Vòng Tay Lớn của Kinh Pháp Hoa

Một đặc điểm khác đã đưa kinh Pháp Hoa lên ngôi vị cao nhất trong vườn kinh điển Đại Thừa là cái khả năng dung hợp, chấp nhận mọi bộ phái trong đạo Bụt của kinh.

Chúng ta nên biết rằng đạo Bụt có nhiều dòng. Trước hết là đạo Bụt Nguyên Thủy, là đạo Bụt được giảng dạy từ hồi Bụt còn tại thế. Tiếp đó là đạo Bụt Bộ phái, xuất hiện từ khi Giáo hội chia ra làm nhiều bộ phái khác nhau. Ban đầu thì giáo đoàn chia ra làm hai phái, một là Thượng Tọa Bộ, và một là Đại chúng Bộ. Phái Thượng Tọa gồm có những người lớn tuổi, còn phái Đại chúng gồm đa số còn lại, và có khuynh hướng phát triển, tiến bộ. Về sau lại bị chia ra làm nhiều bộ phái khác nữa. Sách sử ghi lại đến 18 bộ phái, và có lúc còn nhiều hơn, tới 25, 26 bộ phái. Như vậy thì Phật giáo Bộ phái đã khác với Phật giáo Nguyên Thủy. Phật giáo Nguyên Thủy có tính cách thống nhất, chỉ có một Kinh tạng và một Luật tạng. Trong khi đó, về phía Phật giáo Bộ phái, mỗi Bộ phái có Kinh tạng riêng, có Luật tạng và Luận tạng riêng của mình. Trong văn học Phật giáo, Luận tạng (Abhidharma-piỊaka) là phần thứ ba, được sáng tác thêm để hệ thống hóa và giảng giải thêm về những tư tưởng của đạo Bụt. Hai phần kia là Kinh tạng (Sũtra-piỊaka) tức là những lời của Bụt dạy, và Luật tạng (Vinaya-piỊaka) là những giới luật qui định nếp sống của tăng đoàn.

Bộ phái thứ nhất gọi là Theravada mà chúng ta thấy tại Tích lan hiện giờ, không phải là đạo Bụt Nguyên Thủy, mà là đạo Bụt Bộ phái. Bộ phái thứ hai là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir (Pakistan), tồn tại trong vòng một ngàn năm, và truyền sang Trung hoa, cũng không phải là đạo Bụt Nguyên Thủy, mà là đạo Bụt Bộ phái. Hai bộ phái đó, một là Theravada ở miền Nam, đã truyền thừa lại Tạng kinh Nam truyền, và Bộ phái SarvẠstivẠda, tức là Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ, được truyền lại ở Kashmir, miền Tây Bắc Pakistan, rồi đi sang Trung hoa, đều không phải là Phật giáo Nguyên Thủy. Dầu họ tự gọi là Phật giáo Nguyên Thủy, nhưng vì cách truyền thừa, cách giữ gìn, và cách giải thích giáo lý của họ rất khác với đạo Bụt Nguyên Thủy, cho nên họ không phải là truyền thừa đích thực của Phật giáo Nguyên Thủy. Rất nhiều kinh điển của bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở Kashmir đã được dịch ra chữ Hán.

Thượng Tọa Bộ tiếng Pali là Theravada, tiếng Phạn là SthaviravẠda, có nghĩa là những vị trưởng lão, những bậc tôn túc. Thật ra, tên của Bộ phái mà ta gọi là Theravada ở Tích lan, chính thật là Tãmrasã tiya, dịch là Đồng Diệp Bộ. Đồng là một thứ kim loại màu vàng đỏ. Đồng Diệp Bộ là một Bộ phái của các vị tu sĩ khoác y màu đồng đỏ, ngày nay ta gọi là Theravada. Trong mười tám bộ phái của thời đại Phật giáo Bộ phái, có những bộ phái bảo thủ, có những bộ phái tiến bộ. Từ những bộ phái tiến bộ, tư tưởng Đại Thừa bắt đầu phát hiện, và đến khi những tư tưởng đó chín muồi, thì kinh điển Đại Thừa bắt đầu xuất hiện. Kinh xuất hiện đầu tiên trong văn học Đại Thừa là kinh Bát Nhã.

Như vậy ta có thể nói rằng sự hình thành của đạo Bụt có ba giai đoạn:

– Giai đoạn thứ nhất là đạo Bụt Nguyên Thủy,

Giai đoạn thứ hai là đạo Bụt Bộ phái, và

Giai đoạn thứ ba là đạo Bụt Đại Thừa.

 Khi đạo Bụt Đại Thừa xuất hiện thì tất cả những bộ phái không phải là Đại Thừa đều được gọi chung là Tiểu Thừa. Thành ra chữ Tiểu Thừa đã được dùng trong cái nghĩa khinh thị, chiếc xe của anh không chở được bao nhiêu người, nhiều lắm là một mình anh, còn chúng tôi là loại xe lớn, có thể chở được hàng chục, hàng trăm người. Vì vậy mà hồi đó trong hai danh từ Đại Thừa và Tiểu Thừa đã có tính cách đôi co, tự hào. Đạo Bụt là một thực tại sinh động, tràn đầy sự sống. Khi có sự sống thì nó phải phát triển, nó không thể đứng nguyên trong tình trạng cũ. Ví dụ như một cái cây đang sống thì thế nào cũng phải mọc thêm cành, thêm lá, thêm hoa. Do đó, nếu muốn cho đạo Bụt còn là một thực tại sinh động thì phải để cho đạo Bụt phát triển, bằng không nó sẽ chết. Tuy nhiên có những người đã không muốn đạo Bụt phát triển, họ muốn giữ y nguyên như cũ, và không chịu thích ứng giáo lý, cũng như cách hành trì với khung cảnh mới, với thời đại mới, với xã hội mới. Trong trường hợp ấy đạo Bụt không còn được phổ biến sâu rộng trong quần chúng nữa, mà chỉ đóng khung trong phạm vi rất nhỏ của những người bảo thủ.

Xã hội thay đổi, văn hóa thay đổi, kinh tế thay đổi, nếu đạo Bụt không thay đổi để thích ứng với đời sống mới, để trả lời cho những vấn đề mới, thì đạo Bụt không thể nào đóng được vai trò lãnh đạo tâm linh. Trên căn bản đó, phái bảo thủ đã không làm tròn nhiệm vụ của mình, cho nên phái tiến bộ phải đứng ra để cải tổ, để thích ứng với thời đại mới.

Nhìn cho sâu, chúng ta thấy phái bảo thủ có khi cứng ngắc, không linh động, họ chỉ chuyên đi về hướng phân tích mà không chịu đi về hướng tổng hợp. Thật vậy, trong nền văn học A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma) cái khuynh hướng chia chẻ rất nhiều. Một sợi tóc không những chẻ làm tư mà còn chẻ làm ba mươi sáu. Trong văn chương đã vậy, mà trong sự hành trì, nhiều khi cũng vậy. Cứ phân tích, rồi tiếp tục phân tích, phân tích để có niềm vui trong sự phân tích mà thôi. Ví dụ khi chúng ta đi trong chánh niệm, khi bước chân trái, mình biết rằng mình bước một bước chân trái, khi bước chân phải, mình biết rằng mình bước một bước chân phải, và như vậy bước chân có thể rất tự nhiên, rất an lạc. Chúng ta hãy hình dung Bụt và các vị đại đức đi khất thực ở trong thành Vương Xá, các vị ôm bình bát, đi chậm rãi, trang nghiêm, và rất có chánh niệm. Họ đi thiền hành. Nhưng với người bảo thủ thì họ phân tích bước đi, và họ làm thành những động tác hơi khó nhìn. Ví dụ nhiều lúc quý vị thấy có những người đi kinh hành bằng cách nhón gót chân, và đi trên đầu ngón chân, trông không tự nhiên chút nào cả. Theo nguyên tắc, họ phân tích bước chân ra ba giai đoạn: Dỡ chân lên, đưa tới, và đặt xuống (lifting, moving, placing). Nó có tính cách máy móc như một con người máy. Nhưng đó là mới chia làm ba thôi, họ còn có khuynh hướng chia nhiều hơn nữa: Mới dỡ lên, dỡ lên nữa, dỡ lên cao rồi; đưa tới một chút, đưa tới hai chút, đưa tới đủ rồi; bắt đầu đặt xuống, đặt xuống gần đất, đặt xuống sát đất rồi v.v…, và cứ tiếp tục chia ra như vậy. Điều đó đúng là thực tập chánh niệm, nhưng cái chánh niệm này rất khô, rất là máy móc và không dẫn đến sự an lạc, hạnh phúc, thảnh thơi gì trong lúc thực tập. Nó bị kẹt vào hình thức. Khi ăn cơm trong chánh niệm, gắp một miếng đậu hủ đưa lên, mình chỉ cần quán chiếu: Tôi đang gắp một miếng đậu hủ, và tôi biết đây là miếng đậu hủ; tôi đang nhai đậu hủ và tôi biết rằng tôi đang nhai đậu hủ. Rất tự nhiên, rất an lạc. Ngược lại, nếu thực tập chia chẻ: gắp, gắp, gắp lên; bỏ, bỏ, bỏ vào miệng; nhai, nhai, nhai… thì làm sao mà ăn cho an lạc được? Trong phép thực tập này, người ta nghĩ phải chẻ động tác ra từng giai đoạn, càng chẻ ra nhiều chừng nào thì sự thực tập càng sâu sắc chừng đó! Với thực tập đó, mình thấy có một sự khó nhìn, đời sống mất hết sự hồn nhiên, chỉ còn có hình thức. Không phải đi thiền hành chậm thì hay hơn đi thiền hành nhanh, hoặc ngược lại. Vấn đề là trong khi thực tập chánh niệm, mình có được sự an lạc và chánh niệm hay không. Đi, mình có biết mình đang đi hay không? Đứng, mình có biết mình đang đứng hay không? Ăn, mình có biết mình đang ăn hay không, và có sự sống trong đó không, hay mình biến mình ra một con người máy? Sự thực tập chia chẻ đó đúng là thực tập chánh niệm, nhưng liệu cái chánh niệm đó nó có đưa tới sự sống an lạc và chuyển hóa cho hành giả hay không? Thêm vào đó, cách đọc, cách hiểu và cách hành trì của những người ấy cũng cứng ngắc như thế. Cái thái độ cố chấp ấy làm người khác không thể chịu đựng được. Vì vậy mà khi các kinh điển Đại Thừa xuất hiện, người ta đã phải dùng những quả trọng pháo rất lớn mới có thể phá vỡ được thành trì của phái bảo thủ. Trong kinh điển Đại Thừa, nhất là trong các kinh điển xuất hiện lúc ban đầu, chúng ta thấy có những câu tuyên bố rất mạnh, có thể nói là gần như cực đoan. Ví dụ:

* Khi một ông Vua không ngủ với Hoàng hậu, mà lại ngủ với một người đàn bà khác, thì đứa con sanh ra không thể nào làm Thái tử Đông cung được.

* Những người Tiểu Thừa không có bồ đề tâm, không có chí nguyện lớn, họ không phải là con đích của Bụt, họ chỉ là con ghẻ thôi.

* Những người Tiểu Thừa là những người chỉ chăm lo cho sự tư lợi của mình, mà không quan tâm tới cái tư lợi của người khác.

* Những người Tiểu Thừa là những người chỉ muốn chấm dứt đau khổ mà không có khả năng tạo tác an lạc cho mình và cho mọi người.

* Những người Tiểu Thừa chỉ làm thối nát những hạt giống tốt của đạo Bụt mà thôi v.v…

 Danh từ dùng trong đạo Bụt là Tiêu nha bại chủng. Nha là cái mầm, như trong danh từ mạch nha, chủng tức là hạt giống. Tiểu Thừa là những người tiếp nhận hạt giống từ bi, trí tuệ, giải thoát, an lạc từ đạo Bụt, mà không gieo trồng và phát triển để những hạt giống này trở thành những gì tốt đẹp cho nhân loại, thì họ chỉ làm cho hư thối những hạt giống của Phật Pháp mà thôi. Đó là những câu nói rất nặng, chĩa mũi dùi về phe bảo thủ. Thoạt nghe, chúng ta nghĩ rằng những câu nói đó hơi quá đáng, thiếu từ bi, và không có ái ngữ. Nhưng nếu chúng ta nghiên cứu cho kỹ và khi thấy được cái thái độ bảo thủ, cứng ngắc của phái Tiểu Thừa, thì chúng ta có thể hiểu được tại sao. Trong lịch sử văn học của kinh điển Đại Thừa, kinh Bát Nhã xuất hiện trước nhất, rồi mới tới kinh Bảo Tích, kinh Hoa Nghiêm. Sau đó mới có những kinh khác như kinh Duy Ma Cật.

 Tôi không mê kinh Duy Ma Cật lắm, tại vì kinh Duy Ma có những đoạn đi quá đà. Kinh Duy Ma Cật đưa hình bóng của một vị tại gia, tên là Duy Ma Cật (Vimalakĩrti), để so sánh với các vị thượng thủ trong giới xuất gia của Bụt, như tôn giả Trưởng lão Xá Lợi Phất (ệẠriputra). Trong sự so sánh này, ta thấy thầy Xá Lợi Phất là một chú bé con, rất dại khờ, ngây ngô, còn cư sĩ Duy Ma Cật lại là một người rất thông minh, một đại cư sĩ. Thành ra, kinh Duy Ma Cật đã đem đại đức Xá Lợi Phất ra làm trò cười cho thiên hạ. Đại đức Xá Lợi Phất là người anh cả của giáo đoàn khất sĩ, là người được xem là thông minh nhất trong hàng cao đệ của Bụt. Ấy vậy mà trong kinh Duy Ma, đại đức Xá Lợi Phất đã được đưa ra như là hình ảnh của sự nhỏ bé, của sự thiếu thông minh. Khi thấy người đại diện giáo đoàn của Bụt bị nhục mạ, thì mọi người trong giáo đoàn đều cảm thấy bị thương tích, bị xúc phạm. Tuy nhiên kinh Duy Ma Cật có nhiều tư tưởng rất uyên áo, thâm sâu, như tư tưởng Bất nhị. Ngoài ra giáo lý kinh Duy Ma Cật còn được trình bày rất khéo léo, rất hay ho, rất đẹp đẽ.

Hồi đó, ở Ấn độ có một phong trào văn hóa mới nổi lên, và có những kịch bản nổi tiếng như là Mahabharata. Những người chép kinh thời đó cũng bị ảnh hưởng của phong trào văn hóa mới này, cho nên các kinh điển Đại Thừa được trình bày theo phương thức của những kịch bản, mỗi chương là một màn kịch. Kinh Duy Ma Cật đã được trình bày theo phương thức đó, và kinh Pháp Hoa sau này cũng được trình bày theo cùng một kỹ thuật. Kinh Duy Ma Cật và những kinh Đại Thừa xuất hiện trước đó, đã dùng những quả trọng pháo rất lớn để bắn vào hàng ngũ của những người Thanh văn. Ngược lại, kinh Pháp Hoa là kinh Đại Thừa đầu tiên sử dụng ngôn từ hòa ái, chấp nhận mọi bộ phái và mọi khuynh hướng ở trong đạo Bụt.

 

Vì vậy cho nên khi kinh Pháp Hoa ra đời như là có một làn gió mát, một cơn mưa rào, làm dịu lại cái không khí ngột ngạt, đôi co đang xảy ra giữa hai phái bảo thủ và tiến bộ.

Luận bàn về năm giáo

Giáo thứ nhất

Sư tử tuy là một pháp do nhân duyên sinh khởi, và đi qua sinh diệt trong từng phút giây, nhưng thật ra không có

 

tướng sư tử có thể nắm bắt. Cái này là cái thấy của các vị thanh văn chưa hiểu được mặt thật của các pháp.

Trong nguyên văn, chúng ta thấy có chữ ngu pháp thanh văn, nhưng ở đây chúng ta dịch rất khéo. Chữ ngu dịch là chưa hiểu được, rất là lễ phép. Ngu pháp là chưa hiểu được mặt thật của các pháp. Nói là có cũng không đúng mà nói là không cũng không đúng luôn. Sáu tông đầu đều chủ trương là các pháp do duyên sinh khởi và đi qua sinh diệt trong từng phút giây. Vì vậy cho nên không có tướng sư tử có thể nắm bắt.

Giáo thứ hai

Các pháp do duyên sinh mà có ấy đều không có tự tính, triệt để là không, đó là thỉ giáo đại thừa (giáo lý đại thừa lúc ban đầu).

Tất cả các thanh văn giáo đều chủ trương vô thường, luôn luôn biến chuyển. Đến Đại thừa thỉ giáo thì nói, vì các pháp là duyên sinh và vô thường nên nó không có tự tính. Chúng nó triệt để là không nên gọi là Đại thừa thỉ giáo.

Giáo thứ ba

Tuy các pháp triệt để là không, nhưng điều đó không làm trở ngại cho sự có mặt của các pháp như huyễn. Hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song hành với nhau. Cái đó là chung giáo đại thừa (giáo lý đại thừa lúc chung kết).

Hai chữ duyên sinh và giả hữu có thể đi đôi với nhau. Duyên sinh thì không có thật, nó giả hữu. Chúng ta không nắm bắt được nên gọi là giả hữu. Các pháp như sắc, thọ, tưởng, hành và thức là vô thường, là sát na sinh diệt, là nắm bắt không được, cho nên ta nói nó là không. Kỳ thực nó không phải là không đối với có. Tuy là không nắm bắt được nhưng ta thấy được, cảm nhận được nó.

Cũng như khi chiếu phim lên màn ảnh, chúng ta thấy có người, có vật. Ta có cười, có khóc, có buồn vui, lo sợ khi coi phim, nhưng ta đưa tay ra nắm những cái đó không được. Làm sao nắm được những hình ảnh trên màn ảnh? Chúng ta không nắm được nhưng nó có đó nên gọi là huyễn hữu hay giả hữu. Duyên sinh không đi đôi với thật hữu nhưng đi đôi với giả hữu. Nói nó không có là không đúng, không nắm bắt được gọi là không là không đúng.

Ví dụ như khi ta yêu ai thì ta muốn nắm bắt người đó. Khi quí vị yêu ai thì tự nhiên trong lòng quí vị có khuynh hướng muốn nắm bắt người đó. Nhưng ai có yêu rồi thì biết, mình nắm bắt đối tượng đó không được. Chính mình, mình còn không nắm bắt mình được nữa thì làm sao mình nắm bắt được người kia. Nó như là một bóng ma vậy, có đó mà nắm bắt không được gọi là bất khả đắc (you cannot grasp the object of your love). Chủ thể nắm bắt, ta nắm bắt không được mà đối tượng nắm bắt, ta cũng nắm bắt không được. Giống như một bóng ma, một cuốn phim chiếu lên màn ảnh, thấy rõ ràng người đó cười, người đó khóc, người đó chạy, người đó lo, người đó đánh nhau, người đó mắng nhưng chúng ta đưa tay ra nắm không được. Đối tượng của sự yêu hay sự ghét của ta cũng vậy, ta không nắm bắt được gọi là bất khả đắc. Ta nói nó không có cũng không đúng. Nó có, nó làm cho ta lên xuống, sợ hãi, lo lắng. Vì vậy ta phải nhận thức rằng những cái đó là duyên sinh và giả hữu thì tự nhiên ta không còn đau khổ, không còn nắm bắt nữa.

Tuy các pháp triệt để là không nhưng nó không làm trở ngại cho các pháp như huyễn là như vậy. Cuốn phim vẫn còn đang chiếu và người ta vẫn còn khóc cười theo cuốn phim. Sự thật là như vậy mà trong đó ta thấy rõ là giả, là huyễn hữu. Vì vậy hai tướng duyên sinh và giả hữu vẫn có thể có mặt song song với nhau.

Duyên sinh rất khoa học, sát na sinh diệt rất khoa học. Tất cả vạn pháp đều là do điều kiện mà có (duyên sinh) và đều sinh diệt trong từng sát na. Điều đó cả đạo Bụt và khoa học đều công nhận. Ai có cơ hội, có khả năng nhìn sâu vào bản chất của vạn pháp đều thấy duyên sinh và sát na sinh diệt. Vì duyên sinh và sát na sinh diệt nên mình có khuynh hướng cho nó là không có. Ta cũng có thể nói nó có nhưng có một cách giả (giả hữu) và nó vượt ra khỏi ý niệm không. Sử dụng ý niệm về giả hữu để đưa người ta thoát khỏi ý niệm không. Không không phải là một ý niệm nhưng đã là ý niệm rồi thì thế nào cũng phải thoát ra. Dù nói rằng không không phải là không đối với có, dù nói rằng không đó là chân không nhưng người ta vẫn bị kẹt vào như thường. Cho nên phải có phương tiện đưa ra để giúp họ thoát khỏi cái không và nói cho họ biết nó là bất không, chân đức bất không. Đó là chung giáo Đại thừa tức giáo lý Đại thừa lúc chung kết.

Ban đầu thì nói không, nhưng sau khi chín rồi thì nói bất không. Tuy nói ngược nhau như vậy nhưng kỳ thực nó đi đôi với nhau rất là hay. Khi thông cảm được, đạt được rồi thì nói có cũng đúng mà nói nó không cũng đúng.

Giáo thứ tư

Hai tướng duyên sinh và giả hữu ấy tương đoạt và tương vong (trừ khử nhau và tiêu diệt nhau) làm cho cả tình thức và ngụy tướng không cái nào còn lại. Cả hai đều mất hết năng lực, cả không và hữu đều tiêu vong, con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt, tâm không còn nơi nương tựa và nắm bắt. Đó là đốn giáo đại thừa (giáo lý đại thừa đốn ngộ).

Chúng ta có nói đến tưởng và tướng không có mặt độc lập với nhau. Tưởng và tướng đồng thời phát hiện một lần. Trong tưởng có tướng và trong tướng có tưởng. Khi vượt thoát sự phân biệt đó rồi thì tình thức tức là vọng tưởng của ta và đối tượng của vọng tưởng tức là ngụy tướng, cả hai đều không còn. Tình thức là vọng tưởng, ngụy tướng là đối tượng của vọng tưởng. Hữu vô nhị vong tức là cả hai đều mất hết năng lực, cả không và hữu đều tiêu vong. Ban đầu nói không, sau nói có, nhưng tới đây thì không cũng tiêu mà có cũng tiêu. Con đường danh từ và ngôn thuyết bị cắt đứt, tâm không còn nơi nương tựa và nắm bắt. Không nơi nương tựa là vô trú, không nắm bắt được là vô đắc. Đó là đốn giáo Đại thừa tức là giáo lý Đại thừa đốn ngộ.

Theo bản văn này chúng ta thấy tinh thần của Thiền là: Ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Ngôn ngữ đạo đoạn là con đường của ngôn ngữ bị cắt đứt, nói không được nữa. Tâm hành xứ diệt là sự suy nghĩ, sự cố gắng lý luận của mình đều bị tắt nghẽn, không còn. Chúng ta hãy tưởng tượng một chiếc xe lửa chạy trên đường sắt. Tới lúc đó thì xe lửa bị chận lại không đi được nữa. Con đường sắt là con đường của ngôn ngữ và tư duy. Con đường của ngôn ngữ bị cắt đứt mà con đường tư duy cũng bị cắt đứt (ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt), có nghĩa là bất khả ngôn thuyết, bất khả tư nghì. Nói có không được mà nói không cũng không được.

Có một lần, tôi đi biểu tình ở Philadelphie để chống chiến tranh Việt Nam. Một anh nhà báo tới hỏi tôi: “Thầy, thầy là miền Bắc hay miền Nam?” Ông ký giả hỏi tôi từ miền Bắc hay từ miền Nam tới. Trong đầu ông có hai cái hộp, hộp Nam và hộp Bắc, hộp Bắc là cộng sản, hộp Nam là chống cộng. Ngôn ngữ đạo đoạn, tôi mở miệng không được, sẽ có hiểu lầm liền lập tức. Sau đó tôi nói: “Tôi là miền Trung”. Đó là Thiền! Nói là Trung, không Nam, không Bắc thì ít nhất là tránh cho ông ta khỏi lọt vào một trong hai ý niệm. Ông lọt vào một trong hai ý niệm đó là ông không có chân lý. Im lặng là giúp cho người đó nhiều hơn, hoặc nếu nói thì nói cái gì đó để người ta đừng lọt vào trong hai ý niệm đó. Ông ta chỉ nghĩ, sự thật chỉ có hai cái: một là cộng sản, hai là chống cộng sản. Trong cách suy nghĩ hay tư duy của chúng ta có những cái hộp, rồi ta đem sự thật bỏ vào trong những hộp đó. Có tám hộp chánh là sinh, diệt, thường, đoạn, có, không, tới và đi. Chúng ta hay lọt vào trong những hộp đó.

Cho nên giáo thứ tư chủ trương, muốn tới sự thật thì không thể nào đi bằng con đường ngôn ngữ hay tư duy được. Con đường ngôn ngữ bị cắt đứt và con đường tư duy cũng bị cắt đứt nên Thiền gọi là ngôn ngữ đạo đoạn, tâm hành xứ diệt. Chỉ có trực giác do Niệm-Định-Tuệ đưa tới mới nắm được chân lý mà thôi. Nó là đốn giáo của Đại thừa, nó là Thiền, nó là giáo lý bất nhị.

Bây giờ thầy Pháp Tạng nói tới tông phái của thầy. Giáo thứ năm tương đương với tông thứ mười là viên minh cụ đức.

Giáo thứ năm

Khi tình thức đã không còn và thể tính đã hiển lộ thì tất cả trở thành một khối hỗn độn bất phân. Đại dụng được trưng bày (với tất cả mọi chi tiết mầu nhiệm của nó) và nơi nào đại dụng được trưng bày như thế thì cái toàn chân cũng được hiển lộ. Muôn vàn hiện tượng được trình bày một cách giàu có, các hiện tượng tham dự vào nhau mà vẫn không đánh mất cá tính của chúng. Cái tất cả cũng là cái một (cái tất cả nằm trong cái một), cả hai đều vô tính. Cái một cũng là cái tất cả (cái một nằm trong cái tất cả), nhân quả hiển nhiên (rõ ràng). Lực và dụng của cái này và cái kia thu nhiếp nhau, và sự co duỗi của chúng xảy ra một cách tự tại. Cái đó gọi là viên giáo của nhất thừa (giáo lý tròn đầy của Phật thừa).

Tình thức là nhận thức đầy vọng tưởng của chúng ta. Có cái tham, cái sợ, cái lo, tất cả thứ đó làm cho trí của ta bị lu mờ, nhận thức của ta đầy vọng tưởng. Thầy Pháp Tạng dùng danh từ tình thức.

Khi tình thức không còn thì cố nhiên ngụy tướng cũng không còn, tình thức còn thì ngụy tướng còn. Những cái ta thấy qua tình thức là tri giác sai lầm, gọi là ngụy tướng mà không phải chân tướng.

Chữ hỗn độn ở đây không có nghĩa là lộn xộn. Hỗn độn có nghĩa là undifferentiated, không phân tích được, không chia chẻ được nữa. Khoa học hiện đại, phần lớn còn bị kẹt vào cái thấy lưỡng nguyên, tức là có chủ thể và đối tượng. Chủ thể có mặt ngoài đối tượng và đối tượng có mặt ngoài chủ thể. Có sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng, có sự phân biệt giữa nature and consciousness. Những nhà khoa học đi sâu vô hơn thì thấy, giữa chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức có liên hệ cho đến nỗi không thể tách rời hai cái ra được. Đó gọi là hỗn độn bất phân, tiếng Anh dịch là undifferentiated.

Trong Duy Thức học có danh từ nhị thủ (double grasping), nghĩa là hai cái kẹt hoặc cái kẹt đôi (nhị là đôi). Khoa học hiện đại nhất là khoa học lượng tử (quantum physics) đang vùng vẫy để thoát ra khỏi cái gọi là nhị thủ, tức là bị kẹt vào ý niệm: chủ thể và đối tượng là hai cái tách rời ra nhau.

Trong tương lai, chúng ta có thể nói nhà khoa học nào vượt được nhị thủ (double grasping) thì người đó có thể nắm được sự thật.

Trong bản văn này nói: Khi nhận thức sai lầm của mình không còn nữa thì thực tại hiển lộ ra với tính cách hỗn độn bất phân, không thể phân biệt ra được giữa chủ thể và đối tượng: Khi tình thức không còn và thể tính đã hiển lộ thì tất cả trở thành một khối hỗn độn bất phân. Đại dụng được trưng bày với tất cả mọi chi tiết của nó và nơi nào đại dụng được trưng bày như thế thì cái toàn chân cũng được hiển lộ.

Trong triết học Đông phương, chúng ta có ý niệm về thể, về tướng và về dụng. Thể là bản thân của thực tại. Như cây viết này có cái thể của nó, tức là cái thực chất của cây viết. Thứ hai là tướng, tức là hình thức hay tướng trạng của nó như nó có màu trắng hay màu đen, nó dài hay nó tròn. Cây viết có cái thể, cái thể đó biểu hiện ra tướng. Thứ ba là dụng, tức là công dụng (function) của nó, cây viết có thể viết được. Ví dụ như là bàn tay này có thể,tướng và có dụng.

Khi tình thức không còn nữa tức là những nhận thức sai lầm, những vọng tưởng không còn nữa, thì cái thể hiện ra như một khối bất phân, không còn sự phân biệt giữa chủ thể và đối tượng. Cái này với cái kia là một. Cái này không có mặt ra ngoài cái kia. Chúng ta thấy được chân tướng của nó, chân tướng của nó là tương tức: Cái một chứa đựng cái tất cả, trong cái này có tất cả cái khác. Và khi nói đến dụng thì hết sức mầu nhiệm, thấy được thể và tướng như vậy thì đại dụng được hiển bày. Rất là mầu nhiệm. Muốn có chân như thì có, muốn có Niết Bàn thì có, muốn có sinh tử cũng có, muốn có Tịnh Độ cũng có, có liền lập tức, bây giờ và ở đây. Đó là đại dụng được hiển bày. Chúng ta có tự do!

Khi vọng tình không còn nữa thì ta có trí tuệ. Với trí tuệ đó, ta tiếp xúc được với cái thể của thực tại, tức là sự thật của thực tại, ta tiếp xúc được với cái tướng của thực tại (không còn bị đánh lừa nữa) và ta có thể sử dụng nó một cách rất là mầu nhiệm. Đó gọi là đại dụng. Ta muốn là ánh sáng thì ta trở thành ánh sáng, ta muốn là dòng sông thì ta thành dòng sông, ta muốn là Bụt thì ta thành Bụt, ta muốn vào địa ngục độ đời thì ta vào địa ngục độ đời. Đó là đại dụng hiện tiền. Ta muốn làm gì cũng được hết, ta có tự do hoàn toàn. Tự do đó chỉ có thể có khi ta thấy được thể và tướng của thực tại. Thể của nó là bất phân, tướng của nó là tương tức, dụng của nó là tự do hoàn toàn. Đó là tự do lớn của các vị Bụt và các vị Bồ Tát: Muôn vàn hiện tượng được trình bày một cách giàu có. Các hiện tượng tham dự vào nhau mà vẫn không đánh mất cá tính của chúng. Cái tất cả cũng là cái một (cái tất cả nằm trong cái một), cả hai đều là vô tính (vô tính là không có sự có mặt riêng rẽ). Cáí một cũng là cái tất cả (cái một nằm trong cái tất cả), nhân quả hiển nhiên (rõ ràng). Lực và dụng của cái này và cái kia thu nhiếp nhau, và sự co duỗi (contraction and expansion) của chúng xảy ra một cách tự tại. Cái đó gọi là viên giáo của nhất thừa (giáo lý tròn đầy của Phật thừa). Trong đoạn này những chữ nằm trong vòng đơn là để giải thích thôi.

Trong khoa học có nói tới sự co duỗi của vũ trụ. Có một lý thuyết gọi là Big Bang cho rằng, vũ trụ phình ra và co duỗi. Sự phình ra, co duỗi, phình ra, co duỗi v.v.. xảy ra, nhưng tất cả sự co duỗi, phình ra nằm trong một cái thể.

Một thiền sư Việt nam đời Lý đã nói: Đại dụng hiện tiền, quyền tại thủ. Đó là thiền sư Khánh Hỷ. Thiền sư Khánh Hỷ là một thiền sư Việt Nam sinh năm 1064 và tịch năm 1142. Thiền sư được vua Lý Thánh Tông tôn vinh lên chức tăng thống. Năm sáu mươi hai tuổi thầy được mời về kinh đô để cho vua được học hỏi, năm bảy mươi sáu tuổi thì thầy tịch.

Câu này có ý nghĩa là: Đại dụng kia, trước mặt mình, nó cũng giống như nắm tay nằm nơi bàn tay. Nắm tay có xoè ra hay nắm lại thì nắm tay cũng nằm trong bàn tay. Thủ là tay, quyền là nắm tay. Nắm tay xoè ra hay nắm vô đều là bàn tay hết. Bàn tay đó là thể. Co lại hay duỗi ra (contraction and expansion) đều do bàn tay, nó không ra khỏi bàn tay. Expansion cũng nó, contraction cũng nó. Vũ trụ là thể. Sự co hay dãn của vũ trụ đều nằm trong thực tánh của vũ trụ, đó gọi là đại dụng. Chúng ta có những vị tổ sư giỏi như vậy, lấy hình ảnh của một bàn tay để nói tới sự co và dãn của tất cả các pháp. Đó là đại dụng.

Ý niệm căn bản trong giáo lý Hoa Nghiêm là, khi nhận thức sai lạc hay vọng tưởng của ta không còn nữa, sự phân biệt chủ thể và đối tượng, cái nhị thủ (double grasping) không còn nữa thì lúc đó thực tại hiển bày ra. Khi thực tại hiển bày ra thì ta nhận thức được tướng trạng mầu nhiệm của nó. Tướng trạng đó là nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất. Cái một ôm lấy cái tất cả, cái tất cả nằm trong cái một. Đó là tương tức.

Thấy được như vậy chúng ta có tự do rất lớn. Vũ trụ có co hay dãn, cái này còn hay mất, có hay không thì ta cũng vượt thoát ra hết và ta có tự do lớn. Tự do lớn đó khiến cho ta có hạnh phúc vì ta không còn sợ hãi, không còn nắm bắt, không còn chạy trốn nữa. Khi bàn tay xòe ra thì nó là bàn tay, khi nắm lại thì nó cũng là bàn tay, không có gì thêm, không có gì bớt, không có gì còn, không có gì mất. Ta không có sợ hãi nữa khi ta thấy được như vậy. Vũ trụ co lại ta cũng không buồn, không sợ mà vũ trụ dãn ra ta cũng không buồn, không sợ tại vì ta đã thấy được đại dụng rất là mầu nhiệm.

Trong đoạn thứ năm này, thầy Pháp Tạng tóm tắt lại giáo lý Hoa Nghiêm. Đoạn này chúng ta chỉ có thể hiểu được khi đã đi ngang qua giáo lý về Thập huyền. Theo nguyên tắc thì đoạn về Năm giáo chúng ta phải hiểu sau khi đã học tất cả các đoạn khác.

Hôm nay chúng ta có thể kết luận về đoạn Ngũ giáoThập tông. Hoa Nghiêm tông chia giáo lý của đạo Bụt ra làm mười tông, sáu tông trước thuộc về Thanh văn thừa, bốn tông sau thuộc về Bồ Tát thừa hay Đại thừa. Năm giáo là sự tóm tắt của Mười tông. Chư tổ, các thầy đã cho ta một cái nhìn sơ lược để có thể nắm được hệ thống giáo lý đạo Bụt.

Tại Làng Mai, chúng ta đã học Dị Bộ Tông Luân Luận, nói về hai mươi mấy tông phái của Đạo Bụt Tiểu thừa. Mùa đông năm nay, chúng ta chỉ đi qua sơ lược. Nếu quí vị muốn học lại, muốn có căn bản, thì phải học trở lại lớp đó.

Khi đi ngang qua lãnh vực của Đại thừa thì chúng ta có bốn tông, đây là cái nhìn của Hoa Nghiêm Tông. Theo Hoa Nghiêm Tông, giáo lý Nhất thừa viên giáo là sự phát triển cao nhất của triết học Phật giáo. Chúng ta đã học qua Sáu tướng Mười huyền thì ta biết đó là tinh ba của Hoa Nghiêm Tông.

 

Thông cáo ngày 02 tháng 11 năm 2018

Trung tâm Thiền tập Làng Mai Quốc tế
Le Pey, Thénac 24240, Pháp

 

THÔNG CÁO

Thứ Sáu, ngày 2 tháng 11 năm 2018

 

Tăng thân Làng Mai quốc tế hiện đang sát cánh bên người Thầy thương kính – Thiền sư Thích Nhất Hạnh, một nhà lãnh đạo tinh thần của thế giới, nhà hoạt động vì hòa bình và cũng là một nhà thơ, trong chuyến trở về quê hương lần này của Thầy. Sau buổi kỷ niệm Ngày Tiếp nối lần thứ 92 vào tháng trước, Thầy đã bày tỏ ước nguyện sâu sắc mong được trở lại ngôi chùa gốc rễ tâm linh của mình là Tổ đình Từ Hiếu ở Việt Nam để sống những ngày còn lại trong đời. Thầy vẫn đang tiếp tục sống từng phút giây trong thảnh thơi và an lạc, với sự có mặt đích thực và đầy ý nghĩa, biến những khó khăn thử thách về sức khỏe sau cơn đột quỵ bốn năm trước thành một bài pháp không lời.

Chùa Từ Hiếu là nơi Thầy xuất gia vào năm 1942, lúc mười sáu tuổi. Sau gần sáu mươi năm giảng dạy và truyền trao giáo lý ở nhiều nước trên thế giới, sự trở về ngôi chùa tâm linh gốc rễ của Thầy mang lại niềm bình an và hạnh phúc lớn cho các học trò, cho chùa Từ Hiếu và cho các thế hệ tiếp nối. Lần trở về này của Thầy có ý nghĩa vô cùng quý báu, nó giúp cho những người học trò trong tăng thân quốc tế rộng lớn của Thầy có thể duy trì sự kết nối sâu sắc, không gián đoạn với gốc rễ tâm linh của mình ở Việt Nam. Khởi xướng phong trào Đạo Bụt dấn thân, Thầy đã cống hiến cả cuộc đời mình để làm mới đạo Bụt với mong muốn giúp cho từng cá nhân cũng như toàn xã hội giải quyết những khó khăn, thử thách trong thời đại chúng ta. Những giáo lý mà Thầy trao truyền luôn bắt nguồn từ gốc rễ tâm linh mang tinh thần nhập thế của các vị Tổ Sư đã làm rạng rỡ cho đạo Bụt Việt Nam từ thời Lý, Trần.

Mặc dù chưa phục hồi khả năng nói kể từ khi bị đột quỵ, Thầy vẫn luôn hiện diện tỉnh táo và mạnh mẽ. Sau khi triệu tập các đệ tử lớn của mình và tổ chức buổi họp vào ngày 24 tháng 10 tại Làng Mai Thái Lan, nơi Thầy cư trú từ tháng 12 năm 2016, Thầy truyền đạt rõ ràng mong muốn được trở về Việt Nam bằng cử chỉ gật đầu hay lắc đầu khi trả lời các câu hỏi. Những chuẩn bị cần thiết cho chuyến đi đã được tiến hành ngay sau đó, và Thầy đã có mặt tại sân bay Đà Nẵng vào chiều ngày 26 tháng 10 trong sự chào đón của quý Hoà thượng, chư vị Tôn túc Tăng Ni và quý thân hữu Phật tử cư sĩ.

Sau hai ngày nghỉ ngơi tại Đà Nẵng để hồi phục sức khỏe, Thầy về đến Tổ đình Từ Hiếu vào chiều ngày 28 tháng 10, và được chào đón bằng một nghi lễ Phật giáo truyền thống trong tiếng chuông trống Bát nhã trầm hùng. Khi vào cổng Tam quan, Thầy dừng lại một lát và đưa tay chạm vào bức tường đá cổ như một dấu ấn Đã về đã tới. Mọi người đều giữ yên lặng khi Thầy ngắm nhìn hồ bán nguyệt, nơi Thầy có nhiều kỷ niệm đáng nhớ khi còn là một sư chú. Sau đó Thầy vào chánh điện, niệm hương cúng dường Bụt và liệt vị Tổ sư.

Từ khi về đến Tổ đình, sức khỏe của Thầy vẫn còn yếu nhưng định tĩnh. Thầy đã cùng Tăng thân thiền hành vào lúc bình minh, thăm mọi nơi trong ngôi chùa vốn là nhà của Thầy và là nơi Thầy được nuôi dưỡng khi mới bắt đầu con đường tu tập. Trước đó, vào tối ngày 26 tháng 10 tại Đà Nẵng, với tư cách trụ trì và là niên trưởng dòng truyền thừa chùa Từ Hiếu, Thầy đã hướng dẫn các đệ tử soạn một lá thư mời tất cả Tăng Ni dòng Từ Hiếu (đệ tử và hậu duệ của Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, vị Bổn sư của Thầy) tham dự buổi họp mặt gia đình đầm ấm  trong tình huynh đệ tại chùa Từ Hiếu vào thứ Bảy, ngày 3 tháng 11. Như Thầy đã nói trong chuyến về Việt Nam lần đầu tiên vào năm 2005, sau bốn mươi năm xa xứ: “Không có tôn giáo nào, học thuyết nào, chủ nghĩa nào cao hơn tình huynh đệ.”

Ngay lúc này đây, qua từng hơi thở và hành động của mình, Thầy vẫn kiên định và tràn đầy năng lượng trong việc xây dựng tăng thân, thúc đẩy quá trình trị liệu, hòa giải và chuyển hóa trong cộng đồng, xã hội và trên thế giới.

Kêu gọi yểm trợ cho tu viện Suối Tuệ gần Paris

Dưới đây là một câu chuyện về Sư Ông Làng Mai do thầy Pháp Dung kể lại, câu chuyện về tình huynh đệ và nỗi khát khao hòa bình. Câu chuyện này sẽ làm sáng tỏ thêm cho mối liên hệ bền lâu giữa Làng Mai và nước Pháp. Để  làm vững mạnh thêm mối liên hệ này, tăng thân Làng Mai  mong muốn xây dựng một trung tâm thực tập chánh niệm gần Paris để giúp cho nhiều người có thể tìm thấy được bình an và niềm vui trong chính tự thân mình.

Hãy chung tay cùng với chúng tôi để biến ước mơ này thành hiện thực bằng lòng hảo tâm của các bạn.

 

Người bạn cũ – Trung tâm mới

Trung tâm thiền tập mới của Làng Mai ở gần thủ đô Paris có thể được xem như sự tiếp nối đẹp đẽ của một tình bạn sâu đậm giữa Thầy và một người lính Pháp trẻ tuổi trong bối cảnh xung đột của chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất. Đó là vào khoảng năm 1947 hay 1948 khi Thầy còn là một sadi trẻ đang học tại Phật học đường Báo Quốc ở Huế. Khi ấy các thầy vẫn thường nghe thấy tiếng súng bắn qua lại giữa những ngọn đồi, và người dân rất ít khi dám mạo hiểm đi theo những con đường hẻo lánh băng qua các cánh đồng.

Một ngày nọ, Thầy về thăm chùa Tổ (Từ Hiếu) từ rất sớm, khi sương mai chưa ráo trên đầu ngọn cỏ. Tháng nào cũng vậy, Thầy đều về thăm chùa một lần. Đang đi theo con đường băng qua ngọn đồi thì bất chợt Thầy nghe tiếng ai gọi. Nhìn lên thì ở phía trên đồi, có một chàng lính Tây đưa tay vẫy. Anh ta chạy từ trên đồi xuống để nói chuyện với Thầy. Anh ta muốn biết Thầy từ đâu tới. Khi nghe là Thầy từ chùa Báo Quốc, anh ta đề nghị Thầy ở lại một lát để nói chuyện với anh ta. Người lính trẻ ấy còn choáng váng vì ký ức về một cuộc đột kích ban đêm vào chùa Báo Quốc mà anh ta phải tuân lệnh thực thi vào tuần trước đó.

Những người lính đột kích vào chùa để tìm Việt Minh. Họ giậm chân, quát tháo, trên tay là những khẩu súng sẵn sàng nhả đạn. Nhưng thay vì gây nên sự căng thẳng và hoảng loạn như họ trông chờ, thì họ lại thấy một ngôi chùa hoàn toàn tĩnh lặng, không một bóng người. Không có một tiếng đáp lại nào cho những tiếng quát tháo của họ; chẳng có một chuyển động nào hết. Khi họ chiếu đèn pin vào gian giữa tối lờ mờ mà họ nghĩ là trống trơn, họ chợt thấy trong đó chừng sáu mươi tu sĩ đang ngồi tĩnh tọa bất động… Trước cảnh tượng bất ngờ này, họ hoảng lên và vội vàng nhè nhẹ rút ra khỏi chùa. Đó là sức mạnh lớn lao của sự tĩnh lặng. Rõ ràng là không có một sự đe dọa nào ẩn chứa trong đó, nhưng những người lính này không thể nào làm khác hơn ngoài việc nhẹ nhàng rút lui.

Sự im lặng hùng tráng của thiền định đã gây một ấn tượng mạnh cho người lính trẻ Daniel Marty. Nó đã giúp tâm trí và trái tim của anh mở ra, đồng thời gây hứng khởi cho anh tìm hiểu thêm về con người và văn hóa Việt Nam. Anh hăm hở hỏi Thầy về sự im lặng mà anh thấy thật cuốn hút. Và anh đã mở lòng thổ lộ về nỗi nhớ nhà của mình. Anh chia sẻ rằng nhìn những tu sĩ ngồi bình an quá làm cho anh thấy trân quý sự sống của loài người. Hai người thanh niên trẻ ngồi đó nói chuyện về những nỗi đau của chiến tranh và chia sẻ với nhau niềm hy vọng hòa bình. Sau này, anh còn tới chùa thăm Thầy mỗi khi có một kỳ phép và phát nguyện rằng anh muốn suốt đời được sống theo lời Bụt dạy. Thầy đã cho anh pháp danh là Thanh Lương, nghĩa là “thanh tịnh, trong sáng, mát mẻ”.

Trung tâm thực tập chánh niệm mới của chúng ta – tu viện Suối Tuệ – là một sự tiếp nối của tình bạn sâu đậm giữa hai nền văn hoá này và của tình nhân loại. Đó là mảnh đất mà từ đó thật nhiều hạt giống của từ bi và trị liệu sẽ được gieo vào trái tim của bao người trẻ Pháp. Thầy thường dạy rằng không có gì mất đi cả, chỉ có những sự tiếp nối trong những hình thức mới, giống như một đám mây trở thành cơn mưa. Người huynh đệ có tên Thanh Lương vẫn còn đó trong chí nguyện của chúng ta, trong sự có mặt của chúng ta, trong tình huynh đệ của chúng ta và trong niềm hy vọng vào tương lai, cũng như nơi nguồn suối mát lành chảy quanh mảnh đất mới này – nơi mà tu viện Suối Tuệ sẽ biểu hiện trong tương lai.

Với sự giúp đỡ của các bạn, chúng ta có thể làm lớn thêm tình bạn của Thầy và Daniel, mở rộng hơn nữa vòng tay của chúng ta đến với hàng trăm, hàng ngàn người trẻ từ nhiều văn hóa, nhiều quốc gia trên thế giới. Cùng nhau chúng ta đang gieo trồng một tương lai hòa bình, trị liệu, bao dung và hy vọng cho tất cả mọi người.

Xin hãy chung tay cùng chúng tôi để ước mơ xây dựng tình huynh đệ và hòa bình này trở thành hiện thực. Chúng tôi rất biết ơn sự yểm trợ và cúng dường của các bạn. Mỗi món quà đều làm nên sự khác biệt.

Sen búp xin tặng bạn, một vị Bụt tương lai.

Chân Pháp Dung

 

Xem video về Tu viện:

Tuần lễ dành cho người nói tiếng Việt tại xóm Mới

 

 

Trong khoá tu mùa xuân năm 2019, tăng thân Làng Mai tại Xóm Mới rất vui được đón đồng bào về tham dự một tuần lễ dành cho người nói tiếng Việt.

Về đây, quý thân hữu có cơ hội cùng tu tập với tăng thân và làm mới chính mình trong không khí tươi mát của đất trời trong mùa tuôn dậy. Quý vị sẽ được trở về và tiếp xúc với một nếp sống giản dị và bình an, thực tập thiền toạ, thiền hành, ăn cơm yên lặng, nuôi dưỡng và trị liệu cho chính bản thân, cho gia đình, và cho xã hội. Quý vị cũng sẽ được nghe pháp thoại, được dự pháp đàm, và học cách làm mới lại thân tâm và kết nối truyền thông với chính mình và với người thân. Xin mời quý vị đến tham dự trọn một tuần.

Thời gian: từ ngày thứ Sáu 26 tháng 4 đến ngày thứ Sáu 03 tháng 5 năm 2019

Địa điểm: Xóm Mới – Làng Mai tại Pháp

Ngôn ngữ sử dụng trong các sinh hoạt: tiếng Việt

Ngày thứ Năm và Chủ nhật, quý vị sẽ được tham dự trọn một ngày quán niệm ở một trong ba xóm: xóm Thượng, xóm Hạ hoặc xóm Mới với tứ chúng Làng Mai.

Ngày đón và tiễn khách là ngày thứ Sáu. Đó là ngày duy nhất mà quý sư cô có thể bố trí xe đón và đưa quý vị từ Làng Mai đến ga Sainte Foy La Grande và ngược lại.

Xin bấm vào đây để đăng ký.

Xin đọc kỹ hướng dẫn dưới đây để ghi danh dễ dàng và thành công:

Để làm ghi danh bằng tiếng Việt, xin chọn Tiếng Việt nơi thanh ngôn ngữ bên tay phải sau khi vào kết nối.

Sau khi chọn loại giường thích hợp, vui lòng bấm vào “Reserve” để bắt đầu làm ghi danh.

Sau khi điền các chi tiết, xin nhớ bấm “Đặt chỗ”

Sau đó bấm “Nhấn vào đây để hoàn thành quá trình đăng ký” nếu chỉ đăng ký cho một người.

Nếu đăng ký cho người thứ hai, thì không nhấn vào để hoàn thành quá trình đăng ký, mà cần nhấn vào “Reserve” để tiếp tục điền tên cho người thứ hai, vv…

Xin lưu ý: Vì phòng ở có giới hạn, gia đình với trẻ em từ 18 tuổi trở xuống  xin vui lòng liên hệ trực tiếp với văn phòng ghi danh qua email trước khi đăng ký: nh-office@plumvillage.org

Giờ pháp đàm – khóa tu mùa xuân 2018

 

Mây bạc thong dong đi

SƯ ÔNG LÀNG MAI VỀ ĐẾN VIỆT NAM

Ngày 25 tháng 10, Làng Mai Thái Lan vừa hoàn mãn mùa An cư kiết hạ 2018. Sáng hôm sau, Sư Ông Làng Mai ra phi trường về Việt Nam. Tại sân bay quốc tế Don Mueang (Bangkok, Thái Lan), Sư Ông đã được các Phật tử cư sĩ người Thái nghinh đón và tặng hoa theo phong tục người Thái. Trong thời gian chờ đợi làm thủ tục xuất cảnh, quý Phật tử cư sĩ ngồi bao quanh và cúng dường những bài thiền ca cho Sư Ông cùng quý thầy, quý sư cô. Không khí rất ấm cúng của một gia đình tâm linh.

Chiếc chuyên cơ đưa Sư Ông về thăm quê hương Việt Nam đã hạ cánh xuống sân bay quốc tế Đà Nẵng vào lúc 14 giờ 45 phút, ngày 26 tháng 10. Trên chuyến chuyên cơ này  có Sư Ông, hai chú phi công, năm thị giả và một bác sĩ Tây y người Thái, là học trò của Sư Ông được đi theo tháp tùng. Nhờ Bụt Tổ gia hộ nên đoạn đường bay 1 tiếng 30 phút từ Bangkok đến Đà Nẵng không có gì trở ngại. Thỉnh thoảng Sư Ông nhìn ra cửa sổ, mỉm cười và chỉ thị giả những cụm mây trắng đang bay thong dong trên bầu trời. Từ trên máy bay nhìn xuống, đại địa thật xanh tươi mầu nhiệm. Thầy trò ngồi bên nhau trong im lặng và mỗi người ý thức rất rõ đây là giây phút huyền thoại của cuộc trở về. Một thầy thị giả thưa, “Quê hương mình đẹp quá phải không Thầy?”. Sư Ông mỉm cười gật đầu.

Tại phi trường Đà Nẵng, tứ chúng đệ tử gồm có quý Hòa thượng, quý Tôn túc, quý thầy, quý sư cô, và quý thân hữu Phật tử cư sĩ từ khắp nơi trong nước đã tập họp đông đảo chào đón Sư Ông. Không khí hân hoan như một ngày lễ hội. Sau đó, Sư Ông và quý thầy, quý sư cô thị giả được mời về một khu nghỉ mát ở Đà Nẵng để nghỉ ngơi vài hôm trước khi về Tổ Đình Từ Hiếu, Huế.

Về đến khu nghỉ dưỡng, quý thầy, quý sư cô và tăng thân cư sĩ đã chuẩn bị một cái bánh kem cung đón Sư Ông đã đến Việt Nam bình an. Trên bánh kem có khắc câu thiền ngữ “đã về đã tới” trong hình tròn. Ngoài quý thầy và quý sư cô Làng Mai còn có mặt của quý Hòa thượng và quý Sư bà. Đi đường cả ngày nên thị giả sợ Sư Ông mệt, do đó sau khi cắt bánh thị giả đã mời Sư Ông vào phòng nghỉ ngơi, nhưng Sư Ông ra hiệu cho biết là Sư Ông vẫn muốn tiếp tục ngồi chơi với đại chúng. Sư Ông nhìn từng người và ra hiệu thị giả mời đại chúng dùng thêm bánh. Cảnh tượng “một nhà xum họp sớm trưa”. Nét mặt ai cũng rạng rỡ với nụ cười hạnh phúc! Thầy đã về và chúng con đang thật sự được ngồi bên Thầy.

Khu nghỉ mát rất thoáng và hữu tình, toạ lạc ngay trên bãi biển. Từ trong nhà có thể nhìn thấy những làn sóng thoai thoải nhấp nhô trên biển, cho ta một cảm giác rất nhẹ nhàng và yên bình. Đêm hôm ấy, Sư Ông nằm trên ‘sofa’ ngắm trăng lơ lửng trên tờ lá dừa, trong khi tiếng sóng vỗ dạt dào vào bờ biển. Ở Đà Nẵng được hai đêm thì Sư Ông tỏ ý muốn về chùa Tổ liền. Nương tựa tuệ giác của Sư Ông, nhóm thị giả sắp xếp hành lý để lên đường.

12 giờ 45 phút trưa 28.10, Sư Ông rời Đà Nẵng để về Huế. Trên xe, Sư Ông đưa mắt nhìn ra cửa kính, thưởng thức thiên nhiên núi rừng, rất bình yên và lặng lẽ. Xe dừng lại một cây xăng dọc đường để nghỉ ngơi, nhóm thị giả thỉnh Sư Ông mặc áo dài. Lần này, Sư Ông mỉm cười, và gật đầu đồng ý cho chúng con giúp mặc áo tràng. Anh tài xế rất hạnh phúc khi được chở Sư Ông đi.

15 giờ 30 phút, khi xe vừa đến chùa Tổ Từ Hiếu, chúng con đã nhìn thấy chư vị Tôn đức Tăng Ni  và cư sĩ đứng đón Sư Ông. Chúng con thỉnh Sư Ông xuống xe. Chư Tôn đức Tăng Ni đến gần bên Sư Ông, rất xúc động khi Sư Ông chào và nắm tay từng vị trước khi ra dấu cho thị giả đẩy xe đi tiếp đến cổng tam quan chùa Tổ. Thầy chắp tay chào chùa Tổ. Tăng Ni và Phật tử cư sĩ đứng hai hàng để đón Sư Ông. Sư Ông ra hiệu dừng lại và ra hiệu cho mọi người dạt ra hai bên để Sư Ông có thể nhìn thấy toàn bộ cổng tam quan. Chúng con đứng đó, bên cạnh Sư Ông, và nhận ra hình bóng sư chú Phùng Xuân mỗi lần từ Phật học đường Báo Quốc hay đi đâu xa được về thăm chùa, thăm Sư cố Thanh Quý, thăm huynh đệ, thường dừng lại một lúc trước cổng tam quan, trước hồ bán nguyệt để ngắm nhìn khung cảnh thanh bình ở đây, để thấm sâu hơn cảm giác về nhà của một người xuất sĩ trẻ.

Lúc đó, chúng con cảm nghe trong khung cảnh đông đảo ấy chỉ còn lại bóng dáng một sư chú trẻ với ngôi cổ tự rêu phong mà không thêm bất kỳ một âm thanh rộn ràng hay một hình ảnh náo nhiệt nào khác nữa. Dừng lại một lúc lâu, Sư Ông ra dấu đi tiếp. Đoàn thị giả đưa Sư Ông vào cửa giữa cổng tam quan. Sư Ông chạm bàn tay một cách cẩn trọng vào bức tường sạm màu theo thời gian. Nhìn bàn tay Sư Ông, chúng con nhìn thấy dấu ấn linh thiêng của sự trở về.

Sư Ông dạo quanh hồ bán nguyệt, nhìn ngắm đất trời, chạm tay vào cội sứ già, dừng lại trước hồ, nơi mà ngày nào sư chú Phúng Xuân từng ngồi nhổ cỏ, từng mang mít non xuống gọt vỏ để tự tay nấu một nồi canh với lá sâng thơm ngon. Khuôn mặt Sư Ông rất an bình, đôi mắt sáng trong và độ lượng.

Sư Ông vào chánh điện, niệm hương cúng dường Tam Bảo, niệm hương cúng dường trước bàn thờ liệt vị Tổ sư. Sư Ông tỏ tường trong từng cử chỉ.

Sư Ông chào chư vị Tôn túc Tăng Ni và cư sĩ trước lúc thị giả xin phép đưa Sư Ông trở về thất Lắng Nghe để nghỉ ngơi. Sức khoẻ Sư Ông rất ổn định.

Ngày 29 và ngày 30.10, nhiều lần khác nhau, Sư Ông đã đi thăm quanh rất nhiều nơi trong khuôn viên Tổ đình Từ Hiếu. Sư Ông thích đi dạo vào sáng sớm, trong không khí mát lạnh, lúc mà tiếng chổi quét sân chùa của quý thầy quý sư chú vẫn còn vọng lên góc này góc kia. Có lần Sư Ông chỉ vào chiếc đơn cũ đơn sơ và ra dấu đẩy xe lăn tới gần. Sư Ông đưa tay chạm vào chiếc đơn, nhẹ nhàng và cẩn trọng. Sư Ông nhận ra đó là chiếc đơn cũ mà ngày xưa Sư cố Thanh Quý thường nghỉ ngơi. Sư Ông thăm cây khế già trăm tuổi, chạm tay vào những trái khế trước mặt, ngắm nhìn thân khế và hòn non bộ. Khung cảnh này đã từng đi vào trong tác phẩm của Người:

“… Giữa sân cây khế ngọt rủ bóng che cho chiếc bể cạn và hòn non bộ. Những chiếc lá khế vàng thỉnh thoảng rụng và rơi nhẹ trên mặt nước. Hòn non bộ xưa lắm, đầy rêu phủ. Những trái khế to và nặng treo lủng lẳng.

… Ở chùa Từ Quang có một thầy tên là Trọng Ân, một ông thầy tu thật hiền, thật đẹp. Thầy này là thi sĩ, thơ của thầy được nhiều cô nhiều chú học thuộc lòng. Bút hiệu của thầy là Trúc Diệp, nghĩa là lá tre. Tết nào thầy cũng lên chùa tổ thăm Sư Ông và thăm chú Phùng Xuân. Tết nào thầy cũng được Sư Ông ban cho một trái khế. Khế được đặt trên một cái đĩa trắng. Có cả một con dao con. Dao chỉ để gọt khía và cắt hai đầu. Rồi ta xẻ khế ra thành từng múi, cầm tay mà ăn. Không bao giờ cầm dao cắt khế thành từng lát hình ngôi sao. Khi thầy Trúc Diệp ra về, chú Phùng Xuân thường hái thêm một trái khế thứ hai để thầy ấy mang về Từ Quang, chưng trong phòng “cho đẹp”. Trái khế này thường được hái kèm theo vài chiếc lá khế.

Ăn khế, người ta không uống trà.”

(Trích từ tác phẩm “Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời” – Sư Ông Làng Mai)

Sư Ông đi vòng quanh thăm bàn thờ sư thúc Chí Mậu, thăm tăng xá, thăm Lăng viện, thăm khung cảnh dọc theo những con đường trải sỏi nhỏ trong khi sương giăng mờ, trong khi nắng mới tinh khôi tỏa ánh sáng xuống những tán cây. Trong lúc thiền hành như vậy, chư Tôn đức và nhiều vị cư sĩ có duyên được gặp và cùng thực tập chung với nhau một các sâu sắc giữa khung cảnh trở về đó.

Chúng con vô cùng tri ân sự yểm trợ hết lòng, cả về vật chất lẫn tinh thần, của quý vị thân hữu khắp nơi trên thế giới dành cho Sư Ông chúng con. Sự yểm trợ của quý vị đã giúp cho ước muốn của Sư Ông trở thành hiện thực và tiếp thêm sức mạnh cho Sư Ông chúng con trong quá trình trị liệu.

Thật may mắn và quý giá biết nhường nào khi Sư Ông vẫn còn đó cho chúng ta và luôn hiến tặng sự có mặt vững chãi cùng đức vô úy của Người. Chúng con ý thức rằng năng lượng tu học mỗi ngày của các đệ tử – xuất gia và tại gia – trên khắp thế giới đang nuôi dưỡng Sư Ông rất nhiều. Sư Ông luôn có mặt với chúng ta mỗi khi chúng ta thở một hơi thở có ý thức hoặc bước một bước chân trong chánh niệm, cũng như khi chúng ta mang lại niềm an vui cho bản thân và cho thế giới.

Sư Ông đã từng chia sẻ trong chuyến về Việt Nam năm 2007: “Trong 65 năm tu tập, điều mà tôi tìm ra là không có tôn giáo nào, học thuyết nào, chủ nghĩa nào cao hơn tình huynh đệ”. Sư Ông muốn nhắc nhở chúng ta rằng với sự đoàn kết và tình huynh đệ chân chính, không có gì mà chúng ta không thể thực hiện được.

Chúng con vẫn nghe lời Sư Ông trong nắng gió, như là một lời hứa mà Sư Ông vừa thực hiện:

“Chừng nào các con về chùa Tổ, thầy sẽ đưa các con đi khắp các nẻo đồi núi, vườn tược, ngõ ngách, bụi tre, bờ giếng của chùa. Các con sẽ tập nhìn bằng mắt của Sư Ông, bằng mắt của thầy, nghĩa là bằng mắt của chính các con. Góc nào cũng đầy những kỷ niệm. Ví dụ cái thành vôi ở ngôi mộ bên đồi Tàng Tháp. Ngày xưa chú Tâm Mãn và chú Phùng Xuân thường nướng những gốc măng cán giáo và những gói nấm tươi ở đấy. Trước hết là những gốc măng cán giáo. Hai chú đi quơ lá thông dồn vào góc tường và đốt cho đến khi các gốc măng chín mềm. Thịt măng vàng tươi và thơm ngon lạ thường. Hai chú ăn măng nướng với tiêu muối đựng trong một chiếc lá vả. Còn nấm nữa. Đủ các loại nấm. Nấm thông, nấm mỡ, nấm mồng gà, nấm tràm, nấm mối… Hai chú xuống suối rửa nấm thật sạch trong lòng suối, xát nấm bằng muối, rửa sạch lại lần nữa, rồi mới bọc nấm, tiêu, muối vào nhiều lớp lá vả tươi, gói lại, dùng lá thông khô mà đốt. Khi nấm chín, các chú ăn với những lá rau thơm, rau húng, rau quế, rau tía tô… hái ở các vườn chùa. Tuổi thiếu niên rất thèm khát, thèm chơi, thèm nghịch ngợm, thèm riêng tư, thèm những gì không chính thức, thèm những gì hoang dại. Tình bạn thời niên thiếu, nhắc lại, vẫn còn thấy thèm mãi mãi.

… Trăng núi đồi Dương Xuân sáng quá.

Chú Phùng Xuân không thể không trở thành thi sĩ.

Nhưng thơ không phải chỉ là ánh trăng. Con cũng đã biết như thầy là chất liệu làm nên thi ca cũng là cảnh bùn lầy nước đọng, cũng là bão lửa giữa hư không, cũng là mái tranh nghèo chờ đợi ven sông, cũng là mái chèo của đoàn người cứu trợ, cũng là hiểm nguy xông pha, cũng là hoa vàng trúc tím và chân như bản thể”.

(Trích từ tác phẩm “Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời” – Sư Ông Làng Mai)

GHI CHÉP CỦA BAN THỊ GIẢ

Lễ xuất gia cây Dẻ gai (Beech tree)

 

Nẻo về đã rạng chân trời thênh thang

Sáng ngày 25 tháng 10 năm 2018, tứ chúng Làng Mai vân tập về Thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân để làm lễ xuất gia cho 10 người trẻ mang tâm nguyện xuất trần. Từ sớm những lớp sương mù dầy đặc trên con đường dẫn về xóm Thượng, tới giờ này bỗng nhường cho ánh nắng rực rỡ chan hoà.

Buổi lễ bắt đầu với nghi lễ dâng hương bằng tiếng Việt và tiếng Anh.

“Hương đốt, khói trầm xông ngát
Kết thành một đóa tường vân
Đệ tử đem lòng thành kính
Cúng dường chư Bụt mười phương
Giới luật chuyên trì nghiêm mật
Công phu thiền định tinh cần
Tuệ giác hiện dần quả báu
Dâng thành một nén tâm hương
Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát”.

 

 

Thiền đường Nước Tĩnh âm vang tiếng tụng Tâm kinh tuệ giác qua bờ thật hào hùng của đại chúng. Các vị xuất sĩ đắp y vàng ngời sáng và các vị cư sĩ tới đông đảo để tham dự và yểm trợ cho mười giới tử đến từ những quốc gia khác nhau: Pháp, Bungary, Bỉ, Hàn Quốc, Ý, Đức, Mỹ. Trước buổi lễ này, các em đã được thực tập tại Làng Mai như những vị tập sự xuất gia và hôm nay chính thức biểu hiện là những sư em trong lòng đại chúng xuất sĩ. Quý thầy, quý sư cô lớn thay mặt cho Sư Ông Làng Mai làm lễ truyền 10 giới Sadi, Sadini và xuống tóc cho các em. Các sư em được mang những pháp tự: Chân Trời Thiện Phong, Chân Trời Thiện Chí, Chân Trăng Hiền Đức, Chân Trăng Hiền Tâm, Chân Trời Thiện Hoà, Chân Trời Thiện Đức, Chân Trời Thiện Khai, Chân Trời Thiện Ý, Chân Trăng Hiền Nhân, Chân Trời Thiện Trì. Các sư chú và sư cô được biểu hiện trong gia đình xuất gia mang tên Cây Dẻ Gai, là thế hệ thứ 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 phái Liễu Quán.

 

 

Khắp trời Bồ Tát hiện, tay Bụt trong tay ta

Buổi chiều cùng ngày, bốn chúng đã ngồi quây quần trong thiền đường với các sư chú, sư cô mới xuất gia. Đây là lần đầu tiên các sư em được ngồi chơi với đại chúng trong hình thức người xuất gia và chia sẻ tâm tư, cảm nghĩ của mình với đại chúng. Phần lớn các sư cô, sư chú có nguồn gốc huyết thống tây phương.  Các sư em không phải là những người tây phương đầu tiên xuất gia trong dòng chảy tâm linh đạo Bụt. Đã có rất nhiều vị đi trước để dòng chảy hôm nay lưu nhuận tới các sư em. Những vị đó có thể từ truyền thống đạo Bụt, cũng có thể từ truyền thống Cơ đốc hay những truyền thống khác. Những vị tổ tiên tâm linh đó đều đang có mặt trong các sư em. 

Sư chú Trời Thiện Trì, sư út của Cây Dẻ gai chia sẻ:

“Mọi người nói hôm nay là ngày sinh nhật của chúng con và chúng con được sinh ra một lần nữa, được làm em bé, và không có tóc nữa (cười). Thực ra con nhìn lại và thấy mình đã có rất nhiều lần được sinh ra làm một người mới, giống như là có những lần sinh nhật đó nên mới có lần sinh nhật này. Con nhớ thầy Lama đã dẫn dắt con tới với đạo Bụt. Con nhớ cuốn sách đầu tiên của Sư Ông đã dẫn con tới với con đường thực tập. Con nhớ lần đầu tiên con được nhìn thấy Sư Ông khi con được dự một buổi pháp thoại của Sư Ông. Ngày đó con đã được sinh ra một lần nữa và trong trái tim con vẫn còn những kỷ niệm đẹp vô cùng. Con nhớ con đã từng được nói chuyện với Sư cô Chân Đức và sư cô nói sư cô rất hạnh phúc nếu con sẽ biểu hiện làm một người xuất sĩ. Con cũng nhớ ngày con nhận Năm giới một cách trân trọng và người mẹ tinh thần của con, sư cô Song Nghiêm đã nói với con: “Bây giờ em là em của tôi” (cười). Và hôm nay là một ngày sinh nhật nữa…”

Sư cô Trăng Hiền Tâm, người Hàn Quốc:

“Ngày hôm nay con vô cùng hạnh phúc. Con rất biết ơn tăng thân. Năm ngoái con tới đây, ở lại một tháng vào đúng vào dịp kỷ niệm ngày tiếp nối thứ 92 của Sư Ông. Con nghe quý sư cô chia sẻ kỷ niệm với Sư Ông và con rất xúc động. Con chỉ được gặp Sư Ông có một lần, ở Hàn Quốc trong khoá tu năm 2013, và thực ra chỉ được nhìn Sư Ông từ rất xa. Khi ở đây, con thực sự thấy Sư Ông trong quý thầy, quý sư cô. Quý thầy, quý sư cô là Thầy của con. Con thấy được rất nhiều những yếu tố của Sư Ông trong các vị xuất sĩ, bởi vậy con ở đây, và con rất hạnh phúc để có thể chia sẻ tình thương với mọi người.”

 

Niềm hạnh phúc của ba mẹ sư cô Trăng Hiền Tâm

 

Sư chú Trời Thiện Ý, tới từ nước Ý, chia sẻ:

“Con rất hạnh phúc vì ước mơ của con đã thành hiện thực. Con đã có tâm nguyện và mơ ước được đi trên con đường tâm linh này từ lâu. Khi con tìm ra được Làng Mai, con thấy rằng ước mơ của con có thể thực hiện được 100%. Nên hôm nay là một ngày rất đặc biệt đối với con. Con rất biết ơn tổ tiên của con. Rất nhiều vị tổ tiên của con chắc chắn đã có một đời sống tâm linh rất sâu sắc, theo Thiên Chúa giáo, và con chắc chắn rằng phần lớn họ sẽ muốn đi trên con đường này, nên con cảm thấy rằng con đang thực tập cho tổ tiên con.”

Một niềm hạnh phúc của các sư cô, sư chú là được có gia đình, người thân, bạn bè tới yểm trợ mình trong ngày trọng đại này. Đây cũng là dịp để các sư em nói lên niềm biết ơn ba mẹ, chia sẻ với đại chúng và ba mẹ niềm hạnh phúc của mình.

Sư chú Trời Thiện Đức:

“Hôm nay con rất hạnh phúc và con rất biết ơn tăng thân. Con cũng rất biết ơn ba mẹ con đã có mặt cho con trong ngày hôm nay, nhất là mẹ con cũng giúp để cạo tóc cho con hôm nay. Con rất biết ơn mẹ.”

 

Sư chú Trời Thiện Đức cùng ba mẹ

 

Sư chú Trời Thiện Trì:

“Ngày sinh nhật đầu tiên nhất của con là ngày mẹ sinh con ra đời. Con nhớ hồi khoá tu mùa hè, thầy y chỉ sư của con nói: “Tối nay em phải tới dự buổi lễ, nhất định đó.” Con phân vân vì con không biết buổi lễ đó là gì. Đó là lễ Bông hồng cài áo, giống như Ngày của Mẹ vậy. Con nhớ ba mẹ con, nhất là mẹ và con rất cảm động. Chúng con được cài hoa hồng, bông đỏ nếu ba mẹ còn và bông trắng nếu ba mẹ đã qua đời. Con rất xúc động khi nhìn những ai mang hoa mầu trắng. Con thật hạnh phúc và hạnh phúc đến tận giờ, khi mình vẫn còn được cài lên ngực hai bông hồng mầu đỏ. Và con hạnh phúc vì hôm nay ba mẹ con đều ở đây với con. Con đã rất mừng khi ba mẹ đều trả lời: “Được, ba mẹ sẽ tới.” Và hôm nay cả ba và mẹ đều có giúp cạo tóc cho con. Con có thể cảm thấy rất nhiều bàn tay chạm vào đầu con, cạo tóc cho con. Hôm nay là ngày con được sinh ra và đã có rất nhiều “bà mẹ” cho con ra đời.”

Sư cô Trăng Hiền Tâm:

“Con cũng xin gửi lời biết ơn tới ba và mẹ của con. Ba mẹ con đang ngồi sau con đây. Con biết ơn ba mẹ vô cùng vì nhờ có ba mẹ mà con mới có mặt ở đây. Ba mẹ không chỉ đã sinh ra con mà còn chỉ cho con con đường này. Người đầu tiên mang sách của Sư Ông về nhà là mẹ. Mẹ đã mua cuốn “Inner child” (tạm dịch: Em bé trong tự thân – BBT) về, khuyến khích ba rằng: “cuốn sách này hay lắm, ba đọc đi”. Ba con đọc và thấy chấn động vô cùng. Sau đó ba đọc rất nhiều cuốn sách khác của Sư Ông. Ở Hàn Quốc không có trung tâm nào của Làng Mai và năm ngoái ba đã động viên con: “Con có thể tới đó và thử coi người ta làm gì ở đó” (đại chúng cười). Vì con hiểu tiếng Anh nên ba nói con có thể tới đây và con dự định ở 2 tuần. Nhưng khi đã ở đây rồi thì 2 tuần thành ra 3, 4 và cuối cùng con đã ở đây hơn một tháng. Và bây giờ thì sẽ ở cả đời (đại chúng cười).”

Sư chú Trời Thiện Ý:

“Con rất hạnh phúc vì gia đình huyết thống của con từ rất xa, từ đảo Sicile của nước Ý, tới đây với con. Mẹ của con đã tới đây thăm con lần đầu tiên từ hai năm trước. Mẹ rất dũng cảm vì không biết tiếng gì khác ngoài tiếng Ý mà đã đi một mình tìm tới thăm con. Con cảm thấy rằng tuy con ở cách xa gia đình huyết thống về mặt vật chất nhưng thực ra sự liên hệ của con với gia đình lại sâu sắc hơn trước rất nhiều. Nếu các bạn không tin thì các bạn có thể thử xem” (đại chúng cười)

Trong buổi lễ xuất gia hôm nay, đại chúng thấy sự có mặt của rất nhiều người thân của các sư em: ba, mẹ, cô, em trai, em gái, em họ, bạn bè, bạn đồng tu, … Nhiều người trong số các vị chưa từng tiếp xúc với sự thực tập của đạo Bụt, có vị thì chỉ cảm nhận qua con em mình. Nhưng sau buổi lễ xuất gia, có một cái gì đã đánh động, đã chạm vào trái tim quý vị. Không khí của buổi họp mặt buổi chiều đầm ấm với rất nhiều nụ cười và hạnh phúc của một đại gia đình lớn cũng được các vị cảm nhận và chia sẻ.

Ba của sư chú Trời Thiện Khai: “Tôi rất hạnh phúc được ở đây. Buổi lễ sáng nay đã đi thẳng vào trái tim tôi và làm tôi rất xúc động.”

Ba của sư cô Trăng Hiền Nhân: 

“Tôi rất xúc động. Tôi muốn khóc. Tôi thấy rằng đây là một con đường tâm linh thật đẹp và tôi rất tự hào về con gái tôi. Tôi mong là con gái tôi tiếp tục đi trên con đường này và tôi sẽ luôn ở bên cạnh để yểm trợ cho con. Tôi rất biết ơn tăng thân và tôi rất hạnh phúc”

Mẹ của sư cô Trăng Hiền Nhân:

“Trước đây tôi không yểm trợ con gái tôi. Nhưng tôi rất ấn tượng về hạnh nguyện và khả năng đi tới của con dù không có sự yểm trợ của tôi. Tôi rất xúc động vì tên mới của con là Hiền Nhân, nghĩa là tốt lành và nhân tính, tôi nghĩ nó rất phù hợp với trái tim của con gái tôi. Thực sự tôi cảm thấy được năng lượng của lòng tốt và nhân tính của tăng thân, những đức tính đã biểu hiện lên rất đẹp nơi đây.”

Ba sư cô Trăng Hiền Tâm:

“Hôm nay tôi rất hạnh phúc. Hôm nay là ngày hạnh phúc nhất trong đời tôi. Vì hôm nay ước mơ của con gái tôi đã thành hiện thực. Tôi biết là tôi đang hạnh phúc nhưng đồng thời trong trái tim tôi vẫn có một chút nỗi buồn. Trước khi đến đây tôi cũng cảm thấy hơi lo lắng. Nhưng trong suốt buổi lễ tôi có thể thấy được tình thương của quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng nên giờ đây tôi không còn chút lo lắng nào nữa cả. Cảm ơn tăng thân và chúc mừng tăng thân”

Mẹ sư cô Trăng Hiền Tâm: “Tôi nghe Sư Ông nói “Walk with me” (tạm dịch: “Hãy đi cùng tôi”- BBT) và hôm nay tôi đã hiểu ý nghĩa của câu nói đó.”

Em của sư chú Trời Thiện Ý: “Con không ngờ là tới đây con lại được thấy một cộng đồng tuyệt vời như vậy, toàn là người tốt và hiền”

Xuất gia trong gia đình Cây Dẻ Gai lần này, nhiều sư cô, sư chú là con một trong gia đình huyết thống. Nhưng các sư em đã nhận được sự yểm trợ đầy tình thương của ba mẹ và gia đình với sự thông hiểu. Các sư em không chỉ bước vào dòng tâm linh như những cá nhân riêng lẻ. Các em đã mang theo gia đình huyết thống, mang theo cả nguồn cội tâm linh của mình gia nhập vào đại gia đình tâm linh để đi trên con đường của tình thương và hiểu biết. Những hạt giống hiểu và thương thực sự được biểu hiện lên thật đẹp đẽ trong dòng sông tăng thân.

 

                 Trong ngày lễ Dẫn thỉnh với những bông hồng dâng lên Tam Bảo, Sư Ông và tăng thân
              Chúng con rất  hạnh phúc với những món quà đầy tình thương mà đại chúng dành tặng cho chúng con!

 

Để xem thêm Hình ảnh của lễ xuất gia

 

Lễ xuất gia cây Dẻ gai (Beech tree), ngày 25.10.2018

Sáng ngày 25 tháng 10 năm 2018, tứ chúng Làng Mai vân tập về Thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân để làm lễ xuất gia cho 10 người trẻ mang tâm nguyện xuất trần. Từ sớm, những lớp sương mù dầy đặc trên con đường dẫn về xóm Thượng, tới giờ này bỗng nhường cho ánh nắng rực rỡ chan hoà.

Các sư em ra đời trong vòng tay thương yêu của tăng thân với những cái tên thật dễ thương: Chân Trời Thiện Phong, Chân Trời Thiện Chí, Chân Trăng Hiền Đức, Chân Trăng Hiền Tâm, Chân Trời Thiện Hoà, Chân Trời Thiện Đức, Chân Trời Thiện Khai, Chân Trời Thiện Ý, Chân Trăng Hiền Nhân, Chân Trời Thiện Trì. Các sư chú và sư cô được biểu hiện trong gia đình xuất gia mang tên Cây Dẻ Gai, là thế hệ thứ 43 tông Lâm Tế, thế hệ thứ 9 phái Liễu Quán.

Và sau đây là một vài hình ảnh: