Khoá tu Việt Wake Up

Chúng tôi xin giới thiệu đến các bạn về chuyến đi Việt Wake Up của quý thầy và quý sư cô trẻ Làng Mai. Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được diễn ra vào dịp ‘Spring break’ tháng 3 năm nay tại Bắc Mỹ và sẽ hướng tới người trẻ Việt Nam từ 18 đến 38 tuổi sinh ra hoặc lớn lên tại Bắc Mỹ. Phong trào Wake Up do Sư Ông Làng Mai (Thiền Sư Thích Nhất Hạnh) thành lập vào năm 2008 và đã được quý thầy và quý sư cô Làng Mai hướng dẫn khắp nơi trên thế giới trong mấy năm qua. Đây là lần đầu tiên phong trào Wake Up được hướng dẫn đặc biệt cho người trẻ Việt Nam tại Bắc Mỹ.

Chuyến đi Việt Wake Up có mục đích:

Giới thiệu cho các bạn trẻ Việt Nam đến với phong trào Wake Up nhằm tạo nên một xã hội hạnh phúc, lành mạnh và từ bi.

Tạo cơ hội để các bạn trẻ học hỏi về các pháp môn tu học chánh niệm có công năng giúp các bạn trong cuộc sống hàng ngày, đặc biệt trong những năm trong đại học, sau đại học, trong việc lập nghiệp và tạo dựng gia đình.

Chia sẻ với các bạn các pháp môn có công năng nuôi dưỡng hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, xử lý khó khăn, chuyển hóa khổ đau, và bắc nhịp cầu truyền thông giữa các thế hệ trong gia đình.

Cung cấp cho các bạn một lăng kính mới để khám phá lại gia tài văn hóa và tâm linh của tổ tiên để lại.

Chuyến đi Việt Wake Up sẽ được tổ chức tại các thành phố ở Bắc Mỹ như sau:

Toronto, Canada: 5-9/3, Houston, TX: 13-17/3, Seattle, Wa: 20-24/3, San Francisco, CA: 27-30/3
Tại mỗi địa điểm trên sẽ có một khóa tu (Wake Up Spring camp) và một buổi pháp thoại công cộng. Tất cả các sinh hoạt sẽ được hướng dẫn bằng tiếng Anh. Nếu các bạn muốn biết thêm tin tức về chuyến đi Việt Wake Up này hoặc các bạn muốn đăng ký, xin viếng thăm trang nhà www.vietwakeup.org.

Chương trình TTXH Hiểu & Thương Sài Gòn

Miền Bắc

Ngày 10/1/2014 – Phái Đoàn Lắng Nghe để Hiểu và Góp chút tình Thương từ Hà Nội đi đến tỉnh Điện Biên, trên những vùng núi cao mà đồng bào thiểu số sống rất khổ cực, để đem những món quà tình thương đến: 300 phần quà  (120 triệu) là tiền quý sư cô Làng Mai làm thiệp có hình của Sư Ông để tặng Thiền sinh và thiền sinh tặng lại tiền mua quà cho trẻ em thiếu ăn. Ban Thư Pháp của Sư Ông cũng góp thêm một phần tiền bán thư pháp của Sư Ông trong năm 2013. Trưởng Phái Đoàn Lắng Nghe để Hiểu có ít nhất  là ba vị Xuất Sĩ đã tu học tại Làng Mai: quý sư cô Trình Nghiêm, Phát Nghiêm và Sư Thầy Đàm Hòa. Nhờ có sự chủ động của chị của sư cô Hoàn Nghiêm là Chị Cao Thị Nhung và hai cháu cùng đoàn bác sĩ từ Hà Nội và sự đóng góp rất lớn của sư thầy Đàm Hòa cùng Phật tử chùa Thao Chính mà đoàn đã Lắng Nghe để Hiểu mà Góp Chút Tình Thương.

Cũng trong năm nầy tiền bán thư pháp của Sư Ông đã giúp được ở mỗi tỉnh  từ 300 đến 600 phần quà cho đồng bào khổ cực. Tổng cộng hơn sáu nghìn phần quà trải dài từ Điện Biên Phủ đến Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên,  Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, Bảo Lộc, Đồng Nai, Đồng Tháp và Bến Tre.

Trích Thư báo cáo về Cứu Trợ Lũ Lụt

Dưới đây là những địa danh mà quý thầy, quý sư cô đến và gởi món quà tình thương. Mỗi phần quà trị giá 385.000đ trong đó 185.000đ là phẩm vật và 200.000đ tiền mặt. Ngoài ra các thầy, các sư cô còn để ra 100.000.000đ (100 triệu) để đến tận nơi những gia đình thật sự rất nghèo khó, tùy theo hoàn cảnh mà gởi thêm cho các gia đình đó 1 hoặc 2 triệu đồng.

Tỉnh Quảng Bình Tổng số:1400 phần quà.

Huyện Bố Trạch: Xã PHÚ ĐINH: 200 phần quà,  xã THANH TRẠCH: 150 phần quà
Huyện Quảng Trạch:  Xã QUẢNG VĂN: 150 phần quà,  xã QUẢNG LỘC: 150 phần quà,  xã Quảng Phương: 200 phần quà.
Huyện Quảng Ninh: Xã HẢI NINH:Vùng biển 1250 hộ, nhà hư hỏng 95%. Trường tiểu học và Mẫu Giáo bị tốc mái. Dự tính 200 phần quà, xã DUY NINH: 200 phần quà,  xã HÀM NINH:150 phần quà.

Tỉnh Quảng Nam:

Huyện Điện Bàn: xã Điện Ngọc, thôn Viêm Minh
Nhà anh Lê Hữu Trung, vợ bỏ, một mình nuôi 3 con. Con lớn 14 tuổi, con út mới học mẫu giáo. Nay nhà sập, anh đang ở nhờ nhà mẹ ruột gần đó. Anh kiếm tiền nuôi con bằng nghề chạy xe thồ, bữa có bữa không.
Huyện Điện Bàn: xã Điện Ngọc, thôn Hà Dừa: trao tiền cho 4 hộ gia đình bị sập nhà.
Gia đình anh Nguyễn Văn Bình: hai vợ chồng có 4 người con. Bão vô làm sập nhà hết. Nhà rất khó khăn.
Huyện Điện Bàn: xã Điện Nam Bắc: phát 50 phần, 1 phần phát sinh, hầu hết là người già.
Thành phố Hội An: xã Cẩm Thanh, thôn Cồn Nhàn.

Ở đây có rất nhiều trường hợp quá nghèo, nhà cửa còn tệ hơn nhà cấp 4, nên bão đến là sập ngay.

Nhà của chị Phạm Thị Thanh Châu: chồng đẩy xe bánh kẹo bán ở các trường học, vợ làm phục vụ buồng cho nhà nghỉ. Hai vợ chồng với một đứa con ở trong một túp lều tranh. Chỉ cần bão đến là thổi bay ngay.

Nhà bà Lê Thị Phước, 64 tuổi: chỉ có 2 vợ chồng già yếu, làm nghề biển nhưng thu nhập không bao nhiêu. Vợ chồng có mái nhà lá trên một nền đất bé tí, bão vào là sập liền. Thấy hoàn cảnh như vậy, chúng con bàn với nhau hỗ trợ cho gia đình bà 5 triệu đồng. Đi cùng chúng con có anh Ký thôn trưởng, anh cũng đại diện thôn gửi thêm phong bì cho bà và dặn đi dặn lại là ráng xây lại cái nhà cho đàng hoàng.

Nhà cô Trần Thị Nga: nhà nghèo mà mới có con nhỏ, lại thêm 2 đứa sinh đôi.

Nhà cô Nguyễn Thị Vân, nhà sập, phải ở nhà vệ sinh.

Cô Phan Thị Hiền, bị tàn tật, chân không đi lại được, ở nhà tình nghĩa với con, mà nhà thì xuống cấp trầm trọng.

Nhà anh Lê Văn Dũng: nhà sập nát tan, chưa được nhà nước cứu trợ, chồng làm thuê, vợ thì thất nghiệp, không có hướng làm ăn. Chúng con bỏ bao thư 4 triệu đồng.

Xã Duy Trinh, huyện Duy Xuyên: phát nơi đây 200 phần quà.

Trường hợp đáng thương nhất là ở gia đình bà Ngô Thị Tục. Năm nay bà 55 tuổi. Hàng ngày bà sống bằng nghề nông, mò ốc, hến… Bà có hai con trai sinh đôi là Trương Văn Định và Trương Văn Tự. Chú Trương Văn Định đang xây nhà chưa xong thì qua đời. Vợ chú Trương Văn Định bỏ nhà đi, để lại con 18 tháng tuổi cho bà nội nuôi. Căn nhà được chuyển giao cho chú Trương Văn Tự, chưa xây dựng xong, thì bão tới làm xuống cấp. Chúng con hỗ trợ cho bà Ngô Thị Tục 2 triệu để lo cho cháu, và chú Trương Văn Tự 3 triệu để sửa nhà.

Xã Điện Dương, huyện Điện Bàn: phát nơi đây 340 phần quà.

Xã Đại Lãnh, huyện Đại Lộc: tại điểm cứu trợ này có rất nhiều người già, nhiều người trên 70, 80 tuổi. Có những cụ đã trên 80 tuổi mà ở một mình, tự nấu ăn lấy, rất tội nghiệp. Bão vô làm nhà tốc mái, nhiều người chưa có điều kiện lợp lại. Tại đây phát 200 phần theo danh sách và 1 phần phát sinh.

_

Góc nhỏ bình yên

Góc nhỏ bình yên

Chân Thoại Nghiêm

Đầu năm

Đêm Giao Thừa, dự lễ về khuya, tôi chỉ muốn viết ít hàng nên mở laptop… khai bút, khỏi nến, khỏi nhang, nhưng lòng rất vui. Tôi vừa gọi điện thoại về nhà thăm hỏi và chúc Tết ba mẹ tôi xong. Trong khi những người bạn của ba tôi có người đã mất, có người phải đi lọc thận, tôi rất hạnh phúc khi ba mẹ tôi vẫn còn đó và còn đủ sức khỏe. Vì vậy tôi sẽ vẫn còn được ở Làng thêm mà chưa phải về nhà liền. Và tôi có thể ung dung chúc mình và mọi người trong năm mới có chí tu học vững bền, sức khỏe đầy đủ (không thể mong ước “luôn luôn khỏe mạnh” được vì đó là điều không tưởng), có trí tuệ hơn và có nhiều khả năng để hoằng pháp hơn. Ngày xưa tôi hay chúc mình có bình an, bây giờ thấy tạm đủ xài rồi nên mới dám chúc về chuyện hoằng pháp, mà muốn hoằng pháp được thì phải có trí tuệ, thế đấy! Tôi làm biếng hoằng pháp vì thấy mình chưa đủ trí tuệ, nhưng biết đến bao giờ mới là đủ kia chứ? Mà không hoằng pháp thì sẽ thành conbất hiếu, phải không bạn hiền?

Còn Thầy, con biết chúc Thầy chi đây? Có lẽ là chúc Thầy có sức khỏe chứ Thầy đâu cần gì khác. Và chúc Thầy luôn có mặt đó cho con như con có mặt cho Thầy.

Mồng 3 Tết – Hội chợ ở xóm Mới như mọi năm

Tôi xí xọn làm bốn món gỏi có bốn màu nên đặt tên là gỏi bốn mùa: màu trắng cho mùa Đông (ngó sen), màu xanh cho mùa Hè (phổ tai, dưa leo), màu vàng cho mùa Thu (xoài), màu cam cho mùa Xuân (bí, gừng). Ăn không tệ, nhìn cũng thấy hấp dẫn, nên đắt hàng quá trời. Các sư em vào bán phụ, tôi mừng quá được đi chơi lòng vòng, ăn hàng ở quán khác và cả buổi chiều cũng rảnh để đi thăm đủ mọi phòng, tối mới về lo tiếp khách. Đến 10 giờ khuya thì hết chịu nổi, mặc kệ các sư em còn hát hò ở tầng dưới, tôi leo lên gác trên chui vào mền trốn khách. Ai siêng năng leo lên gác thấy một đống mền cũng nhẹ nhẹ đi xuống, còn tôi rúc đầu trong chăn cười toe.

Hôm sau, phiên tôi đem cơm qua cho Thầy, tôi kể chuyện Tết. Tưởng kể cho vui không ngờ Thầy nhớ lâu. Mấy ngày sau nữa ra cốc Ngồi Yên để trình Thầy diễn tiến chuyện tổ chức chuyến đi Đại Hàn, Thầy chọc: “Cứ tưởng mấy sư mẹ là không biết mệt nhưng cũng có người phải chun vào mền trốn.” Ôi, tôi quê quá, chỉ biết cười, nhưng hạnh phúc.

Cảm xúc xa xưa

Tích NghiêmTháng Hai, khóa tu xuất sĩ thật bình an. Chúng tôi dọn lên xóm Thượng ở hết. Mỗi sáng đi bộ từ cư xá Linden lên thiền đường, ánh sáng của những ngọn đèn hai bên đường đi làm tôi nhớ quá mỗi sáng đi lên thiền đường Cánh Đại Bàng, băng qua đồi thông và khi gần tới thiền đường thì cũng đi dưới ánh sáng của những ngọn đèn như vậy. Mà có lẽ không phải chỉ vì con đường mà vì sự im lặng đầy hùng tráng của những tà áo nâu đang đi về một hướng gợi nhớ cảm xúc xa xưa. Trong vòng tròn be-in, nghe tiếng hát khỏe và trong trẻo của Tích Nghiêm với những bài hát quen thuộc đã từng nghe ở Bát Nhã, tôi chợt thấy lòng mình trầm xuống. Vốn dĩ từ khi bắt đầu khóa tu, buổi sáng đi ngồi thiền, tôi đã nhớ Bát Nhã. Khi sư em Tích Nghiêm được Thầy gọi lên ngồi gần để hát, tôi chợt nhớ mới năm nào báo tin cho Thầy biết có thêm các em người dân tộc vào xuất gia, Thầy vui lắm và cứ muốn tôi gởi các em sang Pháp, nhưng lúc đó các em còn nhỏ quá, tiếng Kinh còn chưa rành, Bát Nhã đã là một nơi quá khác lạ với buôn làng các em rồi… Bây giờ, đã tám năm, em lớn lên, chững chạc, lưu loát. Nhớ lúc đó, sư em Doãn Nghiêm mỗi chiều còn đút thuốc cho các em như… chơi búp bê. Ôi, Bát Nhã là một huyền thoại đẹp mỗi khi nhớ về nơi ấy. Tuổi thơ êm đềm nào cũng phải qua đi, dù có xảy ra sóng gió hay không nên có gì để luyến tiếc.

Thầy thăm Nhật Nguyệt thất

25/2, Khóa tu chấm dứt, được về lại xóm tôi, hạnh phúc chi lạ. Chui vào chăn, trên chiếc giường và quang cảnh thân thuộc, tôi đánh một giấc quá ngon. Sáng nay mở mắt thấy tuyết rơi trắng xóa, tôi choàng dậy, khoác áo ấm đi thăm vườn và thưởng thức tuyết. Đang đem mấy chậu hoa vào trong nhà để tránh tuyết, tôi vừa nghĩ bụng tuyết đẹp thế này mà Thầy không qua thì uổng, liền nghe các em xì xào Thầy tới. Tôi mỉm cười, vào ăn sáng cho chắc bụng xong rồi vào thiền đường thăm Thầy, và cùng các sư em theo Thầy lên đồi mận. Đi theo bước chân Thầy, tuyết trắng dưới đất, bông tuyết lất phất, cái lạnh thật dễ chịu và cảm giác thật bình an. Tôi vừa về lại phòng học thì các sư em thị giả báo tin Thầy lên Nhật Nguyệt thất vì phòng Thầy đang sửa lò sưởi nên không dùng được. Thầy hỏi có chỗ nào có lò sưởi và dĩ nhiên phòng tôi trúng số độc đắc. Thế là chị em tôi đốt lò, thầy trò ngồi chơi uống trà, ăn mứt gừng, nói chuyện rất vui. Cả nhà kéo lên ngồi chơi với Thầy, vòng trong vòng ngoài nên giống ăn Tết ghê. Tôi cười, năm nay Nhật Nguyệt Thất hên quá rồi. Tới trưa Thầy ở lại dùng cơm với mọi người. Ôi, xóm Mới ai cũng hạnh phúc. Buổi tối ở văn phòng chùa bước ra, bỗng tôi thấy trăng rất sáng, vàng tươi, tôi lặng đi một chút. Có những cái đẹp đến bất chợt, lam tôi nhớ Thầy có nhắc đến đêm Rằm nguyên tiêu, rằm tháng Giêng. Trăng có mặt đó cho tôi, mà tôi, tôi có mặt cho trăng không?

Ăn hết cơm Thầy

Đầu tháng Ba, có một ngày các sư em thị giả bảo Thầy nhắn tôi qua Sơn Cốc lấy thư pháp để làm quà cho Đại Hàn. Thầy đang ngồi viết thư pháp bên Phương Khê, thấy tôi qua Thầy chỉ cho tôi xem những tấm calligraphy mới viết. Thầy tiếp tục viết, trò lấy đi phơi. Các sư em thì xếp những tấm thư pháp đã khô mực lại, không khí đầm ấm. Sau đó mấy chị em được đi thiền hành với Thầy cả buổi sáng. Được một lúc Thầy dừng lại và ngồi ở võng, hai sư em Hạnh Lý và Phương Nghiêm ngồi đưa võng. Tôi bó gối ngồi gần. Có tiếng chim đâu đó trong vườn. Có tiếng gió rất nhẹ thoảng qua. Thầy đang có mặt đó với học trò. Những giờ phút được gần Thầy sao mà bình an đến lạ. Đến trưa chúng được mời ở lại ăn cơm, vì Thầy ép nên chúng tôi ăn hết cơm của Thầy luôn. Thầy cười hiền: “Thị giả nấu cơm sẽ vui lắm!”

Những ngày ở Thái

Những bận rộn chuẩn bị cho chuyến đi châu Á rồi cũng phải xong. Cuối tháng Ba, chúng tôi về tới đất mới. Cư xá khang trang. Các sư em mừng rỡ. Tôi gặp lại những khuôn mặt thân thương ngày nào. Buổi tối đi ngủ khí trời thật mát. Đó là một hạnh phúc ở xứ nóng Thái Lan. Giữa đêm tôi phải kéo chăn lên đắp và ngủ ngon lành tới 4 giờ sáng mới dậy. Trời còn tối nhưng trăng rất sáng. Tôi thay đồ và đi dạo một mình; nghe tiếng cắc kè kêu, tiếng côn trùng, tiếng gà gáy sáng lẫn tiếng tụng kinh của các thầy tu trên núi. Buổi sáng mộc mạc và đầy sự sống. Trời còn tối quá nên tôi xuống bếp phụ một chút, chờ khi sáng tỏ mới lò dò đi thăm các nơi. Cốc Thầy đang xây, chỉ mới có cái sườn gỗ hai tầng dựa vào vách núi nhưng địa thế rất đẹp. Tăng xá các thầy ở phía đất trên cao, có sẵn cây me, vườn xoài và một vườn rau tươi tốt. Ni xá các sư cô nằm ở đồng không mông quạnh, chưa có cây cối gì hết nên trông có vẻ khô khan hơn.

Ngày đầu ở Làng Mai Thái Lan, tôi chưa thăm hết mọi nơi. Nghe tin có xe về nhà bác Bôn Lư, tôi xin đi theo vì… được ngồi ở thùng xe. Ở Mỹ dễ gì có chuyện này! Tôi thấy mình cũng còn ham vui thật. Ôi, ngồi đàng sau vui nhưng hưởng bụi khiếp luôn vì xe phải chạy qua những con đường đất bụi tung mù mịt. Những vườn hoa nhà bác Bôn Lư còn dở dang, vườn rau của các sư cô đang chết khô vì không ai tưới (mọi người dọn hết lên đất mới rồi), tôi thấy tội tội. Sau đó tôi tung tăng đi thăm cả vườn và hái trái cây. Mùa này không còn gì nhiều. Ổi thì sâu. Đào thì sống. Sư cô Hạnh Nghĩa khều cho tôi mấy trái dừa tươi uống bù. Tôi bị muỗi và kiến cắn tơi tả, nhưng vẫn vui. Tôi hái được mấy trái xoài xanh làm gỏi xoài và hái rau lang để luộc. Bữa cơm trưa đơn sơ mà ngon lạ lùng nhờ rau tươi.

Pháp thoại công cộng Ngày hôm sau, chưa có thời khóa, tôi đi với sư cô Hạnh Liên mua cây ăn trái về trồng quanh cư xá II cho ni xá xanh tươi hơn. Chị em tôi đi cả ngày, nóng chi là nóng, nhưng mà vui. Tôi hứa sẽ đi xin tiền để mua thêm cây. Sư chị Tịnh Nghiêm từ Lộc Uyển qua cúng dường một cây xoài có trái sẵn, trái chưa chín nhưng đong đưa trong gió, ai nhìn thấy cũng .. tác ý hết.

Trừ ngày phải đi lên Bangkok dự pháp thoại cho giới chính trị gia, sáng nào chúng tôi cũng được đi thiền hành với Thầy ở đất mới. Tôi hạnh phúc vô cùng khi thấy đôi chân của mình còn khả năng đi theo Thầy khắp mọi nơi chứ không phải ngồi ì một chỗ như chuyến đi Á châu hai năm trước. Ngày nào cũng vậy, khi đi đến chân núi, thầy trò trải chiếu ngồi thiền, ngồi thật yên và lắng nghe tiếng chim ríu rít trên cao. Nhiều loại chim lắm, có khi có cả tiếng chim vang xa trong rừng. Tôi nhắm mắt, nghe gió nhẹ thoảng qua, rõ ràng là “nghe như có tiếng đất trời gọi nhau” (thơ Thầy đó).

Tôi ở cư xá II, nghĩa là xa nhà ăn nhất, nên có cơ hội đi bộ nhiều. Đi bộ thì tôi không sợ nhưng sợ cái nóng nung người khi băng qua bãi đất trống chỉ toàn đá. Nên tôi tích cực đi mua hoa để làm con đường hoa Bằng Lăng và hoa Phượng như ý muốn các sư em. Mà cây phượng lớn rất nhanh. Mỗi lần đi khóa tu về, tôi lại thấy nó cao thêm một chút, tàng lá xanh mát thấy thương. Chắc hai năm nữa về lại Thái thì cây cao hơn đầu tôi rồi. Ở đây tôi còn một hạnh phúc nữa là ngắm mặt trời lặn và mặt trăng lên giữa hai dãy núi mỗi chiều. Cảnh thiên nhiên đẹp tuyệt, gió thổi mát rượi, không gian bao la, tôi thấy mình giàu có quá chừng chừng.

Ngày 01/4, Thầy dẫn cả chúng đi chùa Thái “hàng xóm”. Mọi người dậy từ 4 giờ 30 và bới cơm sáng. Chúng tôi khá xa, khoảng 1 tiếng 10 phút thì có xe đến đưa Thầy lên tiếp vì chùa ở trên cao. Thầy từ chối ngồi xe du lịch dành cho mình và trèo lên xe thùng như xe lam chở đại chúng. Ai cũng cười hạnh phúc. Tôi lọt vào nhóm người đi kế Thầy nên cũng leo được lên xe. Tới chùa, thầy trò đi bộ quanh quanh thì thầy trụ trì đến và mở cửa chánh điện. Thầy trò vào lạy Bụt, xong thầy trụ trì lạy Thầy, rồi đại chúng đảnh lễ thầy trụ trì. Chùa nhỏ, nhưng ở trên cao nên thoáng. Thầy trụ trì dẫn đại chúng ra hồ để mọi người ngồi chơi và ăn sáng. Sau đó chúng tôi đi thăm hang động của chùa. Chùa có ba cái hang nhưng một cái chưa khai phá xong, vào sợ không đủ oxy nên đại chúng chỉ đi thăm hai hang động còn lại. Ở đây dơi ở trong động rất nhiều, nghe nói gần “chùa mình” có động dơi cả ngàn con. Còn ở đây, có một hang cũng đầy dơi, chúng  đập cánh loạn xạ khi có ánh đèn chiếu vào. Từ hang thứ nhất qua hang thứ hai phải khom lưng đi rất sát mà đoạn đường có phải là ngắn đâu. Tôi mừng là cái lưng của mình sau tai nạn đã có khả năng cúi thấp như vậy để đi theo mọi người. Nhưng cái tính lí lắc không chừa, tôi cười khi nghe Thầy nói: “Linh đan đổi cốt mới ra về.” Tôi sắp đổi cốt thành lưng bà ngoại rồi. Tới hang thứ hai, Thầy trải chiếu ngồi trước chỗ có tượng Bụt nhập Niết bàn, nghe nói đây là chỗ các thầy trong chùa an cư và ngồi thiền khi trời nóng quá. Thầy cười và cứ hỏi thăm xem ông Pritam có tới chưa và làm sao ông chui được qua cái đường hầm như vậy.

Tháng tư, Khóa tu ở MCU diễn ra như thường lệ. Khóa tu vừa xong, buổi chiều tôi tháp tùng theo hai sư em Trai Nghiêm và Linh Sơn đi lấy khung hình cho thư pháp, sau đó ghé thăm thủ đô cũ của Thái nay đã hoang tàn sau những lần bị người Burma cướp phá. Chỉ còn chùa tháp hoang sơ, tượng Bụt bị bể tay, không có đầu, rất hoang phế. Họ đã lấy hết lớp vàng phủ bên ngoài và đốt tượng nên tội lắm. Đây là một di tích lịch sử của Thái, gần MCU như vậy mà đi Thái bao nhiêu lần rồi, tôi không hề biết để tới thăm. Không biết Thầy đã đi chỗ này chưa?

Những ngày ở Thái qua nhanh với khóa tu xuất sĩ, khóa tu người Việt, khóa tu người Thái. Trong khóa tu người Việt, tôi được gặp lại dì mình, gặp lại một người bà con cả ba mươi mấy năm bặt tin từ khi tôi rời nước, gặp lại các chú, các cô Tiếp Hiện, các Sư bà, các Hòa thượng, Thượng tọa. Đúng là có trung tâm Làng Mai Thái Lan tôi không còn phải về Việt Nam mới gặp được mọi người. Cả tháng trời ở Thái, tôi có nhiều dịp chơi với các sư em đến từ Việt Nam và ở Thái. Các sư em Trăng nhiều quá, tôi đi ra đi vô hỏi tên mà cứ quên miết thôi. Nhìn em nào cũng thấy quen, mà cứ kêu lộn tên. Các sư em cười tôi quá xá.

Chuyến đi Hàn Quốc

Tôi rời Thái trước mọi người, đi Đại Hàn sớm để làm tiền trạm với hai sư em Tuệ Nghiêm và Pháp Công.

Chuyến bay chỉ có 6 tiếng nhưng tôi mất ngủ nguyên đêm. Tới nơi, tôi mệt đừ. Tuy nhiên mùa Xuân ở Đại Hàn thật đẹp. Hoa Đỗ Quyên nở đầy hai bên đường. Những cây phong lá đỏ chen sắc với những cây khác đầy lá non xanh. Chúng tôi được ban tổ chức đón về trụ sở của họ để ăn trưa rồi đi chợ để chuẩn bị đón tiếp phái đoàn. Tôi chuẩn bị phòng cho tăng thân và chất đầy đồ ăn nấu cho Thầy trong tủ lạnh. Mọi người được ở chung nơi khu cư trú của thiền sinh, riêng Thầy và thị giả thì ở lầu khác, ở trên Tăng xá của các thầy thường trú nhưng trong khu vực dành riêng cho thầy Pháp Chủ.

Hôm sau, chúng tôi theo Thầy đi đảnh lễ ở văn phòng Tổng hội giáo phái Tào Khê rồi vào phòng họp báo. Sau buổi họp báo, cả phái đoàn được dẫn đi ăn ở một tiệm chay mà mười năm trước Thầy đã đi, cũng ở gần đó. Tiệm ăn có phong cách rất đặc biệt, rất Đại Hàn và rất chùa vì chủ quán nguyên trước đây là tu sĩ. Ai cũng hạnh phúc quá chừng.

các chú điệu Hàn QuốcNgày kế đến, phái đoàn đi thăm đài truyền hình Phật Giáo và dự buổi phỏng vấn của Thầy. Thầy hơi mệt và sau buổi phỏng vấn còn phải đi lên chùa Woljinsa để bắt đầu khóa tu hôm sau. Thời khóa sít sao quá nên ban tổ chức phía Làng Mai phải bỏ buổi phỏng vấn của Thầy để đi trước từ sáng sớm. Chúng tôi ăn trưa trên xe buýt. Tới nơi vừa ổn định chỗ ở là chúng tôi đi họp liền cho khóa tu. Các tình nguyện viên làm thông dịch viên nói tiếng Anh rất yếu, nhưng đành vậy, còn hơn… không có ai. Chùa đẹp, ở trên núi nên yên tịnh và thoáng mát. Thiền đường, nơi các sư cô cư trú, có sưởi dưới sàn nên chúng tôi ngủ rất ngon (trừ đêm đầu tiên bị mất ngủ vì quên tắt cái đồng hồ mỗi 15 phút gõ chuông một lần). Tôi nằm mơ thấy dì Năm tôi. Tôi ít khi ngủ mơ thấy ai vì tàng thức tôi cũng làm biếng lắm. Tôi biết dì tôi đang nằm bịnh viện. Sáng ra mượn được máy để mở mail, tôi hay tin dì mất tối hôm qua ở Mỹ. Trong vòng ba tháng tôi được tin hai người thân của mình không còn nữa. Hôm tháng Ba, khi đi Thái, tôi nhận tin là cô bạn thân nhất từ thời mẫu giáo ở Việt Nam qua đời. Bởi vậy nói gì đến tuổi của ba má tôi, vô thường là chuyện hàng ngày và cho bất cứ ai. Tôi đi thiền hành. Núi đồi vào Xuân đang tràn dâng sức sống mãnh liệt. Tôi đi cho những người không còn đi được nữa và đi cho chính mình. Chưa bao giờ tôi thấy thấm thía lòng biết ơn Bụt, ơn Thầy đến thế.

Khóa tu chấm dứt. Hôm sau là khóa tu cho xuất sĩ ở trường Đại học Phật giáo. Không đủ chỗ ở nên chúng tôi sáng đi tối về. Xe vừa lên tới nơi chúng tôi thấy khoảng 500 thầy và sư cô đắp y vàng tề chỉnh đứng chờ trông rất khí thế. Ai cũng trắng trẻo, cao lớn, tướng tá rất oai phong. Tôi không ngăn được sự so sánh khôi hài: “Người Hàn vốn có nước da đẹp, còn chúng tôi thì mặn mà nắng Thái Lan; họ cao lớn như Tây phương, còn chúng tôi thì thanh cảnh nhỏ xíu; họ mặc đồ lam kiểu áo tu sĩ Đại Hàn phồng ra, còn chúng tôi mặc đồ nâu sát người.” Ôi, cái gì cũng tương phản, chỉ có cái đầu là giống nhau. Và nhóm áo nâu chỉ có mấy chục người lại đi hướng dẫn cho nhóm áo lam mấy trăm người. Thầy dạy mấy điều rồi dẫn đại chúng đi thiền hành liền. Ngày đầu mọi người sinh hoạt còn dè dặt, giờ pháp đàm cũng chưa cởi mở lắm. Hai sư cô thông dịch trong nhóm tôi mới học tiếng Anh có hai tháng, hỗ trợ nhau dịch với cái máy iTouch. Sau buổi giảng thứ hai thì không khí đã bắt đầu có sự thân tình. Các thầy và các sư cô trong nhóm pháp đàm của tôi đã chia sẻ nhiều hơn và cũng đặt nhiều câu hỏi hơn. Nhưng đỉnh điểm là giờ “workshop” (chia ra nhóm nhỏ theo chủ đề để trình bày và học hỏi thêm) vào buổi chiều. Sau giờ ăn, mọi người kéo đến ngồi với nhau rất tự nhiên trên cái sân rộng hát hò và khi thầy viện phó ra thông báo tới giờ workshop, ai cũng muốn nó thành giờ “play-shop” (play có nghĩa là chơi). Thế là ngay giữa sân trường tự động hình thành một buổi be-in rất giàu có, phong phú và đầy tình huynh đệ. Chắc đây là lần đầu tiên mà các thầy và các sư cô Đại Hàn ngồi chung với nhau như sinh viên đại học ngoài sân trường vì khi đi ăn, đi đổi lớp họ đều có những lối đi riêng biệt chứ không đi chung. Ôi, buổi be-in đó vui cực kỳ, ai cũng cười nghiêng ngửa. Cứ phía Làng Mai ra trình diễn một màn thì tới phía Đại Hàn đáp lễ một màn. Nhiều màn trình diễn rất hay. Thậm chí có sư cô Đại Hàn làm hoạt náo viên cũng rất là chuyên nghiệp. Khoảng cách giữa Làng Mai và các thầy cô Đại Hàn như rút lại rất ngắn. Tôi thấy rất rõ tình thân được xây dựng rất nhanh, nhanh đến không ngờ.

Ngày thứ hai 9/5 và cũng là ngày cuối. Giờ vấn đáp thật hay. Thầy mệt mà dạy kỹ ghê. Khi chia tay ra về, ai cũng bịn rịn. Thầy viện chủ Misan nói là lúc đầu thầy rất kinh ngạc vì quen với nguyên tắc và kỷ luật, nhưng thầy đã học được sự uyển chuyển khi thấy work-shop thành play-shop mà cũng rất thành công, thầy bảo thầy cũng muốn hát nhưng chẳng thấy ai mời. Thế là học tăng vỗ tay ầm ĩ, yêu cầu thầy hát và thầy… hát thiệt. Ai cũng vui hết. Và có lẽ đây là lần đầu tiên thầy hát trước học tăng như vậy.

Busan

Xong khóa tu, chúng tôi lên xe buýt đi thẳng về miền Nam, tới thành phố Phủ Sơn (Busan). Thầy và ban thị giả đã bay tới trước và ở nơi khác, còn chúng tôi tới ở chùa Hoằng Pháp (Hongbeopsa) là chùa lúc đầu mời Sư Ông cho pháp thoại với thính chúng 10,000 người. Sau đó vì tầm quan trọng của chùa cổ Phạm Ngư (Beomosa) vốn là trụ sở của giáo phái Tào Khê tại Busan nên họ nhường cho Phạm Ngư Cổ Tự tổ chức buổi thuyết pháp, nhưng xin được đón tiếp tăng đoàn. Tới chùa là quá 10 giờ khuya. Thấy thầy trụ trì đắp y đứng chờ với Phật tử dưới mưa mà chúng tôi hết hồn. Thầy trụ trì đích thân dẫn đại chúng lên phòng. Mỗi phòng dành cho hai người, có toilet riêng, có mền chiếu trải sẵn dưới sàn kiểu Đại Hàn. Thầy rất cởi mở và hiếu khách. Thầy dành hẳn phòng uống trà làm phòng sinh hoạt chung cho đại chúng và vui nhất là thầy chất đầy bánh trái, thức uống đủ loại cả một góc phòng để chúng tôi sử dụng, trông vào như một gian hàng tạp hóa nhỏ. Thấy mắt mọi người sáng lên ngạc nhiên, thầy ngồi cười hỉ hả ở bàn trà. Chúng tôi ai cũng cảm động và thấy ấm áp vì sự chăm sóc của thầy.

Hôm sau chúng tôi được ăn sáng với đủ thứ đồ ăn lạ, ai cũng hạnh phúc hết. Ăn sáng xong, thầy trụ trì hỏi chúng tôi muốn gặp các chú điệu không. Dĩ nhiên là chúng tôi hào hứng gật đầu. Một đoàn mười lăm chú khoảng năm, sáu tuổi, đĩnh ngộ, lí lắc ùa vào. Các chú đứng chào rồi thầy bảo tụng kinh cho chúng tôi nghe. Ôi chao, tụng kinh mà có người thì đứng một chân, người thì dụi mắt, người thì thúc kẻ đứng bên cạnh, chú thì bịt miệng bạn, chú thì tròn mắt, chú thì nhắm mắt há mồm, đủ kiểu làm chúng tôi ôm bụng cười quá chừng. Các chú hồn nhiên và nghịch ngợm một cách hạnh phúc. Các chú chỉ cạo đầu tập làm tu sĩ có 21 ngày trong thời gian lễ Phật Đản thôi. Những người tình nguyện chăm sóc các chú chắc mệt đừ. Đây là lần thứ 8 chùa có nhóm điệu như vậy. Pink, cô cư sĩ trong ban tổ chức và là thông dịch viên của chúng tôi, quê ở Phủ Sơn, là người chính chăm sóc mấy chú những đợt đầu nên rất biết cách nói chuyện với các điệu. Thầy cũng thương và gần gũi với các chú điệu thiên thần này nên các điệu quý, ôm thầy làm nũng rất dễ thương.

Sau đó chúng tôi theo đúng phép đắp y lên chánh điện đảnh lễ thầy trụ trì rồi xuống dùng cơm trưa để còn qua chùa Phạm Ngư dự pháp thoại của Thầy. Nghe tin Thầy không khỏe ai cũng lo quá chừng. Nhưng cách tốt nhất để yểm trợ Thầy là việc mình, mình phải lo cho đàng hoàng, dù là đã có kế hoạch thay thế phòng khi Thầy không tới được.

Chùa Phạm Ngư là một ngôi cổ tự ở trên núi cao. Chùa rất đẹp và người đã tới đông nghẹt. Nhìn quanh thì chỉ khoảng 3,000 người nhưng khi tôi hỏi Emi thì mới biết còn ba tầng khác từ dưới núi lên và có dựng màn hình rộng để mọi người đều có thể xem. Tôi nhờ sư em Trời Độ Lượng đi chụp hình các nơi đó thì số người có thể lên đến 13,000 người. Họ đứng nghẹt các phòng quanh khoảng đất làm hội trường chờ đợi. Còn chúng tôi cũng lo Thầy không ra được, vì nghe nói tới giờ phải ra xe mà Thầy cũng vẫn còn rất yếu. Tới giờ thuyết pháp vẫn chưa thấy Thầy đâu, thầy Pháp Ứng bắt đầu nói ít lời về đức Bồ tát Lắng Nghe Quan Thế Âm và khi chúng tôi chuẩn bị niệm danh hiệu Ngài thì Thầy xuất hiện. Nhìn Thầy ốm và xanh, người nào cũng xót xa trong lòng và lo lắng. Niệm Quan Âm mà sư cô Mai Nghiêm nước mắt chảy dài, sư cô Giác Nghiêm thì chắp hai tay thành khẩn như đang nguyện đức Bồ tát phù hộ cho Thầy. Tôi thì… căng thẳng vì không biết làm cách nào để chắn gió cho Thầy đừng bị trúng gió. May sao mấy người cư sĩ kéo một tấm bình phong ra và họ đứng đàng sau để giữ cho tấm bình phong được đứng vững trước những cơn gió núi.

Và mầu nhiệm thay, chắc chư Tổ Đại Hàn gia hộ nên Thầy cất tiếng được, dạy gần một tiếng, chậm rãi, tập trung, chính xác, trả lời đúng vào vấn đề các thầy Đại Hàn đã thỉnh ý lúc mới đón Thầy về việc cầu nguyện hòa bình cho Nam-Bắc Hàn. Chỉ không biết họ có làm được không thôi.

Trên đường xuống núi, đoàn được đi bằng xe còn người nghe phải đi bộ vì chùa không cho đem xe lên núi. Con đường xuống núi dài trên cây số mà người người lũ lượt đi như một dòng sông cuồn cuộn chảy thật dài, xe xuống tới chân núi mà vẫn đông nghịt người. Nên con số trên 10,000 người là chắc chắn nhưng không ai có thể biết đích xác là trên tới bao nhiêu ngàn. Ban tổ chức bảo những buổi lễ bình thường là 10,000 người nhưng số lượng này đông hơn rất nhiều. Sau pháp thoại Thầy về lại chỗ nghỉ ngơi vì quá yếu không bay về Seoul liền được như dự định. Chúng tôi thì về lại chùa Hoằng Pháp và tròn mắt khi thấy một buổi tiệc với 21 món được bày sẵn trong phòng ăn. Nhiều món thật là lạ và ngon. Chắc kỳ này tôi phải thêm vài kí là ít. Sự hiếu khách và tài nấu nướng của các bác Phật tử chùa Hoằng Pháp không thể nào quên được. Còn cái phòng sinh hoạt chất đầy thức ăn nhưng chúng tôi không có giờ và cũng không đủ bụng để ăn thêm.

Hôm sau không có thời khóa. Chúng tôi chia tay thầy trụ trì và các chú điệu dễ thương, đi thăm biển rồi xuống thăm chùa thầy Trí Huyền. Biển đẹp mà lạnh buốt. Chùa thầy Trí Huyền ở ngược hướng về lại Busan nhưng phải đi thăm thôi vì thầy quá dễ thương. Từ mười năm nay, sau chuyến viếng thăm Đại Hàn của Thầy lần trước, mỗi năm thầy đều gởi rong biển về Làng cúng dường cho Thầy và đại chúng. Chùa thầy Trí Huyền nhỏ thôi, nhưng lòng thầy rất lớn. Đại chúng được ăn trưa, gói thêm một mớ bánh trái (thân tình như trong nhà) rồi về thẳng Seoul cho kịp xem lễ hội lồng đèn. Mấy em trẻ trong ban tổ chức thật tháo vát, nghe nói đại chúng thích ăn pizza là đặt đem lên xe luôn cho kịp giờ và mọi người đều hạnh phúc sau mấy ngày ăn kim chi và sushi (là thực đơn không thay đổi mỗi khi phải ăn trên đường đi).

Buổi tối khi về tới Seoul, lễ hội đã bắt đầu. Người đứng xem đông nghịt. Tuy nhiên cuối cùng chúng tôi cũng kiếm được ghế ngồi xem. Lễ hội rước đèn này thật là đẹp và hoành tráng. Mỗi đơn vị, mỗi chùa có một loại lồng đèn khác nhau. Đa phần mặc y phục truyền thống rực rỡ, ai cũng tươi cười. Có chùa thì quý thầy đắp y cầm đèn đi trước, Phật tử cầm đèn đi sau. Có đơn vị thì vừa đi vừa múa. Xe hoa thì quá sức quy mô, có xe như một cái lồng đèn lớnc có xe chở Bụt, có xe làm hình con rồng phun lửa thật. Đài Truyền Hình Phật Giáo có màn hình trực tuyến lớn ngay trên đường. Họ phỏng vấn thầy Pháp Lai và giới thiệu có Làng Mai tới xem. Lúc đầu ở Trung tâm Thiền viện Quốc Tế có gợi ý mình cùng tham dự rước đèn với họ nhưng nếu tham dự rước đèn thì không thể thấy được đèn của các chùa khác nên chúng tôi chọn… làm khán giả. Nhưng tới chiếc xe hoa chót đi qua thì mọi người, khán giả ở hai bên đường, kéo xuống lòng đường đi theo rất rộn ràng, hớn hở. Thật là một buổi lễ đáng coi. Emi hứa sẽ đưa phim quay buổi lễ đó cho Sư cô Chân Không xem lại vì Sư cô không tham dự được.

Tối về lại Trung tâm, nghe tin Thầy khỏe hơn, ai cũng mừng.

Mây và núi trong nhau

Chùa Liên Trì, giữa tháng năm

Nơi này cao nên mây phủ núi ngày đêm. Buổi sáng thức dậy, có mây vào tận giường thăm. Khung cửa sổ nhỏ mà có lúc cuồn cuộn mây trắng qua. Buổi trưa, tôi không thấy mặt trời, chỉ nhìn thấy những cây cau mờ mờ trước sân chùa. Tôi cười thú vị: “Mình ngủ trong mây, bước trên mây, uống mây, nên thơ lắm chứ.”  Nhưng có ngày mây ướt cả sân chùa. Đúng là mây và núi trong nhau.

Thời khóa ở Hồng Kông thì như mọi năm: ngày quán niệm cho giới y khoa, khóa tu ở YMCA, pháp thoại công cộng, và lễ mừng Bụt đản sanh ở chùa Liên Trì. Sự có mặt của mình ở Hồng Kông đã bắt rễ. Người tới tu học thường kỳ cũng ngày một nhiều hơn. Khóa tu ở YMCA cũng đông hơn, khoảng 1,200 người. Pháp thoại công cộng, sinh hoạt cuối cùng của chuyến đi Hồng Kông, nghe nói đã đưa ra 11,000 vé rồi. Có người bảo trợ cho ngày pháp thoại công cộng đó nên vé vào cửa miễn phí. Có cả 20 tờ báo ở Hồng Kông tường thuật về Thầy và những sinh hoạt của tăng đoàn.

Ông Dương, người cúng dường chùa Liên Trì, trong ngày Phật Đản đã tới thăm Thầy. Ông nói rằng chùa Bảo Liên (Polin) là chùa du lịch còn chùa Liên Trì là chùa tâm linh. Có sự công nhận rồi đó. Thầy kể tôi nghe là ở đảo Lan Tau này có một ngôi chùa khác rất đẹp là chùa Diên Khánh, chùa này chuyên môn lo cho người chết còn Liên Trì lo cho người sống. Sư em Thần Nghiêm bảo họ làm ăn khá lắm vì con cháu sợ không lo cúng quảy đàng hoàng thì cha mẹ sẽ không phù hộ cho buôn bán, có nghĩa là khi cha mẹ còn sống thì không sợ cha mẹ bằng sau khi họ mất rồi. Nhìn kỹ, ta thấy điều này dính với quyền lợi hơn là tình thương, và cái quan niệm thần quyền đã chiếm hữu phần tri thức của giới thương mại. Ở chùa Liên Trì muốn làm gì cũng phải chờ ban quản trị cho ý kiến về phong thủy dù họ đã cúng chùa cho mình. Mình không tin, nhưng nghe theo họ để không bị “đổ thừa” nếu họ làm ăn lỗ lã. Thôi cũng không sao, mình chỉ cần chùa để tu, còn xây cất sửa chữa cứ để họ lo cho khỏe.

Lần này có nhiều sư em tới từ Thái Lan nên ban tổ chức ưu ái phát tiền cho chúng tôi đi chơi cho biết đó biết đây. Tiền đủ để đi xe buýt, ăn trưa, và đi cáp treo về. Rồi một ngày trước khi rời Hồng Kông, Sư cô Chân Không rủ mấy sư em qua Bảo Liên ăn… tàu hủ chén. Ôi, nếu biết hàng quán bên đó có đủ món như vậy hôm trước tôi đã dẫn các sư em trong đội nấu ăn qua đó ăn cà rem. Có sư em Trăng Đông Hải đi theo nói tiếng Hoa nên gọi nhiều món khá ngon. Mấy cô cháu ngồi chơi, nói chuyện đủ thứ. Sư cô Chân Không thật là vui, tự dưng không biết nghĩ gì mà Sư cô vừa kể vừa cười làm mọi người cũng bật cười theo: “Thời xưa, khi người ta mời Bụt đi hoằng pháp, Bụt đâu có hỏi chỗ đó có ẩm không? chỗ đó có nhiều muỗi không?” Sư cô Định Nghiêm thủng thẳng thêm vào: “Chỗ đó có internet không?”

Tháng Sáu Học Viện Đức

Về Đức ngày 29/5, ngang Amsterdam là tôi đã lạnh run rồi. Áo lạnh, khăn quàng bỏ trong túi xách tay nhưng vì máy bay nhỏ nên túi xách tay cũng được “check in” luôn.  Ngày hôm đó mưa, lạnh và ẩm ướt. Tôi than trong bụng: “Ui, sao giống Hồng Kông quá!” Về tới EIAB, bên nữ đã dọn qua ở chùa Đại Bi hết nên tôi cũng khỏi phải leo mấy tầng lầu như khi ở Học Viện. Ổn định chỗ ở xong, tôi đi thăm lều của các sư em. Chỗ cắm lều năm trước của các sư em đã thành tháp chuông Bao Dung và vườn Chuyển Hóa nên năm nay các sư em cắm lều ở sau chùa Đại Bi. Chỗ ở thật là ấm cúng. Công nhận khi trời mưa thì ở lều hơi mệt, nhưng trời tốt thì ở ngoài lều rất tuyệt.

Có một ngày quán niệm cả ngàn người, may là cũng ở ngay EIAB nên Thầy không phải đi xa. Tôi đi thiền hành sau lưng Thầy, ý thức rất rõ là mình đang có nhiều may mắn bởi vì Thầy còn đó, sau chuyến đi dạy xa nhọc mệt. Hai khóa tu tiếp theo sau đó và tôi thấy mình nôn nao chờ ngày về lại Làng sau mấy tháng xa cách. Nghe nói xóm Mới năm nay hoa nở rất đẹp. Tôi được xem hình các sư em gởi qua nhưng vẫn không bằng mình được nhìn tận mắt.

Chòi Vịt Xóm Mới

Tháng Sáu, về lại Làng, ba ngày nay tôi được làm biếng, mà thiệt là làm biếng. Tôi đi bộ mỗi ngày. Trời đẹp, người khỏe, có giờ để đi bộ, thật là hạnh phúc. Có một ngày đi bộ lên Sơn Cốc với hai sư cô Định Nghiêm và Tuệ Nghiêm, được theo Thầy đi thiền hành, rồi Thầy giữ lại ăn cơm trưa. Có một buổi chiều tôi đi loanh quanh, ăn cherry, ăn dâu mulberry, xong ra thăm cái chòi tranh của sư cô Thoát Nghiêm. Cả hai chục người ngồi ăn mì gói trong chòi vui quá, có cả các thầy Pháp Thắng, Pháp Lý, Pháp Nguyện. “Tiệc mì gói” gần tàn thì mưa, chúng tôi ngồi chen nhau chật cứng, chơi trò chơi giựt điện cười đau cả bụng.

Tối nay trăng tròn vằng vặc, đúng là trắng ngà. Các sư em quấn mền ngồi chơi ngoài chòi “Giải Thoát” (tôi gọi là chòi vịt dù không có con vịt nào) ngắm trăng. Ngày hè dài nên đã 10 giờ khuya mà trời còn sáng, chắc các em phải thức khuya lắm mới ngắm trăng đẹp được.

Tôi lại miệt mài làm vườn, có thể chơi cả ngày ở ngoài vườn mà không chán. Tuy nhiên tôi cũng phải scan giấy tờ tài liệu để Sư cô sử dụng trong chuyến đi Mỹ sắp tới. Những tài liệu ngày xưa khi Sư cô giúp đỡ các văn nghệ sĩ thật là quý giá. Tôi phân loại, scan, sắp xếp mà thấy bâng khuâng. Nếu Sư cô không viết lại những điều này thì ai biết được sự thật? Công việc cho tôi nhiều hứng khởi và năng lượng y như… làm vườn. Thế mới biết tôi ham làm việc quá, làm gì cũng hạnh phúc, việc gì cũng hạnh phúc.

Có một buổi tối, tôi ngồi ăn bánh bao dưới cái xích đu sau khi chơi với các em (ăn nấm nướng, khoai nướng, đậu nướng và uống trà rồi, bạn hiền có thấy thèm không?) ở cái chòi vịt, nghe hương hoa Kim Ngân thoang thoảng mà nồng nàn. Năm nay Kim Ngân hoa được mùa, cây nào cũng tươi tốt và tỏa hương khắp nơi. Các sư em quá vui. dám chọc tôi bằng cách hát rằng “mẹ của con như… đại ca”, thay vì “đại dương’ làm ai nấy cười rũ. Tôi cũng bật cười. Các em thấy tôi chịu chơi nên ăn hiếp tôi quá xá.

Mùa Hè qua nhanh

Mùa Hè này con nít về thật đông. Xóm Mới nhỏ như cái lỗ mũi nên đi đâu cũng đụng người. Cái sân gạch trước nhà là trụ sở của chương trình thiếu nhi nên ở phòng tôi nghe tiếng hát, tiếng đàn suốt ngày. Những tiếng cười trong vắt của các cháu bé thật dễ thương. Tôi vào đội nấu ăn, hướng dẫn pháp đàm và làm luôn việc tri xa. Tuần nối tuần qua thật nhanh. Năm nay xóm Mới làm bánh mì cho thiền sinh đem theo ăn sau buổi thiền hành mỗi khi đi các xóm khác, nhờ vậy mà ai cũng có giờ nghỉ ngơi khi xe buýt về lại xóm. Chỉ có đội nấu ăn hơi vất vả vì phải chuẩn bị để từ sáng sớm đã có đồ ăn trưa, nhưng bù lại thì các đội nấu ăn không bị mất pháp thoại và đó là phần thưởng đáng giá nhất. Tuy nhiên có sư cô than ăn bánh mì hoài nóng quá.

Cuối mùa Hè, các cháu bé bịn rịn giã từ. Có một bé gái khoảng tám tuổi đi chào các sư cô. Tôi thấy cháu dễ thương, nên hỏi thăm cháu đến từ đâu. Câu trả lời thoát ra tự nhiên: “Theo lời Thầy dạy, con không từ đâu đến cả.” Tôi giật mình, đừng coi thường con nít. Còn đang loay hoay tìm cách hỏi thêm thì cháu, sau một chút ngẫm nghĩ, thận trọng nói thêm: “Nhưng mà con ở Hòa Lan.” Tôi nhìn cháu mến phục. Mới có tám tuổi, cháu đã hiểu được gì từ giáo lý không đến không đi nhưng cháu sử dụng rất đúng chỗ. Hạt giống đạo Bụt gieo trồng nơi phương Tây nếu có nẩy mầm và lớn mạnh cũng là từ những ngày chơi mà tu, chơi mà học của các cháu hôm nay.

Đi Bắc Mỹ

Tháng Tám, Làng vừa đóng cửa sau khóa tu mùa Hè thì tôi lại theo Thầy và đại chúng đi hoằng pháp ở Bắc Mỹ. Lần này chặng đầu tiên là ở Toronto. Nghe nói khóa tu kín người ghi danh chỉ sau một thời gian rất ngắn và “waiting list” (danh sách dự bị) tới mấy trăm người. Đây là khóa tu dành cho người trong ngành giáo dục. Trong chuyến đi này, tôi và sư em Trai Nghiêm chịu trách nhiệm chính trong việc bán thư pháp của Thầy nên lúc nào cũng bận rộn, nhất là ở Toronto. Lần đầu tiên thiền sinh được thỉnh thư pháp của Thầy nên họ thỉnh nhiều quá, chúng tôi phải nhờ thị giả xin Thầy viết thêm nhiều lần. Trường học Brock, nơi tổ chức khóa tu, đầy đủ tiện nghi nhưng là lần đầu tiên nấu ăn chay cho quá nhiều người nên chất lượng món ăn quá kém. Hôm nào bán xong bị trễ giờ ăn, chúng tôi ghé vào bếp nấu ăn của Thầy xin cơm. Có ngày cơm không có gì nhiều mà cũng thấy ngon. Ngày cuối cùng có ba má thầy Pháp Duệ đem phở và bánh bột lọc lên đãi các thầy cô, ai cũng hạnh phúc quá chừng.

Xong chuyến đi ở Canada, chúng tôi đi xe buýt về tu viện Bích Nham. Bích Nham đẹp hơn xưa với những con đường tráng nhựa và cây cối lên cao. Nhưng có hai cư xá phía các sư cô bị đóng cửa vì chưa sửa chữa kịp nên một số các sư cô được chia ra khách sạn gần đó ở để chăm sóc thiền sinh luôn. Tôi được may mắn ở lại Bích Nham, tiếp tục bán thư pháp, tiếp tục hướng dẫn pháp đàm, và tiếp tục bận rộn. Mỗi chuyến đi là một cơ hội để phục vụ, thích lắm.

Có một ngày đại chúng đi xe buýt ra New York để dự buổi triển lãm thư pháp của Thầy do ABC Homes tổ chức. ABC Homes nằm ngay đường Broadway, phố chính của New York. Mỗi một chỗ triển lãm mang một tính cách khác nhau. Chúng tôi tụng kinh trước khi Thầy nói vài lời. Có lẽ đây là lần đầu tiên ở một chốn thương mại mà lại xuất hiện nhiều người tu như thế. Sau đó Thầy ngồi vào bàn, viết vài bức thư pháp trước rất nhiều ống kính. Viết xong tờ nào, Thầy đưa ra sau cho thị giả cầm. Thị giả đưa tiếp ra cho anh chị em khác cầm giơ lên để mọi người được xem. Tôi đi ngang, được đưa một tấm, thế là cầm giăng cao lên che hết mặt mũi mà thú vị như thuở nhỏ được cô giáo nhờ làm việc dùm.

Những ngày ở Bích Nham năm nay qua nhanh vì là chặng đầu, chỉ có một khóa tu và một ngày quán niệm ở Bích Nham, một buổi pháp thoại công cộng ở New York. Từ New York, sau buổi thuyết pháp của Thầy, chúng tôi ngủ lại một đêm rồi đi xe buýt lên Washington, D.C.

Ngân Hàng Thế Giới World Bank

Tôi phải thú thực là không hề có khái niệm gì về Ngân Hàng Thế Giới này vì tôi vốn rất dốt về lĩnh vực thương mại, nhưng nhờ cơ hội Thầy sẽ dạy ở đây mà tôi được đi thăm và nghe giải thích về chức năng của họ thì cũng hiểu biết thêm đôi chút. Ngày quán niệm buổi sáng Thầy dạy xong, buổi trưa có vấn đáp, tôi gặp một số các em Việt Nam làm việc ở đây. Các em đến từ Việt Nam và không biết gì nhiều về đạo Bụt, nhưng các em đều hãnh diện khi có Thầy là người Việt Nam tới đây giảng dạy cho mọi người, kể cả xếp của các em. Các em kể là văn phòng World Bank ở Việt Nam cũng theo dõi trực tuyến và họ bảo các em may quá, được nghe Thầy giảng trực tiếp. Tôi mỉm cười nghĩ thầm: “Vậy mà Việt Nam không biết đến sự may mắn đó.”

11/9 Chúng tôi rời Washington, D.C. trúng ngày này nên ít người dám đi máy bay, do đó ghế nào cũng chỉ có hai người, dư một ghế ở giữa thiệt thoải mái. Bay về tới Boston thì Thầy và ban thị giả ở hotel, nơi sẽ có buổi nói chuyện cho Harvard, còn đại chúng được sắp xếp ở một cái hostel gần đó, và… gần Chinatown. Ở đây quá vui vì ở gần phố Tàu, có thể đi uống sinh tố kiểu Việt Nam, đi dạo phố, thức ăn thì được cúng dường, chén bát có người rửa… Ngày hôm sau Thầy nói chuyện với giới y khoa ở Harvard plaza, trên 1000 người tham dự. Đa số thành viên tham dự không phải từ Boston, thậm chí có người tới từ Canada. Hội trường sang trọng, âm thanh tốt nên đại chúng tụng kinh rất hay. Sau đó là hai ngày ở nhà thờ Trinity. Nhà thờ đẹp lắm. Tôi nghe pháp thoại xong, xuống bán thư pháp không kịp vì người mua rất đông. Buổi tối đó được đi chơi với các sư em và đi ăn cà rem, vui quá chừng. Hôm sau là ngày Thầy giảng ngoài trời, ở sân nhà thờ để ai muốn nghe cũng tới được. Trời rất nắng, ai cũng phải đội nón lá nhưng sau nửa tiếng ngồi thiền, khi Thầy bắt đầu cất tiếng giảng dạy thì trời mát lại. Đây là buổi sinh hoạt chót ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

Trung tâm Mộc Lan

29/9 Mộc Lan

Vừa về tới Mộc Lan là tôi đi thăm liền thiền đường Hải Triều Lên mà phục các sư em quá. Chỉ có hai năm mà bây giờ Mộc Lan hoàn thiện nhiều, thành một trung tâm tu học rất đàng hoàng, quy mô, thiền sinh về tu trên 900 người và ai cũng hạnh phúc. Khóa tu người Việt thì ít, chỉ khoảng trên 300 người. Ngoài việc hướng dẫn pháp đàm và cho tham vấn, tôi tiếp tục bán thư pháp. Nhờ được ba má thầy Pháp Duệ đóng dùm cái giàn để treo thư pháp nên nhìn bắt mắt lắm. Sư chú Trời Tự Tại và sư cô Trai Nghiêm lại có óc nghệ thuật, đóng khung những tấm thư pháp theo nhiều kiểu sáng tạo nên làm gian hàng nhìn vui mắt hơn. Có người mua nhiều tấm, bảo để nhìn đâu cũng thấy Thầy. Có người đã chọn câu trơn vì chữ đẹp, lại đổi ý mua câu trong vòng tròn vì nhớ tới trong phim Thầy vẽ vòng tròn theo hơi thở, họ muốn thực tập thở theo khi nhìn bức thư pháp đó. Tấm nào cũng là để thực tập. Câu nào cũng có ý nghĩa. Mỗi lần gói một tấm thư pháp đưa cho người mua, tôi nói thầm trong tâm mong tấm thư pháp đó giúp cho họ được bình an và nhớ tới sự thực tập…

thư pháp

Trở về Vườn Nai

Tháng Mười, hai ngày mưa đem đến cho Lộc Uyển một sinh khí mới. Cây cối như được hồi sinh và những đóa cúc trắng bắt đầu nở rải rác trong khu vườn nhỏ kế toilet công cộng của xóm Trong Sáng. Sáng nay ngồi nghe pháp thoại ngoài trời vì thiền đường quá chật, tôi nhìn nhánh cây gạo đầy hoa màu hồng thắm chắn ngang trước những tàng tùng lọng xanh ngắt thành một bức tranh tuyệt đẹp mà lòng rộn vui. Hôm mới về Lộc Uyển, nhìn cỏ khô vàng cháy, cây cối ủ rủ vì đã ba tháng không mưa, thậm chí mấy cây tiêu mà cũng không còn lá mơn mởn xanh với chùm tiêu màu hồng như thường lệ, tôi nghĩ thầm Lộc Uyển lúc này chỉ khá hơn lúc… mới nhận đất một chút thôi. Tôi nghĩ tới những lần Thầy đến nơi nào thì khí hậu nơi đó đổi thay, không biết sao kỳ này… chưa mưa. Nhưng rồi mưa cũng đến, đột ngột, khi khóa tu người Việt vừa xong và khóa tu người Mỹ chưa bắt đầu, thật là một hạnh phúc lớn cho ban tổ chức cũng như mọi người.

Khóa tu nào cũng đông. Thiền sinh nữ dựng lều ở rừng sồi san sát nhìn thấy ngợp. Mỗi lần đi ngang chúng tôi gọi đùa là xóm Lều hay xóm Nấm, vì những túp lều đủ màu tròn tròn như nấm… mọc nhanh sau cơn mưa.

Như ở những nơi khác, ở Lộc Uyển ngoài giờ pháp thoại, pháp đàm, lúc nào tôi cũng thấy mình loay hoay ở quầy thư pháp. Mà cũng vì vậy nên tôi gặp được không biết bao nhiêu là người quen, có mấy anh chị trong Gia đình Phật tử, có quý thầy mà tôi đã từng gặp… ở Việt Nam, có cả một người bà con mà gia đình tôi mất liên lạc từ hơn 30 năm, không biết vì sao hay tin tôi đi tu theo Thầy nên lên Lộc Uyển tìm tôi. Những khóa tu ở Lộc Uyển đáng nhớ với những buổi sáng leo lên núi ngồi thiền và ăn sáng với Thầy. Đây có lẽ là lần đầu tiên nhiều người được hưởng cảm giác “ở núi” như vậy. Khuôn mặt ai cũng rạng rỡ hạnh phúc. Còn tôi hạnh phúc vì hai chân mình còn leo núi được dù tôi chưa phải đến lứa tuổi… chống gậy. Cứ nghĩ lại thời gian bị đau chân, bị tai nạn, bị cảm… không thể nào đi nổi đoạn đường dốc dài mà so với bây giờ là hạnh phúc tràn đầy rồi. Buổi “Be-in” cuối cùng của khóa tu người Mỹ, tôi cười chảy nước mắt với mục trình diễn thời trang mà mỗi người mẫu là một cuốn sách của Thầy. Các sư em hóa trang đơn giản nhưng hai MC Bạch Nghiêm và Bội Nghiêm đối đáp rất linh động khi giới thiệu người mẫu nên chắc hôm sau quán sách sẽ bận rộn lắm.

Ngày quán niệm cuối cùng ở vùng Nam Cali người ta đến đông quá, chưa bao giờ đông như vậy. Trước 5 giờ sáng tôi đã nghe tiếng xe chạy lên dốc. Có lẽ đây là những người thường tới, có kinh nghiệm nên lên sớm để có chỗ đậu xe. Quả thật là xe đậu từ parking trong Lộc Uyển, dọc theo con đường ra tới cổng ngoài, ra khỏi khuôn viên Lộc Uyển, qua nhà hàng xóm và tới tận đường Broadway, nghĩa là cũng phải tới 4 miles. Tôi chỉ hy vọng hàng xóm không phiền lòng lắm.

Bắc Cali

Cuối tháng Mười, chúng tôi về lại Bắc Cali. Kỳ này đại chúng đi đông nhưng những người sẽ đi hỗ trợ ngày quán niệm Google thì ở nhà chị Song Xuân cho tiện di chuyển, những người còn lại được ở chùa thầy Từ Lực và được đi thăm thắng cảnh vùng Vịnh. Ngày quán niệm ở Google có sư em Hiến Nghiêm ngồi giúp Thầy trên sân khấu rất giỏi. Nghe nói sau lần dạy trước của Thầy, Google đã áp dụng phần nào sự thực tập như có bữa ăn chánh niệm mỗi tháng một lần, lập nhóm gPause để ngồi thiền mỗi ngày trong campus, và họ dự tính sẽ làm một góc cafeteria ăn trong im lặng cho những người muốn thực tập điều đó. Quả thật là Google chăm sóc nhân viên rất kỹ. Facebook cũng mời Thầy nhưng Thầy cử người đi thay vì không đủ thời gian. Ngày Thầy giảng ở Stanford rất vui vì người mời Thầy bị “xếp” dành chỗ để ông ta đối thoại với Thầy trên sân khấu. Thầy không biết chuyện đó, nhưng giảng rất hay và trúng “tim đen” của ông ta vì bà vợ và đứa con trai cũng có mặt trong thính chúng. Có một ngày tôi và một số anh chị em được đi theo Thầy gặp nhóm CEO. Nhóm nhỏ thôi, chỉ vài chục người nhưng toàn những người có vai vế đang muốn học thiền và vì Thầy ở trong phòng ngủ mà ông Obama mỗi khi tới vùng đó ở lại, nên chúng tôi được dặn không chụp hình, không tiết lộ thông tin địa điểm. Thầy dạy những điều rất thiết yếu, trả lời một số câu hỏi cho họ rồi dẫn mọi người đi thiền ra khu rừng gần đó. Họ thực tập đi thật hết lòng. Ngày Thầy cho pháp thoại công cộng ở Oakland cũng rất đông người đến nghe. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm mình có pháp thoại công cộng ở vùng này.

Lên lại tu viện Kim Sơn, mười năm mà không có gì thay đổi nhiều ngoại trừ cây lớn hơn. Pháp đường vẫn ngoài trời, vẫn chỗ cũ. Tôi gặp lại được một số người quen. Những em huynh trưởng năm xưa dẫn con lại chào. Anh, em trai tôi cũng dẫn cả gia đình lên nghe pháp và đón tôi về nhà luôn.

Về thăm nhà hai tuần, tôi chỉ chơi thôi. Tôi có mặt trọn vẹn cho mẹ cho ba, rồi lên Kim Quang dạy một khóa tu weekend cho Gia Đình Phật Tử với sư cô Giới Nghiêm, thầy Pháp Uyển và thầy Pháp Khê. Thầy Pháp Uyển giảng cho teen hay lắm. Hình như Kim Quang đã ngỏ ý muốn đặt cọc thầy cho khóa tu năm tới rồi đó.

An Cư

Mùa An cư đúng là mùa trở về. Tôi về lại Làng vừa kịp lễ Đếm Thẻ tối nay, nhập lại vào sinh hoạt của tăng thân. Buổi trưa tôi qua Sơn Cốc chào Thầy. Thầy nằm võng, lắng nghe tôi kể chuyện thăm nhà và chuyện làm khóa tu cho Kim Quang. Rồi Thầy kể chuyện ở Kim Sơn. Thầy đã đi thăm lại chốn xưa ra sao, thấy cốc Thầy thay đổi thế nào. Thầy bảo Thầy đã chỉ khoảng đất năm xưa gia đình tôi đã quỳ làm lễ để “trao sư chị Thoại Nghiêm cho Thầy” cho thị giả thấy. Tôi cảm động khi nghe Thầy nói điều đó. Vì vậy con phải hết lòng với Thầy thôi vì ba má con đã cúng con cho chùa, đã trao con cho Thầy rồi.

Một ngày xuất sĩ tháng Mười Một, buổi trưa tôi theo thầy Pháp Nguyện và một sư em trai về xóm Mới để học cách làm kế toán cho Trung Ương (việc mới của tôi đó bạn hiền), buổi chiều về lại Phương Khê. Vừa bước vào gặp Thầy, Thầy kêu hai chị em qua thư viện rồi Thầy nằm võng, kể chuyện. Mâm cơm của Thầy vừa được thị giả đem qua, Thầy dạy hai chị em ở lại ăn cơm rồi xuống bếp, đích thân làm thêm món scrambled tofu và nướng thêm bánh mì. Mâm cơm nhỏ xíu mà chia cho chín thầy trò, còn gì cho Thầy ăn? Thầy gắp đồ ăn liên tục vào chén đệ tử. Tôi ăn ít mà no vì tiếp nhận tình thương của Thầy.

Tháng Mười Hai, tôi bận rộn làm database cho sách của Thầy. Nhờ có sư em Vỹ Nghiêm từ Học Viện qua cũng thích làm sách nên tôi nhờ cậy được rất nhiều. Gần Noel, Thầy cho câu hỏi: “Ta đã làm gì đời ta?” Câu hỏi nhắc nhở tôi thường trực để nhìn lại mình. Rồi cuối năm, Thầy lại dạy: “Năm mới ta cũng mới.” Tôi đặt thêm câu hỏi cho mình: “Tôi có hạnh phúc với đời mình không?”, “Những gì tôi phải làm mới hơn để có nhiều hạnh phúc hơn?”

Bạn hiền ơi, những câu hỏi đó làm đề mục quán chiếu cho cả năm cũng chưa xong. Những nẻo đường tâm ý quen thuộc không dễ nhận ra và thay đổi, cho tới khi mình được nhắc nhở hay gặp một biến cố gì đó. Và khi tôi đang đánh máy những dòng chữ này để khép lại sổ tay một năm qua, tôi nghĩ tới bạn hiền, tới cơn bệnh mà bạn hiền đang gặp. Tôi gởi tới bạn hiền câu chúc Tết đầu năm của Thầy đây, đơn giản đến mức không có gì đơn giản hơn, và mong bạn hiền ra khỏi nhà thương sẽ là một con người mới nhé, bạn hiền thương quý.

Lễ Đối Thú An Cư

Những điều giản dị

Chân Pháp Cứ

Brothers&Sisters eiabTôi nhớ có lần ở EIAB, trong lúc nói pháp thoại thỉnh thoảng Thầy dừng lại và nâng ly trà lên trong hai tay thật chánh niệm và thưởng thức từng ngụm thật trọn vẹn. Khi quan sát điều đó, tôi thích thú lắm. Tôi tự nhủ là mỗi lần uống trà, tôi sẽ cố gắng thực tập dừng lại để tận hưởng sự mầu nhiệm của sự sống. Bạn biết không? Trước khi trở thành một vị xuất sĩ tôi chưa bao giờ biết thế nào là uống một ngụm trà có ý thức. Trong đầu tôi luôn nghĩ vẩn vơ mọi chuyện, ý thức tôi cứ nghĩ hết chuyện này đến chuyện kia… và những gì tôi uống không phải là trà mà là ý thức vô định.

Điều giản dị đầu tiên mà tôi muốn chia sẻ với bạn là về đời sống xuất sĩ khi ở trong tăng thân. Tăng thân, hai từ này trước đây thật xa lạ với tôi lắm, nhưng bây giờ tăng thân là ngôi nhà đẹp nhất mà tôi không phải tìm kiếm gì thêm nữa… Những gì tôi chia sẻ ra đây là những điều mà chính tôi đã thật sự học hỏi và trải nghiệm được khi may mắn  sống trong tăng thân, nó không đơn thuần chỉ là kể lại mà nó là tâm sự từ sâu bên trong trái tim tôi cho bạn, vì tôi biết bạn chính là niềm vui của tôi, bạn cũng chính là sự sống của tôi. Trước đây trái tim tôi chưa biết thế nào là hiểu, là thương, thế nào là sống bình an cả. Thầy và tăng thân đã thay đổi cuộc đời tôi, bạn ạ! Tất cả đều xuất phát từ những điều giản dị vô cùng mà tôi biết rằng những điều giản dị này bạn sẽ dễ nhận ra ngay trong cuộc sống thường nhật thôi.

Trở lại chuyện uống trà nhé! Mỗi buổi sáng tôi thường thức dậy sớm một chút để có thời gian nấu nước và pha trà, uống trà trong sự thoải mái nhẹ nhàng trước khi đi ngồi thiền. Tôi ngồi yên bên bàn trà nhỏ có Bụt, có nến và hoa. Tôi thưởng thức và cảm nhận niềm biết ơn đến tất cả mọi loài, cảm ơn sự sống đang trang trải trong khoảnh khắc diệu kỳ này. Ly trà không đơn thuần chỉ là ly trà đang ở trong tay bạn, mà nó là cả một quá trình hình thành từ vũ trụ và thế giới ta đang sống đây. Bạn biết không, cơn mưa sáng nay làm mát dịu cả mặt đất, rồi trưa nay trời nắng ấm làm cho nước từ mặt hồ, dòng sông bốc hơi lên bầu trời trong xanh tạo ra những đám mây, rồi từ đám mây đó nó nằm trong ly trà sáng nay của tôi qua cơn mưa, qua nguồn nước. Tôi trân quý sự có mặt mầu nhiệm của ly trà, cảm nhận sự sảng khoái nơi mình và thấy hạnh phúc của việc uống trà không thua gì khi ngồi thiền. Bạn có thấy điều đó nơi ly trà trong tay bạn chưa? Không những vậy đâu, ly trà còn cho tôi bài học của tình huynh đệ. Mỗi lần ngồi uống trà với sư anh, sư chị, sư em, chia sẻ chuyện tu học càng làm cho tình huynh đệ thêm gắn bó. Sự có mặt của ly trà thật tuyệt diệu. Tôi hiểu tại sao Thầy lại thưởng thức trà trọn vẹn như vậy. Bạn thấy, việc uống trà thật đơn giản mà nó cho ta cả một không gian sống bình yên.

Chuyện giản dị thứ hai mà tôi muốn chia sẻ với bạn là đôi dép cũ. Khi sang sống ở Đức, vấn đề vật chất có phần đầy đủ hơn so với những trung tâm mà tôi đã sống trước đây, vì vậy tôi không ngại nói với bạn là tôi có đến năm, sáu đôi giày, dép. Ở Đức trời lạnh nên mình phải có giày mùa Đông, giày mùa Hè .v.v… nhưng tôi không quên đôi dép cũ của tôi. Thường trong suy nghĩ của chúng ta thì có cái mới ta thường quên đi cái cũ. Đôi dép cũ, có lần tôi muốn bỏ nó đi cho rồi, song nhìn lại những chặng đường mà nó có mặt cho tôi khiến tôi thấy trân quý. Nó có mặt cho tôi khi đi thiền hành, nó nâng niu bước chân tôi khi đi qua những đoạn đường sỏi đá, nó giúp tôi đi đâu đó thật dễ dàng. Quá trình mà tôi đi qua, lớn lên thì nó luôn ở bên cạnh. Có lúc giận dũ chuyện gì đó, tôi đi thật nhanh, những bước chân nện vào mặt đất, vậy mà nó vẫn yên lặng chịu đựng. Nếu mà nó biết nói thì… Có lần vào một buổi sáng thức dậy, tôi không thấy nó đâu, tôi tự hỏi lấy gì mà đi bây giờ. Nhìn đi nhìn lại tôi mới nhớ ra là hôm qua tôi để quên nó ở phòng bên cạnh. Lúc đó tôi mới thấy khi không có nó thì ta lúng túng. Tôi đi sang lấy đôi dép về và cảm nhận được bài học về những đồ vật xung quanh mình, chúng thật đẹp và có ích cho ta vô cùng. Không chỉ là đôi dép mà cái áo ta đang mặc, túi đãy ta đang dùng .v.v… tất cả đều có mặt và nâng đỡ cho đời sống của ta thêm tiện nghi, thoải mái, vậy ta đã thật sự trân quý sự có mặt của nó chưa? Với tôi, có lúc tôi muốn bỏ đi đôi dép cũ đó vì thiết nghĩ nó đã hết thời và tôi cần một đôi dép mới thoải mái hơn, đẹp hơn, đắt tiền hơn. Nghĩ như vậy, tôi cho là tôi sẽ hạnh phúc hơn. Khi q.an sát cách sống, cách hành xử của những bậc chân tu, các ngài có cần những tiện nghi, những cái mới thì mới hạnh phúc không? Tôi luôn học từ Thầy qua những lối sống giản dị của Người. Thầy luôn bình thường trong cách sống. Thầy luôn đơn giản về tiện nghi. Nhưng thử hỏi có ai hạnh phúc được như Thầy? Đôi dép của tôi tuy cũ nhưng nó vẫn còn đi được, vẫn còn bảo hộ cho bước chân của tôi trên mọi nẻo đường tôi đi. Giữ lại nó là một quyết định làm tôi thấy hạnh phúc. Nó dạy cho tôi biết đủ, biết trân quý.

Không gian sống thật là quan trọng cho mỗi con người. Nó cho bạn sự tươi vui, cho bạn sự tĩnh lặng… vậy nên trong căn phòng nhỏ của tôi có nhiều cây nhỏ, có nhiều vị Bụt baby, có nến, có trà… đó là không gian sống cho tôi sự bình an. Cách sắp xếp đồ đạc trong phòng giúp tôi thấy rõ sự vận hành của tâm. Thầy luôn dạy ta phải làm sao để biết cách chăm sóc cho căn phòng bên trong của mình, từ điều đó tôi muốn chăm sóc cho căn phòng bên ngoài trước nên mỗi khi dọn phòng tôi không cho đó là công việc mà là sự trở về thực tập với tâm của mình như khi hút bụi, lau chùi, xem như đó thật sự là việc quét, và lau chùi chính cái tâm của mình. Thỉnh thoảng bạn sẽ nghĩ công việc quét phòng ai cũng làm được dễ dàng, do vậy bạn thường không quan tâm và cho đó là công việc thường thôi. Vậy có khi nào bạn tự hỏi bạn đã làm gì thành công trong cuộc sống hằng ngày này? Bạn cho những công việc cao quý như làm văn phòng, dịch  thuật… và cho những công việc nhỏ nhặt như lau chùi nhà là không cần thiết. Tôi không nói rằng nó đúng hay không đúng, mà điều tôi muốn chia sẻ với bạn là trong khi làm những công việc đó bên trong mình có thật sự bình an, tĩnh lặng chưa và công việc gì là công việc cao quý. Từ khi trở thành một người xuất sĩ cho đến nay, tôi đã trải qua những công việc trong tăng thân, từ làm rác, làm tri khố, tri sự… và điều làm tôi thật sự hạnh phúc là không xem đó là công việc, mà tôi xem đó là sự chăm sóc cho bên trong lẫn bên ngoài của tôi và khi về phòng, tôi vẫn không quên công việc quét dọn phòng. Thầy luôn dạy rằng trong tăng thân không có công việc nào là quan trọng nhất cả, tôi thích thú khi nghe điều đó vì thật sự là như vậy. Nếu ta dọn phòng cho có bình an, có thảnh thơi thì hạnh phúc hơn nhiều so với những ai làm công việc cho là cao quý mà không có sự bình an, thanh thản… Sự giản dị trong cách sống luôn cho ta nhiều niềm vui hơn là việc có quá nhiều tiện nghi phải không bạn? Và công việc dọn phòng là điều giản dị thứ ba mà tôi muốn chia sẻ với bạn.

Sau cùng tôi muốn chia sẻ với bạn là vấn đề tiện nghi trong cách sống và cái gì cho bạn hạnh phúc thật sự. Trong chiều sâu tâm thức của tôi cũng có nhiều hạt giống của đòi hỏi, tham muốn. Có khi tôi nghĩ tôi phải có cái này, phải có cái kia mới hạnh phúc, sự đòi hỏi bên trong của tôi bắt đầu nảy sinh. Cái muốn làm tôi tìm cầu thật nhiều, chính điều đó làm cho tôi đánh mất nhiều thời gian. Cái gì nhỉ? Cái laptop xịn, cái máy nghe đời mới v.v… Những tiện nghi đó bên ngoài người ta đã đánh đổi bằng thời gian, tiền bạc để có nó. Vậy tôi là người xuất sĩ mà cũng muốn tìm cầu như vậy thì có khác gì người thế tục đâu. Tôi tự nghĩ điều quan trọng là phải biết đủ, và phải biết cách nắm lấy thời gian, nuôi dưỡng lòng thương, đi thế nào cho tự do thì đó mới là tiện nghi của người xuất sĩ. Sự đơn giản trong cách sống làm cho tôi thấy nhẹ nhàng hơn nhiều, không vướng bận nhiều vào tiện nghi để rồi cái đẹp tinh khôi dần biểu hiện. Tôi ý thức những máy móc rất cần để giúp cho mọi người có phương tiện học hành, nghiên cứu. Nhưng cái cần hơn là sự thực tập biết đủ và giản đơn.

Những điều giản dị, chúng ta có thể nhận ra trong cuộc sống hằng ngày. Khi bạn thức dậy, xếp lại cái mền, lúc bạn đánh răng, lúc bạn uống trà hay lúc bạn dọn phòng .v.v… đều là những công việc thật bình thường phải không? Song có khi nào bạn tự hỏi bạn đã làm nó trong ý thức chưa, bạn đã thật sự ở đó cho những điều giản dị bình thường đó chưa? Khi nhìn Thầy đi, Thầy uống trà, Thầy ăn cơm .v.v… trông cũng giống như bao nhiêu người khác, nhưng điều làm tôi thấy và cảm nhận được là năng lượng bình an, nhẹ nhàng, thanh thản từ Thầy, trông có vẻ đơn giản nhưng không đơn giản chút nào và tôi biết rằng tôi vẫn chưa làm được như vậy.

Không gian của thanh thản, sức mạnh của hiện tại, giây phút của bình an nó ở trong cách sống và lòng tin của bạn vào chính bạn. Không ai khác cho bạn điều đó khi chính bạn không chịu bước ra khỏi ngưỡng cửa của ràng buộc, lo toan. Với tôi thì những điều giản dị của cuộc sống hằng ngày cho tôi một phần nào đó sự bình an vì tôi biết rằng đó chính là giây phút trở về thật sự để yêu thương, để chăm sóc cho tự thân. Trước đây tôi cứ hay than vãn, trách móc khi thấy ai đó hành xử không dễ thương, tự hỏi tại sao người đó lại như vậy. Bây giờ tôi nhận ra rằng đời sống thực tại này đẹp vô cùng và hầu hết thời gian trong ngày ta làm những công việc bình thường đơn giản. Và tôi chia sẻ với bạn, khi nhận ra điều này tôi bắt đầu có ý thức nhiều với giây phút hiện tại, bởi những gì tôi đang làm trong giây phút này chính là sự sống, là hiểu biết, bao dung. Do đó tôi không còn để ý và quan tâm nhiều đến những sai trái của người khác, bởi vì chính tôi còn chưa chăm sóc tốt cho chính mình thì than vãn trách móc người khác há chẳng phải là vô lý sao? Khi hơi thở của bạn bắt đầu có ý thức, thì tự nhiên món quà của hiện tại sẽ chào đón bạn. Bạn đừng lo nghĩ nhiều mà hãy bắt đầu học cách chăm sóc cho chính bạn. Những điều giản dị sẽ làm cho con người của chúng ta trở nên thanh cao; nó chính là cử chỉ, lời nói và cách hành xử của chính chúng ta. Xin đừng xem thường bất cứ điều gì, dù là nhỏ nhất, bởi tất cả đều là cơ hội cho mỗi chúng ta trở về, phải không bạn?

Vẫn một niềm thương

Chân Chuẩn Nghiêm

 

Hôm nay khi lật xem cuốn lịch năm mới 2014, con thấy có hình cổng Tam Quan, nhà Thủy Tạ và hồ Sao Mai, con bỗng nhớ tới chùa Tổ và Diệu Trạm quá chừng. Vậy nên con xin viết đôi dòng cho bớt nhớ. Những tháng ngày con ở Diệu Trạm, Từ Hiếu không quá nhiều nhưng cũng không quá ít, chừng đó đủ để cho con nhớ và thương. Đó là những tháng ngày thật đẹp. Con thương mùi hoa Sứ, nhớ mùi hoa Mưng và nhớ những buổi ngồi chơi của hai chúng. Càng viết thì bao nhiêu kỉ niệm càng hiện ra rõ ràng hơn trong con.

Nhớ mùa hoa Sứ

Vẫn một niềm thươngBên cạnh hồ Bán Nguyệt có rất nhiều cây bông Sứ. Cây đã nhiều tuổi, thân xù xì nhưng vẫn cho rất nhiều hoa. Con không nhớ chính xác là hoa nở vào tháng mấy nhưng đó là những ngày nắng và khô. Vào những ngày quán niệm, chúng con được qua chùa Tổ sớm để sắp xếp thiền đường. Không gian ở chùa Tổ vào buổi sớm mai thật yên tĩnh và mát mẻ. Trên đường từ Diệu Trạm qua Từ Hiếu chúng con đã lượm rất nhiều hoa Sứ để trang trí thiền đường. Ngày thứ Năm, đại chúng được ăn cơm vòng tròn, giữa vòng tròn rải đầy hoa Sứ, thỉnh thoảng có những chữ “thở” và “cười” được kết bằng hoa Sứ thơm lừng.

Vào những đêm trăng sáng, đại chúng được thiền trăng bên nhà Thủy Tạ hay hồ Sao Mai. Hương hoa Sứ tỏa ra ngào ngạt, chị em con chỉ muốn ngồi đó mãi để thưởng thức ánh trăng. Nhưng đâu có được, phải về thôi, trễ rồi! Có những hôm quý sư cô được ngồi thiền trên sân thượng của thiền đường Ni xá Diệu Trạm. Hương cau nhè nhẹ quyện cùng hương hoa Sứ dưới ánh trăng đem lại cho chúng con một cảm giác thanh bình chi lạ. Có lẽ nhờ vậy mà mùi hoa Sứ đi vào trái tim con và tất cả mọi người.

Thương mùa hoa Mộc

Một hôm khi đi làm cỏ cho luống hoa ngoài thiền đường Trăng Rằm, xóm Mới, con đã sững người khi ngửi thấy mùi hoa Mộc. Con tự hỏi: “Mùi hoa Mộc ở đâu thế nhỉ? Không lẽ mình đang đứng ở Từ Hiếu?” Đưa mắt nhìn lên, con thấy có một cây hoa Mộc thật và trên cành có mấy chùm hoa. Con đứng nắm lấy lá cây một lúc lâu và thầm cảm ơn cây, bỗng nhiên hình ảnh hai cây hoa Mộc trước chánh điện Từ Hiếu như đang hiện ra trước mắt con.

Cây Mộc ở Từ Hiếu đã nhiều tuổi nhưng còn xanh tốt lắm. Ôn và quý thầy chăm cây rất kỹ. Mùa hoa Mộc về thì trên cây chi chít những hoa. Hoa Mộc thường để dành cúng Bụt. Hương của hoa Mộc mới đặc biệt làm sao, vừa nhẹ nhàng, vừa thanh thoát. Con nhớ những ngày quán niệm, Ôn thường dẫn đại chúng thiền hành qua sân chánh điện làm các bạn mới tới phải hỏi nhỏ: “Mùi gì mà thơm thế?” Chúng con không nghe tiếng trả lời, chỉ thấy có cánh tay chỉ về hướng cây hoa Mộc. Chị em con cũng rất thích mùi hoa Mộc nên thỉnh thoảng cũng “xin” hái trộm vài chùm rồi bỏ túi áo cho thơm. Có lẽ vì thế mà dù đã đi xa, con vẫn nhớ mãi mùi hoa Mộc.

Trái bùi kho

Cây bùi được trồng khắp nơi trên đất Tổ. Con nhớ có một năm, bùi sai trái rất nhiều. Hôm ấy mới sáng sớm mà quý thầy đã gọi điện cho sư cô tri sự chia người qua để lượm bùi. Chị em con mừng quá mang bao nhiêu là rổ để lượm. Thì ra chiều hôm trước quý thầy trèo thang để hái, các điệu thi nhau lượm những trái rụng dưới đất nhưng vẫn còn nhiều quá, vậy là phải nhờ quý sư cô qua lượm phụ. Nhìn những trái bùi tròn mẫn, đen lánh, đẹp mắt, chưa cần kho con đã thấy ngon rồi. Ở chùa Tổ, mỗi khi cúng kị mà đương mùa bùi thì nhất định là phải có một đĩa bùi kho. Trái bùi đem ngâm tro bếp rồi lấy ra kho thì ngon tuyệt.

Cơm vỉa hè

Nhớ thời còn đi học, con thường nghe nói tới “cơm bụi” là cơm dành cho sinh viên nhà nghèo. Vì cơm ăn ở các quán vỉa hè, bụi bặm nhiều bởi xe cộ qua lại nên mới gọi là “cơm bụi”. Bây giờ vô chùa rồi, vào những ngày làm biếng có ăn cơm picnic, chị em con lại được ăn cơm “vỉa hè” với nhau. Khi chuông báo giờ khất thực vang lên, chị em con bưng bát đi liền. Vỉa hè của chúng con là hành lang dọc các phòng của ni xá Diệu Trạm. Cơm vỉa hè dù chỉ có bún, xì dầu và rau thôi nhưng vui lắm, làm con cứ nhớ mãi. Chỉ cần chị em có mặt cho nhau, con thấy vậy là đủ lắm rồi.

Nhớ ngày Tết Đoan Ngọ năm ngoái, chị em con đang cùng nhau ăn cơm “vỉa hè” thì quý thầy bên chùa Từ Hiếu gọi điện thoại bảo chúng con qua lấy chè kê về ăn vì quý thầy lỡ nấu hơi nhiều. Vậy là hai em tập sự nữ qua mang về tới… một xô. Ăn không hết, chúng con bỏ vô tủ đá làm kem, vài ngày sau lấy ra ăn vẫn ngon như thường. Giờ nhắc lại làm con bỗng thấy thèm chè hạt kê quá!

Bữa cơm hình chữ U

Một hôm vào ngày quán niệm thứ Năm, quý sư cô Diệu Trạm qua Từ Hiếu nấu ăn vì đại chúng được ăn chiều chung bên Từ Hiếu. Sau giờ cơm trưa, con nghe nói Thầy Mãn Phước đã xin phép Ôn cho các điệu ở Từ Hiếu ăn chung với tập sự ở Diệu Trạm tại sân trước thư quán. Quý thầy, quý sư cô thì tùy hỷ tham dự, khi đi xin mang theo bánh kẹo, con thật vui khi nghe tin này. Con chẳng có bánh, chẳng có kẹo nhưng vẫn được vô ăn chung. Chiều hôm đó, không biết vô tình hay cố ý mà chiếu được trải thành hình chữ U, các điệu ngồi một bên và các em tập sự ngồi một bên. Thầy Mãn Phước đã xin được tiền để đãi các em ăn bánh kẹo, trái cây và uống nước mía. Sau bữa ăn chiều là chương trình văn nghệ. Hồi đó em Diễm Quỳnh (là sư em Trăng Tỏ Tường bây giờ) nhỏ tuổi nhất Diệu Trạm nhưng đã chơi và hát rất dễ thương và hết lòng. Lúc đó có vài vị khách nước ngoài đi tham quan, họ thấy đại chúng chơi vui quá nên đã dừng lại xem. Chúng con hát tặng cho họ vài bài hát bằng tiếng Anh làm họ hạnh phúc quá chừng. Cuộc chơi còn dài nhưng tiếng chuông đại hồng vọng lên nên chúng con nghỉ. Đại chúng cùng nhau dọn dẹp mà lòng vui phơi phới.

Nước mía chùa

Lòng con vui như mở hội mỗi khi được tham dự ngày quán niệm mà tăng thân ban tặng. Con nhớ có một hôm, thầy Từ Giác thông báo cho đại chúng biết là sau giờ pháp đàm buổi chiều, mời đại chúng tập trung về nhà xe để uống nước mía. Thế là sau giờ pháp đàm đại chúng chưa về lại xóm liền mà đi uống nước mía… miễn phí.

Con không biết là thầy Từ Giác “tậu” được máy xay nước mía ở đâu và chuẩn bị mía từ bao giờ, lên tới nơi thì đã thấy thầy đứng xay nước mía cho đại chúng rồi. Mía đã được làm sạch, chỉ cần cho vào máy và trong nháy mắt đã có một ly nước mía thật thơm, thật mát. Huế đang mùa nắng, dưới cái oi bức của mùa Hè mà được uống ly nước mía mát lạnh thì hạnh phúc biết bao. Tay thầy làm nhanh thoăn thoắt, thầy còn xay cả trái tắc cho nước mía thêm ngon. Đại chúng chỉ cần đứng chơi mà cũng có nước mía để uống. Nhà xe bỗng dưng trở nên vui như hội. Mỗi người một ly, đứng uống nước mía mà tiếng cười của đại chúng như phá tan đi cái nóng của mùa Hè. Nhìn thầy Từ Giác lưng áo đẫm mồ hôi, thầy mang chiếc tạp dề cũ nhưng cười rất tươi, thầy làm việc không biết mệt là gì để hiến tặng hạnh phúc cho đại chúng. Con thầm cảm ơn đại chúng, cảm ơn thầy Từ Giác đã cho con những giây phút thật tuyệt vời.

Nhớ thuở còn cắp sách tới trường, con thường ao ước: “Ước chi mình cũng được uống ly nước mía trong quán giải khát như những đứa bạn nhà giàu.” Nhưng con chỉ nhìn bạn bè uống nước mía thôi chứ chẳng dám vô quán vì tiếc tiền. Nhà nghèo, có cơm để ăn, có tiền đóng học là hạnh phúc lắm rồi. Nay đi tu, con được uống nước mía mà không phải mất tiền vì là nước mía… chùa.

Đẹp sao mùa hoa Mưng

Mỗi khi mùa hoa Mưng về, chùa Tổ vốn đã đẹp lại càng thêm đẹp, thơ mộng và hiền hòa. Năm cây hoa Mưng quanh hồ Sao Mai đã hiến tặng cho đại chúng những giây phút thật tuyệt vời. Vào mùa này, chị em chúng con thường qua chùa Tổ sớm để tranh thủ ngắm hoa Mưng trước khi vô thiền đường Trăng Rằm nghe pháp thoại. Buổi sáng sớm chùa Tổ mới đẹp làm sao! Những bông hoa Mưng nở tối qua rụng xuống đầy mặt nước và cả trên cầu của hồ Sao Mai. Giờ thiền hành, đại chúng hay được ngồi nghỉ quanh hồ Sao Mai. Các em nhỏ vốn đã dễ thương mà khi đưa mặt mình vô trong những chùm hoa mưng thì các em lại càng thêm xinh xắn như những thiên thần.

Nụ hoa Mưng mang màu xanh hiền dịu. Hoa nở, cả cây như được khoác trên mình một chiếc áo màu hồng đỏ. Những bông hoa nho nhỏ nhưng rất nhiều đã làm nên một bức tranh kỳ diệu. Đứng từ xa nhìn lại thì thấy cây hoa Mưng kiều diễm như một nàng tiên đang soi mình bên hồ nước. Đại chúng gọi hoa là chuỗi ngọc trời cho. Con nhớ một hôm trong mùa An cư, sau ngày quán niệm, Ôn đã cho phép chị em con ở lại chùa Tổ để chơi hội hoa Mưng. Khi màn đêm bắt đầu buông xuống, thầy Pháp Thủy mở đèn chiếu lên cây hoa Mưng, đại chúng cùng ồ lên kinh ngạc vì cảnh hồ đẹp quá. Hoa Mưng đã đẹp, dưới ánh đèn lại càng thêm rực rỡ. Hôm đó là tối mùng 3 nên bầu trời không có trăng, chỉ có một vài ngôi sao nhưng rất sáng. Dưới gốc cây Mưng, đại chúng cùng nhau uống nước mía, ăn chôm chôm và chơi với nhau trong tình huynh đệ. Vì là đang trong Hạ, đại chúng ai cũng ý thức rõ điều này nên huynh đệ chỉ ngồi chơi, nói chuyện với nhau, không có hát hò như những lần ngồi chơi khác, nhưng không vì thế mà mất đi niềm vui. Đại chúng đã kể chuyện cho nhau nghe. Mỗi câu chuyện là một bài học quý cho bản thân con. Hoa Mưng đẹp, vẻ đẹp thanh thoát đem lại cho con người một niềm tin yêu cuộc sống.

Khi thùng nước mía thứ nhất hết, thầy Từ Giác kêu mấy em thiền sinh nam lên xay mía tiếp. Hè đó, chùa Tổ tiếp nhận gần 30 em thiền sinh đến tu học. Các em chủ yếu là con em của những người quen, cũng có em quê ở Đăklăk, em trai của sư cô Khuyến Nghiêm. Các em rất ngoan, biết vâng lời quý thầy. Diệu Trạm cũng tiếp nhận 9 em cư sĩ nữ. Các em đến từ nhiều miền khác nhau nhưng các em chơi với nhau rất dễ thương. Cứ chiều chiều tới giờ thể thao, ni xá rộn vang tiếng cười đùa của các em.

Vẫn biết rằng theo dòng thời gian, mọi thứ đều thay đổi nhưng những kỉ niệm đẹp trong con sẽ còn mãi, còn hoài. Mọi người ai cũng yêu thương chùa Tổ vì chùa Tổ chứa đựng những cái mà nơi khác ít khi có được. Chùa Tổ đã là nơi nương tựa và nuôi lớn biết bao người con của Bụt. Những kỉ niệm đẹp về Từ Hiếu, Diệu Trạm trong con còn nhiều lắm. Con không biết kể đến khi nào cho hết, diễn đạt như thế nào cho thỏa. Con chỉ thấy rằng mỗi khi nghĩ về đất Tổ thì trong con lại dâng lên niềm vui của tình huynh đệ. Con kính gửi về Huế nguồn năng lượng an lành.

Thiền ca bắc một nhịp cầu

Sư cô Trăng Hải Ấn
BBT Chuyển ngữ từ tiếng Anh


Sư cô Chân Trăng Hải Ấn hiện đang sống và thực tập ở xóm Hạ, Làng Mai, Pháp Quốc. Trước khi xuất gia, sư cô là sinh viên trường múa và nhạc kịch ở Montreal, dạy yoga và làm việc cho nhiều giáo xứ Unitarian gần Toronto. Sư cô cũng rất thích cùng bạn bè trồng nhiều cải xoăn ở mảnh vườn trước sân nhà.

 

sư cô Hải ẤnGia đình bên nội tôi theo đạo Cơ đốc, bên ngoại theo đạo Tin lành. Vì vậy mà từ nhỏ, tôi đã được đi học trong một trường Cơ đốc giáo và cũng hay đi lễ ở nhà thờ Tin lành. Tôi chẳng còn nhớ gì nhiều từ những lớp học Giáo lý, duy chỉ có ba điều làm cho tôi thích đi nhà thờ mà tôi vẫn còn nhớ tới bây giờ.

Chuyện đi nhà thờ trở nên thú vị đối với tôi một phần là vì ở đó có giờ cà phê, “coffee hour”, đó là giờ mà mọi người cùng uống cà phê, ăn bánh và trò chuyện với nhau. Tôi đặc biệt thích ăn bánh, vì ở nhà mẹ tôi hiếm khi cho chúng tôi ăn đồ ngọt. Mẹ muốn chúng tôi có một sức khỏe lành mạnh. Vì vậy mà tuần nào tôi cũng trông ngóng đến giờ cà phê ở nhà thờ.

Điều thứ hai khiến tôi yêu thích nhà thờ là được chơi với những đứa trẻ khác sau giờ hành lễ. Chúng tôi tha hồ bò lăn bò toài dưới những hàng ghế, giả bộ như đang đào đường hầm dưới lòng đất và khám phá những thế giới mới lạ. Điều thứ ba mà tôi thực sự yêu thích đến nhà thờ là được hát thánh ca, một phần của các buổi lễ. Là một đứa trẻ, tôi phải học chơi đàn piano nhưng chưa bao giờ tôi thích thú chuyện đó. Ấy vậy mà cơ hội được hát trong một nhóm đông lại trở thành nguồn vui rất lớn đối với tôi.

Khi lớn lên, ở tuổi thiếu niên, tôi không còn yêu thích đạo Thiên Chúa (Christianity) như trước nữa. Nhưng tôi biết có một điều gì đó quan trọng đã xảy ra khi mọi người đến với nhau để cùng chăm sóc cho đời sống nội tâm của chính mình. Cũng vì điều này mà tôi bắt đầu tìm kiếm một con đường tâm linh. Hành trình tìm kiếm đó cuối cùng đã đưa tôi đến với đạo Bụt và đến với Làng Mai – nơi tôi được học rất nhiều phương pháp thực tập như ngồi thiền – ngồi yên và không làm gì cả, chỉ ngồi cho vui thôi (just for the fun of it), dừng lại khi nghe chuông, sử dụng thi kệ, pháp đàm và… hát thiền ca.

Mới đầu khi hát những bài như “Thở vào, thở ra”, tôi thấy hơi buồn cười, nhưng dần dần tôi lại yêu thích bài hát đó. Những bài thiền ca làm sống lại sự hồn nhiên mà dường như tôi đã quên lãng từ lâu. Càng hát, tôi càng dễ mở lòng ra để cho năng lượng của những bài thiền ca đi vào trong tôi, làm cho tôi nở ra như một đóa hoa và vững chãi như đất Mẹ.

Hát thiền ca làm cho những câu thực tập thấm sâu vào tim tôi hơn là đọc hoặc tư duy về chúng. Có đôi khi, những bài thiền ca cứ văng vẳng trong tâm trí tôi không ngừng. Nhưng ngay cả những lúc như vậy nó vẫn rất hữu ích, bởi mỗi khi tôi bị phân tâm và trở về lại với chánh niệm thì trong tôi lập tức vang lên lời bài hát “Đã về, đã tới, bây giờ, ở đây”.

Mùa Đông đầu tiên ở Làng Mai có một ý nghĩa quan trọng đối với tôi, một phần là vì trong thời gian đó cảm hứng sáng tác âm nhạc bắt đầu biểu hiện trong tôi. Tôi đã không hoạt động âm nhạc đến hơn mười năm rồi, vậy mà bỗng nhiên những giai điệu, lời ca không hiểu từ đâu lại đi lên trong tôi. Đôi khi tôi nghe có nhạc trong lời giảng pháp của Thầy, thí dụ như “Nó đây rồi! Giây phút hạnh phúc đây rồi.” (This is it! This is a happy moment.)

Có khi cảm hứng đi lên từ một buổi pháp đàm hoặc một bài kinh. Nghe có vẻ như là một chuyện thần kỳ nhưng bây giờ nhìn lại, tôi thấy khá bình thường, bởi vì Làng Mai là một nơi đầy ắp năng lượng chánh niệm và sáng tạo – nguồn năng lượng này đã được chế tác và gìn giữ trong mấy chục năm qua. Nhiều khi tôi có thể nếm được hương vị đó ngay cả trong bầu không khí tôi thở. Trong truyền thống Thiền, hầu hết các thiền sư đều là những nhà thơ, nhà nghệ sĩ – chính Thầy chúng tôi là một điển hình tuyệt vời và là một nguồn cảm hứng lớn lao đối với rất nhiều người.

Đã bảy năm trôi qua kể từ ngày đầu tiên tôi đặt chân đến Làng và hát nhạc thiền vẫn là một thực tập đầy nuôi dưỡng cho tôi. Nó giúp tôi bày tỏ những phút giây hạnh phúc và tuyệt diệu mà tôi trải nghiệm, giúp tôi nhìn thật sâu vào nỗi khổ niềm đau, giải tỏa những năng lượng bị bế tắc, đem mọi người lại với nhau và còn nhiều nhiều nữa.

Sáng tác thiền ca cũng đã trở thành một pháp môn có tác dụng rất lớn cho tôi. Tôi thấy khi mình gắng sức để sáng tác, âm nhạc sẽ trở nên gượng ép và tôi không thấy thích thú chi cả. Thế nhưng khi tôi chỉ ngồi yên để lắng nghe, lắng nghe và chỉ lắng nghe thôi thì tự nhiên một cái gì đó thật đẹp bỗng đi lên trong không gian yên lắng đó. Cuộc sống cũng giống y như thế! Những giai điệu, lời ca, những cảm xúc muốn được tỏ bày… những cái đó đều cần sự chú tâm, cũng như thời gian và không gian để biểu hiện.

Sáng tác nhạc là một hình thức quán chiếu và là một phương thức hiệu nghiệm để nuôi dưỡng niềm vui. Nó cũng là một cơ hội để ta thực tập buông bỏ. Buông bỏ ý muốn viết một bài hát thật hay, buông đi sự cố công hoàn thành một việc chưa đủ điều kiện để hoàn thành, buông đi những ý kiến tuyệt vời nảy ra trong lúc ngồi thiền… Tôi có quá nhiều cái để buông!

Cống hiến một khúc nhạc, một bài hát cho tăng thân cũng là cơ hội để tôi thực tập lắng nghe sâu, thở sâu và chuyển hóa sự bất an. Tôi nhận ra chúng khi chúng vừa phát khởi và nói: “Chào anh bạn hồi hộp! Tôi thấy anh rồi! Đây, anh hãy cùng thở với tôi nhé. Không đáng sợ lắm đâu – chúng mình cùng hát với nhau nhé!” May mắn thay, tăng thân bao giờ cũng yểm trợ tôi rất hết lòng. Còn nơi đâu an toàn hơn tăng thân nữa?

Trở lại với âm nhạc giúp tôi nối lại được sự liên hệ với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình, nhất là mối quan hệ với mẹ tôi. Mẹ không bao giờ làm gì để tôi phải áy náy vì việc bỏ học piano, nhưng khi thấy tôi bắt đầu chơi đàn ghi ta để đệm nhạc cho các bài hát, mẹ vô cùng hạnh phúc! Mẹ và tôi bắt đầu cùng nhau chơi nhạc và nhờ thế giữa hai mẹ con có một tình bạn rất thắm thiết. Mỗi khi hát hợp xướng, tôi hay nhớ lại lúc bé đứng cạnh mẹ trong nhà thờ và lắng nghe giọng nữ trầm của mẹ. Giờ đây mẹ tôi không còn biểu hiện bằng hình hài nữa, nhưng mẹ vẫn còn đang rất sống động trong tôi, nhất là lúc tôi cất tiếng ca.

Thực tập thiền lạy giúp tôi thấy rất rõ tình yêu âm nhạc của tôi được trao truyền từ nhiều thế hệ tổ tiên, không chỉ từ mẹ mà thôi. Bà ngoại của tôi đã từng hát và chơi piano trong một ban nhạc jazz. Anh ruột của bà ngoại từng dạy opera. Bà cố ngoại của tôi cũng là một giáo viên dạy piano. Trong số anh chị em họ của bà ngoại cũng có người là nhạc sĩ chuyên nghiệp… Âm nhạc luôn là một phần thân thiết của gia đình bên ngoại tôi. Vì thế, một cách thật tự nhiên, âm nhạc cũng trở thành một phần thân thiết của cuộc đời tôi.

Âm nhạc cũng là một phần quan trọng của tổ tiên Thiên Chúa giáo trong tôi, cho dù tôi đã chối bỏ gốc rễ này khi còn ở tuổi thanh niên. Nếu trong lời một bài hát có hai chữ Thượng đế, tôi liền đổi lời ngay để hát tránh đi hoặc không hát luôn. Đi ngang qua một nhà thờ luôn làm tôi co rúm lại vì nó gợi cho tôi hình ảnh của những ngôi trường nội trú Cơ đốc giáo (Inquisition and Indian Residential Schools). Nhờ sự thực tập mà tôi đã chế tác được lòng từ bi để thông cảm cho những khổ đau gây ra bởi các thể chế của nhà thờ Công giáo. Tôi vẫn còn tiếp tục thực tập để buông bỏ những thái độ thành kiến với Thiên Chúa giáo.

Giờ thì tôi đã thích hát thánh ca, đã tìm thấy ý nghĩa và tình yêu trong hai chữ Thượng đế. Trong hai mùa Đông vừa qua, tôi tham gia vào dàn đồng ca xuất sĩ của Làng Mai. Chúng tôi đã tạo thành một dàn hợp xướng bốn bè để hát những bài thánh ca truyền thống cúng dường tăng thân và hàng xóm của Làng nhân dịp Giáng sinh. Khi hát những bài thánh ca rất xưa ấy, tôi thực sự cảm thấy ông bà tổ tiên đang có mặt một cách sống động và đang mỉm cười trong tôi.

Một số anh chị em tôi trong tăng thân thậm chí còn đi dự lễ Giáng sinh tại một nhà thờ Chính thống giáo (Orthodox) gần nhà. Tôi không lớn lên trong truyền thống này, nhưng vì lễ hôm đó có hát thánh ca nên tôi thấy rất quen thuộc. Sự thay đổi ấy trong tôi đích thực là một sự thần kỳ!

Bây giờ khi đã xuất gia rồi, thậm chí tôi còn tâm đắc hơn với việc dùng âm nhạc để xây dựng tăng thân. Dù đó là tụng một bài kinh hay hát thiền ca: “Tôi là một đám mây, tôi là bầu trời xanh..,” năng lượng tập thể khi hát cùng nhau làm tâm thức chúng ta hợp nhất. Sự rung động của âm nhạc còn làm chúng ta hợp nhất về mặt vật lý. Trong khóa tu dành cho người trẻ mùa Hè vừa qua, trước pháp thoại, chúng tôi hay cùng nhau hát thiền ca. Chúng tôi rất vui tươi và hát những bài hát đầy năng động, nhưng một khi tất cả đã đi vào trong sự hòa điệu thì những bài hát dễ dàng được hát với một năng lượng bình an, bởi vì tất cả mọi người đều cùng chung một tầng số xung động (vibration).

Cũng như những thứ khác, ca hát có thể là một công cụ để giúp ta thực tập hay hơn, nhưng nếu không khéo, nó cũng làm cho ta dễ bị lôi kéo đi. Thực tập theo giới thứ 5 của Năm giới, chúng ta ý thức rằng mình cần phải tiêu thụ như thế nào để sự bình an và niềm vui trong ta được nuôi dưỡng hàng ngày. Vì vậy, khi nghe hoặc chơi nhạc, tôi luôn cố gắng dừng lại và tự hỏi: “Những gì tôi đang nghe hoặc đang chơi có nuôi dưỡng niềm vui, sự bình an, hiểu biết và tự do trong tôi hay không?” Điều này không có nghĩa là tôi phải khép mình vào kỷ luật, mà thay vào đó, tôi thấy đây là một cơ hội để tôi càng ngày càng trung thực với chính mình hơn và ý thức hơn về tác động của những thứ mà tôi thường tiêu thụ.

Tùy vào từng thời điểm mà mỗi bài hát có ảnh hưởng khác nhau đối với tôi. Khi tôi đang hạnh phúc, một bài hát nhẹ nhàng như “Khi tôi đi trên con đường tuyệt vời này” (When I walk on this lovely path) sẽ làm cho hạnh phúc đang có trong tôi trở nên tươi mới hơn. Khi tôi buồn, một bài hát như “Hãy gọi đúng tên tôi” (Please call me by my true names) sẽ rất hữu ích, bởi vì nó nhắc tôi nhớ rằng “nỗi đau và niềm vui là một.” Đôi lúc tôi cũng cần được đi ra một chút, bài hát “Ánh sáng nhỏ của tôi” (The Little Light of Mine) sẽ giúp tôi trở lại làm cô bé con đi học ngày Chủ nhật (Lớp học giáo lý chủ nhật ở trường Cơ đốc giáo).

Những thực tập căn bản như hơi thở ý thức, thiền hành, dừng lại để lắng nghe chuông là những pháp môn mà tôi sử dụng hàng ngày, rất nhiều lần trong ngày. Đó là những người bạn luôn kề vai sát cánh bên tôi. Tôi cũng dành thì giờ để chuyện trò, học hành, vui chơi và ca hát. Khi mới tới Làng, tôi không hề biết đây là một tăng thân Phật giáo yêu thích âm nhạc, tôi cũng không biết sự có mặt của một tăng thân như vậy là một điều rất hiếm hoi. Tôi cảm thấy mình thật may mắn đã tìm thấy Làng Mai. Tôi đã gặp một số người lớn lên trong truyền thống đạo Bụt nhưng lại đi lễ nhà thờ chỉ vì họ thích thánh ca. Khi tìm ra Làng Mai, những người này vô cùng hạnh phúc bởi vì họ có thể trở về với gốc rễ tâm linh đạo Bụt mà vẫn được hát ca. Tôi cũng có cùng một tâm trạng như họ!

Giờ đây khi nhìn lại, tôi có thể thấy nhà thờ của tôi thời niên thiếu và tu viện mà tôi hiện đang sống không khác nhau gì mấy. Trên thực tế, cả hai liên hệ với nhau một cách rất mật thiết. Tôi vô cùng biết ơn việc mình đi nhà thờ trong những năm tháng còn thơ ấu, không phải chỉ vì những chiếc bánh ngọt. Sự hết lòng của tôi đối với đời sống tâm linh, tình thương dành cho tăng thân, và niềm tin vào sự giác ngộ đều có gốc rễ từ gia đình và từ nhà thờ. Mỗi khi tôi hát thiền ca, tôi có thể nghe tiếng nói của tổ tiên: “Đúng rồi, đúng là nó rồi.” (Yes, that’s it!).

Tôi không thể tìm ra được Làng Mai nếu không có nhà thờ và tôi không thể trở lại với âm nhạc và tình yêu của Chúa nếu không có Làng Mai. Nếu có ai đó nói với tôi như vậy khi tôi còn ở tuổi thiếu niên, tôi sẽ không bao giờ tin họ. Thế nhưng đó lại là sự thật. Cuộc sống thật là kỳ diệu, có phải thế không bạn?

Amen!

Gặt hái chính là con đường

Nông trại hạnh phúc tại Làng Mai

Stuart Watson

Stuart Watson – Chân Từ Đạo, đến từ Edinburgh, Scotland là cư sĩ thường trú tại xóm Thượng được 5 năm. Anh thọ giới Tiếp Hiện tại gia năm 2009. Ước nguyện của anh là tiếp tục ở Làng Mai, thực tập có mặt cho sự sống và duy trì Nông Trại Hạnh Phúc. Bài viết đã được chuyển ngữ từ tiếng Anh.

 

Vào tháng 11 năm 2012, hai vị cư sĩ cùng với con về xóm Thượng, Làng Mai và bắt tay vào công trình Nông Trại Hạnh Phúc (NTHP – the Happy Farm project). Anh Keith Smith, một nhà Toán học đến từ Glasgow (Scotland), lúc ấy đang tìm kiếm một hướng đi mới với thiền tập và sinh môi làm trọng tâm. Anh Daniel Dermitzel, một nông dân trồng trọt theo phương pháp hữu cơ và là nhà giáo từ Kansas City (Hoa Kỳ), đã trải qua những thử thách và áp lực trong thời gian kiếm sống bằng nghề nông. Công trình NTHP là một lời mời cho tất cả chúng con đem sự thực tập chánh niệm vào ngành nông nghiệp. Anh Keith, Daniel và con được thầy Pháp Liệu tặng biệt danh là ba chàng Ngự Lâm Pháo Thủ (The 3 Musketeers) vào dịp Tết năm trước. Con không rõ thầy ấy có thấy những gì tương đồng giữa chúng con và ba hiệp sĩ kia không (hay có lẽ chỉ vì con số 3), tuy nhiên thú thật thì con rất thích cái biệt danh này.

Sự gặt hái chính là con đường

Một buổi sáng trong dịp Tết, thầy Pháp Liệu tổ chức bói Kiều. Ở Làng tập thơ truyện Kiều được sử dụng để bói, mỗi tấm thiệp trong phong bì đỏ đều có hai câu Kiều. Các thầy, các sư cô cũng có sử dụng truyện của Victor Hugo cho các thiền sinh nói tiếng Pháp và truyện của Shakespeare cho các vị nói tiếng Anh. Các phong bì này được đặt vào trong ba cái chuông, theo ngôn ngữ.

Trong buổi bói Kiều, đại chúng tập họp vào thiền đường và Sư Ông hoặc một thầy lớn mời một thiền sinh lên để xin quẻ. Vị này chắp tay đi chậm rãi đến trước bàn thờ và lạy xuống một lạy. Sau đó vị ấy tiến đến bên một trong ba cái chuông, quỳ xuống đặt tay lên thành chuông và thở ba hơi để cho câu hỏi đi lên. Rồi vị ấy lấy một phong bì từ chuông và trao cho Sư Ông và nói cho đại chúng biết câu hỏi của mình. Sau đó Sư Ông đọc lớn hai câu thơ trên thiệp trước khi Người bắt đầu “bói”, dựa theo hai câu thơ ấy. Thông thường thì có khoảng bốn hoặc năm người được mời lên cho mỗi buổi bói như thế, mỗi buổi một ngày trong bốn ngày vui Tết.

Thầy Pháp Liệu trước đó đã báo cho ba anh em chúng con là chúng con sẽ được mời lên. Lúc đó con hơi lúng túng và đang nhìn quanh thiền đường. Con bắt gặp anh Daniel và mỉm cười vì thấy anh ấy cũng đang trong tâm trạng như con. Chúng con chưa biết tính sao nhưng nhờ sự khuyến khích của quý thầy, chúng con đã quyết định đi lên. Từng người một, chúng con đứng lên, chắp tay và tiến về phía bàn thờ. Chúng con lạy xuống và trình diện trước đại chúng. Daniel lúc ấy đang quỳ trước Sư Ông, đang cầm micro và chuẩn bị đặt câu hỏi. Từ không gian yên tĩnh trong thiền đường, câu hỏi của anh đã trỗi dậy: “Là những nông dân, làm thế nào chúng con có thể thực tập sống trong giây phút hiện tại khi mà ngành nông nghiệp luôn hướng về việc gặt hái trong tương lai?” Một tràng cười ấm áp rộ lên từ đại chúng. Sư Ông dường như cũng tâm đắc với câu hỏi ấy và bắt đầu ban tặng một câu trả lời tuyệt vời. Người dạy rằng chúng ta luôn gieo hạt nơi đất tâm trong từng giây từng phút và khích lệ chúng con sống như thế nào mà các hạt giống thiện và lành được gieo vào tâm mỗi ngày. Thực tập như vậy, Sư Ông bảo đảm, sẽ đưa đến sự nở rộ tuyệt vời những bông hoa của bình an và hạnh phúc. Sư Ông dạy thêm: “Không có con đường đưa đến sự gặt hái, sự gặt hái chính là con đường.” Câu này đánh động rất sâu đến tâm chúng con.

Từ buổi bói Kiều ấy, con luôn thực tập những câu thiền ngữ này. Con đang gặt hái những gì trong hiện tại? Ngay giờ phút này, con đang có những gì có thể nuôi dưỡng và thỏa mãn con? Con đang được thở không khí trong lành, thưởng thức hơi ấm của ánh nắng mặt trời, tận hưởng sự có mặt của các bạn, tình thương đang lớn lên trong tim con; tất cả đều là những hoa trái trong giây phút hiện tại. Con không cần phải trông đợi để tìm sự thỏa mãn nào cả. Nếu con để ý, con có thể gặt hái được nhiều điều trong từng phút giây.

Chế tác hạnh phúc

Con được sống tại Làng đã năm năm và được đóng góp vào nhiều trách nhiệm ở đây như tri khố (đi chợ) cho xóm Thượng được hai năm. Thường thì con được phụ nấu ăn vì trước kia con đã từng là đầu bếp. Con đã làm tri vườn rau được ba năm. Trong thời gian chăm sóc cho vườn rau hữu cơ nhỏ, con bắt đầu bàn với các thầy về khả năng tăng cường tỷ lệ sản xuất. Các thầy cũng đã suy nghĩ về chuyện này lâu nay rồi, nên hạt giống này được tưới tẩm để có thể trở thành hiện thực. Cách đây hai năm, con sang Anh quốc để học ngành nông nghiệp lâu bền (permaculture) và từ kinh nghiệm đó, con thiết kế vườn rau của chúng con. Chúng con đặt tên là công trình Nông Trại Hạnh Phúc để diễn tả được tinh hoa và ước vọng của công việc chúng con đang làm; và đó là công việc chế tác ra hạnh phúc.

Tại đây, chúng con có nhiều phương pháp để chế tác hạnh phúc. Đối với con, trọng tâm của việc chế tác hạnh phúc là sự có mặt cho những nỗi khổ đau của chính mình . Làm việc cho NTHP không có nghĩa là con phải cảm thấy hạnh phúc suốt ngày. Nó có nghĩa là thực tập để chế tác hạnh phúc bên trong qua việc tôn trọng tác dụng và giá trị của khổ đau. Trước khi về Làng, con đã có nhiều đau khổ vì nỗi lo sợ và vì bệnh trầm cảm. Cho nên phần lớn năng lượng của con đều đổ về hướng làm lắng dịu tâm của mình, nuôi dưỡng mình, nhận diện các tâm hành và phơi bày khổ đau của mình trước ánh sáng trị liệu của chánh niệm. Sống trong cộng đồng là phương pháp điều trị hay nhất cho bệnh sợ đám đông (social anxiety); vì con không thể cô lập chính mình như trong quá khứ. Hiện con cũng đang trải nghiệm phương pháp giao tiếp với mọi người, cách phát triển năng khiếu sinh hoạt trước đám đông, và cách chăm sóc những năng lượng đau buồn thường trỗi dậy khi con ở gần người khác.

Con học được rằng hạnh phúc được làm bằng khổ đau sau khi khổ đau được chăm sóc và chuyển hóa. Do nhờ nhận diện và ôm ấp khổ đau trong con, con được chuyển hóa. Khi thực tập như thế, nỗi khổ đau được chuyển hóa liền; chỉ còn trong con lòng khiêm cung, sự ấm áp trong tâm và cách nhìn cuộc đời với đôi mắt dịu hiền và từ bi hơn. Con có thể nhận diện lại được không gian mầu nhiệm xung quanh con và thấy được rằng con còn may mắn để được làm việc chung với những người đầy nhiệt tình như vậy. Thật là một cảm giác dễ chịu khi mình được là mình trở lại!

Vì thế, được sống ở xóm Thượng và được là một thành phần của công trình này là một điều rất tốt cho sự trưởng thành, chuyển hóa và phát triển của con để trở nên một con người có tâm chăm lo cho người khác. Cuộc sống cộng đồng hiến tặng rất nhiều niềm vui, tình bạn, âm nhạc, trò chơi, học tập, thời gian sống với thiên nhiên, con đường tâm linh, sự nâng đỡ, tâm phụng sự, v.v… Tâm con tiếp nhận những nguồn thực phẩm sâu đậm này và thời gian ở đây là một phần thưởng cho con. Con thấy rất may mắn được sống và làm việc trong một môi trường có sự thực tập, nơi mà ước nguyện sống đơn giản, lành mạnh và có ý nghĩa của con đang được yểm trợ.

Thức ăn lành mạnh, nét đẹp và ý nghĩa

Cùng lúc với việc trau dồi tâm, chúng con cũng chú trọng đến việc trau dồi, chế tác hạnh phúc qua sự trồng trọt theo phương pháp hữu cơ để cung cấp thực phẩm cho đại chúng xóm Thượng và Sơn Hạ. Con được biết rằng một trong những cách chăm sóc cho đất Mẹ hữu hiệu nhất chính là sự tự trồng lấy thức ăn cho mình. Con lo và quan tâm nhiều về sự thiệt hại của sinh môi do phương pháp trồng trọt thông thường  và cách vận chuyển thực phẩm. Gần đây con được nghe rằng thực phẩm thường được vận chuyển bằng đường bay, đường biển và đường xe tải trung bình là 2.400 cây số trước khi đến được mâm cơm của chúng ta. Viễn tượng một nơi sản xuất thực phẩm lành mạnh và theo lối hữu cơ chỉ cách đây hơn một cây số đem lại cho con rất nhiều niềm vui. Thức ăn này sẽ đến trong bình bát của quý thầy và các bạn thiền sinh, những người biết quý trọng thực phẩm và chắc chắn sẽ thưởng thức được những thực phẩm ấy trong chánh niệm. Con rất hạnh phúc được tham gia vào công trình sản xuất thực phẩm mang tính cách chăm sóc, thương yêu và tôn kính đối với trái đất.

Làng Mai đã có các vườn rau hữu cơ trong nhiều năm rồi, tuy nhiên đây là công trình đủ lớn để được gọi là nông trại, có sáu mẫu. Trong năm đầu, chúng con chỉ sử dụng khoảng nửa mẫu để trồng rau quả hữu cơ. Có 36 luống rau xanh, mỗi luống dài khoảng 35 mét và rộng khoảng hơn 1 mét. Chúng con hy vọng sẽ mở rộng sau này để tăng gia lượng rau cải hàng năm và cộng thêm vườn cây ăn trái mềm và cứng, cây ăn hạt và có thể ngay cả những khu vườn rừng (forest gardens). Cũng trong năm đầu này, chúng con đã còn rất nhiều việc cần làm để thiết lập nông trại và nhiều điều còn chưa rõ ràng. Cho nên chúng con đã quyết định bắt đầu với diện tích nhỏ rồi từ từ mở rộng thêm. Chúng con đã thử trồng tất cả các loại rau quả thích hợp với địa phương này như là: ớt chuông, cà tím, zucchini, mướp, khoai, spinach, cà rốt, các loại đậu, bí, cà, các loại rau xanh, bắp cải, củ cải và nhiều loại khác nữa.

Tuy chúng con hy vọng sẽ trồng được nhiều rau quả hơn, chúng con cũng ao ước tạo dựng một nông trại đẹp đẽ để cho khách viếng thăm. Địa điểm chúng con đang sống và làm việc là một quan cảnh rất đẹp. Mỗi buổi sáng con bước ra khỏi phòng và nhìn ánh nắng mặt trời trải rộng trên những dãy đồi thoai thoải của vùng đồng quê Dordogne. Mỗi buổi chiều, con được ngắm mặt trời lặn phía sau dãy lâu đài xa xa. Vào mùa Xuân và mùa Hè, xóm Thượng là điểm hẹn của muôn ngàn cánh bướm. Chúng con hy vọng các loại hoa màu của NTHP sẽ là nơi trú ẩn cho nhiều loại sinh vật hoang dã, một không gian gần gũi cho loài ong và các loài côn trùng hữu ích khác. Ước nguyện của chúng con là có được nhiều người đến thăm nông trại để được tiếp xúc và nuôi dưỡng bởi khung cảnh và công việc đang xảy ra ở đây. Ta sẽ được trị liệu rất nhiều khi sống trong môi trường thiên nhiên và chứng kiến một vườn rau hữu cơ xanh tươi. Sự trị liệu và niềm hạnh phúc của khách viếng thăm cũng như của các bạn làm việc ở đây rất quan trọng. Đó là một dạng lợi nhuận, một sự thu hoạch quan trọng.

Được nuôi dưỡng bởi sự có mặt của loài ong, loài bướm và con người, công trình NTHP nhắm vào mục đích giáo dục về thiên nhiên. Chúng con muốn hiến tặng cho các cậu thanh niên cơ hội đến Làng Mai để thực tập và làm việc cho nông trại trong thời gian một năm. Trong khoảng thời gian ấy, họ sẽ có cơ hội tham dự vào cuộc sống cộng đồng và đi sâu hơn vào thiền tập với sự yểm trợ của quý thầy, quý sư cô và các vị cư sĩ thường trú ở Làng. Họ cũng có kinh nghiệm và cơ hội trãi qua trọn một mùa trồng trọt xung quanh khung cảnh tuyệt vời của xóm Thượng. Hy vọng trong một tương lai không xa, xóm các sư cô cũng sẽ có một công trình như thế cho các cô thanh nữ. Nhiều người trẻ trên thế giới hiện nay đang vùng vẫy để cố tìm ý nghĩa cuộc sống của họ. NTHP cống hiến cho các bạn trẻ một cơ hội để tìm lại ý nghĩa cuộc đời qua việc tham gia vào đời sống cộng đồng, trồng trọt theo phương pháp hữu cơ và hướng về con đường tâm linh.

Cuối cùng chúng con hy vọng khách đến thăm cộng đồng sẽ thu thập kinh nghiệm đủ để có cảm hứng tự trồng trọt khi họ trở về nhà. Chúng con sẽ hết lòng chia sẻ kiến thức với họ để yểm trợ  cho họ thiết lập vườn rau hữu cơ ở nhà. Ngoài ra, chúng con cũng muốn học hỏi từ những vị có kinh nghiệm và năng khiếu về phương pháp hữu cơ. Thật ra, công trình này sẽ không xảy ra nếu không có sự yểm trợ của nhiều vị cư sĩ đến Làng làm việc và chia sẻ kiến thức của họ.

Kính cảm ơn tất cả các bạn.

Để tìm hiểu thêm về dự án Nông trại Hạnh phúc, xin xem tại đây: http://langmai.org/cong-tam-quan/gioi-thieu-lang-mai/nong-trai-hanh-phuc

Nắng đưa lối tôi về

Chân Văn Nghiêm

Niềm vui ngày bé

Được về Làng trong khóa tu mùa Hè năm nay là một cơ hội ngoài mong đợi của tôi. Mặc dù sau liên tiếp những khóa tu, tôi có nhu cầu ở yên để những xao động, những lăng xăng trong tôi được lắng xuống. Cái mà tôi ngại nhất là đoạn đường đi xe từ Paris về Làng. Nhưng rồi đồng hành cùng sư chị, sư em, cuối cùng tôi cũng đã có mặt tại Làng cho ngày mở cửa của khóa tu mùa Hè.

Về Làng lần này tôi như được cảm nhận niềm vui của những ngày còn bé, tôi cùng cả nhà lên Tuần, quê ngoại tôi, niềm vui khi gặp lại bụi tre, được đặt những bước chân thân quen quanh xóm. Năm nay tôi may mắn được ở lại xóm Hạ. Tôi nhớ lắm con đường từ ni xá ra thiền đường Hội Ngàn Sao, nhớ hồ sen, nhớ rừng bạch dương xào xạc lá vàng, và đặt biệt là con đường từ xóm Hạ lên xóm Thượng,… cho nên dù trước đó tôi chưa hề ở xóm Hạ, vậy mà khi xe tới xóm Hạ tôi thấy mình đang được về nhà. Bây giờ tôi mới cảm nhận rõ lời chia sẻ của thiền sinh rằng dù đi đường rất mệt, nhưng mỗi khi được về Làng là họ thấy an toàn và khỏe nhẹ như đây là nhà của mình.

Năm nay tôi được vào gia đình rửa nồi và khử trùng chén dĩa, công việc không khó nhưng sắp xếp làm sao để có thể trân quý những phút giây về lại Làng, được ăn chánh niệm và làm việc có hạnh phúc là điều tôi quan tâm. Bởi cái bao tử của tôi rất dễ nhõng nhẽo mỗi khi tôi ăn không chừng mực và thiếu sự chăm sóc, quan tâm đến nó. Điều cuối cùng là sự hòa thuận trong gia đình rửa nồi (tiếng Đức), gia đình dọn dẹp và cắt gọt. Cả ba gia đình hơn 80 người cùng làm việc với nhau tại nhà ăn và mái hiên nhà ăn.

Sau khi cả nhà chúng tôi ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ ghé Sơn Cốc chào Thầy, chúng tôi được Thầy mời ăn bánh mì của “Thủ tướng” do chú Long đã lái xe mang lại nhờ chúng tôi kính dâng Thầy trước giờ chúng tôi xuất phát từ Paris về Làng. Thầy mở tủ lấy patê để ăn với bánh mì. Giờ phút đó tôi cảm nhận rõ gia đình tâm linh trong ngôi nhà nhỏ của Thầy. Đó cũng là hành trang cho tôi đem về Thiền đường, là món quà quý từ quê Thầy.

Hai kỳ thi trong năm

Xe đến xóm Hạ, vừa gặp chúng tôi, quý sư cô ra đón và ai cũng cười tươi. Các sư em mới từ Việt Nam qua ríu rít chào hỏi. Bây giờ các em giỏi thiệt, mới ngày nào ngồi trong lớp Việt văn tại Bát Nhã còn nũng nịu hỏi đủ chuyện mà bây giờ các em phải biết tự học, tự tu, ba bốn chị em nhỏ cùng nấu ăn cho 200 đến 300 người. Giờ rảnh, các sư em học thêm tiếng Anh, phụ giúp các sư chị làm thông báo, viết thời khóa, tổ chức Lễ Giỗ Tổ, Lễ Bông Hồng Cài Áo, Lễ Trung Thu, Lễ Hòa Bình… Nhìn sư em Lộc Uyển lo cho thiền sinh trong công tác tri khách rất hết lòng mà tôi thấy vui. Trong giờ Y chỉ sư y chỉ muội ngồi chơi, sư em tâm sự: “Một ngày trong khóa tu, dù bận nhưng em phải có giờ ngồi yên, giờ tập võ…” Nhìn sư em Thật Nghiêm mang bảng Im Lặng Hùng Tráng để giữ gìn sự thực tập… Sư em Trăng Huyền Không, Trăng Huyền Diệu ngoài phiên nấu ăn còn giúp sư chị tri khố sắp xếp thực phẩm, thế mà gặp tôi sư em còn cười tươi hỏi: “Sư chị có cần em giúp gì không?” Tôi thầm cảm ơn sức trẻ của các em, nụ cười của các em; những thuở ấy đã cho tôi thêm năng lượng để trở về tự thân, chăm sóc nụ cười của chính mình rồi ra chơi với các bạn thiền sinh. Cái nhu yếu sư chị, sư em lâu ngày không gặp thường mon men rủ rê tôi trốn gia đình pháp đàm để được quây quần bên gia đình xuất sĩ. Ngày thường gặp nhau cũng thấy không đậm đà lắm, nhưng khi có hàng trăm thiền sinh về, khi mỗi sư chị sư em phải tách nhỏ ra để hướng dẫn, chăm sóc thiền sinh mới thấy rõ năng lượng thực tập của mỗi người, sự có mặt của mỗi sư chị sư em lúc này thật cần thiết. Sư chị, sư em tôi thường đùa với nhau rằng: “Khóa tu mùa Hè và khóa tu mùa Đông ở Làng là hai kỳ thi trong năm.” Ngày trước chưa biết cách học nên chúng tôi thường học kiểu nước rút, nghĩa là tới kỳ thi là cúi đầu vào bài vở, quên mọi việc xung quanh. Còn bây giờ khóa tu là mùa thực hành dưới sự giám niệm của chính mình và sự quan sát học hỏi của hàng trăm đôi mắt thiền sinh. Đó cũng là một áp lực đòi hỏi chúng tôi phải luyện tập hơi thở, bước chân trở thành thói quen trong những lúc thong thả, “để khi nhật nguyệt còn xa vắng thì đầu hè vẫn có ánh trăng soi.”

Tu học thiệt là vui vì có cả “tỷ” thứ để học và lại được học những điều thực tế như đang thực hành tại phòng thí nghiệm, phải áp dụng và rút ra kinh nghiệm cho lần sau mới hòa được vào dòng chảy của Tăng thân. Những lúc như vậy mới thấy nội lực thâm hậu của hơi thở và bước chân, của hải đảo tự thân, của việc thắp sáng ý thức chánh niệm… cho nên mỗi sư chị, sư em tôi đều phải tập đứng vững trong vị trí của mình. Tôi thường nhắc tôi rằng: “Mình tổ chức khóa tu là để hiến tặng sự sống nhiệm mầu cho mọi người, thì tại sao mình không hiến tặng một ít cho mình, cho ba mẹ, cho anh chị em mình?” Vì vậy chỉ còn một cách là mình phải học đi, học thở, học nói và học cười cùng với mọi người.

Một khám phá rất thú vị

Từ khi gặp bước chân của Thầy, tôi đã từng mơ ước được đi những bước chân như vậy đến sở làm và đi lại trong nhà. Tôi đi tu vì thấy nhu cầu đó rất thiết thực và tôi muốn mình làm được điều đó. Mỗi lần nhìn các sư em trẻ là Bồ đề tâm ấy sống dậy. Thế là trong khóa tu này, tôi đã  bày ra trò chơi. Tôi nhủ thầm, nhà ăn xóm Hạ là Quầy thông tin (Reference Desk) và nơi pháp đàm, phòng ngủ, thiền đường… là những nơi sinh viên cần giúp đỡ. Thế rồi tôi thả mình trong những bước chân đều đặn của thời khóa. Tôi thấy tôi đi như thế dễ chịu hơn thói quen ngày trước, đi mà cứ như bị cái điểm đến nó hút mình về phía trước. Tôi thường mỉm cười khi thấy mình hấp tấp và thường nhớ nụ cười ý nhị của Thầy về ví dụ bó cỏ xanh non người ta buộc trước mắt con ngựa, hay con  bò tuy nó ra sức chạy tới đám cỏ nhưng không bao giờ ăn được. Thế mà tôi, một con người đã đứng thẳng lâu rồi, sao tôi cứ chúi đầu chạy tới?

Lời nói ấy như tiếng chuông giúp tôi ý thức tôi là một con người với quá trình tiến hóa của cột sống. Cho nên tôi phải đi với ý thức sáng tỏ của loài người có hai bàn chân và cột sống mầu nhiệm. Nhờ đi tu tôi mới may mắn học được cách đi của loài người văn minh, đi mà không cần tới. Tôi thấy đây là một khám phá rất thú vị, một trò chơi hữu ích để tôi học đi cho quãng đời còn lại. Tự nhiên tôi nhận ra tôi đang thực hành và hướng dẫn thực hành ăn cơm, rửa nồi, lắng nghe và có mặt thay vì giải quyết những thắc mắc, hay hướng dẫn sử dụng các học liệu cho sinh viên thì tôi nhận ra cách sống này mang lại niềm vui cho tôi và những người xung quanh tôi. Tôi thỏa lòng cho mơ ước một thời sinh viên mong muốn tìm ra những Dịch vụ hỗ trợ cuộc sống, hỗ trợ công việc gia đình.

Thời đại công nghệ ngày nay đã chế tạo ra nhiều loại máy móc tân tiến thay thế việc rửa dọn, tính toán, thống kê và quan sát nhưng vẫn không bằng sự linh hoạt của con người. Cho nên người ta thường nhờ một người giúp việc để đáp ứng nhu cầu mình cần và đẻ có thêm thời gian làm những chuyện mình thích; hoặc để nghỉ ngơi. Vậy mà rốt cuộc cũng thấy không khỏe thêm là mấy và cũng không vui lên được.

Món hàng xa xỉ

Tôi cảm nhận như mỗi chúng ta đang chơi trò đuổi bắt trong cuộc sống thường nhật này. Người nào cũng có một mục đích để mong thay đổi cuộc đời mình ngày một tốt đẹp hơn. Mỗi lúc tôi rửa nồi không có hạnh phúc thì hình ảnh các em con nhà nghèo lên thành phố tìm việc thường trở về. Hình ảnh các em ngồi khóc bên Dịch vụ việc làm với những than vãn của người chủ thiệt là khó xử. Hàng trăm người muốn có việc làm, và hàng ngàn việc cần người làm nhưng lại không đáp ứng được. Tại các thành phố lớn có khối việc để làm, nhưng cũng lắm điều cần quan tâm. Tôi nghĩ tình trạng đó chỉ ở những nước chậm và đang phát triển thôi. Nhưng khi sống ở Paris, khi nghe các bạn trẻ tâm sự giai đoạn tìm việc, thử việc rồi làm việc cũng là một giai đoạn thử sức với cuộc sống. Tâm thức của thành phố lớn thường vội vã hơn, có nhiều nhu yếu tế nhị cần được đáp ứng nên đã làm ra những dòng chảy tâm thức can thiệp vào sự sống. Hạnh phúc chân thực trở thành một món hàng xa xỉ khó tìm. Để giữ tâm bình lặng, ngắm một chiếc lá, một bông hoa cũng thiệt là khó. Có chăng đó là công việc của những người già, họ đã chạy đuối sức trong dòng đời tất bật, bây giờ họ mới nghĩ tới việc nghỉ ngơi, ngắm nhìn cảnh vật chung quanh mình. Ngôi nhà dưỡng lão bên cạnh thiền đường Hơi Thở Nhẹ là nơi nghỉ ngơi tuổi già, gọi là một vườn cây của những ngày nghỉ ngơi. Ở đó có bãi cỏ xanh, có ghế đặt quanh vườn, khu vườn luôn được dọn dẹp sạch sẽ nhưng hiếm khi thấy có ông cụ, bà cụ nào ra vườn. Một Retraite, một cuộc dạo chơi  cuối đời sao buồn vậy nè? Trong khi đó ở Làng có rất nhiều khóa tu (rất nhiều Retraite/ Retreat) với rất nhiều người tu trẻ, có nụ cười tươi, có ánh mắt ngời sáng có thể cùng đi bên nhau trong rừng thu ngập nắng hay ngồi cùng nhau trong một giảng đường… Thời gian như dừng lại trong cái sinh hoạt bình dị của việc nấu ăn, dọn dẹp, rửa nồi, ăn, uống, ngủ, nghỉ và thưởng thức cái đẹp.

Ai đã lấy đi thời gian?

Không giống như cảnh tượng về đêm tại nhà ga thành phố. Tôi thấy thương khi nhìn dòng người cuồn cuộn chảy, họ đi như chạy, mắt vô hồn nhìn mọi người, tai đeo dây phone như một thứ thời trang. Ui chao, sao mà giống người máy quá vậy! Tự nhiên tôi rùng mình khi bắt gặp chính mình trước đây. Ai đã lấy đi thời gian của tôi để người này hối thúc người kia làm việc theo tốc độ của máy. Ngày trước tôi cứ nghĩ là mình đang đi nhưng mà cái nhịp độ đi đó gọi là chạy thì đúng hơn. Vì mọi người đều đi như vậy nên tôi không nhận ra, tôi thấy thật bình thường! Cái tâm thức bình thường của thời đại mới nó hao hao giống với công nghệ máy móc ngày nay thì phải?

Giật mình khi tiếng còi tàu xuất phát vang lên, hơi thở của tôi trở về thật sự. Tôi thấy mình như được cứu thoát ra khỏi dòng nước xoáy. Có một cái gì đó thật thân quen trong tôi, thật gần và thật yên. Tôi ngồi đó và bắt đầu nghe ngóng những động tĩnh trong tự thân mình. Xao động bên ngoài và sự yên bình bên trong như hai mặt của một tờ giấy trắng mà Thầy thường đưa lên cho chúng tôi thấy. Nhưng tờ giấy vẫn là tờ giấy, còn cuộc đời đâu phải tờ giấy nhỏ xíu trên tay Thầy nên tôi nghe mà vẫn chưa chạm được vào nó. Vậy mà hôm đó tôi thấy tờ giấy là cuộc đời này.

Nắng lấp lánh bên sông

Tôi đã đem niềm vui của những bước chân đó lấp đầy lối đi dọc dòng sông Marne. Nắng lấp lánh bên sông thật đẹp, cây xanh thật là xanh. Thỉnh thoảng chú hạc rụt rè bước nhẹ ven sông, chỉ cần một tiếng động nhỏ là chú duỗi cánh bay đi. Mấy con vịt trời cứ nhởn nhơ bên nhau và những chú hải âu trắng đáp xuống dòng sông nhẹ tênh… Cảnh vật thật bình lặng, tôi ghé lại thăm chú nai bên dòng sông quen thuộc. Tôi hái một nắm lá non tặng chú, chú nai mon men lại gần. Ái chà! Mới đi có hai tuần mà chú trổ mã thật đẹp. Những hoa đốm trên lưng chú như hoa nắng vậy đó. Cặp sừng người ta mới cưa bây giờ đã dài ra, mịn màng lông tơ và bắt đầu cứng. Tôi tự dưng thấy cuộc đời thật ý nghĩa khi nhớ lại tôi đã từng có những bước chân như vầy bên dòng sông tuổi thơ. Yên bình rong chơi, thênh thang cõi lòng, nhiều khi tôi còn hát vang cả một khúc sông ngập nắng. Vậy mà tôi đã quên gia tài tuổi thơ. Giờ đây phố thị như lùi lại sau hàng cây rủ bóng ven sông. Tôi được trở về với chính tôi, lặng thầm cảm ơn ba mẹ tôi đã sinh ra tôi trong cuộc đời này và Thầy đã làm cho câu thư pháp “Là mình mình mới đẹp” như hiển hiện trong thinh không, lung linh trên ánh nước lấp lánh ánh mặt trời. Tôi lại mỉm cười khi nghe rõ giọng Thầy giải Kiều cho tôi hôm Tết: “Khéo khéo thì mình cũng thấy nắng, thấy hoa.” Lời dặn dò của Thầy rất sâu mà tôi cứ tuềnh toàng làm rơi rớt rất nhiều tuệ giác của Thầy.

Gói một chút nắng làm quà tặng người thân trong dịp mừng năm mới rồi ngước nhìn lên những thân cây trụi lá, tôi bắt gặp một bầu trời xanh tươi nguyên ngày mới.

Bữa cơm trong văn hóa Việt

Thầy Minh Hy

Thầy Minh HyLúc còn nhỏ, khi nội con còn sống, con được học vòng tay mời bà, cha mẹ dùng cơm rồi sau đó mình mới ăn. Ba mẹ con vẫn thường nhắc con như vậy mỗi khi con quên. Lặng đi một thời gian, con vào chùa và không biết ở ngoài kia các cậu bé lớn lên có được học cái phép ấy trước khi ăn cơm không.

Hơn mười năm, đến khi con về với tăng thân, con ngạc nhiên lắm vì nét đẹp này đang được thực tập ở đây. Điều ấy đã đưa con về với tăng thân trong không khí của một gia đình. Các bữa cơm trong chùa rất trang nghiêm, sau ba tiếng chuông, mọi người niệm danh hiệu Bụt rồi dùng cơm trong im lặng. Ở đây, trong tăng thân con nhận thêm được sự ấm cúng và tình huynh đệ. Con đã nhìn lại và tự hỏi, tại sao cái nét đẹp ấy không còn được duy trì nhiều nữa trong bữa cơm của những gia đình. Có lẽ là do ở sự trao truyền và tiếp nhận.

Trong văn hóa Việt Nam, có nói nhiều đến sự kính trọng lẫn nhau. Đặc biệt là sự kính trọng của người nhỏ đối với người trên. Người nhỏ, trước khi đi đâu hay làm gì thì thưa trình với người lớn. Người nhỏ, thấy người lớn thì vòng tay chào trước. Người nhỏ, trước khi ăn thì mời người lớn rồi mình mới ăn. Người nhỏ mà không làm như vậy thì được xem là người thiếu học. Còn người lớn thì hình như được miễn cái phép ấy. Chính vì miễn cái phép ấy mà mình dần mất đi cái trao truyền. Không có cái trao truyền thì tất nhiên cái tiếp nối và phát huy cũng mất (cũng có khi chúng ta đòi hỏi sự kính trọng nhiều hơn là phải trao truyền).

Đôi đũa thần kỳ

Thầy là Thầy của chúng con, các sư anh, sư chị là anh chị của chúng, nhưng con thấy Thầy và các sư anh, sư chị làm điều ấy rất tự nhiên. Sau khi chắp tay quán niệm, Thầy nói: “Mời các sư con dùng cơm.” Có lúc Thầy dạy chúng con đọc câu thần chú thứ Năm trước khi ăn. Một sư cô, hay một sư chú chắp tay nói: “Thưa Thầy, thưa huynh đệ, đây là giây phút hạnh phúc.” Mọi người mỉm cười hạnh phúc, trân quý giây phút hiện tại thầy trò còn được ăn cơm bên nhau.

Lúc nào Thầy cũng ăn một muỗng cơm trắng trước, vì không muốn chúng con phải chờ. (Trong tu viện, chúng con được học là Thầy dùng cơm rồi mình mới dùng.) Thầy không bao giờ quên gắp thức ăn cho các sư con. Có món gì trên mâm cơm của Thầy thì Thầy đều gắp chia cho các sư con. Đôi đũa trong tay Thầy thật diệu kỳ. Lúc nào trên mâm cơm của Thầy cũng có một đôi đũa và một vài cái muỗng. Đôi đũa để gắp thức ăn cho các sư con, muỗng thì để dùng cơm, xới cơm… Bữa cơm mà không có một đôi đũa thì thiếu rất nhiều!!!

Ở ngoài xã hội có khi người ta muốn giữ cái nề nếp, sợ mất đi cái tôn ti trật tự mà phải giữ kẽ. Nhưng con thấy ở nơi Thầy và các sư anh, sư chị, cái mà các vị sợ mất đi là sự truyền thông, tình thầy trò, tình huynh đệ hơn là cái tôn ti kia. Nhưng thử nhìn lại xem, có cái gọi là nề nếp mà không có sự truyền thông thì sẽ thế nào? Có truyền thông, tình nghĩa rồi thì cái tôn ti, cái nề nếp có mất đi được chăng?

Uống nước nhớ nguồn

“Uống nước nhớ nguồn” hay “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, đó là những câu tục ngữ mà người lớn, trẻ em nào cũng thuộc. Khi là một người thực tập chánh niệm, được học cách ăn cơm trong tỉnh thức, con thấy con được thực tập những câu tục ngữ ấy ngay trong chính bữa ăn. Mỗi lúc ăn cơm, con tập nhìn để thấy bát cơm này từ đâu mà có. Lòng biết ơn trong con được nuôi dưỡng khi biết rằng tặng phẩm này là công phu lao tác của rất nhiều người và nhiều sinh vật. Có đất Mẹ, trời Cha, có tất cả, mà gần gũi nhất là những người nấu ăn hôm ấy. Lòng biết ơn có mặt giúp con biết mỉm cười hạnh phúc, biết dừng lại và chuyển hóa những tập khí trong tự tâm.

Một hôm, con có nội kết với một sư chú, trong lòng có sự bực bội. Đó là chuyện riêng, còn thời khóa của đại chúng con vẫn tham dự. May mắn làm sao, bữa cơm trưa ấy, con thực tập ăn cơm rất có chánh niệm. Trong lòng con có sự biết ơn đến đất Mẹ, đến đội nấu ăn. Bỗng nhiên con nhìn xuống nhà bếp và thấy sư chú, người mà con đang để tâm bực bội là người trong đội nấu ăn hôm ấy. Trong chốc lát, cái buồn giận trong con tan biến ngay. Lòng biết ơn cho con thấy rằng sư chú, người mà con đang bực bội đó có ghét con đâu, vẫn nấu cho con một bữa cơm thật ngon. Con mà còn giữ tâm niệm buồn giận này thì hết sức là vô lý.

Con biết quanh con, có những người thật dại dột. Họ ôm giữ cái giận, cái buồn về người thương của họ từ ngày này sang ngày khác, từ năm này sang năm khác. Có khi mười năm, hai mươi năm. Họ không biết rằng họ đang ăn cơm, mặc áo từ chính bàn tay và tấm lòng của người thương họ. Trong mười năm, hai mươi năm ấy, không biết họ đã ăn cơm, uống nước như thế nào? Chắc là họ chưa được học phép ăn cơm trong chánh niệm để nuôi dưỡng lòng biết ơn!

Nếu hỏi rằng, anh chị đi xa quê lâu ngày thì nhớ cái gì nhất? Có lẽ mọi người sẽ trả lời rằng: “Anh nhớ canh rau muống, chị nhớ cà dầm tương, em nhớ nồi khoai lang luộc, nhớ bếp lửa hồng và nhớ bữa cơm chiều khi mọi người quây quần với nhau bên ánh đèn dầu.” Vì có nhớ nên anh chị có thương. Có nhớ thương là có tình yêu. Anh chị yêu từng bữa cơm, từng con đường làng, từng ruộng lúa, bờ ao, cây khế, cây dừa… Và tình yêu quê hương, đất nước cũng bắt nguồn từ đó, từ  những kỷ niệm hạnh phúc của thời ấu thơ.

“Trời đánh tránh bữa ăn”

“Trời đánh tránh bữa ăn” là câu tục ngữ chứa đựng được tuệ giác và kinh nghiệm của cổ nhân. Nhưng cũng có những người, trong những buổi chiều đi ra đồng, họ đem theo những vắt cơm gói trong lá chuối. Khi trời nổi cơn dông, họ lấy những vắt cơm ấy ra ăn. Nghĩ rằng, trời có đánh cũng tránh mình ra! Họ hiểu rất bình dân. “Ông trời có đánh thì cũng tránh những lúc mình đang ăn, vì cơm này là do trời đất làm ra!” Còn mình đâu phải là “ông trời”, vậy mà có nhiều người đã làm hỏng cả bữa cơm. Những người ấy đã không biết làm hạnh phúc cho những người mình thương, cho gia đình mình trong các bữa cơm.

“Râu tôm nấu với ruột bầu, chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon”. Vậy đó, bữa ăn không cần phải thịnh soạn mới hạnh phúc. Hạnh phúc là ở cái cách mình ăn và sự có mặt cho nhau trong bữa ăn. Người thương của mình đã vất vả để lo cho cái ăn, cái mặc nhưng khi cầm bát cơm lên mình ăn qua loa, vội vàng. Bữa cơm của mình chỉ vỏn vẹn trong năm phút, quá ít để thật sự có mặt trọn vẹn cho nhau. Mình cũng đừng quên rằng một lời “mời” nhiều hơn một mâm cỗ.

Những tập khí làm hỏng bữa ăn

Lớn lên ở miền nào thì mình thường thích ăn theo khẩu vị của miền đó. Đó là cái tập khí mà ông bà, cha mẹ đã trao truyền lại cho mình. Nấu khác vị đi thì mình cho là không ngon, lạ vậy đó. Mình có thể làm cho người mình thương không hạnh phúc vì cái thói quen ấy.

Thực tập sống chánh niệm giúp con chuyển hóa dần cái thói quen kia. Con học làm người thưởng thức, một người đi du lịch. Thưởng thức từng hương vị của mỗi món ăn và chỉ ghi nhận sự khác nhau đặc biệt của nó. Tuy vậy, tập khí và quan niệm về “ngon theo khẩu vị” trong con vẫn còn và lắm lúc con lỡ miệng nói ra một điều gì đó làm đội nấu ăn không vui. Như mùa Xuân năm nay, trong chuyến đi Hồng Kông, con đã thất niệm và cái tập khí lâu đời kia đã giúp con nhìn lại.

Hôm ấy, con đi dự một ngày quán niệm ở Centre on Behavioral Health và khi đi về thì mệt lắm. Đường xa, xe hỏng, chạy lòng vòng qua mấy ngọn núi, về đến nhà thì ước gì được ăn một món gì đó có nước cho đỡ mệt. Chiều hôm ấy đội nấu ăn mời đại chúng dùng món mì Ý. Trời! Làm sao mà ăn nổi nhưng cuối cùng cũng phải ăn, hơi vất vả. Hôm ấy con thất niệm lắm. Hai chị em cứ vừa chịu khó nhai vừa bàn về món ăn. Không biết rằng chủ nhân của món ăn đang ngồi bên cạnh. Chủ nhân không phản ứng gì, lặng lẽ rút lui, mãi sau đó con mới biết chủ nhân của món ăn rất buồn. Chủ nhân là một sư em người Pháp, nói tiếng Việt như người Mỹ nói tiếng Anh. Tối đến, khi con qua phòng sư em để chúc sư em ngủ ngon, con thấy sư em viết vội dòng cuối cùng và trao cho con bức thư. Con nghĩ rằng sư em muốn con xem giúp tiếng Việt của sư em.

“Con kính thưa thầy..! Con… đây! Ngày hôm nay con làm việc trong nhà bếp suốt ngày. Buổi sáng có bốn người nấu, nhưng buổi chiều chỉ có ba người. Buổi chiều, khi một sư chị nhờ con làm một món mì Ý, con đã hoan hỷ làm hết khả năng của con để cống hiến cho đại chúng. Vậy mà khi con nghe thầy cùng một sư chị khác chê thức ăn thì con hơi buồn một chút! Nếu thầy ăn thức ăn đó không được thì con chân thành xin lỗi. Bản thân con là người Pháp và từ khi còn nhỏ thường hay ăn kiểu này, cho nên chiều nay con thấy rất là ngon!

…Con xin đề nghị: khi nào thầy ăn thấy lạt, thầy có thể dùng thêm gia vị, và khi nào thầy thực sự ăn không được thì có thể đổ rác cũng được, mà không cần phải chê. (Đọc đến đây, thì con thấy rất là thương và xốn xang trong lòng). Nếu thầy có điều muốn góp ý, thầy có thể gặp đội nấu ăn trực tiếp và chia sẻ một cách khéo léo. Điều này sẽ nuôi dưỡng tăng thân rất nhiều. Như thầy đã biết, con là người Pháp mà ăn cơm châu Á mỗi ngày ba bữa trong khoảng một năm rưỡi rồi, nhưng khi có người hỏi: “Ở đây, thầy ăn được không?” Con luôn luôn trả lời: “Dạ, ở đây con ăn được, con xin cảm ơn.” Khi con thực tập như thế này, các anh chị em xung quanh hạnh phúc và con cũng hạnh phúc.

Con rất biết ơn thầy đã đọc những lời chia sẻ của con.

(Sư anh xin lỗi vì chia sẻ lá thư của sư em đến mọi người. Sư anh thấy nó rất nuôi dưỡng và có khả năng trị liệu. Tiếng Việt của sư em rất tuyệt vời.)

Vừa xấu hổ vừa thẹn lòng vì thói quen thất niệm, trước giờ chia tay để về lại Việt Nam, con đã thực tập thiền ôm với sư em. Kể từ ngày hôm ấy đến nay, đã hơn tám tháng, con chưa một lần dám mở lời chê một món ăn nào nữa. Món nào con cũng tập ăn với niềm vui và lòng biết ơn. Cám ơn sư em đã giúp con. Thầy đã dạy cho con thật nhiều nhưng sư em đã giúp con chuyển hóa. Đây là một bông hoa đẹp nhất mà con có được trong năm nay.

“Mặt trời xanh rờn
Một rổ rau tươi
Vạn vật nương nhau
Làm nên cuộc đời”

Dù ăn cơm ở bất cứ đâu, trong tu viện, nhà cư sĩ hay ở quán ăn, chúng con cũng đều thực tập chắp tay quán niệm, thở vào thở ra ba lần rồi mới dùng cơm. Trong các khóa tu tổ chức ở các trường đại học, resort… vào ngày cuối khóa tu, chúng con thường không quên mời đội nấu ăn tới để đại chúng nói lên lòng biết ơn đến những vị Bồ tát đã góp một phần lớn vào sự thành công của khóa tu.

Thông thường, mình hay dừng lại ở sự trao đổi. Mình là người bỏ tiền ra để mua bữa cơm, người bán cũng đã nhận tiền của mình, nên nhiều lúc ăn xong, mình trả tiền và đi, thiếu một lời cảm ơn. Nó sẽ thiếu hơn nếu hôm ấy giá hơi đắt và thức ăn không như mình muốn. Con thiết nghĩ, là học trò của Bụt chúng ta có thể đi xa hơn và làm giàu cho văn hóa của mình. Người Cơ Đốc giáo, các bạn ấy biết làm phép Thánh và tạ ơn Chúa trước khi ăn cơm. Là học trò của Bụt chúng ta cũng nên biết chắp tay quán niệm và biết ơn đất Mẹ, trời Cha, Tổ tiên đã cho mình cơm ăn. Tặng phẩm này không phải chỉ từ cha mẹ mà còn có cả đất Mẹ, trời Cha, tổ tiên đã tìm ra giống lúa, tìm ra cách chế biến. Một nắng hai sương của người làm nông, của người bán rau, người đánh cá v.v… và dù ăn chay hay ăn mặn mình cũng thực tập quán niệm được. Quán chiếu để thấy mọi loài đang nuôi dưỡng mình trong từng bát cơm, trong từng hơi thở để giúp mình nuôi lớn lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm đến sinh môi, đến hạnh phúc, khổ đau của mọi người và mọi loài.

Ăn cơm chung

Hạnh nhỏ

Chân Trăng Mai Thôn

Trăng Mai ThônHôm nay trong lúc đang đi thiền hành cùng Thầy và đại chúng tại xóm Thượng, tôi bỗng nghĩ: “Tại sao mình không ghi lại một chút về các tiểu hạnh (hạnh nhỏ) nhỉ?” Trước nay tôi hay nảy ra ý này ý nọ trong khi ngồi thiền, đi thiền hay đang làm một cái gì đó nhưng ít khi ghi lại. Và sau đó một thời gian, khi muốn ghi lại tôi không tài nào nhớ ra mình đã nghĩ đến đề tài gì. Rút kinh nghiệm, lần này ăn cơm chiều xong là tôi ngồi vào bàn ngay. Vả lại thời gian này là thời gian Ban biên tập lá thư Làng Mai đã bắt đầu “in action” (vào hành động) nên tôi phải chuẩn bị, không để bị “đòi nợ” như mấy lần trước nữa.

Thường thường khi niệm danh hiệu của các vị Bồ tát, người ta hay ca ngợi “đại nguyện” của quý ngài, thí dụ như “Nam mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền” mà gần đây Thầy khuyến khích chúng tôi niệm danh hiệu của ngài bằng tiếng Phạn là Samantabhadra. Thầy nói thời bây giờ đâu còn ai nói Nữu Ước nữa mà người ta nói New York, đâu có ai nói Tân Tây Lan nữa, người ta nói New Zealand, vì vậy nên mình cũng nên thực tập niệm tên nguyên thủy của quý Ngài. Chư Bồ tát thì hành đại nguyện, tôi xin phép được chia sẻ một chút cũng về nguyện, nhưng chỉ là… tiểu nguyện mà thôi.

Mùa thu năm ngoái, trong lớp học về các pháp môn thực tập căn bản của Làng Mai, thầy Pháp Đăng có nói rằng mình đừng nên phê phán hành động của người khác vì biết đâu họ đang tu một mật hạnh nào đó mà mình không biết. Câu này đã đánh động tôi rất nhiều, nó giúp tôi bớt phê phán người khác. Tuy nhiên, ý của tôi có nẻo đi đường về quen thuộc của nó nên đôi lúc lợi dụng khi tôi lơ là, mất cảnh giác, nó lại “ngựa quen đường cũ”. Sau một thời gian, tôi nhận ra mình lại phê phán người khác, phê phán chính bản thân mình như cũ. Mỗi lần như vậy, tôi lại học theo cách Thầy đã dạy là nhận diện tâm mình rồi không theo nó nữa. Tuy không phải lúc nào cũng thành công, nghĩa là không phải lúc nào tôi cũng buông nó ngay sau đó, nhưng ít nhất là nó không còn có thể “làm mưa làm gió” trên bề mặt ý thức của tôi như trước đây nữa.

Sau khi nghe bài giảng đó của thầy Pháp Đăng, tôi kín đáo quan sát những người sống chung với tôi xem có ai đang thực tập mật hạnh hay không. Tôi biết mình hơi buồn cười trong chuyện này, bởi vì đã gọi là mật hạnh thì… nó phải bí mật, làm sao mà mình biết được. Nếu người khác biết thì còn gì là “mật” nữa. Nghĩ vậy nhưng tôi vẫn cứ quan sát vì tôi cũng muốn học hỏi để thực tập mật hạnh. Tôi thấy người tu mà thực tập mật hạnh thì hay vô cùng. Giống như ngài La Hầu La được xưng tụng là Tôn giả Mật Hạnh.

Năm nay, trước khi khóa An Cư Kiết Đông bắt đầu, như thường lệ chúng tôi được đổi phòng. Tôi ở một phòng gồm ba sư cô kể cả tôi. Một trong hai sư cô cùng phòng với tôi là một khách tăng vừa mới tới Làng an cư. Vài hôm sau khi dọn vào phòng, một sư chị đến thăm sư cô, mang theo một đôi giày mới tinh. Tôi hỏi thì sư chị nói tặng sư cô để sư cô đi thiền hành. Tôi biết là sư chị mới mua đôi giày này cách đây không lâu nên hỏi: “Rồi sư chị lấy gì để đi?” Sư chị nói sư chị còn một đôi giày cũ. Đối với bạn, có lẽ đây là một việc nhỏ, đâu có gì đặc biệt. Nhưng tôi biết là sư chị tôi cũng như phần lớn các chị em tôi, khi muốn mua một món gì thì phải “bỏ ống” khá lâu mới mua được. Tôi biết là người tặng hạnh phúc mà người nhận cũng rất hạnh phúc vì nó không đơn thuần là một món quà vật chất.

Có một sư cô đi đâu không có nhà thì thôi, hễ có mặt ở nhà là rửa cành, chăm cây, trồng hoa, cắt cỏ, dọn dẹp làm đẹp cho xóm. Sư cô thường phát tâm đến ở nơi nào còn chưa tươm tất trong các khu ni xá để sửa sang, cải thiện tình trạng nơi đó cho các sư em được thoải mái.

Một sư cô khác quanh năm chăm lo khu vườn rau của xóm thật xanh tốt. “Tía tô, rau húng, rau ngò mầu nhiệm”, khi nào cần ăn xuân quyện là có ngay. Sư cô thường hoan hỷ giúp các sư em ở các đội nấu ăn để các sư em có thể ở lại tham gia sinh hoạt vào ngày quán niệm tại các xóm khác khi cần, mà không phải về sớm để nấu ăn. Làng Mai vào mùa Hè, mỗi xóm có ít nhất 250 người trở lên, vì vậy phải nấu đến sáu nồi cơm to với hai thứ cơm, cơm trắng và cơm lứt. Ngày nào có ai nấu nồi to không quen, bị khét hơi đen không ăn được, sư cô thường hay ngâm cơm để rửa phần cháy đi. Rồi sau đó, sư cô dùng cơm này để nấu thành cháo và ăn một cách rất lặng lẽ mà không bắt người khác phải ăn phụ.

Một sư cô lớn tuổi lúc nào cũng sẵn sàng giác hơi cho các sư em bị trúng gió. Khi nào sư cô đi vắng, đại chúng cũng thấy nhớ dáng sư cô ngồi cần cù làm cỏ trên các đường đi của xóm. Khi nào các sư em muốn đãi đại chúng một món ngọt của quê hương, sư cô hoan hỷ giúp nấu một nồi chè.

Một sư chị bỏ ra rất nhiều ngày, nhiều giờ để chỉnh sửa kinh sách cho khớp nhau vì có những sai biệt trong các lần in.

Một sư mẹ vừa đi khóa tu về là thấy khoác ngay một chiếc áo cũ. Chiếc áo này chắc là sư mẹ đã dùng cả hai chục năm rồi. Tôi nhìn sư mẹ và cảm thấy sư mẹ rất hạnh phúc. Theo Sư Ông đi hoằng pháp xa, thường thường sư mẹ phải mặc áo “coi cho được” một chút. Còn ở Làng thì thông thường sư mẹ có hạnh mặc đồ rất cũ. Sư mẹ tiết kiệm của thường trú từng chút một.

Trong một bài pháp thoại, Thầy nói có một sư cô bị hiểu lầm về một việc gì đó nhưng sư cô không hề giải thích. Sư cô chỉ yên lặng, mỉm cười thôi. Hơn mười năm sau, tình cờ Thầy mới biết là sư cô đã bị hiểu lầm.

Còn nhiều, nhiều nữa những hạnh nho nhỏ như vậy mà các huynh đệ của tôi đang thực tập. Tôi chắc rằng ở khắp mọi nơi, ở xóm Thượng, xóm Hạ, Sơn Hạ, Lộc Uyển, Bích Nham… đâu đâu cũng có những người đang thực tập các “mật hạnh” như vậy, nhỏ thôi nhưng giúp làm đẹp cuộc đời hơn biết mấy. Nhỏ thôi nhưng thật sự không nhỏ chút nào.

Mùa Đông năm nay chúng tôi được học Duy Biểu. Thầy dạy chúng tôi về cách thức vận hành của tâm ý. Tương tự như trong một cuộc thực hành giải phẫu khi học về Cơ thể học của sinh viên Y khoa, Thầy mổ xẻ vấn đề thật rốt ráo. Dù Thầy mới cho hai, ba bài pháp thoại thôi nhưng chúng tôi đã được Thầy chỉ cho thấy ngóc ngách, đường đi lối về của tâm ý một cách thật rõ ràng như soi dưới kính hiển vi. Thầy nói tâm ý của chúng ta có một lối mòn mà chúng đi theo. Khi tiếp xúc với một đối tượng nào đó, chúng ta sẽ có những ý nảy ra, theo sau những cảm thọ nhất định. Vì cảm thọ đó chúng ta sẽ có một cái tưởng về người đó. Dựa trên cái tưởng đó, ta sẽ hành động, cư xử với người đó một cách tương ứng. Và hễ sau này tiếp xúc lại với đối tượng đó, ta sẽ có phản ứng tương tự, trăm lần như một. Đôi lúc tôi thấy Thầy nói sao trúng tim đen của mình quá. Hơi quê, tôi kín đáo nhìn quanh, hình như cũng có vài người, không, khá đông người cũng có vẻ mặt hơi … quê quê như mình. Chắc là họ cũng đang cảm thấy bị Thầy nói trúng tim đen. Tôi hơi yên tâm trở lại.

Ở Làng vui lắm, khi nào bạn thấy có nhiều của cải quá thì bạn buông bỏ bớt để cho người khác dùng. Sự thực tập buông bỏ này có thể xảy ra một cách tự nguyện bất cứ lúc nào trong năm. Đó là nói về mặt vật chất. Bạn cũng có thể buông bỏ về mặt tinh thần nữa. Thí dụ như bạn muốn buông bỏ một tập khí nào đó chẳng hạn. Mỗi năm một lần, trước khi An Cư Kiết Đông, bạn sẽ được khuyến khích buông bỏ cho thân tâm nhẹ nhàng, sẵn sàng bước vào An cư cho thanh tịnh. Hôm qua, tôi đang dùng một cây viết “xịn” mà tôi không hề biết giá trị của nó. Bởi vì cây viết này đã được ai đó buông bỏ và tôi lượm được. Một sư chị thấy tôi dùng cây viết đó và sư chị biết giá trị của nó nên sư chị hỏi xin để dùng cho chúng. Nếu như tôi không biết giá trị của nó thì chắc tôi đã không ngần ngại đưa tặng sư chị ngay, nhưng vì sư chị vừa mới cho tôi biết giá trị của nó nên tôi hơi ngần ngại. Chỉ một vài giây thôi. Chắc sư chị không nhận ra (tôi mong là sư chị không nhận ra). Và tôi biết là ý của mình đang đi theo một con đường mòn cũ rích mà nó đã đi suốt mấy chục năm qua, đó là hễ cái gì mình thích, cái gì mình nghĩ là có giá trị thì mình muốn giữ. May thay, khi ấy hình ảnh sư chị hiện ra trong tâm tôi. Đó là hình ảnh sư chị tôi cầm đôi giày mới tinh trên tay đến tặng cho sư cô để sư cô đi thiền hành và sư chị thì đi đôi giày cũ. Khi hình ảnh đó hiện ra, tôi biết là mình đang được yểm trợ. Tôi biết là ý của mình lần này không có cơ hội để đi theo con đường cũ nữa rồi. Tôi thật cảm ơn sư chị.

Vậy đó, bạn đâu thể biết được một hạnh nhỏ mà bạn đang hành trì có thể giúp người khác như thế nào có phải không?

cơm nghi lễ
cơm nghi lễ