ngơi mà không cần cố gắng. Nghỉ ngơi là một pháp môn thực tập rất quan trọng. Chúng ta phải học cho được nghệ thuật này.

Nghỉ ngơi là bước đầu của thiền tập. Thân và tâm ta cần được nghỉ ngơi. Ta phải cho phép chúng nghỉ. Vấn đề là nhiều người không biết cách nghỉ ngơi. Chúng ta luôn luôn cố gắng đấu tranh và đấu tranh đã trở thành một tập khí. Ta ngồi không yên, lăng xăng hết chuyện này đến chuyện khác, đấu tranh suốt đời. Ngay cả trong khi ngủ ta cũng vẫn đấu tranh. Điều quan trọng là ta phải nhận ra ta đang có tập khí đấu tranh. Ta phải có khả năng nhận diện khi chúng biểu hiện, bởi vì nếu ta nhận diện được tập khí thì tập khí sẽ giảm bớt cường độ và không còn khả năng đẩy ta đi nữa.

Thiền tập trước hết là có mặt, có mặt cho cái bồ đoàn (gối ngồi), có mặt cho con đường thiền hành. Ăn cũng là thiền nếu ta thật sự có mặt một trăm phần trăm cho thức ăn. Cái cốt yếu là có mặt. Vì thế khi tập thiền đừng cố gắng gì hết. Cho phép mình nghỉ ngơi giống như viên sỏi. Viên sỏi nghỉ ngơi dưới đáy sông và không cần phải làm gì cả. Khi đi ta cũng nghỉ ngơi, khi ngồi ta cũng nghỉ ngơi.

Nếu ta cố gắng, ép mình trong khi ngồi thiền hay đi thiền thì ta đang không thực tập đúng cách. Đức Bụt nói rằng: “Tu vô tu tu”. Thực tập cái không thực tập. Điều này rất có ý nghĩa. Không cần cố gắng gì cả. Bỏ hết mọi cố gắng nỗ lực. Cho phép mình là mình, cho phép mình nghỉ ngơi.

Khi ngồi thiền trên chiếc bồ đoàn tôi thấy rất thích thú dễ chịu. Tôi không cố gắng một tí nào. Tôi chỉ cho phép mình có mặt và nghỉ ngơi. Vì không cố gắng nên tôi không thấy mệt mỏi khi ngồi thiền. Vì không cố gắng nên tất cả các cơ bắp của tôi được buông thư. Nếu ta cố gắng trong suốt buổi ngồi thiền, ta sẽ đau vai, đau lưng ngay. Nếu cho phép mình nghỉ ngơi trên chiếc bồ đoàn thì ta có thể ngồi rất lâu và mỗi phút là một sự nhẹ nhàng, tươi mát, có công năng nuôi dưỡng và trị liệu.

Chúng ta ngồi thiền không phải để giải thoát giác ngộ. Không. Ngồi thiền trước hết là để cho vui. Đi thiền trước hết là để đi cho vui. Ăn cũng để ăn cho vui. Nghệ thuật là phải có mặt một trăm phần trăm.

Phải có mặt thật sự. Có mặt một trăm phần trăm con người mình trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đó là yếu chỉ của thiền. Mỗi người trong chúng ta đều biết rằng chúng ta có thể làm được điều đó, vì vậy chúng ta phải luyện tập để sống sâu sắc mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đó là lý do tại sao tôi muốn định nghĩa chánh niệm là một nguồn năng lượng giúp ta có mặt một trăm phần trăm. Nguồn năng lượng đó là nguồn năng lượng của sự có mặt đích thực. Thở vào chúng ta lặp lại: ở đây, ở đây. Thở ra: bây giờ, bây giờ. Từ ngữ tuy khác nhau nhưng nội dung thì giống nhau. Tôi đã về ở đây. Tôi đã về ngay bây giờ. Tôi đã tới ở đây. Tôi đã tới ngay bây giờ.

Thực tập như vậy là chúng ta đang thực tập dừng lại. Dừng lại (chỉ) là thiền tập căn bản của đạo Bụt. Chúng ta dừng lại việc chạy đi hoang, dừng lại những cố gắng, đấu tranh. Chúng ta cho phép mình nghỉ ngơi để làm lắng dịu và trị liệu những đau nhức trong thân tâm.

Sự có mặt đích thực

Phép lạ của chánh niệm trước hết là sự có mặt. Sự có mặt đích thực rất quan trọng. Có mặt cho chính mình và có mặt cho người mình thương. Làm sao ta có thể thương được nếu ta không có mặt. Điều kiện căn bản của thương yêu là sự có mặt. Đó là điều tiên quyết, rõ ràng. May mắn cho ta là sự thực tập này không khó lắm. Chỉ cần thở và buông bỏ những suy nghĩ, kế hoạch là ta đã có thể có mặt. Trở về với chính mình, tập trung tâm ý vào hơi thở và mỉm cười. Thân tâm hợp nhất và sống cho trọn vẹn. Đó là một phép lạ.

Có những người quanh ta đang sống mà như đã chết. Họ nhai đi nhai lại quá khứ, sợ hãi tương lai và bị kẹt vào những giận hờn, ganh tỵ trong hiện tại. Họ không thực sự sống được, họ giống như những thi thể đang di động. Với con mắt chánh niệm ta có thể nhận ra được họ, họ đi như những thây ma, dở sống dở chết. Chúng ta thấy thương cho những người ấy. Họ không biết rằng cuộc sống chỉ có được trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây.

Chúng ta phải tập sống trở lại. Đây là sự thực tập hằng ngày của chúng ta. Với một hơi thở vào là ta đã có thể đưa tâm trở về với thân, sống được với cái bây giờ và ở đây. Hạnh phúc và bình an là điều mà ta có thể đạt được. Ta phải có ước hẹn với sự sống ngay bây giờ và ở đây.

Chúng ta phải trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với sự sống. Tất cả chúng ta đều có khả năng bước đi trong cõi Tịnh độ. Ta đã có tất cả những gì ta cần: đôi chân, buồng phổi, đôi mắt và một cái tâm. Với một ít thực tập ta có thể chế tác được năng lượng chánh niệm, giống như thắp lên một ngọn đèn. Một khi đã thật sự sống, thì bước đi một bước là ta đã đi vào được cõi Tịnh độ.

Cõi Tịnh độ không chỉ là ý niệm. Cõi Tịnh độ là một thực tại sống động mà ta có thể tiếp xúc được trong đời sống hằng ngày. Nếu không vào được cõi Tịnh độ ngay bây giờ thì trong tương lai ta cũng sẽ không bao giờ vào được. Tất cả chúng ta đều có khả năng vào được đó, không chỉ bằng tâm mà bằng đôi chân của ta. Năng lượng chánh niệm giúp ta làm được điều này. Với một bước chân chánh niệm là ta có thể tiếp xúc được với cõi Tịnh độ bây giờ và ở đây.

Hơi thở chánh niệm

Hơi thở chánh niệm giúp ta duy trì sự có mặt trong giây phút hiện tại. Chúng ta không nên điều khiển hơi thở. Hơi thở là một cái gì rất tự nhiên như không khí, ánh sáng. Chúng ta phải để cho nó tự nhiên mà đừng can thiệp vào. Điều chúng ta có thể làm là thắp lên một ngọn đèn ý thức để chiếu rọi vào hơi thở. Chúng ta chế tác năng lượng chánh niệm để chiếu sáng vào tất cả những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại.

Khi thở vào, ta có thể nói: “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào”. Thực tập như vậy, năng lượng chánh niệm sẽ ôm lấy hơi thở vào, giống như ánh sáng mặt trời ôm lấy những ngọn lá cành cây. Ánh sáng chánh niệm có mặt ôm lấy hơi thở, rất nhẹ nhàng, không bạo động, không can thiệp. Khi thở ra, ta có thể nói: “Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra”.

Tôi chăm sóc hơi thở của tôi như một em bé nhỏ yếu ốm. Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào. Tôi để cho hơi thở đi vào một cách tự nhiên. Tôi vui mừng hân hoan là hơi thở tôi còn đó. Thở ra, tôi biết là tôi đang thở ra. Tôi mỉm cười với hơi thở ra. Thực tập như vậy, ta có thể đạt được niềm vui lớn, và nếu tiếp tục thêm một phút, ta sẽ thấy hơi thở của ta đã khác đi rồi. Sau một phút thực tập hơi thở chánh niệm mà không kỳ thị thì phẩm chất của hơi thở sẽ được tăng tiến. Hơi thở trở nên lắng dịu hơn và dài hơn, sự hài hòa nhẹ nhàng từ hơi thở sẽ thấm vào thân thể và tâm thức ta.

Chúng ta thử thực tập như thế trong khi ta có niềm vui, chẳng hạn như khi ta ngắm mặt trời lặn và tiếp xúc với những cái đẹp của thiên nhiên. Tôi đang thở vào, thật hạnh phúc! Tôi đang thở ra, mặt trời rất đẹp. Tiếp tục như thế trong vài phút. Tiếp xúc với những cái đẹp của thiên nhiên làm cho sự sống đẹp hơn, thực hơn. Càng có chánh niệm và chánh định ta càng tiếp xúc sâu sắc với mặt trời lặn. Hạnh phúc của ta tăng lên gấp mười, hai mươi lần. Ngắm nhìn chiếc lá, nụ hoa hay lắng nghe tiếng chim hót bằng năng lượng chánh niệm, ta sẽ tiếp xúc với chúng sâu sắc hơn. Sau một phút thực tập niềm vui của ta sẽ tăng trưởng, hơi thở của ta sẽ sâu lắng, nhẹ nhàng, thư thái hơn. Chính cái nhẹ nhàng, sâu lắng này ảnh hưởng lên thân thể ta.

Hơi thở chánh niệm là chiếc cầu đưa thân và tâm về lại với nhau. Nếu qua hơi thở chánh niệm, ta chế tác được sự hài hòa, sâu lắng, tĩnh lặng thì những yếu tố ấy sẽ thấm vào thân tâm ta. Kỳ thực, những gì ảnh hưởng đến tâm sẽ ảnh hưởng đến thân và ngược lại. Nếu chúng ta chế tác được bình an trong hơi thở thì sự bình an này sẽ thấm vào thân tâm ta. Nếu đã từng tập thiền thì ta sẽ khám phá ra được điều này. Nếu ta đã từng ôm ấp hơi thở vào và hơi thở ra một cách nhẹ nhàng thì chúng cũng trở lại ôm ấp thân tâm ta. Bình an ‘lây lan’. Hạnh phúc cũng ‘lây lan’. Bởi vì khi thiền tập thì ba yếu tố thân, tâm và hơi thở trở thành một.

Khi thở vào, ta tôn trọng hơi thở vào. Thắp lên ngọn đèn chánh niệm để chiếu rọi vào hơi thở vào. “Thở vào, tôi biết là tôi đang thở vào”. Rất đơn giản. Nếu hơi thở vào ngắn, ta ý thức là hơi thở vào ngắn. Thế thôi. Ta không cần đánh giá. Chỉ nhận diện đơn thuần: hơi thở của tôi ngắn và tôi biết là hơi thở của tôi ngắn. Đừng cố gắng kéo cho nó dài ra. Hãy để cho nó ngắn. Và khi hơi thở vào của ta dài, ta nói: “Hơi thở vào của tôi dài”.

Chúng ta tôn trọng hơi thở vào ra, tôn trọng hình hài và tâm thức ta. Hơi thở vào đang đi vào, hơi thở ra đang đi ra. Vào, ra. Giống như chơi vậy, nhưng đem lại cho ta nhiều hạnh phúc. Trong suốt quá trình thực tập, không có một sự căng thẳng nào. Ta hoàn toàn có mặt cho sự sống. Và nếu ta có mặt cho sự sống thì sự sống cũng có mặt cho ta. Rất đơn giản.

Đi như Bụt đi

Thiền hành là một pháp môn quan trọng trong đạo Bụt, là một sự thực tập tâm linh rất sâu sắc. Khi bước đi Bụt không cần phải cố gắng. Bụt chỉ đi thôi. Bụt không cần cố gắng, bởi vì khi đi Bụt tiếp xúc được với tất cả những mầu nhiệm của cuộc sống trong tự thân và chung quanh Ngài. Đây là cách thực tập hay nhất, không mang tính hình thức. Chúng ta hãy thử đi như vậy, đi để mà đi, không cần gắng sức, không cần đấu tranh, nhưng đó là một sự thực tập rất thâm sâu. Đức Bụt nói: “Sự thực tập của tôi là tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng”.

Nhiều người trong chúng ta khó chấp nhận được ý tưởng thực tập không cần cố gắng mà có thể thong dong, thoải mái trong chánh niệm. Đó là do ta không đi bằng hai chân của mình. Có khi chân ta đi, nhưng tâm ta thì lại đang ở một nơi nào khác. Ta không đi hết thân tâm của mình. Ta thấy thân và tâm là hai cái riêng biệt, có khi thân đi một đường mà tâm thì kéo ta đi về một nẻo khác.

Trong khi đó đối với Bụt, thân và tâm là hai mặt của một thực tại. Đi, đơn giản chỉ là đặt bàn chân này tiếp nối bàn chân kia. Nhưng thường không biết cách đi thì người ta thấy mệt mỏi và chán nản. Khi hiểu được sự liên hệ mật thiết giữa thân và tâm, ta sẽ đi được như Bụt, ta sẽ cảm thấy rất thoải mái và thú vị.

Ta có thể bước một bước, tiếp xúc sâu sắc với mặt đất và thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại. Đã về đã tới, bây giờ ở đây. Ta không cần cố gắng gì cả. Chân ta tiếp xúc với mặt đất một cách chánh niệm. Ta đã thật sự “về” với giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Tự nhiên ta có tự do, không bị ràng buộc bởi bất cứ một dự án, lo lắng, mong chờ nào. Ta hoàn toàn có mặt, ý thức mình đang còn sống và đang tiếp xúc với mặt đất.

Khi đi thiền một mình, ta có thể thử thực tập như sau: Thở vào, bước một bước và chú tâm hoàn toàn vào lòng bàn chân của mình. Nếu ta chưa “về” được một trăm phần trăm thì đừng bước thêm bước nào nữa cả. Ta có thể lãng phí thì giờ nếu làm vậy. Khi nào chắc chắn mình đã về được hoàn toàn với giây phút hiện tại bây giờ và ở đây, tiếp xúc được với thực tại một cách sâu sắc thì ta hãy mỉm cười và bước đi bước kế tiếp. Đi như vậy, ta sẽ in lên mặt đất sự vững chãi, thảnh thơi và niềm an vui của ta. Bàn chân ta như một con dấu của vị quốc vương. Khi đóng dấu lên một tờ giấy nào, con dấu sẽ làm cho tờ giấy đó trở nên quan trọng. Con dấu làm nên một dấu ấn. Nhìn vào dấu chân của ta, ta thấy gì? Ta thấy dấu ấn của tự do, dấu ấn của vững chãi, dấu ấn của hạnh phúc, dấu ấn của sự sống.

Ta có khả năng bước được một bước như thế bởi vì trong ta có Bụt, có Phật tánh, có khả năng ý thức những gì đang xảy ra. Cái đang xảy ra là: “Tôi đang còn sống, tôi đang bước đi”. Là con người có ý thức, chúng ta phải có khả năng làm được điều này. Trong mỗi chúng ta ai cũng có Bụt trong tự thân mình, chúng ta hãy để cho Bụt đi.

Tiếp xúc với đất Mẹ

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta thực tập “Sám Pháp địa xúc” mỗi ngày. Sự thực tập này giúp ta rất nhiều. Dù không phải Phật tử nhưng nếu ta thực tập phương pháp này cũng mang lại nhiều kết quả tốt đẹp. Khi nào thấy bất an, thiếu tự tin hoặc giận hờn, khổ đau ta có thể quỳ xuống và tiếp xúc sâu sắc với đất Mẹ bằng đôi tay của mình. Tiếp xúc với đất Mẹ như thể đất Mẹ là cái ta yêu quý nhất trên đời, là người bạn thân thiết nhất của ta.

Đất đã có đó từ lâu lắm rồi. Đất là Mẹ của tất cả chúng ta. Đất Mẹ biết hết tất cả mọi thứ. Trước khi thành đạo, Bụt còn nghi ngờ và sợ hãi, Bụt đã bắt ấn địa xúc, đặt tay lên mặt đất và xin đất làm chứng cho Ngài. Đất xuất hiện như một bà Mẹ xinh đẹp. Trên đôi tay của Mẹ mang theo nhiều hoa trái, bướm chim và nhiều loài cầm thú khác nhau để hiến tặng cho Bụt. Những nghi ngờ và sợ hãi của Bụt tan biến ngay. Khi nào có khổ đau, hãy trở về với đất Mẹ và xin đất Mẹ giúp đỡ. Tiếp xúc với đất Mẹ thật sâu sắc giống như Bụt, thì tự nhiên ta thấy đất Mẹ xuất hiện với nhiều hoa trái, cây cối, chim chóc, động vật và các loài sinh vật khác mà Mẹ đã sinh ra. Đất Mẹ hiến tặng tất cả những thứ ấy cho ta. Ta có nhiều cơ hội hạnh phúc hơn là ta tưởng. Đất Mẹ cho ta tình thương và sự kiên nhẫn. Đất Mẹ rất kiên trì và nhẫn nại. Đất Mẹ hiểu được nỗi khổ của ta, đất Mẹ sẽ giúp ta và bảo hộ cho ta. Khi ta chết, đất Mẹ cũng đón ta trở về trong vòng tay của Mẹ.

Trở về với đất Mẹ chúng ta rất an toàn. Đất Mẹ luôn luôn có đó với tất cả những mầu nhiệm như cây xanh, hoa cỏ, ong bướm và ánh nắng mặt trời. Bất cứ lúc nào mệt mỏi hay khổ đau, thực tập địa xúc sẽ giúp ta trị liệu và phục hồi lại sự tươi mát an vui của mình.

Sống chánh niệm

Khi ăn sáng cho dù ăn rất ít, ta cũng ăn như thế nào để có tự do và thảnh thơi. Trong khi ăn, đừng nghĩ đến tương lai, đừng nghĩ đến những chuyện ta sẽ phải làm. Sự thực tập của ta là chỉ ăn sáng thôi. Buổi ăn sáng có mặt cho ta. Ta phải có mặt cho buổi ăn sáng. Chúng ta phải nhai mỗi miếng thức ăn cho vui vẻ và thảnh thơi.

Khi cầm miếng bánh mì trên tay, tôi nhìn nó và thỉnh thoảng mỉm cười với nó. Miếng bánh mì là sứ giả của vũ trụ, hiến tặng chất dinh dưỡng cho ta và nuôi nấng ta. Nhìn sâu vào miếng bánh mì, ta thấy mặt trời, đám mây và đất Mẹ. Không có mặt trời thì lúa mì không thể lên được. Không có mây thì sẽ không có mưa và như vậy thì lúa cũng không thể lên được. Không có đất Mẹ thì không có gì có thể tồn tại được. Vì vậy miếng bánh mì ta cầm trong tay là một mầu nhiệm của sự sống. Nó có đó cho ta. Ta phải có mặt cho nó.

Ta ăn với niềm biết ơn. Khi đưa miếng bánh mì vào miệng ta chỉ nhai bánh mì mà đừng nhai dự án, kế hoạch, lo lắng, sợ hãi và giận hờn. Đó là sự thực tập chánh niệm. Nhai trong chánh niệm, ta biết rằng ta đang nhai bánh mì, đang nhai thực phẩm mầu nhiệm của sự sống. Điều này đem đến cho ta nhiều tự do và an vui. Mỗi miếng thức ăn ta đều ăn như thế. Đừng để mình bị lọt ra khỏi bữa ăn sáng.

Khi đánh răng, ta để ra bao nhiêu thời gian cho việc đánh răng? Ít nhất là một phút, có thể là hai phút. Đánh răng như thế nào để có thảnh thơi, an lạc và tự do, đừng để mình bị lôi kéo bởi những chuyện mình sẽ làm sau đó. “Tôi đang đứng đây, đang đánh răng và vẫn còn răng để đánh. Tôi có kem đánh răng và bàn chải đánh răng. Tôi đang còn sống, đang có tự do và đang đánh răng rất thảnh thơi”. Đừng để cho mình trở thành nô lệ của quá khứ hoặc tương lai. Đây là sự thực tập tự do. Và nếu tự do có mặt thì ta đánh răng rất thoải mái thảnh thơi. Đừng để bị lôi kéo bởi những suy nghĩ và sợ hãi.

Ở Mỹ người ta gọi nhà vệ sinh là phòng nghỉ (restroom). Thật thú vị. Ta có thấy mình được nghỉ ngơi khi vào nhà vệ sinh không? Ở Pháp người ta gọi nhà vệ sinh là phòng dễ chịu (la cabine d’aisance). Aisance nghĩa là dễ chịu. Ta có thấy dễ chịu khi vào đó không? Có thấy thoải mái không? Khi dùng nhà vệ sinh, ta phải thấy thoải mái dễ chịu và tận hưởng thời gian trong nhà vệ sinh. Khi đi tiểu tôi cho phép mình có mặt hoàn toàn cho việc đi tiểu. Nếu có tự do thì đi tiểu rất thích thú dễ chịu. Ta đầu tư một trăm phần trăm thân tâm vào việc đi tiểu. Điều đó có thể đem đến cho ta nhiều tự do và an vui.

Khi lái xe, thay vì nghĩ tới nơi đến, ta tận hưởng từng giây phút trong khi lái xe. Trước khi cho pháp thoại tôi không bận tâm, lo lắng về vấn đề: “Các bạn sẽ hỏi tôi những câu hỏi gì và tôi sẽ phải trả lời như thế nào?” Tôi không lo lắng cho vấn đề đó một chút nào cả. Từ phòng đến thiền đường, tôi đi rất thảnh thơi và thưởng thức sâu sắc từng bước chân của mình. Khi đến, tôi thấy rất tươi mát và sẵn sàng trả lời cho những câu hỏi được đặt ra. Chúng ta có thể sống chánh niệm trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày.

Trị vì năm uẩn

Mỗi người trong chúng ta đều có chủ quyền về lãnh thổ năm uẩn của chính mình. Năm uẩn là sắc (thân thể), thọ, tưởng, hành và thức. Sự thực tập của ta là nhìn sâu vào năm uẩn để khám phá ra tự tính của ta, khám phá ra bản chất của khổ đau, hạnh phúc, an lạc và sợ hãi trong ta.

Nếu từ bỏ lãnh thổ của chính mình thì ta không phải là những nhà trị vì có trách nhiệm. Ta không thực tập đàng hoàng, thay vì trở về chăm sóc lãnh thổ của mình ta lại chạy trốn và để cho những xung đột, bất ổn, rối loạn xâm chiếm. Ta sợ trở về lãnh thổ của chính mình để đối diện với những khó khăn và khổ đau. Bất cứ lúc nào có 15 phút hay một, hai giờ rảnh rỗi là ta có tập khí mở ti vi lên coi, đọc báo, nghe nhạc, chuyện trò hay gọi điện thoại để quên đi nỗi khổ đau đang có trong ta, và ta chạy trốn thực tại năm uẩn đã làm nên con người mình: “Tôi khổ đau quá, tôi có quá nhiều vấn đề, tôi không muốn trở về đó nữa”. Chúng ta phải trở về với thân thể và thiết lập lại trật tự của nó. Đức Bụt đã dạy cho ta những phương pháp thực tập rất cụ thể. Ngài dạy rất rõ rằng: để thanh lọc và chuyển hóa những yếu tố trong mình ta phải vun trồng chánh niệm. Chánh niệm sẽ cho ta sức mạnh để trở về với tự thân.

Chánh niệm là một cái gì rất cụ thể mà ta có thể chế tác và vun trồng. Khi ta đi trong ý thức thì những bước chân bình an vững chãi làm ra năng lượng chánh niệm và đưa ta trở về giây phút hiện tại. Khi ta ngồi theo dõi hơi thở, ý thức hơi thở vào ra là ta đang chế tác năng lượng chánh niệm. Ăn cơm trong chánh niệm, ta đầu tư một trăm phần trăm vào giây phút hiện tại, ý thức về thức ăn và những người đang cùng ngồi ăn với ta. Ta có thể chế tác chánh niệm trong khi đi, khi thở, khi làm việc, khi rửa bát, khi giặt áo… Thực tập vài ngày như thế sẽ làm tăng trưởng nguồn năng lượng chánh niệm trong ta. Chính nguồn năng lượng này giúp ta, bảo hộ ta, cho ta can đảm để trở về với chính mình, để hiểu chính mình và ôm ấp những gì đang có trong lãnh thổ của mình.

Có những nỗi khổ đau thật sự, những cảm xúc mạnh, những tư tưởng phiền muộn, những nhận thức sai lầm làm cho ta giận dữ, bực bội, lo lắng, bất an và sợ hãi. Bằng năng lượng chánh niệm ta có mặt cho những cảm thọ, tâm hành khó ở này mà không chạy trốn. Ta có thể ôm ấp chúng như cách một người mẹ ôm lấy đứa con thơ và nói với chúng: “Con ơi, mẹ đang có mặt đây cho con, mẹ đã trở về, mẹ sẽ chăm sóc con”. Chúng ta có thể thực tập như thế với tất cả những cảm xúc, cảm thọ và tri giác của ta.

Khi mới bắt đầu thực tập đạo Bụt, chúng ta tập làm một đức Bụt bán phần (part-time Buddha), từ từ ta trở thành đức Bụt toàn phần (full-time Buddha). Đôi khi ta rơi xuống làm đức Bụt bán phần trở lại, nhưng với sự thực tập đều đặn ta sẽ trở lại làm đức Bụt toàn phần. Phật tính ở trong tầm với của ta, vì ta cũng là một con người như Bụt. Chúng ta có thể trở thành Bụt bất cứ lúc nào ta muốn. Đức Bụt luôn có đó cho ta ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ ở đây và bất cứ lúc nào, bất cứ nơi đâu. Là một đức Bụt bán phần, có thể ta không có nhiều truyền thông tốt, nhưng khi trở thành đức Bụt toàn phần thì ta có hạnh phúc và truyền thông tốt với mọi người dù bất kỳ khó khăn nào xảy ra.

Thành Bụt không khó lắm. Bụt là một người giác ngộ, có khả năng thương yêu và tha thứ. Ta thấy thỉnh thoảng ta cũng có những khả năng ấy. Vì vậy ta hãy làm Bụt. Khi ngồi, ta để cho Bụt trong ta ngồi. Khi đi ta để cho Bụt trong ta đi. Làm gì cũng làm cho thoải mái, thong thả, thảnh thơi. Hãy tận hưởng sự thực tập của mình. Nếu ta không làm Bụt thì ai sẽ làm Bụt?

Tập khí

Có một câu chuyện thiền kể về một anh chàng đang cưỡi ngựa. Anh ta phi ngựa rất nhanh như thể anh đi đâu quan trọng lắm. Một người đàn ông đứng bên lề đường thấy vậy liền hỏi lớn: “Anh đi đâu vậy?”. Anh ta trả lời: “Tôi không biết. Hỏi con ngựa.” Có thể ta cười anh ta, nhưng đó cũng là câu chuyện của ta. Ta đang cưỡi ngựa mà không biết mình đang đi đâu. Và ta không thể dừng lại được. Con ngựa là tập khí của ta đang lôi kéo ta đi, còn ta thì yếu thế, bất lực. Ta luôn chạy, và chạy đã trở thành tập khí của ta. Lúc nào ta cũng đấu tranh kể cả trong khi ngủ. Ta đấu tranh với chính mình và rồi đấu tranh với người khác.

Ta phải học nghệ thuật dừng lại. Dừng lại những suy nghĩ, dừng lại những tập khí, dừng lại những thất niệm và dừng lại những cảm xúc mạnh đang thống trị ta. Khi cơn bão cảm xúc đi lên, ta bất an, đứng ngồi không yên. Ta mở ti vi lên, rồi lại tắt ti vi. Ta cầm quyển sách lên rồi lại bỏ sách xuống. Làm sao ta có thể dừng lại tình trạng bực bội, bất an này? Làm sao ta có thể dừng lại được những nỗi sợ hãi, thất vọng, giận hờn và tham lam? Ta có thể dừng lại bằng hơi thở chánh niệm, bằng lời nói ái ngữ, bằng nụ cười ý thức và bằng cách nhìn sâu. Khi có chánh niệm, tiếp xúc sâu sắc với giây phút hiện tại thì luôn luôn sản sinh ra hoa trái hiểu biết, chấp nhận và thương yêu, khiến cho ta có ước muốn làm vơi đi nỗi khổ đau và đem niềm vui đến cho người.

Tuy nhiên tập khí thường mạnh hơn ước muốn. Ta không muốn nói và làm những điều ấy nhưng rồi ta vẫn nói vẫn làm, sau đó ta lại cảm thấy hối hận. Ta làm cho mình, cho người khác khổ, và gây nên nhiều tổn hại cho nhau. Ta nguyện lần sau sẽ không lặp lại nữa, nhưng lần sau ta vẫn làm y như vậy. Tại sao? Tại vì tập khí đẩy ta, khiến ta làm.

Chúng ta cần năng lượng chánh niệm để nhận diện tập khí và có mặt cho nó để dừng lại quá trình phá hoại này. Nhờ chánh niệm mà ta có khả năng nhận diện tập khí khi chúng phát khởi. “Xin chào tập khí, tôi biết em ở đó”. Chỉ cần ta mỉm cười là cường độ của nó sẽ giảm xuống. Chánh niệm là một năng lượng cho phép ta nhận diện tập khí và ngăn ngừa không cho nó hoành hành ta.

Thất niệm là ngược lại. Uống trà mà ta không biết là ta đang uống trà. Ngồi với người thương mà ta không ý thức là người thương đang ở bên cạnh ta. Ta đi mà không thực sự đi. Ta mơ mơ màng màng, đang ở đâu đâu, nghĩ về quá khứ, mơ tưởng tương lai. Con ngựa tập khí lôi kéo ta và giam hãm ta. Ta phải biểu con ngựa dừng lại và giành lại tự do của mình. Ta cần chiếu ánh sáng chánh niệm vào những gì ta đang làm để cho bóng tối của thất niệm tan đi.

Bóng tối trở thành ánh sáng

Hãy quán chiếu những chuyển biến đang xảy ra trong tâm dưới ánh sáng ý thức. Ngay cả hơi thở của ta cũng thay đổi và trở thành không hai (bất nhị, tôi không muốn nói là một) với người đang quán chiếu. Suy nghĩ và cảm thọ cũng vậy, khi ta quán chiếu về chúng, chúng sẽ được chuyển hóa ngay. Khi ta không phán xét hoặc đè nén thì chúng trở nên gắn bó không thể tách rời được với cái tâm đang quán chiếu.

Có những lúc ta thấy bực bội bất an và cái bực bội bất an đó cứ ở hoài trong ta không chịu đi. Đừng phê phán hay đàn áp nó, hãy ngồi yên theo dõi hơi thở, mỉm một nụ cười trầm lặng và chiếu ánh sáng ý thức vào cái bực bội bất an đó. Bởi vì nó cũng chính là ta. Nó xuất hiện, ở lại một thời gian, rồi sau đó nó sẽ biến mất, rất tự nhiên. Đừng vội vàng đi tìm hiểu nguyên nhân, cũng đừng cố xua đuổi nó. Chỉ chiếu ánh sáng vào nó. Từ từ nó sẽ đổi thay, nó sẽ hòa vào, liên hệ mật thiết và hợp nhất với người đang quán chiếu. Bất kỳ một trạng thái tâm lý nào nếu ta chiếu rọi ánh sáng ý thức vào thì nó cũng được nhẹ nhàng ra và mang màu sắc của tâm người đang quán chiếu.

Trong khi thiền tập hãy giữ cho ý thức luôn được chiếu sáng thường trực. Giống như mặt trời đang chiếu sáng vào mỗi lá cây, ngọn cỏ; ý thức chánh niệm cũng soi tỏ mọi suy tư, cảm thọ. Soi tỏ để nhận diện, ý thức sự sinh khởi, tồn tại và hủy diệt mà không phán xét, không đánh giá, không mời mọc và cũng không xua đuổi. Điều quan trọng là ta không coi ý thức chánh niệm là phe chánh, là đồng minh của ta, đem đến để đàn áp phe tà, kẻ thù của ta, những suy nghĩ phóng túng. Đừng biến tâm mình thành một bãi chiến trường. Đừng để cho chiến tranh xảy ra. Tất cả những cảm thọ: vui buồn, giận hờn, thù hận… đều là ta. Ý thức chánh niệm giống như một người anh, người chị lớn, có mặt đó để hướng dẫn và khai sáng cho ta, rất nhẹ nhàng, ân cần và chu đáo. Chánh niệm là sự có mặt rất sáng suốt và bao dung, không bạo động, không kỳ thị. Chỉ nhận diện những suy nghĩ và cảm thọ, không phê phán, không phân loại chánh tà, tốt xấu để dàn trận đánh nhau. Sự xung đột giữa tốt và xấu thường được so sánh với sự xung đột giữa ánh sáng và bóng tối, nhưng nếu nhìn một cách khác ta sẽ thấy khi ánh sáng chiếu vào thì bóng tối biến mất. Bóng tối không chạy đi đâu cả, nó hòa vào ánh sáng, hợp nhất với ánh sáng và trở thành ánh sáng.

Thiền tập không phải là đi đánh giặc, không phải đấu tranh với những rắc rối trong lòng. Thiền nghĩa là quán chiếu, là quan sát. Nụ cười của ta là để chứng minh cho điều ấy. Nó minh chứng rằng ta đang rất nhẹ nhàng với chính mình, mặt trời ý thức đang chiếu rọi lên ta làm cho ta có chủ quyền trong mọi tình huống. Ta là ta, ta đạt tới một mức độ an lạc nào đó. Chính sự an lạc này làm cho trẻ con muốn đến gần ta.

Ngày quán niệm

Ta nên thực tập chánh niệm từng ngày từng giờ. Nói thì dễ nhưng làm thì khó. Vì vậy mỗi người nên cố gắng sắp xếp, dành một ngày trọn vẹn cho sự thực tập này. Cố nhiên, theo nguyên tắc thì ngày nào cũng là ngày của mình, giờ nào cũng là giờ của mình, ngày nào cũng là ngày chánh niệm, giờ nào cũng là giờ chánh niệm, tuy nhiên rất ít người làm được điều đó. Ta nghĩ rằng gia đình, sở làm, xã hội đã cướp hết thời gian của ta. Vì vậy ta nên dành mỗi tuần một ngày cho mình.

Nếu ta chọn thứ Bảy thì phải trọn vẹn ngày thứ Bảy, ngày mà ta có thể làm chủ hoàn toàn. Ngày thứ Bảy sẽ là ngày tạo cho ta có thói quen chánh niệm. Những người làm công tác hòa bình hay phụng sự tăng thân, cho dù là công việc có cấp bách cỡ nào cũng có quyền có một ngày như thế. Bởi vì không có ngày này ta sẽ đánh mất mình mau chóng trong cuộc sống nhiều lo toan bận rộn, và như vậy những đóng góp của ta sẽ nhanh chóng trở thành vô hiệu hóa. Bất kỳ ngày nào được chọn, cũng được xem là ngày quán niệm.

Chúng ta nghĩ ra cách nào đó để nhắc nhở mình khi thức dậy, rằng hôm nay là ngày quán niệm. Ta có thể treo cái gì đó lên trần nhà, hoặc lên tường. Có thể là từ chánh niệm, hoặc là một cành thông… bất cứ thứ gì có thể nhắc ta nhớ rằng hôm nay là ngày quán niệm khi ta mới mở mắt. Hôm nay là ngày của ta. Hãy nhớ điều đó. Có thể ta nở một nụ cười để khẳng định ta đang hoàn toàn có chánh niệm, nụ cười sẽ nuôi dưỡng chánh niệm trong ta.

Khi còn nằm trên giường, ta bắt đầu theo dõi hơi thở ý thức, nhẹ nhàng và sâu lắng. Rồi từ từ ngồi dậy (thay vì ngồi dậy ngay như bình thường), ý thức vào mỗi động tác của ta. Thức dậy, ta đi đánh răng, rửa mặt… làm tất cả những công việc ấy một cách thong thả, nhẹ nhàng, thảnh thơi và tĩnh lặng. Mỗi thao tác đều được làm trong chánh niệm. Theo dõi hơi thở, nắm lấy nó, đừng để cho suy nghĩ lôi kéo ta đi. Đo bước chân bằng hơi thở nhẹ sâu và duy trì nụ cười trên môi.

Để ra ít nhất nửa giờ để tắm. Tắm thong thả và chánh niệm để khi tắm xong ta thấy nhẹ nhàng, tươi mát và sảng khoái. Sau đó ta có thể làm công việc nhà như rửa bát, quét dọn, lau bàn, hút bụi, chùi nhà bếp, xếp sách lên kệ… Bất cứ công việc nào ta cũng làm thong thả, thoải mái và chánh niệm. Đừng làm cho mau xong. Nhất quyết làm cho thảnh thơi với tất cả sự chú tâm của mình. Làm một cách thích thú, vui tươi và trở thành một với nó. Nếu không thì ngày quán niệm không có giá trị gì cả. Cảm giác mệt mỏi, chán nản sẽ sớm biến mất nếu ta làm trong chánh niệm. Hãy lấy gương của các vị thiền sư, bất kỳ công việc nào quý Ngài cũng làm thong thả, đều đặn và hết lòng.

Những người mới bắt đầu thực tập thì cách hay nhất là duy trì im lặng hùng tráng suốt ngày. Điều này không có nghĩa là ngày quán niệm thì ta không được nói chuyện. Ta có thể nói, thậm chí ta còn hát nữa, nhưng nếu ta nói hoặc hát thì phải nói và hát trong chánh niệm và cũng nên hạn chế tối đa. Tất nhiên ta cũng có thể vừa hát vừa thực tập chánh niệm nếu ta ý thức được là ta đang hát. Cũng nên ý thức là khi hát hoặc nói ta sẽ dễ bị mất chánh niệm hơn nếu như sự thực tập của ta còn yếu.

Khi ăn trưa, ta chuẩn bị bữa ăn trưa của ta cho đàng hoàng. Nấu ăn và rửa bát trong chánh niệm. Buổi sáng sau khi dọn dẹp nhà cửa hoặc buổi chiều sau khi làm vườn, ngắm mây hay hái hoa… ta pha một bình trà và ngồi xuống uống trà trong chánh niệm. Cho mình có đủ thời gian để uống trà. Đừng uống trà như những người uống vội tách cà phê giữa giờ nghỉ giải lao. Uống trà cung kính và chậm rãi như trái đất đang quay vậy, đều đặn, khoan thai, không vội vã cho những gì sắp tới. Sống hết lòng với giây phút hiện tại. Chỉ có giây phút này là giây phút đáng sống. Đừng vướng bận đến tương lai. Đừng lo lắng cho những gì phải làm. Đừng nghĩ đến chuyện đứng dậy đi làm cái gì đó.

Buổi tối, ta có thể đọc kinh, đọc sách, viết thư cho bạn, hoặc làm bất cứ điều gì ta thích ngoài những công việc thông thường trong tuần. Bất cứ điều gì ta làm cũng làm trong chánh niệm. Buổi tối ta nên ăn nhẹ để có thể ngồi thiền nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Ta có thể đi bách bộ để hưởng không khí trong lành, theo dõi hơi thở và đo chiều dài hơi thở bằng bước chân của ta. Sau đó đi về phòng ngủ trong chánh niệm. Ngày quán niệm như thế rất quan trọng. Ảnh hưởng của nó không thể lường được. Chỉ sau ba tháng thực tập ngày quán niệm một tuần một lần, cuộc sống của ta sẽ đổi thay đáng kể. Ngày quán niệm sẽ ảnh hưởng đến những ngày khác trong tuần khiến ta sống cả bảy ngày trong chánh niệm. Tôi tin chắc là các bạn thấy ngày quán niệm rất quan trọng.

Chương 6: Câu hỏi của người trẻ

82. Đức Phật là ai?

H. Đức Phật là ai?

Tl. Đức Phật là một con người như tất cả chúng ta. Ngài là một thái tử tên là Tất Đạt Đa (Siddhartha), sinh ra tại xứ Nepal cách đây 2.600 năm. Thái tử có một cuộc sống rất đầy đủ. Cung vàng điện ngọc, giàu sang, của ngon vật lạ và rất nhiều quyền lực. Mùa đông có biệt thự mùa đông. Mùa hè có biệt thự mùa hè. Thái tử rất thông minh và học rất giỏi. Khi đến tuổi trưởng thành, thái tử kết hôn và sinh được một con trai. Nhưng thái tử không mấy hạnh phúc. Thái tử thấy dường như vẫn còn thiếu một cái gì đó rất quan trọng trong cuộc đời. Mặc dù vua cha đã cố tìm cách che giấu không cho Ngài thấy những đau khổ của con người, nhưng thái tử Tất Đạt Đa vẫn nhận ra con người có biết bao nhiêu khổ cực. Và cho dù phụ vương của Ngài có rất nhiều quyền lực nhưng vẫn không giúp được cho dân bao nhiêu.

Vua cha muốn Ngài kế vị ngôi vua nhưng Tất Đạt Đa lại không thích. Ngài quyết định trở thành một vị tu sĩ để có thể giải thoát khổ đau cho mình và có thể giúp đỡ cho những người khác. Một đêm Ngài rời cung điện, rời vợ con, đi vào rừng tu tập trong nhiều năm. Cuối cùng Ngài đã giác ngộ thành Phật, nghĩa là trở thành một người hoàn toàn tỉnh thức. Sau đó, Ngài bắt đi đầu đi giáo hóa. Ngài giảng dạy trong suốt 45 năm và đã giúp cho rất nhiều người, giàu cũng như nghèo, tất cả mọi thành phần trong xã hội, có được một cuộc sống hạnh phúc. Ngài đã thành lập được một tăng đoàn với rất nhiều đệ tử. Ngài thị tịch ở tuổi 80. Giáo pháp của Ngài đã được truyền đạt qua rất nhiều thế hệ, và bây giờ đây, chúng ta đang là những học trò của Ngài.

Bụt đã dạy rằng mỗi người trong chúng ta ai cũng có khả năng trở thành Phật như Ngài. Nếu chúng ta có thương yêu, hiểu biết, và bình an, nếu chúng ta biết chuyển hóa hờn giận, ganh tỵ trong ta thì ta có thể trở thành một vị Bụt như Ngài. Trong thế gian này còn có rất nhiều vị Bụt khác nữa. Ở đâu mà có con người thì ở đó sẽ có một hay nhiều vị Bụt xuất hiện.

83. Sao gọi là Pháp?

H. Sao gọi là Pháp?

Tl. Pháp là con đường thực tập hiểu và thương. Pháp có thể được trình bày dưới hình thức một bài Pháp thoại hay một cuốn sách. Nhưng Pháp hay nhất là Pháp sống động, Pháp được hiển lộ nơi một người đang thực tập. Nhìn một người đang thực tập ta có thể thấy được phong thái bình an, hiểu biết thương yêu nơi người ấy. Đó là Pháp sống động. Khi chúng ta thực tập hơi thở chánh niệm, an tịnh tâm hành, an tịnh cảm thọ thì đó là Pháp sống động.  

Bụt đã trao truyền Pháp qua nhiều thế hệ. Bây giờ chúng ta là những người đang tiếp nối Bụt. Nhờ sự thực tập của chúng ta mà Pháp được trường tồn để chúng ta trao truyền cho các thế hệ mai sau. Pháp là tinh hoa của Bụt. Nhờ Pháp mà chúng ta bớt đau khổ và có thể sống hạnh phúc, thương yêu. Nếu Bụt không có Pháp trong tự thân thì Bụt không phải là Bụt. Nếu Tăng không có Pháp trong tự thân thì Tăng không phải là Tăng. Sự thực tập của chúng ta là giữ cho Pháp còn mãi, sống động và ngày càng lớn mạnh để cho bản thân ta và cả người khác được hạnh phúc. Khi chúng ta thể hiện được Pháp như thế thì chúng ta có “Pháp thân”.

84. Muốn giác ngộ phải làm gì?

H. Muốn đạt được giác ngộ, việc quan trọng nhất là phải làm gì?

Tl. Giác ngộ không phải là chuyện quá xa vời. Chúng ta không cần phải thực tập rất lâu để đạt được giác ngộ. Chúng ta có thể giác ngộ một phần nào đó ngay bây giờ và ở đây. Điều này cũng giống như sức khỏe và đời sống an lành của chúng ta vậy. Khi uống trà, chúng ta biết mình đang uống trà, uống trong sự chú tâm và cảm thấy thích thú khi uống trà. Uống trà trong chánh niệm như thế đã là một sự giác ngộ. Có nhiều người uống trà mà không biết rằng mình đang uống trà. Họ chìm đắm trong sự hờn giận, sợ hãi, lo lắng, và những dự án trong tương lai nên không ý thức là mình đang uống trà. Sống chánh niệm với những gì đang xảy ra ngay bây giờ và ở đây là một sự giác ngộ. Khi đi mà chúng ta không ý thức là mình đang đi, đi như người mộng du thì ta không có sự giác ngộ. Còn nếu đi trong chánh niệm và an vui trong từng bước chân của mình là có sự giác ngộ. Khi ăn, chúng ta ăn trong chánh niệm cũng là một sự giác ngộ. Chánh niệm là khởi đầu của sự giác ngộ. Nếu chúng ta sống có chánh niệm trong từng giây phút hàng ngày thì chánh niệm của chúng ta càng thêm vững mạnh. Vì vậy, ta có câu: “Không có con đường đưa đến giác ngộ, giác ngộ chính là con đường.” Giác ngộ phải là giác ngộ ngay bây giờ và tại đây. Chúng ta uống trà, đi đứng, thở, giặt giũ như thế nào để có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Đó là sự thực tập của chúng ta.

85. Phương pháp thiền tập nào tốt nhất?

H. Phương pháp thiền tập nào tốt nhất?

Tl. Chúng ta có thể thực hành thiền trong tư thế ngồi, nhưng cũng có thể thiền khi đi hay khi đứng. Thiền tập không cần phải bó buộc theo nghi thức. Ví dụ như khi xếp hàng lấy thức ăn ta có thể theo dõi hơi thở vào ra, trong niềm an vui cùng với những người xung quanh. Khi chạy xe đạp, nếu ta có niềm vui theo dõi hơi thở vào ra thì đó cũng là thiền tập. Khi rửa bát nếu ta biết thưởng thức hơi thở và mỉm cười thì việc rửa bát sẽ rất dễ chịu. Vậy thì ta có thể thực tập thiền trong bất cứ tư thế nào, nằm, ngồi, đi, đứng hay làm việc. Bất cứ làm gì nếu làm trong chánh niệm thì đó là thiền tập.

86. Làm thế nào để vượt qua sự sợ hãi?

H. Làm thế nào để vượt qua sự sợ hãi?

Tl. Trước hết ta phải xem xét sự sợ hãi của ta có phải là do tri giác sai lầm hay không. Thực tập hơi thở chánh niệm vào ra, sâu chậm, giúp ta nhìn sâu vào bản chất và gốc rễ của sự sợ hãi. Người ta thường sợ chết, sợ già, sợ bơ vơ, sợ bị bệnh, sợ mất đi những gì mình trân quý, sợ mất người thương, sợ mất việc, v.v. Bụt khuyên ta không nên trốn tránh sự sợ hãi. Trái lại, hãy nhớ lại cái cảm giác sợ hãi đó và nhìn sâu vào nó. Hầu hết chúng ta cố tìm cách che lấp sợ hãi, không dám nhìn thẳng vào nỗi lo sợ của mình. Thay vì ta tìm cách trốn tránh, hay không để ý tới sợ hãi, Bụt khuyên ta nên mời nỗi sợ hãi ấy lên, dùng chánh niệm để nhận diện và ôm ấp nó. Ngồi yên đó với nó để có thể chuyển hóa nó, thay vì xua đuổi hay khỏa lấp nỗi lo sợ của ta. Điều này đúng cho tất cả mọi trường hợp, sợ ít hay sợ nhiều của chúng ta. Đừng tự cho là mình không sợ. Đừng cố tìm cách kháng cự hay khắc phục. Sau một thời gian ta sẽ thấy khi cơn sợ xuất hiện trở lại, nó sẽ yếu hơn một chút.

87. Làm gì khi đang có cơn giận?

H. Khi đang cơn giận thì phải làm gì?

Tl. Đôi khi ta giận nhưng ta không chấp nhận là mình đang giận. Trong trường hợp ấy ta cần có một người bạn đủ thành thật để nói với ta: “Bạn ơi, bạn đang giận đấy.” Nhưng nếu là một người có tu tập thì ta không cần đến một người bạn, bởi vì nhờ có thực tập chánh niệm mà ta biết những gì đang xảy ra bên trong mình. Khi giận ta biết là ta đang giận. Ta thực tập hơi thở chánh niệm và nhủ thầm,
       Thở vào, tôi biết là tôi đang giận.
       Thở ra, tôi chăm sóc cơn giận đang có mặt trong tôi.

Không nên nói gì hay hành động gì khi ta đang giận bởi vì sẽ gây ra sự đổ vỡ. Trở về với mình, thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm để ôm ấp, nhận diện và làm giảm nhẹ cơn giận. Hãy nhìn sâu vào cơn giận và tự hỏi là nguyên nhân gì đã gây nên cơn giận dữ như vậy.

Chính ta có thể là nguyên nhân chính gây nên sự buồn giận, bởi vì hạt giống giận trong ta đã quá lớn. Ngay khi mới nghe qua, hay nhìn thấy một điều gì không vừa ý thì hạt giống giận trong ta bị tưới tẩm và khiến ta nổi giận ngay. Cho nên cơn giận đến từ bên trong ta chứ không phải từ một ai khác. Người kia chỉ là nguyên nhân phụ mà thôi. Hãy nhìn cho sâu để thấy rằng sự giận hờn là do nhận thức, do tri giác sai lầm, và hiểu lầm. Khi nhận rõ được điều ấy cơn giận của ta sẽ được chuyển hóa.

88. Lo lắng nhiều quá

H. Con lo lắng nhiều quá đến nỗi chẳng làm được việc gì. Làm thế nào để ngừng lo lắng?

Tl. Sự thực tập của chúng ta là học cách để chăm sóc phút giây hiện tại. Đừng để đánh mất mình trong quá khứ hay tương lai. Xử lý hiện tại cho tốt thì ta có thể chuyển hóa được những tiêu cực trong quá khứ hoặc chuẩn bị tốt cho tương lai. Chúng ta có xu hướng lo cho tương lai nhiều quá. Sự thực tập của chúng ta là trở về với hiện tại, đưa tâm trở về với thân, chăm sóc cho cảm thọ, ý thức được những gì đang xảy ra bên trong ta cũng như xung quanh ta. Khi ta thở vào thở ra trong chánh niệm, thân và tâm ta hợp nhất, chúng ta sẽ thật sự có mặt để xử lý hiện tại. Nếu có bức xúc, có căng thẳng thì hơi thở chánh niệm sẽ giúp ta thư giãn. Nếu trong thân có đau nhức, chánh niệm sẽ ôm ấp cảm thọ đau nhức ấy. Điều cốt yếu là ta phải thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, để chăm sóc cho tự thân và cho những gì đang xảy ra. Không nên suy nghĩ quá nhiều về tương lai, về những gì có thể xảy ra trong tương lai và không vướng bận quá nhiều về quá khứ. Phải tập luyện để thành thói quen. Phải học cách an trú trong giây phút hiện tại, ngay bây giờ và ở đây, để có thể chăm sóc tốt cho thân tâm và cảm thọ của ta ngay trong giây phút hiện tại. Đó là cách hiệu quả nhất để xử lý những lo âu.

Khi ta học được cách xử lý giây phút hiện tại, ta biết chăm sóc cảm thọ của mình và chăm sóc những gì đang xảy ra xung quanh, ta càng thêm tin tưởng vào khả năng xử lý hoàn cảnh của mình, nhờ đó mà ta có thêm tự tin. Khi sự tự tin của ta càng lớn thì ta sẽ không còn là nạn nhân của lo âu nữa.

89. Kiến thức có bị mất sau khi ta chết không?

H. Khi một người chết đi thì kiến thức của người ấy có mất luôn không?

Tl. Theo lời Bụt dạy thì không có gì mất đi cả. Tuy hình hài chúng ta tan rã nhưng chúng ta vẫn còn. Thể xác này chỉ là một phần rất nhỏ của chúng ta mà thôi. Trong đời sống hàng ngày, con người chúng ta đã tạo tác ra lời nói, ý nghĩ và hành động, đó là những sự tiếp nối của chúng ta. Trong đạo Bụt gọi đó là Nghiệp. Nghiệp là hành động, hành động bằng ý nghĩ, bằng lời nói và bằng những tạo tác. Ngay khi ta khởi lên một ý nghĩ thì ý nghĩ ấy tức thời có ảnh hưởng lên ta và lên cả thế giới. Ý nghĩ đó là sự tiếp nối của ta. Ý nghĩ ấy là ta. Một ý nghĩ thương yêu, tha thứ và hiểu biết sẽ có tác dụng tốt lên thân, tâm chúng ta và lên cả thế giới. Một ý nghĩ giận dữ, thù ghét, hay tàn bạo sẽ có tác dụng xấu lên thân, tâm chúng ta và lên trên thế giới. Đó không phải là một tiếp nối đẹp. Sự thực tập của chúng ta là chế tác được những ý nghĩ tốt đẹp như ý nghĩ thương yêu, hiểu biết và tha thứ. Bụt gọi đó là sự thực tập chánh tư duy. Những gì ta chế tác ra mỗi ngày như ý nghĩ, lời nói và hành động sẽ tác động ra ngoài thế giới mặc dù có thể ta không thấy. Cũng giống như hơi nước, chúng ta không thấy hơi nước nhưng chúng ta biết hơi nước có ở đó. Những ý nghĩ, lời nói, và hành động của ta chính là sự tiếp nối của ta. Cho nên khi nhìn vào thân thể, ta phải tập thấy thân thể này chỉ là một phần rất nhỏ của ta. Cũng giống như một đám mây ở trên trời đang nhìn xuống và thấy một phần của chính mình đã biến thành dòng sông và mỉm cười nói: “Chúc lên đường vui nhé, hẹn gặp nhau sau.” Ta cũng như đám mây kia nhìn lại một phần của mình đã đi về tương lai và nói: “Chúc lên đường vui nhé, hẹn gặp nhau sau.” Bao nhiêu trí tuệ, thương yêu, hờn giận, an vui, đau khổ của ta không chỉ có ở đây trong hiện tại, mà còn có ở tương lai như là sự tiếp nối của ta.

90. Làm gì khi bị bạn bè chọc ghẹo?

H. Con phải làm gì khi bị bạn bè chọc ghẹo?

Tl. Khi bị bạn bè chọc ghẹo, ta có thể nổi giận và nói lời không đẹp, hay có ý muốn trừng phạt, nhưng làm như vậy là không tốt. Là một người có thực tập, ta nên trở về với hơi thở vào, ra, giữ bình tĩnh và nói với chính mình: “Đây là một sự thử thách. Nếu ta giữ bình tĩnh được thì ta là người thực tập giỏi. Còn nếu ta phản ứng lại một cách hung dữ thì ta sẽ đau khổ và như vậy ta thực tập không giỏi.” Vì vậy, ta nên trở về với hơi thở, thở vào, thở ra nhẹ nhàng rồi mỉm cười với người bạn đã chọc ghẹo mình. Khi ta có khả năng nhìn người đó bằng ánh mắt thương yêu, ta sẽ cảm thấy dễ chịu hơn. Hãy hành động như một vị Bụt trẻ, phản ứng lại bằng nụ cười với tâm từ bi. Hành xử như thế, người bạn kia sẽ không còn muốn chọc ghẹo mình nữa. Nếu con làm được như vậy thì thật là một chiến thắng lớn.

91. Chế ngự tánh nóng giận

H. Làm sao để chế ngự tánh nóng giận?

Tl. Cách hay nhất là không nên tìm cách chế ngự mà là làm bạn với tánh nóng giận của mình. Nếu tìm cách chế ngự thì sẽ gây nên một sự xung đột giữa mình và tánh nóng giận đó. Vì vậy, cách hay nhất là không nên tìm cách chế ngự mà chỉ ôm ấp và chăm sóc nó. Cũng như khi ta đang tức giận hay sợ hãi, ta không chế ngự hay đấu tranh với cơn giận hay nỗi sợ hãi của mình mà chỉ ghi nhận là ta đang tức giận hay đang sợ hãi.

Thở vào, tôi biết là tôi đang giận.
Thở ra, tôi ôm ấp và ghi nhận cơn giận của tôi.
Tôi biết rằng tôi đang chăm sóc cho cơn giận của tôi.

Cách hay nhất để đối phó với tánh nóng giận là làm bạn với nó và chăm sóc nó, như một người anh lớn đang chăm sóc cho đứa em nhỏ mà không nên đàn áp. Trong truyền thống thiền tập của đạo Bụt, không có sự gây chiến, đàn áp mà chỉ có sự nhận diện, ôm ấp và nâng đỡ.

92. Thiên Chúa giáo là tôn giáo đích thực?

H. Con học ở một trường công giáo. Một vài người bạn nói với con rằng Thiên Chúa giáo là tôn giáo đích thực duy nhất. Làm thế nào để con chỉ cho họ biết rằng Thiên Chúa giáo không phải là con đường duy nhất đưa đến chứng ngộ tâm linh.

Tl. Trên thế giới có nhiều truyền thống tâm linh. Truyền thống tâm linh này không loại trừ truyền thống tâm linh kia. Tất cả đều thuộc về gia tài tâm linh của nhân loại. Chúng ta phải trân quý tất cả. Cũng giống như chúng ta có một giỏ trái cây. Nếu mình thích ăn cam thì cứ tự do ăn cam, không ai cấm mình thưởng thức táo, đào, hay mận. Còn nếu chỉ ăn có trái cam thôi thì uổng quá. Nhiều người thích thực tập đạo Bụt, nhưng cũng thích giáo lý của Hồi giáo, Kitô giáo, Do Thái giáo, v.v. Những người cho rằng truyền thống của họ là truyền thống duy nhất thì cũng giống như những người chỉ biết ăn một thứ trái cây. Thật buồn cho họ. Chúng ta phải giúp họ để họ có thể nhận thấy rằng họ có thể hưởng được nhiều tuệ giác từ nhiều truyền thống tâm linh khác nhau nếu họ biết cởi mở hơn. Với lòng kiên nhẫn, và với tâm từ bi chúng ta có thể giúp họ mở rộng tấm lòng hơn.

93. Nhớ lại kiếp trước

H. Chúng ta có thể nhớ lại kiếp trước hay không?

Tl. Khi quán chiếu sâu sắc vào tự thân, Thầy thấy trong quá khứ Thầy đã từng là đá, là cây, là con sóc, con chim, con cá, là đám mây, dòng sông. Và nếu tiếp tục nhìn sâu, Thầy vẫn tiếp tục thấy như vậy. Chúng ta nghĩ mình là một con người, nhưng nhìn cho sâu chúng ta sẽ thấy rằng cùng lúc chúng ta là bao nhiêu thứ khác nữa. Hãy thử nghĩ đi. Ta có thể tin rằng đám mây kia chỉ ở trên trời, nhưng kỳ thực mây cũng đang có ở trong ta. Khi uống một tách trà trong chánh niệm, uống cho thật sâu sắc, ta sẽ thấy là ta đang uống mây. Mây trở thành mưa, mưa trở thành trà, và bây giờ ta đang uống mây dưới hình dạng trà. Nhờ thực tập nhìn sâu, chúng ta có thể thấy được những kiếp sống trước, và thấy rằng ta tiếp tục mang những kiếp trước của ta trong hiện tại. Kiếp trước không phải là tưởng tượng. Chúng ta tiến hóa từ đá sang nước, sang sinh vật đơn bào rồi thành con người. Chúng ta đã đi qua nhiều kiếp sống, và vẫn tiếp tục tương tức với những kiếp sống xa xưa.

94. Sau khi Sư Ông tịch

H. Sau khi Sư Ông tịch, các Thầy, các Sư cô và tăng đoàn sẽ ra sao?

Tl. Thầy sẽ luôn luôn còn đây. Thầy đã đem hết khả năng của mình trao truyền sở đắc cho tất cả mọi người. Thầy không ở ngoài con, thầy ở trong con. Một tăng thân đích thực, nghĩa là một tăng thân có tu tập, luôn luôn có Phật, có Pháp, và có vị Thầy hiện hữu. Cho nên dù bất cứ ta ở đâu ta cũng cảm thấy có Phật, có Pháp, có Tăng trong ta, không có sự xa cách. Càng thực tập ta càng cảm nhận Phật, Pháp, và Tăng trong tim ta. Chỉ cần thực tập một ít thời gian để khám phá ra điều ấy. Khi lạy Bụt có thể chúng ta nghĩ là Bụt đang ngồi trên bàn thờ. Nhưng Bụt không có trên bàn thờ; Bụt ở trong tim ta. Bởi vì Bụt là khả năng chánh niệm, tỉnh thức, khả năng thương yêu, chấp nhận, và chúng ta biết rằng trong tim ta cũng có những khả năng ấy. Nếu chúng ta tu tập giỏi thì những khả năng ấy ngày càng phát triển. Và ý niệm bên trong, bên ngoài sẽ trở nên rõ ràng sáng tỏ hơn. Phải nhìn cho sâu để thấy rằng vị thầy mà ta thương mến và kính ngưỡng đã thật có trong ta.

95. Làm gì khi cảm thấy buồn?

H. Khi buồn con nên làm gì?

Tl. Nếu có cảm thấy buồn thì cũng không sao. Không nên chạy trốn, cứ để cho nỗi buồn ở đó một lúc. Rồi với sự thực tập ta có thể chuyển đổi tình trạng. Thật ra khi buồn ta vẫn có nhiều cách để đem tới niềm vui. Thiền sỏi là một phép thiền vui có thể thực tập một mình hay cùng với bạn bè.

Hơi thở chánh niệm cũng có thể giúp ta bớt buồn. Hơi thở vào, ra trong chánh niệm có năng lực làm cho thân tâm, và cảm thọ của mình trở nên lắng dịu. Trong khi thở và quán chiếu ta thấy mình là mặt hồ tĩnh lặng, yên tịnh. Vì vậy, buồn là cơ hội để ta thực tập chế tác năng ra lượng yên tịnh và bình an trong ta.

96. Con nít thích xem ti vi

H. Tại sao con nít hay thích xem ti vi?

Tl. Bởi vì cha mẹ bận việc quá nên ti vi đã trở thành người giữ em. Xem ti vi đôi khi cũng tốt bởi vì ti vi có nhiều chương trình hay, có thể học được nhiều điều hay, biết được nhiều điều hữu ích. Nhưng cũng có nhiều chương trình đầy bạo động. Có những chương trình khác chiêu dụ sự ham thích để mình đòi cha mẹ mua sắm thứ này thứ kia. Vì vậy, cho trẻ em xem ti vi nhiều quá là không tốt. Nếu người lớn không quá bận việc thì có thể dành nhiều thì giờ hơn để chơi với con cái, và trẻ nhỏ sẽ không phải xem ti vi nhiều quá. Có nhiều hoạt động rất hay có thể cho ta rất nhiều niềm vui mà không cần đến ti vi.

Có một dịp chúng tôi có một khóa tu có 300 em tham dự. Ban đầu có em phản đối vì không có ti vi và các trò chơi điện tử. Nhưng sau đó vì khóa tu vui quá nên các em đã quên mất ti vi và sinh hoạt cùng với nhau rất vui vẻ cho đến hết khóa tu. Vì vậy, chúng ta phải tìm cách thay thế ti vi bằng những thú tiêu khiển thích thú hơn.

97. Phật tử có được đi câu cá không?

H. Phật tử có được đi câu cá không?

Tl. Theo như Hai Lời Hứa (hai Thực Tập Chánh Niệm của thiếu nhi) thì chúng ta phải bảo vệ sinh mạng của con người, của thú vật, cây cỏ, và đất đá.

Con xin mở rộng lòng thương và tìm cách bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.

Con xin mở rộng tầm hiểu biết để có thể thương yêu và chung sống với mọi người và mọi loài, cỏ cây, cầm thú và đất đá.

Vì vậy, nếu đi câu là phạm giới. Giả sử con là con cá đang bơi lội tung tăng bỗng nhiên bị sa vào lưới ông chài. Con sẽ không về được với ba cá, mẹ cá nữa. Chắc là con sẽ đau khổ vô cùng. Cho nên không đi câu cá là thực tập hạnh từ bi. Hãy để cho cá có cơ hội được sống.

Tuy nhiên sinh vật nào cũng cần kiếm thức ăn để sống. Vì vậy, thỉnh thoảng chúng ta phải đi câu cá, nếu không chúng ta sẽ chết đói. Nguyên tắc là khi ta không cần cá, không cần giết một sinh vật để có thức ăn thì ta không nên câu cá. Các loài động vật khác cũng làm như vậy. Một con sư tử chỉ đi săn mồi khi sư tử mẹ, sư tử con bị đói. Khi không đói thì sư tử không đi săn mồi. Loài người chúng ta phải học theo các loài thú. Các loài động vật không giết hại nhau trừ phi chúng cần thức ăn. Ngoài ra việc thực tập hai lời hứa sẽ đem lại hạnh phúc cho ta và cho các sinh vật khác nữa. Chúng ta sẽ cố gắng hết lòng dù không ai có thể giữ giới không sát sinh một cách toàn vẹn.

Chính ngay Bụt cũng không thể giữ giới thứ nhất một cách tuyệt đối, bởi vì Bụt phải đi đây đi đó, Bụt cũng cần thức ăn. Khi đi, Bụt có thể đạp chết sâu bọ dưới chân mặc dù Bụt không cố ý. Vào thời Bụt, Bụt và tăng đoàn đã an cư trong suốt ba tháng mùa mưa để tránh đi lại trong khoảng thời gian đó và tránh giẫm đạp lên các sâu bọ đang mùa sinh trưởng. Khi đi trên thảm cỏ rất có thể ta sẽ đạp lên trên các sinh vật sống trong cỏ. Có một bài thơ rất cảm động trong cuốn sách Bước tới thảnh thơi – tập sách Thầy đã viết cho các sa di. Con có thể dùng bài thơ ấy để thực tập thở vào, thở ra, hay khi thức dậy mỗi buổi sáng đặt chân vào dép, hay khi mang giày vào trước khi đi học.

       Sáng, trưa, chiều và tối
       Mọi loài hãy giữ gìn
       Nếu dưới chân lỡ đạp
       Xin nguyện chóng siêu sinh.

Ngay cả khi ăn chay ta phải luộc rau củ, khi luộc ta có thể đun sôi các loài sâu hay vi trùng sống trong rau quả. Cho nên một đĩa thức ăn chay không bao giờ hoàn toàn chay tịnh. Điều đáng nhớ là chúng ta nên cố gắng hết lòng mặc dù biết rằng ta không thể làm điều đó một cách trọn vẹn. Cố gắng hết lòng là tốt rồi. Không cần phải thực tập từ bi một cách tuyệt đối. Chỉ cần cố gắng mỗi ngày một chút trên đường thực tập từ bi là ta sẽ có bình an trong tâm, và ta đã đóng góp vào bình an cho toàn thế giới.

Đi về hướng tôn trọng sự sống là rất tốt, bởi vì ta đi về hướng cứu giúp mạng sống của mọi loài động vật, cỏ cây và đất đá.

98. Sống đời tâm linh hay gặp nạn

H. Jesu, Martin Luther King, Jr. và Gandhi bị ám sát. Tại sao các vị sống đời tâm linh lại hay gặp nạn dữ?

Tl. Khi trong tâm còn đầy hiểu lầm và sợ hãi người ta dễ làm những việc hung bạo. Họ cho rằng mục sư Martin Luther King, Jr. là một người nguy hiểm. Đó là một tri kiến sai lầm. Tri giác sai lầm là nguồn gốc của mọi sự sợ hãi và tức giận. Vì vậy, sự thực tập của chúng ta là tháo gỡ những tri giác sai lầm ấy. Những nhà lãnh đạo tâm linh như Gandhi và mục sư King không buồn giận khi bị giết. Trái lại các Ngài cảm thương cho những người đã giết các Ngài, bởi vì các Ngài biết rằng chính tri giác sai lầm, giận dữ, và sợ hãi đã đưa đến những hành động như thế. Thế giới chúng ta cần rất nhiều thương yêu và hiểu biết, và sự thực tập của chúng ta là làm sao để thương yêu và hiểu biết được thể hiện nhiều hơn.

Nhìn cho sâu chúng ta thấy rằng nếu xóa bỏ tri giác sai lầm thì hiểu biết và thương yêu sẽ hiển lộ. Tu tập giáo pháp, sử dụng ái ngữ và lắng nghe sâu, chúng ta có thể giúp nhau xóa bỏ tri giác sai lầm để không ai còn sợ hãi và sân hận. Đó là điều ta nên làm để chấm dứt chiến tranh, ngăn ngừa khủng bố, và xây dựng hòa bình.

Không thể nào ngăn chặn khủng bố bằng bom, bằng súng. Sử dụng bom và súng chỉ sinh ra thêm nhiều khủng bố và làm cho tình trạng khủng bố lớn mạnh hơn. Mỗi chúng ta đều có hạt giống của hiểu biết và thương yêu. Ta gọi đó là Phật tính. Sự thực tập là khơi dậy những hạt giống thiện căn ấy và giúp chúng phát triển lớn mạnh từng ngày.

99. Giúp người khác vượt qua sợ hãi

H. Làm thế nào để giúp người khác vượt qua nỗi sợ đau nhức thể xác và sợ chết?

Tl. Trước hết, ta phải giúp được cho chính mình. Ta phải biết cách xử lý với sợ hãi và đau nhức của ta. Nói cho cùng, sở dĩ ta giúp người khác được là vì ta đã có kinh nghiệm trực tiếp về việc ôm ấp nỗi sợ hãi và đau nhức của ta. Đau khổ và sợ hãi không phải là kinh nghiệm riêng mình ta. Đau khổ và sợ hãi của ta cũng là đau khổ và sợ hãi của cha mẹ, bạn bè ta. Có anh trong tôi và có tôi trong anh. Nếu có điều gì đó tốt lành xảy đến cho tôi thì điều lành ấy cũng xảy đến cho tất cả chúng ta. Ngược lại, nếu có điều dữ xảy đến cho tôi thì điều dữ ấy cũng xảy đến cho tất cả chúng ta. Trong nghĩa đó, em bé là người lớn và người lớn là em bé. Câu trả lời này phát xuất từ tuệ giác vô ngã. Nhờ tuệ giác vô ngã mà ta thấy rằng hạnh phúc là hạnh phúc của cả tập thể. Không có sự tách biệt.

Giả thử ta đã thực tập buông thư được những căng thẳng trong thân tâm, làm lắng dịu những bức xúc, đau nhức và cảm thấy khỏe nhẹ hơn. Ta biết rõ cách thực tập như thế. Giờ đây, khi nhìn thấy một người đang căng thẳng, đau nhức thì ta có thể chỉ cách cho người ấy thực tập. Người ấy sẽ tin tưởng ta vì ta đã có kinh nghiệm trực tiếp. Vì vậy, ta phải tự mình làm được trước. Chỉ bằng cách ta sống, cách ta xử lý mọi tình huống cũng đủ để ta giúp ích cho người khác rồi. Những người khác khi nhìn thấy ta phản ứng một cách bình tĩnh và dễ thương họ sẽ bắt đầu học hỏi nơi ta.

100. Chuông chánh niệm

H. Chuông chánh niệm có nghĩa là gì?

Tl. Chuông chánh niệm giúp ta trở về với ta, trở về với hơi thở chánh niệm, để ý thức rằng ta đang còn sống, ta đang ở đây, đi đứng trên địa cầu xinh đẹp này. Tiếng chuông là tiếng gọi kêu ta trở về với giây phút hiện tại. Rất nhiều âm thanh có thể dùng làm tiếng chuông chánh niệm. Tiếng chuông chùa, tiếng chuông nhà thờ, tiếng chuông đồng hồ, và ngay cả tiếng chuông điện thoại cũng có thể xem như là tiếng chuông chánh niệm.

Thiền điện thoại là một phép thiền tuyệt vời. Trước khi ta nhấc điện thoại lên, điện thoại cầm tay hay điện thoại bàn, ta thở vào, thở ra để an tịnh thân tâm. Sau đó đọc thầm bài kệ:

       Tiếng đi ngoài ngàn dặm
       Xây dựng niềm tin yêu
       Mỗi lời là châu ngọc
       Mỗi lời là gấm thêu.

Ta thở vào, thở ra, đọc thi kệ, rồi bấm số điện thoại. Điện thoại đầu dây bên kia reo, nhưng người đầu dây bên kia cũng đang thực tập thiền điện thoại. Vì đang theo dõi hơi thở cho nên người ấy không trả lời điện thoại ngay mà đợi điện thoại reo ba lần.

Rồi người ấy nói thầm:

       Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe
       Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.            

Trong khi đó ta vẫn tiếp tục thở vào, ra, thưởng thức từng hơi thở và chờ người bên kia trả lời. Khi người ấy trả lời thì chắc chắn cuộc đối thoại sẽ rất vui vẻ vì cả hai đã thực tập, đều đang bình tĩnh và mỉm cười. Đó là thiền điện thoại. Thầy có nhiều người bạn, có người là giám đốc hãng, họ rất thích thiền điện thoại. Họ cho Thầy biết rằng thực tập như thế họ cảm thấy vui hơn khi làm việc. Tại Làng Mai mỗi khi tiếng chuông điện thoại reo mọi người đều dừng lại, thực tập hơi thở chánh niệm. Cho nên tiếng chuông là một người bạn, một sáng kiến để giúp chúng ta thực tập. Khi sử dụng máy vi tính, ta có thể bị lôi cuốn và quên đi là mình đang còn sống. Cho nên ta có thể cài đặt tiếng chuông vào máy vi tính để cứ mỗi mười lăm phút máy sẽ phát ra một tiếng chuông để nhắc nhở ta trở về với mình, mỉm cười và thở trong chánh niệm trước khi tiếp tục. Nhiều người đã thực tập như thế. Tiếng chuông nhắc ta trở về để thưởng thức hơi thở là một cơ hội nghỉ xả hơi tuyệt vời./.

Chương 5: Bệnh tật và sức khỏe, chết và sắp chết

73. Liên hệ giữa bệnh tật và thiền tập

H. Tôi có nghe nói rằng những người bị bệnh nặng vô phương cứu chữa có thể kéo dài sự sống nhờ thực tập đạo Bụt và thiền tập. Như vậy liên hệ giữa bệnh tật và thiền tập là như thế nào?

Tl. Thiền tập có khả năng chữa trị rất lớn. Thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm giúp ta thư giãn thân và tâm. Khi cơ thể trở về trạng thái tự nhiên, quân bình, không phải làm việc quá sức và không bị căng thẳng dồn ép thì khả năng tự chữa trị của cơ thể bắt đầu có hiệu lực.

Các loài động vật rất khôn ngoan. Một con thú rừng khi bị thương biết cần phải làm gì để lành vết thương. Đó là nhờ vào trí khôn từ nhiều thế hệ tổ tiên truyền lại. Nó tìm một nơi yên tĩnh để nằm nghỉ, nó không cần đến thức ăn hay chạy theo các con vật khác. Nó chỉ nằm yên, nghỉ ngơi, sau vài ngày vết thương lành thì nó mới hoạt động lại.

Loài người chúng ta đã mất đi khả năng nghỉ ngơi. Chúng ta lo lắng nhiều quá, không để cho thân và tâm có cơ hội hồi phục. Ngay cả khi có được vài tuần đi nghỉ hè du lịch ta cũng không biết cách nghỉ ngơi. Những lo lắng, bức xúc, sợ hãi của chúng ta làm cho tình trạng trở nên tồi tệ. Thiền tập có thể giúp ta thư giãn, buông thư những căng thẳng, giúp ta ôm ấp những lo lắng, sợ hãi, giận hờn của ta. Đó là khả năng chữa trị rất lớn của thiền tập. Hãy để cho cơ thể điều hành tự nhiên. Học lại cách nghỉ ngơi và thư giãn là rất quan trọng.

Khi chúng ta cảm thấy trong lòng có bình an thì những bộ phận của thân và tâm ta sẽ hoạt động một cách điều hòa. Đó là nền tảng của sức khỏe. Khi những bộ phận của cơ thể cùng nhau hoạt động hòa điệu thì các chất sinh hóa trong cơ thể ta được điều tiết đúng mức. Những chất hóa học như adrenaline sẽ không tiết ra quá độ.

Bụt có nói tới “mũi tên thứ hai.” Khi ta bị một mũi tên bắn vào người ta cảm thấy rất đau. Nhưng giả sử có một mũi tên thứ hai cắm vào ngay vết thương của mũi tên thứ nhất thì sự đau đớn sẽ tăng lên gấp mười lần. Bụt khuyên chúng ta là mỗi khi có đau nhức trong thân và tâm thì hãy theo dõi hơi thở, ghi nhận nỗi đau nhưng đừng quá để tâm hay phóng đại nỗi khổ niềm đau đó. Nếu cứ mãi lo lắng, sợ hãi, chống cự, giận hờn thì niềm đau trong ta sẽ tăng lên gấp nhiều lần. Sự lo lắng, sợ hãi của ta chính là mũi tên thứ hai. Vì vậy, ta phải cẩn trọng bảo hộ mình, đừng để cho mũi tên thứ hai bắn vào nữa.

74. Thực tập cho những người mắc bệnh nan y

H. Có con đường thực tập tâm linh nào cho những người mắc bệnh nan y không?

Tl. Một căn bệnh ngặt nghèo có thể là tiếng chuông chánh niệm thức tỉnh ta, là cơ hội để ta tu tập và bắt đầu một nếp sống tâm linh. Vì vậy, bệnh tật cũng có phần tốt, giúp ta lớn lên. Bệnh tật là tiếng chuông chánh niệm cho chúng ta và những người xung quanh ta. Sự thực tập biết chấp nhận, không lo lắng, vui trong giây phút hiện tại có khả năng chữa trị rất lớn. Nhiều người bị ung thư đã có thể kéo dài sự sống khá lâu nhờ thực tập được như thế.

Một anh bạn ở Canada đến thăm tôi và cho tôi hay tin là bác sĩ dự đoán rằng anh chỉ có thể sống được thêm hai tháng. Tôi nói với anh; “Anh hãy thưởng thức tách trà này với tôi. Hãy quên hết mọi việc, chỉ ý thức rằng anh đang còn sống, đang ngồi với tăng thân. Hãy chú tâm vào tách trà và vui trong giây phút này.” Và anh ta đã làm được như vậy. Sau khi tiếp nhận Năm Phép Thực Tập Chánh Niệm và áp dụng sự thực tập ấy hàng ngày, anh ta đã sống thêm mười ba năm nữa. Vì vậy, chúng ta không thể nào biết trước được tương lai ra sao. Hãy học hỏi và tu tập, tận hưởng những năm tháng còn lại của đời mình. Trong khi còn sống thì nên vui sống trong từng giây phút và dành thời gian để quán chiếu sâu sắc tự tánh bất sinh bất diệt của mình. Hãy nhìn đám mây trên trời. Đám mây không thể nào chết được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa hay thành tuyết. Là một đám mây bay lơ lửng trên bầu trời thì rất đẹp, nhưng khi đám mây rơi xuống thành mưa cũng rất đẹp. Với tuệ giác đó, ta không còn sợ hãi. Nếu trong đời sống hàng ngày, ta có những ý nghĩ tốt đẹp, nói những lời ái ngữ, hành động đầy thương yêu thì đó là những cách giúp ta đi về tương lai một cách tươi đẹp. Sự tàn hoại của hình hài này không phải là một sự kết thúc. Tuệ giác đó chính là nền tảng cho hạnh phúc đích thực và không sợ hãi. Mọi thứ đều có thể là tiếng chuông chánh niệm, kể cả khổ đau. Tuổi già, bệnh tật và cái chết đều là những tiếng chuông chánh niệm cho ta, là những thông điệp đầy sức mạnh. Vậy thì chúng ta hãy hướng về những tiếng chuông chánh niệm ấy và đi theo hướng đi chung mà nhân loại nên đi. Hãy nắm tay nhau cùng đi, bởi vì nếu chúng ta không cùng nhau thì chúng ta sẽ không có hy vọng.

75. Thiền tập để chữa trị chứng trầm cảm

H. Nhiều người mắc chứng trầm cảm kinh niên do các hóa chất trong cơ thể tạo ra. Có thể dùng thiền tập để chữa trị hay dùng cả dược phẩm được không?

Tl. Những tâm hành của chúng ta như sự lo sợ, hờn giận, và tuyệt vọng sản sinh ra những hóa chất đi vào trong máu huyết. Tâm ảnh hưởng tới thân và thân ảnh hưởng tới tâm. Thân và tâm tương tức với nhau. Tôi không chống lại việc dùng dược phẩm, nhưng tôi muốn nhấn mạnh và khuyến khích thực tập chánh niệm để khỏi bị lệ thuộc vào dược phẩm. Một ngày nào đó ta sẽ nhận ra rằng ta có thể sống mạnh khỏe mà không cần dùng đến thuốc men. Có nhiều cách để thay đổi sự vận hành của tâm thức. Nếu biết cách chuyển đổi tâm hành của mình thì chúng ta sẽ biết cách thư giãn, biết cách ôm ấp và chuyển hóa nỗi sợ hãi, lo lắng trong ta. Khi ta chuyển đổi được các tâm hành thì ta sẽ chuyển đổi được cơ cấu hoạt động của cơ thể, tạo nên một sự thăng bằng giữa các hóa chất được tiết ra trong cơ thể.

Nếu nghĩ rằng ta cần dùng thuốc thì cứ dùng. Nhưng đừng nên tin cậy hoàn toàn vào thuốc mà nên tin tưởng vào sự thực tập và sự chuyển hóa của tự thân. Môi trường sống rất quan trọng. Có những loại gen, bản thân chúng không tự hoạt động được mà phải nhờ vào môi sinh kích hoạt. Vì vậy, hãy chọn cho mình một môi trường sinh sống lành mạnh, có nhiều yếu tố nuôi dưỡng và tưới tẩm những hạt giống tích cực, vui tươi, thương yêu và không sợ hãi trong ta. Ta sẽ nhận ra rằng nhờ đó mà ta được chữa trị nhanh chóng. Tất cả những gì ta đang tiếp xúc như chuyện trò, phim ảnh, sách báo, âm nhạc… đều có thể khơi dậy những nét đẹp trong ta. Khi nghe một bài pháp thoại, những hạt giống tích cực trong ta sẽ được tưới tẩm. Khi biết được những hành vi thương yêu của người khác ta sẽ thêm tin tưởng về cuộc đời và về tương lai. Điều đó sẽ tưới tẩm hy vọng và thương yêu trong ta. Cho nên hãy để cho những hoàn cảnh tốt đẹp tưới tẩm những hạt giống tích cực trong ta.

Hãy thiết lập ra những cộng đồng có cuộc sống lành mạnh cho con cháu, bạn bè, những cộng đồng sống bình dị, bớt tiêu thụ, để cho mọi người trong cộng đồng được hạnh phúc hơn. Nếu để dành cuộc đời mình cho việc xây dựng những cộng đồng sống lành mạnh và bình dị như thế thì ta sẽ có rất nhiều niềm vui. Những người sống với ta trong những cộng đồng ấy biết mỉm cười, biết thưởng thức từng bước chân đi, biết sống an trú trong giây phút hiện tại. Như vậy thì sự chữa trị sẽ tiến triển một cách rất khả quan.

76. Vấn đề trợ tử

H. Một người bị bệnh lâu ngày và chịu rất nhiều đau đớn có được phép tự kết liễu đời mình hay không sau khi đã bàn luận với gia đình và tăng thân?

Tl. Vào thời Bụt cũng có nhiều vị khất sĩ trong tăng đoàn của Ngài bị bệnh. Và Bụt đã giảng nhiều bài pháp về cách thực tập vào những lúc sắp chết, đặc biệt là bài pháp Độ Người Hấp Hối và Ngũ Quán (Năm điều quán tưởng). Chúng ta nên học các kinh đó để giúp cho những ai bị bệnh hay sắp chết. Chúng ta cũng có thể học để áp dụng các kinh ấy cho chính mình trong trường hợp lâm bệnh nguy kịch. Có nhiều cách để giúp giảm thiểu đau nhức trong cơ thể. Đức Phật dạy chúng ta cách thực tập để bớt cảm thấy đau đớn. Chúng ta ghi nhận sự có mặt của đau nhức nhưng chúng ta không để cho đau nhức gia tăng vì sự sợ hãi hay tuyệt vọng của chúng ta.

Về câu hỏi có nên tự kết liễu đời mình khi bản thân không còn chịu đựng được nữa, câu trả lời của tôi là trước hết phải tìm sự giúp đỡ. Không nên áp dụng phương pháp trợ tử một cách giáo điều, cứng nhắc mà phải xem xét từng trường hợp cụ thể. Đôi khi chúng ta phải giúp người bệnh thực hiện ý muốn của mình vì người ấy bị cơn đau hành hạ quá mức đến nỗi nếu ta vẫn để cho người ấy tiếp tục bị đau đớn thì dường như ta đang đi ngược lại với sự thực tập từ bi. Tuy nhiên, chúng ta phải quyết định theo tuệ giác chung của tập thể các bác sĩ, của gia đình và chính đương sự. Tuệ giác tập thể của tăng thân, của cộng đồng, là điều cốt yếu để xác định những gì cần phải làm trong trường hợp này.

Nếu có một bác sĩ hay một người bạn am tường về chứng đau nhức đó thì người ấy có thể cho bệnh nhân biết rõ về bệnh trạng để bệnh nhân không bị cảm xúc mạnh như sợ hãi, giận dữ hay tuyệt vọng. Cũng có cách khác để thực tập với cơn đau nhức. Đó là tái lập sự thăng bằng bên trong để cơ thể có thể chịu đựng được cơn đau. Khi tưới tẩm những hạt giống tích cực trong ta thì ta sẽ bớt khổ đau và có thể chịu đựng lâu dài hơn. Vì khi bị đau đớn quá nhiều ta thường có cảm giác là không còn đủ sức tự chủ. Khi một người bạn đến cầm tay ta, ta có cảm giác là ta sẽ chịu đựng được cơn đau lâu hơn. Trong ta vẫn có những yếu tố của sức mạnh và hạnh phúc. Khi những yếu tố đó được biểu hiện sẽ giúp tái lập được sự thăng bằng. Nhờ đó mà ta có thể chịu đựng đau nhức dễ hơn.

Khi một người chị của Sư cô Chân Không hấp hối trong cơn mê sảng và không ngừng đau đớn, rên siết. Chồng con và cả các bác sĩ không biết phải làm gì. Sư cô Chân Không tới nhưng không nói chuyện được với chị vì bà ấy đang trong cơn mê sảng. Sư cô bèn mở máy ghi âm bài niệm danh hiệu Nam mô Bồ Tát Quán Thế Âm do các sư cô Làng Mai đồng tụng bằng tiếng Việt và đặt ống nghe sát vào tai người chị. Chỉ vài phút sau thì như một phép lạ, chị Sư cô yên dịu hẳn và không còn rên siết nữa. Và từ đó cho đến lúc trút hơi thở cuối cùng bà ấy không rên la vì đau đớn nữa.

Người chị của Sư cô Chân Không đã từng tu tập, đã nghe bài tụng ấy từ trước và nhận ra bài tụng truyền thống tâm linh của mình. Trong những tuần lễ cuối cùng của đời bà, bài tụng ấy đã là một nguồn suối bình an, thư thái cho bà. Trong lúc đó thì không ai biết làm thế nào để giúp bà tiếp xúc với những hạt giống an bình trong bà. Những hạt giống ấy đã bị suy nhược vì bị cơn đau nhức và tuyệt vọng tràn ngập. Tiếng tụng niệm đã đi vào trong tâm thức và chạm tới nguồn năng lượng tâm linh trong bà. Nguồn năng lượng tâm linh ấy đã cho bà đủ sức mạnh để phục hồi sự thăng bằng cần thiết.

Chúng ta phải ý thức rằng, mặc dù cơ thể bị đau nhức nhưng trong ta vẫn còn những yếu tố không bị đau ốm ảnh hưởng như sự vững chãi, an lạc và niềm tin. Để phục hồi sự thăng bằng ta cần tiếp xúc với những yếu tố ấy. Là đệ tử của Bụt chúng ta biết phải làm gì khi có một bệnh nhân đang hấp hối hay đau đớn, hay có những ai bị mất thăng bằng trong thân, tâm. Khi Bụt hay các đại đệ tử của Ngài đến thăm những người đang hấp hối, quý Ngài luôn biết cách giúp bệnh nhân phục hồi sự thăng bằng để giảm thiểu bớt đau đớn. Đó là phép tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc và bình an. Điều này luôn luôn mang đến nhiều hiệu quả.

77. Khi người thân tự vẫn

H. Sự thực tập chánh niệm giúp ích được gì trong trường hợp có một người thân tự vẫn?

Tl. Một người tự vẫn là vì người ấy không thể xử lý được đau khổ của mình về mặt tinh thần cũng như thể xác, hay mỗi khi có cảm xúc mạnh. Nếu trước đó chúng ta đã không biết để ngăn chặn thì nay ta phải học để sẵn sàng giúp cho những người có ý định tự tử trong tương lai. Chúng ta vẫn còn có nhiều người thương đang sống với ta. Nếu ta không để ý thì một trong những người thương đó của ta cũng có thể tự vẫn. Vì vậy, ta phải học từ bài học của quá khứ. Đừng để sự việc ấy xảy ra thêm một lần nữa. Việc mất đi một người thân có thể là một nhân duyên để ta cứu giúp cho những người khác. Thấy rõ như vậy, ta phải tu tập. Ta có thể giúp một người đang gặp khó khăn thấy được rằng người ấy có thể sẽ trở thành một vị Bồ tát, một bậc đại nhân có khả năng giúp đỡ những người khác đang gặp đau khổ. Một người đang gặp khó khăn, bối rối có thể không biết xử lý ra sao với cuộc đời của mình. Ta có thể chỉ cho họ thấy rằng có một cách rất mầu nhiệm là cống hiến cuộc đời mình cho mục đích giúp người bớt khổ. Rất nhiều người đã làm được như vậy. Nếu ta giúp được những người như thế chuyển hóa thì người thân đã mất có thể mỉm cười vì cái chết của người đó đã trở nên hữu ích.

78. Chuyển hóa sự sợ hãi

H. Con tôi đang bệnh rất nặng. Tôi phải làm gì để có thể chuyển hóa sự sợ hãi?

Tl. Nếu nhìn cho sâu sắc thực tại trong ta cũng như xung quanh ta, thì chúng ta sẽ thấy rằng khi đầy đủ nhân duyên thì sự vật sẽ hiển lộ một cách toàn vẹn hình sắc của nó. Nhưng khi nhân duyên chưa đầy đủ thì sự hiển lộ cùng lúc sẽ chấm dứt. Hiểu được như thế thì chúng ta sẽ vơi đi đau khổ. Nếu đứa bé không tiếp tục được đời sống của mình trong lúc này thì em sẽ tìm cách biểu hiện trở lại mai sau.

Có một mùa đông ở Làng Mai khí hậu khá ấm, khiến những cây hoa anh đào Nhật Bản nở sớm hơn mọi năm. Trong khi đang đi thiền hành, tôi nghĩ thầm: “Năm nay chúng ta sẽ có hoa đẹp để trang trí cho thiền đường vào dịp Tết.” Thế nhưng một tuần sau, trời đột ngột trở lạnh, làm cho các nụ hoa đều bị đông đá. Khi đi thiền hành tôi lại nghĩ: “Bao nhiêu nụ hoa đều chết cả rồi, đâu có hoa để trưng thiền đường nữa”. Nhưng khoảng mười ngày sau, đi thiền hành tôi lại thấy hoa anh đào nở nụ. Và tôi biết rằng cuối cùng thì chúng tôi cũng sẽ có những bông hoa đẹp.

Khi nhân duyên không hội tụ đầy đủ thì hoa tạm thời ẩn tàng để rồi xuất hiện trở lại. Em bé cũng như vậy. Nếu nhân duyên không hội tụ đầy đủ để đứa bé có thể biểu hiện trên cuộc đời này, thì em sẽ ẩn tàng để rồi sẽ biểu hiện trở lại một ngày nào đó. Thấy được như vậy anh sẽ bớt đau buồn hơn. Anh không mất con đâu. Hãy để cho đứa bé ẩn tàng để rồi biểu hiện trở lại. Điều này cũng đúng với tất cả muôn loài, sinh vật, hoa, trái, v.v… Nếu chúng ta biết nhìn bằng con mắt ấy thì chúng ta sẽ không quá đau khổ khi mất mát. Vô thường là một sự thật. Nhờ tuệ giác vô thường mà ta có thể đứng vững trước những đổi thay của cuộc sống. Chúng ta sẽ không bị ngã gục bởi vì chúng ta biết rằng không có gì mất đi. Khi nhân duyên hội tụ đầy đủ, thì người thương của ta sẽ biểu hiện trở lại thật nhiệm mầu.

79. Chấm dứt tình trạng ăn uống quá độ

H. Tại sao có quá nhiều người bị béo phì? Làm thế nào để chấm dứt thói quen ăn uống một cách quá độ?

Tl. Những người không thể ngừng ăn uống là vì họ cảm thấy trống trải trong lòng. Họ không thể xử lý những đau khổ của mình và vì thế sự trống trải trong họ càng làm họ thêm đau khổ. Đi vào nhà bếp kiếm một cái gì đó để ăn là một cách để quên lãng tình trạng bất an và bực bội. Tại Làng Mai, chúng tôi thực tập giới không ăn phi thời ngoài những bữa ăn cùng đại chúng. Mỗi sư thầy và sư cô đều có một bình bát được gọi là ứng lượng khí, dùng để lấy chỉ vừa đủ lượng thức ăn cần thiết. Ta có thể tổ chức một nhóm cùng thực tập như thế, cùng ăn chung vui vẻ, ăn uống chừng mực theo tinh thần của sự thực tập Năm Quán.

Khi có tăng thân thương yêu yểm trợ ta có thể tập được những thói quen mới một cách dễ dàng. Chánh niệm giúp cho ta nhận diện được tập khí. “Xin chào, tập khí của ta ơi. Ta biết ngươi đang có đó. Ngươi xúi ta đi vô nhà bếp và mở tủ lạnh để tìm thức ăn.” Khi phải thực tập một mình ta sẽ thấy khó khăn hơn. Sự cám dỗ có thể mạnh hơn năng lượng chánh niệm của ta. Nhưng khi chánh niệm là năng lượng của tập thể thì năng lượng ấy sẽ mạnh hơn nhiều. Khi ta sống trong một cộng đồng có năm ba người thực tập giỏi thì mọi chuyện sẽ dễ dàng hơn. Và từ từ chúng ta sẽ huân tập thêm tập khí mới.

Nhờ vậy mà khi ăn ta sẽ thấy an lạc hơn. Khi ăn ta chỉ chú tâm vào từng miếng thức ăn, từng miếng cà rốt, từng miếng bánh đang nhai. Ta đón nhận miếng cà rốt, miếng bánh như những sứ giả của vũ trụ. Mỗi miếng ăn là một cơ hội thực tập. Nếu nhai miếng thức ăn thật kỹ, hai mươi, ba mươi lần, ta sẽ cảm thấy không cần phải ăn nhiều nữa. Cơ thể ta sẽ báo cho ta biết khi nào thì nên dừng lại. Hãy lắng nghe cơ thể của mình, cơ thể ta biết rõ điều đó.

80. Khi chết tâm thức ta đi về đâu?

H. Sau khi ta chết điều gì sẽ xảy ra cho tâm thức ta?

Tl. Cái gì đang xảy ra cho tâm thức ta khi ta còn sống? Nếu ta trả lời được câu hỏi này thì ta có thể trả lời câu hỏi kia. Chúng ta phải tập nhìn thực tại bằng con mắt vượt thoát hình tướng. Khi nhìn một cây bắp, ta không thấy hạt bắp đã nẩy mầm thành cây bắp. Nhưng nếu nhìn cho sâu ta sẽ thấy hạt bắp dưới một hình dạng khác là cây bắp. Đây là một sự thực tập rất sâu sắc, là cửa ngõ đưa tới giải thoát khỏi những sợ hãi, tham đắm và tuyệt vọng.

Ta không có khả năng thấy được mình một cách rõ ràng và sâu sắc và cũng không có khả năng thấy được người khác thực rõ, thực sâu. Chúng ta thường chỉ chạm được bên trên bề mặt của của mọi sự vật, hiện tượng. Ta không biết ta sự thực là ai và người kia sự thực là ai. Vì thế cho nên những khái niệm của ta về sự vô sinh bất diệt, về có, về không, cũng là những khái niệm rất cạn cợt. Thiền tập của đạo Bụt là để đưa nhận thức về hiện hữu của chúng ta đi sâu hơn, xa hơn. Khi ta nhìn một ai, ví dụ khi ta nhìn người thương, ta phải nhìn cho sâu. Hãy nhìn ngay bây giờ. Đừng đợi đến khi người thương chết rồi ta mới đi tìm.

Nhìn cho sâu ta sẽ thấy những tế bào trong cơ thể ta phối hợp nhau, hoạt động trôi chảy như một dòng sông. Ta thấy có dòng sông cảm thọ, những cảm thọ nối tiếp không ngừng. Ta thấy có dòng sông ý tưởng hay tri giác, có dòng sông tâm hành, và dòng sông tâm thức. Tâm thức ta không phải là thực tại bất biến mà là một quá trình chuyển biến không ngừng, một dòng chảy. Thân thể ta cũng không phải là một khối vững chắc bất động mà đang liên tục diễn biến. Tất cả các tế bào sinh diệt liên tục không ngừng.

Nhìn bằng con mắt vô tướng như thế sẽ giúp ta vượt thoát được hình tướng bên ngoài. Nếu ta có thể nhìn người thương bằng con mắt vô tướng thì ta sẽ không đau buồn khi hình tướng người ấy không còn nữa. Bởi vì mặc dù hình tướng ấy không còn nhưng người thương của ta vẫn còn đó. Sự tan rã của hình hài này không là gì cả. Không có gì mất đi hết. Nếu ta không còn hình tướng này thì ta có hình tướng khác. Nếu không là mây thì là mưa. Đó là sự thực tập. Hình hài, sự hiện hữu, và tâm thức của ta đan xen lẫn nhau, bao trùm khắp không gian và thời gian. Trong ý nghĩa đó thì không có “trước” và “sau” khi chết. Chúng ta phải chế tác năng lượng chánh niệm đủ mạnh để có được nhận thức đó. Khi đó ta sẽ vượt thoát được ý niệm sinh, tử.

81. Sau khi người thân qua đời

H. Làm sao để chúng ta có thể chấp nhận dễ dàng khi nghe rằng người thân của ta khi chết đi sẽ được tiếp nối dưới một hình thái khác?

Tl. Khi nhìn một cây cam, ta thấy cây cam cho ta nào cành, nào lá, nào trái ngọt, nào hoa thơm. Đó là những gì mà cây cam có thể hiến tặng cho cuộc đời. Chúng ta cũng vậy. Trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta đóng góp cho đời những ý nghĩ, những lời nói và những hành động của mình. Những ý nghĩ của ta có thể là rất đẹp, đầy hiểu biết, thương yêu. Những lời nói của ta có thể là rất đẹp, đầy hiểu biết, thương yêu. Những hành động của ta cũng có thể là rất đẹp, đầy hiểu biết, thương yêu. Nhìn cho sâu, ngay giây phút này, chúng ta đang chế tác ý nghĩ, lời nói, và hành động. Theo giáo lý đạo Bụt, ý nghĩ, lời nói và hành động của ta là sự tiếp nối đích thực của chính chúng ta.

Mỗi khi ta phát khởi lên một ý nghĩ, ý nghĩ ấy sẽ còn đó rất lâu. Mỗi khi ta nói lên một lời nói, lời nói ấy sẽ còn đó rất lâu. Mỗi khi ta hành động thì hành động của ta sẽ có ảnh hưởng lâu dài về tương lai. Giả thử chúng ta khởi lên một ý nghĩ đầy từ bi và bao dung thì ý nghĩ ấy ngay tức khắc có tác dụng chữa trị cho toàn thế giới và tiếp tục có tác dụng trị liệu lâu dài cho tương lai. Cho nên khởi tâm từ bi, bao dung và không kỳ thị là rất quan trọng.

Rất nhiều người nghĩ rằng sau khi thân thể này tan rã thì sẽ không còn gì nữa hết. Ngay cả nhiều nhà khoa học cũng đã nghĩ như vậy. Nhưng những ý nghĩ, những lời nói hay hành động của ta là những năng lượng có ảnh hưởng lâu dài. Cho nên nếu muốn có sự tiếp nối tốt đẹp thì phải đóng góp những ý nghĩ tốt đẹp, nói lời tốt đẹp, hành động tốt đẹp. Ta không thể nào triệt tiêu một con người. Không thể biến người đó thành không. Cũng như một đám mây không thể chết đi, con người cũng không thể trở thành hư vô. Vậy cho nên phải quán chiếu sâu sắc tự tánh của chính mình cũng như tự tánh của những người xung quanh, từ đó phát sinh tuệ giác giúp giải phóng chúng ta ra khỏi sự buồn giận và lo sợ. Đó là tuệ giác vô úy, tuệ giác bất sinh, bất diệt. Đó là hoa trái quý giá nhất của sự thực tập.

Chương 4: Đạo Phật đi vào cuộc đời

56. Đạo Bụt và vấn đề tranh đấu cho hòa bình

H. Liên hệ của đạo Bụt đối với vấn đề công bằng xã hội, hòa bình, và tranh đấu cho hòa bình là như thế nào?

Tl. Chúng tôi đã khởi xướng một phong trào mà chúng tôi gọi là “Đạo Phật Đi Vào Cuộc Đời” (Đạo Phật Nhập Thế). Chúng tôi muốn đưa đạo Phật vào khắp các sinh hoạt của đời sống – không những chỉ trong các chùa mà cả trong xã hội, trường học, gia đình, nơi làm việc, cho đến cả các sinh hoạt chính trị và quân sự. Hiểu và Thương phải có mặt ở khắp nơi.

Có nhiều người trong chúng ta muốn phục vụ cho hòa bình nhưng lại không có hòa bình trong tự thân. Chúng ta kêu gào trong phẫn nộ cho hòa bình, thậm chí ngay cả những nhóm tranh đấu cho hòa bình cũng xung đột mâu thuẫn lẫn nhau. Nếu tâm chúng ta không có bình an thì không thể nào có hòa điệu giữa những người đang hoạt động cho hòa bình được. Và nếu không có hòa hợp thì không có hi vọng. Nếu chúng ta chia rẽ, nếu chúng ta buồn chán thì chúng ta không thể phụng sự, chúng ta không làm được gì hết. Hòa bình phải bắt đầu từ chính chúng ta, từ sự thực tập ngồi yên, từ những bước chân chánh niệm, từ sự chăm sóc cho bản thân, và buông thư những căng thẳng đang có trong thân tâm. Vì vậy, thực tập để có được tâm bình an, thảnh thơi là nền tảng của thực tập xây dựng hòa bình. Tâm bình an, thảnh thơi phải có trước đã và phục vụ cho hòa bình bắt nguồn từ nền tảng đó.

Giây phút khi ta ngồi xuống và thở vào một hơi để cho thân tâm lắng dịu thì hòa bình đang trở thành sự thực. Thở hơi thở như thế chẳng khác gì là dâng lời cầu nguyện. Khi tâm bình an thì ta có thể thiết lập được liên hệ với người khác và có thể giúp người khác cũng có bình an. Cùng với nhau ta tạo thành một tập thể hòa bình, một tăng thân hòa bình. Sự thực tập có khả năng đem lại cho ta sự bình an ngay lập tức. Và khi tâm ta bình an hơn, ta dễ thương hơn, thì ta sẽ thành công hơn khi liên hệ với những người khác để mời họ cùng tham gia công tác xây dựng hòa bình. Khi tâm ta có bình an thì khi nói, khi nhìn, khi phản ứng ta luôn biểu lộ sự hòa bình, và ta có thể thuyết phục những người khác hợp tác với ta trong việc xây dựng hòa bình, hòa giải.

Không thể có hòa bình bằng cách chỉ ngồi lại với nhau rồi bàn bạc và sắp đặt kế hoạch. Phải học thở, học lắng dịu thân tâm, và có khả năng giúp người khác cùng thực tập. Nếu trong ta và trong người kia không có gì gọi là bình an thì tất cả những hoạt động của ta không thể xem là những hoạt động cho hòa bình một cách đúng nghĩa.

Chúng ta phải thực tập hòa bình ở nơi làm, ở nơi ở và trong trường học. Thầy cô giáo phải thực tập sống cho có hòa hợp, an lạc và dạy cho học trò của mình làm được như thế. Tổng thống của một quốc gia, hoặc vị lãnh đạo của một đảng chính trị phải thực tập sống hòa bình, phải luôn cầu nguyện cho hòa bình trước khi mời những nhà lãnh đạo chính trị khác cùng góp phần xây dựng. Lý tưởng nhất là một hội nghị hòa bình nên bắt đầu bằng thiền hành và thiền tọa. Hoặc là có một người hướng dẫn buông thư toàn thân để cho thân tâm không còn căng thẳng, buồn giận, lo sợ. Đó là đưa phẩm chất tâm linh vào đời sống chính trị, xã hội. Đó chính là đạo Phật đi vào cuộc đời.

57. Hăng say nhưng dễ chán nản

H. Nhiều người hoạt động hăng say cho hòa bình nhưng rồi chán nản vì thấy không có tiến bộ. Làm thế nào để tránh tình trạng kiệt quệ?

Tl. Chúng ta phải biết giới hạn của mình. Phải tổ chức đời sống sao cho chúng ta luôn được nuôi dưỡng và trị liệu. Giải pháp nằm ngay trong cộng đồng của chúng ta. Nếu làm việc cùng với một cộng đồng có tu tập, một tăng thân, thì chúng ta sẽ được năng lượng của tăng thân yểm trợ. Khi cảm thấy mệt mỏi vì phải cố gắng thì nên nhờ những anh chị khác trong nhóm giúp vào một tay để mình có thì giờ nghỉ ngơi, phục hồi sức lực rồi sau đó sẽ tiếp tục. Phải có can đảm từ chối, nếu không ta sẽ nhanh chóng đánh mất mình và điều đó sẽ không làm lợi lạc cho ai cả. Học cách từ chối không phải dễ, nhưng không phải là không làm được. Phải phục vụ như thế nào để không tự hủy hoại mình. Các bác sĩ, y tá, những chuyên gia tâm lý trị liệu, thầy cô giáo đều phải làm như thế, phải bảo tồn sức lực để có thể phục vụ lâu dài và giúp ích cho người khác. Gìn giữ sức lực của mình là gìn giữ cơ hội để phụng sự. Vậy thì câu trả lời là chăm sóc, gìn giữ cho bản thân và gìn giữ tâm từ bi. Điều này có thể thực hiện được một cách dễ dàng trong một tăng thân có tu tập.

58. Cứu nguy Đất Mẹ

H. Khí quyển Trái đất đang bị hâm nóng, các loài động vật đang có nguy cơ bị tiêu diệt, sông, biển bị ô nhiễm. Là Phật tử, chúng ta phải làm gì để cứu nguy Đất Mẹ?

Tl. Lần đầu tiên khi các phi hành gia gửi về hình ảnh của Trái đất được chụp từ trong không gian đã làm cho hàng triệu người xúc động khi nhìn thấy quê hương của nhân loại, một hành tinh xanh sống động trong vũ trụ, phì nhiêu, đẹp đẽ, một cõi tịnh độ đích thực, một thiên đường đích thực. Ấy vậy mà loài người chúng ta đã không biết trân quý và bảo vệ, trái lại còn đang hủy diệt Đất Mẹ. Vì thế mà chúng ta cần đến Bụt.

Bụt không phải là thần thánh, Bụt là một người tỉnh thức, một người thấy rõ những gì đang xảy ra. Bụt cũng chính là chúng ta. Vậy thì thực tập giáo lý đạo Bụt để giúp ta và những người xung quanh ta tỉnh ngộ ra rằng chúng ta đang có một hành tinh rất đẹp cần bảo vệ. Cho nên giác ngộ, tỉnh thức là rất quan trọng. Mỗi người trong chúng ta đều có hạt giống của sự tỉnh thức, và vì vậy chúng ta còn hy vọng. Nhờ sự tỉnh thức của cả tập thể mà mọi việc có thể được giải quyết và tiến hành một cách nhanh chóng. Vì vậy, mọi hoạt động mà chúng ta cần làm là phải nhắm tới việc thể hiện sự tỉnh thức tập thể.

Sự tu tập không còn là vấn đề cá nhân mà phải là sự thực tập tập thể. Thầy cô giáo phải thực tập chung với đồng nghiệp của mình và học trò. Các chuyên gia tâm lý trị liệu phải thực tập với bệnh nhân và đồng nghiệp. Các nhà làm phim phải sản xuất các bộ phim có tác dụng khơi dậy sự tỉnh thức. Các nhà báo phải viết những bài báo giúp cho người khác tỉnh thức. Tất cả mọi người ai cũng phải tham gia cổ vũ quảng bá sự tỉnh thức. Tỉnh thức là nền tảng của tất cả mọi sự thay đổi.

Để cho Phật, Pháp hiển lộ ta phải xây dựng tăng thân, đoàn thể của những người thực tập tỉnh thức. Tăng thân là nơi để ta nương tựa. Nương tựa Tăng thân là nương tựa Phật, nương tựa Pháp, và khi nương tựa tăng thân chúng ta sẽ cảm thấy được an toàn. Khi chúng ta có chánh niệm, có chú tâm, có tỉnh thức thì chúng ta là Phật, và tăng thân chúng ta là Phật. Đó là điều mà chúng ta phải thấy. Nếu thấy rõ sự thật ấy thì chúng ta không bao giờ tuyệt vọng. Tuyệt vọng là thảm họa. Tập thể tỉnh thức là hy vọng của chúng ta, là hy vọng của hành tinh chúng ta. Và tập thể tỉnh thức là một việc hoàn toàn có thể thực hiện.

59. Dùng võ lực để tự bảo vệ?

H. Chúng ta phải làm gì khi có người hành hung? Ta có thể dùng võ lực để tự bảo vệ hay không? Một quốc gia có thể dùng võ lực để tự bảo vệ hay không?

Tl. Có nhiều việc chúng ta có thể làm để tránh không bị xâm hại, về thể xác cũng như về tinh thần. Điều đó tùy thuộc vào cách sống hằng ngày của chúng ta. Chúng ta học sống như thế nào để không ai muốn xâm hại ta. Khi biết sống sao cho có tình huynh đệ, có thương yêu thì chúng ta sẽ được năng lượng hiểu biết và thương yêu che chở. Nếu sống có hiểu biết, có thương yêu thì ta sẽ có nhiều bạn bè bảo vệ cho ta. Đây là sự thực tập căn bản. Vì vậy không nên chờ đến lúc bị xâm hại mới học cách đối phó và tự vệ.

Khi còn là một thanh niên trẻ, Bụt rất giỏi võ nghệ. Với tài năng của mình, Bụt có thể đối phó khi bị tấn công. Chúng ta cũng có thể tập khí công hay các phương pháp bất bạo động để tự bảo vệ. Chúng ta ăn uống, nghỉ ngơi, làm việc như thế nào để giữ gìn sức khỏe và tăng cường sức chịu đựng. Chúng ta nuôi dưỡng chánh niệm, định lực và lòng từ bi. Mỗi khi có nguy cơ bị xâm hại, Bụt dùng chánh niệm, định lực, và lòng từ bi để khuất phục đối phương mà không cần phải sử dụng đến võ nghệ.

Sự thiếu hiểu biết sẽ đưa đến sợ hãi và giận dữ, khiến cho ta nghĩ ngay đến súng ống, vũ khí là giải pháp duy nhất. Thế nhưng có rất nhiều phương cách bất bạo động để bảo vệ quốc gia cũng như bảo vệ chính chúng ta. Võ lực là giải pháp cuối cùng. Khi một quốc gia có đoàn kết, khi có một vị lãnh đạo sáng suốt biết đối thoại và lắng nghe sâu thì quốc gia đó có nhiều đồng minh và không cần phải sử dụng đến quân đội nhiều. Thay vào đó quân đội sẽ có thì giờ để sửa đường, xây cầu và giúp dân.

60. Giúp các nhà lãnh đạo

H. Làm thế nào để giúp cho các nhà lãnh đạo trở nên tốt hơn?

Tl. Các nhà lãnh đạo đều có trong họ những hạt giống tích cực cũng như tiêu cực. Họ có thể có những người phụ tá không biết cách tưới tẩm những hạt giống tích cực mà chỉ tưới tẩm những hạt giống của sự sợ hãi, giận dữ, bạo động, và tham lam. Vì vậy, chúng ta phải tìm cách gần gũi các nhà lãnh đạo để giúp đỡ họ. Phản đối là một cách giúp nhưng cần phải khôn khéo để chứng tỏ việc phản đối đó là do tình thương chứ không phải do thù hận.

Các nhà lãnh đạo chính trị cũng như kinh doanh có rất nhiều năng lượng và muốn hoàn thành ý muốn của mình. Những ý muốn của họ có thể là rất lành mạnh. Ví dụ như ý muốn chấm dứt tình trạng ô nhiễm, chấm dứt bất công xã hội, khôi phục hòa bình, cải tạo thế giới. Nhưng điều đó không có nghĩa là họ không có ý muốn có quyền lực, thành công và danh tiếng. Như vậy trong các nhà lãnh đạo thường nhiều ý muốn trái nghịch nhau. Chúng ta có thể giúp họ ý thức hơn về những sở nguyện của họ và chuyển hướng những sở nguyện của họ sao cho hài hòa. Phương pháp là giúp họ hiểu rõ bản thân họ.

Các nhà lãnh đạo thường tin rằng họ biết chính mình, biết thế giới xung quanh, và tất cả những điều họ phải làm là hành động. Thật ra, không ai trong chúng ta hiểu được mình một cách toàn vẹn. Không ai trong chúng ta có thể hiểu thế giới một cách toàn vẹn. Một hành giả cần phải đủ khiêm tốn để nhận ra rằng mình còn cần tìm hiểu thêm về chính mình, tìm hiểu thêm về những khổ đau cũng như tình trạng chung của thế giới.

Chúng ta có thể giúp các nhà lãnh đạo bằng khả năng lắng nghe và dùng lời ái ngữ để giúp họ hiểu thêm về bản thân họ và hiểu thêm về tình hình thế giới. Khi họ hành động, ta mong rằng họ sẽ hành động trong tinh thần của một tăng thân và có khả năng sử dụng tuệ giác của tập thể.

Khả năng thực tập lắng nghe mình, hiểu mình sâu sắc, lắng nghe thế giới và những khổ đau của nhân loại thì đều như nhau, dầu ta là một cá nhân, hay một nhà lãnh đạo chính trị hay một giám đốc kinh doanh. Có nhiều giám đốc kinh doanh muốn làm những việc tốt, muốn sử dụng công ty của mình để hỗ trợ công bằng xã hội và làm cho đời sống xã hội được lành mạnh, nhưng họ gặp rất nhiều khó khăn. Vài người đã phải thỏa hiệp vì nếu không họ có thể bị mất chức hay mất việc. Những nhà lãnh đạo cũng có những khó khăn của riêng họ. Chúng ta không nên trách cứ họ vì những rắc rối trên thế giới. Chúng ta phải hiểu họ trước khi chúng ta có thể giúp họ. Có nhiều cách để tiếp cận các nhà lãnh đạo chính trị. Tất cả chúng ta – những người thợ mộc, thợ máy, nhà báo, nhà văn, đạo diễn phim ảnh, thầy giáo, các bậc cha mẹ, luật sư, y tá – đều có thể viết thư, gọi điện thoại… Chúng ta có thể trình bày ý kiến của mình như thế nào để đánh động ý thức cảnh giác và giúp chuyển đổi tâm thức cộng đồng. Đây là nền tảng cho sự chuyển đổi cách suy nghĩ của chúng ta, giúp cho tất cả thấy rõ sự việc một cách sâu sắc và rõ ràng hơn. Ai cũng có thể làm được việc đó trong đời sống hằng ngày. Nhờ vậy mà ta có thể đóng góp vào sự thức tỉnh của thế giới. Các nhà lãnh đạo chính trị cũng như doanh nghiệp sẽ được lợi lạc. Chúng ta có thể ảnh hưởng đến họ. Nhưng trước khi ảnh hưởng họ ta phải soi sáng cho chính ta.

61. Mục sư Martin Luther King, Jr.

H. Mục sư Martin Luther King, Jr. là một nhà lãnh đạo có khả năng và hiểu biết để có thể chuyển đổi thế giới, đem lại hòa bình và hợp tác. Liệu chúng ta có thể có một vị lãnh đạo như thế nữa hay không?

Tl. Mục sư Martin Luther King, Jr. vẫn còn đó, vẫn đang có mặt trong mỗi người chúng ta. Nghĩa là luôn luôn có sự tiếp nối. Nhưng chúng ta phải để tâm lắm mới có thể nhận ra và góp phần hỗ trợ, giúp đỡ họ. Nhiều khi chúng ta cứ tưởng rằng chúng ta cần phải có một vị lãnh đạo chỉ đường, dẫn dắt chúng ta, như Đức Phật, Thánh Gandhi, hay Martin Luther King, Jr. Nhưng thật ra trong ta đã có Bụt, trong ta đã có Thánh Gandhi, có Martin Luther King, Jr. Giữa chúng ta có sự liên hệ với nhau. Vì vậy mà chúng ta không cần phải chờ một ai khác thực hiện những điều mà chúng ta rất muốn thay đổi cho thế giới.

Một trong những cách chúng ta có thể làm là giúp cho những người giàu và người nhiều quyền lực có thể có hạnh phúc thực sự. Có nhiều người tuy có quyền lực, có nhiều tiền nhưng họ lại rất đau khổ. Họ tin rằng nếu không có quyền lực, không có tiền bạc thì không thể có hạnh phúc. Cách tư duy như thế chính là nguyên nhân dẫn đến chiến tranh và sự bất công trong xã hội. Nếu chúng ta có khả năng giúp cho những người đó nếm được hương vị của hạnh phúc thực sự thì họ có thể thay đổi cách tư duy của họ. Tuy nhiên, để chuyển đổi đường lối suy tư của họ mà chỉ nói suông thì không được. Ta phải làm một điều gì khác nữa. Ta phải chứng tỏ là ta thực sự có hạnh phúc mặc dù ta không có nhiều tiền bạc và quyền lực. Theo lời Bụt dạy, tất cả mọi người đều có hạt giống giác ngộ. Nếu chúng ta có thể khơi dậy hạt giống giác ngộ trong những người đó thì họ sẽ buông bỏ cách tư duy cũ và hết lòng phụng sự cho lý tưởng hòa bình. Bằng cách đó ta có thể giúp tiếp nối sự nghiệp của mục sư Martin Luther King, Jr. trên khắp thế giới.

62. Dung hòa công lý và từ bi

H. Là một thẩm phán xử án, làm thế nào để tôi có thể dung hòa công lý và từ bi?

Tl. Công lý đích thực thì phải có từ bi. Một người phạm pháp gây nên tai hại không chỉ cho nạn nhân mà cho cả chính anh ta. Ai cũng biết rằng khi nói một điều gì thiếu khôn khéo, một điều mà gây hại cho liên hệ tình cảm giữa hai bên thì chính mình cũng bị đau khổ. Vì ta thiếu khôn khéo, thiếu chánh niệm, và thiếu từ bi cho nên ta đau khổ và làm cho người khác cũng đau khổ. Có thể là ngay lúc đó ta không cảm thấy đau khổ nhưng về sau ta sẽ đau khổ. Nguyên nhân chính của hành động tai hại này là do u mê (vô minh) và thiếu khôn khéo.

Nếu ta biết cách nhìn sâu vào một người mà ta gọi là phạm nhân ta sẽ phát sinh lòng thương. Xã hội đã tạo nên một con người như thế. Anh ta đã sanh ra trong một hoàn cảnh mà những điều kiện xã hội, cha mẹ, và nhiều ảnh hưởng khác đã tạo nên tánh nết của anh ta và khiến anh ta hành xử như thế. Anh ta thực sự là một nạn nhân của hoàn cảnh. Anh ta được sinh ra đời và từ khi sinh ra đã là nạn nhân. Không ai giúp đỡ anh ta – những nhà giáo dục, những nhà lập pháp, những chính trị gia, những doanh nhân, những nhà hoạt động nhân quyền, không ai giúp anh ta vì vậy mà anh ta nên nông nỗi. Người ta xử tử anh ta và cho đó là công bằng. Nhưng tôi thì cho đó là thiếu công bằng vì có ai giúp anh ta bao giờ đâu. Phần lớn chúng ta là sản phẩm của xã hội và môi trường sinh sống. Nếu thấy được như thế, nếu nhận ra được tính tương tức của hành động phạm pháp thì ta sẽ khởi được tâm từ bi, và sẽ nhẹ tay trong việc trừng phạt. Nhìn sâu sẽ giúp cho ta hiểu và thương. Nhờ có hiểu biết và lòng từ bi mà ta có thể hiến tặng một luật pháp chứa đựng sự công bằng, kiên nhẫn, và bao dung. Không những chúng ta phối hợp công bằng và từ bi mà chúng ta còn chứng tỏ được rằng công bằng đích thực thì phải có từ bi và hiểu biết.

63. Đạo Phật và án tử hình

H. Quan điểm của đạo Phật về án tử hình như thế nào? Giả sử có người giết chết mười em bé, tại sao lại để cho anh ta được sống?

Tl. Mười mạng người đã bị giết, tại sao ta lại muốn giết thêm người thứ mười một? Một người giết chết mười đứa trẻ thì đó là một kẻ bệnh hoạn. Nếu giết anh ta thì sẽ không giúp được gì cho anh ta mà cũng chẳng giúp ích gì cho chúng ta. Khi có nhiều người như anh ta trong xã hội, nếu quán chiếu cho sâu sắc ta sẽ thấy có gì sai trái trong xã hội cho nên mới có những kẻ sát nhân như vậy. Bằng cái nhìn tương tức ta có thể thấy những yếu tố đã tạo ra một người như anh ta. Từ đó mà chúng ta có nhiều cảm thông hơn. Ta thấy rằng anh ta cần được giúp đỡ chứ không phải chỉ đáng bị trừng phạt. Cố nhiên anh ta phải bị bắt giam vì sự an toàn cho xã hội, nhưng đó không phải là việc duy nhất mà ta có thể làm.

Nhiều quyển sách dạy thiền tập, những tạp chí Phật giáo, thậm chí các buổi pháp thoại cũng đã được tổ chức trong tù, và nhiều tù nhân đã bắt đầu thực tập đạo Bụt. Một số tù nhân đã học được cách sống bình an, ngay cả ở trong tù. Tôi có nhận được nhiều bức thư của các tù nhân sau khi đã đọc sách của tôi. Một tù nhân đã viết: “Khi nhìn các bạn tù chạy lên chạy xuống cầu thang, tôi có thể thấy họ đang đau khổ không yên. Tôi hy vọng họ có thể làm như tôi là đi lên đi xuống cầu thang trong chánh niệm và theo dõi hơi thở. Khi thực tập như thế tôi cảm thấy bình an và có thể thấy rất rõ nỗi khổ đau của các tù nhân khác.” Người tù đó đã có thể khởi lên tâm từ bi.

Vì thế trừng phạt không phải là giải pháp duy nhất. Chuyển hóa và trị liệu vẫn có thể có được ngay cả trong những trường hợp khó khăn như vậy. Giết một người nào đó chỉ biểu lộ sự yếu đuối của chính chúng ta mà thôi, vì chúng ta không biết làm gì khác hơn. Giết người là một tiếng kêu tuyệt vọng. Nhưng chúng ta có thể cùng nhau thực tập nhìn sâu để tìm ra một phương thức tốt hơn án tử hình.

64. Làm việc tại một hãng sản xuất chất độc

H. Giả sử tôi đang làm việc tại một hãng sản xuất chất độc, một công ty bán những sản phẩm gây hại hay một tổ chức gây xung đột trong quần chúng. Làm thế nào để tôi có thể vừa giúp người khác vừa tiếp tục làm việc tại các nơi đó? Tôi có nên bỏ việc hay không?

Tl. Một ngày kia có một người lái một chiếc xe hơi sang trọng đến gặp tôi. Ông ta nói rằng ông đang phụ trách thiết kế đầu đạn hỏa tiễn mang bom nguyên tử. Tâm trí ông ta rất bất an vì phải làm công việc tàn hoại ấy. Ông ta hỏi tôi rằng ông ta có nên thôi việc đó hay không? Sau khi suy nghĩ, tôi khuyên ông ấy có thể tiếp tục công việc của mình nhưng làm việc với chánh niệm. Mặc dù công việc của ông ấy mang tính chất tàn hoại, nhưng ông ta là một kỹ sư có lương tâm. Ông ta biết mình đang làm gì. Thế giới cần những người có chánh niệm làm những việc như ông ấy đang làm. Nếu ông ấy từ chức thì sẽ có một người khác thay thế ông mà không có chánh niệm và khi đó tình trạng sẽ tồi tệ hơn nhiều.

Những người làm các công việc đòi hỏi nhiều nỗ lực như: xây cất, cảnh sát, bác sĩ phòng cấp cứu, cũng như tất cả chúng ta, đều có thể thực tập chánh niệm, thậm chí trở thành người hướng dẫn thực tập chánh niệm. Vị luật sư có thể thực tập nhìn sâu với hiểu biết, thương yêu, đồng thời giúp cho thân chủ của mình nhìn sâu để có thể chuyển hóa và trị liệu. Lẽ tất nhiên luật sư phải bào chữa cho khách hàng của mình trước tòa, nhưng ông ta cũng có thể nói lên tiếng nói của lòng mình. Ông ta có thể nói cho khách hàng của mình những gì ông biết từ đối phương để giúp khách hàng hiểu được quan điểm của đối phương. Khi một vị luật sư trần tình trước tòa ông ta có thể tưới tẩm hiểu biết và thương yêu trong lòng mọi người kể cả quan tòa. Đây là một điều rất quan trọng. Cách hành xử như thế sẽ được nhiều người biết đến và tán thưởng.

Một chính trị gia có chánh niệm sẽ hành xử theo lương tâm và tuệ giác độc lập của mình. Ông ta có thể bỏ phiếu trong chánh niệm. Lòng chân thành và thiện chí của ông sẽ được những người đồng chí hướng với ông cảm thông và được dân ủng hộ. Vì vậy, áp dụng sự tu tập, thể hiện được phẩm chất tâm linh vào công việc là rất quan trọng. Chúng ta cần những người như thế trong xã hội.

Để thành một người hoàn toàn giác ngộ, một vị Bụt, chúng ta phải tu tập. Vì vậy, Năm sự thực tập chánh niệm (Năm giới) là rất cần thiết, vì chúng ta là những người chưa giác ngộ. Chúng ta không cần phải giữ Năm giới một cách toàn hảo. Tiến từng bước đúng hướng tu tập là tốt rồi. Vấn đề không phải là luôn luôn hành động một cách toàn hảo mà là luôn luôn tinh tấn, tiến bộ trên đường tu tập. Nếu trong trường hợp công việc buộc ta phải sống đời sống ngược với tinh thần của Năm giới thì ta nên nuôi hy vọng là một ngày nào đó ta sẽ thoát ra khỏi hoàn cảnh hiện tại và tìm được một nghề không gây hại cho loài người hay thiên nhiên. Trong khi đó, có nhiều việc mà ta có thể làm như thảo luận với đồng nghiệp của mình hoặc ta có thể giáo dục những người khác. Có được một nghề nghiệp tốt là rất quan trọng. Nhưng sống chân thật, hiền hòa, sống theo con đường tâm linh còn quan trọng hơn. Ta có thể chọn một việc làm khác nhẹ nhàng ít áp lực hơn để giúp ta sống đơn giản mà hạnh phúc. Điều quan trọng là không nên nhân nhượng một khi ta đã quyết tâm thực tập chánh niệm, sống với sự hiểu biết và tình thương yêu.

65. Thử nghiệm y dược trên thú vật

H. Tôi rất thương động vật và tôi ăn chay. Nhưng tôi là chuyên viên dùng thú vật để kiểm soát tác dụng an toàn của thuốc trên con người. Làm sao tôi có thể giải tỏa xung đột trong lòng vì phải làm những việc ấy?

Tl. Nếu thú vật biết tổ chức một cuộc biểu tình thì chắc là chúng sẽ kéo nhau đến phản đối trước phòng thí nghiệm. Chúng ta ở trong thế mạnh nên chúng ta đã dùng chúng để tìm cách cải thiện đời sống con người. Anh đã dùng thú vật vì lợi ích cho loài người. Anh đại diện cho tất cả chúng tôi. Anh nhân danh chúng tôi mà làm. Chúng tôi cùng với anh liên đới chịu trách nhiệm. Chúng tôi cùng đau khổ với anh trong việc anh làm. Và chúng tôi đang tìm cách để giảm bớt khổ đau của các loài vật, cây cỏ và đất đá. Điều mà ta có thể làm là nói cho mọi người cùng biết những gì đang xảy ra, bởi vì nhiều người trong chúng ta không biết gì cả. Chúng ta đã không quan tâm đủ. Chúng ta không biết rằng các thú vật đã bị đau đớn biết dường nào. Anh là ngọn lửa trên đầu ngọn nến. Hãy nói cho mọi người biết đến sự đau đớn của các con vật ấy để chúng tôi cùng với anh chia sẻ trách nhiệm. Như thế anh có thể cảm thấy đang được nâng đỡ trong quyết tâm sống đời sống sâu sắc và chánh niệm. Và cùng với anh, tất cả chúng ta thực tập quán chiếu sâu sắc để có tuệ giác tìm ra được phương pháp làm giảm thiểu tối đa sự đau đớn cho thú vật. Anh hãy tiếp tục công việc anh đang làm, nhưng tiếp tục với chánh niệm. Tôi tin rằng anh sẽ phát huy tuệ giác, và với tuệ giác đó sẽ giúp anh cải thiện công việc như thế nào đó để cho các thú vật cũng được lợi ích. Hãy làm bằng tâm từ bi mà đừng làm việc vô tâm như cái máy. Là một con người, hãy nuôi dưỡng và gìn giữ mãi tâm từ bi. Hãy sống cho có chánh niệm và giúp cho mọi người cùng sống trong chánh niệm. Anh đang vì tất cả chúng tôi mà làm công việc đó, và chúng tôi cùng chịu trách nhiệm với anh về tất cả những việc mà anh đang làm.

66. Nghệ sĩ có thể đóng góp được gì?

H. Trong thời đại chiến tranh và tuyệt vọng này, các nghệ sĩ như chúng tôi có thể đóng góp được gì để giúp đời?

Tl. Bằng nếp sống, bằng những tác phẩm nghệ thuật của mình ta đang đóng góp cho công việc thức tỉnh cộng đồng. Vị Bồ tát là một người tỉnh thức, có chánh niệm, và mang chí nguyện giúp cho những người khác thức tỉnh. Nghệ sĩ, diễn viên, đạo diễn phim ảnh, văn sĩ, tất cả đều có thể có chí nguyện trở thành một vị Bồ tát giúp người khác thức tỉnh, giúp người khác tiếp xúc được với hạt giống của thảnh thơi, bình an, và hạnh phúc, giúp họ cởi bỏ, chuyển hóa những hạt giống của kỳ thị, sân hận và tham đắm. Người nghệ sĩ có thể làm được tất cả những việc đó. Nếu hành động của ta được thúc đẩy bởi chí nguyện giúp đời thì niềm vui và năng lượng của ta sẽ tràn ngập. Khi đó, danh vọng, quyền lực sẽ không lôi cuốn được ta. Không gì có thể so sánh với niềm vui khi biết rằng sự có mặt của ta trên cuộc đời này thật đẹp và hữu ích.

Một hôm tôi gặp một vị học giả Phật giáo ở New York. Tôi nói chuyện với bà ta về việc tôi thực tập chánh niệm khi làm vườn rau. Mỗi ngày tôi dành thời giờ để chăm sóc các loại rau thơm, cà chua, xà lách và các loại rau khác. Tôi làm việc với rất nhiều niềm vui. Bà ta nói: “Thầy không nên phí thời giờ trồng rau. Thầy nên dành thời giờ để làm thơ. Thơ Thầy viết rất hay. Ai cũng có thể trồng rau được, nhưng ít ai làm được thơ hay như Thầy.” Tôi trả lời với bà: “Nếu tôi không trồng rau thì tôi sẽ không làm thơ được.”

Khi đang chăm sóc cho cụm rau cải hoặc tưới vườn, tôi không nghĩ tới làm thơ hay viết lách. Tôi chú tâm hoàn toàn vào việc chăm sóc cây cải hay tưới cây. Tôi vui thích từng giây phút và làm việc đó trong trạng thái tĩnh lặng, không-suy-nghĩ. Ngừng suy nghĩ có lợi ích rất nhiều. Tác phẩm nghệ thuật được hình thành từ trong sâu thẳm của tâm thức khi mà ta không suy nghĩ gì về nó. Lúc thể hiện tác phẩm nghệ thuật chỉ là lúc khai sinh, là lúc ta đưa “em bé” ra đời. Theo tôi phải cần một thời gian để em bé nghệ thuật trong ta lớn lên, để đạt được mức toàn diện, và tác phẩm của ta khi đó sẽ chứa đựng tuệ giác, hiểu biết và thương yêu.

Một tác phẩm nghệ thuật có thể giúp người ta hiểu rõ được bản chất khổ đau của thực tại, chứa đựng tuệ giác giúp chuyển hóa những hạt giống tiêu cực và phát triển những hạt giống tích cực. Viết văn hay làm phim có thể là một hành động yêu thương. Hành động yêu thương ấy nuôi dưỡng ta và nuôi dưỡng nhiều người khác. Nếu ta hạnh phúc, nếu ta biết sống sâu sắc từng giây phút của cuộc đời thì khả năng hiểu sâu, thương yêu, và niềm vui sẽ đến. Tác phẩm nghệ thuật của ta sẽ phản ánh được những điều đó và đi vào lòng người.

67. Vui sống khi có nhiều người đau khổ?

H. Làm sao ta có thể vui hưởng cuộc sống trong khi có quá nhiều người đang đau khổ?

Tl. Khi ta có được một phút bình an, vui vẻ mà ta cảm thấy tội lỗi thì mặc cảm tội lỗi đó sẽ phá tan giây phút bình an vui vẻ của ta. Khi mà ngay cả giây phút bình an vui vẻ đó của ta cũng bị phá hủy thì sẽ không còn gì là hy vọng cho ta và cho thế giới. Vì vậy, ta phải giữ lấy giây phút bình an vui vẻ ấy như là nền tảng cho mọi hành động của ta. Tuyệt vọng là một tai nạn lớn nhất có thể xảy đến cho tất cả chúng ta, nhất là khi sự tuyệt vọng đó trở thành sự tuyệt vọng tập thể. Học cách để xử lý tuyệt vọng là điều rất quan trọng, đừng bao giờ để cho nỗi tuyệt vọng phá hủy tất cả, nhất là phá hủy cả những gì tốt lành đang còn lại trong ta.

Khi ta có khả năng thở những hơi thở chánh niệm và bình an, khi ta có thể bước những bước chân an lạc, thảnh thơi, thì không phải ta đang sống ích kỷ mà kỳ thật ta đang làm điều đó cho tổ tiên, cho con cháu của ta trên khắp thế giới. Tuệ giác không thể nào phát sinh khi ta thực tập thiền đi mà không có niềm vui thú trong khi đi. Nếu ta có khả năng đi thiền hành trong bình an thì nhân loại sẽ còn hy vọng. Ta phải thấy được như thế. Tuệ giác là hoa trái của chánh niệm. Khi ta ý thức rằng ta có thể làm một điều gì đó để cống hiến trong từng giây phút của sự sống hằng ngày thì ta không còn là nạn nhân của tuyệt vọng và ta có thể khích lệ được những người xung quanh nữa. Khi ta cảm thấy bi quan thì đừng để tình trạng đó kéo dài. Cố nhiên là có những khổ đau xảy ra khắp nơi trên thế giới, nơi bản thân, trong gia đình và ngoài xã hội. Nhưng nếu ta đang làm hết khả năng của mình, hành xử một cách tốt đẹp nhất, thì vẫn còn hy vọng là sẽ có những người khác cũng hành xử như ta. Hãy hành xử một cách tốt đẹp nhất và đóng góp hết khả năng của ta. Và điều đó sẽ gây ảnh hưởng lan truyền. Những người khác khi nhìn vào ta họ sẽ phát sinh cảm hứng để làm theo. Có can đảm để sống đời sống hàng ngày với lòng yêu thương và tỉnh thức là một đóng góp tích cực của chúng ta.

68. Để giữ vững niềm tin

H. Thế giới hiện nay đầy rẫy điên cuồng và bạo động. Làm thế nào để không đánh mất niềm tin vào con người và không bỏ cuộc?

Tl. Có một sự thực tập gọi là Quay Về Nương Tựa. Khi ta muốn có được một cảm giác an toàn, bình an, thấy mình được bảo vệ, mà không biết cách thực tập nương tựa thì ta sẽ đánh mất sự an lạc, và sẽ cảm thấy trong lòng đầy bất an. Ta sẽ đau khổ và làm cho những người khác cũng đau khổ. Cho nên trong trường hợp bị xao động, đau khổ tràn ngập, ta phải thực tập trở về nương tựa nơi Bụt – Bụt trong chính tự thân ta. Mỗi chúng ta đều có Phật tánh, có khả năng trầm tĩnh, khả năng hiểu biết và thương yêu. Trở về nương tựa nơi hải đảo bình an trong ta, chúng ta có thể bảo tồn được nhân tính, giữ vững được niềm tin, bình an và hy vọng. Sự thực tập này vô cùng quan trọng. Khi thực tập được như thế, ta sẽ trở thành một hải đảo bình an, từ bi cho chính bản thân ta và sẽ gây cảm hứng cho nhiều người khác cùng làm theo.

Cũng giống như một chiếc thuyền vượt qua đại dương. Nếu gặp bão tố mà tất cả mọi người trên thuyền đều hoảng loạn thì chiếc thuyền sẽ bị lật úp. Nhưng nếu có một người trên thuyền giữ được bình tĩnh thì người ấy sẽ ảnh hưởng đến những người khác và giúp cho họ cũng giữ được bình tĩnh. Khi đó thì mọi người trên thuyền cũng có hy vọng. Ai là người có thể giữ bình tĩnh trong tình huống đó? Trong đạo Bụt câu trả lời là: “chính ta”.

69. Phá thai và Giới Thứ Nhất

H. Quyết định phá thai là một quyết định khó khăn nhưng đôi khi cần thiết. Có phải sự phá thai luôn luôn đi ngược với Giới Thứ Nhất hay không?

Tl. Bảo vệ sự sống là sự thực tập căn bản của đạo Bụt. Phá thai là một hành động tàn hoại, hủy diệt sự sống, không chỉ sự sống của thai nhi mà cả sự sống của chính ta. Bởi vì khi phá thai thì một phần của chúng ta cũng bị hủy diệt, và ảnh hưởng của sự hủy diệt đó kéo dài rất lâu. Vì thế, chúng ta phải cố gắng hết sức để sống và hoạch định đời sống như thế nào đó để không phải đối điện với một quyết định đau lòng như thế. Nguyên tắc là áp dụng phương pháp y khoa phòng ngừa. Nếu chúng ta chờ đến lúc xảy ra cơ sự mới giải quyết thì đã quá trễ. Vì vậy, chúng ta phải ý thức đến nếp sống của chúng ta, chuẩn bị mọi trường hợp, phải ngăn ngừa mọi tình huống xấu có thể xảy ra để chúng ta không phải thực hiện những quyết định đau lòng như vậy.

Khi mà sự việc đã xảy ra thì dù quyết định như thế nào cũng sẽ gây đau thương. Chúng ta phải nhìn sâu vào từng hoàn cảnh mà không nên giáo điều. Phải xem xét từng trường hợp một để thấy một cách uyển chuyển, thông minh và từ bi. Không có một câu trả lời chung cho tất cả mọi trường hợp. Chúng ta cần đến tuệ giác của nhiều người xung quanh ta, nhất là những người thân trong gia đình hay bạn bè. Đây không chỉ là để cho bản thân ta được yên lòng mà là để tránh gây thêm đau khổ. Nếu biết chắc rằng hành động đó sẽ gây thêm đau khổ thì không nên hành động. Trái lại, nếu hành động đó có thể chấm dứt đau khổ thì nên hành động. Phần lớn các trường hợp, phá thai không phải là giải pháp hay. Nhưng trong một vài trường hợp, không phá thai có thể sẽ gây thêm đau khổ cho người mẹ và cho nhiều người khác.

Nếu ta là một hành giả thực tập theo đạo Bụt và đã quy y Phật, Pháp, và Tăng thì mọi quyết định của ta phải dựa trên nền tảng của sự thực tập quy y Tam Bảo. Ta phải hành xử theo tinh thần của Bụt, nghĩa là phải chánh niệm về những gì đang xảy ra ngay bây giờ, những gì đã xảy ra trong quá khứ, những đau khổ có thể xảy đến trong tương lai nếu ta quyết định hành động. Hành động của ta có xuất phát từ tâm từ bi thực sự không hay chỉ gọi đó là từ bi? Ta phải hành xử theo tinh thần của Pháp, có nghĩa là phải thực tập chánh niệm, ý thức rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ, đang xảy ra trong hiện tại, và sẽ xảy ra trong tương lai. Chúng ta cũng cần tham khảo tuệ giác tập thể của tăng thân. Tăng thân sẽ xem xét trường hợp của ta với tất cả sự chú tâm và chánh niệm, và có thể tìm ra tuệ giác để hướng dẫn cho ta. Sau khi tham vấn với tăng thân, làm theo lời khuyên của tăng thân thì ta không có gì để lo lắng nữa. Ta đã trải lòng và lắng nghe Bụt, Pháp và Tăng một cách sâu sắc và bây giờ trách nhiệm là trách nhiệm chung. Ta sẽ không còn đơn độc. Ta đã nương tựa vào sự thực tập trong ý nghĩa sâu sắc nhất.

70. Vấn đề đồng tính luyến ái

H. Xin cho biết quan điểm của đạo Phật về vấn đề đồng tính luyến ái.

Tl. Tinh thần của đạo Phật là vô phân biệt. Nhìn đám mây một cách sâu sắc ta thấy cả vũ trụ. Nhìn bông hoa cho sâu sắc ta thấy cả vũ trụ. Mỗi sự vật đều có vị trí riêng nhưng bản thể của tất cả chỉ là một. Nhìn những đợt sóng trên đại dương ta thấy những con sóng có khi lớn có khi nhỏ, muôn hình, muôn vẻ. Nhưng bản thể của con sóng nào cũng là nước. Cho dù bạn sinh ra là một người đồng tính luyến ái nhưng bản thể của bạn cũng giống tôi. Chúng ta tuy khác nhau nhưng đều hiện hữu như nhau. Paul Tillich, nhà thần học theo đạo Tin Lành có nói rằng Thượng đế là bản thể của hiện hữu. Bạn hãy là chính mình. Nếu Thượng đế đã tạo nên tôi là một đóa hồng thì tôi phải chấp nhận tôi là một đóa hồng. Nếu bạn sinh ra là một người đồng tính luyến ái thì bạn nên chấp nhận. Hãy quán chiếu bản chất để thấy rõ con người thật của mình. Khi bạn tiếp xúc được với bản thể của bạn thì bạn sẽ tìm được sự bình an.

Nếu ta là nạn nhân của sự kỳ thị thì cách giải thoát không chỉ đơn giản là oán trách. Bất công không thể chỉ giải tỏa bằng cách chấp nhận mà bằng khả năng tiếp xúc bản thể của chính mình. Sự kỳ thị, áp bức và thiếu bao dung xuất phát từ sự mê muội và thiếu hiểu biết. Nếu ta có khả năng tiếp xúc với bản thể của ta thì ta không còn đau khổ vì kỳ thị và áp bức nữa. Nếu có ai đó kỳ thị ta vì chủng tộc, vì màu da hay vì giới tính là do những người đó còn mê muội, không nhận ra bản thể của chính họ. Họ không biết rằng chúng ta cùng chung một bản thể, vì vậy nên họ đã kỳ thị ta.

Người kỳ thị người khác, gây đau khổ cho người khác là một người đau khổ. Ngay khi ta tiếp xúc được với chiều sâu và tự tánh bản thể của mình thì ta có thêm sự hiểu biết, từ đó ta phát khởi được tâm từ bi và bao dung. Khi đó, ta có thể tha thứ được cho những ai đã kỳ thị ta. Đừng nghĩ rằng giải thoát có được là do xã hội có sự công bằng để giúp ta vơi bớt những khổ đau. Giải thoát đích thực là khi ta có khả năng nhìn sâu.

Khi đau khổ vì bị kỳ thị, ta luôn cảm thấy như có gì thôi thúc ta phải nói ra. Nhưng dù cho ta có nói lên lời tố cáo thì cả ngàn năm ta vẫn còn đau khổ. Chỉ có sự hiểu biết sâu sắc và cởi bỏ ngu muội mới có thể giải phóng khỏi đau khổ cho ta. Một khi ta đã chọc thủng được bức màn vô minh ấy thì tâm từ bi sẽ dâng tràn. Với tâm từ bi đó ta có thể ôm ấp, chấp nhận ngay cả những người đã từng kết án ta. Chỉ khi nào ta khởi tâm phát nguyện giúp đỡ những người khác cũng là nạn nhân của sự vô minh, thì ta mới thoát khỏi đau khổ cũng như thoát khỏi ý tưởng bị ngược đãi. Đừng chờ đợi xung quanh ta thay đổi. Ta phải thực tập để tự giải phóng mình. Khi đó ta sẽ được trang bị đầy đủ năng lượng của từ bi và hiểu biết. Chỉ có những năng lượng đó mới có thể giúp chuyển đổi một xã hội đầy bất công và kỳ thị. Ta phải trở thành một người hiện thân cho sự bao dung, hiểu biết và thương yêu. Ta tự chuyển hóa mình thành một công cụ để thay đổi xã hội và thay đổi tâm thức cộng đồng của nhân loại.

71. Do Thái và Palestine

H. Làm thế nào để những người Israel và những người Palestine hòa giải?

Tl. Chúng ta chia cách nhau vì những nhãn hiệu, những danh từ như “người Israel”, “người Palestine”, “Phật giáo”, “Do Thái giáo”, “Hồi giáo”. Khi nghe đến một trong những danh từ đó, tâm trí ta khởi lên một hình ảnh và ngay tức khắc chúng ta muốn loại trừ hay xa lánh họ. Chúng ta tự tạo ra những đường lối suy nghĩ gây chia cách và gây đau khổ cho nhau. Vì vậy, khám phá ra nhân tính nơi người kia và giúp người kia khám phá ra nhân tính nơi ta là một điều rất quan trọng. Cùng là con người, chúng ta không khác gì nhau. Nhưng đôi khi vì bao nhiêu lớp nhãn hiệu nên đã không cho phép chúng ta nhìn nhau như những con người. Tự cho mình là một “Phật tử” có thể là một bất lợi, vì cái nhãn hiệu “Phật tử” đó có thể gây trở ngại khiến cho người kia không thể tiếp cận để khám phá được nhân tính nơi ta. Với những người “Thiên Chúa giáo”, “Do Thái giáo”, “Hồi giáo” cũng vậy. Những danh xưng ấy có thể là một phần quan trọng để nhận diện ta nhưng đó không phải là toàn bộ con người ta. Con người bị kẹt vào những ý niệm và hình ảnh tự mình tạo ra và không thể nhận ra nhau như những con người. Lột bỏ đi tất cả mọi nhãn hiệu để cho bản chất con người được hiển lộ đích thực là một sự thực tập cho hòa bình. Bởi vì người ta rất dễ bị kẹt vào danh xưng và nhãn hiệu cho nên chúng ta cần phải sử dụng ngôn ngữ từ ái khi ta đề cập đến vấn đề bất công với họ.

Trong mọi tranh chấp cả hai bên đều đau khổ vì bị đối xử bất công. Đây là một điều tối quan trọng. Phải hiểu như thế mới được. Rồi khi hiểu biết và thương yêu phát sinh trong tim thì những độc tố của sự giận dữ, hung bạo, thù ghét, và tuyệt vọng sẽ được chuyển hóa. Con đường rất là rõ ràng. Giải pháp duy nhất là lấy những độc tố ấy ra và thay vào đó là tuệ giác và thương yêu. Khi đó chúng ta sẽ đến với nhau như những con người mà không để cho những nhãn hiệu bên ngoài như “Phật giáo”, “Do Thái giáo”, “Hồi giáo”… lừa gạt. Đây là một tiến trình giải phóng, giải phóng khỏi những ý niệm, giải phóng khỏi u mê và thói quen kỳ thị. Đất Mẹ của chúng ta rất đẹp và có đủ chỗ cho tất cả chúng ta, vậy mà chúng ta cứ giết hại nhau. Nhưng khi chúng ta có thể xem nhau như những con người, mỗi người mỗi khổ đau, thì chúng ta không có can đảm để bắn giết nhau nữa. Chúng ta sẽ cùng nhau hợp tác để tìm ra cơ hội cho tất cả chúng ta được sống hòa bình và an lạc.

72. Giúp ích gì cho đời

H. Nếu đạt được trạng thái bình an sâu sắc và thương yêu thì giúp ích gì cho đời?

Tl. Có thể giúp đời bằng nhiều cách. Trước hết là giúp bằng phong thái bình an, thương yêu. Đó đã là một sự đóng góp lớn. Hơn nữa khi ta thể hiện phong thái bình an và thương yêu thì tất cả hành động của ta đều là hành động cho hòa bình và thương yêu. Ta sẽ không ngần ngại làm những việc có ích lợi cho nhân loại. Giống như Bụt, ta mang một chí nguyện kiên cường ra giúp đời. Một khi ta đạt được bình an và thương yêu thì ta không thể ngồi yên mà không giúp đời. Ta luôn luôn đi tới. Bụt đã giác ngộ và Ngài đã có một tăng đoàn, vậy mà Bụt vẫn không ngừng làm việc và thực tập. Tăng đoàn của Ngài càng ngày càng lớn mạnh. Trong khi Bụt dạy cho các đệ tử của Ngài có khả năng giáo hóa, Bụt vẫn tiếp tục giảng dạy và thực tập. Nếu anh nghĩ rằng công việc của anh đã xong là anh lầm. Không bao giờ xong. Anh phải tiếp tục. Thương yêu là vô tận, lòng từ bi là vô tận. An lạc cũng là vô tận.

Chương 3: Đời sống tâm linh

37. Tại sao thực tập chánh niệm lại quan trọng?

H. Tại sao thực tập chánh niệm lại quan trọng như vậy?

Tl. Trong chúng ta ai cũng có khả năng sống chánh niệm. Dù ít hay nhiều ai cũng có chánh niệm. Vấn đề là làm sao để có chánh niệm nhiều hơn. Nhiều người đánh mất mình trong tiếc nuối quá khứ hoặc lo lắng về tương lai. Họ mải mê theo đuổi những dự án hay tưởng tượng mông lung, tâm ở một nơi, thân ở một ngả. Nếu thân và tâm ta không hợp nhất với nhau thì ta không thực sự đang sống. Bước chân chánh niệm hay hơi thở chánh niệm đem tâm ta về với thân, để ta thực sự có mặt ngay giây phút bây giờ, ở đây và thực sự sống có tỉnh thức. Thực tập chánh niệm được xem như là một sự tái sinh, bỗng nhiên ta trở nên sống động. Chánh niệm làm tăng cường định lực, giúp cho ta nhìn thấy sự vật một cách sâu sắc hơn và ta không còn là nạn nhân của những tri giác sai lầm nữa. Ta không còn gây đau khổ cho mình và cho người khác. Ta sẽ cảm thấy yêu đời hơn, muốn giúp cho những người khác cùng vui sống. Ta không thể bắt buộc người khác sống chánh niệm nhưng nếu ta thực tập và có hạnh phúc thì ta có thể gây cảm hứng cho những người khác cùng thực tập.

38. Nhìn sâu

H. Một trong những từ ngữ hay được dùng nhất trong khi giảng dạy Phật pháp là “nhìn sâu”. Nhìn sâu có nghĩa như thế nào?

TL. Nhìn sâu có nghĩa là định tâm trên một đối tượng và ý thức sâu sắc về đối tượng đó. Chúng ta sử dụng năng lượng của chánh niệm để ôm lấy đối tượng và chú tâm vào đối tượng ấy. Chúng ta không chỉ dùng mắt để nhìn sâu mà còn dùng cả tai. Nhìn sâu và lắng nghe sâu đều có cùng một bản chất. Ta có thể lắng nghe ta, lắng nghe người khác, nhờ đó mà ta có hiểu biết hơn và phát sinh ra tuệ giác. Tất cả chúng ta đều có mắt, tai nhưng nếu không có năng lượng của chánh niệm thì chúng ta không thể nhìn sâu hay lắng nghe sâu được.

Ta có thể nhìn sâu cho dù ta nhắm mắt hay bịt tai. Ví dụ như khi lắng nghe hơi thở ta không cần dùng mắt hay tai. Khi tâm ta có chánh niệm thì năng lượng chánh niệm sẽ đóng vai trò chủ động trong việc nhìn sâu của ta. Đôi khi chúng ta có thể dừng suy nghĩ. Trong nhiều trường hợp suy nghĩ có thể kéo ta đi lạc hướng. Nhưng nếu chúng ta biết kiểm soát được suy nghĩ thì suy nghĩ đó có thể giúp cho ta thấy sâu hơn.

Tất cả chúng ta ai cũng có kinh nghiệm là khi đọc một trang sách ta cứ tưởng mình đã hiểu rồi, nhưng khi đọc lại hay suy nghiệm lại thì mới khám phá ra là mình chưa thực sự thâm nhập hay hiểu rõ ý nghĩa của nó. Nhìn sâu cũng giống như vậy. Thật dễ để cho ta thấy được một đóa hoa là vô thường và chấp nhận hoa là vô thường. Nhưng không phải nhờ trí năng mà ta có thể tiếp xúc được bản chất của vô thường. Ta phải tiếp xúc với bản chất của vô thường một cách sâu sắc để vượt thoát ý niệm về vô thường và chạm được gốc rễ của ý niệm ấy. Đây là cốt lõi của sự thực tập gọi là thiền minh sát (vipassana) hay nhìn sâu. Để thành công ta phải trau dồi chánh niệm và định lực để những năng lượng ấy giúp ta thấy thật sâu bản chất của mọi sự vật, hiện tượng.

39. Nuôi dưỡng bồ đề tâm

H. Cách tốt nhất để nuôi dưỡng bồ đề tâm?

Tl. Bồ đề tâm là tâm thương yêu, là ý muốn giúp người, độ đời và đem niềm vui đến cho nhiều người khác. Bồ đề tâm là một nguồn năng lượng vĩ đại có thể nâng cao phẩm chất sự sống của chúng ta. Khi học năm phép Thực Tập Chánh Niệm (Năm Giới), chúng ta khám phá ra rằng khi sống theo Năm Giới thì năng lực của ta sẽ được tăng cường. Năm Giới có thể bảo hộ cho bản thân chúng ta, bảo hộ cho gia đình và cả cho xã hội. Năm Giới giúp chúng ta vơi bớt khổ đau, mang lại niềm vui, bình an và hạnh phúc. Nếu hiểu và thực hành sâu sắc năm phép Thực Tập Chánh Niệm thì có thể giúp ta trở thành một người tích cực xây dựng hạnh phúc và hòa bình cho mọi người.

Theo tôi năm phép Thực Tập Chánh Niệm là chất liệu của một vị Bồ tát. Bồ tát là người có chí nguyện giúp cho cuộc đời, làm vơi bớt nỗi khổ đau, mang đến niềm an vui, hạnh phúc. Khi tiếp nhận Năm Giới và quyết tâm hành trì theo Năm Giới, ta có thể trở thành một vị Bồ tát, sống không chỉ cho riêng mình mà còn sống cho mọi người. Cuộc sống của ta sẽ là một nguồn năng lượng đem lại hạnh phúc cho nhiều người khác.

Nếu ta có ước nguyện như vậy, thì điều đó sẽ được thể hiện trong cách ta hành động, cách ta ứng xử và cách ta nhìn nhận. Nó sẽ được hiển lộ trên nụ cười, trong những bước chân của ta bởi vì trong ta tràn đầy năng lượng. Ta không sợ gian khổ, tâm ta đủ rộng lớn để chấp nhận tất cả. Ta không còn có khuynh hướng kỳ thị, loại trừ ai mà chỉ muốn bao bọc cả thế giới. Và sự thực tập hằng ngày của ta như trong khi đi, khi đứng, khi cười, và khi thở sẽ đưa ta về hướng của Bồ đề tâm.

40. Quán chiếu vô thường

H. Khi quán chiếu về vô thường, chúng ta có cùng quán chiếu với thời gian và không gian hay không?

Tl. Khi tiếp xúc với bản chất của vô thường thì ta cũng tiếp xúc được với bản chất của tương tức. Nhờ có vô thường mà có sự sống. Vô thường là sự đổi khác trong từng phút giây. Không có gì có thể giữ nguyên được trạng thái của nó, luôn luôn có cái biểu hiện ra và cái mất đi, có “nhập” và có “xuất”. Mọi thứ đều có sự tương tức lẫn nhau, nghĩa là không thể tự tồn tại riêng biệt mà phải tương quan, tương duyên với những cái khác, vì vậy tiếp xúc với vô thường cũng là tiếp xúc với tương tức.

Khi quán chiếu về không gian, ta biết rằng không gian không thể tự nó một mình mà có. Không gian phải có cùng với thời gian và vật chất, cùng với tất cả mọi cái khác. Khi quán chiếu về bản chất của không gian ta cũng tiếp xúc với vô thường, với tương tức và ta có thể thấy tất cả vạn vật trong không gian. Ta có thể thấy vật chất trong không gian, ta có thể thấy thời gian trong không gian. Ví dụ khi ta nói về mùa Xuân. Sao gọi là mùa Xuân? Mùa Xuân mới nghe qua như là một khoảng thời gian, sau mùa Xuân là mùa Hạ, sau mùa Hạ là mùa Thu rồi mùa Đông. Nhưng mùa Xuân có liên hệ chặt chẽ với không gian, bởi vì trong khi ở Bắc Mỹ đang là mùa Xuân thì ở Úc châu không phải là mùa Xuân. Vậy ta biết rằng trong không gian có thời gian, và trong thời gian có không gian. Ngay cả khi ta nói phút giây hiện tại, phút giây đó không thể tự nó một mình mà có. Hiện tại gắn liền với quá khứ và tương lai.

Khi nhìn mặt trời mọc ta luôn luôn thấy mặt trời mọc lên từ chân trời, ta có thể nghĩ rằng ta đang thấy mặt trời của hiện tại; nhưng các nhà khoa học cho ta biết rằng mặt trời mà ta đang nhìn thấy là hình ảnh của mặt trời tám phút trước đó. Vậy thì hiện tại có liên hệ với không gian chứ không chỉ với thời gian. Tuy nhiên, ta vẫn có thể sống trong giây phút hiện tại mặc dù ta biết đây là mặt trời của tám phút trước. Hiện tại bao hàm cả bây giờ và ở đây, do đó không thể tách rời thời gian và không gian thành hai thực thể riêng biệt, và nhìn vào cái một ta thấy cái tất cả. Tuệ giác tương tức giúp ta hiểu rõ hơn bản chất của vô ngã và vô thường.

Nhiều đạo sư và triết gia như Heraclitus và Khổng Tử cũng nói đến vô thường. Nhưng vô thường mà Bụt nói tới không phải là một triết lý mà là một công cụ để ta thực tập nhìn sâu. Hãy sử dụng chìa khóa vô thường để khai mở cánh cửa của thực tại – thực tại tương tức, vô ngã, vô tướng. Vì vậy, ta không nên nói tới vô thường như một ý niệm, một giả thuyết, hay một triết lý mà như là một công cụ Bụt trao cho ta để ta thực tập nhìn sâu và khám phá ra bản chất của sự vật, hiện tượng.

41. Khó duy trì chánh niệm

H. Tôi thực tập một mình đã nhiều năm nhưng vẫn thấy khó để duy trì được chánh niệm. Tôi có thể định tâm được vài tuần lễ nhưng rồi dễ bị xao động và luôn luôn như có cái gì khiến tôi bị phân tán. Xin Thầy cho ý kiến về việc này?

Tl. Chính vì tâm ta luôn xao động mà ta cần phải tu tập. Khi tu tập thì thế nào cũng có lúc lên lúc xuống. Đó là chuyện bình thường. Nhưng nếu ta có một tập thể để cùng nhau tu tập, một tăng thân để nương tựa, thì những lúc ta yếu kém ta sẽ được nâng đỡ. Tăng thân sẽ khuyến khích và hỗ trợ ta trên con đường tu tập.

Nương tựa tăng thân rất quan trọng. Không có tăng thân ta không thể tu tập lâu dài được. Nếu ta từ bỏ tăng thân thì ta phải trở lại ngay. Còn nếu ta chưa có dịp tiếp xúc với tăng thân thì phải cố hết sức tìm cho ra một tăng thân.

Tất cả chúng ta ai cũng có thể xây dựng tăng thân, bất kể chúng ta ở đâu. Ở đâu người ta cũng cần sự vững chãi, tĩnh lặng và chánh niệm. Sử dụng các danh từ Phật học có thể gây nên những chướng ngại. Có nhiều người chỉ thích ngồi yên mà không làm gì hết, để được bình an, yên tĩnh và ý thức từng giây phút của cuộc sống hàng ngày. Ta nên tránh dùng từ ngữ Phật học, chỉ cần thể hiện giáo lý bằng nếp sống chánh niệm, sự tươi mát và cởi mở của mình. Khi mới thực tập mà sử dụng những từ ngữ Phật giáo thì dễ làm cho người khác không thích và như vậy ta sẽ không thành công. Biết lắng nghe sâu và sử dụng ái ngữ thì ta sẽ có bạn. Ta cũng có thể xem cây cỏ, đất đá, dòng sông như những thành viên của tăng thân. Khí trời mà ta hít thở cũng là một yếu tố của tăng thân. Con đường thiền hành cũng là thành viên của tăng thân. Không ai cần phải quỳ xuống tiếp nhận Năm Giới để trở thành thành viên của tăng thân. Em bé mà ta đang nói chuyện, người láng giềng mà ta vừa kết bạn có thể là thành viên của tăng thân ta. Chỉ cần có một nhóm người cùng trò chuyện, cùng qua lại với nhau là đã có một tăng thân. Ta không cần phải sử dụng từ ngữ tăng thân. Nếu mời bạn bè đến uống trà thì đừng nói: “Hãy tổ chức một buổi thiền trà”, mà nói: “Xin mời cùng uống trà, thưởng thức trà trong tĩnh lặng, cùng gặp gỡ để vui với nhau.” Nếu học cách sử dụng ngôn ngữ như thế thì ta có thể xây dựng được tăng thân.

42. Khó để thư giãn

H. Tôi rất khó thư giãn. Tôi luôn xao động không yên khi ngồi thiền. Làm thế nào để bớt xao động?

Tl. Nhiều người trong chúng ta như có một nguồn năng lượng mạnh thúc đẩy ta đi về phía trước. Vì vậy, ta được hướng dẫn cách thực tập thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn và thiền thở. Khi ăn ta thưởng thức từng miếng thức ăn lúc đang nhai. Nếu ta thành công với miếng ăn đầu thì ta có thể thành công với miếng thứ hai, thứ ba. Tập ăn như thế giúp ta thư giãn trong khi ăn. Thực tập thiền đi cũng giúp ta thư giãn. Nếu cảm thấy không thư giãn thì hãy thực tập thiền hành, đi từng bước. Nếu ta đi được một bước vững chãi thảnh thơi thì ta có thể đi được những bước khác vững chãi thảnh thơi. Nếu ta còn loay hoay, xao động mà không biết làm sao để xử lý năng lượng đó thì hãy ghi nhận và gọi tên năng lượng ấy là loay hoay hay xao động. Dùng hơi thở vào và hơi thở ra để ghi nhận và mỉm cười với năng lượng ấy: “Ta biết ngươi rồi, năng lượng xao động.” Hãy tin tưởng vào pháp môn thực tập. Hãy bắt đầu bằng nhai một miếng thức ăn có ý thức, bằng một hơi thở, bằng một bước đi có ý thức. Bất cứ làm gì, lau nhà hay bước một bước, hãy trở về với hơi thở và lấy lại tự do để thực sự là mình. Khi đó thì ta không còn là nạn nhân của năng lượng bồn chồn không yên nữa.

43. Ý thức về ngã

H. Các nhà tâm lý học nói rằng chúng ta phải có một ý thức lành mạnh về ngã. Đạo Bụt có dạy ta tăng cường ý thức về ngã hay không?

Tl. Trong giới tâm lý học người ta thường cho rằng chúng ta có ý thức về ngã. Nhưng khi có ý thức về ngã thì ta có xu hướng so sánh cái ngã này với những cái ngã khác. Từ sự so sánh đó mà phát sinh mặc cảm tự ti, tự tôn, ý nghĩ về hơn, thua, và bằng người. Tự ti được xem như là có hại. Chúng ta được khuyên rằng ta phải cố vươn mức tự trọng lên cao hơn. Nhưng tâm lý tự cao cũng có thể làm hại, cũng có thể gây đau khổ. Khi có ai đó nói “Cái ngã của anh ấy lớn quá” thì đó không phải là một lời khen. Một người tự cao có thể gây đau khổ cho mình và cho người khác. Ý muốn bằng người cũng có thể đem lại đau khổ. Chỉ có những người không có ý thức về ngã, vô ngã, mới hạnh phúc. Người ấy không ghen tức, không thù hận, không sân hận bởi vì họ không có một cái ngã để so sánh.

Theo giáo lý của đạo Bụt, ngã là nền tảng của khổ đau. Trong ta có những tâm hành tiêu cực và những tâm hành tích cực. Khi ta có nhiều tâm hành tiêu cực biểu hiện chúng sẽ làm cho ta đau khổ và nhiều người khác đau khổ. Khi ta có nhiều tâm hành tích cực biểu hiện, điều đó có thể làm tăng phẩm chất con người của ta, tăng cường định lực và tuệ giác. Chúng ta thực tập là để làm lớn mạnh những tâm hành tích cực hơn là để tăng cường ý thức về ngã. Chánh niệm giúp ta làm biểu hiện những tâm hành tích cực, giúp tăng cường phẩm chất của sự sống và ta sẽ vững chãi hơn. Chánh niệm là năng lượng giúp ta thật sự sống trong giây phút hiện tại. Khi ta thực sự có mặt trong hiện tại ta sẽ làm chủ được hoàn cảnh, ta sẽ có nhiều tình thương yêu, lòng kiên nhẫn, nhiều hiểu biết, từ bi. Từ đó mà phẩm chất con người của ta được vững vàng và cải thiện. Tiếp xúc được bản chất của vô ngã có giá trị chữa trị rất lớn. Khoa tâm lý trị liệu có thể học được rất nhiều từ giáo lý vô ngã của Đạo Bụt.

44. Tu tập sâu sắc

H. Làm thế nào để thực tập cho sâu sắc?

Tl. Tu tập sâu sắc là tu tập thực sự, là không tu tập hình thức. Tu tập sâu sắc giúp ta và những người xung quanh ta có nhiều niềm vui, bình an, vững chãi. Tôi thích từ ‘tu thiệt’ hơn. Theo tôi tu thì phải vui. Tu thiệt có thể đem sự sống đến cho ta ngay lập tức. Khi thở một hơi thở chánh niệm ta trở nên sống động, trở nên có thật, không những khi ta ngồi hay đi mà cả khi nấu ăn hay làm bất cứ việc gì. Nếu biết cách thở vào, thở ra trong chánh niệm trong khi đang nấu ăn sáng với nụ cười trên môi, ta sẽ chế tác được tự do, tự do vì không nhớ tưởng về quá khứ hay lo lắng cho tương lai. Ta sẽ trở nên sống động, vui tươi và tràn đầy tình thương yêu. Như thế gọi là ‘tu thiệt’, và kết quả có thể thấy được ngay tức khắc.

45. Ngồi yên

H. Tôi bận việc từ sáng tới tối không một phút ngồi yên một mình. Làm sao mà tôi có thể có cơ hội thực tập ngồi trong im lặng?

Tl. Im lặng phát xuất từ bên trong chứ không phải từ bên ngoài. Im lặng không có nghĩa là không nói chuyện hay không làm gì cả. Im lặng là khi ta không bị xao động, không tán loạn hay không có những tiếng nói thì thầm trong nội tâm. Nếu ta thật sự im lặng được thì bất cứ ở hoàn cảnh nào ta cũng có thể vui trong im lặng. Có những lúc ta nghĩ là ta đang im lặng và xung quanh cũng im lặng, nhưng thật sự ở trong đầu ta đang nói. Đó không phải là im lặng. Sự thực tập là làm sao để ta có được sự tĩnh lặng trong tất cả mọi hoạt động mà ta đang làm.

Hãy thay đổi cách ta suy nghĩ, cách ta nhìn. Phải nhận ra rằng sự im lặng phải phát xuất từ trong tâm mà không phải vì không nói. Ngồi ăn sáng có thể là một cơ hội để ta thưởng thức sự im lặng; mặc dù xung quanh ta mọi người đang nói chuyện nhưng bên trong ta vẫn có thể hoàn toàn im lặng. Bụt có cả ngàn đệ tử vây quanh. Mặc dù Bụt cùng đi, cùng ăn uống sinh hoạt với các đệ tử nhưng Ngài luôn luôn an trú trong im lặng. Bụt có dạy rất rõ rằng, người biết sống một mình, biết sống tĩnh lặng, người đó không có nghĩa là phải vào trong rừng sâu. Ta có thể sống trong tăng thân hay ở giữa chợ mà vẫn tận hưởng sự yên tĩnh. Người biết sống một mình không có nghĩa là không sống chung với ai cả.

Người biết sống một mình có nghĩa là người đó biết an trú vững chãi ngay trong giây phút bây giờ và ở đây, ý thức rõ những gì đang xảy ra. Dùng chánh niệm để nhận biết mỗi cảm thọ, mỗi ý tưởng phát khởi trong tâm. Ý thức những gì đang xảy ra trong tăng thân nhưng an nhiên tự tại, không đánh mất mình. Đó là định nghĩa của sự thực tập lý tưởng để sống một mình của Bụt: không bận về quá khứ, không rong ruổi tương lai, an trú bây giờ và ở đây, thân và tâm hợp nhất, ý thức được những gì đang xảy ra trong giờ phút hiện tại. Đó là đích thực sống một mình.

46. Tâm lý sợ chết

H. Làm thế nào để nhìn sâu vào tâm lý sợ chết?

Tl. Khi quán chiếu sâu sắc tâm lý sợ chết ta thấy có ý muốn được thường hằng. Chúng ta sợ sự thay đổi. Sân hận, sợ hãi, tuyệt vọng bắt nguồn từ tri kiến sai lầm, từ những khái niệm về có, về không, về đến, về đi, về lên, về xuống. Nếu quán chiếu sâu sắc, chúng ta khám phá ra rằng những khái niệm ấy không phản ánh được thực tại. Chúng ta có thể tiếp xúc với tự tánh của bản thân, tiếp xúc được với bản môn và nhờ đó mà không còn sợ hãi. Khi đặt niềm tin vào tuệ giác không sanh không diệt ta có thể vui sống từng giây phút của cuộc đời.

Hãy nhìn một đám mây trên trời. Đám mây không muốn thay đổi. Đám mây sợ chết, sợ trở thành hư vô, vì thế mà đám mây đau khổ. Nhưng nếu đám mây quán chiếu cho sâu sắc, đám mây sẽ khám phá ra rằng nó không thể nào chết được. Đám mây có thể trở thành mưa hay tuyết nhưng không thể trở thành hư không; điều đó không thể có. Khi đám mây khám phá ra được tự tánh bất diệt thì nó sẽ không còn sợ hãi. Đám mây đã hiểu rằng làm một đám mây lơ lửng trên trời là tuyệt vời, mà thành mưa, thành tuyết cũng tuyệt vời. Đám mây không còn là nạn nhân của sự sợ hãi nhờ vào quán chiếu sâu sắc và tiếp xúc được với tự tánh bất diệt. Không có gì có thể mất đi được. Ta không thể trở thành hư vô. Sự sống luôn luôn biến đổi. Nếu không có sự biến đổi thì không thể có sự sống. Khi ta đã vui vẻ chấp nhận điều đó thì ta không còn sợ hãi. Đó là sự thực tập nhìn sâu.

47. Người thương sẽ vĩnh viễn ra đi

H. Tôi vẫn lo một ngày kia mẹ tôi hay người thương của tôi sẽ vĩnh viễn rời tôi. Làm thế nào để chuyển hóa sự lo sợ đó?

Tl. Phải nhìn sâu để thấy rằng mẹ ta không phải chỉ có ở bên ngoài ta mà cũng có ở trong ta. Cha mẹ thực sự có mặt trong mỗi tế bào của ta. Ta mang các tế bào ấy đi về tương lai. Ta có thể nói chuyện với cha, mẹ ta trong ta. Tôi vẫn thường nói chuyện với mẹ, với cha tôi, với tổ tiên trong tôi. Tôi biết rằng tôi chỉ là sự tiếp nối của các vị. Với tuệ giác đó ta ý thức rằng, mặc dầu thân xác đã tan rã nhưng mẹ ta vẫn tiếp tục có mặt trong ta dưới hình thức năng lượng mà mẹ ta đã tạo ra qua hành động và lời nói. Trong đạo Bụt chúng ta gọi năng lượng đó là “nghiệp”. Nghiệp (karma) có nghĩa là hành động, là ba loại hành động của thân, khẩu và ý.

Nếu nhìn cho sâu ta sẽ thấy sự tiếp nối của mẹ ta trong ta và ngoài ta. Mỗi ý nghĩ, mỗi lời nói, mỗi hành động của mẹ giờ đây vẫn đang được tiếp nối mặc dù hình hài của mẹ ta có đó hay đã mất đi. Phải quán chiếu để thấy mẹ sâu hơn. Mẹ ta không phải chỉ giới hạn trong hình hài của mẹ và ta không chỉ giới hạn trong hình hài của ta. Phải thấy cho được như vậy. Đó là sự mầu nhiệm của thiền tập đạo Bụt. Bằng cách thực tập nhìn sâu ta có thể tiếp xúc với tự tánh bất sinh bất diệt của chính ta. Ta có thể tiếp xúc tự tánh bất sinh bất diệt của cha ta, của mẹ ta, của con ta, và tất cả mọi thứ ở trong ta và xung quanh ta. Chỉ có tuệ giác đó mới giúp ta giảm bớt và thoát khỏi sự sợ hãi.

48. Mục đích của khóa tu

H. Mục đích của một khóa tu là để làm gì? Chỉ đọc sách Phật giáo là chưa đủ hay sao?

Tl. Mục đích của một khóa tu không phải là để giảng dạy môn tâm lý học Phật giáo hay để giảng một bài kinh nào đó. Vì nếu như vậy thì ta chỉ cần mua sách về tự đọc.

Mục đích của khóa tu là để giúp ta cởi bỏ những nội kết ở trong ta. Có hai loại nội kết. Nội kết thứ nhất là ý niệm và những tri giác của ta. Ai cũng có những ý niệm và tri giác, chúng ta chấp giữ những ý niệm và tri giác đó của mình nên chúng ta không có tự do. Nội kết thứ hai là các tâm hành phiền não như: sợ hãi, sân hận, kỳ thị, tuyệt vọng, kiêu căng… Tất cả những phiền não đó cần phải được cởi bỏ để ta có tự do. Các hoạt động trong khóa tu như thiền hành, thiền tọa, thở, mỉm cười và nghe pháp thoại có công năng giúp ta cởi bỏ hai thứ nội kết đó.

Những nội kết ấy chôn sâu trong tâm thức. Chúng khống chế, thôi thúc ta làm những việc mà ta không muốn làm, nói những điều mà ta không muốn nói. Trong khóa tu, bài pháp thoại không nhằm mục đích cung cấp thêm nhiều ý niệm và tri giác mà mục đích là để giúp ta cởi bỏ những ý niệm và tri giác đang ràng buộc chúng ta. Bài pháp thoại phải giống như một cơn mưa tưới tẩm những hạt giống tuệ giác và tự do ở trong ta. Vì vậy, ta phải học cách nghe pháp thoại. Chúng ta nghe pháp thoại là để cởi bỏ những ý niệm và tri giác. Nếu nghe xong pháp thoại mà khi về nhà quên hết là một dấu hiệu tốt. Ta không cần nhớ gì hết. Ta phải ra về trong tự do. Khi học ở trường, chúng ta thường có những bài tập làm ở nhà sau giờ học và điều này đòi hỏi ta phải nhớ nhiều chữ nghĩa, ý tưởng, khái niệm và ta nghĩ rằng đó là những hành trang hữu ích cho cuộc đời ta. Nhưng đối với việc tu tập thì hành trang này là một gánh nặng. Vì vậy, mục đích của một khóa tu là để giúp ta cởi bỏ gánh nặng của kiến thức, ý niệm, khái niệm, cũng như cởi bỏ những gánh nặng của phiền não, sân hận và tuyệt vọng.

49. Thiền tập và cầu nguyện

H. Xin cho biết sự liên hệ giữa thiền tập và cầu nguyện?

Tl. Trong tinh thần của đạo Bụt, bất cứ làm gì mà có chánh niệm, có định và có tuệ đều có thể xem như là cầu nguyện. Trong khi uống trà mà tâm ta suy nghĩ mông lung thì giây phút đó ta không thật sự sống, bởi vì đang không có mặt, không có chánh niệm, không có sự chú tâm, không có sự thực tập. Khi ta nâng một tách trà, uống trà trong chánh niệm và chú tâm giống như khi ta đang dâng lên một nén hương thì đó là một sự cầu nguyện. Khi đi, nếu ta vui trong từng bước chân, nếu mỗi bước chân có sự nuôi dưỡng, có sự chuyển hóa thì đó cũng là một sự cầu nguyện. Khi ta ngồi vững chãi, khi ta thở hơi thở có chánh niệm, khi ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, đó là thiền tập mà cũng là cầu nguyện. Vì vậy, theo truyền thống của đạo Bụt không có sự phân biệt giữa thiền tập và cầu nguyện. Khi có chánh niệm, có định lực, có tuệ giác là ta tiếp xúc được với Bụt, với tăng thân. Khi ta thật sự cầu nguyện thì ta tiếp xúc được với Chúa Jesu, với Nước Chúa. Tiếp xúc như thế phải đem lại cho ta sự chuyển hóa và trị liệu. Khi có niệm, định và tuệ thì sự ngăn cách giữa người cầu nguyện và người hướng về để cầu nguyện không còn nữa. Các bạn Kitô giáo và Do Thái giáo thường nói, “Sống trong từng giây phút với Chúa.” Nếu ta sống trong niệm, định, và tuệ, ta luôn luôn có mặt với Chúa thì mỗi ngày của ta là một sự cầu nguyện. Sống được như thế sẽ đem lại cho ta rất nhiều hạnh phúc và bình an.

50. Tụng kinh hay nghe kinh theo lệ

H. Khi tụng kinh làm thế nào để tránh thói quen tụng theo lệ, chỉ tụng chữ mà không có sự chú tâm?

Tl. Khi tụng kinh hay nghe kinh ta phải tụng hay nghe với tất cả thân và tâm. Tụng như thế là ta đang có định lực, đang có chánh niệm và hòa nhập cùng với tăng thân. Ta không còn là một giọt nước đơn lẻ mà trở thành dòng sông của tăng thân. Tâm ta phải luôn luôn có mặt cùng với thân. Vì vậy, thiền hành có thể được coi như là một sự cầu nguyện, cầu nguyện bằng đôi chân. Khi đó ta có thể tiếp xúc được với nước Chúa hay tiếp xúc với cõi Tịnh Độ của Bụt A Di Đà, và ta có thể cảm nhận hiệu lực của sự cầu nguyện ngay lập tức.

Khi ta thở vào, thở ra trong chánh niệm, hơi thở đó là hơi thở có thật. Thân và tâm hợp nhất. Nếu miệng tụng kinh mà trí óc đi lang thang về quá khứ hay nghĩ đến tương lai thì đó không phải là tụng kinh. Bởi vì khi không có chánh niệm, không có định, không có mặt như thế ta không thể nào có tuệ giác. Phải hợp nhất thân tâm trong khi tụng kinh chứ không chỉ là chắp hai tay và tụng một bài kinh nào đó. Chúng ta nên tránh rơi vào cái bẫy của sự thực tập hình thức mà bất cứ tôn giáo nào như Phật giáo, Thiên Chúa giáo, hoặc các tôn giáo khác có thể xảy ra. Thực tập như thế thì sẽ không có hiệu quả.

Thỉnh thoảng tôi hay nhắc nhở đại chúng trước bữa ăn chung, “Hãy thở như một tăng thân.” Khi đó tất cả mọi người trong tăng thân cùng thực tập thực sự chứ không phải thực tập theo hình thức. Trong một buổi lễ, khi lạy xuống trước bàn thờ chúng ta xướng bài kệ: “Năng lễ sở lễ tánh không tịch, cảm ứng đạo giao nan tư nghì”. Người lạy và người được lạy không phải là hai thực thể riêng biệt, do đó sự truyền thông giữa hai bên đạt mức không thể nghĩ bàn. Tất cả chúng ta đều cần được nhắc nhở để tránh không sa vào thói quen thực tập theo hình thức. Chúng ta phải tìm ra những phương tiện khéo léo để giữ cho sự thực tập của chúng ta được sống động.

51. Tín hữu Kitô có nên quy y Phật?

H. Những tín hữu Kitô giáo ham chuộng giáo lý đạo Bụt có nên quy y để trở thành Phật tử hay không?

Tl. Tinh hoa của đạo Bụt là chánh niệm, thiền định, và tuệ giác. Có nhiều tín hữu Kitô giáo cũng có khả năng có chánh niệm, thiền định và tuệ giác thì họ đã là Phật tử rồi, họ không cần mang nhãn hiệu “Phật tử”. Khi họ có ý muốn tiếp nhận Tam Quy và Ngũ Giới thì họ biết rằng sự thực tập này của đạo Bụt sẽ giúp cho đức tin Kitô giáo của họ thêm vững mạnh. Một tín hữu Kitô giáo khi đến một trung tâm Phật giáo sẽ học được các phương pháp chế tác chánh niệm, thiền định, và tuệ giác. Một tín hữu Kitô giáo nếu tiếp nhận đạo Bụt một cách đúng đắn sẽ không bao giờ từ bỏ gốc rễ Kitô giáo của mình. Thực tập đạo Bụt như thế không những giúp họ trở thành một tín hữu Kitô giáo tốt hơn mà còn giúp họ làm mới Kitô giáo để cho các thế hệ trẻ Kitô giáo cảm thấy thoải mái và dễ dàng thích nghi hơn. Tất cả các truyền thống tôn giáo, kể cả Phật giáo, cần phải được đổi mới để phù hợp với thời đại và phù hợp với sự phát triển trên toàn thế giới.

Chúng ta không nên kẹt vào hình thức. Có nhiều người tự nhận mình là Phật tử nhưng sự thực họ không xứng đáng là Phật tử, bởi vì họ kỳ thị và giáo điều. Họ không có đức tính của một Phật tử như nhiều tín hữu Kitô giáo khác. Có nhiều tín hữu Kitô giáo không tự nhận mình là Phật tử nhưng họ có đức tính của một người Phật tử hơn những Phật tử kia. Chúng ta phải học nhìn theo cách như thế. Đã có đủ Phật tử rồi, ta không cần phải cải đạo thêm nhiều người thành Phật tử. Thái độ đúng đắn là không nên khuyên người khác từ bỏ truyền thống của họ mà khuyên họ trở về với truyền thống của họ một cách sâu sắc hơn. Đó là việc mà họ có thể làm được nhờ sự thực tập chánh niệm, thiền định và tuệ giác của đạo Bụt.

Có người đã hỏi tôi: “Giả sử Bụt và Chúa Jesu gặp nhau ngày hôm nay thì hai Ngài sẽ nói với nhau điều gì?” Câu trả lời của tôi là: “Bụt và Chúa Jesu đang gặp nhau mỗi ngày, và gặp ở khắp mọi nơi.” Bởi vì những người Phật tử là sự tiếp nối của Bụt và những tín hữu Kitô giáo là sự tiếp nối của Chúa Jesu, họ đang gặp nhau mỗi ngày ở khắp nơi. Chúng ta phải giúp đỡ để làm cho cuộc gặp gỡ của các Ngài được thành công.

52. Trở về truyền thống tâm linh

H. Xin Thầy nói rõ hơn về lời khuyên nên trở về truyền thống tâm linh của mình. Làm thế nào để trở về truyền thống tâm linh của mình mà vẫn thực tập đạo Bụt?

Tl. Nếu ta là một người Phật tử thì Bụt là gốc rễ của ta, nhưng ta cũng biết rằng Bụt cũng có gốc rễ. Cho nên gốc rễ của ta không chỉ bắt đầu từ Bụt. Cho nên tìm hiểu Bụt và cả tổ tiên của Bụt là một điều quan trọng. Khi ta là một tín hữu Kitô thì Chúa Jesu là gốc rễ tâm linh của ta, nhưng trước Chúa Jesu còn có nhiều truyền thống tâm linh khác. Vì vậy, tìm hiểu các gốc rễ của mình là một việc nên làm và thậm chí có thể là rất thích thú. Gốc rễ của chúng ta có thể là từ rất xa xưa mà cũng có thể là rất mới. Ta đang thừa hưởng những thứ như tự do, dân chủ, và những người đã tạo dựng ra dân chủ và tự do đó cũng là gốc rễ của ta. Cố nhiên ta có thể gặp những trường hợp hay những yếu tố tiêu cực, nhưng không vì thế mà ta không thể tìm về gốc rễ của ta. Gốc rễ của ta cũng là gốc rễ của nhiều người xung quanh ta. Một người không có gốc rễ thì không thể có hạnh phúc. Nếu trở về với gốc rễ truyền thống của mình để khám phá ra những giá trị đích thực, những châu báu của truyền thống ấy thì ta có khả năng làm lợi lạc cho rất nhiều người có cùng gốc rễ. Khi tôi nói rằng anh nên trở về gốc rễ của anh, điều đó không có nghĩa là anh phải từ bỏ thực tập đạo Bụt mà anh đang thích.

Nhưng thực tập đạo Bụt có thể sẽ giúp anh hiểu rõ hơn, từ đó thay đổi và làm mới truyền thống tâm linh của mình. Nó sẽ giúp anh mở rộng lòng hơn, chấp nhận được những người chưa đủ cởi mở và hiểu biết khi họ muốn trao truyền những truyền thống, giá trị cho các thế hệ tương lai. Chúng ta có thể có nhiều gốc rễ tâm linh. Theo tôi, Phật giáo, Kitô giáo, hay Do Thái giáo cùng thuộc về một gia tài tâm linh của nhân loại. Chúng ta có thể thừa hưởng từ tất cả các truyền thống tâm linh ấy. Không nên tự hạn chế mình trong một truyền thống tâm linh duy nhất. Nếu ta thích ăn xoài thì cứ tự do ăn xoài nhưng không ai cấm ta không được ăn dứa, ăn cam. Ta không phản bội xoài trong khi có biết bao nhiêu loại trái cây trên quả đất này. Những truyền thống tâm linh cũng như những loại trái cây, ta có quyền thưởng thức. Ta có thể có hai truyền thống và chọn ra những gì tốt đẹp nhất của cả hai truyền thống đó để sống với chúng. Tôi tiên đoán là trong tương lai chúng ta sẽ phải lấy đi những rào cản giữa các truyền thống tâm linh khác nhau.

53. Làm mới truyền thống tâm linh

H. Xin Thầy giải thích thêm khi Thầy khuyên nên làm mới truyền thống tâm linh.

Tl. Truyền thống tâm linh của chúng ta phải là một truyền thống sống động cũng giống như một cái cây vậy. Cây phải đâm thêm nhánh, đơm hoa và trổ trái. Nó phải là một thực tại sống động chứ không phải là một vật để chúng ta trưng bày trong viện bảo tàng. Sự lớn mạnh của một truyền thống tâm linh là do sự thực tập của chúng ta, của chư Tổ, và cả tăng thân. Nếu không có sự tu tập thì truyền thống tâm linh đó sẽ không có sinh khí, chỉ có hình thức bên ngoài mà không có sự sống đích thực.

Khi trồng một cây mận ta phải tỉa cành hàng năm, phải cắt bỏ những cành nào không sinh hoa, sinh trái mà lại hút nhựa sống của cây. Phải tỉa một số cành để các cành khác có điều kiện tiếp nhận ánh sáng mặt trời. Một truyền thống tâm linh cũng như một cái cây ăn trái. Phải chăm sóc và cắt tỉa khi cần. Những gì không còn hợp thời thì phải cắt bỏ. Mục đích là chỉ giữ lại phần tinh túy của truyền thống và diễn giải thế nào để cho thế hệ trẻ có thể nhận ra những phẩm chất, những giá trị tốt đẹp của truyền thống và thấy rõ truyền thống của mình quý báu như thế nào. Chúng ta phải can đảm, phải chấp nhận cắt tỉa ít nhiều để cho truyền thống được lành mạnh, bởi vì xu hướng cổ hủ hóa luôn có trong tất cả các tôn giáo, kể cả Phật giáo. Nếu biết cách chăm sóc và cắt tỉa với tất cả sự thương yêu thì chúng ta sẽ giúp cho cái cây truyền thống tâm linh ấy được xanh tươi, và cây sẽ hiến tặng thêm nhiều hoa trái.

54. Đọa địa ngục vì không chấp nhận Thượng Đế

H. Cha mẹ tôi theo Kitô giáo Chính thống, không hiểu gì về đạo Bụt và có nói rằng vợ con tôi và tôi sẽ bị đọa địa ngục vì chúng tôi không chấp nhận Chúa. Làm sao để tôi có thể truyền thông với cha mẹ tôi?

Tl. Nếu ta nhìn Chúa như là một người có khả năng áp bức hay trừng phạt, không có khả năng tha thứ và bao dung thì ta có quan niệm sai lầm về Chúa, ta đã bóp méo hình ảnh của Chúa. Những người Kitô Chính thống tin rằng có những kẻ thù của Chúa cần phải tiêu diệt. Họ không biết rằng ý nghĩ ấy dính liền với sự kỳ thị và ý muốn trừng phạt. Đối với Chúa thì không có kẻ thù. Có vài tín hữu Kitô thuộc phái Chính thống có thể thay đổi cách suy nghĩ nếu ta biết sử dụng ái ngữ và kiên nhẫn. Cảm thông nhau là nền tảng của hòa bình thực sự. Ta phải giúp họ thấy được nội dung chứ không phải chỉ thấy nhãn hiệu. Ta có thể nói với cha mẹ rằng: Là một Phật tử chúng ta thực tập để bảo vệ sự sống, chia sẻ thời giờ, năng lượng và vật chất với những người thiếu thốn, bảo vệ sự an toàn của người lớn cũng như trẻ em, chống lại sự quan hệ tình dục không đúng đắn, thực tập lắng nghe sâu, nói lời ái ngữ, không sử dụng và tiêu thụ các sản phẩm có chứa độc tố. Chúng ta có thể mô tả người Phật tử như thế. Trong tinh thần không kỳ thị, ta có thể giúp cha mẹ cởi bỏ quan niệm hẹp hòi. Không nên lên án hay đả kích. Ta phải sử dụng ái ngữ để nói cho cha mẹ biết rằng nên hiểu Chúa một cách rộng sâu hơn. Có năm vị nữ tu Công giáo đến tham dự một khóa tu chánh niệm do tôi hướng dẫn. Vào ngày chót của khóa tu, Mẹ Bề Trên đã nói rằng: “Những gì Thầy chia sẻ đều tuyệt vời. Nhưng tại sao Thầy không nói gì về Chúa?” Tôi nhìn bà mỉm cười và nói: “Xin thưa, những gì tôi đã chia sẻ trong sáu ngày qua có điều gì tôi nói mà không liên hệ đến Chúa đâu?” Và bà ta cười – Bà đã nhận ra được thông điệp.

55. Mộng và điềm báo mộng

H. Giấc mộng có ý nghĩa gì? Liệu chúng ta có nên hành động theo điềm báo mộng hay không?

Tl. Theo tinh thần của đạo Bụt, phần đông chúng ta sống như trong mộng. Chúng ta không thực sự tiếp xúc với thực tại. Chúng ta chỉ có ý tưởng và khái niệm về thực tại, về ta, về người khác, về tất cả những gì mà chúng ta cảm nhận được ở trong ta và xung quanh ta. Tất cả thực sự là một giấc mộng. Thực tập chánh niệm và thiền định giúp ta nhìn sâu để có được một cảm nhận đúng về hiện hữu, những gì đang xảy ra, về những cảm thọ, ý tưởng trong ta, và đối tượng tâm thức của ta. Sống chánh niệm và nhìn sâu là cách duy nhất để sống thực với giấc mơ của ta.

Chúng ta phải để tâm đến những gì mà những người xung quanh đang nói với ta, trước tiên là những gì mà ta tin chắc đó không phải là mộng. Rồi kế đến là những gì mà những người trong mộng nói với ta. Không phải chỉ những người trong mộng là sáng tạo phẩm của tâm thức ta, mà cả những người đang ngồi trước mặt ta, đang ở xung quanh ta khi ta đang thức, cũng là sáng tạo phẩm do tâm thức tạo nên. Trong trường hợp đó chúng ta không thể có một nhận thức đúng về những gì đang thực sự có mặt.

Giấc mộng còn là một sáng tạo phẩm chung của tâm thức, được tạo nên từ những dữ kiện có sẵn trong tàng thức của ta và trong tâm thức của cộng đồng. Những gì mà ta thấy trong mộng là biểu hiện từ chiều sâu của tâm thức chứ không phải từ bên ngoài. Nhưng đây không phải là tâm thức của riêng ta, bởi vì ta được làm bằng những yếu tố không phải là ta. Tâm thức ta được làm bằng tâm thức của xã hội. Vậy thì hãy mỉm cười với những gì ta thấy trong giấc mộng. Và hãy quán chiếu, có thể giấc mộng là một thông điệp cho ta. Có thể đó là một ước mơ thầm kín, có thể là một sự lo sợ, có thể là một chút giận hờn nằm trong sâu thẳm của giấc mộng.

Mỉm cười, nhớ lại giấc mộng, quán chiếu giấc mộng là một điều rất thú vị. Nhưng những giấc mộng của ban đêm đâu phải là quan trọng hơn những giấc mộng của ban ngày. Bởi vì những gì ta nghe, ta thấy khi ta đang thức hầu hết đều là sáng tạo phẩm của tâm thức. Những gì mà ta cho là thực tại thì hầu hết chỉ là sáng tạo phẩm từ tâm thức của chính ta. Vì thế cho nên sự thực tập chánh niệm để nhận diện những đối tượng của tâm thức, cũng như thực tập quán chiếu để biết những cảm nhận (tưởng) của ta có sai lầm hay không là rất quan trọng. Nhiều người trong chúng ta đang sống như sống trong giấc mộng. Vì vậy, chúng ta cần phải tỉnh mộng. Giáo lý của đạo Bụt là giáo lý của sự thức tỉnh. Những lời Bụt dạy là để thức tỉnh chúng ta. Bụt là một người đã tỉnh thức. Và đạo Bụt là đạo dạy phép tu để tỉnh thức.

Chương 2: Gia đình – Con cái – Tình cảm

18. Để cho gia đình được bình an

H. Làm sao để bảo đảm cho gia đình được bình an trong khi thế giới bên ngoài đang có nhiều biến động và thiếu bình an?

Tl. Mỗi gia đình nên thiết lập một căn phòng mà ta có thể gọi là phòng thở hay phòng thiền, hay là ốc đảo bình an. Nếu nhà không có nhiều không gian hoặc không có phòng riêng thì chỉ cần một góc nhỏ cũng có thể biến thành một ốc đảo bình an. Khi một ai trong gia đình cảm thấy bất an hay thiếu vững chãi thì có thể tìm đến ẩn náu nơi ốc đảo bình an ấy. Không cần phải là một nơi thật rộng rãi, bày biện bàn ghế rườm rà, chỉ cần vài tọa cụ, một cái chuông nhỏ và một bình hoa tượng trưng cho sự tươi mát, vẻ đẹp và hy vọng.

Bất cứ ai, kể cả các em nhỏ, khi nào cảm thấy tức giận hay bức xúc cũng có quyền tìm đến ẩn náu ở nơi đó. Bất cứ nhà nào, nếu gọi là văn minh, thì phải có một căn phòng như thế. Đó là lãnh địa của bình an, một nơi để trở về nương tựa “hải đảo tự thân”. Ngay khi “ốc đảo” đó được thiết trí thì bản thân ta và những người khác trong nhà bắt đầu được thừa hưởng lợi lạc. Bước vào căn phòng ấy ta sẽ có cảm giác bình an trong tâm. Khi cha mẹ cãi nhau, con cái sẽ đau khổ. Nếu mình là con thì mình có thể tránh mặt, đi vào phòng thở, thỉnh lên một tiếng chuông và thực tập thở trong chánh niệm.

Ta tìm về nương tựa nơi không gian bình an của căn phòng. Nếu ta thực tập được như thế thì sẽ giúp cha mẹ dừng lại khi nghe tiếng chuông và nhận ra rằng mình không nên làm cho con mình đau khổ. Cho nên một người có thực tập cũng có thể giúp được cho những người khác trong nhà.

Khi giận nhau thì một trong hai người có thể vào phòng thở, thực tập hơi thở chánh niệm và nghe chuông để được lắng dịu. Thực tập như thế thì bố mẹ, vợ chồng, con cái sẽ tạo được cảm hứng cho nhau. Mỗi buổi sáng cả nhà nên cùng nhau vào phòng thở, ngồi với nhau vài phút, nhận diện sự có mặt của nhau trong chánh niệm, chúc nhau một ngày mới an lành và hạnh phúc. Bắt đầu một ngày mới với vài phút thư giãn, nhìn nhau, trân quý nhau, làm được như thế là rất quý. Trước khi đi ngủ, cả nhà nên vào phòng cùng ngồi nghe chuông và cùng thở với nhau. Mỗi khi cần lắng nghe nhau thì phòng thiền là nơi để cùng ngồi lại với nhau trong chánh niệm, lắng nghe sâu sắc niềm đau, nỗi khổ của nhau. Khi một đứa con đã vào trú ẩn trong phòng thiền thì cha mẹ không nên tiếp tục la mắng nó nữa. Vào phòng thiền là coi như có đặc quyền bất khả xâm phạm, không ai có thể quấy rối gì mình nữa.

19. Dạy con chánh niệm, từ bi

H. Dạy con như thế nào để chúng sống chánh niệm hơn, từ bi hơn?

TL. Nếu cha mẹ thực tập chánh niệm và từ bi trong đời sống hàng ngày thì các con đương nhiên sẽ sống theo gương cha mẹ. Không thể bắt con cái làm một điều gì mà chính mình không làm được. Khi tôi đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm thì các đệ tử của tôi sẽ theo gương tôi mà đi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm. Đôi khi cũng cần nhắc nhở con cái một cách nhẹ nhàng, nhưng trẻ em theo gương người lớn là chuyện tự nhiên. Thỉnh thoảng cha mẹ cũng nên bàn luận với con cái về chánh niệm và từ bi, khuyến khích con cái thực tập chánh niệm và từ bi.

Bằng ái ngữ, ta có thể tưới tẩm những hạt giống chánh niệm và từ bi trong con cái và ta phải làm gương cho chúng. Ta không cần la mắng hay trừng phạt. Chỉ cần sử dụng ái ngữ và tự mình thực tập thì con cái sẽ thấy và làm theo.

20. Hay lo âu và dễ tức giận

H. Con gái vừa mới lớn của tôi hay lo âu và dễ tức giận. Tôi phải làm gì để giúp con lắng dịu cảm xúc?

Tl. Nhiều người trẻ không có khả năng xử lý cảm xúc của mình mà lại hay đau khổ. Nếu cha mẹ muốn giúp thì nên dạy cho con biết rằng cảm xúc cũng giống như một cơn lốc. Cơn lốc thổi đến, cơn lốc ở lại một lúc rồi cơn lốc sẽ qua đi. Nếu chúng ta biết xử lý một cách tốt đẹp nhất trong những lúc đó thì chúng ta có thể vượt qua cơn lốc của cảm xúc một cách dễ dàng.

Sự thực tập thở sâu bằng bụng có thể giúp xử lý được cảm xúc mạnh. Dạy cho con thực tập như thế không khó. Khi thấy con đang trong lúc khủng hoảng ta hãy cùng ngồi xuống với con và nói:
“Con hãy nắm lấy tay ba, thực tập thở với ba, con thở vào đi, phình bụng lên.”
“Con có thấy bụng của con phồng lên không? Bây giờ con thở ra, con có thấy bụng của con xẹp xuống không? Nào hãy làm lại: Vào, ra, phồng, xẹp.”
Chỉ trong vòng vài phút cháu sẽ cảm thấy thư thái hơn, nhẹ nhàng hơn nhờ sự bao bọc của năng lượng chánh niệm và sự vững chãi của ta. Sau đó thì con có thể tự làm một mình. Sự thực tập này không có gì khó. Những em bé hay những thiếu niên đều có thể làm được.

Tuy nhiên, không nên đợi đến khi bão tố ập tới ta mới bắt đầu thực tập. Phải bắt đầu thực tập ngay. Nếu ta cùng con thực tập trong hai hay ba tuần lễ, mỗi ngày năm hay mười phút thì việc thở sâu bằng bụng sẽ trở thành thói quen tự nhiên. Và sau đó mỗi khi có cảm xúc mạnh sắp trỗi dậy thì cháu tự biết phải làm gì. Cháu sẽ thấy rằng cháu cũng có thể tự vượt qua được những cảm xúc mạnh.

21. Bất hòa giữa cha mẹ và con cái

H. Tôi và con trai gần hai mươi tuổi cãi nhau hoài. Làm thế nào để chấm dứt tình trạng đó?

Tl. Việc trước tiên ta có thể làm là phải nhìn lại mình để xem ta có đủ bình tĩnh để giúp con mỗi khi ta đối diện với nó hay không? Rắc rối có thể không chỉ đến từ đứa con mà còn từ cha mẹ. Nếu cha mẹ sống không hòa thuận thì có thể gây nên cảm xúc tiêu cực nơi đứa con, nhất là khi người con đã có những hạt giống tiêu cực được gieo trồng từ trước. Trong quá khứ có thể đã có lúc ta cau có, bực mình la mắng và đã gieo những hạt giống tiêu cực đó vào tâm thức con ta. Vì vậy, ta phải học cách giải tỏa tình trạng đó ngay bây giờ. Yêu thương, bình tĩnh và lắng nghe có thể xoa dịu được khổ đau trong lòng con trẻ đi rất nhiều. Nếu ta có thể khuyến khích con nói ra những khó khăn của mình và lắng nghe một cách sâu sắc với tình thương yêu thì những năng lượng đã làm con đau khổ trong quá khứ sẽ được tiêu trừ. Nếu có tình thương yêu, có năng lượng bình an thì mặc dầu không nói gì cả ta cũng có ảnh hưởng tốt đến con và con ta sẽ cảm thấy dễ chịu khi ngồi cạnh ta.

22. Đi làm vẫn nuôi dạy con tốt

H. Có nhiều người cho rằng những người mẹ vì phải đi làm nên không thể săn sóc con cái một cách chu đáo. Nhưng cũng có những người mẹ tuy ở nhà mà vẫn không để ý gì đến con cái thì sao? Làm sao để chúng tôi vừa có thể nuôi dạy con tốt vừa làm những việc đòi hỏi sự chú tâm?

Tl. Chúng ta có thể vừa đi làm vừa nuôi dạy con. Nếu biết cách sắp xếp để chăm sóc thương yêu con cái đủ thì ta vẫn có thể đi làm được chứ. Chăm sóc là yếu tố rất quan trọng cho sự truyền thông và hiểu biết. Chăm sóc đưa đến thương yêu, thương yêu đưa đến hiểu biết và càng hiểu biết thì càng thương yêu.

Nhiều bậc cha mẹ cần phải đi làm vì sinh kế. Nhiều người khác đi làm vì có niềm vui trong công việc. Nhưng ở nhà để chăm sóc con cái, nhà cửa, tạo không gian tươi mát và lành mạnh cho những người khác trong gia đình cũng là một việc làm rất quan trọng. Không nên căn cứ vào mức lương hay công việc để đánh giá giá trị của bản thân. Phải học cách hành xử như thế nào để luôn thể hiện được sự vững chãi, tự tin, tin tưởng, và vui tươi. Nếu cha mẹ ở nhà, không đi làm mà không tạo được không khí bình an, tươi mát trong gia đình thì ở nhà đâu phải là một điều hay. Trong khi đó cha mẹ đi làm mà khi về nhà vẫn dễ thương và vui vẻ đó là nhờ biết cách tu dưỡng mình. Phẩm chất hành động của ta tùy thuộc rất nhiều vào phẩm chất của cái thấy “không hành động”, phẩm chất của tự thân.

23. Tuổi thơ bị bạo hành

H. Tôi từng bị cha mẹ tôi đánh đập, hành hạ. Cho tới bây giờ tôi vẫn còn giận họ. Làm sao để tránh trao truyền tâm sân hận đó cho các con tôi?

Tl. Nếu ta là nạn nhân của một tuổi thơ bị bạo hành thì hãy nên quán chiếu để thấy rằng cha mẹ ta đã không có cơ may gặp đạo, gặp Thầy hay gặp thiện tri thức. Cha mẹ ta có thể đã lớn lên trong một môi trường mà những hạt giống của bạo hành trong họ bị tưới tẩm. Nếu cha mẹ được lớn lên trong một môi trường lành mạnh hơn thì họ đã không đối xử với ta như thế. Điều này đúng đối với tất cả mọi người. Khi cha mẹ ta đã trao truyền những hạt giống tiêu cực sang cho ta thì ta phải quyết tâm tu tập để không lặp lại những lỗi lầm đó của họ, không những ta không bạo hành với con cái mình mà còn giúp bảo vệ trẻ em nữa. Và với quyết tâm như thế ta có thể chữa trị và chuyển hóa đau khổ của ta, kể cả những đau khổ do bị cha mẹ bạo hành từ quá khứ.

Học nhìn bằng con mắt từ bi là một thực tập rất quý, rất mầu nhiệm. Nếu ta biết cách nhìn người khác bằng con mắt từ bi thì ta sẽ không còn đau khổ và sẽ làm cho những người khác cảm thấy thoải mái hơn. Đó là một lý do tuyệt vời để thực tập. Bài thi kệ đầu tiên trong cuốn sách Bước tới thảnh thơi, sách thực tập của Sa di là: “Thức dậy miệng mỉm cười, hai mươi bốn giờ tinh khôi, xin nguyện sống trọn vẹn, mắt thương nhìn cuộc đời.” Bắt đầu một ngày mới với phát nguyện nhìn mọi người bằng con mắt từ bi là một lối sống rất đẹp.

Tâm từ bi phát xuất từ sự hiểu biết. Khi đã biết hoàn cảnh của ai rồi thì ta sẽ nhận ra rằng người ấy chỉ là nạn nhân của hoàn cảnh. Biết như thế ta không còn chê trách, phê phán hay buộc tội nữa. Người ấy không đáng bị trừng phạt. Người ấy cần được giúp đỡ. Ngay khi nhận ra được điều này ta sẽ không còn đau khổ nữa. Ta không đối xử với con ta như cha ta đã đối xử với ta. Đây là một sự chuyển hóa tuyệt vời.

24. Tuổi thơ đau buồn

H. Làm thế nào để những ai từng có tuổi thơ đau buồn quên được khổ đau và tìm lại niềm tin nơi người khác?

Tl. Nhiều người trong chúng ta có một em bé bị tổn thương ở trong lòng. Lúc nhỏ ta đã bị thương tích cho nên ta khó có thể tin tưởng và thương yêu, cũng như khó tiếp nhận được tình thương yêu. Vì quá bận rộn nên ta không có thời giờ để trở về với em bé thương tích trong ta và để chữa trị. Ta e ngại trở về để đối diện với em bé thương tích trong ta. Niềm đau nỗi khổ trong ta quá lớn nên ta có khuynh hướng trốn chạy. Nhưng thực tập chánh niệm là trở về để chăm sóc em bé thương tích trong ta, mặc dù biết là khó. Chúng ta cần được hướng dẫn để không bị niềm đau làm tê liệt. Chúng ta thực tập nuôi dưỡng năng lượng chánh niệm cho đủ vững mạnh, và với năng lượng chánh niệm đó ta có thể trở về để ôm ấp em bé bị thương tích trong ta. Thực tập đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, thở trong chánh niệm là những thực tập cơ bản và chính yếu. Ngoài ra năng lượng chánh niệm của bạn bè cũng có thể giúp cho ta. Mới đầu ta có thể cần đến một hai người bạn ngồi với ta, nhất là những người bạn biết ngồi thiền vững chãi, để năng lượng chánh niệm của họ hỗ trợ ta. Khi có được một người bạn ngồi cạnh và nắm tay ta, phối hợp năng lượng với ta thì ta có thể trở về ôm ấp em bé thương tích trong ta.

Ta phải nói chuyện với em bé thương tích đó nhiều lần trong ngày, dịu dàng ôm ấp em và nói với em rằng ta sẽ không bỏ em hay quên chăm sóc em nữa. Nếu có tăng thân thì sự thực tập sẽ dễ dàng hơn, nhất là khi mới bắt đầu. Thực tập một mình không có sự hỗ trợ của các anh chị trong tăng thân có thể là rất khó cho những người mới bắt đầu. Em bé thương tích đó có thể là hệ quả của nhiều thế hệ. Có thể là cha ông ta cũng có em bé thương tích trong mình nhưng không biết cách chữa trị cho nên đã trao truyền em bé thương tích ấy cho ta. Sự thực tập của ta là chấm dứt cái vòng luẩn quẩn đó.

Chúng ta đau khổ vì không được thương yêu và hiểu biết. Nếu chúng ta chế tác ra năng lượng chánh niệm, năng lượng hiểu biết và thương yêu cho em bé thương tích trong ta thì ta sẽ bớt đau khổ nhiều lắm. Thay vì trước đây chúng ta nghi ngờ tất cả thì giờ đây chúng ta sẽ dễ dàng tiếp nhận tình thương từ người khác. Thương yêu giúp chúng ta mở rộng liên hệ với mọi người và tái lập lại truyền thông.

25. Săn sóc cha mẹ già là một gánh nặng

H. Tôi săn sóc cha mẹ già trong nhiều năm nay. Tuy tôi rất thương cha mẹ tôi nhưng việc đó quả thật là một gánh nặng về tài chính cũng như về sức lực và càng ngày tôi càng cảm thấy khó nhọc. Tôi phải làm sao?

Tl. Chúng ta săn sóc cho cha mẹ không phải vì ý thức trách nhiệm và bổn phận mà vì tình thương yêu đích thực. Một khi sự thương yêu và lòng biết ơn là nền tảng của hành động thì ta không còn thấy mệt mỏi và chán nản. Vì vậy, sự thực tập cốt yếu là nhìn sâu để hiểu rõ, đem thương yêu làm nền tảng cho hành động săn sóc, nhờ đó mà ta không mệt mỏi, không chán nản. Săn sóc cha mẹ là săn sóc cho chính mình.

Đôi lúc ta cũng nên ngồi xuống nói chuyện với cha mẹ để có được sự cảm thông và cùng thấy rõ mức giới hạn của mỗi người. Nhờ có hiểu biết và thương yêu mà tình trạng sẽ thay đổi, ta sẽ thấy dễ chịu hơn nhiều. Khi ta săn sóc cho con của ta cũng vậy, ta không nên nghĩ rằng con ta là một ai khác mà là ta, là chính ta. Vì vậy, nếu phải thức khuya hay thức dậy nhiều lần trong đêm ta cũng không than phiền gì cả. Đó là vì ta có tình thương, ta có tuệ giác, con ta và ta là một. Thấy được như thế ta sẽ có rất nhiều nghị lực để tiếp tục hành động.

26. Liên hệ trong tình yêu

H. Trong liên hệ tình yêu cả hai bên phải bình đẳng. Làm thế nào để bảo đảm người mạnh không ức hiếp người yếu?

Tl. Ngay khi khởi lên ý niệm về “một” thì ý niệm về “hai” đồng thời cùng khởi lên. Cũng giống như ý niệm về phải và trái. Bản chất của thực tại vượt thoát khỏi ý niệm về “một” và “hai”. Nếu thực tập được theo tuệ giác đó thì ta sẽ tự tìm ra câu trả lời cho chính mình. Nguyên tắc của sự thực tập là giữ tâm bình đẳng và không phân biệt, sử dụng tuệ giác “vô phân biệt trí’’, nghĩa là tuệ giác của sự không phân biệt.

Bàn tay phải không bao giờ kỳ thị với bàn tay trái, không bao giờ bàn tay phải tự hào cho là nó giỏi hơn bàn tay trái. Vì bàn tay phải biết rất rõ rằng nó với bàn tay trái là một, hay là “bất nhị” hoặc “không hai”. Mỗi khi bàn tay trái cần thì bàn tay phải sẵn sàng giúp mà không cho rằng nó là bàn tay giỏi hơn hay mạnh hơn. Trong liên hệ tình cảm cũng vậy. Chúng ta cũng nên phát khởi tuệ giác không phân biệt. Khi chúng ta có khả năng sống với nhau theo tuệ giác ấy thì không có ai mạnh hơn ai hay yếu hơn ai, không ai lợi dụng ai. Nếu còn có ý muốn lấn át là chưa có được tuệ giác vô phân biệt.

27. Lắng nghe với tâm từ bi

H. Tôi đang thực tập lắng nghe với tâm từ bi nhưng thật là khó mà lắng nghe những người cứ mãi trách móc, nguyền rủa. Muốn thực tập lắng nghe với tâm từ bi thì tôi phải cần thực tập bao lâu?

Tl. Nhiều người có nhu cầu phải nói nhiều, mãi rồi cũng thành tập khí. Đôi khi họ cứ kể đi kể lại cùng một câu chuyện. Thực tập lắng nghe một cách đích thực là giúp cho người khác nói ra được những gì mà lâu nay họ không thể nói. Có được một người có khả năng lắng nghe mình nói một cách sâu sắc là một cơ hội quý giá vô cùng. Điều đó có thể làm vơi bớt rất nhiều khổ đau rồi. Nhưng mà trong trường hợp người kia cứ tiếp tục lặp đi lặp lại cùng một chuyện cũ thì lắng nghe sâu cũng không giúp ích được gì cho người đó. Những chuyện cũ đó tưới tẩm những hạt giống tiêu cực trong họ và trong ta. Cứ ngồi đó mà lắng nghe không giúp ích gì cho cả hai bên.

Ta phải nói như thế này, “Này anh, tôi đã nghe những gì anh nói rồi, anh không cần phải lặp lại mãi. Tôi biết rằng trong anh đang có những khối khổ đau, nhưng anh không có cơ hội nhận diện và quán chiếu để tìm ra được nguồn thức ăn đã nuôi lớn khổ đau đó, vì vậy mà anh không thể chuyển hóa nó. Cho nên khổ đau của anh cứ trỗi dậy mãi làm cho anh đau khổ và làm cho người xung quanh anh cũng đau khổ. Vì vậy, giải pháp là không nên nói mãi về nỗi khổ của mình mà phải nhận diện những nỗi khổ ấy cũng như những nguyên nhân đã tạo nên khổ đau, hay những gì đã nuôi dưỡng và khơi dậy niềm đau, nỗi khổ. Sự thực tập của chúng ta là nhận diện đau khổ và chấm dứt gốc rễ của đau khổ. Và này anh bạn ơi, tôi xin giúp bạn. Bởi vì tôi đã thực tập như vậy cho tôi. Tôi đã có thể tự giải thoát. Tôi không còn than phiền gì nữa bởi vì tôi đã biết nhận diện khổ đau trong tôi. Tôi ôm ấp và quán chiếu sâu sắc khổ đau. Tôi đã khám phá ra gốc rễ của khổ đau trong tôi và tôi đã thực tập để ngừng nuôi lớn chúng, để rồi có thể chuyển hóa chúng. Tôi mong rằng tôi có thể giúp anh thực tập như tôi. Tôi sẽ làm tất cả những gì tôi có thể làm được để giúp anh.” Bằng cách dùng lời ái ngữ, chúng ta có thể khuyến khích bạn bè thực tập để ôm ấp khổ đau, quán chiếu bản chất của khổ đau để rồi chuyển hóa và trị liệu khổ đau.

28. Mẹ vợ tôi rất khó chịu

H. Mẹ vợ tôi rất khó chịu. Tôi đã cố gắng chịu đựng, nhưng nhiều lúc tôi chịu hết nổi. Phải làm sao để thay đổi tình trạng này?

Tl. Mẹ vợ là mẹ của người bạn đời của ta. Cô là một phần của bà và dòng họ bà. Ta đã từng cam kết là sẽ cùng nhau chia ngọt sẻ bùi với người bạn đời của mình, và trong đó mẹ vợ cũng là một phần của sự cam kết ấy. Mẹ vợ ta có thể là nguồn hạnh phúc hay khổ đau cho ta và người bạn đời của ta. Cho nên sự thực tập là chấp nhận bà ấy. Hạnh phúc của người bạn đời ta tùy thuộc rất nhiều vào hạnh phúc của mẹ. Nếu mẹ cô ấy không hạnh phúc thì ta khó có được hạnh phúc. Chăm sóc cho mẹ vợ, tức là ta đang tự chăm sóc cho ta và chăm sóc cho người thương của ta.

Ta phải học cách chăm sóc bất cứ điều gì có liên hệ tới sự bình an và hạnh phúc của cô ấy, bởi vì ta lo cho cô ấy. Cho nên phải nhìn xa, trông rộng và nhận rõ tất cả những gì có liên hệ với cô ấy để có thể làm cho cô ấy thực sự hạnh phúc.

Khi đến nhà bố mẹ vợ phải nên giữ lễ độ, chào hỏi cho lễ phép vì đó là cha, là mẹ của vợ ta. Cho dù mẹ vợ có dễ thương hay không dễ thương thì cách hành xử của ta, khả năng kính trọng, chấp nhận và chăm sóc của ta có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc của chính ta và người bạn đời của ta. Vì vậy, nếu nhìn cho sâu ta có thể xóa bỏ được những ngăn cách và có thể chấp nhận mẹ vợ như là một bậc trưởng thượng quan trọng của người thương của ta.

29. Hòa giải với người cha đã qua đời

H. Cha tôi và tôi rất xung khắc. Chúng tôi không thể nói chuyện với nhau hay lắng nghe nhau. Cha tôi nay đã qua đời. Có quá muộn để bây giờ hòa giải với cha không?

Tl. Cha ta vẫn còn đó, sống động trong từng tế bào của cơ thể ta. Ta là sự tiếp nối của cha ta. Cha ta không có may mắn gặp được chánh Pháp để chế tác bình an cho thân tâm mình, nhưng cha có được may mắn là có ta để tiếp nối. Vì vậy, khi ta thực tập thì sự chuyển hóa không chỉ cho ta mà cả cho cha. Cha ta sẽ hưởng được nhiều lợi lạc nhờ vào sự tu tập của ta.

Cha ta luôn có mặt trong ta bất cứ giây phút nào. Khi ta thực tập hơi thở chánh niệm và cảm thấy an lạc, ta hãy hỏi: “Ba ơi, ba có cảm thấy an lạc không? Chúng ta cùng thực tập với nhau ba nhé.” Khi đi thiền hành ta cũng đi cho cha. Đây là một cách thực tập thương yêu. Cha ta cũng có tính Bụt bên trong, nghĩa là có khả năng thương yêu ngọt ngào nhưng cha ta không có cơ may để phát triển những đức tính đó. Cho nên giờ đây ta có thể giúp cho cha bằng cách thực tập lắng nghe sâu bởi vì cha trong ta đang cần được lắng nghe. Và đứa bé trong ta cũng đang sống động trong ta và cũng đang cần được lắng nghe. Ta không cần thực tập lắng nghe sâu với ai cả. Chỉ cần ngồi dưới một gốc cây hay một thảm cỏ và lắng nghe cha trong ta, lắng nghe đứa bé trong ta. Lắng nghe em bé ấy là đang lắng nghe chính mình. Lắng nghe cha ta cũng là nghe chính ta. Phẩm chất của sự lắng nghe có thể rất cao, rất sâu nếu ta biết thực sự an trú trong giây phút hiện tại, đem thân về với tâm, hoàn toàn có mặt cho bây giờ và ở đây. Sự lắng nghe sâu sẽ mang đến cho chúng ta nhiều tuệ giác, chuyển hóa và trị liệu rộng lớn. Ta cũng có thể viết cho cha ta một bức thư với lời lẽ cụ thể, sâu đậm và chân thành. Bức thư ấy sẽ đem lại sự hòa giải thật sự bởi vì bức thư ấy không phải chỉ viết cho cha ta mà ta đang viết cho chính mình.

30. Nỗi lo sợ bị cô đơn

H. Cuộc sống độc thân đã đem lại cho tôi nhiều đau khổ. Tôi biết tôi đã may mắn có gia đình và bạn bè thương yêu, nhưng tôi cũng mong muốn có một người bạn đời để được chia sẻ. Làm thế nào để có thể ôm ấp nỗi khổ đau này mỗi khi nó xảy đến?

Tl. Tất cả chúng ta đều có cùng một nỗi lo sợ khi nhu cầu thương yêu và được thương yêu của ta không được đáp ứng. Nỗi lo sợ bị cô đơn luôn có trong tất cả chúng ta. Chúng ta phải nhận diện nỗi lo sợ và nhu cầu đó ở trong ta. Sự thực tập của ta là nhìn sâu vào nỗi lo sợ đó. Thương yêu là hiến tặng cho người mình thương sự hiểu biết và niềm an vui. Hiểu là cội nguồn của yêu thương. Chúng ta sẽ vô cùng đau khổ nếu không có ai hiểu được mình. Và khi một người không hiểu ta thì người ấy không thể thương ta được. Có hiểu mới có thương. Sự thật là chúng ta cần được hiểu, cần được thương. Vì vậy, chúng ta có khuynh hướng đi tìm một ai đó để có thể hiểu ta và thương ta.

Giả sử ai đó có khả năng đem lại cho ta sự hiểu biết và thương yêu. Ví như một anh chàng hay một cô nàng nào đó. Nhưng ta phải đặt câu hỏi: Liệu ta có khả năng đem hiểu biết và thương yêu đến cho người đó hay không? Liệu ta có khả năng chế tác ra được sự hiểu biết và thương yêu, thứ mà ta đang rất cần hay không? Bởi vì nếu chúng ta không có khả năng hiểu được người khác thì tình thương yêu sẽ không thể xảy ra. Giáo pháp của Bụt giúp chúng ta chế tác ra hiểu biết và thương yêu. Nếu chúng ta có khả năng hiểu và thương thì trước tiên nó sẽ giúp thỏa mãn nhu cầu được thương trong ta. Sau đó với khả năng hiểu biết và thương yêu, ta có thể đến với những người quanh ta. Chúng ta có thể đem hạnh phúc đến cho họ vì chính ta đang hạnh phúc. Hạnh phúc có công năng nuôi dưỡng, trị liệu và tạo thêm hạnh phúc.

Vì vậy, vấn đề không phải là làm sao để có hạnh phúc mà là làm sao để chính ta có khả năng chế tác ra hiểu biết và thương yêu. Nếu sự thật ta có khả năng đó thì năng lượng hiểu biết và thương yêu sẽ cho ta sự thỏa mãn và những người xung quanh ta thỏa mãn. Đó chính là tình thương của Bụt. Tình yêu chân thật cũng như vậy. Thương yêu một người là một cơ hội cho ta học thương yêu tất cả mọi người. Nếu ta có khả năng hiểu và thương thì ta có thể thể hiện sự hiểu và thương đó ngay bây giờ mà không cần phải chờ đợi gì nữa. Làm được như thế thì bao nhiêu lo lắng sợ hãi sẽ tan biến, và ta sẽ cảm thấy an lạc ngay lập tức.

31. Khi tình yêu tan vỡ

H. Khi một liên hệ tình cảm chấm dứt, tôi buồn khổ cả tuần, có khi cả tháng. Làm thế nào để buông bỏ niềm đau đó?

Tl. Một mối tình tan vỡ là trách nhiệm của cả hai bên. Khi hai người không biết trân quý nhau, không biết cách đối trị cảm xúc giận hờn, bực tức của mình, không biết lắng nghe và nói lời ái ngữ thì họ sẽ làm cho liên hệ tình cảm rối tung và trở nên tồi tệ. Hậu quả là sợ hãi, buồn bực, tiếc nuối, và tuyệt vọng sẽ xảy ra. Chúng ta thường có xu hướng trốn tránh vì mỗi khi nghĩ tới mối tình tan vỡ đó thì cảm xúc ta tràn ngập. Đó không phải là chánh niệm. Chánh niệm là sự thực tập hơi thở có ý thức để có thể nhận diện, ôm ấp cảm xúc, là một với cảm xúc mà không để cho cảm xúc tràn ngập và nhấn chìm ta. Ta có nhiều hơn chứ không phải chỉ có những cảm xúc đau buồn, giận dữ và tuyệt vọng. Trong ta có một vị Bụt. Ta có khả năng học hỏi, có khả năng hiểu biết, thương yêu. Sự thực tập của ta là ngồi cho yên và mời những năng lượng lành đó lên để ôm ấp nỗi khổ, niềm đau. Niềm đau, nỗi khổ mà ta đang trải nghiệm trong giây phút hiện tại là cơ hội để ta học cách xây dựng cho tương lai. Niềm đau, nỗi khổ của ta sẽ đem lại cho ta rất nhiều tuệ giác. Hãy can đảm nhìn sâu, can đảm chấp nhận và nói: “Đau buồn của ta ơi, ta biết em có mặt, ta muốn chăm sóc, cảm thông cho em và cùng em học hỏi.” Chỉ cần mười lăm phút là có thể chữa trị. Không nên sợ hãi. Ta đã tạo niềm đau cho ta thì ta cũng có thể chế tác ra niềm vui, hạnh phúc cho ta.

32. Gặp rắc rối khi đối xử với người thân

H. Tại sao ta hay gặp rắc rối khi đối xử với những người thân gần gũi nhất?

Tl. Tại vì chúng ta sống với nhau hai mươi bốn giờ mỗi ngày. Điều rõ ràng là nếu chúng ta không có liên hệ hạnh phúc, hòa hợp với gia đình mình hay với tăng thân thì ta khó mà giúp đỡ được ai. Sự thực tập mà Bụt đã chỉ dạy rất cụ thể và rõ ràng về cách sống như thế nào để có được vui vẻ, thoải mái, dễ chịu và giúp cho người khác vui vẻ, thoải mái, dễ chịu. Đó là sự thực tập căn bản. Tại các đạo tràng của chúng tôi, các vị xuất sĩ đã thực tập như thế. Chúng tôi biết rằng nếu không có một tăng chúng hạnh phúc, không có tình huynh đệ nuôi dưỡng mà đi tổ chức những khóa tu thì những buổi thiền tập đó chỉ là giả tạo. Cho nên, thực tập để chuyển hóa tự thân, thực tập để chuyển hóa cho gia đình của mình, cho cộng đồng là nền tảng cho tất cả.

33. Tha thứ người đã làm cho mình đau khổ

H. Làm thế nào để tha thứ cho những người đã làm mình đau khổ dù họ vẫn không thừa nhận hành động sai lầm?

Tl. Khi ta có khả năng chế tác ra năng lượng hiểu và thương thì niềm đau trong ta có thể được chữa trị. Trong đạo Bụt còn có một năng lượng khác có khả năng trị liệu đó là chí nguyện, là ước muốn, quyết tâm giúp đỡ người khác. Khi chúng ta là nạn nhân của sự bạo hành, khi nhìn xung quanh ta thấy có rất nhiều người cũng bị áp bức đau khổ như ta thì tự nhiên ta phát sinh lòng thương, và chúng ta phát nguyện làm sao để bảo vệ, giúp đỡ cho những ai chưa tìm ra lối thoát. Nếu chúng ta phát nguyện như thế và sẵn sàng cứu giúp thì chúng ta sẽ trở thành một vị Bồ tát mang trong lòng chí nguyện mãnh liệt để đi ra độ đời.

Còn nếu chúng ta không làm gì cả thì sẽ có nhiều người khác cũng sẽ là nạn nhân. Nếu ta có năng lượng của một vị Bồ tát, nếu ta tha thiết muốn làm một điều gì đó, nếu ta muốn đi ra cứu giúp các em nhỏ hay ai đó thì năng lượng ấy sẽ chữa lành vết thương trong ta. Với năng lượng của từ bi, của đại nguyện, chúng ta đi theo hạnh nguyện của Bồ tát Phổ hiền, một vị Bồ tát phát đại nguyện lớn. Tâm từ bi của chúng ta có thể ôm lấy gia đình, xã hội và sự chữa trị đó có thể đạt đến tuyệt đối.

34. Phạm lỗi lầm to lớn trong quá khứ

H. Vài người trong chúng ta đã phạm lỗi lầm to lớn trong quá khứ và vẫn còn đau khổ mãi. Có thể nào quên đi niềm đau này?

Tl. Ta cần tìm cho ra một tuệ giác cho vấn đề này. Tuệ giác là nền tảng của bất cứ sự thực tập nào. Tuệ giác ở đây là: Nhờ tu tập mà chúng ta có thể chăm sóc và thay đổi không chỉ hiện tại mà cả quá khứ và tương lai.

Giả sử ngày hôm qua ta có một ý nghĩ bất thiện, một ý nghĩ thiếu hiểu biết, thiếu thương yêu và hôm nay ta hối hận là đã có một ý nghĩ như thế. Ta biết rằng ý nghĩ ấy sẽ tạo ảnh hưởng xấu cho thân tâm ta và ảnh hưởng lên cả nhân loại. Bây giờ an trú trong giây phút hiện tại, ta phát khởi một ý nghĩ khác, một ý nghĩ theo chiều hướng của hiểu biết và thương yêu. Nếu ta biết phát khởi một ý nghĩ như vậy thì ý nghĩ đó sẽ chuyển hóa, triệt tiêu ảnh hưởng của ý nghĩ ngày hôm qua. Đó là quy luật của nghiệp. Ta có thể chuyển đổi nghiệp của quá khứ bằng cách tạo thêm nghiệp tốt lành ngày hôm nay.

Tôi có gặp một cựu chiến binh người Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. Ông ta đã thú nhận rằng ông đã tham dự vào việc sát hại năm em bé tại Việt Nam. Sau khi chiến tranh kết thúc, ông không có được một chút bình an và không thể bộc lộ cho ai biết về hành động của mình. Ông không thể đến gần trẻ em. Ông đã sống ân hận và đau khổ trong suốt nhiều năm như thế. Cuối cùng ông đến tham dự một khóa tu. Cảm nhận được tình thương và niềm tin từ tăng thân, ông cảm thấy đủ an toàn để kể lại câu chuyện đã xảy ra.

Tôi có nói với ông như sau: “Anh đã giết năm em bé nhưng anh còn sống đó. Tại sao anh tự giam mình vào tù ngục của ân hận? Ngay giờ này có nhiều em bé đang chết nhưng không có ai tìm cách cứu. Anh có thể cứu một hay hai em ngay bây giờ. Nếu anh làm được như thế thì anh có thể hóa giải được quá khứ. Anh trở thành một con người khác. Có thể là anh đã giết năm em nhưng anh có thể cứu năm mươi em khác. Cuộc đời của anh sẽ trở thành cuộc đời của một vị Bồ tát.”

Với tuệ giác đó, ông đã chuyển hóa ngay lập tức. Cuộc sống của ông ta bây giờ khác hoàn toàn. Ông phát nguyện quyết tâm cống hiến cuộc đời và năng lực của mình vào việc cứu giúp các trẻ em trên thế giới. Giây phút mà tâm thức ta thay đổi là giây phút quyết định. Sau đó thì tất cả mọi việc khác đều sẽ thay đổi. Vì thế, ta không nên tiếc nuối quá khứ. Có nhiều việc mà anh có thể làm ngay trong ngày hôm nay để hóa giải quá khứ và xây dựng một tương lai tốt đẹp.

35. Giúp thành viên trong gia đình tu tập

H. Làm sao để có thể gây ảnh hưởng đến những người trong gia đình khi họ không để ý tới việc tu tập nếp sống tâm linh mà chỉ xem ti vi suốt ngày hay ăn những thức ăn không lành mạnh?

Tl. Chúng ta có thể làm gương bằng tuệ giác và sự tu tập của mình. Nếu chúng ta có ý muốn áp đặt ý kiến của mình lên người khác thì chúng ta sẽ gặp những phản ứng mạnh. Không nên giảng đạo hay chỉ trích mà nên tìm phương tiện khéo léo để giúp họ nhận ra hậu quả của khổ đau do việc tiêu thụ những độc tố vào thân tâm. Sự tu tập của ta và khả năng biết cách chăm sóc cho thân tâm ta lành mạnh, vui tươi, đó là một bài Pháp sống cho họ. Chính sự chuyển hóa của ta, chính phong thái bình an, vui vẻ của ta sẽ gây cảm hứng cho người khác làm theo. Đừng nói rằng: “Tôi đang tu còn anh không tu cho nên anh đau khổ.” Nói như vậy chỉ làm cho họ bực bội thêm. Ta thay đổi, ta không còn đau khổ là một cách chứng minh hùng hồn nhất. Nụ cười và sự tươi mát của ta sẽ trực tiếp cho họ thấy ý nghĩa sự thực tập của ta và sự thiệt thòi của họ.

36. Cách tốt nhất để chấm dứt đau khổ

H. Cách tốt nhất để chấm dứt đau khổ của tôi cũng như của bạn bè hay những người thân trong gia đình?

Tl. Tất cả chúng ta đều biết rằng hiểu biết và thương yêu có khả năng chấm dứt khổ đau. Đây không chỉ là lời nói suông, ở đâu có hiểu biết và thương yêu thì ở đó không có khổ đau cho ta và cho người khác. Sự thực tập của chúng ta là luôn luôn nuôi lớn hiểu biết và thương yêu. Dù bận rộn thế nào đi nữa nhưng khi chúng ta dành vài phút để nhìn sâu thì chúng ta có thể thấy mình có sự hiểu biết và thương yêu nhiều hơn để hiến tặng. Thời giờ rất quý báu. Chúng ta đừng lãng phí mà nên tận dụng từng giờ, từng phút còn lại của đời mình. Khi hướng sự chú tâm của mình vào giây phút hiện tại, sống đời sống đơn giản, chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn để làm những việc quan trọng. Chúng ta không nên đánh mất mình trong suy tư, lo lắng, hay chạy theo danh lợi, quyền lực và tiền bạc.

Khi ta có khả năng làm những việc mà ta muốn làm, sống như ta muốn sống thì ta sẽ có nhiều hạnh phúc. Khi ta đi chỉ để đi, ngồi chỉ để ngồi, uống trà chỉ để uống trà, ta không làm điều đó vì mục đích gì hay không vì ai hết, làm được như thế ta sẽ có rất nhiều tự do và niềm vui. Đó là sự thực tập vô nguyện. Khi làm được như vậy, ta chữa trị được cho ta và giúp chữa trị cho cả thế giới. Giác ngộ là khi ta nhận ra được cách để ta có thể sống rất sâu sắc, sống thật đơn giản mà hạnh phúc. Ta không còn muốn lãng phí thời giờ nữa, mà hết sức trân quý sự sống, trân quý thời giờ còn lại.

Chương 1: Đời sống hằng ngày

1. Tôi không biết làm gì với cuộc đời tôi

H. Tôi không biết làm gì với cuộc đời tôi. Tôi như bị cuốn đi về nhiều hướng, chẳng chú tâm lâu vào một việc gì. Tôi luôn thấy bất an, buồn bực và bối rối. Tôi phải thực tập như thế nào?

Tl. Đôi khi chúng ta trồng hoa hồng bằng cách cắt cành hồng rồi cắm vào đất ướt có phân bón. Sau ít lâu cành hồng sẽ đâm rễ. Ta cũng có khả năng trở thành một khóm hồng xinh đẹp, nhưng ta cần có đất và được cắm trong lòng đất đủ lâu để những chiếc rễ của ta mọc đủ mạnh.

Chúng ta thường nghĩ rằng khổ đau là tiêu cực. Hãy nên tập nhìn khổ đau dưới nhận thức mới, tích cực hơn. Theo giáo lý của Bụt, khổ đau là một Sự Thật Mầu Nhiệm (Chân đế) và chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều từ khổ đau. Chúng ta phải có khả năng ứng phó với khổ đau cũng như hạnh phúc. Khổ đau luôn đi cùng với hạnh phúc. Nếu không có khổ đau thì chúng ta cũng sẽ không có hạnh phúc. Xu hướng thông thường của chúng ta là tránh né khổ đau, và như vậy là không tốt. Nếu không có khổ đau thì chúng ta không thể khôn lớn, không thể nuôi lớn hiểu biết và thương yêu. Vì vậy chúng ta phải học nhận diện và ôm ấp khổ đau. Nếu ta còn tìm cách trốn chạy khổ đau thì ta còn khổ đau. Nhiều người cảm thấy mình như ở trong một tình trạng gọi là mất gốc. Những người đó cần một môi trường thích ứng, một vùng đất màu mỡ để cắm rễ, nghĩa là một Tăng thân, một cộng đồng có tu tập, có tình huynh đệ, có yêu thương, tăng thân đó sẽ hỗ trợ cho ta rất nhiều và không bao lâu sau ta có thể tự mình đứng vững. Để một cành hồng trở thành một khóm hồng không lâu lắm đâu.

2. Ngồi đó mà không làm gì cả

H. Khi rảnh rỗi, không bận việc này hay việc kia tôi thường cảm thấy tội lỗi. Tôi có nên không làm gì cả?

Tl. Xã hội ngày nay, người ta có xu hướng coi việc ngồi không là không tốt, thậm chí còn cho là tội lỗi. Nhưng khi có nhiều việc để làm thì chúng ta lại đánh mất mình trong công việc và phẩm chất đời sống của chúng ta bị suy giảm. Ta phụ bạc chính ta. Cho nên biết tự bảo hộ, giữ gìn sự tươi mát, lạc quan, vui vẻ, thương yêu, rất là quan trọng. Trong đạo Bụt có sự thực tập gọi là “vô tác”. Quả vậy trong truyền thống đạo Bụt, hình ảnh của một con người lý tưởng, một vị A la hán hay một vị Bồ tát, là một người vô sự, không bận rộn, không phải đi đâu và cũng không phải làm chi. Chúng ta phải học cách an nhiên tự tại, không làm gì cả. Hãy thử sống một ngày mà không làm chi cả, chúng tôi gọi đó là “ngày làm biếng”. Mặc dầu đối với nhiều người quen chạy quanh hết việc này tới việc nọ, thì ngày làm biếng là một ngày thật sự không dễ. Không dễ để sống thảnh thơi, an nhiên, tự tại. Nếu ta vẫn hạnh phúc, thoải mái và mỉm cười khi không làm gì hết là ta đã khá giỏi. Khi ta biết sống thảnh thơi, không bận rộn thì phẩm chất của sự sống sẽ tỏa sáng. Đây là một điều rất quan trọng. Vậy thì không làm gì hết tức là đang làm. Hãy về viết câu này và treo lên: “Không làm gì hết là đang làm”.

3. Làm bất cứ thứ gì, không bao giờ cho là đủ

H. Vì muốn đạt thành quả mà nhiều khi tôi rất đau khổ. Làm bất cứ thứ gì, tôi không bao giờ cho là đủ. Làm thế nào để tôi không còn tự trách mình?

Tl. Phẩm chất hành động của ta phụ thuộc vào phẩm chất sống của ta. Giả sử ta muốn cống hiến, muốn hiến tặng, hoặc muốn làm cho ai đó được hạnh phúc, đó là một điều đáng làm. Nhưng nếu chính ta không hạnh phúc thì ta không thể làm điều đó được. Muốn làm cho người khác có hạnh phúc thì trước hết ta phải có hạnh phúc. Vậy thì có một sự liên hệ mật thiết giữa làm và sống. Nếu ta sống không thành công thì hành động của ta cũng không thành công. Nếu ta không cảm thấy là mình đang sống đúng thì ta không thể có hạnh phúc. Điều này đúng cho tất cả mọi người. Nếu không biết rõ hướng đi của đời mình thì ta sẽ đau khổ. Tìm ra pháp môn và thấy rõ con đường tu chân chính là rất quan trọng.

Hạnh phúc là khi ta cảm thấy mình đang đi đúng hướng, sống đúng chánh pháp trong từng giây phút. Ta không cần đi cho tới đích mới có hạnh phúc. Chánh pháp đưa ra những phương pháp rất cụ thể giúp chúng ta sống trọn vẹn trong từng phút giây. Đạo Bụt đã cống hiến cho chúng ta Tám Con Đường Hành Trì Chân Chánh gọi là Bát chánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh hành, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm và Chánh định. Sống theo Bát chánh đạo trong từng giây phút của cuộc sống hằng ngày là một việc mà ai cũng có thể làm được. Sống theo Bát chánh đạo không những mang lại hạnh phúc cho chính mình mà còn cho rất nhiều người. Nếu ta thực tập theo tám con đường hành trì chân chánh này thì ta sẽ trở nên tươi mát, vui vẻ và đầy thương yêu.

Hãy nhìn hàng cây trước sân. Cây dường như chẳng làm gì cả. Cây chỉ đứng đó, tràn đầy sức sống, xanh tươi, xinh đẹp. Bất kỳ ai cũng được hưởng lợi lạc từ cây. Đó chính là mầu nhiệm của sự sống hiện hữu. Nếu cây không trọn vẹn là cây thì tất cả chúng ta sẽ nguy khốn. Nếu cây chỉ cần là một cái cây đích thực thì chúng ta sẽ còn niềm vui và hy vọng. Vì vậy nếu ta chỉ là chính ta thôi tức là ta đang hành động rồi. Hành đặt trên nền tảng của vô hành. Hành động là sống với sự sống hiện hữu.

Có những người làm rất nhiều nhưng gây rắc rối cũng lắm. Mặc dầu họ có rất nhiều thiện chí nhưng càng cố gắng giúp thì họ càng gây rắc rối. Tâm họ không được bình an, họ không hạnh phúc. Vậy thì ta không nên cố gắng quá mức, chỉ cần sống an nhiên. Nhờ đó mà ta luôn luôn có được bình an và thương yêu. Trên nền tảng đó tất cả những gì ta nói hay làm cũng đều có thể giúp ích. Nếu ta có thể làm cho ai đó bớt khổ hoặc làm cho họ mỉm cười, thì ta sẽ cảm thấy hãnh diện và có rất nhiều hạnh phúc. Hạnh phúc là khi biết rằng mình có thể giúp người khác, và có ích cho xã hội. Khi ta có pháp môn tu tập và luôn luôn hạnh phúc trong từng giây phút tu tập thì ta đã là một người đặc biệt rồi. Ta không cần trở thành một người nào khác.

Trong đạo Bụt có sự thực tập gọi là vô nguyện (apranihita). Nếu ta cứ đặt mục tiêu phía trước thì ta sẽ rong ruổi suốt đời và không bao giờ có được hạnh phúc. Ta chỉ có hạnh phúc khi ta biết dừng lại sự rong ruổi, biết trân quý phút giây hiện tại và trân quý tự thân. Ta không cần phải là một ai khác vì bản thân ta đã là sự sống mầu nhiệm rồi.

4. Luôn bận tâm tới những việc chưa cần

H. Khi đang làm một việc gì thì trí óc tôi cứ bận tâm về những việc sẽ làm hay đã làm. Tôi phải làm gì để chấm dứt tình trạng luôn nghĩ tới những việc chưa
cần thiết?

Tl. Khi nhận được nhiều lá thư cùng một lúc, ta sẽ chọn một bức thư để đọc trước. Có thể là có hai bức thư quan trọng như nhau. Nhưng ta phải chọn lựa và quyết định chọn một bức thư trước. Khi đã chọn rồi thì đừng đổi ý. Khi đang đi trên cầu này thì đừng nghĩ tới cái cầu khác mà mình chưa đi. Mình sẽ đi qua cái cầu ấy vào một dịp nào đó sau này, nhưng mà chỉ sau khi đi qua cầu này đã. Đó là sự thực tập. Vị luật sư chỉ nghĩ đến khách hàng mà mình đang lo chứ không nghĩ tới khách hàng nào đó trong tương lai. Vị bác sĩ chỉ nghĩ tới bệnh nhân đang ở trước mặt. Đó gọi là định, là chánh niệm, là chú tâm. Nếu ta không thực tập được khả năng chỉ chú tâm vào một đối tượng thì hậu quả là ta sẽ bị phân tán và bối rối. Ta phải có mặt một trăm phần trăm với cái bây giờ và ở đây.

5. Chánh niệm và hoạch định tương lai

H. Làm sao để phối hợp việc thực tập chánh niệm và sống trong giây phút hiện tại với việc hoạch định kế hoạch cho cuộc đời?

Tl. Thực tập chánh niệm không có nghĩa là không được hoạch định cho tương lai. Điều hay nhất là đừng đánh mất mình trong sự hoang mang và lo sợ cho tương lai. Nếu thực sự an trú trong giây phút hiện tại thì ta có thể mang tương lai về ngay bây giờ và ở đây để hoạch định cho tương lai. Khi nghĩ đến tương lai ta không đánh mất hiện tại. Thật ra, trong hiện tại chứa đựng cả quá khứ lẫn tương lai. Tương lai chỉ được làm bằng chất liệu của hiện tại. Xử lý hiện tại một cách tuyệt hảo là cách duy nhất để lo cho tương lai. Sống trong hiện tại với tất cả sự chú tâm, với tất cả sự thông minh của mình đó là ta đang xây dựng cho tương lai rồi.

6. Nhận diện và chuyển đổi thói quen

H. Làm sao để nhận diện và chuyển đổi những tập khí (thói quen xấu)?

Tl. Những tập khí tiêu cực luôn tìm cách trỗi dậy, nhưng nếu có chánh niệm thì ta có thể nhận diện được. Chánh niệm giúp ta nhận diện những tập khí do tổ tiên, cha mẹ trao truyền hay những tập khí do thói quen từ thời thơ ấu cho đến khi ta lớn. Nhiều khi, chỉ cần nhận diện thôi là tập khí không còn khống chế được ta nữa. Ví dụ như trong trường hợp ta có tập khí
hấp tấp trong khi nấu ăn hay khi đi mua sắm, nhờ có chánh niệm mà ta nhận ra ngay là ta đang lăng xăng hấp tấp, đang cố làm nhanh cho xong việc. Khi nhận ra năng lượng của tánh hấp tấp đang biểu hiện, ta thở vào, thở ra trong chánh niệm, và tự nhủ rằng: “Năng lượng tập khí của ta ơi, ngươi lại đến rồi ư?”. Ngay khi nhận diện được tập khí thì tập khí sẽ yếu đi. Nếu lần sau tập khí đó trở lại thì ta lại làm như thế và tập khí sẽ tiếp tục yếu đi. Ta không cần phải vật lộn với nó mà chỉ cần nhận diện và mỉm cười với nó. Mỗi khi nhận diện được một tập khí thì tập khí ấy sẽ yếu đi một chút cho đến khi nó không còn khống chế và điều khiển được ta nữa.

7. Tánh hay chỉ trích

H. Làm sao tôi có thể khắc phục được tánh hay phê bình, chỉ trích và phán xét?

Tl. Khi nhìn một ai ta phải nhìn sâu để thấy rằng một cá nhân được tạo thành bởi nhiều yếu tố: xã hội, giáo dục, cha mẹ, tổ tiên, văn hóa, v. v. Nếu không thấy được tất cả những yếu tố đó nơi một người thì ta sẽ không thấy rõ được người ấy một cách toàn vẹn. Người ấy có hành xử tiêu cực thì đó không phải là do ý người ấy muốn mà có thể người ấy là nạn nhân của sự trao truyền. Những hạt giống tiêu cực trong người ấy là do xã hội, cha mẹ, tổ tiên, hay văn hóa đã trao truyền lại.

Khi ý thức như thế thì ta dễ phát sanh lòng từ bi. Ta không còn ý muốn chỉ trích, trái lại ta sẽ tìm cách thay đổi môi trường, văn hóa để cho các thế hệ tương lai không phải tiếp nhận hạt giống tiêu cực như thế nữa. Thay vì bực bội, khó chịu thì ta phát tâm hành động với tâm từ bi.

Khi nhìn sâu vào tự thân, ta cũng nhận ra rằng những gì là tài năng hay hạnh phúc của ta đều do tổ tiên, cha mẹ, văn hóa, v.v… trao truyền lại. Ta là sự tiếp nối của tổ tiên, của dòng họ ta. Cũng vậy, những yếu tố tiêu cực trong ta như sợ hãi, sân hận, hay kỳ thị có thể là do cha mẹ, tổ tiên ta trao truyền lại. Trong cả hai trường hợp ta không phải là người đáng bị phán xét. Cha mẹ, tổ tiên ta đã không thể chuyển hóa những yếu tố tiêu cực trong họ và vì vậy họ đã truyền lại những yếu tố tiêu cực ấy cho ta. Tuy nhiên, ta có cơ hội để thay đổi, để không trao truyền những hạt giống tiêu cực ấy cho con cháu ta. Khi đã biết cách nhìn vào bản thân hay nhìn người khác như thế, ta sẽ có sự cảm thông, thương yêu và phát sinh ý muốn hành động để chuyển hóa.

8. Chia sẻ niềm vui với người khác

H. Cách nào là cách tốt nhất để chia sẻ niềm vui với người khác?

Tl. Khi ta thực sự có niềm vui thì không những chính ta được hưởng lợi lạc mà nhiều người khác cũng được hưởng. Niềm vui đích thực có thể giúp ích cho thân và tâm. Niềm vui nuôi dưỡng chúng ta. Trong Đạo Bụt, thiền tập được mô tả như nguồn thức ăn hằng ngày (thiền duyệt vi thực). Trong thiền tập, niềm vui và chánh niệm là những yếu tố quan trọng. Nếu trong suốt buổi ngồi thiền (thiền tọa) hay đi thiền (thiền hành) mà ta cảm thấy không có niềm vui thì sự thực tập của ta đã có điều gì đó không đúng.

Niềm vui của ta được lan tỏa một cách tự nhiên. Khi ta vui, ta hạnh phúc thì nguồn năng lượng ấy ảnh hưởng đến những người xung quanh. Ta sẽ tạo nên một bầu không khí nhẹ nhàng, dễ thở, và cùng với bạn bè ta tạo ra một niềm vui chung, có lợi lạc cho rất nhiều người. Hằng ngày chúng ta tụng câu: “Nguyện sáng cho (một) người thêm niềm vui, chiều giúp (một) người bớt khổ.” Nhưng đó là nói tối thiểu. Đem niềm vui cho một người tức là đem niềm vui tới cho rất nhiều người.

Khi sự hiểu biết của ta càng lớn thì tình thương yêu và lòng từ bi nhân ái của ta càng mở rộng. Khi lòng rộng mở thì ta dễ chấp nhận, dễ ôm ấp để chuyển hóa những cảm thọ tiêu cực trong ta. Giả sử ta bỏ một nắm muối vào trong một ly nước thì ta không thể uống ly nước đó vì nước rất mặn. Nhưng khi bỏ một nắm muối vào dòng sông thì nước sông không bị ảnh hưởng gì mấy và ta có thể uống nước sông dễ dàng. Sông rộng bao la cho nên có khả năng tiếp nhận, ôm ấp và chuyển hóa. Tâm ta cũng như dòng sông. Tâm ta cũng đủ rộng rãi để có thể chuyển hóa khổ đau, không những cho riêng mình mà còn cho tất cả mọi người xung quanh ta.

9. Thần tượng hóa nhưng rồi thất vọng

H. Tôi có xu hướng thần tượng hóa người này người kia, nhưng rồi thất vọng vì họ không như tôi mong đợi. Tôi phải làm sao?

Tl. Một hôm khi đang thực tập Mười động tác chánh niệm trước một cái cây, tôi bỗng nghiệm ra rằng cái cây đang hiến tặng cho tôi rất nhiều và tôi cũng hiến tặng cho cây rất nhiều. Cây cho tôi vẻ đẹp, bóng mát và dưỡng khí. Tôi cho cây hơi thở, lòng biết ơn và niềm vui. Cây và tôi tương tức. Khi nhìn một người khác ta cũng nên nhìn như thế, không tô đậm những gì mình đang thấy, hay tưởng tượng ra những gì không thực sự có mặt. Đôi khi ta trông đợi quá nhiều, ta muốn thần tượng hóa những gì ta thấy. Nếu khi nhìn một ai hay một vật gì mà ta chỉ nhìn như một thực tại đơn thuần, không tô đậm cũng không tưởng tượng, thì chúng ta sẽ ít đau khổ. Có nhiều người thương Bụt nhưng lại bóp méo hình ảnh của Bụt. Họ biến Bụt thành một vị thần linh hay một đấng sáng tạo. Làm như thế là tự hại mình và hại Bụt. Vì vậy, thực tập chánh niệm, nghĩa là nhận diện thực tại một cách đơn thuần như chúng đang là – là sự thực tập căn bản của đạo Bụt. “Thở vào tôi biết đây là hơi thở vào, thở ra tôi biết đây là hơi thở thở ra.” “Thở vào, tôi thấy trời xanh. Thở ra, tôi mỉm cười với bầu trời xanh.” Ghi nhận sự vật đơn thuần như thế sẽ giúp ta tránh được thói quen tô đậm hay tưởng tượng.

10. Buông xả hệ lụy

H. Tôi thường có nhiều vướng bận với những mối liên hệ, việc làm, cảm xúc, v.v… Làm sao để có thể buông xả bớt đi những hệ lụy ấy?

Tl. Buông xả có nghĩa là buông xả một cái gì đó. Có thể là buông xả một đối tượng của tâm ý hay một sáng tạo của tâm thức, ví dụ như ý tưởng, cảm thọ, ham muốn hay niềm tin. Kẹt vào một ý tưởng (kiến chấp) nào đó thì rất có thể điều đó mang lại cho ta nhiều đau khổ và lo lắng. Ta muốn buông xả nhưng làm thế nào để buông xả? Nếu chỉ muốn buông bỏ thôi thì không đủ. Trước hết ta cần phải công nhận rằng kiến chấp của ta là có thật. Ta phải nhìn sâu vào bản chất cũng như nguồn gốc của kiến chấp ấy, bởi vì mọi kiến chấp đều phát sinh từ cảm thọ và kinh nghiệm quá khứ, từ những gì mà ta đã nghe và đã thấy. Nhờ năng lượng của chánh niệm, của định lực mà ta có thể nhìn sâu và khám phá ra được gốc rễ của ý tưởng, cảm thọ, ham muốn trong ta. Niệm và định sẽ mang đến tuệ giác và tuệ giác có thể giúp ta buông xả được đối tượng của tâm thức. Giả sử ta có một ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về những gì sẽ làm cho ta hạnh phúc. Ý niệm ấy có gốc rễ trong ta và trong môi trường ta sống. Ý niệm ấy cho ta biết những điều kiện ta cần có để được hạnh phúc. Ta ôm giữ ý niệm ấy trong mười năm, hai mươi năm và giờ đây ta nhận ra rằng ý niệm về hạnh phúc ấy đã làm cho ta đau khổ. Có thể trong ý niệm về hạnh phúc ấy có mang một chút ảo tưởng, sân hận hay thèm khát. Những yếu tố ấy là chất liệu của khổ đau. Mặt khác ta biết là ta có những kinh nghiệm khác như niềm vui, sự thanh thoát hay thương yêu. Ta nhận ra đó là những giờ phút hạnh phúc chân thật. Khi ta có được những giây phút hạnh phúc chân thật thì ta có thể buông bỏ đối tượng của tham đắm dễ dàng hơn vì ta đã có tuệ giác rằng những đối tượng kia sẽ không làm cho ta hạnh phúc. 

Rất nhiều người có ý muốn buông xả nhưng không thể buông xả được là vì họ không có đủ tuệ giác, họ không thấy được những cơ hội, những cửa ngõ khác, những cơ hội và cửa ngõ đưa ta về chốn bình an, hạnh phúc. Sợ hãi là một yếu tố cản trở cho sự buông xả. Chúng ta sợ rằng nếu buông bỏ đi thì ta không còn gì để bám giữ. Buông xả là một sự thực tập, là một nghệ thuật. Khi ta có đủ sức mạnh và quyết tâm thì ta có thể buông xả được những gì làm cho ta đau khổ.

11. Chánh niệm và năng lượng tình dục

H. Sự thực tập chánh niệm có thể giúp ta kiểm soát năng lượng tình dục?

Tl. Năng lượng tình dục là một hiện tượng sinh lý bình thường mà ta không nên cho là xấu xa, tội lỗi. Tất cả chúng ta đều có năng lượng tình dục. Trong truyền thống đạo Bụt, năng lượng phụng sự hay từ bi, không trái với bản năng thú tính. Phật tính trong ta có thể ôm ấp thú tính trong ta. Không cần tạo nên một tình trạng xung đột giữa hai bên. Làm như vậy rất có hại và sẽ gây nên rất nhiều tổn thương. Thực tập của đạo Bụt căn cứ trên tuệ giác bất nhị. Chúng ta có chánh niệm nhưng cũng có cả thất niệm. Chúng ta có từ bi nhưng cũng có khi nóng giận hay thù ghét. Tất cả đều cùng có trong ta. Không nên loại trừ hay gạt bỏ bất cứ thứ gì kể cả năng lượng tình dục. Chánh niệm là khả năng nhận diện những gì đang xảy ra mà không tham đắm, không đấu tranh hay đè nén. Ta gọi đó là nhận diện đơn thuần. Bước đầu tiên của chánh niệm là nhận diện và tiếp nhận những gì đang xảy ra dầu là tích cực hay tiêu cực, dầu là dễ chịu hay khó chịu. Sau đó, khi mà chánh niệm của ta đủ mạnh thì ta có thể biết được bản chất của những gì đang xảy ra và có thể chuyển đổi năng lượng của chúng hoặc là hướng năng lượng ấy về hướng khác. Nếu ta để tâm vào một mục tiêu gì khác và muốn thành tựu mục tiêu ấy thì năng lượng tình dục có thể được chuyển theo hướng mục tiêu đó và ta không còn thì giờ để nghĩ về tình dục.

Các vị xuất sĩ ý thức sự có mặt của năng lượng tình dục trong mình, nhưng nhờ sự yểm trợ của tăng thân, họ hướng tất cả năng lượng đó về hướng khác, hướng của những mục đích cao cả nhất. Họ dành thì giờ học hỏi giáo lý và pháp đàm về các phương pháp hành trì. Mỗi vị xuất sĩ có một người bạn đồng tu làm “đệ nhị thân”, nghĩa là làm thân thứ hai, vị này có trách nhiệm chăm sóc sự an lạc, sự tu tập cho “đệ nhị thân” của mình. Ngoài ra cũng còn phải dành thì giờ chăm sóc các thiền sinh đến tu học. Hướng năng lượng vào những việc ấy mang lại rất nhiều hạnh phúc. Nếu chúng ta tổ chức đời sống của mình một cách thông minh, khéo léo và sử dụng năng lượng của mình để giúp người khác bớt khổ thì năng lượng tình dục
không còn là một vấn đề lớn trong đời sống của ta nữa.

Giáo lý về thương yêu trong đạo Bụt rất quan trọng. Từ Bi, Hỷ, Xả là những yếu tố của một tình yêu thương chân thật mà chúng ta thực tập mỗi ngày. Thương yêu khác với khoái cảm tình dục. Trong liên hệ tình dục nếu không có tình yêu chân thật, nếu không có những cam kết vững bền hay hiểu biết lẫn nhau thì sẽ gây nên đau khổ và đổ vỡ. Để có được hạnh phúc, chúng ta phải có hiểu biết sâu sắc và cách ứng xử phù hợp. Như vậy, với chánh niệm và hiểu biết thương yêu thì đời sống tình dục có thể trở nên đẹp đẽ và thánh thiện.

12. Hình ảnh, phim ảnh lõa thể trong nghệ thuật

H. Có nên tránh những hình ảnh lõa thể hay tranh vẽ, phim ảnh có liên hệ tới tình dục hay không? Có thể áp dụng chánh niệm trong tình dục hay không?

Tl. Thân thể con người rất đẹp và tình dục cũng  rất thiêng liêng. Nếu không có tình dục thì Bụt đã không ra đời. Chúng ta không thể tách rời thân và tâm: Thân thể chúng ta cũng linh thiêng như tâm hồn. Bởi thế cho nên nếu coi thân thể như là một trò tiêu khiển hay một đối tượng của tình dục thì chưa thực sự thấy được thân thể. Thân thể chúng ta cần phải được đối xử một cách tôn trọng. Khi chúng ta xúc chạm vào thân thể của một ai đó tức là chúng ta đã chạm vào tâm hồn của người đó rồi.

Bụt dạy rằng thân người được làm bằng năm yếu tố: sắc thân, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức, gọi là ngũ uẩn. Ngũ uẩn nương nhau mà biểu hiện. Tâm thức không thể biểu hiện nếu không có sắc thân. Vì vậy, tuệ giác thân và tâm là một, thân tâm nhất như rất quan trọng. Khi ta tôn trọng ai tức là ta tôn trọng thân thể của người ấy chứ không phải chỉ tôn trọng cảm xúc, ý tưởng và tâm thức của người ấy.

Tác phẩm nghệ thuật có thể mang nội dung tình dục. Tuy nhiên nếu ta phô diễn thân thể con người chỉ để tưới tẩm các hạt giống tham dục thì ta đang gieo trồng những hạt giống khổ đau trong tương lai cho ta và cho người khác. Có nhiều thi sĩ, họa sĩ, hay đạo diễn điện ảnh có khả năng diễn bày thân thể con người như là một đối tượng để quán chiếu và kính ngưỡng. Khi mà thân thể con người được mô tả như thế thì những hạt giống thẩm mỹ, vui tươi, kính ngưỡng của người thưởng thức được tưới tẩm. Đó là những gì mà chúng ta phải làm. Chúng ta phải mô tả thân thể con người như thế nào để mang lại sự tín cẩn, hạnh phúc và niềm an vui.

13. Vướng mắc vào máy ảnh, điện thoại di động

H. Tôi không thể tưởng tượng được là tôi có thể sống mà không có cái máy ảnh hay điện thoại di động. Gắn bó với những tiện nghi này có gì là sai không?

Tl. Có máy ảnh là tuyệt vời mà không có máy ảnh cũng tuyệt vời. Chánh niệm giúp ta cảm nhận được niềm vui khi có máy ảnh mà không quá say mê trong niềm vui đó. Chánh niệm giúp ta vẫn có được bình an cho dù ta không có máy ảnh. Chúng ta có xu hướng muốn lưu giữ những hình ảnh lâu dài và cũng muốn chia sẻ với bạn bè những hình ảnh và kinh nghiệm của mình. Đó là lý do chính đáng để có máy ảnh, nhưng khi thấy một chiếc máy ảnh đời mới hơn, đắt tiền hơn rồi muốn vứt bỏ cái máy cũ để sắm máy mới, như thế là không tốt. Chính vì biết điểm yếu của ta là ham tiêu thụ cho nên những nhà sản xuất càng ngày càng sản xuất nhiều, và chúng ta đang gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường vì các đồ phế thải. Cũng vì muốn tiêu thụ nên chúng ta dành rất nhiều thì giờ vào đó, nên không còn thời gian để làm việc, để yêu thương, để xây dựng tình huynh đệ nữa. Chúng ta nên tập sống nếp sống giản dị mà không cần tiêu thụ quá mức. Một cuộc sống giản dị có thể mang lại cho ta rất nhiều
hạnh phúc.

14. Đạo Bụt và vấn đề đa văn hóa

H. Xin cho biết quan điểm của đạo Phật về vấn đề đa văn hóa. Có thể nào tự nhận mình là người da màu và đồng thời không bị ám ảnh bởi ý nghĩ ấy hay không?

Tl. Mỗi người trong chúng ta đều mang trong mình những yếu tố của đa văn hóa và đa sắc tộc. Chúng ta không hoàn toàn “thuần chủng”. Vì vậy, tự nhận mình thuộc về một sắc tộc nào đó thì cũng tốt, tuy nhiên tôi nghĩ rằng nếu chú trọng về những giá trị văn hóa và tâm linh thì có ích hơn. Đó là những giá trị chung mà ai cũng có thể tán thành và trân trọng. Nếu chúng ta tin rằng con cái ở đâu ông bà ở đấy thì nên thiết lập một bàn thờ ở trong nhà để luôn luôn cảm thấy gần gũi với tổ tiên và giữ vững niềm tin nơi truyền thống văn hóa của mình. Khi có niềm tin nơi nét đẹp văn hóa của mình thì chúng ta sẽ có khả năng bảo tồn nét đẹp văn hóa ấy mặc dù những người khác có thể không hiểu. Nếu không dành thì giờ để dạy cho con cháu về văn hóa của mình thì chúng sẽ đánh mất đi truyền thống văn hóa của tổ tiên. Nhưng cũng nên nhớ rằng nền văn hóa nào cũng có hoa và rác. Không nên coi trọng văn hóa của mình và coi khinh văn hóa của người khác. Nếu chúng ta cố chấp vào những tập tục truyền thống văn hóa và bám giữ lấy, kể cả những tập tục không còn ích lợi, thì chúng ta chỉ bị thiệt thòi mà thôi. Thiết lập liên hệ với tổ tiên và tưởng nhớ tới tổ tiên là một cách tôn trọng và thừa nhận truyền thống văn hóa của mình mà không mù quáng chấp kẹt vào đó.

15. Bận rộn trong chánh niệm

H. Làm sao để luôn chánh niệm khi sống trong một xã hội mà làm gì và lúc nào cũng phải vội vã. Có thể bận rộn hay vội vã trong chánh niệm không? 

Tl. Khi mới thực tập, nếu ta hoạt động chậm lại thì sẽ dễ dàng có chánh niệm hơn. Khi thực tập chánh niệm đã giỏi rồi thì có thể hoạt động nhanh hơn, miễn là ta luôn giữ chánh niệm. Ta có thể đi trong chánh niệm nhưng ta cũng có thể tùy lúc chạy trong chánh niệm. Nên sắp đặt lịch trình sao cho mình có dư thời giờ để khỏi phải vội vàng. Ví dụ nếu phải có mặt tại sân bay lúc 10 giờ thì nên đi sớm hơn một giờ để có được thú vui đi thiền hành trong phòng chờ ở sân bay. Khi lái xe, thay vì chạy cho mau tới nơi thì nên vui hưởng từng giây phút của việc lái xe. Khi nấu bữa ăn sáng thì nên biến việc nấu ăn sáng thành một buổi thiền tập, một cơ hội thực tập chánh niệm. Đừng nghĩ tới những gì mình cần phải làm sau đó. Hãy thưởng thức từng giây phút khi sửa soạn bữa ăn, ta sẽ đem niềm vui tới cho cả nhà. Bí quyết là an trú trong hiện tại, bây giờ và ở đây, hạnh phúc trong từng giây phút ấy.         

Lẽ tất nhiên là ta có nhiều việc phải làm. Ngay cả các vị xuất sĩ cũng có nhiều việc phải làm. Nhưng chúng tôi học cách làm việc trong niềm vui mà không phải là một lao tác cực nhọc. Đây là một nghệ thuật mà bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể làm được. Nếu biết giảm tiêu thụ thì ta không cần phải làm việc cực nhọc. Không cần có lương cao, không cần có xe đắt tiền ta mới có hạnh phúc. Nghệ thuật sống đơn giản sẽ cho ta có nhiều thời gian hơn để sống hạnh phúc và để giúp đỡ cho người khác.

16. Phản ứng giễu cợt

H. Tôi đang cố gắng thực tập ái ngữ và lắng nghe ở nơi làm việc, nhưng nhiều đồng nghiệp đáp lại bằng sự giễu cợt. Tôi phải thực tập như thế nào? 

Tl. Trong từ bi có sự kiên nhẫn. Khi thực sự thương yêu thì chúng ta có khả năng chờ đợi và kiên nhẫn. Những người đáp lại bằng sự nghi ngờ và giễu cợt là vì trong quá khứ họ đã có những kinh nghiệm khổ đau. Họ mất lòng tin. Họ ít khi được hiểu và được thương. Họ không tin rằng sự hiểu biết và tình thương yêu mà ta dành cho họ là chân thật, nên mặc dù ta hết lòng yêu thương nhưng họ vẫn nghi ngờ.

Có nhiều người trẻ ít nhận được tình thương và sự cảm thông từ trong gia đình, ngoài học đường, hay ngoài xã hội. Họ không thấy bất cứ thứ gì là tốt đẹp, là chân thật. Họ đi lang thang để tìm kiếm một niềm tin. Họ giống như là những con ma đói. Trong truyền thống đạo Bụt, ma đói được mô tả có cái bụng rất to nhưng cuống họng rất nhỏ, hẹp như cây kim. Họ rất đói nhưng không nuốt được thức ăn. Họ đang khao khát được hiểu và được thương yêu nhưng lại không có khả năng tiếp nhận được tình thương. Ta phải giúp khai thông cuống họng của họ trước khi ban tặng thức ăn. Điều đó cần sự thực tập kiên nhẫn, cần tiếp tục hiểu biết và thương yêu. Cần có thời gian để họ có thêm niềm tin, chỉ đến khi đó ta mới có thể giúp được họ. Nên mặc dù đối diện với sự hững hờ và nghi ngờ, ta cần phải tiếp tục thực tập và kiên nhẫn.

17. Để được hạnh phúc mỗi ngày

H. Xin cho biết những gì mà một người bình thường có thể làm để được hạnh phúc hơn mỗi ngày?

Tl. Thiền hành là một việc mà ai cũng làm được. Có nhiều người thấy khó khăn trong khi ngồi thiền nhưng phần lớn thì ai cũng đi thiền được. Nếu ta ngồi trên xe lăn thì ta cũng có thể thực tập thiền lăn xe được. Bất cứ ở đâu, Berkeley, New York, Amsterdam, Paris hay Bangkok và bất cứ ai cũng đều có thể thưởng thức niềm vui khi đi thiền. Mỗi bước chân giúp ta dừng lại sự thất niệm, trở về tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm để được nuôi dưỡng và chuyển hóa. Thiền hành là một sự thực tập rất dễ chịu, có công năng chuyển hóa và trị liệu. Khi thực tập thiền hành ta đem tâm về hợp nhất với thân và trở về với hơi thở. Theo dõi hơi thở, giúp cho thân và tâm ta hợp nhất. Khi đó ta sẽ thực sự có mặt, thực sự sống và tìm thấy hạnh phúc trong giờ phút hiện tại.