Đạo đức học ứng dụng tại Butan, Ấn Độ

Vào mùa thu năm 2012, một nhóm xuất sĩ Làng Mai cùng với bốn bạn trẻ từ WakeUp đã đến Bhutan (10 ngày) và Ấn Độ (1 tháng) để chia sẻ về Đạo Đức Ứng Dụng và phong trào WakeUp (Thức Tỉnh). Các thầy các sư cô đã đến từ nhiều Tu viện ở khắp thế giới và gồm có Thầy Pháp Dung, Thầy Pháp Siêu, Sư Chú Trời Bảo Tích, Sư Cô Hội Nghiêm, Sư Cô Đẳng Nghiêm, Sư Cô Đàn Nghiêm và Sư Cô Mai Nghiêm. Nhóm Wakeup gồm có Elli Weisbaum, Rob Walsh, Nguyễn Chi Hân và Miranda van Schadewijk. Chuyến đi Bhutan được tổ chức bởi Gross National Happiness Center (Trung Tâm Tổng Giá Trị Hạnh Phúc Quốc Gia), và giám đốc của trung tâm này là Tiến sĩ Hà Vĩnh Thọ, được nhận truyền đăng làm giáo thọ cư sĩ từ Sư Ông Làng Mai vào năm 2001. Chuyến đi Ấn Độ được tổ chức bởi hai cư sĩ giáo thọ khác là Shantum Seth và Gitu Seth của Ahimsa Trust Foundation (Tổ Chức Quỹ Bất Hại). Bản tường trình này sẽ nói sơ lược về những sự kiện của hai chuyến hoằng pháp và tóm tắt về những sinh hoạt và mục tiêu của Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng.

 

Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng

Sư Ông Làng Mai là người đã đề xướng Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng (Applied Ethics Initiative) nhằm mang giáo lý và các pháp môn thực tập chánh niệm vào các lãnh vực khác nhau trong xã hội; nghĩa là đem những giáo lý thâm sâu và những phương pháp cụ thể có công năng chế tác hạnh phúc theo lời Bụt dạy áp dụng vào cuộc sống hàng ngày, mà không sử dụng danh từ Phật học hoặc các khái niệm. Phong trào này tiến hành được 3 năm và đang phát triển mạnh trong lãnh vực giáo dục tại các trường học. Tăng thân Làng Mai đã tổ chức nhiều khoá tu cho các giáo viên và cho những người trong ngành giáo dục tại Mỹ, Anh và các nước Á Châu. Chúng tôi đã thành lập được một nhóm giáo viên cư sĩ để giúp chúng tôi đem Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng vào chương trình giảng dạy tại các trường công và tư.

 

Hai phần chính của Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng là huấn luyện giáo viên và đem đạo đức ứng dụng vào chương trình giảng dạy; và thành lập một cộng đồng hoặc một mạng lưới hỗ trợ cho các giáo viên khắp thế giới. Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng được phát triển theo khuôn mẫu của Dòng Tiếp Hiện. Chúng ta hãy hình dung các giáo viên được huấn luyện cách xử lý các cảm xúc mạnh và khổ đau của họ; biết cách chế tác hạnh phúc trong tự thân và trong lớp học; có khả năng thư giãn và tận hưởng sự mầu nhiệm của sự sống – chắc chắn không khí lớp học sẽ thay đổi rất nhiều bởi năng lượng này. Chúng ta hãy hình dung các em học sinh được học cách thở chánh niệm và làm lắng dịu nội tâm; biết cách nhận diện cảm thọ và cảm xúc để không bị chúng cuốn đi; biết cách định tâm để có thể có mặt và sống được với những gì đang thực sự xảy ra; có khả năng xử lý những tình huống khó khăn với bạn bè và giải quyết các cuộc xung đột – lớp học sẽ rất khác, sẽ như là một gia đình, là một nơi lý tưởng để các em học hỏi và khám phá.

 

Không thể tưởng tượng được rằng những người trẻ đang lớn lên mà không được dạy dỗ cách chăm sóc thân thể, cảm thọ, cách ôm ấp những khó khăn và tận hưởng sự mầu nhiệm của sự sống. Đây là thực tại đau lòng của chúng ta, ngoại trừ vài trường tư hoặc những trường đã xảy ra những tai nạn bắn giết tàn khốc mà họ bắt buộc phải tìm các chương trình đặc biệt để giúp họ đối phó. Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng là nhằm để chỉnh đốn vấn đề này, hiến tặng những phương pháp thực tập cụ thể giúp học sinh, giáo viên, và phụ huynh chăm sóc thân tâm, và tạo nên một môi trường giáo dục có cách sống lành mạnh, biết cách hoà giải và đem lại bình an. Cũng như trong tất cả các trường học đều bắt buộc phải có chương trình giáo dục thân thể (physical education) để giúp các em học sinh hiểu và phát triển thân thể của các em một cách toàn diện, Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng là một loại giáo dục tâm lý để giúp các em học cách xử lý và phát triển tâm thức, tư duy và cảm thọ một cách lành mạnh. Đây là một chương trình thực tiễn như chương trình giáo dục thân thể, với những phương cách có thể áp dụng ngay trong phạm vi lớp học, gia đình và xã hội.

Bhutan và Gross National Happiness Center (Trung Tâm Tổng Giá Trị Hạnh Phúc Quốc Gia)

Mục tiêu chính của chúng tôi khi đến Bhutan là để chia sẻ Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng cho người trẻ, các giáo viên và quan chức nhà nước (government officials) có trách nhiệm trong công việc phát triển đất nước. Khi thiền sinh từ các tăng thân trên thế giới biết về chuyến đi này, nhiều người đã email xin phép được tháp tùng, nhưng vì điều kiện giới hạn nên chỉ có 4 người trẻ WakeUp được tham dự. Khi làm Visas, chúng tôi khám phá rằng thể lệ làm giấy thông hành và tiền lệ phí rất cao cho những người thường dân qua thăm nước Bhutan. Du khách phải trả 300 đô cho mỗi ngày ở lại Bhutan, nhưng vì là nước Phật giáo nên họ miễn lệ phí cho người tu. Đây là một trong những nước còn lại mà sự hướng dẫn tâm linh của các vị đạo sư vẫn còn ảnh hưởng lớn trên chính phủ. Nhà Vua đã thành lập quốc hội theo tinh thần dân chủ và mở ra cho Tây phương đi vào chỉ trong vòng khoảng mười năm nay.

Bhutan trở nên nổi tiếng vì đã giới thiệu với thế giới về khái niệm Tổng Giá Trị Hạnh Phúc Quốc Gia (Gross National Happiness – GNH) thay vì Tổng giá trị Sản Phẩm Quốc Gia (Gross National Product – GNP), và đây là một phương cách mới để đo lường hạnh phúc chân thật, sự giàu có và sự lành mạnh của một quốc gia. Khi các thầy các sư cô trong nhóm được biết về thiện ý của chính phủ Bhutan, chúng tôi liền cảm thông với những nỗ lực của họ. Có nhiều điểm giống nhau giữa Phong Trào Đạo Đức Ứng Dụng và Tổng Giá Trị Hạnh Phúc Quốc Gia (GNH). Những đề nghị và mục đích của GNH rất phù hợp với Năm Giới Quý Báu của Làng Mai – nhằm đưa ra một cách sống và phát triển đất nước dựa trên sự tiêu thụ có chừng mực và có trách nhiệm đối với trái đất; nhấn mạnh hạnh phúc của người dân và hạnh phúc của một đất nước không phải chỉ tuỳ thuộc vào sự giàu có vật chất mà vào sự giàu có tâm linh và hành xử đạo đức của mỗi người dân. Trong cốt lõi, đây là sự thực tập Năm Giới Quý Báu của một quốc gia.

Đức Vua cha của vị vua hiện tại đã đề xướng GNH nhằm hướng dẫn đất nước đối phó với những thử thách trong sự phát triển và hiện đại hoá. Nhà Vua đã quán sát và thấy những ảnh hưởng độc hại trên người dân và nhất là giới trẻ – hạnh phúc và chất lượng đời sống của họ, cá nhân cũng như tập thể, dần dần sa sút. Sự nhập khẩu của các sản phẩm và tư tưởng phương Tây làm cho tệ nạn xã hội tăng trưởng.

Trung tâm GNH được thành lập để phát triển chủ trương của GNH thành những sự thực tập cụ thể cho dân chúng và các cộng đồng. Vì lý do này, vị giám đốc của trung tâm, Tiến sĩ Hà Vĩnh Thọ (chúng tôi thân mật gọi là chú Thọ) đã mời một nhóm các thầy sư cô Làng Mai qua Bhutan để hướng dẫn những ngày tu học cho người trẻ và các giáo viên. Đây cũng là những sinh hoạt đầu tiên của trung tâm GNH tổ chức cho người trẻ Bhutan. Chúng tôi đã tổ chức 4 ngày tu học: 3 ngày cho người trẻ và 1 ngày cho giáo viên và quan chức trong chính phủ. Ngày đầu tiên có Công chúa em của Vua đến dự lễ khai mạc và Công chúa là người bảo trợ chính của trung tâm GNH. Công chúa đã đọc một bài diễn văn nói về trung tâm GNH và về tầm quan trọng của chánh niệm. Công chúa đích thân bắt tay và cảm ơn từng vị xuất sĩ, rất hạnh phúc được gặp các thầy các sư cô vì Công chúa đã đọc nhiều sách của Thầy, xem Thầy là vị đạo sư của mình, và mong rằng sẽ có ngày được gặp Thầy. Tuy Công chúa chỉ đến dự phần buổi lễ khai mạc, mọi người trong phái đoàn chúng tôi đều cảm kích vì Công chúa trẻ, 23 tuổi, rất đẹp, uy nghi cũng đẹp, nhưng lại sâu sắc, chân thành và khiêm tốn. Nhiều viên chức của Vua đã tháp tùng Công chúa, và 2 vị trong nhóm này đã trở lại dự ngày sinh hoạt cuối dành cho các viên chức nhà nước. Hai buổi hội thảo khác đã được ân cần giới thiệu bởi Công chúa lớn nhất của gia đình Hoàng gia và một Ngài Đạt Ma từ Tu viện Hoàng gia.

Hình: Công chúa Bhutan và một số quan chức trong Hoàng gia tham dự buổi lễ khai mạc đầu tiên của 4 ngày hội thảo với chủ đề “Chánh Niệm là Nguồn Hạnh Phúc”

 

 

Hình: Công chúa Bhutan bắt tay các Thầy các Sư cô. Tiến sĩ Saamdu Chetri đứng sau lưng Công chúa và Tiến sĩ Hà Vĩnh Thọ đứng bên tay phải của Công chúa.

 

Bốn Ngày Hội Thảo “Chánh Niệm là Nguồn Hạnh Phúc”

 

Chủ đề của 4 ngày hội thảo, “Chánh niệm là nguồn hạnh phúc”, dường như rất thích hợp cho một quốc gia được biết đến về Hạnh Phúc Quốc Gia. Ngày đầu tiên đã dành cho khoảng 200 sinh viên đại học từ Trường Giáo dục Hoàng gia. Hai ngày tiếp theo cho học sinh trẻ, hầu hết trong lứa tuổi 13-16, và có khoảng 200 người đến dự từ các trường học địa phương và từ Trung tâm Thanh niên Thimpu, nơi các cuộc hội thảo đã được tổ chức. Ngày thực tập thứ tư dành cho các nhà giáo dục và các quan chức chính phủ đã tham gia vào lĩnh vực giáo dục hoặc đã làm việc với giới trẻ. Mỗi ngày, sau lời giới thiệu từ một khách mời danh dự, chúng tôi nghe một bài Pháp thoại từ một vị Giáo thọ, tiếp đó là một số trò chơi. Núi đồi Bhutan xanh rì, ôm trọn cả đất nước, dưới chân là những dòng sông lớn chảy dài, không khí mát dịu thanh bình, cho nên những buổi thiền hành ngoài trời là những phút giây hạnh phúc của chúng tôi và các em. Chúng tôi cũng dạy các em ăn trong chánh niệm và thưởng thức sự có mặt của nhau. Sau khi ăn trưa, mọi người lại được một thầy hay sư cô hướng dẫn thiền buông thư. Các em đã chia sẻ rằng trong các trường của các em, mỗi ngày có thời ngồi thiền trong vòng 3-5 phút. Một số người trẻ thú nhận rằng họ đã không thích ngồi thiền hoặc không biết tại sao họ lại phải ngồi yên như vậy. Nhưng sau khi tham dự buổi hội thảo và học hỏi về mục đích của thiền, họ đã khám phá ra cách thưởng thức giờ ngồi thiền trong trường và lại có ý muốn tập ngồi yên cho chính mình. Chúng tôi nhận thấy tâm hồn của thanh thiếu niên Bhutan rất tươi sáng, hiền hoà và chân chất. Chúng tôi lớn lên ở Tây phương, tiếp xúc với giới trẻ khắp nơi trên thế giới, nhưng có thể đây là lần đầu tiên cho một số chúng tôi thấy được người trẻ “lành thiện” là như thế nào! Sau một ngày sinh hoạt, các em luôn nán lại để được học hỏi và chuyện trò thêm với các thầy cô và các bạn WakeUp. Những em gái đã chắp tay búp sen, xếp thành hàng dài để được phép thiền ôm với các sư cô và nói rằng các em đã nhận rất nhiều tình thương từ các thầy các sư cô.

 

Hình: Sinh viên người Bhutan cùng với các Sư cô bản xứ và các thầy sư cô Làng Mai sau một ngày tu tập

Những Nhà Lãnh Đạo Đức Độ của Bhutan

Chúng tôi đã có dịp gặp gỡ với các nhà lãnh đạo của Bhutan thông qua các cuộc hội thảo tại Trung tâm GNH. Tiến sĩ Saamdu Chetri, Giám đốc điều hành của Trung tâm GNH, đã được nhà Vua và gia đình Hoàng gia yêu cầu giúp thực hiện chủ trương của GNH cho Bhutan. Ông và Tiến sĩ Hà Vĩnh Thọ đã giúp tổ chức các buổi hội thảo của chúng tôi ở Bhutan. Tiến sĩ Saamdu đã đọc một vài cuốn sách của Thầy và đã có cơ hội tham dự một buổi Pháp thoại của Thầy trong chuyến hoằng pháp tại Châu Á năm 2011. Tuy rất bận rộn nhưng Ông luôn dành ra ít nhất nửa ngày để tham dự các buổi hội thảo. Phái đoàn Làng Mai chúng tôi rất cảm động vì sự khiêm tốn và đức độ của các vị lãnh đạo mà chúng tôi đã tiếp xúc. Công chúa Bhutan, người khai mạc buổi hội thảo đầu tiên, đã nói một cách rất biện tài về chủ đích của GNH, về sự thiết yếu của chánh niệm trong hạnh phúc của cá nhân, gia đình cũng như đất nước, và về ảnh hưởng của Thầy đối với Công chúa. Cuối cùng, Công chúa có nói một trong những cuốn sách yêu thích của Công chúa là Đường Xưa Mây trắng.

Chúng tôi cũng có cơ hội tiếp xúc với 2 thành viên của Chính phủ Hoàng gia đã tháp tùng Công chúa, và sau đó những vị này đã tham gia trọn ngày vào buổi hội thảo cuối cùng. Họ sinh hoạt hài hòa với mọi người mà không hề có sự ngăn cách. Các vị này cùng ngồi trên đất, thực tập ăn trưa trong chánh niệm như mọi người, và họ cũng tham gia các nhóm chia sẻ vào buổi chiều. Sau đó các vị này nói rằng buổi thực tập Thiền Buông Thư rất lợi ích và họ hy vọng có thể đem pháp môn này về cùng thực tập với các cộng sự viên của họ.

Vào đêm trước khi chúng tôi rời Bhutan, ông Bộ trưởng Bộ Giáo dục đã mời đoàn đại biểu của chúng tôi đến dùng bữa ăn tối với ông ta. Với giọng nói nhỏ nhẹ từ tốn, ông cảm ơn chúng tôi và công việc chúng tôi đã làm; ông cho chúng tôi biết là ông đã nghe nhiều báo cáo tuyệt vời từ các đồng nghiệp và bằng hữu của mình. Ông cũng chia sẻ rằng Ông vừa mới đi thăm các giáo viên và học sinh tại một số vùng cao nguyên để khen thưởng và động viên họ thêm trong việc giảng dạy và học hành. Phần lớn làng mạc trên các vùng cao nguyên không có đường cho xe đi, nên Ông cùng một nhóm người phụ tá phải đi bộ, leo núi cả hơn 7 ngày mới đến được những nơi đó, và ông cho biết thêm là Ông để thời gian đi thăm các làng mạc khác nhau hàng năm như vậy. Ông mời chúng tôi trở lại để tiếp tục chia sẻ về sự thực tập và ông còn nói thêm rằng trong kỳ tới, chúng ta nên tổ chức hội thảo cho thanh thiếu niên toàn quốc thay vì chỉ cho giới trẻ ở thủ đô. Ông cũng chia sẻ rằng đôi khi ông phải nhờ đến người nước ngoài để nhắc nhở cho giới trẻ biết rằng những gì họ đang có ở quê hương là rất quý báu. Từ khi đất nước của ông mở cửa để hiện đại hóa, giới thanh niên ở đây dần dần nhìn về phương Tây như những nơi lý tưởng, và do đó, sự hiện diện của chúng tôi và cách giảng dạy cho những người trẻ này rất kịp thời và thích hợp. Hình ảnh của chúng tôi những người tu sĩ áo nâu lớn lên tại phương Tây có bằng cấp có địa vị nhưng lại khước từ để sống đời thanh bần đã đánh động họ.

Các Trường Mẫu Tại Ấn Độ

Phương hướng của chương trình Đạo Đức Ứng Dụng là tìm những trường kiểu mẫu để áp dụng các pháp môn chánh niệm vào ngành giáo dục. Chúng tôi đã chia sẻ các chương trình giảng dạy của Đạo Đức Ứng Dụng cho hai trường ưu tú K-12 ở New Delhi –  trường Vassant Valley và trường Step By Step. Cha mẹ của các em học sinh của 2 trường này là những người giàu có hoặc giữ chức vị cao trong xã hội, và các em được tuyển vào các trường ưu tú từ nhỏ để được huấn luyện trở thành những người lãnh đạo đất nước sau này. Giám đốc và hiệu trưởng của hai trường này đã tham dự khóa tu ở Dehradun dành cho giáo viên trong chuyến viếng thăm của Thầy năm 2008. Họ rất ấn tượng về khóa tu và họ đã mong đợi một cơ hội để chia sẻ sự thực tập chánh niệm với những người cộng sự và học sinh của họ. Vì vậy, họ đã chào đón phái đoàn một cách nồng nhiệt và cho phép chúng tôi tự nhiên hướng dẫn tất cả các sinh hoạt theo ý muốn. Cũng có nhiều giáo viên khác đã tham dự khóa tu năm 2008, và họ rất vui mừng khi được tu học với chúng tôi. Hai trường này sẽ là các trường mẫu đầu tiên ở Ấn Độ để thực hiện chương trình Đạo Đức ​​Ứng Dụng. Vì vậy, cô Elli Weisbaum của nhóm WakeUp đã soạn một mẫu đơn để những người tham dự có thể cho nhận xét và ý kiến về các buổi sinh hoạt của chương trình Đạo Đức Ứng Dụng. Ý kiến của các học sinh và giáo viên sẽ giúp nhóm Đạo Đức ​​Ứng Dụng trở nên có hiệu quả hơn và cũng giúp cung cấp cho phong trào này những phân tích thực nghiệm (empirical analysis). Điều này sẽ rất quan trọng vì trong lãnh vực giáo dục, phương pháp tiếp cận dựa trên “chứng cứ” được đề cao, cũng như tính cách khách quan và thực tế. Điều này thích hợp và tương tự như các phương pháp tiếp cận trong sự thực tập của đạo Bụt.

Trường Vassant Valley

Từ ngày 8 đến ngày 10 tháng 10 năm 2012, chúng tôi đã sinh hoạt với 1000 học sinh tại trường Vasant Valley ở New Delhi. Tóm lại, trong thời gian 3 ngày, ngày nào cũng có 3 buổi sinh hoạt – 2 vào buổi sáng và 1 vào buổi chiều – mỗi buổi là 2 giờ, với từng nhóm có khoảng hơn 300 em học sinh được chia theo các cấp lớp (lớp 3-5; lớp 6-9; và lớp 10-12), mà chúng tôi chỉ có tổng cộng 11 người (7 xuất sĩ và 4 em trẻ thuộc phong trào Wake Up). Trong mỗi nhóm 300 em học sinh này (group), chúng tôi lại chia các em ra làm 3 nhóm với 100 em trong mỗi nhóm nhỏ (subgroup), và chúng tôi cũng chia nhau ra thành 3 nhóm để hướng dẫn các em. Những con số này nghe rất phức tạp, nhưng hãy tưởng tượng chúng tôi đã phải “thở và cười” và bàn thảo nhiều tiếng đồng hồ để cùng nhau nghĩ ra cách phải chia các em ra như thế nào mà vẫn bảo đảm được chất lượng của các buổi sinh hoạt. Cuối cùng thì đây là phương cách “thần đồng” mà chúng tôi đã nghĩ ra, và nó rất hữu hiệu. Mỗi ngày, chúng tôi đã tổ chức 2 lần Thiền Buông Thư, một lần để bắt đầu buổi sinh hoạt thứ 2, và một lần nữa để bắt đầu buổi sinh hoạt thứ 3. Chưa bao giờ chúng tôi sinh hoạt với nhiều học sinh và liên tục như vậy, nên những giờ buông thư này đã cho chúng tôi cơ hội nghỉ ngơi và lấy lại năng lượng tươi mát trước khi bắt đầu hướng dẫn cho các em. Các giáo viên cũng được mời nằm xuống cùng với các học sinh của mình, nhưng có những vị rất ngần ngại buông bỏ trách nhiệm để thư giãn và nghỉ ngơi. Họ cứ ngồi dậy nhìn xung quanh để xem các học sinh của họ có nói chuyện hay chọc ghẹo nhau không. Còn các em thì nằm xếp lớp như cá mòi, ngọ nguậy lúc đầu, nhưng một khi tiếng hát bắt đầu thì các em yên dần và đi vào giấc ngủ thật ngon. Thức dậy, có em chia sẻ rằng, “Con cảm thấy mình như một hoa hồng vàng”. Những sinh hoạt khác gồm có ngồi thiền có hướng dẫn, ăn trong chánh niệm, thiền đi, thiền sỏi, vận động chánh niệm, v.v. Các em ở các lứa tuổi khác nhau đều tiếp xúc với sự thực tập rất sâu sắc, làm ngay cả chúng tôi cũng ngạc nhiên. Hỏi về cảm giác của các em khi tập ngồi yên và theo dõi hơi thở, các em thiếu nhi phát biểu rằng, “Con cảm thấy bớt căng thẳng ngay lập tức”, và “Con cảm thấy mình nhẹ như một cái lông chim bay ngoài cửa sổ”. Khi được dạy nên tìm hay hình dung một nơi rất bình an để các em có thể an trú và làm lắng dịu các cảm xúc mạnh, thì một em trai chia sẻ rằng, “Con tưởng tượng con đang nằm cuộn tròn dưới chiếc chăn ấm và nhâm nhi một miếng bánh ngọt”. Khi các em thiếu nhi học về Hai Lời Hứa, một em gái nói rằng, “Cách tốt nhất để bảo vệ môi trường là không nên xây dựng khách sạn một cách không cần thiết”! Chúng tôi ai cũng bật cười vì em chỉ khoảng 8-9 tuổi, và có thể em đã nghe lỏm cha mẹ và những người lớn khác nói chuyện về các công trình xây dựng. Các em thiếu niên được học về cách tiêu thụ kỷ thuật (technology) với chánh niệm, và các phương pháp bảo tồn năng lượng tinh, khí, thần. Chúng tôi cũng dạy cho các em nhiều bài hát thực tập của Làng Mai. Các em rất thích các bài Thiền ca, học thuộc một cách nhanh chóng và có rất nhiều hạnh phúc trong khi hát, làm cho các giáo viên cũng bị ảnh hưởng bởi năng lượng này.

 

Hình: Các em lớp 3, 4 và 5 của trường Vassant Valley đang thực tập thở trong chánh niệm

 

Trước 3 ngày sinh hoạt với các em học sinh, chúng tôi đã có 4 ngày thực tập với các giáo viên. Vì trường đang ở giữa niên khóa nên chúng tôi chỉ có 2 buổi hội thảo, mỗi buổi chỉ dài nửa ngày với một nửa số giáo viên (125) của trường Vassant Valley tham gia và một nửa khác (125) phải trông coi các lớp học. Hai ngày tiếp theo là những ngày cuối tuần, vì vậy chúng tôi đã có một lịch trình đầy đủ với tất cả các giáo viên của trường và một số giáo viên đến từ các trường khác gần đó. Trong hai ngày đầu tiên, khi các giáo viên đi thiền hành ngoài trời, các em học sinh có mặt trong sân chơi trông có vẻ bối rối và ngạc nhiên khi thấy thầy cô giáo của mình đi một cách thảnh thơi và nhẹ nhàng như vậy, và có lẽ các em học sinh rất thắc mắc không hiểu tại sao các thầy cô giáo không nói chuyện với nhau như thường lệ. Một số ngừng chơi và đứng xem rất lâu, cho đến khi nghe huấn luyện viên gọi các em mới thôi. Các sinh hoạt hội thảo của giáo viên tương tự như của học sinh, ngoại trừ có thêm một thời Vấn Đáp ở phần cuối.

Trong ngày cuối cùng, góp ý của các giáo viên điền trong các mẫu đơn (feedback forms) rất khích lệ, với nhiều từ tích cực như “làm mới lại”, “trẻ trung hóa” và “tuyệt vời”. Các câu thường dùng nhất là “đã mở mắt cho tôi”, “rất hữu ích” và “tìm thấy năng lực sức mạnh trong bản thân”. Sau đây là một số ý kiến ​​phê bình trực tiếp từ các giáo viên:

“Một cuộc hội thảo sâu sắc nhất và có khả năng làm mới. Nó đã mở mắt tôi và làm cho tôi nhìn lại những điều cũ với một quan điểm mới và khác trước. Tôi tự hứa với bản thân là sẽ thực tập theo những điều đã học được và tôi hy vọng sẽ có thêm nhiều cuộc hội thảo như vậy.” – Alka Sarkar

“Không có từ ngữ nào có thể diễn tả được sự tuyệt vời của khóa tu này. Tôi thấy nó rất gần gũi với trái tim tôi. Nhiều điều do các thầy sư cô chia sẻ tôi đã tập làm từ thời thơ ấu vì cha mẹ tôi cũng đã dạy tôi như vậy. Tôi mong tìm thấy hạnh phúc trong bản thân mình.” – Shikha Goyal

“Hội thảo này làm tôi suy nghĩ và dạy tôi nhìn vào bên trong tự thân mình. Điều này làm cho tôi sâu sắc hơn và chắc chắn làm cho tôi lắng yên hơn. Tôi nghĩ rằng nó sẽ đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của tôi, không những trong nghề nghiệp, mà đến cả đời sống cá nhân của tôi. Xin cảm ơn.” –  Chaudhry Khusrow Rehman

“Tôi phải mất một thời gian để hiểu làm sao tôi có thể áp dụng sự thực tập này vào lớp học. Nhưng khi tôi ngồi thảo luận với nhóm “gia đình”, trong đầu tôi bỗng loé lên một tia sáng chỉ cho tôi thấy con đường của chánh niệm trong lớp học.” – Rachna Grewal

“Tổ chức rất khéo. Tôi rất muốn giúp sắp xếp và tổ chức những khóa tu và những buổi hội thảo như vậy ở Mumbai. Xin cảm ơn.” – Seema Mehta

Trong buổi bế mạc, cô hiệu trưởng của trường Vassant Valley đã tiết lộ rằng cô đã được chuyển hóa sau những ngày thực tập, và nhất là sau khi chứng kiến ​​sự thay đổi rõ rệt trên khuôn mặt của các giáo viên và năng lượng nhẹ nhàng, tươi sáng của họ; mọi người đều đã trở nên thoải mái và hạnh phúc hơn. Cô chia sẻ rằng dù không bị bắt buộc, cô đã hy sinh 3 ngày cuối tuần của mình cho cuộc hội thảo, chỉ vì cô muốn tỏ tình đồng hữu và cùng đồng sự với các giáo viên của cô. Cô thú nhận rằng cô đã bí mật mang theo chiếc máy tính xách tay để trong trường hợp các cuộc hội thảo không có giá trị gì nhiều, cô sẽ có thể làm việc cần thiết riêng của cô. Nhưng sau đó cô thấy các buổi sinh hoạt rất hữu ích và thú vị nên cô đã không hề dùng đến máy tính. Trước đó chúng tôi đã nghe nói cô hiệu trưởng này rất nghiêm khắc và khó tính nên lời phát biểu của cô ta đã làm xúc động tất cả mọi người – một giây phút của sự ngọt ngào thông cảm, một giây phút của hạnh phúc thật sự cho tất cả các giáo viên trong phòng và cho các trường của họ.

Sau một ngày sinh hoạt với các học sinh, một giáo viên đã chia sẻ với chúng tôi rằng thật là tuyệt vời khi cô nhìn thấy một trong những học sinh của cô thực tập ngồi im lặng. Sự kiện này đã mở mắt của cô và mở trái tim của cô để hiểu người học sinh từng gây nhiều rắc rối cho cô. Có những lúc cô đã sợ sệt và co rúm người lại khi nhìn thấy em trai đó. Năng lượng tập thể trong phòng và nội dung của các buổi sinh hoạt đã đánh động cô, giúp cô nhận ra thái độ tiêu cực của mình đối với em học sinh đó. Cô hiểu chính cô hơn và do đó hiểu được người học sinh của mình hơn. Cô rất biết ơn điều này và quyết tâm sẽ tiếp tục học hỏi và  thực tập thêm. Cô hy vọng rằng hàng năm chúng tôi sẽ có dịp trở lại trường.

Vào ngày cuối cùng, mọi người tập họp ở sân chính của trường để nghe những lời bế mạc. Ông Giám đốc trường Vassant Valley đã phát biểu một số nhận xét và cảm ơn Tăng thân Làng Mai. Chúng tôi đã mời tất cả các giáo viên đứng ra để cùng hát một bài. Họ đã hát bài “I Like the Roses” (Tôi thích bông hồng) khiến cho tất cả các em học sinh nở hoa liên tục, rất vui và rất bất ngờ khi thấy các thầy cô giáo của mình hồn nhiên, trẻ trung và nhiều hạnh phúc như vậy.

Trường Step By Step (SBS)

3 ngày sinh hoạt của chúng tôi tại trường SBS cũng đã được tổ chức một cách tương tự, nhưng vì số học sinh ở trường này đông hơn, nên có những nhóm nhỏ có hơn 150 học sinh. Chúng tôi đã không có cơ hội để chia sẻ với những học sinh đàn anh của Trường SBS, từ lớp 9-12, vì các em đã có chương trình khác  được sắp xếp từ trước. Vì thế chúng tôi chỉ hướng dẫn cho các em học sinh từ lớp 3-8. Các em trường SBS cũng đã tiếp thu các phương pháp thực tập chánh niệm một cách nhanh chóng và hết lòng. Nhiều em thiếu niên không ngần ngại chia sẻ những khó khăn của mình. Một em gái nói, “Cuộc sống của con xảy ra rất trôi chảy và tốt đẹp. Nhưng con không hiểu tại sao con lại cảm thấy không có năng lượng sức sống trong con. Có khi con không biết mình sống để làm gì?” Các em gặp rất nhiều áp lực từ cha mẹ và thầy cô giáo, cảm thấy phải luôn luôn cố gắng học giỏi hơn, có điểm cao hơn thì mới có thể thi vào các trường đại học nổi tiếng sau này. Có những em phát biểu rằng những ngày sinh hoạt với chúng tôi là những ngày hạnh phúc nhất trong đời của các em! Sau các buổi sinh hoạt, các em đem tập của mình lên xin các thầy các sư cô viết vài dòng lưu niệm. Một em trai hỏi một sư cô, “Sư cô đã học những điều Sư cô biết từ đâu vậy?” Các em hỏi một cách thành khẩn, “Các thầy và các sư cô sẽ trở lại với chúng con phải không? Khi nào thì các thầy các sư cô sẽ trở lại?” Mỗi ngày khi tan trường, các em đều chắp tay búp sen xá chào và nở hoa tặng các thầy cô trước khi ra về. Chúng tôi cũng hạnh phúc tặng các em những búp sen và những nụ cười, nhưng vì có cả mấy trăm em như vậy nên chúng tôi ai cũng bị…ê quai hàm vì cười quá nhiều!

Hình: Các em học sinh trường Step by Step đang nở hoa

Chúng tôi cũng rất cảm động khi được gặp phụ huynh của các em. Một vị chia sẻ rằng ông hoàn toàn quên rằng có các thầy sư cô Làng Mai đến dạy tại trường của con mình, nên ông đã không hỏi han gì về những buổi sinh hoạt của con mình. Rồi một hôm ông nổi giận trong gia đình, và con trai ông nói một cách rất thiết tha, “Ba ơi, xin Ba cố gắng thực tập để được bình an và tươi mát như hoa.” Ông ngạc nhiên hết sức và hỏi con mình đã học nói điều đó từ đâu, và cậu bé 9 tuổi con của ông liền kể về các buổi thực tập chánh niệm với các vị xuất sĩ. Khi ông nhận thơ mời của trường đến dự một ngày sinh hoạt với các thầy cô, ông hỏi con, “Con nghĩ ba mẹ có nên đi không?” Và em liền trả lời rằng, “Không những ba mẹ nên đi dự một buổi, mà ba mẹ nên đi dự thật nhiều những buổi sinh hoạt như vậy”. Một phụ huynh khác chia sẻ rằng bà có 2 người con gái, và đứa em bị tai nạn chấn thương não từ lúc sinh ra, rất dễ bị căng thẳng và nổi giận, làm cả gia đình cũng náo loạn lên theo. Gần đây bà để ý thấy con gái lớn của mình ngồi rất yên mỗi khi thấy người em của mình lên cơn giận. Có khi cô chị lại nói: “Thở đi em. Bình tâm lại đi em”, và điều kỳ diệu là bà thấy đứa em yên lại nhanh chóng hơn trước. Bà hỏi con gái lớn thì được biết con đã được học về phương pháp thở từ các thầy cô Làng Mai. Vì thế nên dù bận rộn, bà cũng sắp xếp đến gặp các thầy cô để biểu lộ lòng biết ơn và để học cách làm lắng lại thân tâm của chính mình.

 

Vào ngày cuối cùng, tất cả các giáo viên và hơn 1000 em học sinh cùng với một số phụ huynh cũng đã tập họp lại tại sân chính của trường để nói lên lòng biết ơn đối với các thầy cô và các bạn WakeUp. Một vị Giáo thọ trong nhóm chúng tôi đã được mời lên phát biểu ý kiến. Thầy cảm ơn sự yểm trợ chân thành của các giáo viên và của các bậc phụ huynh. Thầy cũng nói thêm rằng tên của trường Step by Step mang một ý nghĩa rất sâu xa, “Từng bước từng bước.” Tuy trường chỉ mới thành lập trong vòng 6-7 năm nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những trường nổi tiếng nhất New Delhi. Thầy mong rằng trường không chỉ nổi tiếng vì kiến trúc đẹp hay vì trường đào tạo được nhiều học sinh xuất sắc. Những toà nhà cao sang của trường cũng sẽ mọc rong rêu và trở nên hoang tàn nếu vắng tiếng cười và tình thương. Thầy rất mong các giáo viên và các phụ huynh yểm trợ cho nhau, cho mình thời gian và không gian để sống cho có hạnh phúc và tạo nên một môi trường ấm áp cho các em được lớn lên và phát triển con người của mình một cách toàn diện. Buổi chia tay thật cảm động và đầy tình thân. Các em học sinh lớp 9-12 cũng có mặt trong buổi bế mạc, và vài em đến nói với chúng tôi rằng các em rất tiếc đã không được có cơ hội để được sinh hoạt với chúng tôi. Các em có nhiều bài thi nên bị căng thẳng quanh năm và rất cần học cách thư giãn và cách chú tâm cho có hữu hiệu hơn. Em trưởng lớp của toàn trường (president of the school) đã tranh thủ đến với một vị xuất sĩ để xin tham vấn. Anh trai của một người bạn của em vừa mới qua đời trong một tai nạn lưu thông; bạn của em rất đau khổ và xuống tinh thần, nhưng em không biết phải nên làm gì để giúp cho bạn mình. Tuy chỉ thấy sự hiện diện của chúng tôi tại trường trong 3 ngày qua, nhưng em có niềm tin ở chúng tôi và chia sẻ những quan tâm sâu kín như vậy.

Hình: Buổi bế mạc tại trường Step by Step

Khoá Tu Tại Trường Đại Học và Các Buổi Sinh Hoạt Khác

Ngoài 2 tuần sinh hoạt với các em học sinh, giáo viên và phụ huynh tại 2 trường Vassant Valley và Step by Step, chúng tôi cũng đã có một khoá tu 4 ngày cho các em nữ sinh trường đại học Lady Shri Lam, một ngày WakeUp cho người trẻ tại trường đại học Ambedkar và một ngày tu chánh niệm cho gia đình tại Trung Tâm Quốc Tế Ấn Độ (India International Centre). Tất cả các buổi sinh hoạt đều đã thành công viên mãn. Các em trẻ WakeUp trong phái đoàn của chúng tôi đã có cơ hội chia sẻ về sự thực tập Năm Giới Quý Báu của các em và về phong trào WakeUp cho người trẻ đang xảy ra trên khắp thế giới. Tất cả 4 em WakeUp đều đã tốt nghiệp đại học, và 1 em đang làm luận án để lấy bằng thạc sĩ (Master degree). Người trẻ Bhutan và người trẻ Ấn Độ rất cảm kích bởi sự hiện diện của những người trẻ Tây phương này, vì thấy rằng dù họ có điều kiện vật chất đầy đủ, có bằng cấp và việc làm nhưng lại tình nguyện đi theo các thầy các sư cô để tu học và giúp chia sẻ các phương pháp tu học chánh niệm.

Tình Huynh Đệ Là Hạnh Phúc

Gia đình áo nâu của chúng tôi rất lớn và chúng tôi sống ở nhiều Tu viện khác nhau trên khắp thế giới. Vì thế cho nên thỉnh thoảng khi được gặp lại trong các khoá tu, như trong chuyến đi Bhutan và Ấn Độ này, chúng tôi rất trân quý nhau. Chúng tôi thấy rõ mỗi người có mặt không phải chỉ để giúp hoằng pháp, mà chính chúng tôi cũng có được một khoá tu xuất sĩ với nhau. Trong suốt chuyến đi, chúng tôi đã sống, tu học, làm việc và chia sẻ niềm vui với nhau rất hết lòng. Trước khi bắt đầu những ngày sinh hoạt với các em học sinh tại New Delhi, chú Shantum đã dẫn chúng tôi đi thăm những thánh tích của Bụt. Chúng tôi đã ra sông Hằng trước khi mặt trời lên. Ngồi yên trên thuyền nhìn khối mặt trời hồng khổng lồ, thả những chiếc thuyền giấy bé tí có nến và cánh hoa, ngắm người dân cầu nguyện và trầm mình trong dòng sông là những giây phút thật bình an và thiêng liêng. Chúng tôi cũng đã dừng lại tại một nơi hoả táng sát bờ sông, lặng lẽ quan sát 5 cơ thể đang trong những giai đoạn thiêu tàn khác nhau, để thấy thân thể của chính mình và của anh chị em mình rồi cũng sẽ như vậy… Tại Bồ Đề đạo tràng, chúng tôi đã ngồi lặng yên bên nhau hàng giờ trước cây bồ đề.

Hình: Các thầy các sư cô, các em WakeUp, chú Shantum, cô Gitu và 2 con gái của họ (Anamita và Nandini)

Khi về lại Delhi, sau mỗi ngày sinh hoạt, một nhóm chúng tôi tập khí công và một nhóm chuẩn bị thức ăn tối. Thức ăn Bhutan và Ấn Độ rất ngon, nhưng hầu như món nào cũng chiên hoặc có fromage. Các sư cô mua thêm rau quả, dùng 2 ấm nấu nước bằng điện nhỏ xíu để luộc rau và nấu canh. Những buổi ăn tối thật ấm cúng, nhất là khi chúng tôi được một dĩa rau luộc còn xanh rì chấm với xì dầu Maggi mang từ Pháp qua. Chúng tôi cũng có được những tô canh rau, canh bầu nóng hổi, rắc lên một nắm hạt thông đem từ Mỹ qua là cảm thấy “ở khách sạn 5 sao cũng không được ăn ngon bằng chúng tôi”. Sau buổi ăn tối, chúng tôi ngồi lại chia sẻ về những hạnh phúc và những học hỏi trong ngày của mình cho nhau nghe. Tuy sự chia sẻ cần nhiều thời gian, nhưng ai cũng được nuôi dưỡng và thêm năng lượng, và chúng tôi cũng rút kinh nghiệm để làm tốt hơn ngày hôm sau. Ai cũng hoan hỷ đứng vào vị trí của mình, thay phiên nhau thỉnh chuông, hướng dẫn thiền hành, thiền ăn, thiền buông thư, cho pháp thoại, v.v. Các em cư sĩ giúp quay phim, giới thiệu về phong trào Wakeup, thuyết trình Năm Giới và hướng dẫn thiền buông thư. Chuyến đi dài 6 tuần và có rất nhiều sinh hoạt nên chúng tôi không tránh được sự mệt mỏi. Chúng tôi ngủ ngon lành trong những buổi thiền buông thư, dù các em nhỏ nằm chật quá nên có khi gác tay gác chân lên người của chúng tôi. Hoặc có khi vừa nằm xuống đã nghe tiếng chuông, mở mắt ra thấy các em đã ngồi dậy và đang nhìn mình chằm chằm.

Tất cả rồi cũng đi qua, chỉ còn lại những kỷ niệm thật đẹp trong lòng của mỗi chúng tôi. Chuyến đi Bhutan và Ấn Độ giúp cho chúng tôi thấy rõ hơn không có con đường đi đến hạnh phúc, mà hạnh phúc chính là con đường. Mỗi giây phút sống trong tỉnh thức, biết trân quý những gì đang có mặt trong tự thân và chung quanh mình là một giây phút hạnh phúc. Tình huynh đệ là hạnh phúc, nuôi chúng tôi lớn lên, cùng đi với nhau và mở thêm rộng lớn con đường.

Thầy: Chân Pháp Dung

Làng Mai năm 2012

Làng Mai hiện đang ở vào tuần lễ cuối của Khóa An Cư Kiết Đông 2012-2013. Tháng Giêng Tây nhưng trời còn ấm lắm. Năng lượng của tăng thân rất bình an và hùng hậu. Đại chúng đang thực tập soi sáng cho từng vị xuất sĩ để mọi người đều có một bức thư soi sáng trong ngày tự tứ, sẽ được cử hành tại thiền đường Nước Tĩnh ở chùa Pháp Vân Xóm Thượng Làng Mai vào ngày mồng 5 tháng 2, 2013. Sau đây xin thuật lại sơ lược những gì đã xảy ra tại Mai Thôn năm 2012.

 

Đại Giới Đàn Tình Huynh Đệ

Đại giới đàn được tổ chức tại Mai Thôn từ ngày 25 tháng Hai đến 29 tháng Hai năm 2012 rất hùng tráng mà cũng rất tưng bừng nhờ sự viếng thăm của ba phái đoàn các vị Tôn túc Trung Nam Bắc Việt Nam.

Bên quý vị Tôn túc miền Trung có các Hòa thượng như Hòa thượng Chí Mãn, Huệ Ấn, Thượng tọa Từ Đạo và đại đức Từ Thông. Ở miền Nam năm nay có được nhiều vị Hòa thượng lớn quang lâm như các Hòa thượng Tịnh Hạnh, Nhật Quang, Như Tín, Phước Trí, Thiện Tánh, Minh Cảnh và Minh Nghĩa. Ngoài ra còn có các Thượng tọa Giác Độ, Thiện Bảo, Thanh Huân, Nguyên Hạnh, và các đại đức Nguyên Hiền, Quảng Phúc từ miền Bắc.

Bên chư Tôn túc ni thì có quý Sư Bà Tịnh Hạnh (chùa Bồ Đề), Tịnh Thường (chùa Phổ Đà), Tịnh Nguyện (chùa Phước Hải), Chơn Hiền (chùa Diệu Hỷ), Như Tuấn (chùa Phổ Hiền, Pháp), Kiều Đàm (Vũng Tàu), Lưu Phong, ni sư Minh Đăng (chùa Kiều Đàm, Sài Gòn), Như Minh (chùa Tây Linh, Huế). Miền Bắc có quý Sư Trưởng Đàm Lan, Đàm Kiên, Đàm Đoan, Đàm Vĩnh, Đàm Nghiêm, quý Ni sư Tịnh Quán, Hạnh Châu, Diệu Bảo, Diệu Sen, và Diệu Đoan.

Trong Đại giới đàn Tình Huynh Đệ năm nay, Lễ Truyền Đăng khá lớn. Sư Ông truyền đèn tuệ cho 20 vị ở Pháp nhưng đồng thời cũng truyền cho nhiều vị ở Thái Lan và Lộc Uyển. Các vị ở xa Làng thì được tăng thân xuất sĩ tại Trung tâm địa phương đại diện cho Sư Ông truyền trao đèn và bài kệ phó pháp, như thế để cho gia đình các vị nhận đèn có thể tham dự.

Sau đây là bài kệ đắc pháp của các vị nhận truyền đăng
Kệ Truyền Đăng tại Đại Giới Đàn Tình Huynh Đệ 2012

Cũng trong Đại Giới Đàn này, Làng Mai đã chia sẻ cho bốn chúng về Mười Bốn Giới Tiếp Hiện Tân Tu. Việc tân tu giới bản cho hai giới xuất sĩ và cư sĩ áp dụng vào đời sống hằng ngày là vấn đề mà Tăng thân Làng Mai luôn quan tâm đến. Theo đà tiến hóa của thời đại ngày nay, thời đại phát triển kinh tế song song với những tệ nạn xã hội đang lan tràn khắp nơi thì việc tân tu giới bản rất cần thiết cho việc áp dụng tinh thần giới luật vào đời sống hằng ngày của chúng ta. Nếu không tân tu các giới bản kịp thời để thích ứng với đời sống của con người trong thời đại hiện nay thì chúng ta không tiếp tục đóng góp được vào sự nghiệp độ sinh mà Bụt đã làm cách đây 2600 năm trước.

Khai mạc Ăn Mừng Làng Mai 30 tuổi là chiếc bánh lớn cả nửa thước vuông do một cô thiền sinh tới tu học có nghề làm bánh thực hiện.

 

Ba lần xuất gia trong năm 2012

Vào ngày 30.1.2012 Làng Mai đã làm lễ xuất gia và truyền 10 giới cho 26 vị tập sự thuộc gia đình Cây Cúc Đại Đóa gồm có các sư chú Chân Trời Linh Thứu (Việt Nam-Trà Vinh), Chân Trời Bắc Sơn (Việt Nam-Vĩnh Long), Chân Trời Nguyên Sinh (Việt Nam-Trà Vinh), Chân Trời Đại Giác (Thụy Sỹ), Chân Trời Đại Tuệ (Đức), Chân Trời Đại Định (Indonesia), Chân Trời Lĩnh Nam (Việt Nam-Huế), Chân Trời Đại Nguyện (Việt Nam-Đồng Tháp), Chân Trời Hiền Lương (Việt Nam-Bình Thuận), Chân Trời Đâu Xuất (Việt Nam-Daklak), Chân Trời Xá Vệ (Việt Nam-Huế) và mười lăm sư cô là Chân Trung Nghiêm (Canada), Chân Trăng Đông Hải (Quảng Đông), Chân Trăng Thủy Tiên (Việt Nam-Đã Nẵng), Chân Trăng Vườn Tiên (Việt Nam-Đồng Tháp), Chân Trăng Hoa Tiên (Việt Nam-Bình Thuận), Chân Trăng Hương Tích (Việt Nam-Quảng Trị), Chân Trăng Sông Hồng (Việt Nam-Quảng Trị), Chân Trăng Hiên Ngọc (Việt Nam-Bình Thuận), Chân Trăng Quy Nguyện (Việt Nam-Sài Gòn), Chân Trăng Núi Na (Việt Nam-Hải Dương), Chân Trăng Tản Viên (Việt Nam-Huế), Chân Trăng Ngàn Phương (Việt Nam-Bình Thuận), Chân Trăng Hương Giang (Việt Nam-Huế), Chân Trăng Tịnh Chiếu (Việt Nam-Khánh Hòa) và Chân Trăng Kinh Kỳ (Việt Nam-Huế).

Vào ngày 04/07/2012 Làng Mai đã có lễ xuất gia và truyền 10 giới cho 19 vị tập sư xuất gia thuộc gia đình cây Hoa Đỗ Quyên (Azalea Flowers), đó là các sư cô Chân Trăng Tam Muội (Anh quốc), Chân Trăng Tin Yêu (Indonesia), Chân Trăng Tịnh Thường (Việt Nam-Huế), Chân Trăng Linh Sơn (Thailand), Chân Trăng Hải Ấn (Canada), Chân Trăng Ân Nghĩa (Lào), Chân Trăng Cam Lộ (Việt Nam-Thanh Hóa), Chân Trăng Cố Hương (Việt Nam-Huế), Chân Trăng Diệu Lý (Đức), Chân Trăng Lên Ngôi (Việt Nam-Sài Gòn), Chân Trăng Nguyên Sơ (Việt Nam-Nghệ An), Chân Trăng Bích Ngọc (Việt Nam-Huế), Chân Trăng Huyền Sử (Việt Nam-Lâm Đồng), và sáu sư chú Chân Trời Tùy Niệm (Úc), Chân Trời Bình Minh (Việt Nam-Bắc Giang), Chân Trời Phạm Hạnh (Hòa Lan), Chân Trời Tương Lai (Việt Nam-Nam Định), Chân Trời Biểu Hiện ( USA) và Chân Trời Trung Hậu (Việt Nam-Khánh Hòa).

Ngày 5.11.2012, tại thiền đường Nước Tĩnh, Xóm Thượng – Làng Mai, Pháp Quốc cũng như tại thiền đường Trời Phương Ngoại, Thái Lan đã diễn ra buổi lễ xuất gia và truyền 10 giới cho 16 vị tập sự thuộc gia đình Cây Hoa Kim Ngân (Honey Suckle Flowers), đó là các sư cô Chân Trăng Hồng Ân (Việt Nam), Chân Trăng Thong Dong (Việt Nam), Chân Trăng Lý Tưởng (Việt Nam), Chân Trăng Thành Tựu (Việt Nam), Chân Trăng Hạnh Nguyện (Việt Nam), Chân Trăng Thường Trú (Việt Nam), Chân Trăng Chiếu Diệu (Việt Nam), Chân Trăng Cơ Duyên (Việt Nam), Chân Trăng Chí Thành (Việt Nam), Chân Trăng Lưu Ly (Việt Nam), Chân Trăng Sáng Soi (Việt Nam), Chân Trăng Tỏ Tường (Việt Nam) và bốn sư chú Chân Trời Giải Thoát (USA), Chân Trời Quán Chiếu (USA), Chân Trời Hiện Tại (USA) và Chân Trời Bồ Đề (USA).

 

Các chuyến hoằng hóa ở Anh Quốc và Ireland

Ngày 26/3 Sư Ông và một số các thầy, các sư cô lên đường hoằng hóa bên Anh. Đây là quê hương của thầy Pháp Linh và sư cô Hiến Nghiêm nên hai vị đã rất chu đáo trong việc tổ chức để Sư Ông có cơ hội độ được nhiều người ở nước hai vị. Năm nay có Lord Richard Layard và Lord Philipps của Sudbury nhất định mời cho được Sư Ông tới House of Lords để chia sẻ pháp môn tu chánh niệm cho Quốc Hội Anh. Lord Richard Layard rất tâm đắc về những phương pháp dạy trong quyển sách GIẬN của Sư Ông là một trong những vị niên trưởng của Thượng Viện Anh. Trước khi Sư Ông giảng, Lord Layard đã đọc cho mọi người nghe một đoạn trong sách Giận và tuyên bố rằng đoạn văn ấy đã giúp cho ông rất nhiều. Vì thế cho nên vào ngày 27/3, lúc 3 giờ chiều có nhiều vị trong Thượng Viện (House of Lords), một số dân biểu thuộc House of Commons (Hạ Viện) cùng một số ký giả đã đến House of Lords để nghe Sư Ông thuyết trình và để đặt những câu hỏi trực tiếp. Sau buổi nói chuyện này, ký giả Tony Bates đã viết bài Mở cửa trái tim rất cảm động ở nhật báo Irish Times Health.

Ngày 29/3/2012 là ngày Sư Ông thuyết pháp cho hơn ba nghìn người tại Sảnh Đường Lễ Lược Hoàng Gia (Royal Festival Hall). Sảnh đường thật hoành tráng. Rất tiếc là nơi trưng bày thư pháp của Sư Ông quá hẹp nên nhiều người không có dịp thỉnh thư pháp về tu tập dù rất muốn và đã xếp hàng khá lâu. Ngày hôm sau, thứ Sáu là ngày nghỉ ngơi, quý thầy quý sư cô mới đi Anh lần đầu được đi tham quan thắng cảnh London.

Khóa tu cho giáo chức từ 30/3/2012 đến 2/4/2012. Chiều thứ Sáu, một số các thầy và các sư cô đã bắt đầu hướng dẫn khóa tu giáo chức tại The American School nơi phái đoàn xuất sĩ Làng Mai cư trú ngay trong thời gian ở tại London. Dù đã chiếm hết các phòng ngủ của học sinh nội trú (khóa tu này xảy ra vào lúc trường nghỉ lễ Phục Sinh) nhưng ban tổ chức vẫn không có chỗ ngủ đủ cho tất cả thiền sinh. Vì vậy ban tổ chức chấp nhận cho phân nửa thiền sinh ở ngoài. Họ chỉ cần sáng sớm đi tàu điện ngầm đến cho kịp để cùng ngồi thiền, cùng ăn sáng và sau buổi thiền tối thì đi bằng tàu điện ngầm về nhà trong chánh niệm. Khóa tu kéo dài trong bốn ngày liên tiếp: thứ Sáu, thứ Bảy, Chủ nhật và thứ Hai. Giáo chức thuộc nhiều vùng khác nhau của Anh quốc và từ Hoa Kỳ nhờ ghi tên sớm thì được ở trong cư xá sinh viên. Chủ đề của khóa tu là “Thầy giáo cô giáo có hạnh phúc sẽ thay đổi được cả Thế Giới (Happy Teachers will change the World). Sư Ông giảng dạy nhiều về nhận thức tương tức trong đời sống và trong công tác giáo dục. Ai cũng hạnh phúc tham dự và ngày chót 2/4/2012 có hơn hai trăm vị đã tiếp thọ Năm giới, gọi là Năm Phép Tu Tập Chánh Niệm.

Trưa ngày 01/04/ 2012 Sư Ông thuyết pháp tại Quảng Trường Trafalgar Square. Các bạn gọi là Trafalgar Square Mob. Flash Mob là danh từ mới của người trẻ Âu Mỹ sử dụng để gọi những buổi gặp mặt bất ngờ của người trẻ không báo trước, không quảng cáo trước. Người trẻ hẹn nhau trên mạng lưới. Buổi sinh hoạt ngoài trời này không cần thuê rạp, quảng cáo và bán vé. Gần năm ngàn người đã quy tụ tại Quảng Trường Trafalgar hôm ấy. Trước hết là quần chúng cùng ngồi thiền với Thầy và các vị xuất sĩ. Sau đó quý thầy và quý sư cô trì tụng danh hiệu bồ tát Avalokitesvara. Thầy đã giảng về Đạo Đức Toàn Cầu, các tham dự viên của Khóa Tu Giáo Chức vì thế đều có mặt tại Thích Nhất Hạnh Trafalgar Square Flash Mob. Thầy cũng giảng dạy về Bốn Câu Linh Chú. May mà âm thanh khá tốt, tỏa ra bốn hướng, góc nào cũng nghe rõ. Thành phần tham dự đủ lứa tuổi, nhiều nhất là từ 20 tuổi đến 50 tuổi. Người trẻ khá đông, nhiều vị cha mẹ đã dẫn con đi cùng.

Ngày 02/04/2012 bế mạc khóa tu Giáo chức ở The American School. Sau đó tăng thân xuất sĩ được mời về Kent Hall thăm nhà của ba mẹ sư cô Hiến Nghiêm, người Anh.

Đại chúng được nghỉ ngơi, tham quan tòa lâu đài thế kỷ thứ 16 này, đi thăm nông trại, vườn cây ăn trái, sở chăn nuôi của lâu đài. Hoa thủy tiên màu vàng và màu trắng nở rộ khắp công viên thật rộng trước lâu đài. Trong ngày thứ Ba và sáng ngày thứ Tư tháng 4, đại chúng được nghỉ ngơi. Trưa ngày 4.4.2012, phái đoàn lên đường về Đại Học Nottingham.

 

Khoá tu ở trường Đại  Học Nottingham

Đại Học Nothingham rất đẹp, khóa tu cũng rất đẹp. Thiền đường, chỗ ăn chỗ nghỉ của Sư Ông và quý thầy quý sư cô được thiền sinh thu xếp chu đáo. Một chiếc ô tô để dành cho thị giả chở Sư Ông đi dạy. Một chiếc xe khác chở sư cô Chân Không đi dạy thiền buông thư, tham vấn riêng và pháp đàm. Tăng thân Anh làm việc rất chu đáo về việc gây quỹ cho trung tâm ở Anh trong tương lai… Ngày 08.04.2012, Thầy dạy về Phục Sinh và Thiền Sỏi. Ngày cuối khóa tu, Thầy dạy về Ba Cánh Cửa Giải Thoát. Có một nữ tu Công Giáo nói ngày Phục Sinh năm nay là năm duy nhất bà không đi Nhà Thờ để tham dự lễ Phục Sinh. Nhưng may quá, Thầy giảng về Phục Sinh thật sâu và bất ngờ giúp bà cùng một người bạn xưa cũng là linh mục thật cảm động và có tuệ giác mới về tính vô tướng của Phục Sinh.

Cuối khóa tu có 23 người thọ Mười Bốn Giới Tiếp Hiện và hơn 500 người thọ Năm giới (Five Mindfulness Trainings). Vì có văn bản Năm Giới Tân Tu nên người tuy đã thọ Năm giới trước đây cũng xin được một số thọ lại.

 

Ireland (Ái Nhĩ Lan)

Ngày 10.4.2012 phái đoàn bay sang Dublin bằng máy bay Air Lingues. Ireland là một nước tuy nói tiếng Anh, nhưng văn hóa có rất nhiều điểm rất khác với nước Anh. Con người hiền hòa, phong cảnh cũng hiền. Ireland là nước có những vết thương lớn với Anh quốc như Việt Nam có những vết thương với Trung Quốc vậy.

Vừa xuống phi trường thì đã có bài báo chào mừng thầy trò Làng Mai đăng ở nhật báo The Irish Times ở thủ đô Dublin.

Chủ đề khóa tu là Gieo Trồng Hạnh Phúc (Cultivating Happiness). Đất tâm bỏ hoang thì sẽ đầy gai góc. Biết tu tập gieo trồng những hạt giống tốt thì gặt hái hoa trái hạnh phúc. Tâm là đất. Bồ Đề Tâm là người làm vườn. Tam Bảo là thời tiết tốt. Mưa nắng thuận hòa là môi trường thuận lợi. Thầy dạy nhiều về tánh tương tức giữa Hạnh Phúc và Khổ Đau, về các ý niệm thành công, tranh đua, về sự ý thức của giây phút hiện tại và hạnh phúc trong mỗi bước chân trên con đường thực tập. Hạnh phúc và con đường đưa tới hạnh phúc là một (There is no way to happiness. Happiness is the Way). Thầy cũng dạy về các bài tập trong Kinh An Ban Thủ Ý, về Năm giới và Mười Bốn Giới Tiếp Hiện. Thầy dạy về tính lắng dịu và hạnh phúc của Niết Bàn trong hiện tại, phương pháp lắng nghe, ái ngữ, hạnh phúc chân thực và tình yêu chân thực.

Đêm ấy, phái đoàn ngủ lại tại tu viện Dominican và xế chiều hôm sau ngày 11/04 Thầy thuyết pháp tại Convention Center Dublin với đề tài “Phép Lạ của Chánh Niệm”. Chỉ có hai nghìn chỗ mà hội trường dàn trải thật vĩ đại. Thiên hạ ngồi thành vòng cung, hội trường rất nguy nga diễm lệ. Khi ra về chúng tôi biết có một số đồng bào ngươi Việt tuy tiếng Anh chưa giỏi lắm nhưng cũng đã đến thăm hỏi, nghe Thầy dạy, họ hãnh diện về thầy mình, cảm động và khóc. Một số các sư cô ở lại chờ đồng bào đến để chụp hình trước khi ra về và hẹn vào tuần tới khi phái đoàn đã hướng dẫn xong khóa tu ở Killamey trở về sẽ được gặp nhau lại ở Dublin.

Ngày 12.04.2012. Phái đoàn đi bốn tiếng xe hơi về Kilamey, trung tâm du lịch sang trọng. Ban tổ chức đã thuyết phục được chủ các khách sạn cho giá tối thiểu để cho những nhà giáo bình thường nào cũng có thể ghi tên dẫn vợ con đến tu trọn bốn ngày. Khóa tu ở đại học Nottingham hơn 800 người, chúng tôi tưởng quá đông. Ai ngờ tới đây hơn 1100 người ghi tên và vì hết chỗ nên không thể nhận thêm được. Thiền sinh tu tập rất hết lòng những pháp môn Thầy dạy. Họ tu tập như mực thấm vào giấy, siêng năng đi thiền tọa, thiền đi, thiền ăn cơm, pháp đàm, chuyển hóa từng ngày và báo cáo tu tập lên Thầy. Đến ngày chót không ai muốn rời khóa tu. Báo chí và thiền sinh ai cũng thương quý tăng thân xuất sĩ Làng Mai. Quý thầy đi tắm biển, đi ngồi thiền ngoài bờ hồ, nhảy dây, tập khí công…, báo chí đều đăng tin và hình ảnh như đăng tin tài tử xi – nê khiến mọi người phát ngượng!

Ngày 15.04.2012. Phái đoàn phải về lại Dublin để hôm sau còn đi Belfast Bắc Ái Nhĩ Lan, nơi mà Sư Ông được Quốc Hội mời chính thức thuyết trình tại Stormont (Stormont là tên ngôi nhà Quốc Hội Bắc Ái Nhĩ Lan nằm tại Belfast).

Ngày 16.04.2012 tại Quốc Hội Bắc Ireland, dân biểu Martina Anderson, vị dân biểu trưởng khối đối lập rất vui mừng ra tiếp đón thiền sư và phái đoàn. Cách đây 20 năm, Martina Anderson đã từng dính vào vụ khủng bố ôm bom cảm tử sắp nổ bom trên xe lửa nhưng bị bắt. Nhóm này kêu gọi độc lập cho Ái Nhĩ Lan, muốn tách Ireland ra khỏi ách đô hộ của chế độ Anh quốc. Bà bị tù 18 năm, ra tù tranh cử chức dân biểu và lãnh đạo nhóm dân biểu đối lập. Đắc cử và hiện làm Phụ Tá cho Thủ Tướng và cũng là dân biểu Quốc Hội Bắc Ái Nhĩ Lan. Bà Anderson nhất định bảo các bạn phải để bà đích thân giới thiệu “người hùng” của bà với Quốc Hội. Bà xin phép đọc một đoạn trong quyển Phép Lạ của Sự Tỉnh Thức của Sư Ông và nói rằng trong năm đầu khi ngồi tù, đi qua tuyệt vọng và căm phẫn ngày này qua ngày khác, bà đã may mắn được một bạn bên ngoài gửi tặng quyển sách này. Những đoạn bà đã trích đọc trên đã cứu sống bà, đã xây dựng bà và đã đưa bà lên địa vị hôm nay. Lâu nay ra tù, làm bao nhiêu việc cho đồng bào của bà trong tinh thần chánh niệm Sư Ông đã dạy mà không hề nghĩ thiền sư Thích Nhất Hạnh vẫn còn sống trên cõi đời này. Bà được nuôi dưỡng sự phấn khởi bởi những lời dạy dỗ đó và cứ nghĩ Thiền Sư này cũng là một nhân vật lịch sử của thời quá khứ như Gandhi, Kitô. Nhưng không ngờ thiền sư này lại đang còn sống và hôm nay bà được hân hạnh giới thiệu với thính chúng Quốc Hội!

Thuyết giảng xong ở Quốc Hội, Sư Ông và phái đoàn phải về ngay Dublin để nghỉ ngơi tại tu viện Công Giáo, nơi phái đoàn đã lưu trú ngay khi mới tới Ireland. Chiều hôm đó cả đoàn 30 thầy và sư cô được ăn cơm Việt Nam do các Phật tử Việt Nam đãi. Có nhiều món chay đặc biệt đậm đà quê hương. Các cháu và các bậc cha mẹ sau đó được quý thầy quý sư cô chỉ dẫn những phương pháp tu học. Bên phía phụ huynh thì có sư cô Chân Không, bên các cháu thì có nhiều thầy, sư cô trẻ như thầy Pháp Hữu, sư cô Tảo Nghiêm chăm sóc. Các vị đã dạy nhiều bài hát tu học tiếng Việt, tiếng Anh và chỉ dẫn sự tu học bằng tiếng Anh khiến các cháu vui lắm. Ai cũng rất mong quý thầy quý sư cô trở lại cho một khóa tu nữa. Các thầy, sư cô Tây phương tuy có trở lại Ireland để hướng dẫn 4 khóa tu vào tháng 10 năm 2012 nhưng vì không có sư cô hay thầy nào người Việt nên không liên lạc được với Cộng đồng người Việt.

Ngày hôm sau phái đoàn bay trở về Bordeaux trước sự bịn rịn của Phật tử Việt Nam và Ái Nhĩ Lan. Phong thổ Ái Nhĩ Lan thật đặc biệt, hiền hòa nên người gốc châu Âu hay gốc Việt Nam sống ở đây cũng rất hiền hòa thân thiết.

 

Khóa Tu Tiếng Pháp 28.4 – 04.05

Về tới Pháp ngày 18.4 thì ngày 25.4 đã khai mạc khóa tu tiếng Pháp tại Làng Mai. Không ngờ thiền sinh cũng quá đông dù báo tin rất trễ và dù khóa tu không trùng ngày nghỉ lễ Phục Sinh. Hơn 800 thiền sinh đã đến tu và có người phải ngủ lều. Lần nào khóa tu của Sư Ông cũng có rất nhiều người được chuyển hóa và trị liệu. Cuối khóa tu có hơn 400 người thọ trì Năm Giới, tức là Năm Phép Tu Tập Chánh Niệm.

 

Khóa Tu Sức Khỏe

Năm nào cũng thế, tăng thân xuất sĩ bốn xóm Làng Mai thường để từ bảy đến mười ngày thanh lọc cơ thể bằng cách ăn rất ít hay nhịn ăn luôn, uống nhiều nước lọc và đi bộ, tập thể dục và tập khí công… để làm mới sức khỏe. Vì thế năm nào cũng có khóa tu sức khỏe cho thiền sinh. Có rất nhiều thiền sinh ghi tên dự khóa tu chỉ vì vấn đề sức khỏe thôi. Nhưng đi tu rồi, họ nhận ra rằng sức khỏe của tâm quan trọng hơn cả sức khỏe của thân nên lại trở về tham dự các khóa tu truyền thống Chánh Niệm của Làng để làm mới thân tâm cùng một lúc.

 

Khóa tu 21 ngày với chủ đề Nhà Khoa Học nắm tay nhà Phật Học
(từ ngày 01.06 đến ngày 21.06.2012 tại Làng Mai)

Truyền thống Làng Mai là mỗi hai năm thì có một khóa tu 21 ngày. Các võ lâm cao thủ của Làng Mai trên thế giới từ hai ba chục năm nay đều tìm cách về Làng. Trong dịp này, bạn bè cũ gặp nhau vui như ngày hội mà lại thanh tịnh tươi mát, không ồn ào. Năm nay khóa tu 21 ngày có thật nhiều người từ các nước châu Á đến tham dự như Thái Lan, Mã Lai, Singapore, Indonesia, Hồng Kông, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và dĩ nhiên đa số vẫn là thiền sinh các nước châu Âu và Bắc Nam Mỹ châu. Năm nay có rất nhiều nhà khoa học châu Âu và Bắc Nam Mỹ châu tham dự trong đó có giáo sư Trịnh Xuân Thuận. Họ có nhiều đóng góp sâu sắc và tiến bộ gửi đến Sư Ông. Rất tiếc khoa học gia họ Trịnh vì bận rộn nên chỉ dự một tuần đầu của khóa tu 21 ngày. Nhà khoa học Trịnh Xuân Thuận tuy không tham dự được phần đối thoại của các đồng nghiệp trong các ban ngành khác, nhưng cũng đã có dịp thuyết trình một lần và trả lời các câu hỏi một lần trong khóa tu. Cũng trong khóa tu này, chùa Sơn Hạ đã mở cửa phòng triển lãm thư pháp của Sư Ông để mừng Làng Mai 30 tuổi với những buổi hòa nhạc ngoài trời rất vui và ấm cúng.

 

Khóa tu tháng Bảy: Ăn mừng 30 năm Làng Mai.

Mùa Hè 2012, Làng Mai tưng bừng màu sắc của các nước, đặc biệt nhất là từ Việt Nam. Chưa bao giờ người trong nước sang Làng Mai đông đến thế. Mỗi tuần, đến ngày thứ hai trong tuần, ngày nghỉ ngơi của tất cả thiền sinh Tây phương, người Việt được Sư Ông cho riêng một bài pháp thoại tiếng Việt tại Xóm Trung. Ngay chính các cháu sinh ra ở nước ngoài, nói tiếng nước ngoài hay hơn tiếng Việt mà cũng đồng ý là ‘‘Sư Ông giảng tiếng Việt nghe thích hơn tiếng Anh nhiều dù con giỏi tiếng Anh hơn’’. Có một đoàn truyền hình Quảng Đông-Trung Quốc đến và cũng rất thích nghe Sư Ông giảng bằng tiếng Việt. Trưa nào sau khi ăn cơm, thay vì nghỉ trưa, sư cô Chân Không không về Xóm Mới mà ở lại Xóm Trung để cùng đi chụp hình trong những đồng hoa hướng dương nở rộ với bạn bè cũ và ăn trưa xong thì ngồi hát chung các bài hát xưa với các bạn và các cháu. Không khí rất Việt Nam như những năm đầu khi Làng mới mở cửa. Hồi xưa, chỉ có đồng bào tị nạn. Ôi, ba mươi năm mà chỉ mới như ngày hôm qua, nhưng ngọt ngào sâu sắc làm sao!

Cũng trong khóa tu này có ngày ăn mừng sinh nhật Làng Mai 30 tuổi với múa lân, văn nghệ, triển lãm sách và pháp cụ ở Xóm Mới rất vui tươi và hoành tráng vào tuần thứ nhất và tuần thứ ba.

 

Tháng Tám: Thiền đường Hơi Thở Nhẹ

Ngày 5.08.2012, chiếc xe buýt đầu tiên 59 chỗ đưa bà con người Việt đi Đức, ghé Paris chơi một ngày. Tăng thân xuất sĩ thiền đường Hơi Thở Nhẹ đóng thêm sàn gỗ dài ra ngoài trời, căng lều để có thêm một phòng sinh hoạt khá rộng. Giờ ăn, mọi người ngồi ăn chung trong chiếc lều đó. Tối thì khiêng bàn đi, kéo nệm ra để cô bác ở nghỉ tạm qua đêm. Chật mà ấm cúng tình đồng bào! Cô Tám báo cáo là nằm ở sàn nhà tuy lạnh nhưng ấm tình bạn nên ngủ rất ngon dù chỗ ngủ quá sơ sài so với bao nhiêu ngôi nhà ấm cúng của con cháu ở Paris.Thiền đường nằm gần sông Marne rất êm ả nên nhiều cô bác đã thức dậy sớm đi thiền hành ở bờ sông rất hạnh phúc. Đi thiền hành dọc bờ sông Marne thì hạnh phúc nhiều hơn là leo lên thiền đường ngồi thiền vì trên đó đã quá đông, không còn một chỗ ngồi nào.

Hôm sau xe đi thẳng qua Đức tới Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (viết tắt Viện PHUDCA).

 

11-16/8/2012 Chư tổ còn thương

Xe buýt chở bà con người Việt tới Viện PHUDCA, gần Koln-Bohn lúc 19 giờ tối. Trong cùng ngày, suýt soát cùng giờ, đoàn gồm có sáu chiếc xe Van của Làng và một chiếc xe buýt thứ hai 60 chỗ của Gerardins Transports chở hơn một trăm xuất sĩ của Làng Mai tới Viện PHUDCA.

Phái đoàn của Sư Ông, ngày hôm sau 08.08.2012 mới đến. Tối hôm đó Sư Ông đi khám mắt ở bệnh viện Mắt ở Cologne tới khuya mới về đến nhà. Mắt sư ông chữa trị kịp thời vì chư tổ còn thương! Sáng ngày 09.08, vào 11 giờ có buổi họp báo tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu, có cả ông thị trưởng Waldbröl tham dự. Ông nói chưa lần nào nghe Sư Ông nói chuyện mà ông lại cảm động như lần này. Một ký giả nghe xong liền xin ghi tên cho cả gia đình cùng tham dự vào khóa tu sắp tới.

 

Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan tại Viện Vô Ưu

Viện là một tòa nhà dài 150 mét, cao sáu tầng với 462 phòng. Tòa nhà này đã chứng kiến nhiều thảm kịch đau đớn trong thời Đức quốc xã. Vì vậy đã có quyết định làm Trai Đàn Chẩn Tế Giải Oan năm nay tại đây. Một số các thầy lớn từ Tổ Đình Từ Hiếu, từ các tỉnh miền Trung Duyên Hải, từ các tỉnh miền Nam và cực Nam nên Lễ Trai Đàn Chẩn Tế rất hoành tráng. Trên 100 chư tôn đức tăng ni ngồi hộ đàn trong khi ban kinh sư gồm có sáu thầy thay phiên nhau trì tụng lễ nhạc đầy hùng tráng. Khi thầy Từ Hải tuyên đọc bài Khấn Nguyện mà Sư Ông đã viết tại Trai Đàn Chẩn Tế ở Việt Nam, chúng tôi ngồi nghe, ai cũng khóc ròng. Tai ương ghê gớm tại Đức cũng không thua gì những tai ương tại Việt Nam. Chúng tôi thổn thức nghĩ đến bao nhiêu người chết trong thế chiến thứ hai, đến hằng chục ngàn người Do Thái bị đưa vào lò gaz chết ngạt, bao nhiêu trẻ em khuyết tật chết oan. Lời tụng kinh hùng tráng của quý thầy vang rền trong toàn Viện Vô Ưu như gột rửa, như quét dọn, như ôm ấp, như trị liệu và giải tỏa. Thời kinh này đã hóa giải biết bao nhiêu là oan khiên chẳng những cho vùng đất nầy mà cho toàn cả nước Đức và châu Âu.

11.8 đến 16.8.2012 Khóa tu cho người Hà Lan bắt đầu tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu. Văn phòng đã báo cáo là chỉ có hơn 500 người ghi tên nhưng khi bắt đầu thì con số lên đến hơn 700 thiền sinh. Viện Phật Học có tòa nhà Vô Ưu và bên cạnh là chùa Đại Bi cũng có 40 phòng. Vì chưa đủ tài chính để hoàn chỉnh hệ thống phòng hỏa nên ban tổ chức không thể nhận thiền sinh nhiều. Nhưng năm nay tầng trệt vừa được thiết bị cùng hơn 100 căn phòng của Viện, nên quý thầy và quý sư cô ở Viện muốn ăn mừng NGÀY KHAI MẠC Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu và cũng để ăn mừng Làng Mai ba mươi tuổi và Sư Ông đã có bảy mươi năm tuổi tu. Năm nào Sư Ông sang Đức, Viện cũng phải thuê một chiếc lều to bằng vải bố trắng to, rộng rãi, chứa được 1000 người để làm thiền đường.

Thiền sinh nghe Thầy hướng dẫn tổng quát vào lúc 7 giờ 30 tối, sau khi đại chúng xuất sĩ trì tụng danh hiệu Bồ tát Avalokiteshvara. Khóa tu kéo dài đến ngày 16.08.2012. Thiền sinh tu tập tinh chuyên, hết lòng và được chuyển hóa rất nhiều ngay trong khóa tu. Một số thiền sinh xin ở lại dự khóa tu tiếng Đức và tham dự ngày KHAI MẠC Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu sẽ xảy ra ngày 22.08.2012.

19.08.2012: Chủ Nhật, 19.8 là ngày Quán niệm dành cho số người quá bận rộn chỉ có thể tham dự từ sáng sớm đến tối mà không ở qua đêm, có hơn 1100 người ghi tên. Nhưng đến sáng 19.08 thì thiên hạ tới đông quá. Có thể là 1600 người. Tuy đã căn dặn thiền sinh tự túc đem thức ăn picnic tới nhưng ban ẩm thực vẫn phòng hờ nấu thêm phòng khi họ quên đem thức ăn trưa thì sẽ không bị đói.

Khóa tu tiếng Đức năm nay đông hơn các năm trước. Có hơn 800 người tham dự. Có cả đồng bào Việt Nam tới từ trong nước mà cũng có rất nhiều đồng bào tới từ châu Âu và Bắc Mỹ châu. Thiền sinh Đức đa số cắm lều ngủ ngoài trời, Viện chỉ có hơn 300 giường ngủ bên trong 100 căn phòng đúng tiêu chuẩn an ninh hỏa hoạn.

Đất cắm lều thì mênh mông, có tới sáu mẫu vườn táo và bãi cỏ xanh non. Có khu đất dành cho những chiếc lều của các vị xuất sĩ, khu thì dành cho lều của thiền sinh nam, khu cho thiền sinh nữ, khu cho những gia đình, khung cảnh tưng bừng và vui như ở Làng Mai. Khóa tu này bắt đầu từ ngày 20.8 và chấm dứt vào ngày 25.8.2012. Thầy Pháp Ấn, Viện Trưởng Viện PHUDCA đã hướng dẫn tổng quát cho thiền sinh vào ngày đầu. Trong khóa tu này có xảy ra Lễ Khánh Thành Viện PHUDCA. Đó là ngày 22.08.2012.

 

Lễ Khai mạc Viện Phật Học Ứng Dụng được tổ chức rất hoành tráng.

Từ sáng sớm, nhân viên Tòa thị chính đã đến để phụ giúp, nhưng tăng thân xuất sĩ đã chuẩn bị từ lâu và mọi việc tuần tự diễn ra rất vui và thư thả. Quý thầy quý sư cô dù bận mấy cũng làm việc trong chánh niệm. Mặt tiền của Viện đã được dọn gọn ghẽ và thanh tú: khóm Rhododendron chỗ này, bụi trúc vàng chỗ kia, những cây tùng cây bá xanh suốt mùa Đông nằm chỗ nọ. Dưới tấm bảng Viện Phật Học Châu Âu có vuông lụa đỏ to 2m X 2,5 m có hình chụp nghiêng Sư Ông đang bắt ấn định tâm trước một vòng tròn bút pháp tượng trưng cho tuệ giác viên mãn.

Sáng nào cũng thế, sau nửa giờ ngồi thiền, ban Võ Công Thiền Từ Hiếu Tự ra luyện tập võ nửa giờ trước khi vào ăn sáng. Sáng nay có 50 thầy mang áo Võ Công (chỉ là áo năm thân của quý thầy mặc thường ngày khi làm việc) nhưng lưng thắt đay màu cam rất đẹp ra tập võ, trẻ em và người lớn đứng xem đều… mê!

Vào 9 giờ sáng, quan khách đã tập hợp. Đài Truyền Hình Toàn Quốc Đức đã trực sẵn. Quan khách gồm có tất cả thành viên Hội Đồng Thành Phố, các vị chức sắc quanh vùng trong đó có quý vị linh mục và mục sư tất cả các nhà thờ quanh vùng. Người đứng chủ trương mời khai giảng Viện này là thầy Viện trưởng Thích Chân Pháp Ấn và ông Thị trưởng thị xã Waldbröl. Sư Ông bắt đầu bằng một buổi vấn đáp cho thiền sinh trong khóa tu, có tất cả quan khách tham dự. Sau đó Sư Ông nói về sự thiết yếu của chánh niệm trong sự sống hằng ngày và mục đích của Viện PHUDCA là quảng bá lối sống có khả năng chuyển hóa và trị liệu cho xã hội đương thời. Đó là một năng lượng kỳ diệu tên là chánh niệm có thể chuyển hóa cơn giận, cơn sợ hãi, bức xúc, có thể chữa lành những nỗi khổ niềm đau. Nhưng năng lượng này ta không mua được mà cũng không cầu xin từ chư Bụt hay chư vị Bồ tát, ta phải tự luyện thôi, bằng sự sống hằng ngày. Sau đó ông Thị Trưởng và thầy Pháp Ấn đọc diễn từ, mọi người cùng thiền hành hướng về khán đài đã dựng sẵn ngoài Công Viên của thành phố WaldbrÖl nằm ngay trước Viện Vô Ưu. Mở đầu là màn múa lân rất ngoạn mục cùng với ba chú lân và hai ông địa. Sau đó là màn múa võ của quý thầy Viện PHUDCA khiến nhân viên đài truyền hình thích quá.

Ban nhạc của Viện gồm ba chiếc đàn vĩ cầm, một Đại Hồ Cầm, hai ghi-ta và chuông mõ trỗi lên rất hài hòa, mọi người im phăng phắc, không khí êm dịu, bình an mà tươi vui như mùa Xuân của Vivaldi. Sư Ông mở lời, tiếp đến là ông Thị Trưởng rồi tới thầy Pháp Ấn, thầy mời những nhân vật đã đóng góp nhiều công nhất cho sự hình thành Viện Phật Học Ứng Dụng này. Có mời chị Tiến Sĩ Thục Quyên, đệ nhất Giám Đốc Viện PHUDCA, người đã tìm ra Viện, thương thuyết và đi đến sự tiếp nhận cơ sở này một cách hài hòa và bất ngờ, và tiến sĩ Alexander Publick cùng giáo thọ cư sĩ Annabel Zinser cũng được mời ra và giới thiệu rất trân trọng… Xong, Thầy đưa mọi người đi lên Viện Vô Ưu để cắt băng rôn và nhẹ nhàng kéo tấm vải đỏ xuống, khai mạc phòng triển lãm thư pháp. Hằng trăm bức thư pháp của Sư Ông được nổi bật lên nhờ cách trưng bày một cách nghệ thuật bởi các Phật tử Hồng Kông, các thầy và các sư cô Làng Mai. Những góc trong tòa nhà với nhiều kiểu cắm hoa làm tăng lên vẻ đẹp tuyệt vời của các bức thư pháp. Quan khách cảm động, trầm trồ, không ngờ Lễ khai mạc lại hoành tráng đến thế. Có phòng trưng bày sách của Sư Ông dịch ra nhiều thứ tiếng. Rồi lại có phòng triển lãm những pháp cụ mà Sư Ông hay dùng để giảng dạy cho người lớn và trẻ em như những viên sỏi, những hạt bắp, hay một cây bắp con v.v…

Đài Truyền Hình toàn quốc Đức có phỏng vấn Sư Ông và ngay chiều hôm ấy đã chiếu trên Đài Trung Ương. Quan khách được mời ở lại dùng cơm trưa. Buổi chiều có thiền buông thư do sư cô Hài Nghiêm hướng dẫn.

Khóa tu tiếng Đức chấm dứt bởi bài pháp thoại với chủ đề Nhị Đế và Tam Giải Thoát Môn. Sau đó đại chúng chuẩn bị để ngày hôm sau đi Hà Lan. Tới thủ đô Deen Daag, phái đoàn tá túc tại một nhà trọ ở miền ngoại ô rất yên tĩnh bao quanh bởi những cánh đồng và một con suối mát.

 

27.8 Đi Hà Lan, 28.8 Thuyết pháp công cộng

Sáng hôm sau, một số giáo thọ đã sang Hòa Lan trước đó mấy hôm để sinh hoạt với giới trẻ trong phong trào Wake Up cũng về tới nhà trọ. Đại chúng nghỉ ngơi, đi thiền hành và sinh hoạt với nhau cho đến chiều mới đi Deen Haag để dự buổi thuyết pháp công cộng. Hội trường 2800 chỗ đầy kín người. Rất tiếc tăng thân Hòa Lan không tìm được một Hội trường lớn hơn. Sở dĩ khóa tu cho người Hòa Lan được tổ chức bên Đức là vì Viện PHUDCA ở WaldbrÖel chỉ cách Hòa Lan có một giờ lái xe, khỏi phải thuê cơ sở khác tốn kém.

 

29.8 Phái đoàn bay đi Ý Đại Lợi

Tới Rome, đoàn được đưa đến một khách sạch đơn sơ nhưng có suối, có rừng. Một số thầy và sư cô đã sang Ý trước để sắp xếp chỗ ăn chỗ ở, sẳn sàng cho tăng thân cùng đến khách sạn ngày hôm nay. Chỗ ở tuy đơn sơ mà đẹp theo lối Á Đông. Các thầy thị giả Pháp Hữu và Pháp Nguyện mắc võng cho Sư Ông nằm trong phòng khách nhìn xuống suối. Bây giờ là mùa Hè nên đứng đây mà có cảm tưởng là đang ở Thái Lan.

Chương trình hoạt động ở đây bắt đầu hôm thứ năm 30.08 bằng một buổi thiền hành ở Công Trường Piazza del Popolo. Tại công trường, Sư Ông tới trước, ngồi thảnh thơi uống trà với hai thầy thị giả và một số thiền sinh. Không khí thảnh thơi mời mọc khiến khách qua đường cũng ghé lại ngồi chơi. Mười lăm phút sau, thiền sinh đến thật đông. Đến giờ đi thiền hành, cả khối người đông đảo chung quanh Sư Ông đứng dậy từ từ đi về phía có để băng rôn thật lớn và cũng có sẵn loa phóng thanh cho mọi người có thể nghe được giọng nói của Sư Ông hướng dẫn. Tăng thân xuất sĩ trì niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm, quần chúng ngồi yên rất đông, chật hết một vùng công trường. Tụng kinh xong, Sư Ông mới bắt đầu hướng dẫn. Đoàn người đứng dậy đi rất thảnh thơi quanh công trường nhiều vòng, càng đi, số người nhập vào đoàn càng đông. Năng lượng bình an và hỷ lạc chế tác do sự thực tập nuôi dưỡng được cả mọi người và cả thủ đô nước Ý.

Trung Tâm Fraternus Domus là một cơ sở Công Giáo, một trung tâm chuyên đón hàng ngàn tín đồ Công giáo từ mọi nơi về thăm Tòa Thánh Vatican. Trung tâm do các bà sơ cai quản. Vì ban tổ chức tìm ra trung tâm hơi trễ nên họ chỉ cho mình sử dụng được một nửa trung tâm thôi, nghĩa là chỉ có thể có chỗ ăn chỗ ngủ cho một ngàn thiền sinh. Khóa tu bắt đầu từ chiều ngày 31.08.2012, bằng buổi hướng dẫn tổng quát do thầy Pháp Ứng và sư cô Tuệ Nghiêm phụ trách. Trong khóa tu, thầy dạy về kinh An Ban Thủ Ý, kinh Tứ Thực, Bát Chánh Đạo và Tam Giải Thoát Môn, làm sao để có thể ứng dụng được vào đời sống hằng ngày. Ngày 05.09.2012, Thầy dạy về chuyện sinh tử, không đến, không đi và cũng có lễ truyền Năm Giới cho hơn 600 thiền sinh. Khóa tu chấm dứt trong niềm hân hoan của mọi người.

Tăng thân Làng Mai tiễn thầy Từ Hải về Việt Nam và thầy Pháp Anh đi Thái. Một số các thầy các sư cô bay trước về Paris để chuẩn bị cho chuyến hoằng pháp tại Paris.

Khóa tu ở Rome được tổ chức tại trung tâm Fraternus Domus, một trung tâm cách thành phố Vatican 19 cây số.

Ngày 06.09.2012 Một buổi thuyết pháp công cộng được tổ chức tại toà thị chính thành phố Rome với đề tài là Thành Phố Là Chiếc Nôi Của Sự Chuyển Hóa, có 2800 người tham dự.

Hôm nay 07.09.2012, một số các vị xuất sĩ đi thăm tòa thánh Vatican. Sư Ông và đoàn thị giả đi bằng xe lửa loại tốc hành Eurostar đến Milan, thành phố kỷ nghệ hàng đầu của nước Ý. Hội trường ở đây chỉ có khoảng một ngàn ba trăm chỗ ngồi do Hội Đồng Thành Phố cho mượn. Ngày 07.09.2012 tăng đoàn đi xe lửa Eurostar Italy từ Rome về Milan, đi từ 9 giờ 15 phút sáng thì 12 giờ 38 phút tới.

Ngày 08.09.2012 tăng đoàn đi tham dự chợ trời Ý lúc 10 giờ sáng, 4h chiều thì có buổi giảng thuyết tại nhà hát Dalverme về đề tài: Ước Hẹn Với Sự Sống Trong Giây Phút Hiện Tại.

Ngày 09.09.2012 có một ngày quán niệm tại công viên Parco Nord Milano với đề tài: Impronte Di Pace Sulla Madre Terra (In dấu chân hòa bình trên đất mẹ). Buổi thiền hành rất đẹp. Cuối ngày chánh niệm ông giám đốc công viên được Thầy tặng bức thư pháp La Pace In Te Stesso (An lạc từng bước chân).

Ngày10.09.2012 Ngày này, phái đoàn được bà thị trưởng thành phố Milan tiếp đón cùng với Hội Đồng Thành Phố Milan. Sư Ông có thuyết trình ngắn và vấn đáp với các thành viên hội đồng thành phố Milan về chủ đề Đạo Đức học ứng dụng. Thành viên Hội Đồng có hai vị khá trẻ rất thích thú khi nghe trình bày về chánh niệm và hứa sẽ đến tham dự ngày chánh niệm với tăng thân địa phương.

 

Ngày 11.09.2012 Thầy và tăng đoàn bay thẳng về Paris.
PARIS 13.14 – 15.16.9.2012.

Ngày 13.09.2012 trong một buổi hội thảo tại thượng viện Pháp, Thầy trình bày và trả lời những câu hỏi về chủ đề: Đạo đức học ứng dụng. Chủ tọa buổi hội thảo là Thượng Nghị Sỹ Pháp Marie Blandin. Buổi hội thảo được tổ chức tại phòng Réne Coty ngay trong thượng viện. Trong số những người được phát biểu có Philippe Desbrosses, Patrick Viveret và Chistophe André, tất cả đều là những nhà triết học và khoa học. Buổi hội thảo có giới báo chí tham dự, trong đó có đài truyền hình FR.2. Ngày 14.09.2012 Thầy đi thiền hành tại bờ sông Marne với tất cả gần 200 chúng xuất sĩ. Các vị xuất sĩ đã có mặt tại Paris để tham dự hai ngày sinh hoạt tại thủ đô. Các sư cô đã tìm ra được một nơi cắm trại lý tưởng để các vị xuất sĩ cư trú trong nhiều ngày với giá rất thấp. Không khí rất đầm ấm và vui tươi. Ngày 15.09.2012 là buổi sinh hoạt đầu tiên với quần chúng và tăng thân thủ đô Paris. Parc La Défense nằm ở trung tâm kinh tế và kỹ thuật của thủ đô, tổ chức những ngày sinh hoạt chánh pháp ở đây thật là đúng chỗ. Khung cảnh rất hùng tráng. Tăng thân Paris đã để tới một năm trời để chuẩn bị cho hai ngày sinh hoạt đặc biệt này. Tìm thuê chỗ sinh hoạt ở Paris rất khó, và cũng rất tốn kém nên tăng thân phải làm việc khá kiên nhẫn mới có thể hoàn thành được sứ mạng giao phó. Các buổi sinh hoạt có đề tài là Bước tới thảnh thơi (Entrée dans La Liberté). Thính đường đầy ắp người, trên 3000 chỗ. Thầy dạy những điều rất thiết thực. Ngày đầu Thầy dạy thiền sỏi, bốn linh chú và những phương pháp đối trị sân hận, sợ hãi, tuyệt vọng và về đề tài hữu vô sinh diệt. Trước khi Thầy mở lời đã có thiền hướng dẫn và toàn thể chúng xuất sĩ trì niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Thầy đã hướng dẫn đại chúng ngồi nghe như thế nào để có thể sử dụng năng lượng chánh niệm tập thể của tăng thân để tiếp xúc, ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau trong tự thân để có thể giúp những người thân chuyển hóa sau đó. Ngày thứ hai Thầy dạy về Tuệ giác tương tức như nền tảng của một nền đạo đức toàn cầu. Thầy dạy về Tứ Diệu Đế trong ánh sáng tương tức, tương quan tương duyên về vô phân biệt trí, về Năm giới. Thầy có nói tới những phương pháp thầy giáo cô giáo và học sinh ngồi lắng nghe nỗi khổ niềm đau của nhau, để thiết lập truyền thông tốt trong lớp học, để cho cái dạy và cái học trở thành một niềm vui. Sau đó Thầy cho đặt câu hỏi. Trong các ngày sinh hoạt này có thiền buông thư, thiền lạy, thiền ăn cơm im lặng và thiền đi. Sư Ông trực tiếp ra hướng dẫn thiền đi trước một quần chúng đông trên 3000 người. Buổi thiền hành rất hùng tráng. Khi đoàn thiền hành về tới trụ sở, mọi người ngồi xuống, đài truyền hình Pháp FR2 đã xin tới phỏng vấn Thầy. Đài cũng đã phỏng vấn nhiều vị xuất sĩ và cư sĩ khác, trong đó có sư chú Trời Tự Tại (người Pháp), sư cô Hiến Nghiêm (người Anh) và bác sĩ Nguyễn Ngọc Hạnh (trong ban tổ chức). Những giây phút hào hứng và nghiêm tranh nhất của hai ngày thực tập đã được đài FR2 này ghi lại và phát sóng vào sáng ngày Chủ Nhật 30/12/2012 trên đài truyền hình Pháp.

 

Mùa Thu tại Mai Thôn

Mùa Thu này Thầy được ở nhà, khỏi phải đi đâu trong vòng một tháng trước khi đi vào khóa An Cư Kiết Đông 2012 -2013. Các bài pháp thoại ngoài những chỉ dẫn thực tập căn bản, được đi theo chủ đề Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa và Bụt Đại Nhật Như Lai. Thầy cũng đi theo tăng thân vào rừng lượm hạt dẻ (Chataignes) và ra nông trại hái táo. Năm nay hái được nhiều táo Fuji, táo Pink Lady và táo xanh. Ông chủ nông trại rất có cảm tình với giới xuất sĩ nên báo tin cho các thầy các sư cô ngay sau mùa gặt hái. Tuy là đi mót, nhưng tăng thân cũng đem về cả ngàn ký táo đủ để sử dụng trong bốn tháng mùa Đông và cả cho mùa Xuân.

Lễ đối thú An Cư Kiết Đông 2012-2013 được tổ chức tại thiền đường xóm Thượng sáng ngày 07.11.2012, có chuông trống bát nhã rất hoành tráng. Chủ đề khóa tu năm nay là: Chúng ta có phải là tri kỷ của Bụt không? Đại chúng được học rất nhiều kinh. Thầy nói những bài pháp thoại rất cách mạng. Đại chúng thực tập hành trì rất miên mật, năng lượng rất tốt. Hai tuần lễ Giáng sinh và năm mới thiền sinh khắp nơi về đông lắm, chẳng khác gì mùa Hè. Năm nay không có Đại Giới Đàn nên đại chúng được học kinh nhiều hơn năm ngoái. Chỉ còn mấy tuần lễ nữa là tới năm mới. Chúng tôi kính chúc quý vị Tôn túc, các thầy, các sư cô và các thân hữu một năm mới Quý Tỵ nhiều sức khỏe, Bồ Đề Tâm lớn mạnh và đi tới dễ dàng trên con đường tu tập và độ đời.

Lịch sinh hoạt và hoằng hóa năm 2014

Khóa tu hướng dẫn bởi Thiền sư Nhất Hạnh và Tăng thân Làng Mai

13/02/2014: Lễ Tự Tứ chấm dứt An cư Kiết Đông 2013-2014

20/02 – 27/02: Khóa tu xuất sĩ

13/03/2014: Khóa tu mùa Xuân bắt đầu

04/04 – 11/04: Khóa tu tiếng Pháp

25/04 – 12/05: Hoằng pháp ở Tây Ban Nha

21/04 – 26/04: Khóa tu người trẻ nói tiếng Pháp (French Youth retreat)

23/05 – 29/05: Đại Giới Đàn Cam Lộ Vị

01/06 – 21/06: Khóa tu 21 ngày chủ đề “Khi chết ta đi về đâu

04/07 – 01/08: Khóa tu mùa Hè

10/08 – 24/08: Khóa tu cho người Đức (5 ngày) và cho người Hoà Lan (5 ngày) tại viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu

26/08 – 31/08: Khóa tu tiếng Ý

12/09: Khóa tu mùa Thu bắt đầu

28/10 – 04/11: Khóa tu giáo chức cho người Pháp

15/11: Khóa tu An Cư Kiết Đông 2014-2015 bắt đầu

 

Khóa tu hướng dẫn bởi giáo thọ Làng Mai

28/02 – 02/03: Khóa tu cho tăng thân địa phương, Hòa Lan

04/03 – 01/04: Những sinh hoạt và Khóa tu Wake Up cho người trẻ VN ở Mỹ

10/03 – 17/03: Khóa tu cho bệnh nhân trong nhà thương Ý

17/03 – 31/03: Khóa tu và sinh hoạt về Đạo Đức Ứng Dụng ở Bhutan

27/03 – 31/03: Khóa tu ở Israel

29/03 – 31/03: Khóa tu Tăng Thân ở Georgia, Mỹ

03/04 – 06/04: Khóa tu cho học sinh trung học trường New Orleans (tu viện Mộc Lan)

10/04 – 13/04: Khóa tu Wake Up ở UK

11/04 – 21/04: Khóa tu ở Cuba

29/04 – 13/05: Khóa tu ở Nhật

12/05 – 14/05: Khóa tu sức khỏe ở Ý

16/05 – 27/05: Khóa tu ở Ireland

23/05 – 25/05: Khóa tu Tăng Thân ở Louisiana, Mỹ

Mùa Xuân:      Khóa tu Tăng Thân ở Hòa Lan

16/06 – 23/06: Khóa tu ở Singapore

20/06 – 23/06: Khóa tu Gia Đình Phật Tử (tu viện Mộc Lan)

04/08 – 11/08: Khóa tu gia đình ở Hàn Quốc

07/08 – 13/08: Khóa tu cho ngành giáo dục ở Anh

13/08 – 17/08: Khóa tu Wake Up ở Hồng Kông

12/09 – 14/09: Khóa tu Wake Up ở Hòa Lan

15/09 – 29/09: Khóa tu ở Úc

25/09 – 01/11: Khóa tu ở Nam Mỹ  (South America)

Tháng 10:       Khóa tu ở Denver, Colorado (Mỹ)

01/10 – 14/10: Hoằng pháp ở Trung Quốc

06/10 – 24/10: Khóa tu Wake Up ở Hòa Lan

22/10 – 26/10: Khóa tu chùa Tam Bảo (Louisiana, Mỹ)

29/10 – 12/11: Hoằng pháp ở Philippines

13/11 – 25/11: Hoằng pháp ở Malaysia

01/12 – 07/12: Hoằng pháp ở Taiwan

25/12 – 28/12: Khóa tu gia đình ở Indonesia

 

Lịch sinh hoạt của Thiền đường Hơi Thở Nhẹ tại Paris
Xin vào trang nhà của Thiền đường để xem chi tiết: www.maisondelinspir.over-blog.com

Lịch sinh hoạt của Tu viện Lộc Uyển
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.deerparkmonastery.org

Lịch sinh hoạt của Tu viện Bích Nham
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.bluecliffmonastery.org

Lịch sinh hoạt của Tu viện Mộc Lan
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.magnoliagrovemonastery.org

Lịch sinh hoạt của Trung Tâm Làng Mai Thái Lan
Xin vào trang nhà của Trung Tâm để xem chi tiết: www.thaiplumvillage.org

Lịch sinh hoạt của Học Viện Ứng Dụng Châu Âu tại Đức
Xin vào trang nhà của Học Viện để xem chi tiết: www.eiab-maincampus.org

Lịch sinh hoạt của Học Viện Ứng Dụng Châu Á tại Hong Kong
Xin vào trang nhà của Học Viện để xem chi tiết: www.pvfhk.org

Lịch sinh hoạt của Tu viện Nhập Lưu  tại Úc
Xin vào trang nhà của Tu viện để xem chi tiết: www.nhapluu.blogspot.fr

Khoá tu Việt Wake Up

Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn về chuyến đi Việt Wake Up của quý thầy và quý sư cô trẻ Làng Mai. Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được diễn ra vào dịp ‘Spring break’ tháng 3 năm nay tại Bắc Mỹ và sẽ hướng tới người trẻ Việt Nam từ 18 đến 38 tuổi sinh ra hoặc lớn lên tại Bắc Mỹ. Phong trào Wake Up do Sư Ông Làng Mai (Thiền Sư Thích Nhất Hạnh) thành lập vào năm 2008 và đã được quý thầy và quý sư cô Làng Mai hướng dẫn khắp nơi trên thế giới trong mấy năm qua. Đây là lần đầu tiên phong trào Wake Up được hướng dẫn đặc biệt cho người trẻ Việt Nam tại Bắc Mỹ.

Chuyến đi Việt Wake Up có mục đích:

Giới thiệu cho các bạn trẻ Việt Nam đến với phong trào Wake Up nhằm tạo nên một xã hội hạnh phúc, lành mạnh và từ bi.

Tạo cơ hội để các bạn trẻ học hỏi về các pháp môn tu học chánh niệm có công năng giúp các bạn trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong những năm trong đại học, sau đại học, trong việc lập nghiệp và tạo dựng gia đình.

Chia sẻ với các bạn các pháp môn có công năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, xử lý khó khăn, chuyển hóa khổ đau, và bắc nhịp cầu truyền thông giữa các thế hệ trong gia đình.

Cung cấp cho các bạn một lăng kính mới để khám phá lại gia tài văn hóa và tâm linh của tổ tiên để lại.

Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được tổ chức tại các thành phố ở Bắc Mỹ như sau:

Toronto, Canada: 5-9/3, Houston, TX: 13-17/3, Seattle, Wa: 20-24/3, San Francisco, CA: 27-30/3
Tại mỗi địa điểm trên sẽ có một khóa tu (Wake Up Spring camp) và một buổi pháp thoại công cộng. Tất cả các sinh hoạt sẽ được hướng dẫn bằng tiếng Anh. Nếu các bạn muốn biết thêm tin tức về chuyến đi Việt Wake Up này hoặc các bạn muốn đăng ký, xin viếng thăm trang nhà www.vietwakeup.org.

Chương trình TTXH Hiểu & Thương Sài Gòn

Miền Bắc

Ngày 10/1/2014 – Phái Đoàn Lắng Nghe để Hiểu và Góp chút tình Thương từ Hà Nội đi đến tỉnh Điện Biên, trên những vùng núi cao mà đồng bào thiểu số sống rất khổ cực, để đem những món quà tình thương đến: 300 phần quà  (120 triệu) là tiền quý sư cô Làng Mai làm thiệp có hình của Sư Ông để tặng Thiền sinh và thiền sinh tặng lại tiền mua quà cho trẻ em thiếu ăn. Ban Thư Pháp của Sư Ông cũng góp thêm một phần tiền bán thư pháp của Sư Ông trong năm 2013. Trưởng Phái Đoàn Lắng Nghe để Hiểu có ít nhất  là ba vị Xuất Sĩ đã tu học tại Làng Mai: quý sư cô Trình Nghiêm, Phát Nghiêm và Sư Thầy Đàm Hòa. Nhờ có sự chủ động của chị của sư cô Hoàn Nghiêm là Chị Cao Thị Nhung và hai cháu cùng đoàn bác sĩ từ Hà Nội và sự đóng góp rất lớn của sư thầy Đàm Hòa cùng Phật tử chùa Thao Chính mà đoàn đã Lắng Nghe để Hiểu mà Góp Chút Tình Thương.

Cũng trong năm nầy tiền bán thư pháp của Sư Ông đã giúp được ở mỗi tỉnh  từ 300 đến 600 phần quà cho đồng bào khổ cực. Tổng cộng hơn sáu nghìn phần quà trải dài từ Điện Biên Phủ đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên,  Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bảo Lộc, Đồng Nai, Đồng Tháp và Bến Tre.

Trích Thư báo cáo về Cứu Trợ Lũ Lụt

Dưới đây là những địa danh mà quý thầy, quý sư cô đến và gởi món quà tình thương. Mỗi phần quà trị giá 385.000đ trong đó 185.000đ là phẩm vật và 200.000đ tiền mặt. Ngoài ra các thầy, các sư cô còn để ra 100.000.000đ (100 triệu) để đến tận nơi những gia đình thật sự rất nghèo khó, tùy theo hoàn cảnh mà gởi thêm cho các gia đình đó 1 hoặc 2 triệu đồng.

Tỉnh Quảng Bình Tổng số:1400 phần quà.

Huyện Bố Trạch: Xã PHÚ ĐINH: 200 phần quà,  xã THANH TRẠCH: 150 phần quà
Huyện Quảng Trạch:  Xã QUẢNG VĂN: 150 phần quà,  xã QUẢNG LỘC: 150 phần quà,  xã Quảng Phương: 200 phần quà.
Huyện Quảng Ninh: Xã HẢI NINH:Vùng biển 1250 hộ, nhà hư hỏng 95%. Trường tiểu học và Mẫu Giáo bị tốc mái. Dự tính 200 phần quà, xã DUY NINH: 200 phần quà,  xã HÀM NINH:150 phần quà.

Tỉnh Quảng Nam:

Huyện Điện Bàn: xã Điện Ngọc, thôn Viêm Minh
Nhà anh Lê Hữu Trung, vợ bỏ, một mình nuôi 3 con. Con lớn 14 tuổi, con út mới học mẫu giáo. Nay nhà sập, anh đang ở nhờ nhà mẹ ruột gần đó. Anh kiếm tiền nuôi con bằng nghề chạy xe thồ, bữa có bữa không.
Huyện Điện Bàn: xã Điện Ngọc, thôn Hà Dừa: trao tiền cho 4 hộ gia đình bị sập nhà.
Gia đình anh Nguyễn Văn Bình: hai vợ chồng có 4 người con. Bão vô làm sập nhà hết. Nhà rất khó khăn.
Huyện Điện Bàn: xã Điện Nam Bắc: phát 50 phần, 1 phần phát sinh, hầu hết là người già.
Thành phố Hội An: xã Cẩm Thanh, thôn Cồn Nhàn.

Ở đây có rất nhiều trường hợp quá nghèo, nhà cửa còn tệ hơn nhà cấp 4, nên bão đến là sập ngay.

Nhà của chị Phạm Thị Thanh Châu: chồng đẩy xe bánh kẹo bán ở các trường học, vợ làm phục vụ buồng cho nhà nghỉ. Hai vợ chồng với một đứa con ở trong một túp lều tranh. Chỉ cần bão đến là thổi bay ngay.

Nhà bà Lê Thị Phước, 64 tuổi: chỉ có 2 vợ chồng già yếu, làm nghề biển nhưng thu nhập không bao nhiêu. Vợ chồng có mái nhà lá trên một nền đất bé tí, bão vào là sập liền. Thấy hoàn cảnh như vậy, chúng con bàn với nhau hỗ trợ cho gia đình bà 5 triệu đồng. Đi cùng chúng con có anh Ký thôn trưởng, anh cũng đại diện thôn gửi thêm phong bì cho bà và dặn đi dặn lại là ráng xây lại cái nhà cho đàng hoàng.

Nhà cô Trần Thị Nga: nhà nghèo mà mới có con nhỏ, lại thêm 2 đứa sinh đôi.

Nhà cô Nguyễn Thị Vân, nhà sập, phải ở nhà vệ sinh.

Cô Phan Thị Hiền, bị tàn tật, chân không đi lại được, ở nhà tình nghĩa với con, mà nhà thì xuống cấp trầm trọng.

Nhà anh Lê Văn Dũng: nhà sập nát tan, chưa được nhà nước cứu trợ, chồng làm thuê, vợ thì thất nghiệp, không có hướng làm ăn. Chúng con bỏ bao thư 4 triệu đồng.

Xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên: phát nơi đây 200 phần quà.

Trường hợp đáng thương nhất là ở gia đình bà Ngô Thị Tục. Năm nay bà 55 tuổi. Hàng ngày bà sống bằng nghề nông, mò ốc, hến… Bà có hai con trai sinh đôi là Trương Văn Định và Trương Văn Tự. Chú Trương Văn Định đang xây nhà chưa xong thì qua đời. Vợ chú Trương Văn Định bỏ nhà đi, để lại con 18 tháng tuổi cho bà nội nuôi. Căn nhà được chuyển giao cho chú Trương Văn Tự, chưa xây dựng xong, thì bão tới làm xuống cấp. Chúng con hỗ trợ cho bà Ngô Thị Tục 2 triệu để lo cho cháu, và chú Trương Văn Tự 3 triệu để sửa nhà.

Xã Điện Dương, huyện Điện Bàn: phát nơi đây 340 phần quà.

Xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc: tại điểm cứu trợ này có rất nhiều người già, nhiều người trên 70, 80 tuổi. Có những cụ đã trên 80 tuổi mà ở một mình, tự nấu ăn lấy, rất tội nghiệp. Bão vô làm nhà tốc mái, nhiều người chưa có điều kiện lợp lại. Tại đây phát 200 phần theo danh sách và 1 phần phát sinh.

_

Góc nhỏ bình yên

Góc nhỏ bình yên

Chân Thoại Nghiêm

Đầu năm

Đêm Giao Thừa, dự lễ về khuya, tôi chỉ muốn viết ít hàng nên mở laptop… khai bút, khỏi nến, khỏi nhang, nhưng lòng rất vui. Tôi vừa gọi điện thoại về nhà thăm hỏi và chúc Tết ba mẹ tôi xong. Trong khi những người bạn của ba tôi có người đã mất, có người phải đi lọc thận, tôi rất hạnh phúc khi ba mẹ tôi vẫn còn đó và còn đủ sức khỏe. Vì vậy tôi sẽ vẫn còn được ở Làng thêm mà chưa phải về nhà liền. Và tôi có thể ung dung chúc mình và mọi người trong năm mới có chí tu học vững bền, sức khỏe đầy đủ (không thể mong ước “luôn luôn khỏe mạnh” được vì đó là điều không tưởng), có trí tuệ hơn và có nhiều khả năng để hoằng pháp hơn. Ngày xưa tôi hay chúc mình có bình an, bây giờ thấy tạm đủ xài rồi nên mới dám chúc về chuyện hoằng pháp, mà muốn hoằng pháp được thì phải có trí tuệ, thế đấy! Tôi làm biếng hoằng pháp vì thấy mình chưa đủ trí tuệ, nhưng biết đến bao giờ mới là đủ kia chứ? Mà không hoằng pháp thì sẽ thành conbất hiếu, phải không bạn hiền?

Còn Thầy, con biết chúc Thầy chi đây? Có lẽ là chúc Thầy có sức khỏe chứ Thầy đâu cần gì khác. Và chúc Thầy luôn có mặt đó cho con như con có mặt cho Thầy.

Mồng 3 Tết – Hội chợ ở xóm Mới như mọi năm

Tôi xí xọn làm bốn món gỏi có bốn màu nên đặt tên là gỏi bốn mùa: màu trắng cho mùa Đông (ngó sen), màu xanh cho mùa Hè (phổ tai, dưa leo), màu vàng cho mùa Thu (xoài), màu cam cho mùa Xuân (bí, gừng). Ăn không tệ, nhìn cũng thấy hấp dẫn, nên đắt hàng quá trời. Các sư em vào bán phụ, tôi mừng quá được đi chơi lòng vòng, ăn hàng ở quán khác và cả buổi chiều cũng rảnh để đi thăm đủ mọi phòng, tối mới về lo tiếp khách. Đến 10 giờ khuya thì hết chịu nổi, mặc kệ các sư em còn hát hò ở tầng dưới, tôi leo lên gác trên chui vào mền trốn khách. Ai siêng năng leo lên gác thấy một đống mền cũng nhẹ nhẹ đi xuống, còn tôi rúc đầu trong chăn cười toe.

Hôm sau, phiên tôi đem cơm qua cho Thầy, tôi kể chuyện Tết. Tưởng kể cho vui không ngờ Thầy nhớ lâu. Mấy ngày sau nữa ra cốc Ngồi Yên để trình Thầy diễn tiến chuyện tổ chức chuyến đi Đại Hàn, Thầy chọc: “Cứ tưởng mấy sư mẹ là không biết mệt nhưng cũng có người phải chun vào mền trốn.” Ôi, tôi quê quá, chỉ biết cười, nhưng hạnh phúc.

Cảm xúc xa xưa

Tích NghiêmTháng Hai, khóa tu xuất sĩ thật bình an. Chúng tôi dọn lên xóm Thượng ở hết. Mỗi sáng đi bộ từ cư xá Linden lên thiền đường, ánh sáng của những ngọn đèn hai bên đường đi làm tôi nhớ quá mỗi sáng đi lên thiền đường Cánh Đại Bàng, băng qua đồi thông và khi gần tới thiền đường thì cũng đi dưới ánh sáng của những ngọn đèn như vậy. Mà có lẽ không phải chỉ vì con đường mà vì sự im lặng đầy hùng tráng của những tà áo nâu đang đi về một hướng gợi nhớ cảm xúc xa xưa. Trong vòng tròn be-in, nghe tiếng hát khỏe và trong trẻo của Tích Nghiêm với những bài hát quen thuộc đã từng nghe ở Bát Nhã, tôi chợt thấy lòng mình trầm xuống. Vốn dĩ từ khi bắt đầu khóa tu, buổi sáng đi ngồi thiền, tôi đã nhớ Bát Nhã. Khi sư em Tích Nghiêm được Thầy gọi lên ngồi gần để hát, tôi chợt nhớ mới năm nào báo tin cho Thầy biết có thêm các em người dân tộc vào xuất gia, Thầy vui lắm và cứ muốn tôi gởi các em sang Pháp, nhưng lúc đó các em còn nhỏ quá, tiếng Kinh còn chưa rành, Bát Nhã đã là một nơi quá khác lạ với buôn làng các em rồi… Bây giờ, đã tám năm, em lớn lên, chững chạc, lưu loát. Nhớ lúc đó, sư em Doãn Nghiêm mỗi chiều còn đút thuốc cho các em như… chơi búp bê. Ôi, Bát Nhã là một huyền thoại đẹp mỗi khi nhớ về nơi ấy. Tuổi thơ êm đềm nào cũng phải qua đi, dù có xảy ra sóng gió hay không nên có gì để luyến tiếc.

Thầy thăm Nhật Nguyệt thất

25/2, Khóa tu chấm dứt, được về lại xóm tôi, hạnh phúc chi lạ. Chui vào chăn, trên chiếc giường và quang cảnh thân thuộc, tôi đánh một giấc quá ngon. Sáng nay mở mắt thấy tuyết rơi trắng xóa, tôi choàng dậy, khoác áo ấm đi thăm vườn và thưởng thức tuyết. Đang đem mấy chậu hoa vào trong nhà để tránh tuyết, tôi vừa nghĩ bụng tuyết đẹp thế này mà Thầy không qua thì uổng, liền nghe các em xì xào Thầy tới. Tôi mỉm cười, vào ăn sáng cho chắc bụng xong rồi vào thiền đường thăm Thầy, và cùng các sư em theo Thầy lên đồi mận. Đi theo bước chân Thầy, tuyết trắng dưới đất, bông tuyết lất phất, cái lạnh thật dễ chịu và cảm giác thật bình an. Tôi vừa về lại phòng học thì các sư em thị giả báo tin Thầy lên Nhật Nguyệt thất vì phòng Thầy đang sửa lò sưởi nên không dùng được. Thầy hỏi có chỗ nào có lò sưởi và dĩ nhiên phòng tôi trúng số độc đắc. Thế là chị em tôi đốt lò, thầy trò ngồi chơi uống trà, ăn mứt gừng, nói chuyện rất vui. Cả nhà kéo lên ngồi chơi với Thầy, vòng trong vòng ngoài nên giống ăn Tết ghê. Tôi cười, năm nay Nhật Nguyệt Thất hên quá rồi. Tới trưa Thầy ở lại dùng cơm với mọi người. Ôi, xóm Mới ai cũng hạnh phúc. Buổi tối ở văn phòng chùa bước ra, bỗng tôi thấy trăng rất sáng, vàng tươi, tôi lặng đi một chút. Có những cái đẹp đến bất chợt, lam tôi nhớ Thầy có nhắc đến đêm Rằm nguyên tiêu, rằm tháng Giêng. Trăng có mặt đó cho tôi, mà tôi, tôi có mặt cho trăng không?

Ăn hết cơm Thầy

Đầu tháng Ba, có một ngày các sư em thị giả bảo Thầy nhắn tôi qua Sơn Cốc lấy thư pháp để làm quà cho Đại Hàn. Thầy đang ngồi viết thư pháp bên Phương Khê, thấy tôi qua Thầy chỉ cho tôi xem những tấm calligraphy mới viết. Thầy tiếp tục viết, trò lấy đi phơi. Các sư em thì xếp những tấm thư pháp đã khô mực lại, không khí đầm ấm. Sau đó mấy chị em được đi thiền hành với Thầy cả buổi sáng. Được một lúc Thầy dừng lại và ngồi ở võng, hai sư em Hạnh Lý và Phương Nghiêm ngồi đưa võng. Tôi bó gối ngồi gần. Có tiếng chim đâu đó trong vườn. Có tiếng gió rất nhẹ thoảng qua. Thầy đang có mặt đó với học trò. Những giờ phút được gần Thầy sao mà bình an đến lạ. Đến trưa chúng được mời ở lại ăn cơm, vì Thầy ép nên chúng tôi ăn hết cơm của Thầy luôn. Thầy cười hiền: “Thị giả nấu cơm sẽ vui lắm!”

Những ngày ở Thái

Những bận rộn chuẩn bị cho chuyến đi châu Á rồi cũng phải xong. Cuối tháng Ba, chúng tôi về tới đất mới. Cư xá khang trang. Các sư em mừng rỡ. Tôi gặp lại những khuôn mặt thân thương ngày nào. Buổi tối đi ngủ khí trời thật mát. Đó là một hạnh phúc ở xứ nóng Thái Lan. Giữa đêm tôi phải kéo chăn lên đắp và ngủ ngon lành tới 4 giờ sáng mới dậy. Trời còn tối nhưng trăng rất sáng. Tôi thay đồ và đi dạo một mình; nghe tiếng cắc kè kêu, tiếng côn trùng, tiếng gà gáy sáng lẫn tiếng tụng kinh của các thầy tu trên núi. Buổi sáng mộc mạc và đầy sự sống. Trời còn tối quá nên tôi xuống bếp phụ một chút, chờ khi sáng tỏ mới lò dò đi thăm các nơi. Cốc Thầy đang xây, chỉ mới có cái sườn gỗ hai tầng dựa vào vách núi nhưng địa thế rất đẹp. Tăng xá các thầy ở phía đất trên cao, có sẵn cây me, vườn xoài và một vườn rau tươi tốt. Ni xá các sư cô nằm ở đồng không mông quạnh, chưa có cây cối gì hết nên trông có vẻ khô khan hơn.

Ngày đầu ở Làng Mai Thái Lan, tôi chưa thăm hết mọi nơi. Nghe tin có xe về nhà bác Bôn Lư, tôi xin đi theo vì… được ngồi ở thùng xe. Ở Mỹ dễ gì có chuyện này! Tôi thấy mình cũng còn ham vui thật. Ôi, ngồi đàng sau vui nhưng hưởng bụi khiếp luôn vì xe phải chạy qua những con đường đất bụi tung mù mịt. Những vườn hoa nhà bác Bôn Lư còn dở dang, vườn rau của các sư cô đang chết khô vì không ai tưới (mọi người dọn hết lên đất mới rồi), tôi thấy tội tội. Sau đó tôi tung tăng đi thăm cả vườn và hái trái cây. Mùa này không còn gì nhiều. Ổi thì sâu. Đào thì sống. Sư cô Hạnh Nghĩa khều cho tôi mấy trái dừa tươi uống bù. Tôi bị muỗi và kiến cắn tơi tả, nhưng vẫn vui. Tôi hái được mấy trái xoài xanh làm gỏi xoài và hái rau lang để luộc. Bữa cơm trưa đơn sơ mà ngon lạ lùng nhờ rau tươi.

Pháp thoại công cộng Ngày hôm sau, chưa có thời khóa, tôi đi với sư cô Hạnh Liên mua cây ăn trái về trồng quanh cư xá II cho ni xá xanh tươi hơn. Chị em tôi đi cả ngày, nóng chi là nóng, nhưng mà vui. Tôi hứa sẽ đi xin tiền để mua thêm cây. Sư chị Tịnh Nghiêm từ Lộc Uyển qua cúng dường một cây xoài có trái sẵn, trái chưa chín nhưng đong đưa trong gió, ai nhìn thấy cũng .. tác ý hết.

Trừ ngày phải đi lên Bangkok dự pháp thoại cho giới chính trị gia, sáng nào chúng tôi cũng được đi thiền hành với Thầy ở đất mới. Tôi hạnh phúc vô cùng khi thấy đôi chân của mình còn khả năng đi theo Thầy khắp mọi nơi chứ không phải ngồi ì một chỗ như chuyến đi Á châu hai năm trước. Ngày nào cũng vậy, khi đi đến chân núi, thầy trò trải chiếu ngồi thiền, ngồi thật yên và lắng nghe tiếng chim ríu rít trên cao. Nhiều loại chim lắm, có khi có cả tiếng chim vang xa trong rừng. Tôi nhắm mắt, nghe gió nhẹ thoảng qua, rõ ràng là “nghe như có tiếng đất trời gọi nhau” (thơ Thầy đó).

Tôi ở cư xá II, nghĩa là xa nhà ăn nhất, nên có cơ hội đi bộ nhiều. Đi bộ thì tôi không sợ nhưng sợ cái nóng nung người khi băng qua bãi đất trống chỉ toàn đá. Nên tôi tích cực đi mua hoa để làm con đường hoa Bằng Lăng và hoa Phượng như ý muốn các sư em. Mà cây phượng lớn rất nhanh. Mỗi lần đi khóa tu về, tôi lại thấy nó cao thêm một chút, tàng lá xanh mát thấy thương. Chắc hai năm nữa về lại Thái thì cây cao hơn đầu tôi rồi. Ở đây tôi còn một hạnh phúc nữa là ngắm mặt trời lặn và mặt trăng lên giữa hai dãy núi mỗi chiều. Cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt, gió thổi mát rượi, không gian bao la, tôi thấy mình giàu có quá chừng chừng.

Ngày 01/4, Thầy dẫn cả chúng đi chùa Thái “hàng xóm”. Mọi người dậy từ 4 giờ 30 và bới cơm sáng. Chúng tôi khá xa, khoảng 1 tiếng 10 phút thì có xe đến đưa Thầy lên tiếp vì chùa ở trên cao. Thầy từ chối ngồi xe du lịch dành cho mình và trèo lên xe thùng như xe lam chở đại chúng. Ai cũng cười hạnh phúc. Tôi lọt vào nhóm người đi kế Thầy nên cũng leo được lên xe. Tới chùa, thầy trò đi bộ quanh quanh thì thầy trụ trì đến và mở cửa chánh điện. Thầy trò vào lạy Bụt, xong thầy trụ trì lạy Thầy, rồi đại chúng đảnh lễ thầy trụ trì. Chùa nhỏ, nhưng ở trên cao nên thoáng. Thầy trụ trì dẫn đại chúng ra hồ để mọi người ngồi chơi và ăn sáng. Sau đó chúng tôi đi thăm hang động của chùa. Chùa có ba cái hang nhưng một cái chưa khai phá xong, vào sợ không đủ oxy nên đại chúng chỉ đi thăm hai hang động còn lại. Ở đây dơi ở trong động rất nhiều, nghe nói gần “chùa mình” có động dơi cả ngàn con. Còn ở đây, có một hang cũng đầy dơi, chúng  đập cánh loạn xạ khi có ánh đèn chiếu vào. Từ hang thứ nhất qua hang thứ hai phải khom lưng đi rất sát mà đoạn đường có phải là ngắn đâu. Tôi mừng là cái lưng của mình sau tai nạn đã có khả năng cúi thấp như vậy để đi theo mọi người. Nhưng cái tính lí lắc không chừa, tôi cười khi nghe Thầy nói: “Linh đan đổi cốt mới ra về.” Tôi sắp đổi cốt thành lưng bà ngoại rồi. Tới hang thứ hai, Thầy trải chiếu ngồi trước chỗ có tượng Bụt nhập Niết bàn, nghe nói đây là chỗ các thầy trong chùa an cư và ngồi thiền khi trời nóng quá. Thầy cười và cứ hỏi thăm xem ông Pritam có tới chưa và làm sao ông chui được qua cái đường hầm như vậy.

Tháng tư, Khóa tu ở MCU diễn ra như thường lệ. Khóa tu vừa xong, buổi chiều tôi tháp tùng theo hai sư em Trai Nghiêm và Linh Sơn đi lấy khung hình cho thư pháp, sau đó ghé thăm thủ đô cũ của Thái nay đã hoang tàn sau những lần bị người Burma cướp phá. Chỉ còn chùa tháp hoang sơ, tượng Bụt bị bể tay, không có đầu, rất hoang phế. Họ đã lấy hết lớp vàng phủ bên ngoài và đốt tượng nên tội lắm. Đây là một di tích lịch sử của Thái, gần MCU như vậy mà đi Thái bao nhiêu lần rồi, tôi không hề biết để tới thăm. Không biết Thầy đã đi chỗ này chưa?

Những ngày ở Thái qua nhanh với khóa tu xuất sĩ, khóa tu người Việt, khóa tu người Thái. Trong khóa tu người Việt, tôi được gặp lại dì mình, gặp lại một người bà con cả ba mươi mấy năm bặt tin từ khi tôi rời nước, gặp lại các chú, các cô Tiếp Hiện, các Sư bà, các Hòa thượng, Thượng tọa. Đúng là có trung tâm Làng Mai Thái Lan tôi không còn phải về Việt Nam mới gặp được mọi người. Cả tháng trời ở Thái, tôi có nhiều dịp chơi với các sư em đến từ Việt Nam và ở Thái. Các sư em Trăng nhiều quá, tôi đi ra đi vô hỏi tên mà cứ quên miết thôi. Nhìn em nào cũng thấy quen, mà cứ kêu lộn tên. Các sư em cười tôi quá xá.

Chuyến đi Hàn Quốc

Tôi rời Thái trước mọi người, đi Đại Hàn sớm để làm tiền trạm với hai sư em Tuệ Nghiêm và Pháp Công.

Chuyến bay chỉ có 6 tiếng nhưng tôi mất ngủ nguyên đêm. Tới nơi, tôi mệt đừ. Tuy nhiên mùa Xuân ở Đại Hàn thật đẹp. Hoa Đỗ Quyên nở đầy hai bên đường. Những cây phong lá đỏ chen sắc với những cây khác đầy lá non xanh. Chúng tôi được ban tổ chức đón về trụ sở của họ để ăn trưa rồi đi chợ để chuẩn bị đón tiếp phái đoàn. Tôi chuẩn bị phòng cho tăng thân và chất đầy đồ ăn nấu cho Thầy trong tủ lạnh. Mọi người được ở chung nơi khu cư trú của thiền sinh, riêng Thầy và thị giả thì ở lầu khác, ở trên Tăng xá của các thầy thường trú nhưng trong khu vực dành riêng cho thầy Pháp Chủ.

Hôm sau, chúng tôi theo Thầy đi đảnh lễ ở văn phòng Tổng hội giáo phái Tào Khê rồi vào phòng họp báo. Sau buổi họp báo, cả phái đoàn được dẫn đi ăn ở một tiệm chay mà mười năm trước Thầy đã đi, cũng ở gần đó. Tiệm ăn có phong cách rất đặc biệt, rất Đại Hàn và rất chùa vì chủ quán nguyên trước đây là tu sĩ. Ai cũng hạnh phúc quá chừng.

các chú điệu Hàn QuốcNgày kế đến, phái đoàn đi thăm đài truyền hình Phật Giáo và dự buổi phỏng vấn của Thầy. Thầy hơi mệt và sau buổi phỏng vấn còn phải đi lên chùa Woljinsa để bắt đầu khóa tu hôm sau. Thời khóa sít sao quá nên ban tổ chức phía Làng Mai phải bỏ buổi phỏng vấn của Thầy để đi trước từ sáng sớm. Chúng tôi ăn trưa trên xe buýt. Tới nơi vừa ổn định chỗ ở là chúng tôi đi họp liền cho khóa tu. Các tình nguyện viên làm thông dịch viên nói tiếng Anh rất yếu, nhưng đành vậy, còn hơn… không có ai. Chùa đẹp, ở trên núi nên yên tịnh và thoáng mát. Thiền đường, nơi các sư cô cư trú, có sưởi dưới sàn nên chúng tôi ngủ rất ngon (trừ đêm đầu tiên bị mất ngủ vì quên tắt cái đồng hồ mỗi 15 phút gõ chuông một lần). Tôi nằm mơ thấy dì Năm tôi. Tôi ít khi ngủ mơ thấy ai vì tàng thức tôi cũng làm biếng lắm. Tôi biết dì tôi đang nằm bịnh viện. Sáng ra mượn được máy để mở mail, tôi hay tin dì mất tối hôm qua ở Mỹ. Trong vòng ba tháng tôi được tin hai người thân của mình không còn nữa. Hôm tháng Ba, khi đi Thái, tôi nhận tin là cô bạn thân nhất từ thời mẫu giáo ở Việt Nam qua đời. Bởi vậy nói gì đến tuổi của ba má tôi, vô thường là chuyện hàng ngày và cho bất cứ ai. Tôi đi thiền hành. Núi đồi vào Xuân đang tràn dâng sức sống mãnh liệt. Tôi đi cho những người không còn đi được nữa và đi cho chính mình. Chưa bao giờ tôi thấy thấm thía lòng biết ơn Bụt, ơn Thầy đến thế.

Khóa tu chấm dứt. Hôm sau là khóa tu cho xuất sĩ ở trường Đại học Phật giáo. Không đủ chỗ ở nên chúng tôi sáng đi tối về. Xe vừa lên tới nơi chúng tôi thấy khoảng 500 thầy và sư cô đắp y vàng tề chỉnh đứng chờ trông rất khí thế. Ai cũng trắng trẻo, cao lớn, tướng tá rất oai phong. Tôi không ngăn được sự so sánh khôi hài: “Người Hàn vốn có nước da đẹp, còn chúng tôi thì mặn mà nắng Thái Lan; họ cao lớn như Tây phương, còn chúng tôi thì thanh cảnh nhỏ xíu; họ mặc đồ lam kiểu áo tu sĩ Đại Hàn phồng ra, còn chúng tôi mặc đồ nâu sát người.” Ôi, cái gì cũng tương phản, chỉ có cái đầu là giống nhau. Và nhóm áo nâu chỉ có mấy chục người lại đi hướng dẫn cho nhóm áo lam mấy trăm người. Thầy dạy mấy điều rồi dẫn đại chúng đi thiền hành liền. Ngày đầu mọi người sinh hoạt còn dè dặt, giờ pháp đàm cũng chưa cởi mở lắm. Hai sư cô thông dịch trong nhóm tôi mới học tiếng Anh có hai tháng, hỗ trợ nhau dịch với cái máy iTouch. Sau buổi giảng thứ hai thì không khí đã bắt đầu có sự thân tình. Các thầy và các sư cô trong nhóm pháp đàm của tôi đã chia sẻ nhiều hơn và cũng đặt nhiều câu hỏi hơn. Nhưng đỉnh điểm là giờ “workshop” (chia ra nhóm nhỏ theo chủ đề để trình bày và học hỏi thêm) vào buổi chiều. Sau giờ ăn, mọi người kéo đến ngồi với nhau rất tự nhiên trên cái sân rộng hát hò và khi thầy viện phó ra thông báo tới giờ workshop, ai cũng muốn nó thành giờ “play-shop” (play có nghĩa là chơi). Thế là ngay giữa sân trường tự động hình thành một buổi be-in rất giàu có, phong phú và đầy tình huynh đệ. Chắc đây là lần đầu tiên mà các thầy và các sư cô Đại Hàn ngồi chung với nhau như sinh viên đại học ngoài sân trường vì khi đi ăn, đi đổi lớp họ đều có những lối đi riêng biệt chứ không đi chung. Ôi, buổi be-in đó vui cực kỳ, ai cũng cười nghiêng ngửa. Cứ phía Làng Mai ra trình diễn một màn thì tới phía Đại Hàn đáp lễ một màn. Nhiều màn trình diễn rất hay. Thậm chí có sư cô Đại Hàn làm hoạt náo viên cũng rất là chuyên nghiệp. Khoảng cách giữa Làng Mai và các thầy cô Đại Hàn như rút lại rất ngắn. Tôi thấy rất rõ tình thân được xây dựng rất nhanh, nhanh đến không ngờ.

Ngày thứ hai 9/5 và cũng là ngày cuối. Giờ vấn đáp thật hay. Thầy mệt mà dạy kỹ ghê. Khi chia tay ra về, ai cũng bịn rịn. Thầy viện chủ Misan nói là lúc đầu thầy rất kinh ngạc vì quen với nguyên tắc và kỷ luật, nhưng thầy đã học được sự uyển chuyển khi thấy work-shop thành play-shop mà cũng rất thành công, thầy bảo thầy cũng muốn hát nhưng chẳng thấy ai mời. Thế là học tăng vỗ tay ầm ĩ, yêu cầu thầy hát và thầy… hát thiệt. Ai cũng vui hết. Và có lẽ đây là lần đầu tiên thầy hát trước học tăng như vậy.

Busan

Xong khóa tu, chúng tôi lên xe buýt đi thẳng về miền Nam, tới thành phố Phủ Sơn (Busan). Thầy và ban thị giả đã bay tới trước và ở nơi khác, còn chúng tôi tới ở chùa Hoằng Pháp (Hongbeopsa) là chùa lúc đầu mời Sư Ông cho pháp thoại với thính chúng 10,000 người. Sau đó vì tầm quan trọng của chùa cổ Phạm Ngư (Beomosa) vốn là trụ sở của giáo phái Tào Khê tại Busan nên họ nhường cho Phạm Ngư Cổ Tự tổ chức buổi thuyết pháp, nhưng xin được đón tiếp tăng đoàn. Tới chùa là quá 10 giờ khuya. Thấy thầy trụ trì đắp y đứng chờ với Phật tử dưới mưa mà chúng tôi hết hồn. Thầy trụ trì đích thân dẫn đại chúng lên phòng. Mỗi phòng dành cho hai người, có toilet riêng, có mền chiếu trải sẵn dưới sàn kiểu Đại Hàn. Thầy rất cởi mở và hiếu khách. Thầy dành hẳn phòng uống trà làm phòng sinh hoạt chung cho đại chúng và vui nhất là thầy chất đầy bánh trái, thức uống đủ loại cả một góc phòng để chúng tôi sử dụng, trông vào như một gian hàng tạp hóa nhỏ. Thấy mắt mọi người sáng lên ngạc nhiên, thầy ngồi cười hỉ hả ở bàn trà. Chúng tôi ai cũng cảm động và thấy ấm áp vì sự chăm sóc của thầy.

Hôm sau chúng tôi được ăn sáng với đủ thứ đồ ăn lạ, ai cũng hạnh phúc hết. Ăn sáng xong, thầy trụ trì hỏi chúng tôi muốn gặp các chú điệu không. Dĩ nhiên là chúng tôi hào hứng gật đầu. Một đoàn mười lăm chú khoảng năm, sáu tuổi, đĩnh ngộ, lí lắc ùa vào. Các chú đứng chào rồi thầy bảo tụng kinh cho chúng tôi nghe. Ôi chao, tụng kinh mà có người thì đứng một chân, người thì dụi mắt, người thì thúc kẻ đứng bên cạnh, chú thì bịt miệng bạn, chú thì tròn mắt, chú thì nhắm mắt há mồm, đủ kiểu làm chúng tôi ôm bụng cười quá chừng. Các chú hồn nhiên và nghịch ngợm một cách hạnh phúc. Các chú chỉ cạo đầu tập làm tu sĩ có 21 ngày trong thời gian lễ Phật Đản thôi. Những người tình nguyện chăm sóc các chú chắc mệt đừ. Đây là lần thứ 8 chùa có nhóm điệu như vậy. Pink, cô cư sĩ trong ban tổ chức và là thông dịch viên của chúng tôi, quê ở Phủ Sơn, là người chính chăm sóc mấy chú những đợt đầu nên rất biết cách nói chuyện với các điệu. Thầy cũng thương và gần gũi với các chú điệu thiên thần này nên các điệu quý, ôm thầy làm nũng rất dễ thương.

Sau đó chúng tôi theo đúng phép đắp y lên chánh điện đảnh lễ thầy trụ trì rồi xuống dùng cơm trưa để còn qua chùa Phạm Ngư dự pháp thoại của Thầy. Nghe tin Thầy không khỏe ai cũng lo quá chừng. Nhưng cách tốt nhất để yểm trợ Thầy là việc mình, mình phải lo cho đàng hoàng, dù là đã có kế hoạch thay thế phòng khi Thầy không tới được.

Chùa Phạm Ngư là một ngôi cổ tự ở trên núi cao. Chùa rất đẹp và người đã tới đông nghẹt. Nhìn quanh thì chỉ khoảng 3,000 người nhưng khi tôi hỏi Emi thì mới biết còn ba tầng khác từ dưới núi lên và có dựng màn hình rộng để mọi người đều có thể xem. Tôi nhờ sư em Trời Độ Lượng đi chụp hình các nơi đó thì số người có thể lên đến 13,000 người. Họ đứng nghẹt các phòng quanh khoảng đất làm hội trường chờ đợi. Còn chúng tôi cũng lo Thầy không ra được, vì nghe nói tới giờ phải ra xe mà Thầy cũng vẫn còn rất yếu. Tới giờ thuyết pháp vẫn chưa thấy Thầy đâu, thầy Pháp Ứng bắt đầu nói ít lời về đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm và khi chúng tôi chuẩn bị niệm danh hiệu Ngài thì Thầy xuất hiện. Nhìn Thầy ốm và xanh, người nào cũng xót xa trong lòng và lo lắng. Niệm Quan Âm mà sư cô Mai Nghiêm nước mắt chảy dài, sư cô Giác Nghiêm thì chắp hai tay thành khẩn như đang nguyện đức Bồ tát phù hộ cho Thầy. Tôi thì… căng thẳng vì không biết làm cách nào để chắn gió cho Thầy đừng bị trúng gió. May sao mấy người cư sĩ kéo một tấm bình phong ra và họ đứng đàng sau để giữ cho tấm bình phong được đứng vững trước những cơn gió núi.

Và mầu nhiệm thay, chắc chư Tổ Đại Hàn gia hộ nên Thầy cất tiếng được, dạy gần một tiếng, chậm rãi, tập trung, chính xác, trả lời đúng vào vấn đề các thầy Đại Hàn đã thỉnh ý lúc mới đón Thầy về việc cầu nguyện hòa bình cho Nam-Bắc Hàn. Chỉ không biết họ có làm được không thôi.

Trên đường xuống núi, đoàn được đi bằng xe còn người nghe phải đi bộ vì chùa không cho đem xe lên núi. Con đường xuống núi dài trên cây số mà người người lũ lượt đi như một dòng sông cuồn cuộn chảy thật dài, xe xuống tới chân núi mà vẫn đông nghịt người. Nên con số trên 10,000 người là chắc chắn nhưng không ai có thể biết đích xác là trên tới bao nhiêu ngàn. Ban tổ chức bảo những buổi lễ bình thường là 10,000 người nhưng số lượng này đông hơn rất nhiều. Sau pháp thoại Thầy về lại chỗ nghỉ ngơi vì quá yếu không bay về Seoul liền được như dự định. Chúng tôi thì về lại chùa Hoằng Pháp và tròn mắt khi thấy một buổi tiệc với 21 món được bày sẵn trong phòng ăn. Nhiều món thật là lạ và ngon. Chắc kỳ này tôi phải thêm vài kí là ít. Sự hiếu khách và tài nấu nướng của các bác Phật tử chùa Hoằng Pháp không thể nào quên được. Còn cái phòng sinh hoạt chất đầy thức ăn nhưng chúng tôi không có giờ và cũng không đủ bụng để ăn thêm.

Hôm sau không có thời khóa. Chúng tôi chia tay thầy trụ trì và các chú điệu dễ thương, đi thăm biển rồi xuống thăm chùa thầy Trí Huyền. Biển đẹp mà lạnh buốt. Chùa thầy Trí Huyền ở ngược hướng về lại Busan nhưng phải đi thăm thôi vì thầy quá dễ thương. Từ mười năm nay, sau chuyến viếng thăm Đại Hàn của Thầy lần trước, mỗi năm thầy đều gởi rong biển về Làng cúng dường cho Thầy và đại chúng. Chùa thầy Trí Huyền nhỏ thôi, nhưng lòng thầy rất lớn. Đại chúng được ăn trưa, gói thêm một mớ bánh trái (thân tình như trong nhà) rồi về thẳng Seoul cho kịp xem lễ hội lồng đèn. Mấy em trẻ trong ban tổ chức thật tháo vát, nghe nói đại chúng thích ăn pizza là đặt đem lên xe luôn cho kịp giờ và mọi người đều hạnh phúc sau mấy ngày ăn kim chi và sushi (là thực đơn không thay đổi mỗi khi phải ăn trên đường đi).

Buổi tối khi về tới Seoul, lễ hội đã bắt đầu. Người đứng xem đông nghịt. Tuy nhiên cuối cùng chúng tôi cũng kiếm được ghế ngồi xem. Lễ hội rước đèn này thật là đẹp và hoành tráng. Mỗi đơn vị, mỗi chùa có một loại lồng đèn khác nhau. Đa phần mặc y phục truyền thống rực rỡ, ai cũng tươi cười. Có chùa thì quý thầy đắp y cầm đèn đi trước, Phật tử cầm đèn đi sau. Có đơn vị thì vừa đi vừa múa. Xe hoa thì quá sức quy mô, có xe như một cái lồng đèn lớnc có xe chở Bụt, có xe làm hình con rồng phun lửa thật. Đài Truyền Hình Phật Giáo có màn hình trực tuyến lớn ngay trên đường. Họ phỏng vấn thầy Pháp Lai và giới thiệu có Làng Mai tới xem. Lúc đầu ở Trung tâm Thiền viện Quốc Tế có gợi ý mình cùng tham dự rước đèn với họ nhưng nếu tham dự rước đèn thì không thể thấy được đèn của các chùa khác nên chúng tôi chọn… làm khán giả. Nhưng tới chiếc xe hoa chót đi qua thì mọi người, khán giả ở hai bên đường, kéo xuống lòng đường đi theo rất rộn ràng, hớn hở. Thật là một buổi lễ đáng coi. Emi hứa sẽ đưa phim quay buổi lễ đó cho Sư cô Chân Không xem lại vì Sư cô không tham dự được.

Tối về lại Trung tâm, nghe tin Thầy khỏe hơn, ai cũng mừng.

Mây và núi trong nhau

Chùa Liên Trì, giữa tháng năm

Nơi này cao nên mây phủ núi ngày đêm. Buổi sáng thức dậy, có mây vào tận giường thăm. Khung cửa sổ nhỏ mà có lúc cuồn cuộn mây trắng qua. Buổi trưa, tôi không thấy mặt trời, chỉ nhìn thấy những cây cau mờ mờ trước sân chùa. Tôi cười thú vị: “Mình ngủ trong mây, bước trên mây, uống mây, nên thơ lắm chứ.”  Nhưng có ngày mây ướt cả sân chùa. Đúng là mây và núi trong nhau.

Thời khóa ở Hồng Kông thì như mọi năm: ngày quán niệm cho giới y khoa, khóa tu ở YMCA, pháp thoại công cộng, và lễ mừng Bụt đản sanh ở chùa Liên Trì. Sự có mặt của mình ở Hồng Kông đã bắt rễ. Người tới tu học thường kỳ cũng ngày một nhiều hơn. Khóa tu ở YMCA cũng đông hơn, khoảng 1,200 người. Pháp thoại công cộng, sinh hoạt cuối cùng của chuyến đi Hồng Kông, nghe nói đã đưa ra 11,000 vé rồi. Có người bảo trợ cho ngày pháp thoại công cộng đó nên vé vào cửa miễn phí. Có cả 20 tờ báo ở Hồng Kông tường thuật về Thầy và những sinh hoạt của tăng đoàn.

Ông Dương, người cúng dường chùa Liên Trì, trong ngày Phật Đản đã tới thăm Thầy. Ông nói rằng chùa Bảo Liên (Polin) là chùa du lịch còn chùa Liên Trì là chùa tâm linh. Có sự công nhận rồi đó. Thầy kể tôi nghe là ở đảo Lan Tau này có một ngôi chùa khác rất đẹp là chùa Diên Khánh, chùa này chuyên môn lo cho người chết còn Liên Trì lo cho người sống. Sư em Thần Nghiêm bảo họ làm ăn khá lắm vì con cháu sợ không lo cúng quảy đàng hoàng thì cha mẹ sẽ không phù hộ cho buôn bán, có nghĩa là khi cha mẹ còn sống thì không sợ cha mẹ bằng sau khi họ mất rồi. Nhìn kỹ, ta thấy điều này dính với quyền lợi hơn là tình thương, và cái quan niệm thần quyền đã chiếm hữu phần tri thức của giới thương mại. Ở chùa Liên Trì muốn làm gì cũng phải chờ ban quản trị cho ý kiến về phong thủy dù họ đã cúng chùa cho mình. Mình không tin, nhưng nghe theo họ để không bị “đổ thừa” nếu họ làm ăn lỗ lã. Thôi cũng không sao, mình chỉ cần chùa để tu, còn xây cất sửa chữa cứ để họ lo cho khỏe.

Lần này có nhiều sư em tới từ Thái Lan nên ban tổ chức ưu ái phát tiền cho chúng tôi đi chơi cho biết đó biết đây. Tiền đủ để đi xe buýt, ăn trưa, và đi cáp treo về. Rồi một ngày trước khi rời Hồng Kông, Sư cô Chân Không rủ mấy sư em qua Bảo Liên ăn… tàu hủ chén. Ôi, nếu biết hàng quán bên đó có đủ món như vậy hôm trước tôi đã dẫn các sư em trong đội nấu ăn qua đó ăn cà rem. Có sư em Trăng Đông Hải đi theo nói tiếng Hoa nên gọi nhiều món khá ngon. Mấy cô cháu ngồi chơi, nói chuyện đủ thứ. Sư cô Chân Không thật là vui, tự dưng không biết nghĩ gì mà Sư cô vừa kể vừa cười làm mọi người cũng bật cười theo: “Thời xưa, khi người ta mời Bụt đi hoằng pháp, Bụt đâu có hỏi chỗ đó có ẩm không? chỗ đó có nhiều muỗi không?” Sư cô Định Nghiêm thủng thẳng thêm vào: “Chỗ đó có internet không?”

Tháng Sáu Học Viện Đức

Về Đức ngày 29/5, ngang Amsterdam là tôi đã lạnh run rồi. Áo lạnh, khăn quàng bỏ trong túi xách tay nhưng vì máy bay nhỏ nên túi xách tay cũng được “check in” luôn.  Ngày hôm đó mưa, lạnh và ẩm ướt. Tôi than trong bụng: “Ui, sao giống Hồng Kông quá!” Về tới EIAB, bên nữ đã dọn qua ở chùa Đại Bi hết nên tôi cũng khỏi phải leo mấy tầng lầu như khi ở Học Viện. Ổn định chỗ ở xong, tôi đi thăm lều của các sư em. Chỗ cắm lều năm trước của các sư em đã thành tháp chuông Bao Dung và vườn Chuyển Hóa nên năm nay các sư em cắm lều ở sau chùa Đại Bi. Chỗ ở thật là ấm cúng. Công nhận khi trời mưa thì ở lều hơi mệt, nhưng trời tốt thì ở ngoài lều rất tuyệt.

Có một ngày quán niệm cả ngàn người, may là cũng ở ngay EIAB nên Thầy không phải đi xa. Tôi đi thiền hành sau lưng Thầy, ý thức rất rõ là mình đang có nhiều may mắn bởi vì Thầy còn đó, sau chuyến đi dạy xa nhọc mệt. Hai khóa tu tiếp theo sau đó và tôi thấy mình nôn nao chờ ngày về lại Làng sau mấy tháng xa cách. Nghe nói xóm Mới năm nay hoa nở rất đẹp. Tôi được xem hình các sư em gởi qua nhưng vẫn không bằng mình được nhìn tận mắt.

Chòi Vịt Xóm Mới

Tháng Sáu, về lại Làng, ba ngày nay tôi được làm biếng, mà thiệt là làm biếng. Tôi đi bộ mỗi ngày. Trời đẹp, người khỏe, có giờ để đi bộ, thật là hạnh phúc. Có một ngày đi bộ lên Sơn Cốc với hai sư cô Định Nghiêm và Tuệ Nghiêm, được theo Thầy đi thiền hành, rồi Thầy giữ lại ăn cơm trưa. Có một buổi chiều tôi đi loanh quanh, ăn cherry, ăn dâu mulberry, xong ra thăm cái chòi tranh của sư cô Thoát Nghiêm. Cả hai chục người ngồi ăn mì gói trong chòi vui quá, có cả các thầy Pháp Thắng, Pháp Lý, Pháp Nguyện. “Tiệc mì gói” gần tàn thì mưa, chúng tôi ngồi chen nhau chật cứng, chơi trò chơi giựt điện cười đau cả bụng.

Tối nay trăng tròn vằng vặc, đúng là trắng ngà. Các sư em quấn mền ngồi chơi ngoài chòi “Giải Thoát” (tôi gọi là chòi vịt dù không có con vịt nào) ngắm trăng. Ngày hè dài nên đã 10 giờ khuya mà trời còn sáng, chắc các em phải thức khuya lắm mới ngắm trăng đẹp được.

Tôi lại miệt mài làm vườn, có thể chơi cả ngày ở ngoài vườn mà không chán. Tuy nhiên tôi cũng phải scan giấy tờ tài liệu để Sư cô sử dụng trong chuyến đi Mỹ sắp tới. Những tài liệu ngày xưa khi Sư cô giúp đỡ các văn nghệ sĩ thật là quý giá. Tôi phân loại, scan, sắp xếp mà thấy bâng khuâng. Nếu Sư cô không viết lại những điều này thì ai biết được sự thật? Công việc cho tôi nhiều hứng khởi và năng lượng y như… làm vườn. Thế mới biết tôi ham làm việc quá, làm gì cũng hạnh phúc, việc gì cũng hạnh phúc.

Có một buổi tối, tôi ngồi ăn bánh bao dưới cái xích đu sau khi chơi với các em (ăn nấm nướng, khoai nướng, đậu nướng và uống trà rồi, bạn hiền có thấy thèm không?) ở cái chòi vịt, nghe hương hoa Kim Ngân thoang thoảng mà nồng nàn. Năm nay Kim Ngân hoa được mùa, cây nào cũng tươi tốt và tỏa hương khắp nơi. Các sư em quá vui. dám chọc tôi bằng cách hát rằng “mẹ của con như… đại ca”, thay vì “đại dương’ làm ai nấy cười rũ. Tôi cũng bật cười. Các em thấy tôi chịu chơi nên ăn hiếp tôi quá xá.

Mùa Hè qua nhanh

Mùa Hè này con nít về thật đông. Xóm Mới nhỏ như cái lỗ mũi nên đi đâu cũng đụng người. Cái sân gạch trước nhà là trụ sở của chương trình thiếu nhi nên ở phòng tôi nghe tiếng hát, tiếng đàn suốt ngày. Những tiếng cười trong vắt của các cháu bé thật dễ thương. Tôi vào đội nấu ăn, hướng dẫn pháp đàm và làm luôn việc tri xa. Tuần nối tuần qua thật nhanh. Năm nay xóm Mới làm bánh mì cho thiền sinh đem theo ăn sau buổi thiền hành mỗi khi đi các xóm khác, nhờ vậy mà ai cũng có giờ nghỉ ngơi khi xe buýt về lại xóm. Chỉ có đội nấu ăn hơi vất vả vì phải chuẩn bị để từ sáng sớm đã có đồ ăn trưa, nhưng bù lại thì các đội nấu ăn không bị mất pháp thoại và đó là phần thưởng đáng giá nhất. Tuy nhiên có sư cô than ăn bánh mì hoài nóng quá.

Cuối mùa Hè, các cháu bé bịn rịn giã từ. Có một bé gái khoảng tám tuổi đi chào các sư cô. Tôi thấy cháu dễ thương, nên hỏi thăm cháu đến từ đâu. Câu trả lời thoát ra tự nhiên: “Theo lời Thầy dạy, con không từ đâu đến cả.” Tôi giật mình, đừng coi thường con nít. Còn đang loay hoay tìm cách hỏi thêm thì cháu, sau một chút ngẫm nghĩ, thận trọng nói thêm: “Nhưng mà con ở Hòa Lan.” Tôi nhìn cháu mến phục. Mới có tám tuổi, cháu đã hiểu được gì từ giáo lý không đến không đi nhưng cháu sử dụng rất đúng chỗ. Hạt giống đạo Bụt gieo trồng nơi phương Tây nếu có nẩy mầm và lớn mạnh cũng là từ những ngày chơi mà tu, chơi mà học của các cháu hôm nay.

Đi Bắc Mỹ

Tháng Tám, Làng vừa đóng cửa sau khóa tu mùa Hè thì tôi lại theo Thầy và đại chúng đi hoằng pháp ở Bắc Mỹ. Lần này chặng đầu tiên là ở Toronto. Nghe nói khóa tu kín người ghi danh chỉ sau một thời gian rất ngắn và “waiting list” (danh sách dự bị) tới mấy trăm người. Đây là khóa tu dành cho người trong ngành giáo dục. Trong chuyến đi này, tôi và sư em Trai Nghiêm chịu trách nhiệm chính trong việc bán thư pháp của Thầy nên lúc nào cũng bận rộn, nhất là ở Toronto. Lần đầu tiên thiền sinh được thỉnh thư pháp của Thầy nên họ thỉnh nhiều quá, chúng tôi phải nhờ thị giả xin Thầy viết thêm nhiều lần. Trường học Brock, nơi tổ chức khóa tu, đầy đủ tiện nghi nhưng là lần đầu tiên nấu ăn chay cho quá nhiều người nên chất lượng món ăn quá kém. Hôm nào bán xong bị trễ giờ ăn, chúng tôi ghé vào bếp nấu ăn của Thầy xin cơm. Có ngày cơm không có gì nhiều mà cũng thấy ngon. Ngày cuối cùng có ba má thầy Pháp Duệ đem phở và bánh bột lọc lên đãi các thầy cô, ai cũng hạnh phúc quá chừng.

Xong chuyến đi ở Canada, chúng tôi đi xe buýt về tu viện Bích Nham. Bích Nham đẹp hơn xưa với những con đường tráng nhựa và cây cối lên cao. Nhưng có hai cư xá phía các sư cô bị đóng cửa vì chưa sửa chữa kịp nên một số các sư cô được chia ra khách sạn gần đó ở để chăm sóc thiền sinh luôn. Tôi được may mắn ở lại Bích Nham, tiếp tục bán thư pháp, tiếp tục hướng dẫn pháp đàm, và tiếp tục bận rộn. Mỗi chuyến đi là một cơ hội để phục vụ, thích lắm.

Có một ngày đại chúng đi xe buýt ra New York để dự buổi triển lãm thư pháp của Thầy do ABC Homes tổ chức. ABC Homes nằm ngay đường Broadway, phố chính của New York. Mỗi một chỗ triển lãm mang một tính cách khác nhau. Chúng tôi tụng kinh trước khi Thầy nói vài lời. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở một chốn thương mại mà lại xuất hiện nhiều người tu như thế. Sau đó Thầy ngồi vào bàn, viết vài bức thư pháp trước rất nhiều ống kính. Viết xong tờ nào, Thầy đưa ra sau cho thị giả cầm. Thị giả đưa tiếp ra cho anh chị em khác cầm giơ lên để mọi người được xem. Tôi đi ngang, được đưa một tấm, thế là cầm giăng cao lên che hết mặt mũi mà thú vị như thuở nhỏ được cô giáo nhờ làm việc dùm.

Những ngày ở Bích Nham năm nay qua nhanh vì là chặng đầu, chỉ có một khóa tu và một ngày quán niệm ở Bích Nham, một buổi pháp thoại công cộng ở New York. Từ New York, sau buổi thuyết pháp của Thầy, chúng tôi ngủ lại một đêm rồi đi xe buýt lên Washington, D.C.

Ngân Hàng Thế Giới World Bank

Tôi phải thú thực là không hề có khái niệm gì về Ngân Hàng Thế Giới này vì tôi vốn rất dốt về lĩnh vực thương mại, nhưng nhờ cơ hội Thầy sẽ dạy ở đây mà tôi được đi thăm và nghe giải thích về chức năng của họ thì cũng hiểu biết thêm đôi chút. Ngày quán niệm buổi sáng Thầy dạy xong, buổi trưa có vấn đáp, tôi gặp một số các em Việt Nam làm việc ở đây. Các em đến từ Việt Nam và không biết gì nhiều về đạo Bụt, nhưng các em đều hãnh diện khi có Thầy là người Việt Nam tới đây giảng dạy cho mọi người, kể cả xếp của các em. Các em kể là văn phòng World Bank ở Việt Nam cũng theo dõi trực tuyến và họ bảo các em may quá, được nghe Thầy giảng trực tiếp. Tôi mỉm cười nghĩ thầm: “Vậy mà Việt Nam không biết đến sự may mắn đó.”

11/9 Chúng tôi rời Washington, D.C. trúng ngày này nên ít người dám đi máy bay, do đó ghế nào cũng chỉ có hai người, dư một ghế ở giữa thiệt thoải mái. Bay về tới Boston thì Thầy và ban thị giả ở hotel, nơi sẽ có buổi nói chuyện cho Harvard, còn đại chúng được sắp xếp ở một cái hostel gần đó, và… gần Chinatown. Ở đây quá vui vì ở gần phố Tàu, có thể đi uống sinh tố kiểu Việt Nam, đi dạo phố, thức ăn thì được cúng dường, chén bát có người rửa… Ngày hôm sau Thầy nói chuyện với giới y khoa ở Harvard plaza, trên 1000 người tham dự. Đa số thành viên tham dự không phải từ Boston, thậm chí có người tới từ Canada. Hội trường sang trọng, âm thanh tốt nên đại chúng tụng kinh rất hay. Sau đó là hai ngày ở nhà thờ Trinity. Nhà thờ đẹp lắm. Tôi nghe pháp thoại xong, xuống bán thư pháp không kịp vì người mua rất đông. Buổi tối đó được đi chơi với các sư em và đi ăn cà rem, vui quá chừng. Hôm sau là ngày Thầy giảng ngoài trời, ở sân nhà thờ để ai muốn nghe cũng tới được. Trời rất nắng, ai cũng phải đội nón lá nhưng sau nửa tiếng ngồi thiền, khi Thầy bắt đầu cất tiếng giảng dạy thì trời mát lại. Đây là buổi sinh hoạt chót ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

Trung tâm Mộc Lan

29/9 Mộc Lan

Vừa về tới Mộc Lan là tôi đi thăm liền thiền đường Hải Triều Lên mà phục các sư em quá. Chỉ có hai năm mà bây giờ Mộc Lan hoàn thiện nhiều, thành một trung tâm tu học rất đàng hoàng, quy mô, thiền sinh về tu trên 900 người và ai cũng hạnh phúc. Khóa tu người Việt thì ít, chỉ khoảng trên 300 người. Ngoài việc hướng dẫn pháp đàm và cho tham vấn, tôi tiếp tục bán thư pháp. Nhờ được ba má thầy Pháp Duệ đóng dùm cái giàn để treo thư pháp nên nhìn bắt mắt lắm. Sư chú Trời Tự Tại và sư cô Trai Nghiêm lại có óc nghệ thuật, đóng khung những tấm thư pháp theo nhiều kiểu sáng tạo nên làm gian hàng nhìn vui mắt hơn. Có người mua nhiều tấm, bảo để nhìn đâu cũng thấy Thầy. Có người đã chọn câu trơn vì chữ đẹp, lại đổi ý mua câu trong vòng tròn vì nhớ tới trong phim Thầy vẽ vòng tròn theo hơi thở, họ muốn thực tập thở theo khi nhìn bức thư pháp đó. Tấm nào cũng là để thực tập. Câu nào cũng có ý nghĩa. Mỗi lần gói một tấm thư pháp đưa cho người mua, tôi nói thầm trong tâm mong tấm thư pháp đó giúp cho họ được bình an và nhớ tới sự thực tập…

thư pháp

Trở về Vườn Nai

Tháng Mười, hai ngày mưa đem đến cho Lộc Uyển một sinh khí mới. Cây cối như được hồi sinh và những đóa cúc trắng bắt đầu nở rải rác trong khu vườn nhỏ kế toilet công cộng của xóm Trong Sáng. Sáng nay ngồi nghe pháp thoại ngoài trời vì thiền đường quá chật, tôi nhìn nhánh cây gạo đầy hoa màu hồng thắm chắn ngang trước những tàng tùng lọng xanh ngắt thành một bức tranh tuyệt đẹp mà lòng rộn vui. Hôm mới về Lộc Uyển, nhìn cỏ khô vàng cháy, cây cối ủ rủ vì đã ba tháng không mưa, thậm chí mấy cây tiêu mà cũng không còn lá mơn mởn xanh với chùm tiêu màu hồng như thường lệ, tôi nghĩ thầm Lộc Uyển lúc này chỉ khá hơn lúc… mới nhận đất một chút thôi. Tôi nghĩ tới những lần Thầy đến nơi nào thì khí hậu nơi đó đổi thay, không biết sao kỳ này… chưa mưa. Nhưng rồi mưa cũng đến, đột ngột, khi khóa tu người Việt vừa xong và khóa tu người Mỹ chưa bắt đầu, thật là một hạnh phúc lớn cho ban tổ chức cũng như mọi người.

Khóa tu nào cũng đông. Thiền sinh nữ dựng lều ở rừng sồi san sát nhìn thấy ngợp. Mỗi lần đi ngang chúng tôi gọi đùa là xóm Lều hay xóm Nấm, vì những túp lều đủ màu tròn tròn như nấm… mọc nhanh sau cơn mưa.

Như ở những nơi khác, ở Lộc Uyển ngoài giờ pháp thoại, pháp đàm, lúc nào tôi cũng thấy mình loay hoay ở quầy thư pháp. Mà cũng vì vậy nên tôi gặp được không biết bao nhiêu là người quen, có mấy anh chị trong Gia đình Phật tử, có quý thầy mà tôi đã từng gặp… ở Việt Nam, có cả một người bà con mà gia đình tôi mất liên lạc từ hơn 30 năm, không biết vì sao hay tin tôi đi tu theo Thầy nên lên Lộc Uyển tìm tôi. Những khóa tu ở Lộc Uyển đáng nhớ với những buổi sáng leo lên núi ngồi thiền và ăn sáng với Thầy. Đây có lẽ là lần đầu tiên nhiều người được hưởng cảm giác “ở núi” như vậy. Khuôn mặt ai cũng rạng rỡ hạnh phúc. Còn tôi hạnh phúc vì hai chân mình còn leo núi được dù tôi chưa phải đến lứa tuổi… chống gậy. Cứ nghĩ lại thời gian bị đau chân, bị tai nạn, bị cảm… không thể nào đi nổi đoạn đường dốc dài mà so với bây giờ là hạnh phúc tràn đầy rồi. Buổi “Be-in” cuối cùng của khóa tu người Mỹ, tôi cười chảy nước mắt với mục trình diễn thời trang mà mỗi người mẫu là một cuốn sách của Thầy. Các sư em hóa trang đơn giản nhưng hai MC Bạch Nghiêm và Bội Nghiêm đối đáp rất linh động khi giới thiệu người mẫu nên chắc hôm sau quán sách sẽ bận rộn lắm.

Ngày quán niệm cuối cùng ở vùng Nam Cali người ta đến đông quá, chưa bao giờ đông như vậy. Trước 5 giờ sáng tôi đã nghe tiếng xe chạy lên dốc. Có lẽ đây là những người thường tới, có kinh nghiệm nên lên sớm để có chỗ đậu xe. Quả thật là xe đậu từ parking trong Lộc Uyển, dọc theo con đường ra tới cổng ngoài, ra khỏi khuôn viên Lộc Uyển, qua nhà hàng xóm và tới tận đường Broadway, nghĩa là cũng phải tới 4 miles. Tôi chỉ hy vọng hàng xóm không phiền lòng lắm.

Bắc Cali

Cuối tháng Mười, chúng tôi về lại Bắc Cali. Kỳ này đại chúng đi đông nhưng những người sẽ đi hỗ trợ ngày quán niệm Google thì ở nhà chị Song Xuân cho tiện di chuyển, những người còn lại được ở chùa thầy Từ Lực và được đi thăm thắng cảnh vùng Vịnh. Ngày quán niệm ở Google có sư em Hiến Nghiêm ngồi giúp Thầy trên sân khấu rất giỏi. Nghe nói sau lần dạy trước của Thầy, Google đã áp dụng phần nào sự thực tập như có bữa ăn chánh niệm mỗi tháng một lần, lập nhóm gPause để ngồi thiền mỗi ngày trong campus, và họ dự tính sẽ làm một góc cafeteria ăn trong im lặng cho những người muốn thực tập điều đó. Quả thật là Google chăm sóc nhân viên rất kỹ. Facebook cũng mời Thầy nhưng Thầy cử người đi thay vì không đủ thời gian. Ngày Thầy giảng ở Stanford rất vui vì người mời Thầy bị “xếp” dành chỗ để ông ta đối thoại với Thầy trên sân khấu. Thầy không biết chuyện đó, nhưng giảng rất hay và trúng “tim đen” của ông ta vì bà vợ và đứa con trai cũng có mặt trong thính chúng. Có một ngày tôi và một số anh chị em được đi theo Thầy gặp nhóm CEO. Nhóm nhỏ thôi, chỉ vài chục người nhưng toàn những người có vai vế đang muốn học thiền và vì Thầy ở trong phòng ngủ mà ông Obama mỗi khi tới vùng đó ở lại, nên chúng tôi được dặn không chụp hình, không tiết lộ thông tin địa điểm. Thầy dạy những điều rất thiết yếu, trả lời một số câu hỏi cho họ rồi dẫn mọi người đi thiền ra khu rừng gần đó. Họ thực tập đi thật hết lòng. Ngày Thầy cho pháp thoại công cộng ở Oakland cũng rất đông người đến nghe. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm mình có pháp thoại công cộng ở vùng này.

Lên lại tu viện Kim Sơn, mười năm mà không có gì thay đổi nhiều ngoại trừ cây lớn hơn. Pháp đường vẫn ngoài trời, vẫn chỗ cũ. Tôi gặp lại được một số người quen. Những em huynh trưởng năm xưa dẫn con lại chào. Anh, em trai tôi cũng dẫn cả gia đình lên nghe pháp và đón tôi về nhà luôn.

Về thăm nhà hai tuần, tôi chỉ chơi thôi. Tôi có mặt trọn vẹn cho mẹ cho ba, rồi lên Kim Quang dạy một khóa tu weekend cho Gia Đình Phật Tử với sư cô Giới Nghiêm, thầy Pháp Uyển và thầy Pháp Khê. Thầy Pháp Uyển giảng cho teen hay lắm. Hình như Kim Quang đã ngỏ ý muốn đặt cọc thầy cho khóa tu năm tới rồi đó.

An Cư

Mùa An cư đúng là mùa trở về. Tôi về lại Làng vừa kịp lễ Đếm Thẻ tối nay, nhập lại vào sinh hoạt của tăng thân. Buổi trưa tôi qua Sơn Cốc chào Thầy. Thầy nằm võng, lắng nghe tôi kể chuyện thăm nhà và chuyện làm khóa tu cho Kim Quang. Rồi Thầy kể chuyện ở Kim Sơn. Thầy đã đi thăm lại chốn xưa ra sao, thấy cốc Thầy thay đổi thế nào. Thầy bảo Thầy đã chỉ khoảng đất năm xưa gia đình tôi đã quỳ làm lễ để “trao sư chị Thoại Nghiêm cho Thầy” cho thị giả thấy. Tôi cảm động khi nghe Thầy nói điều đó. Vì vậy con phải hết lòng với Thầy thôi vì ba má con đã cúng con cho chùa, đã trao con cho Thầy rồi.

Một ngày xuất sĩ tháng Mười Một, buổi trưa tôi theo thầy Pháp Nguyện và một sư em trai về xóm Mới để học cách làm kế toán cho Trung Ương (việc mới của tôi đó bạn hiền), buổi chiều về lại Phương Khê. Vừa bước vào gặp Thầy, Thầy kêu hai chị em qua thư viện rồi Thầy nằm võng, kể chuyện. Mâm cơm của Thầy vừa được thị giả đem qua, Thầy dạy hai chị em ở lại ăn cơm rồi xuống bếp, đích thân làm thêm món scrambled tofu và nướng thêm bánh mì. Mâm cơm nhỏ xíu mà chia cho chín thầy trò, còn gì cho Thầy ăn? Thầy gắp đồ ăn liên tục vào chén đệ tử. Tôi ăn ít mà no vì tiếp nhận tình thương của Thầy.

Tháng Mười Hai, tôi bận rộn làm database cho sách của Thầy. Nhờ có sư em Vỹ Nghiêm từ Học Viện qua cũng thích làm sách nên tôi nhờ cậy được rất nhiều. Gần Noel, Thầy cho câu hỏi: “Ta đã làm gì đời ta?” Câu hỏi nhắc nhở tôi thường trực để nhìn lại mình. Rồi cuối năm, Thầy lại dạy: “Năm mới ta cũng mới.” Tôi đặt thêm câu hỏi cho mình: “Tôi có hạnh phúc với đời mình không?”, “Những gì tôi phải làm mới hơn để có nhiều hạnh phúc hơn?”

Bạn hiền ơi, những câu hỏi đó làm đề mục quán chiếu cho cả năm cũng chưa xong. Những nẻo đường tâm ý quen thuộc không dễ nhận ra và thay đổi, cho tới khi mình được nhắc nhở hay gặp một biến cố gì đó. Và khi tôi đang đánh máy những dòng chữ này để khép lại sổ tay một năm qua, tôi nghĩ tới bạn hiền, tới cơn bệnh mà bạn hiền đang gặp. Tôi gởi tới bạn hiền câu chúc Tết đầu năm của Thầy đây, đơn giản đến mức không có gì đơn giản hơn, và mong bạn hiền ra khỏi nhà thương sẽ là một con người mới nhé, bạn hiền thương quý.

Lễ Đối Thú An Cư

Những điều giản dị

Chân Pháp Cứ

Brothers&Sisters eiabTôi nhớ có lần ở EIAB, trong lúc nói pháp thoại thỉnh thoảng Thầy dừng lại và nâng ly trà lên trong hai tay thật chánh niệm và thưởng thức từng ngụm thật trọn vẹn. Khi quan sát điều đó, tôi thích thú lắm. Tôi tự nhủ là mỗi lần uống trà, tôi sẽ cố gắng thực tập dừng lại để tận hưởng sự mầu nhiệm của sự sống. Bạn biết không? Trước khi trở thành một vị xuất sĩ tôi chưa bao giờ biết thế nào là uống một ngụm trà có ý thức. Trong đầu tôi luôn nghĩ vẩn vơ mọi chuyện, ý thức tôi cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia… và những gì tôi uống không phải là trà mà là ý thức vô định.

Điều giản dị đầu tiên mà tôi muốn chia sẻ với bạn là về đời sống xuất sĩ khi ở trong tăng thân. Tăng thân, hai từ này trước đây thật xa lạ với tôi lắm, nhưng bây giờ tăng thân là ngôi nhà đẹp nhất mà tôi không phải tìm kiếm gì thêm nữa… Những gì tôi chia sẻ ra đây là những điều mà chính tôi đã thật sự học hỏi và trải nghiệm được khi may mắn  sống trong tăng thân, nó không đơn thuần chỉ là kể lại mà nó là tâm sự từ sâu bên trong trái tim tôi cho bạn, vì tôi biết bạn chính là niềm vui của tôi, bạn cũng chính là sự sống của tôi. Trước đây trái tim tôi chưa biết thế nào là hiểu, là thương, thế nào là sống bình an cả. Thầy và tăng thân đã thay đổi cuộc đời tôi, bạn ạ! Tất cả đều xuất phát từ những điều giản dị vô cùng mà tôi biết rằng những điều giản dị này bạn sẽ dễ nhận ra ngay trong cuộc sống thường nhật thôi.

Trở lại chuyện uống trà nhé! Mỗi buổi sáng tôi thường thức dậy sớm một chút để có thời gian nấu nước và pha trà, uống trà trong sự thoải mái nhẹ nhàng trước khi đi ngồi thiền. Tôi ngồi yên bên bàn trà nhỏ có Bụt, có nến và hoa. Tôi thưởng thức và cảm nhận niềm biết ơn đến tất cả mọi loài, cảm ơn sự sống đang trang trải trong khoảnh khắc diệu kỳ này. Ly trà không đơn thuần chỉ là ly trà đang ở trong tay bạn, mà nó là cả một quá trình hình thành từ vũ trụ và thế giới ta đang sống đây. Bạn biết không, cơn mưa sáng nay làm mát dịu cả mặt đất, rồi trưa nay trời nắng ấm làm cho nước từ mặt hồ, dòng sông bốc hơi lên bầu trời trong xanh tạo ra những đám mây, rồi từ đám mây đó nó nằm trong ly trà sáng nay của tôi qua cơn mưa, qua nguồn nước. Tôi trân quý sự có mặt mầu nhiệm của ly trà, cảm nhận sự sảng khoái nơi mình và thấy hạnh phúc của việc uống trà không thua gì khi ngồi thiền. Bạn có thấy điều đó nơi ly trà trong tay bạn chưa? Không những vậy đâu, ly trà còn cho tôi bài học của tình huynh đệ. Mỗi lần ngồi uống trà với sư anh, sư chị, sư em, chia sẻ chuyện tu học càng làm cho tình huynh đệ thêm gắn bó. Sự có mặt của ly trà thật tuyệt diệu. Tôi hiểu tại sao Thầy lại thưởng thức trà trọn vẹn như vậy. Bạn thấy, việc uống trà thật đơn giản mà nó cho ta cả một không gian sống bình yên.

Chuyện giản dị thứ hai mà tôi muốn chia sẻ với bạn là đôi dép cũ. Khi sang sống ở Đức, vấn đề vật chất có phần đầy đủ hơn so với những trung tâm mà tôi đã sống trước đây, vì vậy tôi không ngại nói với bạn là tôi có đến năm, sáu đôi giày, dép. Ở Đức trời lạnh nên mình phải có giày mùa Đông, giày mùa Hè .v.v… nhưng tôi không quên đôi dép cũ của tôi. Thường trong suy nghĩ của chúng ta thì có cái mới ta thường quên đi cái cũ. Đôi dép cũ, có lần tôi muốn bỏ nó đi cho rồi, song nhìn lại những chặng đường mà nó có mặt cho tôi khiến tôi thấy trân quý. Nó có mặt cho tôi khi đi thiền hành, nó nâng niu bước chân tôi khi đi qua những đoạn đường sỏi đá, nó giúp tôi đi đâu đó thật dễ dàng. Quá trình mà tôi đi qua, lớn lên thì nó luôn ở bên cạnh. Có lúc giận dũ chuyện gì đó, tôi đi thật nhanh, những bước chân nện vào mặt đất, vậy mà nó vẫn yên lặng chịu đựng. Nếu mà nó biết nói thì… Có lần vào một buổi sáng thức dậy, tôi không thấy nó đâu, tôi tự hỏi lấy gì mà đi bây giờ. Nhìn đi nhìn lại tôi mới nhớ ra là hôm qua tôi để quên nó ở phòng bên cạnh. Lúc đó tôi mới thấy khi không có nó thì ta lúng túng. Tôi đi sang lấy đôi dép về và cảm nhận được bài học về những đồ vật xung quanh mình, chúng thật đẹp và có ích cho ta vô cùng. Không chỉ là đôi dép mà cái áo ta đang mặc, túi đãy ta đang dùng .v.v… tất cả đều có mặt và nâng đỡ cho đời sống của ta thêm tiện nghi, thoải mái, vậy ta đã thật sự trân quý sự có mặt của nó chưa? Với tôi, có lúc tôi muốn bỏ đi đôi dép cũ đó vì thiết nghĩ nó đã hết thời và tôi cần một đôi dép mới thoải mái hơn, đẹp hơn, đắt tiền hơn. Nghĩ như vậy, tôi cho là tôi sẽ hạnh phúc hơn. Khi q.an sát cách sống, cách hành xử của những bậc chân tu, các ngài có cần những tiện nghi, những cái mới thì mới hạnh phúc không? Tôi luôn học từ Thầy qua những lối sống giản dị của Người. Thầy luôn bình thường trong cách sống. Thầy luôn đơn giản về tiện nghi. Nhưng thử hỏi có ai hạnh phúc được như Thầy? Đôi dép của tôi tuy cũ nhưng nó vẫn còn đi được, vẫn còn bảo hộ cho bước chân của tôi trên mọi nẻo đường tôi đi. Giữ lại nó là một quyết định làm tôi thấy hạnh phúc. Nó dạy cho tôi biết đủ, biết trân quý.

Không gian sống thật là quan trọng cho mỗi con người. Nó cho bạn sự tươi vui, cho bạn sự tĩnh lặng… vậy nên trong căn phòng nhỏ của tôi có nhiều cây nhỏ, có nhiều vị Bụt baby, có nến, có trà… đó là không gian sống cho tôi sự bình an. Cách sắp xếp đồ đạc trong phòng giúp tôi thấy rõ sự vận hành của tâm. Thầy luôn dạy ta phải làm sao để biết cách chăm sóc cho căn phòng bên trong của mình, từ điều đó tôi muốn chăm sóc cho căn phòng bên ngoài trước nên mỗi khi dọn phòng tôi không cho đó là công việc mà là sự trở về thực tập với tâm của mình như khi hút bụi, lau chùi, xem như đó thật sự là việc quét, và lau chùi chính cái tâm của mình. Thỉnh thoảng bạn sẽ nghĩ công việc quét phòng ai cũng làm được dễ dàng, do vậy bạn thường không quan tâm và cho đó là công việc thường thôi. Vậy có khi nào bạn tự hỏi bạn đã làm gì thành công trong cuộc sống hằng ngày này? Bạn cho những công việc cao quý như làm văn phòng, dịch  thuật… và cho những công việc nhỏ nhặt như lau chùi nhà là không cần thiết. Tôi không nói rằng nó đúng hay không đúng, mà điều tôi muốn chia sẻ với bạn là trong khi làm những công việc đó bên trong mình có thật sự bình an, tĩnh lặng chưa và công việc gì là công việc cao quý. Từ khi trở thành một người xuất sĩ cho đến nay, tôi đã trải qua những công việc trong tăng thân, từ làm rác, làm tri khố, tri sự… và điều làm tôi thật sự hạnh phúc là không xem đó là công việc, mà tôi xem đó là sự chăm sóc cho bên trong lẫn bên ngoài của tôi và khi về phòng, tôi vẫn không quên công việc quét dọn phòng. Thầy luôn dạy rằng trong tăng thân không có công việc nào là quan trọng nhất cả, tôi thích thú khi nghe điều đó vì thật sự là như vậy. Nếu ta dọn phòng cho có bình an, có thảnh thơi thì hạnh phúc hơn nhiều so với những ai làm công việc cho là cao quý mà không có sự bình an, thanh thản… Sự giản dị trong cách sống luôn cho ta nhiều niềm vui hơn là việc có quá nhiều tiện nghi phải không bạn? Và công việc dọn phòng là điều giản dị thứ ba mà tôi muốn chia sẻ với bạn.

Sau cùng tôi muốn chia sẻ với bạn là vấn đề tiện nghi trong cách sống và cái gì cho bạn hạnh phúc thật sự. Trong chiều sâu tâm thức của tôi cũng có nhiều hạt giống của đòi hỏi, tham muốn. Có khi tôi nghĩ tôi phải có cái này, phải có cái kia mới hạnh phúc, sự đòi hỏi bên trong của tôi bắt đầu nảy sinh. Cái muốn làm tôi tìm cầu thật nhiều, chính điều đó làm cho tôi đánh mất nhiều thời gian. Cái gì nhỉ? Cái laptop xịn, cái máy nghe đời mới v.v… Những tiện nghi đó bên ngoài người ta đã đánh đổi bằng thời gian, tiền bạc để có nó. Vậy tôi là người xuất sĩ mà cũng muốn tìm cầu như vậy thì có khác gì người thế tục đâu. Tôi tự nghĩ điều quan trọng là phải biết đủ, và phải biết cách nắm lấy thời gian, nuôi dưỡng lòng thương, đi thế nào cho tự do thì đó mới là tiện nghi của người xuất sĩ. Sự đơn giản trong cách sống làm cho tôi thấy nhẹ nhàng hơn nhiều, không vướng bận nhiều vào tiện nghi để rồi cái đẹp tinh khôi dần biểu hiện. Tôi ý thức những máy móc rất cần để giúp cho mọi người có phương tiện học hành, nghiên cứu. Nhưng cái cần hơn là sự thực tập biết đủ và giản đơn.

Những điều giản dị, chúng ta có thể nhận ra trong cuộc sống hằng ngày. Khi bạn thức dậy, xếp lại cái mền, lúc bạn đánh răng, lúc bạn uống trà hay lúc bạn dọn phòng .v.v… đều là những công việc thật bình thường phải không? Song có khi nào bạn tự hỏi bạn đã làm nó trong ý thức chưa, bạn đã thật sự ở đó cho những điều giản dị bình thường đó chưa? Khi nhìn Thầy đi, Thầy uống trà, Thầy ăn cơm .v.v… trông cũng giống như bao nhiêu người khác, nhưng điều làm tôi thấy và cảm nhận được là năng lượng bình an, nhẹ nhàng, thanh thản từ Thầy, trông có vẻ đơn giản nhưng không đơn giản chút nào và tôi biết rằng tôi vẫn chưa làm được như vậy.

Không gian của thanh thản, sức mạnh của hiện tại, giây phút của bình an nó ở trong cách sống và lòng tin của bạn vào chính bạn. Không ai khác cho bạn điều đó khi chính bạn không chịu bước ra khỏi ngưỡng cửa của ràng buộc, lo toan. Với tôi thì những điều giản dị của cuộc sống hằng ngày cho tôi một phần nào đó sự bình an vì tôi biết rằng đó chính là giây phút trở về thật sự để yêu thương, để chăm sóc cho tự thân. Trước đây tôi cứ hay than vãn, trách móc khi thấy ai đó hành xử không dễ thương, tự hỏi tại sao người đó lại như vậy. Bây giờ tôi nhận ra rằng đời sống thực tại này đẹp vô cùng và hầu hết thời gian trong ngày ta làm những công việc bình thường đơn giản. Và tôi chia sẻ với bạn, khi nhận ra điều này tôi bắt đầu có ý thức nhiều với giây phút hiện tại, bởi những gì tôi đang làm trong giây phút này chính là sự sống, là hiểu biết, bao dung. Do đó tôi không còn để ý và quan tâm nhiều đến những sai trái của người khác, bởi vì chính tôi còn chưa chăm sóc tốt cho chính mình thì than vãn trách móc người khác há chẳng phải là vô lý sao? Khi hơi thở của bạn bắt đầu có ý thức, thì tự nhiên món quà của hiện tại sẽ chào đón bạn. Bạn đừng lo nghĩ nhiều mà hãy bắt đầu học cách chăm sóc cho chính bạn. Những điều giản dị sẽ làm cho con người của chúng ta trở nên thanh cao; nó chính là cử chỉ, lời nói và cách hành xử của chính chúng ta. Xin đừng xem thường bất cứ điều gì, dù là nhỏ nhất, bởi tất cả đều là cơ hội cho mỗi chúng ta trở về, phải không bạn?

Vẫn một niềm thương

Chân Chuẩn Nghiêm

 

Hôm nay khi lật xem cuốn lịch năm mới 2014, con thấy có hình cổng Tam Quan, nhà Thủy Tạ và hồ Sao Mai, con bỗng nhớ tới chùa Tổ và Diệu Trạm quá chừng. Vậy nên con xin viết đôi dòng cho bớt nhớ. Những tháng ngày con ở Diệu Trạm, Từ Hiếu không quá nhiều nhưng cũng không quá ít, chừng đó đủ để cho con nhớ và thương. Đó là những tháng ngày thật đẹp. Con thương mùi hoa Sứ, nhớ mùi hoa Mưng và nhớ những buổi ngồi chơi của hai chúng. Càng viết thì bao nhiêu kỉ niệm càng hiện ra rõ ràng hơn trong con.

Nhớ mùa hoa Sứ

Vẫn một niềm thươngBên cạnh hồ Bán Nguyệt có rất nhiều cây bông Sứ. Cây đã nhiều tuổi, thân xù xì nhưng vẫn cho rất nhiều hoa. Con không nhớ chính xác là hoa nở vào tháng mấy nhưng đó là những ngày nắng và khô. Vào những ngày quán niệm, chúng con được qua chùa Tổ sớm để sắp xếp thiền đường. Không gian ở chùa Tổ vào buổi sớm mai thật yên tĩnh và mát mẻ. Trên đường từ Diệu Trạm qua Từ Hiếu chúng con đã lượm rất nhiều hoa Sứ để trang trí thiền đường. Ngày thứ Năm, đại chúng được ăn cơm vòng tròn, giữa vòng tròn rải đầy hoa Sứ, thỉnh thoảng có những chữ “thở” và “cười” được kết bằng hoa Sứ thơm lừng.

Vào những đêm trăng sáng, đại chúng được thiền trăng bên nhà Thủy Tạ hay hồ Sao Mai. Hương hoa Sứ tỏa ra ngào ngạt, chị em con chỉ muốn ngồi đó mãi để thưởng thức ánh trăng. Nhưng đâu có được, phải về thôi, trễ rồi! Có những hôm quý sư cô được ngồi thiền trên sân thượng của thiền đường Ni xá Diệu Trạm. Hương cau nhè nhẹ quyện cùng hương hoa Sứ dưới ánh trăng đem lại cho chúng con một cảm giác thanh bình chi lạ. Có lẽ nhờ vậy mà mùi hoa Sứ đi vào trái tim con và tất cả mọi người.

Thương mùa hoa Mộc

Một hôm khi đi làm cỏ cho luống hoa ngoài thiền đường Trăng Rằm, xóm Mới, con đã sững người khi ngửi thấy mùi hoa Mộc. Con tự hỏi: “Mùi hoa Mộc ở đâu thế nhỉ? Không lẽ mình đang đứng ở Từ Hiếu?” Đưa mắt nhìn lên, con thấy có một cây hoa Mộc thật và trên cành có mấy chùm hoa. Con đứng nắm lấy lá cây một lúc lâu và thầm cảm ơn cây, bỗng nhiên hình ảnh hai cây hoa Mộc trước chánh điện Từ Hiếu như đang hiện ra trước mắt con.

Cây Mộc ở Từ Hiếu đã nhiều tuổi nhưng còn xanh tốt lắm. Ôn và quý thầy chăm cây rất kỹ. Mùa hoa Mộc về thì trên cây chi chít những hoa. Hoa Mộc thường để dành cúng Bụt. Hương của hoa Mộc mới đặc biệt làm sao, vừa nhẹ nhàng, vừa thanh thoát. Con nhớ những ngày quán niệm, Ôn thường dẫn đại chúng thiền hành qua sân chánh điện làm các bạn mới tới phải hỏi nhỏ: “Mùi gì mà thơm thế?” Chúng con không nghe tiếng trả lời, chỉ thấy có cánh tay chỉ về hướng cây hoa Mộc. Chị em con cũng rất thích mùi hoa Mộc nên thỉnh thoảng cũng “xin” hái trộm vài chùm rồi bỏ túi áo cho thơm. Có lẽ vì thế mà dù đã đi xa, con vẫn nhớ mãi mùi hoa Mộc.

Trái bùi kho

Cây bùi được trồng khắp nơi trên đất Tổ. Con nhớ có một năm, bùi sai trái rất nhiều. Hôm ấy mới sáng sớm mà quý thầy đã gọi điện cho sư cô tri sự chia người qua để lượm bùi. Chị em con mừng quá mang bao nhiêu là rổ để lượm. Thì ra chiều hôm trước quý thầy trèo thang để hái, các điệu thi nhau lượm những trái rụng dưới đất nhưng vẫn còn nhiều quá, vậy là phải nhờ quý sư cô qua lượm phụ. Nhìn những trái bùi tròn mẫn, đen lánh, đẹp mắt, chưa cần kho con đã thấy ngon rồi. Ở chùa Tổ, mỗi khi cúng kị mà đương mùa bùi thì nhất định là phải có một đĩa bùi kho. Trái bùi đem ngâm tro bếp rồi lấy ra kho thì ngon tuyệt.

Cơm vỉa hè

Nhớ thời còn đi học, con thường nghe nói tới “cơm bụi” là cơm dành cho sinh viên nhà nghèo. Vì cơm ăn ở các quán vỉa hè, bụi bặm nhiều bởi xe cộ qua lại nên mới gọi là “cơm bụi”. Bây giờ vô chùa rồi, vào những ngày làm biếng có ăn cơm picnic, chị em con lại được ăn cơm “vỉa hè” với nhau. Khi chuông báo giờ khất thực vang lên, chị em con bưng bát đi liền. Vỉa hè của chúng con là hành lang dọc các phòng của ni xá Diệu Trạm. Cơm vỉa hè dù chỉ có bún, xì dầu và rau thôi nhưng vui lắm, làm con cứ nhớ mãi. Chỉ cần chị em có mặt cho nhau, con thấy vậy là đủ lắm rồi.

Nhớ ngày Tết Đoan Ngọ năm ngoái, chị em con đang cùng nhau ăn cơm “vỉa hè” thì quý thầy bên chùa Từ Hiếu gọi điện thoại bảo chúng con qua lấy chè kê về ăn vì quý thầy lỡ nấu hơi nhiều. Vậy là hai em tập sự nữ qua mang về tới… một xô. Ăn không hết, chúng con bỏ vô tủ đá làm kem, vài ngày sau lấy ra ăn vẫn ngon như thường. Giờ nhắc lại làm con bỗng thấy thèm chè hạt kê quá!

Bữa cơm hình chữ U

Một hôm vào ngày quán niệm thứ Năm, quý sư cô Diệu Trạm qua Từ Hiếu nấu ăn vì đại chúng được ăn chiều chung bên Từ Hiếu. Sau giờ cơm trưa, con nghe nói Thầy Mãn Phước đã xin phép Ôn cho các điệu ở Từ Hiếu ăn chung với tập sự ở Diệu Trạm tại sân trước thư quán. Quý thầy, quý sư cô thì tùy hỷ tham dự, khi đi xin mang theo bánh kẹo, con thật vui khi nghe tin này. Con chẳng có bánh, chẳng có kẹo nhưng vẫn được vô ăn chung. Chiều hôm đó, không biết vô tình hay cố ý mà chiếu được trải thành hình chữ U, các điệu ngồi một bên và các em tập sự ngồi một bên. Thầy Mãn Phước đã xin được tiền để đãi các em ăn bánh kẹo, trái cây và uống nước mía. Sau bữa ăn chiều là chương trình văn nghệ. Hồi đó em Diễm Quỳnh (là sư em Trăng Tỏ Tường bây giờ) nhỏ tuổi nhất Diệu Trạm nhưng đã chơi và hát rất dễ thương và hết lòng. Lúc đó có vài vị khách nước ngoài đi tham quan, họ thấy đại chúng chơi vui quá nên đã dừng lại xem. Chúng con hát tặng cho họ vài bài hát bằng tiếng Anh làm họ hạnh phúc quá chừng. Cuộc chơi còn dài nhưng tiếng chuông đại hồng vọng lên nên chúng con nghỉ. Đại chúng cùng nhau dọn dẹp mà lòng vui phơi phới.

Nước mía chùa

Lòng con vui như mở hội mỗi khi được tham dự ngày quán niệm mà tăng thân ban tặng. Con nhớ có một hôm, thầy Từ Giác thông báo cho đại chúng biết là sau giờ pháp đàm buổi chiều, mời đại chúng tập trung về nhà xe để uống nước mía. Thế là sau giờ pháp đàm đại chúng chưa về lại xóm liền mà đi uống nước mía… miễn phí.

Con không biết là thầy Từ Giác “tậu” được máy xay nước mía ở đâu và chuẩn bị mía từ bao giờ, lên tới nơi thì đã thấy thầy đứng xay nước mía cho đại chúng rồi. Mía đã được làm sạch, chỉ cần cho vào máy và trong nháy mắt đã có một ly nước mía thật thơm, thật mát. Huế đang mùa nắng, dưới cái oi bức của mùa Hè mà được uống ly nước mía mát lạnh thì hạnh phúc biết bao. Tay thầy làm nhanh thoăn thoắt, thầy còn xay cả trái tắc cho nước mía thêm ngon. Đại chúng chỉ cần đứng chơi mà cũng có nước mía để uống. Nhà xe bỗng dưng trở nên vui như hội. Mỗi người một ly, đứng uống nước mía mà tiếng cười của đại chúng như phá tan đi cái nóng của mùa Hè. Nhìn thầy Từ Giác lưng áo đẫm mồ hôi, thầy mang chiếc tạp dề cũ nhưng cười rất tươi, thầy làm việc không biết mệt là gì để hiến tặng hạnh phúc cho đại chúng. Con thầm cảm ơn đại chúng, cảm ơn thầy Từ Giác đã cho con những giây phút thật tuyệt vời.

Nhớ thuở còn cắp sách tới trường, con thường ao ước: “Ước chi mình cũng được uống ly nước mía trong quán giải khát như những đứa bạn nhà giàu.” Nhưng con chỉ nhìn bạn bè uống nước mía thôi chứ chẳng dám vô quán vì tiếc tiền. Nhà nghèo, có cơm để ăn, có tiền đóng học là hạnh phúc lắm rồi. Nay đi tu, con được uống nước mía mà không phải mất tiền vì là nước mía… chùa.

Đẹp sao mùa hoa Mưng

Mỗi khi mùa hoa Mưng về, chùa Tổ vốn đã đẹp lại càng thêm đẹp, thơ mộng và hiền hòa. Năm cây hoa Mưng quanh hồ Sao Mai đã hiến tặng cho đại chúng những giây phút thật tuyệt vời. Vào mùa này, chị em chúng con thường qua chùa Tổ sớm để tranh thủ ngắm hoa Mưng trước khi vô thiền đường Trăng Rằm nghe pháp thoại. Buổi sáng sớm chùa Tổ mới đẹp làm sao! Những bông hoa Mưng nở tối qua rụng xuống đầy mặt nước và cả trên cầu của hồ Sao Mai. Giờ thiền hành, đại chúng hay được ngồi nghỉ quanh hồ Sao Mai. Các em nhỏ vốn đã dễ thương mà khi đưa mặt mình vô trong những chùm hoa mưng thì các em lại càng thêm xinh xắn như những thiên thần.

Nụ hoa Mưng mang màu xanh hiền dịu. Hoa nở, cả cây như được khoác trên mình một chiếc áo màu hồng đỏ. Những bông hoa nho nhỏ nhưng rất nhiều đã làm nên một bức tranh kỳ diệu. Đứng từ xa nhìn lại thì thấy cây hoa Mưng kiều diễm như một nàng tiên đang soi mình bên hồ nước. Đại chúng gọi hoa là chuỗi ngọc trời cho. Con nhớ một hôm trong mùa An cư, sau ngày quán niệm, Ôn đã cho phép chị em con ở lại chùa Tổ để chơi hội hoa Mưng. Khi màn đêm bắt đầu buông xuống, thầy Pháp Thủy mở đèn chiếu lên cây hoa Mưng, đại chúng cùng ồ lên kinh ngạc vì cảnh hồ đẹp quá. Hoa Mưng đã đẹp, dưới ánh đèn lại càng thêm rực rỡ. Hôm đó là tối mùng 3 nên bầu trời không có trăng, chỉ có một vài ngôi sao nhưng rất sáng. Dưới gốc cây Mưng, đại chúng cùng nhau uống nước mía, ăn chôm chôm và chơi với nhau trong tình huynh đệ. Vì là đang trong Hạ, đại chúng ai cũng ý thức rõ điều này nên huynh đệ chỉ ngồi chơi, nói chuyện với nhau, không có hát hò như những lần ngồi chơi khác, nhưng không vì thế mà mất đi niềm vui. Đại chúng đã kể chuyện cho nhau nghe. Mỗi câu chuyện là một bài học quý cho bản thân con. Hoa Mưng đẹp, vẻ đẹp thanh thoát đem lại cho con người một niềm tin yêu cuộc sống.

Khi thùng nước mía thứ nhất hết, thầy Từ Giác kêu mấy em thiền sinh nam lên xay mía tiếp. Hè đó, chùa Tổ tiếp nhận gần 30 em thiền sinh đến tu học. Các em chủ yếu là con em của những người quen, cũng có em quê ở Đăklăk, em trai của sư cô Khuyến Nghiêm. Các em rất ngoan, biết vâng lời quý thầy. Diệu Trạm cũng tiếp nhận 9 em cư sĩ nữ. Các em đến từ nhiều miền khác nhau nhưng các em chơi với nhau rất dễ thương. Cứ chiều chiều tới giờ thể thao, ni xá rộn vang tiếng cười đùa của các em.

Vẫn biết rằng theo dòng thời gian, mọi thứ đều thay đổi nhưng những kỉ niệm đẹp trong con sẽ còn mãi, còn hoài. Mọi người ai cũng yêu thương chùa Tổ vì chùa Tổ chứa đựng những cái mà nơi khác ít khi có được. Chùa Tổ đã là nơi nương tựa và nuôi lớn biết bao người con của Bụt. Những kỉ niệm đẹp về Từ Hiếu, Diệu Trạm trong con còn nhiều lắm. Con không biết kể đến khi nào cho hết, diễn đạt như thế nào cho thỏa. Con chỉ thấy rằng mỗi khi nghĩ về đất Tổ thì trong con lại dâng lên niềm vui của tình huynh đệ. Con kính gửi về Huế nguồn năng lượng an lành.

Thiền ca bắc một nhịp cầu

Sư cô Trăng Hải Ấn
BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh


Sư cô Chân Trăng Hải Ấn hiện đang sống và thực tập ở xóm Hạ, Làng Mai, Pháp Quốc. Trước khi xuất gia, sư cô là sinh viên trường múa và nhạc kịch ở Montreal, dạy yoga và làm việc cho nhiều giáo xứ Unitarian gần Toronto. Sư cô cũng rất thích cùng bạn bè trồng nhiều cải xoăn ở mảnh vườn trước sân nhà.

 

sư cô Hải ẤnGia đình bên nội tôi theo đạo Cơ đốc, bên ngoại theo đạo Tin lành. Vì vậy mà từ nhỏ, tôi đã được đi học trong một trường Cơ đốc giáo và cũng hay đi lễ ở nhà thờ Tin lành. Tôi chẳng còn nhớ gì nhiều từ những lớp học Giáo lý, duy chỉ có ba điều làm cho tôi thích đi nhà thờ mà tôi vẫn còn nhớ tới bây giờ.

Chuyện đi nhà thờ trở nên thú vị đối với tôi một phần là vì ở đó có giờ cà phê, “coffee hour”, đó là giờ mà mọi người cùng uống cà phê, ăn bánh và trò chuyện với nhau. Tôi đặc biệt thích ăn bánh, vì ở nhà mẹ tôi hiếm khi cho chúng tôi ăn đồ ngọt. Mẹ muốn chúng tôi có một sức khỏe lành mạnh. Vì vậy mà tuần nào tôi cũng trông ngóng đến giờ cà phê ở nhà thờ.

Điều thứ hai khiến tôi yêu thích nhà thờ là được chơi với những đứa trẻ khác sau giờ hành lễ. Chúng tôi tha hồ bò lăn bò toài dưới những hàng ghế, giả bộ như đang đào đường hầm dưới lòng đất và khám phá những thế giới mới lạ. Điều thứ ba mà tôi thực sự yêu thích đến nhà thờ là được hát thánh ca, một phần của các buổi lễ. Là một đứa trẻ, tôi phải học chơi đàn piano nhưng chưa bao giờ tôi thích thú chuyện đó. Ấy vậy mà cơ hội được hát trong một nhóm đông lại trở thành nguồn vui rất lớn đối với tôi.

Khi lớn lên, ở tuổi thiếu niên, tôi không còn yêu thích đạo Thiên Chúa (Christianity) như trước nữa. Nhưng tôi biết có một điều gì đó quan trọng đã xảy ra khi mọi người đến với nhau để cùng chăm sóc cho đời sống nội tâm của chính mình. Cũng vì điều này mà tôi bắt đầu tìm kiếm một con đường tâm linh. Hành trình tìm kiếm đó cuối cùng đã đưa tôi đến với đạo Bụt và đến với Làng Mai – nơi tôi được học rất nhiều phương pháp thực tập như ngồi thiền – ngồi yên và không làm gì cả, chỉ ngồi cho vui thôi (just for the fun of it), dừng lại khi nghe chuông, sử dụng thi kệ, pháp đàm và… hát thiền ca.

Mới đầu khi hát những bài như “Thở vào, thở ra”, tôi thấy hơi buồn cười, nhưng dần dần tôi lại yêu thích bài hát đó. Những bài thiền ca làm sống lại sự hồn nhiên mà dường như tôi đã quên lãng từ lâu. Càng hát, tôi càng dễ mở lòng ra để cho năng lượng của những bài thiền ca đi vào trong tôi, làm cho tôi nở ra như một đóa hoa và vững chãi như đất Mẹ.

Hát thiền ca làm cho những câu thực tập thấm sâu vào tim tôi hơn là đọc hoặc tư duy về chúng. Có đôi khi, những bài thiền ca cứ văng vẳng trong tâm trí tôi không ngừng. Nhưng ngay cả những lúc như vậy nó vẫn rất hữu ích, bởi mỗi khi tôi bị phân tâm và trở về lại với chánh niệm thì trong tôi lập tức vang lên lời bài hát “Đã về, đã tới, bây giờ, ở đây”.

Mùa Đông đầu tiên ở Làng Mai có một ý nghĩa quan trọng đối với tôi, một phần là vì trong thời gian đó cảm hứng sáng tác âm nhạc bắt đầu biểu hiện trong tôi. Tôi đã không hoạt động âm nhạc đến hơn mười năm rồi, vậy mà bỗng nhiên những giai điệu, lời ca không hiểu từ đâu lại đi lên trong tôi. Đôi khi tôi nghe có nhạc trong lời giảng pháp của Thầy, thí dụ như “Nó đây rồi! Giây phút hạnh phúc đây rồi.” (This is it! This is a happy moment.)

Có khi cảm hứng đi lên từ một buổi pháp đàm hoặc một bài kinh. Nghe có vẻ như là một chuyện thần kỳ nhưng bây giờ nhìn lại, tôi thấy khá bình thường, bởi vì Làng Mai là một nơi đầy ắp năng lượng chánh niệm và sáng tạo – nguồn năng lượng này đã được chế tác và gìn giữ trong mấy chục năm qua. Nhiều khi tôi có thể nếm được hương vị đó ngay cả trong bầu không khí tôi thở. Trong truyền thống Thiền, hầu hết các thiền sư đều là những nhà thơ, nhà nghệ sĩ – chính Thầy chúng tôi là một điển hình tuyệt vời và là một nguồn cảm hứng lớn lao đối với rất nhiều người.

Đã bảy năm trôi qua kể từ ngày đầu tiên tôi đặt chân đến Làng và hát nhạc thiền vẫn là một thực tập đầy nuôi dưỡng cho tôi. Nó giúp tôi bày tỏ những phút giây hạnh phúc và tuyệt diệu mà tôi trải nghiệm, giúp tôi nhìn thật sâu vào nỗi khổ niềm đau, giải tỏa những năng lượng bị bế tắc, đem mọi người lại với nhau và còn nhiều nhiều nữa.

Sáng tác thiền ca cũng đã trở thành một pháp môn có tác dụng rất lớn cho tôi. Tôi thấy khi mình gắng sức để sáng tác, âm nhạc sẽ trở nên gượng ép và tôi không thấy thích thú chi cả. Thế nhưng khi tôi chỉ ngồi yên để lắng nghe, lắng nghe và chỉ lắng nghe thôi thì tự nhiên một cái gì đó thật đẹp bỗng đi lên trong không gian yên lắng đó. Cuộc sống cũng giống y như thế! Những giai điệu, lời ca, những cảm xúc muốn được tỏ bày… những cái đó đều cần sự chú tâm, cũng như thời gian và không gian để biểu hiện.

Sáng tác nhạc là một hình thức quán chiếu và là một phương thức hiệu nghiệm để nuôi dưỡng niềm vui. Nó cũng là một cơ hội để ta thực tập buông bỏ. Buông bỏ ý muốn viết một bài hát thật hay, buông đi sự cố công hoàn thành một việc chưa đủ điều kiện để hoàn thành, buông đi những ý kiến tuyệt vời nảy ra trong lúc ngồi thiền… Tôi có quá nhiều cái để buông!

Cống hiến một khúc nhạc, một bài hát cho tăng thân cũng là cơ hội để tôi thực tập lắng nghe sâu, thở sâu và chuyển hóa sự bất an. Tôi nhận ra chúng khi chúng vừa phát khởi và nói: “Chào anh bạn hồi hộp! Tôi thấy anh rồi! Đây, anh hãy cùng thở với tôi nhé. Không đáng sợ lắm đâu – chúng mình cùng hát với nhau nhé!” May mắn thay, tăng thân bao giờ cũng yểm trợ tôi rất hết lòng. Còn nơi đâu an toàn hơn tăng thân nữa?

Trở lại với âm nhạc giúp tôi nối lại được sự liên hệ với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình, nhất là mối quan hệ với mẹ tôi. Mẹ không bao giờ làm gì để tôi phải áy náy vì việc bỏ học piano, nhưng khi thấy tôi bắt đầu chơi đàn ghi ta để đệm nhạc cho các bài hát, mẹ vô cùng hạnh phúc! Mẹ và tôi bắt đầu cùng nhau chơi nhạc và nhờ thế giữa hai mẹ con có một tình bạn rất thắm thiết. Mỗi khi hát hợp xướng, tôi hay nhớ lại lúc bé đứng cạnh mẹ trong nhà thờ và lắng nghe giọng nữ trầm của mẹ. Giờ đây mẹ tôi không còn biểu hiện bằng hình hài nữa, nhưng mẹ vẫn còn đang rất sống động trong tôi, nhất là lúc tôi cất tiếng ca.

Thực tập thiền lạy giúp tôi thấy rất rõ tình yêu âm nhạc của tôi được trao truyền từ nhiều thế hệ tổ tiên, không chỉ từ mẹ mà thôi. Bà ngoại của tôi đã từng hát và chơi piano trong một ban nhạc jazz. Anh ruột của bà ngoại từng dạy opera. Bà cố ngoại của tôi cũng là một giáo viên dạy piano. Trong số anh chị em họ của bà ngoại cũng có người là nhạc sĩ chuyên nghiệp… Âm nhạc luôn là một phần thân thiết của gia đình bên ngoại tôi. Vì thế, một cách thật tự nhiên, âm nhạc cũng trở thành một phần thân thiết của cuộc đời tôi.

Âm nhạc cũng là một phần quan trọng của tổ tiên Thiên Chúa giáo trong tôi, cho dù tôi đã chối bỏ gốc rễ này khi còn ở tuổi thanh niên. Nếu trong lời một bài hát có hai chữ Thượng đế, tôi liền đổi lời ngay để hát tránh đi hoặc không hát luôn. Đi ngang qua một nhà thờ luôn làm tôi co rúm lại vì nó gợi cho tôi hình ảnh của những ngôi trường nội trú Cơ đốc giáo (Inquisition and Indian Residential Schools). Nhờ sự thực tập mà tôi đã chế tác được lòng từ bi để thông cảm cho những khổ đau gây ra bởi các thể chế của nhà thờ Công giáo. Tôi vẫn còn tiếp tục thực tập để buông bỏ những thái độ thành kiến với Thiên Chúa giáo.

Giờ thì tôi đã thích hát thánh ca, đã tìm thấy ý nghĩa và tình yêu trong hai chữ Thượng đế. Trong hai mùa Đông vừa qua, tôi tham gia vào dàn đồng ca xuất sĩ của Làng Mai. Chúng tôi đã tạo thành một dàn hợp xướng bốn bè để hát những bài thánh ca truyền thống cúng dường tăng thân và hàng xóm của Làng nhân dịp Giáng sinh. Khi hát những bài thánh ca rất xưa ấy, tôi thực sự cảm thấy ông bà tổ tiên đang có mặt một cách sống động và đang mỉm cười trong tôi.

Một số anh chị em tôi trong tăng thân thậm chí còn đi dự lễ Giáng sinh tại một nhà thờ Chính thống giáo (Orthodox) gần nhà. Tôi không lớn lên trong truyền thống này, nhưng vì lễ hôm đó có hát thánh ca nên tôi thấy rất quen thuộc. Sự thay đổi ấy trong tôi đích thực là một sự thần kỳ!

Bây giờ khi đã xuất gia rồi, thậm chí tôi còn tâm đắc hơn với việc dùng âm nhạc để xây dựng tăng thân. Dù đó là tụng một bài kinh hay hát thiền ca: “Tôi là một đám mây, tôi là bầu trời xanh..,” năng lượng tập thể khi hát cùng nhau làm tâm thức chúng ta hợp nhất. Sự rung động của âm nhạc còn làm chúng ta hợp nhất về mặt vật lý. Trong khóa tu dành cho người trẻ mùa Hè vừa qua, trước pháp thoại, chúng tôi hay cùng nhau hát thiền ca. Chúng tôi rất vui tươi và hát những bài hát đầy năng động, nhưng một khi tất cả đã đi vào trong sự hòa điệu thì những bài hát dễ dàng được hát với một năng lượng bình an, bởi vì tất cả mọi người đều cùng chung một tầng số xung động (vibration).

Cũng như những thứ khác, ca hát có thể là một công cụ để giúp ta thực tập hay hơn, nhưng nếu không khéo, nó cũng làm cho ta dễ bị lôi kéo đi. Thực tập theo giới thứ 5 của Năm giới, chúng ta ý thức rằng mình cần phải tiêu thụ như thế nào để sự bình an và niềm vui trong ta được nuôi dưỡng hàng ngày. Vì vậy, khi nghe hoặc chơi nhạc, tôi luôn cố gắng dừng lại và tự hỏi: “Những gì tôi đang nghe hoặc đang chơi có nuôi dưỡng niềm vui, sự bình an, hiểu biết và tự do trong tôi hay không?” Điều này không có nghĩa là tôi phải khép mình vào kỷ luật, mà thay vào đó, tôi thấy đây là một cơ hội để tôi càng ngày càng trung thực với chính mình hơn và ý thức hơn về tác động của những thứ mà tôi thường tiêu thụ.

Tùy vào từng thời điểm mà mỗi bài hát có ảnh hưởng khác nhau đối với tôi. Khi tôi đang hạnh phúc, một bài hát nhẹ nhàng như “Khi tôi đi trên con đường tuyệt vời này” (When I walk on this lovely path) sẽ làm cho hạnh phúc đang có trong tôi trở nên tươi mới hơn. Khi tôi buồn, một bài hát như “Hãy gọi đúng tên tôi” (Please call me by my true names) sẽ rất hữu ích, bởi vì nó nhắc tôi nhớ rằng “nỗi đau và niềm vui là một.” Đôi lúc tôi cũng cần được đi ra một chút, bài hát “Ánh sáng nhỏ của tôi” (The Little Light of Mine) sẽ giúp tôi trở lại làm cô bé con đi học ngày Chủ nhật (Lớp học giáo lý chủ nhật ở trường Cơ đốc giáo).

Những thực tập căn bản như hơi thở ý thức, thiền hành, dừng lại để lắng nghe chuông là những pháp môn mà tôi sử dụng hàng ngày, rất nhiều lần trong ngày. Đó là những người bạn luôn kề vai sát cánh bên tôi. Tôi cũng dành thì giờ để chuyện trò, học hành, vui chơi và ca hát. Khi mới tới Làng, tôi không hề biết đây là một tăng thân Phật giáo yêu thích âm nhạc, tôi cũng không biết sự có mặt của một tăng thân như vậy là một điều rất hiếm hoi. Tôi cảm thấy mình thật may mắn đã tìm thấy Làng Mai. Tôi đã gặp một số người lớn lên trong truyền thống đạo Bụt nhưng lại đi lễ nhà thờ chỉ vì họ thích thánh ca. Khi tìm ra Làng Mai, những người này vô cùng hạnh phúc bởi vì họ có thể trở về với gốc rễ tâm linh đạo Bụt mà vẫn được hát ca. Tôi cũng có cùng một tâm trạng như họ!

Giờ đây khi nhìn lại, tôi có thể thấy nhà thờ của tôi thời niên thiếu và tu viện mà tôi hiện đang sống không khác nhau gì mấy. Trên thực tế, cả hai liên hệ với nhau một cách rất mật thiết. Tôi vô cùng biết ơn việc mình đi nhà thờ trong những năm tháng còn thơ ấu, không phải chỉ vì những chiếc bánh ngọt. Sự hết lòng của tôi đối với đời sống tâm linh, tình thương dành cho tăng thân, và niềm tin vào sự giác ngộ đều có gốc rễ từ gia đình và từ nhà thờ. Mỗi khi tôi hát thiền ca, tôi có thể nghe tiếng nói của tổ tiên: “Đúng rồi, đúng là nó rồi.” (Yes, that’s it!).

Tôi không thể tìm ra được Làng Mai nếu không có nhà thờ và tôi không thể trở lại với âm nhạc và tình yêu của Chúa nếu không có Làng Mai. Nếu có ai đó nói với tôi như vậy khi tôi còn ở tuổi thiếu niên, tôi sẽ không bao giờ tin họ. Thế nhưng đó lại là sự thật. Cuộc sống thật là kỳ diệu, có phải thế không bạn?

Amen!

Gặt hái chính là con đường

Nông trại hạnh phúc tại Làng Mai

Stuart Watson

Stuart Watson – Chân Từ Đạo, đến từ Edinburgh, Scotland là cư sĩ thường trú tại xóm Thượng được 5 năm. Anh thọ giới Tiếp Hiện tại gia năm 2009. Ước nguyện của anh là tiếp tục ở Làng Mai, thực tập có mặt cho sự sống và duy trì Nông Trại Hạnh Phúc. Bài viết đã được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

 

Vào tháng 11 năm 2012, hai vị cư sĩ cùng với con về xóm Thượng, Làng Mai và bắt tay vào công trình Nông Trại Hạnh Phúc (NTHP – the Happy Farm project). Anh Keith Smith, một nhà Toán học đến từ Glasgow (Scotland), lúc ấy đang tìm kiếm một hướng đi mới với thiền tập và sinh môi làm trọng tâm. Anh Daniel Dermitzel, một nông dân trồng trọt theo phương pháp hữu cơ và là nhà giáo từ Kansas City (Hoa Kỳ), đã trải qua những thử thách và áp lực trong thời gian kiếm sống bằng nghề nông. Công trình NTHP là một lời mời cho tất cả chúng con đem sự thực tập chánh niệm vào ngành nông nghiệp. Anh Keith, Daniel và con được thầy Pháp Liệu tặng biệt danh là ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (The 3 Musketeers) vào dịp Tết năm trước. Con không rõ thầy ấy có thấy những gì tương đồng giữa chúng con và ba hiệp sĩ kia không (hay có lẽ chỉ vì con số 3), tuy nhiên thú thật thì con rất thích cái biệt danh này.

Sự gặt hái chính là con đường

Một buổi sáng trong dịp Tết, thầy Pháp Liệu tổ chức bói Kiều. Ở Làng tập thơ truyện Kiều được sử dụng để bói, mỗi tấm thiệp trong phong bì đỏ đều có hai câu Kiều. Các thầy, các sư cô cũng có sử dụng truyện của Victor Hugo cho các thiền sinh nói tiếng Pháp và truyện của Shakespeare cho các vị nói tiếng Anh. Các phong bì này được đặt vào trong ba cái chuông, theo ngôn ngữ.

Trong buổi bói Kiều, đại chúng tập họp vào thiền đường và Sư Ông hoặc một thầy lớn mời một thiền sinh lên để xin quẻ. Vị này chắp tay đi chậm rãi đến trước bàn thờ và lạy xuống một lạy. Sau đó vị ấy tiến đến bên một trong ba cái chuông, quỳ xuống đặt tay lên thành chuông và thở ba hơi để cho câu hỏi đi lên. Rồi vị ấy lấy một phong bì từ chuông và trao cho Sư Ông và nói cho đại chúng biết câu hỏi của mình. Sau đó Sư Ông đọc lớn hai câu thơ trên thiệp trước khi Người bắt đầu “bói”, dựa theo hai câu thơ ấy. Thông thường thì có khoảng bốn hoặc năm người được mời lên cho mỗi buổi bói như thế, mỗi buổi một ngày trong bốn ngày vui Tết.

Thầy Pháp Liệu trước đó đã báo cho ba anh em chúng con là chúng con sẽ được mời lên. Lúc đó con hơi lúng túng và đang nhìn quanh thiền đường. Con bắt gặp anh Daniel và mỉm cười vì thấy anh ấy cũng đang trong tâm trạng như con. Chúng con chưa biết tính sao nhưng nhờ sự khuyến khích của quý thầy, chúng con đã quyết định đi lên. Từng người một, chúng con đứng lên, chắp tay và tiến về phía bàn thờ. Chúng con lạy xuống và trình diện trước đại chúng. Daniel lúc ấy đang quỳ trước Sư Ông, đang cầm micro và chuẩn bị đặt câu hỏi. Từ không gian yên tĩnh trong thiền đường, câu hỏi của anh đã trỗi dậy: “Là những nông dân, làm thế nào chúng con có thể thực tập sống trong giây phút hiện tại khi mà ngành nông nghiệp luôn hướng về việc gặt hái trong tương lai?” Một tràng cười ấm áp rộ lên từ đại chúng. Sư Ông dường như cũng tâm đắc với câu hỏi ấy và bắt đầu ban tặng một câu trả lời tuyệt vời. Người dạy rằng chúng ta luôn gieo hạt nơi đất tâm trong từng giây từng phút và khích lệ chúng con sống như thế nào mà các hạt giống thiện và lành được gieo vào tâm mỗi ngày. Thực tập như vậy, Sư Ông bảo đảm, sẽ đưa đến sự nở rộ tuyệt vời những bông hoa của bình an và hạnh phúc. Sư Ông dạy thêm: “Không có con đường đưa đến sự gặt hái, sự gặt hái chính là con đường.” Câu này đánh động rất sâu đến tâm chúng con.

Từ buổi bói Kiều ấy, con luôn thực tập những câu thiền ngữ này. Con đang gặt hái những gì trong hiện tại? Ngay giờ phút này, con đang có những gì có thể nuôi dưỡng và thỏa mãn con? Con đang được thở không khí trong lành, thưởng thức hơi ấm của ánh nắng mặt trời, tận hưởng sự có mặt của các bạn, tình thương đang lớn lên trong tim con; tất cả đều là những hoa trái trong giây phút hiện tại. Con không cần phải trông đợi để tìm sự thỏa mãn nào cả. Nếu con để ý, con có thể gặt hái được nhiều điều trong từng phút giây.

Chế tác hạnh phúc

Con được sống tại Làng đã năm năm và được đóng góp vào nhiều trách nhiệm ở đây như tri khố (đi chợ) cho xóm Thượng được hai năm. Thường thì con được phụ nấu ăn vì trước kia con đã từng là đầu bếp. Con đã làm tri vườn rau được ba năm. Trong thời gian chăm sóc cho vườn rau hữu cơ nhỏ, con bắt đầu bàn với các thầy về khả năng tăng cường tỷ lệ sản xuất. Các thầy cũng đã suy nghĩ về chuyện này lâu nay rồi, nên hạt giống này được tưới tẩm để có thể trở thành hiện thực. Cách đây hai năm, con sang Anh quốc để học ngành nông nghiệp lâu bền (permaculture) và từ kinh nghiệm đó, con thiết kế vườn rau của chúng con. Chúng con đặt tên là công trình Nông Trại Hạnh Phúc để diễn tả được tinh hoa và ước vọng của công việc chúng con đang làm; và đó là công việc chế tác ra hạnh phúc.

Tại đây, chúng con có nhiều phương pháp để chế tác hạnh phúc. Đối với con, trọng tâm của việc chế tác hạnh phúc là sự có mặt cho những nỗi khổ đau của chính mình . Làm việc cho NTHP không có nghĩa là con phải cảm thấy hạnh phúc suốt ngày. Nó có nghĩa là thực tập để chế tác hạnh phúc bên trong qua việc tôn trọng tác dụng và giá trị của khổ đau. Trước khi về Làng, con đã có nhiều đau khổ vì nỗi lo sợ và vì bệnh trầm cảm. Cho nên phần lớn năng lượng của con đều đổ về hướng làm lắng dịu tâm của mình, nuôi dưỡng mình, nhận diện các tâm hành và phơi bày khổ đau của mình trước ánh sáng trị liệu của chánh niệm. Sống trong cộng đồng là phương pháp điều trị hay nhất cho bệnh sợ đám đông (social anxiety); vì con không thể cô lập chính mình như trong quá khứ. Hiện con cũng đang trải nghiệm phương pháp giao tiếp với mọi người, cách phát triển năng khiếu sinh hoạt trước đám đông, và cách chăm sóc những năng lượng đau buồn thường trỗi dậy khi con ở gần người khác.

Con học được rằng hạnh phúc được làm bằng khổ đau sau khi khổ đau được chăm sóc và chuyển hóa. Do nhờ nhận diện và ôm ấp khổ đau trong con, con được chuyển hóa. Khi thực tập như thế, nỗi khổ đau được chuyển hóa liền; chỉ còn trong con lòng khiêm cung, sự ấm áp trong tâm và cách nhìn cuộc đời với đôi mắt dịu hiền và từ bi hơn. Con có thể nhận diện lại được không gian mầu nhiệm xung quanh con và thấy được rằng con còn may mắn để được làm việc chung với những người đầy nhiệt tình như vậy. Thật là một cảm giác dễ chịu khi mình được là mình trở lại!

Vì thế, được sống ở xóm Thượng và được là một thành phần của công trình này là một điều rất tốt cho sự trưởng thành, chuyển hóa và phát triển của con để trở nên một con người có tâm chăm lo cho người khác. Cuộc sống cộng đồng hiến tặng rất nhiều niềm vui, tình bạn, âm nhạc, trò chơi, học tập, thời gian sống với thiên nhiên, con đường tâm linh, sự nâng đỡ, tâm phụng sự, v.v… Tâm con tiếp nhận những nguồn thực phẩm sâu đậm này và thời gian ở đây là một phần thưởng cho con. Con thấy rất may mắn được sống và làm việc trong một môi trường có sự thực tập, nơi mà ước nguyện sống đơn giản, lành mạnh và có ý nghĩa của con đang được yểm trợ.

Thức ăn lành mạnh, nét đẹp và ý nghĩa

Cùng lúc với việc trau dồi tâm, chúng con cũng chú trọng đến việc trau dồi, chế tác hạnh phúc qua sự trồng trọt theo phương pháp hữu cơ để cung cấp thực phẩm cho đại chúng xóm Thượng và Sơn Hạ. Con được biết rằng một trong những cách chăm sóc cho đất Mẹ hữu hiệu nhất chính là sự tự trồng lấy thức ăn cho mình. Con lo và quan tâm nhiều về sự thiệt hại của sinh môi do phương pháp trồng trọt thông thường  và cách vận chuyển thực phẩm. Gần đây con được nghe rằng thực phẩm thường được vận chuyển bằng đường bay, đường biển và đường xe tải trung bình là 2.400 cây số trước khi đến được mâm cơm của chúng ta. Viễn tượng một nơi sản xuất thực phẩm lành mạnh và theo lối hữu cơ chỉ cách đây hơn một cây số đem lại cho con rất nhiều niềm vui. Thức ăn này sẽ đến trong bình bát của quý thầy và các bạn thiền sinh, những người biết quý trọng thực phẩm và chắc chắn sẽ thưởng thức được những thực phẩm ấy trong chánh niệm. Con rất hạnh phúc được tham gia vào công trình sản xuất thực phẩm mang tính cách chăm sóc, thương yêu và tôn kính đối với trái đất.

Làng Mai đã có các vườn rau hữu cơ trong nhiều năm rồi, tuy nhiên đây là công trình đủ lớn để được gọi là nông trại, có sáu mẫu. Trong năm đầu, chúng con chỉ sử dụng khoảng nửa mẫu để trồng rau quả hữu cơ. Có 36 luống rau xanh, mỗi luống dài khoảng 35 mét và rộng khoảng hơn 1 mét. Chúng con hy vọng sẽ mở rộng sau này để tăng gia lượng rau cải hàng năm và cộng thêm vườn cây ăn trái mềm và cứng, cây ăn hạt và có thể ngay cả những khu vườn rừng (forest gardens). Cũng trong năm đầu này, chúng con đã còn rất nhiều việc cần làm để thiết lập nông trại và nhiều điều còn chưa rõ ràng. Cho nên chúng con đã quyết định bắt đầu với diện tích nhỏ rồi từ từ mở rộng thêm. Chúng con đã thử trồng tất cả các loại rau quả thích hợp với địa phương này như là: ớt chuông, cà tím, zucchini, mướp, khoai, spinach, cà rốt, các loại đậu, bí, cà, các loại rau xanh, bắp cải, củ cải và nhiều loại khác nữa.

Tuy chúng con hy vọng sẽ trồng được nhiều rau quả hơn, chúng con cũng ao ước tạo dựng một nông trại đẹp đẽ để cho khách viếng thăm. Địa điểm chúng con đang sống và làm việc là một quan cảnh rất đẹp. Mỗi buổi sáng con bước ra khỏi phòng và nhìn ánh nắng mặt trời trải rộng trên những dãy đồi thoai thoải của vùng đồng quê Dordogne. Mỗi buổi chiều, con được ngắm mặt trời lặn phía sau dãy lâu đài xa xa. Vào mùa Xuân và mùa Hè, xóm Thượng là điểm hẹn của muôn ngàn cánh bướm. Chúng con hy vọng các loại hoa màu của NTHP sẽ là nơi trú ẩn cho nhiều loại sinh vật hoang dã, một không gian gần gũi cho loài ong và các loài côn trùng hữu ích khác. Ước nguyện của chúng con là có được nhiều người đến thăm nông trại để được tiếp xúc và nuôi dưỡng bởi khung cảnh và công việc đang xảy ra ở đây. Ta sẽ được trị liệu rất nhiều khi sống trong môi trường thiên nhiên và chứng kiến một vườn rau hữu cơ xanh tươi. Sự trị liệu và niềm hạnh phúc của khách viếng thăm cũng như của các bạn làm việc ở đây rất quan trọng. Đó là một dạng lợi nhuận, một sự thu hoạch quan trọng.

Được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của loài ong, loài bướm và con người, công trình NTHP nhắm vào mục đích giáo dục về thiên nhiên. Chúng con muốn hiến tặng cho các cậu thanh niên cơ hội đến Làng Mai để thực tập và làm việc cho nông trại trong thời gian một năm. Trong khoảng thời gian ấy, họ sẽ có cơ hội tham dự vào cuộc sống cộng đồng và đi sâu hơn vào thiền tập với sự yểm trợ của quý thầy, quý sư cô và các vị cư sĩ thường trú ở Làng. Họ cũng có kinh nghiệm và cơ hội trãi qua trọn một mùa trồng trọt xung quanh khung cảnh tuyệt vời của xóm Thượng. Hy vọng trong một tương lai không xa, xóm các sư cô cũng sẽ có một công trình như thế cho các cô thanh nữ. Nhiều người trẻ trên thế giới hiện nay đang vùng vẫy để cố tìm ý nghĩa cuộc sống của họ. NTHP cống hiến cho các bạn trẻ một cơ hội để tìm lại ý nghĩa cuộc đời qua việc tham gia vào đời sống cộng đồng, trồng trọt theo phương pháp hữu cơ và hướng về con đường tâm linh.

Cuối cùng chúng con hy vọng khách đến thăm cộng đồng sẽ thu thập kinh nghiệm đủ để có cảm hứng tự trồng trọt khi họ trở về nhà. Chúng con sẽ hết lòng chia sẻ kiến thức với họ để yểm trợ  cho họ thiết lập vườn rau hữu cơ ở nhà. Ngoài ra, chúng con cũng muốn học hỏi từ những vị có kinh nghiệm và năng khiếu về phương pháp hữu cơ. Thật ra, công trình này sẽ không xảy ra nếu không có sự yểm trợ của nhiều vị cư sĩ đến Làng làm việc và chia sẻ kiến thức của họ.

Kính cảm ơn tất cả các bạn.

Để tìm hiểu thêm về dự án Nông trại Hạnh phúc, xin xem tại đây: http://langmai.org/cong-tam-quan/gioi-thieu-lang-mai/nong-trai-hanh-phuc