Xuất gia

Sự nghiệp dựng Tăng

Thư gửi Ban Biên Tập trang nhà Làng Mai

Kính thưa Ban Biên Tập. Tôi là một vị giáo thọ đang giảng dạy tại một trường Trung cấp Phật học tại Việt Nam. Tôi vừa đọc xong bài Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ! và cảm thấy chấn động. Bài này đã nói ra được những sự thật đang xảy ra trong các trường Phật học và cho giới xuất gia trẻ. Đúng là cái học tại các trường Phật học là một cái học từ chương, học để dạy lại cho người khác, và nó không có ảnh hưởng gì rõ ràng trên đời sống hàng ngày của người xuất gia trẻ. Tôi thấy các lớp học, các trường Phật học không phải là những đoàn thể tu học, tại vì trong đó không có tình huynh đệ, không có pháp môn tu học, không có người hướng dẫn tu học và không có sự chia sẻ lý tưởng và tương lai chung. Người dạy cũng như người học bắt buộc phải dạy và phải học vậy thôi. Giữa các vị Giáo thọ và các học Tăng, học Ni cũng không có tình thầy trò và cũng không có lý tưởng chung. Cho nên hiện tượng hư hỏng xảy ra rất nhiều trong giới xuất gia trẻ. Phần lớn bây giờ đang đi tìm cầu những tiện nghi vật chất và tình cảm, không mấy ai thao thức nghĩ tới chí hướng của người xuất gia lúc ban đầu.

Trong bài Tỉnh dậy đi thôi, các bạn xuất gia trẻ! Sư Ông có nói tới những phương pháp tu học có khả năng xây dựng tăng thân, tạo ra một đoàn thể trong đó có tình huynh đệ, có niềm vui sống chung. Những phương pháp để chế tác niềm vui, hỷ lạc, hạnh phúc trong đời sống hàng ngày của người xuất gia, những phương pháp để có thể xử lý, làm lắng dịu những tâm hành, cảm xúc, cảm thọ khổ đau và những phương pháp sử dụng ái ngữ – lắng nghe để tái lập lại truyền thông, hòa giải với nhau trong tình huynh đệ, những cái đó có thật hay không? Có những ai đang thực sự dạy? Có những ai đang thực sự học?

Những phương pháp nói trên được căn cứ trên những kinh điển nào? Mình có thể tới đâu để học được những phương pháp đó? Để mình có thể về xây dựng một tăng thân làm nền tảng thực hiện cho chí nguyện của một người xuất gia. Xin Ban Biên Tập vui lòng cho chúng tôi một số thông tin.

BBT trả lời:

Kính gửi Thầy,

Ban Biên Tập rất vui khi nhận được thư Thầy. Vui vì có cơ hội được chia sẻ với Thầy những gì có thể giúp cho những người xuất gia trẻ.

Pháp môn mà mình nói tới đó là pháp môn xây dựng tăng thân, được gọi tắt là dựng tăng. Đó cũng là công trình của Bụt, đó là sự nghiệp của Bụt. Ngay sau khi thành đạo, Bụt đã biết rất rõ rằng nếu không xây dựng được một tăng thân thì mình không thể nào thực hiện được sự nghiệp của một vị Bụt. Vì vậy Ngài đã để ra rất nhiều thì giờ và công sức để xây dựng một tăng thân. Ngay trong năm đầu sau khi thành đạo, Bụt đã xây dựng một tăng thân xuất gia gồm có 1250 vị, và tăng thân này đầu tiên xuất hiện tại một rừng kè ở ngoại ô thành phố Rajagraha.

Năm Ngài 80 tuổi, Vua Prasenajit (Ba Tư Nặc) có nói một câu rất hay để ca ngợi Bụt về công trình xây dựng tăng thân ấy. Vua nói: Bạch đức Thế Tôn, mỗi lần con thấy tăng thân của đức Thế Tôn là con lại có niềm tin nhiều hơn ở nơi chính đức Thế Tôn.

Nếu không có một tăng thân, nếu không có tình huynh đệ trong một tăng thân, nếu không có một lý tưởng chung với tăng thân thì mình không thể nào tu trọn đời của một người xuất gia. Cho nên xây dựng tăng thân, xây dựng tình huynh đệ trong tăng thân là thực tập nòng cốt. Chuyện nòng cốt không hẳn là chuyện học Phật pháp cho giỏi để trở thành uyên bác về kinh điển. Xây dựng tăng thân đòi hỏi phải xây dựng chính mình. Nếu trong con người của mình có niềm vui, có hạnh phúc, nếu mình đã biết xử lý những nỗi khổ niềm đau của mình, nếu mình đã có khả năng sử dụng những phương pháp lắng nghe – ái ngữ để tái lập truyền thông với người huynh đệ thì khả năng xây dựng tăng thân sẽ lớn và mình sẽ thành công.

Một ví dụ khá hay là Tu viện Bát Nhã. Gần 400 tu sinh Tu viện Bát Nhã, hầu hết đều còn trẻ, không thể nói họ uyên bác về giáo lý, không thể nói rằng công phu thiền tọa, thiền hành của họ đã sâu sắc, không thể nói rằng Niệm, Định và Tuệ của họ đã đủ vững chãi. Không!

Sở dĩ họ ở với nhau được, truyền thông với nhau được và có đủ sức mạnh và niềm tin để nắm tay nhau, cố gắng duy trì sự có mặt của Tu viện Bát Nhã, bất chấp những phá hoại và buộc họ phải ra đời, và những cố gắng ấy đã kéo dài được trên một năm rưỡi với niềm thương và tinh thần bất bạo động để mong có cơ hội được cùng tu với nhau là vì họ có tình huynh đệ. Có rất nhiều người trẻ tới từ khắp nơi, không phải vì mê những bài pháp thoại, mê những phương pháp tu học mà tại vì lần đầu tiên họ đã khám phá ra được tình huynh đệ ở Tu viện Bát Nhã và quyết tâm ở lại Bát Nhã, vì trước đó họ chưa thấy được tình huynh đệ đó trước khi về Bát Nhã.

Đối với họ, tình huynh đệ là sự sống đích thực. Cho nên công trình xây dựng tình huynh đệ cũng là công trình chính của người xuất gia. Có tình huynh đệ thì mình sẽ tu được suốt đời. Nếu không thì mình sẽ chán và sẽ đi tìm những tiện nghi vật chất và tình cảm, do đó mình sẽ buông bỏ lý tưởng đẹp đẽ ban đầu của mình.

Tuy Làng Mai chưa xuất bản được một tập sách với chủ đề “Dựng Tăng”, nhưng trong 40 năm qua, Làng Mai đã học hỏi rất nhiều, đã ghi nhận và đã tập hợp được rất nhiều kinh nghiệm về pháp môn xây dựng tăng thân.

Tại Làng Mai, dù ở tại các xóm, các chùa ở bên Pháp hay các trung tâm như Lộc Uyển, Bích Nham, Mộc Lan ở Hoa Kỳ, Học viện Phật học Ứng dụng Châu Âu ở Đức, Trung tâm quốc tế Làng Mai Thái Lan, Viện Phật học Ứng dụng Châu Á ở Hồng Kông, hoặc ở những nơi khác, nơi nào cũng có người dạy, nơi nào cũng có người học về pháp môn này, dù là người xuất sĩ hay người cư sĩ. Ta có thể gọi môn học này là môn xây dựng tăng thân, một môn học quan trọng nhất trong số các môn học quan trọng như nội điển, giới luật, cách thức tổ chức tu học cho đoàn thể mình và cho những thiền sinh ở ngoài đời.

Trước hết là những pháp môn tu tập để mình có thể chế tác được niềm vui trong đời sống hằng ngày của mình (chế tác Hỷ và Lạc) làm lắng dịu những niềm đau, nỗi khổ của mình, tái lập được truyền thông với người huynh đệ. Những pháp môn này đã có mặt ngay trong những Kinh điển truyền thống nguyên thủy, những kinh mà các thầy và các sư cô thời của Bụt đều đã được học thuộc lòng. Đó là các kinh như kinh Niệm Xứ, kinh An Ban Thủ Ý, kinh Diệt Trừ Phiền Giận, kinh Soi Gương,…Trong kinh An Ban Thủ Ý, có những bài tập để giúp mình đem tâm trở về với thân và làm lắng dịu thân, buông thư toàn thân.

Không ai ở Làng Mai, không ai tới Làng Mai, dù là người cư sĩ mà không được học những pháp môn cơ bản như pháp môn này. Đem tâm trở về với thân, thấy được những căng thẳng, những đau nhức trong thân, thở như thế nào để buông thư, làm lắng dịu được những căng thẳng ấy và những đau nhức ấy. Mình phải học làm cho được trong các tư thế đi, đứng, nằm và ngồi. Trong những lúc thực tập thiền đi, thiền ngồi, thiền đứng, thiền làm việc, ta phải có khả năng làm lắng dịu thân hành. Thân hành tức là hình hài của mình. Đây là các bài tập thứ 3 và thứ 4 trong kinh An Ban Thủ Ý.

Tiếp đến đem tâm trở về thân cũng có mục đích nhận diện được những mầu nhiệm của sự sống, những điều kiện hạnh phúc mình đang có bây giờ để có thể chế tác ngay được Hỷ (niềm vui) và Lạc (hạnh phúc). Đó là hai hơi thở thứ 5 và thứ 6 trong kinh An Ban Thủ Ý. Đây là nghệ thuật Hiện Pháp Lạc Trú, không đi tìm hạnh phúc trong tương lai mà tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Giáo pháp Hiện Pháp Lạc Trú là một giáo pháp rất căn bản của Bụt dạy, nhưng phần lớn Phật tử ít biết đến, chỉ biết đi tìm cầu hạnh phúc trong tương lai hoặc ở một cõi trời hay một cõi Tịnh độ, trong khi hành tinh này thực sự là một nơi xinh đẹp nhất mà ta được thấy trong vũ trụ trong giây phút hiện tại.

Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười, mỗi cử chỉ đều có thể chế tác được Hỷ và Lạc cho mình và cho người khác. Đó là công trình thực tập chánh niệm. Chánh niệm giúp ta nhận diện những may mắn, những điều kiện hạnh phúc mà ta đang có. Khi ta nhận diện được chúng rồi thì tự nhiên Hỷ và Lạc được chế tác. Chế tác Hỷ và Lạc là để mình tự nuôi dưỡng mình và mình có thể đi xa trên con đường lý tưởng. Khi mình tự nuôi dưỡng được mình rồi thì mình cũng sẽ có khả năng nuôi dưỡng được người huynh đệ của mình, giúp cho người ấy cũng làm được như mình.

Hơi thở thứ 7 và thứ 8 giúp ta nhận diện những nỗi khổ, niềm đau, những khổ thọ, những cảm xúc đang đi lên. Nếu biết cách thở thì ta có thể chế tác được năng lượng chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu những nổi khổ, niềm đau trong vài ba phút. Đó là những pháp môn thực tập rất quan trọng, nằm ngay trong kinh điển của Bụt. Nếu mình chỉ học lý thuyết thì sẽ không bao giờ làm được.

Khi trong người mình đã cảm thấy khỏe, khi mình đã biết xử lý những nỗi khổ, niềm đau của mình, khi mình đã có đủ Hỷ, Lạc trong đời sống hằng ngày rồi thì rất dễ cho mình trong công việc giúp người huynh đệ cũng làm được như vậy.

Mình có thể sử dụng phương pháp lắng nghe với tâm từ bi để giúp cho người kia nói ra được những niềm đau, nổi khổ trong người đó. Một giờ lắng nghe như vậy sẽ giúp cho người kia bớt khổ rất nhiều. Ái ngữ  là những lời nói từ ái có thể giúp cho người kia mở lòng ra được, thấy rằng người đang nói chuyện với mình không có ý làm cho mình khổ. Nếu người kia trong quá khứ đã gây cho mình nhiều thương tích, cũng tại vì người ấy chưa thấy được nỗi khổ niềm đau của mình.

“Lâu nay tôi biết huynh có rất nhiều khó khăn và đau khổ. Tôi đã không giúp được huynh mà cách tôi phản ứng đã làm cho huynh khổ đau thêm. Đó là lỗi tại tôi. Tại tôi chưa thấy được những nỗi khổ niềm đau ở trong huynh, những khó khăn, bức xúc ở trong huynh mà chỉ thấy được nỗi khổ niềm đau của tôi thôi, cho nên tôi cứ liên tục trách móc. Sự truyền thông giữa chúng ta đã bị cắt đứt. Bây giờ tôi thấy được sự thật rồi, tôi thấy huynh có rất nhiều khó khăn, khổ đau và bức xúc. Nếu huynh thương tôi mà vui lòng nói cho tôi biết thêm về những nỗi khổ niềm đau của huynh thì chắc chắn từ nay về sau tôi sẽ không phản ứng cái kiểu lâu nay tôi đã từng phản ứng, và chắc chắn rằng từ nay về sau tôi sẽ không làm cho huynh khổ như tôi đã từng làm. Nếu huynh không giúp tôi, thì ai giúp tôi bây giờ. Xin huynh cho tôi một cơ hội để trở thành một người huynh đệ thực sự của huynh.”

Đó là pháp môn ái ngữ. Khi ta nói được những lời ấy thì người kia sẽ mở lòng ra và nói cho ta nghe về những khó khăn và khổ đau của người ấy. Có thể là trong khi nói, người ấy sẽ đưa ra một vài lời trách móc, buộc tội và có thể người ấy chứng tỏ có rất nhiều tri giác sai lầm về ta. Nhưng pháp môn lắng nghe với tâm từ bi (bi thính, compassionate listening) đòi hỏi mình không được ngắt lời người kia, dù người kia đang nói những điều sai với sự thật. Nếu mình cắt lời, mình sẽ biến buổi thực tập lắng nghe thành một buổi tranh luận và như vậy là hư bột hư đường hết. Mình phải  tiếp tục thở trong khi mình lắng nghe và tự nhắc nhở rằng mình lắng nghe như thế này chỉ với một mục đích duy nhất là giúp người kia nói ra được những niềm đau nỗi khổ trong lòng để người kia bớt khổ. Còn những hiểu lầm kia trong năm bảy hôm sau, khi có cơ hội, mình sẽ cung cấp cho người ấy một số thông tin để người ấy có thể điều chỉnh nhận thức của họ. Bây giờ chỉ lắng nghe mà thôi.

Tái lập được truyền thông, hòa giải được với người huynh đệ, đây là một phép thực tập rất quan trọng. Nếu không biết pháp môn này thì làm sao ta xây dựng được tăng thân?

Trong pháp môn xây dựng tăng thân, có những sự thực tập được rút ra từ Luật tạng rất hay, như phương pháp ngăn ngừa sự vướng mắc, đối trị với sự vướng mắc, điều phục cơn giận, làm mới, soi sáng và phủ rơm lên bùn.

Sự vướng mắc có thể xảy ra giữa một người tu nam và một người tu nữ, nhưng cũng có thể xảy ra giữa hai người tu nam với nhau hoặc hai người tu nữ với nhau. Phương pháp sống trong tăng thân là phải thương cho đều. Thương cho đều là yếu tố xả, một trong bốn vô lượng tâm. Xả nghĩa là không kỳ thị, tình thương phải ôm lấy mọi người không loại trừ bất cứ ai. Nếu mình chỉ thương một người thì mình đi ngược với xả. Thường thường thì người ta chỉ thương những người dễ thương, dễ chịu. Đó là bản tính của con người. Tu trong đạo Bụt là phải tập thương cho đều. Từ các bậc sư trưởng cho đến các em mới tập sự, ai cũng phải học phương pháp này.

Khi sự vướng mắc xảy xa, đương sự thường không chịu công nhận là mình có vướng mắc. Nhưng khi có tới bốn vị Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni đưa vấn đề ra chúng thì đó trở thành một vấn đề chính thức phải đem ra chúng để giải quyết. Chúng sẽ họp và sẽ đưa ra những phương pháp thực tập để hai người từ từ sinh hoạt lại bình thường. Nếu sau một thời gian không thành công thì phải chuyển một trong hai người đi một trung tâm khác. Đây là chuyện bất đắc dĩ.

Điều phục cơn giận là pháp môn thực tập rất quan trọng. Theo phương pháp thực tập chánh niệm, mỗi khi bực tức giận dữ đi lên thì mình đừng hành động, đừng nói năng để tránh gây đổ vỡ. Mình phải trở về chăm sóc cơn giận của mình. Thở, đi thiền hành, ngồi thiền, chế tác năng lượng chánh niệm để nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu cơn giận đó. Tìm hiểu cơn giận tới từ đâu, có thể từ một tri giác sai lầm của mình, có thể từ sự vụng về của người kia, chứ không hẳn là người kia đã cố tình làm mình khổ.

Theo phương pháp này hành giả không để cho cơn giận kéo dài quá 24 giờ. Phải tìm cách đối thoại với người kia. Nếu cần thì có một huynh đệ khác ngồi với mình để hai bên cùng có cơ hội nói chuyện với nhau.

Mỗi tuần trong chúng có một buổi làm mới. Đại chúng họp lại và tưới hoa cho nhau, nghĩa là khen ngợi nhau về sự tu học và về những thành quả đạt được của những người khác. Nhân cơ hội mình cũng có thể nói ra những cái mình đã bị tổn thương trong tuần vừa rồi, và xin những người kia cắt nghĩa tại sao đã nói và đã làm như thế. Người kia sẽ có cơ hội giải thích. Đó là phương pháp làm mới. Khi đại chúng nhận thấy giữa hai người có một sự căng thẳng, không có sự truyền thông, đại chúng phải giúp cho hai người thực tập cho đến khi hai người đó giải tỏa được với nhau.

Soi sáng là một phương pháp rất hay. Phương pháp soi sáng được sử dụng trước khi một giới tử được thọ giới, một người sắp được truyền đăng, một người sắp được chấp nhận là thành phần của chúng thường trú. Đương sự nghe từng người nói lên những ưu điểm và những khuyết điểm của mình và nhận một lá thư trong đó có ghi chép tất cả những gì chúng đề nghị.

Trong lễ tự tứ cũng vậy. Ngày tự tứ người nào trong chúng cũng nhận được một lá thư soi sáng của đại chúng. Đây là một sự thực tập rất công phu và đầy tình thương. Đại chúng ngồi chung lại như một đoàn thể anh em và soi sáng cho mỗi người bằng tâm từ bi. Đương sự có thể có mặt để tự mình soi sáng cho mình trước, và sau khi được nghe soi sáng có thể đứng dậy để làm lễ tạ ơn. Phương pháp này rất hay và được thực tập ở tất cả các trung tâm của Làng Mai.

Phương pháp phủ rơm trên bùn được lấy từ phép bảy phương pháp diệt trừ tranh chấp (thất tránh diệt pháp) của giới lớn. Vị trưởng lão trong chúng, mỗi năm có cơ hội ân xá cho thành phần đang thực hiện pháp sám hối để vị này có cơ hội trở về để hội nhập với tăng thân. Theo đúng luật nghi, có những hành động làm cho mình không tiếp tục được như một thành viên trọn vẹn của tăng thân. Điều này có thể kéo dài cả năm. Nhưng mỗi năm vị trưởng lão của tăng đoàn, nhân một lễ hội lớn như Vu Lan hay Tết, có thể ban xuống một ân xá để người kia có cơ hội được trở về hội nhập với tăng thân.

Những điều này tất cả các trung tâm của Làng Mai đều có thực tập.

Đứng về phương diện tổ chức tăng thân thì nghệ thuật dựng tăng nói rất rõ: vị trụ trì, vị sư trưởng không phải là người quyết định mọi chuyện. Theo truyền thống thì hội đồng các vị xuất sĩ, các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo ni là cơ quan có thẩm quyền quyết định cao nhất. Những quyết định này có liên hệ tới hạnh phúc và sự tu tập của chúng. Quyền hạn tối cao trong chúng không nằm ở vị trụ trì hay vị sư trưởng mà nằm ngay trong hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni. Những buổi họp của hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni phải bắt đầu bằng những lời quán nguyện, nhắc nhở nhau rằng, những quyết định mà mình sẽ làm trong buổi họp này là vì hạnh phúc của tăng thân. Một quyết định nào đó có thể gây một vài đau nhức nhưng những đau nhức đó rất cần thiết để chữa trị và làm hạnh phúc cho đại đa số. Mình không thể nể một người, dầu người đó có hạ lạp cao cũng vậy, nếu người đó đang gây những ứ đọng và bế tắc trong tăng thân.

Khi mình đã trở thành một vị Tỳ kheo hay Tỳ kheo ni thì mình đã được bình đẳng với các vị khác về vấn đề phát biểu và quyết định dầu hạ lạp mình còn ít. Mình có một phiếu và mình có quyền đóng góp sự quyết định của mình trong hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni bằng lá phiếu đó. Đây  là tinh thần dân chủ của giáo đoàn nguyên thủy.

Trước khi hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni họp, các Thầy lớn, các Sư cô lớn có thể đến ngồi chơi với các giới sa di, sa di ni, thức xoa ma na và cư sĩ để lắng nghe những nguyện vọng, ước mơ và khó khăn của họ để trong khi hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni họp, các vị ấy có thể nói những điều ấy ra cho tất cả đều nghe, để cho quyết định của hội đồng có thể làm hạnh phúc cho đại đa số, trong đó có giới cư sĩ.

Trong chúng còn có hội đồng Giáo thọ. Hội đồng giáo thọ gồm những người đã được truyền đăng nhưng không phải các vị giáo thọ có quyền cao hơn các vị Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni. Hội đồng giáo thọ chuyên về vấn đề giáo dục, tổ chức các khóa tu, lập chương trình tu học. Nhưng những đề nghị và chương trình này của hội đồng giáo thọ phải được đưa lên hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni để duyệt y trước khi đưa ra thực hiện.

Thầy trụ trì cũng như ban chăm sóc (CTC – Care Taking Council) là cơ quan điều hành. Các vị này không có quyền quyết định thay hội đồng Tỳ kheo, Tỳ kheo ni mà chỉ thực thi những quyết định của hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni. Những gì chưa chắc ăn thì họ phải luôn trở về hỏi các thầy, các sư cô trong hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni. So với các ban Thường vụ ở ngoài đời thì ban Thường vụ ở ngoài đời quyền hạn quá nhiều, trong khi đó thì vị trụ trì cũng như ban chăm sóc (CTC) chỉ là cơ quan hành pháp, thực thi những quyết định của hội đồng Tỳ Kheo, Tỳ kheo Ni mà thôi.

Trong khi làm việc với nhau, tổ chức tu học cho nội chúng, hoặc tổ chức những khóa tu cho người cư sĩ thì các thành phần của chúng xuất sĩ ý thức rằng đây không phải chỉ là công việc như công việc ngoài đời làm để có lương, mà là một cơ hội để học làm việc chung, chia sẻ kinh nghiệm với nhau và xây dựng tình huynh đệ. Cho nên không phải vì mình có tài năng về một ngành như ngành máy tính mà mình say sưa đánh mất mình trong công việc. Đây là một điều tối kỵ. Mình phải luôn tham dự vào sinh hoạt chung của đại chúng.

Trong công việc xây dựng tăng thân, khi một vị xuất gia đi đâu luôn luôn phải có một vị thứ hai đi theo. Đây là pháp môn đệ nhị thân. Dù đi ra bưu điện, ra chợ để mua rau hoặc tới chùa của một chúng khác phái thì người xuất sĩ cũng phải đi hai người.

Trong tinh thần xây dựng tăng thân, đại chúng cùng đi như một dòng sông, không đi riêng như một hạt nước. Đi như một hạt nước sẽ bị bốc hơi mau chóng. Chúng ta không đi tìm một sự nghiệp riêng và một tương lai riêng cho mình, mà cùng tìm về về một tương lai chung và hoàn thành một sự nghiệp chung cho cả tăng thân.

Đã là người xuất gia thì mình phải hoàn toàn nương tựa vào tăng thân. Khi mình nương tựa và tăng thân thì tăng thân cũng sẽ lo cho mình. Khi mình có bệnh tật thì tăng thân sẽ lo chữa trị cho mình. Nếu mình cần đi nhà thương, khám bệnh, chữa trị thì tăng thân sẽ lo cho mình. Nếu gia đình có những khó khăn về vấn đề tình cảm hay tài chính thì tăng thân cũng sẽ tìm mọi cách để giúp cho gia đình mình để mình có thể yên tâm tu học và tiếp tục con đường lý tưởng.

Trong công trình xây dựng tăng thân, vai trò của người cư sĩ cũng rất quan trọng. Ngoài đời khổ đau tràn ngập cho nên ai cũng cần phải tu tập. Sự có mặt của các vị xuất sĩ không đủ, không thấm thía vào đâu cả nên mình cần có cánh tay nối dài trong xã hội. Đó là những vị cư sĩ. Ban đầu, họ là những người thọ năm giới trong một khóa tu mà họ tham dự. Năm giới của Làng Mai giống như giới của Bồ tát. Sau đó một thời gian, một số được thọ giới của dòng tu Tiếp Hiện. Mười bốn giới Tiếp Hiện đích thực là những giới Bồ Tát mà các vị xuất sĩ và cư sĩ đều có thể thực tập. Những vị Tiếp Hiện tại gia có bổn phận tổ chức những tăng thân tu học trong thành phố của mình. Họ có khả năng hướng dẫn nghi lễ, hướng dẫn các buổi tụng giới, pháp đàm, thiền hành và nói những bài pháp thoại.

Sau đó mình lại có những vị giáo thọ cư sĩ Tiếp Hiện, họ có thể là cánh tay nối dài của các thầy, các sư cô giáo thọ xuất gia. Mình cũng có những nhóm tình nguyện viên ở ngoài đời, lo tổ chức sự tu học cho mọi giới, trong đó có giáo chức, có các đoàn thể trẻ, sinh viên, học sinh và nghiệp đoàn.  Mình cũng có những người cư sĩ thường trú cùng ở chung với các thầy, các sư cô để làm những công việc thích hợp với người cư sĩ hơn để yểm trợ cho các thầy và các sư cô. Họ cũng sống với những tiện nghi tối thiểu như các thầy và các sư cô.

Trước đây,  Làng Mai gọi phương pháp nói trên là “Đạo Phật ứng dụng” (Applied Buddhism). Ở Đức có một học viện gọi là Học viện Phật học Ứng dụng châu Âu ( The European Institute of Applied Buddhism). Không phải chỉ tại đây mới có dạy môn này mà trong tất cả các trung tâm và các cơ sở Làng Mai khắp nơi trên thế giới, nơi nào cũng có học môn Đạo Phật ứng dụng.

Sau này, để phương pháp được mở rộng khắp nơi trong xã hội nên mình đã bỏ bớt chữ Đạo Phật và chỉ dùng danh từ mới là Đạo đức học ứng dụng (Applied Ethics) để dễ dàng đi vào cuộc đời, như phong trào Wake Up Schools hiện bây giờ đang rầm rộ đi tới. Phong trào đã đào tạo rất nhiều giáo chức trong pháp môn tu học xây dựng tăng thân, để họ đem vào lớp học, giúp cho học sinh bớt khổ, tái lập lại truyền thông giữa cha mẹ, con cái và tình thầy trò, xây dựng tình huynh đệ trong lớp học để người dạy bớt khổ và người học cũng bớt khổ và để giúp cho học sinh chuyển hóa, có khả năng hòa giải được với bố mẹ ở nhà và tìm được một con đường lý tưởng cho cuộc đời.

Hiện bây giờ ở Làng Mai, có các Thầy từ nhiều nước tới như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia… để học những pháp môn này. Họ thấy rất lợi lạc, họ có nhiều chuyển hóa và rất mong đem những pháp môn này về áp dụng tại chùa của họ. Nhiều chùa hiện bây giờ giống như những dịch vụ. Các thầy và các sư cô không có thì giờ tu học và xây dựng tăng thân, chỉ tạm có đủ thì giờ để phục vụ cho khách hành hương, dù đồng ra đồng vào rất nhiều.

Thưa Thầy, nếu Thầy muốn có một kinh nghiệm về pháp môn này thì Thầy có thể tới một trong những trung tâm của Làng Mai trên thế giới, ở lại chừng ba tháng để quán sát, nghe ngóng và Thầy sẽ cảm thấy đây là cái quý nhất của Làng Mai, dù trung tâm nào của Làng Mai cũng còn những yếu kém. Sức mạnh của Làng Mai không phải là những khóa tu về những kinh điển sâu sắc như Trung Quán Luận, Dị Bộ Tông Ngôn Luận, Duy Thức Tam Thập Tụng mà là Đạo Phật Ứng Dụng. Những vị có bằng tiến sĩ Phật học tại các trường đại học lớn cũng chưa chắc có thể sử dụng những kiến thức của mình để vượt thắng những niềm đau, nỗi khổ của họ. Cho nên trong những bài giảng của Làng Mai, dù giảng về Trung Quán Luận hay Nhiếp Đại Thừa Luận thì luôn luôn có chen vào những pháp môn tu học rất thực tế. Những giáo huấn đó thuộc về phạm vi của Đạo Bụt Ứng Dụng.

Mong rằng những điều mà Ban Biên Tập chúng tôi vừa nói có thể giúp cho Thầy có được một ý niệm rõ hơn về phương pháp dựng tăng. Kính chúc Thầy có cơ hội tốt đẹp để hướng dẫn thế hệ xuất gia trẻ đi lên một phương trời khoáng đạt và nhiều hào quang hơn.

Nỗi niềm trăn trở của tuổi trẻ

Kính gửi Thầy và quý thầy, quý sư cô Làng Mai.

Lời đầu thư con xin chào và kính chúc Thầy và tất cả quý thầy, quý sư cô và toàn thể tăng thân Làng Mai luôn mạnh khỏe. Kính mong các thầy, các sư cô giúp đỡ được nhiều người hơn nữa trong việc chuyển hóa bản thân mình để tìm được sự tự do, thảnh thơi và an lạc.

Con năm nay 21 tuổi, con đang là sinh viện đại học tại Sài Gòn. Từ hai năm nay, con từ một kẻ vô thần vô đạo, con có may mắn được biết đến Thầy qua những tác phẩm của Thầy đã được xuất bản. Con chưa đọc thật nhiều về tất cả các tác phẩm của Thầy nhưng một số cuốn mà con tâm đắc thì con luôn sử dụng các bài tập đó để chuyển hóa cảm xúc và cuộc sống của mình. Thực sự sau hai năm thì cuộc sống của con đã có nhiều điều mầu nhiệm. Con may mắn được sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân bình thường, không có quá nhiều đau khổ và vướng mắc trong gia đình. Con được gia đình nuôi dưỡng cho ăn học đầy đủ và chu đáo. Tuy nhiên, trước tới giờ con vẫn có những cảm xúc bình thường của con người như tiêu cực, giận hờn, đau khổ… Sau hai năm được tiếp xúc với những bài thực tập đơn giản mà Thầy trao tặng, con đã thực tập theo và cảm xúc của con có tích cực hơn nhiều. Con đã làm chủ được phần lớn những thái độ, cảm xúc tiêu cực và hành động cũng như cách ứng xử của mình… Con may mắn vì từ nhỏ đã có nhiều bạn bè tốt và yêu quý con, các thầy cô giáo cũng giúp đỡ con hết lòng trong học tập. Trong gia đình con cũng cũng được mọi người yêu mến. Con cũng may mắn vì có người yêu thương con hết mực và con cũng yêu người đó một cách chân thành và sâu sắc. Con đã cảm ơn số phận vì đã được sinh ra trong một gia đình như thế và con cảm ơn Thầy rất nhiều vì những điều Thầy trao tặng.

Nhưng hôm nay, con viết thư này gửi đến Thầy và quý thầy, quý sư cô để mong muốn giãi bày một tâm tư cũng như một nỗi niềm trăn trở khác của con trong cuộc sống này.

Con đã từng sống ba năm ở Hà Nội trước khi vào Sài Gòn. Qua các phương tiện thông tin đại chúng và các phương tiện truyền thông khác (lẽ trái cũng như lẽ phải) và qua những trải nghiệm cá nhân cũng như thực tế nhìn thấy trên quê hương mình, con đã nhìn ra xã hội Việt Nam đang có quá nhiều đau khổ, dù là ở bất cứ tầng lớp nào, đặc biệt là những người dân nghèo khó: nhân quyền đang bị chà đạp nghiêm trọng, kinh tế sa sút do tham nhũng, lãng phí; xã hội nhiều bất công và tệ nạn do một nền giáo dục lạc hậu và tất cả các phương tiện truyền thông đều bị kiểm duyệt về nội dung trên toàn đất nước… Con xin không kể ra đây nữa những yếu kém và đau khổ của đất nước mình. Con đã đọc những bài về việc Thầy góp ý với Nhà nước Việt Nam về việc đưa đất nước đi lên, nhưng những điều đó thực sự còn xa xôi lắm…

Trước tình cảnh hiện tại, là một sinh viên, một công dân của đất nước con thực sự bất bình và phẫn nộ. Nhưng con luôn tin tưởng vào điều thầy đã dạy và con không bao giờ sống mà không tôn trọng những điều đó. Đó là muốn mang lại hòa bình và hạnh phúc cho người khác thì trước tiên mình phải có sự bình an và hạnh phúc. Thế nên, dù có bất bình trước cái ác, con chưa bao giờ tự cho mình được phép khởi lên những cảm giác hận thù, đau khổ và tuyệt vọng từ trong cả suy nghĩ. Con chỉ có một lòng thương cảm với người dân nước mình và con thấy tội nghiệp cho những người gây nên tội ác đó. Tuy nhiên, con vẫn có những trăn trở về con đường để Việt Nam có tương lai tươi sáng hơn, để người dân thực sự được sống dưới một bầu không khí tự do, dân chủ và an ninh thực sự.

Kính thưa Thầy và quý thầy, quý sư cô, con viết thư này mong muốn gửi đến Thầy và các thầy, các sư cô những tâm tư, nguyện vọng và trăn trở của con. Con mong muốn Thầy cho con một cách nhìn để đối diện với tình hình hiện tại cũng như cho con thêm những lời khuyên để cho con sáng tỏ con đường cống hiến cho đất nước, cho dân tộc những vẫn giữ được sự bình an, thảnh thơi trong tâm hồn?

 

Chia sẻ của Thầy Pháp Tiến

Trong tiến trình của lịch sử, bất cứ  một quốc gia nào cũng phải trải qua những khó khăn tất yếu của nó. Có thể nói dân ta đã trải qua quá nhiều khó khăn và khổ đau, mỗi lần dân ta vượt được khó khăn dân ta càng có nhiều kinh nghiệm quý báu hơn. Chúng ta có quá nhiều bùn, chỉ cần hội đủ điều kiện, chúng ta sẽ cống hiến cho vườn hoa nhân loại đóa sen tinh khiết. Con đường đi lên của đất nước ta sẽ khác rất nhiều các cường quốc khác. Có thể chúng ta đi sau họ vài thập niên, nhưng chúng ta sẽ rút được bài học từ họ rất nhiều. Không chắc giàu có, hiện đại, tiện nghi là con người có hạnh phúc đâu. Lao theo sự phát triển vượt bậc khoa học kỹ thuật, kinh tế, tài chính … theo hướng hưởng thụ, bạo lực mà không có cơ hội trở về chăm sóc đời sống tinh thần, đã vắt kiệt suối nguồn hiểu biết và thương yêu nơi đồng loại, làm cho con người ngày càng bị các chứng bệnh tâm thần do căng thẳng, sợ hãi cô đơn mà ra. Không, đất nước ta sẽ không bao giờ theo con đường đó! Chắc chắn là thế! Dân ta, tổ tiên ta đã khổ đau quá nhiều rồi, đã đến lúc hưởng được hương vị hạnh phúc đích thực, chúng ta xứng đáng để được như thế, và cũng có cơ hội làm ấm lòng tổ tiên cha ông chúng ta. Sự thức tỉnh của một người có thể làm bừng tỉnh cả nhân loại, huống chi là sự thức tỉnh của cả một dân tộc.

Chúng ta có quá ảo tưởng không? Chắc chắn là không. Lịch sử từng xác nhận điều đó trong thời Lý, Trần, thời đại mà con người tỏa sáng nếp sống đạo đức, tâm linh, nó giúp ta vượt thoát được kiếp nô lệ, sống hài hòa với chính chúng ta và các nước láng giềng. Chúng ta là sự tiếp nối của cha ông, chúng ta sẽ làm hay hơn nhiều lắm. Ngày nay một nền đạo đức học, những nguyên tắc hành xử không phải chỉ nằm trong khuôn khổ của một quốc gia mà là toàn cầu để bất cứ một cư dân nào trên hành tinh này, tiếp xúc với nó đều có lợi lạc, đều có thể hòa nhập và áp dụng được. Sự bừng tỉnh không bao giờ bị giới hạn bởi không gian và thời gian, điều nó cần là sự hợp nhất. Sự hợp nhất nơi chính tự thân mỗi người và nơi cả cộng đồng.

Trong nhạc phẩm Về quê của nhạc sĩ Phó Đức Phương ta có các câu hát mà dưới góc nhìn thiền quán nó có giá trị rất sâu sắc. “Nước qua cầu thời gian trôi mau. Nơi bền lâu là nơi lắng sâu. Thiếu quê hương ta về đâu” . Chúng ta sẽ không thể sống nếu chúng ta không có cội nguồn. Nếu chúng ta lạc mất quê hương, gốc rễ, thì chúng ta sẽ không thể nào có điểm tựa vững chắc để xây dựng tương lai. Có thể chúng ta sẽ rơi vào tình trạng phóng thể, sống một cuộc sống không ý nghĩa, không phương hướng. Tác giả khuyên chúng ta; vạn vật không ngừng thay đổi theo thời gian, cuộc sống có hạnh phúc, có vững chãi hay không, nó tùy thuộc rất nhiều vào đời sống tinh thần. “Nơi đậm sâu là nơi lắng sâu.” Phải trở về, phải tiếp xúc với quê hương tuổi thơ của ta. Trở về với sự mộc mạc, chân chất mà đượm nghĩa tình. Đừng quá bận rộn, đừng quá bon chen với cuộc đời để rồi đánh mất một điều gì đó thiêng liêng. “Thiếu quê hương ta về đâu.” Trong tâm thức của mỗi con người, quê hương có thể là chùm khế ngọt, là bánh đa bánh đúc, là bờ đê, lũy tre xanh, tiếng sáo diều hay những hàng dừa soi bóng ven sông… Nhưng quê hương cũng có thể là gánh hàng rong, gốc phố, ghế đá công viên, quán cà phê ven đường, nơi hội ngộ của những người dường như xa lạ trong những ngày chợt nắng chợt mưa. Hay những con phố tấp nập dòng người qua lại với hai bên là những tòa nhà san sát có nhiều bảng hiệu.

Nhưng có một quê hương khác nữa mà chúng ta không thể thiếu được. Đó là sự sống đang có mặt trong mỗi phút giây, chỉ cần hơi thở, bước chân chánh niệm là ta có thể tiếp xúc ngay, ta có thể đã về, đã tới với quê hương đích thực này. Quê hương đích thực này rất rộng lớn, có thể ôm cả quê hương chôn nhau cắt rốn của ta. Ta có thể ở bất cứ nơi nào trên hành tinh này cũng có thể tiếp xúc với nó. Quê hương có mặt ngay bây giờ và ở đây, một quê hương sinh động, và đích thực.

Điều thiết yếu mà chúng ta cần nhắc nhau là, hạnh phúc có mặt ngay bây giờ, nó không phải là một ước vọng xa xôi, nó không phải là điều mong đợi trong tương lai. Những gì ta làm hôm nay đã có chất liệu của tương lai rồi. Ta thấy mọi người xung quanh ta đang rơi vào những trạng huống khó khăn, điều đó làm cho ta một lần nữa ý thức được những may mắn mà mình đang có. Trân quý chúng, mà sống hết lòng. Không phán xét, không phản ứng, chỉ nhận diện thôi. Ta không quay cuồng, ta không lao theo vòng xoáy của xã hội, ta tập dừng lại. Đất nước ta bao đời luôn phải chịu khó khăn do chiến tranh loạn lạc, vì thế  tự do luôn là ước nguyện lớn nhất của cha ông. Nếu chúng ta sống  có  sự tươi mát, thảnh thơi là phần nào đáp lại nguyện vọng của cha ông. Một hơi thở nhẹ, một bước chân vững chãi cũng đủ giúp ta tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Ta hạnh phúc là tổ tiên ta hạnh phúc. Ta biết dừng lại thì ngàn đời trong huyết mạch ta cũng sẽ dừng lại. Một nụ cười vô úy của ta cũng đủ để làm rạng rỡ cả tổ tiên. Ta có bình an, ta có vững chãi, trong tim ta sẽ trào dâng suối nguồn thương yêu và hiểu biết. Trái tim ta mở ra, có thể ôm ấp được tất cả mọi người, dù người đó là người mà ngày trước ta cho là những người xấu, những người làm mục nát xã hội. Trong ta sẽ bừng dậy một ước nguyện, ước nguyện hiểu thương, ước nguyện đi vào cuộc đời mang sự tươi mát và hạnh phúc mà mình có được để giúp người bớt khổ. Đừng đợi xã hội thay đổi, mọi việc nên bắt đầu từ chúng ta. Chúng ta có thể hành trì “ năm phép thực tập chánh niệm” (Five Mindfulness Trainings) không chỉ là năm giới quý báu trong đạo Bụt mà ngày nay đã trở thành nền Tâm Linh và Đạo Đức Toàn Cầu. Sự thực tập này giúp chúng ta tháo bỏ được những sợ hãi, cố chấp, kỳ thị, cuồng tín và hận thù; mang lại hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trí tuệ, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thâ n và cho xã hội.

Như vậy, sống chánh niệm trong đời sống hàng ngày sẽ giúp ta tiếp xúc sâu sắc với quê  hương đích thực. Giúp ta có sự kết nối với cội nguồn, với gốc rễ mà không phải rơi vào tình trạng lạc lõng, mất phương hướng. Chánh niệm mang lại sự tỉnh thức trước những khó khăn, khổ đau trong ta và xung quanh ta. Có thể ta sẽ phải tiếp xúc với khổ đau, nhưng không bị trói buộc, ta không phải là nạn nhân mà là người trải nghiệm. Có như thế trong ta sẽ dâng trào suối nguồn hiểu biết và thương yêu, mang đến cho ta một ước nguyện, giúp mình giúp người vượt thoát khổ đau. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi nụ cười, mỗi ánh mắt đong đầy bình an, ta sẽ là bồ tát vượt ngàn lớp sóng trần ai, giang rộng đôi tay bảo hộ sự sống, cứu giúp kẻ trầm luân.

Nuôi dưỡng tình thương khi làm việc

Con là một Phật tử tại gia, làm nghề nông nghiệp. Con có một thắc mắc mong nhờ quý Thầy,quý Sư Cô giải đáp giúp. Con trồng lúa thường hay bị nhiều loại sâu rầy cắn phá, nếu không phun thuốc thì sâu rầy phá hết, còn nếu phun thuốc trừ sâu thì phạm giới sát sanh. Con đã thử nhiều cách khác nhưng không được, chỉ có phun thuốc mới giữ được ruộng lúa. Xin quý sư chỉ giúp cho con: làm thế nào để vừa giữ giới lại vừa làm được kinh tế nuôi sống gia đình?

Con xin cảm ơn nhiều.

PT: Nhuận Bảo

 

Sư cô Chân Như Hiếu chia sẻ:

Chị thương kính,

Nghe chị chia sẻ về khó khăn của chị trong việc dùng thuốc trừ sâu để chăm sóc ruộng lúa, sư cô cảm thông được với chị. Có rất nhiều người cũng có tâm trạng như chị vậy. Thật ra thì quý thầy quý sư cô cũng có làm ruộng và cũng phải dùng thuốc trừ sâu. Tuy nhiên quý thầy quý sư cô biết rõ phương pháp thực tập trong lúc làm việc để nuôi dưỡng tình thương của mình đối với mọi loài.

Trước hết mình làm bằng cách phòng ngừa, nghĩa là đừng để cho tới khi lúa bị sâu rầy rồi mình mới bơm thuốc mà phải bơm thuốc ngừa sâu ngay khi chưa có sâu rầy, như vậy đỡ làm tổn hại đến sâu rầy hơn. Thứ hai là cách thực tập trong khi bơm thuốc. Chắc chắn là chị không muốn giết hại sinh mạng như trong Năm giới đã dạy. Cái tâm không muốn giết chết sâu rầy đó đã nói lên hạt giống thương yêu đã có sẵn trong chính chị rồi, chỉ cần đánh thức nó dậy và làm cho nó lớn mạnh hơn thêm là quý lắm. Trong khi làm việc, bất cứ là công việc gì, mình cũng có thể thực tập với tâm từ bi, gởi năng lượng thương yêu đến với những chú sâu, rầy trong suốt thời gian làm việc. Duy trì lòng thương đến với chúng và cầu ngyện cho chúng được an lành và hạnh phúc, dù sinh ra bất kỳ ở đâu và làm thân gì cũng được an vui. Đừng làm với tâm giận dữ, bực bội và trách móc sâu rầy phá lúa, làm cho lúa mất mùa.v.v… Vì làm với tâm giận dữ không những không giúp cho sâu rầy hết phá lúa mà làm cho tâm thêm nặng nề và mệt nhọc hơn.

Trong kinh Bốn loại thức ăn, khi nói về đoàn thực (tức là thức ăn đưa vào bằng đường miệng), Bụt có đưa ra ví dụ về cặp vợ chồng có một đứa con trai nhỏ duy nhất, họ rất thương yêu và chăm sóc con hết mực chu đáo. Một hôm vì đến sinh sống một nơi khác nên họ đem con vượt qua sa mạc đầy nguy hiểm. Giữa đường hết lương thực và họ sa vào tình trạng đói khát cùng cực, không còn cách nào để giải quyết, họ bàn với nhau là giết đứa con nhỏ để ăn thịt thì mới sống sót để vượt qua cơn hiểm nạn. Khi giết đứa con và ăn thịt đứa con để thoát chết, họ đau xót và rơi lệ. Họ không ăn vì thèm và để bổ dưỡng mà vì họ bị bắt buộc phải ăn để sống và vượt qua hiểm nạn của vùng sa mạc. Bụt lấy ví dụ đó để dạy rằng nếu khi mình ăn uống, mình không có chánh niệm, ăn với tâm ham muốn, không có tình thương và nghĩ tới những em bé đang đói khát trên thế giới thì như ăn thịt những đứa con của mình.

Cũng vậy, khi bơm thuốc trừ sâu, mình cũng bị bắt buộc phải làm vì không làm thì mình không có gạo ăn để sống. Cái chính là ở tâm mình và cách mình làm việc. Giết hay không giết, làm hay không làm không phải là vấn đề, vấn đề là mình làm với tâm như thế nào, thương yêu và cầu nguyện hay giận dữ và bực bội. Và khi làm với tâm thương yêu mình cảm thấy lòng mình nhẹ nhàng hơn, tình thương trong mình lớn thêm hơn và niềm cảm thông trong mình sâu sắc hơn đối với không chỉ loài sâu bọ mà có luôn với mọi loài xung quanh mình.

Khi biết được để có bát cơm ăn, mình phải làm lụng vất vả và có nhiều loài phải hy sinh trong đó, mình ăn cơm có ý thức hơn và trân quý bát cơm mà mình đang bưng trên tay hơn. Trong tu viện, mỗi khi bưng bát cơm lên ăn, quý thầy quý sư cô và các thiền sinh đều thực tập Năm phép quán trong khi ăn, trong đó có những điều: Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, của muôn loài và công phu lao tác của rất nhiều người và rất nhiều sinh vật; Xin nguyện ăn trong chánh niệm và với lòng biết ơn để  xứng đáng thọ nhận thức ăn này. (Năm quán)

Thương chúc chị thực tập làm việc vui và thành công.

Hiểu mình chính là hiểu con

Kính Gởi Ban Biên Tập

Đây là lần thứ hai con viết thư cho Ban biên tập(BBT). Lần trước con đã được BBT trả lời những thắc mắc cũng như những lo lắng. Qua đó, con có tìm được ít nhiều sự an tâm và cũng cố gắng tu tập theo những gì mà BBT đã chỉ dẫn.

Nhưng có lẽ cuộc đời là những con sóng, cứ tiếp nối xô bờ rồi lại trở ra xa. Cứ lăng tăng bận rộn không ngừng nghỉ. Ví dụ như: Khi con của con còn trong bụng, con đã cầu xin cho con của con mai khi ra đời được khỏe mạnh, lành lặn.  Khi đã qua giai đoạn đó, con lại mong khi con của con đi học sẽ học giỏi và có nhiều bạn bè. Bây giờ, khi cháu đã được 15 tuổi, biết có bạn, có bè thì sao con lại thấy lo.  Không biết, có phải vì lo quá không mà có lúc vợ chồng con như không hiểu con cái và ngược lại chắc con cái cũng chẳng hiểu cha mẹ. Nhưng hiểu sao bây giờ? Làm sao mà hiểu? Con vô cùng bối rối khi sống giữa hai phong tục tập quán. Một bên thì nói là thương thì phải cho roi cho vọt, kính trên nhường dưới, đi thưa về trình, tôn ti trật tự. Còn một bên thì bảo phải biết lắng nghe, coi lời nói của con quan trọng hơn lời nói của mình và hãy là bạn. Con vô cùng bối rối khi phải sống giữa đạo và đời. Đời nói rằng sống phải vượt qua tất cả, phải vươn lên dành thắng lợi. Còn đạo thì bảo rằng sống phải biết bao dung và cũng vươn lên nhưng để buông xả. Trong trường hợp này thì con dạy cháu cách nào cho có kết quả đây? Và xin thưa, trước nhất, con đã dùng phong tục Ta để dạy cháu và áp dụng đời để khuyến khích mình, khuyến khích con. Rốt cuộc, con chỉ thấy cháu tỏ ra sự khó chịu, cứng ngắc và không thân thiện trong tập quán của Ta. Con lo lắng và tỏ ra sân si. Cháu càng trở nên khó chịu và khó dạy bảo. Thấy khổ quá, nên con tự an ủi mình và lên mạng tìm hiểu tâm lý tuổi của cháu và bắt đầu sống theo Tây. Cháu có nhiều không gian và tự do hơn nên có lẽ rất thích. Vì lẽ thích đó nên cháu mặc sức vẫy vùng, bơi lội và rồi con thấy cháu bơi hơi xa. Con lo lắng và lại tỏ ra sân si, nhưng sợ cháu biết sẽ càng xa con hơn, nên con chọn cách xả bỏ những sân si đó để xem như mọi chuyện như không. Con mong một ngày cháu sẽ thay đổi. Cũng có lúc tâm con đối với cháu như mặt hồ phẳng lặng nhưng tận đáy lòng thì dậy lên những con sóng hoang mang. Trong trường hợp này,  để cho dễ chịu, để an lòng khỏi phải phiền muộn thì con sẽ vịn vào lý nhân quả, nghiệp duyên. Có đúng không BBT? Vậy thì con đang sống theo đạo hay con đang bất lực? Làm cách nào để tốt cho con của con đây? Con xin kính mong BBT cho con một lời dạy bảo. Con xin biết ơn nhiều lắm.

Con có một ít câu chuyện nhỏ muốn chia sẽ với BBT về cháu:
1. Khi con đưa cháu đi gặp chuyên gia tâm lý được lần thứ hai thì khi về cháu hỏi lại con rằng: Mẹ có nghĩ rằng vị chuyên gia tâm lý đó hiểu con tốt hơn ba mẹ không?
2. Khi con đang ở nhà bếp nấu nướng thì cháu xuống trò chuyện: Mẹ, có phải những  gì mà con đang sở hữu, có phải là quả như trong kinh Phật nói không? Con trả lời là phải. Rồi cháu lại nói rằng khi học giáo lý cháu hiểu những gì mà các anh chị huynh trưởng dạy và có phải mình được tái sinh không? Con trả lời là phải. Rồi cháu vừa hỏi vừa khẳng định rằng: Mình có sống bao nhiêu kiếp nhưng cũng chỉ có mỗi một linh hồn thôi phải không mẹ? Con nói thật, con chưa biết đúc kết một câu nói trong một cái ý đó cho đến khi cháu hỏi. Và con cũng trả lời là phải. Rồi cháu lại nói: Vậy chúng ta là những người đi trong luân hồi. Mẹ, con không muốn đi trong luân hồi. Có ai đi ra khỏi luân hồi không mẹ? Và con đã nói là chỉ có Đức Phật Thích Ca.

Cuộc nói chuyện được thêm một hồi nữa thì kết thúc.

Một lần nửa con xin chờ và kính nhận những cao kiến của BBT. Con chúc BBT luôn được khỏe và tin tấn.

Con, NT

 

Cô NT thân mến!

Đọc thư tâm sự của cô BBT thấy tấm lòng những người đang làm cha, làm mẹ, luôn lo lắng và mong mỏi điều tốt nhất cho con mình. Cháu hiện nay đang trong giai đoạn tuổi dậy thì nên cần phải được quan tâm chăm sóc nhiều. Tâm sinh lý phát triển thì cũng ảnh hưởng đến tánh tình, có khi chợt vui, chợt buồn hay lắm lúc muốn nổi loạn âu cũng là điều dễ hiểu. Bởi vì trong lòng có rất nhiều thắc mắc và muốn được tự khám phá và học hỏi. Do vậy cha mẹ cần nhiều kiên nhẫn và khéo léo để giúp con đi qua giai đoạn tuổi đang lớn này. Nhưng giúp và chăm sóc như thế nào để cháu còn có không gian chơi đùa, không cảm thấy quá ngột ngạt bởi tình thương hay sự quan tâm thái quá. Đó là sự thực tập và cũng là một nghệ thuật, như những nhà chăm sóc cây cảnh, bonsai, hết sức kiên nhẫn và khéo léo từng chút một. Để hiểu được cháu hơn thì có lẽ trước hết thử đặt mình vào tâm trạng của cháu, nhớ lại tuổi thành niên ngày xưa của chính mình, có những băn khoăn, khó khăn nào và muốn được Ba Mẹ cư xử với mình ra sao, những đức tính nào mình thích nơi ba mẹ và điều gì đã từng làm mình cảm thấy khổ đau. Như vậy, mình sẽ dễ dàng chấp nhận một vài tánh khí thất thường hay thỉnh thoảng ương ngạnh của con. Thực ra, đây cũng là một sự thực tập. Hiểu con cũng là để hiểu chính mình và ngược lại khi mình hiểu được mình nhiều hơn thì sự truyền thông trong gia đình cũng trở nên đầm ấm và hòa hợp.

Vu Lan xóm Trung 2012

Sự thực tập của quý thầy và quý sư cô ở đây là giữ gìn chánh niệm, luôn tỉnh thức để nhận diện và soi sáng tâm mình, không để bị các nguồn năng lượng tiêu cực như tham-sân-si chi phối. Khi phát hiện ra là mình đang bị chúng dẫn dắt thì phải lập tức trở về với hơi thở, làm an dịu thân tâm trước rồi mới tiếp tục nói chuyện. Khi đó bầu không khí phải cởi mở và đầy tình thương thì mới bắc được nhịp cầu tin cậy, cảm thông. Truyền thông thật sự là phải không còn ranh giới. Ở đó chỉ có những lời ái ngữ và sự lắng nghe sâu sắc đầy thương yêu và hiểu biết. Nhờ chánh niệm thường xuyên vào hơi thở mà mình có khả năng giữ lòng bình an và nhận diện ra là mình đang sử dụng những nguồn năng lượng nào. Bực dọc, gắt gỏng, lo lắng hay giận hờn… như vậy phiền não. Sóng gió được chuyển hóa tại đây, ngay từ lúc đầu. Nếu cuộc nói chuyện không được thoải mái, thì có thể tạm ngưng và chờ dịp khác lại tiếp tục. Thực tập quan sát tâm lâu ngày từ từ sẽ thấy có nhiều chuyển biến. Có thể vấn đề của cháu không quá nghiêm trọng nhưng do mình quá lo, rồi mình nghĩ tới, nghĩ lui, nghĩ quá khứ, tương lai thành ra tâm mình trở nên lao nhọc. Tạo ra xung đột cho bản thân mình và cả cháu, như vậy là mình chưa khéo tu và làm thiệt thòi cho cả hai. Vấn đề không phải là dạy cháu theo kiểu Ta hay Tây, đúng hay sai mà là sự thực tập, để tứ đại (đất, nước, gió, lửa) trong mình hòa hợp và hòa điệu với con, cho có hạnh phúc.

Theo thư cô tâm sự thì hạt giống lo lắng đã có từ khi cháu chưa được sanh. Nếu cháu không được như cô mong ước là khỏe mạnh và có nhiều bạn thì sự lo lắng phiền muộn kể ra cũng có đôi chút căn cứ. Nhưng cháu đã có các điều kiện ấy mà cô vẫn cứ lo như thường thì cháu không phải là nguyên nhân chính, đừng quá gò bó kẻo tội cháu. Có những bậc phụ huynh cứ hay nhắc nhở, dặn dò và nghĩ là mình thương nên mới nói, nhưng đó có thể là tập khí của mình được trao truyền từ nhiều thế hệ trước. Nếu không biết thương đúng cách thì chỉ làm chúng thêm khổ mà mình cũng chẳng vui gì. Cuối cùng chúng không dám đến gần mình nữa thì đâm ra giận hờn, oán trách, tủi thân cho là chúng không nghe lời và hết thương mình. Đó cũng là hoàn cảnh rất phổ biến của nhiều gia đình.

Suy cho cùng nghệ thuật sống chung là để hiểu nhau, cảm thông nhau rồi thương nhau nhiều hơn, chứ thật ra ai mà không có mối ưu phiền trong lòng. Hiểu được như vậy rồi thì mình không muốn làm bất cứ điều gì để người khác phải khổ thêm. Tu là để chuyển nghiệp, để không bị những nhân duyên mà mình nghĩ là yếu tố ràng buộc đè nặng lên đời sống, mà cụ thể là các tâm hành như buồn, thương, giận, ghét, lo lắng, bất an… Đó chính là ba nghiệp tham sân si, khi có nhân duyên đầy  đủ chúng sẽ phát khởi. Đối tượng mà cô cần tu tập là chính những tâm hành này chứ không phải hoàn toàn ở cháu. Khi mình biết thực tập quan sát hơi thở có chánh niệm thì dần dần sẽ bớt lo lắng, bởi vì mình thấy được sâu sắc hơn nguyên nhân, gốc rễ của nó, rồi thì cái thấy này làm mình thay đổi thái độ trong cư xử, giải quyết vấn đề trong đời sống hằng ngày.

Rồi đây mỗi ngày cháu sẽ lớn lên và xa rời vòng tay của cô chú, đó là tiến trình của cuộc sống. Không cha mẹ nào có thể giữ và bảo bọc những đứa con thân yêu của mình mãi mãi. Chúng phải tự vấp ngã, khổ đau rồi qua đó mới lớn lên được. Những gì làm được trong khả năng thì mình đã cho và trao truyền hết lòng rồi, còn lại là quyền của chúng, mình không thể can thiệp được hoàn toàn cuộc sống của cháu đâu cô à. Nếu cô chú có khả năng sống hạnh phúc thì đó chính là gia tài lớn nhất mà cháu được thừa hưởng, và nuôi  lớn cháu. Còn thì nếu có một điều gì đó mình cho là bất lực thì đó chính là do mình chưa có khả năng hạnh phúc với chính mình và thấy được sự vận hành của đời sống. Vì vậy mà mình cần phải nổ lực tu tập để đạt đến. Điều này cần thời gian, tu tập và học hỏi rất nhiều.

Về vấn đề luân hồi, nghiệp, sinh tử cô có thể tìm đọc quyển sách Không Sinh Không Diệt Đừng Sợ Hãi đã xuất bản ở Việt Nam do Sư Ông Làng Mai viết thì sẽ được rõ hơn. Chúc cô chú có thêm sự nhẫn nại để dạy bảo cháu, gia đình ngày càng êm ấm và hạnh phúc.

Ban Biên Tập

Cô có thđọc thêm: Thương yêu theo phương pháp Bụt dạy.

Nuôi dưỡng bình an khi chăm sóc học sinh cá biệt

 

Câu hỏi:

Tôi năm nay 53 tuổi, là một giáo viên cấp hai, tốt nghiệp môn toán nhưng không dạy lớp mà làm công tác giám thị của một trường Trung Học Cơ Sở lớn trong tỉnh. Tôi không lập gia đình, nên bao nhiêu tâm huyết tôi đều đem vào hết cho công việc, nhất là dạy dỗ học sinh cá biệt, giáo dục các em học sinh khi chúng vi phạm. Trong những năm gần đây tôi bị sốc nặng về các hành vi vi phạm của các em, tôi không còn cách nào giáo dục được những em cá biệt. Thế là tôi tìm hiểu về Phật pháp qua lớp học giáo lý căn bản do một chùa nọ tổ chức. Tôi nghe một số bạn đồng nghiệp đã qui y, bảo là niệm Phật nhiều có tha lực nói học sinh nghe. Tôi chưa biết nhiều về đạo Phật và cũng chưa quy y, tôi chỉ hiểu một cách lờ mờ về đạo Phật.

…Sau khi được quý thầy và sư cô hướng dẫn, tôi cố gắng tập đếm hơ i thở, cố quên đi những phiền muộn, nhưng sao những chuyện đau buồn cứ hiện lên trong những đêm mất ngủ.  Đôi khi ngồi yên lặng đếm hơi thở thấy lòng nhẹ đi một chút. Sau đó, trở lại với công việc lại gặp phải chuyện xui xẻo. Tôi cố gắng làm tròn nhiệm vụ của mình, an phận những ngày tháng còn lại chờ ngày nghỉ hưu mà vẫn bị bạn bè, cấp trên chỉ trích. Tôi lại theo phương pháp đếm hơi thở để tìm sự bình an nhưng khó quá, nỗi buồn cứ bao vây mình. Biết là cố chấp sẽ khổ, nhưng khó bỏ quá. Xin giúp tôi làm sao để tìm sự thanh thản cho tâm và để tìm được một giấc ngủ an lành.

 

Sư cô Hội Nghiêm chia sẻ:

Cô H. kính mến!

Mấy hôm nay quý sư cô bận soi sáng (một thời khóa sinh hoạt của đại chúng) nên không trả lời thư cho cô H. sớm như mong muốn được, mong cô không buồn quý sư cô.

Hai hôm nay, ở quanh làng tuyết rơi trắng xóa, bao phủ khắp rừng đồi, khắp nơi đâu đâu cũng thấy tuyết. Nhìn thấy tuyết là thấy lòng mình nhẹ nhàng thanh thoát. Mong gởi được một ít năng lượng an lành nhẹ nhàng này đến với cô. Môi trường chung quanh rất quan trọng, có thể nuôi dưỡng mình rất nhiều, nhưng đôi khi không để ý mình lại đánh mất những điều đáng được nuôi dưỡng ấy. Mình để cho những khó khăn xâm chiếm mình. Thật ra, những khó khăn ấy đâu phải là tất cả con người mình bởi vì mỗi ngày mình tiếp xúc với các em học sinh có mấy tiếng đồng hồ thôi, còn lại là tiếp xúc với những đối tượng khác, với những thành phần khác. Hạnh phúc là một yếu tố quan trọng trong đời sống hằng ngày. Có hạnh phúc, mình sẽ dễ dàng thương yêu, tha thứ, sẽ dễ dàng đi qua khó khăn. Thế nên mình phải ý thức những điều kiện hạnh phúc mình đang có, thí dụ như mình còn đôi mắt sáng để ngắm nhìn, mình có một thân thể khỏe mạnh, không bị ung thư v.v… , để mình biết trân quý chúng hơn. Quý sư cô không biết môi trường chung quanh cô ở như thế nào, nhưng nếu nhìn sâu chắc chắn cô cũng sẽ tìm ra được nhiều điều kiện hạnh phúc mà mình đang có.

Chăm sóc các em cá biệt là một hành động rất đẹp, đáng cho mọi người kính ngưỡng, bởi vì qua đó mình giúp được xã hội rất nhiều. Nếu như những em này không được chăm sóc đàng hoàng thì các em sẽ trở thành những thành phần xấu, và nếu không khéo, các em sẽ gây nên những tệ nạn cho xã hội. Khi đó không những các em lãnh đủ mà mình và những người chung quanh cũng lãnh đủ. Vì thế mình cần nuôi dưỡng ý thức rằng khi mình giúp các em thì đồng thời mình cũng đang giúp đỡ mọi người và giúp đỡ cho xã hội. Tuy nhiên giúp cho những thành phần này không dễ chút nào, bởi vì các em không phải là những người dễ nghe lời. Lại có em đôi lúc tỏ ra bất cần nhưng chính những em này lại là những em cần nhiều tình thương nhất. Có thể các em không nhận được tình thương từ gia đình và những người khác, vì vậy chỉ có tình thương yêu mới giúp được cho các em. Mà tình thương đến từ đâu nếu không phải từ cô và từ các thầy cô giáo khác? Thế nên cô phải tạo ra một môi trường để các em thấy được trường học là gia đình thứ hai của các em, để nếu các em không hạnh phúc trong gia đình thì các em có thể tìm thấy hạnh phúc khi đến trường và coi đây là nhà của mình. Như thế chắc chắc các em sẽ tiến bộ nhiều hơn trong việc học tập. Cô H. có thể kết hợp với ban giám hiệu và nhiều giáo viên khác để tạo được một trường như thế. Khi tạo được môi trường này rồi thì công việc giáo dục sẽ không còn khó khăn nữa. Chăm những em này đòi hỏi mình phải có nhiều thời gian và kiên nhẫn cô H. ạ. Hơn nữa mình cũng cho các em thời gian để thay đổi, không phải hôm nay mình khuyên thì ngày mai mình bắt các em phải thay đổi liền được. Ngoài ra, những em cá biệt là những em dễ bị thầy cô la rầy nhiều nhất, dễ bị bạn bè xa lánh nhất. Như vậy thì làm sao các em có hạnh phúc được. Người mà không có hạnh phúc thì sẽ dẫn đến bất cần, không quan tâm đến những điều chung quanh mình và bên trong mình, không quan tâm đến cả những đức tính tốt của mình. Vì vậy, khi tiếp xúc với những em này, cô H. nên tìm cách khích lệ và khen ngợi nhiều hơn là la rầy. Khi các em được khích lệ và khen ngợi thì các em sẽ tiếp tục nuôi dưỡng những điều tốt đẹp đó. Và mỗi khi những điều tốt được nuôi dưỡng và làm lớn mạnh lên thì những điều xấu tự nó được thay đổi, chuyển hóa.

Cô H. nhớ chăm sóc bản thân cho hay bởi vì nếu cô H. không có hạnh phúc thì cô H. cũng khó thành công trong công việc này. Nếu các em đã như vậy rồi, mà khi tiếp xúc với các em cô H. còn cho ra một nguồn năng lượng giận dữ, bực bội, căng thẳng… thì làm sao các em hạnh phúc mà nghe lời được. Một mình mình thì khó có thể thực tập tốt được nên cô H. có thể tìm tới những tăng thân ở gần nơi cô H đang ở để sinh hoạt thêm. Quý sư cô không biết là cô H. đang ở đâu, nhưng nếu là ở Sài gòn thì có trung tâm Chùa Pháp Vân số 1 đường Lê thúc Hoạch, nếu ở Huế thì có chùa Tổ, gọi là tổ đình Từ Hiếu bên cạnh có ni viện Diệu Trạm cho các sư cô. Nếu ở Hà nội thì có Chùa Đình Quán gần cầu Diễn. Thực tập cũng là thức ăn hằng ngày của mình. Ngoài ra cô H. có thể đọc thêm sách Tiếp xúc với sự sống, Giận, Thiền tập cho người bận rộn…. và nghe thêm băng giảng của Sư Ông Nhất Hạnh để biết thêm cách thức thực tập.

Chúc cô H. có nhiều sức khỏe, có khả năng sống vui trong đời sống hằng ngà để đi qua giai đoạn khó khăn này một cách nhanh chóng và thành công trong công việc giúp đỡ các em học sinh cá biệt. Được như vậy thì nhà trường và xã hội (trong đó có quý thầy quý sư cô) sẽ mang ơn  cô H nhiều lắm.

Thân mến

Tâm bồ đề phải được nuôi dưỡng như thế nào?

Năm nay con 28 tuổi, hiện đang sống tại Cần Thơ, Việt Nam. Con có một vài câu hỏi về sự tu tập, kính mong quý thầy quý sư cô giúp con.

1.    Con đang thực tập ngồi thiền và theo dõi hơi thở  theo pháp môn Làng Mai, Lúc đầu con ngồi kiết già, nhưng càng về sau chân trái của con bị đau và có khi không thể ngồi được. Nhưng nếu ngồi bán già thì chân trái của con đỡ đau hơn. Ngồi kiết già thì con sẽ vững hơn là ngồi bán già, nhưng bây giờ chân đau rồi con không biết phải làm sao?

2.    Vì gia đình con có truyền thống tu cũng như có một số vị trong dòng họ đã đi tu nên con đã biết ăn chay từ lúc còn 15 tuổi. Khi còn là sinh viên con cũng thường đi chùa, đi hộ niệm. Nhưng từ khoảng tháng ba năm nay (2009), con có cơ duyên được đi tham những công việc phật sự. Từ đó tâm con trở nên khác thường, không còn ham thích gì về chuyện thế gian nữa. Con nghe băng giảng và thấy tâm rất thanh tịnh. Trong tâm con đã phát khởi ý niệm xuất gia, có lúc nó mãnh liệt đến nỗi con muốn đi ngay nhưng còn một số việc chưa chu toàn được cho cha mẹ con cũng như nghiệp duyên với bạn gái của con, mặc dù tâm con bây giờ đã hướng về Phật rồi. Chính điều này cũng đã gây ra một ít buồn lòng đối với bạn của con. Con phải làm sao đây? Kính mong quý thầy quý sư cô cho con lời khuyên để con có thể vững bước trên con đường tu học của  mình.

Sư cô Nghĩa Nghiêm chia sẻ:

Thương chào  bạn!

Cám ơn bạn đã tin tưởng chia sẻ những thắc mắc của bạn với ban biên tập. Càng ngày càng có nhiều bạn trẻ thực tập ngồi thiền, vì các bạn đã thấy được lợi ích của việc ngồi thiền với cuộc sống hằng ngày. Nhưng cũng có một số trường hợp vì chưa được hướng dẫn cụ thể, nên việc ngồi thiền chưa đem lại nhiều kết quả. Nghĩa Nghiêm xin chia sẻ với bạn một số kinh nghiệm bản thân về những thắc mắc của bạn.

Như bạn đã nói, ngồi thiền theo tư thế kiết già bị đau chân. Theo Nghĩa Nghiêm nghĩ, bạn có thể kiểm tra lại gối ngồi, xem có thẳng hay không, có tạo cảm giác thoải mái cho bạn hay không? Một gối ngồi thiền thích hợp rất quan trọng trong việc ngồi thiền (đối với những người cần có gối ngồi). Sau đó,bạn xem lại tư thế ngồi của bạn. Lưng đã thẳng chưa? Hai đầu gối có chạm đất không? Có ngồi ngay giữa bồ đoàn không? Và quan trọng là bạn phải biết buông thư cơ thể. Có rất nhiều lý do để ngồi thiền bị đau vì không đúng tư thế. Nhưng đôi khi, mình kiểm tra thấy đúng hết, nhưng vẫn bị đau, thì lúc này mình cần  thực tập để vượt qua cơn đau đó.

Trước khi Nghĩa Nghiêm vào tu viện, mỗi ngày Nghĩa Nghiêm tập ngồi một chút. Lúc đầu thì chỉ 2 phút, 5 phút, rồi 10, 20 phút. Nghĩa Nghiêm đã tập trong một thời gian dài. Sau đó, vào tu viện, với thời gian ngồi thiền dài hơn, có những lúc Nghĩa Nghiêm cảm thấy đau không thể chịu nổi, chỉ muốn thả chân ra ngay. Nhưng Nghĩa Nghiêm tự nói, cố lên, chỉ một chút xíu nữa thôi, rồi sau đó, lại chỉ một chút xíu nữa thôi… Cứ tập như vậy, cố gắng như vậy, cho nên bây giờ Nghĩa Nghiêm đã ngồi thiền khá hơn một chút. Dù thỉnh thoảng, Nghĩa Nghiêm cũng cảm thấy hơi đau. Nghĩa Nghiêm nghĩ bạn cũng có thể thực tập như vậy. Nếu quá đau, bạn có thể nhẹ nhàng tháo chân ra, xoa bóp cho máu lưu thông, và gởi tình thương cho cái chân bị đau. Rồi lại bắt chân lên ngồi tiếp. Hi vọng bạn sẽ ngồi thiền thật thoải mái.

Nghĩa Nghiêm rất thích điều thắc mắc thứ hai của bạn. Vì trước khi đi xuất gia, Nghĩa Nghiêm cũng đã từng trải qua những cảm xúc như vậy. Trong gia đình Nghĩa Nghiêm cũng đã có một số vị xuất gia, và ba mẹ Nghĩa Nghiêm cũng biết nhiều về đạo Phật. Cho nên trong Nghĩa Nghiêm cũng có những hạt giống xuất gia tiềm tàng. Lúc đó, nó chưa phát khởi mạnh lắm. Và Nghĩa Nghiêm thường nghĩ rằng, nếu mình đi xuất gia, ba mẹ sẽ như thế nào, ở với ai, ai sẽ chăm sóc ba mẹ lúc tuổi già v.v… Một lần, Nghĩa Nghiêm vào tu viện ở chơi một vài ngày, các sư cô có hỏi:” em có muốn đi tu không?”. Lúc đó, Nghĩa Nghiêm trả lời rằng, con không biết. Vì lúc đó, Nghĩa Nghiêm nghĩ tới ba mẹ, tới bạn. Nếu mình đi tu thì bạn mình sẽ như thế nào?… Lúc đó, Nghĩa Nghiêm phân vân lắm. Nhưng cuối cùng, ngày nọ, một sư cô lớn hỏi Nghĩa Nghiêm lần nữa. Và lần này, Nghĩa Nghiêm cảm thấy rằng, câu trả lời này sẽ là một quyết định lớn trong cuộc đời của mình. Lúc đó, tất cả những băn khoăn, phân vân đi lên rất nhanh và nhiều trong đầu. Cuối cùng, Nghĩa Nghiêm đã trả lời rất nhanh sau 2 giây suy nghĩ, và để cho trái tim tự lên tiếng “Thưa sư cô, con muốn”. Câu trả lời đó đã bắt đầu cuộc đời xuất gia của Nghĩa Nghiêm đó bạn à.

Bạn biết không, sau này, khi nghe Sư Ông giảng, Nghĩa Nghiêm mới biết là nếu muốn đi tu thì cái muốn đó phải trên 100%. Nghĩa là mình không còn phân vân, chọn lựa gì nữa. Lúc đó, tâm xuất gia của mình phải thật mạnh, thật lớn. Nghĩa là nếu mình không đi xuất gia thì sẽ không thể chịu nổi. Sư Ông dạy như vậy đó bạn à. Bạn có thể tự kiểm tra xem tâm xuất gia của bạn được bao nhiêu phần trăm? Và có một cách để biết được chính xác phần trăm của mình. Là bạn có thể lên một chùa, hay một tu viện nào đó, xin được thực tập trong chùa một thời gian, như một người xuất gia. Trong khi thực tập như vậy, bạn sẽ thấy rõ hơn tâm xuất gia của mình, để có thể quyết định dứt khoát và rõ ràng con đường của bạn.

Bạn biết không? Bây giờ, đã là một sư cô. Nghĩa Nghiêm không lo lắng nhiều về ba mẹ như trước đây. Trước đây, Nghĩa Nghiêm nghĩ rằng, nếu mình đi tu là ba mẹ mất một người con. Nhưng sự thực là, bây giờ, ba mẹ Nghĩa Nghiêm đang rất hạnh phúc với thật nhiều con trai và con gái (quý thầy, sư cô, sư chú trẻ). Và một điều rất lạ nữa, là khi đi xuất gia, trong gia đình Nghĩa Nghiêm có những điều được chuyển hóa một cách không ngờ, mặc dù Nghĩa Nghiêm chẳng làm gì hết.

Còn với bạn gái của bạn, Nghĩa Nghiêm nghĩ rằng, nếu mình đã thương nhau thực sự, một tình thương đích thực. Nghĩa là phải có hiểu, hiểu ước muốn của người kia, hiểu tâm tư của người kia, và thương luôn những lý tưởng của người kia. Vì trong tình thương đích thực (true love), thì hạnh phúc của người kia cũng là hạnh phúc của mình. Niềm vui của người kia cũng là niềm vui của mình. Ở Làng Mai, Bát Nhã, có rất nhiều quý thầy, sư cô đã từng có người thương trước khi đi xuất gia, và hiện giờ, quý thầy, sư cô đó vẫn giữ được mối liên lạc tốt đẹp với “người ấy” đó bạn.

Nghĩa Nghiêm tin là bạn sẽ giải quyết được ” một ít buồn lòng” của bạn thật dễ dàng, những mong mỏi với gia đình, với bạn gái…

Chúc bạn luôn vui với con đường mà bạn sẽ chọn.
Thân mến và tin cậy

Làm sao để có hạnh phúc thực sự trong hiện tại?

? Con là một người chuyên thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm theo huớng dẫn trang nhà Làng Mai. Hiện nay con có một tri giác làm con cảm thấy khó hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Con thấy rằng mỗi thứ mình tiếp xúc xung quanh đều có dính dáng đến những khổ đau của người khác trong quá khứ nên con không cảm thấy hạnh phúc  với những cái mình đang tiếp xúc.  Kính mong quý thầy cô giúp để con có thể  sống đời sống của mình một cách sâu sắc.

* TL:

Nhuận Sự thương quý!

Khi biết Nhuận Sự đang thực tập hơi thở và bước chân theo sự hướng dẫn của trang nhà Làng Mai, sư cô thấy vui và được nuôi dưỡng bởi sự thực tập ấy. Hiện nay mạng lưới có quá nhiều chương trình hấp dẫn và lôi cuốn nhiều người. Có người nhận ra được những chương trình nuôi dưỡng mình thì tìm đến với những lãnh vực tâm linh hay văn hóa nghệ thuật hoặc đạo đức học, nhưng cũng có những người chưa đủ khả năng nhận ra sự lợi hại của các chương trình nên đã bị những gì không nuôi dưỡng mình lôi cuốn theo và bị chìm ngập vào những thế giới ảo ảnh, khó có cơ hội thoát ra được. Nhuận Sự thật là người may mắn, sư cô xin tán dương tinh thần tự tìm hiểu và thực tập ấy.

Tri giác là lĩnh vực thuộc về tâm, chúng cũng rất vô thường, luôn thay đổi tùy theo hoàn cảnh và sự thực tập của chúng ta. Cùng một sự kiện xảy ra nhưng có người nhìn chúng  bằng  cặp mắt thoáng hơn và thấy vấn đề nhẹ nhàng, nhưng người khác thì nhìn bằng cách khác và thấy vấn đề đó nặng nề hơn. Nhuận Sự nói về sự vật  xung quanh đều dính dáng đến những khổ đau của người khác và không thấy hạnh phúc khi tiếp xúc với sự sống. Nhưng mình có phương pháp thực tập để không bị đánh mất hạnh phúc của mình trong hiện tại.

Trong đạo Bụt có nói đến bốn ân: Ân cha mẹ sinh thành và nuôi nấng mình; Ân thầy cô đã dạy dỗ, chỉ dẫn cho mình hướng đi lành mạnh; Ân bạn bè đã tác thành cho mình và cuối cùng là ân mọi loài chúng sanh, cây cỏ, cầm thú và đất đá. Thầy của sư cô cũng đã từng dạy các đệ tử rằng: “Chừng nào mình còn biết ơn thì chừng đó mình còn có hạnh phúc”. Nếu Nhuận Sự biết rõ là trong khi làm đường, những người công nhân làm việc nặng nhọc rất cực khổ, bụi bặm và nóng bức.v.v.. có những người qua đời trong khi làm việc như trong vụ cầu Cần Thơ chẳng hạn. Nhận thức được điều này nên mỗi lần cất bước đi, chúng ta nên đi cẩn trọng hơn, đi bằng đôi chân có ý thức và trái tim biết ơn những người đã làm nên con đường này. Trong khi đi, chúng ta gởi năng lượng thương yêu đến cho mọi người. Mỗi bước chân của chúng ta là một dấu ấn thương yêu và biết ơn in xuống mặt đường.

“…Hãy đặt những bước chân như hôn vào mặt đất

Như dấu ấn son của vị quốc vương

Truyền lệnh đem  chánh niệm về ngự nơi đây

Cho sự sống có mặt

Cho sức lực dâng đầy

Cho nhiệm mầu biểu hiện

Cho an lạc thân tâm…”

Nhuận Sự đã thực tập hơi thở và bước chân, đó là sự thực tập rất căn bản nhưng rất cần thiết cho chúng ta. Hơi thở và bước chân có ý thức giúp chúng ta nhận diện được những gì đang xảy ra chung quanh ta và trong lòng ta. Trước đây vì chưa biết cách thực tập nên mình chỉ đi trong mặc cảm tội lỗi, khổ đau và day dứt và đi như bị ma đuổi thì bây giờ, mình thực tập đi có chánh niệm hơn. Với hơi thở nhẹ nhàng, mình bước những bước chân rất vững chãi, rất cẩn trọng, có mặt 100%  trong  từng bước chân của mình trên những con đường mình đi qua. Năng lượng thương yêu và lòng biết ơn của mình qua sự thực tập chánh niệm sẽ chuyển hóa được năng lượng khổ đau của những người làm đường.

Khi một người có đau khổ thì chúng ta nên đem đến cho họ những lời trách móc, đỗ lỗi, đau khổ hay là đem những lời thương yêu, an ủi vỗ về, sự bình an đến cho họ? Nếu mình đem khổ đau đến thêm cho người đau khổ thì chẳng khác nào một người đang mang đồ nặng nề, mình không mang giúp người ta mà còn gởi thêm cho người kia những đồ vật khác nặng hơn khiến người đó vốn đã mang nặng lại càng bị nặng hơn thêm, đưa đến tình trạng ngã quỵ trên đường. Cũng vậy, nếu biết những người công nhân làm đường có quá nhiều khổ đau và đã để lại trên đoạn đường đó những khổ đau rồi mà mình lại còn đi trên con đường ấy với những bước chân khổ đau nữa thì rất tội cho đoạn đường đó cũng như tội cho những người đã vì chúng ta mà vất vả gian nguy trong khi làm đường. Khi chúng ta cho ra một nguồn năng lượng khổ đau, tiêu cực thì chẳng khác nào các nhà máy công nghiệp cho ra các chất khí thải độc hại, nó làm ô nhiễm môi sinh và đưa đến sự bệnh hoạn cho mọi người. Cách thực tập của chúng ta là trở về với hơi thở chánh niệm để thực tập chuyển hóa những nỗi khổ đau thành sự an lạc.

Chúng ta không chỉ đi cho chúng ta mà chúng ta còn đi cho mọi người trên thế giới, đi cho những ai chưa có khả năng đi trong bình an và niềm biết ơn. Chúng ta đi cho Tổ tiên chúng ta, đi cho cha mẹ chúng ta và đi luôn cho những người bị tàn tật. Bởi lẽ tất cả chúng ta đều có sự tương tức lẫn nhau. Khổ đau của người kia cũng chính là khổ đau của chính mình, hạnh phúc của chính mình cũng là niềm vui của người kia.

Chúng ta đang có một đôi chân khỏe mạnh vững vàng thì tại sao chúng ta không đi cho vững vàng an lạc. Để đến khi chùn chân mỏi gối rồi thì có muốn đi cho vững vàng cũng rất khó. Chúng ta phải thực tập đi bằng hai chân của chúng ta mà không nên đi bằng cái đầu suy nghĩ, tính toán, dự định hay khổ đau và trách móc. Thực tập chế tác hạnh phúc cho mình ngay trong hiện tại để sau này, khi nhớ về quá khứ mình không cảm thấy hối tiếc là mình đã sống thờ ơ, đã đánh mất hiện tại và sống thiếu ý thức và niềm biết ơn.

Điều này cũng liên quan tới vấn đề thực tập ăn uống. Nếu biết để có được bữa ăn cho chúng ta thì có biết bao nhiêu người vất vả, con trâu phải kéo cày, người làm ruộng phải chân lấm tay bùn, sâu bọ bị xịt thuốc.v.v.. Vậy không lẽ chúng ta không dám ăn? Chúng ta ăn nhưng ăn trong chánh niệm, ăn với sự biết ơn mọi người và mọi loài và ăn không phải vì tham miếng ngon vật lạ. Chúng ta biết chọn cho mình những thức ăn thức uống lành mạnh hơn, ít bị ảnh hưởng tới mạng sống và những khổ đau của loài khác, ít bị ảnh hưởng đến sự ô nhiễm của môi trường xung quanh.

Ăn vì muốn nuôi dưỡng tình thương, ăn để nguyện nuôi sống tổ tiên trong ta và nuôi dưỡng con cháu của chúng ta sau này. Nếu chúng ta thực tập ăn như vậy thì thức ăn mới trở thành chất dinh dưỡng để nuôi thân tâm. Còn biết rằng sự ăn uống của mình có ảnh hưởng đến khổ đau của người khác, chúng ta ăn với tâm niệm tội lỗi và mặc cảm, ăn trong đau khổ thì thức ăn ấy dù được nấu bằng những thứ bổ dưỡng nhưng nó cũng sẽ trở thành độc tố và làm ảnh hưởng tới sức khỏe của chúng ta. Vấn đề không phải là ăn hay không ăn, vấn đề là phải biết ăn như thế nào để nuôi dưỡng chính mình và người khác.

Nhuận Sự thương quý! Cái hay là mọi sự mọi vật đều vô thường và tri giác cũng vậy,  chỉ cần mình thay đổi cách nhìn (tri giác) và thực sự trở về nhìn sâu vào mọi sự mọi vật để thấy rõ sự tương quan giữa mình và tất cả sẽ giúp mình sống sâu sắc hơn. Tất cả mọi suy tư, cách hành sử của chúng ta có mang nội dung của chất liệu thương yêu và sự hiểu biết, lòng biết ơn và ý thức trách nhiệm sẽ mang lại rất nhiều niềm vui và lợi ích cho mọi người mọi loài, giúp chúng ta nuôi dưỡng hạnh phúc trong ta ngày càng lớn thêm trong từng giây từng phút. Chúc Nhuận Sự có nhiều cái thấy mới và niềm vui trong quá trình tìm hiểu và thực tập.