Con dấu hạnh phúc

Về Sơn Cốc, ngôi nhà nhỏ bình yên với rừng tre Ca Lan Đà râm mát, bên suối Tào Khê róc rách, thầy tôi nằm đưa võng và chúng tôi ngồi quây quần bên Thầy. Tiếng chim líu lo trong một ngày nắng đẹp, tôi thấy tuổi thơ mình trở về gần gũi và thân quen như những ngày về quê ngoại. Tịnh Độ hay ta bà, mơ hay thật? Khi Thầy tôi ngồi đó vẽ những vòng tròn thư pháp như đang chơi một trò chơi trẻ con.

Thầy nói: “Thầy đang trồng những quả bí, quả cam”. Hai chị em tôi đỡ lấy những “quả bí”, “quả cam” ấy đem phơi cho ráo mực. Phút chốc tôi thấy mình nhỏ bé như chưa từng là một người lớn. Dù lớn bao nhiêu tuổi, về bên Thầy chúng tôi vẫn có cảm nhận mình vẫn là những đứa bé con. Tôi ngồi đó và thoáng nhìn một con người nổi tiếng như Thầy sao lại bình dị đến lạ trong cách sống mộc mạc mà bền bỉ sắc son một lòng cho quê hương đến thế. Hình ảnh này đẹp lắm bạn ơi!

Tôi nhìn Thầy và thở, hình ảnh Thầy như tiếng chuông đại hồng gióng lên hồi chuông tỉnh thức mà vui sống. Tôi nhận ra mình đang được sống trong tăng thân, được thực tập khi nghe chuông, khi tiếp xúc với một bông hoa, một cái đẹp nên tự nhiên tôi đã có được những hơi thở mới bình an. Tôi cười khi nhận ra đứa bé bất an ngày xưa trong tôi cũng biết thở, biết cười, biết buông thư. Ngước nhìn lại, bé bắt gặp khuôn mặt ba bé ngày xưa cũng đã giãn đi những nếp nhăn và bắt đầu bình an trở lại, mọi người chung quanh cũng trở nên yên lắng và bình an trong cùng một nhịp thở của bé. Bé thở đều: “vào”… “ra”…, “vào”… “ra”…,“vào”… “ra”… theo từng nhịp như để lưu giữ cái phút giây mầu nhiệm ấy. Và càng nhìn Thầy bé lại thấy ba của bé bình an và thanh thản đến lạ! Bởi ngay giờ phút này, đứa bé ngày xưa là tôi ngày nay như nhận thấy hai đời sống tâm linh và huyết thống đang âm thầm lưu nhuận trong nhau, tôi đang được trao truyền và tiếp nối.

Rồi Thầy đã ôn tồn chỉ cho tôi cách xếp một tờ giấy, đóng một con dấu sao cho ngay. Bạn biết không, tôi đã từng nhập môn công việc đóng dấu cho văn thư và tôi đã từng đóng dấu cho cả ngàn cuốn sách. Vậy thì tôi đã cho ra đời biết bao con dấu? Nhưng hôm qua, tôi được học cách đóng một con dấu hạnh phúc. Con dấu đó ra đời sau những bước chân thiền hành bình an, hơi thở bình an, lời thăm hỏi bình an giữa tình Thầy trò. Thầy từ từ bước vào Nội viện (nơi dành cho gia đình xuất gia) và ngồi vào bàn vẽ trong ngôi nhà kính thân thương mà Thầy thường gọi đùa là xưởng vẽ của Thầy. Thầy ghi lên những “quả bí”, “quả cam” một câu thư pháp như trao truyền một bí kíp của khu vườn bí mật rồi nói: “Chữ Thầy đơn giản quá con hỉ!” Tôi chắp tay “Dạ”, khẽ thầm công nhận. Thầy cầm con dấu ấn xuống và đưa cho tôi. Đang mải mê chiêm ngưỡng những tác phẩm của Thầy, Thầy nhìn tôi và bảo: “Bây giờ con đóng dấu cho Thầy.” Tôi “Dạ” và hành nghề như trước đây tôi đã từng làm. Mỗi khi đóng một con dấu tôi lại nghe tiếng kêu lách cách quen thuộc, dù tôi đã nhẹ nhàng hơn trước đây nhiều lắm rồi đó.

Thầy tôi nhìn tôi cười, chầm chậm bỏ cây bút xuống, rồi ôn tồn chỉ cho tôi cách đóng một con dấu, canh con dấu như thế nào cho thẳng với mép giấy vuông góc đi vào, rồi ấn bốn góc cho ngay ngắn. Một con dấu đỏ tròn đầy và đẹp lạ lùng hiện ra như vừa được khai nguồn sự sống. Tôi nhìn lại những con dấu vụng về của mình và cẩn trọng đón nhận kinh nghiệm và niềm vui mà Thầy vừa chỉ dạy. Một con dấu bình an trong cách trao truyền và tiếp nhận. Tôi nhận ra những con dấu ngày xưa của tôi vô hồn và tội nghiệp với những hơi thở dồn dập, những suy nghĩ miên man và nỗi buồn giận đã tạo nên những tiếng kêu chát chúa và đanh lại nơi góc phòng làm việc. Tôi nhận ra tôi đang được học một bài học không có trong sách vở. Bài học tạo ra không gian bình an để vui sống và làm việc. Bây giờ tôi cảm nhận rõ hơn nguồn năng lượng bình an mà Thầy đang hiến tặng cho cuộc đời, Thầy gìn giữ cẩn thận trong từng hơi thở, trong từng bước chân đi và từng lời giảng mộc mạc chân tình.

Triển lãm thư pháp ABC New York 2013 (2).jpgGiờ đây tôi có cơ hội đóng lại những con dấu, mỗi con dấu hôm nay ở Nội viện mang theo bao niềm vui, bao hạnh phúc. Và tôi biết trong mỗi tấm thư pháp ấy Thầy đã gói lại rất nhiều ân tình cuộc sống để gửi tặng cho đời. Nếu nhìn kỹ bạn sẽ thấy những tán lá xanh ve vẫy, những tiếng chim, tiếng gió, tiếng suối róc rách và nắng hạ. Bởi Thầy đã khai sinh ra những đứa con này trong cái thanh bình của một nơi bình yên như thế, với nhiều tình thương như thế.

Đĩa mực đã hết, Thầy lại ung dung nhỏ vào mấy giọt nước và khẽ nói: “Nếu có mấy giọt trà thì thơm hơn”. Tôi tủm tỉm cười và mang lại cho Thầy một cốc trà rồi thưa: “Dạ liệu mọi người có biết trong này có hương thơm của trà không, thưa Thầy?” Thầy cười và nói: “Họ không biết nhưng mà mình biết và chưa chắc họ đã biết trong này còn có hơi thở nữa…” Tôi đỡ tấm thư pháp từ tay Thầy, bàn tay tiếp nối bàn tay sẽ đưa những tấm thư pháp này về muôn hướng. Mầu nhiệm thay một mảnh giấy nhỏ có thể chứa biết bao ân tình cuộc sống của Thầy và Tăng thân.

Cầm một tấm thư pháp “Uống trà đi”, tôi lại thấy hình ảnh Thầy ung dung hớp từng ngụm trà nhỏ và nói “Uống trà đi các sư con” mà tôi vẫn thường nghe. Tin rằng khi bạn thấy dòng chữ này, bạn cũng sẽ nghe giọng nói thân quen của Thầy vọng về nơi từng con chữ. Xếp lại chồng thư pháp, con dấu nhỏ mỉm miệng cười tươi như hoa ban sớm để chào tạm biệt tôi. Tôi cười đáp lại. Ngày mai những con dấu sẽ cười tươi với bạn và bạn nhớ cười lại cho tươi bạn nhé! Bởi mỗi nẻo về của niềm vui sẽ tiếp nối đường đi cho những niềm vui mới. Một ngày mới đang bắt đầu bạn có nhận ra không?

Nhật ký thị giả

20.06.2012

Hôm ni là ngày đầu tiên con tập sự làm thị giả cho Thầy. Con thấy trong con có một chút hồi hộp, mừng rỡ, sung sướng, mắc cỡ và hơi lo lắng… Quý Sư mẹ nở hoa cười tươi khi biết con được làm thị giả, quý sư chị thì căn dặn con đừng làm bể đồ gì của Thầy nghe, con chỉ “nhe răng” cười. Thầy ơi! Răng mà con “hậu đậu” quá, con không biết phải làm gì cả. Mấy bữa ni, con hay đi khoe với Bụt là con được làm thị giả cho Thầy và con xin Bụt yểm trợ. Thầy là nơi bình an nhất rồi, sao con còn run nữa? Sáng ni, con đã đọc đi đọc lại những chương uy nghi có liên quan tới việc làm thị giả. Con tự nói với mình rằng Thầy là cha ruột của mình mà. Nói rứa thôi nhưng tim con vẫn đập “tưng tưng”, mặt con đỏ bừng mỗi khi gặp Thầy. Con gọi tên từng cảm thọ nổi lên rồi mỉm cười với chúng. Mong sao lần tới con bớt run và tự  nhiên hơn. Con nghe Thầy nói bụng Thầy không được khỏe. Cho con gửi lời thăm đến cái bụng của Thầy, cái bụng ngoan nhé cho Thầy con khỏe.

Thầy ơi! Con muốn nói với Thầy là chúng con rất hạnh phúc khi Thầy còn đây và niềm an vui của Thầy là gia tài lớn nhất cho chúng con. Hôm ni, Thầy có dạy về Tư niệm thực, mỗi người phải biết nuôi dưỡng trong mình một ước mơ, biết buông bỏ những điều vụn vặt, vô ích. Con sẽ để thêm thì giờ quán chiếu và thực tập xây dựng một Bát Nhã trong mình.

 

03.07.2012

Sáng ni, con được dạo chơi cùng Thầy ra vườn. Con vui lắm lắm!

Thầy đã chỉ cho con những cây Thầy trồng cách đây 35 năm. Đó cũng là con của Thầy, là Sư anh, Sư chị của chúng con, hơn con tới 15 tuổi lận. Thầy nói những cái cây đó không bao giờ bỏ Thầy, luôn trung thành với Thầy. Thưa Thầy! Con cũng sẽ như vậy, không bao giờ rời bỏ Thầy, rời bỏ Tăng thân, không bao giờ từ bỏ ước nguyện, Bồ đề tâm ban đầu của mình. Thầy tin con nhe!

Thầy nằm trên võng, con đưa nhè nhẹ. Hai thầy trò mình nhìn lên nền trời xanh thẳm. “Trời hôm nay đẹp quá! Thầy đố con tại sao nền trời lại màu xanh? Nếu màu da trời là xanh thì tại sao ban đêm nó lại màu đen?” Con chỉ biết trả lời ý sau: “Dạ tại vì ban đêm mặt trời đi ngủ nên bầu trời màu đen, còn vế trước thì con không biết”. Thầy dạy: “Con về tìm hiểu thử coi. Vui lắm!”  Rồi Thầy chỉ cho con những chiếc lá bạch dương đong đưa trên cành, con thấy nó giống như đang hát, chị gió thoảng qua làm nó cứ hát mãi không thôi. Con ý thức rất rõ là Thầy còn đây cho chúng con. Tự nhiên con lại xúc động nữa rồi. Giây phút ngồi bên Thầy thật là hạnh phúc, đâu cần phải làm gì.

Tuy con còn nhiều vụng về nhưng trong thời gian ni con chưa làm bể đồ đạc chi cả. Con mừng quá! Con tự căn dặn mình là phải thật chánh niệm, ý thức những gì mình đang làm. Có những lúc con không hiểu ý Thầy như Thầy muốn đi cửa trước, con lại bỏ dép cửa sau, thay vì lấy cái muỗng thì con lại lấy cái dĩa, quên nón của Thầy, rang đồ bị cháy… vậy mà Thầy vẫn từ bi mỉm cười, chỉ lại cho con. Con thấy con có rất nhiều phước đức, cái gì không hiểu thì con đi hỏi quý sư mẹ, sư chị. Sư mẹ Định Nghiêm hết lòng hướng dẫn tổng quát cho con và sư em Trăng Phương Nam về việc làm thị giả. Con cũng hay hỏi Y chỉ sư con và các sư chị trong phòng, các sư chị chia sẻ xong thì con bớt hồi hộp và an tâm hơn rất nhiều. Y chỉ sư con tuy trẻ nhưng rất giỏi, việc gì cũng biết. Con rất vui khi được gọi Y chỉ sư là sư chị thay vì sư mẹ. Trong thời gian làm thị giả, con chưa bị ai rầy hay nhắc nhở chi cả. Con chỉ suýt khóc mấy lần vì xúc động. Hôm nay, đi dạo ở Sơn Cốc, Thầy xoa đầu con rồi bất chợt nói: “Lỡ mai này con rời xa Thầy thì răng hè?”, lòng con se lại, con biết chỉ có sự thực tập hạnh phúc, bình an mỗi ngày mới là câu trả lời hay nhất cho con.

Ngày mai, Thầy có phỏng vấn ở Xóm Mới, tự nhiên con cứ trằn trọc suốt. Thầy là người trả lời câu hỏi chứ đâu phải con mà sao con thấy tim mình đập tưng tưng. Con mất ngủ chừng mười phút rồi ngủ say sưa tới sáng. Những lúc đợi Thầy qua, ban thị giả chúng con cứ bị chọc là: “sao hôm nay chit khăn đẹp rứa?” À! Mà cũng lạ, ai làm thị giả Thầy thì tự nhiên uy nghi người đó đẹp ra.

04.07.2012

Chiều hôm ni, con được đưa cơm qua Sơn Cốc, Thầy nói: “Hôm trước con hứa với Thầy là không bao giờ rời bỏ Thầy, bỏ Tăng thân, đó là con hứa trong hiện tại thôi, đâu biết được sau này ra sao. Vô thường lắm!” Thưa Thầy con nói thiệt mà. Con biết đây là ngôi nhà hạnh phúc nhất cho con.

Thầy còn dặn nếu lỡ con có vướng mắc ai thì nhớ báo cho Thầy biết ngay. Dạ vâng ạ! Con nghĩ con xấu xí, vụng về như ri thì có ai khờ mới vướng con mà con cũng không dám vướng ai. Con muốn là một con người tự do. Con có kể cho các sư chị con nghe về lời căn dặn của Thầy, chị em con nói sẽ để ý, nâng đỡ nhau. Con thấy mình rất may mắn và hạnh phúc khi được sống trong Tăng thân, được che chở và bảo hộ.

Hôm nay, trong bữa ăn, câu nói của Thầy làm con cảm động quá. Thầy nói Thầy rất hạnh phúc vì còn có thể đi thiền hành được lên đồi. Thầy đã thực tập cho Ôn Trúc Lâm và nhiều Ôn khác bằng tuổi của Thầy đang ở quê nhà. Thầy rất cưng đôi chân của mình, đâu biết còn bước được bao lâu nữa. Nghe tới đó thôi, mắt con đỏ hoe, mũi con cay cay. Con suýt khóc, may mà cầm lại được không thôi thì quê lắm. Thầy ơi! Đôi chân con đây còn khỏe mạnh, con sẽ bước cho Thầy.

Không biết sao càng gần Thầy, con càng thấy mình như gần Bụt, bình an, nhẹ nhàng, không cần lo lắng chi cả, bồ đề tâm con lên phơi phới. Thầy như một nguồn năng lượng vô tận, không bao giờ hết hạn sử dụng, cứ cho mãi, cho đi mãi không thôi. Mỗi lần con làm biếng thực tập, con nghĩ tới Thầy thì con làm siêng hơn. Khóa tu mùa Hè ni không có thời khóa tập thể dục buổi sáng. Con rất thích dậy sớm để tập khí công. Con đã đặt đồng hồ báo thức rồi nhưng con cứ ngủ nướng thêm một chút. Có khi một chút của con kéo dài tới giờ thức chúng luôn. Con còn ham ngủ quá Thầy ơi! Sáng ni, con cũng muốn “nướng’ thêm một xíu nhưng trong đầu con hiện lên hai chữ “Sư Ông”. Vậy là con giật mình tỉnh dậy. Hai bốn giờ tinh khôi đang chờ đón con, con nhoẻn miệng cười: “Thầy còn có công hiệu mạnh hơn đồng hồ báo thức.”…hi hi hi…

 

11.07.2012

Thưa Thầy! Hôm nay, con có một tâm hành không dễ thương. Đó là lúc thiền sinh đưa quá nhiều sách xin chữ ký Thầy. Con không muốn nhận, con thấy một chút gì đó không vui khi họ nhờ ký một lần mấy chục quyển. Con biết cái bụng Thầy không được khỏe, con sợ Thầy mệt. Con không biết cách nào để trả lại vì chồng sách đã đặt sẵn trên bàn của con. Nhìn cái mặt của các bạn thiền sinh, con thấy tội quá đi. Ngày mai, họ phải rời Làng rồi, với lại chỉ cần một chữ ký của Thầy thôi là họ đủ hạnh phúc, giống như mang được Thầy về nhà. Con mang sách qua Sơn Cốc nhưng không dám hỏi Thầy. Con hỏi nhỏ Sư cô Chân Không, Sư cô trả lời: “Ký sách chắc Thầy không mệt đâu!”. Ai dè Thầy nghe được, Thầy bảo con để sẵn cây bút trên bàn, Thầy sẽ ký. Con mừng quá trời. Thầy con từ bi ghê!

Anh trai con có gửi nước yến qua cho Thầy nhưng Thầy nói: “Bỏ Thầy mà đi nên Thầy không uống đâu, Thầy còn đang giận.” Thầy nhìn con vừa cười vừa nói: “Mai mốt, con bỏ Thầy đi, con gửi gì về Thầy cũng không nhận đâu.” Con nhìn Thầy cười lại, con nghĩ con sẽ thực tập cho ngoan để chuyện này không xảy ra. Một lúc sau, Thầy cười ra tiếng và nói: “Thầy mắc cười quá con hơ? Thương chớ làm sao mà giận được!” Rứa là cả hai cùng cười. Con biết mỗi khi có ai bỏ chúng ra đi thì Thầy đau như mất một đứa con. Con cũng vậy. Bây giờ thì con hết buồn chuyện anh con đi rồi. Nhờ anh con dẫn dắt nên con mới biết Thầy, biết Tăng thân, mới trở thành một Sư cô. Con biết ơn anh nhiều lắm! Lúc trước, con cũng giận anh con vì anh chẳng hề nói cho con hiểu tại sao anh bỏ Thầy, bỏ chúng ra đi. Anh chỉ nói sau này lớn lên em sẽ hiểu, rằng anh luôn có mặt cho em, rằng mùa xuân ở Làng rất đẹp, em nhớ thưởng thức… Tự nhiên anh dắt con đi tu rồi bỏ con lại một mình như rứa… Nhưng may quá, bên con còn có Thầy, có pháp môn, có các Sư cha, Sư mẹ, Sư anh, Sư chị và Sư em rất thương yêu con. Những giây phút vui chơi, thực tập cùng đại chúng, con hay gửi năng lượng cho anh vì con biết ở ngoài đó chắc anh phải lo lắng, làm việc, phải bon chen… già đi nhiều lắm. Anh còn nói anh đang đem đạo Bụt áp dụng vào cuộc đời. Con mong cho anh có nhiều thời gian và bình an để tận hưởng những mầu nhiệm của cuộc sống. Em cảm ơn anh đã chăm sóc má, anh chị, chơi với mấy em giùm em. Anh em mình mỗi người làm thật tốt, thật đàng hoàng cái phần của mình là mình có mặt cho nhau rồi phải không anh? Em đang thở và mỉm cười cho anh nè! hi hi hi…

Ngày cuối cùng khóa tu mùa Hè.

Thầy nói hôm nay thiền sinh thực tập đi thiền hành trân quý và hạnh phúc lắm. Con cũng vậy, vì con ý thức được rằng hôm ni là ngày cuối hai chị em con được làm thị giả cho Thầy. Đi bên Thầy, con thấy bước chân mình trọn vẹn hơn, hơi thở đều đặn hơn. Đồi mận đẹp quá! Cảm ơn Bác hàng xóm đã cho chúng con đi trên đồi mận. Con nghĩ cái đồi này rất may mắn vì ngày ngày nó được in những dấu chân bình an.

Hai chị em con đưa Thầy về. Đến cửa, Thầy cho chúng con về nghỉ. Con và sư em Trăng Phương Nam xin đưa Thầy vô tận trong nhà, đặt lại túi kinh trên bàn cho Thầy. Ba thầy trò nhìn nhau, Thầy nói: “Làm thị giả giỏi lắm!”. Con thấy có cái gì đó nghẹn nghẹn nơi cổ, con lại xúc động nữa rồi! Thấy trái táo bị hở gió trên bàn, con thưa: “Con mang trái ni về nghe Thầy? Thầy cười và “Ừ” một cái. Ba thầy trò lại nhìn nhau. Thật khó nhưng con cũng phải thưa: “Chị em con về thiệt nha Thầy?” Cả ba Thầy trò nhìn nhau cười vui. Thầy xoa đầu chúng con và nói: “Khi nào thích các con cứ qua đây chơi, không cần phải làm thị giả mới được qua.” Chị em con mừng rỡ đồng thanh: Dạ! Ra khỏi Sơn Cốc, bước lên xe rồi, tự nhiên nước mắt con cứ chảy ra. Sư chị Doãn Nghiêm và sư em Trăng Phương Nam chọc con nhưng mà con không thèm sợ quê nữa. Lần ni, con khóc thật sự luôn, sướng ghê! Tới Xóm Mới thì con lau nước mắt kẻo quý sư chị thấy lại chọc con tiếp.

Con mừng là sau khi làm thị giả con không bị lên kí nào. Con nhớ tuần đầu con bị lên một kí vì chiều nào đưa cơm cho Thầy, Thầy cũng gắp cho con thật nhiều thức ăn. Con đón nhận hết lòng, ăn hết lòng và còn cười hi hi nữa. Các sư chị con ở xóm, nhất là Y chỉ sư nói con mà lên kí thì sẽ bắt con chạy thể dục năm tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thầy nói con mà mập thì Thầy sẽ chịu trách nhiệm cho con. Thầy nói như rứa nhưng con không muốn là một sư cô mập đâu, nên mỗi lần Thầy gắp thêm thức ăn cho con thì con lại trả giá: “Một xíu thôi thưa Thầy!” Thầy còn chọc con: “Ừ, một xíu.” Mà cái chữ “xíu” của Thầy nó thiệt là dài. Có những lúc Thầy nói: “Bây giờ, Thầy có xu hướng muốn đãi con ăn sô cô la nhưng Thầy sợ con mập nên Thầy sẽ chừng mực lại gùm con.” Con vừa mừng vừa tiếc. Cuối cùng thị giả xong, con xuống lại 1 kí. Cảm ơn trời đất!

Làm thị giả là cơ hội cho con được gần gũi và học hỏi từ Thầy. Con cảm nhận được tình thầy trò, cha con thật sự chứ không phải là một người đệ tử với một vị Thiền sư nổi tiếng. Càng thực tập con càng thấy thương Thầy và Tăng thân nhiều lắm. Con thấy giữa thầy trò mình có một sợi dây liên hệ vô hình nào đó rất mật thiết. Những lúc Thầy mệt, con cũng thấy đau đau. Thầy không muốn chúng con bị trúng mũi tên thứ hai, Thầy trúng mũi tên thứ nhất mà Thầy còn không lo thì tụi con lo làm gì, mỗi người tự lo phần của mình thôi là đủ rồi. Con lạy Bụt, lạy đất Mẹ, nguyện cầu cho vô thường gìn giữ Thầy chúng con. Con được học hỏi rất nhiều qua thân giáo, qua cách sống đơn giản của Thầy. Nhờ đó, con dần buông bỏ những “con bò” trong thân và tâm mình như đồ chơi, gấu bông, tập khí đi nhanh, nói nhiều… thật là vui và nhẹ nhàng!

Được làm thị giả với sư em Trăng Phương Nam, con thấy thoải mái lắm. Sư em hài hước, dễ thương, có trách nhiệm, đặc biệt rất thương Thầy, thương chúng. Có những lúc hai chị em con chọc nhau, nói qua nói lại, giành nhau làm, giành nhau ăn… đến hồi gay cấn thì sực nhớ ra mình đang làm thị giả cho Thầy, phải hòa hợp, nâng đỡ nhau. Vậy là cả hai bắt tay cười xòa. Có khi chỉ cần một thị giả đi theo Thầy thôi, hai chị em con quyết định bằng cách chơi xù xì, ai thắng thì được đi nhưng cuối cùng vì ham vui nên cả hai cùng đi. Sau mỗi lần làm thị giả trong ngày quán niệm tại xóm, hai chị em con cùng ngồi lại chia sẻ những vụng về của mình để rút kinh nghiệm cho kì tới. Cả hai cùng cười phá lên vì ngày nào cũng có thêm chuyện mới lạ, có thêm sự ngây ngô, thêm kinh nghiệm. Đến khi quen dần thì hết phiên được làm thị giả. Con biết hết làm thị giả rồi thì cơ hội gần Thầy cũng ít lại. Con thấy hơi buồn và tiếc tiếc.

Sau này, con hay được các sư chị thị giả mời làm thị giả của thị giả, đi thiền hành theo Thầy, làm đậu hũ hay trồng cây… Con hạnh phúc lắm. Thưa Thầy con đã trồng xong cây hoa “rung rinh” sau vườn rồi ạ. Con cũng đang trồng con vào Tăng thân, cắm rễ, lớn lên, đâm hoa kết trái. Thầy ơi! Con sẽ là một cái cây xanh tươi, vững chắc trong khu vườn Tăng thân. Thầy đã dạy chúng con trở về với ngôi nhà đích thực của mình là biết ôm ấp, chấp nhận, thương yêu và chuyển hóa chính mình. Con nguyện tận hưởng giây phút hiện tại bằng cả thân tâm. Đó là ngôi nhà an ổn tuyệt vời nhất cho tất cả chúng con. Khi nào con lỡ quên, xin Thầy nhắc nhở lại giùm con. À! Con muốn kể cho Thầy nghe một tin vui trong khi đi thiền hành sáng nay. Vì trời mưa và có gió nên Thầy không dẫn đại chúng đi thiền hành được. Sư cha Pháp Ứng dẫn đại chúng đi vòng quanh nhà ăn Xóm Hạ. Con ý thức rất rõ là đất Mẹ đang có đó dưới từng bước chân của chúng con. Con bước thật nhẹ nhàng, tâm con lắng dịu. Con thưởng thức từng hơi thở và bước chân. Con đang đi bằng chính đôi chân khỏe mạnh của mình. Đã về, đã tới… con đang thực sự có mặt cho giây phút hiện tại. Và chỉ trong mười bước đầu tiên thôi, con thấy thân tâm con khỏe nhẹ. Cái cảm giác bình an, thoải mái lan tỏa toàn thân. Khi mình biết dừng lại mọi suy nghĩ, tính toán thì tự nhiên hạnh phúc nó tới phải không Thầy?

Mấy bữa nay, mỗi tối trước khi đi ngủ, con đọc một chương trong cuốn “Đường xưa mây trắng”. Con thấy con ngủ ngon và bình an sau đó. Thỉnh thoảng con còn mơ thấy Thầy. Con không biết sao mỗi lần đọc đến chương “Sao mai đã mọc” là tâm con lại chấn động mạnh. Hạt giống của giác ngộ, của thương yêu nằm sẵn trong tự thân mỗi người. Vậy mà bấy lâu nay mình không chịu nhận ra, cứ lặn ngụp trong biển sinh tử hoài làm chi. Bụt đã dạy, Thầy đã dạy như rứa, con cũng đã đọc đi đọc lại bao lần rồi mà sao con vẫn còn lênh đênh, mưa nắng thất thường. Con chưa là tri kỷ của Bụt được, con mới là hàng xóm thôi. Thầy nhớ nhắc con tới thăm Bụt thường xuyên nghe.

Con nhớ trong một bài pháp thoại, Thầy có nhắc tới kinh A Nậu La Độ. Bụt hỏi ngài A Nậu La Độ: “Có thể tìm Như Lai qua hình sắc, cảm thọ, tri giác tâm hành hay nhận thức không?” Ngài trả lời “Bạch Thế Tôn, không.” Bụt lại hỏi: “Vậy có thể tìm Như Lai ngoài những cái đó không? Đại đức thưa: “ Bạch Thế Tôn, không.” Bụt dạy: “Ngay khi ta còn sống đây mà còn không thể nắm bắt được thì huống chi sau khi ta nhập diệt”. Con nghĩ tới Thầy và con thấy mình thật may mắn vì Thầy còn đây cho chúng con. Thưa Thầy! Con đang tập nhìn sâu để thấy hóa thân Thầy trong các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và đặc biệt là trong con, trong từng bước chân, hơi thở…  Thầy nói mỗi khi nhìn thấy một sư cô, sư chú bước đi thảnh thơi hay ngồi chơi bình an và vững chãi là Thầy mừng lắm. Vì trong vị đó đang có Bụt, có Thầy. Con nhận ra rằng con đang được là con của Bụt, là sự tiếp nối của Thầy chứ không còn là hàng xóm nữa. Năm mới ni, con cũng xin làm mới sự thực tập của mình. Ngồi thiền cho có an lạc và tỉnh thức hơn, tập ngừng suy nghĩ khi đi, ăn cơm chậm lại để cảm nhận được món quà của trời Cha và đất Mẹ, tới chơi với chị em và các bạn thiền sinh nhiều hơn, làm việc gọn gàng, sử dụng đồ của chúng tiết kiệm đúng công dụng, đúng lúc, đúng chỗ, bớt vụng về lại… Khi càng thực tập có niềm vui con càng thấy được gần Thầy, gần Bụt. Càng lúc con càng có nhiều chuyện để viết thêm nhưng chắc con phải dừng lại ở đây thôi. Con mong cho Thầy luôn ngủ ngon, thời cơm ngon, chơi vui. Thầy đừng lo lắng nhiều cho chúng con Thầy nghe.

Thầy ơi! Con đã về thật rồi

Bên căn nhà xưa, bếp lửa hồng ấm cũ

Thầy trò ta cùng chung tay nhóm lửa

Hạnh phúc là bây giờ, ở đây

 

Con của Thầy

Chân Đôn Nghiêm

Sơn Cốc mùa trăng

(Thưởng thức một tuần làm biếng ở Sơn Cốc)

 

Chân Minh Hy

Chỗ tôi đang ngồi viết đây là trước cái lò củi ở Sơn Cốc, đêm nay là đêm cuối tôi ở Sơn Cốc, sáng mai tôi về lại Xóm Thượng rồi. Một tuần ở đây thật thú vị. Tôi chẳng làm gì hết. Chỉ có mặt và để cho năng lượng bình an ở đây thấm vào lòng.

Có bốn huynh đệ cùng đi chung. Thầy Pháp Đường đã về chiều hôm qua, thầy Pháp Siêu, thầy Pháp Linh đã về hai hôm trước, chỉ còn tôi ở lại. Chỉ có tôi là ăn cơm mỗi ngày ba bữa, còn ba Thầy kia thì nhịn đói theo phương pháp thanh lọc cơ thể. Ban đầu tôi không biết, cho nên đem đồ ăn trong một tuần cho cả tôi và thầy Pháp Đường, ai dè thầy cũng nhịn đói luôn, làm tôi tự nấu tự ăn một mình. Cũng vui. Nhưng sau đó thì lại vui hơn, vì ngày nào cũng được qua ăn cơm với Sư Ông. Thế là đồ ăn dư lại càng dư nữa. Tôi thì có tính hay mắc cỡ, ngại đi ăn cơm nhà người khác lắm! Sư Ông là Thầy mà, tại sao mình mắc cỡ nhỉ? Biết vậy mà vẫn mắc cỡ như thường, hồi nhỏ đã vậy rồi mà, tôi chưa đi ăn cơm của một nhà hàng xóm nào.

Tôi nhớ có một bữa đó, đang đi thiền hành thì bụng đói, lại nhớ các anh em ở Sơn Hạ nữa. Nghĩ rằng, lâu quá chưa được ngồi ăn cơm với các anh em ở Sơn Hạ, hôm nay mình xuống ăn cơm một bữa đi! Vậy là tôi rẽ lối đi xuống Sơn Hạ. Đến nơi rồi thì mới biết là mắc cỡ quá, biết là huynh đệ của mình đó mà không dám vào. Nghĩ bụng, chắc là chuông chưa thỉnh… nhưng chuông đã thỉnh rồi kìa, sao không có ai gọi mình một tiếng nhỉ! Thế là tôi đi một vòng quanh Sơn Hạ, rồi vác cái bụng đói đi về. Biết rứa đừng xuống cho rồi. Mắc cỡ đúng là khổ thiệt!

Tôi nghe sư em Chiêu Nghiêm kể, lúc đầu sư em làm thị giả cho Sư Ông thì căng thẳng lắm, thấy mệt quá chừng, sau một ngày làm thị giả thì về nằm thừ người ra (bây giờ sư em Chiêu Nghiêm làm thị giả quen rồi). May mà tôi chưa làm thị giả, chỉ nội một việc ngồi ăn cơm với Thầy thôi mà chẳng tự nhiên chút nào. Cơm cũng để Thầy xới cho, đồ ăn cũng để Thầy gắp cho. Nghĩ bụng, chắc bữa sau phải trốn thôi. Ngại quá đi. Nhưng ngày nào Thầy cũng cho thị giả qua gọi, trân quý cái tình của Thầy cho nên tôi lại đi. Có một bữa chiều, Thầy qua phòng và gọi: "Minh Hy qua đây chơi con!" Nghe Thầy gọi mà nhẹ cả người, qua chơi thôi chứ không phải qua ăn cơm. Ai ngờ, Thầy nói qua chơi, tức là qua ăn cơm đó. Thầy dễ thương thiệt!

Bây giờ thì tôi tự nhiên hơn chút xíu rồi. Có thể tự xới cơm cho mình và cho Thầy được rồi. Biết gắp đồ ăn cho các sư em nữa. Thầy thật là khéo, ở với Thầy một tuần thì thấy mình tự nhiên hẳn ra, thấy gần gũi nữa là khác. Chỉ có điều lúc đầu hơi bị ngố chút xíu. Thầy xới cơm thì ăn cơm, Thầy gắp thức ăn cho thì cũng cứ rứa mà ăn thôi. Cho đến một bữa, đang lúc ăn cơm Thầy nói: "Con gắp thức ăn cho sư em con". Đó là cái tình anh em đó, là không khí của một gia đình đó mà. Trong câu nói đó tôi chợt hiểu ý của Thầy, "cái tình Thầy đã trao cho con rồi đó, con nhớ trao lại cho các sư em con". Thưa Thầy, con đã hiểu, con sẽ trao lại cho các sư em của con.

Tôi chưa bao giờ thấy ở đâu mà có cái tình Thầy – trò đẹp như ở đây. Nó mộc mạc, nó chân tình nhưng sao mà sâu lắng khó quên. Trong một tuần này tôi cũng được đọc hồi ký của Thầy, đó là một niềm hạnh phúc nữa. Người học trò nào cũng muốn biết thêm về Thầy mình, nhưng hiếm khi có những người học trò có được may mắn đó. Ngoài việc đọc hồi ký, tôi dành thời gian đi dạo quanh vườn, đi để nghe suối chảy, nghe chim hót và nghe tiếng gió reo qua rừng tre. Bước chân tôi nhờ vậy mà thanh thản, nhẹ nhàng hơn. Tôi cũng có thời gian ngồi nhìn lại mình hàng giờ bên bếp lửa. Ở đây, lò sưởi điện bị hỏng cho nên anh em tôi đốt củi cả ban ngày lẫn đêm về, để chơi với ánh lửa và để sưởi ấm. Ngồi yên như vậy, tôi nhìn lại mình, nhìn lại sự tu học của mình ở Làng trong ba năm qua, nhìn lại con đường mà mình đang đi, nhìn lại tâm tư tình cảm của mình, cách mình xây dựng tình huynh đệ… Như người học trò kia, sau một năm học tập thì ôn lại bài để chuẩn bị cho một kỳ thi; còn tôi thì ngồi ôn lại những cái ấy, điều chỉnh một chút xíu trước lúc đi xa.

Vậy, đây cũng là quê hương của mình nữa rồi. Đáng lẽ ra phải nói là về quê hương chứ, mà về quê hương thì đâu có nói "đi xa" được. Tôi cũng chẳng biết nữa. Tôi thuộc về nó và nó ở trong tôi lúc nào chẳng hay.

Tôi chép lại bài thơ này như là một kỷ niệm của tôi với Sơn Cốc.

Ta về Sơn Cốc

Mùa trăng dạo ấy

Tình đẹp như mây

Nhẹ tợ khói lam chiều

Mái tranh quê

Gọi về bao con trẻ

Bữa cơm chiều

Nhẹ gửi mối tình riêng

Tình thật đẹp

Như trăng kia ngời sáng

Dạ một lòng

Xin giữ mãi về sau.

Sơn Cốc ơi! Ta sắp đi. Đi là để trở về, nhớ là để thương nhau nhiều hơn.

Sơn Cốc 11.03.2012

Người làm vườn tận tụy

Khung cửa sổ phòng tôi nhìn xuống vườn cỏ rộng, nơi có cái nhà kính và vườn rau. Ngay cạnh cửa sổ, tôi kê một tấm ván gỗ coi như là bộ phản để ngồi uống trà. Từ chỗ ngồi này, mỗi ngày tôi nhìn xuống những thay hình đổi dạng của vườn rau. Nhưng những thay hình đổi dạng liên tục của vườn không phải là đề tài tôi muốn nói, mà điều tôi muốn nói tới là những người làm vườn.

Mùa Xuân và mùa Hè vừa rồi, một người em Tây phương của tôi đảm nhận việc làm vườn. Làm vườn, đối với người em ấy của tôi là một niềm hạnh phúc. Một lần, có người so sánh niềm vui khi làm vườn ấy của em tôi với niềm vui của những người trẻ đi shopping, em tôi cười hiền từ gật gù, nhưng im lặng. Chẳng những em tôi có mặt ở vườn trong những giờ chấp tác của đại chúng, em tôi còn có mặt ở vườn cả những lúc mà mọi người gọi là giờ rảnh rỗi hay giờ cá nhân. Vào những giờ rảnh rỗi và giờ cá nhân ấy, có người trong anh em chúng tôi dùng để học thêm chút tiếng Anh, tiếng Pháp hay chữ Hán; có người ngồi trước máy tính viết thư cho gia đình, bạn bè; cũng có người nhâm nhi tách trà rồi khe khẽ hát một mình trong phòng vắng; cũng có người ở phòng học, trước một chồng sách dày đang tìm tòi nghiên cứu; và cũng có người đi lang thang trong rừng hay đơn giản chỉ là nằm khoèo trong chăn ấm. Người em ấy của tôi hiếm khi cầm tới cuốn sách, cũng chẳng hề để dành hàng giờ trong phòng học. Những giờ rảnh rỗi ấy, tôi thường thấy em tôi, từ điểm nhìn sau khung cửa sổ trên tấm phản, vui tươi quanh quẩn trong vườn rau. Có khi thì lo tưới tắm, khi thì chăm chú nhặt từng cọng lá vàng cho gốc cà chua, khi thì lấy rơm kê cho trái bí non mới rụng cuống hoa; lại có khi chỉ ngồi đó, trên gốc sồi giữa vườn cỏ rộng tênh đưa mắt mỉm cười nhìn quanh từng ngọn rau, từng cánh hoa.

Một buổi chiều, khi đó hãy còn là đầu Xuân, lúc mặt trời vừa chín đỏ trên đỉnh ngọn bạch dương ở góc rừng, tôi cũng ngồi sau khung cửa sổ, nhìn xuống vườn rau còn mùi đất mới, thấy em tôi ngồi trầm tư thật lâu trên một phiến đá cạnh cái giàn nhỏ mà năm trước một người em khác của tôi đã trồng su su và bầu. Tôi đã chẳng phải rời khỏi phòng, sẽ vẫn ngồi yên đó để ngắm những khoảnh khắc bình yên của em tôi như mọi khi nếu như khuôn mặt quen thân với đôi mắt xanh trong vắt ấy không mang vẻ hoang mang và kiếm tìm. Ngồi yên, nhìn quanh, rồi đứng dậy lục từng hũ từng bao bì trong cái thùng xốp ở góc vườn; mân mê từng cái gốc bầu khô dưới chân giàn, rồi trở về ngồi nơi phiến đá dáo dác nhìn quanh. Tôi rời phòng, xuống vườn sau và đi ra vườn rau nơi em tôi, khi ấy đang đào bới tìm tòi gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu khô quắt.

Một nụ cười tươi trên môi, nhưng không đủ vẻ hân hoan và sáng ngời trong mắt như mọi khi. Em tôi vừa chào hỏi và nói chuyện với tôi vừa tiếp tục tìm tòi cái gì đó nơi mấy gốc su su, gốc bầu từ năm ngoái. Mấy vồng đất mới đã xanh chồi non, những bụi rau thơm trong nhà kính cũng đã cho nhiều lá non, cái giàn dưa leo cũng đã có ngọn, những vồng khoai tây đã gieo xong và vẫn còn đợi hơi ấm dưới lớp rơm phủ vàng nâu. Đưa mắt quanh vườn, em tôi chỉ cho tôi những loại rau củ vừa được trồng, vừa được gieo và trong giọng nói đã bắt đầu có chút hân hoan tươi tắn thường ngày. Sau khi đi hết một vòng bằng mắt quanh vườn, em tôi trở lại những cái gốc khô trước mặt và nói với tôi rằng năm ngoái, cũng thời gian này, những ngọn su su và những ngọn bầu đã bắt đầu leo lên giàn rồi, đã hơn tuần nay, em tôi tìm khắp vườn mà chẳng thấy hạt giống nào của những loài cây ấy cả. Em tôi cũng muốn có giàn mướp đắng, có giàn su su và giàn bầu như năm ngoái. Tuy phát âm những chữ đó không rõ lắm, nhưng tình thương cho những giống cây ấy qua giọng nói và ánh mắt em tôi là rất rõ ràng.

Năm ngoái, người làm vườn là một thầy người Việt Nam. Mùa Hè năm ngoái, những cái giàn thấp này được phủ đầy màu xanh của mướp đắng, su su và bầu. Em tôi trồng khoai tây và cà chua rất giỏi, và cũng bắt đầu thương mướp đắng, su su và bầu. Tôi chẳng rành rẽ chuyện vườn tược, kể cả chuyện trồng bầu, trồng su su và trồng mướp đắng. Tuy nhiên, tôi thấy vườn các xóm khác đã bắt đầu trồng xuống những loài cây này vào các hố ủ phân dưới chân giàn rồi. Tôi nói với em tôi thế, và trong đôi mắt màu xanh trong vắt ấy đã lấp lánh phản chiếu niềm vui, niềm vui ấy phảng phất một chút màu nâu nếu như tôi không nhìn lầm.

Ngày hôm sau, tôi được nghe các anh chị em làm vườn của các xóm khác kể lại niềm vui của họ khi họ lấy những cây su su giống, những cây bầu giống và những cây mướp đắng giống cho một thầy người Tây phương.

Cũng sau khung cửa, trên tấm phản gỗ ấy vào một buổi chiều đầu mùa Hè, tôi cũng ngồi đó nhìn xuống vườn, em tôi cũng ngồi trên phiến đá dưới những cái giàn thấp, nhưng chẳng hề có dáng tìm tòi và lo âu nữa mà đôi mắt trong màu xanh ấy đã vui tươi phản chiếu màu xanh của những trái mướp đắng, những trái bầu non, những trái su su non đang treo lủng lẳng trên giàn. Vườn rau là đạo tràng, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của em tôi.

Mấy tuần nay, cũng sau khung cửa sổ trên cái phản gỗ trong phòng, tôi ngồi đó nhìn xuống vườn rau đầu mùa Đông. Những cái giàn trống trơn chỉ còn vài cành khô quắt queo, đám dây bí vàng vọt dập nát sau thu hoạch, những vồng khoai tây chỉ còn cỏ dại, những luống cà chua còn lủng lẳng vài quả hoặc rất non hoặc đã thối và quanh vườn, lá khô phủ vương vãi trên những đám cỏ dại tốt tươi. Người em làm vườn của tôi đã đi tới một trung tâm khác rồi, đã mấy tuần nay cái dáng nâu điềm đạm ấy chẳng còn quanh quẩn trong nhà kính hay những vồng đất nữa. Vườn rau đã bị bỏ hoang gần cả tháng cuối mùa Thu. Tôi vẫn thường ngồi yên nhìn xuống vườn rau và theo dõi từng thay hình đổi dạng của nó, nhưng vì chẳng phải là người làm vườn giỏi, tôi ít khi để ý tới từng giống cây, từng họ quả mà chỉ ngắm nghía khung cảnh chung chung vậy thôi, đơn giản là vì tôi thích cái cảnh ấy. Thế nhưng ngày này qua ngày khác, khung cảnh vườn rau yêu thích của tôi vẫn là cái khô quắt ấy trên giàn, vẫn là cái dập nát ấy nơi đám dây bí và vẫn là cái tươi tắn hớn hở của cỏ dại nơi những vồng cà chua khoai tây. Có thay đổi chăng là cái khô quắt kia trở nên quắt queo hơn, cái dập nát kia có thêm màu vàng vọt và cái tươi vui của cỏ dại trở nên hân hoan, hớn hở hơn.

Một lần, tôi chẳng còn thấy vui khi nhìn mãi xuống vườn rau như mọi khi nữa. Thu chín, cây phong lớn trước cửa phòng tôi đang thay một chiếc áo mới rực rỡ và đã kéo tôi ra khỏi vườn rau héo úa. Ngồi bên cửa sổ, trên cái phản gỗ, tôi nhìn từng chiếc lá hình sao theo điệu hát khe khẽ của gió mà diễn điệu múa trở về. Từng chiếc từng chiếc, từng đám từng đám và rồi cơn mưa lớn hôm qua đã mời được hết những chiếc lá cuối cùng lên chuyến tàu chót mà trở về với Mùa Yên. Chiều nay, khi chút nắng ấm hiếm hoi cuối Thu đang lau khô những cành nâu khẳng khiu ấy, tôi vẫn ngồi bên khung cửa trên tấm phản gỗ, gió mang theo một mùi thơm rất quen thuộc đến cho tôi và khi đưa mắt nhìn theo hướng đến của cái mùi thơm thân quen ấy, tôi thấy một cột khói nhạt đang tung tăng nhảy múa tươi vui giữa bầu xanh và niềm vui. Vâng, một thứ niềm vui nhẹ như cột khói ấy cũng từ lòng tôi thoát ra, và ngay lập tức, cùng nhảy múa hân hoan giữa bầu xanh với cột khói đang bốc lên từ vườn rau ấy.

Một người em khác của tôi, cũng có đôi mắt xanh, trong và sáng như bầu xanh lồng lộng đầy nắng cuối Thu hôm nay, đang nói cười tung tăng trong vườn rau và với vài người cư sĩ nữa, đang gom hết những thứ khô quắt, héo úa và dập nát ấy thành một đống lớn, và từ đó mà những đám khói đã nhảy múa cùng với mùi thơm quen thuộc tới cửa sổ phòng tôi. Không như người em kia của tôi: trầm lặng, kỹ lưỡng và ân cần, người em này của tôi năng nỗ, sinh động và vui tính; trong khi người em kia của tôi chăm chút, tưới tắm, nuôi dưỡng từng cọng lá chồi hoa, thì người em này của tôi cắt, nhổ, đốt bằng hết những “hậu thân” của những cọng lá chồi hoa ấy. Thế nhưng, từ chỗ ngồi của tôi sau cửa sổ, vườn rau bỗng trở nên sinh khí lạ thường.

Trong đám dây bí dập nát ấy, em tôi nhặt được dăm quả còn tươi. Trước khi nhổ hết những bụi cà chua, em tôi đã gom hết quả dù còn non hay đã bắt đầu vữa. Ở cuối vườn, em tôi đã cắt hết cỏ dại và đang lật hết đám đất ấy lên. Chỉ trong một buổi chiều, cái vẻ hoang vu tiêu điều của vườn rau như đã bốc hơi theo đám khói thơm. Vườn rau, sau khi được dọn dẹp sạch sẽ và cày xong đất đã sẵn sàng cho một mùa mới. Em tôi với những người bạn trở lại bên đống lửa đang tàn dần theo hoàng hôn ngắn ngủi của buổi cuối Thu, ngồi đó, trên những khúc củi khô, cười nói và lên kế hoạch cho một vụ mùa khác vào năm tới. Nhìn xuống từ khung cửa sổ, tôi đã thấy màu xanh yêu thương quen thuộc từ đôi mắt phản chiếu những lá bó xôi, những lá cải, những đọt bầu, đọt mướp đang biểu hiện trong ánh mắt tươi vui hồng ánh lửa của em tôi. Vườn rau, dù lúc này chỉ là những đám đất nâu trống trơn, vẫn là đạo tràng của em tôi, là nơi tu đạo và là nơi hành đạo của em tôi.

Mỗi năm, chúng tôi đón hàng ngàn người về Làng tu học. Vào mùa Hè, mỗi tuần có cả ngàn người đến tu học chung với chúng tôi. Những khi ấy, tôi chẳng có cơ hội ngồi yên ở cửa sổ phòng tôi mà nhìn các em tôi làm vườn. Những lúc ấy là lúc chính tôi phải thực tập chuyện làm vườn. Thầy tôi dạy rằng thiền sinh là vườn của chúng tôi. Anh em tôi không phải ai cũng làm vườn rau giỏi như những người em có đôi mắt xanh mà tôi vừa kể, nhưng ai cũng phải học làm vườn, nhất là những khu vườn sinh động đến với chúng tôi hàng ngàn lượt mỗi năm. Chuyện làm vườn của anh em tôi là một quá trình học hỏi cam go tuy cũng có nhiều hoa trái. Mùa này là Mùa Yên, tuy cũng có những “khu vườn” đến tu học chung với chúng tôi và chúng tôi vẫn tiếp tục săn sóc những khu vườn ấy, nhưng mùa này, người làm vườn tận tụy nhất là Thầy của chúng tôi, bởi vì, mùa này là mùa mà Thầy chúng tôi phải nuôi dưỡng và chuẩn bị nhiều nhất cho những người làm vườn con, những sự tiếp nối của mình.

Thầy tôi đã bắt đầu sự nghiệp làm vườn của mình từ rất trẻ. Từ lúc ấy, Thầy tôi thường nói, Thầy đã ước có một khu vườn lý tưởng cho mình. Và Thầy đã thực hiện được điều mong muốn ấy một cách tuyệt hảo. Mới đây thôi, Thầy nói rằng cho đến lúc này, sau 70 năm thực tập làm vườn, Thầy vẫn thấy rất cần nương tựa một mảnh vườn. Có thể mường tượng ra một người làm vườn mà không có một mảnh vườn chăng? Điều Thầy tôi nói thật dễ hiểu làm sao, nhưng nếu đã từng là một người làm vườn, người ta sẽ dễ dàng hơn để hiểu rằng cái điều nghe dễ hiểu ấy mới thực sự khó làm như thế nào!

Vì đã mang ước vọng ấy, mọi công phu của Thầy tôi đều nhắm đến việc rèn luyện mình trở nên một người làm vườn chuyên nghiệp. Thầy thích thú với công việc của một người làm vườn. Thầy cũng an trú trong công việc của một người làm vườn. Thầy yêu thương những mảnh vườn của mình và có hạnh phúc với những mảnh vườn ấy. Những mảnh vườn là đạo tràng của Thầy tôi, là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi. Chúng tôi là đạo tràng của Thầy tôi, chúng tôi là nơi tu đạo và cũng là nơi hành đạo của Thầy tôi.

Nhiều khi tôi tự hỏi mình rằng có phải mình là một góc vườn đẹp của Thầy? Hay mình đang là một luống rau héo úa vàng vọt phải cần Thầy thường xuyên chăm bón. Có khi, tôi phải cẩn thận lắm mới không để cho mình tự biến thành một ổ sâu, có thể lây lan sang các phần vườn khác của Thầy. Lắm khi, nhìn Thầy phải dụng công chăm bón cho nhiều thứ không thuận tiện đang hẹn nhau diễn trò trong vườn, tôi xót xa, nhưng chẳng biết làm gì khác ngoài việc giữ cho cành lá của mình xanh tươi mạnh khỏe để Thầy bớt phải lo phần mình. Từ chỗ ngồi sau khung cửa sổ phòng mình, tôi có thể nhìn thấy hết việc làm vườn của các em tôi. Nhưng từ góc nhìn hẹp tối của tâm mình, khó khăn lắm tôi mới nhìn được một chút nhỏ bé việc làm vườn của Thầy tôi. Và từ việc làm của Thầy tôi, không biết tự lúc nào, tôi đã bắt đầu thấy cái ước vọng lúc trẻ của Thầy tôi mỉm cười trong lòng tôi, và tôi bắt đầu thấy được nhiều hơn sự cao quý của nó.

Nhưng việc làm vườn không phải luôn luôn suông sẻ. Thầy tôi thường bảo khi rau cải trong vườn không được tươi thì đừng đổ lỗi cho rau cải, đó chính là trách nhiệm của người làm vườn. Đó là Thầy tôi, luôn có trách nhiệm và hết lòng trong phần việc của mình. Nếu như anh chị em rau cải chúng tôi luôn hợp tác tốt với người làm vườn thì sẽ bớt cho Thầy tôi được rất nhiều công sức. Thầy tôi hiểu rõ từng loại hoa quả trong vườn mình và luôn luôn hết lòng săn sóc chúng tôi. Như tôi đã nói, Thầy tôi luôn nhận trách nhiệm về mình khi trong vườn có cọng rau, ngọn cải nào không được tươi tốt. Thế nhưng những khó khăn của Thầy tôi không phải biểu hiện từ việc không tươi tốt của những cọng rau ngọn cải.

Có lần, mấy quả mướp đắng trong vườn không chịu lớn nữa, không chịu tiếp tục chín nữa. Lý do bởi vì chúng muốn mình là dưa leo như những quả tươi xanh phẳng phiu ở giàn bên cạnh. Làm sao mà một quả mướp đắng lại có thể trở thành một trái dưa leo? Thầy tôi phải mất biết bao công sức để chuyển hóa cái tưởng ấy của người anh em mướp đắng của tôi. Và thường thì Thầy tôi sẽ cho trái mướp đắng thấy được hết cái đẹp cái hay của mình để rồi chúng tiếp tục lớn lên, tiếp tục chín mà chẳng còn chật vật với ý tưởng trở thành một quả dưa leo nữa. Nhưng đôi khi tôi cũng thấy Thầy tôi buồn khi phải nhìn một vài trái mướp đắng ấy héo đi rồi rụng xuống khỏi giàn.

Cũng có lần Thầy tôi phải ngồi hàng giờ cạnh một bụi ớt tươi tốt để truyền thông với những quả ớt tí hon ấy, chỉ với mục đích để chúng hiểu rằng ớt là cay. Tôi chẳng hề thấy các em tôi phải làm thế với đám bí hay đám khoai tây của mình bao giờ. Nhưng Thầy tôi thì thường phải làm thế, và đó là một việc rất mất công. Bụi ớt anh em kia của tôi tuy tươi tốt, nhưng phàn nàn, rằng tại sao chúng không hút được những tinh chất thơm tho của đất trời như những bụi rau húng của vồng bên cạnh mà chỉ toàn là vị cay xè, ít người ưa. Làm như rằng chuyện quả ớt cay là do Thầy tôi tự ý gây ra. Nhìn Thầy tôi với đầy yêu thương kiên nhẫn, tháo gỡ từng nút thắt trong cái vọng tưởng của bụi ớt, tôi thấy thương Thầy lạ lùng. Thế đấy, tuy là cùng uống nước cả, tuy là cùng thở khí trời cả và tuy là rễ hút chất trong cùng một mảnh đất nhưng từng loài rau quả lại thu nhận những thứ chất liệu khác nhau, sử dụng chúng khác nhau và cuối cùng biểu hiện ra những thứ hoa trái khác nhau. Thầy tôi biết tường tận từng loại hạt giống và cũng hiểu tường tận hoa trái của những loại hạt giống ấy với những điều kiện biểu hiện của chúng. Bụi ớt anh em của tôi cuối cùng cũng nhận ra gia tài đích thực của mình và chiều hôm qua đã biểu hiện thành niềm hạnh phúc trong những tô phở của anh em tôi.

Lắm khi, Thầy tôi biết rõ là sẽ khiến cho chúng tôi chẳng vui, chẳng hoan hỷ nhưng Người cũng phải làm điều Người cần làm. Mới đây thôi, khi những gốc bí bắt đầu mạnh và những ngọn bí xanh tươi vươn ra bốn phía, chúng bò lan cả sang luống cà và còn muốn níu kéo cả những đám dâu rừng đầy gai. Thầy tôi phải dứt khoát tháo những ngọn bí với tua tủa những chiếc vòi lò xo ra khỏi những đọt cà chua hãy còn chưa có hoa rồi hướng chúng quay trở vào vườn bí. Còn những ngọn bí bò quá xa, muốn gia nhập hội của những đám dâu rừng đầy gai ấy cũng được Thầy tôi dứt khoát kéo về. Có mấy ngọn đã bám quá chặt những chiếc vòi lò xo của mình vào những cành đầy gai, Thầy tôi phải đành lòng cắt bỏ chúng. Cũng có mấy đọt bí dại dột bò ra hướng lối đi, đã mấy lần được Thầy tôi kéo về hướng khác nhưng chúng vẫn cứ một mực quay ra hướng cũ, lại “khéo léo” núp dưới những đám cỏ làm Thầy tôi chẳng thấy chúng được. Chỉ sau một vài hôm, chúng dập nát dưới những gót giày. Dù vậy, Thầy tôi vẫn phải tiếp tục công việc của mình và nhờ thế, cuối cùng bí đã được thu hoạch. Mùa này, anh em chúng tôi chẳng có ngày nào là không được ăn một món bí.

Thầy tôi chưa từng từ chối một mảnh vườn nào. Chỉ cần mảnh vườn ấy chịu để cho Thầy tôi cày xới, gieo giống, vun bón và tưới tẩm thì thế nào hoa trái cũng biểu hiện trên mảnh vườn ấy; chỉ cần những rau cải hoa màu trên những mảnh vườn ấy không từ chối ánh sáng, không từ chối nước và sự săn sóc của Thầy tôi thì thế nào chúng cũng được lớn lên tươi tốt. Thầy tôi có niềm tin rất lớn vào đất, vào nắng, vào nước, vào hạt giống… và quan trọng hơn cả là rất tự tin vào khả năng chăm bón tưới tẩm của mình. Nhưng mọi việc sẽ dễ dàng biết mấy cho Thầy tôi nếu như anh em tôi cũng có được những đức tính của mảnh vườn nhỏ mà tôi thường ngồi nhìn các em tôi săn sóc. Bởi vì đất tâm của chúng tôi rất khác nhau cho nên Thầy tôi có khi phải đợi mười năm hoặc hơn thế nữa cho một hạt giống nảy mầm nơi mảnh đất này, trong khi trên một mảnh đất khác, hạt giống ấy nảy mầm chỉ sau thời gian một bài thiền ca; có khi Thầy tôi phải gieo cùng một hạt giống ấy rất nhiều lần cho một mảnh đất nọ mà lần nào mảnh đất ấy cũng làm cho hạt giống kia thối đi, nhưng trên mảnh đất khác thì chỉ cần một lần gieo, hạt giống ấy liền nảy mầm và lớn lên tươi tốt. Nhưng dù cho đó là một mảnh đất như thế nào thì Thầy tôi vẫn có khả năng làm cho hoa trái biểu hiện được trên mảnh đất ấy.

Có thật nhiều chuyện để kể về việc làm vườn của Thầy tôi, nhưng tôi chẳng thể kể hết được. Tuy nhiên, có một điều tôi không thể không nhớ khi học làm vườn, điều này Thầy tôi thường dạy chúng tôi, đó là đừng bao giờ cho rằng mình đã là một người làm vườn thành công rồi, và đừng bao giờ lìa bỏ mảnh vườn của mình.

Tôi là một góc vườn của Thầy tôi, nhưng tôi cũng là một người đang học làm vườn và tôi cũng đang có những mảnh vườn để thực tập. Tăng thân tôi là mảnh vườn lớn và tôi, vừa thuộc về mảnh vườn ấy mà cũng vừa là người làm vườn. Thầy tôi, đã gần 90 tuổi và đã làm vườn trong 70 năm mà vẫn luôn thấy rằng mình cần một mảnh vườn. Nếu thế thì Thầy tôi vừa là người làm vườn, việc làm vườn là việc của Thầy tôi và Thầy tôi cũng là một mảnh vườn. Chúng tôi thuộc về mảnh vườn ấy, và đó là một mảnh vườn tuyệt hảo. Cho dù Thầy tôi không cho rằng mình là một người làm vườn thành công thì ai cũng biết rằng vườn của Thầy tôi là một mảnh vườn tuyệt hảo. Và ai ai cũng thấy được rằng dù đã gần 90 tuổi, Thầy tôi vẫn còn là một người làm vườn rất tận tụy.

Từ chỗ ngồi sau cửa sổ trên tấm phản gỗ, tôi thích nhìn xuống vườn rau, nơi các em tôi đang hành đạo. Từ góc vườn của mình, tôi nhìn khắp mảnh vườn, tôi thấy Thầy tôi vẫn đang làm vườn. Các em tôi, những người làm vườn có hạnh phúc. Thầy tôi, người làm vườn tận tụy.

(Hình ảnh: Sư Ông Làng Mai trồng cây tại đất mới – Thái Lan, năm 2011)

Thầy tôi

chơi với trẻ em

Nếu không viết được về Thầy tôi trước khi chuyển hóa sang một kiếp sống khác, thì đó sẽ là điều tôi ân hận và tiếc nhất đời. Dù chỉ viết được một bài thay vì một cuốn sách, tôi cũng phải bắt đầu hôm nay…

Trước khi được gặp mặt Thầy lần đầu tiên, một buổi sáng mùa Xuân năm 1982 tại thiền viện Mount Tremper thuộc tiểu bang Nữu Ước, tôi không hình dung được là tác giả vĩ đại mà hai thập niên qua, tôi từng đọc say mê hầu hết mọi tác phẩm của ông, lại là một ông thầy tu nhỏ bé, đi đứng và ngôn từ nhẹ nhàng như vậy. Tôi đã có ý hơi lo lắng, về chuyện “vỡ mộng” khi sắp được gặp mặt người mà mình rất kính ngưỡng qua các sáng tác, từ thập niên 1960. Nhưng sự tin tưởng của tôi vào vị Thầy tác giả đó, thật sự đã tăng lên rất nhiều lần sau khi được diện kiến. Thầy cũng chính là người khiến cho tôi quyết định từ năm đó, sẽ dùng hết thì giờ rảnh của mình vào việc học và hành đạo Phật.

Tôi học được từ Thầy thật nhiều điều hay, tưởng như không đếm xuể, và không thể nhớ hết. Năng lượng từ bi của Thầy đã bao phủ con người tôi, sau khi được Thầy tiếp chuyện suốt nửa ngày “làm biếng” của Thầy trong khóa tu dành cho các thiền sinh Mỹ. Thầy ân cần dặn dò trước khi chia tay “Hãy thở và lái xe trong giới hạn 55 miles thôi”, đã khiến tôi cảm thấy vững tâm khi phải vượt qua mấy cái xe vận tải lớn, không còn vừa lái vừa run như bao lần trước nữa.

Khóa tu đầu tại Làng Hồng (mùa Hè 1984) đã khiến tất cả gia đình tôi thay đổi, trong chiều hướng biết sống hạnh phúc hơn. Gia tài lớn nhất mà chúng tôi để lại cho con cháu, chính là những gì chúng tôi học và hành được qua Phật Pháp mà Thầy đã chỉ dạy không ngừng nghỉ, từ ba thập niên qua. Riêng tôi, do thiện duyên được làm “thị thiệt” hầu Thầy trong một số khóa tu, vào những năm chưa có tăng đoàn Làng Mai, tôi học được một số điều từ cách nói năng, hành xử của Thầy –  những bài học riêng tư chỉ có mình tôi – hoặc thêm vài đồng đạo được nghe, được hưởng. Tuy chưa thực hành giỏi, tôi cũng xin kể trong đây được vài chuyện mà tôi còn nhớ rõ.

Trong khóa tu năm 1987 tại tu viện Kim Sơn, đại chúng phiền lòng không ít vì sau mỗi buổi pháp thoại của Thầy, có một ông thi sĩ tự lên cầm micro đọc thơ (không hay gì mấy) của ông. Thầy từ bi ngồi nghe ông cúng dường nên không ai đứng dậy ra về trước, cho tới ngày gần chót, ông tự đề cao “thơ tôi hay hơn thơ Thầy vì tôi dám nói về Sex!” Trên máy bay từ California trở về Montreal cùng Thầy, tôi nhắc lại chuyện làm cho mình và đại chúng bực mình đó, khi bị “mất thì giờ nghe ông ta đọc thơ…”, Thầy nhỏ nhẹ bảo tôi “Mình phải tập thương cả những người như vậy!”

Trong những lúc chỉ có hai Thầy trò, khi nhắc tới tên một người đã từng bỏ Thầy đã viết nhiều bài báo sai sự thật để bôi xấu Thầy, Thầy vẫn luôn luôn gọi người đó là “anh”, không bao giờ có chữ  “thằng”.  Lòng bao dung và từ bi của Thầy khiến cho Thầy thương luôn những người “đánh phá” Thầy bằng ngòi bút hay lời đồn đại. Suốt cuộc đời tu hành, càng nổi danh, Thầy càng bị hàm oan nhiều chuyện do những con người “vô minh”, nhưng Thầy không một lần lên tiếng biện luận. Nhiều học trò xin Thầy lên tiếng cải chính để sự thật được sáng tỏ, Thầy chỉ nghiêm giọng dạy trò “hãy lo tu thôi, đừng mất thì giờ về những chuyện thị phi đó!”

Đem pháp môn Thiền Chánh Niệm và các phép thực tập từ Làng Mai đi giảng dạy cho các thiền sinh đã học từ nhiều truyền thống Thiền khác nhau (Nhật Bản, Trung Hoa, Nam Tông hay Tây Tạng…), hoặc từ các tôn giáo khác (Thiên Chúa, Tin Lành, Do Thái.v.v…), là chuyện không dễ dàng, nếu như Thầy không phải là một bậc chân tu lỗi lạc. Đối với các học trò cư sĩ Tiếp Hiện của thập niên 1980, Thầy cũng đã từ bi khuyến khích họ đi tìm hiểu và thực hành, thử nghiệm các phương pháp Thiền khác, để có lòng tin vững chãi hơn vào pháp môn Làng Mai. Trong một buổi họp với chúng Tiếp Hiện Canada, Thầy nói: “Nếu ba năm gặp lại thầy mà không thấy thầy tiến bộ, thì nên tìm thầy khác mà tu!”

Cũng vào khoảng cuối thập niên 1980, khi Làng Hồng bắt đầu có đông thiền sinh về tu học, dân Làng Cây Phong (Canada) chúng tôi đã phải năn nỉ Thầy để làm lò sưởi trong phòng Thầy ngủ và làm việc. Mỗi khi Đông về, Thầy ngồi viết bài mà tay tê cứng vì lạnh! Dù bản quyền hàng trăm cuốn sách mang lại cho Thầy một số tịnh tài đáng kể, hạnh “sống nghèo hành đạo” của Thầy có lẽ không có một vị Sư nào theo kịp, dù vị đó chỉ có một ngôi chùa nhỏ. Sư cô Như Ngọc (chùa A Di Đà, Orange County) đã có kinh nghiệm vá áo tràng cũ cho Thầy khi cô sang tu tại Làng Mai. Chú Thanh Hương (sinh hoạt bên cạnh Thầy đầu thập niên 1970 tại Paris), cho biết chi tiết Thầy trò thường chỉ sống bằng tiền lương dạy học của Thầy, nấu cơm bằng gạo nuôi chim chứ không mua được gạo thường. Lúc đó, Thầy đã được Phật tử Âu và Mỹ cúng dường hàng triệu Mỹ Kim để giúp các chương trình xã hội Phật giáo bên Việt Nam, nhưng Thầy không bao giờ xài đồng tiền nào trong quỹ đó!

Kiến thức Phật học và kinh nghiệm hành đạo của Thầy tôi mênh mông như biển. Nhưng Thầy có thể dạy cả những bé thơ mới năm, sáu tuổi, cũng như chuyển đổi được tâm tình các cụ đã quá tuổi “Thất thập cổ lai hy” (trên 70). Thầy tôi càng hoằng pháp, càng có nhiều người hâm mộ và tu học theo, dù họ có duyên tham dự các khóa tu trực tiếp hay gián tiếp qua sách vở, băng và đĩa nhựa. Công trình hoằng hóa nhân loại qua Duy Biểu học của Thầy có những dấu ấn sâu xa vào các tâm lý gia Âu và Mỹ. Sách vở của họ sáng tác từ giữa thập niên 1990 về sau, hầu hết đều nói tới Cognition therapy, Live here and now, Be aware.v.v… Theo anh Josepth Emet, một nhạc sĩ Canadian, giáo thọ Làng Mai, thì chữ Mindfulness không có trong tự điển tiếng Anh, trước khi sách The Miracle of Mindfulness được xuất bản đầu thập niên 1970… Trong chuyến bay đi thăm cháu ngoại kỳ này, tôi  bật cười khi nghe cô tiếp viên hàng không nhắc nhở khách du hành: “Please, be mindful when you get back your luggage from the cabin above you!”

Ảnh hưởng của Thầy tôi lên các thế hệ tương lai sẽ còn lớn lao hơn hiện tại rất nhiều. Hòa thượng Mãn Giác khi sinh tiền có nói: “Thầy Nhất Hạnh là một con người đi trước thời đại khoảng 30 tới 50 năm”. Nếu có đủ duyên may được làm người trong kiếp tới, tôi lại mong được thực tập Phật Pháp qua pháp môn Làng Mai.

 

Ngày 30/12/2011

Trăng sao vẫn đẹp đêm rằm

Cô Chân Bảo Nguyện, thọ giới Tiếp Hiện năm 1994, đã theo Thầy Làng Mai phụng sự gần như từ những năm đầu của Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Hiện giờ cô là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Tiếp Hiện ở Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, và cũng là “cánh tay nối dài của Thầy”, là “trạm dừng chân của Làng” ở Paris. Cô nhận truyền đăng từ Thầy năm 2011, tiếp tục con đường tu học và phụng sự với tấm lòng đầy yêu thương và nhiệt huyết.

 

Thầy thương kính của con,

Thấm thoắt đã 50 năm trôi qua! Một nửa đời người với biết bao tang thương, biến đổi, song hành trang và lý tưởng Thầy truyền trao vẫn không hề đổi thay, vẫn luôn cháy bỏng trong tim con. Đó là tình thương và lòng phụng sự tha nhân. Ánh mắt Thầy luôn rực sáng niềm tin và bao dung độ lượng, tấm lòng Thầy luôn chất ngất tình thương. Thầy mãi mãi là ánh đuốc soi đường cho chúng con noi theo tiến bước.

Con vẫn còn giật mình khi nhớ lại tâm trạng bơ vơ, lạc lõng trong một đất nước đang khổ đau cùng cực vì chiến tranh bom đạn. Tuổi trẻ chúng con khi ấy mất cả niềm tin và phương hướng. May thay chúng con tìm đọc được Nói với tuổi hai mươi của Thầy và từ đấy chúng con đã chọn con đường đi cho đến hôm nay. Đó là con đường của tình thương và sự hiểu biết, con đường phụng sự để đem lại bình an hạnh phúc cho tự thân và cho mọi người.

Trường TNPSXHNgày ấy, lần đầu tiên được tiếp xúc với các anh chị tác viên thuộc trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội (TNPSXH), con thật vô cùng hạnh phúc. Cả một thế hệ thanh niên thật trong sáng với bao nhiệt huyết đóng góp cho quê hương. Tiêu chí của Trường gồm 3 chữ T thật đẹp: Tình thương, Trách nhiệm và Tự nguyện. Đây chính là hạnh nguyện của những vị Bồ tát suốt đời dấn thân giúp đời vì tình thương lớn. Con đã bị thuyết phục vô điều kiện và đã tâm nguyện rằng, con sẽ đi theo con đường phụng sự của Thầy cho đến trọn đời và mãi mãi về sau.

Bằng thơ ca, Thầy đã thay mọi người nói lên ước vọng của dân tộc, ước vọng hòa bình mà trong hoàn cảnh bi đát của chiến tranh, bao nhiêu người bất lực không thể nói được:

Sáng nay vừa thức dậy
Nghe tin em gục ngã nơi chiến trường
Nhưng trong vườn tôi, vô tình,
Khóm tường vi vẫn nở thêm một đóa
Tôi vẫn sống, vẫn ăn và vẫn thở
Nhưng đến bao giờ mới được nói thẳng điều tôi ước mơ?

(Hòa bình, tập thơ Cho bồ câu trắng hiện)

Chính niềm ước mơ ấy mà Thầy lên đường bôn ba nơi xứ người để kêu gọi chấm dứt chiến tranh và xây dựng hòa bình cho quê hương. Vì lẽ đó, Thầy bị lưu vong nơi xứ người ngót 40 năm. Thầy đã sống như một tế bào phải tách rời khỏi cơ thể, lẻ loi, cô đơn vì bao nỗi nhớ nhà, nhớ người, nhớ quê nhà tuổi nhỏ thân thương.

Chúng con nơi quê nhà, thỉnh thoảng được truyền cho nhau đọc thư Thầy gửi về gói ghém biết bao nhớ nhung, thương yêu cho quê hương, cho hàng cau, vườn chuối… Thầy nhắc chúng con phải nhớ “rửa mắt” trên những cánh đồng lúa xanh. Lãng mạn và thơ mộng quá! Bài thơ Chỗ đứng của Thầy đã nằm lòng trong ký ức của con:

Quê hương tôi là đây
Chỉ có dòng sông, hàng cau, bụi tre, vườn chuối
Mặt trái đất dù mang đầy cát bụi
Nhưng trăng sao vẫn đẹp những đêm rằm.
 

Các anh chị tác viên đã thay mặt Thầy đi vào những xóm nghèo để chia sớt nỗi cơ cực, lầm than của đồng bào. Chúng con mỗi cuối tuần đều đến thăm Làng Tình Thương ở bên kia cầu Thị Nghè và Làng Thảo Điền qua khỏi cầu Xa Lộ. Chỉ cách thành phố không xa mà cuộc sống người dân nơi đây thật lạc hậu không tưởng: ăn ở mất vệ sinh, đi tiêu tiểu khắp nơi, không có trường học cho con nít học chữ, trẻ em nhỏ đã tập tành người lớn uống rượu, hút thuốc mỗi khi đi giăng câu…

Con vẫn đi dạy học ở Tân Uyên, một vùng quê giáp ranh chiến khu D, vẫn đi thu học bổng cho trường TNPSXH và cuối tuần vẫn về Làng tham gia công tác cùng các anh chị. Chiến tranh bom đạn cứ lan dần tàn phá quê hương mình. Người dân phải đứt ruột rời bỏ xóm làng để tập trung vào những trại tị nạn hoặc những vùng tương đối an ninh hơn. Các tác viên xã hội lại ngày đêm cùng đồng bào xây dựng lại xóm làng, dựng trường, mở lớp, trồng lúa, chăn nuôi…

Rồi tai ương cứ tiếp tục dồn dập xảy đến: Sáu tác viên trong lúc đi thực tập đã bị mất tích, trường TNPSXH bị kẻ lạ vào tấn công lúc ban đêm khiến hai chị Liên, Vui bị tử nạn, chị Hương bị cưa mất một chân và anh Vinh bị bắn vào đầu nên phải nằm liệt một thời gian dài, sau đó được sang Đức điều trị.

Mọi người vẫn không nao núng, vẫn tiếp tục dấn thân, các tác viên vẫn đi vào làng để giúp đồng bào và rồi lại thêm một mất mát lớn: Năm tác viên trong khi đi công tác ở Thủ Đức đã bị bắn chết lúc trời chạng vạng tối, chỉ có một người bị thương nặng song thoát chết trở về mà thôi.

Trước những thảm trạng ngày càng bi đát cho quê hương, người chị cả của dòng tu Tiếp Hiện Nhất Chi Mai đã nguyện đem thân làm đuốc để thắp sáng lương tri mọi người trên thế giới và để kêu gọi hòa bình cho dân tộc.    

Tết Mậu Thân với cảnh nhà cháy, chết chóc bất ngờ xảy ra cùng khắp trong thành phố và ngoại ô. Đồng bào quanh vùng Phú Thọ Hòa đều tập trung về khuôn viên chùa Lá và trường TNPSXH để tạm trú. Thầy Thanh Văn khi ấy đang là giám đốc trường và các anh chị tác viên phải đối phó với biết bao bất trắc không lường được khi bỗng nhiên có hàng vài ngàn gia đình đến ở bên cạnh chùa. Giữa bao khó khăn chồng chất thì có tin một sản phụ đang chuyển bụng, các anh chị tác viên phải bất đắc dĩ làm “bà mụ” đỡ đẻ giúp cho người thiếu phụ trẻ được mẹ tròn con vuông ngay trong khuôn viên Trường.

Các vấn nạn như lương thực, thuốc men, nước uống, vệ sinh hàng ngày luôn là gánh nặng mà mọi người phải trăn trở giải quyết. Các cơ quan xã hội của chính quyền vì ngại xa xôi nguy hiểm nên không ai đến cứu trợ. Chỉ có các thân hữu của Trường đi quyên góp và xông pha vượt qua hiểm nguy bom đạn để đem quần áo, thực phẩm, thuốc men đến chùa Lá tiếp tế. Trong công tác này, con đã được anh Hảo, giám đốc trường Anh văn quốc tế đặt cho biệt danh là “nữ hoàng ăn xin” vì tài đi xin hàng cứu trợ ở chợ cho đồng bào.

Nhà con buôn bán sơn dầu ở trước chợ Nguyễn Tri Phương, quận 10 nên quen biết hầu hết các cô bác buôn bán trong chợ. Do vậy con chỉ vừa khóc vừa kể tình trạng thảm khốc của đồng bào tị nạn là xin được vô số thức ăn như gạo, mì, tương, chao, khoai, đậu… Anh Hảo có xe hơi và tình nguyện cùng con khuân vác lương thực lên xe, chuyên chở, mạo hiểm chạy qua vùng vừa ngưng tiếng súng để đem đến chùa Lá cùng các tác viên TNPSXH phân phát cho đồng bào.

Ngoài ra chúng con còn tham gia vào việc giúp nhân viên Sở Vệ sinh đi chôn xác chết. Trong cơn lửa đạn ngất trời, mạng sống con người như chỉ mành treo chuông nên cái chết đến bất ngờ cho tất cả mọi người. Xác chết vô thừa nhận cứ lăn lóc ngoài đường qua bao ngày không ai chôn cất. Thầy Thanh Văn và chị Chín (sư cô Chân Không) đã mạnh dạn đề xướng việc kêu gọi mọi người giúp Sở Vệ sinh đi thu dọn các xác chết để phòng ngừa bệnh dịch lây lan trong thành phố.

Những đau thương tang tóc rồi cũng qua đi, cuộc sống bình yên dần dần trở lại. Mọi người như tạm quên đi quá khứ buồn đau để hướng về tương lai tươi sáng hơn.

Trong một dịp coi thi Tú tài, con và anh Đức quen nhau, tình yêu chúng con chớm nở từ đây. Con có giới thiệu anh về trường TNPSXH và dẫn anh về thăm Làng (khi ấy con gọi trường TNPSXH là Làng). Anh Đức được ăn cơm chung với thầy Thanh Văn hai lần và có trao đổi khá thân mật với thầy. Có lẽ nhờ nhân duyên này mà khi định cư tại Pháp, anh đã đóng góp thật đắc lực cho Làng Mai mỗi khi có việc cần. Hai chúng con luôn vui sướng kề vai giúp Làng một tay.

Vài năm sau đó, trong một chuyến đi cứu trợ đồng bào tại các trại định cư Biên Hòa, thầy Thanh Văn đã qua đời vì tai nạn xe. Con được một chị bạn làm y tá ở phòng cấp cứu bệnh viện Biên Hòa thuật lại, có một vị sư trẻ bị tai nạn trầm trọng được đưa vào cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Ít lâu sau đó, thầy có tỉnh lại và hỏi thăm các đệ tử đã có ai thay thầy lo việc cứu trợ đồng bào ở trại định cư chưa? Mọi người đều cảm động ứa nước mắt vì tấm lòng của thầy, cho đến khi sắp lìa đời vẫn còn mang những nỗi lo cho tha nhân.

Bên này chúng con buồn lắm và khóc thật nhiều. Chúng con được tin Thầy bên phương trời xa cũng nhập thất cả tháng khi hay tin một biến cố lớn đã xảy ra nơi quê nhà! Quả thật con đường cho lý tưởng từ bi thật đẹp nhưng cũng đầy gian nan, khốc liệt, mất mát!

Thầy Châu Toàn lên thay thầy Thanh Văn tiếp tục công việc. Thầy năng nổ làm việc hết mình cho đồng bào được no cơm ấm áo. Trong dịp mừng lễ Tết cuối năm, thầy Châu Toàn phát biểu mơ ước của thầy khiến con ngồi rưng rưng nước mắt: “Chúng ta sẽ cố gắng làm thế nào để đến cuối năm, đằng trước sân mỗi gia đình là một đống lúa vàng cao ngất ngưởng”. Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của quê hương mà thầy vẫn cháy bỏng những ước mơ cao đẹp cho đồng bào như thuở thanh bình thì bảo sao con không khóc cho được! Ngồi phía đằng sau ngôi chùa Lá, nhìn qua những hàng cau xanh là cánh đồng bát ngát một màu vàng của bông lúa chín, con chợt nhớ đến hai câu thơ tuyệt đẹp của Thầy trong bài Đường quê:

Cô gái đồng quê về lối xóm
Tươi cười gánh cả một hoàng hôn
 

Có lẽ vì làm việc quá sức nên trong buổi lễ tổng kết sinh hoạt cuối năm, khi đang trình bày những việc làm của trường cho cử tọa, thầy kiệt sức và xin ra ngoài hội trường nghỉ đôi phút. Sau đó thầy vào đọc hết bản tường trình để rồi gục xuống bàn và vĩnh viễn ra đi.

Chúng con thật ngỡ ngàng đau xót. Thư Thầy gửi về an ủi nhưng chúng con biết Thầy cũng đứt từng khúc ruột: “Nhận được tin dữ, tôi đóng cửa phòng một ngày. Tôi như một gốc cây bị đốn ngã. Tôi đánh điện về an ủi các em nhưng tôi thì không an ủi được. Sao trên đời có những chuyện “lỡ hẹn” đớn đau đến thế, hả em?”.

Trải qua bao cuộc thăng trầm bể dâu, chúng con may mắn được gặp lại Thầy vừa lúc thiền đường Hoa Xương Rồng mới hình thành ngày 03.09.1985, sau này đổi thành thiền đường Hoa Quỳnh và hiện tại là thiền đường Hơi Thở Nhẹ. Gia đình con và các cháu nhờ vậy có nơi nương tựa như quê hương tâm linh tại Paris, sau quê hương lớn hơn là Làng Mai. Quả thật chúng con có phước báu quá lớn!

Tăng thân Thiền đường Hơi thở nhẹ, Paris

Ròng rã suốt 30 năm qua, chúng con luôn được Thầy thương yêu, nhắc nhở và chỉ dẫn tường tận hành trang sẵn có để thực tập, đó là hơi thở ý thức, bước chân chánh niệm và nụ cười bình an. Pháp môn chánh niệm trong từng giây phút của cuộc sống giúp chúng con nhận biết những điều kiện hạnh phúc đang có để nâng niu trân quý, đã cho chúng con biết bao niềm an lạc, tự do.

Việc xây dựng tăng thân cũng gian nan, lên xuống bao phen nay mới được hình thành tương đối tạm ổn, mặc dù đôi lúc cũng trải qua sóng gió. Chúng con nghĩ đây là những thử thách đo lường nghị lực và kiên nhẫn của chúng con mà thôi, vì Thầy đã trao cho chúng con chiếc đũa thần “Hiểu và Thương” rồi.

Khi Làng Mai kỷ niệm 20 năm, tăng thân Hơi Thở Nhẹ chỉ mới có 3 thành viên Tiếp Hiện. Hiện nay tăng thân chúng con đã có gần 30 thành viên, năng nổ trong tu tập và đóng góp công sức xây dựng tăng thân, nuôi dưỡng tình huynh đệ.

Con thật sự ngỡ ngàng và hạnh phúc đến lặng người khi nhận được bài kệ truyền trao của Thầy trong buổi lễ trao đèn, vì bài kệ Thầy trao cho con và bài kệ con kính dâng lên Thầy và chư Bụt đã ăn khớp một cách tuyệt vời, mặc dù cho đến khi được quỳ trước mặt Thầy con mới đọc lên:

Bài kệ Thầy truyền trao:

Nâng niu pháp bảo nguyện hành trì
Hoa lá bên đường mở lối đi
An trú thân tâm vào giới định
Quê hương trong mỗi bước chân về

Bài kệ của con kính dâng lên Thầy:

Từng bước chân chánh niệm
Từng hơi thở ý thức
Từng nụ cười bình an
Đây gia tài thiêng liêng
Thầy ân cần trao gửi
Đây hành trang mầu nhiệm
Cùng tăng thân vun bồi”.
 

Con xúc động mãnh liệt khi Thầy hướng đôi mắt đầy thương yêu trìu mến và ân cần nhắn nhủ: “Chiếc đèn này là để trao cho cả gia đình chứ không phải cho một mình Chân Bảo Nguyện đâu. Trong kinh có nói đức Bồ tát có rất nhiều cánh tay vươn ra rất dài, và con là cánh tay của Thầy ở Paris. Cánh tay Thầy rất dài, do đó khi nào có việc cần là có con ở đó, không kể đêm ngày, không kể có thì giờ hay không có thì giờ, luôn luôn có mặt cho tăng thân, phụng sự tăng thân. Một cánh tay không đủ, phải có nhiều cánh tay. Thầy trò mình biết thực tập theo bài kệ trên sẽ mang lại nhiều hạnh phúc. Thầy trò ta làm việc rất nhiều và đều không có lương gì cả, nhưng có rất nhiều niềm vui trong khi phụng sự. Đó là pháp lạc có công năng nuôi dưỡng và trị liệu. Con hãy cùng tăng thân thực tập và nuôi dưỡng tình huynh đệ…”

Qua 50 năm âm thầm theo con đường Thầy chỉ dạy, con vẫn luôn tự hỏi: Con có phải là tri kỷ của Thầy chưa? Con đã quá hạnh phúc và may mắn khi được bơi lội trong dòng suối thơm tho, mát trong chứa đầy tuệ giác và từ bi mà Thầy kính thương đã dày công tạo dựng bằng cả một đời dấn thân đầy truân chuyên và bi hùng.

Việc thị hiện bệnh của Thầy cũng đã cho chúng con biết bao bài học để thực tập, để cố gắng. Chúng con chỉ biết cúi đầu đảnh lễ Thầy với tất cả tình thương và kính ngưỡng.

Thầy kính yêu ơi, chúng con thương Thầy nhiều lắm, Thầy có biết không!

 

 

 

 

 

 

 

 

 

       

 

Ngày 14.01.2016

Nước mắt ngày xưa nay đã thành mưa

Này em, một lần trong buổi vấn đáp, em đã đặt câu hỏi: “Làm sao có thể an trú được trong hiện tại khi em đang có quá nhiều buồn khổ?”.

Em đã được nghe Thầy dạy cách thực tập dừng lại, đừng rong ruổi về quá khứ hay mơ tưởng đến tương lai, mà hãy trở về với hiện tại. Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới, chỉ khi nào thân và tâm an trú trong hiện tại thì mới có thể thật sự tiếp xúc được với sự sống, mới nhận diện và thưởng thức được những mầu nhiệm ngay trong con người mình và xung quanh mình như tuổi trẻ, cặp mắt sáng, như mây trắng, trời xanh… Và chỉ khi nào tiếp xúc được những mầu nhiệm ấy thì ta mới có thể được nuôi dưỡng, chuyển hóa và trị liệu.

Nhưng trong cuộc đời này, đâu phải chỉ có những mầu nhiệm của sự sống không đâu? Còn cái chết của những người thương, bệnh tật và bao nhiêu buồn khổ khác nữa? Em nghi ngờ. Sống ngoài đời khổ gấp trăm gấp ngàn lần sống trong tu viện. Có phải pháp môn này chỉ phù hợp cho giới xuất gia, hay cho những người có nhiều may mắn, có được một nếp sống thoải mái, có thì giờ rảnh rỗi để đi thiền hành mỗi ngày, để ngắm trời, ngắm hoa chăng? Còn em, nhìn lại cuộc sống hằng ngày của mình, em chỉ thấy phiền muộn. Đối với em, trở về với giây phút hiện tại chỉ có nghĩa là trở về với phiền muộn thôi. Là con người, dù sống ở đâu, ngay cả ở trong tu viện, thì cũng có những tâm tư của con người, như phiền muộn, khổ đau… Vì vậy mới phải thực tập để chuyển hóa. Tuy vậy, những phiền muộn trong tu viện chỉ giống như “sóng gió trong một bát canh”, đâu có thấm thía gì với những khổ đau tràn ngập ngoài đời!

Vì vậy tôi đã giữ im lặng và chưa bao giờ trả lời câu hỏi của em. Tôi biết, dù cố gắng trả lời như thế nào đi nữa thì cũng chỉ có thể chạm đến phần lý thuyết mà thôi. Khi chưa đi ngang qua kinh nghiệm sống thì nói gì cũng chỉ là lý thuyết. Và tôi đã đợi mãi đến hôm nay mới dám trả lời câu hỏi của em.

Này em, em có đồng ý rằng một trong những nỗi buồn khổ lớn nhất và sâu đậm nhất là khi mình đang mất, hay sắp mất một người thương không? Tôi đã đi qua nỗi khổ này hai lần trong đời rồi. Lần thứ nhất cách đây 24 năm lúc Ba tôi mất, lúc đó tôi chưa đi tu. Lần thứ hai là cách đây một năm, lúc mọi người tưởng rằng Thầy tôi sắp tịch. Lúc mới biết tin Thầy đang nằm hôn mê sau khi bị xuất huyết não, anh của tôi chỉ biết xuýt xoa trên điện thoại: “Tội sư cô quá! Ba đã mất vì đột quỵ, bây giờ Thầy cũng bị đột quỵ. Sao mà tội sư cô quá! Sư cô lại phải đi qua thêm một lần nữa”. Tôi là người đầu tiên trong gia đình phát hiện ra Ba bị đột quỵ đêm đó. Đứng ngoài hành lang cạnh bác sĩ Moinard trong bệnh viện, tôi cũng là người đầu tiên biết tin Thầy tôi bị xuất huyết não sáng hôm đó. Anh tôi biết cái khổ khi có người thương bị đột quỵ. Anh tôi cũng biết nguyên nhân gì đã đưa tôi đến con đường xuất gia, cũng biết Thầy là người cha tâm linh đã dìu dắt tôi ra khỏi cơn buồn khổ và ra khỏi nếp sống hệ lụy. Thầy có phải chỉ là người cha tâm linh của tôi không đâu? Anh tôi và em út tôi không xuất gia, nhưng đến khi anh tôi lấy vợ và em út tôi xuất giá thì cũng níu áo Thầy, xin Thầy làm lễ Thành hôn cho họ. Các chị của tôi đã lập gia đình hết rồi, nếu không thì chắc cũng vậy.

Một buổi khuya khi vừa thức giấc, tôi nằm yên trong bóng tối, định thần để nhớ lại xem mình đang ở đâu. Khi nhớ ra rằng mình đang ngủ tại khách sạn Bordeaux và Thầy thì đang nằm ở phòng cấp cứu tại bệnh viện, sống chết không biết ra sao, trong khoảnh khắc ấy, cả người tôi tràn ngập một cảm giác buồn tê tái. Đi theo cảm giác này là một năng lượng bệnh hoạn, chết chóc nặc mùi nhà thương mà tôi đã tiếp xúc trong những ngày trước đó. Bàng hoàng trước cảm giác nặng trĩu này, tôi hiểu được tâm trạng của những người tìm cách khỏa lấp những vấn đề khó khăn trong cuộc đời của họ mà tôi đã từng nghe. Sau đó, khi phải đối diện lại với thực tại thì họ không bớt khổ chút nào, trái lại, càng khổ hơn trước rất nhiều. Tôi đã không cố ý chạy trốn, ngược lại, tôi đã trông đợi tin tức mỗi giây mỗi phút vì muốn biết chính xác những gì đang xảy ra cho Thầy tôi. Nhưng trong khi thiếp đi vài giờ đồng hồ, tâm trí tôi không còn ý thức và quên đi những gì đang tiếp diễn, cũng giống như một người đang dùng giấc ngủ để trốn tránh niềm sầu khổ. Giờ đây, với kinh nghiệm bản thân, tôi có thể khẳng định với bạn rằng, chạy trốn giây phút hiện tại không giúp được gì cả.

Năng lượng nặng nề này đã đè chụp lên cả con người tôi, từ đỉnh đầu cho đến gót chân, từ ngoài da đi thật sâu vào tận xương thịt. Nó kéo tôi đi thật xa vào một cái hố to tối hù. Tôi phải ngồi bật dậy, thầm đọc bài kệ trong khi đưa chân vào đôi giày. Bước ra khỏi giường, tôi đi rửa mặt và tiếp tục thực tập thi kệ trong mỗi động tác kế tiếp.

Tình ruột thịt lúc nào cũng thiêng liêng và vượt thoát thời gian, không gian. Dẫu cho sống xa nhau nửa vòng trái đất, hay nói theo cách nôm na là cách biệt nhau giữa hai cõi âm dương, cũng không thể nào phai nhạt được. Bởi vì tình này nằm trong ruột, trong thịt, trong máu và trong mủ của mình. Vậy mới được gọi là tình ruột thịt, máu mủ. Lúc đó tôi tự hỏi: tôi và Thầy tôi đâu phải là ruột thịt mà sao Thầy tôi hôn mê, cảm giác của tôi không khác gì khi chính Ba tôi hay Mẹ tôi hôn mê?

Khi cạo đầu xuất gia, tôi lại được sinh ra một lần nữa để làm em bé trong gia đình tâm linh. Thầy tôi sinh ra tôi, và đóng vai trò làm mẹ cũng như làm cha.

Ở ngoài đời, con cái cần đến cha mẹ khi còn bé. Lớn lên rồi, sống trong xã hội, đi theo quy luật chung thì con cái phải tự lập, phải có một nếp sống riêng và một sự nghiệp riêng. Thầy trò chúng tôi cho đến bây giờ vẫn có cùng một nếp sống chung và một sự nghiệp chung. Là người xuất gia, chắc chắn là tôi phải tiếp tục học và hành suốt đời. Và nếu còn học thì vẫn còn cần đến Thầy. Không những cần Thầy dạy học mà còn cần Thầy soi sáng những lầm lỡ của mình nữa.

Như một người mẹ, Thầy tôi rất quan tâm đến nếp sống vật chất của chúng tôi như cái ăn, cái mặc, chỗ ở, tiền túi… Có một lần đi khóa tu, thấy tôi mặc chiếc áo nhật bình bạc màu, Thầy hỏi sư chị trụ trì xóm tôi một cách rất nhẹ nhàng: “Sao sư chị để cho sư em mặc áo cũ đi ra ngoài vậy?”. Tánh tôi không bao giờ để ý đến chuyện ăn mặc, nhưng vì thương sư chị, từ đó tôi luôn để dành những chiếc áo mới nhất để đi khóa tu và đi ra ngoài.

Mỗi sinh hoạt trong thời khóa thường nhật của chúng tôi từ đầu ngày cho đến cuối ngày đều có liên hệ trực tiếp đến Thầy. Bởi vì Thầy dạy chúng tôi cách bắt đầu một ngày mới với sự thực tập thi kệ lúc thức dậy, cách mang dép, cách đi nhà vệ sinh, vặn vòi nước, đánh răng, rửa mặt, cách ngồi thiền, tụng kinh, lạy Bụt, cách ăn sáng, cách đi, cách làm việc… Trong mỗi sinh hoạt, mỗi động tác, Thầy hướng dẫn chúng tôi cách thức để có thể tự nuôi dưỡng thân tâm và chuyển hóa khổ đau cho chính mình. Thầy chỉ dạy và soi sáng đời sống tu học cá nhân, cho đến cộng đồng. Thầy dạy cách sống hòa hợp trong một cộng đồng mà mỗi người đến từ mỗi quốc gia khác nhau, có văn hóa và tuổi tác khác nhau. Từ những năm đầu, Thầy đã làm mới và chỉ dạy cho chúng tôi cách tổ chức, sinh hoạt trong chúng xuất gia. Chính Thầy đề cử ra Ban chăm sóc, đã dạy chúng tôi vai trò cũng như cách thức làm việc của Ban chăm sóc, rồi của Hội đồng Tỳ kheo, Hội đồng Tỳ kheo ni, cho đến Hội đồng Giáo thọ, và vị Trụ trì. Viết đến đây, tôi còn cảm được năng lượng hớn hở và phấn khởi của các chị em tôi mỗi mùa đông giá lạnh, một tuần ba buổi, vào thiền đường sớm để có được một chỗ ngồi tốt, chuẩn bị để nghe buổi pháp thoại sắp tới. Nghe pháp hoài cũng vẫn muốn nghe thêm. Rồi còn bao nhiêu là những sinh hoạt khác với Thầy nữa!

Này em, chắc em đã hiểu vì sao những gì xảy ra cho Thầy đã ảnh hưởng tôi nhiều như vậy. Tôi có quyền buồn đau khi Thầy tôi bệnh nặng phải không em? Nhưng cái gì đã giúp cho tôi ra khỏi cái hố to tối hù vào buổi khuya hôm đó?

Sau khi thực tập thi kệ một hồi, lòng dịu lại được phần nào, đầu óc tôi sáng suốt hơn để nhớ rằng Thầy đang có mặt khắp mọi nơi, trong tăng thân xuất sĩ cũng như cư sĩ, trong tất cả những ai đang thực tập hơi thở chánh niệm, những ai đang bước những bước thiền hành trên quả địa cầu này, và nhất là trong chính tôi. Tôi cũng đã từng thực tập tiếp xúc với Ba tôi trong bàn tay tôi lúc Ba tôi mới mất. Nhưng lần này, có lẽ nhờ được nhắc nhở thường xuyên trong đời sống tu tập hằng ngày trong suốt 22 năm, đây là lần đầu tiên tôi thấy hiệu lực thần kỳ của cách nhìn sự vật dưới ánh sáng của tương tức. Nhận thức này đã kéo tôi ra khỏi hầm hố của sự đau buồn, hố càng sâu thì tôi được thoát ra càng mạnh. Đúng như những gì em cũng đã từng được nghe, chỉ có tuệ giác mới giúp mình vượt thoát khổ đau. Và nếu mình chưa có tuệ giác, mình cũng có thể nương theo tuệ giác mà mình đã được học thì cũng đỡ khổ rồi, phải không em?

Khi nhớ rằng Thầy tôi đang tiếp tục sống mạnh khỏe dưới hình tướng của tôi, bỗng nhiên một sức mạnh chưa từng có dâng lên trong lòng, phát khởi thành một lời nguyện. Lời nguyện này còn mạnh mẽ gấp nhiều lần so với lúc tôi phát nguyện xuất gia, lúc thọ giới lớn và cả lúc nhận truyền đăng từ Thầy. Tôi ngạc nhiên vô cùng! Tôi đã từng đi qua trạng thái thương nhớ, chán nản, không còn một chút năng lượng để làm gì khi sầu khổ. Giờ đây, chỉ cần thấy tôi là sự tiếp nối của Người thì tôi lại tràn đầy năng lượng và niềm ước vọng. Trước mặt tôi có bao nhiêu điều tôi muốn làm để tiếp tục sự nghiệp của Người. Chính cái nhìn này đã làm cho niềm khổ đau trong tôi thoát hình thành một nguồn năng lượng dũng mãnh để tạo ra lời phát nguyện đó. Càng khổ thì lời phát nguyện càng dũng mãnh. Tôi đã chứng kiến nét mặt và ánh mắt của Thầy chuyển từ trạng thái xuất huyết não qua đến trạng thái hôn mê, ruột gan tôi vẫn còn thắt lại khi viết đến đây. Tôi cảm thấy thấm thía những gì tôi đã được học về Lợi lạc của khổ đau (the goodness of suffering). Nếu em lấy khổ đau làm phân bón, từ bùn, em sẽ gặt hái được những đóa sen xinh tươi và thơm ngát nhất.

Này em, đây là lần đầu tiên tôi dám trả lời câu hỏi của em. Tôi không biết tôi có giúp được gì cho em không, nhưng ít nhất, tôi không nói lý thuyết suông. Và tôi cảm được rằng Thầy tôi cũng như Ba tôi đang mỉm cười, hài lòng về tôi lắm.

 

 

Mối tình Việt Nam

Con xa đất nước thời thơ ấu
Giọng nói quê hương vẫn ngọt ngào
Nề nếp tổ tông cha nắm giữ
Hương sắc quê nhà mẹ chuyển trao.

Thầy thường nói rằng quê hương của Thầy không phải chỉ là Việt Nam, quê hương của Thầy là cả trái đất này, là bây giờ và ở đây, là vượt thoát thời gian và không gian. Tôi biết dù nói thế nhưng trong lòng Thầy vẫn có một mối tình đặc biệt đối với Việt Nam, đơn giản vì Thầy là người con Việt Nam. Trong cái nhìn của một vị thiền sư thì ở đâu cũng là quê hương, nhưng trong một con người thì nơi sinh ra và lớn lên là quê hương của mình, và Thầy vẫn luôn luôn tự hào vì điều đó. Dân tộc, tổ tiên của chúng ta là một dân tộc thuần từ, có một ngôn ngữ Việt rất ngọt ngào, đầy chất liệu thi ca. Nền đạo đức thuần từ thể hiện rõ nhất ở hai thời đại Lý-Trần. Những điều hay đẹp ấy được Thầy khai triển và cống hiến cho xã hội Tây phương – một tinh thần đạo Bụt Dấn thân (Engaged Buddhism) đã và đang được nơi này đón nhận nồng nhiệt.

Thầy và Tăng thân Làng Mai thiền hành tại Vĩnh Phúc trong chuyến về Việt Nam năm 2007

Sáu anh chị em chúng tôi trở về Việt Nam lần đầu tiên sau nhiều năm sinh sống và hành đạo tại Tây phương. Chuyến đi ấy gồm có sư cô Định Nghiêm, sư cô Thuần Nghiêm, sư cô Thiều Nghiêm, thầy Pháp Ứng, thầy Pháp Trú và tôi, tất cả đều đã rời đất nước từ khi còn nhỏ, đều đã lớn lên và tiếp thu văn hóa phương Tây. Thầy biết chúng tôi là những đứa trẻ Việt của thế hệ “trái chuối” – ngoài da thì vàng nhưng trong ruột thì trắng, nghĩa là đã bị Tây hóa. Tuy vậy, ở trong tu viện, Thầy đã dạy cho chúng tôi nhiều cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt. Thầy cho chúng tôi tiếp xúc với một nền đạo đức tâm linh, văn hóa, văn minh Việt để chúng tôi không bị mất gốc và có thể tự hào mình là người Việt Nam. Nhiều người trẻ lớn lên ở Tây phương có mặc cảm cô độc vì tuy họ là người Việt mà không biết gì về con người và văn hóa Việt, trong khi đó lại có cảm giác không được chấp nhận như người Tây, do đó rất đau khổ. Khi được học cả hai nền văn hóa thì mình có thể tự hào hơn, hạnh phúc hơn vì mình mang trong mình cả hai nền văn hóa. Tuy đã được Thầy trao truyền những cái hay, cái đẹp về văn hóa Việt nhưng Thầy muốn các con của Thầy trở về Việt Nam để tiếp xúc trực tiếp và cảm nhận bằng xương bằng thịt, bằng cả trái tim của mình, và Thầy đã tặng cho sáu anh chị em chúng tôi bài thơ trên. Chúng tôi ai nấy đều hớn hở, hồi hộp lên đường về thăm quê cha đất tổ.

Đĩa trái cây chín thơm

Đứng về phương diện tâm linh, Thầy luôn luôn dạy chúng tôi nhớ về nguồn gốc của mình. Ở bàn thờ tổ tiên trong thiền đường xóm Hạ có hai câu đối do Thầy viết: “Gốc rễ tâm linh xin bồi đắp. Suối nguồn huyết thống nguyện khai thông”. Người hạnh phúc là người có khả năng nối kết được với gốc rễ tâm linh và huyết thống của mình. Mình có hai gốc rễ: tâm linh và huyết thống. Ngoài chuyện trở về tiếp xúc và bồi đắp gốc rễ huyết thống, mình cũng về để kết nối với gốc rễ tâm linh, mà gần nhất là chư Tổ ở Tổ đình Từ Hiếu, nơi Thầy đã xuất gia học đạo. Thầy bảo: “Các con là những cây thầy trồng nay đã kết trái, đã chín thơm, đẹp và thầy muốn dâng lên chư Tổ như một kết quả của sự tu học của mình. Thầy về chưa được nên các con về giùm thầy vậy. Các con về cũng là thầy về. Về chùa Tổ các con nhớ bước những bước chân chánh niệm trên đất Tổ cho thầy, nhớ thăm những nơi mà thầy đã sống, như phòng ngủ, những cái giếng, chuồng bò, đồi Dương Xuân, và nhất là phòng của Sư Cố. Các con đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán và nếu có cơ hội thì ra Hà Nội để chiêm bái núi Yên Tử và đảnh lễ các tháp của Tam Tổ Trúc Lâm”.

Tháng Hai năm 2000, sau khi đã được Thầy truyền đăng làm giáo thọ, chúng tôi được Thầy cho phép về thăm Việt Nam. Chuyến đi ấy dài hơn hai tháng và chúng tôi đã được tiếp xúc với ba miền của đất nước. Tại Huế, chúng tôi được ở lại chùa Tổ. Thời gian ở chùa Tổ có thể nói là thời gian hạnh phúc nhất vì được đảnh lễ tháp Tổ, được tiếp xúc với năng lượng của chư Tổ, được Sư Thúc và các thầy yêu thương, chăm sóc tận tình, được đi đảnh lễ tháp Tổ Liễu Quán, nhưng cũng nhiều phen “đau tim”… Ra Bắc, chúng tôi được Thầy dạy đi thăm và đảnh lễ các tháp Tổ ở miền Bắc, đặc biệt là đi thăm núi Yên Tử. Đây là nơi mà các vị vua đời Trần đã rũ bỏ “áo mão cân đai” để lui về tu tập, trong đó có vua Trần Nhân Tông, sau này là người đã khai sáng thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, một thiền phái đặc thù Việt Nam, một thiền phái của đạo Bụt Dấn thân mà bây giờ Thầy trò chúng tôi đang tiếp nối. Thầy bảo: “Chuyến đi này là chuyến đi thăm quê, ngoài việc tiếp xúc với tổ tiên, với quê hương đất nước, xã hội và trải nghiệm, các con sẽ có thể không được phép tổ chức những ngày tu chánh niệm như bên này, các con cũng sẽ tiếp xúc với những mặt trái của đất nước, xã hội và có những cái có thể làm cho các con bị sốc, nhưng các con đã được chuẩn bị kỹ, lại có sự thực tập nên sẽ không đau khổ và thất vọng như những người trẻ khác khi họ về Việt Nam lần đầu. Mỗi bước chân thảnh thơi, an lạc, mỗi nụ cười tươi sáng, hiền hòa, mỗi cử chỉ yêu thương đều là những bài pháp thoại không lời, sống động mà các con có thể cống hiến cho quê hương”.

Chuyến đi ấy đã khơi dậy trong lòng những người trẻ lớn lên ở hải ngoại như chúng tôi tình yêu thương đất nước vô bờ bến. Ai cũng sẵn sàng về lại nhiều lần để góp sức xây dựng quê hương của mình được đẹp đẽ như tổ tiên đã làm trong thời đại Lý-Trần. Mỗi lần được ngồi chơi với Thầy, Thầy luôn quan tâm đến Việt Nam. Thầy nói nếu Thầy về không được thì sau này các con sẽ về giùm cho Thầy. Đất nước của mình đã trải qua quá nhiều khổ đau, đổ vỡ và đang đối mặt với nhiều thách thức. Hơn một nửa dân số được sinh ra sau chiến tranh và có khi trải nghiệm những cái khổ mà không biết tại sao mình khổ. Thế hệ trước thì vẫn mang nhiều hiềm hận, thương tích, chia rẽ, còn thế hệ sau lại đang có cảm giác lạc hậu và choáng ngợp trước những phát triển của thế giới công nghệ, và nhiều người không định hướng được mình sẽ ứng phó như thế nào.

Chuyến đi khép lại với những niềm vui, sự hãnh diện và bao điều thao thức đối với anh chị em chúng tôi. Trước hết là cái đẹp về núi non, sông nước hữu tình. Chúng tôi khi còn ở Việt Nam, vì điều kiện không cho phép nên chưa bao giờ được vân du trên khắp các vùng đất nước, nhưng sau chuyến đi chúng tôi đã giật mình hãnh diện, không ngờ đất nước của mình lại đẹp như thế. Hèn chi Thầy đã viết bốn câu thơ ca tụng Việt Nam để tặng cho các bạn trẻ Việt Nam như chúng tôi khi tới Làng:

Lắng lòng nghe tiếng gọi quê hương

Sông núi trông ra đẹp lạ thường

Về tới quê xưa tìm gốc rễ

Qua rồi cầu hiểu tới cầu thương.

Tiếng gọi quê hương

Quả đúng như thế. Chúng tôi không ngớt đi từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Thật là một đất nước với núi non, sông hồ thơ mộng. Con người hình như thân thiện hơn, niềm nở hơn, tươi vui hơn. Điều này do một du khách Tây phương đã nói với tôi khi tôi gặp bà ở bãi biển Nha Trang. Có nhiều thứ để nói về đất nước và con người Việt Nam lắm. Những cái hay, cái đẹp ấy đang được ông bà, cha mẹ gìn giữ. Ông bà, cha mẹ là những chiếc cầu để con cháu được kết nối với tổ tiên.

Song, bên cạnh đó, nhiều trải nghiệm khác đã khiến chúng tôi nghĩ là sẽ tiếp tục trở về để góp sức xây dựng đất nước bằng chính nếp sống đạo đức tâm linh mà bao thế hệ tổ tiên đã dày công bồi đắp. Chúng tôi thấy đất nước còn quá nhiều khó khăn, khổ đau, nghèo đói, bức xúc, lo lắng, sợ hãi, tranh đua, nghi kỵ, bạo động; tuổi trẻ chán nản, tuyệt vọng, mất phương hướng; dư âm của những vết thương chiến tranh, hận thù và bất công còn đọng lại nơi từng tế bào của mình, không có gì mất đi cả. Tôi nhớ có lần ngồi trên xe lửa đi ra Hà Nội, tôi gặp một anh thanh niên với khuôn mặt thanh tú đang bán trứng vịt lộn. Tôi bắt chuyện hỏi thăm và được biết là anh đã tốt nghiệp đại học kinh tế nhưng không tìm được việc làm, cuối cùng phải đi bán trứng vịt lộn để kiếm sống. Tôi thật xót xa. Chúng tôi chợt hiểu được trái tim của Thầy, hiểu được tình yêu thương mà Thầy luôn dành cho Việt Nam, luôn khuyến khích các học trò sau này phải về Việt Nam để thay Thầy xây dựng đất nước bằng sự tu học của mình. Niềm thương cảm quê hương dâng tràn, trong lòng mỗi anh chị em chúng tôi, ngọn lửa yêu thương đã được nhen lên cùng với lời phát nguyện sẽ tiếp tục về Việt Nam. Chúng tôi nhận thấy, đất nước của mình còn có nhiều nghèo đói, còn lạc hậu nhiều khía cạnh, và điều quan trọng hơn cả chính là thiếu đi sự thống nhất lòng người, thiếu chất liệu hiểu và thương vốn là một chất liệu quan trọng mà tổ tiên của mình trong thời Lý-Trần đã sử dụng để xây dựng non sông. Chúng tôi luôn lạc quan về đất nước của mình vì hạt giống của đạo Bụt, của hiểu và thương đã được gieo bởi tổ tiên của mình qua nhiều thế hệ vẫn còn đó trong chiều sâu tâm thức người dân. Chỉ cần tưới tẩm là nó sẽ nảy mầm. Niềm tin về đạo Bụt trong lòng người Việt là không thể nghi ngờ.

Tới năm 2003, tôi lại có cơ duyên về Việt Nam để mở khóa tu cùng với các sư anh, sư chị và sư em của tôi. Chúng tôi đã về quê hương với một trái tim thuần khiết và tràn ngập yêu thương. Niềm ước mơ duy nhất là chung tay xây dựng và bồi đắp, làm đẹp quê hương với nếp sống đạo đức tâm linh của mình. Mọi việc không hề dễ dàng như chúng tôi nghĩ. Kể từ đó, chúng tôi đã có thêm nhiều chuyến về nữa kể cả những chuyến trở về cùng với Thầy. Sau ba chuyến trở về của Thầy và tăng thân, đã có nhiều người trẻ xuất gia. Chỉ trong vòng gần 4 năm, số lượng người trẻ xuất gia đã lên tới gần 400 người. Nhiều cơ hội đã mở ra và cũng không ít những khó khăn, thách thức mà chúng tôi phải đối mặt. Giấc mơ đồng hành với những người trẻ Việt Nam trên con đường hiểu và thương để xây dựng một đất nước Việt Nam, một dân tộc Việt Nam đẹp đẽ hơn, thuần từ hơn, hạnh phúc hơn và an vui hơn đã bị tổn thương trầm trọng. Dù vậy, chúng tôi không giữ một niềm thù hận nào, không chán nản và tuyệt vọng. Tình yêu của chúng tôi cho Việt Nam vẫn còn nguyên vẹn.

Giờ đây, những người xuất sĩ trẻ chúng tôi đang tu tập và cống hiến cho hàng trăm ngàn người ở ngoài nước, nhưng trong lòng vẫn ấp ủ một ngày nào đó, nếu nhân duyên đầy đủ cũng sẽ trở về để tiếp tục thực hiện giấc mơ Việt Nam. Những gì huynh đệ chúng tôi đang làm ở nước ngoài cũng là đang làm cho Việt Nam. Chúng tôi luôn có niềm tin và hy vọng đối với đất nước mình. Chúng tôi vẫn tự hào là mình đang cống hiến cho xã hôi Tây phương một đạo Bụt phát xuất từ Việt Nam, đạo Bụt Dấn thân, một đạo Bụt Ứng dụng đáp ứng được những đòi hỏi thực tiễn trong đời sống.

Tại Trung tâm Làng Mai quốc tế Thái Lan

(Hết phần 1)

Thăm Thầy

Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn xuân thanh vắng, nắng rơi đầy
Chén trà thơm ngát căn phòng nhỏ
Yên lặng bên Thầy trong phút giây
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Đàn chim ríu rít, suối reo cười
Lẳng lặng bên Thầy con nhẹ bước
Năng lượng Thầy hiền con thở yên
 
Con đến thăm Thầy một sớm mai
Vườn hoa trời rét tưới cùng Thầy
Hiên nhà hoa rụng trong màu nắng
Buổi mai hiền như một khúc thơ
 
Con đến thăm Thầy lúc khổ đau
Thầy dạy con: “Nhớ gọi tên Thầy
Tin rằng Thầy vẫn cùng con đó
Trên nẻo đường con gặp gian nguy
 
Hôm nay như sớm mai xưa ấy
Con lại qua đây, đến thăm Thầy
Gió vẫn còn lay hoa vẫn nở
Bước chân Thầy trong bước chân con.