Hãy tin ở chính mình

Ban Biên Tập phỏng vấn thầy Pháp Lâm

vườn ươm

 

Trung tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan còn có tên là Vườn Ươm, vì sao có tên là Vườn Ươm thưa thầy?

Chữ Vườn Ươm mang cho ta một hình ảnh là nơi đó người ta gieo những hạt giống, chăm sóc, bảo vệ cho đến khi cây mọc đủ sức thì đem trồng. Khi gieo trồng trong vườn ươm người ta làm cho những đặc tính của chủng loại cây đó được phát triển mạnh nhất và chất lượng nhất. Tu viện Vườn Ươm cũng vậy, có những người trẻ, có lý tưởng, có hạt giống bồ đề rất lớn, nhưng cần chăm sóc một chút cho đủ cành đủ lá thì mới đem trồng nơi khác.

Nơi khác là đâu thưa thầy?

Nơi khác là nơi này, là tu viện Vườn Ươm hay ở nơi cần “cây bồ đề”, đó là nơi cần một hướng đi, cần tình huynh đệ, cần hạnh phúc và cần chuyển hóa khổ đau.

Quý thầy, quý sư cô ở Thái Lan đã đi vào “nhà tình thương”, tên gọi dễ thương của một nhà tù dành cho các em dưới 18 tuổi để hướng dẫn tu học. Các em là nạn nhân của những gia đình tan vỡ, của một xã hội đang chạy theo tiêu thụ. Vì cha mẹ không quan tâm, vì đua đòi với bạn bè mà họ bán thân, buôn thuốc phiện, tham gia băng đảng… Pháp Lâm nhớ  trong một khóa tu có nhiều em đã khóc trong những buổi pháp đàm và làm mới. Trong họ có những vết thương và nhờ tham dự khóa tu, họ hiểu và tha thứ được cho cha mẹ họ và  bản thân họ, có người còn nói là sau khi ra tù sẽ tới ở Tu viện.

Các thầy cô cũng đi vào các trường Đại học để chia sẻ với sinh viên. Sinh viên cũng bị nhiều áp lực, căng thẳng, sợ hãi và không biết hướng đi. Trong một buổi vấn đáp có một em sinh viên hỏi: “Con có một người bạn, bạn ấy đang rất khổ, bạn ấy không biết mình sống để làm gì và có nhiều lúc muốn chết.” Hay có người hỏi: “Cha mẹ bắt con học ngành mà con không thích, nên đi học chán lắm, con phải làm sao?” Đó là những nơi cần Vườn Ươm.

Như vậy thì rộng quá, nơi nào mà không cần tình huynh đệ, cần hạnh phúc. Vậy Tu viện Vườn Ươm có mặt từ khi nào và với nhân duyên nào mà Vườn Ươm được biểu hiện thưa thầy?

À, có từ “từ ấy”. Từ ấy là khoảng 40 năm trước Sư Ông đã đến Thái Lan. Anh em cũng có tới đó thăm, đó là một ngôi chùa trên núi ở Chiang Mai, phía Bắc Thái Lan. Bây giờ chỉ còn cái nền cốc ngày xưa thôi. Phía trước cốc là dòng suối đá, gọi là suối đá vì dòng nước chảy trên đá chứ không chảy trên đất. Phía sau cốc là rừng. Từ chánh điện mà xuống cốc thì phải đi trong rừng khoảng 15 phút. Chắc đó cũng là nhân duyên có tu viện Vườn Ươm bây giờ.

T Pháp LâmTừ ấy, Thái Lan là một nước Phật giáo theo truyền thống Nam tông. Và với những hình thái thực tập “hơi già” nên chưa đáp ứng đủ với những khổ đau, mong mỏi của người trẻ trong xã hội hiện tại nên tu viện Vườn Ươm có mặt.

Từ ấy cũng là sư cô Linh Nghiêm, một người trẻ Thái Lan, xuất thân từ một gia đình thượng lưu ở Thái đến xuất gia tại Làng Mai. Sư cô thấy pháp môn này hay quá và cứ mỗi lần về thăm nhà cô rủ thêm quý thầy, quý sư cô về cùng, vừa làm đệ tứ thân, đệ ngũ thân vừa tổ chức những khóa tu cho cư sĩ Thái. Và có một ước muốn có một trung tâm thực tập theo pháp môn Làng Mai.

Từ ấy cũng có thể là do chư Tổ sắp đặt. Mười ngày trước khi tăng thân bị đuổi khỏi Bát Nhã (27.09.2009) có 4 thầy và 6 sư cô qua mở trung tâm tại Thái. Nhưng cũng chưa có đất có chùa gì cả, quý thầy ở tạm nhà nghỉ dưỡng của cha mẹ sư cô Linh Nghiêm, còn quý sư cô thì ở tạm nhà bạn mẹ sư cô Linh Nghiêm cách đó 3km. Nơi này sau đó đón cả 200 quý thầy cô từ Bát Nhã qua. Con người Thái và đất nước Thái đã mở lòng đón tăng thân. Tu viện Vườn Ươm có từ từ ấy là vậy.

Chắc là nhà mẹ sư cô Linh Nghiêm lớn lắm mới chứa được từng đó người phải không thầy? Xin thầy chia sẻ về những ngày đầu tăng thân sống ở Thái?

Nếu mà Pháp Lâm viết văn giỏi thì chuyện của những ngày ấy viết chắc cũng vài cuốn sách. Đây chỉ kể sơ thôi.

Pháp Lâm nhớ, khi “đã về, đã tới”, (tới nơi ở tại Thái rồi) có thầy đã hỏi: “Ngày mai mình đi tiếp phải không?” Vì thầy thấy chỗ ở cho cả trăm thầy mà chỉ có một ngôi nhà nhỏ với hai phòng, một toilet, không bếp… và một cái lều xanh. Không khí trong cái lều xanh ban ngày là lò nướng, ban đêm là tủ lạnh nên anh em bệnh rất nhiều. Sống như vậy khoảng 4 tháng thì anh em quyết định dựng thêm nhà tranh. Sau này mình biết có thêm hai thiền đường bằng tranh là thiền đường Tình Huynh Đệ và thiền đường Trời Phương Ngoại, nhưng trước đó thiền đường có tên là “hội ngàn đinh”. Thiền đường này là một cái lều lớn, sàn được lót bằng những cái chõng tre. Lâu ngày những cây đinh từ cái chõng tre nhú ra và làm rách những cái quần không thương tiếc. Những buổi trưa tháng Tư, mùa nóng nhất ở Thái Lan, anh em thường ra gốc xoài để ngủ, thầy Pháp Sĩ thường nằm dưới mái hiên làm nhà ăn lợp bằng lá dừa để ngủ, dưới chõng tre thầy không quên để một thau nước cho đỡ nóng. Vậy mà những lớp học dưới vườn xoài, những khóa tu ở nhà hay ở ngoài, những buổi ngồi thiền, thiền hành hay những trận đá bóng đã không thiếu. Tiếng cười, tiếng đàn, tiếng hát, tiếng huynh đệ đã giúp anh em vượt qua những khó khăn.

Sau này, những vị cư sĩ Thái thấy thương quý thầy quá nên đã cùng nhau mua đất và xây chùa để có nơi ổn định cho quý thầy ở và tu học. Bây giờ chỉ mới xây được cư xá cho quý thầy và quý sư cô ở thôi. Còn thiền đường, nhà ăn, nhà bếp, nhà cư sĩ cũng chưa đủ điều kiện xây được. Nhưng nhìn chung là sự tu học cũng đã bắt đầu ổn định.

Cái gì ấn tượng nhất đối với thầy khi thầy sống ở Thái?

Buổi khất thực tại Thái LanTìm cái nhất thì khó lắm, vì mỗi sự kiện, mỗi giây phút đã qua khi sống ở Thái đều quý hết nên chỉ kể cái ấn tượng nhì thôi. Cái ấn tượng nhì là được đi khất thực. Pháp Lâm có đọc kinh, có đọc sách Đường Xưa Mây Trắng, có nghe kể về giáo đoàn ngày xưa của Bụt mỗi sáng sớm đi từng hàng vào thôn xóm khất thực. Khi qua Thái, Pháp Lâm đã chứng nghiệm được cảm giác này, cảm giác của người khất sĩ thực tập hạnh xin ăn. Từ sáng sớm quý thầy quý, sư cô tập trung lại, được chỉ dạy cách ôm bình bát rồi chia thành từng nhóm nhỏ, mỗi nhóm có 10 thầy và 10 sư cô. Đi mỗi nhóm ít vậy là vì khi quý cư sĩ cúng dường, ai cũng muốn cúng cho tất cả quý thầy, quý sư cô, đi nhiều quá người ta không đủ đồ cúng dường tội nghiệp. Khi mặt trời chưa lên, đường còn vắng xe cộ, không khí yên lặng và trang nghiêm, từng nhóm quý thầy, quý sư cô bước thảnh thơi đi vào thôn xóm. Từ xa đã thấy cả gia đình các thí chủ với đồ cúng dường đã chuẩn bị đứng trước nhà. Khi quý thầy quý, sư cô đi tới, họ bỏ giày dép ra, đi chân đất, dù trời lạnh hay mưa ướt, để thể hiện lòng tôn kính Tam Bảo, dâng đồ cúng dường đến từng thầy, từng sư cô rồi cả gia đình đứng gần nhau và lạy xuống trước quý thầy, quý sư cô. Sau đó họ quỳ xuống chắp tay đợi quý, thầy quý sư cô chúc phúc và tụng kinh. Đứng trong khung cảnh đó ai là người cho, ai là người nhận hay tất cả đều quyện vào nhau? Người cho thì: Trong thể tính chân như, không chủ thể đối tượng, đệ tử cúng dường người, trong thương cảm nhiệm mầu… Còn người nhận thì: Trong thể tính chân như, không chủ thể đối tượng, đệ tử nhận cúng dường…

Được làm người xuất sĩ, được đi khất thực là một hạnh phúc lớn. Hạnh phúc của cái thấy nương tựa lẫn nhau để hiện hữu giữa cuộc đời. Hạnh phúc vì những bước chân an bình mỗi sớm mai.

Ở Thái vui quá thầy ha. Tăng thân mình ngày nào cũng đi ra thôn xóm khất thực phải không thưa thầy?

Không, chỉ đi hai tuần một lần thôi.

Nghe nói người Thái ăn cay lắm, quý thầy, quý sư cô ở đó có quen ăn thức ăn cay không?

Vì là Vườn Ươm nên quý thầy, quý sư cô ở đó tuổi rất trẻ, tuổi dưới 25 là hơn 70% chúng nên ăn mạnh lắm, còn thiếu ăn nữa đó chứ (cười). Những ngày đầu vì theo văn hóa Thái thì quý thầy không được đi chợ nên người cư sĩ cúng dường, sau đó những người bán hàng rong chở tới cho mình nên có gì thì mình ăn đó, có tuần chỉ ăn một món giống nhau. Lúc đó nếu đi muộn hoặc xếp hàng sau thì có khi không có gì ăn hay ăn cơm với xì dầu thôi. Nên cái tâm lý sợ đói, sợ không có gì ăn thúc đẩy “lòng” mấy người trẻ xếp hàng trước khi chuông thỉnh hoặc nghe chuông thỉnh thì đi liền. Có vị nhận diện được cái tâm “sợ đói” đó đã nói: “Nếu vì cái tâm sợ đói mà đi trước thà ở nhà còn hơn.” Có lẽ cái tâm tàm quý của vị đó thấy rằng bị cái sợ trói buộc thì không ăn còn hơn. Và sau đó vì anh em thương nhau, có gì ngon mà mình đi trước thì lấy ít lại một chút cho người đến sau. Cũng may là người tu nên có món ăn khác là Pháp. Đầu tiên là học Pháp. Pháp là lời dạy của Bụt có khả năng dập tắt phiền não, có khả năng dẫn đạo đi lên… Tại Vườn Ươm có rất nhiều lớp học về Phật pháp như lớp Trái Tim Của Bụt học về Tứ Diệu Đế, Tứ Vô Lượng Tâm, lớp Duy Biểu Học học về cách vận hành của tâm, lớp Công Phu Nở Đóa Sen Ngàn Cánh học về các Kinh Nhật Tụng, còn các lớp uy nghi, giới luật, xây dựng tăng thân… học rất vui. Cứ khoảng hai tuần là có ôn tập và kiểm tra, kiểm tra bằng cách viết bài luận hay trắc nghiệm, trả lời câu hỏi hoặc kiểm tra bằng trò chơi. Kiểm tra là để trình bày cái hiểu của mình về pháp môn hay về kinh nghiệm thực tập của mình chứ không phải lấy điểm hay thi lên lớp. Có người học xong khóa học không chịu lên lớp còn xin ở lại nữa. Quý vị khi gặp quý thầy, quý sư cô ở tu viện Vườn Ươm mà hỏi học có vui không? Thì chắc ai cũng nói “vui lắm” cho xem.

Làm sao để mình duy trì được cảm hứng học một cách lâu dài thưa thầy?

Như đã nói trên, khi học đã vui rồi, mà áp dụng lời Pháp vào sự thực tập nữa thì niềm vui có được rất lớn, gấp cả chục lần, giống như mũi tên thứ hai vậy. Mũi tên thứ nhất là hạnh phúc khi học Pháp, mũi tên thứ hai là thực tập Pháp. Anh em cũng thường nhắc nhau học là thực tập chứ không phải chất chứa kiến thức nên dù là học lớp nào mọi người cũng được học về cách chuyển hóa những nội kết, những khổ đau trong lòng và làm lớn lên hạnh phúc. Trong môi trường tu viện, huynh đệ có cơ hội áp dụng những điều mình học trên lớp vào đời sống. Khi có những khóa tu, mình đem những gì mình đã học và thực tập được ra hướng dẫn cho thiền sinh. Mình giúp họ và thấy họ thực tập có hạnh phúc, bớt căng thẳng, cha con truyền thông lại với nhau, thấy những cảnh đó ai cũng được nuôi dưỡng và tự nhiên nguồn cảm hứng học và thực tập được nâng cao. Tu viện Vườn Ươm cũng đang soạn giáo trình “Thạc sĩ Phật Học Ứng Dụng” để vào dạy tại Trường đại học Phật giáo Mahachualongkorn.

Điều thứ hai là tu viện Vườn Ươm đã cố gắng duy trì chương trình học ổn định trong năm, không để bị ngắt đoạn nhiều. Các lớp học được phân chia theo từng độ tuổi (đời và đạo) để giúp cho mọi người có thể hiểu được. Ví dụ như các em tập sự, các em mới xuất gia hoặc các sư anh sư chị dưới 18 tuổi thì học lớp Trái Tim Của Bụt. Còn các vị từ Cây Lê, Trầm Hương, Hướng Dương trở lên thì học lớp Duy Biểu. Mỗi lớp đều có các vị giáo thọ chăm sóc. Nhưng cũng có những lớp thì người lớn cũng như người nhỏ học chung, ví dụ như nghe pháp thoại của Sư Ông mùa Đông này. Đa số là học chung với nhau nên khi học mình chế tác được tình huynh đệ, tình huynh đệ giống như giải thoát, chứng ngộ… là hoa trái của sự thực tập và cũng là vốn liếng giúp cho sự thực tập thành công. Đó cũng là thức ăn mà cũng là nguồn cảm hứng trong việc học.

Đầu tháng Ba năm nay sẽ bắt đầu chương trình 7 năm. Đó là chương trình 4 năm của Sư Ông. Ban Giáo thọ Thái Lan đã phân chia các môn học theo từng tiết học, từng học kỳ, theo tuổi cho rõ hơn. Quý vị có muốn tham dự thì xin về Thái.

Vâng, cảm ơn thầy. Vấn đề ngôn ngữ và văn hóa khi quý thầy, quý sư cô ở Thái Lan thì như thế nào thưa thầy?

Lúc đầu khi mới từ Việt Nam qua thì miệng chỉ dùng để tặng nụ cười thôi, còn nói là bằng tay. Nhờ tình thương và sự cảm thông của người Thái mà những khó khăn cũng dần qua đi. Bây giờ sau ba năm mình cũng như em bé 3 tuổi, bắt đầu bập bẹ biết nói, biết hát và hướng dẫn tổng quát cũng như thiền buông thư và pháp đàm bằng tiếng Thái rồi. Sáng nào cũng có lớp tiếng Anh và tiếng Thái. Chỉ có Pháp Lâm là lười thôi.

Còn văn hóa thì cũng có khác biệt, như quý thầy không được đi chợ, khi người nữ đưa gì thì quý thầy không được nhận trực tiếp từ tay sang tay mà phải để trên bàn hay trên khay… và cuối cùng có một cách giúp mình hòa nhập, thích ứng, học hỏi và hành động khế cơ là “văn hóa chánh niệm”, có chánh niệm thì làm cái gì cũng đẹp.

Cho chúng con hỏi tiếp là Thái Lan đang có những bất ổn về chính trị, thầy nghĩ Tu viện Vườn Ươm có thể giúp được gì?

Không chỉ có Thái Lan bất ổn mà khắp nơi đều bất ổn. Mọi người cần một nơi để trở về và cần một cách thức nào đó làm cho những bất ổn trong họ lắng dịu.

Ta và vũ trụ có sự liên hệ tương tức với nhau. Ta làm gì cũng đều ảnh hưởng đến vũ trụ. Trong một đất nước đang có những bạo động, bất an mà có một tăng thân có khoảng 160 người thực tập, biết chế tác hỷ lạc, bình an thì tự thân sự thực tập đó đã giúp đỡ người Thái Lan rồi.

Pháp Lâm biết trong những ngày xảy ra bạo động đó, tại Tu viện Vườn Ươm có khóa tu cho khoảng 100 người trẻ Wake Up Thái với chủ đề “Để Có Một Tương Lai.” Trong khóa tu quý thầy, quý sư cô đã hướng dẫn cho người trẻ có “một tương lai” những điều như: Bước cho thảnh thơi, ngồi cho tự do, nằm cho buông thư, đứng cho vững chãi, ăn cho hạnh phúc v.v… Cá nhân một người có tương lai thì đất nước người đó mới có tương lai. Mong là mọi người thấy được ngọn nến trong cơn bão mà làm cho nó thành bếp lửa để mọi người cùng đến ngồi lại với nhau như một gia đình quanh bếp lửa.

Thầy là người tu trẻ, thầy thấy những thói quen hay sở thích nào làm chướng ngại đường tu và khó buông bỏ?

Tu viện Vườn Uơm nằm bên mé rừng nên muỗi nhiều lắm, đi thiền hành muỗi cũng “thiền bay” theo. Những buổi ngồi thiền thì khỏi nói, muỗi chích đỏ cả tay và mặt mình. Có lúc những suy nghĩ “cái bọn muỗi đáng ghét, không có bọn ngươi thì ngồi thiền hạnh phúc biết mấy”, thế là có thêm khổ thọ vì bực bội, một loại muỗi mới vo ve trong thân tâm. Muỗi thì vô số, sinh sản rất nhanh, nếu mà cứ ngồi đòi hỏi đừng có muỗi thì 4 tháng ngồi thiền sẽ không bao giờ có hạnh phúc. Nên cách hay nhất là tìm dầu thoa cho bớt muỗi và ngồi đó dùng tâm chánh niệm theo dõi cảm thọ khi nghe tiếng muỗi, cảm giác khi muỗi đậu trên da rồi cảm giác muỗi dò kim và cảm giác ngưa ngứa khi kim chích vào da. Ta nói thầm “vì muỗi có đó nên ta có đây.” Thế là từ cảm giác khó chịu ta lại có cảm giác vui vui. Và nếu lên tầng hai nhà ăn ở tu viện Vườn Ươm vào mùa mưa thì thích lắm, có gió hiu hiu mát mát, nhìn xuống thì một màu xanh của cỏ, anh chị em thích chụp hình với cỏ đuôi chồn vì cỏ rất đẹp. Nhìn xa một chút thì núi KhaoYai với mây bao phủ trông rất đẹp. Vào mùa nắng cỏ chuyển sang màu vàng. Mùa này nắng nóng nên khi giặt đồ và phơi chỉ khoảng 1 giờ là khô. Để ngủ trưa, có người phải đặt thau nước dưới giường cho đỡ nóng. Ngồi thiền mồ hôi chảy ướt cả áo. Có người ước: “Bây giờ có tuyết rơi thì hay biết mấy”, có người vừa cầm quạt vừa than: “Nóng quá, nóng quá! Có máy lạnh thì sướng biết mấy.” Ước hay than như vậy nhưng ai cũng biết nên ở yên, ít vận động cho đỡ nóng. Có người còn biết theo dõi cảm thọ của mình khi những dòng mồ hôi chảy trong lúc ngồi thiền, không than thở để khỏi bị lò lửa bực bội đốt từ bên trong. Nên dù nóng anh em vẫn vui được. Nên cái mà Pháp Lâm thấy khó bỏ và chướng ngại cho hạnh phúc của mình là ý niệm về hạnh phúc. Cái ý niệm hạnh phúc thúc đẩy mình theo đuổi một cái gì đó và càng theo đuổi thì mình càng xa bờ hạnh phúc, từ từ nó cũng thành tập khí tìm hạnh phúc, trong khi hạnh phúc có thể có ngay bây giờ. Nếu biết dưới chân là Tịnh độ, dừng lại đã lâu rồi!

Thầy là một tu sĩ trẻ năng động, sáng tạo mang đầy nhiệt huyết của ngọn lửa Bồ đề tâm. Thầy không chỉ hướng dẫn tu học mà thầy còn chơi rất giỏi, truyền thông rất tốt với các sư em trẻ tuổi. Thầy muốn nhắn nhủ gì với các sư em trẻ không?

Sư Ông rất tin tưởng vào người trẻ, vậy chúng ta là những người trẻ thì hãy tin vào chính mình.

Lắng nghe tiếng nói chính mình

Nhân ngày xuất gia của cây Linden (cây Đoàn) tại chùa Pháp Vân, xóm Thượng, BBT Lá Thư Làng Mai đã có một cuộc trao đổi thân tình với các thành viên được xuất gia tại Làng Mai. Các cây Linden còn lại thì xuất gia trực tuyến tại thiền đường Trời Phương Ngoại, Thái Lan.

cây Linden (cây Đoàn)

Sư chú Trời Bằng Hữu

Ở độ tuổi còn rất trẻ, sư chú đã tiếp xúc được với pháp môn như thế nào?

Tên con là Nhật Nam, mùa Hè này con vừa tròn 18 tuổi. Pháp danh của con là Chân Trời Bằng Hữu. Ngày hôm nay con vừa được xuất gia và con thích cái tên này lắm vì con thấy nó hợp với con. Con lúc nào cũng trân quý tình thương và tình bạn nên đây là một cái tên rất đúng cho con. Con được biết đến Thầy và Làng Mai khi còn nhỏ nhờ thầy Pháp Niệm, thầy Pháp Duệ và gia đình của hai thầy. Con hay đến nhà thầy Pháp Duệ, thường là vào buổi tối, đó cũng là nơi tăng thân thực tập chung với nhau. Lúc ấy con còn nhỏ nên con không thích những buổi đó lắm, bởi vì nó dài lê thê. Mấy người anh em họ của con lúc đó cũng không thích tham gia.

Lớn lên, con không có chút hứng thú nào về đạo Bụt hoặc về Làng Mai hết. Nhưng rồi cũng phải tới một lứa tuổi mà con cần nhìn mọi sự khác đi một chút. Đối với con, điều quan trọng không phải là việc mình làm trong đời mà là chất lượng của cuộc sống. Chất lượng của cuộc sống có nghĩa là mình sống như thế nào và sống ở đâu. Con nhớ hồi con còn nhỏ, lâu lâu con đến Bích Nham gặp các thầy, các sư cô. Con hay thắc mắc: “Chà, không biết làm thế nào mà các thầy, các sư cô hạnh phúc đến thế?” Họ sống đơn giản lắm. Con nhớ có một lần khi vào khu tăng xá của quý thầy, con thấy rất nhiều thầy sống chung trong một phòng. Thật là một cú sốc cho con.

Lần đầu tiên con gặp Thầy vào năm 2007, trong chuyến hoằng pháp tại Bích Nham. Khi đó con đâu hiểu gì về những lời dạy của Thầy. Lần đó ba mẹ con ở lại Bích Nham không lâu nên không đăng ký cho con tham gia chương trình dành cho trẻ em, vì vậy con bị ngồi trong thiền đường để nghe pháp thoại. Con chẳng hiểu gì hết. Sau đó, con có cơ hội nói chuyện với thầy Pháp Chiếu. Thầy kể là thầy đã lớn lên trong lòng tăng thân như thế nào, những bước mà thầy đã đi qua để trở thành như hôm nay, bởi thầy cũng xuất gia lúc tuổi còn rất trẻ.

Tuần đó ở Bích Nham có lễ tụng Năm giới. Thầy Pháp Chiếu bảo rằng Năm giới là con đường dẫn đến hạnh phúc. Con đọc giới bản và tự nhủ: “Đúng rồi! Cái này rất đặc biệt.” Lần ấy, con thọ Năm giới nhưng không thật sự áp dụng Năm giới vào sự thực tập, mãi đến khi con sang Làng Mai con mới áp dụng. Trước đó con không biết mình muốn làm gì, con không lấy đó làm phiền nhưng ba mẹ con thì lại thấy phiền.

Khi đi học, vì tuổi còn trẻ nên con đã bị buộc phải quyết định cái mình muốn làm, con thấy mình bị kẹt cứng. Con phải quyết định thật nhanh vì đó là năm cuối của Trung học. Suốt những năm Trung học, con cứ đậu vài môn, rớt vài môn và năm sau phải học lại các môn đã rớt. Cho đến một lúc, con bỗng giật mình: “Mình đang làm gì vậy?” Con thấy mình đang tự làm khổ mình một cách không cần thiết. Trong thời gian đó có rất nhiều việc xảy ra. Chúng con vừa thắng giải bóng đá giữa các trường Trung học. Cả nhóm bạn bè con cùng kéo nhau đi tiệc tùng để ăn mừng. Sau khi ra về, con cảm thấy thật ghê sợ. Con không bao giờ muốn tham gia những cái đó nữa. Chỉ nội trong tuần đó, con đã thay đổi rất nhiều bởi con không muốn giống như tụi bạn nữa. Con không muốn nói năng, hành xử như xưa nữa.

Thấy con thay đổi như thế, mấy đứa mà con nghĩ là bạn bè, tụi nó không thể chấp nhận con được nữa. Chúng nó không thể chịu nổi khi con không đi chơi và uống rượu trong đêm liên hoan trường. Từ giây phút ấy trở đi, con biết đó không phải là nơi con muốn sống. Đó không phải là cái mà con tìm kiếm. Thật tình cờ là lúc ấy thầy Pháp Niệm và thầy Pháp Duệ về nhà để làm giấy tờ, con đi tham dự một khóa tu và gặp hai thầy ở đó. Hai thầy hỏi con có muốn đi Làng Mai không? Con không thể quyết định được ngay lúc đó. Con biết đi Làng Mai rất lợi lạc nhưng đồng nghĩa với việc con phải mất mát một cái gì đó. Con phải buông bỏ một cái gì đó mà con chưa sẵn sàng.

Một tuần sau đó, hai thầy xin được chiếu khán (Visa) nên bảo con phải đi đến một quyết định. Con phải ngồi lại và viết xuống những điểm nên hay không nên của cả hai sự lựa chọn. Con thấy hạnh phúc mỗi khi đến Bích Nham gặp gỡ các thầy, các sư cô cùng các bạn thiền sinh. Vì thế con quyết định đi Làng Mai để thử xem sao. Khi con đến nơi, cái gì cũng khác. Khi ở nhà, con chỉ ở chung phòng với anh trai. Trong khi ở đây con phải ở chung với 6 người nữa, toàn là những người lớn hơn con rất nhiều, lại phải dùng chung một phòng tắm. Thật là khó nhưng con đã học cách chấp nhận. Khả năng chấp nhận này có lẽ đã được huân tập vì con là con thứ trong gia đình. Con dễ tính phần nhiều cũng nhờ vào việc mình là con giữa, cái gì anh hoặc em con không thích thì nó được truyền xuống cho con. Nơi đây chính là nơi bấy lâu con tìm kiếm.

Sư chú Trời Bằng HữuCon đã nhận được rất nhiều sự nâng đỡ từ quý thầy, quý sư cô và các bạn thiền sinh ở đây, có khi họ phải vượt ra khỏi luật lệ thông thường để giúp con. Bao giờ tình yêu cuộc sống cũng có trong con. Khi còn tập sự để xuất gia, có lần con đọc một quyển sách mà ở trang đầu có bài kệ thức dậy vào buổi sáng. Đó là bài kệ yêu thích nhất của con, nó nhắc con mỉm cười ngay khi thức dậy. Tình yêu cuộc sống và tình huynh đệ là lý do con có mặt ở đây. Nếu con lắng nghe các sư anh thì mỗi người đều có một câu chuyện tuyệt vời để kể, tất cả tùy thuộc vào cách diễn dịch của con. Chỉ cần chịu khó lắng nghe thôi, con đã hạnh phúc hơn rất nhiều rồi. Đó là cái mà con thật sự muốn làm. Bản thân con cũng thế, cũng có rất nhiều chuyện để kể. Đó là cái thấy về cuộc sống của con ở Làng ngay thời điểm hiện tại.

Sư chú là một người tu trẻ, có thể là người trẻ nhất được xuất gia tại Làng hiện nay. Khi đến Làng Mai, sư chú phải bỏ lại phía sau tất cả những trò giải trí vui thích, thí dụ như lên net để chơi game, lên facebook, tham gia các tiệc tùng v.v… Vậy thì cái gì làm sư chú vui khi là một người tu trẻ sống trong một môi trường không có những trò chơi điện tử và những kỹ thuật hiện đại?

Ở Làng Mai con thực sự không thấy khó lắm. Phần đông các thầy đều còn rất trẻ, chỉ trên độ tuổi hai mươi. Con chưa có cơ hội để hiểu rõ quý thầy lắm. Con kết nối với quý thầy chủ yếu là nhờ chơi chung với nhau, thường là chơi bóng rổ. Ở Làng, con chơi bóng rổ với các thầy trẻ như thầy Pháp Hữu và thầy Pháp Triển. Con rất vui khi phát hiện ra là quý thầy cũng giống như con, cũng thích chơi, cũng là những chú bé, chỉ khác con về trang phục, về cách đi đứng, nói năng mà thôi.

Thành ra sống ở Làng đối với con cũng khá dễ dàng. Hiện tại, con thấy phần lớn những thiền sinh sống dài hạn tại Làng đều ở độ tuổi hai mươi hoặc ba mươi. Năng lượng trẻ trung và thân thiện của các thầy, các sư cô ở đây rất dễ nhận thấy. Các thầy rất tha thứ, bao dung. Ở đây không bao giờ con bị bắt phải quỳ hương. Khi con làm điều gì không đúng, bao giờ các thầy cũng nói đó là do quý thầy và lẽ ra quý thầy phải hướng dẫn con cặn kẽ hơn.

Lúc ban đầu, mọi việc đối với con không khó khăn nhưng cũng không phải dễ dàng. Khi mới đến, con có ba cái điện thoại di động và một thiết bị đọc sách điện tử. Lúc nào con cũng bấm tin nhắn gởi đi khắp nơi. Đi đâu con cũng thủ một cái di động trong tay. Thói quen của con lúc ấy là phải có cái gì đó trong tay. Con cố thay đổi tập khí bằng cách đọc sách điện tử nên lại kè theo máy đọc sách. Dù không phải lúc nào con cũng đọc sách, nhưng lúc nào trong tay cũng phải có cái máy đó. Đó là tập khí luôn luôn phải có một cái gì đó trong tay để bấm. Khi con thân với quý thầy hơn, con cảm thấy mình không cần nó nữa. Nếu con thấy cô đơn hay cần giúp đỡ, con có 70 thầy để chuyện trò. Con không thấy có nhu cầu lên mạng để nói chuyện với bạn bè nữa. Trong khóa An cư kiết Đông 2013-2014 năm nay, việc không lên mạng đối với con không quá khó khăn. Con chỉ lên mạng để liên lạc với ba mẹ khi cần mà thôi. Thầy nói là bao giờ mình cũng có nhu yếu tìm kiếm một đường ra. Vì vậy khi không có một chọn lựa nào thì mình phải đi tìm. Con biết đủ với những gì mình đang có ở đây, con không đi tìm kiếm những gì không cần thiết nữa.

Chắc chắn là Sư Út đang tận hưởng việc mình là một Sư Út trong gia đình áo nâu. Phải tận hưởng bởi vì không biết lúc nào sẽ có lễ xuất gia kế tiếp. Cảm ơn Sư Út đã chia sẻ rất hay và sự tươi mát, thật lòng của Sư Út.

Sư chú Trời Nguyện Lực

Xin hỏi nhân duyên nào đã đưa sư chú đến với pháp môn Làng Mai?

Con 33 tuổi, tháng sau con lên 34 tuổi. Con sinh ra ở Thái Lan, một đất nước theo truyền thống đạo Bụt Nam tông. Lớn lên trong một nền văn hóa Phật giáo, con đã được học giáo lý từ hồi còn thơ ấu trong trường học. Tuy nhiên, mãi đến khi lên Đại học con mới có cơ hội nghe pháp thoại bằng tiếng Anh của một vị khất sĩ Nam tông và bắt đầu có hứng thú. Bài pháp thoại đó rất phù hợp với hoàn cảnh của con, bởi vì lúc ấy con đang có những khổ đau trong tự thân và trong gia đình.

Sau khi tốt nghiệp Đại học, con vẫn tiếp tục tìm kiếm cái mình muốn làm, tuy con bắt đầu làm việc cho một cơ quan bất vụ lợi chuyên về môi trường. Làm việc cho cơ quan bất vụ lợi này con rất thích. Có lẽ vì sẵn có hạt giống phụng sự nên khi còn ở Đại học, con đã rất tích cực làm từ thiện. Vì thích làm những việc có ích cho xã hội nên con đã tham gia biểu tình chính trị… Khi giúp người khác được hạnh phúc hơn, con cảm thấy rất mãn ý.

sư chú Nguyện LựcTrong khoảng thời gian này, con có rất nhiều khó khăn trong lòng và ở nhà nên con đã cố gắng thực tập khi có thể. Dù rất thích làm việc tại cơ quan bất vụ lợi ấy nhưng con có rất nhiều căng thẳng vì toàn bộ thời gian làm việc được dành cho các chiến dịch vận động. Con tiếp xúc thường xuyên với xung đột và bất công nên càng ngày càng có nhiều giận dữ. Con đã có cơ hội đi thăm rất nhiều nạn nhân của sự ô nhiễm môi trường, đồng thời con cũng đã có dịp nói chuyện với những kẻ đã làm môi trường ô nhiễm. Con thấy họ quá vô minh. Con thương những nạn nhân nhưng đồng thời rất giận những người đã gây ô nhiễm.

Con đã cố gắng thực tập nhưng lại không biết cách nhìn sâu để hiểu được những người gây ô nhiễm môi trường, và cái giận của con càng ngày càng lớn, thêm vào đó là sự căng thẳng trong công việc. Cơ quan con thì bảo thủ và vì bản chất công việc nên thường hay có xung đột với các cơ quan khác. Vì thế khổ đau và căng thẳng trong con càng ngày càng lớn đến một mức độ đã có những ảnh hưởng đến sức khỏe của con. Quan hệ giữa con và gia đình lại không tốt lắm trong thời điểm ấy. Con thấy trong khi mình giúp cho xã hội làm những việc tốt cho môi trường, nhưng chính gia đình mình chịu nhiều đau khổ, mình lại không có khả năng giúp họ.

Lúc ấy con chưa biết Làng Mai dù con đang thực tập Phật pháp theo cách riêng của mình. Con xin nghỉ việc và đi tu năm tháng trong một ngôi chùa Nam tông ở Thái Lan để chăm sóc tự thân. Khi đó con hay khỏa lấp cơn giận trong mình bằng công việc. Con định là trước tiên sẽ chăm sóc cho mình, kế đó là giúp đỡ gia đình rồi sau đó mới giúp cho xã hội.

Sau năm tháng làm người xuất gia, con tiếp tục học thêm về năng lượng tái tạo, một phương cách tích cực đối trị với sự thay đổi khí hậu toàn cầu. Con nghĩ con sẽ có ít mâu thuẫn hơn. Trong hai năm làm việc cho một cơ quan khác, con đã tiếp xúc với đau khổ của bạn đồng nghiệp, dù cho mọi người đang làm việc trong một lĩnh vực được cho là tích cực. Con tiếp xúc với sự ích kỷ, ganh ghét, mâu thuẫn… Con bắt đầu nhận ra rằng khổ đau thường phát sinh từ các nguyên nhân nội tại.

Trong khoảng thời gian này, con được một người bạn giới thiệu pháp môn Làng Mai qua quyển sách “Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy” của Thầy được dịch ra tiếng Thái. Đó là một quyển sách rất hay, nhưng chỉ đến khi Thầy sang Thái Lan và cho pháp thoại công cộng vào tháng 10 năm 2010 con mới có một mối liên hệ thật sự với Làng.

Âm thanh tại buổi pháp thoại công cộng ấy rất tệ, con nghe Thầy được rất ít nhưng sự có mặt của Thầy và tăng thân cùng với bài tụng danh hiệu đức Quán Thế Âm đã làm con nổi da gà khắp người. Con thấy có lẽ đây là sự bắt đầu của một cái gì đó cho tương lai của mình.

Từ đó con bắt đầu đi dự các khóa tu và các sinh hoạt khác trong chuyến hoằng pháp của Thầy ở Thái Lan và trở thành một tình nguyện viên tích cực. Cái mà con đi tìm đã được tìm thấy trong giáo lý của Làng Mai. Nó đáp ứng một cách hoàn hảo tâm nguyện giúp đời của con trong khi chưa giúp được bản thân và gia đình. Nó đáp ứng hoàn hảo đến mức con đã đến Pakchong rất nhiều lần để tu tập với tăng thân ở đó. Sau khi chấm dứt hợp đồng làm việc hai năm với cơ quan, con được tự do. Con thấy mình có hạt giống xuất sĩ nằm sâu ở bên trong. Nó chỉ chờ đủ duyên để biểu hiện. Khi con gặp sư cô Linh Nghiêm, sư cô khuyên con nên sang Làng Mai để dự khóa An cư mùa Đông 2011-2012. Mục đích đầu tiên chính của con là phải làm hòa với mẹ, kế đến là tìm hiểu xem Làng Mai như thế nào và con có thực sự muốn đi tu hay không.

Vào cuối khóa An cư kiết Đông, con đã rất chắc chắn rồi nhưng vẫn chưa làm quyết định ngay lúc ấy. Con trở về nhà trước, và tự nhiên con nhìn thấy chí nguyện của mình rất rõ ràng. Con nói cho ba mẹ biết ý định đó và hai người rất buồn lòng. Con chờ một thời gian để từ từ giới thiệu cho ba mẹ làm quen với pháp môn. Cuối cùng ba mẹ con nói dù họ không hoàn toàn ủng hộ con nhưng cũng không ngăn cản. Như vậy đã là quá tốt. Thế là con nộp đơn xin Visa để đi Làng. Tuy vậy con cũng phải chờ đến sáu tháng sau mới hoàn tất được giấy tờ.

Thái Lan là một nước có gốc rễ từ đạo Bụt Nam tông. Sáng nay trong pháp thoại Thầy nói rằng là Phật tử, chúng ta nên làm mới lại đạo Bụt để giáo lý đạo Bụt có thể phù hợp với con người ở thời hiện đại. Sư chú nghĩ thế nào về vấn đề này?

Con không muốn thiên vị Làng Mai nhưng con hoàn toàn đồng ý với Thầy, không chỉ bằng cảm tính mà bằng kinh nghiệm con đã đi qua trong các khóa tu Wake Up. Con thấy rất nhiều người trẻ đã tham gia. Họ rất thích vì chúng ta đã mang đến cho họ rất nhiều niềm vui.

Sư chú có nói là ba mẹ không hoàn toàn yểm trợ quyết định đi xuất gia của sư chú nhưng hôm nay hai vị đã cùng với một vài người bạn Thái đến dự lễ xuất gia của sư chú. Sư chú có cảm nghĩ như thế nào?

Con rất hạnh phúc bởi vì một phần nguyện ước của con là mang lại hạnh phúc thật sự cho ba mẹ. Nhìn thấy ba mẹ ở đây, thấy họ cười tươi, hạnh phúc, con vui lắm vì con nghĩ điều ấy sẽ không bao giờ có thể xảy ra. Khi Thầy đến Thái Lan, mẹ và em gái con có đi nghe pháp thoại công cộng. Dù cho mẹ con không hiểu gì hết, mấy người bạn cho con biết là họ đã gặp mẹ con và thấy bà cười rất tươi. Nghe vậy con rất mừng dù con biết rằng đó chỉ mới là bước đầu thôi. Con tin rằng điều duy nhất có thể mang lại hạnh phúc thật sự cho ba mẹ con là sự chuyển hóa của con mà không phải là sự thuyết phục bằng lời.

Sư em Trăng Diệu Viên

Điều gì làm sư em ấn tượng và bỡ ngỡ nhất từ khi em gia nhập vào gia đình áo nâu?

Có lẽ điều làm con bất ngờ nhất sau khi xuất gia là sự biến chuyển của tâm thức mình. Sau khi được xuống tóc, con thấy rất nhiều nhận thức trong con trở nên sáng tỏ ra. Con thấy mình, cũng như con đường mình đã chọn rõ hơn. Con đã luôn tìm kiếm con đường sống để có một cuộc sống ý nghĩa, an lạc và thảnh thơi. Nhờ ơn Bụt, ơn Thầy, con đã thấy đường đi.

Con còn một niềm hạnh phúc nữa, đó là vào ngày xuất gia và những ngày sau đó, con nhận được rất nhiều quà và những lời chúc mừng từ mọi người. Con nhận được bao nhiêu là niềm vui, nụ cười và cả những giọt nước mắt từ quý sư cô, sư thầy cũng như từ rất nhiều cư sĩ ở Làng hay ở tăng thân Paris nơi con sinh hoạt trước đây. Con hạnh phúc và thật sự ngỡ ngàng khi được thấy tận mắt và cảm nhận sự kiện một người xuất gia, nguyện đi theo con đường Hiểu và Thương đã có thể tạo cảm hứng, sự xúc động sâu sắc và niềm vui lớn như thế nào tới những người xung quanh. Sự nhiệm mầu của giáo pháp đã đánh thức một cách tự nhiên niềm khát vọng sâu xa hướng tới những gì đẹp và chân thật ở mỗi người. Con hiểu ra rằng bước đi trên con đường này, con đang thực hiện ước mơ của mình và cả ước mơ của nhiều người khác. Con xúc động lắm và biết rằng chỉ cần nghĩ đến điều này thôi, con sẽ có thêm nhiều động lực để vững bước.

Con tin là con sẽ có nhiều điều lí thú và có thể là cả những điều bất ngờ đang chờ con trong những ngày tới. Con mới tìm về với gia đình mình, tăng thân mình thôi mà. Tăng thân đón con vào để con hòa mình vào tăng thân. Con là một với tăng thân. Mắt con mở to, chân bước chầm chậm, lòng con hân hoan và bàn tay con đón nhận tất cả.

Sư chú Trời Linh Quang

Sư chú là một trong những người tập sự xuất gia của Tu viện Bích Nham đã may mắn được theo Thầy và tăng đoàn trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ. Xin sư chú chia sẻ một chút về kinh nghiệm đó. Nó có giúp cho sư chú thấy rõ hơn về cuộc đời phụng sự của một vị xuất sĩ hay không và cái gì đã làm cho sư chú phát nguyện đi trên con đường này?

Tên con là John Galloway. Con sinh ra và lớn lên ở Georgia, ngoại ô Augusta. Năm nay con 28 tuổi. Chuyến hoằng pháp là một trải nghiệm đáng kinh ngạc của con bởi vì con có cơ hội thấy được như thế nào là cuộc sống của người xuất sĩ.

Khi sống trong tu viện, mình tổ chức khóa tu và phụng sự, mình tiếp xúc với cuộc sống. Nhưng khi tăng đoàn đi hoằng pháp thì cường độ rất khác, khi đó mình đi khắp nước Mỹ và có thể thật sự tiếp xúc với những người đến từ mọi hoàn cảnh khác nhau. Nhờ pháp môn thực tập mà bao nhiêu cuộc đời đã được thay đổi. Con thật sự sốc khi nhận ra biết bao điều mà tăng thân đã làm được. Những điều này đã được con trình bày trong thư xin xuất gia. Ý muốn xuất gia của con đã nảy sinh trong chuyến hoằng pháp ấy.

Sư chú Trời Linh QuangTrong chuyến đi đó, có một lần con trao đổi về chí nguyện xuất gia của mình với một thầy. Thầy kể rằng có một phụ nữ cùng gia đình pháp đàm với thầy, sau buổi pháp đàm, cô ấy đến gặp thầy và nói: “Con có biết thầy.” Thầy hơi sửng sốt một chút, không nhớ ra cô ấy là ai. Cô nói: “Hai năm trước con có dự một khóa tu ở Bích Nham. Trong một buổi thiền hướng dẫn sáng, thầy đã cho thực tập quán chiếu Cha tôi là một em bé 5 tuổi (Xem Sen Búp Từng Cánh Hé – bài tập Em bé 5 tuổi bị thương). Con rất không thích bài thực tập ấy vì ngay lúc đó con không thể làm được. Tuy không thích nhưng từ đó trở đi con tiếp tục thực tập bài thiền hướng dẫn này…” Sau một năm thực tập, cuối cùng cô ấy đã hòa giải và nối lại thâm tình với cha cô, người đã hành xử thô bạo khi cô còn bé. Chỉ vài tháng sau đó, cha cô mất. Cô đã bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc với thầy vì thầy đã hướng dẫn bài thực tập ấy để cô có cơ hội thiết lập lại mối quan hệ cha con không lâu trước khi ông qua đời. Thầy nhìn con, lúc ấy chúng con ngồi bên đài Quan Âm tại Tu viện Mộc Lan, thầy nói thầy đâu biết người phụ nữ ấy là ai, thầy cũng không bao giờ biết được rằng thầy đã ảnh hưởng đến cuộc đời của cô ấy như thế nào, trong hình thức này hay hình thức khác. Nếu thầy đã không biết về cô ấy, thì còn có bao nhiêu cuộc đời khác đã được đánh động như thế mà thầy không biết? Thầy đâu có làm gì khác hơn ngoài việc thực hiện những gì mà một người tu được dạy phải làm, đó là chia sẻ thiền hướng dẫn trong buổi ngồi thiền sáng.

Đó là một việc làm cỏn con, mình không bao giờ nghĩ sẽ đem lại sự thay đổi trong cuộc đời của một người, sự thay đổi đó làm họ hoàn toàn chuyển hóa. Con không bao giờ quên câu chuyện đó. Mong rằng con sẽ không bao giờ quên nó trong suốt cuộc đời tu của mình. Nó giống như là một cây đinh đã đóng cột.

Sư chú có thể chia sẻ một kinh nghiệm đẹp và đáng nhớ nhất trong chuyến hoằng pháp ấy không?

Tại Lộc Uyển, có một hôm đi thiền hành con cảm thấy rất uể oải. Đêm trước con ngủ không ngon lắm. Chuyến hoằng pháp thật vất vả, các huynh đệ của con không có ai ngủ ngon hết. Con có nhiều đau nhức trong thân nên không muốn ra khỏi giường. Nhưng rồi con bắt mình phải dậy ngồi thiền và đi thiền hành.

Trong lúc đi thiền hành, mọi người đi ngang qua khu cắm trại và suýt tí nữa con đã trốn về lều. Con nói “không” và bắt mình phải tiếp tục đi. Khi đi lên đến đỉnh đồi, nơi có tượng Bụt, mọi người đứng nhìn bao quát xuống thung lũng bên kia. Buổi sáng hôm ấy, sương mù dày đặc đến nỗi không thể nhìn xuyên qua được. Đứng đó mình có thể nhìn thấy sương mù dần dần tiến tới, phủ trùm lên mọi vật. Con nhìn thấy cây cối, các căn lều… có những cái đã bị chìm trong sương. Con thấy rất rõ ràng nhưng rồi đột nhiên mọi thứ đều bị sương mù dần dần tràn lên, phủ kín, không còn thấy gì nữa. Đó là một cảnh tượng đẹp nhưng đồng thời cũng làm con liên tưởng phần nào đến cuộc đời. Chúng ta phải luôn nhớ rằng có những lúc trong đời, mọi sự có vẻ như mù mịt, nhưng rồi nó sẽ qua đi. Hạnh phúc hay ánh sáng có thể bị một cái gì đó làm lu mờ nhưng không bao giờ chúng thật sự mất đi. Chúng chỉ bị che lấp đi thôi. Bóng tối phủ trùm nhưng màn đêm cuối cùng sẽ được vén lên. Trong lúc mọi người đứng đó quan sát, sương mù tiếp tục kéo ngang qua, nhưng ngay khi ánh sáng mặt trời ló dạng, màn sương đã dần tan.

Sư chú Trời Hy Mã

Xin sư chú giới thiệu một chút về mình và những duyên nào đã đưa sư chú đến với Thầy?

Tên con là Trời Hy Mã, người Tây Ban Nha. Lần đầu tiên con biết đến Thầy là vào khoảng hai năm trước đây qua quyển sách “Thương Yêu Theo Phương Pháp Bụt Dạy” (Teaching on Love). Trước khi đọc quyển sách ấy, con đã bắt đầu thực tập đạo Bụt sau khi tham gia một khóa tu thiền Minh Sát mười ngày. Vào ngày thứ hai của khóa tu thiền, con có ý định xuất gia. Con đã bỏ ra một năm ở châu Á để thực tập và sau đó trở lại Tây Ban Nha với mong ước được chia sẻ giáo pháp với nhiều người khác. Con đã gặp rất nhiều bậc thầy, nhưng giáo pháp của họ không gần gũi lắm với mọi người. Tâm con khi ấy còn rất hạn hẹp và con đã nhận ra điều ấy.

Con đã gặp gỡ rất nhiều người biết đạo. Ai cũng biết thực tập, nhưng ước mơ của con là xây dựng nên một cộng đồng trong đó con có thể chia sẻ giáo pháp một cách hiện đại hơn. Con nghĩ như thế bởi khi ấy con chưa biết gì về Làng Mai.

Thực tế thì con bị kẹt trong truyền thống mà con đã thực tập bởi vì con không biết cách bày tỏ lòng mình và cảm thọ của mình. Vì thế con đã đi tìm một quyển sách dạy về cách phát triển lòng từ bi. Sau khi đọc quyển sách của Thầy xong, con nhận ra rằng mình có rất nhiều cảm xúc và khổ đau trong lòng đã quá lâu không thể bày tỏ được. Trong quyển sách ấy, Thầy dạy con khả năng nhận diện và bày tỏ cảm thọ trong cách sống của con. Cho đến khi con tìm ra Làng thì con biết đây đúng là cộng đồng mà mình đang tìm kiếm. Con cũng biết là con không thể xây dựng cộng đồng đó một mình được. Sau đó, con lên mạng để tìm hiểu về tăng thân của Làng Mai mà Thầy đã nhắc đến rất nhiều trong quyển sách.

Con nhớ cái giây phút đầu tiên được nghe giọng nói của Thầy thật sâu sắc. Con không nhớ Thầy đã nói gì, con chỉ biết khóc khi nghe Thầy nói. Giọng nói của Thầy rất từ bi dù chỉ qua một vài lời mở đầu trong bài pháp thoại. Đó chính là khoảnh khắc làm lòng con mở rộng. Sau đó con muốn đi Làng để xuất gia. Con thích nhất điều Thầy nói về cuộc sống của người tu, một cuộc sống đơn giản chỉ với những nhu cầu tối thiểu. Con thuộc thành phần trung lưu trong xã hội, có thể làm ra tiền để đáp ứng tất cả các nhu cầu mà con muốn. Tuy thế, chưa bao giờ con cảm thấy thực sự được thỏa mãn. Sau khi đọc quyển sách đó và nghe bài pháp thoại của Thầy, con quyết định đi Làng Mai và thử sống cuộc đời xuất sĩ ít nhất là 5 năm, bởi vì con không chắc là mình có thể phù hợp với cuộc sống trong tu viện trọn đời hay không.

Trong con có quá nhiều khổ đau, tuy nhiên bên cạnh đó cũng có một vài niềm vui và hạnh phúc. Đó là những gì con cần trong cuộc sống, nhất là tình huynh đệ. Ba mẹ con đã ly dị khi con mới lên năm. Trái tim con tan nát, và do đó khi con tìm ra giáo pháp, con đồng thời cũng tìm ra cho mình câu trả lời. Con luôn luôn đi tìm cho mình một gia đình thật sự, một tình thương chân thật, và con đã tìm ra được những cái đó ở đây. Vì thế con đã thôi thúc mình đến Làng Mai. Thật quý giá biết bao khi con tìm được giáo pháp và có cơ hội tham gia vào tăng đoàn xuất sĩ trong 5 năm. Con muốn trở thành tấm gương cho những người xuất sĩ và cả cho các bạn thiền sinh.

Sư em Trăng Ưu Bát

Sư em Trăng Ưu BátSư em có thể giới thiệu một chút về mình và chia sẻ nhân duyên nào giúp sư em tiếp xúc được với pháp môn tu học Làng Mai?

Con đi học cấp ba với suy nghĩ rằng trong cuộc sống có cái gì đó ý nghĩa hơn ngoài chuyện kiếm một việc làm, lập gia đình rồi có con cái và một căn nhà. Nhưng con không tìm được cái đó ở nơi con đang lớn lên. Lúc con được 16 tuổi, con đã học một lớp về tôn giáo và triết học. Cả lớp con xem một bộ phim tài liệu về một sư cô theo truyền thống đạo Bụt đến từ Sydney. Lúc đó con có cảm tưởng đó là điều con cũng nên làm. Trong tất cả những gì con được học, triết học Phật giáo đánh động tới con nhiều nhất nhưng lúc đó không có một trung tâm Phật giáo hay ngôi chùa nào gần nhà con.

Sau khi học xong cấp ba, con chưa biết mình muốn học ngành gì ở trường Đại học cho nên con đã đăng ký vào một chương trình trao đổi (exchange program) sang Nhật Bản để sống trong một quốc gia Phật giáo. Ở Nhật Bản, con đã thấy rằng dân tộc của họ tuy không học đạo Bụt nhưng sống qua cách hiểu về chính mình và những người xung quanh.

Lúc đó con khá mắc cỡ bởi con là người nước ngoài duy nhất nơi thành phố con ở và những đứa con nít thường chỉ tay về phía con để nói “Gaijin, gaijin” (tiếng Nhật nghĩa là “người nước ngoài”). Nhưng con đã học từ chuyện này là nếu con có thể ngẩng cao đầu và mỉm cười được với họ thì họ sẽ mỉm cười lại với con. Từ xưa tới nay, điều mà con thực tập đó là mỉm cười với người khác để cho phép con và họ cảm thấy thoải mái.

Là người nước ngoài, con đã trở về lại Úc để học và làm tình nguyện viên với các đồng bào tị nạn và những người di trú. Điều đó đã giúp con đến được nhiều nơi trên thế giới và gặp được nhiều người tuyệt vời. Con rất may mắn được gặp những người bạn tâm linh, họ đã giới thiệu cho con về những pháp môn thiền tập mà con có thể mang theo bất cứ nơi đâu.

Trong suốt ba năm, con đã tình nguyện làm việc với những người trẻ Palestinian và những phụ nữ người Lebanon với tấm lòng muốn giúp họ thay đổi hoàn cảnh. Nhưng với khả năng và sự cố gắng của mình, con vẫn không cải thiện được bao nhiêu so với những trở ngại mà họ phải đối diện như không có một quê hương, không được cấp hộ chiếu để đi du lịch, không được những người Leban chấp nhận, chưa kể đến một số danh sách dài nói về những khó khăn của họ… Mặc dù gặp phải những khó khăn như thế nhưng con thấy họ là những người hạnh phúc nhất mà con được gặp. Họ nấu ăn và cùng ăn cơm chung, cùng nhảy, cùng hát và tận hưởng những gì tốt đẹp nhất mỗi ngày. Con đã rời nước Lebanon với cái suy nghĩ rằng nếu con muốn hiến tặng gì đó cho thế giới thì đó chính là cách con có thể sống hạnh phúc trước mọi hoàn cảnh khó khăn.

Biết được yoga và thiền tập đã giúp ích cho đời sống của mình nên con bắt đầu rèn luyện để trở thành một giáo viên yoga. Sau đó con đến sống ở một ashram (một tu viện của người Ấn Độ). Tại đây con may mắn được giới thiệu về pháp môn Làng Mai. Con nhận thấy rằng tất cả những niềm vui con có từ pháp môn thực tập là điều mà con muốn gieo trồng và chia sẻ với người khác. Cho đến khi con tới Làng Mai, con cảm thấy mình đã tìm ra được con đường mà mình muốn đi.

Sống trong một tập thể không phải khi nào cũng dễ dàng đối với con. Những lúc gặp khó khăn, con nhìn lại để thấy được mình đã yêu thương cuộc sống tập thể như thế nào, đó là đời sống của con, là nơi chúng con thực tập các sinh hoạt hằng ngày. Con đang được nằm trong lòng trung tâm của giáo pháp.

Xuất thân từ Úc và xuất gia ở châu Âu là một thử thách đối với gia đình của con, vì phần đông gia đình con chưa có dịp để qua Làng và tiếp xúc với pháp môn. Chính vì vậy nên gia đình rất khó để hiểu con đường mà con đang đi. Sau khi xuất gia con có một ước mơ là gia đình và con có thể hiểu nhau hơn, tuy giữa con và gia đình dù sống cách xa nhau, và cánh cửa của sự chia sẻ đã được mở ra.

Con thấy mọi điều kiện ở đây đều là cơ hội cho con thực tập. Con hy vọng có thể sử dụng những cơ hội để một ngày nào đó có thể phục vụ cho nước Úc và giới thiệu cho những người trẻ ở Úc, đặc biệt là những người cháu của con về pháp môn thực tập. Con có thể chỉ cho họ một cách khác để hướng về cuộc sống. Có người nói khi mình đi xuất gia mình phải hy sinh, lìa bỏ gia đình của mình nhưng trong trường hợp của con, con cảm thấy nó là cơ hội để giúp con gắn bó với gia đình nhiều hơn. Tình thương của con dành cho gia đình là một trong những động lực lớn nhất để con thực tập.

Hành trình về Đất Thánh

Chân Trời Ngộ Không

(Các khóa tu tại Israel và Palestine – Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Có lần Thầy đã nói rằng: “Đức Chúa (Jesus) là đức Bụt của phương Tây.” Giấc mơ của con đã thành sự thật khi con được tháp tùng với một nhóm ba thầy và hai sư cô đi mở khóa tu ở Israel và Palestine. Con, pháp tự là Chân Trời Ngộ Không, là con trai trưởng của một gia đình di dân Cơ Đốc giáo người Croatian, được sanh ra và lớn lên tại nước Đức. Hiện nay con đang là một sa di tu tập tại xóm Thượng, Làng Mai. Trong tổ tiên Croatia của con đã có nhiều vị xuất gia theo Cơ Đốc giáo và con cảm thấy rất may mắn và biết ơn khi được có cơ hội đến viếng thăm vùng đất mà đức Chúa đã sống và dạy mọi người thương và hiểu nhau.

Bây giờ, sau hai ngàn năm, chúng con được mời về để chia sẻ pháp môn chánh niệm và tuệ giác tương tức đến hai quốc gia hiện vẫn còn đang tranh chấp và hai giống dân đã mất niềm tin nơi nhau, đang khổ đau vì hận thù và bạo động. Vào phi trường Paris, chúng con cảm nhận tình trạng này rất rõ. Một buổi phỏng vấn rất dài đã xảy ra với vô số câu hỏi về hành lý của chúng con và về mục đích của chuyến đi, những ai chúng con sẽ thăm và những nơi chúng con dự định đến. Nhiều nhân viên khác nhau đã hỏi những câu hỏi như thế với vẻ mặt nghiêm nghị; nhưng họ đều lập đi lập lại rằng tất cả là vì sự an ninh của chúng con. Tâm trong sáng và hơi thở chánh niệm đã giúp con giữ được nụ cười và sự bình an trong lúc trả lời tất cả các câu hỏi trên cho đến lúc nhân viên an ninh cho phép con gởi hành lý. Lúc ấy cô ta cũng nở một nụ cười trên môi.

Đã Về Đã Tới

israelVề đến Tel Aviv, chúng con được ban tổ chức tiếp đón rất nồng hậu. Khóa tu bắt đầu tại trung tâm Kibbuz, thời nay được sử dụng để tổ chức các khóa tu học và hội thảo. Kibbuz là một cộng đồng người Israel, tự nguyện sống và làm việc chung với nhau. Họ áp dụng chung một phương thức giáo dục, sản xuất và sử dụng chung cơ sở vật chất và bất động sản. Họ có thể đến ở và ra đi bất cứ lúc nào. Khung cảnh ở đây rất xanh tươi, yên tĩnh và rất đặc biệt; cách đây khoảng hai mươi cây số là làng Nazareth, nơi mà đức Chúa đã lớn lên. Gần đây cũng có một sở thú nhỏ với nhiều thú vật địa phương cho các thiếu nhi Kibbuz tìm hiểu, học hỏi và vui chơi.

Năm mươi thiền sinh người Israeli đã hưởng được nhiều lợi lạc từ các pháp môn thực tập căn bản như thiền ngồi, thiền đi, thiền ăn cơm và đã chế tác được năng lượng tập thể rất đẹp. Một trong những điểm nổi bật trong khóa tu là lễ Sabbath, một lễ hội Jewish chú trọng đến việc nghỉ ngơi và tưởng niệm công ơn tạo hóa của Thượng đế với một buổi tiệc, lễ thắp nến và ca nhạc. Chúng con ngồi vòng tròn với nhau trong niềm tương kính, kết hợp hai truyền thống Phật giáo và Do Thái giáo qua việc ca tụng Thượng đế và dùng nước nho thay rượu hồng. Chúng con hát, vỗ tay và cười rất nhiều. Thật là một buổi tối tuyệt vời! Tình huynh đệ được bồi đắp thêm nhờ những buổi pháp thoại đầy lòng từ bi và trí tuệ của các vị Giáo thọ, buổi Làm Mới và các giờ pháp đàm. Những buổi thực tập và sinh hoạt này đã tạo cảm hứng cho các thiền sinh dấn thân thêm vào quá trình hòa giải tranh chấp bằng phương pháp niệm, định và tuệ.

Thở và cười

Hạnh phúc với những hoa trái của khóa tu đầu, chúng con về nhà một người bạn ở Jerusalem để nghỉ ngơi. Jerusalem là một thành phố cổ của Israel và là một trọng điểm tâm linh của các truyền thống Cơ đốc, Do Thái và Hồi giáo. Từ buổi đầu bình minh nhân loại, nơi đây đã mang nhiều màu sắc văn hóa, tập quán, chủng tộc, thời trang, hương vị, âm thanh, ngôn ngữ, tôn giáo và truyền thống. Chúng con có cơ hội đi thăm một phiên chợ ngoài trời, thưởng thức một vài món đặc sản, bánh ngọt và cà phê nổi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, đồng thời cũng quan sát những chủ quán bận rộn bày bán các loại gia vị đầy màu sắc, tơ lụa, hoa quả cùng các mặt hàng địa phương. Đôi lần có người hỏi chúng con từ đâu đến. Những chiếc áo tràng của chúng con làm họ ngỡ chúng con là những tu sĩ Cơ đốc hoặc những giáo sĩ Sufi của đạo Hồi, chỉ có những chiếc đầu trọc của chúng con thì hơi khác thường. Khi chúng con trả lời rằng chúng con là những tu sĩ Phật giáo thì họ tỏ ra rất vui mừng. Họ chia sẻ rằng họ có biết về các tu sĩ Phật giáo, những con người rất bình an.

Chúng con được đi tham quan nhiều địa danh lịch sử, như nơi mà đức Chúa đã chết và sống lại, bức tường thành phía Tây, đền thờ vĩ đại Al-Aqsa và những khu phố vô cùng thú vị của thành phố có chiều dài lịch sử bốn ngàn năm này. Jerusalem là một thành phố bị chia đôi. Người Palestinians không được đi qua phía của người Israeli. Nhưng người Israeli, với sự bảo vệ của quân đội, có thể qua phía của người Palestinians, nơi có khu phố cổ nổi tiếng và bức tường thành phía Tây. Bất cứ nơi nào trong thành phố Jerusalem, chúng ta đều thấy sự hiện diện của quân đội Israeli. Những thanh niên, thanh nữ mang súng đi tuần tra, hoặc để bảo vệ những thánh tích, làm chúng con có cảm tưởng là mình đang ở trong vùng chiến tranh. Hồi tưởng lại những hình ảnh của các người khủng bố trên báo chí, con cảm nhận được phần nào nỗi sợ hãi của dân chúng trên đường phố. Bước những bước chân an bình, hiến tặng nụ cười và chế tác tình thương và sự hiểu biết trong những buổi đàm thoại là sự đóng góp của chúng con cho dân chúng và cho thành phố thú vị này.

Tâm bình, thế giới bình

israelJericho là một trong những thành phố cổ nhất thế giới, với chứng tích của những cuộc định cư 9000 năm trước kỷ nguyên. Ở vị trí 250m dưới mực nước biển, Jericho là thành phố thấp nhất thế giới. Vì Jericho ở vị thế trung lập, dân Palestinians và Israeli có thể đến đây mà không phải qua điểm xét duyệt của quân đội. Tại đây, chúng con đã tổ chức một khóa tu với nhiều thử thách nhất chuyến đi. Có sáu mươi thiền sinh trẻ người Israeli và Palestinian, trong số đó có những vị chưa từng giao tiếp với những giống dân khác. Một số các bạn trẻ Palestinian đã từng là những thành viên hoạt động tích cực cho phong trào kháng chiến, chịu trách nhiệm cho những cuộc biểu tình bạo động và những vụ khủng bố bằng bom.

Điều này làm con nhớ lại thời nội chiến tại đất nước con, Croatia trong thập niên 1990. Những người theo đạo Cơ đốc, Hồi và Chính thống từng sống an lành với nhau trong nhiều thập niên, đã đánh, giết nhau và cho đến sau này, không ai tin tưởng ai, ngay cả chính người hàng xóm của mình. Một vài anh em họ hàng của con cũng đã từng tham gia cuộc nội chiến này và gia đình con, cũng như nhiều gia đình khác vẫn còn đang khổ đau vì những vết thương nơi thân và nơi tâm thức do chiến tranh gây ra. Vì vậy con đã ý thức được khổ đau đang hiện hữu trong tâm các bạn trẻ này do sáu mươi năm tranh chấp và nhiều người trong gia đình và bè bạn đã từng là nạn nhân.

Tuy nhiên, các bạn trẻ đến dự khóa tu đều là những người có tâm cởi mở và muốn tìm hiểu xem pháp môn chánh niệm có thể giúp họ cải tiến tình trạng của họ ra sao. Tất cả đều thích các pháp môn căn bản và không bao lâu, đã học ngồi, học đi và học ăn có chánh niệm. Trong các buổi pháp thoại về đề tài tương tức và trong buổi thuyết trình về Năm giới, chúng con đã cống hiến những cái thấy sâu sắc hơn về phương pháp an trú trong giây phút hiện tại để chế tác tình thương, sự bình an và năng lượng từ bi cho tự thân. Trong những buổi pháp đàm, chúng con rất cảm động khi chứng kiến sự khéo léo của các bạn trẻ này khi họ trình bày những điều họ quan tâm và lo lắng mà không đổ lỗi hoặc phán xét người khác. Chúng con cùng nhau bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với cơ hội được ngồi với nhau để chia sẻ ý kiến và tìm cách cùng xây dựng một tương lai an bình. Con thấy được lòng quyết tâm dũng mãnh của họ. Được lắng nghe người trẻ vượt thắng sự sợ hãi trong họ để tìm phương hướng tạo tác hòa bình cho cộng đồng làm con rất sung sướng. Điều này đã tạo cảm hứng cho con với ước muốn trao tặng pháp môn thực tập này đến các bạn trẻ đang khổ đau trên đất nước con.

Khóa tu chấm dứt sau buổi ngồi chơi vui nhộn với nhiều ca khúc, vũ điệu, kể chuyện và đọc thơ của mọi văn hóa hiện diện ở đây. Mọi người trao đổi số điện thoại và điện thư rồi thực tập thiền ôm với nhau. Chúng con rời khóa tu với niềm tin rằng các bạn trẻ sẽ tiếp tục con đường thực tập này với nhau trong an bình.

Với nhau ta là một

Những ngày quán niệm được tổ chức xen kẻ các khóa tu tại nhiều thành phố khác nhau của người Israeli và Palestinians. Chúng con di chuyển bằng xe nhỏ hoặc xe buýt và có cơ hội được ngắm nhìn nhiều vẻ đẹp và ân huệ của thiên nhiên ban tặng; từ bờ biển đẹp tuyệt vời về phía Tây đến những cánh đồng xanh ngát và nhiều mưa phía Bắc qua vùng sa mạc hùng vĩ về phía Đông và phía Nam. Nơi đây có biển Chết, một hồ lớn với lượng nước rất mặn, mặn đến nỗi không sinh vật nào sinh sống trong đó được. Duy chỉ có con người thưởng thức được và nhiều người đã đến nằm nổi trên mặt biển từ giờ này qua giờ khác để đọc sách. Mặt biển ở đây thấp hơn mặt biển thông thường đến ba trăm mét cho nên rất khó bị cháy nắng. Thật là mầu nhiệm!

Từ hơn ngàn năm nay, giống dân Do Thái sinh sống ở khắp nơi trên thế giới. Trong ngày quán niệm, chúng con đã gặp được những vị đến từ châu Mỹ, châu Âu, châu Phi, Nga và ngay cả Lào. Họ là một cộng đồng dân cư đa văn hóa nhưng cùng chung một gốc rễ tôn giáo. Dù đến từ nhiều nơi, mọi người đều có chung những nhu yếu rất con người. Chúng con thấy được điều này trong khi giới thiệu những pháp môn thực tập như thiền hướng dẫn, thiền đi, ăn cơm trong chánh niệm, pháp đàm và vấn đáp. Họ theo dõi các buổi chia sẻ rất hết lòng và thường đặt những câu hỏi thích đáng đến việc áp dụng sự thực tập vào những tình huống đặc biệt cũng như vào cuộc sống hàng ngày.

Thật nuôi dưỡng khi được thực tập thiền đi với nhau lúc hoàng hôn ngoài bãi biển với nhóm người đa quốc tịch và đa văn hóa này, hoặc chứng kiến những gương mặt đầy căng thẳng và lo âu từ từ được thư giãn trong những buổi thực tập ăn cơm trong chánh niệm. Thiền buông thư được trình bày một cách sáng tạo và đã là một điểm nổi bật về kinh nghiệm quán thân trong thân cho nhiều người. Cuối mỗi buổi thiền tập, thiền sinh thường đến cảm tạ chúng con đã cống hiến cho họ những phương pháp đơn giản và thực tiễn để cải tiến phẩm chất cuộc sống của họ.

Không có gì phải làm, không nơi nào phải đi

Trong những ngày cuối của chuyến đi, các vị trong ban tổ chức đã mời chúng con đi tham quan thêm nhiều nơi trên đất nước họ. Chúng con đã được dùng trưa với một gia đình Beduin trong một căn lều ngoài sa mạc, gặp mặt những tác viên xã hội người Palestinian và Israeli và nằm phơi mình trên biển Chết. Chúng con cũng đã thưởng thức thêm cà phê Thổ, ăn bánh ngọt ở Jerusalem và mua quà tặng các huynh đệ ở nhà. Ngoài ra chúng con đã ngồi chơi và chia sẻ với tăng thân Israeli, thăm viếng thêm những địa điểm lịch sử và thánh tích và thưởng thức tình huynh đệ qua những tách trà.

Đối với con, giấc mơ đã thành hiện thực. Con đã được đi theo dấu chân của đức Chúa, vị Bụt của phương Tây. Thật vậy, con thường tiếp xúc được với năng lượng của Ngài, không phải ở nơi Ngài sinh mà nhiều người đang chen lấn để chụp ảnh, mà chính trong những lúc đi thiền ngoài sa mạc, hoặc ở chân đồi gần làng của Ngài, hay khi quán chiếu một bông hoa đẹp trong trung tâm thành phố Jerusalem.

Tiếp xúc với những người có trái tim nồng ấm nhưng nhiều khổ đau, chật vật với nỗi sợ hãi và lòng mong muốn hạnh phúc và bình an, đã tác động mạnh mẽ đến sự thực tập của con. Con có thể mở lòng để cảm nhận niềm đau của họ, chế tác lòng từ bi chân thật và có mặt cho họ với tất cả con người của con. Con cũng tiếp xúc được với khổ đau của chính con và của tổ tiên con. Nhờ vào năng lượng tập thể, con đã chuyển hóa những khổ đau ấy thành tình thương và sự hiểu biết đã cho con một cái thấy quý báu. Giờ đây, con biết với sự thực tập từ bi của con, con cũng sẽ thực tập cho tất cả chúng sinh và sẽ cố gắng có mặt thật sự trong giây phút hiện tại.

Niềm thương

Chân Tài Nghiêm

Thương mình thương người

Hiện giờ con đang được biểu hiện ở Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu tại Đức (European Institute of Applied Buddhism in Germany), nghe cái tên cũng le thiệt nhưng thành viên thì cũng có vài người “bé tèo teo” như là con. hì.hì…

Con có mặt ở đây được ba năm rồi. Với khoảng thời gian đó con nghĩ thật không đủ dài để hiểu nhiều về nơi này: đất nước, văn hóa, con người và cả ngôn ngữ nữa. Nhưng có một điều mà con luôn biết rõ đó là con rất thương ngôi già lam này. Con thương những thành viên trong gia đình Học viện của con. Con thương mấy con đường mà con hay đi qua đi về, con thương mấy cái cây ở trước phòng con ở… Con thương và trân quý hết những gì mà quý thầy quý sư cô và các anh chị em của con đã đóng góp xây dựng Học viện cũng như xây dựng cho nhau.

Con thương những lúc nhà (Học viện) gặp chuyện, có những khó khăn nhỏ xíu, nhưng cũng có những chuyện to đùn. Vậy đó mà chúng con cũng vượt qua được, con xin ghi nhận rằng tăng thân mầu nhiệm thật.

Cổng vào EIAB
Cổng vào EIAB

Con thương kính sư mẹ Chân Đức và sư cha Pháp Ấn con lắm, những bậc anh chị lớn đang có mặt đó cho chúng con, đang nâng đỡ anh chị em trẻ chúng con mỗi ngày với tất cả tình thương và sự bao dung. Con có một người Thầy quá lý tưởng, con có tăng thân ấm cúng, dễ thương để sống và thực tập cùng. Con có con đường sáng để đi và con đang được bước những bước rất rõ ràng trên con đường đó. Con đi tu như vậy thật không uổng tí nào. Ở đây con có bạn để chơi cùng, học cùng, con có người để tâm sự, chia sẻ cùng khi có chuyện buồn hay những thắc mắc, những thao thức trong lòng. Như vậy là đầy đủ quá rồi.

Năm nay con được 21 tuổi, vậy mà cũng có lúc con còn khóc nhè vì nhớ nhà, nhớ ba mẹ nhiều, nhất là đang sống xa quê nữa. Nhưng tình thương của quý sư cô, sư chị, sư em thì luôn có sẵn đó cho con, nhờ vậy mà con có thể vượt qua được. Con cảm nhận được thật nhiều năng lượng ấm áp của sự bảo bọc, che chở và ôm ấp của các vị. Con thầm biết ơn điều đó.

Đây là nhà của con, là gia đình của con. Chúng con là anh chị em của nhau và đều là con của đất Mẹ thân yêu. Con cảm ơn Đất Mẹ đã cho con được biểu hiện và cũng làm cho anh chị em của con được biểu hiện cùng con để con có bạn cùng tu. Đất Mẹ luôn nuôi dưỡng và ôm ấp anh chị em chúng con, con xin nguyện ghi lòng. Con thấy nhờ đi tu mà con có thêm thật nhiều bạn. Bạn của con thì lớn tuổi, nhỏ tuổi, bằng tuổi đều có cả, và đều là những người bạn tốt, con thật sự yêu quý các bạn của con. Và đây cũng là điều mà con thích nhất khi con được ở trong chùa.

Và cũng nhờ đi tu con có cơ hội được biết thêm nhiều thứ. Con biết thương yêu chính bản thân mình hơn và vì vậy, con biết cách yêu thương mọi người và mọi thứ xung quanh con hơn. Con biết mình phải làm gì khi mình có những cảm xúc mạnh, khi giận hay đang buồn chán, cô đơn, trống trải hoặc có những câu hỏi, những thao thức v.v… nổi lên trong lòng. Con tập trở về tự mình xử lý chúng, nếu cần thì con sẵn sàng nhận sự trợ giúp của những người xung quanh con. Có lúc con làm tốt nhưng có lúc con làm cũng chưa hay, con sẽ học hỏi thêm.

Có một tin tốt nữa, theo con nghĩ, là con siêng năng hơn, gọn gàng hơn trước kia, trước khi con đi tu. Nếu mẹ con biết được chuyện này chắc mẹ con sẽ mừng lắm đây. Nói tóm lại, nhờ đi tu mà con trở thành một người tốt hơn một chút. Những hạt giống tốt trong con được biểu hiện nhiều hơn và những tập khí chưa được hay, chưa được đẹp nó giảm xuống phần nào. Con nghĩ vậy là ổn, đi tu vậy là có kết quả khấm khá rồi.

Học viện đẹp và thú vị lắm

Ở Học viện các khóa tu diễn ra rất thường xuyên và đều đặn. Mỗi cuối tuần đều có các lớp học của quý thầy, quý sư cô giáo thọ và cả giáo thọ cư sĩ hướng dẫn. Con thấy thiền sinh về càng ngày càng đông hơn và họ có rất nhiều lợi lạc trong sự tu học. Có những thiền sinh lâu lắm họ mới có cơ hội trở về lại Học viện, có thể là sau hai, ba hoặc bốn năm. Khi những người này trở lại Học viện họ có nhiều ngạc nhiên lắm vì Học viện hôm nay khác xa với Học viện những năm đầu. Học viện có nhiều thay đổi, họ cảm nhận được sự chuyển hóa và trị liệu nơi toà nhà này.Những nguồn năng lượng lạnh lẽo và nặng nề trước đây của tòa nhà đã được thay thế bằng sự nhẹ nhàng, tươi sáng hơn, bình an và ấm cúng hơn. Điều này đã giúp cho họ có thêm nhiều niềm tin vào sự chuyển hóa và vào tăng thân.

Các lớp học (course) diễn ra mỗi cuối tuần và có những tuần có tới 3 lớp cùng lúc. Những lúc như vậy, chúng con làm việc nhiều hơn một chút. Mỗi lớp có mỗi đề tài tu học khác nhau và thời khóa cũng khác nhau nhưng có những giờ căn bản cố định dành cho toàn thể đại chúng như là giờ ăn cơm, thiền hành, im lặng hùng tráng thì phải giống nhau.

Khi mới gia nhập vào gia đình Học viện, con có nhiều bỡ ngỡ trong cách tổ chức lắm. Vì đây là Học viện nên có rất nhiều lớp học và cách tổ chức thì có hơi khác một chút. Để làm quen, con cần phải có thời gian dài để học hỏi và thích nghi.

Trong năm có một vài khóa tu dành cho gia đình rất vui và thú vị. Có nhiều con nít và thanh thiếu niên (teenager) cùng tham gia tu học với tăng thân. Gần đây nhất có khóa tu gia đình (family retreat) diễn ra trong mùa Tết Tây. Có khoảng 200 người cùng tới với nhau, cùng nhau tu học trong một tuần rất là “xôm tụ”  và có nhiều hạnh phúc để đem về nhà. Ở đây 200 người là đã khá đông cho một khóa tu. Vì thiền đường nhỏ nên chúng con dùng tạm hành lang của tòa nhà để làm thiền đường, dù không lớn hơn bao nhiêu nhưng cũng tạm ổn. Tuy ngồi hơi chật nhưng mà vui và ấm cúng.

Trong khóa tu này, con cùng với hai anh chị, nhận chăm sóc các em tuổi mới lớn. Nhóm này có 16 em, có nhiều em phải đi một quãng đường dài để tới đây: như có em tới từ Holland, England, nhiều tỉnh khác của Germany và đều dùng ngôn ngữ chung là tiếng Anh. Về chương trình thì chúng con đã chuẩn bị kỹ trước đó rồi cho nên khóa tu diễn ra khá suôn sẻ.

Trong nhóm có những em mới đến lần đầu tiên và hơi bỡ ngỡ. Cũng có nhiều em đã tham dự chương trình thanh thiếu niên (teenager program) ở Học viện nhiều lần, từ lúc 12, 13 tuổi cho đến 15 tuổi hay từ 14, 15 tuổi cho đến 18 tuổi .v.v..  và cũng có các em sinh hoạt với chương trình trẻ em (children program) cho đến khi thành 12, 13 tuổi thì được chuyển qua sinh hoạt với thanh thiếu niên.

Trò chơi Olympics Làng Mai
Trò chơi Olympics Làng Mai

Có những em sinh hoạt rất thường xuyên với mình.Mỗi khi có khóa tu gia đình hay những sinh hoạt cuối tuần cho thanh thiếu niên thì các em ấy đều tham gia. Con thấy rất vui vì con biết các em ấy có niềm vui và họ biết cách chế tác niềm vui khi ở đây cùng thực tập chung với tăng thân. Thêm nữa, theo con nghĩ đó là vì ở đây có rất nhiều người tu cũng trẻ như họ, cũng hồn nhiên vui tươi, sống rất lành mạnh và nhất là có tình huynh đệ, biết sống hài hòa với nhau.

Trong lần chơi với các em đợt này, có nhiều sinh hoạt vui ơi là vui, thích nhất là đi rừng. Có hai điều cũng khá ấn tượng đối với con. Điều thứ nhất là buổi Làm Mới của các em với ba mẹ. Con đã rất xúc động. Buổi lễ diễn ra dễ thương và đẹp lắm. Trong buổi Làm Mới ấy, các em có cơ hội để nói ra được những gì trong lòng mình với ba mẹ, những gì sâu kín trong lòng mà bình thường thì không dễ để có thể nói ra. Nhưng khi ngồi trong một vòng tròn có rất nhiều tình thương, sự yểm trợ và sự lắng nghe của tất cả mọi người trong đó có ba mẹ mình (và cả những ba mẹ khác) thì các em đã nói ra được những khó khăn trong lòng và cũng đã nói được những lời yêu thương và lòng biết ơn của mình đối với ba mẹ. Ba mẹ cũng có cơ hội tương tự như vậy. Khi mà hai bên đã mở lòng ra chia sẻ để hiểu và thông cảm cho nhau, thấy được cái đẹp của nhau, trân quý nhau, không đòi hỏi nhau nữa thì sự truyền thông và hạnh phúc có mặt liền trong mỗi người. Có rất nhiều người khóc vì cảm động quá.

Sau buổi Làm Mới, mọi người ai cũng tươi cười vui vẻ, mọi thứ đều được làm mới trở lại. Trước khi rời thiền đường, họ tới cảm ơn chúng con cũng như tăng thân đã cho họ một cơ hội quý báu này. Đối với con thực sự thì con được nuôi dưỡng rất nhiều từ sự thực tập của các em thiền sinh đó. Khi con thấy được sự chuyển hóa, trị liệu trong họ, họ nở được nụ cười, có thể truyền thông được với gia đình họ thì đó là một món quà lớn mà họ đã đem tặng cho con cũng như anh chị em chúng con. Trong khóa tu, dù làm việc có hơi vất vả nhưng rất xứng đáng. Con ước chi có thêm thật nhiều gia đình có cơ hội như vậy, và cũng ước chi các em ai cũng tìm ra được lối thoát cho những khó khăn, bức xúc của mình, có con đường sáng đẹp để đi và tìm được niềm vui lành mạnh trong cuộc sống.

Điều ấn tượng thứ hai của con là vở kịch. Chúng con có tập chung với nhau một vở kịch cho buổi văn nghệ đêm giao thừa. Chúng con chọn chương “Đỉnh Cao Nghệ Thuật” trong sách “Đường Xưa Mây Trắng” để dựng kịch (chương con thích nhất). Chúng con tập kịch với nhau vui không thể tưởng tượng nổi. Các em đóng góp nhiệt tình lắm nên anh chị em chúng con cũng đã chơi hết lòng. Con thấy nhờ tập vở kịch chung với nhau nên tất cả mọi người đều có cơ hội chơi chung nhiều hơn, không còn ngần ngại nhau nữa, gần gũi hơn, thân thiện, cởi mở với nhau hơn và kết quả tốt đẹp cuối cùng là trở thành bạn của nhau.

Nhân dịp này con cũng muốn tỏ lòng biết ơn của con những người gần gũi, chăm sóc, nâng đỡ con nhiều nhất đó là quý sư mẹ, quý sư cô hiện tại nơi con đang tu tập. Đặc biệt hơn nữa, đó là con muốn cảm ơn thật nhiều đến quý sư cô trước đây đã chăm sóc con, dạy cho con đủ thứ từ lúc con xuất gia. Lúc đó con mới 15 tuổi, người ta gọi đó là tuổi dậy thì, con biết tuổi này cũng hơi khó. Có thể tưởng tượng là trong một ngày có rất nhiều mùa, thay đổi liên tục, lên xuống không ngừng. Quý sư cô chắc chắn là đã vất vả với con, vừa tốn hơi tốn sức, còn con thì lại cứng đầu. Con nghĩ có lúc con cũng không dễ ngoan ngoãn nghe lời, lại còn gây ra đủ thứ chuyện nữa… Con thành thật xin lỗi quý sư cô, con cảm ơn quý sư cô đã kiên nhẫn với con.

Mộc Lan “Mọc Liền”

Chân Bi Trú

Chú Chân Bi Trú là một cư sĩ Tiếp Hiện thuộc tăng thân Làng Mai đang thực tập và đóng góp sự có mặt của mình cho Tu Viện Mộc Lan tại Mỹ. Những gì chú ghi lại dưới đây là dấu ấn của những ngày chú cùng có mặt với tăng thân, giúp quý thầy quý sư cô trong công trình xây dựng cơ sở hạ tầng của Tu viện Mộc Lan trong những ngày đầu mới đến. Dù chưa đến Tu viện Mộc Lan nhưng qua bài viết sẽ giúp chúng ta có một cái thấy về tu viện và những con người đang ngày đêm tu tập và hiến tặng sự có mặt của mình cho tu viện và cho những ai cần đến.

Tu viện Mộc Lan cũng như bao nhiêu tu viện khác như Lộc Uyển, Bích Nham hay Làng Mai, mỗi nơi đều có một vài đặc tính riêng. Muốn biết về Mộc Lan chúng ta phải đến tận mỗi nơi trong tu viện mới thưởng thức hết được những gì đang có mặt nơi này: Những hàng cây xanh, những con đường ngoằn ngoèo lên dốc xuống đồi, những bãi cỏ xanh mênh mông tươi mát, những chùm hoa dại đủ màu sắc kỳ diệu đang biểu hiện, từng đàn chim líu lo thánh thót gọi đàn. Không gian bao la với bầu trời xanh, mây trắng, gió mát, trăng trong v.v… không thể nào diễn tả hết bằng chữ nghĩa. Chúng tôi xin dành phần khám phá khá thích thú đó lại cho quý vị nào muốn đến nơi đây để mà “tự mình chiêm nghiệm, tự mình giác tri”. Hôm nay chúng tôi chỉ xin mời quý vị cùng chúng tôi lướt qua một vài sự kiện phát triển “Mọc Liền” của tu viện Mộc Lan.

Mộc Lan còn có biệt danh (nickname) là “Mọc Liền”. Danh từ “Mọc Liền” là do bởi Mộc Lan thay đổi quá nhanh khiến thầy Pháp Dung đến phải ngạc nhiên khi trở lại đây. Lúc thầy đến Mộc Lan (tháng 07 – 2010) thì Ni xá đang thi công, lên tường, lợp ngói… Khi thầy đi thì Ni xá vẫn còn ngổn ngang nhiều việc chưa xong. Vậy mà mấy tháng sau thầy trở lại, mọi công trình đã hoàn tất. Không những Ni xá mà còn thêm cốc của Sư Ông, nhà vệ sinh công cộng và mười mấy cái cốc (hut) mọc lên, sẵn sàng nghênh đón Sư Ông cũng như thiền sinh đến tham dự khóa tu. Trước đó nhà bếp còn nhỏ xíu, bây giờ đã được nới rộng thêm và trở thành một nhà bếp mới rộng rãi. Những dụng cụ cần thiết cho cuộc sống cộng đồng như walking cooler, máy rửa chén (dish washer), kho chứa thực phẩm khô v.v… đã được lắp đặt rất ngăn nắp và tiện cho việc sử dụng. Quả thật Mộc Lan đã có nhiều thay đổi, thầy Pháp Dung nói thầy ngạc nhiên quá đi (supper surprised), cứ tưởng như đang còn trong mơ và thầy thốt lên: “Mộc Lan là Mọc Liền”, kể từ đó Mộc Lan được gọi là “Mọc Liền”. Không những chỉ riêng thầy, mà mỗi lần bất cứ ai tới Mộc Lan cũng đều thấy có sự đổi mới dường như hàng ngày.

thiền đường Hải Triều Lên
thiền đường Hải Triều Lên

Thương kính Sư Ông tuổi đã cao, nếu không có chỗ nghỉ ngơi thì làm sao có đủ sức khỏe để trao truyền pháp lạc, nghĩ đến thiền sinh về tham dự khóa tu mà không đủ phương tiện tắm rửa, nên cứ theo nhu cầu đó mà Mộc Lan phải “Mọc Liền” với những tiện nghi căn bản. Khóa tu cũng sắp gần kề, thiền sinh đã ghi danh gần cả ngàn người vậy mà chánh điện hiện có thì quá nhỏ, không thể nào chứa hết lượng người kể trên. Ban tổ chức đành phải mướn một cái lều khá lớn có thể chứa cả ngàn người, do một công ty cho thuê đến dựng lên. Như thế cũng đáp ứng được nhu cầu cho khóa tu vào cuối tháng 9 năm 2011. Khóa tu đi qua trong không khí yên bình đầy năng lượng chuyển hóa và an lạc. Các anh chị em ai nấy đều hạnh phúc và thở phào nhẹ nhõm. Riêng Sư Ông và tăng đoàn tiếp tục lộ trình hoằng pháp sang Bích Nham và miền Đông Hoa Kỳ. Trước khi rời Mộc Lan, Sư Ông cũng đã chỉ dạy cho sư cô Hỷ Nghiêm địa điểm sẽ xây thiền đường và vị trí xây tháp chuông.

Vậy là yên tâm, Sư Ông đã chỉ chỗ cho mình rồi, còn thực hiện được hay không là tùy vào sự đóng góp tinh thần cũng như tài năng của mỗi thành phần trong tăng thân. Có một thiền đường rộng rãi để cho bao nhiêu người về nương tựa là một ước mơ và thao thức chung của mọi người. Hơn nữa, theo số lượng thiền sinh hơn cả ngàn người tham dự trong khóa tu vừa qua, thì ngôi thiền đường rất cần phải “Mọc Liền” để đủ chỗ che mưa, che nắng cho các khóa tu tới.

Vậy là công trình dự tính được thông báo, quý vị Phật tử xa gần ở vùng Jackson cũng như vài vùng lân cận hết lòng yểm trợ nên đã đồng lòng đứng ra gây quỹ vào mùa xuân 2012. Việc nâng đỡ quý thầy quý sư cô có đủ phương tiện tu học để đem pháp lạc chia sẻ đến mọi nơi là cái thấy chung của rất nhiều Phật tử, vì vậy mọi tổ chức đều được làm trong tinh thần tự nguyện và hiến tặng. Trong lúc chờ đợi bản vẽ và vận động tài chánh cho thiền đường mới, mọi người biết rằng còn phải trải qua nhiều thời gian và thủ tục mới khởi công cho những dự án được bắt đầu. Vì vậy, sư cô Hỷ Nghiêm đề nghị nên xây cốc sư cô Chân Không trước, vì quỹ xây cốc này đã có ân nhân yểm trợ sẵn rồi. Thế là duyên lành đầy đủ, bốn chúng đều đồng ý nên liên lạc ngay Uncle Rick phác họa cho một bản vẽ như ý. Mọi việc cứ thế mà tiến hành, người cưa, kẻ đóng, chỉ nội trong vòng 3 tháng là cốc của sư cô Chân Không “Mọc Liền”. Cốc đơn giản nhưng đầy đủ tiện nghi và ấm cúng. Nghe đâu sư cô Chân Không thích lắm và còn khoe là “đẹp hơn cốc của Sư Ông nữa?”. Sư cô đặt tên là “Cốc Thanh Thoát”. Thanh thoát cũng có nghĩa là trong lúc làm ai cũng chung một bàn tay, một tấm lòng mà không thấy mình cưa ván, đóng gỗ, hay lợp trần. Mọi người đã làm việc trong hơi thở, niềm vui của tình huynh đệ tứ chúng. Chính với những yếu tố đó nên cốc của Sư Cô đã biểu hiện với cái tên Thanh Thoát thật dễ thương. Thật là vui quá chừng, thêm một cái cốc “Mọc Liền” hoàn tất.

Bây giờ là vào đầu mùa Thu 2012. Trong lúc chờ đợi bản vẽ, toàn bộ nhân lực dồn vào giúp cho công trình xây dựng tháp chuông. Tháp chuông so với thiền đường tuy nhỏ, khi hoàn tất nhìn vào có vẻ như đơn giản, nhưng sự thật thì không đơn giản như mình nghĩ. “Nhỏ con, nặng đòn” mà, biết bao là xi măng và sắt thép từ dưới móng lên tận nóc, nhiều lắm. Nếu không có đàn chim “Ca Lăng Tần Già” của quý thầy, quý sư cô Mộc Lan chia nhau uốn từng que sắt, cắt từng miếng thép thì còn vài năm nữa mới xong. Đến lúc bản vẽ của thiền đường gởi đến, thầy Pháp Huy và sư cô Hỷ Nghiêm tiến hành xin giấy phép xây dựng. Trước khi nộp bản vẽ để xin giấy phép, sư cô Hỷ Nghiêm nói với thầy Pháp Huy rằng: “Lên xe, chị em mình nhớ trở về với hơi thở, mình niệm Bồ Tát Quan Âm và Tổ tiên đất đai gia hộ cho mình xin giấy phép được thuận duyên, dễ dàng”. Quả thật, sự linh ứng mầu nhiệm đã xảy ra, bình thường xin một giấy phép (construction permit) họ tính theo diện tích “square feet” trong bản vẽ để đóng lệ phí và đòi hỏi bản vẽ phải đúng code của thành phố mới cấp giấy phép. Nhưng khi coi bản vẽ, họ không cần hỏi han gì cả và chỉ cho đóng $25 đô la tượng trưng và cũng không cần đòi hỏi gì thêm, họ còn nói “Mộc Lan là trung tâm thực tập chánh niệm nên cứ làm, không sao cả”. Thầy Pháp Huy và sư cô Hỷ Nghiêm cầm giấy phép trên tay mà không khỏi ngạc nhiên bỡ ngỡ và vui mừng. Thầy Pháp Huy nói: “Long Thần Hộ Pháp ở đây linh lắm, chỉ có Mộc Lan mới có chuyện này”. Chúng tôi bắt đầu với việc đặt sườn sắt cho thiền đường, mãi cho tới cuối tháng 9 năm 2012 mới tìm được nhà thầu ban đất, đổ móng, công việc kéo dài liên tiếp tới tháng 12 mới dựng sườn. Nhà thầu chỉ có dựng sườn sắt và lợp tôn, còn lại bao nhiêu việc lớn nhỏ đều do tứ chúng của Mộc Lan thầu hết. Bà con thấy có oai không?

Không biết có ai quay phim làm tài liệu trong lúc xây cất không? Giá như có thì chắc quý vị cũng không tin đâu. Vì sao? Nhìn vào quý thầy, quý sư cô thì đoán biết ngay, người nào người nấy với chiều cao khiêm tốn và trọng lượng cũng không quá 45 cân, ấy vậy mà dám gồng mình với sắt đá? Thương thật là thương nhưng không dám thổ lộ, vì khi sườn sắt dựng lên, các cột trụ to cả người ôm, và chính giữa nóc cao hơn 35 feet, nhìn vào chỉ toàn sắt là sắt, còn nhìn lại sức mình thì chỉ xem như “bảy chú lùn” không đáng so sánh vào đâu cả. Tục ngữ có câu “có tật thì có tài”. Lùn thì lùn, nhỏ mặc nhỏ, sức chừng nào làm chừng nấy. “Mạnh cậy tài, yếu liệu sức” mọi người cứ thế mà làm không hề thối lui. Thường thường gỗ người ta vác mỗi người một cây, còn quý sư cô hai người mà vác tới ba cây, thử hỏi như vậy mà Thiền Đường sao không xong sớm cho được? Còn quý thầy, nhìn thì thấy vóc dáng ốm yếu gầy gò, ấy thế mà khi ra làm việc là dùng hết công lực đến nỗi đinh ốc bắt sắt và máy khoan cũng chịu không nổi phải… bứt luôn. Bởi bình thường người chuyên nghiệp có kinh nghiệm thì họ chỉ dùng đủ sức để ốc từ từ bắt vào sắt, còn quý thầy thì rít hết ga và đẩy hết sức thì đinh nào chịu được. Đó là những kinh nghiệm vui thật là vui. Ngoài tài khiêng vác, dọn dẹp, quý sư cô còn có tài đóng giấy đen và bỏ bông cách nhiệt (insulation) lên tường, cũng như sơn quét, xây đá, lát đá. Có lẽ nhờ nhỏ người, nhẹ ký, nên có thể biểu hiện như là những “Thiên Thần” trèo cao, cao cách mấy cũng không nao núng sợ hãi, đúng là “tuổi trẻ tài cao”, thật đáng khâm phục, khâm phục.

Bây giờ đã là tháng 6 năm 2013 rồi. Tính ra thì chỉ còn vỏn vẹn chưa tới ba tháng là Sư Ông và Tăng đoàn cũng như khóa tu cho hơn 1000 người đã ghi danh sẽ diễn ra. Cả gia đình tứ chúng lớn nhỏ đều có vẻ lo âu, đặt câu hỏi liệu thiền đường có kịp cho khóa tu không? Trước tình hình đó sư cô Hỷ Nghiêm dẫn đầu một nhóm mấy chị em xung phong người khiêng, kẻ đục cố giúp xây tường đá để mong cho kịp xong. Lúc đầu sư cô còn đưa mắt nhìn mấy ông thợ và hỏi cách xây, nhưng sau vài phút là sư cô một tay cầm bay, tay kia trộn hồ, vừa làm sư cô vừa gọi: “chị em ơi! chồng đá lên, chồng đá lên!” Chỉ trong chốc lát các chị em đã xây xong một khoảng bự, tài không? Mọi người thấy thích thú quá với công việc mới mẻ này, sư cô hỏi vui: Ai mà xây “pro” quá vậy nè? Nghe sư cô hỏi vậy khiến ai cũng không khỏi tức cười. Riêng quý thầy thì chia ra ba bốn nhóm cùng với Uncle Rick làm suốt. Các chú thì tăng cường thêm nhân lực chia hai nhóm làm thêm ca đêm. May quá, có gia đình ba má của thầy Pháp Duệ từ Canada qua phụ giúp, anh Cường từ Atlanta đến giúp chạy điện. Nhiều người góp nhiều bàn tay, nhờ vào năng lượng vừa thực tập vừa làm việc hăng hái, mệt ít vui nhiều nên ai nấy đều nhẹ nhõm và hạnh phúc vì thấy Thiền Đường đang “mọc liền liền” gần xong. Tuần lễ đầu tháng 08, thầy Pháp Huy, thầy Pháp Uyển, sư cô Hỷ Nghiêm và sư cô Xứ Nghiêm đi Canada 10 ngày để phụ khóa tu với đại chúng lớn từ Làng Mai qua. Công việc còn lại nhờ anh Chân Bi Trú và anh Chân Lạc Định chăm sóc, chỉ còn đợi nhà thầu lót gỗ tre cho sàn nhà nữa thì mọi việc ổn định. Sư cô Hỷ Nghiêm mang về từ Canada thư pháp Sư Ông viết đặt tên cho thiền đường là “Hải Triều Lên”. Sư cô cùng chúng tôi tìm đá, dựng đá để sư cô Hải Nghiêm và anh Ngân khắc thư pháp tên chữ thiền đường lên đá. Phải nói, xin nghiêng mình cảm phục trước tấm lòng hy sinh thầm kín của thầy Pháp Tâm, thầy Pháp Nhã và thầy Pháp Lân. Uncle Rick nói “có quý thầy thì việc gì cũng xong”. Quý vị tới để thấy hệ thống âm thanh được dấu kín, không hề thấy một cọng giây nào dù bất cứ ở đâu trên nền nhà. Tất cả hệ thống giây đều bắt ở trong tường, chỉ cần cho mic và loa vào các ổ cắm là phát ra âm thanh, hay quá, nhờ có thầy Pháp Tâm giúp một tay mà công việc bắt điện được gọn đẹp. Xong công việc thiền đường, quý thầy, quý sư cô cùng một số các anh chị bắt đầu tiếp tục cho cổng tam quan. Mọi người giúp buột sắt, dựng cột để đổ xi măng làm trụ đá, ai cũng giúp tranh thủ làm suốt ngày đêm để trụ đá được hoàn thành, sau đó thì tên của tu viện được khắc vào trụ đá. Nghệ thuật của anh Ngân thật khéo léo, anh chỉ cho quý thầy, quý sư cô làm đá nhân tạo mà ai mới nhìn vào cứ nghĩ là đá thật, có vị hỏi sư cô Hỷ Nghiêm mua tảng đá này từ đâu và bao nhiêu tiền, sư cô dí dỏm trả lời là tảng đá này vô giá, bởi nó được mua bằng hơi thở.

Công việc đang tiến hành tốt đẹp ở thiền đường và tháp chuông thì thêm một tin vui nữa tới, đó là tôn tượng Quán Thế Âm cũng vừa chuyển đến từ Việt Nam đúng theo giao ước. Vài ngày sau, một dàn xe cẩu đồ sộ đến dựng tượng lên, vậy không phải “mọc liền” thì gọi là gì?  Còn nữa, chắc quý vị cũng hình dung được và cũng từng thấy qua sự xấu xí của một công trường đang thi công như thế nào chứ? Ấy vậy mà chỉ sau một đêm, xung quanh thiền đường cây cảnh đã được làm xong, các hòn đá được dựng lên và 60 kiện (pallet) cỏ cũng được lót xuống. Sáng thức dậy, ai cũng ngơ ngác vì cứ nghĩ như có một nhà ảo thuật biến hóa, chứ sức người đâu làm như vậy nổi? Vậy đó mà sự thật là vậy, như thế mới có biệt danh “Mọc Liền” chứ. Qua vài ngày sau thêm 70 kiện (pallet) cỏ nữa được lót luôn từ ngoài cổng vào đến tháp chuông.

Cuối cùng công trình xây dựng tại Tu viện Mộc Lan cũng được hoàn thành tốt đẹp. Màu xanh của cỏ làm cho cảnh trí quanh thiền đường và tháp chuông như nổi bật thêm lên. Tứ chúng sẵn sàng nghênh đón Sư Ông và tăng đoàn cũng như thiền sinh đến tham dự khóa tu. Không biết Sư Ông có cảm nhận gì không khi nhìn thấy thiền đường? Nhưng có lẽ Sư Ông cũng vui lắm, Sư ông có dạy: “mình làm rất cực khổ, nhưng khi bao nhiêu người ngồi trong đó, cùng thở với nhau, chế tác năng lượng hỷ lạc, hạnh phúc, thì cũng làm cho mình hạnh phúc”. Và Sư Ông đã viết tặng cho thiền đường “Hải Triều Lên” hai câu đối: “Nhìn trúc mộc lên xanh nghe hải triều lên mấy độ. Thấy mai lan nở rộ nguyện phát túc về siêu phương”

Đúng vậy, mọi người ai cũng tấm tắc khen Tu viện đẹp và cảm thấy rất hạnh phúc. Riêng thầy Pháp Dung thì “sững hồn” và lại thốt lên: “Thiệt tình! đúng Mộc Lan là Mọc Liền không sai” và thầy nở nụ cười thật sảng khoái. Thật không có niềm vui nào bằng khi thấy ai cũng hân hoan tươi mát và hạnh phúc khi bước vào thiền đường. Đến đây, Mộc Lan “Mọc Liền” xin khép lại, vì còn nhiều chuyện lắm, chắc cần tái sinh lại mới kể hết. Xin hẹn lại dịp khác và kết thúc chuyện Mộc Lan bằng bài thơ sau, như là sự biểu hiện của Mộc Lan. Xin chúc nhau năm mới có nhiều an vui trong sự tu học.

Mộc Lan nở đóa Chơn Thường

Đây Mộc Lan bao quanh xanh màu lá

Hoa đầy cành, trái chín khắp lối đi

Dù gian nan, nguy khó chẳng ngại gì

Quyết đồng lòng, chung sức xây tổ ấm

Hải Triều Lên thênh thang trời lồng lộng

Xóm Mai vui nhộn nhịp đón khách về

Bên xóm Trúc náo nức mừng khách tới

Ôi! Vui quá, vượt ngàn dặm sơn khê

Từ khắp chốn người về vui mở hội

Đón trăng Rằm tháng Tám đẹp miền quê

Sao lấp lánh, gió nhẹ quyện lời thề

Tập buông bỏ, ngăn muộn phiền ập tới

Thở vào ra từng bước nhẹ thảnh thơi

Cho tâm trí nhẹ vơi bao khắc khoải

Cho muôn người kết chặt hiểu và thương

Mộc Lan đang nở rộ đóa Chơn Thường

Mời bạn đến thở cười ngát mùi hương.

Xuân Chơn Thường 2014

Tình thầy trò nghĩa tăng thân

 

“Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời”

Thầy kính thương,

Dạo chơi trước buổi triển lãm thư phápSáng nay thức dậy, con đốt trầm, pha trà rồi thực tập lạy Bụt và tổ tiên. Trước mặt con là cửa sổ kính rộng lớn. Con ngồi tĩnh lặng thưởng thức trà trong hương trầm thoảng dịu và nhìn làn khói nhỏ đang bay lên nhè nhẹ. Con ý thức được Thầy đang có mặt trong con, bởi vì con đang thưởng thức một tách trà có chánh niệm và có hạnh phúc.

Bầu trời sáng nay thật đẹp. Con ngồi ngắm những đám mây bạc đang thong dong dạo chơi, nhìn những chú chim bay qua bay lại trên bầu trời. Cuối thu, những cành cây đang khoe mình với những chiếc áo muôn màu rực rỡ. Trong không khí yên tĩnh của một buổi sáng, tâm con rất nhẹ nhàng và trong sáng. Đây là giây phút thiêng liêng mà con dành riêng cho chính con. Con được ngồi yên và cảm thấy vô cùng hạnh phúc.

Sáng nay trong khi uống trà, có lúc tàng thức của con gợi lên những hình ảnh thật tuyệt đẹp. Con chỉ ngồi đó, nhận diện và tận hưởng những hình ảnh muôn màu muôn vẻ mà tàng thức của con đang chiếu lại. Thầy có biết sáng nay tàng thức của con chiếu lại những hình ảnh gì không? Đó là những hình ảnh đẹp của thầy trò mình, hình ảnh của tăng thân mình trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại châu Á cũng như châu Mỹ.

Trong chuyến hoằng pháp vừa qua tại Thái Lan, thầy trò mình đã làm được biết bao nhiêu việc và đem lại nhiều sự lợi lạc cho đất nước này. Trong mấy năm qua, việc tranh chấp giữa hai đảng áo Vàng và áo Đỏ đã đem lại cho người dân Thái Lan nhiều bất an. Thầy trò mình đã qua hướng dẫn một ngày quán niệm cho giới lãnh đạo chánh trị và lãnh đạo xã hội, trong đó có hai đảng áo Vàng và áo Đỏ tại trường đại học Mahidol trong tháng 3 năm 2013 vừa qua. Sự kiện này làm con nhớ đến những câu chuyện ngày xưa vào thời của Bụt. Khi có sự tranh chấp giữa hai phe hoặc hai nước thì Bụt cũng đến giúp hòa giải. Bụt không có làm lơ và Thầy bây giờ cũng thế. Thầy đã mở lòng từ bi dùng phương tiện giúp họ ngồi lại, lắng nghe và hòa giải với nhau. Một hành động rất cách mạng có tính cách lịch sử với chất liệu từ bi và tấm lòng bao dung cao cả của Thầy, một việc mà ít ai dám làm.

Cũng trong chuyến đi này, vào một buổi trưa trong một khóa tu, ba thầy trò mình (Thầy, sư anh Pháp Hữu và con) ngồi làm việc bên nhau rất vui. Ba thầy trò cùng dùng chung một cái bàn ăn dài để làm việc. Thầy ngồi đầu bàn viết thư pháp, sư anh Pháp Hữu ngồi cuối bàn làm chứng chỉ truyền đăng, còn con thì ngồi ở khoảng giữa làm sổ sách. Hôm ấy bên ngoài mưa gió rất lớn, vậy mà thầy trò mình vẫn ngồi làm việc bên nhau rất bình thản ở bên trong. Sau khi thầy trò làm việc một hồi, con đứng dậy đi pha trà rồi ba thầy trò ngồi bên nhau uống trà, ngắm mưa và nghe gió hú bên ngoài cửa sổ. Thật hạnh phúc!

Con nhớ có một chuyện vui con xin kể cho Thầy nghe. Trong một buổi thầy trò mình đang dùng cơm chiều tại trung tâm mới ở Thái Lan, có một sư em vào báo là có các thầy ở Thái Lan đến xin đảnh lễ Thầy. Con bảo sư em ấy ra thưa lại với các thầy là Thầy đang dùng cơm chiều và chút nữa thị giả sẽ ra gặp các thầy đó sau. Sau khi thầy trò mình dùng cơm chiều xong, sư anh Pháp Hữu và con đi ra gặp các thầy đó. Chúng con thấy có một thầy Thái Lan, một chú cư sĩ người Đại Hàn và một chú cư sĩ người Tích Lan. Chúng con xá chào và thưa không biết chúng con có giúp được gì cho quý vị không. Họ cho biết họ đi đường sá xa xôi đến đây để xin đảnh lễ và cúng dường Thầy. Chúng con cảm ơn lòng hảo tâm và sự tôn kính của họ đối với Thầy, nhưng chúng con từ chối vì bây giờ khá tối và chúng con cho họ biết hôm nay Thầy đã làm quá nhiều việc, đặc biệt là trong 30 phút nữa Thầy sẽ có một buổi họp với các vị giáo thọ. Họ kèo nài đủ cách để được vào gặp Thầy và chúng con cũng tìm đủ cách để từ chối. Con nói: “Tối nay dù quý vị nói như thế nào thì chúng tôi cũng không thể sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy chúng tôi được và Thầy chúng tôi chỉ còn ở đây thêm 2 ngày nữa là sẽ đi qua Đại Hàn.”

Con nói chưa xong thì chú cư sĩ Đại Hàn ngắt lời và nói: “Nhưng mà chúng tôi không thể trở lại đây vào ngày khác, bởi vì tối nay chúng tôi cũng phải có việc đi xa.”

Con thưa: “Như vậy chúng tôi mời quý vị về Làng Mai chơi. Nếu có cơ hội và sức khỏe của Thầy chúng tôi cho phép chúng tôi sẽ sắp xếp cho quý vị vào gặp Thầy, còn bây giờ thì không thể nào được.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lại nói: “Bây giờ hai thầy còn không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư thì có thể khi về Làng hai thầy cũng nói như thế.”

Sư anh Pháp Hữu tiếp lời: “Nếu quý vị thật tình tôn kính Thầy của chúng tôi thì quý vị cũng phải tôn trọng sức khỏe của Thầy tôi. Quý vị không nên ép anh em chúng tôi.”

Nghe sư anh Pháp Hữu lên tiếng mạnh, họ chuyển sang đề tài khác. Thầy Thái Lan nói: “Ai cắt móng tay và cạo tóc cho Thiền Sư?”

Con tự hỏi tại sao thầy ấy lại hỏi câu này, việc này có liên quan gì với thầy? Nhưng để cho lịch sự, con trả lời: “Anh em chúng tôi hớt tóc cho Thầy.”

Thầy ấy lại hỏi: “Vậy quý vị làm gì với móng tay và tóc của Thiền sư?”

Con lại nghĩ ông thầy này thật là kỳ lạ. Thật ra thầy muốn gì đây? Con cũng tiếp tục lịch sự trả lời: “Chúng tôi giữ lại để dành lưu trữ.”

Thầy Thái Lan bây giờ mới phát lộ: “Xin lỗi nãy giờ chúng tôi phải hỏi dài dòng. Mục đích của chúng tôi đến đây để xin vài cái móng tay, vài cọng tóc và một bộ đồ của Thiền Sư về trưng bày trong bảo tàng mới thành lập của chúng tôi tại Chiang Mai.”

Thì ra là thế! Họ có một bảo tàng ở Chiang Mai (một thành phố lớn ở miền bắc Thái Lan) chuyên môn sưu tầm và trưng bày những vật sở hữu của các thiền sư nổi tiếng trên thế giới dù đang còn tại thế hay đã qua đời. Con mỉm cười rồi trả lời: “Chuyện này hả? Chắc phải hỏi lại tăng thân. Quý vị cứ viết thư và gửi cho chúng tôi đi. Chúng tôi sẽ trình cho tăng thân và sẽ trả lời cho quý vị sau. Còn bây giờ chúng tôi xin phép về lo cho Thầy chúng tôi để chuẩn bị cho buổi họp.”

Chú cư sĩ Đại Hàn lên tiếng: “Ngày xưa trước khi Bụt nhập Niết bàn, thầy Anan đã được Bụt cho phép để người cư sĩ vào gặp Ngài lần cuối. Còn bây giờ tại sao hai thầy không cho chúng tôi vào gặp Thiền sư?”

Chúng con thì thầm: “Nhưng mà Thầy của chúng tôi không phải là Bụt, chúng tôi cũng không phải là thầy Anan và Thầy chúng tôi cũng chưa dự định nhập Niết bàn sớm như vậy.”

Tới đây chúng con xin tạm biệt và chúc họ ra về thượng lộ bình an.

Khi tới Đại Hàn, sức khỏe của Thầy đi xuống rất nhiều, lý do vì Thầy làm việc quá nhiều ở Thái Lan, một phần do khí hậu thay đổi bất thường từ mùa Hè nóng bức ở Thái Lan cho đến mùa Xuân lành lạnh ở Đại Hàn. Và cũng như ở Thái Lan, chương trình giảng dạy ở Đại Hàn cũng khá đầy. Dù sức khỏe rất yếu nhưng Thầy vẫn ra hướng dẫn khóa tu và những buổi sinh hoạt đều đặn mà không bỏ buổi nào. Có những hôm nhìn Thầy khá yếu, ăn không ngon và ngủ không được khiến anh em chúng con cảm thấy rất xót xa. Chúng con biết làm gì hơn ngoài việc nguyện cầu chư Tổ gia hộ cho sức khỏe Thầy được tốt và chúng con thực tập có mặt đó cho Thầy.

Tại thành phố Busan miền Nam Đại Hàn, trước giờ pháp thoại mà Thầy vẫn còn nằm trên giường, thân thể yếu hẳn, trông Thầy kiệt sức không đứng dậy nổi. Chúng con rất bối rối không biết nên phải làm gì vì buổi giảng hôm nay có hơn 10.000 người tham dự. Chúng con phân vân không biết nên báo cho ban tổ chức biết để hủy bỏ buổi giảng không, hay kiên nhẫn chờ đợi sự mầu nhiệm xuất hiện. Chúng con biết Thầy thấy được sự lo lắng và lòng phân vân trong ánh mắt của chúng con. Và cuối cùng thì sự mầu nhiệm ấy cũng xuất hiện. Thầy tự mình đứng dậy được, mặc áo và thầy trò bước ra xe. Khi đến giảng đường, chúng con biết tất cả đại chúng ai cũng đều lo, vì thính chúng đến nghe quá đông và đang chờ đợi Thầy ban cho một bài pháp nhũ. Hôm ấy Thầy cho một bài pháp thoại thật tuyệt vời. Thầy đã nói đúng tim đen của họ. Thật là một liều thuốc hữu ích cho người dân địa phương nói riêng cũng như người Đại Hàn toàn quốc nói chung. Thật mầu nhiệm! Con có cảm tưởng rằng bài pháp thoại hôm ấy là do chư tổ Đại Hàn nói. Sau buổi giảng, con có nói nhỏ với cô Emi trong ban tổ chức là chư tổ Đại Hàn đã cho bài pháp thoại qua Thầy hôm nay. Cô ta cảm thấy rất ngạc nhiên và hỏi: “Ô, thiệt không?”

Cũng trong một khóa tu ở Đại Hàn, một hôm Thầy dẫn đại chúng đi thiền hành bên bờ suối. Con nhớ hôm ấy trời rất đẹp. Nắng đã lên, tiếng suối chảy mạnh, những cành cây đang khoác lên mình những chiếc áo xanh mới tinh đón chào mùa Xuân, những nụ hoa Đỗ Quyên đủ màu đang vươn mình khoe sắc dưới ánh nắng ban trưa. Thầy dẫn đại chúng đến ngồi bên cạnh mé rừng. Khung cảnh thật thanh tịnh, mọi người ngồi yên ngắm cảnh và đang tận hưởng những giây phút hiện tại tuyệt vời. Sau buổi thiền hành, một cô thiền sinh Đại Hàn đến ngồi nói chuyện với sư cô Chân Không. Cô thiền sinh thưa: “Con chưa bao giờ nếm được giây phút an lạc và hạnh phúc trong cuộc đời con như lúc đi thiền hành ngày hôm nay. Ngồi bên Thầy và đại chúng con thấy con không còn mong cầu gì nữa. Lúc ấy con nhìn vào chiếc nhẫn hột xoàn mà con đang đeo trên ngón tay. Con bỗng thấy nó không còn giá trị nữa và con muốn buông bỏ nó đi. Con muốn tặng chiếc nhẫn này cho Sư cô để gây quỹ cho chương trình trẻ em nghèo mà Sư cô đang làm.”

Sư cô Chân Không rất cảm động trước lời chia sẻ ấy. Sư cô bình thản trả lời: “Nhưng tôi phải làm gì với chiếc nhẫn này?”

Cô thiền sinh tiếp lời: “Sư cô có thể đem đi bán.”

Nói xong cô ta mới nhớ lại Sư cô là người tu thì đâu có thể nào nhận đồ nữ trang quý giá được. Cô liền nói: “Để con đem đi bán rồi đem tiền lại cúng dường cho Sư cô.”

Đúng như thế, vài hôm sau cô đem đến ba phong bì lì xì đỏ: một cái cúng dường Thầy, một cúng dường cho Sư cô và cái to nhất còn lại cho chương trình trẻ em nghèo. Con nhớ hôm ấy Thầy rất hoan hỉ khi nghe câu chuyện này và chia sẻ với chúng con rằng: “Người này đã nếm được thế nào là an lạc. Giây phút buông bỏ ấy là giây phút giác ngộ.” Thầy hoan hỉ vì thấy rằng những hạt giống mà thầy trò mình đã và đang gieo trồng đang được đâm chồi nẩy lộc. Đó là những hạt giống yêu thương, an lạc, hạnh phúc và giác ngộ.

Tại Hồng Kông, mình có khóa tu hơn 1.300 người tham dự và một buổi pháp thoại công cộng có gần đến 12.000 người đến nghe. Công trình hoằng pháp của thầy trò mình thật là rộng lớn. Thiền sinh đến tham dự khóa tu có nhiều chuyển hóa và an lạc. Buổi pháp thoại công cộng Thầy dạy về Tứ Niệm Thực (Bốn loại thức ăn), rất thích hợp với căn cơ thời đại ở Hồng Kông, đặc biệt là khi Thầy dạy về sự ảnh hưởng của đường lối tiêu thụ. Buổi giảng hôm ấy đã để lại nhiều suy tư và ấn tượng cho người đến nghe.

Về Hồng Kông, thầy trò mình được nghỉ ngơi nhiều hơn. Thầy trò lại có cơ hội leo núi rồi đi biển. Có một hôm Thầy trò đi dạo chơi dưới biển. Tất cả đều đi chân không. Thầy đặt bàn chân xuống biển và Thầy dạy con thế nào là quán cảm thọ trong cảm thọ. Ngày hôm ấy thật vui! Nhưng Thầy trò mình phải đi về vì Thầy có hẹn với ông Dương (người cúng dường Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á). Trong mấy năm qua, mỗi lần Thầy đến Hồng Kông, ông Dương thường đến xin đảnh lễ và cúng dường. Lần này cũng thế, ông đến với bà Dương cùng một số bạn bè. Họ bay từ Lục Địa về Hồng Kông và sau khi xuống máy bay thì đoàn đến thẳng thăm Thầy. Ông Dương và mọi người vào đảnh lễ Thầy và được Thầy mời xuống trà.

Ông Dương chia sẻ: “Trước khi “ngọ” đến đây, “ngọ” có cho những người bạn của “ngọ” biết là “ngọ” sẽ đến thăm Thầy. Bạn của “ngọ” hỏi có phải Thầy Nhất Hạnh là thầy đi rất chậm, nửa tiếng chỉ có vài bước đó phải không?”

Mọi người cười ầm lên và Thầy cũng cười. Sư cô Chân Không tiếp lời: “Bạn của ông nói đúng lắm. Thầy của chúng tôi đi rất chậm, nhưng khi nói tới chuyện chuyển hóa thì rất nhanh.”

Mọi người lại cười lên, cuộc đàm thoại giữa Thầy và ông Dương hôm ấy rất vui và thân thiện, cho thấy sự gần gũi giữa Thầy trò và cũng chứng tỏ rằng ông Dương rất thoải mái với Thầy.

Ngoài chuyến hoằng pháp ở châu Á vào mùa Xuân năm 2013, thầy trò mình còn đi giảng dạy ở châu Mỹ vào mùa Thu. Chuyến hoằng pháp bắt đầu ở Toronto, Canada, xuống New York, qua Washington D.C., sang Boston, rồi qua tu viện Mộc Lan ở Mississippi và kết thúc chuyến hoằng pháp ở California. Chuyến đi kéo dài hơn hai tháng rưỡi. Trong chuyến hoằng pháp ở Bắc Mỹ kỳ này sức khỏe của Thầy khá hơn so với những chuyến hoằng pháp khác. Khóa tu cho giới giáo chức ở Toronto quá thành công. Khóa tu có hơn 1300 người tham dự, trong khi đó có khoảng 700 người trong danh sách chờ đợi. Con rất hạnh phúc khi khóa tu đem lại rất nhiều lợi lạc cho thiền sinh, nhưng con hơi tiếc là mình không có đủ chỗ cho 700 người trên danh sách chờ đợi kia tham dự. Hơn 20 năm rồi Thầy mới trở lại thành phố Toronto. Thiền sinh ở vùng Bắc Mỹ này thương kính Thầy lắm. Hy vọng những người không có cơ hội tham dự khóa tu kỳ này sẽ có cơ hội tham dự những khóa tu khác của Thầy.

Điều làm cho con nhớ nhất là mấy ngày đầu đến thành phố Toronto. Huynh đệ đến từ khắp nơi: có người đến từ Làng, có người tới từ các trung tâm ở Mỹ, có người tới từ Phật Học Viện ở Đức, có người tới từ tu viện ở Thái Lan và có người tới từ Việt Nam. Huynh đệ gặp nhau một nhà, tay bắt mặt mừng, kể cho nhau nghe biết bao nhiêu là chuyện quanh những ly trà và tặng cho nhau những tiếng cười giòn. Không khí thật vui, con thấy tình huynh đệ là một cái gì đó rất thật, sống động đang thật sự xảy ra.

Về tới tu viện Bích Nham ai cũng vui, cũng cảm thấy như được về nhà. Cốc của Thầy đã được thầy Pháp Chiếu, anh Lộc và các huynh đệ chuẩn bị rất khang trang và sạch sẽ. Những con đường nhỏ rẽ vào cốc Thầy, đi qua thiền đường, đi vào tăng xá và đi ra nhà ăn đều được tráng nhựa. Các huynh đệ ở Bích Nham làm việc rất hết lòng để chuẩn bị đón Thầy và đại chúng về cũng như cho khóa tu. Có người nói rằng: “Tu viện Bích Nham nhìn giống như nơi nghỉ mát quá! Cái mà con nhớ nhất là mùa thu ở Bích Nham. Khu rừng của Bích Nham mùa thu thật sống động. Những cây lá vươn mình khoe những chiếc áo đủ màu trước khi ẩn mình vào mùa Đông lạnh lẽo. Thầy thường dẫn chúng con thiền hành trong khu rừng này. Rất tiếc là kỳ này mình về lại Bích Nham quá sớm nên không có dịp thưởng thức hết vẻ đẹp thiên nhiên của rừng. Nhưng cái mà thầy trò mình cũng như thiền sinh thưởng thức được là một bức tranh sống động của tình huynh đệ. Nhìn cách quý thầy và quý sư cô sinh hoạt, chơi và làm việc trong niềm vui, thiền sinh cảm được điều này và họ rất hạnh phúc.

Trên đường đi xe buýt từ New York qua Washington D.C., con nhớ Thầy có hỏi con: “Con nghĩ là Đức Thế Tôn có ngồi trong xe với mình hay không?” Con ngập ngừng nhưng hiểu được ý Thầy. Con trả lời: “Dạ thưa có!” Thầy hỏi: “Có chắc hay không?” Hôm ấy phái đoàn của mình tổng cộng có tới ba chiếc xe buýt. Thầy trò mình ngồi trong một chiếc và còn hai chiếc kia là quý thầy và quý sư cô. Thầy dạy: “Muốn biết là có Bụt ngồi trong xe hay không, chuyện đó cũng dễ thôi. Nếu năm chục người ngồi trong xe mà có một người thôi, đang thở trong chánh niệm thì có nghĩa là Bụt đang ngồi trong xe. Mà nếu có hai người, ba người, năm người cùng thở, cùng ngắm phong cảnh trong chánh niệm thì sự có mặt của Bụt rất là rõ ràng. Và nếu tất cả năm chục người đều đang thở thì chuyện đó là chuyện rất mầu nhiệm. Có Bụt ở trong xe thì tất cả mọi người trong xe đều được bảo hộ bởi năng lượng đó và trong xe có an ninh hơn nhiều.

Đi được nửa đường, xe ghé lại trạm nghỉ giải lao. Sau khi thầy trò mình dùng nhà vệ sinh xong, hai anh em con đi mua đồ ăn. Sư anh Pháp Hữu mua ‘French fries’ và bánh ‘veggie burger’. Hôm ấy Thầy chỉ ăn ‘French fries’ thôi, còn con và sư anh Pháp Hữu ăn bánh ‘veggie burger’. Thầy trò ngồi trong xe thưởng thức thật ngon lành. Tuy nhìn Thầy thưởng thức ‘French fries’ thật ngon miệng, nhưng trong con vẫn cứ lo lo. Con sợ không biết Thầy dùng rồi chút nữa có bị đau bụng không. Nhưng con lại nghĩ: “Thôi kệ đi! Lo cái gì? Để Thầy thưởng thức đi. Chừng nào đau bụng rồi tính sau.” Thật may mắn, hôm ấy Thầy không bị gì cả.

Thầy trò mình tới Washington D.C. và ở lại đó ba ngày. Ngày quán niệm tại World Bank rất thành công và đã để lại những hình ảnh rất đẹp trong mỗi người nhân viên của World Bank. Ông Chủ tịch Jim Young Kim rất hạnh phúc, được Thầy và tăng đoàn đến Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) hướng dẫn ngày quán niệm cho nhân viên và ông càng thỏa mãn hơn khi được tham vấn riêng với Thầy.

Mỗi lần thầy trò mình về tới tu viện Lộc Uyển, con hạnh phúc lắm. Con nghĩ bởi vì thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm ở tu viện Lộc Uyển. Mỗi buổi sáng thầy trò mình thường đi thiền hành lên xóm Vững Chãi uống trà với quý thầy và thường ghé qua phòng trà của Ôn Phước Tịnh. Trà của Ôn pha rất ngon. Có một hôm thầy trò đi thiền hành dưới những hàng sồi. Thầy thấy có rất nhiều lá sồi rụng xuống mặt đất. Thầy nhẹ nhàng đưa tay chỉ con: “Đây là cuộc tình giữa cây và đất.” Câu nói nghe rất thi vị và chứa đầy tuệ giác. Đất có khả năng nuôi dưỡng làm hạnh phúc cho cây và cây cũng có khả năng vun bón cho đất được mầu mỡ. Qua đó, con học được bài học về tình thương chân thật của cây và đất. Thương là hiến tặng cho nhau những cái hay, cái đẹp và cái hạnh phúc của mình cho đối phương.

Hôm ấy trên đường về lại cốc Tùng Bút, thầy trò mình đi qua thiền đường Thái Bình Dương. Hai bên đường có rất nhiều mùi hương của  cây ‘sage’. Thầy hái vài đọt ‘sage’ đem về, mùi ‘sage’ rất dễ chịu. Bầu trời sáng nay thật thanh bình nhưng có nhiều sương mù. Xóm Trong Sáng đang chìm dưới biển mây mù. Xa xa chỉ thấy được mấy ngọn cây Tùng Bút, Thầy đưa ngón tay chỉ về hướng Tùng Bút và đùa rằng: “Bây giờ Thầy trò mình đi xuống kia thăm ông Đạo.” Con như hiểu được ý Thầy, nên thưa rằng: “Bạch Thầy! Ông Đạo vừa đi vắng! Chỉ tại núi này thôi, mây mù không thấy được.” Thầy hoan hỷ mỉm cười.

Kỳ này trở lại Google, thầy Pháp Hải và sư cô Kính Nghiêm tổ chức rất khéo. Mọi thứ đều được sắp xếp rất chu đáo. Con nhớ khi Thầy và đại chúng tới trụ sở Google, cô Olivia và một số người của Google ra đón Thầy. Con rất vui khi gặp lại cô Olivia, người mà con có cơ hội làm việc chung để tổ chức ngày quán niệm tại Google kỳ trước vào năm 2011. Cô Olivia là nhân viên của Google và cũng là người chính giúp tổ chức ngày quán niệm tại Google. Cô đến xá Thầy và chào đón Thầy đến trụ sở Google. Con hỏi thăm cô có khỏe không. Cô cười rồi đáp: “Căng thẳng như thường xuyên!” Câu nói ấy xác nhận vì sao thầy trò mình có mặt ở đây.

Trong buổi thuyết giảng, con ngồi ở dưới nghe mà lòng cảm thấy thương Thầy quá. Con nghĩ những người lãnh đạo tâm linh như Thầy bây giờ trên thế giới, có thể đếm trên đầu mấy ngón tay. Mấy ai với độ tuổi như Thầy mà vẫn còn đi khắp nơi giảng dạy, đặc biệt là đi đến những nơi như World Bank, Google, v.v. Cũng như chú Chade-Meng Tan hôm ấy giới thiệu Thầy trước thính chúng rằng: “Một Thiền Sư như Thầy có thể an trú trong định (một nơi ẩn cư nào đó) mà không cần phải đi vào cuộc đời, nhưng Thầy đã chọn đi vào cuộc đời để độ chúng sanh.” Sự có mặt của Thầy tại Google cũng như World Bank thật là một cuộc cách mạng vô cùng lớn và là cửa ngõ mới để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời. Con cảm thấy vô cùng trân quý và biết ơn Thầy, vì chỉ có Thầy mới có thể giúp mở được những cánh cửa như vậy để thế hệ chúng con dễ dàng tiếp nối.

Cuộc đối thoại giữa Thầy và bác sĩ James Doty tại trường đại học Stanford về đề tài tâm từ bi đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc cho thính chúng trong đêm hôm ấy. Thầy đã dạy làm thế nào để chế tác tâm từ bi qua phương pháp thực tập chánh niệm. Tâm từ bi là những gì có thể chế tác được, chớ không phải là một cái gì đó nói suông hay dùng phương pháp khoa học để đo lường. Ví dụ như dùng máy móc để đo lường tâm từ bi. Thầy cũng dạy tâm từ bi là một loại năng lượng và loại năng lượng ấy cần phải chế tác mới có được. Người có tâm từ bi là người có hạnh phúc. Cuộc đối thoại rất vui và rất hào hứng. Những lời giảng dạy của Thầy đã mở mắt và chinh phục được nhiều người trong đêm hôm ấy, trong đó có bác sĩ Doty. Thầy đã hiến tặng hết mức của mình. Con ngồi đằng sau nghe và thật sung sướng.

Trong các chuyến hoằng pháp vừa qua, con học hỏi được rất nhiều từ nhiều khía cạnh: trước nhất là từ một bậc Thầy đầy khả kính của chúng con, sau là từ các sư anh, sư chị, sư em và cả những người cư sĩ mà con có cơ hội được tiếp xúc và làm việc chung. Ở bên Thầy, con cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy. Chúng con là những đứa con còn non dại, tuổi đời cũng như tuổi đạo còn non nớt, nên đôi lúc còn thích ăn mê ngủ nhiều. Có những lúc Thầy dậy sớm, thấy chúng con còn ngủ, Thầy nhẹ nhàng trở lại vào phòng để chúng con có thể ngủ thêm. Cũng có lúc Thầy nhẹ nhàng ra ngoài đi thiền mà không làm động đến giấc ngủ của chúng con. Có khi trong buổi ăn, chúng con không đủ đồ ăn thì Thầy lại chia hết phần ăn của Thầy cho chúng con. Tình Thầy, lòng từ bi của Thầy thật vô lượng, làm cho chúng con vô cùng cảm kích. Thầy mãi mãi là tấm gương sáng để chúng con noi theo.

Bạch Thầy! Tối qua trong giấc chiêm bao, con thấy Thầy không còn nữa. Thầy đã lìa khỏi chúng con đi vào kiếp ngoại. Khi thức dậy con biết rằng đó chỉ là giấc mơ, con vô cùng hạnh phúc, đặc biệt là ý thức rằng Thầy vẫn còn đó cho chúng con. (How wonderful it is to have Thay in the present form and how fortunate we are that Thầy is still here physically with us.)  Chúng con biết lúc nào Thầy cũng có đó cho chúng con, dù bằng hình thức này hay hình thức khác. Nhưng vô thường cho chúng con thấy rõ và biết trân quý sự hiện hữu của Thầy hơn tất cả. Hơn một năm qua con cũng đang thực tập chăm sóc và vun trồng Thầy ở trong con. Con thường xuyên trở về với hơi thở và bước chân, và con cũng biết chăm sóc cho thân tâm mình nhiều hơn. Con biết chăm sóc cho mình là chăm sóc cho Thầy và cho tăng thân. Mỗi ngày con học nuôi lớn tình thương và lý tưởng mà Thầy đã trao truyền. Nhờ cảm được tình thương vô bờ bến của Thầy, nó đã cho con một cái thấy rằng, nơi nào có tình thương, có tình huynh đệ, có tăng thân, có sự thực tập (hơi thở và bước chân) là nơi đó có Thầy. Con biết làm được như thế thì con sẽ mãi mãi có Thầy.

BTC Viet Wake Up đi chơi

Trong chuyến đi này con chơi nhiều lắm! Con chơi với các anh chị em của con nhiều hơn những chuyến đi trước đây. Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ năm nay, chúng con có kêu gọi tổ chức một chuyến Viet Wake Up tour 2014. Thầy và tăng thân rất từ bi yểm trợ cho chúng con. Đi đến đâu chúng con cũng nhận được rất nhiều tình thương và sự yểm trợ của các vị cư sĩ. Anh chị em chúng con đến với nhau, làm việc với nhau, chơi với nhau và cùng nhau tu học thật vui. Chúng con lo cho nhau và yểm trợ cho nhau rất hết lòng.

Bạch Thầy! Nghĩa đồng môn đang được hiện hữu trong tăng thân mình. Anh chị em chúng con nguyện đi hết con đường này với Thầy và với tăng thân. Xin Thầy an lòng! Con thấy tu học theo tăng thân thật là khỏe và vui. Mọi thứ là của tăng thân dù đó là lý tưởng. Khi mình có lý tưởng thì mình phải học cách làm thế nào để lý tưởng ấy trở thành lý tưởng của tăng thân, và khi nó đã trở thành lý tưởng của tăng thân rồi thì mình rất khỏe và rất nhẹ. Bởi vì bây giờ lý tưởng ấy có rất nhiều người cùng chung sức đóng góp và xây dựng. Có nhiều bàn tay cùng đóng góp, thì công việc sẽ được thuận lợi và vui hơn. Chúng con nói với nhau rằng, “Chuyến Viet Wake Up tour 2014 đã bắt đầu bây giờ rồi đó.” Điều này làm chúng con thấy rất rõ là khi làm việc và tu học bên nhau có tình huynh đệ, có sự hòa hợp và có hạnh phúc thì kết quả sẽ được biểu hiện ra rất lớn. Con có những sư anh, sư chị lẫn sư em tu tập cũng như làm việc và hướng dẫn rất giỏi. Mỗi khi thấy sư anh, sư chị cũng như sư em của con chia sẻ thì con lại thấy Thầy. Và con thấy rất rõ là tất cả đều được đúc ra từ ‘một lò’. Anh chị em của con, ai cũng là con của Thầy, là học trò của Thầy và con thấy ai cũng có khả năng để tiếp nối Thầy. Chúng con tiếp nối Thầy về nhiều phương diện khác nhau.

Cuối chuyến đi, con được về thăm gia đình huyết thống của con.  Con có cơ hội được nghỉ ngơi và nạp thêm năng lượng cho mình sau chuyến đi dài ngày. Con rất hạnh phúc được về nhà, ngồi trong lòng của gia đình với biết bao nhiêu là ánh mắt và tình thương mà người nhà dành cho con. Nhìn các cháu của con lúc này sao lớn quá, thấm thoát mà đứa nào cũng đã vào đại học. Trong thời gian thăm nhà, con có tổ chức một buổi thiền trà cho gia đình. Gia đình, anh chị em và các cháu ngồi bên nhau tận hưởng những tách trà nóng và sự có mặt cho nhau dưới những ngọn nến lấp lánh như đang đưa mọi nguời vào không gian tĩnh lặng. Sau khoảng 15 phút, con tưới hoa cho các cháu và gia đình, sau cùng, mọi người thay phiên nhau chia sẻ. Bạch Thầy! Có đi xa thì mới biết trân quý những giây phút bên nhau như vầy và có được những giây phút bên nhau như vầy thì mới thật sự biết trân quý sự có mặt của nhau nhiều hơn bao giờ hết. Cuộc đời quả thật là quý báu. Về thăm nhà kỳ này con được nuôi dưỡng rất nhiều.

Từ ngày xa nhà đi tu cho tới giờ, con thấy càng ngày con thương gia đình huyết thống của con nhiều hơn. Khi trái tim mình mở rộng thì tự nhiên tình thương của mình cũng lớn theo, nghĩa là mình thương thêm được rất nhiều người. Với tình thương không hạn hẹp ấy, mình lại càng thương những người thương của mình ngày xưa nhiều hơn bao giờ hết. Đó là sự mầu nhiệm của đại bi tâm. Con thấy đi tu có lời nhiều lắm, mà người có nhiều lợi lạc nhất trước tiên là mình, sau là tới gia đình mình rồi tới tất cả những người xung quanh. Khi mình đi tu mình sẽ trở thành một cột trụ tâm linh cho gia đình nương tựa. Mình được tu và mình cũng có cơ hội dìu dắt và hướng dẫn cho người nhà cùng tu. Từ ngày con đi tu đến nay, gia đình của con ít có chuyện xào xáo trong nhà và họ có nhiều bình an và hạnh phúc hơn. Điều đó cho con một cái thấy rất rõ về sự tương tức; nếu con ở chùa tu cho thật vững và ngồi cho thật yên thì gia đình của con ở nhà cũng được yên theo.

Cô cháu ở ABC, NY

Trên đường bay về Làng, con nghĩ đến các anh chị em tâm linh của con ở Làng thật nhiều, đặc biệt là các anh chị em xuất gia cùng một lượt với con. Con rất thương quý các anh chị em cùng gia đình xuất gia của con. Con nhớ lúc mới xuất gia, có vài sư em chỉ có chút xíu, vậy mà bây giờ sư em nào cũng cao lớn hơn con nhiều. Thầy biết không, mỗi ngày quán niệm Chủ Nhật, trong giờ ăn cơm quả đường con thường nhìn hai bên xem các anh chị em con có vào ngồi đầy đủ hay chưa. Bữa nào đầy đủ thì trong lòng con cảm thấy vui lắm. Chắc các huynh đệ của con không biết chuyện này đâu, Thầy giữ bí mật cho con nhé. Bạch Thầy! Các huynh đệ của con tu tập rất giỏi và đóng góp được rất nhiều cho tăng thân. Các huynh đệ rất quan tâm cho nhau, hễ có người này bệnh thì người kia lại chăm sóc. Chúng con thực tập gìn giữ cho nhau. Gia đình tâm linh của mình bây giờ đông quá nên tháng nào chúng con cũng có bánh sinh nhật để ăn. Các huynh đệ rất dễ thương đã để thì giờ làm bánh chúc mừng nhau trong ngày tiếp nối. Thật ra đó chỉ là cái cớ để anh chị em chúng con ngồi lại chơi với nhau thôi. Chúng con hay thường nói với nhau rằng: “Cây Lê này đúng là có biệt danh ‘lê lết’.”

Được tham dự vào sự nghiệp của tăng đoàn là một phước đức lớn và con luôn luôn ý thức và trân quý điều đó. Đi theo tăng thân tới đâu con cũng cảm thấy hạnh phúc, cũng cảm thấy là về nhà. Tăng thân của mình khắp chốn. Ở Làng cũng hạnh phúc, đi qua Thái Lan, Hồng Kông, Đại Hàn, Gia Nã Đại, Bích Nham, Mộc Lan, Lộc Uyển và thậm chí khi về thăm gia đình huyết thống cũng như khi đi sinh hoạt ở nhà của tăng thân cư sĩ cũng hạnh phúc. Khi mình ở đâu thì nơi đó là nhà (home is where we are). Bạch Thầy! Con đang thực tập mỗi nơi tới là mỗi nơi về. Con tới với tăng thân, có mặt cho tăng thân ngay bây giờ và ở đây, cống hiến cho tăng thân và đồng thời con cũng thực tập trở về với chính con trong mỗi lúc tới.

Trong kinh nghiệm, con thấy khi đi ra ngoài, đặc biệt là những môi trường có sức cám dỗ cao, nếu không biết trở về thì rất dễ dàng bị kéo đi. Ví dụ, ABC (chỗ triển lãm thư pháp của Thầy ở thành phố New York) là một cửa hàng buôn bán dành riêng cho giới thượng lưu. Con được Thầy và đại chúng tin cậy gửi đến đây để giúp tổ chức buổi triển lãm thư pháp của Thầy. Ngày đầu tiên khi bước vào cửa hàng này, con mỉm cười và tự hỏi mình: “Một ông thầy tu như mình đang làm gì ở đây? Thế giới này hình như không phải là của mình?” Trước khi bước tiếp, con dừng lại, thở vào và thở ra vài hơi thì câu trả lời trong con đi lên rất rõ: “Mình đến đây để làm công việc mình cần phải làm, đó là độ đời.” Đó là tiếng chuông chánh niệm cảnh tỉnh con đang làm gì và cần phải làm như thế nào cho đúng pháp. Nghĩ như thế nên con ung dung đi vào với sứ mạng của con. Con thấy sự thực tập này bảo hộ cho con rất nhiều trong mỗi khi con có việc đi ra ngoài làm Phật sự.

Bạch Thầy! Biết bao nhiêu là hình ảnh tuyệt vời đã lần lượt lượt đi qua, giúp con nhìn lại và thấy rõ con đường và lý tưởng của tăng thân mình. Trong thời gian qua, thầy trò mình có rất nhiều kỷ niệm bên nhau. Thầy trò mình đã rong chơi rất nhiều và làm được biết bao nhiêu việc: đem lại hạnh phúc cho vô số người và giúp biết bao nhiêu người bớt khổ. Những lúc như vầy cho con thấy rất rõ, quá khứ đang nằm trong hiện tại và ta tiếp tục đem hiện tại đi về tương lai trong giây phút mầu nhiệm này. Tình Thầy, nghĩa tăng thân đã và đang in đậm trong trái tim con. Và con biết nó là hành trang thiết yếu giúp con lớn mạnh trên con đường tâm linh. Nguyện cầu hồng ân Tam Bảo luôn gia hộ cho sức khỏe của Thầy và cầu xin chư Tổ luôn soi sáng và gia hộ cho đàn cháu con tu tập càng ngày càng thêm vững chãi để làm chỗ nương tựa cho mọi loài.

Cung kính ôm Thầy với tất cả tấm lòng và niềm biết ơn của con.

Con của Thầy

Em là hành tinh xanh

Chân Hội Nghiêm


Tôi đang thở cùng em

Không khí bao la của đất trời

Của bình an tĩnh lặng buổi sớm mai.

Hãy hít thật sâu,

thật sâu,

thật sâu thêm nữa

Đến tận cùng niềm cô đơn tuyệt vọng,

Không khí sẽ làm lắng dịu những vết thương xưa

Và hiện hữu sẽ lấp đầy những trống vắng trong em.

Em có thấy con đường mình đi

Rộng mở, thênh thang

Bình an trải dài, không bao giờ dừng lại

Trước mặt em là những cánh đồng hoa dại

Đang hát lên khúc hát yêu thương

Chung quanh em là những con đường

Đưa em đến những đồi cao có gió mát, trăng thanh,

Có không khí trong lành.

Em hãy nở một nụ cười rạng rỡ

Mở lòng ra cho thiên nhiên ùa vào

Để thấy rằng em cũng là một hành tinh xanh

Với bao mầu nhiệm an lành.

Thơ của tôi không đủ đẹp để hái tặng em

Lời của tôi không đủ cao để hát cho em nghe

Nhưng sẽ cùng em đi khắp các nẻo đường

Rộng mở, thênh thang

Em cứ trút hết những giọt nước mắt cô đơn hờn tủi

Của khổ đau, dằn vặt, dày vò

Em hãy đặt xuống những lo lắng, băn khoăn,

Những quan tâm chăm sóc, hỏi han

Để nhẹ nhàng thanh thản, hứng đầy túi gió, túi trăng.

Tôi sẽ hứng lấy những giọt nước mắt của em

Kết tinh thành cam lộ

Rưới xuống những sa mạc khô khan

Tôi sẽ tái chế biển nước mắt lầm than

Thành dòng suối trong xanh

Cho em tự do mặc tình bơi lội.

Tôi trân quý hình hài, tâm thức em

Như trân quý hình hài tâm thức đất Mẹ

Bởi vì em cũng là một hiện hữu nhiệm mầu.

Đất Mẹ cũng có những vực sâu tăm tối

Những sa mạc cháy bỏng khô khan

Nhưng có hề gì đâu

Khi đất Mẹ vẫn bao la với muôn trùng diễm tuyệt.

Đất Mẹ vẫn hiền lành với bình minh đồng nội,

Với ánh nắng ban mai dàn trải khắp núi đồi.

Đất Mẹ vẫn kiên cường với núi rừng hùng vĩ, với biển cả bao la

Vẫn dịu dàng bình an với những con đường hoa

Tinh khôi với những hạt sương mai còn đọng trên đầu ngọn cỏ

Đất Mẹ vẫn rực rỡ uy hùng khi hoàng hôn về trên núi Thứu

Vẫn trinh bạch trắng trong của những ngày Đông tuyết phủ.

Đất Mẹ vẫn nhẹ nhàng thanh cao với lời chim ca buổi sáng

Vẫn hào hùng với âm ba sớm tối triều dâng.

Em có thấy Thánh đường Bạch Dương?

Vẫn hùng dũng uy linh suốt bốn mùa

Xanh mướt khi Xuân về

Mát mẻ khi Hè đến

Rực rỡ khi Thu sang

Vững chãi can trường khi mùa Đông trở lại.

Thánh đường sẽ đón em trở về

Yên lặng chữa lành những vết tích sâu.

Tôi sẽ không băn khoăn cho những cơn bão lũ đến mau

Bởi vì vẫn còn đó, những căn nhà ấm cúng thương yêu

Cho em trở về, đốt lên một lò sưởi nhỏ

Vẫn còn đó những đồi cao ngọn gió

Cho em ngồi nhìn dòng nước lũ đi qua

Chảy vào sông hồ bồi đắp phù sa.

Tôi sẽ không lo lắng cho vực thẳm buồn tênh

Cho sa mạc cháy bỏng khô khan

Bởi vì những nhiệm mầu trong em

Vẫn bạt ngàn thênh thang

Bao la hơn cả triệu, triệu lần sa mạc.

Sáng nay trong bình yên buổi sáng có tiếng chim ca

Tôi trải lòng ra

Ngắm nhìn em cùng đất Mẹ,

Em và đất Mẹ đều là những hành tinh xanh xinh đẹp nhiệm mầu

Tạ ơn cuộc đời,

Tạ ơn em,

Tạ ơn đất Mẹ,

Tôi sẽ mang lòng bình an nhẹ nhàng của buổi sáng

Của đất trời tĩnh lặng thênh thang

Đi cùng em

Hứng lấy cánh hoa trời.

Thông điệp chánh niệm từ Facebook

Chân An Nghiêm
(BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ của Tăng thân Làng Mai năm vừa qua, một nhóm các thầy, các sư cô Làng Mai cùng một số vị cư sĩ có cơ hội đến thăm trụ sở chính của Facebook tại Menlo Park, California.

Vừa nhìn thấy tấm biển có dòng chữ “Hacker Way”, chúng tôi biết là mình đã đến “đại bản doanh” của Facebook. Tính bảo mật là ưu tiên hàng đầu trong kinh doanh của tập đoàn này, vì vậy mà không có gì đáng ngạc nhiên khi vấn đề kiểm tra an ninh tại trụ sở của Facebook được thực hiện nghiêm ngặt đến vậy.

Tại cửa ra vào, chúng tôi phải ký vào bản cam kết không tiết lộ bất kỳ thông tin nào mà chúng tôi vô tình biết được khi vào nơi đây (non-disclosure agreement), sau đó mỗi người được phát bảng tên để đi vào bên trong. Nếu là nhân viên của Facebook thì còn phải đăng ký việc sử dụng iPad khi vào sở làm. Chúng tôi được dặn dò hết sức kỹ lưỡng là phải đi cùng với những nhân viên có trách nhiệm đón tiếp chúng tôi hôm đó, nếu không thì có thể bị yêu cầu rời khỏi trụ sở Facebook bất cứ lúc nào.

Nghiêm ngặt là vậy, nhưng khi bước vào bên trong tôi lại có cảm giác như mình đang ở trong một công viên vui chơi giải trí! Ở đây có rạp chiếu phim, có các máy chơi game cũng như không gian dành cho các hoạt động vui chơi ngoài trời. Một điều thú vị nữa là trong khuôn viên của Facebook còn có những tác phẩm nghệ thuật như ngôi nhà cổ tích của cô bé Dorothy ở xứ sở Oz, với đôi giày bạc và con đường lát gạch vàng.

Facebook đã thu hút những đầu bếp hàng đầu trên khắp nước Mỹ và nhiều quốc gia khác để phục vụ các món ăn đa dạng, phong phú, phù hợp với khẩu vị của đội ngũ nhân viên quốc tế của mình. Các đầu bếp này cũng phục vụ thức ăn chay tại hầu hết các quầy cafeteria và điều tuyệt vời hơn cả là các nhân viên có thể ăn uống miễn phí tại các nơi này.

Bước vào trụ sở Facebook, ta dễ có cảm giác đây là một nơi vui chơi, chứ không thể nào là nơi làm việc được. Độ tuổi trung bình của các nhân viên ở đây là 27, vì vậy mà cũng không có gì đáng ngạc nhiên khi ai đó lầm tưởng rằng đây là khuôn viên của một trường đại học, chứ không phải là “đại bản doanh” của Mạng Xã hội lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, có một điều mà ở đây giống với trường đại học là thời gian làm việc lâu nhất của nhân viên ở Facebook là 4 năm, còn thời gian làm việc trung bình là khoảng 1 năm do áp lực công việc và tính chất cạnh tranh quá cao của môi trường làm việc.

Khi đi tham quan vòng quanh khuôn viên của trụ sở Facebook (có người hướng dẫn), chúng tôi đi ngang qua văn phòng của Mark Zukerberg – người sáng lập ra Facebook. Qua những bức tường bằng kính, chúng tôi có thể thấy vị giám đốc trẻ tuổi này đang điều hành một cuộc họp với các nhân viên. Điều này làm cho chúng tôi cảm nhận được tính cởi mở, minh bạch ở một nơi đầy áp lực về tính bảo mật của thông tin.

Một trong những “dịch vụ đãi ngộ” thú vị trong trụ sở của Facebook là “các máy bán hàng tự động”, nơi mà bạn có thể quẹt thẻ công ty và nhận các linh kiện điện tử như sạc điện, tai nghe, chuột máy tính, v.v. Điều này thật hay, vì trong khi một nhân viên của Facebook đang thuyết trình với chúng tôi về những hoạt động của Facebook thì máy tính của cô bị hết pin. Một đồng nghiệp của cô đã kịp thời đến máy bán hàng tự động để lấy một cái xạc pin mới, nhờ vậy mà máy tính không bị tắt và làm gián đoạn buổi thuyết trình.

Sau giờ ăn trưa, chúng tôi được nghỉ ngơi trong căn phòng nhỏ được sử dụng làm phòng thiền. Căn phòng này thật yên tĩnh, được dành riêng cho một nhóm nhân viên chuyên về lĩnh vực chánh niệm và đa tôn giáo.

Buổi chiều hôm đó, chúng tôi có một cuộc gặp gỡ và trao đổi với nhân viên của Facebook. Thật là thú vị khi biết Facebook đang tiến hành những công việc rất sáng tạo với mục đích giúp cho mọi người thực tập ngôn ngữ từ ái (ái ngữ). Facebook đã thuê một nhóm chuyên gia nghiên cứu về những cách thức mà con người sử dụng để có thể hiểu nhau, cũng như tìm ra những cách thức truyền thông hiệu quả hơn giúp con người đối xử và liên hệ với nhau theo hướng tích cực hơn.

Những thông điệp chánh niệm

Các chuyên gia của Facebook đã tìm cách giúp những người đang liên hệ với nhau thông qua Facebook có cơ hội dừng lại và ý thức hơn về những cảm xúc của mình, để có thể hành xử một cách chánh niệm và có nhiều thương yêu hơn.

Với mục đích cung cấp những công cụ nhằm diễn đạt một cách chính xác các trạng thái tình cảm, Facebook còn đưa ra một số lựa chọn để giúp bạn nhìn rõ và chia sẻ một cách chính xác những cảm xúc của mình, đặc biệt là khi bạn cảm thấy bị tổn thương vì một điều gì đó. Thí dụ:

Nếu bạn không thích một bức hình mà một ai đó để lên Facebook và bạn muốn lấy bức hình đó xuống, bạn sẽ nhận được câu hỏi vì sao từ Facebook. Nếu bạn bấm vào sự lựa chọn: “Có tôi trong bức ảnh này và tôi không thích chút nào”, bạn sẽ nhận được câu hỏi: “Bạn không thích vì lý do gì?”.

Và bạn có thể chọn một trong các lý do sau:

Trong ảnh nhìn tôi xấu

Bức ảnh không phù hợp

Bức ảnh làm tôi buồn.

Xác định được lý do xong, việc hay nhất mà bạn có thể làm là gởi một tin nhắn trực tiếp tới người đã đăng bức ảnh ấy, trình bày thật rõ ràng và lịch sự cảm nghĩ của bạn, thí dụ như: “Chào bạn, tôi thực sự cảm thấy buồn vì bức ảnh mà bạn để lên facebook, nếu bạn đem nó xuống thì hay quá. Bạn có thể làm điều đó được không?”

Các khảo sát cho thấy hầu hết các trường hợp đều đáp ứng lại một cách tích cực khi nhận được một tin nhắn như thế. Họ đã tự học hỏi qua kinh nghiệm ấy mà không cần đến sự can thiệp của Facebook. Facebook chỉ đơn thuần tạo cơ hội để những người đang có nhiều cảm xúc có thể truyền thông với nhau.

Họ muốn khuyến khích người sử dụng tự mình suy ngẫm, và hy vọng rằng ngay cả những người tạo ra nội dung các tin bài trên Facebook cũng có những phút nhìn lại để thấy rằng: “à, bây giờ thì mình hiểu được phần nào những gì mình đăng lên Facebook có ảnh hưởng đến người khác như thế nào.”

Facebook đã làm một điều hơi đi ngược lại với xu hướng thông thường, vì họ làm cho quá trình xử lý những điều khách hàng không hài lòng trên Facebook diễn ra lâu hơn.  Trong lĩnh vực công nghệ thông tin, các quy trình xử lý càng đơn giản, càng nhanh thì càng được ưa chuộng. Các cuộc thăm dò của Facebook cho thấy khi các công ty sử dụng những “ứng dụng về chánh niệm” cho iPhone và làm cho tốc độ xử lý trở nên chậm hơn thì người sử dụng lại không coi đó là cơ hội để thực tập chánh niệm, mà họ nghĩ rằng máy bị hư hoặc có chất lượng không tốt. Vì vậy thay vì làm cho tốc độ xử lý chậm lại, các kỹ sư của Facebook nghĩ ra cách tạo thêm nhiều bước hơn trong quy trình xử lý. Kết quả thăm dò cho thấy phương án này tỏ ra hiệu quả hơn và giúp cho nhiều người trở về với chính mình, cũng như ý thức hơn về những cảm xúc của mình.

Facebook và câu thần chú thứ nhất của Làng Mai

Khi nhìn thấy một nội dung gì đó trên Facebook khiến cho bạn lo ngại về trạng thái tinh thần của một người mà bạn quen, bạn có thể biểu lộ điều này bằng cách làm theo một loạt hướng dẫn trên “Cập nhật trạng thái” (Status Updates).

Thí dụ như có ai đó bỏ lên một mẩu tin nói rằng họ muốn tự tử hoặc muốn tự gây thương tích cho mình, bạn có thể bấm vào chọn lựa “Tôi không thích đọc tin này”. Khi được hỏi tại sao, bạn có thể bấm chọn lựa “Tôi không nghĩ tin này nên để lên Facebook vì nó có hại.” Bạn sẽ được hỏi tiếp là vì sao bạn nghĩ như vậy, khi đó bạn có thể bấm vào “Tôi nghĩ người này có nguy cơ tự làm hại mình.” Nếu bạn bấm chọn lựa này thì sẽ có những đề nghị giúp đỡ hoặc hỗ trợ hiện lên.

Và nếu bạn chọn hỗ trợ này thì sẽ có một tin nhắn soạn sẵn hiện lên trên màn hình và bạn có thể gởi tin này trực tiếp đến người bạn đó: “Chào bạn, mình hơi lo cho bạn đó, bạn có ổn không vậy? Nếu bạn cần sự yểm trợ thì mình luôn sẵn sàng có mặt cho bạn. Bạn cũng có thể liên lạc với đường dây nóng qua số … để nhận được sự giúp đỡ”.

Mẩu tin này được soạn sẵn bởi vì các nghiên cứu đã chỉ ra rằng nếu không được soạn sẵn thì thường người ta sẽ không tự viết ra. Tôi nghĩ tính năng này thật tuyệt vời bởi vì Facebook đang giúp những người sử dụng thực tập câu thần chú thứ nhất của Làng Mai: “Bạn ơi, tôi đang có mặt cho bạn đây!” (I am here for you).

Chúng tôi cũng lo ngại về tình trạng các em thiếu niên bị bắt nạt, ức hiếp rất tàn nhẫn trên các trang mạng xã hội (Social media sites) như Facebook, có em sợ hãi đến độ muốn tự tử như những trường hợp gần đây mà báo chí đã đưa tin.

Các nhân viên của Facebook cho chúng tôi biết rằng những thông điệp chánh niệm như đã kể trên chỉ dành cho những người từ 18 tuổi trở lên mà thôi. May mắn là hiện giờ họ đang có một nhóm nghiên cứu để tạo ra một ứng dụng tương tự, phù hợp cho thiếu niên từ 13 tuổi trở lên.

Các biểu tượng cảm xúc (Stickers) thể hiện 51 tâm hành?

Một dự án khác mà Facebook hiện đang tiến hành là tạo nên các “Stickers” (các biểu tượng cảm xúc – một vòng tròn màu vàng với các khuôn mặt đủ trạng thái cười, nhíu mày …). Facebook làm việc chung với nhóm Pixar (những họa sĩ hoạt họa nổi tiếng đã làm các phim như Câu chuyện đồ chơi – Toy Story, Đi tìm Nemo – Finding Nemo, Vương quốc xe hơi – Cars, Thế giới côn trùng – A bug’s life, Người máy biết yêu – WALL-E) để sáng tác hình vẽ các khuôn mặt biểu tượng cho sự đa dạng trong cảm xúc của con người.

Những “Stickers” này là những bức hình nho nhỏ mà bạn có thể thêm vào các tin nhắn để nói chuyện qua lại trên mạng; và mục đích của nó là để làm cho người ta nhận diện được cảm giác thật sự mà họ đang có và truyền đạt cho nhau biết. Dĩ nhiên Sticker số 1 là để thể hiện tình yêu. Rất nhiều cảm xúc khác hiện đã có Stickers tương ứng, thí dụ như cảm xúc bối rối, xấu hổ, chán ghét, cảm thông, biết ơn (biểu tượng là hình ảnh chắp tay xá).

Ý tưởng tạo ra các biểu tượng cảm xúc này bắt nguồn từ những tác phẩm khoa học của Charles Darwin về các cảm xúc căn bản của con người và về tầm quan trọng của việc nhận diện, lắng nghe  các cảm xúc mà không đè nén hoặc xử lý một cách tiêu cực. Những Stickers này hiện đã có sẵn trên Facebook. Tất cả lợi nhuận thu được từ việc phát hành các stickers này sẽ được hiến tặng cho các tổ chức phi lợi nhuận như UNICEF. Với sự tiến bộ vượt bực trong khoa học kỹ thuật như hiện nay, hy vọng trong một ngày không xa, chúng ta sẽ có thể chọn lựa các biểu tượng cảm xúc phản ánh 51 tâm hành! Tại sao không?

Một điều rất hay nữa mà tôi muốn chia sẻ là hiện Facebook đang tạo một chức năng mới trên Facebook Thích Nhất Hạnh, đó là tạo một nút âm thanh (audio button) để khi bấm nút này, ta có thể nghe được một đoạn pháp thoại của Thầy hoặc có thể nghe ba tiếng chuông được thỉnh lên. Hy vọng chúng ta sẽ sớm được sử dụng chức năng mới này.

Cuối buổi gặp gỡ, Facebook bày tỏ ý muốn được hợp tác với chúng tôi trong việc tổ chức một sự kiện trong chuyến hoằng pháp kế tiếp của Thầy tại Mỹ, chẳng hạn như một ngày tu chánh niệm! Chúng tôi cũng chia sẻ rằng chúng tôi luôn sẵn sàng yểm trợ trong việc giúp người sử dụng của Facebook chuyển hóa các cảm xúc hoặc xử lý các khó khăn của mình theo một chiều hướng tích cực hơn.

Nhiều nhân viên của Facebook đã đến dự pháp thoại của Thầy vào buổi tối cùng ngày tại Trung tâm nghiên cứu về Lòng Từ Bi của trường Đại Học Stanford. Họ đã có cơ hội được chào hỏi, cảm ơn và chụp hình với Thầy. Nhìn vẻ mặt hào hứng và hạnh phúc của họ, tôi tin chắc rằng họ sẽ chấp nhận lời mời đến Lộc Uyển để cùng học hỏi và thực tập với Tăng thân Làng Mai.

Ước mơ thăm đảo Philippines

Chân Mai Nghiêm

(BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Đảo phillipines

Ba mẹ tôi đã cho tôi cái tên lót là Philippine để tưởng nhớ cha đỡ đầu của tôi tên Philippe. Từ lúc còn rất nhỏ, tôi đã có ước mơ tới hòn đảo mang cùng tên với mình. Sau khi chờ đợi gần 30 năm, cuối cùng tôi cũng được tới đó. Đây là một niềm vui lớn của tôi.

Chuyến đi kéo dài hai tuần. Chúng tôi tới Manila ngày 26/9 và trở về Hồng Kông ngày 8/10. Manila nóng. Nóng và ẩm, ẩm còn hơn ở Hồng Kông. Đó là ấn tượng đầu tiên của tôi khi bước ra khỏi máy bay. Chúng tôi ở lại Manila vài ngày và chứng nghiệm đời sống thành phố đó: người đông đúc, ồn ào, ô nhiễm… nhưng cùng lúc chúng tôi cũng đón nhận được sự thân thiện, cởi mở và nụ cười từ mọi người. Trong những lúc đi thiền hành dọc bờ biển buổi sáng, người dân ở đó tới gặp chúng tôi, cười nói hỏi han hoặc chỉ đơn giản chào nhau một cách vui vẻ. Chúng tôi truyền thông với nhau rất dễ dàng.

Chúng tôi đã có cơ hội chứng kiến sự cởi mở rất tự nhiên của người Phi khi họ chia sẻ, đặc biệt nhất là kỷ niệm nói chuyện với một chú tài xế taxi. Tự lúc nào không hay, tôi đã bắt đầu kể về gia đình mình (“và cô, cô có bao nhiêu anh chị em vậy?”, chú hỏi) còn chú ta thì nói về việc “làm ăn” đá gà của chú. Cứ như là gặp lại một người bạn cũ vậy. Thật ra, cả chuyến đi đều như vậy. Chúng tôi gặp những người mà mình có cảm giác đã quen biết lâu lắm rồi và đang được gặp lại nhau sau một thời gian xa cách.

Chúng tôi có một buổi giảng cho học sinh y khoa tại trường đại học UP (University of the Philippines) và một buổi giảng khác cho người trong ngành giáo dục ở Học Viện Tâm Linh Á Châu (Institute of Spirituality in Asia). Chúng tôi đã được gặp những nhà giáo dễ thương và các cha, các sơ Thiên chúa giáo. Ở Baguio, chúng tôi có cơ hội ở chùa Baguio Buddha Temple, gặp một sư cô tuyệt vời, sư cô Christina, người đã cống hiến hết cuộc đời mình để giúp dân nghèo trong vùng và giữ cho ngôi chùa hoạt động. Tình chị em giữa chúng tôi và sư cô đến rất đơn giản và thân ái.

Trong một ngày rất đầy ở thành phố xinh đẹp đó (chúng tôi thật sự tận hưởng không khí trong lành và những cây tùng ở đây), chúng tôi đã có giờ để đi dạo trong công viên, du ngoạn trên hồ (xuồng cứ quay vòng quanh bởi vì có nhiều người trong chúng tôi không hề biết chèo), đi chợ và thăm viếng hai nơi rất đặc biệt:

Nơi đầu tiên là ở trường học quốc tế Brent (Brent International School), chúng tôi sinh hoạt với khoảng 30 học sinh và giáo viên. Chúng tôi đã hát với nhau rồi cùng phá lên cười và trả lời những câu hỏi thú vị như: “Quý thầy, quý sư cô có phải là những võ sư không?” (Are you kung fu masters?). Chúng tôi thừa nhận ngay : “Đúng vậy, chúng tôi luyện võ tâm, bạn muốn học không?” (Yes, we do mind-kung phu, you want to learn?)

Nơi thứ hai là nhà tù của thành phố (City Jail). Chúng tôi sinh hoạt khoảng 2 tiếng với các tù nhân. Chúng tôi đi kinh hành, làm thiền buông thư (mọi người ngồi trên băng ghế) và hát thiền ca. Khoảnh khắc ấy rất cảm động và đầy năng lượng chuyển hóa… ít nhất là đối với tôi!

Và một buổi tối rất đẹp ở Bliss Café, dĩ nhiên có buổi nói chuyện ở đó.

Ngày kế đến chúng tôi trở về lại Manila và sinh hoạt ở trường học Sakya (Sakya Academy) với vài trăm trẻ em và thiếu niên. Bài hát “I like the rose” (Tôi yêu hoa hồng) rất được các em ưa thích.

Cuối cùng là chuyến đi lên “Thiên đường”! Chúng tôi có khóa tu bốn ngày ở Laguna, trong một khu nghỉ dưỡng (resort) xinh đẹp nhìn ra cái hồ rộng mênh mông. Mỗi sáng thức dậy sớm, chúng tôi cảm thấy mình rất may mắn được ngắm nhìn cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, những con chim én đuổi nhau và mầu sắc huy hoàng của những đám mây khi mặt trời mọc. Khóa tu ngắn ngày nhưng có nhiều hoa trái. Tôi rất ngạc nhiên khi thấy mọi người ở đây rất dễ mở lòng ra để chia sẻ trong những buổi pháp đàm. Tình thân hữu, tình huynh đệ giữa chúng tôi có lẽ vì vậy mà lớn lên nhanh chóng. Một bạn trai đã chia sẻ sau buổi pháp đàm đầu tiên: “Trước khi pháp đàm, tôi thấy mọi người ở đây đều xa lạ, nhưng chỉ sau một tiếng rưỡi đồng hồ chia sẻ, chúng ta dường như đã là những người bạn thân của nhau từ thuở nào!”

Mặt hồ tĩnh lặng cùng điệu múa vui tươi của những chú chuồn chuồn nước đã tạo nên phép lạ, làm cho tâm hồn chúng tôi đều rộng mở trước năng lượng Thánh linh (the Divine) đang có mặt trong tự thân và xung quanh chúng tôi.

Khóa tu này thực sự là một khóa tu cho chính bản thân tôi. Đây là thời gian tôi được nghỉ ngơi, trị liệu, được nuôi dưỡng và chuyển hóa bởi vẻ đẹp của thiên nhiên và con người xung quanh, bởi niềm tin yêu, sự trong sáng, cởi mở và gắn bó của các huynh đệ và các bạn thiền sinh. Trái tim tôi chan chứa lòng biết ơn.

Trong buổi thiền trà kết thúc khóa tu, một bạn thiền sinh đến với từng người trong vòng tròn để thiền ôm. Mở rộng vòng tay mình, cô nói: “Tôi xin ôm bạn vào lòng” (I embrace you), đó là giây phút thật sâu lắng và xúc động. Khi cô nói điều đó với tôi, tôi như nghe thấy giọng nói của một vị linh mục trước khi làm lễ ban Thánh thể: “Đây là thân thể của Chúa” (The body of Christ). Mọi người có mặt trong giây phút đó đều cảm thấy như mình đang được tham dự vào một buổi ban Thánh thể thực sự.

Có một tu sĩ dòng Marist cũng tham dự khóa tu và xin thọ Năm giới theo truyền thống đạo Bụt. Tôi rất xúc động trước thái độ cởi mở và chân thành của người bạn đồng tu đó. Tôi càng thấm thía lời Thầy dạy trong cuốn sách “Bụt trong ta, Chúa trong ta” (Living Buddha, Living Christ): “Khi ta tiếp xúc với một người thực sự đại diện cho một truyền thống nào đó, ta không chỉ đang tiếp xúc với truyền thống của người đó mà ta cũng đồng thời tiếp xúc được với gốc rễ truyền thống của chính ta”.

Trong chuyến đi này, tôi đã được gặp gỡ và chia sẻ với các bạn trẻ, các nhà giáo dục và các thầy cô giáo, đồng thời được tiếp xúc sâu sắc với gốc rễ Thiên Chúa giáo trong tôi thông qua sự có mặt của các bạn đồng tu, các tu sĩ dòng Marist. Điều này thật nuôi dưỡng tâm nguyện sâu sắc trong lòng tôi.

Cảm ơn gia đình Philippines yêu quý đã giúp chúng tôi về với quê hương đích thực của mình bằng chính trái tim trong vắt của các bạn. Tôi đang thở cho tất cả các bạn.

Trở về

Chân Pháp Duệ

“Mỗi người trong chúng ta ai cũng có những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Phần lớn chúng ta không biết xử lý nỗi khổ niềm đau hay khỏa lấp và chạy trốn. Chúng ta hay dùng những phương tiện kỹ thuật, internet, điện thoại, truyền hình, âm nhạc, sách báo bởi vì chúng ta không có khả năng trở về để xử lý nỗi khổ niềm đau ấy”.

Trước khi bước vào mùa An cư 2013-2014, Sư Ông đã tường thuật về chuyến hoằng pháp tại châu Mỹ trong một vài bài pháp thoại. Trong khi nghe pháp thoại đó của Sư Ông, tôi cảm thấy ấn tượng nhất là lúc Sư Ông nói về những kỹ thuật, những thiết bị điện tử khiến cho chúng ta đánh mất bản thân, đánh mất gia đình và không có khả năng trở về với đất Mẹ. Và chúng ta đã lạm dụng những phương tiện kỹ thuật như điện thoại, mạng lưới internet, truyền hình, âm nhạc, trò chơi điện tử để khỏa lấp khổ đau của chúng ta và có khuynh hướng chạy trốn nó.

Tôi là một người đã được lớn lên trong xã hội Tây phương từ nhỏ và đã gắn liền với những thiết bị ấy. Trong học đường, tôi được khuyến khích dùng máy vi tính để viết văn, học làm những trang nhà hoặc dùng những máy móc để giúp thêm về việc học hành. Tuy nhiên, với sự ham chơi của tuổi trẻ, tôi đâu chỉ dùng máy cho những công việc ấy. Tôi nhớ khi tôi mới được học sử dụng máy vi tính, tôi thường tốn nhiều thì giờ vào việc “chat” hoặc nhắn tin qua lại với bạn bè.

Những mẫu chuyện mà tôi thường trò chuyện với bạn bè không mang lại một ý nghĩa gì cụ thể hoặc có tính cách nuôi dưỡng đối với hạnh phúc của một cá nhân. Mỗi ngày, tôi đã ngồi trước máy tính rất nhiều giờ. Tôi cũng như những người trẻ khác, rất đam mê chơi những trò chơi điện tử, tôi có thể chơi hàng giờ, hàng đêm. Tôi nhớ có những lúc mẹ tôi lên phòng để coi tôi và các em đã ngủ chưa, khi tôi nghe tiếng bước chân của mẹ vọng lên từ những bậc thang thì tôi tắt ti vi và nhắm mắt giả vờ như đã chìm vào giấc ngủ. Sau khi mẹ tôi kiểm tra xong và nghe những bước chân mẹ đi xuống, tôi ngồi dậy bật ti vi lên và chơi thêm vài giờ nữa mới đi ngủ.

Khi vào tu, tuy Sư Ông đã hướng dẫn những pháp môn cụ thể và chia sẻ rất nhiều lần là: “Chúng ta phải có khả năng chế tác được hạnh phúc, có được lý tưởng muốn chuyển hóa bản thân và độ đời.” Thỉnh thoảng tôi vẫn bị lôi cuốn bởi những kỹ thuật hiện đại mà chúng ta đang có của thế kỷ 21 này. Mỗi ngày, tốc độ máy càng mạnh, internet càng phong phú, những thiết bị cầm tay như ipad, iphone, samsung galaxy, microsoft surface.v.v… rất thuận lợi. Tuy nhiên vì sự thuận lợi đó mà chúng ta càng ngày càng bị chìm đắm và phụ thuộc vào những hệ thống mạng lưới ấy.

Có những người mỗi phút mỗi giây phải xem trong những thiết bị ấy có những email nào mới không, có những tin nhắn nào mới không, mặc dù họ biết thừa là những thông tin ấy đôi lúc không có gì đáng quan trọng cả. Tôi nhớ có một thời gian, mỗi lần mở máy lên tôi cũng luôn luôn coi thử có email nào mới không, có ai nhắn tin gì cho tôi không, tôi có vẻ trông đợi một cái gì đó. Bản thân tôi chưa biết dừng lại để công nhận sự mầu nhiệm của đất Mẹ, công nhận những sư anh, sư em mình còn được cùng nhau sống, cùng nhau tu. Tôi tự hỏi tại sao chúng ta phải làm như vậy, có phải bởi vì chúng ta sợ để trở về?

Trong mùa An cư năm nay, Sư Ông dạy đại chúng phải ngồi lại để bàn về cách sử dụng máy điện tử, internet, email, facebook,v.v… Sư Ông dạy tuyệt đối không dùng facebook riêng, còn những việc khác thì đại chúng của mỗi chùa sẽ tự quyết định. Sau những buổi họp của chúng Tỳ kheo, đại chúng xóm Thượng quyết định là ít nhất trong mùa An cư năm nay đại chúng sẽ không dùng facebook riêng, mỗi người trong chúng sẽ sử dụng hộp thư email chung. Mỗi hộp thư, chúng ta sẽ có bốn, năm người cùng dùng chung một địa chỉ và không sử dụng email riêng. Còn về chuyện internet thì chỉ được lên email thôi và những trang khác sẽ được khóa. Trong tuần chỉ có hai ngày được lên xem email.

Ban đầu nghe như vậy, tôi cũng hơi có sự phản ứng trong lòng, nhưng nghĩ lại tôi thấy đây là cơ hội cho tôi thực tập. Gần 30 năm qua, tôi đã luôn luôn hướng ngoại, tôi đã ít trở về chăm sóc nội tâm, có lẽ bây giờ chính là cơ hội tốt cho tôi thực tập trở về chăm sóc cho chính mình. Nhờ vậy, trong mùa An cư này, anh em chúng tôi có dịp cùng chơi bóng chuyền thường xuyên hơn vào những chiều làm biếng. Có những anh em thì rủ nhau chạy bộ hoặc đi bộ một vòng lớn của đại giới trường xóm Thượng. Thời tiết năm nay rất ưu đãi, cộng thêm trước khi vào An cư, quý thầy đã cùng nhau dựng lên cột đèn cho sân bóng chuyền được sáng, thành ra anh em chúng tôi cùng chơi bóng chuyền với nhau rất vui.

Thời gian ngồi trước máy tính trong những tối làm biếng giờ đây đã được anh em chúng tôi thay vào bằng môn bóng chuyền. Nhờ vậy anh em chúng tôi có cơ hội hiểu nhau nhiều hơn. Trong lúc chơi với nhau nếu có đụng độ thì đó cũng là dịp để giúp anh em chúng tôi có cơ hội cùng thực tập với nhau cho vui. Mỗi lần chơi bóng chuyền, chúng tôi thường thắp đèn chơi đến 8 hoặc 9 giờ tối. Mỗi lần chơi như vậy, có những thầy lớn tuổi như là sư cha Pháp Độ và sư cha Pháp Ứng cũng ra chơi với các thầy trẻ tuổi.

Mỗi lần chơi, tôi có cơ hội quan sát tính tình của từng anh em. Có những anh em rất hoạt bát, năng động, luôn luôn sẵn sàng hy sinh vớt banh cho đội, có những người thì đợi khi nào banh tới mới đánh, có người chỉ chuyên một việc là chuyền banh thôi, và tôi cũng có cơ hội nhận xét về bản thân tôi. Tuy mỗi người trong đội có cách chơi khác nhau, nhưng mỗi thành viên đều phối hợp để trở thành một đội bóng rất hòa hợp, ai ai cũng hiểu ý nhau. Mỗi lần chơi, tôi được có cơ hội so sánh với những thành viên trong chúng, mỗi người đều có một cá tính riêng biệt, và nhờ những cá tính riêng biệt đó mà làm đẹp cho một tăng đoàn. Có người có khiếu về hướng dẫn, có người thì giỏi nấu ăn, giỏi làm việc, có người thì chuyên về học, v.v… và vì thế chúng ta bổ sung cho nhau như những lúc được chơi bóng chuyền.

Bóng chuyền kết nối tình huynh đệ

Tôi đã trở về với chúng hơn hai năm và trong hai năm qua, tôi thấy tôi thật sự may mắn, tôi có thể phó thác được tất cả thân mạng của tôi cho Tăng thân. Tôi luôn chấp nhận những quyết định của tăng thân và luôn luôn thấy rằng Sư Ông và Tăng thân luôn luôn thương tôi và tôi cũng thương Sư Ông và Tăng thân. Có những lúc quyết định của Tăng thân về tôi làm tôi hơi đau và bị tổn thương trong lòng như chuyện phục giới của tôi vừa rồi chẳng hạn. Tôi biết bởi vì tôi đã có sẵn những tri giác về cách tôi được hồi phục giới thể như thế nào. Sau hai năm tôi mới biết được tin rõ rệt là tôi được chấp nhận thọ giới Sadi trở lại. Ban đầu tôi rất buồn vì tôi cứ ỷ y là tôi sẽ được thọ giới Tỳ Kheo trở lại. Đó cũng chính là cơ hội cho tôi trở về, siêng năng hơn trong công phu tu tập hàng ngày và cũng là cơ hội cho tôi chấp nhận rằng tôi có những nỗi khổ niềm đau trong lòng mà tôi cần phải thực tập chuyển hóa mà không nên để cho nó trôi dạt một cách lâu dài nữa.

Sư Ông dạy chúng ta là nên giao thân mạng của chúng ta cho Tăng thân. Trong hai năm qua, tôi có cơ hội thực tập cụ thể những điều dạy đó của Sư Ông và tôi cảm thấy rất biết ơn Sư Ông và đại chúng mà không trách bất cứ thành phần nào. Thành phần nào cũng chính là bản thân tôi. Thực tập được như vậy tôi cảm thấy nhẹ hơn trong lòng rất nhiều. Sự thật, tôi không cần lo gì cả, tất cả mọi điều đã được Tăng thân lo rồi. Tôi biết rằng, bản thân tôi còn những yếu kém và đây cũng chính là cơ hội cho tôi nhìn lại.

Tôi đã được học cách trở về, cách nuôi dưỡng hạnh phúc trong mỗi giây phút của cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, tôi không thực tập được một cách trọn vẹn và hoàn hảo. Những lúc tôi có thể dừng lại được, thấy được những gì tôi đang có là phép mầu nhiệm mà không dễ gì ai cũng có. Mỗi ngày mỗi phút, tôi được học để thưởng thức thực tại và nhờ vậy tôi có đủ bình an và có hạnh phúc để chăm sóc cho những nỗi khổ niềm đau trong lòng. Có nhiều lúc tôi để cho những lao xao, những mong muốn làm tâm tôi bị lôi cuốn và trở nên hấp tấp, muốn tới một địa điểm nào đó một cách mau chóng.

Hạnh phúc của chúng ta rất đơn giản mà thỉnh thoảng tôi lại nghĩ hạnh phúc là thứ tôi khó mà với tới được hoặc là nó nằm ở ngoài những gì tôi đang có bây giờ. Tôi được sống trong môi trường có Tăng thân nên tôi luôn luôn được nhắc nhở là mỗi bước chân của mình chính là hạnh phúc đích thực mà tôi không cần đi đâu xa để tìm kiếm. Mỗi lần tôi có thể bước được những bước có chánh niệm, ý thức được những bước chân tôi đặt trên mặt đất, cảm nhận được sự êm dịu của bàn chân trên mặt đất thì tôi có cơ hội để sống thật sự sâu sắc với vẻ đẹp của thiên nhiên. Tôi biết thưởng thức được những cơn gió nhẹ thoang thoảng bên tai với những chiếc lá xào xạc, những tia nắng mới đang hiện dần dần sau những rừng cây. Những thực tập này giúp tôi ý thức được sự may mắn khi tôi còn sống và được tu tập trong Tăng thân.

Hạnh phúc không có gì xa vời, hạnh phúc là cái mà ta có khả năng cảm nhận được bằng cách thực tập dừng lại. Chạy theo những thiết bị điện tử, luôn hồi hộp hàng ngày hàng giờ xem thử chúng ta có một tin tức gì mới không, xã hội hiện giờ đang như thế nào, nước này có hòa bình không v.v… thì ta sẽ không có thì giờ để cho ta có cơ hội trở về với bản thân. Trong mùa An cư này, Sư Ông đã tạo những cơ hội cho đại chúng có mặt bên nhau nhiều hơn, trở về với bản thân mình để thưởng thức với sự sống bằng cách buông bỏ bớt những thiết bị điện tử và mạng lưới không cần thiết.

Thật ra những thiết bị hiện đại tự thân không mang tính cách tốt hay xấu, tốt hay xấu là do cách chúng ta dùng nó như thế nào mà thôi. Ví dụ như trang facebook, nó có khả năng liên kết được với rất đông quần chúng và nhờ như vậy mà sự truyền bá giáo pháp cũng rộng rãi hơn. Mạng lưới internet cũng như vậy, chúng ta có thể thiết lập những trang nhà có tính cách nuôi dưỡng và lành mạnh hơn. Tuy nhiên, đa số chúng ta ít nhiều cũng bị ảnh hưởng, thích tìm tòi những cảm giác mạnh, bồi hồi chờ đợi những người bạn trên thế giới ảo với những tin nhắn không được nuôi dưỡng và để cho nó tàn phá thân tâm, làm mất thì giờ vô ích. Tôi cũng đã từng là nạn nhân bị nó lôi kéo nên bây giờ tôi muốn trở về để thương lấy chính mình, chăm sóc mình và thiết lập lại thân tâm để có bình an nhiều hơn.