Mùa cổ tích

(Sư cô Chân Trăng Tâm Đức)

 

 

Trung thu năm nay rất thú vị. Tối nay, sau khi rước đèn, ngắm trăng cùng mọi người về, hình ảnh em bé đón trung thu năm nào trong con chợt hiện lên sống động. 

Sinh ra ở một vùng quê cách trung tâm thành phố Huế không quá xa và con có một tuổi thơ thật đầy màu sắc. Năm con học lớp hai, một đoàn trẻ con trong xóm trạc tuổi nhau đã lập nên một nhóm đi múa lân. Tính ra cũng gần hai mươi đứa. Mỗi đứa góp tiền ăn vặt mà mình có để mua những thứ cần thiết từ trống, đầu lân, vải cho đến đồ trang trí cho đuôi lân, mặt nạ ông địa và nhiều thứ khác. Kế hoạch là đi múa lần lượt từng nhà, hết thôn của mình thì sẽ sang thôn khác trong vòng ba đêm, bắt đầu từ đêm Mười ba. Tuy là đoàn con nít nhưng chúng con tập dượt hoành tráng lắm. Trước khi xuất quân đi múa là cả đoàn hẹn nhau tập cả tuần. Hồi đó lớp con học buổi chiều nên sau khi đi học về, con ăn cơm thiệt nhanh để đến nơi tập hợp. 

Đêm Mười ba, mấy đứa nhỏ hẹn mang hết tất cả đồ đạc tập trung ở lăng Ông cụ Kinh tế gần nhà. Lý do lăng có tên này là con được nghe từ Ba rằng ông cụ thuộc dòng họ Nguyễn Khoa và trước đây làm chức chi to lắm trong Ban kinh tế của nhà nước. Hôm đó, tụi con mua trái cây, bánh tới lăng Cụ để cúng rất là thành kính. Đứa nào cũng được đứng trước lư hương và lầm thầm khấn vái. Sau đó là một màn múa lân ngay trước lăng rồi mới bắt đầu xông đất nhà đầu tiên. 

Trong thời gian đoàn lân chúng con múa thì cũng có những đoàn lân người lớn khác. Đoàn con nít rất được chủ nhà yêu thích và không những treo tiền lì xì mà còn có cả quà bánh và nước uống. Thành ra thủ quỹ cần mang theo túi to để đựng nào là cam, chuối, ổi, bánh, kẹo. Lúc đó quê con chưa có điện đường nên nhiều đứa được phân công cầm đuốc. Cây đuốc được làm từ những ống tre, đổ dầu hỏa vào và nhét trên miệng ống một miếng vải được quấn rất chặt để châm lửa từ đó. Mỗi lần thấy ngọn lửa nhỏ lại thì chỉ cần chốc ngược ống tre là vải được tiếp thêm dầu và bùng sáng trở lại. 

Đoàn đi đến đâu là rộn ràng tới đó vì cái đầu lân thì nhỏ xíu mà đội quân đi theo rất là hùng hậu. Ấn tượng nhất là anh họ con đóng vai Tề thiên cầm gậy xoay và hai đầu gậy được đốt lửa tạo nên vòng tròn lửa y như trong phim. Trong khi đó nhân vật mà nhà nhà tò mò muốn biết mặt là ông địa bụng bự vì ông đeo mặt nạ Trư bát giới và diễn quá sức dễ thương. Đêm nào về đến nhà cũng khuya nhưng đứa mô đứa nấy đều rộn ràng trong lòng và nhiều khi tiếng trống còn vang trong giấc mơ. Đó là những lần hiếm hoi mà chị gái con và con được đi chơi đến tận tối khuya mới về nhà. Đêm Mười lăm, chúng con lên kế hoạch múa về sớm để còn liên hoan phá cỗ. Địa điểm cũng tại lăng ông Cụ. Số tiền lì xì nhận được dùng mua nào đồ ăn, nước uống, bánh trung thu và số dư còn lại được chia cho mỗi đứa để làm quà. Sau khi được ăn uống, kể chuyện và còn đem tiền lì xì về nhà, lòng đứa nào cũng vui như hội và mong mùa trung thu năm sau đến nhanh để lại được chơi tiếp.

Bây giờ trẻ em ở quê con không còn chơi những trò mà tuổi thơ con đã trải qua. Đường xá bây giờ đã được đổ nhựa chứ không còn là những con đường làng đất cát với nhiều cây hai ven đường. Các đoàn lân hầu hết là người lớn, chứ để kiếm ra một đoàn nhóc như chúng con trước đây chắc cũng khó. Nhớ lại mà con thấy biết ơn vùng quê mình tuy nghèo nhưng tình hàng xóm đậm đà, con nít cùng chơi với nhau không biết bao nhiêu trò. Miền quê yên bình đã cho con có một tuổi thơ rộn tiếng cười.

Lớn dần lên, đi học rồi đi làm, con không còn được hưởng không khí Trung thu như hồi nhỏ nữa. Thế nhưng khi vô chùa và đặc biệt năm nay, không khí Trung thu năm nào ở làng quê trong con có cơ hội sống dậy. Nhờ các sư cô, sư chị trong cư xá phát động kế hoạch làm lồng đèn để rước đêm rằm, mà con đã có dịp tự mình làm đèn. Đêm làm biếng, mấy chị em con bày binh bố trận ngay trong phòng học, nào chẻ tre, vót tre, làm khung, cắt giấy, dán keo. Dù gây ra tiếng động không hề nhẹ nhưng ai cũng tự bào chữa là vì tinh thần làm đèn đón Tết trung thu nên chắc mọi người sẽ hoan hỉ cho thôi. 

 

     

Hôm đó, trong khi sư chị cùng phòng đã gần hoàn tất chiếc đèn lồng nhỏ xinh xắn, con vẫn chưa làm được đèn cho mình vì bận chẻ và vót tre. Mấy chị em con đùa nhau, sáng mai ai dậy sớm thì sẽ được đốt đèn thưởng thức trước. Sáng hôm sau, sư chị dậy sớm nhất nhưng đã rất dễ thương nhường đèn cho con. Vừa bước vào phòng học con đã thấy đèn thắp sáng, vừa lung linh vừa ấm áp. Ngay lập tức con có động lực làm một chiếc đèn, vừa để đón trăng và sau đó để trên bàn học luôn. 

Tối đến, con bày đồ ra và hào hứng nào cắt, nào dán trong niềm thích thú. Sau một hồi xoay xở, cuối cùng sản phẩm cũng được ra đời là một chiếc lồng đèn nhỏ hình trụ vuông với họa tiết là những cánh hoa đào màu đỏ bé xíu.

Bảy giờ tối đêm Rằm, đại chúng tập hợp ở nhà ăn, khất thực bánh trung thu rồi thiền hành lên đồi mận. Nhìn mọi người, đặc biệt là quý sư mẹ mặt rạng rỡ, trên tay cầm chiếc lồng đèn được thắp sáng mà con thấy vui. Một sư mẹ chia sẻ trước khi đi thiền rằng bây giờ bầu trời sẽ thay đổi trong từng khoảnh khắc nên mời mọi người quay trở về ý thức những gì đang xảy ra. Đi cùng đại chúng, con đã đặt lên đất Mẹ những bước chân bình an, gửi gắm cả niềm hạnh phúc khi lần đầu tiên được rước đèn lên đồi đón trăng.  

 Điều mầu nhiệm là sau khi ngồi xuống trên đỉnh đồi một vài phút thì đằng xa kia, phía lâu đài Duras, trăng bắt đầu nhô lên. Đây là một trong những lần hiếm hoi con được chứng kiến khoảnh khắc tuyệt đẹp này. Con nghĩ từ ngữ không đủ để diễn tả sự nhiệm mầu của vũ trụ, chỉ có cách tận mắt chứng kiến mà thôi. Lòng con lắng yên, cảm nhận hơi thở vào ra thật nhẹ, thưởng thức vẻ đẹp của trăng -“nàng thơ của biết bao thi sĩ”. Trăng tròn, to, còn ửng chút hồng nhạt, sau đó trăng dần lên cao và sáng hơn. May mắn nữa là lần đầu tiên con được ngắm trăng với ống nhòm có độ phóng đại rất lớn do một sư chị mang theo. Con nhìn được những mảng màu tối ở trên trăng mà trong đầu của mấy đứa con nít Việt đó là hình ảnh cây đa của chú Cuội. 

Sau đó, đại chúng được thưởng thức bánh trung thu, những bài hát, những lời chia sẻ từ các bạn thiền sinh, trong đó có nhiều bạn người Trung Hoa. Sư cô Chân Không đã mang đến cho đại chúng không khí sống động với tiếng hát và những câu chuyện dí dỏm về cây đa, chú Cuội trong văn hóa Việt. Trăng tỏa ánh sáng dịu hiền, ôm ấp núi đồi, cây cỏ, ôm lấy luôn cả đoàn người đang ngồi trên đồi. Con thấy bình yên, hạnh phúc và biết ơn mọi nhân duyên cho con đang được ngồi thảnh thơi cùng đại chúng ngắm trăng. 

 

 

Sau khi mọi người đã về lại phòng, con vẫn còn muốn cầm đèn đi dạo quanh xóm dưới ánh trăng mát dịu. Trăng chiếu sáng khắp các lối đi. Đêm nay trăng rằm, thế là con chọn thiền đường Trăng Rằm là nơi để tiếp tục thưởng trăng. Một món quà nữa cho con khi ra đến thiền đường đó là hương hoa mộc thơm nức. Con thấy mình giàu có hết sức, có trăng sáng trên cao, có lồng đèn, có hoa mộc tặng mùi thơm và con đang có mặt cho chính con ngay lúc này. Con yên lặng thở và mời Bụt, mời Thầy cùng ngắm trăng với con. Con thấy khi con đủ yên, con nhìn lại được chính con thì giây phút nào trôi qua cũng là giây phút huyền thoại. 

Con đã có đêm trăng với nhiều hạnh phúc cùng những kỉ niệm tuổi thơ trong trẻo ùa về. Trở lại phòng mà trong con vẫn còn vang vọng giọng hát ngọt ngào và sâu lắng của Sư cô Chân Không dành tặng đại chúng bài thơ “Tao ngộ”:

“Bên bờ suối vô vi

Trăng lên chờ ta đó

Ngàn xưa từ ngàn xưa

Trăng vẫn chưa hề lặn

Ta đi vào viễn xứ

Trăng đưa lối ta về

Trùng dương muôn bến mộng

Nên ta vẫn còn mê

Trăng Huyền Không mở hội

Hương lan ngát bên đồi

Mây ngàn phương về hội

Giờ tao ngộ đến rồi

Quê hương vẫn là đây

Trăng vẫn mảnh trăng này

Ngàn sau ngàn sau nữa

Lồng lộng giữa trời mây”

(Thơ: Viên Minh, Nhạc: Tịnh Thuỷ)



Thầy trò mình đang ở trên đỉnh đồi

(Sư cô Chân Thao Nghiêm)

Biết đến bao giờ chúng con mới hết nhớ Thầy! Chắc sẽ còn lâu lắm, mà cũng có thể không bao giờ. “Không sao, có nhớ Thầy, có khóc cũng chẳng sao, vì mọi người đều vậy mà!”, con thầm nghĩ.

Mỗi lần anh chị em ngồi chơi với nhau, chúng con kể rất nhiều chuyện về Thầy. Chúng con luôn cười thật vui, và trong trái tim mỗi người đều đầy ắp sự thương kính hướng về Thầy.

Cuối thu là mùa Thầy về lại Làng sau những tháng ngày hoằng pháp nơi xa. Anh chị em chúng con ở nhà thường háo hức dọn dẹp, chuẩn bị đón Thầy về, và rồi đại chúng sẽ có một mùa an cư thật ấm áp. Chúng con không quên mua vài chậu hoa cúc, loại hoa mà Thầy yêu thích, đặt sẵn trong nhà kính để khi về tới Thầy có thể chơi với hoa. Cứ sau một chuyến đi xa về, Thầy thường đi thăm các xóm một cách bất ngờ để bắt gặp đời sống bình thường, tự nhiên của các sư con.

Mùa thu năm đó, Thầy còn dưỡng bệnh. Thầy trò mình đang ở xóm Thượng. Bốn giờ sáng, Thầy bấm chuông gọi, chị em con qua thất xem Thầy cần giúp gì không. Thầy Pháp Áo cho biết là Thầy muốn đi thăm tăng xá. Con hơi bất ngờ, hỏi lại: “Nhưng bây giờ chưa tới giờ thức chúng, đại chúng còn đang ngủ mà?”

Thầy Pháp Áo chưa kịp trả lời thì con nghe Thầy lên tiếng:

“Chuẩn bị đi thôi con, mình sẽ tạo bất ngờ cho quý thầy. Gọi tất cả các anh chị em khác cùng đi. Phải nhanh lên mới kịp, mình phải vào, trong lúc quý thầy chưa dậy mới vui!”.

Thế là anh chị em con được đi với Thầy vào tăng xá. Thầy dạy chúng con mang theo hai chậu hoa cúc để làm quà. Quý thầy thị giả đẩy xe cho Thầy, còn chị em con bưng hoa theo sau. Lên hết các bậc cấp của thất Ngồi Yên, ra khỏi mé rừng, con đường từ tháp chuông dẫn đến tăng xá trước năm giờ sáng còn tối lắm, cảm giác như còn giữa khuya. Ngẩng đầu nhìn lên là một bầu trời đầy sao. Không khí yên tĩnh, sao sáng lấp lánh cả bầu trời, Thầy thốt lên: “Ôi chao ôi, đẹp quá! Mầu nhiệm quá! Cám ơn Bụt Tổ còn cho con có cơ hội này, lâu rồi mới có cơ hội thấy lại”. Thầy trò ai cũng xúc động tận hưởng và trân quý sự mầu nhiệm của đất trời buổi sớm.

 

 

Vào tới tăng xá, quý thầy đúng là chưa dậy. Thầy thích thú ghé vài phòng để đánh thức quý thầy dậy, tạo sự bất ngờ. Sau đó, Thầy ra thư viện uống trà, ngồi chơi và hỏi thăm quý thầy. Thầy kể chuyện cho các sư con nghe, còn hát tặng một bài nữa và không quên tặng hai chậu hoa cúc cho tăng xá. Giây phút ấy thật hạnh phúc và ấm cúng! Những sư con ở gần Thầy ai cũng biết là để làm được như vậy, Thầy phải dùng nhiều năng lượng hơn mức sức khỏe của Thầy cho phép. Nhưng Thầy có hạnh phúc và được nuôi dưỡng từ tình thầy trò. Và điều Thầy luôn muốn là đem lại sự an tâm cho các sư con.

Con nhớ cảm giác có Thầy trong đại chúng. Thầy luôn là người chủ động, biết cách làm chủ tình hình và tạo không khí rất cởi mở, dễ chịu cho mọi người xung quanh. Bằng tình thương và năng lượng nhẹ nhàng, Thầy hướng dẫn cho đại chúng chia sẻ trong những buổi sinh hoạt xuất sĩ hay pháp đàm chung. Thầy có mặt rất hết lòng, và điều đó nhắc nhở chúng con quay về với sự thực tập. Con rất thích mỗi khi có dịp được nghe Thầy kể những câu chuyện mà chúng con chưa được nghe bao giờ. Thầy nhớ rõ các chi tiết, rồi kể một cách từ tốn nhưng rất hài hước và sống động. Thầy không cần diễn tả nhiều, vậy mà nội dung câu chuyện được truyền tải đầy đủ và đáng nhớ. Thầy trò mình đã cùng cười rất vui.

Ở Sơn Cốc, có một cầu thang gỗ dẫn lên phòng Thầy. Cầu thang rất cũ, hẹp và tối. Thầy thường nói với chúng con là cầu thang có mười tám bậc và lần nào bước trên đó, Thầy đều bước trong chánh niệm và hạnh phúc. Mỗi lần lên cầu thang cùng Thầy, con đều vội vàng đóng cửa hành lang, bật đèn và xếp dép để Thầy không phải chờ lâu. Thầy luôn đứng đó, chờ con đến mới bắt đầu bước tiếp để thầy trò cùng bước lên từng bậc thang trong chánh niệm và hạnh phúc. Phải bước lên vài bậc thang, con mới yên trở lại và thấy hạnh phúc vì được Thầy dẫn dắt, nhắc nhở con bước đi trong chánh niệm. Con không cần phải làm gì, chỉ bước theo từng bước chân của Thầy. Thầy thường cười và nói: “Thầy trò mình đang leo đồi thế kỷ!”.

Hồi ấy, Thầy từng nói: “Thầy trò mình đã leo đồi thế kỷ được nhiều năm rồi, khi lên đến đỉnh đồi thì Thầy được bao nhiêu tuổi?” và Thầy cười. Con đã tưởng tượng, đã ước mơ khi lên tới đỉnh đồi, Thầy vẫn còn hiện diện với chúng con bằng xương bằng thịt. Còn con, lúc đó sẽ là một sư cô lớn tuổi, với niềm hạnh phúc là Thầy vẫn còn ngồi với mình và xung quanh là đại chúng rất đông. Có lẽ lúc đó con sẽ khôn lớn đủ, vì đã có Thầy thật lâu để nương tựa và lớn lên.

Thầy kính thương, Thầy trò mình đang ở trên đỉnh đồi, đang ngồi yên bên nhau. Mình cùng thở chung một nhịp và mỉm cười ngắm nhìn sự mầu nhiệm của đất trời. Có Thầy trong lòng, con thấy mình thật đầy đủ, mạnh mẽ, giàu có và ấm áp.

Mỗi lần hòa mình vào lòng đại chúng, con đều nhớ lại ước mơ lúc xưa của Thầy. Đó là xây dựng được một tăng thân dễ thương, có tình huynh đệ và có thực chất tu học. Thầy kính thương, có phải giấc mơ của Thầy đã thành hiện thực từ lâu? Giấc mơ đó đã trở thành hiện tại của chúng con, sẽ trở thành tương lai của các sư em và của tất cả mọi người nữa.

Chúng con luôn biết ơn Thầy và đang cùng Thầy đi về tương lai.

 

Nắm lấy quyền tự chủ

Bây giờ là thời điểm giao mùa. Cái nóng oi bức của mùa hạ đang dần nhường chỗ cho tiết trời thu. Trên tầng cao, những làn gió mát mẻ kèm theo những cơn mưa êm dịu khẽ khàng rơi xuống vỗ về cỏ cây, hoa lá. Vậy mà càng gần mặt đất, không khí dường như cô đặc lại, ngột ngạt đến khó chịu. Trở về nhà sau một ngày quán niệm, chân bước còn chạm đất mà đầu óc dường như đã lạc trong những đám mây xám xịt trên nền trời. Cơ thể tôi vẫn chưa thích nghi kịp với nhịp độ chuyển mùa.

Một nửa trong tôi chỉ muốn leo lên giường, nằm xuống nghỉ ngơi, cho sự khó chịu của cơ thể được an ủi, vỗ về. Nửa còn lại kháng nghị rằng cần phải duy trì thói quen tập thể dục của mình. Giữa sự giằng co của lí trí và sự mệt mỏi của thân thể, tôi chọn cứ ngồi xuống trước, nhấm nháp vài ngụm trà, ngắm nhìn những hạt mưa đang gieo mình xuống tán lá ngoài cửa sổ.

Uống hết hai ly trà, lòng yên tĩnh hơn, sự giằng co lắng xuống, mệt mỏi cũng vơi đi, tôi khoác áo, ra ngoài tập thể dục. Trời mưa, không chạy bộ được nên tôi chỉ đứng trong nhà tập hai lần bài Thái cực quyền như mọi ngày. Mỗi động tác phối hợp với hơi thở vào và ra, khí được lưu chuyển toàn thân, mồ hôi toát ra khiến tôi cảm thấy khoẻ khoắn hơn nhiều. Giây phút đó, tôi biết rằng mình lựa chọn đúng.

Trong cuộc sống, tôi thấy mình có vô số lần đứng trước sự giằng co giữa ý chí và nhu yếu muốn tìm kiếm lạc thọ thường tình của con người. Không ít lần tôi cảm thấy mình lựa chọn sai. Đó là những lúc ý chí không đủ mạnh để vượt thắng được những ham muốn, tập khí tìm kiếm lạc thọ của tự thân. Theo năm tháng thực tập, tôi thấy rằng sự mạnh mẽ của ý chí liên quan mật thiết đến hạnh phúc chân thật đời mình. Mơ ước của tôi là sống một đời sống giản dị nhưng vận mệnh, hạnh phúc của bản thân nằm trong tay tôi chứ không phụ thuộc vào hoàn cảnh hay bất cứ người nào khác.

 

 

Hình dung bạn muốn leo lên một đỉnh núi cao chót vót nằm trên chín tầng mây. Giả sử có thần thông bạn sẽ biến ngọn núi đó thấp xuống để dễ dàng leo lên, trong trường hợp không có thì bạn làm gì? Câu trả lời là bạn có thể rèn luyện sức khoẻ để chinh phục đỉnh núi đó bằng chính tôi tay và đôi chân của bạn. Mọi thứ nằm trong tầm tay, nếu ý chí của bạn đủ lớn, bạn sẽ làm được.Cũng như vậy, tôi không có phép màu để  ngăn hoàn cảnh bất như ý không xảy đến cho mình nhưng tôi luôn có thể thay đổi cách mình tiếp nhận, ứng xử với những điều xảy đến. Hạnh phúc hay khổ đau là tuỳ cách mình nhìn nhận sự vật, sự việc. Tôi không còn nhìn mình như nạn nhân của hoàn cảnh, cho rằng khổ đau hay bất hạnh của mình là do mọi người xung quanh đem tới. Sự thông suốt đó khiến tôi đỡ khổ hơn rất nhiều.

Mỗi khi trong lòng nổi lên giông bão, tôi thấy do sự thực tập của mình chưa vững vàng đủ nên mặt hồ tâm mới dễ bị dậy sóng bởi những những làn gió giận hờn, ganh tị hay buồn phiền. Những lúc như vậy, tôi lại dạo bước ra ngoài thiên nhiên, đặt tâm ý mình xuống lòng bàn chân. Có đôi khi mệt mỏi, tủi hờn dâng trào như muốn nhấn chìm con người tôi, nước mắt không kiềm chế được mà rơi như mưa. Giây phút đó có bao nhiêu thổn thức, nghẹn ngào, không chỉ riêng tôi mà bất cứ ai đi qua cũng đều hiểu được. Khóc đủ, nhắm mắt lại, ngồi yên giữa đất trời bao la hay tựa lưng vào một cội cây vững chãi, giữa đau thương, tôi nhận ra hơi thở cất tiếng gọi tôi trở về. Cảm xúc dần an tĩnh theo nhịp thở, mặt hồ tâm cũng trở lại vẻ yên bình vốn có. Mở mắt ra, ngắm nhìn những đám mây lững lờ trôi phía xa xa, tôi nhận ra mọi sự vật, mọi hiện tượng đều theo quy luật biến chuyển không ngừng. Từ thời tiết như nắng mưa cho đến cảm xúc như buồn vui đều đến rồi đi. Nếu mình không nắm bắt, chúng sẽ đến đi theo dòng chảy vô thường. Nhờ rèn luyện được khả năng ôm ấp, đối diện với những khổ đau, tôi nhìn được người mà tôi cho rằng đã gây ra tổn thương cho mình bằng đôi mắt bình thường, sáng trong, không hờn giận, oán trách. Tôi thấy tự do hơn khi hạnh phúc của tôi không phụ thuộc vào lời xin lỗi của người kia. Con đường tôi chọn là rèn luyện tâm mình an tĩnh trước những biến chuyển của đời sống.  

Rèn luyện tâm xảy ra trong mỗi giây, mỗi phút chứ không phải chỉ những lúc ngồi thiền, tụng kinh hay niệm Bụt. Nó bắt đầu bằng những điều tưởng chừng như nhỏ nhặt nhất như khi chuông báo thức vang lên, bạn sẽ tắt báo thức để ngủ tiếp hay trở mình để thức dậy? Biết rằng sáng mai phải thức dậy sớm, bạn có buông điện thoại xuống được để cơ thể mình có cơ hội nghỉ ngơi ?… Nếu không tự chủ được với những điều bình thường nhất của đời sống thì làm sao ta tự chủ được khi đối diện với những giông bão nổi lên trong lòng?  Nếu không đủ sức vượt được những mõm đá nho nhỏ thì trông mong gì đến việc chinh phục một đỉnh núi cao ngút ngàn? Mọi thành quả có được trong cuộc đời, kể cả hạnh phúc đều là kết quả của sự nỗ lực, của công phu chứ không phải từ trên trời rơi xuống.

Sáng nay, bước chân ra cửa, thấy bình minh đang rạng hồng phía chân trời, lòng chợt thênh thang, nụ cười theo đó đến trên môi. Khoảnh khắc đó tôi nhận ra nụ cười mình khiến cho bình minh trở nên rực rỡ và diễm lệ hơn. Ai bảo rằng chỉ có thiên nhiên mới nuôi dưỡng, đem lại sự trị liệu cho con người? Con người cũng có thể làm đẹp cho đất trời, cho vạn vật bằng niềm vui và hạnh phúc của chính mình. Một ngọn cỏ bé nhỏ góp phần không thể thiếu vào chuỗi mắt xích, vòng tuần hoàn bao la của sự sống. Nụ cười, nhiệt huyết sống của bạn cũng đóng góp vào việc duy trì vẻ tươi đẹp của đất Mẹ, trời Cha. Chỉ cần bạn có đủ hạnh phúc, không sợ hành tinh này không trở nên tươi đẹp hơn.

 

 

Nếu bình minh hiển bày trước mắt tôi giờ phút này thì nó cũng ghé thăm bạn sáng nay. Hãy ngước nhìn ngoài khung cửa, bạn đã sẵn sàng để mỉm cười với sự sống hay chưa? Hạnh phúc của bạn, bạn đã nắm chắc được trong tay?  

(Tâm Mỹ Hoa)

 

Nhóm tương thân tương ái

(Trích từ sách Trồng một nụ cười của Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Trong lớp học, nếu các em có nỗi khổ nào đó thì giáo viên có thể giúp các em thành lập các nhóm tương thân tương ái để tìm hiểu và giúp chuyển hóa khổ đau đó. Giáo viên cùng các em học sinh có thể chọn 2 – 5 học sinh vào nhóm. Mục đích của nhóm là thực tập bình an để làm cho tất cả các học sinh và các thầy cô giáo hạnh phúc. Sau khi nhóm khởi đầu đã có một vài kinh nghiệm thực tập lắng nghe sâu, những em khác có thể thay phiên nhau tham gia vào nhóm để học hỏi phương pháp thực tập này. Rất nhiều khổ đau của các em là do hiểu lầm mà ra. Vì vậy, thường thường các em cảm thấy người khác không nghe mình, không hiểu mình. Qua sự thực tập lắng nghe sâu và nhìn sâu, con đường thoát khổ sẽ tự hiển bày. Sự thực tập lắng nghe và nhìn sâu vào bản chất của khổ đau có thể làm cho lớp học trở nên hạnh phúc và hòa hợp.

Để chuyển hóa những khó khăn trong lớp học, nhóm tương thân tương ái có thể tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu với tâm thương yêu. “Thưa thầy/cô, chúng em muốn tổ chức một buổi thực tập lắng nghe sâu để mọi người có thể nói ra tất cả những khổ đau, khó khăn của mình. Nhiều bạn có khổ đau trong gia đình, nhiều bạn gặp khó khăn trong lớp học, chúng em rất mong được thầy/cô hiểu những khổ đau, khó khăn của chúng em”. Đây là một yêu cầu rất chính đáng. Khi bạn lắng nghe những tâm tư tình cảm của học sinh là bạn đã thực tập lời Bụt dạy: nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ban giám hiệu nên cho phép giáo viên tổ chức những buổi lắng nghe như thế để giáo viên ngồi lắng nghe thật hết lòng những khổ đau, khó khăn của học sinh mình.

 

 

Trong một khóa tu mùa hè tại Làng Mai, có một em gái khoảng 7, 8 tuổi. Em khóc rất nhiều. Em không biết tại sao mỗi ngày thầy/cô của em lại làm khổ em nhiều như thế; em không biết tại sao thầy/cô ấy lúc nào cũng nhắm vào em, và em không biết làm sao để thầy/cô ấy đừng làm như vậy nữa. Em không muốn đến lớp chút nào, nhưng em vẫn phải đi học mỗi ngày. Khi tăng thân nghe em kể, nhiều người, kể cả người lớn đã khóc. Nhiều người trong chúng ta đã phải trải qua những khổ đau tương tự.

Nếu trong lớp học bạn phụ trách có một nhóm tương thân tương ái thì những em trong hoàn cảnh khó khăn tương tự như em gái này có thể đến chia sẻ với nhóm, “Mình khổ quá, các bạn giúp mình với”. Cả nhóm sẽ ngồi lại và nói: “Chúng mình rất sẵn lòng nghe bạn nói. Có chuyện gì vậy?”. Và tất cả mọi người lắng nghe câu chuyện của em ấy.

Nhóm tương thân tương ái có thể tìm cách giúp cho nỗi khổ của bạn mình vơi nhẹ. Nhóm có thể đề cử một hay hai thành viên đến gặp thầy/cô giáo có liên quan để nói cho thầy/cô giáo ấy biết về khó khăn của bạn mình. “Thưa thầy/ cô, chúng em không biết tại sao ngày nào bạn ấy cũng khóc, bạn ấy cho chúng em biết là thầy/cô làm bạn ấy khổ. Bạn ấy thật sự là rất khổ, bạn ấy không hề có ý trách móc thầy/cô, bạn ấy chỉ không muốn khổ như vậy nữa mà thôi. Xin thầy/ cô chỉ dạy cho chúng em cách giúp bạn ấy bớt khổ”. Khi nhóm tương thân tương ái đến thưa với thầy/cô giáo như vậy, tôi tin là thế nào giáo viên ấy cũng sẽ tìm cách thay đổi tình trạng.

Dĩ nhiên nếu em học sinh có đủ can đảm thì em có thể đến nói chuyện trực tiếp với thầy/cô giáo. “Thưa thầy/cô, em không biết tại sao thầy/cô lại tập trung vào em mỗi ngày làm em rất khổ sở. Em không biết mình đã làm gì sai. Nếu em có điều gì làm cho thầy/cô không vui, xin thầy/cô cho em biết, em sẽ cố gắng hết sức để thay đổi”. Học sinh có thể chia sẻ bằng những lời dễ thương như vậy. Trong trường hợp, học sinh không đủ tự tin để chia sẻ trực tiếp với thầy/cô giáo thì nhờ nhóm tương thân tương ái giúp. Đó là một cách xử lí rất hòa ái.

Giáo viên cũng nên nói cho học sinh biết là mình cũng có những nỗi khổ riêng trong gia đình và nếu có thêm những nỗi khổ trong lớp học thì có thể hơi quá sức cho mình. Nếu trong lớp có một Nhóm tương thân tương ái thì các em học sinh nên tìm cách động viên thầy cô giáo của mình nói ra được những khó khăn trong lòng. Khi các em đã hiểu những khó khăn của thầy cô giáo thì các em sẽ hành xử dễ thương hơn, sẽ hợp tác và biết cách yểm trợ cho thầy cô giáo.

Nếu giáo viên và học sinh không bắt được nhịp cầu cảm thông sâu sắc cho nhau thì cả thầy lẫn trò không thể nào có hạnh phúc. Thầy cô chẳng có hứng thú giảng dạy mà trò cũng chẳng có hứng thú để học.

Thư gửi ba mùa Vu Lan Báo Hiếu

Ba thương,

Mầu nhiệm biết bao khi con có ba cùng có mặt với con trong mùa Vu Lan năm nay. Vì vậy cho nên con đang ngồi đây và viết bức thư này gửi đến ba. Khi sư cô đến nhờ con viết thư để đọc trong buổi lễ Bông hồng cài áo, con nghĩ: “chết rồi, mắc cỡ lắm”. Cũng lâu rồi con không đặt bút xuống để viết cho người con thương nhưng hi vọng mạch văn của con sẽ tuôn ra như mạch văn của ba.

Năm vừa rồi đã có một biến cố lớn xảy ra cho gia đình của mình, là ba đã mất đi một người cha, con đã mất đi một người ông. Ba, con đã khóc rất nhiều, nhưng con nghĩ lí do chính nhất cho những giọt nước mắt của con là vì con quá muốn được về đoàn tụ với cả nhà. Khi tất cả mọi người đều tề tựu về đông đủ mà chỉ có hai chị em con là không thể có mặt được. Con thèm lắm và muốn lắm được cùng chia sẻ với cả nhà sự mất mát ấy. Nhưng nhân duyên điều kiện chưa đầy đủ, con đành phải chấp nhận. Con đặt bức hình ông lên bàn thờ, mỗi tối con vào ngồi với ông, có khi con ngồi thật lâu và con thấy bình an chi lạ, cứ như năng lượng của ông đang ôm lấy con, an ủi, vỗ về con. Cuối cùng ông đã có mặt ở đây cùng con, đồng hành với con trên những chặng đường sắp tới. Con thấy con không một mình.

Và con nghĩ tới ba mẹ. Dù sao đi nữa, ba mẹ vẫn luôn giữ được nụ cười mỗi khi con gọi về. Ba mẹ biết đây không hề là một sự mất mát. Ba mẹ biết đức độ của ông nội đã đi vào mỗi người con, mỗi người cháu trong gia đình.

Hồi nhỏ, con luôn nghĩ là con giống mẹ nhiều hơn giống ba. Những kí ức tuổi thơ trong con luôn đong đầy hình ảnh mẹ. Con nghĩ vì những năm tháng ấy con ở gần mẹ nhiều hơn. Ba phải đi làm, nên kí ức về ba trong con là những chiều chiều, tối tối với tiếng xe cày, tiếng máy xay cà phê ngoài sân, mùi mồ hôi đặc trưng của ba và những bữa cơm tối luôn luôn có đầy đủ cả nhà. Con là một đứa hoạt bát, dễ cởi mở, dễ trò chuyện, dễ kết bạn (hay đó là những gì con từng nghĩ về bản thân). Những điều này rất dễ thấy là của mẹ. Khi lớn lên, từ từ con thấy được con cũng giống ba. Con thích ở một mình nơi có nhiều cây cối, thích tắm mình trong thiên nhiên, đôi khi muốn cắt hết những sợi dây rườm rà với xã hội. Yếu tố của ba và mẹ tuôn chảy hài hoà trong mạch sống của con, như ba và mẹ là hai mảnh ghép hài hoà với nhau, nương nhau mà phát triển.

Con thấy con quá giàu có khi có ba, có mẹ. Trong quá trình tự quan sát bản thân, con thấy trong con đầy những bông hoa quý giá cũng như những nỗi buồn đau của ba mẹ. Con thấy con không hề một mình. Khi con đau buồn, con biết đây là ba mẹ trong con cũng đang đau buồn, và chỉ như vậy thôi nỗi đau đã được san sẻ, con vững lòng hơn để ôm lấy nỗi đau mà không sợ hãi. Và khi trong lòng con tràn ngập ánh sáng, hạnh phúc hay đầy hy vọng, ước mơ, con cũng biết đây là ba mẹ. Con chỉ là người tiếp tục nuôi dưỡng những điều đó như một người ấp trứng điềm tĩnh, kiên nhẫn chờ đợi những quả trứng nở ra thành những con gà con.

Với con, điều tuyệt vời nhất mà ba mẹ đã ban cho con, ngoài sự sống này là sự chấp nhận con. Ba mẹ luôn đồng hành với con như những người bạn, có niềm tin nơi con, luôn sẵn sàng chấp nhận con. Ba mẹ không đòi hỏi con phải thế này hay như thế khác. Cho dù con thành công hay con thất bại, con bị ghét hay con được thương, con khoẻ mạnh hay đau ốm, con biết con sẽ luôn có một nơi để trở về: một ngôi nhà, một mái ấm mà khi trở về tình thương trong con sẽ được đong đầy trở lại. Đây là điều quan trọng nhất đã giúp con vượt qua được những giai đoạn khó khăn. Con biết, con có những phụ huynh tuyệt vời nhất trên đời. Có một câu của ba từ thời đi học mà con còn nhớ hoài: “Chỉ cần con cố gắng hết sức thôi, còn kết quả ra sao cũng được”. Cho nên tinh thần thoải mái đã là một pháp khí lợi hại mà ba mẹ cho con những năm tháng đó. Nhờ vậy con đạt được những điều bản thân mình cũng không dám tin. Bây giờ cũng vậy, trong sự tu tập, khi con lấy lại được tinh thần thoải mái ấy, từ từ mọi thứ trong con được hài hoà trở lại. Con lại chạm tới được niềm vui và ánh sáng.

Chấp nhận vẫn là một bài học mà mình phải học cả đời phải không ba? Con đang học chấp nhận bản thân mình để rồi tự chấp nhận mình được đến đâu thì con cũng chấp nhận được người khác đến đó. Con tự thương bản thân mình tới đâu thì con mới thương được người khác đến đó. Ba mẹ luôn là những người thầy dạy cho con bài học chấp nhận và thương yêu.

Vu Lan năm nay có ba, chắc con là người may mắn nhất trên đời. Cảm ơn tất cả những điều kiện đã góp phần để phút giây này được có mặt. Con biết mẹ cũng có mặt ở đây vì mẹ luôn dõi theo từng bước chân của con. Con kính chúc ba mẹ có nhiều sức khoẻ, có nhiều thành công, hoa trái và trị liệu trong sự tu học để ba mẹ tiếp tục là chỗ nương tựa cho chị em con và tiếp tục truyền cảm hứng tu học đến những người xung quanh ba mẹ.

Kính thư

Con,

Sư cô Trăng Hồ Sen

Mùa hè – Summer Opening 2023

Mùa hè hằng năm, Khoá tu Gia đình diễn ra ở Làng là cơ hội để những bậc cha mẹ đưa con cái mình tới cùng thực tập, cùng sống với nhau trong môi trường có nhiều thương yêu và bình an của tu viện. Người lớn có thời khoá của người lớn, thanh thiếu niên có thời khoá của thanh thiếu niên và cả các em nhỏ cũng có những chương trình sinh hoạt riêng của mình. Không còn gì đẹp hơn khi cả gia đình đều thực tập để hiến tặng niềm vui, sự tươi mát cho nhau. Quý thầy, quý sư cô cũng hạnh phúc không kém khi thấy rằng mình đang góp đôi bàn tay nhỏ bé vào công trình xây dựng hạnh phúc của nhân loại.

’’Thầy rất ý thức là các con đang dâng hiến tất cả trái tim của mình cho lý tưởng. Nụ cười và hạnh phúc của thiền sinh, của người lớn cũng như các cháu bé, là phần thưởng rất xứng đáng cho chúng ta’’. (Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Xin tặng bạn một vài khoảnh khắc đáng nhớ của khoá tu:

Hương vị của tuệ giác

(Thầy Chân Trời Thiện Chí)

Thầy Trời Thiện Chí, người Bun-ga-ri, xuất gia trong gia đình Cây Dẻ Gai vào năm 2018 và hiện đang tu học tại xóm Thượng, Làng Mai. Bài viết được BBT dịch từ tiếng Anh.

Chẳng bao lâu sau khi được mặc áo tập sự, con liền nhận ra rằng mình phải tìm một cách khác để nuôi dưỡng tự thân, không thể như lúc còn là cư sĩ. Con đường mà con đã chọn là con đường đưa đến chuyển hóa, trị liệu, và phương thuốc để làm được điều đó là những phép thực tập niệm, định và tuệ. Tuệ giác thực sự là một nguồn sức mạnh, mang đến cho ta niềm tin, năng lượng cũng như sự hiểu biết và chấp nhận tự thân.

Ở đây, con muốn chia sẻ về ba tuệ giác hay ba cái thấy quan trọng đối với con, cũng như những yếu tố then chốt trong hành trình khám phá tuệ giác của chính mình.

Trò chuyện với niềm đau

Tối hôm đó, trời mưa và lạnh. Con đang trên đường đi đến kho đựng đồ đông lạnh của tu viện. Vì quên mang áo mưa nên con đi thật nhanh để khỏi bị ướt. Xung quanh tối đen như mực, con không thấy gì cả. Đi được một lúc, con nhận ra là mình đã đi nhầm đường. Con liền bước qua một bên và va phải một tảng đá lớn rất cứng ngay dưới chân. Lập tức con đưa tay ôm lấy chỗ bị thương và cảm thấy một chất gì lỏng lỏng, âm ấm và dính dính. Cảm giác đau nhói, rát buốt cũng tới liền sau đó. Con dừng lại, rồi lê bước thật chậm về lại tăng xá. Một huynh đệ thấy vậy liền giúp con rửa và băng bó lại vết thương.

Đêm đó, con không ngủ được. Tâm đầy bất an và cơn đau trở nặng. Con quyết định thực tập thở với câu thần chú nhỏ vừa hiện lên trong đầu: “Thở vào, cả vũ trụ đang chữa lành cho con. Thở ra, con buông hết những lo lắng, bất an”. Một lúc sau, con dần cảm nhận được hơi ấm và sự tĩnh lặng của màn đêm. Tình thương và lòng lân mẫn của huynh đệ đang lan tỏa nơi từng lớp băng trên vết thương. Con biết là sáng mai mình sẽ được ăn một bữa sáng nóng hổi. Một huynh đệ sẽ chở con đi bác sĩ, rồi một huynh đệ khác sẽ làm việc thay cho con để con được nghỉ ngơi và chữa trị. Trong giây phút đó, con nhận ra tất cả những điều kiện ấy chính là lời đáp lại của vũ trụ để giúp con trị liệu. Con cảm được tình thương và sự chăm sóc ấy như thể con đang được ở trong vòng tay của mẹ hiền. Cơn đau tuy còn đó, nhưng con biết cả vũ trụ vẫn đang có đó cho con, ấm áp trong từng giây phút. Con ngủ thiếp đi, lòng đầy bình an và biết ơn.

 

 

Gương soi

Vài năm trước, con có dịp đi biển chơi cùng một vài huynh đệ trong tu viện. Vốn rất yêu biển nên con vui và hạnh phúc vô cùng, suốt ngày cười toét miệng tới tận mang tai.

Sáng hôm đó, con thức dậy ăn sáng cùng huynh đệ. Nghĩ đến chuyện sắp được ra biển, ngồi uống trà và lắng nghe tiếng sóng vỗ, con hớn hở đi đánh răng và thay đồ bơi. Vừa bước vào phòng thay đồ của khu cắm trại, con thấy một tấm gương lớn treo trên tường. Không hiểu sao, có điều gì đó trong lòng khiến con khựng lại khi nhìn thấy mình trong gương. Một cảm giác cay đắng rất quen thuộc – mình không thích cơ thể mình – bắt đầu lan tỏa khắp toàn thân. Con ngừng lại, rồi cứ đứng trơ ra đó mà nhìn mình trong gương. “Tại sao mình lại ghét hình hài của mình đến vậy?”. Và rồi, con nhận ra: Con không thích hình hài mình vì nó giống hệt hình hài của ba. Khi nhìn hình hài mình, con thấy ba. “Ôi không!…”, con thầm thốt lên. Một khoảng lặng thật dài… Bao nhiêu năm qua con đã sống kiểu gì mà không hề nhận ra sự có mặt của ba trong hình hài này?

Lúc còn nhỏ, con hơi sợ ba. Giọng ba lớn và trầm. Năng lượng của ba nặng nề. Đôi khi ba đi lại và nói năng rất hung dữ. Rồi cả cái mùi nồng nặc khó chịu trong phòng ngủ mỗi khi ba uống rượu. Bấy lâu nay, con đã cố gắng để trở thành một người không có chút gì giống ba, từ cách nói chuyện, điệu bộ hài hước, phong cách ăn mặc, nhóm bạn chơi cùng hay là nghề nghiệp của con, v.v. Như thể bên trong con có một cơ chế lúc nào cũng kiểm tra để đảm bảo rằng mọi hành động của con sẽ giúp con không trở nên giống như ba. Chính trong khoảnh khắc đó, con nhận ra rằng trốn chạy ba nghĩa là con đang trốn chạy chính mình.

Bữa cơm trưa với thầy Đạo Quang

Trong mùa an cư vừa rồi, có một lần con bị căng thẳng khi phải trông lo nhiều việc. Mỗi khi bị áp lực, con không nói những lời con muốn nói, mà chỉ nói những điều ngược lại. Khả năng lắng nghe của con cũng yếu đi. Con cũng đặt ra nhiều câu hỏi vô lý. Cảm giác sợ hãi, lo lắng luôn tìm đủ mọi cách để sinh sôi nảy nở và đơm hoa kết trái trong con.

Buổi sáng hôm đó, con đi ngang qua thầy Đạo Quang. Nhìn điệu bộ cáu kỉnh của con trong cách xá chào, thầy nhìn con và hỏi thăm đã xảy ra chuyện gì. Chuông thỉnh giờ thọ trai vang lên trước khi con kịp trả lời thầy. Chúng con đi vào khất thực và vài phút sau, cuộc trò chuyện đã diễn ra trong nhà trà:

“Hình như lúc nào con cũng tìm cơ hội để bị căng thẳng”, con kể với thầy. “Dù ở tu viện hay ở bên ngoài, con sắp xếp cuộc sống của mình kiểu gì mà lúc nào cũng vướng vào nhiều áp lực”.

“Ồ, quan sát hay đó. Tiếp tục nữa đi, nhìn sâu thêm nữa đi. Nhìn vào những vùng thật là đau nhức ấy”, thầy Đạo Quang nói.

“Cho dù nhận lãnh trách nhiệm nào đi nữa, kiểu gì con cũng đi tới chỗ làm nhiều hơn, nhiều hơn nữa cho tới lúc kiệt sức. Luôn là câu chuyện cũ. Giống như con đang ở trong một cuộc đua với chính mình. Như thể con đang cố gắng tự thuyết phục rằng mình giỏi đủ, mình hay đủ… Dường như trong sâu thẳm, con luôn tin rằng mọi người ai cũng tốt hơn mình, giỏi hơn mình. Như thể mọi hành động của con đều dựa trên căn cứ là muốn chứng minh bản thân, rằng con không đến nỗi nào… Phải là một sang chấn tâm lý lớn với cảm giác “mình không đủ tốt”, hay là đã có một mặc cảm thua kém rất sâu trong lòng mới có thể tạo ra một sức mạnh lớn đến vậy, đủ để con làm việc dưới áp lực cao và chịu đựng sự căng thẳng nhiều năm qua mà không chịu từ bỏ”.

Tuệ giác = sự thực tập?

 

 

Theo kinh nghiệm còn hạn hẹp của con, tuệ giác thường ẩn nấp dưới những lớp vỏ bọc không mấy dễ chịu. Giống như trái cây thì có những lớp da hay vỏ dày, gai góc bao bọc bên ngoài. Để có được phần cơm quả bên trong, có lẽ con phải buông thư và chấp nhận những lớp vỏ đau đớn và coi đó là một phần của chính mình. Khi tự đặt những câu hỏi như: “Sao mình không thích hình hài này của mình?” hay “Sao lúc nào mình cũng căng thẳng vậy?” giúp con nhẹ nhàng định hướng lại sự chú tâm của mình. Khi chạm tới ngưỡng cửa của tuệ giác, con thường thấy mình có nhu yếu từ bỏ ý muốn tranh đấu với những đau nhức để có thể mở lòng ra, dù rằng có khi điều đó làm con càng mong manh và dễ bị tổn thương hơn.

Thấy được ba đang có mặt trong con với những phẩm chất đẹp và chưa đẹp, cái thấy đó không làm cho con hạnh phúc hơn. Trái lại, điều đó khiến con khiêm nhường, vững vàng và thực tế hơn. Nếu cách đây vài năm, có lẽ con không thể nào chấp nhận và chịu nổi sức nặng của cái thấy này. Có lẽ, con sẽ bị nó đè bẹp mất.

Nhưng giờ đây, con đã bắt đầu mở lòng ra với ba hơn. Mỗi ngày, con cho phép mình được là ba và dành tình thương cho ba trong mình. Đôi lúc, con vẫn còn có chút cảm giác mình là nạn nhân, nhưng con thôi không còn đấu tranh gì nữa cả.

Sau buổi trò chuyện với thầy Đạo Quang, con cảm nhận trong lòng mình đang có một cái hố thật sâu, thật to, có lẽ to bằng một phần ba thân thể con. Thật là nản lòng khi nhận ra trong mình đang có một cái máy phát năng lượng khổng lồ, mà động cơ để chạy cái máy đó chính là ước muốn được tốt, được giỏi như người khác! Nếu ai đó hỏi con cái thấy này có hương vị gì, con sẽ nói rằng nó đắng gấp mười lần trái khổ qua! Đây là một cái thấy khá mới đối với con và nó vẫn còn làm con xúc động lắm. Con biết mình cần có mặt nhiều hơn cho cảm giác đó, còn chuyện liệu nó có thay đổi hay không dường như chẳng quan trọng lắm.

Trong quyển Nghệ Thuật Sống (The Art of Living), Thầy có nhắc đến tuệ giác vô thường: “Chúng ta có thể biến tuệ giác vô thường trở thành một tuệ giác sống động có mặt trong ta trong mỗi giây phút”. Nhìn lại những tuệ giác, hay cái thấy, mà con đã chứng nghiệm, con tự hỏi mình: “Con có thể sống với những tuệ giác này trong mỗi giây mỗi phút của đời sống hàng ngày hay không?”.

 

 

Đất bằng nổi sóng

Thư Lê Thương viết

“Tp Hồ Chí Minh 01.8.1987 đến 21.10.87

PH thân mến

Công an thẩm vấn: Đất bằng nổi sóng!

Một chuyện “Sóng nổi đất bằng” từ tháng 10-86 đến giữa tháng 1-87 đã đặt tôi vào cuộc “kiểm tra tư tưởng” kéo dài đến 16 lần lên C.A thành phố.

Thẩm vấn có lễ phép và nể nang tuổi tác nhưng cũng soi mói khá nhiều làm tôi cụt hứng viết thư đến nay. Vì đến khoảng 5 lần có sự hỏi han về PH và quà tặng đều đều từ trước đến nay. Các bạn lãnh quà hầu hết đã chết hay ra đi nên không còn ai mà hỏi. Họ cho tôi coi qua 1 cái hình vợ chồng Nguyễn (Lê Trọng Nguyễn?) trước một hàng cờ bên đó nhưng lấy lại ngay khi tôi tính lật mặt sau để xem hình gửi cho ai. Họ cũng đưa tôi một hình đen trắng phóng đại và bảo tôi ký đằng sau là “giống PH”. Tôi không ký vì không biết rõ. Anh cũng có hỏi tôi đưa hình PH nhưng tôi nói là con cháu trong nhà tôi làm lạc mất rồi.

Họ nói là HH Thuỷ khai là Phương Hương chính là CN Phượng đã thường dùng nhiều tên khác nhau để liên lạc với văn thi sĩ và cho coi xa xa một số đáy thùng có chữ viết gì đó.

Tôi nói không đúng, và cho họ coi một lá thư có en-tête Dr. Phương Hương mà tôi đã lãnh được từ lâu và chung quy họ muốn dồn tôi vào một thế bí thuộc loại “cấu kết với bên ngoài để hoạt động gì đó”, nhưng không đủ bằng chứng và cũng không hề có như PH biết, nên cuối cùng đã để tôi yên. Tôi có hỏi như vậy họ không muốn tôi lãnh quà nữa sao? Thì sau vài phút họ nói là không có ý đó, nhưng tôi tự kết luận là nhiều thư của tôi đã bị đọc và có lẽ có thư mất đi như thư gửi cho tôi cũng có cái lạc mất. Hình vợ chồng Nguyễn chắc cũng số phận đó.

Chút ảnh hưởng của Gorbachev

Gần một năm nay tại Việt Nam có cuộc báo chí hưởng ứng tinh thần đồi mới của Goocbachấp (Gorbachev) và nêu ra công khai nhiều chuyện bê bối của cán bộ, gọi là những tiêu cực “của các cán bộ nhiều cơ quan”.

Đọc nhiều mục như nói thẳng nói thật cũng thấy giới lãnh đạo, nhất là ở miền Nam, có gắng làm sạch sẽ chính quyền địa phương từ bấy lâu nay quen hoành hành một mình một chợ và đã làm mất lòng dân.

Cuộc “Phấn đấu để đổi mới tư duy” thúc đẩy tiềm năng kinh tế, chọn người mới thích ứng được với tình thế khó khăn ngày một trầm trọng chắc sẽ lâu dài và có phần gay go. Dân chúng có hưởng ứng nhưng vẫn chờ xem. Xã hội Sài Gòn không ngớt sôi động về mọi mặt, tìm tiền để sống, tìm hàng mua đi bán lại, ăn xài khi kiếm ra tiền, chờ tin tức giật gân để đọc, cho xe chạy đôn đáo, tìm các phương tiện kiếm ra tiền mong theo kịp với thời giá cứ lên cao bất thường mà không biết có thể kịp thời giá đó không?

Kinh tế vẫn điều động chính trị. Các giáo điều được theo bấy lâu nay về quản lý nhân dân đang được cởi mở dần dần: Từ cách thả lỏng cho hàng hoá di chuyển tự do, đến các việc trì trệ hành chánh, các kiểm soát quá kỹ trong đời sống người dân… đều được ông Tổng bí thư Đảng Nguyễn Văn Linh ra chỉ thị nới rộng, thả lỏng, giảm thiểu. Mọi sự đều theo gương Liên Xô cho tháo gỡ các chướng ngại, thường hạn chế lợi tức để người dân dễ sống hằng ngày.

Kể ra thì đó là một gắng công, nhưng chắc lâu dài và khó khăn diệu vợi. Dân Sè Goòng thì vẫn có vẻ suy tư nhiều về thời thế và lo nghĩ trọn vẹn cho sự sống còn của gia đình, con cái. Người mắc bệnh lo âu thì lên áp huyết cao mà chết, người thờ ơ với mưa gió dễ bị cảm cúm thì nằm ụ. Tang chay vẫn âm ỉ đó đây với tiếng kèn sáo bát âm và khói tại các lò thiêu toả mùi khét lẹt của các dịp hoả táng. Bụi tro lại trở về với bụi tro.

Can tràng rối rắm

Lê Thương sống trong một hoàn cảnh bế tắc, không có hứng thú sáng tác, không thấy được tương lai cho mình và cho con cháu. Anh chưa biết cách thực tập hơi thở và bước chân ý thức, nên không biết cách nào dừng lại những suy tư chằng chịt, rối bòng trong đầu. Chỉ có một chút tình bạn với cô bác sĩ đầy lòng từ bi hiểu biết, gửi thuốc men cho những văn nghệ sĩ nghèo mà cũng bị hạch sách 16 lần… Chỉ có giấc ngủ mới giúp cho anh chấm dứt được suy tư. Nghĩ đến Phương Hương, anh thấy loé lên một chút ánh sáng niềm tin và có tạm chút năng lượng ngồi dậy viết lá thư đề ngày 21.10.1987

“Năm tháng chạy vùn vụt nhanh hơn bao giờ hết. Không khí cuối đời của tuổi già trà trộn với tin tức sôi sục của trần gian chạy nhanh vào cuối thế kỷ. Nhiều ý nghĩ bế tắc chặn ngang cái cuống họng không cho nói ra được gì hơn là băn khoăn rối nùi không cách gì tránh được định mệnh.

Cứ nghỉ yên bằng giấc ngủ mỗi đêm dài là lối giải thoát các lo nghĩ chằng chịt trong tâm não của các tuổi đời. Thanh niên lo hoạt động để tìm sống, người làm cha mẹ nhìn con cái với các thương mến và tội nghiệp chúng và tự hỏi:

Đường hướng nào sẽ chiếm mất đám con tôi? Những lý tưởng xác xơ đang rách nát hay những ý niệm cũ càng của lòng ỷ lại vào an thân phì gia mặc thây cho thiên hạ quay cuồng?

Quả thật là tâm tư vẫn chằng chịt những ý nghĩ dọc ngang bủa vây từng ngày, từng tuần lễ làm cho thơ tín viết mãi không xong và cảm hứng cũng vừa chớm nở đã tự tắt ngòi để yên lặng.

PH thân mến, tôi vừa bày ra một can tràng rối rắm kéo dài gần một năm nay, nó làm cho tôi bặt tin đối với các bạn bè nơi xa. Nay may ra tôi tìm lại được sự an lòng và tin tưởng để viết cho“tạm xong” lá thư lê thê gửi qua đứa cháu đến PH, mong PH lãnh được nó và cho tôi hay tin bằng một carte postale để tôi yên dạ nhé.

Chào PH thân mến L.T.”

Nỗi lòng của Sư cô Chân Không khi đọc bức thư kéo dài từ 1 tháng 8 năm 1987 đến 21 tháng 10 năm 1987 của Lê Thương

Tôi không ngờ đó lại là bức thư cuối cùng anh viết cho tôi. Sau này tôi được biết là công an TPHCM đã để yên cho anh được vài tháng, nhờ thế anh mới dám viết thư cho tôi.

Cái tội của tôi Phương Hương là vì quá bận hay cũng vì “bí” mà không tìm cách tiếp tục gửi thư tưới tẩm những gì hứng thú nơi nhạc sĩ. Một phần vì sợ Lê Thương bị liên luỵ, một phần là vì năm 1988 đó, khi hay tin hai thầy Tuệ Sĩ và Trí Siêu bị tuyên án, tôi dồn nhiều sức lực trong các chuyến được theo Thầy đi hướng dẫn những khoá tu và thuyết pháp côngcộng về Chánh Niệm ở Đức, Thuỵ Sĩ, Hoa Kỳ để cố tìm ra những phương pháp nào khéo léo nhất vận động huỷ bỏ án tử hình cho hai thầy. Một phần tôi cũng “bí” không biết cách nào tưới tẩm tinh thần cho anh phấn khởi lại.

Hình như tại vắng thư tưới tẩm hạt giống phấn khởi như xưa, chỉ vài năm sau, năm 1990, Lê Thương bị lẫn (Alzheimer) thật, và chết ngày 17 tháng 9 năm 1996.

Năm 1988, trên núi Linh Thứu, tôi được Thầy cho xuất gia với sự chứng minh của Đức Bổn Sư Thích Ca và tăng thân cùng đi với Thầy lần đó. Sau đó tôi sống cuộc đời xây dựng tăng thân xuất sĩ, bề bộn hơn, nên chỉ gửi quà cho ai có thư thăm hỏi và quên hẳn gửi thư và quà cho Lê Thương, vì không nghĩ là anh bị bắt như Hoàng Cầm. Hoàng Cầm thì dù không dám viết thư, tôi cũng gắng gửi tiền mỗi năm chừng ba lần qua Phan Đạm Hiệp, qua chị Bảo Từ, qua chị Hồng Phúc vì nghe anh bị ở tù. Còn Lê Thương, vì nghĩ anh không bị tù tôi đã tự nhủ “thôi mình để thư thư sẽ gửi quà sau”, nhưng vì không có thư của anh nên chuyện này kéo qua những gì cần giải quyết cấp bách, trong đó có mấy trăm bức thư cho thuyền nhân mỗi tuần nên quên hẳn. Khi rảnh rang hơn và định hỏi thăm gửi quà thì nghe nói anh đã tịch. Trước đó các con của anh là Liễu Thu và Loan cũng không có thư. Theo con gái anh là Liễu Thu khi gặp tôi ở Hoa Kỳ thì anh không bị bỏ tù. Công an chỉ mời anh tới thẩm vấn. Về đến nhà thì anh nằm vật ra như người chết. Sau ba tuần thấy anh quá mệt mỏi, họ ngưng bắt lên Công an làm việc. Anh được để yên nhiều tháng.

Thấy thế, anh nghĩ rằng yên rồi nên viết bức thư dài 10 trang cho tôi. Không ngờ bức thư ngày 01.08. 1987 ấy lại là bức thư chót.

Hòn vọng phu

Tôi đã từng hỏi anh về hoàn cảnh sáng tác những bài Hòn Vọng Phu. Một ngày mùa thu 1987, anh đã viết cho tôi một lá thư kể cho tôi nghe chi tiết về diễn trình biên soạn ba bài Hòn Vọng Phu. Tôi rất mừng khi nhận được lá thư này. Đây là một tài liệu quý hiếm cho nên tôi phải chép ra đây để nhiều người được đọc.

Tôi xin chép nguyên văn lá thư Lê Thương viết ngày 1.8.1987 để quý bạn biết được trong hoàn cảnh nào Lê Thương đã sáng tác Hòn Vọng Phu 1, Hòn Vọng Phu 2 và Hòn Vọng Phu 3.

Lê Thương viết nói về những lý do thâm sâu về tình yêu chồng mãnh liệt và trung kiên đến hoá đá của Hòn Vọng Phu. Vọng Phu 2 – Ai xuôi vạn lý được Lê Thương viết ra trong trạng thái mười phần chết một phần sống, anh nhớ đến nén hương thương tiếc mối tình chung thuỷ với đất nước quê hương, anh phác thảo những nốt nhạc trong rừng sâu Chẹc Xậy Bến Tre, toàn lá dừa nước, trong khi đang bị Tây ruồng tấn công tứ phía, có thể chết bất kỳ lúc nào.

Lời kể của Lê Thương:

Tháng thu 87

Mến gửi Phương Hương thân mến.

Cách đây 43 năm, (1944-1945) tại xứ dừa tỉnh Kiến Hoà, lúc đó còn là cù lao An Hoá, tỉnh Mỹ Tho.

Tình trạng giao động của một tâm hồn ưu tư về thời cuộc (Nhật chiếm Lạng Sơn 40 rồi tràn vào Hải Phòng, Hà Nội, tôi vào Nam 1941) hoà nhiễm nỗi lòng chinh phu trong văn thơ đưa tôi đến việc sáng tác lần hồi ba bài Hòn Vọng Phu thành một truyền kỳ cảm động.

Năm đó tôi tự cho là một kẻ phiêu lạc, đã từng ghé bến Quảng Châu Trung Hoa 4 tháng – ghi xong hơn 384 trang nhật ký – tiếc rằng nay đã mất hết ở Trà Vinh năm 1945 – mang nặng mối tình nước non đang xao xuyến, phân vân trước bao nhiêu nghi vấn của đời người, nên tôi gửi thác tâm tình vào đề tài dân tộc là “Tích người đàn bà hoá đá”.

Tất cả luân lý Đông phương hầu như căn cứ trên lẽ tiết chung của Con Người các thế hệ, các giai cấp trong một nhân sinh quan sâu đậm Tình và Nghĩa.

Người mẹ ôm con đợi chồng rồi hoá đá quả là một truyện ly kỳ tuyệt đẹp.

Thành đá đây là thành chứng quả tình thâm, tình vợ chồng chưa toại lòng nhau đã cách biệt, tình cha con chưa từng ôm ấp đã chia ly, tình đồng loại chưa sum vầy đã tan rã.

Nước ta có 3 đá Vọng Phu: Một ở Lạng Sơn có nàng Tô Thị như trong câu “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”, hai là ở Phú Yên (Nam Trung Việt) có núi Vọng Phu vùng Đèo Cả (tỉnh Phú Khánh), ba là ở Hà Tiên, có Vọng Phu Thạch.

Núi Vọng Phu ở Phú Yên, tại một vùng địa lý hơi man rợ, thâm u, là đá đẹp nhất xem từ biển nhìn vào làm cho tôi cảm mến.

… Nhớ lại năm 1470 đầu niên hiệu Hồng Đức tại vùng này có ‘‘Thạch Bi Sơn” làm biên giới Việt Nam và Chiêm Thành còn sót lại… Cảnh trí đường đèo quanh co, cây cỏ um tùm man rợ làm cho dân gian ghi tạc mấy câu vè siêu thực đầy tính bí hiểm.

“Mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa, cọp Ổ Gà, ma Hòn Lớn”.

Lời sơ giải của dân gian kể là: Trên một cao nguyên nhỏ vùng đèo thường có mây dày đặc, chỉ cần gọi nhau trên đó là có mưa rớt xuống (còn nhiều di tích dân cổ Chiêm Thành trên đó).

Đường lên ngọn cao nơi đó, sườn núi bị soi mòn, gió biển thổi qua các khúc quanh co, nghe như tiếng hú âm u.

Đó là mưa Đồng Cộ, gió Tu Hoa.

Cọp thời xưa dạn dĩ đến nỗi sau những trận mưa chúng ra đường lộ phơi nắng cho khô bộ áo rằn ri, xe hơi thời đó bóp kèn năn nỉ chúng cũng không thèm nhúc nhích (xe thời đầu Pháp thuộc có mui dựng lên để hai bên hông trống rỗng) nên xe phải dừng lại cho mấy “ông ba mươi” đi hết mới chạy qua, vừa lên tốc độ chối chết vừa la như giặc.

Còn Hòn Lớn nghe như một cái đảo âm u ngang vùng Phan Rang gì đó, có rất nhiều “ma Hồi” đêm cứ lập loè nhát các ngư phủ ghé thuyền tránh gió đến đó qua đêm.

Quang cảnh hú vía của thiên nhiên, trộn vào ảnh cảm địa lịch qua từng bước đường nam tiến vẫn ám ảnh tâm hồn tôi, một cậu trai giàu tưởng tượng, để lúc sống bên bờ kinh Chẹc Xậy (tỉnh Bến Tre thân mến) phải thể hiện thành bài Hòn Vọng Phu.

“Lệnh vua hành quân trống kêu dồn…”(Hòn Vọng Phu 1). Bài này đã xong và đưa anh Lưu Hữu Phước trước ngày 23.9.45 để anh đem ra Bắc.

Bài Ai xuôi vạn lý (Hòn Vọng Phu 2) là cuối năm 1945 sang 46, tôi theo kháng chiến tỉnh Mỹ Tho đi từ Cai Lậy, Thuộc Nhiêu, Vĩnh Kim qua sông, đi với các em phần đông là học sinh Petrus Ký mà tôi là trưởng đoàn ca nhạc với những bài thanh niên lịch sử và riêng Hòn Vọng Phu 1 nghêu ngao qua các làng dừa từ Thành Triệu, An Khánh, Phú An Hoà, Quới Sơn, Giao Long, Giao Hoà, cho đến Dòng Sầm, gần Bình Đại.

Bỗng Tây đem tàu tấn công ba cù lao, cù lao Minh, cù lao Bảo, cù lao An Hoá. Tiếng Canon 75 bắn tủa vào các bờ sông có dừa, máy bay phun lửa “spitfire” từ trời bắn xuống. Đoàn phải tan rã, các em trong đoàn chạy hầu hết về gia đình, chỉ còn tôi và người bạn (anh này đã chết) trốn được vào vùng lá Dòng Sầm cách Bình Đại 4 cây số.

Chúng tôi được một gia đình người Cao Đài làm đầu tộc đạo nơi đó thương xót giấu trong bìa lá và giúp lương thực sống trong sự khủng khiếp hằng ngày vì tên Pháp lai Leroy và bọn lính Partisans đầu đỏ xục xạo làng xóm gieo khủng khiếp. Lúc đầu chúng tôi còn trốn vào sâu trong ruộng, đem gạo cơm đi ăn, tối về nằm trong kho lúa. Sau vì còn thấy nguy hiểm nên anh Tư bà con với ông đầu tộc đạo dẫn chúng tôi vào bìa lá Dòng Sầm dày 4, 5 trăm thước sát cửa biển Bình Đại.

Tại nơi yên tĩnh này chúng tôi được sống bên bờ rạch dày đặc lá dừa nước! May mà còn chiếc mùng “Tuin” (tulle) để tránh muỗi, đêm đêm nghe dế than, cá thòi lòi đập đuôi lạch bạch dưới sình và tâm hồn lo âu vô vọng. Tôi hay nghĩ đến sự chết thê thảm cô đơn và lẩn vẩn trong trí óc sự tiếc nuối mênh mang như lòng người chinh phụ trong giang san Đèo Cả.

“Thôi đứng đợi làm chi. Thời gian có hứa mấy khi sẽ đem đến trả đúng kỳ. Những người mang mệnh biệt ly.”

Nhờ cây viết máy Kao lo khô mực và nước rạch nhỏ vào cho ướt lại, tôi viết mấy ô nhịp trên.

Tâm hồn rạo rực trong mỗi buổi chiều tà làm bốc lên những tiếng mới của bài Hòn Vọng Phu 2. Ai xuôi vạn lý được ghi vội vã lộn xộn nhưng cuồng nhiệt như tâm hồn tôi ghì lấy sự sống.

Ngày chót ở Dòng Sầm là ngày đại bố của tên Leroy. Hắn nghe tin có người lạ mặt trốn trong lá (vì có tên lính kín của hắn trà trộn trong đám người đi chặt lá bất ngờ gặp 2 chúng tôi).

Tên này giả đò thương hai chúng tôi, hỏi vu vơ vài câu rồi ra lộ làng. Anh Tư người che chở chúng tôi thấy nó chạy vội xuống Bình Đại, anh hốt hoảng vào kêu chúng tôi thu xếp túi áo quần, xoá vết củi than rồi tìm chỗ trốn càng sâu càng tốt như ráng chui dưới đống lá mới chặt kẻo vào bụi rậm thì dễ bị chúng bắn bừa vào cho chết.

Cả một ngày khủng khiếp tột độ kéo dài cho đến gần tối đen, chúng tôi mới dám lần về nhà anh Tư, hỏi thăm nơi nào còn trốn được nữa. Anh dẫn đến nhà người bề trên trong dòng họ và cả trong đạo, năn nỉ xin giúp. Ông này chỉ lối cho chúng tôi ra một tha ma nhỏ có 1 cái mộ đào sẵn nhưng chưa chôn. Lấy rơm nơi gần đó trải đầy xuống đáy mộ, chúng tôi đành xuống đó nằm nghỉ qua đêm, yên lặng trong ngôi mộ như chờ lấp đất.

Vòm trời sao hình chữ nhật toả xuống hai thằng người nửa sống nửa chết, tuy chưa chôn nhưng đang phó thác tâm hồn cho thượng đế với hai cái xác còn đầy sức sống cầu mong được thoát nạn. Sáng hôm sau lời nguyện đã được nghe từ thiên cao: Một em trong đoàn hát tìm được chúng tôi và dẫn qua đường làng đến Vang Quới (Dòng Quới), xuống đò máy về được Mỹ Tho để ngồi tù… rồi thoát nạn.

Ba tôi cũng đã từng sống chui như Lê Thương

Vì hoàn cảnh gia đình đông con, ba tôi không thể đi theo kháng chiến, ba tôi chỉ mong trở lại thành phố và làm những nghề nghiệp không có hại cho đồng bào đất nước để nuôi gia đình. Lê Thương viết: “Về Mỹ Tho để ngồi tù… rồi thoát nạn”, ở đây tôi xin giải thích thêm “về ngồi tù” từ kinh nghiệm gia đình tôi. Về ngồi tù có nghĩa là về lại vùng bị Tây chiếm đóng, đi ở tù một thời gian và sau đó được trả tự do, ra sống trong vòng Tây kiểm soát. Nếu một chiến khu không còn lực lượng chống trả và không có nhiều du kích thì Tây cứ đi lùng và giết cho hết những người kháng chiến ít ỏi còn lại. Vậy ai trốn mãi trong các vùng ấy thì thế nào một ngày cũng bị giết. Thà rằng ra đầu thú rồi tìm cách khác mà lặng lẽ giúp cho quê hương trong khả năng của mình. Biết bao nhiêu người đi tìm cách thức ấy, trong đó có ba tôi và anh Tư tôi. Cũng đúng thời điểm mà Lê Thương sống chui gian khổ, thì Tây cũng đã về tận An Định Cái Quao, nơi gia đình tôi tá túc trong nhà đãi của ông nội tôi (nhà to dùng để đãi khách mỗi khi có giỗ).

Gia đình tôi gồm ba má, chị Hai, chị Ba, anh Tư, chị Năm, anh Sáu, chị Bảy, chị Tám, tôi (bé Chín) và em Mười, 11 miệng ăn mà không có cách gì làm ra tiền. Tiền dành dụm của ba má tôi nghe nói được 6.000 đồng mà từ hôm đi di cư về quê nội cứ ăn dần dần, sắp cạn. Từ khi Tây đến đóng đồn tại Cái Quao, ba tôi phải đi trốn vì sợ bị bắt. Nếu Tây bắt, họ sẽ buộc mình điểm chỉ đồng bào nào làm du kích thì làm sao mà ba tôi có thể làm việc đó được. Ba tôi và anh Tư tôi cứ phải đi trốn trong nhà các bác tá điền cũ của ba tôi, những căn nhà nằm sâu trong các lạch con, sình lầy và đầy cả rừng dừa nước mà Tây không dám đi tới như chỗ anh Lê Thương.

Ngày nào khi nghe có tin Tây đi ruồng bắt thì phải ra ruộng núp giữa những cây rơm hay núp sau các ngôi mả giữa những bụi trăm bầu của nghĩa địa làng. Có một hôm khi đang về An Định thăm các con thì Tây tới, ba tôi phải chui vô quan tài của ông nội (áo quan bằng gỗ quý, nội tôi mua trước để dành khi chết xài). Còn anh Tư tôi thì chui vô cái lu trống phía sau đống củi nấu ăn to tướng. Chị Hai tôi lúc đó 22 tuổi bình tĩnh ra nói tiếng Pháp với những người lính Lê Dương để họ có cảm tình không vào xét nhà tôi.

Chị Hai tôi giỏi tiếng Pháp lắm, nói năng giải thích đàng hoàng hôm đang giấu Ba và anh Tư. Nhưng những hôm sau, khi mấy người lính Pháp trở lại nhờ chị đi thông dịch thì chị giả đò không hiểu rành tiếng Pháp, chị làm bộ lơ mơ nói vài chữ cố ý phát âm trật để họ không hiểu chị muốn nói gì nên mới được tha, không bị bắt buộc làm “Việt gian”. Ba tôi rất sợ bị nghi là Việt gian hay bị bắt làm Việt gian, nên suốt bảy tám tháng phải sống trốn chui như Lê Thương ngoài ruộng lúa hay trong các lùm dừa nước. Má tôi và chị Hai khi ở tỉnh Bến Tre rất là khéo về nữ công gia chánh. Má và các chị tôi biết làm các món bánh tây và nấu những món ăn ngon sang trọng cho những tiệc cưới nơi thành phố làm phương tiện sinh sống. Nhưng ở An Định, người dân quê không ai biết ăn bánh Tây, không ai mướn làm tiệc cưới linh đình như hồi ở tỉnh nên tiền dành dụm cứ cạn dần. Nếu không trở về Bến Tre kịp tìm việc làm như xưa thì không còn tiền mua gạo nữa.

Cuối cùng chị Hai tôi phải liều đi về Bến Tre dò dẫm tình hình. Trở lại Cái Quao, chị báo cáo là những người bạn của Ba đã hồi cư như bác Đốc Trinh, thầy giáo Tròn, thầy giáo Dân, cô Tửng… có việc làm, nghề giáo dục khá an ổn. Ở thành phố lớn như tỉnh lỵ Bến Tre, nếu mình trở về nhà cũ của mình cũng không ai để ý. Ba tôi và anh Tư ra trình diện và bị tù vài ngày thì ba trở về làm việc lại ở sở Công chánh Tỉnh. Anh Tư tôi 19 tuổi bị bắt đi lính Pháp. Anh vào quân đội Pháp nhưng đã khéo léo giúp du kích chiến rất nhiều. Hình như anh lặng lẽ báo tin trước cho đồng bào biết quân đội Pháp định làm gì, ở vùng nào để du kích trốn trước. Anh Tư tôi thi hành một năm quân dịch thì xin về và ba má tôi cho anh đi Pháp du học ngay. Sau 1975 có nhiều người du kích cũ ra làm lớn đã tuyên dương anh Tư tôi như anh hùng!

Lê Thương, Sài Gòn 1947 – 1948 với Hòn Vọng Phu

Xin mời các bạn đọc tiếp lá thư ngày 01.8.1987 của Lê Thương. Sau khi về được Sài Gòn, anh hoàn tất tác phẩm Hòn Vọng Phu II – Ai xuôi vạn lý vào cuối năm 1947, và trong suốt năm 1948 bài hát này đã được trình diễn vang dội trên các sân khấu Sài Gòn với giọng hát của nhiều nam nữ ca sĩ trong đó có nữ ca sĩ Ánh Mai.

Sài Gòn cuối 1947, Hòn Vọng Phu 2 với nỗi lòng “người Vọng Phu” (qua) lúc gió mưa thành hình và trong nội năm 1948 nỗi lòng ấy vang dội trên các sân khấu Sài Thành với giọng ca điêu luyện của nhiều nam nữ ca sĩ, trong đó có Ánh Mai, sau này thành vợ cũ của Huỳnh Văn Tiểng và vài người đẹp đã quên tên.

Sống lại với nền tân nhạc giữa thời “khai sơn phá thạch”, tôi không ngớt theo đuổi ý chí kể lại khúc chót của chuyện tích, mặc dù mắc kẹt với bao sáng tác của năm 1948, một năm khởi sắc với sáu bài nhạc thời sự (Hoà bình 48, Báo thương, Liều thuốc độc lập, Dao ca…), tạp khúc ca, kịch ngắn, thâu âm đĩa hát, tìm nhà ở, tìm chỗ dạy học lại,…

Người chinh phu về (Hòn Vọng Phu 3) với tình nghĩa vợ chồng đổi sang tình nghĩa non sông, nhìn đứa con để trao cho nó thanh kiếm sơn hà. “Trao nó đi gây lại cơ đồ”. Linh tính làm người Việt Nam giữa thời khói lửa vẫn đinh ninh là Hạnh Phúc vẫn là mục tiêu không kỳ hạn mà dân tộc phải tìm lâu dài cho đến khi quân bình được những cảm tình trái ngược mà lẽ đời sôi động của cuối thế kỷ đã lôi cuốn bao lớp người vào lãng phí sinh mạng như vào hận tủi bi thiết của nhân sử nòi Việt.

Đến đây – nhân lúc mới khoẻ lại về thân thể và tin đời, tôi gửi thác P.Hương một điệp khúc từ sự của bài Hòn Vọng Phu 2.

Có thơ xuôi vạn lý

Nhắn Phương Hương mấy lời 

Đá non sông tình ý

Vẫn trơ gan dưới đời 

Ghi nghĩa nặng tình sâu

Và lòng thân tín với nhau 

Vững như đá tảng non đầu 

Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu

Lê Thương

TB: Nhớ lại những giọng Hoàng Oanh, nõn nà thuỳ mị, rồi mới đây, giọng Mai Hương, đơn chuyên thẳng tắp sau những thổn thức của Thái Thanh trong các kỳ diễn lại Ai xuôi vạn lý.

Phải kể nhiều về giọng Long Xuyên tinh nghệ của Phạm Bá Phước (đã khuất), của Thanh Hùng và nhất là giọng Duy Khánh thiết tha chải chuốt và mới đây giọng Hoài Trung diễn kể Người Chinh Phu Về còn cảm tình gió Khơi Dĩ Vãng.

Nhớ PH qua sự nín lặng lâu dài chỉ vì bất tiện chứ không mảy may vì gì khác.

Mong Trời Phật giúp con người khả ái ấy giữ mãi được sức khoẻ và tin tưởng về Mai Hậu.

N.B: Sẵn Noel, Nouvel An và Tết Mậu Thìn sắp tới xin chúc Phương Hương và gia đình toàn vẹn ở biệt thự Khoai Lang được tràn trề vui mừng sức khoẻ và các cụ bà được sống lâu trăm tuổi để chờ ngày về thăm Bến Tre thân mến trong niềm vui an hoà của những năm xưa.

Cả gia đình tôi cầu chúc. LT.”

Nhận được lá thư trên của Lê Thương, tôi mừng lắm và cũng lấy làm rất hân hạnh vì được anh làm tặng một điệp khúc nữa của bài Ai xuôi vạn lý. Những lúc tưới rau sau vườn Nội Viện Phương Khê, tôi cứ hát mãi cái điệp khúc này:

Có thơ xuôi vạn lý

Nhắn Phương Hương mấy lời 

Đá non sông tình ý

Vẫn trơ gan dưới đời 

Ghi nghĩa nặng tình sâu

Và lòng thân tín với nhau 

Vững như đá tảng non đầu 

Vẫn chan chứa Tình Bể Dâu.

Những bức thư của Lê Thương