Nơi suối nguồn chảy về

Bích Nham, mùa thu…

Bạch Thầy kính thương,

Sáng nay, một buổi sáng làm biếng yên tĩnh và hiền lành, con đang ngồi uống trà, nhìn ra cảnh vật núi đồi phía xa xa thấy một cội cây lớn, nổi bật lên nền trời, con nhớ đến Thầy… Cội cây rất can trường. Bầu trời đang rạng dần, phía sau cội cây, núi đồi một màu xanh thẫm sắp sửa ánh lên những tia nắng đầu tiên. Con nhớ đến bài “Buổi sáng” của Thầy… Không có buổi sáng nào giống buổi sáng nào… Con đang uống từng ngụm ban mai tinh khiết, trong lành mà đất trời và buổi sáng ban tặng. Con nhớ đến Thầy nhiều và nhớ đến những câu thơ rất đẹp của Thầy: “Trà khuya bay khói thơ không chữ. Thơ chở trà lên tận đỉnh mây…” Tạ ơn Thầy đã cho con cảm thấy không ngần ngại thêm vào túi gió trăng của con một chút văn, một chút thơ, một chút nhạc,… – những nét đẹp của cuộc sống quanh con. Thầy trò mình có những thú chơi thật thanh tao – dậy sớm, thưởng trà, ngồi yên, ngắm nhìn trời đất lặng lẽ chuyển mình từ cái thăm thẳm đen của núi rừng buổi khuya đến tinh mơ sáng. Đôi khi con thấy trời đất cũng đang ngắm nhìn con, “thưởng thức” con, cho nên con cũng ngồi thật yên, thật đẹp.

 

Vừa rồi, con có cơ hội đọc quyển “Silence” của Thầy, có đoạn như vầy:

Im lặng là một điều thiết yếu. Chúng ta cần yên lặng, như (muôn loài) cần không khí, như cây cần ánh sáng. Nếu tâm trí chúng ta bị lấn lướt bởi những ngôn từ và suy nghĩ, thì sẽ không còn không gian cho chúng ta nữa”.

Và: “Nếu biết rằng yên lặng và không gian rất quan trọng cho hạnh phúc của chúng ta thì tại sao chúng ta không kiến tạo thêm những thứ đó cho đời sống của mình?

Có những lúc Thầy đã nói thành lời những điều trong lòng con và có những lúc con tìm thấy được Thầy qua một cái gì đó mà con đang làm, đang nghĩ, đang cảm. Những lúc đó, tình Thầy-trò được cảm thông sâu sắc lạ kỳ, thấy thương kính Thầy thật nhiều, cho dù Thầy không có ở đó hoặc con không đang uống trà với Thầy.

Con còn nhớ những ngày con được làm thị giả sư cô Chân Không. Con và một sư em lên sớm, đứng trước cốc Ngồi Yên của Thầy ở xóm Thượng để đợi Thầy và Sư Cô tới. Đó cũng là một buổi sớm mùa đông, sương mù ngập trời, cốc Ngồi Yên và những hàng cây mùa đông ẩn hiện thấp thoáng dưới ánh đèn vàng. Hai chị em thấy như đứng trên núi. Sư em sinh ra ở núi, là dân miền núi. Hai đứa cũng đều thích núi. Tự nhiên thấy một niềm vui, một nỗi đồng cảm và có điều gì thiêng liêng lạ. Hai chị em đứng đợi Thầy mình tới. Rồi chúng con cùng đi với Sư Cô vào cốc Ngồi Yên để được uống trà với Thầy. Không cần nói một lời nào nhưng những giây phút đẹp đẽ và tĩnh lặng đó, con sẽ chẳng thể nào quên được.

Trong một khóa tu xuất sĩ, con được ở cốc Linh Quy, mỗi ngày ra thiền đường lớn phải đi một đoạn đường gần bằng đoạn đường từ cốc Ngồi Yên ra thiền đường Nước Tĩnh. Không ngày nào mà con không nghĩ đến hình ảnh Thầy vào những buổi sớm mùa đông Thầy ra ngồi thiền với quý thầy vào mùa an cư. Vẫn khung trời trăng sao lồng lộng đó, từng bước chân đó, ung dung, bình thản, tĩnh lặng, bao nhiêu năm rồi. Nhớ lời Thầy dạy “đừng phụ gió trăng”, mỗi buổi sáng, con không nỡ lòng để lỡ bước chân nào, bước lên bao nhiêu đó bậc cầu thang rồi băng qua lối đi trải sỏi để vào thiền đường. Nếu có lỡ quên đoạn nào thì dừng lại, “đi lại”, hoặc nhủ lòng “ngày mai nhớ nhé”. Nhưng, mùa an cư đó, con không có Thầy đi bên mình, con đã đi với Thầy trong đôi chân con, con hiểu rằng con đang có được biết bao nhiêu là tình thương, bình an và tự do mà Thầy trao cho.

Thầy kính thương, con thương quý Bích Nham thật nhiều, cho nên con cũng thương quý xóm Hạ, thương Làng, thương Sơn Cốc – nơi mà con đã được sinh ra và lớn lên. “Đi trong sương lâu ngày cũng ướt áo”, có lẽ trong con bây giờ cũng thấm được một chút “tương chao”, thấm được cái tình bao la, sâu đậm của Tăng thân. Nhớ ngày nào con mới đến Làng, còn lơ ngơ, còn lầm lũi, mà bây giờ đã… “khôn lớn” thành người rồi Thầy ạ ☺, dù cho con lúc nào cũng là một đứa con thơ dại của Thầy. Có những tình thương đã nuôi con lớn lên; có sự tôn trọng và kiên nhẫn đã nhiếp phục đứa bé bướng bỉnh, dại dột trong con. Và thiên nhiên bao la đã cho em bé đó được hồn nhiên, tung tăng, sống vui trở lại. Tạ ơn Thầy đã dạy con một bài học lớn về lòng Biết Ơn, để con biết trân quý và hạnh phúc.

 

Lại nhớ có lần con qua Sơn Cốc chơi, Thầy xoa đầu con, dạy: “Con phụ thầy chăm sóc Thiên đường nghe”, sư cô HN cười sảng khoái, không biết là Thầy có biết sư cô cười “chọc quê” con không. Sau đó, ra về sư cô có nói: “Thầy ‘gõ đầu’ đúng người ghê!” Đó là vì sư cô biết nhiều khi con “nổi cơn” hay đòi đi… lên núi! Một ngọn núi thiên đường ở đâu đó… Dù vẫn biết mình là “con nhà giàu” rồi, dù vẫn biết “đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt” rồi, nhưng chân vẫn cứ đòi đi !!! Thế nhưng, lời nhắn nhủ dường như rất nhẹ nhàng, vu vơ đó của  Thầy đã còn ở lại rất lâu, rất sâu trong con. Lòng Thầy thật từ bi vô cùng. Lúc đó lời Thầy cho con có cảm giác là “sự có mặt của con ở đây là cần thiết và hữu ích”, “mình đang ở Thiên đường đó, con!” hoặc “con chỉ cần có mặt ở đây thôi là đủ!”. Ấy vậy mà theo thời gian, con mới thấy con cần nơi chốn này và Tăng thân biết chừng nào. Từ đó con tập nhìn những nơi chốn mình đang ở là một “thiên đường”. Cho  dù trong đó có rác, có hoa, có bao ngổn ngang còn đó, thì vẫn có bao nhiêu điều đẹp đẽ và kỳ diệu mà có khi con đã cho là “bình thường” như: không gian, rừng  cây,  nắng,  nụ cười, niềm thương, nỗi nhớ,… Và rằng, trong lòng “thiên đường”, trong lòng Tăng thân đó, con chỉ bình an vui hưởng những cái lành, cái đẹp, cái an vui,… nhiều lắm thưa Thầy. Tạ ơn Thầy đã dựng xây nên những thiên đường và gọi chúng con về hội ngộ để cùng vui chơi trong thiên đường đó!

Con nhớ có một lần làm biếng dài ngày sau an cư, sư cô Chân Không đã rất từ bi cho phép chị em chúng con lên Sơn Cốc để ở, chơi, nghỉ ngơi và tu tập. Những ngày đó, Sơn Cốc vắng lặng, và có một chút quạnh quẽ vì Thầy đang nằm viện. Con không thể không nhớ đến những lần làm biếng chúng con lên còn có Thầy ở đó. Thầy viết thư pháp, ngồi thiền, kể chuyện, dạy chúng con hát, hay cùng nhau đi thiền hành trong vườn,… rất  an lành và đầm ấm. Những ngày đó, nhà chỉ có ba chị em, chúng con ý thức là Thầy đang bệnh nên ai cũng hết lòng tu tập và tận dụng hết không gian, thời gian đẹp đẽ và quý báu đó. Ngày nào con cũng tập thể dục, ngồi thiền, nghe pháp thoại, đọc sách,…. Và có những ngày, con đi thiền hành nhiều lần trong vườn, len lỏi qua những bụi tre, men theo bờ suối, đi đến tận cuối vườn, vòng  qua nhà xanh, thiền ôm với những cây tùng, cây sồi,… Con bước thật cẩn trọng, nhẹ nhàng như Thầy bước. Con thấy con đang đi với Thầy và Thầy đang có mặt cho đôi chân của con thêm bình an, vững chãi…

Con sẽ không thể nào quên được những buổi chiều hoàng hôn rực đỏ hay tím biếc khi chúng con cùng đi bộ ra ngoài về phía nhà thờ cổ hay hướng ngược lại, về phía những cánh đồng cỏ thoai thoải lấp lánh nắng, đi lên những con dốc ngoằn ngoèo, uốn lượn rồi lại xuống phía bên vườn mận nơi những cây cành khẳng khiu mùa đông đã bắt đầu lấm tấm đầy nụ trắng. Con thấy như con đang đi ngược về thời Trung cổ của hơn 1000 năm trước với những ngôi nhà, con đường cổ kính, trầm mặc; mọi thứ yên lặng phả ra một vẻ đẹp lung linh, huyễn hoặc trong ánh sáng buổi chiều tà và trôi vào bất tuyệt khi bất chợt có tiếng chuông nhà thờ đâu đó ngân lên. Tạ ơn Thầy đã cho con đôi mắt để ngắm nhìn, đôi tai để lắng nghe và một tâm hồn để cảm nhận cuộc sống đang rung động đầy đẹp đẽ, bao dung, tinh tế. Những người đã từng ở Làng có lẽ không ai không thương Sơn Cốc, Phương Khê, với vô số các lý do riêng chung cùng các cung bậc khác nhau. Con cũng đang nhớ Thầy, nhớ Sơn Cốc thật nhiều.

Thầy kính thương, hôm trước con đi ra phố. Cùng với các sư anh, sư chị, con đến ABC Home cho một ngày quán niệm ở đó. Thật lạ lùng mà dường như cũng rất… phù hợp, mình chọn ngay một  tòa nhà lớn, nổi tiếng, nằm giữa thành phố New York đầy hối hả, năng động, hiện đại,… để hướng dẫn tu tập! Con chăm sóc phần hướng dẫn thiền hành, đi từ tòa nhà ra vòng quanh quảng trường Union, ngay đúng vào ngày quảng trường mở họp chợ!

Con nhớ Thầy mời Bụt đi với Thầy nên con cũng mời Thầy đi với con. Ồ, ngay từ những bước chân đầu tiên, con đã thấy rất nhẹ nhàng, bình an. Và con gửi lòng bình an cùng niềm tin của con vào những người đang đi cùng con, rồi đến những người đang ở xung quanh. Lòng con hân hoan một niềm biết ơn vô vàn đến Thầy – người đã mang bình an, thương yêu vào đời, hiến tặng cho cuộc sống một món quà vô giá. Quảng trường rất đông đúc, nhộn nhịp, con đi ngang qua những gian hàng đầy hoa rồi vào sâu giữa quảng trường, nơi có một không gian nhiều cây xanh mát.

Con mỉm cười với những bông hoa rồi mỉm cười với hàng cây, tàng lá; trân quý và biết ơn một khoảng thiên nhiên nhỏ bé giữa lòng đô thị. Con cũng thầm nói lời tạ ơn đất Mẹ, vẫn hiền lành, xanh tươi, độ lượng giữa bao khói bụi, người xe. Và con biết ơn Thầy đã dạy con biết thương yêu, giữ gìn đất Mẹ. Mấy anh chị em con đã đi với nhau rất vui, con cảm thấy giống như là “ngày xuất sĩ” vậy. Anh chị em ai cũng lắng nghe, quan tâm và yểm trợ nhau hết lòng, có lẽ chỉ vì ai cũng muốn mang lại niềm vui và lợi lạc cho những người cư sĩ đến với mình.

Con xin các sư chị, sư anh “xé nháp” cho con vì con chia sẻ về thiền hành dở quá, thiếu sót nhiều quá! Tuy nhiên, qua từng thời khóa – pháp thoại, ăn trưa im lặng trong chánh niệm, pháp đàm và vấn đáp – những điều mà con thấy mình thiếu sót trước đó dần dần được bổ sung đầy đủ qua sự chia sẻ của các sư anh, sư chị; cuốn hút được các thiền sinh cùng tham gia chia sẻ, thảo luận, rất cởi mở, hào hứng. Trên cả tuyệt vời, phải không thưa Thầy? Đến cuối ngày, những người thiền sinh (đa số là những người mới đến lần đầu) ai cũng vui, cũng nấn ná ở lại để hỏi thêm về các khóa tu, về quý thầy, quý sư cô và tu viện…

Thưa Thầy, Bích Nham đang vào thu. Một mùa được xem là đẹp nhất trong năm, một mùa bình an, mênh mang, thanh thản. Thật khó lòng mà không thương mùa thu, không “bâng khuâng, mơ màng, lãng đãng” trong một mùa đầy trắc ẩn như thế. Lạ lùng chưa, mùa thu dịu dàng, yên ắng, vậy mà ai cũng rộn ràng, xôn xao… Ấy là vì mùa thu nói bằng sắc màu của mình và bằng những cơn gió lạnh len vào trong ngày đó thưa Thầy. Những sắc màu của lá (hay là nắng?) – vàng, đỏ, cam, nâu, hồng,… – đang đổ xuống, rắc ray lả tả từ những ngọn cây, dọc theo các con đường, lối đi hay len lỏi trong rừng. Vẫn biết mùa thu là “mùa lá, mùa gió”, và đã từng gặp gỡ nhiều mùa thu ở Pháp, vậy mà con vẫn ngỡ ngàng trước những sắc lá biến ảo không ngừng từng ngày ở đây. Trong những cơn gió mùa này, mọi người lục tục mang áo ấm ra mặc thêm và tổ chức đi chơi để ngắm mùa thu, để ngồi với nhau và “gom nắng” để dành cho những ngày đông sắp tới. Đại chúng chơi với nhau rất vui, rất ấm cúng, tung tăng như… những chiếc lá vậy.

Có một buổi sáng thức dậy bước ra ngoài con bỗng thấy ánh trăng tràn ngập – dọc theo hành lang trước phòng, trên những tàng cây, những lối đi bên dưới, trên những khu nhà và rừng cây gần xa. Một màu bàng bạc, lấp loáng bao phủ khắp nơi. Con đi đến phòng học, thấy trăng còn “vắt vẻo” ở phía đó như đang đón chờ mình. Trong bầu không khí tịch mịch và trong trẻo không cùng đó, con thấy lòng tĩnh lặng và bình an lạ… Con nhớ bài kệ “Nghe pháp” :

“Nghe pháp trong bản môn

Lá thu rụng đầy trời

Trăng thu đầy lối cũ

Pháp không đầy không vơi.”

Trong buổi khuya mùa thu này, đất trời đang nói những lời trầm hùng, tha thiết và từ bi nhất. “Lối cũ” của Bụt, của Thầy vẫn còn đó, cho ánh trăng đêm nay, và con đứng đây – được phủ đầy, thấm đẫm ánh trăng thu, con có cảm hứng đi ngồi thiền hơn. Vì, đi qua những buổi khuya như vậy đẹp quá! Đôi khi, có thể đi vào, chạm vào những buổi sớm tinh sương – rất đen và rất sâu, trong lành và nguyên sơ – một cách không vội vàng, không hấp tấp, thoát nhiên thật cảm động như đang đi vào, chạm vào một cái gì đó rất yên, rất lặng trong con người mình.

Mùa thu này, đôi khi con chợt nhớ đến ngày xưa, nhớ cái thời còn “hai tay cầm lấy nỗi buồn lơ ngơ xuống phố. Tìm một màu áo len quen. Tìm một chút hé môi cười…” Và bây giờ, nhìn lá bay, thấy lòng, thấy đời đã thanh thản, bình an hơn xưa nhiều… Bây giờ ngắm người mà như ngắm lá… “xôn xao bầy lá nhỏ… miệng ngọt hạt từ tâm…”. Đôi khi, trong lúc say sưa ngắm những sắc lá mùa thu này, con “phát hiện” ra là cây lá mùa nào cũng đẹp chứ không phải chỉ ở mùa này.

Cái đẹp vẫn luôn tràn đầy, rất riêng trong từng phiến lá. Cây lá vẫn bình an, tự tại đi về trong lẽ vô thường, vô ngã không cùng của đất trời. Cây sồi ngoài cửa sổ phòng con đã chuyển sang màu đỏ nâu, rồi rụng rơi dần. Cây sồi đang đi tròn, về tròn theo bốn mùa của trời đất… Thật đẹp! Con biết “bạn đó” vẫn cứ đang vui chơi; rụng xuống chỉ để lớn lên, để “sống” và có mặt. Mùa này, con thấy con cũng giống như lá vậy. Tung tăng, vui chơi, bay lên bay xuống, mà xen vào đó là những khoảng lặng để ngắm nhìn, để thở, để thương, để hiểu, để nhớ về,… Con biết những ngày mùa đông sắp tới sẽ dài và lạnh. Con biết có thể con sẽ rời đây, không biết có quay trở lại và không biết có còn gặp được một mùa thu rực rỡ nào như thế trong đời.

Rồi những ngày đi về cuối mùa thu. Sương mù giăng mắc. Mưa phùn. Những hàng cây mang  im lìm vào tiếng nói. Lá rụng đầy trời nên ngập trong không gian đầy tiếng xao xác của một màu xám bạc. Nhìn rừng cây đang trút lá, tâm cảm của con đôi khi là “buông bỏ”, đôi khi là trân quý, cẩn trọng, nhưng lại cũng có đôi khi mang một chút chấp chới, như tiếc nuối, như muốn níu kéo những sắc màu kia, những rực rỡ kia ở lại. Bây giờ, con thấy mình cũng đang giống một chiếc lá cuối thu. Không còn tung tăng nữa, con đang nằm yên dưới cội cây, lặng nghe mình thở, nghe tiếng đất trời đang thở và trở về với những mạch sống thật sâu, thật kín mà cũng rất bi hùng trong con người mình, để có thể tiếp tục “sống còn” trong mùa giá lạnh dài sắp tới.

Kính bạch Thầy, tạ ơn Thầy đã có mặt và còn đó cho chúng con. Con muốn viết thật nhiều những điều bình an, đẹp đẽ, ấm áp mà con đã có bên Thầy, ở đây, ở đó… nhưng thật không thể viết hết được. Xin dâng lên Thầy một chút lòng con. Con biết là miễn con còn nhớ tu tập, còn sống thật thà, hài hòa, giữ tâm cho lành và hết lòng với chúng thì Thầy và đại chúng vẫn còn đó cho con, thương yêu và nâng đỡ con. Con sẽ cố gắng làm những điều này, thưa Thầy.

Con thương chúc Thầy có thật nhiều niềm vui. Con của Thầy.

(Chân Duyệt Nghiêm)

Vô lượng cánh vô ưu

(Viết khi nghĩ về Thầy Làng Mai, người đã giúp sự sống trong con được tái sinh nhiệm mầu.)

 

(Hình ảnh Sư Ông về Việt Nam năm 2005)

 

Chàng hiệp sĩ lên đường
Không ngựa, không gươm, không súng đạn
Với đôi tay trần
Và bờ mắt tấm lòng tràn đầy tình thương giống nòi nhân loại
Nửa đêm vẫn nằm nghe mình giỡn đùa rong chơi giữa mênh mông đồng cỏ quê hương
Giữa ngọt ngào quen thuộc
Thức giấc khi lưng chừng đồi mới biết mình mơ mộng vụt qua
Bốn mươi năm quê hương không từ bỏ
Nhưng chẳng thể thân xác trở về
Chàng hiệp sĩ lên đường
Mang quê hương trong từng bước chân
Mang hòa bình tình yêu anh chị em đang nguyện cầu trong từng ánh nhìn mắt tủi lệ tuôn
Những ngày mưa rơi giá rét
Những ngày khất thực tình thương
Những ngày cúi xin dân tộc
Anh em ôm được anh em
Chàng hiệp sĩ dáng gầy sương mai làm bạn với cô đơn
Thứ cô đơn không oán thù nhân thế
Thứ cô đơn trị liệu cô đơn
Mang tình yêu giác tuệ đến những nơi giày xéo cơ thể mình
Để ấm áp bao dung để nói lời từ ái
Để loài người tỏ ngộ hận thù không giết được yêu thương
Chỉ yêu thương mới chuyển hóa hận thù
Không bằng gươm đao bạo động
Nhưng mỗi bước chân người dần mở ra tịnh độ trong từng cõi tang thương
Máu xin ngừng đổ
Để thấy hôm nay
Mắt em thêm sáng
Nhìn rõ trời mây
Chàng hiệp sĩ trở về
Không cần đất nước tạ ơn
Xin đừng đãi đằng hào nhoáng
Xin cho mỗi bước bình yên
Nâu sồng quê hương ngời sáng
Sáng trong từng mắt anh mắt em
Những con người tiếp theo thừa hưởng dòng dõi tâm linh huyết thống quê hương
Em ơi, để có tiếng chim hát ca bình yên lũy tre làng
Để thấy trời trong xanh nắng reo ngọt cánh đồng
Xin các em đừng bao giờ quên có vết thương dân tộc
Những thế hệ tiền nhân đã đi qua
Và đã được bao tình thương băng bó chữa lành
Hãy giữ gìn trời xanh cho cánh mai mé rừng hé nở
Cho tim em trọn vẹn bao dung
Tình của mẹ ngàn năm nguyên vẹn
Gởi thương yêu nơi hạt sương trong
Chàng hiệp sĩ bình thường kia ơi
Người sẽ đi về đâu hay đã Vô ưu ngàn năm tự tại
Con vẫn thấy người điềm tọa sáng nay
Và mỗi sáng ngày sau vẫn thế
Vô ưu hé nở tròn đầy.

Đồi Trị Liệu, 2012

 

 

Chùm thơ mừng ngày tiếp nối của Thầy

 

 

TIẾNG CHUÔNG NGÂN

 

“Dừng lại đi con”

Khi tiếng chuông vẫn còn bu-uông, hay binh-boong ngân mãi

Gặp chuông nào thì cũng nên dừng lại

Để trở về với thực tại xung quanh.

 

Những ồn ào triền miên

 Những tính toan nhuốm muộn phiền không dứt

Dừng lại đây  – một phút giây hạnh phúc

Có mặt cho mình, có mặt cho nhau

Tiếng chuông thức tỉnh nhiệm màu

 

Thở chậm, đều và sâu

Nghe thiên nhiên đất trời cùng hòa nhịp

Mình và thiên nhiên là một

Quyện hòa và rong chơi

 

Thở vào – một dòng sông

Sóng bâng khuâng hiền hòa tươi mát

Thở ra tâm thanh thản

Như mây trời nương gió hát  phiêu du.

 

Thở vào – nhẹ nhàng thu

Hôn lên trái na, thị, hồng trong vườn chín rộ

Thở ra – hoa sen nở

Rất an nhiên thanh khiết giữa bùn lầy

 

Thở vào – một mầm cây

Ung dung vươn dưới trời ấm nắng

Thở ra – thong dong bước

Trên con đường hoa trắng níu chân thơm

 

Giản đơn thế thôi – nuôi dưỡng một tình thương

Bằng hơi thở của an vui, hạnh phúc

Tiếng chuông ngân – hay tiếng gọi của Bụt

Đưa ta về gặp được chính ta…

 

(Lương Đình Khoa)

 

 

THẦY TÔI

Thầy tôi mảnh khảnh dáng người
Tuổi xuân gởi chốn cửa thiền mà vui
Đời Người trôi nổi, nổi trôi
Rời Phương Am Bối xứ người độ sinh
Đi vì kêu gọi hòa bình
Cho dân thoát cảnh điêu tàn sinh linh
Ngày đi đầu vẫn còn xanh
Đến nay bao độ xuân tàn, đông sang
Trời phương ngoại, lập Làng Mai
Đạo Bụt Nhập Thế giúp đời lầm than
Thầy dạy quán pháp An Ban
Đại thừa Thủ Ý hiện tiền phút giây
Tịnh Độ nằm trong bàn tay
Hiện pháp lạc trú bây giờ ở đây.
Thầy thong dong khắp đó đây
Gieo mầm hạnh phúc vun bồi thương yêu
Thầy rằng hiểu lớn thương nhiều
Tình thương chuyển hóa hận thù khổ đau
Tình thương là thuốc nhiệm mầu
Không chia giai cấp sắc màu biệt phân
Lời vàng Thầy rất ân cần
Chớ nên lãng phí thời giờ trôi qua
Đời người phút chốc thoáng qua
Sát na tỉnh thức quay về nương ta
Anh em bốn bể gần xa
Cùng nhau thực tập chan hòa nghĩa nhân
Chánh niệm trong mỗi bước chân
Bước đi vững chãi trên hành tinh xanh
Thở vào an lạc tâm hành
Cho từ bi suối dâng tràn thân tâm
Thở ra hỷ xả trong lòng
Cho tim rộng mở cam lồ trào ra
Thực tập chuyển hóa cho ta
Đóa hoa nhân phẩm hương càng tỏa xa
Trời cao đất rộng bao la
Âu là duyên nghiệp một nhà cùng nhau
Lời Thầy khuyên dạy trước sau
Hướng về Tam Bảo ngày ngày thọ ân
Nay con khắc dạ ghi ân
Công Cha nghĩa Mẹ có thân trên đời
Ơn Thầy giáo huấn nên người
Cùng thiện trí thức trau dồi sử kinh
Hạt cơm manh áo nghĩa tình
Bốn ơn mang nặng nghĩa tình đậm sâu
Ân sư khó nhọc công lao
Một đời tu đạo là người thanh cao
Đời nay cho đến ngàn sau
Đạo Bụt Nhập Thế lưu truyền năm châu.
(Chân Lưu Phúc)

Sự thật nhiệm màu

Chính vì năm uẩn tôi còn đây

Nên năm uẩn em còn đó

Băn khoăn chi chuyện còn mất đến đi

Còn là còn cái gì

Mất là mất cái gì

Khổ đau nơi năm uẩn thế nào cũng là những khổ đau mầu nhiệm

Nếu tôi biết thương lấy những đứa em tôi

Tôi ý thức năm nhóm linh thiêng em còn đó

Nên tôi nguyện sẽ làm thật đẹp sự sống tôi

Vì em ơi,

Bao giờ tôi cũng muốn hái tặng em những chiếc lá thu đẹp nhất

Mình và hiện hữu có khi nào không là nhau

Nếu cần em cứ khóc

Cho tâm hồn thơ dại được chở che

Nếu cần em cứ để mình cô đơn

Để tiện dịp em thử bước vào hoang đảo lạnh

Cho chúng ta thành thật một lòng không nghi ngại

Tôi có thể ôm em mà nghe em khóc

Nhưng thế đã được ích chi

Khi năm uẩn tôi vẫn mưa gió quật tơi bời

Nhổ neo thôi

Thuyền ra khơi không ngần ngại

Sông nước trùng dương mênh mông

Biển thức vô tận

Mỗi lần người thuỷ thủ lên đường đều được coi như là một lần cuối

Anh ngắm lá thu lần này nữa thôi

Anh bước đi lần này nữa thôi

Bao nhiêu hùng lực gọi hết về nơi năm uẩn

Lên đường cùng lúc ánh dương lên

Anh khẽ hát:

Vẫn như hôm qua

Tôi chỉ muốn hái tặng em những lá thu đẹp nhất.

(Nguyên Tịnh)

 

Tĩnh lặng là một món quà

Sau giờ công phu tối thứ bảy, toàn thể đại chúng tại tu viện Làng Mai Thái Lan đã bắt đầu thực tập im lặng hùng tráng cho đến sau giờ ăn sáng thứ hai. Đây là một sự thực tập trong mùa an cư của đại chúng trong năm nay. Đồng thời cũng là sự phát nguyện của tất cả mọi người với ước nguyện cho Thầy có nhiều sức khoẻ và cũng là mừng ngày tiếp nối lần thứ 93 của Thầy vào ngày 11/10. Đại chúng đã cùng nhau phát nguyện không sử dụng các thiết bị điện tử, không đọc sách, chơi thể thao mà để thời gian cho sự thực tập thiền hành, ngồi thiền, thiền quán hay uống trà trong im lặng. Im lặng không chỉ là không nói gì mà còn là sự thực tập dừng lại mọi suy tư, dự án ở trong tâm nữa…

Đêm qua trời chuyển mưa, sấm chớp và giông liên hồi. Những cơn gió mạnh thi thoảng lùa vào khung cửa sổ khiến con giật mình thức giấc. Căn nhà mới Green Bamboo Guest House dành cho cư sĩ nữ với sức chứa hơn 200 thiền sinh trở nên quá rộng và thênh thang đối với con và một cô bạn volunteer ở chung phòng. Nhưng có lẽ sau nửa ngày đi đường thấm mệt nên con đã ngủ rất ngon cho đến khi trời chuyển mưa. Khi tiếng chuông đại hồng vang lên thì cũng là lúc cơn mưa ngớt dần. Con đi lên thiền đường lớn cho thời công phu sáng cùng với đại chúng và cảm nhận năng lượng hùng hậu, bình an và ấm áp. Lần đầu tiên con được ngồi thiền trong im lặng với đại chúng lớn trong suốt 60 phút mà không hề cảm thấy mỏi và tê chân. Ngồi ở dọc hành lang thiền đường, con cảm nhận rõ tiếng mưa rơi, gió thổi và chim hót líu lo xung quanh mình. Ngày mới trong trẻo mát mẻ càng giúp cho hơi thở của con mỗi lúc càng trở nên nhẹ hơn và sâu hơn. Rồi sau một lúc, con cảm nhận được nguồn năng lượng chánh niệm hùng hậu của đại chúng trong thiền đường, sự có mặt của Thầy, sự có mặt của những người con thương hiện hữu trong từng hơi thở của con. Và lúc đó trong con khởi lên tình thương và niềm biết ơn vô hạn …

Sau thời ngồi thiền sáng, con ngồi uống trà với quý sư cô ngay tại ban công phòng mình. Khung cảnh thiên nhiên nhìn từ trên cao trong buổi sớm mai thật là tuyệt. Cây xanh bao phủ xung quanh, xa hơn chút là dãy núi Khao Yai có mây trắng bay là đà. Nhìn lên cao là bầu trời trong xanh, chim chóc bay liệng và ca hót líu lo. Các sư cô thương nên mang lại cho con rất nhiều thứ cho một ngày thực tập im lặng hùng tráng. Mì ly, trái cây, bánh kẹo, sữa, hoa, trầm và cả nến. Nhưng đối với con ngày hôm nay món quà đặc biệt nhất mà mọi người tặng cho con chính là sự bình an, tĩnh lặng và tươi mát. Ngồi uống trà trong im lặng với nhau suốt một giờ đồng hồ nhưng con không hề thấy chán. Ngược lại chính trong khoảnh khắc đó con thấy sự sống được nâng niu và trân quý biết bao. Có những chú chim non hót líu lo, bay lượn và xà xuống đậu trên mái ngói như muốn cùng con thưởng thức cuộc sống. Ngay cả khi đại chúng khất thực xong đồ ăn sáng và ngồi vào bàn để thực tập ăn cơm trong im lặng, những chú chim cũng bay vào xà xuống bàn gõ gõ đớp đớp. Con thấy mình không còn là một thực thể riêng biệt nữa. Nhìn vào bát cơm sáng nay, cả một vũ trụ bao la có trong mình. Con cảm nhận không còn một ranh giới nào giữa con người, chim chóc, núi rừng và cỏ cây đất đá nữa. Con hạnh phúc khi cảm nhận niềm vui đang đến tự bên trong, lặng lẽ giản dị nhưng bền vững…

Sáng nay trời mưa nên đại chúng không đi thiền hành. Do đó sau khi ăn sáng xong, con lặng lẽ lên lại thiền đường để lạy Bụt và thực tập đi kinh hành. Con đã để cho bàn chân trần thực sự tiếp xúc với cái mát lạnh của nền gạch trong thiền đường. Mỗi bước chân là một hơi thở và cũng chính là sự trở về nhà. Trong thiền đường sáng nay, con thấy Bụt, gia đình tâm linh và gia đình huyết thống đang đi cùng con. Con đã mời mọi loài hữu tình hay vô tình có trong con, người thì đang bận rộn lăng xăng với những lo toan dự án trong hiện tại, kẻ thì vất vả với những đau khổ lỗi lầm trong quá khứ hay mộng mơ ảo tưởng tới tương lai, tất cả dừng lại cùng với con để  thưởng thức cuộc sống mầu nhiệm qua từng hơi thở, từng bước chân, đồng thời ý thức rõ ràng sự có mặt của nhau để trân quý và biết ơn. Khi năm vóc sát đất quỳ lạy xuống trước bàn thờ Bụt, bàn thờ tổ tiên tâm linh và huyết thống, lòng con xúc động vô cùng. Năng lượng tràn trề đi lên trong con và chí nguyện sống sâu sắc, sống hết lòng, tập nhìn sâu để hiếu thấu và yêu thương…

Và thế là con đã được sống trọn vẹn hơn một ngày trong bầu không khí tĩnh lặng ấy của tu viện. Chỉ có tiếng chim hót, có tiếng mưa rơi, tiếng lá xào xạc và tiếng chuông ngân vang… Trong sự tĩnh lặng kỳ diệu đó, con đã hơn một lần bắt gặp một thứ âm thanh rất diệu kỳ, rất mầu nhiệm. Đó chính là hơi thở, là cuộc sống, là cái bản thể trong trẻo tinh khiết của chính con…

Ngày hôm nay là một ngày đặc biệt.

Hoa vạn thọ

Ngày hôm kia hoa vạn thọ được các thầy và sư cô ban thị giả đặt khắp nơi xung quanh Thất Nhìn Xa để mừng ngày tiếp nối của Thầy. Con đường đi lên Cốc sáng hôm ấy thật là yên tĩnh và mát mẻ. Con chậm rãi bước nhẹ nhàng và thích thú nghe tiếng lá xào xạc dưới chân mình. Bất giác con mỉm cười nhớ lại kỷ niệm mùa hè 2012 mấy Thầy trò đi trên phố ở học viện Phật học ứng dụng Châu Âu.  Thầy dạy không cần đợi đến tu viện hay khóa tu mới thực tập đi thiền hành. Sự thực tập ở trường học, công sở, phố thị hay trong gia đình mới chính là đạo Bụt đi vào cuộc đời…

Con xúc động muốn khóc khi Thầy đưa mắt nhìn con thật lâu lúc thấy con bước vào phòng. Con quỳ xuống bên Thầy rồi cùng với sư cô thị giả hát theo bài hát Tìm nhau được phát ra từ máy nghe nhạc đang mở ở trong phòng.

“Chiều hôm qua bước đi một mình
Con thấy lá thu rơi đầy lối cũ
Và vầng trăng treo trước ngõ
Đã xuất hiện bất thần
Như bóng hình người cũ
Rồi tinh đẩu xôn xao báo tin

Là Thế Tôn đã có mặt nơi này…”

Trưa hôm ấy, con lặng lẽ ngồi nhìn Thầy ăn cơm. Thầy tự tay múc từng muỗng thức ăn đưa vào miệng và chậm rãi nhai, mắt khép hờ thưởng thức. Thi thoảng nhìn ra ngoài trời ngắm núi xanh mây trắng và những đóa vạn thọ hoa cúc khoe sắc vàng rực trong nắng trưa. Thi thoảng Thầy lại nhìn con cũng đang thưởng thức chùm nho ngọt sư cô đưa. Rồi con bật cười nhớ lại buổi trưa ở Xóm Mới cuối khoá tu mùa hè 2014. Chùm nho hôm nay cũng như miếng táo ngày nào Thầy đưa cho con, đôi mắt hiền từ xen lẫn chút hài hước mà nói “Thầy tặng con một mảnh trăng nè”. Chùm nho hôm nay con ăn là những vì sao Thầy nhỉ?
Ngày rời Làng, con biết ơn vô cùng nhân duyên đã cho con một tuần lễ tĩnh lặng và bình an quá đỗi. Con biết rằng có gần 500 thiền sinh từ khắp nơi hôm nay về Làng để cùng với đại chúng mừng ngày tiếp nối của Thầy. Con kính chào Thầy con về lại với tăng thân nơi quê nhà để cùng có mặt cho nhau trong ngày vui này của gia đình tâm linh…

Con có một vị Thầy tâm linh đã dẫn lối cho con trong cuộc đời này. Và hằng năm, cứ đến tháng 10 con lại hạnh phúc khi biết rằng Thầy vẫn còn đó cho con!

Làng Mai Thái Lan, 5/10/2018
Chân Xuân Tản Viên

Thông điệp Ngày Tiếp nối

Các con đã tiếp nối Thầy được bao nhiêu?

Ở Làng Mai, chúng ta không nói “Mừng ngày sinh nhật” mà nói “Mừng ngày tiếp nối” (Continuation Day). Tiếp nối cái gì? Và ai tiếp nối ai? Hôm nay chúng ta quán chiếu về sự tiếp nối của thầy trong thầy và trong các con của thầy, xuất sĩ cũng như cư sĩ. Các con tiếp nối thầy nghĩa là sao? Sự tiếp nối có hai phần, nơi thân tâm mình và nơi thân tâm những người được tiếp nhận những gì mình truyền trao. Bụt có dạy về trao truyền như sau: người trao truyền, người nhận trao truyền và vật được trao truyền là một, tam luân không tịch. Không có chủ thể trao truyền, không có người nhận trao truyền, chỉ có sự trao truyền, thế thôi.

Các con phải thực sự tiếp nối thầy trong từng hơi thở và từng bước chân. Suốt sáu mươi năm qua thầy đã liên tục trao truyền những kinh nghiệm, những thao thức và những hoài vọng của thầy cho bao nhiêu người qua cách thầy nói năng, đi đứng, ăn uống và chấp tác trong chánh niệm, qua những cuốn sách thầy đã viết, qua những lời thầy thuyết giảng, hoặc trước quần chúng đông đảo, hoặc cho từng nhóm nhỏ hoặc cho từng người. Các con đã tiếp nối thầy được đến bao nhiêu rồi?

Hôm nay chúng ta hãy sống với nhau cho có hạnh phúc, hãy đi đứng, nói cười và tiếp xử với nhau cho có hạnh phúc thì đó mới chính là good continuation (sự tiếp nối thực sự). Điều đó phải xảy ra từng ngày. Đám mây sẽ không có đau buồn gì khi nó không còn mang hình tướng của đám mây tại vì nó biết rằng nó đã thành mưa, mà thành mưa thì nó vẫn tiếp tục đời sống phụng sự của nó. Và khi đám mưa không còn nữa thì mình lại thấy có dòng suối và dòng suối lại tiếp tục sứ mạng của cơn mưa. Và vì vậy cho nên không có cái gì chết, không có cái gì mất đi cả.

Tiếp nối vô tướng

Chúng ta thường kẹt vào hình tướng quen thuộc. Do vậy ta hay khóc thương khi thấy cái hình thức quen thuộc ấy không còn nữa. Khoa học bây giờ có thể dùng phép cloning để có thể tạo ra một ngàn đứa bé giống hệt như hồi Thầy còn bé. Chỉ cần lấy ra vài ngàn tế bào của thầy là làm được chuyện này. Một ngàn đứa bé ấy sẽ giống nhau như đúc và giống như thầy hồi còn bé…Các vị có thể thích thú nhìn các cậu bé ấy chơi đùa, nói cười rất giống Thầy hồi còn bé. Nhưng những cậu bé ấy không phải đích thực là thầy, dù trong mỗi đứa cũng có những hạt giống tốt và những hạt giống không tốt của thầy. Nếu chúng không gặp minh sư, không có môi trường tu học, không đi qua những thử thách như thầy thì chúng cũng không phải là sự tiếp nối đích thực của thầy. Nhưng nếu quý vị, trong mỗi bước chân, trong mỗi hơi thở mà có pháp lạc của thầy thì quý vị trên hình thức tuy mặt mũi không giống thầy mà trong nội dung lại là sự tiếp nối đích thực của thầy. Cho nên pháp môn vô tướng trong tam giải thoát môn là rất quan trọng để chúng ta nhận diện được thế nào là sự tiếp nối đích thực.

(Trích Thông bạch Ngày Tiếp nối 2012)

Con đường hạnh phúc

(Pháp thoại ngày 24.11.2013 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ , Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2013-2014)

 

Thế Tôn là tình yêu đầu

Thế Tôn là tinh yêu tinh khôi

Nghĩa là sẽ không bao giờ

Sẽ cần tình yêu cuối

Người là dòng sông tâm linh

Tuy đã từng chảy qua

Hàng triệu kiếp luân hồi

Nhưng luôn luôn còn mới.

          Tìm nhau (thơ Nhất Hạnh)

Mục đích của sự tu tập

Mục đích của sự tu tập là: trước hết để chế tác an, hỷ và lạc và sau đó là để xử lý, chăm sóc khổ đau. Ta phải học làm cho được hai việc đó. Chế tác là làm ra (generating, producing, fabricating). Cái đó không có thì ta phải làm ra, giống như nếu không có lúa thì nhà nông phải làm ra lúa, nếu không có đậu hũ thì ta phải chế tác ra đậu hủ. Là người tu ta phải chế tác được an , hỷ  và lạc . Muốn chế tác an, hỷ và lạc thì phải có nguồn năng lượng niệm , định   và tuệ . Vì vậy trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, làm việc, ta phải chế tác được niệm, định và tuệ và với năng lượng đó ta có thể chế tác được an, hỷ và lạc. Trong khi quét nhà ta quét như thế nào để có niệm, định và tuệ. Trong khi chải răng ta phải chải như thế nào để có niệm, định và tuệ. Trong khi đi cầu hay đi tiểu ta cũng phải có niệm, định và tuệ. Có ba loại năng lượng đó thì tự nhiên ta có hỷ, lạc và an. Có những người tu nhiều năm nhưng không thay đổi, không có an lạc, hạnh phúc tại vì họ không biết chế tác niệm, định, tuệ. Nếu ta là người biết tu thì mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi hành động đều có thể chế tác được niệm, định và tuệ và vì vậy an, hỷ và lạc có mặt.

Mục đích thứ hai của sự thực tập là xử lý khổ đau, bức xúc và bế tắc của mình. Muốn xử lý khổ đau ta phải nhận diện, ôm ấp, nhìn sâu vào khổ đau và bắt đầu chuyển hóa khổ đau, cho nên ta cũng cần phải sử dụng ba loại năng lượng niệm, định và tuệ. Có thể nói niệm, định, tuệ là nguồn suối của hạnh phúc. Niệm, định, tuệ là năng lượng có thể giúp ta xử lý và chuyển hóa khổ đau.

Hạnh phúc chính là con đường

Học Tứ Diệu Đế ta có quan niệm về mục đích và con đường để đi tới mục đích. Sự thật thứ nhất của Tứ Diệu Đế là khổ  , sự thật thứ hai là tập 集. Có một lối sống tạo ra khổ đau, đó là cách sống bừa bãi không có chánh niệm, không có định và tuệ. Cách sống đó đưa tới khổ đau. Có thể nói tập là con đường đưa tới khổ đau. Sự thật thứ ba là diệt tức là sự vắng mặt của khổ đau, sự chuyển hóa của khổ đau. Sự chuyển hóa của khổ đau là sự có mặt của an lạc. Diệt là lạc  . Sự thật thứ ba là an lạc, hạnh phúc. Cho rằng Tứ Diệu Đế chỉ nói về khổ là không đúng, Tứ Diệu Đế nói về đau khổ và hạnh phúc. Hai sự thật đầu nói về khổ và con đường đưa tới khổ đau. Sự thật thứ ba nói về hạnh phúc tức khổ diệt và sự thật thứ tư nói về con đường đưa tới hạnh phúc tức là đạo . Đạo cũng là một con đường, nhưng là con đường đưa tới hạnh phúc thay vì đưa tới khổ đau. Làng Mai không dùng chữ con đường đưa tới khổ đau (the way leading to suffering) và con đường đưa tới hạnh phúc mà dùng chữ con đường khổ đaucon đường hạnh phúc, tại vì chữ đưa tới phản ảnh đường lối tư duy lưỡng nguyên. Ta tưởng tượng ra một con đường rất xa, rất dài, đi rất cực nhọc để tới một mục đích gọi là hạnh phúc, an lạc. Trong cách suy tư của ta thì con đường chỉ là con đường và hạnh phúc chỉ là hạnh phúc, vì vậy trong khi đi trên con đường ta chưa có hạnh phúc, phải đi hết con đường rồi ta mới có hạnh phúc. Con đường là một cái khác và hạnh phúc là một cái khác. Con đường là phương tiện (means), còn hạnh phúc là cứu cánh (the end). Đó là một sự sai lầm. Ta cứ tưởng tượng con đường phải có chông gai, đau khổ, khó nhọc rồi mới đi tới được chỗ có hạnh phúc. Đó là cách suy tư lưỡng nguyên như trong câu ca dao:

Rủ nhau đi cấy đi cày

Bây giờ khó nhọc tới ngày phong lưu

Trên đồng cạn dưới đồng sâu

Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

Nói vậy là trong khi đi cấy đi cày ta không có hạnh phúc. Trong khi đó thì đi cấy đi cày ta có thể có hạnh phúc, tại vì ta có ruộng, vợ chồng đang còn ở chung với nhau, ta có con trâu để đi cày. Chồng vợ làm việc chung và có con trâu để cày là có hạnh phúc. Trong khi cày cấy mình đã có hạnh phúc rồi. Nhiều người không có vợ hay chồng ở chung, không có ruộng, không có con trâu để cày. Câu “bây giờ khó nhọc đến ngày phong lưu” là không đúng. Đây là cách tư duy lưỡng nguyên.

Con đường chính là hạnh phúc. Con đường Bát Chánh Đạo không phải là con đường gian khổ, khó khăn, khổ hạnh. Đó là con đường mà trên đó mỗi bước chân đều có hạnh phúc. Hạnh phúc tức là con đường. Đó là giáo lý của Làng Mai. Hạnh phúc đi tới tột cùng gọi là Niết bàn, là diệt (niroda). Theo cách nhìn của Làng Mai thì đạo là diệt, con đường hạnh phúc tức là hạnh phúc, con đường khổ đau tức là khổ đau. Chúng ta có câu thư pháp: Không có con đường đưa tới bình an, bình an chính là con đường (There is no way to peace, peace is the way). Những phương tiện đưa tới hòa bình phải chính là hòa bình. Sử dụng bạo động và súng đạn để đưa tới hòa bình là sai tại vì phương tiện sử dụng không phải là hòa bình. Phải bỏ bom, phải bắn giết thì mới có hòa bình là không đúng, tại vì nếu phương tiện bạo động thì mục đích cũng là bạo động. Không có con đường nào đưa tới hòa bình, hòa bình chính là con đường. Mỗi bước chân đi trên con đường phải là hòa bình. Mỗi lời nói, mỗi tư tưởng, mỗi hành động của ta phải có tính chất hòa bình trong đó. Nếu ta phải đau khổ cạnh tranh để có hạnh phúc là không đúng. Trên con đường để có hạnh phúc mỗi bước chân phải là hạnh phúc. Cứu cánh và phương tiện phải là một.

Nói tới Tứ Diệu Đế cũng vậy: Không có con đường đi tới Niết bàn, Niết bàn chính là con đường (There is no way to Nirvana, Nirvana is the way). Niết bàn là bản tính không sinh không diệt, không có không không. Tiếp xúc được với tính không sinh không diệt, không có không không, ta còn sợ hãi nữa. Mỗi bước chân đi trên con đường có thể tiếp xúc được với tính không sinh không diệt, không có không không. Hòa bình, hạnh phúc, Niết bàn có trong từng bước chân mà không phải đến cuối đường mới có. Khi học về Bát Chánh Đạo, Làng Mai nói: Đạo đế chính là diệt đế. Tập đế chính là khổ đế.

 

Ngồi thiền là hạnh phúc, là giác ngộ

Chúng ta đừng nghĩ rằng ngồi thiền là để có hạnh phúc, giác ngộ. Ta phải thấy ngồi thiền là hạnh phúc, là giác ngộ rồi. Ngồi thiền mà phải gồng mình khổ đau là không đúng. Ta phải ngồi như thế nào mà trong khi ngồi ta có an, có hỷ, có lạc. Ta phải thành công trong khi ngồi thiền. Nếu không thì không phải là ngồi thiền mà là ta đang chịu trận, ta đang ngồi trong hầm tối. Đây là một sự thách thức: Trong khi ngồi thiền ta phải có an lạc, giải thoát. Ngồi thiền là thời gian dễ có an lạc, giải thoát nhất. Ta ngồi như thế nào, thở như thế nào, mỉm cười như thế nào để trong nửa giờ ngồi thiền giây phút nào ta cũng có an, hỷ và lạc. Đó là sự thực tập, nếu chưa làm được thì ta phải ráng làm cho được. Ngồi thiền là một cơ hội. Sau này anh, chị sẽ thấy ngồi thiền là một ân huệ tại vì nhiều người không có cơ hội được ngồi yên trong cuộc đời để chăm sóc thân và tâm của mình. Trong khi ngồi thiền ta có thì giờ để ngồi yên và chăm sóc thân và tâm của mình.

Trong khi ngồi thiền ta phải chế tác được an, hỷ và lạc. Nếu có khổ đau đi lên ta phải biết xử lý khổ đau. Ngồi thiền là một cơ hội, là quyền lợi của người tu. Là người tu ta phải đòi cho được cơ hội đó. Tôi đi tu để làm gì? Không lẽ để làm việc suốt ngày? Tôi phải có giờ để ngồi thiền. Đó là quyền lợi của ta nên ta phải trân quí giờ ngồi thiền. Ta ngồi thiền như thế nào để có an, hỷ và lạc. Nếu chưa biết cách thì ta phải học từ sư anh, sư chị, sư em. Ta phải làm cho được, nếu không thì uổng một đời tu. Ta không thể nói: Tôi xuất gia là để phục vụ tăng thân chứ không phải để ngồi thiền hay đi thiền hành. Phục vụ tăng thân cũng hay nhưng mục đích chính của người tu là tu để có hạnh phúc, để xử lý được khổ đau của mình.

Khi đi thiền cũng vậy, ta đi thiền để làm gì? Đi thiền để không làm gì cả, ta phải tìm thấy hạnh phúc trong khi đi thiền. Mỗi bước chân là hạnh phúc, ta phải làm cho được. Niệm, định, tuệ giúp cho ta làm được điều đó. Leo dốc, xuống dốc hay đi trên cỏ, đi trên đá ta cũng có thể có hạnh phúc. Đi từ cư xá tới thiền đường hay tới nhà ăn ta đều có hạnh phúc. Hồi sáng tôi làm những động tác chánh niệm và nhờ có niệm những động tác đó đem hạnh phúc tới cho tôi: “A, mình còn đứng được một chân và chân kia đưa ra đưa vô được. Thầy Thanh Từ bây giờ không đứng được như vậy. Thầy đi phải có hai người đỡ hai bên”. Đó là niệm, thấy rằng mình còn may mắn, chân mình còn khỏe. Hòa thượng Minh Châu bây giờ đâu còn đi thiền được nữa, hình hài của Ngài đang nằm trong tháp. Đó là niệm, là nhớ lại. Ta còn trẻ, ta không thể tượng tượng được một ngày kia ta ngồi trên xe lăn. Sự thật là các sư chú, các sư cô mới 19, 20 tuổi nhưng thế nào cũng phải già, rồi một ngày nào cũng  phải ngồi xe lăn. Thấy được điều đó là niệm, là tuệ. Thấy được thì tự nhiên có hạnh phúc. Hạnh phúc không phải là có tiền ra siêu thị mua đồ, hạnh phúc là nhờ có niệm, định và tuệ.

Trong khi ngồi thiền, đi thiền mà có tuệ thì ta có thể chế tác hỷ, lạc và an rất dễ. Ta trân quí từng bước chân vì biết rằng mai mốt ta sẽ không có được như bây giờ. Ta đếm những ngày những giờ còn lại của mình, tại vì không phải những người già mới chết mà người trẻ cũng chết rất nhiều. Nhiều người trẻ trên thế giới mới 24, 25 tuổi đã chết rồi. Vô thường là một cái niệm, là một cái định, cái tuệ.  Nhờ niệm vô thường nên ta trân quí những ngày giờ còn lại của mình và ta có hạnh phúc. Bí quyết của hạnh phúc rất đơn sơ. Có chánh niệm thì ta có định tâm, có định tâm thì ta có tuệ. Thấy được điều đó, ta biết trân quí hình hài của mình, biết trân quí hoàn cảnh và điều kiện mà ta đang có để được hạnh phúc.

Trong khi đi thiền mỗi bước chân đều có hạnh phúc, mỗi bước chân đều có thể nuôi dưỡng mình. Mỗi ngày có một giờ đi thiền chung với đại chúng là quyền lợi của người tu. Ta phải đòi cho được quyền lợi đó. Nếu ta trốn đi thiền thì đó là sự thiệt hại cho ta. Hơn nữa mỗi ngày ta không phải chỉ có một giờ để đi thiền. Theo nguyên tắc của Làng Mai thì đi đâu ta cũng phải đi theo kiểu thiền hành. Đi tới phòng tắm, đi về phòng ngủ hay đi tới thiền đường ta có quyền đi một cách thong dong, thảnh thơi để chế tác hỷ và lạc. Đó là quyền lợi của chúng ta. Vì vậy giải thoát, giác ngộ, Niết bàn không phải là những mục đích mà ta chỉ tới được trong tương lai. Nó phải có mặt ngay trong giây phút hiện tại. Sau này chúng ta sẽ học: Phải tìm Niết bàn ngay trong sinh tử, phải tìm hạnh phúc ngay trong khổ đau và phải tìm thảnh thơi ngay trong sự bận rộn. Nếu có niệm, định và tuệ thì tự nhiên cái mà ta cho là bận rộn sẽ không còn là bận rộn nữa mà nó là niềm vui. Ta đang làm thiền đường, đang quét nhà hay đang nấu bếp, trước đây ta cho là bận rộn nhưng khi có niệm, định và tuệ thì công việc đó trở thành niềm vui của ta. Được nấu nước pha trà, được chuẩn bị thiền đường cho đại chúng, được ngồi thiền là hạnh phúc mà không còn là sự bận rộn nữa tại vì mỗi hơi thở, mỗi bước chân, mỗi hành động đều có chánh niệm. Ở Làng Mai chúng ta nói con đường hạnh phúc. Khi đã thọ Năm Giới thì chúng ta đi trên con đường Bát Chánh. Con đường Bát Chánh là con đường hạnh phúc. Mỗi bước chân đều phải có hạnh phúc, còn nếu ta nghĩ rằng con đường Bát Chánh là một cái gì ta phải cực nhọc lao tác mới có được là không đúng. Đó là con đường hạnh phúc mà không phải là con đường đưa tới hạnh phúc. Con đường và hạnh phúc là một.

Mùa thu 2018

Thu đẹp đã về rồi.

 

Chữ Nghiệp trong đạo Bụt

(Trích từ sách “Con đã có đường đi” của Sư Ông Làng Mai)

Trong đạo Bụt, nghiệp gồm có: ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi ta có một tư duy, một ý nghĩ, một tư tưởng đầy tha thứ bao dung thì gọi là thiện ý nghiệp. Lúc ấy ta đang tạo một cái nghiệp về lòng từ bi. Chỉ riêng ý nghiệp lành thôi cũng đã đủ mạnh rồi, chưa cần nói lời ái ngữ, hành động dễ thương thì mình đã đang tự chữa lành cho mình, cho gia đình, cho đất nước và cho thế giới.

Nghiệp có nghiệp chung và nghiệp riêng. Ví dụ chúng ta cùng đến Làng Mai tu tập với nhau là nghiệp chung, vì chúng ta có ước muốn giống nhau là muốn được tu tập và chuyển hóa. Cái nghiệp chung được làm bằng những nghiệp riêng, và cái nghiệp riêng tạo thành nghiệp chung. Nghiệp chung và nghiệp riêng tương tức với nhau. Bụt xác định ta có tự do ý chí, có khả năng chuyển nghiệp. Năng lượng chánh niệm có thể giúp mình chuyển nghiệp. Ban đầu, chúng ta có cảm tưởng ta là một nạn nhân của cái màng lưới nghiệp. Nhưng nếu biết sử dụng chánh niệm, chánh định và chánh kiến thì ta có thể bắt đầu thay đổi. Cần biết là có thể có thêm yếu tố tình cờ, nhưng không nhiều. Hành động trên cái “ một ” có tác động trên cái “ tất cả ” và cái “ tất cả ” có tác động trên cái “ một ”. Ví dụ, khi mỉm được một nụ cười thì mình khoẻ mà thế giới cũng nhờ đó mà được khoẻ. Mình có chánh niệm và chánh kiến thì hành động mới đưa tới giảm thiểu khổ đau và kiến tạo an lạc.

Bụt ân cần dạy dỗ mình phải ráng tập chánh tư duy, nhưng ta chỉ có thể tư duy đầy từ bi khi mình thấy mình trong người đó. Nếu chỉ thấy người đó là một người khó chịu, dữ dằn thì sao mà mình từ bi được? Thành ra phải thấy mình với người đó là một, mình có ở trong người đó, “tam luân không tịch”. Mình với người đó không khác. Giống như tay trái với tay phải, mình là một thực thể với người đó. Khi thấy được như vậy thì mình mới tha thứ, mình mới nghĩ đầy từ bi, đầy thương yêu đối với người đó được. Còn nếu thấy người ta dữ như quỷ, còn mình thì đẹp đẽ như thánh thần, thì chẳng thể nào mà thương được. Cái nhìn nhị nguyên đó không phải là cách nhìn của một người học đạo Bụt, không phải là cách nhìn của một người hành theo con đường Bụt dạy. Phải đi về hướng hiểu và thương, đó là hướng đi của một người tỉnh thức. Điều này không ai ép mình được, nếu bị ép thì không thể thành công. Mình phải thấy được mình là người đó với những khó khăn với những khổ đau. Thấy được thì thương liền, không cần phải cố gắng gì hết.

Điều này không khó, quý vị hãy thử làm đi. Nghĩ tới những người không dễ thương nhất trong cuộc đời mình, và cứ thương. Hãy tập thấy mình với người đó là một, tập nhìn người đó với những khó khăn của người đó; với những khổ đau, dằn vặt của người đó, lúc ấy tình thương sẽ tới một cách rất tự nhiên. Nhờ có tình thương nên những tư duy, hành động, nói năng của mình sẽ rất tự nhiên đi về  hướng từ bi mà không cần phải cố gắng và mình không còn buồn bã, u sầu, héo hắt nữa vì mình là người hiến tặng thương cho sự sống.

Hãy tư duy về sự tương tức, sở dĩ người đó như vậy nên mình mới như vậy, người đó hành xử như thế này nên mình mới vụng về như thế kia. Có được tư duy tương tức, tương nhập ấy thì mình mới có thể chấm dứt giận hờn, mở lòng ra tha thứ được; mới nói lời ái ngữ được. Lúc này những lời nói thân ái của mình được thốt ra một cách rất tự nhiên mà không gượng ép, không dối lòng. Như vậy là mình đang tạo dựng những nghiệp lành. Khi nói tới nghiệp người Việt mình thường cho rằng đó là những quả báo xấu. Nhưng không phải như vậy. Nghiệp là những thói quen, mà thói quen thì có thói quen tốt và thói quen xấu. Khi nghĩ những điều lành (cảm thông, thương yêu, tha thứ…) tức là mình đang tạo ra ý nghiệp lành. Khi mình nói những lời dễ thương, đem lại sự tự tin, an vui và hy vọng cho người khác tức là mình đang tạo khẩu nghiệp lành. Khi mình làm những việc tốt, mang lợi lạc tới cho những người xung quanh tức là mình đang tạo thân nghiệp lành. Nếu chỉ chế tác toàn ý nghiệp, thân nghiệp, khẩu nghiệp đi về hướng thiện thì nghiệp báo của mình rất đẹp. Nhờ những nghiệp lành đó nên mình được sinh ra trong cõi bình an, được gặp và thân cận với những bậc thiện tri thức. Còn nếu mình suy nghĩ điều ác; nói lời thô tục, dữ dằn; làm những việc gây khổ đau cho người khác thì mình sẽ phải hứng chịu quả báo xấu. Mỗi lời nói, mỗi hành động, mỗi tư duy một khi đã phát khởi thì lập tức tác thành quả báo dù rằng mình không nói ra, dù rằng không ai biết nhưng mình lãnh nhận quả báo rất đương nhiên. Quả báo lành hay quả báo dữ tùy theo nhân lành hay nhân dữ mà mình đã gieo trồng.

Nếu lắng nghe và hành theo lời Bụt dạy thì ta sẽ kiến tạo được những quả báo đẹp đẽ. Hồi nhỏ, khi học về y báo và chánh báo tôi hiểu rất mù mờ, chỉ hiểu trên bề mặt danh từ. Nhưng càng thiền quán tôi lại càng thấy rõ ràng rằng tư duy, lời nói, hành động của mình có hai phần rõ rệt, đó là y báo và chánh báo:

–          Chánh báo là bản thân mình, tức là dáng người, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, các bộ phận cơ thể, khối óc, tư duy, trình độ học vấn …

–          Y báo: là môi trường xung quanh như mình sinh ra trong gia đình đó, xã hội đó, đất nước đó, địa cầu đó…

Chiếc lá xanh vừa mới sinh ra trên cành cây vào mùa xuân là một biểu hiện mới của cái lá, đó là chánh báo của cái lá. Còn những thứ xung quanh như cái cây, nước, đất, không khí, mưa… là y báo của chiếc lá. Bạn cũng vậy, bạn có thân thể này, mang cái tên này nhưng đó chỉ là tên tạm thôi, đừng tưởng đó là tên thật. Với những điều kiện đó thì mình mang cái tên đó, nhưng phải biết rằng trong cái tên này có cả ba mẹ, ông bà, tổ tiên chứ không phải cái tên nằm riêng độc lập đâu. Cho nên mình là chánh báo của mình mà cũng chính là y báo của mình. Đừng có nói rằng “Tôi là cái thân thể này, mẹ tôi sinh ra tôi làm chi, để tôi phải khổ, ghét quá” hay là “Sao tôi không sinh ra trong gia đình tử tế hơn, mà lại sinh ra trong gia đình này, ai cũng dữ dằn, làm khổ nhau”… Đó là tại vì mình cũng dữ dằn, mình cũng hành xử không dễ thương nên kết quả mới sinh vào gia đình không dễ thương. Thành ra mình chính là môi trường của mình. Đó là một sự thật không thể chối cãi được. Điều này mình phải xác thực bằng chính mình, phải quan sát và nghĩ xem có đúng hay không.

Nhà xuất bản Parallax ở Mỹ đã phát hành một cuốn sách của tôi với tựa đề “The World We Have”(Thế giới mà chúng ta đang có). Chúng ta chỉ có một thế giới này để sống thôi. Tựa đề của cuốn sách được nhà xuất bản lựa chọn. Có người nói rằng nên để “The World We Are” tức là “Thế giới mà chúng ta là” thì đúng hơn. Vì khi nghĩ rằng “đang có” có nghĩa là mình riêng và thế giới riêng, còn “thế giới mà chúng ta là” có nghĩa là mình vừa là chánh báo, vừa là y báo. Vì vậy tôi muốn các bạn hãy để vài phút thiền quán thật sâu, không những mình gửi tình thương tới cho người làm khổ mình, để có những tư duy rất từ bi đối với người đó, mà còn viết thư cho người đó, điện thoại cho người đó. Trước hết nên nói chuyện với người đó trong tâm của mình, đối xử với thân và tâm mình cho đàng hoàng. Quý vị phải hứa với y báo của mình, tức là môi trường của mình rằng mình phải sống làm sao cho xứng đáng với môi trường mà mình đang sống. Quý vị phải nuôi dưỡng địa cầu, nuôi dưỡng môi trường sống. Từ hôm nay, khi mà quý vị đi, quý vị nhìn mọi sự vật như là mình, bụi tre đó là mình, không khí đó là mình, mây đó là mình, cây này là mình, và mình phải có trách nhiệm che chở, gìn giữ.

Ở Lộc Uyển, quý thầy, quý sư cô có thể làm ra điện từ năng lượng mặt trời để sử dụng, họ không cần điện của thành phố. Các thầy các sư cô lấy năng lượng mặt trời ở California để dùng điện thoại, máy tính, đèn điện trong các phòng, có khi còn dư điện để tặng lại thành phố nữa. Họ cũng có những ngày không sử dụng xe hơi để tránh làm ô nhiễm bầu khí quyển. Họ tìm được những loại xe hơi chạy bằng dầu cặn, tức là dầu thực vật sau khi chiên xào thải ra và đem đi lọc rồi dùng thay xăng. Mỗi tuần ở các tu viện của Làng Mai chúng tôi có một ngày không sử dụng xe hơi. Nhiều bạn thiền sinh tới đây tu tập cũng bắt chước chúng tôi, hứa rằng trong tuần cũng thực tập một ngày không sử dụng xe và họ cũng bắt đầu tập ăn chay 15 ngày trong tháng hoặc giảm 50% lượng thức ăn động vật trong mỗi bữa ăn. Họ làm như vậy chẳng phải là để được lòng của Bụt, tại vì phần lớn họ là người theo Thiên Chúa giáo, mà họ làm như vậy là có lợi cho chính họ.

Mình là chánh báo nhưng cũng là y báo. Mà y báo là quả địa cầu này nên ta chăm sóc cho quả địa cầu cũng chính là chăm sóc mình. Trong khi súc miệng, rửa mặt có nhiều người cứ để cho nước chảy tràn lan. Nhiều khi rửa một cái ly mà mình mở vòi nước quá mạnh. Rồi đang rửa lại bỏ đấy đi lấy cái ly khác để cho nước chảy ròng rất là uổng phí. Đừng nghĩ rằng nước rẻ, đừng nghĩ rằng mình trả tiền thì mình có quyền sử dụng thoải mái. Nước cũng là tài nguyên của địa cầu, phí phạm nước là phí phạm tài nguyên của địa cầu. Để có được những giọt nước trong lành ấy phải mất công sức của biết bao nhiêu người, bao nhiêu tài nguyên khác góp vào như: điện, xăng, dầu, gang, thép…

Chỉ cần nhận ra điều này rồi thực tập tiết kiệm lại mọi thứ: điện, nước, đồ ăn… là đã làm một hành động thương yêu đích thực rồi. Đi ra khỏi phòng phải tắt đèn, đó là thực tập yêu thương. Hãy mời Bụt biểu hiện trong mình bằng những hành động chánh niệm, tư duy chánh niệm, sử dụng chánh niệm. Đừng tìm Bụt ở ngoài, Bụt ở trong mình. Chánh niệm chính là Bụt. Bụt thì đi đứng rất đàng hoàng, ngồi rất đàng hoàng, hành xử rất đúng mực.

Cứ mùa hè đến, tại Làng Mai mỗi tuần có một ngàn người tới tu tập trong suốt bảy ngày. Trong bốn tuần lễ, bốn ngàn người đó không ăn thịt, cá, trứng, sữa. Thành ra trong một tháng có biết bao nhiêu con gà, con bò, con lợn được cứu sống. Không ăn trứng thì người ta sẽ hạn chế chăn nuôi mà hạn chế chăn nuôi thì sẽ giảm thiểu được các chất thải (phân của gia súc gia cầm), một nguyên nhân của hiện tượng hiệu ứng nhà kính, hâm nóng địa cầu.

Vì vậy trong một tuần, mình có năm ngày đi làm, một ngày cuối tuần đi mua sắm và ngày còn lại không sử dụng xe thì cũng không sao hết, mà đó là một hành động rất từ bi.

Chúng ta phải biết nghĩ tới các thế hệ con cháu của ta. Đừng để đến lúc con cháu ta không còn không khí để thở, không còn điện để dùng, không còn nước để uống. Như vậy là mình đã đoạn tuyệt sự sống của con cháu mình. Mà con cháu mình chính là mình đó. Thành ra sử dụng các nguồn tài nguyên một cách chánh niệm tức là mình che chở cho địa cầu.