Đi thăm Bụt

Về lại Ấn

Rời Bhutan trong niềm quyến luyến, chúng tôi lên xe buýt trở lại Ấn Độ. Trên đường, mọi người tiếp tục ngắm núi ngắm mây, tận hưởng những giây phút cuối cùng ở Bhutan. Về đến biên giới Ấn Độ, không khí môi trường hoàn toàn khác hẳn. Ồn ào, nóng bức, bụi bặm, tuy hai nước nằm sát nhau. Chúng tôi về lại nhà nghỉ ở Padgodha để hôm sau bay đến New Delhi tháp tùng phái đoàn Phật giáo quốc tế, tham quan những khu Phật tích, mặc dù đây không phải là mục đích chính của chúng tôi trong chuyến đi này. Đoạn đường từ biên giới đến Padgodha có rất nhiều ổ… không phải là ổ gà mà là “ổ voi”. Xe cứ đưa mình sang trái rồi đưa sang phải, có khi nhấc bổng người mình lên rồi bất thình lình thả xuống. Chúng tôi không muốn mình là nạn nhân của những “ổ voi” này nên cứ việc thả lỏng cơ thể để cho chiếc xe đưa mình đi đâu thì đi, không kháng cự, cứ để xe tự massage cho mình. Chúng tôi cứ phá lên cười mỗi khi xe nhấc bổng mình lên khỏi ghế. Nhờ vậy mà chúng tôi không thấy mệt trên một đoạn đường dài mấy tiếng đồng hồ. Tôi thấy hay và lạ. Nếu là trước đây khi chưa đi tu, tôi sẽ mệt nhừ tử khi đi trên những đoạn đường như thế và sẽ đặt không biết bao nhiêu câu hỏi cho không biết bao nhiêu lần rằng, tại sao người ta không sửa đường? Tại sao người ta để tình trạng như thế?

 

Đi thăm Bụt

Chúng tôi nghỉ ở đây (Padgodha) một đêm, hôm sau bay đến New Delhi, thủ đô của Ấn Độ. Chúng tôi được đưa đến khách sạn Asoka, khách sạn sang trọng nhất nước Ấn. Mỗi người một phòng mà phòng nào cũng rộng lớn có thể chứa được hết tất cả các anh chị em tôi. Khi mới bước vào tôi cảm thấy hơi lúng túng, không biết phải làm gì. Ai cũng thấy xót xa. Phí quá, mọi người đều nói như vậy. Nhưng điều này nằm ngoài tầm tay của mình. Mình đâu phải ban tổ chức. Thôi thì họ sắp đặt sao mình theo vậy. Trong cuộc hội nghị Phật giáo này gồm nhiều nước, có cả Việt Nam, nhưng hình như phần lớn là để kêu gọi du lịch. Trong số đó có một đức cha mà chúng tôi tình cờ gặp ở bàn ăn. Cha rất thân thiện và cởi mở nên bắt chuyện làm quen ngay với chúng tôi và theo chúng tôi trong suốt chuyến đi mặc dù cha đã trên 50 tuổi, còn chúng tôi thì đa số là những người trẻ. Tôi không đặt cho mình một mục đích, mong ước nào cả cho chuyến đi này. Chỉ có mặt hết lòng và trân quý những gì đang diễn ra. Phương tiện đi lại trong những ngày này là máy bay. Đến đâu chúng tôi cũng được đón tiếp long trọng. Xuống máy bay là chúng tôi được tiếp đón bằng nhạc, kèn, trống theo văn hóa Ấn. Hai hàng người hai bên tiếp đón, rải hoa, đeo tràng hoa cho từng người. Người ta chấm trên trán mỗi người một vết son đỏ, đây là phong tục tiếp đón của họ. Đi nhiều nơi mà đến đâu người ta cũng đón tiếp như thế, rất trang trọng, làm cho mình cứ có cảm tưởng như đây là lần đầu tiên đặt chân lên nước Ấn. Đặt những bước chân nơi đây, tôi ý thức là mình phải bước cho thật bình an, thở cho thật nhẹ nhàng. Mình phải bước cho Bụt, phải thở cho Bụt vì mình là sự tiếp nối của Bụt. Tôi bước và thở cho Bụt mà cũng là bước và thở cho tôi và cho các thế hệ tương lai. Có thể ngày xưa Bụt chưa đi qua những nơi này vì hồi xưa chưa có máy bay, chưa có phi trường, hay nếu Bụt đã đi qua thì lúc đó nơi này mới chỉ là làng mạc hay những cánh đồng không. Khắp nơi, hai bên đường, người ta giăng đầy biểu ngữ “Welcome to the International Bhudhist Conclave” (Chào mừng phái đoàn đến với hội nghị Phật Giáo quốc tế).

Ngồi trên máy bay ngắm nhìn khung cảnh ngoạn mục bên dưới, những mẫu ruộng xanh tươi, những ngôi nhà được thu nhỏ, những con sông, dòng suối, những đám mây bồng bềnh đủ hình dáng… làm tôi nhớ lại lần đầu tiên ngồi trên máy bay từ Việt Nam sang Pháp, nhìn ra khung cảnh bên dưới tự nhiên tôi có một ước mơ là ai cũng có ít nhất một lần trong đời được đi máy bay. Bây giờ ngồi đây tôi cũng có cùng ước mơ ấy.

Hành lý tôi mang theo có cả một tượng Bụt nhỏ và ba thiên thần. Đến đâu tôi cũng bày những thứ ấy ra, xem đây là nhà của mình dù có nơi chỉ ở được một hay hai ngày. Buổi sáng thức dậy, uống trà với Bụt và thiên thần. Những giây phút bình yên đầu ngày như thế là thức ăn nuôi dưỡng tôi.

Có ngày, bước vào phòng, kéo màn ra là một mặt trời đỏ ửng sắp lặn. Tôi đứng yên và hít thở thật sâu, rồi tự hỏi có phải mặt trời này là mặt trời mà Bụt đã ngắm cách đây 2600 năm không? Tôi mỉm cười sung sướng và tiếp tục nuôi dưỡng ý thức trong mình có Bụt. Tối đó chúng tôi được đưa ra sông Hằng để xem buổi lễ cầu nguyện. Sông Hằng được xem là con sông linh thiêng của người Ấn. Xe đi vào thành phố, khu phố cổ nhất ở Ấn có mặt cách đây 5000 năm. Trên đường đi có cảnh sát đứng dẹp đường cho xe đi qua. Hội nghị này do nhà nước tổ chức nên về mặt hình thức rất chu đáo. Với lượng công an cảnh sát nhiều như thế chắc cũng được điều từ nhiều nơi về. Dân làng, già trẻ gái trai đều đổ ra hai bên đường đứng xem. Nhìn họ trông thật hiền lành. Họ vẫn còn mang những nét chân chất và xa xưa của những người xưa cổ. Có lẽ họ được thừa hưởng từ nền văn minh lâu đời của họ. Công an và cảnh sát cũng vậy. Họ cũng cầm súng và cầm gậy nhưng khuôn mặt của họ rất hiền lành, không lộ một chút giận giữ hay căng thẳng. Dường như súng và gậy của họ chỉ để cho dân biết họ là công an cảnh sát để không làm những điều sai trái vậy thôi. Nhìn họ thấy thiện cảm liền. Ở sông Hằng, họ lập nên mười một giàn cầu nguyện. Mỗi giàn gồm một người con trai và năm người con gái trong trang phục truyền thống. Họ múa đủ các loại nhạc với những khay nến được xây thành hình tháp trên tay. Rồi họ tụng kinh và hát những bài hát truyền thống. Họ xoay đủ bốn phương để cầu nguyện. Trăng tròn cũng đang lên, đêm nay là đêm rằm. Ánh trăng làm cho đêm nay tăng thêm vẻ huyền bí. Quanh năm, đêm nào cũng có người cầu nguyện như thế trên con sông này, chỉ hơi khác là hôm nay đông hơn và hoành tráng hơn. Mọi người đến rất đông. Tôi nghĩ là ngày xưa chắc Bụt cũng từng tham dự những buổi lễ như thế. Tôi muốn đặt chân xuống nước, nơi mà ngày xưa Bụt cũng đặt chân xuống, nhưng không tiện. Ai cũng thấy tiếc là mình không được đặt chân trên dòng sông này, không được đi bộ dọc bờ sông. Nhưng may quá, ngày hôm sau, anh Shantum đưa chúng tôi trở lại sông Hằng ở một bến khác. Ở đây, chúng tôi được đi thuyền trên sông. Khung cảnh thật diễm lệ. Ai cũng cảm động. Chúng tôi ngồi yên trên thuyền ngắm mặt trời mọc với ý thức là ngày xưa Bụt cũng đã từng ngắm cảnh này. Tại con sông này, người ta cầu nguyện, tắm giặt, đánh răng, súc miệng, tất cả đều diễn ra trên một khúc sông mà khoảng cách giữa họ không xa là mấy, như thể nước sông có thể tẩy đi tất cả những dơ dáy bụi trần của họ. Nước sông thì đục ngầu mà họ thì lại thấy rất linh thiêng. Đúng là niềm tin! Trên thuyền, cũng có người lên theo để bán cá sống, đây là nghề của họ. Chúng tôi mua một ít để thả. Nâng những con cá trên tay để thả xuống dòng sông tôi thấy cảm động, ngày xưa ba tôi cũng đã từng làm như thế. Khi nào mấy chị đi chợ ba cũng dặn mua cá ra hồ thả. Tôi cảm động là thấy mình thật may mắn được tiếp nhận những hạt giống lành từ ba. Đi được một đoạn đường dài thì thuyền quay lại cập bến. Chúng tôi lên bờ và đến thăm những giàn hỏa thiêu. Một giàn đã cháy hết thành tro nhưng hơi ấm vẫn còn đó. Một giàn đang bốc cháy. Chúng tôi đến gần hơn thì thấy hình ảnh một cụ già đang nằm teo tóp trên giàn lửa, mặt mũi và hai chân đã teo lại vì sức nóng. Phần giữa thì đã cháy hết, không còn thấy rõ gì nữa. Chúng tôi đứng yên rất lâu và gởi năng lượng lành đến cho cụ, mặc cho hơi nóng táp vào mặt và những đốm lửa lách tách bay lên cao biến thành tro và rơi xuống đầy người. Chung quanh đó là những đống củi lớn được chất lên. Đằng kia nữa là một xác chết khác đang được chờ để đặt lên giàn hỏa. Người ta sẽ không thiêu một lần hai giàn. Người chủ xướng cho công việc này kể lại, họ đem những người già sắp chết, không nơi nương tựa về đây, cho họ uống sữa, chăm sóc, đợi ngày người ấy nhắm mắt thì làm lễ cầu nguyện và đưa lên giàn hỏa. Tôi cứ tưởng những cảnh tượng này chỉ còn lại trong lịch sử của những thời xa xưa, ấy thế mà bây giờ đang diễn ra trước mặt mình. Tôi không biết phải diễn tả tâm trạng mình như thế nào.

Đến đây tôi chứng kiến được nhiều thứ mà mình cứ nghĩ là chỉ còn trong sách vở. Ở đây bò vẫn còn được coi là con vật linh thiêng. Nó đi bình an mà cũng ngang nhiên giữa lòng đường phố. Mọi người hay xe cộ qua lại phải tự tránh nó. Hầu như không thấy người chăn dắt nó. Nó tự đi, mọi người tự tránh. Không biết nó có nhớ đường về nhà không nữa? Phân của nó người ta làm thành từng bánh, trét lên đầy tường, đầy các thân cây để phơi khô, sau đó họ dùng để nướng bánh như than vậy.

Trong những ngày này hầu như ngày nào chúng tôi cũng di chuyển. Di chuyển bằng máy bay, nhưng không cần phải check in, người ta đã in vé sẵn cho mình. Phái đoàn đông lắm, khi nào cũng đi hơn một máy bay. Chúng tôi đến Bodhgaya, Varanasi, Gaya, đến thăm những nơi mà ngày xưa Bụt ở, Bụt ngồi thiền, thuyết pháp. Đặt những bước chân lên những khu thánh địa này, tôi ý thức là ngày xưa Bụt cũng đã từng đi qua đây, những dấu chân của Ngài vẫn còn đó như lời của Thầy thường nhắc nhở. Chúng tôi bước đi trong niềm thương kính lắng đọng, tuy chung quanh mọi người vẫn ồn ào, náo nhiệt. Chúng tôi không biết ban tổ chức có thực tập không hay chỉ đưa khách đi tham quan. Nhưng đến đâu chúng tôi cũng có cảm giác là mình không đủ thời gian để tận hưởng cho lâu và cho sâu năng lượng của Bụt. Đến Bodhgaya đông nghẹt cả người, đông quá. Hỏi ra mới biết, thường ngày không đông như vậy, hôm nay có đoàn du khách đến, nên mới đông như thế. Trước cảnh tượng này tôi nảy lên một ước mơ là mình đừng bao giờ nổi tiếng để người ta không ồ ạt kéo đến, để giữ cho nơi mình ở được thanh bình và yên lắng. Để cho mọi người khi đến cảm được năng lượng bình yên này. Trở về lại khách sạn chúng tôi thấy tiếc là mình không được ngồi yên dưới cội bồ đề ở đây, mặc dù cội bồ đề này không phải là cội ngày xưa Bụt ngồi, chắc nó là cháu mấy đời của cây bồ đề gốc rồi. Sáng hôm sau, chúng tôi rủ nhau đi bộ qua đây vì khách sạn chúng tôi ở rất gần. Không khí yên tĩnh, lắng đọng của buổi sáng làm cho nơi này trở nên linh thiêng hơn. Không giống như hôm qua đến, chúng tôi ngồi thiền ở đây khá lâu. Đó là buổi sáng thích nhất trong những ngày viếng thăm Phật tích.

Chúng tôi cũng được Shantum đưa đi thăm một nơi mà ngày xưa cô gái Sudata đã cứu sống Bụt bằng bát sữa của mình lúc Ngài kiệt sức sau sáu năm khổ hạnh (Điều này nằm ngoài dự tính). Và người ta đã xây lên một cái tháp lớn để tưởng niệm. Đoạn đường này cũng nhiều ổ voi lắm. Chúng tôi đi bằng xe lam. Người nào cao là đầu sẽ đụng trần xe. Mỗi lần đi ngang ổ voi, chúng tôi lại bảo nhau thụt đầu vào, thụt đầu vào, như thể mình là một con rùa. Một con rùa đang cỡi trên lưng ngựa.

Một lần cho mãi mãi

Thăm những khu Phật tích xong, chúng tôi chia tay phái đoàn để bắt đầu công việc chính của mình – hướng dẫn khóa tu, ngày quán niệm và chương trình Wake Up. Chúng tôi đến ở lại một khu resort khá đẹp, yên tĩnh, có nhiều cây xanh, rất thiên nhiên và rất lành. Vừa đặt chân đến đây là thấy khỏe nhẹ như thể mình để lại sau lưng những huyên náo rộn ràng của du khách, những lao xao bận rộn của những ngày di chuyển qua. Nhìn cây cối vườn tược nơi đây, tôi thấy họ rất quan tâm đến môi trường và thiên nhiên. Nhìn cách chăm sóc của họ tôi cảm là họ thấy được môi trường là mình, mình là môi trường. Những ngày ở đây thật thích. Thích hơn là ở những khách sạn sang trọng. Rất thiên nhiên và rất lành. Đó là lý do tôi nói: “Không biết có gặp Bụt không nữa. Nhiều khi gặp hàng xóm mà tưởng là Bụt, nhiều khi gặp Bụt mà tưởng là hàng xóm”. Mặc dù những ngày trước, khi viếng thăm Phật tích, lúc nào mình cũng ý thức là Bụt luôn còn đó. Ý thức đôi khi cũng cần phải vắng mặt để mình thật sự cảm nhận sự kiện một cách nhẹ nhàng và sâu lắng hơn. Bởi vì trên hình thức, Sanskriti không phải là thánh địa mà sao thấy nhẹ nhàng, thanh thản. Đâu phải đến đất Bụt mới gặp được Bụt? Ở đây, gia đình sư em Bảo Tích cũng thường đến thăm, mang theo nhiều loại trái cây và bánh trái. Đặc biệt là xoài, lựu và đu đủ ở đây rất ngon. Ba mẹ sư em rất thân thiện, nhất là mẹ rất cởi mở. Mẹ cưng sư em lắm.

 

Thức ăn nuôi dưỡng tôi hằng ngày ở đây là những buổi sáng yên lắng, ngồi yên, uống trà chơi với Bụt và thiên thần. Lắng nghe chim hót, ngắm nhìn mặt trời đang lên hay giẫm chân trên những hạt sương còn đọng trên cỏ, thật tinh khôi và mát lành. Một buổi sáng như thế đủ nuôi tôi một ngày. Có những ngày làm biếng, mấy anh chị em ra uống trà ở hồ hoa súng. Rất thiên nhiên và thanh bình. Có ngày anh chị Shantum, Ghitu và hai cháu nhỏ cũng đến chơi chung.

Ngày cuối cùng ở Sanskriti thật ấn tượng. Người ta cũng tổ chức đám cưới nơi đây, họ chuẩn bị rất chu đáo. Đủ các loại hoa được kết thành từng tràng treo khắp nơi, đây cũng là phong tục của họ. Đi đâu cũng thấy họ bán những tràng hoa như thế. Rồi họ rải đầy những cánh hoa cúc trắng, cúc vàng, cúc cổ đồng theo nhiều kiểu hình khác nhau. Họ lại vun lên thành những đống nhỏ hình tháp đứng cạnh nhau, rất đẹp. Bước vào cổng, đập vào mắt mình là những hình ảnh đẹp như thế. Chung quanh có đèn cầy được thắp sáng suốt đêm. Đi sâu vào trong là một cái hồ, diện tích chắc cũng mười mấy mét. Hồ không có nước nhưng đáy hồ bằng phẳng được rải lên bởi vô số cánh hoa hồng. Hương thơm tỏa ra ngào ngạt. Từ đáy hồ đi lên bờ là những bậc tam cấp được rải bằng những cánh hoa cúc, đủ màu, mỗi bậc mỗi màu. Người ta rải kín hết cả đất. Bên kia nữa, là nơi tụ hợp nhảy múa cũng được trang trí như thế thành hình tròn, rất đẹp. Chúng tôi chưa bao giờ thấy một cảnh tượng được trang trí với nhiều hoa đẹp tuyệt vời như thế. Với số lượng hoa này thì chắc chắn người ta đem từ nhiều nơi về, hay là phải đặt trước cho những nhà trồng hoa mới có đủ. Ở Ấn Độ người ta có truyền thống làm lễ cưới vào ban đêm. Có lẽ là để tăng thêm vẻ huyền bí. Tuy chuẩn bị khá công phu và chu đáo nhưng cả chủ lẫn khách, không ai có đủ thời gian để tận hưởng. Người ta bận rộn với khách khứa, ăn uống, nhảy múa, đến khuya thì đã mệt nhoài. Sáng mai mọi thứ vẫn còn y nguyên. Thế là mấy anh chị em tha hồ thưởng thức. Chúng tôi ngồi yên, uống trà và ngắm hoa. Đó là lần đầu tiên trong đời chúng tôi. Một buổi sáng đầy ấn tượng. Lần đầu tiên mà có lẽ cũng là lần cuối cùng. Một lần cho mãi mãi.

Sông núi Bhutan

 

Sông núi Bhutan

Sông ôm núi cho mây lành kết tụ

Ôm ruộng đồng cho lúa trổ đầy bông

Ôm phố phường cho em thơ về ngủ

Cho tình người mãi bước bước thong dong.

Nước sông trong cho lòng em thêm sáng

Núi vững xanh cho chí khí em cao

Tâm hồn em là những vì sao

Tỏa ánh sáng giữa đêm dài tăm tối

Em ở đây cho tôi hằng lui tới

Để nuôi mình bằng hơi thở núi sông

Bằng nhân từ, khiêm cung và độ lượng

Bằng hồn nhiên, tuổi thơ em trắng trong.

Sông núi đã sinh ra em

Đất mẹ đã sinh ra em

Chất liệu đẹp lành thánh thiện

Chắp tay tôi nguyện cầu cho em

Luôn giữ mãi màu xanh

Của núi sông đất mẹ

Bằng ý thức tin yêu

Để nuôi em, nuôi triệu trái tim lành.

Bhutan

Hôm sau chúng tôi bay đến Bhutan. Bhutan là một đất nước được xem là một trong những nước hạnh phúc nhất thế giới. Tôi thấy mình quá đỗi may mắn và hạnh phúc được đặt chân lên đất nước này. Bhutan rất đẹp, nên khi máy bay sắp đến địa phận Bhutan người ta đua nhau chụp hình. Xuống máy bay là thấy khỏe ngay. Từ Ấn bay qua Bhutan chỉ có 40 phút mà khung cảnh và khí hậu rất khác. Đẹp và trong lành. Đặt những bước chân đầu tiên trên đất nước này, tôi ý thức là mình phải thở cho ba, phải bước cho ba. Hai người ra đón chúng tôi là chú Thọ, một giáo thọ cư sĩ của Làng người Pháp gốc Việt và một người nữ Bhutan trong trang phục truyền thống. Họ quàng vào cổ chúng tôi những chiếc dãi trắng dài, đây là phong tục chào đón của họ, rất trang trọng. Con đường từ phi trường đến thủ đô rất đẹp. Chung quanh là núi đồi xanh tươi và những con suối dòng sông chảy dài đến vô tận. Bhutan là một thung lũng nên đi đâu cũng thấy sông núi đẹp như thế. Khung cảnh và khí hậu nơi đây tương tự như ở Sapa mình, nhưng con người thì văn minh tiến bộ hơn. Chắc chắn rồi. Vì nơi đây có một ông vua rất nhân từ.

Trên đường, thỉnh thoảng chúng tôi dừng xe lại ngắm cảnh, khung cảnh tú lệ và khí hậu mát lành làm cho người mình khỏe khoắn và tỉnh táo hẳn ra. Chúng tôi ghé ăn cơm trưa ở một tiệm bên đường. Thức ăn rất tươi và lành. Ăn cơm xong chúng tôi được đưa về nhà trọ. Quý thầy thì ở lại nhà một người Phật tử. Ngôi nhà đẹp và thoải mái. Nhìn ra là thấy núi.

Bhutan nằm giữa Ấn Độ và Trung Quốc, có 70% dân số là đạo Bụt, 20% là Hồi Giáo, 10% là Thiên Chúa Giáo. Là một đất nước Phật giáo nên đạo Bụt phát triển rất mạnh. Học sinh được học về đạo Bụt trong trường học, bắt đầu từ lớp ba. Mỗi ngày các em tập trung trong một hội trường lớn để ngồi thiền trong vòng hai phút trước khi vào lớp học. Hai phút thì ngắn ngủi, nhưng làm mỗi ngày là nhiều lắm. Có lẽ vì vậy mà tâm hồn các em rất trong sáng, hiền lành, hồn nhiên và thánh thiện. Các em chân chất nhưng không quê mùa. Dân chúng cũng vậy, rất hiền lành. Có lẽ họ được thừa hưởng những đức tính quý báu này từ tổ tiên của họ và từ ông Vua đang trị vì. Vua nhân từ lắm, dân chúng rất thương ông. Ông rất chú trọng đến hạnh phúc của dân. Ở đây bệnh viện miễn phí hoàn toàn cho tất cả mọi người, kể cả người nước ngoài. Họ cũng thực tập một ngày không đi xe hơi mỗi tuần, kể cả Vua. Nếu cần thiết, họ sẽ đi taxi. Số lượng taxi cũng được giảm xuống một nửa. Thimpu là thủ đô của Bhutan, nhưng rất yên tĩnh, chung quanh toàn là sông núi. Có lẽ sông núi đã tạo nên những con người hiều lành, thánh thiện nơi đây. Chúng tôi ở Bhutan bảy ngày, trong đó có bốn ngày hướng dẫn thực hành quán niệm cho các em học sinh từ 13 đến 18 tuổi, còn lại là đi tham quan. Chương trình này do Gross National Happiness Center (Trung tâm Tổng hạnh phúc quốc gia) tổ chức, chúng tôi chỉ đến hướng dẫn. Hai Công Chúa cũng ra dự lễ khai mạc. Họ rất gần gũi, thân thiện và nhân từ, không những đối với khách mà đối với học sinh, dân chúng của họ cũng vậy. Một đất nước thật may mắn. Chúng tôi chia sẻ những pháp môn thực tập nhưng chính mình cũng được học hỏi rất nhiều từ họ, học từ bản chất trong sáng và thánh thiện, từ những đức tính khiêm cung và nhân từ. Đến đây, những bước chân của mình bỗng trở nên nhẹ nhàng và bình an hơn. Không bao giờ là hấp tấp, vội vàng. Con người ở đây là vậy, môi trường ở đây là vậy. Đúng là môi trường là mình, mình là môi trường. Không cần cố gắng gì cả, tự nhiên vậy thôi. Con người họ rất thư thái. Tôi cứ đùa với mấy chị em rằng ở đây không biết dạy cho họ buông thư như thế nào, vì thấy họ còn buông thư hơn mình nữa, không bao giờ vội vã, gấp gáp cho dù trễ giờ cũng vậy, họ cứ thong thả mà đi. Có lẽ mình phải học cách buông thư từ họ? Ông Samdo là một trong những người như thế, rất cởi mở, thân thiện, hài hước và khiêm cung. Ông tiếp đón chúng tôi rất chu đáo và theo sát chúng tôi trong những ngày ở đây. Chúng tôi được gặp ông Bộ Trưởng bộ giáo dục, ông chia sẻ rất chân tình. Cách nhìn nhận vấn đề của ông rất hay. Ông nói: “Cái quan trọng của người thầy giáo cô giáo là phẩm chất của mình. Cách mình đi vào lớp, cách mình đặt quyển sách xuống bàn, cách mình viết bảng, cách mình mở sách, cách mình hành xử… những cử chỉ ấy sẽ đi vào các em học sinh mà không phải là kiến thức mình trao truyền. Với lượng kiến thức đó, ngày nay các em có thể tự tìm kiếm trên mạng để học hỏi mà không cần đến mình. Cái mà các em học là nhân cách của mình.” Ôi, sao giống người tu thế nhỉ?

Chúng tôi đến trường mỗi ngày để hướng dẫn những ngày quán niệm cho các em học sinh. Bước những bước chân an lành đầu ngày trên những con đường yên tĩnh này làm cho người mình sảng khoái. Đoạn đường từ nhà nghỉ đến trường học khoảng 20 phút đi bộ. Con đường đến trường của những buổi sáng thật đẹp. Nếu đi đường tắt, mình sẽ băng qua những con suối và quanh đó là những đám hoa dại đủ sắc màu mọc rải rác khắp nơi. Thật trong lành và thanh khiết. Tôi bước đi từng bước nhẹ nhàng, bình an, hít thở không khí trong lành cho ba, khí hậu như thế này chắc chắn ba sẽ khỏe mạnh, tươi vui hơn. Năng lượng tràn đầy sức sống. Sinh hoạt bắt đầu từ 9 giờ sáng nên chúng tôi có nhiều thời gian cho buổi sáng của mình. Sư em Mai Nghiêm thích đi bộ vào sáng sớm. Sư chị Đẳng Nghiêm thích tập thể dục. Sư em Đàn Nghiêm thích ngủ thêm cho đủ giấc. Hai em cư sĩ làm việc riêng trong phòng. Tôi thì thích dậy sớm, ngồi yên, uống trà, ngắm núi, ngắm mây, nghe tiếng suối chảy. Thích lắm! Khung cảnh ấy làm cho không gian trong mình bao la. Bao nhiêu mệt mỏi đều tan biến hết. Ở Bích Nham, Sư chị Đẳng Nghiêm đang bệnh, nhưng đến đây thì sư chị lại khỏe hơn nhiều. Tôi thấy giống như mình đang được đi nghỉ mát vậy. Chúng tôi thường đến trường sớm, có khi ngồi ở lan can trên lầu uống trà với nhau và ngắm núi. Mấy chị em cứ trầm trồ, mình thật sang trọng, từ Pháp bay qua Bhutan ngắm núi. Chúng tôi đã nuôi mình bằng hơi thở núi sông nơi đây.

Chúng tôi bắt đầu thời khóa cho các em bằng thiền hướng dẫn, sau đó quý thầy quý sư cô cho pháp thoại. Nhìn khuôn mặt rất ngây thơ, hồn nhiên, trong sáng của các em ai cũng hạnh phúc và có nhiều cảm hứng. Trong nguồn cảm hứng ấy, thầy Pháp Dung chia sẻ pháp thoại mà cứ như là Bụt nhập vào hồn thầy. Thầy bắt đầu bằng câu chuyện thời thơ ấu của Bụt với những làn khói sage tỏa ra nghi ngút (Có lẽ thầy cũng muốn bắt đầu bằng những nét văn hóa của họ, văn hóa thờ cúng ông bà tổ tiên). Ai cũng có nhiều cảm hứng lắng nghe. Hôm ấy thầy giảng về Bát chánh đạo. Thầy hỏi các em Bát chánh đạo gồm những gì? Các em trả lời răm rắp: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Thế mới biết là các em được học những điều ấy ở trường. Sau đó thầy bật mí là thầy không dám hỏi gì thêm nữa vì sợ các em nói thêm những điều mình chưa biết. Thực ra thầy khiêm cung thế thôi. Tuy nhiên các em phần nhiều chỉ được học trên lý thuyết. Với tài năng khéo léo, thầy đưa các em đến thực hành. Và đó cũng là nội dung chính của suốt chuyến đi – Đem đạo Bụt ứng dụng vào trong đời sống hằng ngày qua trường lớp, gia đình và xã hội, gọi là Đạo đức học ứng dụng. Làm thế nào để biến lớp học thành gia đình thứ hai của mình. Sau thời pháp thoại là đi thiền hành, ăn cơm trưa, thiền buông thư và pháp đàm, có ngày thì vấn đáp. Quý thầy quý sư cô khác thay nhau hướng dẫn. Các em rất nhiệt tình và năng nỗ, thực tập hết lòng. Có em thấy thế, thích quá gọi điện cho ba em lên tham dự, mặc dù chương trình chỉ giành cho các em học sinh. Chúng tôi hướng dẫn như thế trong suốt bốn ngày cho 200 học sinh. Chúng tôi thấy mình được nuôi dưỡng nhiều bởi các em, bởi khung cảnh, khí hậu và con người nơi đây. Bhutan là một đất nước đang phát triển, người ta cũng đang xây dựng thêm nhiều khách sạn. Nhưng phát triển như thế nào thì tôi cũng mong sao cho họ luôn giữ được màu xanh của núi sông, giữ mãi không khí trong lành, vì chính những yếu tố ấy đã tạo nên những con người hiền lành, thánh thiện nơi đây. Chúng tôi yêu Bhutan mất rồi.

Ba đi Ấn

Chân Hội nghiêm

Ba đi Ấn

–          Ba ơi, mai con đi Ấn.

–          Cho ba đi với, cho ba đi thăm Bụt với !

Trước khi đi đâu xa khỏi Làng, tôi thường gọi điện cho ba mẹ để hỏi thăm sức khỏe và báo tin là tôi đi đâu đó để ba mẹ không trông điện thoại của tôi trong những ngày này. Thường thì ba tôi nói: «Chúc sư cô đi vui, nhớ giữ gìn sức khỏe nhé.» Nhưng lần này thì: «Cho Ba đi với, cho ba đi thăm Bụt với!»

Câu nói của Ba khích lệ tôi rất nhiều, cho tôi thêm cảm hứng và trân quý hơn chuyến đi của mình. Tôi chuẩn bị hành lý trong niềm phấn khởi với ý thức là mình sẽ đi Ấn cho ba, sẽ mang ba theo mình. Tôi ra đi trong một niềm hân hoan. Các sư em chuẩn bị cho tôi thật chu đáo. Bình thường đi đâu tôi chỉ xách theo mấy bộ đồ và những thứ thật cần thiết. Lần này thì… nào là mì gói, rong biển, nào là muối xả, muối ớt, nào xì dầu, bánh Pháp… Các em nói thức ăn bên đó khó ăn lắm, những người đi đợt trước về bảo là thức ăn bên đó ăn không được. Rồi nào là đồ cạo gió, nào là xà bong giặt, các em nói ở bên đó dơ và nóng lắm nên đem theo xà bong để giặt đồ cho tiện, bên đó trời nắng phơi đồ sẽ rất mau khô. Vì thế chuyến đi này tôi được xem là well prepared (chuẩn bị chu đáo).

Tôi đi bằng đôi chân của ba, thở bằng hơi thở của ba và nhìn bằng đôi mắt của ba. Tôi thăm Bụt cho ba. Ba tôi thương Bụt nên thương luôn nước Bụt, thương luôn những con người được sinh ra trên đất nước này, mặc dù ba tôi chưa biết gì về Ấn và những con người nơi đây. Có đi chăng nữa cũng chỉ trên sách vở. Ba tôi thương Ấn và thương người Ấn, như thể khi mình thương ai thì thương luôn cả gia đình, dòng họ, quê hương và đất nước của người ấy vậy. Tôi tận hưởng chuyến đi của mình hết lòng. Từ ngày đi đến ngày về. Một chuyến đi thật đầy.

 

Bụt hay hàng xóm?

Cuối chuyến đi, mọi người chia tay nhau. Người thì bay về Mỹ, người thì bay về Hongkong. Quý thầy đi thăm gia đình của sư chú Bảo Tích. Tôi và sư cô Đàn Nghiêm đáp máy bay về lại Pháp, đến phi trường lúc 11 giờ đêm. Quý thầy ra đón chúng tôi như đi đón các bậc Tôn túc từ Việt Nam qua, mang theo đầy đủ trà nước, áo ấm. Chúng tôi đi lúc Làng đang bước vào Thu và khi về lại là chuẩn bị sang Đông nên khí trời khá lạnh. Thầy Pháp Hữu và sư chú Giới Tạng đi đón, sợ quý thầy không đủ đồ ấm nên mang theo rất nhiều. Quý thầy kể cho chúng tôi nghe chuyện ở Làng. Chúng tôi kể cho quý thầy nghe sơ lược những chuyện ở Ấn. Sơ lược thôi, chứ hết thì không hết được. Chúng tôi về đến Xóm Hạ khoảng 2 giờ sáng. Khung cảnh rất yên tĩnh và vắng lặng, không một bóng người. Tất cả đều đi ngủ hết rồi. Chúng tôi nhẹ nhàng vào phòng và tìm chỗ của mình. Mọi người đổi phòng, chuẩn bị cho khóa an cư. Phòng sư em Đàn Nghiêm giữ nguyên, phòng tôi thì có thay đổi, tôi được chuyển sang một phòng khác, tôi được báo tin rồi, nhưng không biết là giường nào. Tôi bật đèn bên ngoài, nhẹ nhàng mở hé cửa cho ánh sáng lọt vào đủ để thấy giường nào trống, không người. Tôi nhẹ nhàng leo lên giường, đặt lưng xuống, ngủ một giấc đến sáng. Thì ra các sư em nằm đợi tôi về rồi ngủ quên hồi nào không hay.

Sáng mai căn phòng tôi cứ rộn ràng tiếng nói cười của từng nhóm các chị em đến chơi. Chúng tôi say xưa kể chuyện, nhiều khi cùng một chuyện mà không biết kể đi kể lại mấy lần. Có em hồ hởi hỏi: «Sư cô có gặp Bụt không?» Tôi trả lời: «Cũng không biết nữa, nhiều khi gặp hàng xóm mà tưởng là Bụt, nhiều khi gặp Bụt mà tưởng là hàng xóm cũng không chừng».

Có em đề nghị: «Thôi, sư cô thâu băng rồi ai vào chơi mở ra cho nghe, khỏi phải kể đi kể lại nhiều lần, hết hơi.» Tôi cười, ừ chắc sẽ làm thế.

Ngày đầu tiên trên đất Ấn


Chuyến đi của chúng tôi gồm có thầy Pháp Dung, thầy Pháp Siêu, sư chú Bảo Tích, sư cô Đàn Nghiêm và tôi bay qua từ Làng, sư cô Mai Nghiêm từ Hongkong, sư cô Đẳng Nghiêm từ Mỹ và bốn em cư sĩ, hai người từ Mỹ, một người từ Đức và một người từ Hà Lan. Nhân lực khá hùng hậu. Trong chuyến đi này, ngoài sư chú Bảo Tích là người Ấn, thầy Pháp Dung đã đến Ấn một lần, còn lại ai cũng mới đi lần đầu nên rất hồ hởi và phấn khởi. Đặt chân xuống phi trường là thấy thích rồi. Trên tường, người ta gắng một loạt những bàn tay bắt ấn cát tường làm cho mình thêm cảm giác gần gủi thân thương.

Chúng tôi được đón về nhà anh chị Shantum và Gitu. Anh chị Shantum và Gitu đã đến Làng tu học từ khi mới quen nhau, họ làm lễ cưới ở Làng và thường xuyên về Làng tu học nên trở thành thành viên rất thân thiết của Làng. Tối đó, chúng tôi được ăn cơm Ấn, theo phong tục Ấn. Không dùng muỗng đũa, chỉ dùng năm ngón tay của mình. Trong niềm hân hoan, phấn khởi, ai cũng vui thích hòa mình vào trong buổi ăn đó. Mọi người quây quần chung quanh chiếc bàn tròn. Trong bữa ăn có cả ông bà nội ngoại của mấy cháu nhỏ. Một bữa ăn gia đình thân mật và ấm cúng. Ngay từ đầu chúng tôi đã thấy gần gũi thân thiết như đây là nhà mình. Ngồi quây quần bên bàn ăn với nhiều món được bày lên, chúng tôi được hướng dẫn cách ăn, ăn thức gì với thức gì, sử dụng bàn tay của mình như thế nào. Rồi gia đình anh chị kể cho chúng tôi nghe thêm vài nét về truyền thống Ấn Độ. Tôi nhớ có lần làm thị giả cho Thầy, Thầy cũng dạy tôi ăn theo kiểu Ấn, Thầy lấy cơm và thức ăn bỏ lên bàn tay phải, rồi dùng ngón tay cái vo lại thành viên tròn, và cũng ngón tay cái này đẩy cơm vào miệng. Mình chỉ được dùng tay phải để ăn cơm thôi. Nhưng lúc đó thầy dùng cơm với muối xả, tương đối đủ khô ráo. Còn bây giờ ăn cơm với cà ri mà cũng ăn theo kiểu đó. Người ta chan cà ri lên cơm, dùng mấy ngón tay trộn đều cơm và cà ri lại với nhau rồi khoanh thành một nhúm, bốc lên, dùng ngón cái đẩy cơm vào miệng. Chúng tôi cũng được ăn bánh chapati, bánh mà hồi xưa Bụt cũng ăn như trong sách Đường Xưa Mây Trắng có nói đến. Một bữa ăn đáng nhớ! Thực ra không phải mình không được dùng muỗng nĩa, trên bàn cũng bày ra đầy đủ những thứ ấy, nhưng vì muốn hội nhập, muốn mình là một với gia đình, muốn học hỏi văn hóa của họ nên ai cũng muốn thử.

Nghỉ một đêm ở đây, hôm sau chúng tôi đến Padgodha, ngủ lại qua đêm để sáng mai bay đến Bhutan. Chiều đó chúng tôi có cơ hội đi dạo trên những con đường làng chung quanh. Trên đường quốc lộ thì đầy những tiếng ồn ào và bụi bặm. Nhìn xe chạy mà mình không sao tưởng tượng được cảnh người ta nhét người, hơn cả những ngày gần Tết ở Việt Nam, mà đường sá thì bụi bặm hơn nhiều, khí trời thì nóng bức. Đúng là mỗi nơi văn hóa mỗi khác. Thế nhưng khi đi vào làng thì yên tĩnh và trong lành hơn, không xe cộ qua lại. Chúng tôi đi dọc một con sông mà không biết tên nó là gì. Ở đây người ta cũng ra sông tắm giặt, rửa chén bát và đùa giỡn trên sông. Những câu chuyện xưa cứ từ từ hiện về trong tôi. Dân làng cũng đổ ra nhìn. Chúng tôi có cơ hội tiếp xúc với họ, thân thiện và cởi mở. Đi sâu vào làng là một đồng cỏ mênh mông, ở đó những em bé chạy nhảy, nô đùa, đá banh và những đàn bò bình an đang gặm cỏ. Chúng tôi mon men đến gần vài em, chào hỏi và chụp hình lưu niệm. Sau đó, nhiều em chạy tới, em nào cũng thích chụp hình chung. Các em rất thân thiện, hiền lành và dễ thương. Mặt mũi thì lấm lem nhưng tâm hồn thì trong sáng. Chúng tôi tiếp tục đi dạo, các em cũng kéo nhau đi theo. Càng lúc càng đông. Cuối cùng thì tất cả đều bỏ chơi và đi theo chúng tôi. Lúc đầu chỉ có các em nhỏ, sau đó có cả người lớn. Những câu chuyện trong sách Đường Xưa Mây Trắng kể về cuộc đời của Bụt và các em bé chăn trâu cứ từ từ hiện về trong tôi. Tôi thầm nhủ, sao giống thời của Bụt thế. Chúng tôi hát cho các em nghe bài Con về nương tựa Bụt, rồi các em hát lại cho chúng tôi nghe một bài hát bằng tiếng Ấn. Các em ở đây không hiểu tiếng Anh. Chúng tôi nói các em không hiểu, các em nói chúng tôi không hiểu. Nhưng sau đó có một em, có học tiếng Anh ở trường. Chúng tôi hỏi em tên gì, em đứng nghiêm trang, hai tay buông xuôi ép sát vào thân thể như thể đang trả bài cho cô giáo. «My name is… » _ «How old are you?» _ «I’m 11 years old». Tất cả những con mắt kinh ngạc và thán phục của những em khác đổ dồn vào em. Hễ chúng tôi hỏi điều gì là các em đều hướng về em ấy đợi câu trả lời, vừa như để khích lệ, vừa như đặt hết niềm tin tưởng và trông đợi của mình. Dễ thương quá đi! Mắt nào mắt nấy mở to, tròn xoe, ngây thơ đứng nhìn. Chúng tôi đứng chơi với các em như thế rất lâu.

 

Nhật ký thị giả

 

20.06.2012

Hôm ni là ngày đầu tiên con tập sự làm thị giả cho Thầy. Con thấy trong con có một chút hồi hộp, mừng rỡ, sung sướng, mắc cỡ và hơi lo lắng… Quý Sư mẹ nở hoa cười tươi khi biết con được làm thị giả, quý sư chị thì căn dặn con đừng làm bể đồ gì của Thầy nghe, con chỉ “nhe răng” cười. Thầy ơi! Răng mà con “hậu đậu” quá, con không biết phải làm gì cả. Mấy bữa ni, con hay đi khoe với Bụt là con được làm thị giả cho Thầy và con xin Bụt yểm trợ. Thầy là nơi bình an nhất rồi, sao con còn run nữa? Sáng ni, con đã đọc đi đọc lại những chương uy nghi có liên quan tới việc làm thị giả. Con tự nói với mình rằng Thầy là cha ruột của mình mà. Nói rứa thôi nhưng tim con vẫn đập “tưng tưng”, mặt con đỏ bừng mỗi khi gặp Thầy. Con gọi tên từng cảm thọ nổi lên rồi mỉm cười với chúng. Mong sao lần tới con bớt run và tự  nhiên hơn. Con nghe Thầy nói bụng Thầy không được khỏe. Cho con gửi lời thăm đến cái bụng của Thầy, cái bụng ngoan nhé cho Thầy con khỏe.

Thầy ơi! Con muốn nói với Thầy là chúng con rất hạnh phúc khi Thầy còn đây và niềm an vui của Thầy là gia tài lớn nhất cho chúng con. Hôm ni, Thầy có dạy về Tư niệm thực, mỗi người phải biết nuôi dưỡng trong mình một ước mơ, biết buông bỏ những điều vụn vặt, vô ích. Con sẽ để thêm thì giờ quán chiếu và thực tập xây dựng một Bát Nhã trong mình.

 

03.07.2012

Sáng ni, con được dạo chơi cùng Thầy ra vườn. Con vui lắm lắm!

Thầy đã chỉ cho con những cây Thầy trồng cách đây 35 năm. Đó cũng là con của Thầy, là Sư anh, Sư chị của chúng con, hơn con tới 15 tuổi lận. Thầy nói những cái cây đó không bao giờ bỏ Thầy, luôn trung thành với Thầy. Thưa Thầy! Con cũng sẽ như vậy, không bao giờ rời bỏ Thầy, rời bỏ Tăng thân, không bao giờ từ bỏ ước nguyện, Bồ đề tâm ban đầu của mình. Thầy tin con nhe!

Thầy nằm trên võng, con đưa nhè nhẹ. Hai thầy trò mình nhìn lên nền trời xanh thẳm. “Trời hôm nay đẹp quá! Thầy đố con tại sao nền trời lại màu xanh? Nếu màu da trời là xanh thì tại sao ban đêm nó lại màu đen?” Con chỉ biết trả lời ý sau: “Dạ tại vì ban đêm mặt trời đi ngủ nên bầu trời màu đen, còn vế trước thì con không biết”. Thầy dạy: “Con về tìm hiểu thử coi. Vui lắm!”  Rồi Thầy chỉ cho con những chiếc lá bạch dương đong đưa trên cành, con thấy nó giống như đang hát, chị gió thoảng qua làm nó cứ hát mãi không thôi. Con ý thức rất rõ là Thầy còn đây cho chúng con. Tự nhiên con lại xúc động nữa rồi. Giây phút ngồi bên Thầy thật là hạnh phúc, đâu cần phải làm gì.

Tuy con còn nhiều vụng về nhưng trong thời gian ni con chưa làm bể đồ đạc chi cả. Con mừng quá! Con tự căn dặn mình là phải thật chánh niệm, ý thức những gì mình đang làm. Có những lúc con không hiểu ý Thầy như Thầy muốn đi cửa trước, con lại bỏ dép cửa sau, thay vì lấy cái muỗng thì con lại lấy cái dĩa, quên nón của Thầy, rang đồ bị cháy… vậy mà Thầy vẫn từ bi mỉm cười, chỉ lại cho con. Con thấy con có rất nhiều phước đức, cái gì không hiểu thì con đi hỏi quý sư mẹ, sư chị. Sư mẹ Định Nghiêm hết lòng hướng dẫn tổng quát cho con và sư em Trăng Phương Nam về việc làm thị giả. Con cũng hay hỏi Y chỉ sư con và các sư chị trong phòng, các sư chị chia sẻ xong thì con bớt hồi hộp và an tâm hơn rất nhiều. Y chỉ sư con tuy trẻ nhưng rất giỏi, việc gì cũng biết. Con rất vui khi được gọi Y chỉ sư là sư chị thay vì sư mẹ. Trong thời gian làm thị giả, con chưa bị ai rầy hay nhắc nhở chi cả. Con chỉ suýt khóc mấy lần vì xúc động. Hôm nay, đi dạo ở Sơn Cốc, Thầy xoa đầu con rồi bất chợt nói: “Lỡ mai này con rời xa Thầy thì răng hè?”, lòng con se lại, con biết chỉ có sự thực tập hạnh phúc, bình an mỗi ngày mới là câu trả lời hay nhất cho con.

Ngày mai, Thầy có phỏng vấn ở Xóm Mới, tự nhiên con cứ trằn trọc suốt. Thầy là người trả lời câu hỏi chứ đâu phải con mà sao con thấy tim mình đập tưng tưng. Con mất ngủ chừng mười phút rồi ngủ say sưa tới sáng. Những lúc đợi Thầy qua, ban thị giả chúng con cứ bị chọc là: “sao hôm nay chit khăn đẹp rứa?” À! Mà cũng lạ, ai làm thị giả Thầy thì tự nhiên uy nghi người đó đẹp ra.

04.07.2012

Chiều hôm ni, con được đưa cơm qua Sơn Cốc, Thầy nói: “Hôm trước con hứa với Thầy là không bao giờ rời bỏ Thầy, bỏ Tăng thân, đó là con hứa trong hiện tại thôi, đâu biết được sau này ra sao. Vô thường lắm!” Thưa Thầy con nói thiệt mà. Con biết đây là ngôi nhà hạnh phúc nhất cho con.

Thầy còn dặn nếu lỡ con có vướng mắc ai thì nhớ báo cho Thầy biết ngay. Dạ vâng ạ! Con nghĩ con xấu xí, vụng về như ri thì có ai khờ mới vướng con mà con cũng không dám vướng ai. Con muốn là một con người tự do. Con có kể cho các sư chị con nghe về lời căn dặn của Thầy, chị em con nói sẽ để ý, nâng đỡ nhau. Con thấy mình rất may mắn và hạnh phúc khi được sống trong Tăng thân, được che chở và bảo hộ.

Hôm nay, trong bữa ăn, câu nói của Thầy làm con cảm động quá. Thầy nói Thầy rất hạnh phúc vì còn có thể đi thiền hành được lên đồi. Thầy đã thực tập cho Ôn Trúc Lâm và nhiều Ôn khác bằng tuổi của Thầy đang ở quê nhà. Thầy rất cưng đôi chân của mình, đâu biết còn bước được bao lâu nữa. Nghe tới đó thôi, mắt con đỏ hoe, mũi con cay cay. Con suýt khóc, may mà cầm lại được không thôi thì quê lắm. Thầy ơi! Đôi chân con đây còn khỏe mạnh, con sẽ bước cho Thầy.

Không biết sao càng gần Thầy, con càng thấy mình như gần Bụt, bình an, nhẹ nhàng, không cần lo lắng chi cả, bồ đề tâm con lên phơi phới. Thầy như một nguồn năng lượng vô tận, không bao giờ hết hạn sử dụng, cứ cho mãi, cho đi mãi không thôi. Mỗi lần con làm biếng thực tập, con nghĩ tới Thầy thì con làm siêng hơn. Khóa tu mùa Hè ni không có thời khóa tập thể dục buổi sáng. Con rất thích dậy sớm để tập khí công. Con đã đặt đồng hồ báo thức rồi nhưng con cứ ngủ nướng thêm một chút. Có khi một chút của con kéo dài tới giờ thức chúng luôn. Con còn ham ngủ quá Thầy ơi! Sáng ni, con cũng muốn “nướng’ thêm một xíu nhưng trong đầu con hiện lên hai chữ “Sư Ông”. Vậy là con giật mình tỉnh dậy. Hai bốn giờ tinh khôi đang chờ đón con, con nhoẻn miệng cười: “Thầy còn có công hiệu mạnh hơn đồng hồ báo thức.”…hi hi hi…

 

11.07.2012

Thưa Thầy! Hôm nay, con có một tâm hành không dễ thương. Đó là lúc thiền sinh đưa quá nhiều sách xin chữ ký Thầy. Con không muốn nhận, con thấy một chút gì đó không vui khi họ nhờ ký một lần mấy chục quyển. Con biết cái bụng Thầy không được khỏe, con sợ Thầy mệt. Con không biết cách nào để trả lại vì chồng sách đã đặt sẵn trên bàn của con. Nhìn cái mặt của các bạn thiền sinh, con thấy tội quá đi. Ngày mai, họ phải rời Làng rồi, với lại chỉ cần một chữ ký của Thầy thôi là họ đủ hạnh phúc, giống như mang được Thầy về nhà. Con mang sách qua Sơn Cốc nhưng không dám hỏi Thầy. Con hỏi nhỏ Sư cô Chân Không, Sư cô trả lời: “Ký sách chắc Thầy không mệt đâu!”. Ai dè Thầy nghe được, Thầy bảo con để sẵn cây bút trên bàn, Thầy sẽ ký. Con mừng quá trời. Thầy con từ bi ghê!

Anh trai con có gửi nước yến qua cho Thầy nhưng Thầy nói: “Bỏ Thầy mà đi nên Thầy không uống đâu, Thầy còn đang giận.” Thầy nhìn con vừa cười vừa nói: “Mai mốt, con bỏ Thầy đi, con gửi gì về Thầy cũng không nhận đâu.” Con nhìn Thầy cười lại, con nghĩ con sẽ thực tập cho ngoan để chuyện này không xảy ra. Một lúc sau, Thầy cười ra tiếng và nói: “Thầy mắc cười quá con hơ? Thương chớ làm sao mà giận được!” Rứa là cả hai cùng cười. Con biết mỗi khi có ai bỏ chúng ra đi thì Thầy đau như mất một đứa con. Con cũng vậy. Bây giờ thì con hết buồn chuyện anh con đi rồi. Nhờ anh con dẫn dắt nên con mới biết Thầy, biết Tăng thân, mới trở thành một Sư cô. Con biết ơn anh nhiều lắm! Lúc trước, con cũng giận anh con vì anh chẳng hề nói cho con hiểu tại sao anh bỏ Thầy, bỏ chúng ra đi. Anh chỉ nói sau này lớn lên em sẽ hiểu, rằng anh luôn có mặt cho em, rằng mùa xuân ở Làng rất đẹp, em nhớ thưởng thức… Tự nhiên anh dắt con đi tu rồi bỏ con lại một mình như rứa… Nhưng may quá, bên con còn có Thầy, có pháp môn, có các Sư cha, Sư mẹ, Sư anh, Sư chị và Sư em rất thương yêu con. Những giây phút vui chơi, thực tập cùng đại chúng, con hay gửi năng lượng cho anh vì con biết ở ngoài đó chắc anh phải lo lắng, làm việc, phải bon chen… già đi nhiều lắm. Anh còn nói anh đang đem đạo Bụt áp dụng vào cuộc đời. Con mong cho anh có nhiều thời gian và bình an để tận hưởng những mầu nhiệm của cuộc sống. Em cảm ơn anh đã chăm sóc má, anh chị, chơi với mấy em giùm em. Anh em mình mỗi người làm thật tốt, thật đàng hoàng cái phần của mình là mình có mặt cho nhau rồi phải không anh? Em đang thở và mỉm cười cho anh nè! hi hi hi…

Ngày cuối cùng khóa tu mùa Hè.

Thầy nói hôm nay thiền sinh thực tập đi thiền hành trân quý và hạnh phúc lắm. Con cũng vậy, vì con ý thức được rằng hôm ni là ngày cuối hai chị em con được làm thị giả cho Thầy. Đi bên Thầy, con thấy bước chân mình trọn vẹn hơn, hơi thở đều đặn hơn. Đồi mận đẹp quá! Cảm ơn Bác hàng xóm đã cho chúng con đi trên đồi mận. Con nghĩ cái đồi này rất may mắn vì ngày ngày nó được in những dấu chân bình an.

Hai chị em con đưa Thầy về. Đến cửa, Thầy cho chúng con về nghỉ. Con và sư em Trăng Phương Nam xin đưa Thầy vô tận trong nhà, đặt lại túi kinh trên bàn cho Thầy. Ba thầy trò nhìn nhau, Thầy nói: “Làm thị giả giỏi lắm!”. Con thấy có cái gì đó nghẹn nghẹn nơi cổ, con lại xúc động nữa rồi! Thấy trái táo bị hở gió trên bàn, con thưa: “Con mang trái ni về nghe Thầy? Thầy cười và “Ừ” một cái. Ba thầy trò lại nhìn nhau. Thật khó nhưng con cũng phải thưa: “Chị em con về thiệt nha Thầy?” Cả ba Thầy trò nhìn nhau cười vui. Thầy xoa đầu chúng con và nói: “Khi nào thích các con cứ qua đây chơi, không cần phải làm thị giả mới được qua.” Chị em con mừng rỡ đồng thanh: Dạ! Ra khỏi Sơn Cốc, bước lên xe rồi, tự nhiên nước mắt con cứ chảy ra. Sư chị Doãn Nghiêm và sư em Trăng Phương Nam chọc con nhưng mà con không thèm sợ quê nữa. Lần ni, con khóc thật sự luôn, sướng ghê! Tới Xóm Mới thì con lau nước mắt kẻo quý sư chị thấy lại chọc con tiếp.

Con mừng là sau khi làm thị giả con không bị lên kí nào. Con nhớ tuần đầu con bị lên một kí vì chiều nào đưa cơm cho Thầy, Thầy cũng gắp cho con thật nhiều thức ăn. Con đón nhận hết lòng, ăn hết lòng và còn cười hi hi nữa. Các sư chị con ở xóm, nhất là Y chỉ sư nói con mà lên kí thì sẽ bắt con chạy thể dục năm tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thầy nói con mà mập thì Thầy sẽ chịu trách nhiệm cho con. Thầy nói như rứa nhưng con không muốn là một sư cô mập đâu, nên mỗi lần Thầy gắp thêm thức ăn cho con thì con lại trả giá: “Một xíu thôi thưa Thầy!” Thầy còn chọc con: “Ừ, một xíu.” Mà cái chữ “xíu” của Thầy nó thiệt là dài. Có những lúc Thầy nói: “Bây giờ, Thầy có xu hướng muốn đãi con ăn sô cô la nhưng Thầy sợ con mập nên Thầy sẽ chừng mực lại gùm con.” Con vừa mừng vừa tiếc. Cuối cùng thị giả xong, con xuống lại 1 kí. Cảm ơn trời đất!

Làm thị giả là cơ hội cho con được gần gũi và học hỏi từ Thầy. Con cảm nhận được tình thầy trò, cha con thật sự chứ không phải là một người đệ tử với một vị Thiền sư nổi tiếng. Càng thực tập con càng thấy thương Thầy và Tăng thân nhiều lắm. Con thấy giữa thầy trò mình có một sợi dây liên hệ vô hình nào đó rất mật thiết. Những lúc Thầy mệt, con cũng thấy đau đau. Thầy không muốn chúng con bị trúng mũi tên thứ hai, Thầy trúng mũi tên thứ nhất mà Thầy còn không lo thì tụi con lo làm gì, mỗi người tự lo phần của mình thôi là đủ rồi. Con lạy Bụt, lạy đất Mẹ, nguyện cầu cho vô thường gìn giữ Thầy chúng con. Con được học hỏi rất nhiều qua thân giáo, qua cách sống đơn giản của Thầy. Nhờ đó, con dần buông bỏ những “con bò” trong thân và tâm mình như đồ chơi, gấu bông, tập khí đi nhanh, nói nhiều… thật là vui và nhẹ nhàng!

Được làm thị giả với sư em Trăng Phương Nam, con thấy thoải mái lắm. Sư em hài hước, dễ thương, có trách nhiệm, đặc biệt rất thương Thầy, thương chúng. Có những lúc hai chị em con chọc nhau, nói qua nói lại, giành nhau làm, giành nhau ăn… đến hồi gay cấn thì sực nhớ ra mình đang làm thị giả cho Thầy, phải hòa hợp, nâng đỡ nhau. Vậy là cả hai bắt tay cười xòa. Có khi chỉ cần một thị giả đi theo Thầy thôi, hai chị em con quyết định bằng cách chơi xù xì, ai thắng thì được đi nhưng cuối cùng vì ham vui nên cả hai cùng đi. Sau mỗi lần làm thị giả trong ngày quán niệm tại xóm, hai chị em con cùng ngồi lại chia sẻ những vụng về của mình để rút kinh nghiệm cho kì tới. Cả hai cùng cười phá lên vì ngày nào cũng có thêm chuyện mới lạ, có thêm sự ngây ngô, thêm kinh nghiệm. Đến khi quen dần thì hết phiên được làm thị giả. Con biết hết làm thị giả rồi thì cơ hội gần Thầy cũng ít lại. Con thấy hơi buồn và tiếc tiếc.

Sau này, con hay được các sư chị thị giả mời làm thị giả của thị giả, đi thiền hành theo Thầy, làm đậu hũ hay trồng cây… Con hạnh phúc lắm. Thưa Thầy con đã trồng xong cây hoa “rung rinh” sau vườn rồi ạ. Con cũng đang trồng con vào Tăng thân, cắm rễ, lớn lên, đâm hoa kết trái. Thầy ơi! Con sẽ là một cái cây xanh tươi, vững chắc trong khu vườn Tăng thân. Thầy đã dạy chúng con trở về với ngôi nhà đích thực của mình là biết ôm ấp, chấp nhận, thương yêu và chuyển hóa chính mình. Con nguyện tận hưởng giây phút hiện tại bằng cả thân tâm. Đó là ngôi nhà an ổn tuyệt vời nhất cho tất cả chúng con. Khi nào con lỡ quên, xin Thầy nhắc nhở lại giùm con. À! Con muốn kể cho Thầy nghe một tin vui trong khi đi thiền hành sáng nay. Vì trời mưa và có gió nên Thầy không dẫn đại chúng đi thiền hành được. Sư cha Pháp Ứng dẫn đại chúng đi vòng quanh nhà ăn Xóm Hạ. Con ý thức rất rõ là đất Mẹ đang có đó dưới từng bước chân của chúng con. Con bước thật nhẹ nhàng, tâm con lắng dịu. Con thưởng thức từng hơi thở và bước chân. Con đang đi bằng chính đôi chân khỏe mạnh của mình. Đã về, đã tới… con đang thực sự có mặt cho giây phút hiện tại. Và chỉ trong mười bước đầu tiên thôi, con thấy thân tâm con khỏe nhẹ. Cái cảm giác bình an, thoải mái lan tỏa toàn thân. Khi mình biết dừng lại mọi suy nghĩ, tính toán thì tự nhiên hạnh phúc nó tới phải không Thầy?

Mấy bữa nay, mỗi tối trước khi đi ngủ, con đọc một chương trong cuốn “Đường xưa mây trắng”. Con thấy con ngủ ngon và bình an sau đó. Thỉnh thoảng con còn mơ thấy Thầy. Con không biết sao mỗi lần đọc đến chương “Sao mai đã mọc” là tâm con lại chấn động mạnh. Hạt giống của giác ngộ, của thương yêu nằm sẵn trong tự thân mỗi người. Vậy mà bấy lâu nay mình không chịu nhận ra, cứ lặn ngụp trong biển sinh tử hoài làm chi. Bụt đã dạy, Thầy đã dạy như rứa, con cũng đã đọc đi đọc lại bao lần rồi mà sao con vẫn còn lênh đênh, mưa nắng thất thường. Con chưa là tri kỷ của Bụt được, con mới là hàng xóm thôi. Thầy nhớ nhắc con tới thăm Bụt thường xuyên nghe.

Con nhớ trong một bài pháp thoại, Thầy có nhắc tới kinh A Nậu La Độ. Bụt hỏi ngài A Nậu La Độ: “Có thể tìm Như Lai qua hình sắc, cảm thọ, tri giác tâm hành hay nhận thức không?” Ngài trả lời “Bạch Thế Tôn, không.” Bụt lại hỏi: “Vậy có thể tìm Như Lai ngoài những cái đó không? Đại đức thưa: “ Bạch Thế Tôn, không.” Bụt dạy: “Ngay khi ta còn sống đây mà còn không thể nắm bắt được thì huống chi sau khi ta nhập diệt”. Con nghĩ tới Thầy và con thấy mình thật may mắn vì Thầy còn đây cho chúng con. Thưa Thầy! Con đang tập nhìn sâu để thấy hóa thân Thầy trong các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và đặc biệt là trong con, trong từng bước chân, hơi thở…  Thầy nói mỗi khi nhìn thấy một sư cô, sư chú bước đi thảnh thơi hay ngồi chơi bình an và vững chãi là Thầy mừng lắm. Vì trong vị đó đang có Bụt, có Thầy. Con nhận ra rằng con đang được là con của Bụt, là sự tiếp nối của Thầy chứ không còn là hàng xóm nữa. Năm mới ni, con cũng xin làm mới sự thực tập của mình. Ngồi thiền cho có an lạc và tỉnh thức hơn, tập ngừng suy nghĩ khi đi, ăn cơm chậm lại để cảm nhận được món quà của trời Cha và đất Mẹ, tới chơi với chị em và các bạn thiền sinh nhiều hơn, làm việc gọn gàng, sử dụng đồ của chúng tiết kiệm đúng công dụng, đúng lúc, đúng chỗ, bớt vụng về lại… Khi càng thực tập có niềm vui con càng thấy được gần Thầy, gần Bụt. Càng lúc con càng có nhiều chuyện để viết thêm nhưng chắc con phải dừng lại ở đây thôi. Con mong cho Thầy luôn ngủ ngon, thời cơm ngon, chơi vui. Thầy đừng lo lắng nhiều cho chúng con Thầy nghe.

Thầy ơi! Con đã về thật rồi

Bên căn nhà xưa, bếp lửa hồng ấm cũ

Thầy trò ta cùng chung tay nhóm lửa

Hạnh phúc là bây giờ, ở đây

 

Con của Thầy

Chân Đôn Nghiêm

Instant Niết Bàn (Niết Bàn chứng liền)

Chân Lạc Tuệ là tên Pháp tự của một cư sĩ nữ người Việt, hiện đang định cư tại Mỹ. Cô đã thực tập theo pháp môn Làng Mai từ năm 2005 và đã nhận giới Tiếp Hiện. Cô thường đến Tu viện Lộc Uyển thực tập chung với quý thầy quý sư cô ở đó. Trong mùa An cư năm nay cô mới được về Làng lần đầu tiên và ở được bảy tuần. Bài viết dưới đây là sự thực tập chia sẻ hạnh phúc, hoa trái của cô trong thời gian cô ở Làng.

 

Jan 3, 2013

Tôi đang ở Phi trường Bordeaux chờ chuyến bay về Mỹ sau hai tháng ở Làng. Đúng là một chuyến “đi xa làm ăn lớn”. Chiến lợi phẩm tôi mang về xài hoài không hết. Tôi thích nhất là không phải check in hành lý và các thủ tục rắc rối của an ninh phi trường. Tôi chỉ cười tươi đi qua các trạm kiểm soát.

Dù phi trường nhỏ nhưng rất nhộn nhịp cho bà con mua sắm một lễ Noel. Rồi còn Tết Tây, Tết Ta, người Việt mình ăn Tết rất kỹ. Nghĩ đến quà mang từ Làng về tặng người thương, lòng tôi tươi rói, quà chưa đưa mà đã hạnh phúc quá chừng. Tôi có nhiều lý do để trân quý món quà này. Tôi xin kể sơ qua vài điều rất “tục đế” như: tôi không phải mất ngủ suy tư tìm quà cho vừa ý người nhận, rồi cuối tháng phiếu tính tiền (bill) về tim lại thổn thức. Tôi cũng không được quên xin biên lai không đề giá tiền để gói chung vào, rủi người nhận không thích họ có thể trả đồ và lấy lại tiền (cash out), buồn cười nhất là quà cáp mà dính dáng đến tiền bạc thì có vẻ…không thanh tú. Tóm lại món quà tôi mang về đã “vượt thoát” bao nhiêu khê mà còn có công năng “bách dụng” và “vượt thời gian”, chỉ cần vô dầu nhớt (tune up) là mới toanh ngay.

Bạn đang thắc mắc? Quà gì như “năm tâm sở biến hành” vậy. Khó tin quá, chỉ ở Tây phương Cực Lạc, hay Nước Chúa… Còn nơi đây là cõi Ta Bà thì… làm gì mà có.

Không bạn ơi! Món quà đó có thật đó mà. Mới hôm qua tôi thấy Thầy cho, niềm an vui còn đang tràn đầy trong từng tế bào của tôi. Xin bạn hãy lắng lòng nghe! Đây là những điều tôi được nghe tại Xóm Thượng trong thiền đường Nước Tĩnh ngày 6 tháng 12 năm 2012, vào lúc 9:45’ sáng. Hôm đó thính chúng độ 300 vị, gồm khất sĩ và cư sĩ. Tiết trời cuối Thu nắng ấm, những cây phong còn mặc áo gấm lộng lẫy nổi bật trên những thảm cỏ xanh mướt của Làng. Sau 30 phút thiền tọa, đại chúng được Thầy hướng dẫn tập những động tác chánh niệm. Thầy đã 86 tuổi mà có những động tác đứng một chân, Thầy đứng rất vững. Sau đó là buổi xướng tụng của quý thầy quý sư cô. Thầy đưa mắt nhìn đại chúng rồi từ tốn nói đại ý như sau:

Chúng ta bị kẹt vào Nhị Nguyên (còn – mất; đúng – sai; trên – dưới…) nên đã gây ra biết bao khổ đau ngăn cách, hận thù, kỳ thị và còn tìm cách tiêu diệt nhau. Chúng ta lại tin mọi sự vật nằm ngoài nhau; mẹ chỉ là mẹ, con chỉ là con, Bụt là Bụt… Tin vào một vị thần ở ngoài mình có khả năng mang ta đi về Niết Bàn khi ta…từ chối thở.

Điều này đã gây ra bao bế tắc của truyền thông, nghi kỵ, hiểu lầm. Sự thật thì không như thế. Phàm thánh đồng cư! Không thể tìm Bụt ngoài chúng sinh, không thể tìm con ngoài mẹ, hãy tìm khổ đau ngay trong hạnh phúc, rác cũng là hoa… Thầy nhắc lại lời Bụt: “Nước biển có vị mặn, giáo pháp của tôi chỉ có một mục đích là cởi trói hệ lụy, giải thoát khổ đau, đem lại tự do. Đó là Niết Bàn.”

Chúng ta không có khả năng đạt đến Niết Bàn lúc sống. Chúng ta cầu xin về nơi ấy sau khi… chết. Đó là tà kiến lớn. Tà kiến này đã ngăn che không cho ta tiếp xúc được với Niết Bàn trong lúc chúng ta cần nhất. Đó là khi ta còn… sống.

Bạn ơi! Niết Bàn chỉ là sự vắng lặng của phiền não, âu lo. Thầy còn dặn hãy tắt Đài NST (none stop thinking).

Sự thật, các sự vật, cả mạng sống của chúng ta đều nằm trong nhau, nuôi nhau để tồn tại. Không thể lấy con người ra khỏi Đất Mẹ. Mọi vật cứ thế mà chồng chất, tương tức, chằng chịt, móc nối nhau mà biểu hiện. Bạn ơi! Hạnh phúc và khổ đau của ta cũng chính là của người đó bạn. Nghĩ kỹ lại đi, bạn sẽ thấy đúng “tim đen” quá. Nghĩ được như vậy bạn sẽ dễ dàng chấp nhận những vụng về của nhau, lòng xót thương sẽ mở rộng, biên giới ngăn che sẽ yếu đi. Niềm vui sẽ đến dễ dàng như nước từ cao rơi xuống thấp. Đó là Niết Bàn. Thầy còn dặn dò Niết Bàn có thể chế tác ngay trong giờ phút hiện tại (hiện tiền), ngay ở đây. Thầy nhắc mọi người đều có sẵn chìa khóa để tự mở cửa nhà tù do chính mình xây lên và tự vào đó ngồi để chịu trận dài dài. Chưa đủ, mình còn bảo vệ nhà tù cho kiên cố bằng cách nghe đi nghe lại những CD cũ rích đã một thời làm mình lịm chết, mình đâu muốn là loại bò nhai lại phải không bạn?

Chìa khóa đó là hơi thở có chánh niệm. Một hơi thở ý thức có công dụng như chìa khóa, mở tung được nhà tù, chặt đứt phiền não, giúp ta bước đi như một con người tự do. Đó là Niết Bàn. Hơi thở có chánh niệm giúp ta nhìn sự vật sâu sắc hơn, mới lạ hơn, trân quý hơn. Bạn ơi! Hãy cưng đôi bàn chân đã mang bạn đi đó đây. Hãy quý đôi bàn tay đã giúp bạn viết những lá thơ bày tỏ tâm tình bạn với người thương, vì nhiều người sinh ra đã không có đôi tay, bàn chân như bạn.

Hôm nghe Thầy dạy, lòng tôi rộn ràng quá đi! Một sư cô lớn ở Xóm Hạ cười nói: Cô T về Mỹ nhớ mang Niết Bàn về nhé! Tôi thích quá nghĩ ngay được một món để làm quà mang về. Đó là Instant Niết Bàn.

Ở Mỹ cái gì cũng instant (ăn liền) hết, cafe, đường, Internet, nhà tiền chế, sân cỏ, lại còn food to go, điện thoại to go…tóm lại cái gì cũng nhanh và gọn. Duy món tôi mang về làm quà là không đâu có, làm sao tôi không hý hửng được!

Thầy rất tâm lý với thời đại, ngay cả tu Thầy cũng chỉ cho con đường ngắn nhất. Chờ đến chết mới nếm Niết Bàn thì trễ rồi, lỗ vốn thôi phải không bạn.

Những ngày ở Làng tôi đã được nếm món này rồi. Tuy chưa “pro” nhưng cũng tuyệt vời lắm. Tôi nghe Thầy nên về phòng tính sổ xem mình làm ăn thế nào mà khổ dài dài vậy, rồi tôi xem xét lại nhà tù mình xây kiên cố ra sao? Tôi cũng kiểm tra lại quan niệm Nhị nguyên của tôi vững chắc như núi cao không?


Tóm lại tôi đã làm một đổi mới nội tâm. Tôi làm custom make chìa khóa để mở cửa nhà tù của tôi. Tuy chưa phá tung, nhưng cửa sổ đã mở, hương tự do đang bay vào. Những trách móc, phiền muộn các con tôi từ từ rơi rụng như lá mùa thu vậy. Tôi thực tập yếu kém nên để “người khách không mời” đã tác yêu tác quái nhà tôi, chút nữa tôi bị mời ra sân ở. Tương chao chưa thấm mới ra cớ sự mẹ con rủ nhau khóc thầm và nghẹn ngào không nói được với nhau. Tình thương của mẹ con tôi luôn có đó, nhưng cứ bận rộn với tủi hờn nên tình bị che lấp. Phải chờ tôi sách valise sang Làng mới bừng tỉnh để nhận món quà quý đang nằm trong tay mình.

Thầy rất thương chúng ta nên người không muốn mình phải đợi chờ, “lá khô vì đợi chờ”* huống gì mình phải không bạn?

Đó là những điều căn bản Thầy cho để mang về nấu món này, tôi chỉ xin mạn phép nói sơ trong sự thực tập non nớt của tôi thôi, bạn nào muốn có “đặc sản của Làng” thì xin mời về Làng ở là tốt nhất.

Sau đây là vật liệu bạn cần (không phải đi chợ)

  1. Ngồi yên, giữ thân ngay thẳng, tâm an tịnh, mỉm cười, có chỗ thoáng, yên lặng.

  2. Điều chỉnh hơi thở đều, nhẹ, tự nhiên.

  3. Quán chiếu sâu sắc về nhà tù của mình (ghi ra giấy, thành thật).

  4. Quán chiếu sâu sắc về hạnh phúc mình đang có (ghi ra giấy, chi tiết).

  5. Quán chiếu sự liên hệ mật thiết của mình với chung quanh, kể cả sự tồn tại của mình.

  6. Quán chiếu những khổ đau và ôm ấp chúng như bà mẹ ôm con.

  7. Hãy tha thứ những vụng dại của mình rồi mới tha thứ những người đã làm mình khổ.

  8. Hãy “thực tế hoá vô thường” để chấp nhận sự sống là… vậy.

  9. Mềm dẻo quan niệm Nhị nguyên để không bị kẹt chặt trong tư duy.

  10. Cần niềm tin vững chãi cho tất cả từ 1 đến 9, món ăn sẽ ngon hơn.

Tuy bạn không phải đi mua sắm quà, nhưng bạn nên nấu món này cho chính mình thường xuyên cho ngon rồi bạn hãy đem đi tặng, vì bạn đâu muốn quà bị… úng thủy. Không có sự ngăn cách giữa người cho và kẻ nhận. Vì nếu không có người nhận thì cũng không có người cho phải không bạn. Cho quà xong bạn cũng nên để ý xem người nhận có tươi mát hơn không? Bạn có thể thay đổi gia vị cho vừa khẩu vị.

Bạn ơi! Tính tôi thực tế, làm gì cũng phải có lời. Quà quý như vậy mình phải rủ nhau đi lập công ty để ai cũng được hưởng. Công ty này không cần qua bao thủ tục rắc rối, cũng không cần kêu gọi cổ phần…, chỉ cần ai muốn sống thảnh thơi, muốn dừng lại để trân quý những gì đang có như hơi thở có chánh niệm. Tôi biết bạn đang cười, tự nhủ: Gớm, tưởng gì mới chứ thở thì có gì là lạ. Bạn ơi! Có mới lắm ạ! Vì cả đời chúng ta thở mà như… đã chết.

Tôi đang mời bạn uống trà đi rồi chúng ta đi lập tăng thân đó bạn. Thị trường đang cần món này vô cùng. Thích nhất là ai đã được hưởng món này rồi thì chính họ là người đích thân đi tặng quà, cứ như là “trái yêu thương đầy cành, hái đem cho mọi người” vậy. Bạn ơi, đã đến giờ tôi lên phi cơ rồi. Tôi có 10 giờ bay nên tha hồ… thở.

Hẹn bạn mùa An cư tới chúng ta cùng nhau “áo nâu về Làng” để nhận thêm quà Thầy cho.

Món quà đến tay bạn giữa lúc nàng Xuân đang múa hát. Tôi xin mượn hai câu thơ của Thầy để chúc bạn đầu năm, giữa năm, cuối năm và nhiều năm sau nữa:

Sắc Xuân rực rỡ trời phương ngoại

Thơ hát yêu thương rộng tháng ngày.

*Nhạc Trịnh Công Sơn

Nhận diện, chấp nhận và chuyển hóa

Chân Hài Nghiêm

Sư cô Hài Nghiêm người Pháp, thuộc gia đình xuất gia Cây Lê. Là một người xuất gia trẻ, sư cô có ước mong giúp mọi người được chuyển hóa và trị liệu bằng phương pháp thiền tập. Hiện sư cô đang thực tập với đại chúng ở Phật Học Viện Ứng Dụng Châu Âu (EIAB) tại Đức. Sư cô Chân Tại Nghiêm chuyển ngữ từ nguyên bản tiếng Pháp. Trích từ Lá Thư Làng Mai 36.

Chủ nhật, 6/1/2013

Thương gửi Thầy và Tăng thân yêu quý,

Con thực sự muốn tìm những từ ngữ có thể nói lên lòng biết ơn của con đối với Thầy và Tăng thân một cách sâu sắc nhất, nhưng rồi con nghĩ chỉ nói ra điều đó thôi thì chưa đủ, mà cách hay nhất là con cần phải sống đời sống hằng ngày của con trong tỉnh thức, để nuôi dưỡng lòng biết ơn và đền đáp lại tấm lòng của mỗi người trong Tăng thân bằng sự thực tập của mình. Ơn nghĩa này chắc không thể nào con có thể đáp đền trong một đời, chắc chắn là như vậy!

Sư cô Hài Nghiêm (phải) và sư cô Châu Nghiêm và đề án “1000 trái tim” tại EIAB

Sáng nay, trong buổi ngồi thiền, con đã trải nghiệm một điều tương đối mới mẻ. Anh trai lớn của con cũng tham dự buổi ngồi thiền, anh ngồi cùng với quý thầy. Trong suốt 45 phút của buổi ngồi thiền, anh cứ cựa quậy, bẻ ngón tay và thở rất mạnh… Ban đầu con tự hỏi anh chỉ làm ồn một chút rồi sẽ yên trở lại hay là anh sẽ đi ra ngoài vì không thấy thoải mái khi ngồi thiền. Rồi thì những câu hỏi liên tiếp cứ đi lên trong con, liệu anh có nghe được những tiếng ồn mà mình đang tạo ra không? Anh có «nghe được sự yên lặng» của mọi người trong thiền đường không? Anh có cảm nhận được năng lượng khó chịu của mọi người trong thiền đường khi bị quấy rầy không? Chỉ một lúc thôi mà chính con cũng cảm thấy bất an. Con bắt đầu nghĩ ngợi không biết mọi người sẽ nghĩ gì về gia đình mình. Nhưng cũng ngay lúc đó, con không để cho tâm con đẩy con đi về hướng chối bỏ anh ruột của mình, con chọn một hướng đi khác. Con quyết tâm mở lòng ra để chấp nhận hoàn cảnh và những tập khí của gia đình mình mà không mặc cảm, xấu hổ.

Từ từ con nhớ lại ước nguyện ban đầu của mình khi đi xuất gia, như lời Thầy vẫn thường dạy. Vì sao con muốn thực tập thiền, có phải vì con muốn đi tìm sự bình an thực sự trong tự tâm mình? Con đâu phải thực tập để nhằm vui thú với cái yên tĩnh bên ngoài, trong khi bên trong thì tâm con lại tán loạn, rối bời… Và con đã trở về theo dõi hơi thở, mỗi lần cảm thọ bực bội phát khởi vì tiếng ồn do anh con gây ra thì con lại hướng sự chú tâm vào sự phồng xẹp của bụng. Từ giây phút đó, con bắt đầu nghĩ đến trách nhiệm của mình là phải chỉ dẫn cho anh cách trở về chăm sóc chính mình, cách theo dõi hơi thở. Nhưng con cũng hơi ngần ngại, con không biết mình có nên đứng dậy để đến ngồi bên cạnh anh và hướng dẫn cho anh hay không. Con tự nói với mình rằng điều này không làm đại chúng phiền thêm đâu, vì giờ ngồi thiền đã trôi qua khoảng 30 phút rồi.

Con xin dừng lại ở đây một chút, vì con muốn ý thức rằng mặc dù anh trai của con đã rời tu viện sáng nay nhưng anh vẫn đang có mặt ở đây với con trong giờ phút này. Con biết không phải dễ gì mà con cũng như đại chúng ở đây có thể hiểu và chấp nhận vẻ bề ngoài của anh… Thực ra thì trong hai tuần anh con ở đây, con đã thay đổi một cách tích cực cách nhìn của mình đối với anh, và con thấy mình không phải cố gắng nhiều như trước đây để có thể dịu dàng, ân cần đối với anh.

Thứ Hai, ngày 7/1/2013

… Sáng hôm qua, con đã không đến ngồi bên cạnh anh con để hướng dẫn cho anh cách thở, bởi vì lúc đó con nhận ra rằng con đang bị thúc đẩy phần lớn bởi ý muốn làm chấm dứt những tiếng ồn do anh con gây ra. Con không biết bao nhiêu người trong thiền đường cảm thấy khó chịu, bực bội, và có thể mong chờ con làm một cái gì đó để thiết lập lại sự yên tĩnh cho buổi ngồi thiền. Con cũng không biết có bao nhiêu người có khả năng định tâm và thậm chí có thể phát khởi tình thương khi ý thức rằng chính vì những người đang khổ đau này mà tất cả chúng ta cùng ngồi đây. Điều duy nhất mà con biết đó là con đã trải qua tâm trạng muốn chối bỏ anh trai của mình, nỗi lo sợ bị mọi người đánh giá về gia đình, đồng thời con cũng ý thức rõ hơn lúc nào hết là con cần phải thực tập thở và chấp nhận những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Cuối cùng thì con cũng cảm thấy nhẹ nhõm khi không còn giận anh nữa, giờ đây con đã có thể thương được anh, điều này làm cho con cảm thấy ấm áp, dễ chịu. Con cũng nhận thấy và có niềm tin rằng tăng thân có đủ tình thương để chấp nhận anh con. Cho dù có thể có một vài người trong tăng thân chưa hiểu hoặc cảm thấy bực bội về chuyện này thì với tình thương mà con dành cho anh cũng như cho chính bản thân mình, con vẫn có thể chấp nhận được điều đó. Con tin rằng điều vô cùng ý nghĩa đối với con là xây dựng và gìn giữ một ngôi nhà ấm áp, thân thương, nơi luôn chào đón tất cả những ai đang và sẽ cần đến trong hiện tại và trong tương lai.

Đã nhiều lần chúng con được ngồi chia sẻ với một sư cô lớn trong tăng thân về chủ đề: liệu tăng thân mình có khả năng hiến tặng pháp môn tu học cho những người bị bệnh rối loạn tâm lý hay không. Một mặt, chúng con thấy rằng tăng thân đã làm được rất nhiều, nhiều hơn những gì mà mọi người có thể nhận thấy được, thông qua việc xây dựng một môi trường lành mạnh và nuôi dưỡng. Nhưng mặt khác thì sư cô lớn và con cũng nhận thấy rằng trước tiên mình cần phải nỗ lực thực tập để nắm vững hơn nữa các pháp môn căn bản, đồng thời học hỏi thêm những phương pháp hỗ trợ để đáp ứng được một cách phù hợp đối với thực trạng khổ đau do rối loạn tâm lý gây ra, vì đây là một căn bệnh khá đặc biệt và phức tạp. Con rất có niềm tin là tăng thân sẽ làm được vì có rất nhiều những vị Bồ tát tài năng trong tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ, trong đó có các cư sĩ Tiếp hiện. Con nhớ đến một cuốn sách trong đó có chia sẻ về kinh nghiệm của một nhà tâm lý học đồng thời cũng là một người thực tập thiền theo truyền thống Tây tạng, ông đã giúp xây dựng những điều kiện, môi trường thuận lợi để hỗ trợ và chữa trị cho các bệnh nhân bị rối loạn tâm lý. Cuốn sách đó có tên là «The Seduction of Madness» của Tiến sĩ Edvard Podvoll.

 

Năm nay, ước mong sâu sắc nhất của con là ước mong cho sự sống và bình an có mặt khắp nơi trong vũ trụ này, điều đó cũng có nghĩa là nguyện cầu cho tất cả mọi người và mọi loài luôn biết trở về với đất Mẹ. Con thấy là mỗi khi có mặt anh trai của con thì tâm con thường xoay như chong chóng và không thể tiếp xúc được với thân, với đất Mẹ. Nếu chính con không giữ được cho tâm an trú, có mặt với thân và với đất mẹ thì con sẽ luôn bị cuốn đi bởi những trận gió xoáy từ anh trai con. Khi đó, con không thể tiếp xúc được với con người thật của anh trai mình, một con người dễ thương mà con đã từng biết, con cũng đồng thời không tiếp xúc được với những gì đẹp và lành nơi chính mình. Nếu con biết thương chính con, nếu con biết chế tác hạnh phúc trong từng bước chân, từng hơi thở chánh niệm thì những cơn gió xoáy nếu có đến cũng chỉ tạo ra một chút xáo động trên bề mặt nhưng không thể gây chướng ngại hay ngăn cách giữa hai anh em. Đó là một sự khác biệt vô cùng lớn. Con ước gì mình giữ được cái thấy sáng tỏ này trong từng giây phút và chia sẻ nó với tất cả mọi người.

Con cũng muốn xin lỗi đối với tất cả những ai trong tăng thân đã bị ảnh hưởng bởi những khó khăn của anh trai con trong những ngày qua. Con cũng muốn xin lỗi anh trai con cũng như tất cả mọi người trong gia đình huyết thống. Nếu không có cha mẹ và anh chị em thì con không thể nào có mặt trong cuộc đời này. Nhân dịp này, con muốn nói lên lòng tri ân của con đối với Thầy và Tăng thân, đối với gia đình huyết thống, đối với đất Mẹ và tất cả những ai đã giúp con mỗi ngày nhìn cuộc đời với con mắt thương yêu.

Chim về tổ ấm

(Trích những lá thư gởi Thầy và các huynh đệ của các sư anh, sư chị và sư em từ nhiều trung tâm thuộc Làng Mai)

Kính bạch Thầy,

Kính thưa đại chúng,

Vào đầu an cư, con phát nguyện chỉ thực tập một điều thôi, đó là: DỪNG SUY NGHĨ và TẬP THỞ. Thật là vui vì sau đó Thầy cũng dạy chúng con về sự thực tập dừng lại đài phát thanh NST (Non-Stop Thinking: suy nghĩ không dứt) ở trong đầu mình.

Đối với con, cái đài phát thanh làm việc không ngừng nghỉ này là trở ngại lớn nhất làm cho con không tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Nhiều lúc, khi nhìn lại một ngày đã qua, con có cảm giác như con đã không có mặt thật sự cho những gì diễn ra trong ngày. Tâm con rất dễ bị phân tán. Có khi gần xong bữa ăn con mới nhận ra nãy giờ con hoàn toàn không có mặt cho bữa ăn, tâm con mải mê đi về quá khứ hoặc tương lai. Con cảm thấy tâm mình như có mây mờ che phủ và nó chật hẹp quá chừng.

Nhưng con cũng nhận thấy mỗi khi con nhận diện được điều đó khi nó phát khởi thì tự nhiên tâm con lại trở nên sáng tỏ, thoáng đãng. Ánh sáng chánh niệm giống như tia nắng mặt trời xuyên qua lớp mây mù. Vì vậy mà con quyết tâm thực tập theo dõi cảm thọ của mình trong ngày. Mỗi khi con thấy mình đang mơ màng hay cảm thấy chật chội, khó chịu ở trong tâm là con trở về theo dõi hơi thở. Cách này rất hiệu quả đối với con. Con còn có một công cụ rất hữu hiệu nữa, đó là thi kệ. Mỗi khi con sử dụng thi kệ khi làm các công việc hàng ngày thì con có khả năng trở về với giây phút hiện tại ngay lập tức. Những bài thi kệ còn có tác dụng tưới tẩm những hạt giống thương yêu và niềm vui trong con, nhờ vậy mà năng lượng chánh niệm trong con mỗi ngày một lớn. Ban đầu khi thực tập thì con hay quên lắm, nhưng bây giờ thì con nhớ đến thi kệ nhiều hơn.

Con còn có một niềm vui nữa, đó là sự thực tập Ba cái lạy. Thật là mầu nhiệm khi thấy được khả năng nuôi dưỡng và trị liệu của đất Mẹ! Mỗi ngày đất Mẹ đưa con trở về để tiếp xúc với mạch sống đang tuôn chảy và đôi khi đất Mẹ cũng mang đến cho con những món quà đầy bất ngờ.

Cách đây một tháng, con đã nhận được một món quà như vậy. Đó là khi con đang lạy xuống để tiếp xúc với đất Mẹ đồng thời quán tưởng về người mẹ huyết thống của mình. Mẹ của con thường hay buồn và dễ bị trầm cảm. Trên bề mặt trí năng thì con có thể hiểu được nỗi buồn của một người được sinh ra tại nước Đức vào năm 1939 – khi mà chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu bùng nổ. Nhưng trong lúc lạy xuống và quán tưởng về mẹ, bất chợt con chạm tới một điều gì rất lạ. Con cảm được rõ ràng nỗi đau của mẹ ở trong con.

Mẹ con được sinh ra ở một thành phố lớn của nước Đức – nơi chuyên sản xuất vũ khí chiến tranh. Khi quân Đồng minh biết được điều đó thì họ tổ chức nhiều cuộc công kích xuống thành phố. Và mỗi khi sắp sửa có trận công kích thì còi báo động rú lên để báo cho người dân nhanh chóng chui vào trong các hầm tránh bom. Nhiều khi, chuyện này xảy ra nhiều lần trong ngày, có khi người dân phải ở trong hầm cả ngày hoặc hai, ba ngày. Cho đến bây giờ, mẹ vẫn bị ám ảnh bởi tiếng còi báo động của thời chiến tranh, mỗi khi nghe tiếng còi hú là mẹ rất căng thẳng và lo sợ. Chỉ cách đây một vài năm, lần đầu tiên mẹ mới chia sẻ với con. Mẹ con kể khi mẹ mới bốn tuổi, có một ngày còi báo động rú lên và tất cả mọi người đều chạy vào hầm trú ẩn. Nhưng hôm đó bà ngoại, mẹ ruột của mẹ cùng một em gái mới sinh không kịp chạy vào hầm, và bị hàng loạt quả bom rơi xuống rất gần, xung quanh họ nhà cửa đều bị đốt cháy. Khung cảnh lúc đó thật hoảng loạn và điêu tàn. Đến bây giờ mẹ vẫn không thể nào quên được những hình ảnh đó và vì vậy mà từ trước đến giờ mẹ không chia sẻ được với con.

Khi con lạy xuống và tiếp xúc với đất Mẹ, con chợt cảm nhận được nỗi lo lắng, sợ hãi của mẹ đang có mặt trong con lúc đó. Con thấy được hình ảnh của mẹ khi còn nhỏ đang hiện hữu ở trong con. Tự nhiên, con thấy thương mẹ vô cùng. Con đã có thể ôm ấp mẹ cùng với nỗi sợ hãi trong con một cách dịu dàng, đầy tình thương. Và lúc đó, con thấy rõ rằng đây chính là một trong những yếu tố khiến cho tâm con lúc nào cũng như có mây mờ che phủ.

Ngày hôm đó, con tiếp tục quán chiếu về tổ tiên đất đai của mình. Tổ tiên của con là kẻ xâm lược mà cũng đồng thời là nạn nhân của chiến tranh. Họ cũng từng phải trải qua những gì mà mẹ của con đã trải qua. Nhưng đồng thời trong họ cũng có ý chí mạnh mẽ và quyết tâm thay đổi cuộc đời mình theo hướng tích cực và ý nghĩa hơn. Con cũng nhận thấy tổ tiên bên nội của con là người Ý – tổ tiên con cũng đã từng tham gia lực lượng Đồng minh chống phát xít và bị phát xít Đức sát hại. Con thấy được lòng can đảm của tổ tiên, quyết đi theo những gì mà họ tin là chính nghĩa và cần phải theo đuổi. Tất cả liệt vị đều có mặt trong con, con là sự tiếp nối của tổ tiên. Con có thể cảm nhận được nỗi tuyệt vọng, căm hờn cũng như ý chí, hy vọng và tình thương yêu của tổ tiên. Trong con bỗng tràn đầy tình thương đối với tổ tiên của mình, và con cũng cảm thấy rất hạnh phúc vì con đã có thể tiếp xúc và hiểu được tổ tiên của mình một cách sâu sắc.

Giờ đây, mỗi khi có một nỗi sợ hãi hay lo lắng khởi lên khiến cho con đánh mất mình con nhớ lại những gì con đã cảm nhận được khi con thực tập Ba cái lạy hôm đó. Điều này giúp cho con có thể chấp nhận và ôm ấp những cảm thọ với tình thương và năng lượng chánh niệm mà không để bị kéo đi. Con ý thức rằng một quá trình trị liệu đang diễn ra không những đối với con mà còn đối với tổ tiên trong con. Điều này khiến con vô cùng biết ơn Thầy và Tăng thân.

Mỗi ngày sống trong Tăng thân, con được nuôi dưỡng bởi các sư anh, sư chị, sư em của mình. Dòng sông Tăng thân đang đưa con đi tới mỗi ngày trong sự thực tập. Nhờ có Tăng thân mà nhiều bông hoa đã nở trong vườn tâm của con, và chắc chắn là sẽ còn nhiều bông hoa nữa sẽ nở trong tương lai. Con hạnh phúc vì con đã về, con đã tới.

Con của Thầy và Tăng thân,

Trăng Diệu Lý

ZZZ

Hạnh phúc thiền trà

Nguyên Triều – Chân Đàn Lâm

Là một người Việt sống trên đất Mỹ, chú khao khát có một nơi để trở về, trở về tìm lại những nét của quê hương, nơi mà ngày ấy mình đã gởi lại tất cả và ra đi. Và Chú đã tìm ra được cho mình và gia đình một nơi có khả năng nuôi dưỡng, đưa mình trở về với quê hương đích thực – Tu viện Mộc Lan.

 

Qua năm ngày tham dự khóa tu học Be Still and Heal (Lắng yên và trị liệu) ở Mộc Lan, trong con tràn ngập hạnh phúc, nuôi dưỡng và phát khởi được rất nhiều chất lượng của pháp môn yêu thương. Sau đó con phải rời tu viện trở về nhà để chuẩn bị đi làm. Sáng hôm sau con nhận được tin từ Canada báo tin là dì con đã vào bệnh viện cấp cứu vì bệnh tim. Thật là một tin khủng khiếp! Bao nhiêu hạnh phúc và năng lượng trong năm ngày có được bây giờ trở lại số không. Một nỗi lo lắng bắt đầu trỗi dậy tràn ngập trong con.

Con thương dì. Có phải là bởi vì dì đã từng thương yêu con lúc con đã mất mẹ từ nhỏ, hay là con đã học được pháp môn yêu thương? Dù dì chỉ là em của má nhưng trong trái tim con luôn chứa hình bóng dì như là mẹ ruột của con. Bây giờ, bao nhiêu nỗi lo lắng và sợ hãi đang lớn dần trong con. Lúc này con thực tập trở về hơi thở nhiều hơn, nhờ hơi thở sâu giúp con lấy lại được bình an. Sau hai ngày chờ đợi, con đã được đến bên cạnh dì. Thật may mắn quá! Khi đến Canada, vào thẳng bệnh viện, con đến bên cạnh dì, nói chuyện với dì, dì con đã tỉnh dậy. Bao nhiêu nỗi lo lắng và sợ hãi lại dần dần biến mất trong con và hạnh phúc vui sướng đang có mặt trong con lúc này.

 

Một tuần đã trôi qua, con phải chuẩn bị hành trang lên đường trở về quê hương xóm cũ. Vừa mới bước vào nhà, người đầu tiên con gặp là “nhà” của con (vợ). Nhà con cho hay là con có thư mời tham dự thiền trà nghi lễ Chủ nhật tuần này do quý thầy quý sư cô tại Mộc Lan tổ chức. Nghe vậy con lo lắng, không biết mình về Mộc Lan tu học có vụng về gì hay sao. Cơn bão lo lắng về tình trạng sức khoẻ của dì mới đi qua, cơn bão lo lắng mới lại đến. Và bây giờ không biết có gì đây, con đã thở nhẹ và thở sâu, ngồi xuống ghế sofa bóc lá thư ra, con đã thấy tên thầy Pháp Uyển và sư cô Tánh Nghiêm ký tên mời, lá thư viết như sau:

Mời chú tham dự thiền trà nghi thức vào Chủ Nhật này lúc 11:30 tại thiền đường xóm Mai của quý sư cô. Nếu không tham dự được nhớ gọi cho chúng con hay.

Những suy nghĩ vang lên trong con: “Không biết mình tu tập như thế nào mà mình được quý thầy quý sư cô mời đi uống trà?” Tối thứ Bảy, con đã có mặt tại tu viện Mộc Lan. Sáng Chủ nhật, con đã thức dậy lúc 5 giờ sáng để chuẩn bị đi theo thời khóa của ngày quán niệm. Sau khi ngồi thiền, đại chúng rời thiền đường, trên từng khuôn mặt như có đóa hoa mai chớm nở. Còn riêng con cứ băn khoăn về buổi thiền trà được mời đúng vào lúc 11:30, con đã có mặt ở Xóm Mai.

Thầy Pháp Uyển hướng dẫn cho chúng con cách tham dự thiền trà nghi lễ và bây giờ chúng con lần lượt bước đến trước cửa thiền đường Xóm Mai. Chúng con đợi ở ngoài cửa, khi nghe tiếng khánh thỉnh lên, chúng con mới bước vào thiền đường. Khi vào bên trong, con thấy một vòng tròn với mười sáu cái bộ đoàn đã xếp sẵn, ở giữa có những cụm hoa trang trí thật đẹp mắt do những bàn tay khéo léo của quý sư cô. Sư cô Tánh Nghiêm xướng lễ dâng hương, lễ Bụt, bắt đầu cho buổi thiền trà. Một niềm xúc động lớn dâng lên trong con, con cảm nhận rất rõ năng lượng linh thiêng của Bụt, của tăng thân đang ôm ấp lấy con, che chở cho con. Sau đó chúng con được mời ngồi xuống cùng với quý thầy, quý sư cô và các bạn đồng tu được mời. Chúng con ngồi yên theo dõi hơi thở, năng lượng ấm cúng an lành lan tỏa xung quanh. Hai sư cô trà giả, rót trà chuyền bánh nhẹ nhàng toát ra nét đẹp thiền vị thanh thoát. Chúng con được mời dùng trà trong yên lặng. Giờ đây hạnh phúc và sung sướng trong con lớn dần. Con đang thật sự nếm được hương vị của buổi thiền trà, và cũng thật sự nếm được giây phút hiện tại. Bao nhiêu lo lắng và bất an đã biến mất, không còn suy nghĩ gì về những băn khoăn, bực bội bên ngoài. Sau đó chúng con được mời chia sẻ kinh nghiệm tu học của mình. Hạnh phúc thay, đây là lần đầu tiên trong đời của con được một lần tham dự thiền trà nghi lễ. Quý thầy, quý sư cô Mộc Lan tạo cho chúng con những điều bất ngờ, sâu sắc trong những pháp môn thực tập của Làng. Giờ đây chúng con ai cũng cảm khích hết lòng chia sẻ cảm nghĩ hạnh phúc của mình. Không chỉ riêng con, ai cũng cảm động.

Bên ngoài trời vẫn mưa nặng hạt, mưa liên tục nhưng cõi lòng chúng con thênh thang, ấm cúng bởi tình thầy, tình bạn. Hạnh phúc thay buổi thiền trà khó quên, nhìn trên khuôn mặt mọi người ai ai cũng tràn đầy hỷ lạc. Lòng biết ơn trong con đang lên rất nhiều. Con cảm ơn sự có mặt của quý thầy, quý sư cô Mộc Lan đã cho chúng con thừa hưởng năng lượng tươi mát, bình an và được tiếp xúc với những pháp môn mầu nhiệm của Thầy. Pháp môn nào cũng quý cả.

Cám ơn quý thầy, quý sư cô đã cho chúng con một buổi thiền trà hạnh phúc và nuôi dưỡng.

Lắng nghe bằng trái tim

(Tâm Từ Hòa là một sư cô lớn lên ở Úc và hiện đang sống tại chùa Liên Trì, Hong Kong. Sư cô là một người xuất gia trẻ rất “năng nổ” trong các khóa tu Wake Up ở Đông Nam Á. Dưới đây là một chia sẻ rất thật khi sư cô có nhân duyên qua Trung Quốc để hoằng pháp với tăng thân.)

AIAB, ngày 14 tháng 5, 2012

Con kính bạch Thầy và Sư cô,

Chuyến đi Trung Quốc đầu tiên của con với thầy Pháp Khâm, thầy Pháp Chung, sư chị Sĩ Nghiêm và anh Simon vừa qua là một sự bất ngờ và rất kỳ diệu đối với con. Con mới được thọ giới Lớn và chỉ thích ở nhà để được học giới. Nhưng một tuần trước chuyến đi, trong buổi họp tỳ kheo ni con được tăng thân đề cử đi vì các sư chị khác không đi khóa tu được. Có lẽ vì đi với tinh thần cởi mở và hoàn cảnh bất ngờ mà con lại ít khái niệm và mong muốn vì con hoàn toàn không biết chi tiết của chuyến đi. Con chỉ có việc tin tưởng vào quý thầy, sư anh và sư chị như con nghé nương theo trâu mẹ và đàn trâu để qua sông. Con rất vui vì có cơ hội được học hỏi cách hướng dẫn khóa tu cho giới doanh nghiệp, một lãnh vực mà trước đây con rất ít tiếp xúc vì chưa bao giờ có sở thích tìm hiểu cả. Con biết con chỉ cần hết lòng thực tập theo dõi hơi thở và bước chân chánh niệm, khi quý thầy và sư chị cần con làm gì thì con hoan hỷ sẵn sàng giúp một tay. Con không biết một chữ hay một tiếng Hoa nào hết nên tự nghĩ rằng con sẽ không cống hiến được gì nhiều ngoài sự có mặt và năng lượng chánh niệm của mình. Tuy nhiên, con thích hát những bài hát thực tập chánh niệm và con thấy thiền sinh rất cảm động mỗi khi họ hát những bài thiền ca ấy. Họ chia sẻ là họ rất thích những bài hát giản dị này nên con đã cố gắng học vài bài hát bằng tiếng Hoa cho vui. May là các chị em mới ghi âm những bài hát bằng tiếng Hoa và sư cô Đoan Nghiêm, trong thời gian ngắn thăm AIAB cũng dạy cho con học tiếng Hoa được vài lớp, điều này đã làm khơi dậy sự thích thú để con tự học. Con thấy hát những bài hát chánh niệm là một phương tiện rất thích hợp cho nhiều người, lời của những bài hát như những lời kinh có khả năng đi thẳng vào tâm và tưới tẩm những hạt giống an lành và hạnh phúc cho người nghe.

Hai ngày đầu trong chuyến đi năm ngày, con chật vật với những cảm xúc bất lực và bất hòa trong mình. Lúc đó con bị cúm, phải uống thuốc và cảm thấy mù mờ không biết mình phải làm gì, nên làm gì trong môi trường khác lạ, không hiểu gì hết. Nhưng được tới Nam Kinh để thăm viếng chùa Kiến Sơ và đảnh lễ tổ tiên tâm linh, thiền sư Tăng Hội là một cơ hội rất hiếm có làm con quên hết phiền não nhỏ bé của mình. Trước đây vài tuần, một số quý thầy và quý sư cô nhà mình đã đến thăm đất Tổ, bây giờ có tên là “The Porcelain Tower of Nanjing”, nhưng chỉ được đứng trước cổng và chụp vài tấm hình mà thôi. Lần này không biết được duyên lành nào mà khi tới thì cổng đã mở và khi xin phép ông gác cổng thì ông ta cho phép đi dạo trên đường xi măng, nhưng không được đi lên đất khảo cổ, nơi mà vài năm trước những người khảo cổ đã đào lên một tháp cao 1.8m có chứa cất một kho tàng vô giá là Xá lợi và nhục kế của Bụt. Có một bài phóng sự viết là nơi nào có Xá lợi Bụt sẽ được hưởng ánh sáng trí tuệ và năng lượng từ bi của Bụt. Con thấy cũng thích hợp lắm vì Trung Quốc là nơi rất cần đạo Bụt ứng dụng vì Trung Quốc có rất nhiều quyền lực trong nền kinh tế thế giới hiện đại, người dân càng ngày càng phát tài. Nam Kinh được coi là thành phố lớn và hiện đại hạng thứ nhì sau thành phố lớn như Bắc Kinh. Ở phố chính của Nam Kinh, hầu hết góc đường nào cũng có một màn ảnh TV rất to đặt trên các tòa nhà doanh nghiệp cao. Và TV thì quảng cáo 24/24 những hình ảnh lộng lẫy đầy màu sắc quyến rũ như đang rót vào tàng thức của người dân, bày cho họ cách phải tiêu thụ như thế nào mới có thể được xem là người giàu sang phú quý và có giá trị. Nào là hàng hiệu Giorgio, Armani, Burberry, Dior, Chanel, v.v.. Con ngạc nhiên khi thấy những bảng quảng cáo và tiệm đồ hiệu này còn lớn hơn bên Tây phương, nơi xứ sở của những sản phẩm ấy. Nhưng khi bước vào cổng nơi đất Tổ, không khí trong lành và rất yên tịnh. Con đường có hai hàng cây phong cổ thụ, cành lá sum suê và xanh tươi tỏa đầy bóng mát. Cả nhóm dừng lại chụp hình rồi đi thiền hành trên con đường im mát giữa hai hàng cây, cảnh đẹp tuyệt vời như một bức tranh huyền thoại.

Từ trái qua: Sư cô Tâm Từ Hòa, sư cô Sĩ Nghiêm, thầy Pháp Khâm, thầy Pháp Chung và anh Simon

Với sự nghiên cứu của thầy Pháp Khâm và sư chị Sĩ Nghiêm, con được biết là sau khi Tổ sư Tăng Hội viên tịch, chùa và tháp đã bị sụp đổ và đã được xây cất lại ba lần theo sự vô thường của những đời vua. Nhưng Nam Kinh tới bây giờ vẫn được xem là “cái nôi” của Phật Pháp ở Trung Quốc. Trong khi cô Quế Phương (người trong ban tổ chức) đi hỏi ông quản lý đất khảo cổ, chúng con rất tự tại và thảnh thơi men theo con đường làm tạm bằng tre dẫn đến một cái nhà lớn và khi gặp ông quản lý, hỏi ra mới biết đó là nơi tháp Xá lợi đã được đào lên. Xung quanh có những mẫu đất rào lại bằng dây với những tấm bảng: “Art gallery” và “Quan Âm Đường”, y như mô hình vẽ về cảnh chùa cũ trước khi ngôi chùa và tháp cao chín tầng bị đổ lần cuối. Chúng con đang thật sự đi trên đất mà tổ Tăng Hội đã từng thiền hành những bước chân chánh niệm, và những bậc tổ sư kế tiếp qua các thời đại đã mang đạo Bụt đi vào cuộc đời. Con đang được đi trên đất mà tổ tiên tâm linh đã đi hơn 1800 năm trước. Con ý thức mình đang là sự tiếp nối của tổ tiên tâm linh. “Khai thông suối nguồn. Bồi đắp gốc rễ” là hai câu đối khởi đầu cuộc hành trình trở về với chính mình (xuất gia) của con. Nó đã gây nhiều cảm hứng để con tìm hiểu thêm về tổ tiên huyết thống của mình, và bây giờ con có cơ hội tiếp xúc một cách cụ thể hơn với tổ tiên tâm linh trong con. Đây là một món quà rất bất ngờ và tuyệt vời cho con. Con thấy những gì mầu nhiệm tự đến khi mình không mong cầu, khi mình chỉ có tâm hoan hỷ và cởi mở. Chỉ cần có niềm tin và đi cùng tăng thân với bước chân và hơi thở chánh niệm là đủ hành trang để đi khắp nơi. Con cảm thấy mình đã thấy được cái neo và không lo lắng mình đang bị lang thang trôi dạt một cách mù mờ trên biển Pháp vô lượng. Như trong bụng người Mẹ, em bé ý thức được cái nhau và cuống nhau đang nuôi dưỡng và mang sự sống đến cho mình.

Chúng con gặp ông quản lý đất khảo cổ và ông ấy mời chúng con trở lại thăm sau hai năm khi The Porcelain Tower đã được hoàn thành. Theo hai thông dịch viên, sư chị Sĩ Nghiêm và anh Simon, Tiếp Hiện cư sĩ (OI), đó cũng là lời ngỏ ý mời mình ra khỏi khu vực này liền vì bảo vệ sắp đến và sẽ không hoan hỷ khi thấy khách lạ.

Tới Dương Châu, cách Nam Kinh khoảng hai tiếng bằng xe hơi, chúng con ở một khách sạn gần chùa Văn Phong (WenFeng temple), nơi có khóa tu ba ngày cho 45 giám đốc (37 nam, 8 nữ) của các chi nhánh ngân hàng CITIC trong vùng Tô Châu (Jiangsu). Nhóm này đã được cấp trên, ông Tổng Giám Đốc cho hai sự lựa chọn: một là tham dự chương trình huấn luyện nghề nghiệp do ngân hàng cùng Đại Học Nam Kinh đã sắp xếp, trong đó có hai ngày học Phật Pháp căn bản do Thượng tọa Tịnh Nhân dạy và dự khóa tu ba ngày do “nhân viên” của Viện Phật Học Ứng Dụng (AIAB) hướng dẫn; haiaiH là đi tìm việc nơi khác. Con được “bật mí” là những thành phần tham dự khóa tu này đều là đảng viên Đảng Cộng Sản Trung Quốc và có địa vị trong ngành ngân hàng. Con không biết ngoài hai lớp và khóa tu có nội dung Phật pháp ra, chương trình này còn có những buổi huấn luyện nào khác hay không, nhưng đây là lần đầu tiên ông Tổng Giám Đốc đã lồng yếu tố Phật pháp vào khóa tu nghiệp, và bắt buộc nhân viên phải tham dự vì trước đây khi để tùy hỷ thì không mấy ai ghi danh. Con chưa gặp ông Tổng Giám Đốc này nhưng trong môi trường cạnh tranh “cắt cổ” của ngành doanh nghiệp, và trong tình huống tế nhị của tôn giáo dưới chế độ cộng sản, chắc ông ta cũng phải có bản lãnh lắm mới có thể dám làm điều này. Có thể ông ta đã gặp phước duyên lành và nếm được vị pháp diệu lạc của sự tỉnh thức, nên có năng lực quyết tâm như vậy.

Trong ban tổ chức mời quý thầy quý sư cô Làng Mai qua hướng dẫn khóa tu, chúng con được gặp ba người trẻ dưới 30 tuổi, anh Hà Quân Thạnh là trưởng nhóm chỉ mới có 28 tuổi, chị Hà Quế Phương 25 tuổi được nhiệm vụ “bảo vệ” chúng con, và cô ấy đã rất tận tình chăm sóc từng li từng tí từ thức ăn tới nơi ở của chúng con. Vài năm trước anh Quân Thạnh đã dự một khóa tu và được nghe thầy Tịnh Nhân thuyết pháp khai mở cho anh ta nguồn cảm hứng và niềm tin nơi Phật pháp. Sau đó duyên lành tiếp tục đến khi anh được mời làm việc tại Viện Nghiên cứu Văn hóa Trung Hoa của trường đại học Nam Kinh (Institute of Chinese Culture Research Nanjing University). Anh Quân Thạnh đã buông bỏ doanh nghiệp của mình để theo con đường huấn luyện với mục đích làm sống lại nền tâm linh cho người Trung Quốc, nhất là tìm cách mang đạo Bụt ứng dụng vào đời sống. Trong buổi ăn tối gặp mặt, anh chia sẻ ước vọng xây dựng một trung tâm thực tập chánh niệm đạo Bụt ứng dụng đầu tiên tại thành phố Nam Kinh. Anh Quân Thạnh với chức trưởng nhóm cùng sáu nhân viên phụ giúp có mục đích muốn giới thiệu Phật pháp cho những người không có, hoặc có ít niềm tin và hiểu biết về Phật pháp, nhất là cho giới trí thức, và chương trình này là một thí điểm khởi đầu cho quá trình tu nghiệp (professional development) để tìm cách tăng trưởng năng xuất của những người giám đốc và giảm sự căng thẳng (stress).

Thời khóa trong ba ngày có những điểm khác khóa tu thường tổ chức tại Làng và AIAB. Có ít sinh hoạt hơn, coi như là ba ngày quán niệm. Buổi sáng thứ nhất bắt đầu 9 giờ, thầy Pháp Khâm hướng dẫn cách ngồi yên và thiền hành chậm trong thiền đường của chùa Văn Phong. Đây là cách khởi đầu khóa tu khá “mạnh” (intensive) vì “thiền sinh” chưa bao giờ phải đi chậm như vậy, cho nên chúng con thấy rất vui khi quý thầy quý sư cô nhà mình cứ bị người đi sau đá trúng gót chân nhiều lần.

Vì cơ hội “chọc thủng” tập khí hối hả của họ rất hiếm cho nên ngay buổi đầu thầy Pháp Khâm cho thiền sinh biết hai thực tập căn bản nhất của Làng là dừng lại để theo dõi hơi thở bụng và để tâm theo bước chân chánh niệm. Trong buổi pháp thoại cũng như buổi pháp đàm, chúng con thấy họ không ngồi yên được. Cứ mỗi nửa tiếng họ trở thành “cóc bỏ trên đĩa” phải đứng lên, đi ra ngoài hút thuốc lá hay đi vệ sinh, nói với nhau vài câu gì đó rồi mới trở lại ngồi yên được. Pháp thoại ngày đầu thầy Pháp Khâm trình bày lịch sử Phật Giáo ở Trung Quốc và giới thiệu tổ Tăng Hội ở Chùa Kiến Sơ tại Nam Kinh, nhằm soi sáng kho tàng tâm linh và tổ tiên vô giá mà họ đang có.

Bữa cơm trưa được ăn trong im lặng và khi nghe tiếng chuông đầu tiên là họ vội vàng hấp tấp đi ăn – như những người chạy đua khi nghe tiếng súng khởi đầu thì vùng lên chạy “hết ga” để nhanh tới điểm kết thúc. Trong vòng 15 phút họ ăn xong, liền đứng dậy ra ngoài hút thêm điếu thuốc và trò chuyện với nhau. Con thầm nghĩ chắc sư anh sư chị của mình cũng đang mỉm nụ cười thông cảm. Bữa cơm ngày thứ hai có vài người bắt đầu có khả năng ăn chậm lại để thưởng thức và ý thức được mình ăn quá nhanh và tiêu thụ một cách quá phí phạm trong đời sống hàng ngày.

Ban tổ chức có dự định là sau bữa ăn trưa cho thiền sinh trở về khách sạn nghỉ ngơi, nhưng sau khi được hướng dẫn thiền buông thư, tất cả đều tươi tỉnh ra, không khí và năng lượng trong nhóm tự nhiên khác hẳn. Trước khi cho thiền buông thư, con thấy có nhiều căng thẳng và năng lượng của sự băn khoăn. Họ bồn chồn vì không biết ba ngày “huấn luyện” ở chùa sẽ như thế nào trong khi họ là những giám đốc rất bận rộn với nhiều công việc và đòi hỏi từ tứ phía: nào là nhân viên, khách hàng, dự án, kế hoạch cộng với sự “lựa chọn” đặc biệt của cấp trên đưa xuống.

Pháp đàm sau giờ thiền buông thư là một cách sắp xếp thời khóa rất hữu hiệu, vì sau khi được nghỉ ngơi, thiền sinh cảm thấy nhẹ nhõm và thoải mái hơn, cho nên ai cũng mở lòng chia sẻ về hoàn cảnh của mình. Có một ông thiền sinh chia sẻ là trước đây không thích Phật giáo và nghĩ rằng Phật pháp là một cách coi bói. Ông ấy không có niềm tin và cũng không có ý thích tìm hiểu thêm. Nhưng sau khi tham dự hai lớp học Phật pháp căn bản của thượng tọa Tịnh Nhân, ông ta thấy Phật pháp chỉ dạy cho người ta cách giải quyết những khó khăn khổ đau trong đời, và là cách hiến tặng tình thương cho đời. Một ông khác thêm vào: “Sau khi học hai lớp của thượng tọa Tịnh Nhân, bây giờ chúng tôi có cơ hội học cách thực tập những gì mình đã học qua như tư thế của thân thể, như thiền ngồi và thiền đi chậm. Ngay cả lúc nằm và ngủ mình cũng có thể thiền được. Thực tập như vậy giúp tôi an tịnh thân thể của tôi.” Ông ta kể một cách thích thú, như người mới khám phá ra được điều hay mới lạ. Người khác thì hỏi cách đối trị cảm xúc của mình, và khi ngồi thiền phải làm gì để không suy nghĩ nữa? Họ thắc mắc về sự buông bỏ và tự cảm thấy mình đang bị kẹt trong một cái bẫy mâu thuẫn không lối ra, bây giờ làm sao mà buông bỏ được công việc căng thẳng này và sự đòi hỏi liên tục của gia đình nếu muốn đạt tới sự an lạc như các thầy và các sư cô? “Cho dù tôi muốn buông bỏ đi nữa tôi cũng không làm được”. Một ông khá trẻ chia sẻ: “Thường khi gặp nhau chúng tôi hỏi thăm nhau dạo này sao rồi? Chỉ có một trong hai câu đáp: “mệt quá” hoặc là kể những điều không vừa ý trong đời. Rồi chúng tôi nhìn lại thời thơ ấu chỉ có hai bàn tay trắng nhưng có hạnh phúc, nay chúng tôi có nhiều tài sản nhưng không có niềm vui như xưa nữa.” Có cô chia sẻ: “Làm sao tôi có thể thực tập những pháp môn này vì công việc ở sở quá nhiều và về nhà phải lo cho chồng con nữa.” Buổi pháp đàm rất thú vị vì họ không ngần ngại và cởi mở chia sẻ liên tiếp cho dù không quen biết nhau nhiều.

Sau pháp đàm là thực tập thiền hành ngoài trời trong khung cảnh yên tịnh và mát mẻ của chùa Văn Phong, chúng con đi vòng quanh một cái tháp cao. Thiền hành thật là một pháp môn tuyệt diệu, nhất là cho những người mới biết đến thiền và khó có thể ngồi yên trong khoảng thời gian dài. Họ rất thích thiền hành cho dù tập khí vừa đi vừa nói quá nặng trong một số thiền sinh. Buổi thực tập thiền hành ngoài trời cùng với mười động tác chánh niệm mang lại cho họ nhiều năng lượng thoải mái và nhẹ nhàng để kết thúc một ngày học tập nhiều điều mới lạ.

Có lẽ đã nếm được sự an lạc trong ngày đầu nên sáng hôm sau, đúng 9 giờ là họ vào ngồi thiền nên không mất nhiều thì giờ. Với những lời hướng dẫn thiền ngồi chăm sóc thân thể phối hợp với hơi thở, con cảm nhận như họ rất thích buổi công phu và không khí của buổi ngồi thiền yên hơn hôm trước nhiều. Buổi pháp thoại ngày thứ hai, thầy Pháp Khâm nói về tâm lý Phật pháp qua những thí dụ cụ thể, dễ hiểu và gắn liền với hoàn cảnh công việc và gia đình của họ. Trong buổi pháp đàm có người phát biểu cách trình bày có hệ thống của thầy Pháp Khâm giúp họ hiểu được cách vận hành của tâm, và những hạt giống trong tàng thức biểu hiện thành tâm hành trong ý thức giúp họ thấy được cách áp dụng sự thực tập trong đời sống hàng ngày.

Sau buổi thiền buông thư thứ nhì, con thấy rất thú vị và mỉm cười khi họ đến buổi pháp đàm một cách rất thoải mái và vui vẻ. Có một vài người rất thích nghe tiếng chuông nên trong giờ rảnh, họ tự động lên ngồi kế cái chuông lớn và bắt chước quý thầy, quý sư cô ngồi thẳng lưng rồi thỉnh chuông. Có một ông tới buổi pháp đàm vui vẻ giơ chiếc khánh lên cao và công bố như một em bé trai: “Đây, tôi đã mang Pháp khí đến cho quý thầy quý sư cô dùng!” Họ rất thích thú như những trẻ em hớn hở với cơ hội được học và thực tập một cái gì mới mẻ và thú vị lắm. Thầy Pháp Chung hướng dẫn cách thỉnh chuông và theo dõi hơi thở. Tiếng chuông êm dịu của thầy làm họ lắng nghe như trong trạng thái thôi miên (mesmerized), đang thưởng thức toàn vẹn hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu. Từng lượt mỗi người được thực tập thỉnh ba tiếng chuông. Phẩm chất tiếng chuông càng lúc càng tăng cao vì hơi thở càng sâu và chậm hơn, và năng lượng trạo cử lăng xăng lắng xuống rõ rệt. Họ còn xin thầy thỉnh chuông lại để ghi âm trong điện thoại di động của họ để nhắc họ trở về hơi thở trước khi trả lời.

Sau khi thực tập thỉnh chuông, có một ông trưởng phòng chia sẻ nỗi bế tắc rất thiết thực trong môi trường giới doanh nghiệp. Ông ta nói: “Tôi cảm thấy người trong xã hội Trung Quốc thời đại như đang đi trên một xa lộ với tốc độ 100km/giờ, nhưng trong môi trường ngân hàng, chúng tôi cảm thấy mình đang bị kẹt trong xa lộ với tốc độ 150km/giờ! Tôi không thể nào ngừng và buông bỏ như quý vị (quý thầy và quý sư cô) được. Tôi ngưng thì sẽ có tai nạn lập tức, và tôi không thể nào chậm lại vì sẽ có rất nhiều áp lực từ cấp trên và những nhân viên ở dưới địa vị của tôi. Tôi phải làm sao bây giờ? Tôi phải thực tập như thế nào mới có được an lạc và thảnh thơi?”

An trú trong hơi thở chánh niệm trong khi thực tập lắng nghe nên con không còn xem họ là những đảng viên, chỉ thấy họ như những cô chú ruột thịt của mình. Tính cách của họ lịch sự, tôn trọng và lễ phép với nhau. Họ cũng có tâm hướng thiện, khao khát những điều rất con người như được hạnh phúc, được an lạc cho mình và người thương của mình. Nhìn lại thì là lẽ đương nhiên, nhưng có thể vì con được sanh ra và lớn lên trong thời hậu chiến đói khổ, tương lai mù mịt ở Việt Nam, và vì bố mẹ, ông bà con đã chịu nhiều thống khổ dưới chế độ cộng sản nên con chỉ được nghe những lời hận thù về đảng cộng sản. Bây giờ tiếp xúc được với những khổ đau của họ con thấy trong mình những thành kiến bất thiện và lệch lạc được rơi rụng, chỉ còn lại tình người mà thôi.

Buổi pháp thoại cuối của khóa tu, thầy Pháp Khâm trình bày những đức hạnh và cách chế tác quyền lực đích thực theo nội dung trong quyển sách Power (Quyền Lực) của Sư Ông. Sau đó thầy cho vấn đáp. Có một ông đặt câu hỏi: “Những điều thầy nói rất hay và lý tưởng lắm cho mọi người, nhưng trong thế giới doanh nghiệp tôi không biết phải hành xử tử tế bằng cách nào với những người tranh dành lợi lực và tiền tài bằng đủ cách bất lương. Họ có thể giấu giếm thông tin tài liệu để gian lận hoặc chiếm đoạt lợi lạc cá nhân, bất cần đến mối quan hệ với người khác. Nếu tôi không làm gì hết thì sẽ chịu thiệt hại, không những cho riêng mình mà cho những nhân viên trong ngân hàng luôn. Tôi phải làm như thế nào, và làm sao áp dụng những lý tưởng đẹp đẽ này trong môi trường như vậy?” Ông hỏi xong tất cả thính chúng đều im lặng. Không khí trĩu nặng với sự mong chờ vì đó là thực tế mà họ phải đối phó hầu như mỗi ngày. Con cảm thấy đây là giây phút đỉnh điểm trong khóa tu. Ba ngày qua tăng thân mình như đã dìu dắt họ đi chuyến du ngoạn lên núi. Trên đường đi đã có lúc khó nhọc và nóng bức, nhưng đồng thời họ cũng được thưởng thức, nuôi dưỡng và trị liệu bởi không khí khoáng đãng của núi rừng (môi trường yên tịnh của chùa). Bây giờ tất cả đều đứng trước một vực thẳm trong câu hỏi này. Lúc đó con cũng hồi hộp không biết thầy sẽ trả lời như thế nào vì đây là giây phút mà mình có thể làm rung động trái tim và thức tỉnh Bồ Đề tâm của họ. Con hết lòng tâm niệm “đánh tin” SOS tới Sư Ông – “Sư Ông ơi, con xin Sư Ông gởi năng lượng trí tuệ và từ bi đến cho thầy Pháp Khâm con làm sao khai mở được trái tim của những người đáng thương này đi Sư Ông!”

Thầy Pháp Khâm im lặng một hồi rồi từ tốn và lần lượt kể những câu chuyện bi thảm có thật trong giới giàu sang nổi tiếng. Như hai người bạn cùng một công ty đang tuyển chọn giám đốc. Cả hai đều muốn được lên chức. Ông A tìm mọi cách để được chức vụ nhưng khi thấy người bạn thành công, ông A quá tuyệt vọng và đi tự tử. Ông B đau khổ vô cùng khi mất một người bạn thân của mình, cũng từ chức bỏ công ty. Thầy liền trình bày tiếp vài chuyện điển hình tương tự về những người nổi tiếng giàu sang với gia tài cả triệu, cả tỷ đô Mỹ nhưng vẫn tìm đến cái chết vì tuyệt vọng trong tình cảm hay cuộc đời không có hạnh phúc và ý nghĩa. Thầy kết thúc bằng cách mời các thiền sinh nhìn kỹ lại cái nhu yếu thiết thực nhất của họ, cũng như của tất cả mọi người là gì, có phải là hiểu người thân cận và được người khác hiểu mình, thương và được thương không? Câu trả lời đơn giản nhưng đầy hiệu nghiệm, như tiếng chuông đại hồng chánh niệm được thỉnh vang, thấm tận lòng người nghe. Không khí im lặng tuyệt diệu với sự tỉnh thức. Tiếng chuông hùng tráng này đã làm lắng yên tất cả những câu hỏi, những băn khoăn và tiêu tan những mối nghi ngờ, bất công trong lòng của họ. Giây phút thật nhiệm mầu!

Bữa cơm trưa sau buổi pháp thoại này có chất lượng nhẹ nhàng, từ tốn và thảnh thơi hơn bữa ăn đầu nhiều. Thường khi ăn xong họ liền ra ngoài hút thuốc hay làm gì khác nhưng hôm nay có người ăn chậm hơn và ngồi lại lâu hơn trong im lặng, có người quan sát và chụp hình quý thầy và quý sư cô để lưu lại tư cách ăn trong chánh niệm đang được thực tập.

Sau buổi thiền buông thư chót có thực tập Năm cái lạy với vài từ ngữ điều chỉnh lại cho bớt tính cách chuyên môn Phật pháp. Buổi ngồi chơi (Be-In) để kết thúc khóa tu rất cảm động. Có một ông chia sẻ ông ta rất cảm động khi thực tập thiền lạy vì ông nhớ đến câu chuyện bà Mẹ nghèo đã nhiều lần hy sinh bát mì cho con gái của mình được lớn nên người. Hạt giống từ bi trong ông ta đã được tưới tẩm và ông ấy khóc nức nở không ngừng trước tất cả đồng nghiệp. Ông ta nói mình có thể học hỏi hơn khi biết ơn. Ông khác chia sẻ: “Thường tôi không thích nghe về lý thuyết và lịch sử Phật giáo trừ khi nhìn về phương diện văn hóa. Nhưng tôi thấy 5 Tâm Sở Biến Hành giúp tôi hiểu được sự vận hành của tâm mình.” Ông khác nói: “Trong công việc phải làm nhanh mới được coi là hữu hiệu, nhưng tôi thấy làm nhanh giảm phẩm chất của sự truyền thông. Chậm lại sẽ có nhiều kết quả tốt hơn, và tôi cảm thấy bình an khi nói chuyện với quý thầy quý sư cô. Trước đây tôi tới khóa tu quyết tâm đạt được mục đích thiền. Nhưng ba ngày qua tôi đã thay đổi khái niệm về thiền. Thiền là làm lắng dịu tâm trong những công việc đang làm. Tôi đã học được những tập khí tốt mà có thể sử dụng trong suốt cuộc đời của tôi, và ba cửa giải thoát có thể giúp tôi buông bỏ những phiền não trong mình.” Một cô nói: “Trong quá khứ tôi không muốn và không thích đến chùa thân cận với người xuất gia. Nhưng trong khóa tu ngắn ngày này, tôi cảm thấy an lành.” Cô khác phát biểu: “Sáng nay tôi thức dậy với những lời của bài hát “Ta hạnh phúc liền giây phút này…” trong đầu của tôi, và nó làm tôi cảm thấy nhẹ nhàng và vui. Tôi rất thích những bài hát chánh niệm đã được học.”

Trong khóa tu này chúng con không đọc và tụng kinh, nhưng những bài hát thực tập chánh niệm không khác gì những bài kinh khế cơ cho những người doanh nhân có ít thiện cảm với Phật giáo, và con nghĩ nó cũng có tác dụng mầu nhiệm không kém so với người Phật tử nghe kinh. Một ông hớn hở chia sẻ là ba ngày qua đã giúp ông ta thấy được sự vô thường của đời sống. “Mình có hạnh phúc là đủ rồi!” và ông ta nói câu “Present moment, wonderful moment!” như người đã chứng kiến được lẽ tự nhiên tuyệt vời của câu này. “Trong quá khứ tôi không tin khi người ta nói mình phải sống có hạnh phúc, nhưng bây giờ tôi mới thấy được mình có thể có hạnh phúc thật sự, và có thể mang hạnh phúc cho người bằng cách sống chánh niệm. Tôi có nhiều cảm hứng muốn làm những điều giúp ích và tốt lành cho gia đình hơn.”

Anh Quân Thạnh chia sẻ vài lời kết thúc: “Tôi cảm thấy an lành khi tổ chức khóa huấn luyện có khả năng giúp người tham dự được an lạc. Tôi cũng đã từng dự khóa tu tại chùa Văn Phong nhiều lần và được rất nhiều cảm hứng hạnh phúc và bình an. Thầy trụ trì rất từ bi và muốn mang đạo Bụt ứng dụng cho dân chúng Trung Quốc với những khóa tu miễn phí.” Thầy trụ trì tự tại có đôi lời khuyến khích thiền sinh mỗi ngày tắt điện thoại di động và cho mình được ngồi yên và “nghỉ phép” 15 phút. “Biết cách nghỉ ngơi là bí quyết tăng trưởng khả năng làm việc của mình.”

Sau khi các thiền sinh đã về, chúng con ngồi lại với thầy trụ trì và hai người trong ban tổ chức. Anh Quân Thạnh chia sẻ là bây giờ Đảng Cộng Sản Trung Quốc có khuynh hướng muốn phát triển nền văn hóa, và Phật giáo có thể hoạt động dưới dạng văn hóa và “interest groups” (nhóm có chung sở thích) mà không bị dẹp tắt nhanh chóng. Khi chúng con nói tới sự xây dựng tăng thân, một cộng đồng tu tập để yểm trợ cho nhau thì anh Quân Thạnh chia sẻ là gần đây số người Trung Quốc theo đạo Phật Tây Tạng càng tăng và họ đã thành lập những cộng đồng cùng sở thích tu tập. Nhưng những hoạt động có tính cách “cộng đồng” sẽ dễ bị gây sự chú ý không lành của Đảng, vì vậy anh ta cũng phải cẩn thận để bảo vệ ông Tổng Giám Đốc, là người chủ của mình. Tại đại học Nam Kinh đã có sẵn những “interest groups”, và nhóm này được tiếp tục hoạt động dưới tựa đề “Nanjing University Citic Bank human culture and creative culture research group” (Anh ta giải thích là tựa đề dài dòng và lòng vòng như vậy để tránh sự kiểm tra và hòa vào chính sách phát triển văn hóa của Đảng).

Con thấy cách nhìn này cũng phù hợp với mục đích và hướng đi ứng dụng Phật pháp của Làng là không tách rời đời sống hàng ngày. Các pháp môn Thầy trò mình thực tập chính là văn hóa và cách sống hàng ngày để làm sao cho có sự hiểu và thương, có hòa hợp và để sống hết lòng với mọi người. Cả hai thầy trụ trì và ban tổ chức thấy rõ nhu cầu thiết yếu của sự chậm lại để lắng dịu quá nhiều căng thẳng trong cuộc sống Trung Quốc hiện đại. Rất nhiều người trẻ phải đối phó với những áp lực của sự cạnh tranh trong lãnh vực giáo dục. Càng ngày đà phát triển càng tăng, dân chúng càng có nhiều tài khoản thì mức độ stress cũng theo đà tiêu thụ mà tăng lên.

 

Cùng tăng thân tu học

Sư Ông ơi, con đã trở về Hong Kong được hai tuần rồi nhưng mỗi ngày đều có những giây phút con nhớ đến những thiền sinh đáng thương đó. Mỗi lần như vậy, con thấy đau xót với môi trường đầy độc tố, thiếu từ bi và hoàn cảnh bế tắc của họ. Con trở lại với hơi thở và có mặt cho mình, thầm niệm như đang cùng thực tập và nhắn nhủ họ hãy nhớ trở về hải đảo tự thân, nơi an toàn và thoải mái mà họ đã được tiếp xúc trong khóa tu vừa qua. Suốt thời gian khóa tu con không nói và không hiểu được nhiều, chỉ theo dõi hơi thở, an trú trong tự thân mà con thấy mình cảm nhận và hiểu bằng một cách khác, và có thể “nghe một mà hiểu được mười” như Sư Ông đã dạy. Con không biết con tới mức độ “mười” chưa, nhưng có lẽ vì điều kiện bất đồng ngôn ngữ cho nên con chỉ còn việc chú tâm vào hơi thở và an trú trong cơ thể. Trước đây con làm ngành tâm lý trị liệu, là một người chuyên môn nghe những nỗi khổ của người, nhưng con chưa từng bao giờ được học tập cách lắng nghe thấu đáo như vậy. Vì trước đây con chỉ biết nghe bằng ngôn từ và kiến thức mà không biết nghe bằng trái tim và sự có mặt toàn diện (listen with my whole being). Vì tình huống này mà bỗng nhiên con khám phá ra cách lắng nghe với tâm im lặng, không dựa vào khái niệm gì hết. Vì vậy con cảm thấy mình đã tiếp xúc với nỗi khổ một cách toàn vẹn hơn trước, và nó đã làm trái tim của con vỡ ra, chạm vào một cái gì đó thật sâu mà con chưa biết gọi đúng tên được. Nó làm con chỉ muốn yên lặng trào nước mắt. Có phải đó là lòng xót thương không Thầy?

Sự đau đớn và thống khổ của họ đã làm con rất thương tâm, giống như những niềm đau nỗi khổ không giới hạn của những người bệnh tâm thần mà con đã từng tiếp xúc trước khi đi xuất gia.

Con biết ơn và cảm động khi họ đã mở lòng chia sẻ phiền não của họ cho dù họ đủ tuổi và kinh nghiệm ở đời để làm cô, chú, hoặc cha mẹ của con. Và con thấy họ có đủ niềm tin nơi chúng con cho dù họ có gốc rễ trong Đảng Cộng Sản. Sư Ông ơi, con nghĩ cho dù mình đã không được xây dựng nơi quê nhà, nhưng có lẽ bây giờ tổ tiên Tăng Hội đang cần năng lực của tăng thân mình hơn ở gốc rễ nơi Nam Kinh, Trung Quốc. Đảng cộng sản cũng đã từng từ Trung Quốc nhập xuống Việt Nam. Con thầm nghĩ, nếu mình chuyển hóa và chữa lành gốc rễ bị bệnh thì có lẽ những cành lá cũng sẽ được tốt tươi hơn ở nơi quê nhà.

Mùa yên

Tôi vừa cùng sư em tôi trồng những củ thủy tiên quanh cái bệ đá dưới gốc phong cổ thụ. Những củ hoa này sẽ ở yên đó trong suốt ba tháng tới, và khi nắng bắt đầu sưởi ấm thảm lá mục, mà giờ đây hãy còn vàng tươi đang đùa vui với gió, chúng sẽ biểu hiện thành những bông hoa vàng xinh đẹp. Đã nhiều năm nay, mùa Xuân nào chúng tôi cũng tiếc là tại sao trước mùa Đông đã không trồng một ít củ hoa quanh tượng Bụt dưới cội phong già này. Chỉ cần ở yên ba tháng thôi và cho dù là phải ở trong cái lạnh khắc nghiệt của mùa Đông, tôi tin là mùa Xuân tới những củ hoa ấy sẽ làm cho anh em tôi chẳng còn ai phải tiếc nữa.

Anh em tôi cũng đã bắt đầu ở yên. Mùa an cư đã bắt đầu được ba ngày rồi. Chiều nay trong giờ thiền ngồi, khi chuông vừa xả thiền, tôi bỗng nhận ra rằng hiếm có khi nào thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia này lại đông anh em như thế. Tôi vừa xoa bóp hai chân và cùng lúc ấy, thấy lòng dâng lên một niềm vui mà trong suốt những vòng kinh hành sau đó, niềm vui ấy đã in dấu thật rõ ràng trong từng bước chân của tôi.

Mùa này anh em chúng tôi ở yên trong tu viện, không cần phải đi đâu cả dù là để hướng dẫn khóa tu; mùa này mỗi anh em chúng tôi đều sẵn sàng để ở yên mà không có ai cần phải phân tâm cho một dự án nào ngoài tu viện cả; mùa này chương trình tu học hàng ngày của đại chúng cũng yên và ổn định hơn. Những cái yên đó gặp nhau làm biểu hiện ra một cái yên rất hùng tráng. Tôi may mắn đã tiếp xúc được với cái yên ấy. Cho nên tôi nghĩ, có nên gọi mùa này là Mùa Yên?

Mùa Yên thật đấy chứ. Mùa Yên về sau những chuyến đi dài của các anh chị em tôi, những sự tiếp nối đẹp đẽ của Thầy tôi, những người đã và đang mang giống Pháp đi khắp nơi trên thế giới. Thân tăng là một biểu hiện rất mầu nhiệm. Thân ấy đã gửi một hóa thân của mình đi về Ấn Độ, lại còn gửi một hóa thân khác đi sang Canada; cùng lúc ấy một hóa thân khác lại được gửi đi tận châu Đại Dương và còn một hóa thân khác được gửi đi Anh quốc nữa. Những hóa thân ấy của thân tăng chẳng phải là những cá nhân, mà mỗi một hóa thân cũng là một thân tăng, chỉ là bé hơn mà thôi. Kinh Pháp Hoa nói rằng Bụt Thích Ca đã gọi về hết những hóa thân của Ngài trước giây phút linh thiêng Ngài mở cửa tháp báu. Thân tăng của tôi cũng vậy, cũng đã gọi về hết những hóa thân của mình trước Mùa Yên. Thân tăng không nói kinh Pháp Hoa theo cách của Bụt Thích Ca, thân tăng nói kinh ấy bằng sự biểu hiện của cái yên hùng tráng trong giờ thiền ngồi, trong giờ ăn, trong lúc uống trà, trong lúc đi thiền và cả trong những lúc vui chơi nữa.

Mùa Yên bắt đầu cùng lúc với mùa Thu đang chín. Ngày bắt đầu Mùa Yên là một ngày nắng ấm, ngày ấy, mùa Thu cũng rất yên. Chữ thu trong mùa Thu có nghĩa đen là lúa đã chín vàng. Nhưng thu cũng có một chữ đồng âm khác có nghĩa là rút về. Tôi thích cả hai nghĩa, đặc biệt là nghĩa sau: rút về. Chẳng phải là các hóa thân của thân tăng đã rút về hết đó sao? Rút về để được nuôi dưỡng và ôm ấp trong cái yên hùng tráng ấy, cũng như ngàn cây, rút hết sức sống về cội để sẵn sàng cho một mùa Tuôn Dậy sẽ đến. Mùa Yên, vì vậy cũng còn là Mùa Về.

Một người bạn của tôi thích gọi mùa này là Mùa Buông bởi vì mùa này ngàn cây đều buông hết những sắc màu và dáng dấp đẹp đẽ của mình, như rừng sồi đỏ, như rừng bạch dương… đều đã buông hết lá. Nhiều năm trước đây, thân tăng tôi cũng thực tập buông như thế. Cứ trước mỗi Mùa Yên, một cái thùng lớn sẽ được đặt ở tăng xá với ba chữ lớn: Thùng Buông Bỏ. Nếu như mình có một vài đĩa nhạc và mình nghĩ là chẳng cần thiết lắm trong Mùa Yên này, mình sẽ buông cho cái thùng ấy giữ. Nếu như mình có vài cuốn tiểu thuyết hay sách nghiên cứu mà mình thấy là có thể sẽ làm ảnh hưởng đến phẩm chất yên của mình trong mùa tới thì mình cũng có thể nhờ thùng buông bỏ ấy giữ giùm cho mình. Và cứ thế, hễ có gì có thể ảnh hưởng đến Mùa Yên là đều cần được buông. Vì thế, tôi rất thích chữ Buông của bạn tôi, tôi sẽ không chỉ gọi Mùa Yên là Mùa Về mà còn gọi là Mùa Buông nữa.

Chiều nay, tôi đã rất vui vì thấy anh em tôi ngồi trong thiền đường rất đông, đông hơn những mùa khác. Tôi bỗng thấy biết ơn Mùa Yên, bởi vì nếu không nhờ Mùa Yên thì anh em tôi sẽ không đông đủ như thế. Thiền đường Thánh Mẫu Ma Gia có những lúc chỉ có ba hay bốn anh em tôi ngồi thiền. Không phải vì có người bỏ thời khóa, mà vì anh em tôi quá ít. Vì vậy, khi thấy thiền đường có nhiều hơn những dáng áo nâu, tôi đã không thể không hạnh phúc. Mùa Yên thì anh em tôi được sum vầy đông đủ vui vẻ thế đấy. Cho nên nếu tôi gọi mùa này là Mùa Đông thì hề chi? Đông theo đúng nghĩa đen của nó là đông đúc, là sum vầy. Thì mùa này là mùa Đông, hoặc chí ít cũng là đang rất gần mùa Đông. Nhưng nếu như thân tăng tôi không chọn mùa này làm Mùa Yên thì chắc chắn tôi sẽ không thể nào được phép gọi mùa này là Mùa Đông được. Mùa Đông, tiếng đáp danh hiệu Bụt Thích Ca trước mỗi giờ thiền tọa trở nên hùng tráng biết mấy, tiếng triều của những buổi tụng kinh trước pháp thoại cũng trở nên uy nghiêm biết mấy… và thân tăng sẽ càng vui tươi và tràn đầy sức sống.

Cội phong già trước sân đang buông dần muôn vạn bàn tay màu vàng tươi đẹp của mình xuống thảm cỏ xanh. Mỗi cơn gió đi qua là một lần những bàn tay ấy từ trên cành thực hiện một điệu múa như một nghi lễ trang nghiêm mà vui tươi trước khi nằm yên cạnh những người anh em của mình. Cội phong già đang thu hết sức sống của mình về cái thân hùng vĩ, những chiếc lá cũng theo tiếng gọi ấy mà buông hết những sắc màu dáng dấp mà tìm đường trở về hội họp với sức sống bền bỉ của những chiếc rễ cây đang đợi chờ dưới lòng đất.

Tượng Bụt bằng đá ngồi dưới cội phong đang mỉm cười. Nắng gọi những sắc màu phô diễn trên những tán cây, nắng thắp sáng thảm lá vàng quanh gốc phong cổ thụ làm cho nụ cười ấy như vừa thoát khỏi bức tượng và đang tung tăng cùng muôn vàn chiếc lá đang gọi nhau về.

Tôi mỉm cười nhìn cái thảm lá đang che phủ những củ thủy tiên chúng tôi vừa trồng. Những củ hoa ấy đang thu hết sức sống về nội thể; đã buông bỏ hết những cành lá, sắc màu, dáng dấp và sẽ ở yên trong suốt ba tháng mùa Đông. Mùa Yên là thời gian chuẩn bị của những củ hoa ấy, để cuối mùa, chúng sẽ bật dậy khỏi lòng đất mà biểu hiện thành những đóa vàng tinh khôi xinh đẹp. Mùa Yên của chúng tôi cũng mới vừa bắt đầu, tôi tự hỏi mình rằng liệu mình đã thu hết sức sống về nội uẩn hay chưa; tôi tự hỏi mình rằng liệu mình đã buông bỏ được chút nào những gì cần buông hay chưa; và tôi cũng tự hỏi mình rằng liệu tôi có thể như những đóa thủy tiên, không ngừng âm thầm hấp thụ sức sống của đất trời để có thể biểu hiện thành những đóa hạnh phúc tinh khôi khi Mùa Yên chấm dứt?

Tượng Bụt rêu phong bỗng nhìn tôi mỉm cười. Tôi đón nụ cười ấy khi lòng vừa mở. Và câu trả lời cho những thắc mắc của tôi biểu hiện qua tiếng gió hát thì thầm trong thảm lá vàng ngập nắng nói rằng tôi có thể làm được, và còn có thể làm hay hơn cả những củ hoa thủy tiên tôi vừa trồng chiều nay. Vì rằng những củ hoa ấy phải đợi đến hết Mùa Yên rồi mới có thể biểu hiện thành những đóa hoa vàng tươi xinh đẹp, còn tôi, nếu tôi biết về, biết buông cho giỏi thì chẳng những là tôi có thể làm biểu hiện những đóa hạnh phúc bình an tinh khôi sau Mùa Yên mà tôi còn có thể làm cho những đóa bình yên hạnh phúc ấy biểu hiện ngay lập tức trong từng giây từng phút của Mùa Yên.

Thân tăng tôi đã gọi về hết những hóa thân của mình trước Mùa Yên. Và cũng như Bụt Thích Ca, thân tăng tôi đã nói kinh Pháp Hoa trong giờ phút linh thiêng ấy: Mùa Yên đến rồi, về đi, buông đi để có thể gieo trồng và nuôi dưỡng những đóa bình an hạnh phúc trong từng giây từng phút.

Thầy Trung Hải

Bài viết này đã được đăng trên Lá Thư Làng Mai số 36, ra ngày 10.02.2013.