Hạnh phúc bây giờ và ở đây

Khải Bạch

Kính bạch đức Thế Tôn, con nhận diện được trong con tập khí sâu dày của thất niệm. Con hay để tâm suy nghĩ về quá khứ, chìm đắm trong những đau buồn hoặc tiếc nuối liên hệ tới quá khứ, do đó con đã đánh mất rất nhiều cơ hội tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống có mặt trong giờ phút hiện tại. Con đã từng thấy những người không có khả năng sống cuộc đời của họ trong giây phút hiện tại. Quá khứ đã trở thành một cái nhà tù giam hãm họ, họ chỉ để thì giờ của họ để khóc than hoặc tiếc nuối về quá khứ, cho nên họ không còn cơ hội để được tiếp xúc với những gì tươi mát, đẹp đẽ, mầu nhiệm có tính cách nuôi dưỡng và chuyển hóa đang có mặt trong hiện tại. Họ không tiếp xúc được với trời xanh, mây bạc, liễu biếc, hoa vàng, tiếng thông reo, tiếng suối chảy, tiếng chim hót hay tiếng cười đùa của trẻ thơ trong nắng sớm.

Họ cũng không tiếp xúc được với những mầu nhiệm trong bản thân họ. Họ không thấy được hai mắt họ là những hạt minh châu: mở mắt ra là họ có thể tiếp xúc ngay với thế giới của muôn mầu và muôn vẻ. Họ không thấy được hai tai họ là hai cảm quan kỳ diệu: lắng tai chú ý là họ nghe được tiếng gió rủ rỉ qua cành thông, tiếng ca hát líu lo của chim oanh vàng hay tiếng hải triều đang tấu khúc nhạc trầm hùng buổi sáng. Trái tim, buồng phổi, não bộ cũng như khả năng cảm nhận, tư duy, quán tưởng của họ cũng là những nhiệm mầu của sự sống. Ly nước trong hay trái cam vàng trên tay họ cũng là những nhiệm mầu của sự sống. Họ có dư dả những điều kiện để sống hạnh phúc. Vậy mà họ đã không có khả năng tiếp xúc với những biểu hiện của sự sống, cũng chỉ vì họ đã không biết sử dụng hơi thở và bước chân chánh niệm để tập trở về với giây phút hiện tại.

Bạch đức Thế Tôn, có những người thiếu chánh tư duy, nghĩ rằng Ta bà và Tịnh độ là hai cõi khác nhau, và họ khuyên chúng con nên phát tâm nhàm chán cõi Ta bà để cầu sinh về cõi Tịnh độ. Họ không biết rằng nếu tâm họ thanh tịnh, đầy thương yêu, nếu họ có khả năng biến rác thành hoa, lấy bùn nuôi sen thì họ sẽ thấy được phiền não tức bồ đề và Ta bà là Tịnh độ. Nếu chúng con biết thực tập chánh niệm để an trú trong hiện tại thì chúng con có thể rong chơi thỏa thích trong Tịnh độ hiện tiền. “Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ, làm người một kiếp cũng như không.”

Xin đức Thế Tôn chứng minh cho con. Con xin hứa với Ngài là con sẽ tập không hành xử như những người ấy. Con xin nguyện thay đổi khái niệm về hạnh phúc của con. Con biết rằng tùy theo cách nhìn của con mà cõi này là Ta bà hay Tịnh độ. Tịnh độ không phải là một ý niệm mơ hồ hoặc một hứa hẹn hão huyền về tương lai. Con biết Tịnh độ đang thực sự có mặt cho con với những mầu nhiệm của nó. Con đường đất đỏ với hai bờ cỏ xanh là Tịnh độ. Những đóa hoa vàng, tím bé nhỏ kia cũng là Tịnh độ. Dòng suối róc rách kia và những hòn cuội nằm yên trong lòng suối cũng là Tịnh độ. Con biết rằng chỉ vì tâm ý con không an trú được trong hiện tại, chỉ vì con đã đi như bị ma đuổi, cho nên con không có cơ hội tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy mà thôi. Nếu hàng ngày thực tập chuyên cần, con có thể chế tác năng lượng niệm, định và tuệ. Với năng lượng ấy con có thể luôn luôn trở về giây phút hiện tại để nhận diện ra vô số điều kiện hạnh phúc trong con và xung quanh con, và để tiếp xúc với Tịnh độ trong giây phút ấy. Con biết con không cần đợi cho hình hài này tan rã mới bắt đầu đi vào Tịnh độ. Con biết con có thể đi vào Tịnh độ ngay bây giờ và ở đây, nếu con có được một ít năng lượng chánh niệm và chánh định. Mà các năng lượng này, con có thể chế tác được bằng bước chân, hơi thở và cái nhìn của con.

Địa Xúc

Con xin lạy xuống ba lạy để tiếp xúc sâu sắc với đức Thế Tôn và cũng để tiếp xúc sâu sắc với Tịnh độ của giây phút hiện tại. (C)

Hạnh phúc chân thật

Khải Bạch

Kính lạy đức Thế Tôn, con rất xúc động khi học được những gì Ngài từng dạy chúng con quán niệm hàng ngày:

Tôi thế nào cũng phải già, tôi không thể nào tránh khỏi cái già

Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào tránh khỏi cái bệnh

Tôi thế nào cũng chết, tôi không thể nào tránh khỏi cái chết

Những gì tôi trân quý hôm nay, ngày mai tôi cũng phải xa lìa…

Nhờ nuôi dưỡng tuệ giác vô thường con thấy con phải trân quý ngày tháng của con, tuổi trẻ của con, sức lực của con và vì vậy con không còn muốn lãng phí tháng ngày, tuổi trẻ và sức lực của con. Con nguyện sống cho sâu sắc, con nguyện trân quý ngày tháng, sức lực và tuổi trẻ của con. Thế Tôn đã biết sử dụng ngày tháng, sức lực và tuổi trẻ của Ngài để làm nên sự nghiệp giải thoát và giác ngộ, và để trao truyền sự nghiệp ấy lại cho chúng con. Con cũng muốn được như Thế Tôn, biết sử dụng thì giờ, tuổi trẻ và sức lực của con không phải để chạy theo quyền hành, chức vị, danh vọng và tài lợi, mà để tu tập chuyển hóa phiền não, phát khởi tuệ giác, chế tác thương yêu cho con và cho các thế hệ tương lai.

Bạch đức Thế Tôn, đức Thế Tôn đã sinh ra con trong đời sống tâm linh, cũng như thầy của con và tăng thân của con đã sinh ra con trong đời sống tâm linh và tiếp tục nuôi dưỡng con trong đời sống này. Con là đệ tử của đức Thế Tôn, con là em và là con của Ngài, và con ý thức là con phải là một sự tiếp nối xứng đáng của Ngài. Đức Thế Tôn không đi tìm hạnh phúc nơi danh vọng, tiền tài, sắc dục, quyền bính và của ngon vật lạ. Con ước ao bước theo đức Thế Tôn, nguyện không đi tìm hạnh phúc ở hướng ngũ dục, không nghĩ rằng tiền tài, danh vọng, sắc dục và quyền bính có thể đem lại hạnh phúc chân thực cho con. Con biết chạy theo những đối tượng thèm khát ấy sẽ chuốc lấy rất nhiều khổ đau và hệ lụy.

Hạnh phúc của Thế Tôn là tự do lớn, là tình thương lớn, là hiểu biết lớn. Nhờ có hiểu biết lớn mà Thế Tôn không bị bế tắc tâm linh và hoàn cảnh, không bị kẹt vào những tư duy sai lầm, không nghĩ, không nói và không làm những gì có thể tạo nên khổ đau cho bản thân và cho kẻ khác. Nhờ có hiểu biết lớn nên Thế Tôn có tình thương lớn, bao trùm được mọi loài. Tình thương lớn ấy đem tới an ủi, giải thoát và an lạc cho bao nhiêu người. Trí tuệ lớn và tình thương lớn của Thế Tôn đem tới cho Thế Tôn tự do lớn và hạnh phúc lớn.

Kính bạch đức Thế Tôn, con muốn làm được như Ngài. Con nguyện mỗi ngày tu tập để chế tác chất liệu hiểu biết, thương yêu và tự do, những chất liệu có công năng làm nên hạnh phúc cho con, cho tăng thân con và mọi người xung quanh con, bây giờ và trong tương lai.

Địa Xúc

Một lòng kính lạy đức Thế Tôn, bậc đã qua tới một cách nhiệm mầu, bậc thầy chỉ đạo của tất cả chúng con. (C)

Một lòng kính lạy Tôn giả Baddhiya[1], người đã chứng nghiệm được hạnh phúc chân thật, để quán chiếu và làm vững mạnh lời nguyện của con. (C)

Một lòng kính lạy Tôn giả La Hầu La người đã đi trên con đường tu tập giải thoát từ lúc còn thơ ấu. Xin Ngài từ bi chứng minh lời phát nguyện của con và yểm trợ cho con. (C)

[1] Tiếng Hán Việt là Bạt đề, Bạt đề lỵ hoặc Bạt đề lợi ca. Trước khi xuất gia, Đại đức Baddhiya đã từng làm quan tổng trấn miền Bắc vương quốc Sakka và là người trong hoàng tộc Sakya. Một đêm kia trong lúc ngồi thiền dưới một gốc cây, ông bỗng cảm nhận một niềm vui sướng mà chưa bao giờ ông từng biết tới trong thời gian còn ở nhà, nên ông đã thốt lên: Ôi, hạnh phúc! Ôi, hạnh phúc!

Xin tham khảo thêm Đường Xưa Mây Trắng chương 38, nhà xuất bản Phương Đông & Công ty Sách Phương Nam, 2017.

Quán tưởng Đức Thế Tôn

Khải Bạch

Kính lạy đức Thế Tôn, con đang tập tiếp xúc với Ngài. Con thấy được Ngài qua hình ảnh của người con trai thành Ca Tỳ La Vệ. Con thấy được Ngài nơi người hành giả đang tu khổ hạnh chốn núi rừng hoặc đang ngồi thiền định vững chãi dưới gốc bồ đề. Con thấy được Ngài qua hình ảnh bậc đạo sư trên núi Linh Thứu và giữa vườn Cấp Cô Độc. Con thấy được Ngài qua hình ảnh của bậc du hóa mà bước chân còn ghi dấu lại trên những vương quốc nằm trên lưu vực sông Hằng. Con cũng thấy được Ngài qua hình ảnh của một bậc thầy già 80 tuổi, đang nằm thị tịch giữa hai cây sa la.

Kính bạch đức Thế Tôn, con biết thể chất đức Thế Tôn rất là khương kiện, Ngài sống tới 80 tuổi, trong khi vào thời đại Ngài chưa có những loại y dược có công năng trị liệu như trong thời đại chúng con. Xin cho con đem hết lòng thành kính lạy xuống, năm vóc sát đất trước hóa thân Thích Ca Mâu Ni của Ngài và cũng xin kính lạy xuống trước đức vua Tịnh Phạn, hoàng hậu Ma-Gia và đất Mẹ. Con rất biết ơn hai vị và đất Mẹ đã sinh ra Thế Tôn, cống hiến cho đời một bậc thầy siêu việt.

Địa Xúc

Một lòng kính lạy đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni, bậc thầy vĩ đại của chúng con. (C)

Một lòng kính lạy đức Thánh Vương Tịnh Phạn, đức Thánh Mẫu Ma-Gia và đất Mẹ. (C)

Dâng hương và khai kinh


Dâng Hương

Nguyện khói hương thơm này
Cung thỉnh được Thế Tôn
Có mặt với chúng con
Nơi đạo tràng ở đây
Trong giây phút hiện tại
Nguyện khói hương thơm này
Tỏa ngát cả mười phương
Thanh tịnh chốn đạo tràng
Giúp chúng con duy trì
Chánh kiến chánh tư duy
Nguyện khói hương thơm này
Bảo hộ cho chúng con
Vững chãi và thảnh thơi
Hiểu nhau và thương nhau
Bây giờ và mãi mãi
Hương giới, định và tuệ
Là tâm hương nhiệm mầu
Chúng con kính dâng lên
Chư Bụt và Bồ Tát
Trong thế giới mười phương


Nguyện mọi loài chúng sanh
Thấy được ánh đạo vàng
Ly khai nẻo sanh tử
Hướng về nẻo bồ đề
Thường trú trong an lạc
Nam mô Bồ Tát Cúng Dường Hương (C)

Quán Tưởng

Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ Bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều Ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)

Địa Xúc

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Ma Ha Ca Diếp (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Xá Lợi Phất (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Ma Ha Mục Kiền Liên (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư Ưu Ba Ly (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Kiều Đàm Di (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại,
từ Thiên Trúc đến Việt Nam (C)

Khai kinh

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (3 lần) (C)
Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi (C)

TÂM KINH TUỆ GIÁC QUA BỜ*

Avalokita
Khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng
Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;
Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn. (C)“Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.
Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)


*Trong bản in cũ là Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa

Thực tập 5 lạy

Lạy Thứ Nhất
(Xướng)
Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, dòng họ tổ tiên, gia đình huyết thống, hai bên nội ngoại. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con thấy cha mẹ mà xương thịt và sự sống đang có mặt và lưu nhuận trong từng tế bào và mạch máu của con. Qua cha con và mẹ con, con thấy ông bà, bên nội cũng như bên ngoại, đã và đang đi vào con với tất cả mọi năng lượng, mọi trông chờ, mọi ước mơ, cũng như tất cả trí tuệ và kinh nghiệm của tổ tiên trải qua bao nhiêu thế hệ. Con mang trong con sự sống, dòng máu, kinh nghiệm, tuệ giác, hạnh phúc và khổ đau của các thế hệ tổ tiên. Những yếu kém, những tồn tại và những khổ đau truyền đạt lại, con đang tu tập để chuyển hóa. Những năng lượng của trí tuệ, của kinh nghiệm và của thương yêu mà liệt vị truyền đạt lại, con đang mở rộng trái tim con và xương thịt con để mà tiếp nhận. Con có gốc rễ nơi cha, nơi mẹ, nơi ông bà, tổ tiên. Con chỉ là sự nối tiếp của tổ tiên và dòng họ. Xin cha mẹ, ông bà và tổ tiên hỗ trợ cho con, che chở cho con, truyền thêm năng lượng cho con. Con biết rằng con cháu ở đâu thì tổ tiên ở đó; con biết cha mẹ nào, ông bà nào cũng thương yêu, đùm bọc và hộ trì cho con cho cháu, dù khi sinh tiền có lúc gặp phải khó khăn hay rủi ro mà không bộc lộ được niềm thương yêu và sự đùm bọc đó. Con thấy cha ông của con, từ Lạc Long Quân qua các vua Hùng và biết bao nhiêu thế hệ những người khai sáng đất nước, mở rộng cõi bờ, gìn giữ núi sông và un đúc nên nếp sống Việt Nam có thỉ, có chung, có nhân, có hậu. Con là sự tiếp nối của liệt vị. Con cúi rạp mình xuống để đón nhận năng lượng của dòng họ và tổ tiên của gia đình huyết thống con. Xin tổ tiên phù hộ độ trì cho con.

Lạy Thứ Hai
(Xướng)
Trở về kính lạy, Bụt và tổ sư, truyền đăng tục diệm, gia đình tâm linh, qua nhiều thế hệ. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con thấy thầy con, con thấy sư ông của con, người đã dạy cho con biết hiểu, biết thương, biết thở, biết cười, biết tha thứ, biết sống trong giây phút hiện tại. Con thấy, qua thầy của con, qua sư ông của con, con tiếp xúc được với các thế hệ thánh tăng qua các thời đại: các vị tổ sư Tăng Hội, Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Vạn Hạnh, Đại Đăng, Tuệ Trung, Trúc Lâm, Pháp Loa, Huyền Quang, Nguyên Thiều, Liễu Quán; con tiếp xúc được với các vị bồ tát và với Bụt Thích Ca Mâu Ni, người đã khai sáng gia đình tâm linh của con, đã có từ hai ngàn sáu trăm năm nay. Con biết Bụt là thầy con mà cũng là tổ tiên tâm linh của con. Con thấy trong con có chất liệu nuôi dưỡng của Bụt, của tổ, của các thế hệ cao tăng, và năng lượng của liệt vị đã và đang đi vào trong con, đã và đang làm ra sự bình yên, an lạc, hiểu biết và thương yêu trong con. Con biết Bụt đã giáo hóa cho gia đình huyết thống của con, đã làm đẹp, làm lành nếp sống đất nước của con và của dân tộc con. Bụt đã làm cho dân tộc con trở nên một dân tộc thuần từ và văn minh, điều này con thấy rõ trong nền văn minh Lý Trần. Con biết nếu không có Bụt, có tổ, có thầy thì con không biết tu tỉnh và thực tập an lạc cho con và cho gia đình con. Con mở rộng trái tim và xương thịt con để tiếp nhận kinh nghiệm, tuệ giác, tình thương, sự che chở và năng lượng từ bi của Bụt và của các thế hệ thánh tăng, gia đình tâm linh của con. Con là sự tiếp nối của Bụt và của các thế hệ tổ tiên tâm linh của con. Xin Bụt và chư tổ, xin sư ông và thầy truyền cho con nguồn năng lượng thương yêu, an lạc và sự vững chãi của liệt vị. Con nguyện tu tập để chuyển hóa và để truyền cho thế hệ tương lai năng lượng của Bụt, của tổ và của thầy.

Lạy Thứ Ba
(Xướng)
Trở về kính lạy, liệt vị tiền nhân, khai sáng đất nước, sông núi khí thiêng, hàng ngày che chở. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con thấy con đang đứng trên đất nước này và tiếp nhận công ơn khai sáng của tiền nhân đất nước này, trước hết là các vua Hùng, rồi các vị lãnh đạo các triều Tiền Lê, Tiền Lý, Ngô, Đinh, Lý, Trần, Hậu Lê, Nguyễn cùng với các thế hệ tổ tiên và với biết bao nhiêu người có tên tuổi và không có tên tuổi đã đem tài trí, kiên nhẫn và chịu đựng để làm cho đất nước này trở nên nơi nương náu của bao nhiêu giống dân đủ các màu da; đã lập nên trường học, nhà thương, xây dựng cầu cống, đường sá, chợ búa; đã thiết lập nhân quyền, luật pháp, phát minh khoa học làm cho mức sống được nâng cao. Con tiếp xúc được với những thế hệ tổ tiên ngày xưa đã sinh sống trên đất nước này và đã biết sống an lành với mọi loài và với thiên nhiên. Con sống ở đây, học hòa hợp với thiên nhiên, với con người, và con cảm thấy năng lượng của đất nước này đi vào trong con, yểm trợ con, chấp nhận con. Con xin nguyện tiếp tục giữ gìn và làm tiếp nối những dòng năng lượng ấy. Con xin nguyện góp phần chuyển hóa những bạo động căm thù và vô minh còn tồn tại trong xã hội này. Xin liệt vị phù hộ độ trì cho chúng con.

Lạy Thứ Tư
(Xướng)
Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì, cho người con thương. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Những nguồn năng lượng vô biên mà con vừa tiếp nhận được, con xin truyền đạt cho cha con, cho mẹ con, cho những người con thương yêu: những người đã từng khổ đau, đã từng lo lắng, đã từng buồn khổ vì con, vì những vụng về và dại dột của con trong quá khứ, và cũng đã từng lo lắng buồn khổ vì hoàn cảnh khó khăn và không may của các vị. Con xin truyền đạt nguồn năng lượng ấy để nguyện cầu và tiếp sức cho cha con, cho mẹ con, cho anh chị em của con, cho tâm hồn họ lắng dịu lại, cho khổ đau trong lòng (những) người ấy được chuyển hóa, cho (những) người ấy nở được nụ cười, cho (những) người ấy cảm nhận được niềm vui sống, cho (những) người ấy được nhẹ nhàng trong thân thể và an lạc trong tâm hồn. Con hết lòng cầu mong cho (những) người ấy có hạnh phúc và an lạc. Con biết nếu những người ấy có an lạc thì con cũng có an lạc. Con cảm thấy trong lòng con không có oán hận trách móc những người ấy một mảy may nào. Con lạy tổ tiên, ông bà trong gia đình huyết thống và trong gia đình tâm linh của con phù hộ độ trì cho người con thương, cho những người mà con đã nguyện thương yêu và chăm sóc. Con thấy con không còn là một cái ta riêng biệt mà con đã trở thành một với những người con thương.

Lạy Thứ Năm
(Xướng)
Trở về kính lạy, gia đình huyết thống, gia đình tâm linh, gia hộ độ trì, người làm khổ con. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con mở rộng lòng ra để truyền đi năng lượng hiểu biết và lòng xót thương của con tới những người đã làm con khổ đau và điêu đứng. Con biết người ấy cũng đã đi qua nhiều khổ đau, đã chứa chấp quá nhiều cay đắng và bực bội trong trái tim nên đã làm vung vãi những khổ đau và bực bội của người ấy lên con. Con biết những người ấy không được may mắn, có thể là từ hồi còn bé thơ đã thiếu sự chăm sóc và thương yêu, đã bị cuộc đời dằn vặt và ngược đãi bao nhiêu lần. Con biết những người như người ấy chưa được may mắn được học, được tu, đã chứa chấp những tri giác sai lầm về cuộc đời và về con, nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con xin gia đình huyết thống và gia đình tâm linh của con truyền năng lượng cho (những) người ấy, để cho trái tim của họ được tiếp nhận giọt nước cam lồ mà nở ra được như một bông hoa. Con chỉ cầu mong cho người ấy được chuyển hóa để người ấy tìm ra được niềm vui sống, để không còn giữ tâm hận thù mà tự làm khổ mình và làm khổ người. Con biết vì những người ấy khổ mà không tự chủ được nên đã làm khổ con và làm khổ những người con thương. Con cũng cầu mong cho tất cả những ai đã làm cho gia đình con khổ, dân tộc con điêu đứng, kể cả những kẻ xâm lăng, cướp nước, những người hải tặc, những kẻ ích kỷ, dối trá và tàn bạo được nhờ ơn Bụt, ơn tổ, ơn tiền nhân mà cải hóa. Con thấy họ khổ và nỗi khổ ấy đang kéo dài qua nhiều thế hệ và con không muốn giữ tâm niệm sân hận, oán thù. Con không muốn cho họ khổ. Con có gốc rễ nơi tổ tiên, nơi giòng họ huyết thống và giòng họ tâm linh; trái tim con đã nở ra như một đóa hoa, con xin buông bỏ tất cả mọi hiềm hận, một lòng cầu nguyện cho kẻ đã làm khổ con, làm khổ gia đình và dân tộc con được thoát vòng tai nạn và đớn đau, để họ có thể thấy được ánh sáng của niềm vui sống và an lạc như con. Tâm con không còn mang một mảy may trách móc và oán thù. Con xin truyền đạt năng lượng của con cho tất cả những người ấy. Lạy Bụt, lạy tổ, lạy ông bà chứng minh cho con.

Thực tập 3 lạy

Lạy thứ nhất
(Xướng)
Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng tâm linh và huyết thống. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị bồ tát, các vị thánh tăng và các vị tổ sư qua các thời đại, trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã truyền trao cho con những hạt giống bình an, trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, tuệ giác và từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi viên mãn, nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con, vì chính trong con cũng có những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh, trí tuệ và từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và khiếm khuyết ấy cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con, trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn và trồi sụp không ngừng trên con đường tu đạo. Điều này cũng đúng về phương diện huyết thống. Con chấp nhận tất cả các vị tổ tiên huyết thống của con về cả hai phía nội ngoại với tất cả những đức độ, công hạnh và khiếm khuyết của các vị, cũng như con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con với những đức độ, tài năng và khiếm khuyết của từng người. Tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của con, cũng như con cháu tâm linh và huyết thống của con, đều đang có mặt trong con. Con là họ, họ là con, con không có một cái ta riêng biệt; tất cả đều có mặt trong một dòng sinh mệnh đang diễn biến mầu nhiệm.

Lạy thứ hai
(Xướng)
Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với mọi người và mọi loài đang có mặt với con giờ này trong sự sống. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con thấy con là sự sống mầu nhiệm đang dàn trải trong không gian. Con thấy con liên hệ mật thiết tới mọi người và mọi loài; tất cả những hạnh phúc và khổ đau của mọi người và mọi loài là những hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con là một với những người sinh ra đã có khuyết tật, hoặc vì chiến tranh, tai nạn hay ốm đau mà trở thành khuyết tật. Con là một với những người đang bị kẹt vào những tình trạng chiến tranh, áp bức và bóc lột. Con là một với những người chưa từng có hạnh phúc trong gia đình, không có gốc rễ, không có bình an trong tâm, đói khát hiểu biết, đói khát thương yêu, đang đi tìm một cái gì đẹp, thật và lành để bám víu vào mà tin tưởng. Con là một với người đang hấp hối, sợ hãi không biết sẽ đi về đâu. Con là em bé sống trong nghèo khổ, tật bệnh, chân tay gầy ốm như những ống sậy, không có tương lai. Con là kẻ đang chế tạo bom đạn để bán cho các nước nghèo khổ.

Con là con ếch bơi trong hồ mà cũng là con rắn nước cần nuôi thân bằng thân ếch nhái. Con là con sâu con kiến mà cũng là con chim đang đi tìm kiếm con kiến con sâu. Con là cây rừng đang bị đốn ngã, là nước sông và không khí đang bị ô nhiễm, mà cũng là người đốn rừng và làm ô nhiễm không khí và nước sông. Con thấy con trong tất cả mọi loài và tất cả mọi loài trong con.

Con là một với những bậc đại nhân đã chứng được vô sinh, có thể nhìn những hiện tượng diệt sinh, hạnh phúc và khổ đau bằng con mắt trầm tĩnh. Con là một với những thiện tri thức hiện đang có mặt rải rác khắp nơi trên thế giới, có đủ bình an, hiểu biết và thương yêu, có khả năng tiếp xúc với những gì nhiệm mầu, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong sự sống, và cũng có thể ôm trọn thế gian này bằng trái tim thương yêu và hai cánh tay hành động của quý vị. Con là người có đủ an lạc và thảnh thơi, có thể hiến tặng sự không sợ hãi và niềm vui sống cho những sinh vật quanh mình. Con thấy con không hề đơn độc. Những bậc đại nhân hiện đang có mặt trên đời; tình thương và niềm vui sống của họ đang nâng đỡ con, không để con đắm chìm trong tuyệt vọng và giúp con sống đời sống của con một cách an vui, trọn vẹn và có ý nghĩa. Con thấy con trong tất cả các vị và tất cả các vị trong con.

Lạy thứ ba
(Xướng)
Năm vóc sát đất, con buông bỏ ý niệm về hình hài và thọ mạng. (Chuông, lạy xuống)
(Vị duy na đọc để mọi người quán niệm theo trong tư thế năm vóc sát đất.)

Con thấy được thân tứ đại này không đích thực là con, con không bị giới hạn trong hình hài này. Con là tất cả dòng sinh mạng tâm linh và huyết thống từ ngàn xưa liên tục diễn biến tới ngàn sau. Con là một với tổ tiên của con, con là một với con cháu của con. Con là sự sống biểu hiện dưới vô lượng hình thức. Con là một với mọi người và mọi loài, dù an lạc hay khổ đau, vô úy hay lo lắng. Con đang có mặt khắp nơi trong giờ phút này, và từ quá khứ cho tới tương lai. Sự tan rã của hình hài này không động được tới con, như một cánh hoa đào rơi không làm cho sự có mặt của cây hoa đào suy giảm. Con thấy con là một con sóng trên mặt đại dương, bản thể con là nước trong đại dương. Con thấy con trong tất cả các con sóng khác và tất cả các con sóng khác trong con. Sự biểu hiện hay ẩn tàng của hình tướng con sóng không làm suy giảm sự có mặt của đại dương. Pháp thân và tuệ mạng của con không sinh mà cũng không diệt. Con thấy được sự có mặt của con trước khi hình hài này biểu hiện và sau khi hình hài này biến diệt. Con thấy được sự có mặt của con ngoài hình hài này, ngay trong giờ phút hiện tại. Khoảng thời gian tám chín mươi năm không phải là thọ mạng của con. Thọ mạng của con, cũng như của một chiếc lá hay của các vị Bụt Thế Tôn, là vô lượng. Con thấy con vượt thoát ý niệm con là một hình hài biệt lập với mọi biểu hiện khác của sự sống, trong thời gian cũng như trong không gian.

Chỉ dẫn thực tập 3 Lạy

Thực tập ba lạy góp phần xây dựng tăng thân và hoàn cảnh của ta, làm cho ta có hạnh phúc. Thực tập ba lạy này trong ba tháng ta sẽ thấy hoàn cảnh của ta – y báo của ta – thay đổi và hạnh phúc của chúng ta tăng tiến.

Ba lạy được biểu tượng bằng một chữ thập và vòng tròn.

Ta bắt đầu bằng con đường dọc rồi tiếp đến bằng con đường ngang và sau hết là vòng tròn. Khi lạy xuống cái lạy đầu tiên, ta quán chiếu về tổ tiên và con cháu. Khi lạy ta nên lạy mọp xuống, càng sát đất càng tốt. Hai chân và hai tay sát xuống đất, trán cũng dính vào đất. Trong tư thế ấy, ta bắt đầu buông thư tất cả các bắp thịt trong cơ thể. Ta phải buông bỏ hết những gì ta nghĩ là ta, là của ta, để có thể hòa nhập được vào dòng sanh mạng của tổ tiên, trong đó có ta. “Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị Bồ Tát, các vị thánh tăng. Có nhiều vị đã đạt tới mức toàn hảo về trí tuệ cũng như về thương yêu, nhưng cũng có các vị chưa đạt tới mức ấy, cũng còn những yếu kém, những khó khăn, những lên xuống.” Bên phía gia đình huyết thống cũng vậy. “Con có những vị tổ tiên rất cao, rất đẹp, nhưng cũng có những vị tổ tiên còn đau khổ, còn lên xuống. Nhìn vào con, con thấy con có những cái rất hay, rất tốt, nhưng con cũng còn có những yếu kém, nhu nhược, những lỗi lầm, những khuyết điểm. Con là ai mà không dám chấp nhận tổ tiên của con, vì vậy con chấp nhận tất cả quí vị là tổ tiên của con, và con hòa đồng với quí vị.” Lạy được như vậy, tự nhiên ta hòa giải được với tất cả tổ tiên của ta. Nếu ta giận thầy hay giận cha, giận mẹ, giận anh, giận chị thì cái lạy này là cái lạy để hòa giải với tất cả. Tất cả đều là tổ tiên của mình, trong đó có cha, có mẹ, chú, bác, cô, dì và có cả anh, cả chị nữa. Tất cả những người sanh ra trước mình đều là tổ tiên của mình. Đối với người xuất gia cũng vậy. Người thụ giới trước mình là anh mình hoặc là chị mình, dù người đó ít tuổi hơn. Dù người đó còn dở hơn mình về phương diện học hỏi cũng như về phương diện tu tập, thì người đó vẫn là anh của mình, vẫn là chị của mình, và mình chấp nhận người đó là anh, là chị của mình, chứ mình không nói: người đó giỏi gì hơn tôi mà lại làm anh tôi hay là làm chị tôi? Tổ tiên của ta cũng vậy. Tổ tiên của ta có những vị rất xuất sắc và cũng có những người còn yếu kém, nông nổi, nhưng tất cả đều là tổ tiên của ta và ta phải chấp nhận họ. Cha mẹ và anh chị của ta cũng vậy. Trong họ có những điều rất hay rất tốt nhưng trong họ cũng có những yếu kém. Ta biết rằng ta cũng vậy. Trong ta có những cái hay cái đẹp nhưng cũng có những yếu kém, vì vậy cho nên ta chấp nhận anh ta, ta chấp nhận chị ta. Ta không nói: “Người đó không xứng đáng làm anh tôi, người đó không xứng đáng làm chị tôi, tại vì người đó có hơn tôi gì đâu?” Tổ tiên là tổ tiên thôi. Giỏi hay dở đều là tổ tiên. Cha mẹ là cha mẹ thôi, dù giỏi hay dở cũng là cha mẹ. Trong truyền thống đạo Bụt, người xuất gia được coi là trưởng tử và trưởng nữ của Bụt, tại vì khi phát tâm xuất gia, họ bỏ gia đình, ra nhập vào tăng đoàn và đóng vai trò của người anh và người chị của giáo đoàn. Vì vậy, dù còn nhỏ tuổi, còn học dở, còn yếu kém về giới luật và uy nghi, họ vẫn là anh là chị của ta như thường. “Những người xuất gia đó, tuổi nhỏ hơn tôi, học Phật pháp chưa bằng tôi, tu cũng chưa đến đâu, tại sao họ lại ngồi trước, họ lại ngồi trên, họ làm anh làm chị tôi sao được. Nói như vậy là chưa hiểu được cái ý nghĩa thế nào là tổ tiên, thế nào là người xuất gia, là trưởng tử của Như Lai. Trưởng tử là con lớn. Dù có hư hèn, dù có khuyết giới, người đó cũng vẫn là anh của ta, là chị của ta, tại vì truyền thống là như thế. Họ là trưởng tử của Như Lai, ta có thể giỏi hơn họ, nhưng ta không thể nói rằng họ không phải là sư phụ của ta, sư thúc của ta, sư bá của ta, sư anh của ta, sư chị của ta. Họ là họ. Tại vì họ chưa có điều kiện, chưa có nhân duyên nên họ chưa giỏi đó thôi. Từ đó mà ta đi xuống các em ta, tới các con ta. Những người giận em, ganh với em, những người thấy em mình dở, em mình cứng đầu, em mình khó chịu, em mình hỗn; những người giận con, ghét con, muốn từ con, từ cháu, những người đó phải thực tập cho tinh chuyên cái lạy thứ nhất. “Lạy đức Thế Tôn, ở trong con có những điểm rất gần với sự toàn bích, nhưng bạch đức Thế Tôn, trong con cũng có những yếu kém, những lên xuống, những nội kết và khổ đau, vì vậy con có quyền gì mà không chấp nhận các em của con và các con của con khi các em, các con của con còn có những yếu kém, những lên xuống, cứng đầu và khổ đau. Con chấp nhận tất cả những người ấy là em của con, là con của con, là cháu của con.” Trong cái lạy thứ nhất ta phải làm cho được việc này, nghĩa là ta phải thực tập hòa giải được với những người trên ta và với những người dưới ta. Nếu cha mẹ mình đã sanh ra mình và chấp nhận mình là con, thì mình phải chấp nhận cha mẹ là cha mẹ, mình phải chấp nhận anh của mình là anh của mình, chị của mình là chị của mình, và em của mình là em của mình. Ta phải ôm lấy họ hết dù họ có hư hèn, dù họ có ương ngạnh, dù họ có khó khăn, dù họ có khổ đau, tại vì chánh trong ta cũng có những điểm tiêu cực đó. Mình là ai mà không chấp nhận cha mẹ mình, không chấp nhận anh chị của mình. Nếu thầy mình đã sanh ra mình, nếu thầy mình đã chấp nhận mình là học trò thì tại sao mình không chấp nhận người sư chị của mình là chị của mình, người sư anh của mình là anh của mình, người sư em của mình là em của mình. Dù người sư anh, sư chị hay sư em ấy còn có những yếu kém, còn có những lên xuống, còn có những trồi sụt, thì họ vẫn là sư anh của mình, sư chị của mình hay sư em của mình. Mình phải chấp nhận, mình phải hòa giải với người đó và chỉ có con đường ấy mới có thể giúp được những người kia. Cái lạy đầu tiên này ta phải lạy hàng ngày. Nhất là khi ta có vấn đề với cha mẹ, với thầy, với sư huynh, với sư đệ thì ta phải lạy cho thật hết lòng, phải phủ phục năm vóc sát đất.

Lạy thứ hai là cái lạy trong đó ta tiếp xúc với những con người và những chúng sanh có mặt cùng thời với ta, trong thời gian này, trong giờ phút hiện tại. Cũng như trong cái lạy đầu, ta phải mọp xuống sát đất, ta phải làm cho cái ngã của ta hòa nhập với dòng sanh mạng của thế giới trong giây phút hiện tại. Ta có thể hướng tới những vị Bồ Tát, những vị đại nhân đang có mặt trên thế giới, đang có mặt xung quanh ta trong giây phút hiện tại. Ta gọi họ là Bồ Tát hay không là Bồ Tát thì họ vẫn là các vị Bồ Tát. Họ mang danh hiệu Bồ Tát hay không mang danh hiệu Bồ Tát thì họ vẫn là Bồ Tát, tại vì trong họ có yếu tố của sự vững chãi, thảnh thơi và thương yêu. Họ ở khắp nơi. Có thể trong các tổ chức thiện nguyện như Médecins Sans Frontières hay Ecole Sans Frontières có những vị Bồ Tát như vậy. Có những tổ chức thiện nguyện đi làm việc khắp nơi trên thế giới; tình thương, sự vững chãi và sự thảnh thơi của họ đang được sử dụng để làm vơi bớt những khổ đau đang tràn ngập thế giới. Trong số những người đi làm việc cứu trợ, có người có chất liệu của sự vững chãi, thảnh thơi và an lạc, và vì vậy trong khi làm việc, họ không bị chìm đắm trong biển khổ. Nếu không có chất liệu của an lạc, thảnh thơi và vững chãi thì khi đi làm công việc xã hội, giúp đỡ người ta, mình sẽ bị chìm đắm luôn với người ta, mình sẽ giận hờn, mình sẽ thù hận. Nếu có những người không bị chìm đắm trong biển khổ là tại vì trong họ có những chất liệu vững chãi và thảnh thơi. Ngay ở quanh ta, chúng ta cũng đang có những vị Bồ Tát như vậy. Mở mắt ra là chúng ta có thể tiếp xúc với họ, chúng ta hòa nhập với họ : “Tôi với các vị là một, tôi đang nương vào các vị, và tôi đang được thừa hưởng chất liệu thảnh thơi, vững chãi và an lạc của quý vị.” Ta phải hòa nhập với họ nếu không thì ta sẽ yếu lắm. Ta phải dựa vào họ mà đừng cần đi tìm đâu xa tại vì họ có mặt ngay tại đây. Các vị đại nhân đó, các vị Bồ Tát đó không cần phải lớn tuổi, đôi khi họ còn rất nhỏ và ta có thể nhận thấy trong họ chất liệu của sự vững chãi, của sự thảnh thơi, của sự an bình và hạnh phúc mà ta rất cần đến. Trong cái lạy thứ hai này, ta hòa nhập với họ để tiếp nhận năng lượng đó của họ, ta biết rằng họ có mặt đó là may mắn cho ta lắm. Sau khi đã tiếp xúc với họ, ta lại tập tiếp xúc với những loài chúng sanh đang lặn ngụp chìm đắm trong biển khổ. Những người đang đau khổ vì chiến tranh ở Bosnia, những em bé đói ở Uganda, những người đang bị tù đày, những người đang khổ đau, những người đang bị áp bức bóc lột, những em bé lớn lên không được đi học phải đi lượm thức ăn từ những thùng rác… Tất cả những người đó đều là ta cả. Ta phải thấy ta là con ếch đang bơi thảnh thơi trong hồ thu, ta cũng thấy ta là con rắn nước trườn đi để tìm thức ăn và nuốt con ếch đó vào bụng. Con rắn nước cũng cần ăn, cần sống. Trong cuộc đời có những khổ đau như vậy, và tiếp xúc với những khổ đau đó, ta đau niềm đau của tất cả chúng sanh, ta thấy ta là một với họ, nhưng ta không đắm chìm trong biển khổ, tại vì ta đã có chỗ nương tựa, chỗ nương tựa của ta là các vị Bồ Tát, các bậc đại nhân. Những người có hạnh phúc, an lạc và thảnh thơi, ta không cần phải đi tìm ở đâu xa, họ có mặt ngay trong tăng thân. Những người đau khổ cũng vậy, ta không cần phải đi tìm đâu xa, họ nằm ngay ở trong tăng thân. Ta là họ, và khi ta nhận diện được họ rồi, con mắt ta đang nhìn họ đã chứng tỏ rằng ta đã thấy được cái đau khổ của họ. Ta thương xót họ, ta có lòng từ bi với họ và họ sẽ cảm nhận được ngay điều đó. Cái lạy thứ hai đem lại hạnh phúc cho ta ngay trong thời gian ta thực tập. Cái lạy thứ hai cho ta nhận diện được những người có chất liệu vững chãi, thảnh thơi và thương yêu, để chúng ta có thể nương vào họ và đồng nhất với họ. Cái lạy này cũng giúp ta nhận diện những kẻ đang đau khổ vì nhận thức sai lầm của họ, vì những nội kết trong quá khứ, vì những điều không may mắn đã xảy ra trong quá khứ của họ, để ta có thể ôm lấy được họ trong hai vòng tay, để có thể thông cảm và đồng nhất với họ. Ta hành xử với cái nhìn sâu sắc và thái độ từ bi. Chất liệu từ bi từ đâu mà có? Từ bi có được là do ta nhìn sâu và thấy rõ. Cái hiểu và cái thấy đưa tới cái thương. Trong cái lạy thứ hai này, ta nương tựa và hòa nhập với những người mạnh khỏe, an lạc, vững chãi và thảnh thơi nhưng ta cũng hòa đồng với những người có những khó khăn và đau khổ; và chánh cái thấy đó giúp ta phát khởi được tâm từ bi. Tâm từ bi một khi phát sanh sẽ được biểu hiện trên ánh mắt, trên bàn tay và bước chân của chúng ta. Và những cái đó bắt đầu giúp được người kia. Giúp được người kia nhưng đồng thời ta cũng giúp được chánh ta. Khi có chất liệu từ bi trong lòng, ta bắt đầu có hạnh phúc. Đối tượng của từ bi là người kia. Không biết người kia đã nhận được hạnh phúc nào từ từ bi ấy chưa, nhưng một khi giọt nước cam lộ của từ bi đã được ứa ra từ trái tim ta thì ta được hưởng trước. Người nào không có từ bi thì không có hạnh phúc, đó là điều mà ta đã học được trong đạo Bụt. Chất liệu từ bi càng lớn, hạnh phúc của ta càng lớn.

Lạy thứ ba bao trùm thời gian và không gian. “Lạy xuống, con buông bỏ ý niệm con chỉ là cái hình hài này.” Đây là sự thực tập mà thiền sư Tăng Hội gọi là “phóng khí xu mạng”. Thường thường ta nghĩ rằng chỉ có cái hình hài này là ta. Một số các phụ nữ ở Pháp vừa mới tổ chức biểu tình để đòi quyền phá thai, trong khi đó một số phụ nữ Pháp khác lại tổ chức một cuộc biểu tình chống lại cuộc biểu tình này. Các phụ nữ đòi quyền phá thai đưa ra lý luận như thế này: thân này là của tôi, tôi phải có chủ quyền trên thân tôi, tôi muốn làm gì thân tôi thì làm. Nhiều người nghe câu đó nghĩ là đúng. Nhưng trong tuệ giác nhà Phật thì cái đó không đúng: thân này không phải chỉ là của ta, thân này là của tổ tiên, của cha mẹ, của con cháu ta, của nhân loại, của vũ trụ. Ta cần phải quán chiếu. Sự an vui của thân này có liên hệ tới sự an vui của thân khác. Trong cái lạy thứ ba, ta thấy rằng ta không phải chỉ là hình hài này, đã được sanh ra ngày ấy, tháng ấy, năm ấy và sẽ không còn nữa từ ngày ấy, tháng ấy, năm ấy. Trong kinh, sự thật này được Bụt nhắc lại nhiều lần: thân này không phải là tôi. Trong cái lạy đầu, nếu thực tập đàng hoàng, ta đã thấy sự thật đó rồi: tổ tiên của con là con, cha mẹ của con là con, anh của con là con, chị của con là con, em của con là con, con của con là con. Tôi lớn hơn cái mà tôi tưởng là tôi. Trong cái lạy này, ta hòa nhập vào trong dòng sanh mạng, ta thấy cái mà ta gọi là ta vượt thoát giới hạn của hình hài này. Cái lạy thứ nhất đã chứa đựng cái lạy thứ ba rồi. “Con lạy xuống và buông bỏ ý niệm hình hài này là tất cả những gì mà con có”. “Hình hài này là con, con chỉ là hình hài này”, ta phải buông bỏ ý niệm đó. “Con lạy xuống và con thấy rằng sanh mạng của con không phải được giới hạn trong bảy hay tám chục năm. Con đã có mặt từ trước khi con sanh ra và con sẽ tiếp tục có mặt sau khi con chết đi. Thọ mạng của con là vô lượng. Thọ mạng của con không bị vướng vào thời gian.” Đó là cái lạy thứ ba, mà tuệ giác của cái lạy thứ ba chẳng qua là do cái lạy thứ nhất và thứ hai đưa tới thôi. Nghe như cái lạy thứ ba khó thực tập hơn hai cái lạy đầu, nhưng kỳ thực nếu ta đã thành công trong cái lạy thứ nhất và cái lạy thứ hai, thì cái lạy thứ ba đã bắt đầu thành công rồi.

Nếu có thể, ta nên thực tập ba cái lạy này mỗi ngày. Thực tập ba cái lạy cho sâu sắc, ta có thể thoát ly được sanh tử.

Truyền giới Thức xoa ma na (Bản tân tu 09. 2021)

Nghi thức Truyền Giới Thức Xoa Ma Na

The Śikṣamāṇā Precepts Transmission Ceremony

  1. Dâng hương và lạy Bụt
  2. (Incense offering and Touching of the Earth)
  3. (Trì tụng) (Chanting)
  4. (Tác Pháp Yết Ma) (Sanghakarman Procedure)

 Thầy Yết Ma – Sanghakarman Master:

– Đại chúng đã tập họp đầy đủ chưa?

– Has the whole community assembled?

Thầy Thủ Chúng – Sanghakarman Convener:

– Thưa, đại chúng đã tập họp đầy đủ.

– The whole community has

Thầy Yết Ma – Sanghakarman Master:

– Có sự hòa hợp không?

– Is there harmony in the community?

Thầy Thủ Chúng – Sanghakarman Convener:

– Thưa, có sự hòa hợp.

– Yes, there is

Thầy Yết Ma – Sanghakarman Master:

– Đại chúng tập họp hôm nay để làm gì?

– What is the reason for the community assembling today?

Thầy Thủ Chúng – Sanghakarman Convener:

– Thưa, đại chúng tập họp hôm nay để thực hiện yết ma truyền Giới Thức Xoa Ma

– The community has assembled to realise the Sanghakarman for Transmitting the Śikṣamāṇā

Thầy Yết Ma – Sanghakarman Master:

– Xin các vị tôn đức khất sĩ nữ lắng Các vị sa di nữ với pháp danh sau đây:

– Venerable bhikshunis, please The sramanerikas with the following Dharma names:

(Thầy Yết Ma đọc lên danh sách của các giới tử)

(The Sanghakarman Master reads the list of the ordinees’ names)

 đang cầu xin được thọ Giới Thức Xoa Ma Na và đã thỉnh được Tôn đức trước … sau … làm Thân giáo sư. Các vị giới tử nói trên đã trình bày là họ thanh tịnh, không có gì chướng ngại. Nếu thấy thời gian thích hợp và không có gì trở ngại thì xin các vị tôn đức chấp thuận cho các giới tử ấy được tiếp nhận Giới Thức Xoa Ma Na. Đây là lời tác bạch.

are requesting to receive the Śikṣamāṇā Precepts. The Venerable Master whose first name is … and whose second name is … has already accepted their invitation to be the Transmission Master. The ordinees whose names have been read have shown that they are practising the way of the precepts and that there is no impediment to their receiving the ordination. Venerable bhikshunis, if you see that this is the right time and there is nothing to obstruct the ordination, please allow these ordinees to receive the Śikṣamāṇā This is the proposal.

Thầy Yết Ma:

– Bạch như thế, thì phép tác bạch có rõ ràng và đầy đủ hay không?

Đại chúng đáp:

– Rõ ràng và đầy đủ.

Sanghakarman Master:

– Is the proposal clear and complete?

The Sangha replies:

– Clear and Complete

Thầy Yết Ma – Sanghakarman Master:

Xin các vị tôn đức khất sĩ nữ lắng nghe. Các vị sa di nữ với pháp danh đã được đọc đang cầu xin được thọ Giới Thức Xoa Ma Na và đã thỉnh được Tôn đức trước … sau … làm Thân giáo sư. Các vị giới tử nói trên đã trình bày là họ thanh tịnh, không có gì chướng ngại. Nếu thấy thời gian thích hợp và không có gì trở ngại, thì xin các vị tôn đức chấp thuận cho các giới tử ấy được tiếp nhận Giới Thức Xoa Ma

Vị nào trong đại chúng chấp thuận thì xin giữ im lặng, vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.

Venerable bhikshunis, please listen. The sramanerikas with the Dharma names read are requesting to receive the Śikṣamāṇā Precepts. The Venerable Master whose first name is … and whose second name is … has already accepted their invitation to be the Transmission Master. The ordinees whose names have been read have shown that they are practising the way of the precepts and that there is no impediment to their receiving the

Venerable bhikshunis, if you see that this is the right time and there is nothing to obstruct the ordination, please allow these ordinees to receive the Śikṣamāṇā Precepts.

Those of you who agree with the proposal should remain silent. Anyone who does not agree should speak out.

– Đây là lần hỏi thứ nhất.

– This is the first time of

(Đại chúng giữ im lặng) (The Sangha remains silent)

– Vị nào trong đại chúng chấp thuận thì xin giữ im lặng, vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.

– Those of you who agree with the proposal should remain silent. Anyone who does not agree should speak

– Đây là lần hỏi thứ hai

– This is the second time of asking

(Đại chúng giữ im lặng) (The Sangha remains silent)

– Vị nào trong đại chúng chấp thuận thì xin giữ im lặng, vị nào không chấp thuận thì nên nói lên.

– Those of you who agree with the proposal should remain silent. Anyone who does not agree should speak

– Đây là lần hỏi thứ ba

– This is the third time of asking

(Đại chúng giữ im lặng) (The Sangha remains silent)

Đại chúng các vị tôn đức khất sĩ nữ đã giữ im lặng qua ba lần hỏi, chúng tôi biết toàn thể đã chấp nhận. Tác Pháp Yết Ma Truyền Giới Thức Xoa Ma Na như vậy đã thành và các sa di nữ đồng sự được phép nhận học giới. Xin cảm tạ đại chúng.

The venerable bhikshunis have remained silent for three times of asking and thus we know that they agree to the ordination and the Sanghakarman for Transmitting the Śikṣamāṇā Precepts has been realised. Thank you. (C)

5. (Truyền giới) (Precepts transmission)

Thầy Truyền giới – Transmission Master:

Các vị giới tử trình diện trước Tam bảo, chắp tay búp sen. Nghe lời xướng và tiếng chuông thì lạy xuống một lạy.

Ordinees, please come forward with joined palms in front of the Three On hearing the sound of the bell, after the recitation of each line, please touch the Earth one time.

– In gratitude to our father and mother, who have brought us to life, we bow deeply before the Three Jewels in the ten directions.

Giới tử mang ơn cha mẹ sinh thành, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

– In gratitude to our teachers, who have shown us how to understand and to love, we bow deeply before the Three Jewels in the ten

Giới tử mang ơn sư trưởng giáo huấn, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

– In gratitude to our friends, who give us guidance and support on the path, we bow deeply before the Three Jewels in the ten

Giới tử mang ơn bằng hữu và các bậc thiện tri thức đã tác thành cho, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)

– In gratitude to all beings in the animal, plant, and mineral worlds, we bow deeply before the Three Jewels in the ten

Giới tử mang ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (CC)

Các vị sa di nữ! Đức Như Lai đã thiết chế ra bốn giới Căn bản và sáu Học pháp (tức là sáu pháp thực tập) mà các vị được tiếp nhận hôm Các vị hãy lắng nghe từng giới và từng học pháp một với tâm hồn thanh tịnh và hãy trả lời “Dạ thưa có” mỗi khi thấy mình có khả năng tiếp nhận, học hỏi, và hành trì giới và học pháp được tuyên đọc.

Novices, the Tathagata established Four Root Precepts and Six Trainings as part of the practice for a nun which you will receive today. Please, listen to each of these precepts and trainings with a clear and concentrated mind and answer: “Yes, I do,” every time you see you have the capacity to receive, study and practise the precept or training read.

Các giới tử, các vị đã sẵn sàng chưa?

Ordinees, are you ready?

(Các giới tử im lặng, theo dõi hơi thở và trả lời trong lòng rằng: dạ thưa rồi.)

(The ordinees remain silent, practise mindful breathing and answer in their minds: yes, I am.)

Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là giới Căn bản và Học pháp thứ nhất:

Vị thức xoa ma na nào làm việc dâm dục, dù với người nam hay người nữ, dù có hay không có sự đồng ý của người này, vị ấy phạm vào giới thứ nhất của bốn giới Căn bản, không còn xứng đáng là một thức xoa ma na, là một sư cô, con gái của Bụt. Trong trường hợp chưa làm việc dâm dục mà cố tình đụng chạm vào thân thể của một người nam hay người nữ với tâm ô nhiễm và biết người kia cũng có tâm ấy, vị thức xoa ma na ấy phạm vào học pháp thứ nhất của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

– Here is the first Root Precept and Training:

A śikṣamāṇā who has sexual intercourse with another person, whether male or female, and whether that person has given consent or not, breaks the first of the Four Root Precepts, is no longer a śikṣamāṇā and cannot continue as a nun, a daughter of the Buddha. If she has not had sexual intercourse, but motivated by sexual desire and knowing that the other person is also motivated by sexual desire, she intentionally touches the body of that person, she breaks the first of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là giới Căn bản và Học pháp thứ nhất. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the first Root Precept and Do you make the vow to receive, study, and practise them?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là giới Căn bản và Học pháp thứ hai:

Vị thức xoa ma na nào xâm phạm vào tài sản của công hay của tư, một sự xâm phạm có thể đưa vị này ra tòa để xét xử, vị ấy phạm vào giới thứ hai của bốn giới Căn bản, không còn xứng đáng là một thức xoa ma na, là một sư cô, con gái của Bụt. Trong trường hợp vị thức xoa ma na chiếm hữu tài vật của người khác, một sự chiếm hữu chưa đủ để đưa vị này ra tòa xét xử, hoặc bảo người chiếm hữu hoặc thấy người chiếm hữu mà không tìm cách can ngăn, vị thức xoa ma na ấy phạm vào Học pháp thứ hai của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

Here is the second Root Precept and Training:

A śikṣamāṇā who steals or violates the property of another, whether that property is privately or publically owned, and if the value of the property is significant enough that she could be taken to court, breaks the second of the Four Root Precepts, is no longer a śikṣamāṇā and cannot continue as a nun, a daughter of the Buddha. If she steals money or belongings of another person when the value of the object is not enough for her to be taken to court, tells someone else to steal them, or sees someone stealing them without finding ways to prevent it, she breaks the second of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là giới Căn bản và Học pháp thứ Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the second Root Precept and Do you make the vow to receive, study, and practise it?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là giới Căn bản và Học pháp thứ ba:

Vị thức xoa ma na nào xâm phạm đến mạng sống của người, bằng hành động, lời nói hay ý định của mình, vị ấy phạm vào giới thứ ba của bốn giới Căn bản, không còn xứng đáng là một thức xoa ma na, là một sư cô, con gái của Bụt. Trong trường hợp vị thức xoa ma na không học hạnh đại bi để bảo vệ sự sống của các loài động vật, tự mình giết hại, hoặc tán thành sự giết hại, hoặc để cho kẻ khác giết hại mà không tìm cách can ngăn, vị thức xoa ma na ấy phạm vào Học pháp thứ ba của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

 Here is the third Root Precept and Training:

A śikṣamāṇā who takes the life of another person by deed, word, or intention, breaks the third of the Four Root Precepts, is no longer a śikṣamāṇā and cannot continue as a nun, a daughter of the Buddha. If she fails to cultivate compassion and to learn ways to protect the lives of animals, kills an animal herself, gives consent for an animal to be killed, or does not prevent someone else from killing an animal, she breaks the third of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là giới Căn bản và Học pháp thứ Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the third Root Precept and Training. Do you make the vow to receive, study, and practise it?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

 Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là giới Căn bản và Học pháp thứ tư:

Vị thức xoa ma na nào không có chứng đắc mà tuyên bố rằng mình có chứng đắc, vị ấy phạm vào giới thứ tư của bốn giới Căn bản, không còn xứng đáng là một thức xoa ma na, là một sư cô, con gái của Bụt. Trong trường hợp nói sai sự thật, nói thêm bớt, hoặc nói những lời có tác dụng gây chia rẽ và căm thù, vị thức xoa ma na ấy phạm vào Học pháp thứ tư của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

Here is the fourth Root Precept and Training:

A śikṣamāṇā who claims that she has attained realizations on the spiritual path, which she has not in fact realized, breaks the fourth of the Four Root Precepts, is no longer a śikṣamāṇā and cannot continue as a nun, a daughter of the Buddha. If she says what is not true, exaggerates or speaks to cause division, she breaks the fourth of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là giới Căn bản và Học pháp thứ tư. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the fourth Root Precept and Do you make the vow to receive, study, and practise it?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

 Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là Học pháp thứ năm:

Vị thức xoa ma na nào không ăn cùng đại chúng hoặc ăn riêng trong phòng, trừ khi có bệnh hoặc vì công việc do tăng sai, hoặc đi ăn mặn, vị thức xoa ma na ấy phạm vào Học pháp thứ năm của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

Here is the fifth Training:

A śikṣamāṇā who eats apart from the Sangha or eats in her room, except when she is sick or is unable to eat with the Sangha due to Sangha service, or eats a non-vegetarian meal, breaks the fifth of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là Học pháp thứ năm. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì học pháp ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the fifth Do you make the vow to receive, study, and practise it?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

 Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

– Đây là Học pháp thứ sáu:

Vị thức xoa ma na nào cất giữ hay tiêu thụ các chất ma túy có tác dụng độc hại đến thân tâm như bồ đà (marijuana), cocaine, bạch phiến, v.v…, hoặc thuốc hút, rượu, bia, hay bất cứ sản phẩm nào có tác dụng gây ra sự say sưa, nghiện ngập, trừ trường hợp có bệnh và có phép của tăng thân, vị thức xoa ma na ấy phạm vào Học pháp thứ sáu của sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô nhưng giới Thức Xoa Ma Na đã bị tổn thương, vị ấy phải xin sám hối và thọ giới trở lại.

Here is the sixth Training:

A śikṣamāṇā who keeps in her possession or use tobacco or any kind of illegal drug which is considered to be a mind-altering substance, such as marijuana, cocaine and so on, or drinks beer, wine, or liquor of any kind, or takes any other substance that causes intoxication or dependence, except for medicinal use with the permission of the bhikshuni Sangha, breaks the sixth of the Six Trainings. She has to confess and there has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā ordination again.

Đó là Học pháp thứ sáu. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì học pháp ấy hay không?

Giới tử: Dạ thưa có.

Transmission Master: That is the sixth Do you make the vow to receive, study, and practise it?

Ordinees: Yes, I do.

(Giới tử nghe chuông, lạy xuống một lạy) (Bell and the ordinees touch the Earth)

Thầy Truyền Giới – Transmission Master:

Quý vị thức xoa ma na mới, vi phạm bốn giới Căn bản chứng tỏ sự thất bại của một vị thức xoa ma na. Vị thức xoa ma na nào phạm một trong bốn giới ấy thì không còn là một sư cô, là một Thích nữ, con gái của Bụt và không còn được ở chung với Tăng đoàn nữ xuất gia. Vị nào phạm một trong sáu Học pháp, tuy còn là một sư cô, vị ấy phải xin sám hối, phải được tác pháp yết ma để thọ giới lại và học lại từ đầu.

Quý vị đã chính thức tiếp nhận bốn giới Căn bản và sáu Học pháp, đại diện cho giới Thức Xoa Ma Na. Quý vị đã chính thức trở thành các thức xoa ma na trước mặt Tam Bảo. Quý vị là những người có nhiều may mắn, đã từng gieo hạt giống tốt trong quá khứ. Thì giờ thấm thoát như tên bay, quý vị phải chuyên cần tu học, đừng bỏ phí thì giờ và tuổi trẻ. Nghe chuông, xin lạy xuống ba lạy để tỏ lòng tôn kính Tam Bảo.

Newly ordained śikṣamāṇā, when a śikṣamāṇā transgresses any one of the Four Root Precepts, she has failed in her career as a śikṣamāṇā and can no longer remain in the monastic sangha. If she transgresses any one of the Six Trainings, although she is still allowed to continue to be a nun, she must express her regret, begin anew. There has to be a Sanghakarman Procedure for her to receive the Śikṣamāṇā Precepts again and complete a period of training before receiving the Bhikshuni Precepts.

You have formally received the Four Root Precepts and the Six Trainings, representing the Śikṣamāṇā Precepts. You have formally become śikṣamāṇā in the presence of the Three Jewels. You are very fortunate and have sown wholesome seeds in the past. Time passes by very quickly. You should learn and practise diligiently and not waste your time and your youth. When you hear the sound of the bell, please touch the Earth three times in order to show your gratitude and respect to the Three Jewels. (Bell) (3 times)

6. (Hồi Hướng) (Closing Verse)

Truyền trì giới thâm diệu

Tạo công đức vô biên

Đệ tử xin hồi hướng

Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học

Ân nghĩa xin nguyện đền

Phiền não xin nguyện đoạn

Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Truyền 14 Giới Tiếp Hiện

(Thầy truyền giới Tiếp Hiện hướng dẫn nghi thức này ít nhất phải là một vị Giáo Thọ trong giáo đoàn Tiếp Hiện, được phụ tá ít nhất là bởi ba thành viên Tiếp Hiện thuộc chúng Chủ Trì dòng Tiếp Hiện. Các thành viên của chúng Đồng Sự dòng Tiếp Hiện và các bạn hữu đều được mời dự để hộ niệm.)

 

1. Thiền Hành (30 phút, sau khi được hướng dẫn)

2. Thiền Tọa (12 phút, sau khi được hướng dẫn)

3. Dâng Hương

Đại chúng đứng chắp tay trước bàn thờ.
Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Xin cho khói trầm thơm
Kết thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Bụt
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các thánh hiền tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rỡ
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức.
Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

4. Tán Dương

Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, đại chúng chắp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.
Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

5. Lạy Bụt

Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và đại chúng lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Manjusri (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Samantabhadra (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Avalokiteśvara (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Ksitigarbha (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Mahākassapa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Sāriputta (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Maha Moggallāna (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư  Upāli (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo Ānanda (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Gotamī (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

6. Trì Tụng

Đại chúng an tọa trên tọa cụ thành hai hàng đối diện nhau.
Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ.
Vị chủ lễ xướng kệ khai kinh và Tâm Kinh:

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

TÂM KINH TUỆ GIÁC QUA BỜ

Avalokita
Khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng
Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;
Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn. (C)

“Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ
Tất cả mọi khổ nạn. (C)
 
Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)

 

7. Lễ Dẫn Thỉnh

Thầy dẫn thỉnh:

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni.

Kính bạch Sư ông, kính thưa quý thầy, quý sư cô, hôm nay chúng con có duyên sự xin đầu thành đảnh lễ tác bạch. (C) (lạy một lạy)

Thầy dẫn thỉnh :

Nam mô Đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni.

Kính bạch Sư ông, kính thưa quý thầy quý sư cô, chúng con biết chúng con là những người rất may mắn. Chúng con đã tiếp nhận được rất nhiều phước đức từ tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của chúng con. Chúng con đã được thọ 5 giới. Sự hành trì giới luật đã giúp chúng con nuôi lớn mỗi ngày tình thương và sự hiểu biết, niềm vui và sự chuyển hóa nơi chúng con và những người xung quanh. Chúng con đã chứng nghiệm được rằng Tăng thân là một viên ngọc quý. Không có Tăng thân, làm sao chúng con có thể tiếp tục mỗi ngày trên con đường thực tập? Không có Tăng thân, làm sao chúng con có được ngày hôm nay? Nếu chúng con đi như một dòng sông, chắc chắn chúng con sẽ đến được bờ giải thoát. Chúng con nguyện lấy sự nghiệp Tăng thân làm sự nghiệp của chính mình. Trong thời gian qua, chúng con đã tham dự thường xuyên những ngày quán niệm, những khóa tu và cùng học hỏi 14 giới Tiếp Hiện. Hôm nay, chúng con thành tâm phát nguyện thọ 14 giới để được gia nhập vào chúng chủ trì của dòng tu Tiếp Hiện. Chúng con biết rằng được đi trên con đường này, chúng con sẽ có những vị bồ tát làm bạn đồng hành, và mỗi giây phút đều là giây phút hạnh phúc. Với sự cho phép và yểm trợ của Tăng thân địa phương, chúng con thành kính cầu xin chư vị tổ tiên tâm linh và Tăng thân chấp nhận lời thỉnh cầu của chúng con và truyền 14 giới Tiếp Hiện cho chúng con.

Thầy Truyền Giới:

Chúng tôi hoan hỷ chấp nhận truyền giới cho quý vị. Quý vị rất may mắn đã gặp được con đường đẹp và phát nguyện đi trên con đường này. Sự nghiệp cao quý nhất của quý vị là xây dựng một tăng thân, nơi nương tựa của không biết bao nhiêu người. Đức Thế Tôn cũng đã làm công việc này trong suốt cuộc đời của ngài. Đi trên con đường này, quý vị đang tiếp tục sự nghiệp của đức Thế Tôn. Bụt và các vị bồ tát sẽ luôn có mặt để yểm trợ cho quý vị.

Thầy dẫn thỉnh:

Chúng con thành kính cảm tạ Sư ông, quý thầy và quý sư cô đã chấp nhận lời thỉnh cầu của chúng con. Chúng con sẽ hết lòng thực hành những lời chỉ giáo của quý ngài. (C) (lạy hai lạy)

8. Tác Pháp Yết Ma

Vị Yết Ma: Đại chúng đã tập họp đầy đủ chưa?
Vị Thủ Chúng: Thưa, đại chúng đã tập họp đầy đủ.
Vị Yết Ma: Có sự hòa hợp không?
Vị Thủ Chúng: Thưa, có sự hòa hợp.
Vị Yết Ma: Đại chúng hôm nay tập họp có chủ đích gì?
Vị Thủ Chúng: Thưa, để thực hiện yết ma truyền Mười Bốn Giới Tiếp Hiện.
Vị Yết Ma: Xin đại chúng lắng nghe! Hôm nay là ngày (…/ …/ …),
ngày được chọn để truyền thọ giới luật Tiếp Hiện, chúng ta đã tập họp đúng giờ giấc,
đại chúng đồng ý sẵn sàng hộ niệm việc truyền thọ giới luật trong tinh thần hòa hợp,
như vậy, việc truyền giới là hợp pháp. Bạch như thế, thì phép tác bạch có rõ ràng và đầy đủ hay không?

(Đại chúng đáp: Rõ ràng và đầy đủ.)

9. Lạy Báo Ân

Các vị giới tử có tên sau đây đứng dậy, chắp tay thành búp sen trình diện trước Tam Bảo (đọc tên).
Nghe lời xướng và tiếng chuông thì lạy xuống một lạy:

Giới tử mang ơn cha mẹ sinh thành, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.(C)
Giới tử mang ơn sư trưởng giáo huấn, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (C)
Giới tử mang ơn bằng hữu và các bậc thiện tri thức đã tác thành cho, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.(C)
Giới tử mang ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (CC)

10. Khai Thị

Hôm nay đại chúng tập họp để chứng minh và hộ niệm cho các giới tử …
trong giờ phút trọng đại của sự phát nguyện thọ trì giới luật Tiếp Hiện để gia nhập vào chúng chủ trì của dòng tu Tiếp Hiện.

Các giới tử, xin nghe đây: Theo gót các bậc Bồ Tát, nhận các bậc Bồ Tát làm thầy và làm bạn đồng hành, khi phát tâm thọ trì giới luật Tiếp Hiện, quý vị long trọng phát tâm bồ đề, lập nguyện bồ đề, lấy sự giác ngộ và giải thoát cho mình và cho người làm sự nghiệp cao cả nhất của đời mình. Xin đại chúng thức tỉnh và đặt hết tâm tư mình trong chánh niệm, theo dõi hơi thở, hộ niệm cho giới thể và tâm bồ đề của các giới tử được kiên cố, dũng liệt và bất hoại.

Các vị giới tử, đây là giây phút trọng đại của sự tiếp nhận Mười Bốn Giới Tiếp Hiện. Quý vị hãy lắng nghe từng giới một với tâm hồn thanh tịnh, và hãy trả lời "dạ có" một cách rõ ràng, dũng mãnh, mỗi khi thấy mình có chủ tâm và khả năng tiếp nhận học hỏi và hành trì giới điều được tuyên đọc.
Các vị giới tử, quý vị đã sẵn sàng chưa?

Đây tôi xin tuyên đọc nội dung giới luật:

Giới thứ nhất: Thái độ cởi mở

Ý thức được những khổ đau do thái độ cuồng tín và thiếu bao dung gây ra, con xin nguyện thực tập để không bị vướng mắc vào bất cứ một chủ nghĩa nào, một lý thuyết nào, một ý thức hệ nào, kể cả những chủ thuyết Phật giáo. Con nguyện nhìn nhận những giáo nghĩa Bụt dạy như những pháp môn hướng dẫn thực tập để làm phát khởi tuệ giác và từ bi mà không phải là những chân lý để thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Thấy được rằng niềm cuồng tín dù dưới bất kỳ hình thức nào cũng đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị, con xin nguyện tập nhìn với thái độ cởi mở và với tuệ giác tương tức để có thể chuyển hóa tập khí vướng mắc vào giáo điều và năng lượng bạo động trong con và trên thế giới.

Đó là Giới Thứ Nhất của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ hai: Phá bỏ kiến chấp

Ý thức được những khổ đau do kiến chấp và vọng tưởng gây ra, con xin nguyện thực tập để phá bỏ thái độ hẹp hòi và cố chấp, để có thể mở lòng ra mà đón nhận kinh nghiệm và tuệ giác của kẻ khác, và nhờ đó thừa hưởng được nhiều lợi lạc từ trí tuệ tập thể. Con biết rằng những kiến thức hiện giờ con đang có không phải là những chân lý bất di bất dịch. Tuệ giác chân thật chỉ có thể đạt được do sự thực tập quán chiếu và lắng nghe, bằng sự buông bỏ tất cả mọi ý niệm mà không phải bằng sự chứa chấp kiến thức khái niệm. Con nguyện suốt đời là một người đi tìm học và thường trực sử dụng chánh niệm để quán chiếu sự sống trong con và xung quanh con trong từng giây phút.

Đó là Giới Thứ Hai của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ ba: Tự do nhận thức

Ý thức được những khổ đau do sự cưỡng bức người khác vâng theo cái thấy của mình, con nguyện không ép buộc bất cứ một ai, kể cả trẻ em, đi theo quan điểm của mình, bằng bất cứ cách nào: uy quyền, sự mua chuộc, sự dọa nạt, sự tuyên truyền và giáo dục nhồi sọ. Con nguyện tôn trọng sự khác biệt của kẻ khác và quyền tự do nhận thức của họ. Tuy nhiên con biết con phải sử dụng những phương tiện đối thoại từ bi và ái ngữ để giúp người khác cởi bỏ cuồng tín và cố chấp.

Đó là Giới Thứ Ba của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ tư: Chăm sóc khổ đau

Ý thức rằng tiếp xúc và quán chiếu về bản chất của khổ đau có thể giúp con có thêm hiểu biết và phát khởi tâm từ bi, con nguyện thực tập quay về với tự thân và sử dụng năng lượng chánh niệm để nhận diện, chấp nhận, ôm ấp và lắng nghe những nổi khổ niềm đau trong con. Thay vì trốn tránh thực tại khổ đau và tìm cách khỏa lấp niềm đau trong con bằng sự tiêu thụ, con sẽ hết lòng thực tập hơi thở ý thức và bước chân chánh niệm để nhìn sâu vào những gốc rễ của khổ đau. Con ý thức rằng con chỉ có thể tìm thấy con đường thoát khổ khi nào con thấu hiểu được nguồn gốc của khổ đau. Và một khi thấu hiểu được khổ đau của tự thân thì con mới có khả năng hiểu được những khổ đau của người khác. Bằng những phương tiện tiếp xúc, tường thuật, hình ảnh, âm thanh, con nguyện thường xuyên tự đánh thức mình và đánh thức những người xung quanh về sự có mặt của những đau khổ hiện thực khắp nơi trên thế giới. Con nguyện tìm tới với những kẻ khổ đau để hiểu biết được tình trạng của họ và để giúp đỡ họ.

Đó là Giới Thứ Tư của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ năm: Nếp sống lành mạnh và từ bi

Ý thức rằng hạnh phúc chân thật chỉ thật sự có mặt khi nào các yếu tố an ổn, vững chãi, thảnh thơi và từ bi có mặt, con nguyện không tích lũy tiền bạc và của cải trong khi nhiều người đang đói khổ thiếu thốn, không đặt danh vọng, quyền hành, giàu sang và sự hưởng thụ dục lạc làm mục tiêu của đời mình vì con biết những thứ ấy sẽ đem lại cho con nhiều khổ đau và tuyệt vọng. Con nguyện thực tập nhìn sâu vào cách con nuôi dưỡng thân tâm bằng bốn loại thực phẩm: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Con nguyện không chơi bài bạc, không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy và bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, trò chơi điện tử, phim ảnh, các chương trình truyền thanh, truyền hình, sách báo và cả chuyện trò, vì con biết rằng những thứ ấy có thể gây tàn hại trên thân tâm con cũng như trên thân tâm của cộng đồng. Con nguyện thực tập tiêu thụ như thế nào để nuôi dưỡng được lòng từ bi, sự lành mạnh và niềm vui sống cho thân tâm con cũng như cho gia đình, xã hội và cả cho trái đất.

Đó là Giới Thứ Năm của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ sáu: Chăm sóc cơn giận

Ý thức được rằng sân hận và oán thù có tác dụng cắt đứt truyền thông giữa người với người và tạo ra nhiều khổ đau cho cả hai phía, con nguyện học hỏi phương pháp chăm sóc năng lượng sân hận và oán thù khi chúng phát khởi trên ý thức con; cũng như phương pháp nhận diện và chuyển hóa hạt giống của sân hận và oán thù trong chiều sâu tâm thức con. Con nguyện tập luyện để mỗi khi cơn giận hoặc sự bực tức phát khởi, con sẽ không nói gì và làm gì cả mà chỉ thực tập hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành để nhận diện và nhìn sâu vào bản chất của các tâm niệm sân hận và oán thù ấy. Con ý thức rằng gốc rễ của các cơn giận đó không phải ở bên ngoài con mà nằm ngay trong nhận thức sai lầm của con và nơi sự thiếu hiểu biết về khổ đau của chính con và của người kia. Bằng phương pháp quán chiếu về vô thường, con sẽ có thể nhìn lại chính con và nhìn lại người mà con nghĩ đã gây nên tâm niệm sân hận và oán thù trong con bằng con mắt từ bi và nhận ra rằng mối liên hệ giữa con và người đó quý giá biết nhường nào. Con cũng nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để nuôi dưỡng khả năng hiểu biết và thương yêu, khả năng chế tác niềm vui và lòng bao dung, không kỳ thị trong con. Nhờ đó, con sẽ dần dần chuyển hóa những bạo động, hận thù, sợ hãi trong con và giúp cho những người khác cũng làm được như vậy.

Đó là Giới Thứ Sáu của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ bảy: Hiện pháp lạc trú

Ý thức được rằng sự sống chỉ có thể thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, con nguyện tập luyện để có thể sống sâu sắc từng giây phút trong cuộc sống hàng ngày của con. Con nguyện không để cho những hối tiếc về quá khứ, những lo lắng về tương lai và những tham dục, giận hờn và ganh tỵ đối với những gì đang xảy ra trong hiện tại lôi kéo con và làm cho con đánh mất sự sống mầu nhiệm. Con xin nguyện thực tập giáo lý hiện pháp lạc trú, sử dụng hơi thở và nụ cười chánh niệm để tiếp xúc với những gì đang diễn ra trong giây phút hiện tại và tiếp xúc với những gì mầu nhiệm, tươi mát và lành mạnh trong con và chung quanh con dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Nhờ đó, con sẽ có thể nuôi lớn những hạt giống an lành, hiểu biết và thương yêu trong con để làm động lực chuyển hóa và trị liệu trong chiều sâu tâm thức. Con ý thức rằng hạnh phúc chân thật được phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không phải từ những điều kiện bên ngoài, và con có thể sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại bằng cách nhận ra rằng con đã có quá đủ những điều kiện hạnh phúc.

Đó là Giới Thứ Bảy của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ tám: Xây dựng đoàn thể tu học chân chính và duy trì sự truyền thông

Ý thức được rằng những khó khăn trong việc truyền thông giữa người với người luôn luôn đưa tới ngăn cách và khổ đau, con nguyện thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi và nói năng bằng lời ái ngữ. Ý thức rằng một đoàn thể chân thật được xây dựng trên nền tảng không kỳ thị và hài hòa trong quan điểm, tư duy cũng như lời nói, con nguyện thực tập chia sẻ những hiểu biết và kinh nghiệm của con với những thành viên khác trong đoàn thể để cùng nhau đi đến một cái thấy chung.

Con nguyện học hạnh lắng nghe chăm chú mà không phán xét, phản ứng, không nói ra bất cứ một lời nào có thể tạo nên sự bất hòa và có thể làm tan vỡ đoàn thể. Mỗi khi có khó khăn xảy ra, con nguyện ở lại cùng tăng thân và thực tập nhìn lại chính mình cũng như nhìn lại những người khác để tìm ra tất cả những nguyên nhân và điều kiện đã tạo nên tình trạng khó khăn, trong đó có cả những tập khí của chính con. Con sẽ nhận trách nhiệm về những gì con đã nói và đã làm, những gì có thể đã góp phần tạo nên sự bất hòa và tìm cách duy trì được sự truyền thông. Con sẽ không hành xử như một nạn nhân mà sẽ cố gắng hết sức để giải quyết mọi vụ bất hòa, dù lớn dù nhỏ.

Đó là Giới Thứ Tám của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ chín: Ngôn ngữ chân thật và từ ái

Ý thức được rằng lời nói có thể tạo ra khổ đau hay hạnh phúc, con xin nguyện thực tập sử dụng lời nói chân thật, từ ái và có tính xây dựng. Con chỉ sử dụng những lời nói nào có thể mang lại niềm tự tin, an vui và hy vọng, những lời chân thật có tác dụng hòa giải và mang lại an lạc cho tự thân con cũng như giữa mọi người với nhau. Con nguyện thực tập ái ngữ và lắng nghe để giúp con và những người khác chuyển hóa khổ đau và tìm ra con đường vượt thoát tình trạng khó khăn đó. Con nguyện không nói dối để mưu cầu tài lợi và sự kính phục, không nói những lời gây chia rẽ và căm thù. Con xin nguyện bảo vệ hạnh phúc và sự hòa hợp của tăng thân bằng cách tránh nói lỗi của người khác khi họ vắng mặt và luôn đặt câu hỏi về tính chính xác của những tri giác mà con đang có. Con nguyện chỉ nói với mục đích muốn hiểu rõ và giúp chuyển hóa tình trạng. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không phê bình và lên án những gì con không biết rõ. Con nguyện can đảm nói ra sự thật về những tình trạng bất công, dù hành động này có thể gây khó khăn cho con hay mang lại những đe dọa cho sự an thân của mình.

Đó là Giới Thứ Chín của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ mười: Bảo vệ và nuôi dưỡng tăng thân

Ý thức rằng mục đích và bản chất của một đoàn thể tu học là sự thực hiện tuệ giác và từ bi, con nguyện sẽ không bao giờ lợi dụng đạo Bụt và các đoàn thể giáo hội vào mục tiêu lợi dưỡng hoặc quyền bính, không biến các giáo đoàn thành những tổ chức hoạt động chính trị. Tuy nhiên, con nhận thức rằng một đoàn thể tu học phải có ý thức và thái độ rõ rệt về tình trạng áp bức, bất công xã hội, và tìm cách chuyển đổi các tình trạng ấy mà không cần và không nên dấn thân vào những cuộc tranh chấp phe phái. Con nguyện học nhìn với con mắt tương tức để thấy con và những người khác đều là những tế bào của cùng một tăng thân. Một khi đã là một tế bào thật sự của tăng thân, có khả năng chế tác ra Niệm, Định và Tuệ để nuôi dưỡng chính mình và nuôi dưỡng toàn thể tăng thân thì mỗi người trong chúng con cũng đồng thời là một tế bào của Phật thân. Chúng con nguyện tích cực xây dựng tình huynh đệ, đi với nhau như một dòng sông và thực tập để làm lớn thêm ba đức là trí đức, ân đức và đoạn đức, để thực hiện được sự nghiệp giác ngộ tập thể.

Đó là Giới Thứ Mười của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ mười một: Chánh mạng

Ý thức rằng thiên nhiên và xã hội con người đã bị tàn phá trầm trọng vì bất công và bạo động, con nguyện không sinh sống bằng những nghề nghiệp có thể gây tàn hại cho con người và thiên nhiên. Con sẽ làm mọi cách có thể để chọn những phương tiện sống nào có khả năng góp phần vào sự an lành của mọi loài trên trái đất và có khả năng cho phép con thực hiện được lý tưởng từ bi và cứu khổ của đạo Bụt. Ý thức được về hiện thực của thế giới trên các mặt kinh tế, chính trị và xã hội, cũng như mối tương quan giữa con người với môi trường sinh thái, con nguyện hành xử một cách có trách nhiệm với tư cách một người tiêu thụ và một công dân. Con nguyện không đầu tư vào hay mua sắm những sản phẩm của những doanh nghiệp chuyên làm lợi cho một nhóm người trong khi tước đoạt môi trường và cơ hội sinh sống của những nhóm người khác.

Đó là Giới Thứ Mười Một của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ mười hai: Tôn trọng sự sống

Ý thức được những khổ đau do chiến tranh và các cuộc xung đột tạo ra, con nguyện thực tập sống đời sống hàng ngày của con theo tinh thần bất hại, thương yêu và theo tuệ giác tương tức. Con nguyện góp phần vào công việc giáo dục hòa bình, làm môi giới trong chánh niệm và thực tập hòa giải trong phạm vi gia đình, cộng đồng, giữa những nhóm dân tộc và tôn giáo, quốc gia và quốc tế. Con nguyện không giết hại sinh mạng, không tán thành sự chém giết. Con nguyện sẽ không yểm trợ bất cứ một hành vi giết chóc nào trên thế giới, trong tư tưởng hoặc trong cách sống hàng ngày của con. Con cũng sẽ thường xuyên quán chiếu với tăng thân con để tìm ra những biện pháp hữu hiệu nhằm bảo vệ sinh mạng, ngăn chặn chiến tranh và xây dựng hòa bình.

Đó là Giới Thứ Mười Hai của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ mười ba: Tôn trọng quyền tư hữu

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp và bất công xã hội gây ra, con xin nguyện nuôi dưỡng lòng từ bi trong cách suy nghĩ, nói năng và hành động của con. Con xin học theo hạnh đại từ để đem niềm vui sống và an lạc cho mọi người và mọi loài, để chia sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ đang thật sự thiếu thốn. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện tôn trọng quyền tư hữu của kẻ khác, nhưng cũng nguyện ngăn ngừa kẻ khác không cho họ tích trữ và làm giàu một cách bất lương trên sự đau khổ của con người và của muôn loại.

Đó là Giới Thứ Mười Ba của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

Giới thứ mười bốn: Tình thương đích thực

(Dành cho Tiếp Hiện Tại Gia)

Ý thức được rằng tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau, rằng sự phối hợp giữa hai cơ thể do thúc đẩy của tình dục không những đã không thể giải tỏa được nỗi cô đơn mà còn tạo thêm nhiều khổ đau, chua cay và xa cách, con nguyện không ăn nằm với bất cứ ai không phải là vợ hay chồng của con. Ý thức được rằng thân và tâm là một, con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con và nuôi lớn các tâm Từ, Bi, Hỷ và Xả giúp làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con ý thức được rằng hành động tà dâm sẽ gây ra khổ đau cho kẻ khác và cho chính con trong hiện tại và trong tương lai. Con biết muốn bảo vệ hạnh phúc của mình và của kẻ khác thì phải biết tôn trọng những điều mà mình và kẻ khác đã cam kết. Con nguyện sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con sẽ đối xử với thân thể con một cách kính trọng và từ bi. Con nguyện thực tập nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để thực hiện lý tưởng độ đời. Con cũng ý thức trọn vẹn trách nhiệm của con về sự cho ra đời những sinh mạng mới và thường xuyên quán chiếu về môi trường sinh hoạt trong tương lai của những sinh mạng này.

(Dành cho Tiếp Hiện Xuất Gia)

Ý thức được rằng lý tưởng xuất gia chỉ có thể thực hiện được với sự cắt bỏ hoàn toàn những ràng buộc đối với ái dục, con nguyện giữ mình thật tinh khiết, tự bảo vệ nếp sống phạm hạnh của con và hết lòng bảo vệ tiết hạnh của kẻ khác. Con biết cô đơn và khổ đau không thể nào được giải tỏa bằng dục tình mà chỉ có thể được chuyển hóa bằng sự thực tập Từ, Bi, Hỷ và Xả. Con biết hành động dâm dục sẽ làm tan vỡ cuộc đời xuất gia của con, làm hại đến cuộc đời của kẻ khác và không cho con thực hiện được lý tưởng cứu độ chúng sanh của mình. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con. Con nguyện không ép uổng thân thể con, không đối xử với thân thể con một cách bạo động và khinh xuất, không xem thân thể chỉ như là một dụng cụ. Con nguyện bảo trọng thân thể con, nguyện thực tập nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm và thường xuyên học hỏi bảo tồn tinh, khí và thần để đi tới trên đường thành tựu đạo nghiệp.

Đó là Giới Thứ Mười Bốn của dòng tu Tiếp Hiện. Quý vị có phát nguyện tiếp nhận, học hỏi và hành trì giới đó hay không? ("dạ có", chuông)

 

Giới tử! Quý vị vừa tiếp nhận Mười Bốn Giới Tiếp Hiện.

Quý vị vừa đặt chân bước được bước đầu tiên trên con đường chí hướng của các bậc Bồ Tát, con đường đại trí của Bồ Tát Văn Thù (Manjusri), phá tan mọi lầm lạc, cố chấp, mọi giới hạn của nhận thức; con đường đại bi của Bồ Tát Quan Thế Âm (Avalokitesvara), thương yêu và tôn trọng sự sống của mọi loài, lắng nghe tiếng kêu thương gần xa của mọi loài để ân cần tìm tới; con đường đại hạnh của Bồ Tát Phổ Hiền (Samantabhadra), không từ nan bất cứ một cơ hội nào để bồi đắp sự thương yêu, đoàn kết và xây dựng sự hiểu biết của nhân loại.

Đại chúng đem hết lòng thành hộ niệm cho quý vị trong giờ phút hiện tại cũng như trong tương lai. Chư Bụt và chư vị Bồ Tát cũng sẽ có mặt trong bước đường hành đạo của quý vị. Nghe chuông, xin đứng dậy và lạy xuống ba lạy để tỏ lòng tôn kính Tam Bảo.

Xin đại chúng nhất tâm niệm Bụt gia hộ cho giới thể của các giới tử được dũng liệt và bất hoại.

11. Niệm Bụt (mỗi danh hiệu ba lần)

Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Manjusri (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Samantabhadra (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Avalokiteśvara (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Ksitigarbha (CC).

12. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)
Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)
Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

13. Hồi Hướng

Truyền thọ giới thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)
Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)