Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 02 tháng 07 năm 1998 tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)

Anuradha dịch là A Nậu La Độ. Kinh A Nậu La Độ chứ không phải là A Na Luật Đà. A Na Luật Đà tức là Anuruddhā. Thầy A Na Luật Đà thuộc về gia đình hoàng gia, người thân thích của Bụt, còn thầy A Nậu La Độ là một thầy khác.

Đây là những điều mà tôi đã được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Trùng Các, trong rừng Đại Lâm không xa thành phố Tì Xá Ly. 

Tu viện Trùng Các có hai tầng. Rừng Đại Lâm (Mahāvana) và thành phố Tì Xá Ly (Vaiśālī) nằm ở miền bắc sông Hằng, chỗ này không xa vườn xoài của nữ cư sĩ Ambapali.

Lúc bấy giờ đại đức A Nậu La Độ đang cư trú tại một cái am trong rừng, không xa nơi Bụt ở. 

Một hôm có một số các du sĩ ngoại đạo đến thăm đại đức A Nậu La Độ. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chúc tụng, họ hỏi đại đức: Này hiền hữu A Nậu La Độ, đức Như Lai mà người ta tôn xưng là bậc chứng ngộ quả vị cao nhất, thế nào cũng đã nói và giảng dạy cho hiền hữu nghe về bốn mệnh đề sau đây: một là sau khi chết đức Như Lai vẫn còn; hai là sau khi chết đức Như Lai không còn; ba là sau khi chết đức Như Lai vừa còn, vừa không còn; bốn là sau khi chết đức Như Lai vừa không còn, vừa không không còn. Hiền hữu nói cho chúng tôi nghe đi.

Bốn mệnh đề này trong kinh gọi là Tứ cú. Tứ cú tức là bốn phạm trù: , không, vừa có vừa không, không có cũng không không. Đó là bốn phạm trù mà các nhà triết học thường bắt chúng ta phải lựa chọn và trả lời, rằng thế giới, thần ngã, con người phải nằm vào một trong bốn phạm trù: một là có, hai là không có, ba là vừa có vừa không có, bốn là vừa không có vừa không không có. Phi tứ cú nghĩa là không nằm trong bốn phạm trù này. 

Thực tại nằm ở đâu? Chúng ta phải quyết định thực tại là cái ngã nằm trong phạm trù nào của bốn phạm trù, đó là triết học ngày xưa. Triết học bây giờ cũng nghĩ rằng ngoài bốn phạm trù đó thì không còn phạm trù thứ năm. Vì vậy cho nên sau khi đức Như Lai qua đời rồi thì đức Như Lai còn hay là không còn; hay vừa còn vừa không còn; hay vừa không còn vừa không không còn. Chúng ta biết rằng trong giới triết học và tôn giáo, người ta quen suy tư và đàm luận về những đề tài triết học như vậy mà ít người chịu khó hạ thủ công phu để tu tập và quán chiếu. Người ta đi lạc vào những suy tưởng lý luận và siêu hình, làm mất rất nhiều thì giờ. 

Thầy A Nậu La Độ chưa bao giờ nghe Bụt nói rằng thực tại, thần ngã hay con người nằm vào một trong bốn phạm trù đó nên thầy trả lời:

 “Này các hiền hữu, đức Như Lai, bậc tôn quý trên đời, người đã từng chứng ngộ quả vị cao nhất, chưa bao giờ từng nói và giảng giải trong khuôn khổ bốn mệnh đề mà các vị hiền hữu vừa đưa ra.” 

Thầy nói rất đúng, vì giáo lý của đạo Bụt được gọi là Ly tứ cú. Ly tức là xa lìa; tứ cú là bốn mệnh đề, bốn phạm trù. Ly tứ cú tuyệt bách phi,vượt thoát tất cả những vấn đề, những thắc mắc, những suy tưởng lý luận và siêu hình.

Nghe đại đức nói như thế, các vị du sĩ ngoại đạo nói với nhau: Có thể là ông thầy tu này mới đi xuất gia hoặc giả nếu ông đã đi tu lâu rồi, thì ông ta chỉ là một kẻ ngu độn. Không đồng ý với đại đức, họ bỏ đi.

Thực ra thầy A Nậu La Độ nói đúng, đức Bụt chưa bao giờ nói về thực tại, về ngã trong phạm vi bốn phạm trù, nhưng các vị du sĩ ngoại đạo nghĩ rằng ông thầy này không thông minh, không biết triết học, không từng nghe đức Thế Tôn giảng dạy nhiều cho nên không biết gì về vấn đề này. 

Sau khi các vị du sĩ đi rồi, đại đức A Nậu La Độ suy nghĩ: Nếu các vị du sĩ ngoại đạo này cứ tiếp tục hỏi như thế thì ta phải trả lời thế nào cho đúng với sự thật và không sai với ý của Bụt? 

Thầy A Nậu La Độ có thể trả lời được, rằng đức Thế Tôn chưa bao giờ giảng giải bằng ngôn ngữ tứ cú, nhưng các vị du sĩ ngoại đạo không bằng lòng với câu trả lời đó. Thầy nghĩ lần sau mà họ đến hỏi và có thể hỏi dài dài thì mình sẽ trả lời như thế nào để họ hiểu và chấp thuận mà không sai ý của Bụt, nên thầy mới quyết định đi tìm Bụt để hỏi. Chúng ta biết trong giới ngoại đạo, các triết gia luôn nôn nóng tìm ra sự thật bằng suy tư của mình, còn trong đạo Bụt nói rằng không thể nào tìm ra sự thật bằng suy tư mà phải tu tập để thực chứng. 

Sau khi các vị đi rồi, đại đức A Nậu La Độ suy nghĩ: Nếu các vị du sĩ ngoại đạo này cứ tiếp tục hỏi như thế thì ta phải trả lời thế nào cho đúng với sự thật và không sai với ý của Bụt. Ta sẽ trả lời như thế nào cho đúng với chánh pháp và đừng để bị người đồng đạo chê trách.

Đôi khi, nếu ta nói sai, nói vụng về thì ta sợ các sư anh, sư em chê cười, nên chi bằng ta tới hỏi đức Thế Tôn cho chắc ăn.

Rồi đại đức A Nậu La Độ đi tới nơi Bụt ở, cung kính làm lễ và thăm hỏi người. Sau đó, đại đức trình lên Bụt những điều đã xảy ra. Bụt hỏi: “Này đại đức A Nậu La Độ, thầy nghĩ sao, có thể tìm Như Lai trong hình sắc không?”

Đó là câu hỏi đầu tiên và đây là sự quán chiếu. Tuy là hỏi và trả lời nhưng cũng giúp cho thầy A Nậu La Độ quán chiếu liệu có thể tìm Như Lai trong hình sắc không. Câu hỏi này làm chúng ta nhớ đến kinh Kim cương. Trong kinh Kim cương có bài kệ: 

Tìm ta qua hình sắc

Cầu ta qua âm thanh

Là kẻ hành tà đạo

Không thể thấy Như Lai. 

Hình sắc ở đây tức là thân thể, là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Chúng ta thường nghĩ rằng, thấy sắc thân của người đó thì ta thấy được người đó. Nhưng sắc thân cũng biến thiên, vô thường, hồi nhỏ khác, đến khi lớn sẽ khác, rồi khi chết thì sắc thân tan rã. Nếu chúng ta bám víu, dựa vào sắc thân để tìm bản chất thì chúng ta sẽ đi sai lạc, chúng ta sẽ nói rằng người đó có, người đó không, người đó không có, người đó không không. Cho nên căn cứ trên sắc thân thì không chắc chắn. Nương vào sắc thân thì rất nguy hiểm. Nương vào sắc thân nên cho là người đó có, rồi khi sắc thân tàn hoại lại nói người đó là không thì cũng tội nghiệp. 

Có thể tìm Như Lai trong hình sắc không? Can you identify the Buddha through form? Can you recognise the Buddha through form? Chúng ta nên đặt câu hỏi là ta có thể tìm, nhận diện sư anh của ta qua hình thể không. Mỗi ngày, nhìn vào hình thể, ta biết đó là sư anh của mình, nhưng đó có phải là cái thấy sâu sắc nhất hay không. Hay khi nhìn vào sư chị, ta nhìn vào hình thể của người đó để nhận diện nhưng kỳ thực, sư chị của ta có phải là hình thể đó không, hay sư chị của ta khác hơn hình thể đó? Và chính ta cũng vậy, ta có phải là hình thể này không hay ta là cái gì khác hơn, rộng lớn hơn, quan trọng hơn nữa? Hoặc là thầy ta có phải là hình thể này không? Hay thầy ta là một thực thể khác hơn, sâu hơn và bao quát hơn? Đó là bắt đầu quán chiếu, nhìn sâu chứ không chỉ còn là một câu hỏi.

Có thể tìm Như Lai trong hình sắc không? Thầy A Nậu La Độ trả lời rằng: “Bạch đức Thế Tôn, không.” Tại vì đức Thế Tôn đã từng dạy thân này không phải là ta, hình thể này không phải là cái ngã.

Đức Thế Tôn hỏi tiếp: 

“Có thể tìm Như Lai ngoài hình sắc không?”

“Bạch đức Thế Tôn, không.” 

Cái không kia có thể đưa chúng ta đi lạc đường. Không thể tìm Như Lai qua hình sắc mà cũng không thể tìm Như Lai ngoài hình sắc. Hình sắc là một phần của Như Lai nhưng Như Lai không phải là tất cả hình sắc đó. Câu hỏi thứ nhất bắt đầu cho chúng ta thấy một phần của sự thật. Câu hỏi thứ hai đã cho chúng ta thấy thêm một phần khác của sự thật. We cannot recognise the Buddha through form but we cannot recognise the Buddha outside form. 

“Có thể tìm Như Lai trong cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không?”

“Bạch Đức Thế Tôn, không.”

Đức Thế Tôn hỏi câu hỏi đó nhưng không dùng danh từ hình sắc. Năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức và Bụt hỏi từ từ: Có thể tìm Như Lai qua thọ không? Thầy A Nậu La Độ trả lời là không. Đức Thế Tôn hỏi tiếp: Có thể tìm Đức Như Lai ngoài thọ không? Câu trả lời cũng là không. Hai câu hỏi về sắc, hai câu hỏi về thọ, hai câu hỏi về tưởng, hai câu hỏi về hành và hai câu hỏi về thức, có tất cả mười câu hỏi. Chỉ có duy nhất một câu trả lời cho mười câu hỏi đó: “Bạch đức Thế Tôn, không”. Đối với năm uẩn, mỗi uẩn có hai câu hỏi: Có thể nhận diện Như Lai qua hình sắc không? Không. Có thể nhận diện Như Lai ngoài hình sắc không? Không. Đó là sắc uẩn. Với thọ, tưởng, hành, thức, bốn uẩn kia cũng hỏi như vậy. Và vì vậy trong kinh chúng ta có tới 10 câu trả lời là không. Trong khi dịch kinh này, để cho kinh ngắn lại, chúng ta không chép hết vào một cách chi tiết mà chỉ dịch gọn thành một câu: 

“Có thể tìm Như Lai ngoài cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không? 

Bạch đức Thế Tôn, không. 

Này đại đức A Nậu La Độ, thầy có nghĩ rằng Như Lai là một cái gì vượt ra khỏi cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không?” 

Ngoài năm uẩn thì câu trả lời thứ mười là: 

“Bạch đức Thế Tôn, không.” 

Đến câu kết luận của đức Thế Tôn. 

“Này A Nậu La Độ, đi tìm Như Lai ngay khi Như Lai còn sống đây mà còn tìm không được thì thử hỏi đi tìm Như Lai sau khi Như Lai đã ẩn diệt trong khuôn khổ bốn mệnh đề: còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn thì đó có phải là một chuyện có thể làm được hay không?”

“Bạch đức Thế Tôn, không.” 

Câu kết luận là: Này thầy, tôi đang ngồi sờ sờ trước mặt thầy mà thầy đi tìm tôi còn khó, còn không được, thì làm sao khi tôi nhập diệt rồi thầy có thể đi tìm tôi được, nhất là trong bốn mệnh đề có, không có, vừa có vừa không có, vừa không có, vừa không không có. Vì vậy cho nên bốn mệnh đề đó không thể nào chứa đựng sự thật.

Ý NIỆM SINH – DIỆT

“Hay lắm, thầy A Nậu La Độ! Từ trước đến nay, Như Lai chỉ giảng dạy về khổ và con đường diệt khổ.” 

Câu này chứng tỏ đạo Bụt không phải là một nền triết học với những suy luận siêu hình mà mục đích của đạo Bụt rất thực tiễn. Bụt chỉ cho chúng ta thấy những niềm đau, nỗi khổ của chúng ta, giúp chúng ta thấy nguồn gốc của những niềm đau, nỗi khổ và chỉ dẫn cho chúng ta con đường để thoát ra khỏi những niềm đau, nỗi khổ đó. Vì vậy bài giảng căn bản của đức Thế Tôn là Bốn sự thật – Tứ diệu đế. Kinh này cho ta thấy rằng đạo Bụt là một con đường rất thực tế, không vướng mắc vào suy tưởng siêu hình, không làm mất thì giờ. Nếu tu tập và quán chiếu sâu sắc thì ta thấy được những ngôn từ, những ý niệm mà chúng ta có trong đầu không thể chứa đựng được thực tại vì thực tại vượt thoát khỏi các ý niệm, trong đó có ý niệm có, ý niệm không, ý niệm một, ý niệm nhiều. Vì vậy kinh này được liệt vào một trong số những kinh nói về tam luận tông – Madhyamaka, có khuynh hướng trung đạo, vượt thoát các ý niệm chống đối nhau.

Có những ý niệm không phù hợp với thực tại như ý niệm sinh và diệt. Chúng ta phải quán chiếu và nhìn sâu vào ý niệm sinh và diệt để thấy tính cách vô lý của ý niệm đó thì mới thoát ra được ý niệm sinh và diệt. Chúng ta nghĩ rằng, sinh có nghĩa là từ không mà thành có. Trước kia mình chưa là ai cả, bây giờ mình trở thành một người. From nothing we suddenly become something, from no-one we suddenly become someone. Đó là ý niệm của chúng ta về sinh. Nhưng nếu quán sát thật kỹ thì chúng ta thấy không có cái gì từ không mà trở thành có được. Ví dụ như tờ giấy trước khi sinh ra không phải là tờ giấy không có, tờ giấy đã có mặt dưới hình thức của cây rừng, vì nếu không có cây rừng thì làm sao mình có thể làm ra giấy được. Thành ra tờ giấy không phải từ không mà trở thành có, tờ giấy chưa bao giờ sinh ra, nó là sự tiếp nối của cây rừng. Thay vì nói nó là sự sinh khởi (naissance) thì ta nói nó là sự tiếp tục (continuation). Ngày mẹ sinh ra ta, quả thật đó là ngày tiếp nối chứ không phải là ngày sinh. Trước đó, ta đã có mặt trong cha mẹ ta rồi nhưng dưới một hình thức khác. Cây rừng cũng vậy. Cây rừng trước đó có thể là một hạt giống, có thể là một đám mây, có thể là mặt trời… Và những nhân tố đó gặp gỡ, phối hợp cùng nhau, chúng làm cho cây rừng biểu hiện thành cây rừng. Cây rừng không phải là sinh ra mà cây rừng là sự tiếp nối của những cái đã có mặt trước khi cây rừng được biểu hiện. Vì vậy sinh là một ý niệm, nó không phản chiếu được sự thật. Không có gì sinh ra, tất cả chỉ là biến chuyển và tiếp nối. Cho nên sinh là một ý niệm vô lý và không có thật. Nhà khoa học Pháp Lavoisier nói là không có gì sinh ra. Ông chưa bao giờ học Phật, ông chỉ nói về sự vật, về năng lượng và vật chất. Ông nói “rien ne se crée” tức là không có gì sinh ra, “rien ne se perd” nghĩa là không có gì mất đi. Đứng về phương diện khoa học, nếu nhìn sâu thì người ta cũng thấy tính bất sinh, bất diệt của vạn vật. Chúng ta cũng là vạn vật. Tự tính của chúng ta cũng là bất sinh, bất diệt (notre vraie nature est la nature de la non-naissance et de la non-mort). Kinh này mời chính chúng ta quán chiếu như vậy để thoát khỏi bốn phạm trù, bốn ý niệm còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn. 

Khi đốt tờ giấy cháy đi thì chúng ta không thấy tờ giấy nữa, nhưng không có nghĩa là tờ giấy đó từ có thành không. Khi đốt tờ giấy, ta thấy khói bốc lên thành mây, thấy hơi nóng đi vào vũ trụ, thấy còn tàn tro và tro sẽ trở thành đất. Giờ phút đó là giờ phút tiếp nối của tờ giấy. Cho nên nói tờ giấy không diệt, không sinh. Quán chiếu sâu sắc chúng ta sẽ thấy như vậy.

Ý NIỆM THƯỜNG – ĐOẠN

Chúng ta có ý niệm về thường và đoạn. Thường tức là y nguyên như vậy, không bao giờ thay đổi (permanence). Đoạn tức là ngược lại, là sự đoạn diệt (annihilation), hoàn toàn không còn nữa. Đây là một cặp đối đãi, tương đãi, pair of opposites. Sinh và diệt là một cặp đối đãi. Thường và đoạn cũng là một cặp đối đãi. Ý niệm về thường và đoạn cũng không thể áp dụng vào thực tại. Một mặt ta tưởng tượng rằng có một cái gì thường còn, bao giờ nó cũng là nó, the same thing forever, will last forever. Đó gọi là thường. Nhưng có cái gì là thường đâu. Từ cái cây, tờ giấy, mặt trăng, tinh tú, cho đến cảm thọ, nhận thức, không có cái gì là thường còn. Cái gì cũng vô thường, biến chuyển. Ngược lại với ý niệm thường là ý niệm đoạn, tức là hôm nay có đây nhưng lát nữa hoặc ngày mai sẽ hoàn toàn không có. Ý niệm đoạn là ngược lại của ý niệm thường. Thì ông Lavoisier đã nói là không có gì sinh ra nhưng cũng không có gì mất đi, không có diệt cũng không có đoạn diệt. Chúng ta tin rằng sau khi chết thì người đó không còn nữa, hoàn toàn mất hết, trở thành hư không, đó là quan niệm về đoạn. Quan niệm về đoạn cũng nguy hiểm như quan niệm về thường. Sự thật vượt thoát hai khái niệm về thường và về đoạn, không thường cũng không đoạn, không sinh cũng không diệt. Nếu chúng ta thấy được sự thật vượt thoát thường và đoạn thì bốn mệnh đề này mới trở thành không cần thiết, vì thực tại vượt thoát ngoài khuôn khổ của ý niệm. Khuôn khổ ý niệm là mental categories, trong đó có khái niệm về sinh và diệt, về thường và đoạn. Không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn, đó là sự thật. Sự thật đó không phải chỉ dành riêng cho đức Thế Tôn. Sự thật đó áp dụng cho mỗi chiếc lá, mỗi viên sỏi, mỗi người trong chúng ta. Tất cả chúng ta đều không sinh cũng không diệt, không thường cũng không đoạn.

Ý NIỆM CÓ – KHÔNG (HỮU – VÔ)

Có, tiếng Anh là have, be. Khôngnon-be, là không gì hết. Có và không cũng là hai ý niệm. Dù thực tại đó là hòn sỏi, chiếc lá hay là đức Như Lai thì nó cũng vượt thoát hai ý niệm có và không, không phải có cũng không phải không. Có là một ý niệm và không cũng là một ý niệm trong đầu ta. Thực tại vượt thoát tất cả các ý niệm trên. Triết học sở dĩ tốn thì giờ, tốn nước bọt, tốn giấy, tốn mực là vì bị kẹt vào những ý niệm thường và đoạn, có và không. Tây phương thường nói có hay không là vấn đề, to be or not to be – that is the question, nhưng đối với tuệ giác của đạo Bụt, tồn hay không tồn tại, đó không phải là vấn đề, to be or not to be – that is not the question. Nếu chúng ta quanh quẩn và đàm luận trong phạm vi những phạm trù đó chỉ làm tốn thì giờ mà thôi. Vậy nên đừng để tiêu tốn thời giờ, nước bọt, và giấy mực nữa. 

Ý NIỆM TỚI – ĐI (LAI – KHỨ)

Tới và đi. No coming, no going. Một trong những câu hỏi của triết học là: Ta từ đâu tới và ta sẽ đi về đâu? Tới và đi là hai phạm trù. Đức Thế Tôn đã nói rằng ta không từ đâu tới và ta sẽ không đi về đâu. Trong kinh Giáo hóa người bệnh và trong nhiều kinh khác, đức Thế Tôn nói rằng khi những điều kiện tập hợp đầy đủ thì nó có sự biểu hiện và cái đó không từ đâu tới cả. Nó không tới từ không gian, không tới từ thời gian, thời gian và không gian chẳng qua chỉ là những điều kiện mà thôi. Khi những điều kiện tập hợp đầy đủ thì nó biểu hiện, chỉ có vấn đề là biểu hiện (manifestation), nó không có đến (coming), không có đi (going). Danh hiệu mà người ta tôn xưng đức Thế Tôn là Như Lai có nghĩa là Tathāgata, tức từ chân như tới và sẽ đi về chân như. Nhưng chân như đâu phải nằm trong không gian hay thời gian để phải đi, phải tới. Chân như tức là sự thật, Tathā tức là chân như, gata là tới và agata là đi, từ chân như tới và đi từ chân như, nghĩa là không tới và không đi.

Ý NIỆM MỘT – KHÁC (NHẤT – DỊ)

Cặp phạm trù kế tiếp là một và khác, same – different, một và nhiều. Tôi với anh là một hay tôi với anh là khác? Tức là hai, ba, bốn hay là mười thì ý niệm về một, về khác cũng không quán chiếu được thực tại. Thực tại không phải là một, cũng không phải là khác, đó là những ý niệm trong đầu ta sinh ra mà thôi. 

Khi chúng ta nói “hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi” (Bài hát Tâm an, sư cô Giải Nghiêm) tức là ta đã bắt đầu thấy hạnh phúc không còn là vấn đề cá nhân, hạnh phúc là của chung. Người kia không hạnh phúc thì mình cũng không có hạnh phúc. Chúng ta bắt đầu thấy được sự thật, ta đã thoát ra được ý niệm về một, nhưng chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm về hai, mà sự thật nằm ở chỗ là không phải một cũng không phải hai. Một và khác, tiếng Hán Việt là nhất và dị. Phi nhất phi dị nghĩa là không phải một cũng không phải khác, khác có thể là hai, ba hoặc là năm.

Bài hát No coming no going có câu: I hold you close to me, I release you to be so free because I am in you and you are in me. Bài hát nói về hai chúng ta không phải là khác. Ban đầu chúng ta có ý niệm về khác, tôi và anh là hai thực thể khác nhau, nhờ quán chiếu ta thấy rằng tôi và anh liên quan đến nhau rất nhiều, có tôi trong anh, có anh trong tôi, đó là chúng ta đi tới cái một. Từ cái khác đi tới cái một thì chúng ta phải cẩn thận, ta có thể bị kẹt vào cái một nhưng sự thật không nằm ở cái một. Cho nên ta phải vượt thoát cả hai ý niệm về một và về khác.

Chúng ta có khái niệm về Bụt và về chúng sinh, Bụt là bậc giác ngộ hoàn toàn, còn chúng sinh là chìm đắm, đó là sự phân biệt. Vì vậy cho nên người ta nghĩ rằng đó có thể là một sai lầm. Đứng về phương diện bản môn thì chúng sinh đã là Bụt rồi. Trong kinh nói là Phật sinh bất nhị (佛生不二), tức Phật và chúng sinh không phải là hai, nhưng nói là một cũng không đúng vì thực tại vượt thoát khỏi ý niệm một và ý niệm khác.

TRUNG QUÁN LUẬN

Thầy Long Thọ (Nāgārjuna) sống trong thế kỷ thứ II, có một tác phẩm rất nổi tiếng là Trung quán luận (中觀論, Madhyamaka Śāstra). Trong đó, thầy dùng những lý luận của mình để xô ngã tất cả những ý niệm sinh-diệt, thường-đoạn, có-không, tới-đi, một-khác. Biện chứng pháp (dialectic) của thầy Long Thọ rất ngộ nghĩnh. Hiện nay chúng ta đã có bản dịch tiếng Pháp và tiếng Anh của tác phẩm này rồi, có tên là Trung quán luận.

Trước khi đi vào sách, thầy có làm một bài kệ: 

Không sinh cũng không diệt, 

Không thường cũng không đoạn, 

Không tới cũng không đi, 

Không một cũng không khác. 

Nếu thấy được cái đó thì có thể chấm dứt được tất cả những hý luận, những bàn cãi vô ích. Con xin đảnh lễ đức Thế Tôn, cầu đức Thế Tôn giúp cho con diễn bày được giáo lý nhiệm mầu này trong tác phẩm Trung luận.” 

Đó là bài kệ đầu tiên của thầy Long Thọ. Nếu quý vị có thì giờ, có nhân duyên cũng nên tìm đọc và học tác phẩm đó. Thầy Long Thọ là một người có bộ óc rất vĩ đại, có thể nói thầy là một nhà bác học có trí tuệ không thua nhà bác học Einstein. Không những thông minh mà thầy còn có sự quán chiếu. Khi chúng ta đọc tác phẩm Trung quán luận thì sẽ thấy được trí tuệ vĩ đại, sự thông minh vô cùng của thầy. Thầy lý luận rất ngộ nghĩnh và rất hay, lý luận đến chỗ đập đổ và xô nhào tất cả những ý niệm, trong đó có các ý niệm về sinh và diệt, thường và đoạn.

Biện pháp của thầy Long Thọ rất hay. Ví dụ khi nói về sinh thì thầy đặt câu hỏi: Trước khi một vật gì được sinh ra thì nó đã có sẵn hay là không có ở trong đó? Ví dụ như A và B, trước khi B sinh ra từ A thì B đã có sẵn trong A chưa? Hỏi như vậy và cho chúng ta trả lời có sẵn và không có sẵn. Nếu chúng ta nói trước khi A sinh ra B và B có sẵn trong A rồi, nhưng nếu nó đã có sẵn thì đâu cần sinh ra nữa. Sinh ra tức là không có mới cần sinh ra, chứ đã có sẵn thì đâu cần sinh ra nữa, cái gì có sẵn rồi thì đâu cần sinh ra. Với cách lập luận như vậy của thầy thì chúng ta chịu.

Còn nếu ta nói A không có trong B thì làm sao sinh ra được. Ví dụ như cái bàn kia làm sao sinh ra cái trứng được, chỉ có con gà mới sinh ra cái trứng chứ cái bàn làm sao sinh ra cái trứng. Câu hỏi đặt ra cho chúng ta là: Trước khi A sinh ra B thì B đã có trong A chưa? Nếu chúng ta nói có, thầy nói có rồi thì cần gì phải sinh nữa. Nếu chúng ta nói không có, thì thầy nói làm sao sinh ra được. Thành ra mình chịu thôi và mình phải chấp nhận thuyết vô sinh của thầy (non-naissance). Thầy dùng nhiều lý luận rất hay. Đúng là như vậy. Cho nên thầy cũng nói sự thật đó là từ cái không không bao giờ có thể thành cái có.

Tóm lại, kinh A Nậu La Độ cho chúng ta thấy hai điều. Thứ nhất là giáo lý đạo Bụt rất thực tiễn và người Phật tử không nên để mình chìm đắm trong những suy tư siêu hình, những đàm luận siêu hình và đánh mất thời giờ vô ích. Đức Thế Tôn nhấn mạnh là Người chỉ dạy về khổ và con đường thoát khỏi khổ đau. Người nào nhớ được điều đó thì sẽ đỡ tốn nhiều thì giờ, trở về nhận diện những khổ đau, tìm ra nguồn gốc của những khổ đau và thấy được con đường ra khỏi khổ đau. Đó là điều quan trọng.

Thứ hai là tất cả những ý niệm của chúng ta bao gồm ý niệm về bốn mệnh đề (tứ cú) đều là những sáng tạo phẩm của tâm thức, như ý niệm về thường và đoạn, có và không, sinh và diệt. Tất cả những ý niệm đó không thể hàm chứa được thực tại. Thực tại vượt thoát khỏi thế giới của ý niệm. Khi vượt thoát ý niệm rồi thì chúng ta mới có thể thực chứng niết bàn. Niết bàn có nghĩa là sự vượt thoát, sự tắt ngấm (extinction) của tất cả các ý niệm. Mà ý niệm tạo ra sự sợ hãi, kỳ thị và đau khổ. Vì vậy, khi những ý niệm đó tắt rồi thì những đau khổ của ta cũng tắt luôn. Những đau khổ tắt rồi thì hạnh phúc bắt đầu có thật.

Chúng ta cần phải áp dụng những điều này vào trong đời sống hằng ngày, diệt trừ những ý niệm và những đau khổ phát xuất từ ý niệm thì mới có hạnh phúc chân thật. Khi đi tu, chúng ta biết có những khổ đau trong cuộc đời mà ta không muốn vướng vào, ta quyết tâm tìm ra con đường để tạo dựng hạnh phúc cho ta và cho những người xung quanh ta. Cho nên những gì ta học, ta hành trì phải có mục tiêu giúp ta vượt ra khỏi những cái khổ thông thường mà người đời đang mắc phải. Nếu đi tu mà không làm được chuyện đó thì chúng ta cũng khổ với những nỗi khổ thông thường của người đời và cũng chìm đắm vào những chìm đắm của người đời. Do đó chúng ta phải nhớ, mục đích của sự tu học là thoát khổ, không phải để đạt tới kiến thức, dầu là kiến thức Phật học, không phải để đạt tới địa vị, dầu là địa vị Hòa thượng, mà là để sống cuộc sống hằng ngày của mình cho có hạnh phúc. Khi bản thân có hạnh phúc rồi, ta có thể giúp những người xung quanh có hạnh phúc. 

Những phương pháp đức Thế Tôn chỉ dạy rất đơn giản và dễ hiểu. Chúng ta thực tập quy y tăng, nương tựa tăng, là đoàn thể tu học của mình. Nếu chúng ta tu mà không quy y tăng, không có niềm tin nơi tăng thân, không thấy được giá trị của tăng nhãn thì ta chưa thực sự tu học. Ta vẫn còn cố chấp nơi ý niệm riêng, cố thủ với kiến chấp riêng, ta không thực sự nương tựa vào tăng (surrender to the Sangha), thì ta không đạt được những bước tiến đáng kể. Quy y tăng nghĩa là chúng ta phải cùng nhau thực tập để xây dựng được con mắt tăng mà nhìn sự vật, nhìn cuộc đời và nhìn ngay chính chúng ta. Ở một mình, ta chưa đủ để hiểu ta. Những sư anh, sư chị, những người bạn tu đang sống chung trong tăng thân thế nào cũng có cái nhìn khác hơn cái nhìn của ta đối với chính mình. Vì vậy, ta phải mở cửa tâm hồn mình ra và biết sử dụng cái thấy của tăng thân. Ta cần phải thực tập pháp môn Soi sáng. 

Chúng ta thường có tư tưởng, có khuynh hướng tin rằng ta biết mình nhiều nhất, hiểu rõ về sức khỏe, về tánh tình của mình hơn ai hết, nhưng điều đó không chắc. Chúng ta thường nói rằng chỉ có ta mới hiểu được mình thôi, còn những người khác không ai hiểu được ta và chúng ta cố thủ ý kiến đó mãi. No one understands me. Therefore, no one loves me. Đó là khuynh hướng thông thường của tất cả mọi người. Trong khi đó, sự thật là ta không hiểu được người khác và nhất là ta không hiểu được tăng thân của mình. I do not understand other people. I do not understand the real need of the Sangha, the real feeling of the Sangha. Điều quan trọng là chính ta không hiểu được mình. Chúng ta tưởng là ta hiểu được mình nhưng kỳ thực là ta không hiểu được mình. Ta tưởng là mình thương mình nhưng kỳ thực là mình không thương mình. Tại vì điều đang thật sự xảy ra là ta đang làm khổ mình, ta không hiểu mình. Trong khi đó, ta cho rằng ta khổ là do người khác gây ra. Có thể ta tu đã ba năm, năm năm hay bảy năm rồi nhưng vẫn đang bị kẹt trong tình huống đó. Ta nghĩ rằng ta hiểu mình, thương mình, nhưng nếu ta thực sự hiểu và thương mình thì ta đâu có đang khổ như bây giờ. Ta không hiểu mình, không thương mình, ta cũng không hiểu tăng thân và không thương tăng thân. Đó là nguyên do đưa đến những đau khổ của ta và cho rằng đau khổ đó là do những người khác gây ra cho mình.

Trong khi đó, tăng thân có những người sống rất hạnh phúc. Cùng trong một tăng thân nhưng tại sao người đó có hạnh phúc còn mình lại không. Chúng ta nên đặt câu hỏi là có phải vì người khác hay không, hay là tại chính mình. Bí quyết của sự tu học, bí quyết của sự thành công là khi sống cuộc đời của người xuất gia, chúng ta phải chấp nhận tăng thân là gia đình của mình, tất cả mọi người là anh, là chị, là em của mình và ta phải sống có trách nhiệm. Chúng ta vượt thoát được ý niệm về một và về khác. Cũng như lá chuối đầu biết rằng nó là một với những lá chuối kế tiếp và nếu nó sống cuộc đời có hạnh phúc, có an lạc thì nó có thể nuôi dưỡng được những lá chuối kế tiếp.

Ví dụ như ở hình trên, lá bên phải sinh ra trước, là lá chị, lá bên trái là lá em, còn ở giữa là lá em khác. Lá chuối chị có một cuộc đời riêng, nó xòe ra, biểu hiện màu tươi xanh và đó là màu của mưa, của nắng. Cuộc đời của nó rất đẹp và nó rất hạnh phúc. Trong khi sống cuộc đời của một lá chuối chị, nó đồng thời sống cuộc đời của cây chuối vì nó có phận sự phải nuôi cây chuối. Nó tiếp nhận nước và chất khoáng dưới lòng đất. Nó tiếp nhận những chất khí, tiếp nhận ánh sáng mặt trời và tạo ra nhựa luyện để nuôi cây chuối chứ không phải nó không có liên hệ với cây chuối. Mỗi phút, mỗi giây của sự sống nó nuôi cây chuối và những đứa em của nó. Sau đứa em thứ ba (hình đọt chuối) là đứa em thứ tư mà ta chưa thấy được, nhưng nó đã có sẵn ở trong cây chuối rồi. Nhìn bề mặt thì nó khác với những lá chuối đang có mặt và sẽ có mặt, nhưng kỳ thực nó là một với những lá chuối kia. Không có giây phút nào trong đời sống mà nó không nuôi dưỡng, không giúp làm lớn lên sức sống và hạnh phúc của những lá chuối khác. 

Chúng ta đi tu cũng vậy. Ta là một sư anh hay một sư chị, trong khi sống cuộc đời sư anh hay sư chị của mình, ta có hạnh phúc và tuệ giác thì thấy tất cả các sư em của ta cũng đều là con của ta. Chữ đệ tử có nghĩa vừa là con mà vừa là em. Đệ là em, tử là con, thành ra sư chị là sư mẹ của sư em. Ta là chị mà cũng là mẹ, ta là anh mà cũng là cha. Khi tham gia vào đời sống của tăng thân, như lá chuối tham gia vào sự sống của cây chuối, ta phải chấp nhận và ôm ấp tất cả sư em, sư anh, sư chị của mình. Thực tập được như vậy thì tự nhiên ta có hạnh phúc. Chừng nào chưa làm được chuyện đó thì chừng đó ta chưa có hạnh phúc. Khi chấp nhận được tức là chúng ta biết lo cho hạnh phúc và tương lai của tất cả những người trong tăng thân, nhờ đó hạnh phúc đến với ta một cách rất tự nhiên. Khi ta vẫn còn đứng như một cá thể riêng biệt, vẫn cứ khổ đau và tiếp tục nói rằng: Sao mình khổ? Mình khổ tại vì những người khác làm cho mình khổ, thì hạnh phúc vẫn chưa có mặt được. Nếu nhìn lại, quán chiếu thì ta sẽ thấy được điều đó. Ở trong chúng, có những người đóng được vai trò của lá chuối chị, ôm được tất cả những lá chuối khác và mỗi hành động, mỗi cử chỉ trong đời sống hằng ngày đều có thể nuôi dưỡng các lá chuối khác.

Hôm kia, thầy có đi thăm xóm Hạ. Khi vào văn phòng thầy thấy có một câu viết treo trên cửa sổ: Acting will have no meaning if not out of love (Những hành động nào không do tình thương thúc đẩy thì những hành động đó không mang lại lợi lạc cho tăng thân). Có thể là người làm trong văn phòng hoặc một người trong tăng thân đã viết câu đó. Viết câu đó ra nghĩa là có những người làm việc nhiều nhưng không phải làm vì tình thương mà làm vì muốn cho được việc, cho xong việc mà thôi. Tại vì ai cũng muốn làm cho được việc, cho xong việc, muốn achieve something. Đó là tập khí của nhiều người. Đã không làm thì thôi, khi đã làm thì mình phải làm cho được công việc, muốn có sự khoan khoái là ta đã làm được chuyện đó. Trong khi ấy, vấn đề là làm chuyện đó để làm gì, có phải xuất phát từ tình thương với tăng thân mà làm không. 

Nếu vì thương tăng thân, thương các sư chị, sư anh, sư em của mình mà làm thì không bao giờ mình than phiền là mình làm cực khổ hết. Chỉ khi nào làm để chứng tỏ mình làm được chuyện đó thì mình mới đau khổ. Nếu chúng ta làm việc mà mỗi giây phút ta biết rằng việc làm này là vì thương tăng thân thì càng làm chúng ta càng có hạnh phúc. Cho nên câu nói đó tỏ rõ hai sự thật. Sự thật thứ nhất là chúng ta có thể dùng tình thương để làm chất liệu cho công việc. Mà làm với tình thương thì sẽ không bao giờ than phiền, vì thương mà làm cho nên có hạnh phúc ngay trong khi làm. Còn điều thứ hai tỏ lộ là trong tăng thân có người làm không phải do thương mà làm, mà chỉ là để làm vậy thôi. Acting without love

Đây là một tiếng chuông chánh niệm. Ta không cần biết là ai đã viết câu đó nhưng sự thật là trong tăng thân, khi công việc nhiều quá mà không có thì giờ để thở thì ta hay than phiền. Thật ra công việc có thể nhiều và bổn phận của ta là phải giúp những thiền sinh tới với ta có hạnh phúc. Nếu chúng ta không có hạnh phúc, không có hòa điệu thì khi hàng trăm thiền sinh đến thực tập, ta không có gì để hiến tặng cho họ. Do đó, chúng ta phải học làm việc chung với nhau. Làm thế nào để mỗi giây phút của công việc đều đem lại hạnh phúc cho ta, gọi là acting out of love. Bất cứ hành động nào của ta, dù là chùi nồi, rửa bát, quét nhà, tưới vườn đều phải phát xuất từ tình thương. Ta làm việc đó cho sư em, sư chị, cho thầy và tự nhiên trong khi làm ta sẽ có rất nhiều hạnh phúc. Ta không kỳ thị rằng tại sao xóm đó có nhiều người, còn xóm bên này thì ít người để rồi cứ kỳ kèo bớt một thêm hai, làm như xóm đó là xóm của ai khác chứ không phải là xóm của mình. Những cái lá này là lá của ai, cây chuối này là cây chuối của ai, tất cả lá chuối phải thấy được cây chuối này là của chính mình và mình phải ôm ấp hết tất cả cây chuối, mình phải nuôi dưỡng hết tất cả lá chuối đang có mặt và sẽ có mặt. Xóm Thượng là xóm của ai vậy? Xóm Thượng là xóm của mình chứ xóm của ai nữa. Xóm Mới là xóm của ai vậy? Xóm Mới là xóm của mình chứ xóm của ai nữa. Xóm Trung là xóm của ai vậy? Xóm Trung cũng là xóm của mình chứ đâu phải là xóm của người khác. Cái thấy đó gọi là cái thấy không phân biệt, vô phân biệt trí (nirvikalpajñāna, 無分別智), tức là mình có được tuệ giác không kỳ thị, không phân biệt. Ta là chị, là em, là anh của mình, because I am in you and you are in me. 

Thầy hay nói với mấy đứa con nít là bàn tay này có vô phân biệt trí. Bàn tay này nó có khả năng làm thơ, làm hàng trăm, hàng ngàn bài thơ, bàn tay này có thể thỉnh chuông, có thể rải nước cam lộ. Nhưng bàn tay này không bao giờ phân biệt hay kỳ thị để rồi nói với bàn tay kia rằng: Mày không có được tích sự gì hết, cả ngày mày chỉ ngồi chơi xơi nước thôi, mày chẳng làm gì hết. Bàn tay mặt không bao giờ chê bàn tay trái như vậy vì nó biết rất rõ nó cũng là bàn tay trái của nó. Nó biết sở dĩ nó làm thơ được là nhờ bàn tay kia. Nếu bàn tay trái mà đau nhức thì bàn tay phải chịu thôi, không làm thơ được. Cho nên bài thơ đó được hoàn thành là nhờ toàn thân, chứ không phải chỉ có mỗi bàn tay này làm. Nếu không có óc, tim, thận, gan thì làm sao bàn tay này làm được một bài thơ. Cho nên bàn tay có tuệ giác vô phân biệt, nó không có sự kỳ thị. 

Tuệ giác vô phân biệt trí có trong người của mình, có trong bàn tay trái, tay phải, chỉ có điều là ta chưa học theo được mà thôi. Ta đâu phải là một bậc giác ngộ hoàn toàn như đức Thế Tôn. Tuy vậy, trong bàn tay của ta, mỗi tế bào của cơ thể đều có tuệ giác vô phân biệt. Khi sống trong tăng thân, nếu ta thực tập được sự hòa hợp, biết quay về nương tựa tăng, biết sử dụng cái thấy của tăng nhãn, biết nghe lời tăng, biết thuận theo sở thích của tăng thì tự nhiên ta có hạnh phúc. Còn ta cứ chống lại, cứ đối đầu, resist, thì ta thực sự không có hạnh phúc. 

Hãy tưởng tượng một trong những lá chuối đó chống đối, nó quyết định không tiếp nhận những gì từ lá chuối khác thì làm sao nó sống được. Nó phải ôm trùm lấy tất cả những thứ đó và phải để cho những sự thông thương giữa nó và những lá chuối khác xảy ra thì nó mới có hạnh phúc. Chúng ta cũng vậy. Tại sao ta làm việc trong tăng thân một cách đơn độc, ta lãnh một công việc rồi âm thầm làm, không liên hệ gì đến các anh, các chị, các em. Ta nói rằng bổn phận của tôi là cái này, tôi chỉ làm cho xong cái này thôi, tôi phải làm cho xong bổn phận. Nói như vậy là không được. Ta phải dõi con mắt theo khắp nơi. Chuyện gì xảy ra trong tăng thân mình đều phải biết. Và chỗ nào cần sự yểm trợ, cần sự có mặt, mình phải có mặt và phải thấy được tất cả tăng thân là mình,  lúc đó mình mới có hạnh phúc. 

Chỉ khi nào có sự thông thương, có tuệ giác vô phân biệt thì lúc đó mình mới thực sự có hạnh phúc. Do đó, mỗi người trong chúng ta nên quán chiếu xem cách hành xử của chúng ta như thế nào, xem liên hệ giữa chúng ta với tăng thân của chúng ta như thế nào, có sự thông thương, có sự trao đổi, có sự trách móc những thành phần khác không hiểu mình và không thương mình hay không. Quán chiếu để thấy rằng quả thực ta có hiểu mình không hay là  cần phải có tăng thân thì ta mới hiểu mình được, ta có thương mình được không hay phải có tăng thân ta mới có thể thương mình. Bí quyết của thành công, của chuyển hóa trong tu học là ở chỗ mình có quy y tăng được hay không, mình có phát nguyện, có ôm ấp một đoàn thể tu học của mình không. 

Quán chiếu cho kỹ thì mình thấy trong tăng thân có những người có hạnh phúc và đó là những người đã ôm được tăng thân, thấy được giá trị của tăng già, đã có thể thấy được người kia là trách nhiệm của mình; hạnh phúc, khó khăn, khổ đau của người đó có liên hệ tới hạnh phúc của mình. Con mắt thương đưa tới bàn tay yêu thương. Con mắt là cái thấy, bàn tay là hành động. Con mắt là đức Văn Thù Sư Lợi, bàn tay là đức Phổ Hiền. Hễ có đức Văn Thù là có đức Phổ Hiền, mà đức Văn Thù có mặt thì có hiểu, và đức Phổ Hiền có mặt là có hành động thương yêu. Vì vậy, mỗi hành động của chúng ta sẽ được biểu hiện với tình thương. Every act will be motivated by love. Cho nên càng làm việc, ta phải càng thấy khỏe, càng làm việc thì phải càng có hạnh phúc; nếu không thì nó thành ra khổ sai, nó trở thành ra hard labor và không đem lại cho ta hạnh phúc.

Kinh A Nậu La Độ

Ðây là những điều mà tôi đã được nghe hồi Bụt còn ở tại tu viện Trùng Các, trong rừng Ðại Lâm, không xa thành phố Tỳ Xá Ly. Lúc bấy giờ đại đức A Nậu La Độ đang cư trú tại một cái am trong rừng, không xa nơi Bụt ở.

Một hôm có một số các du sĩ ngoại đạo đến thăm đại đức A Nậu La Độ. Sau khi trao đổi những lời chào hỏi và chúc tụng, họ hỏi đại đức: “Này hiền hữu A Nậu La Độ, đức Như Lai mà người ta tôn xưng là bậc đã chứng ngộ quả vị cao nhất, thế nào cũng đã nói và giảng giải cho hiền hữu nghe về bốn mệnh đề sau đây: Một là sau khi chết, đức Như Lai vẫn còn; Hai là sau khi chết, đức Như Lai không còn; Ba là sau khi chết, đức Như Lai vừa còn vừa không còn; Bốn là sau khi chết, đức Như Lai vừa không còn vừa không không còn. Hiền hữu nói cho chúng tôi nghe đi.”

Ðại đức A Nậu La Độ trả lời: “Này các hiền hữu, đức Như Lai, bậc tôn quý trên đời, người đã từng chứng ngộ quả vị cao nhất, chưa bao giờ từng nói và giảng giải trong khuôn khổ bốn mệnh đề mà các vị hiền hữu vừa đưa ra.”

Nghe đại đức nói như thế, các vị du sĩ ngoại đạo nói với nhau: “Có thể là ông thầy tu này mới xuất gia, hoặc giả nếu ông ta đã đi tu lâu rồi, thì ông ta chỉ là một kẻ ngu độn”. Không vừa ý với đại đức, họ bỏ đi.

Sau khi các vị du sĩ đi rồi, đại đức A Nậu La Độ suy nghĩ: “Nếu các vị du sĩ ngoại đạo này cứ tiếp tục hỏi như thế thì ta phải trả lời thế nào cho đúng với sự thật và không sai với ý của Bụt? Ta sẽ trả lời như thế nào cho đúng với chánh pháp và để đừng bị người đồng đạo chê trách?”

Rồi đại đức A Nậu La Độ đi tới nơi Bụt ở, cung kính làm lễ và thăm hỏi Người. Sau đó đại đức trình lên Bụt những điều đã xảy ra.

Bụt hỏi: “Này đại đức A Nậu La Độ, thầy nghĩ sao? Có thể tìm Như Lai trong hình sắc không?”

“Bạch đức Thế Tôn, không.”

“Có thể tìm Như Lai ngoài hình sắc không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Có thể tìm Như Lai trong cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Có thể tìm Như Lai ngoài cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Này đại đức A Nậu La Độ, thầy có nghĩ rằng Như Lai là một cái gì vượt ra khỏi cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Này, A Nậu La Độ, đi tìm Như Lai ngay trong khi Như Lai còn sống đây mà còn không tìm ra được thì thử hỏi đi tìm Như Lai sau khi Như Lai đã ẩn diệt trong khuôn khổ bốn mệnh đề còn, không còn, vừa còn vừa không còn, vừa không còn vừa không không còn, đó có phải là một chuyện có thể làm được hay không?”

“Bạch Thế Tôn, không.”

“Hay lắm, thầy A Nậu La Độ! Từ trước đến nay, Như Lai chỉ giảng dạy về khổ và con đường diệt khổ.”

Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 28 tháng 04 năm 1998 tại xóm Thượng, Làng Mai, Pháp)

Hồi nãy thầy nghe chim cúc cu kêu nhiều lần. Các thiền sinh mới tới nhớ rằng mỗi khi nghe tiếng chim cúc cu thì phải dừng lại, thở và tiếp xúc với thiên nhiên, như khi nghe chuông điện thoại. 

Hôm nay chúng ta bắt đầu học về Công phu chiều thứ Năm, kinh Ba cửa giải thoát.

Ba cửa giải thoát hay còn gọi là Tam giải thoát môn, tiếng Anh là The three doors of liberation. Kinh này vốn tên là kinh Pháp ấn, dịch từ chữ Hán, là kinh số 104 trong tạng kinh Đại chánh. Kinh này do thầy Thi Hộ dịch vào đầu thế kỷ thứ X. Khi học kinh này ta có thể tham khảo thêm các kinh Thánh Pháp ấn cũng trong tạng kinh Đại chánh số 103 do thầy Pháp Hộ dịch vào cuối thế kỷ thứ III; trong Tạp A hàm có kinh số 80, cũng nói về Pháp ấn.

Pháp ấn có nghĩa là cái ấn của chánh pháp (the seal of the true dharma). Ấn tức là con dấu, nó chứng thực rằng đây là thứ thiệt (authentic, true); có thể dịch sang tiếng Anh là the dharma seals, có người dịch là signatures, tiếng Pāḷi là lakṣaṇa. Lakṣaṇa cũng tức là tướng, tướng ở đây là tướng của chánh pháp. Chánh pháp có cái tướng ta có thể nhận diện được và ta biết đó là chánh pháp. Chúng ta có thể nói rằng Pháp ấn là những con dấu chứng thực đây là giáo pháp đích thực của Bụt, chứ không phải do những người khác nói hay bày đặt ra. Ấn là một loại ấn ký của Bụt và khi Bụt đóng dấu ấn xuống thì ta biết rằng đó đích thực là giáo pháp của đức Thế Tôn. Nó giống như một loại giấy chứng nhận (certificate), công nhận rằng đây là chánh pháp đích thực.

Trong đạo Bụt, có khi nói tới ba Pháp ấn, có khi nói tới bốn Pháp ấn và có khi nói tới một Pháp ấn. 

Trước hết ta nói về Tam Pháp ấn. Trong kinh A hàm, tạng chữ Hán thì ba Pháp ấn là: vô thường, vô ngã và niết bàn. Nghĩa là giáo lý nào đi ngược với tư tưởng vô thường, vô ngã và niết bàn thì giáo lý đó không phải là giáo lý đích thực của đức Thế Tôn. Trong Tạp A hàm có một kinh mà ba danh từ này (vô thường, vô ngã và niết bàn) được lặp lại tới năm lần. Trong tác phẩm Đại trí độ luận – Mahāprajñāpāramitāśāstra của thầy Long Thọ sáng tác vào thế kỷ thứ II thì tác giả cũng nói rằng Tam Pháp ấn là vô thường, vô ngã và niết bàn. Nhưng trong đạo Bụt Nam tông, học phái Đồng Diệp Bộ tức là Theravāda, chúng ta lại được nghe rằng Tam Pháp ấn gồm vô thường, khổ và vô ngã. Thay vì vô thường, vô ngã và niết bàn thì có vô thường, khổ và vô ngã, chứ không nhắc tới niết bàn. Có lẽ trong truyền thống đã có những lúc người ta chú trọng tới giáo lý Tứ diệu đế đến nỗi không có chữ khổ ở trong đó thì không phải đích thực là Phật giáo. Thay vì vô thường, vô ngã và niết bàn, thì các vị nói: vô thường, khổ và vô ngã. Vì vậy tư tưởng về Tứ Pháp ấn ra đời, tức là bốn Pháp ấn gồm: vô thường, khổ, vô ngã và niết bàn. Đạo Bụt đại thừa thì có tư tưởng Nhất Pháp ấn, không cần ba, không cần bốn, chỉ cần một thôi. Tư tưởng đó là Nhất thật tướng ấn, tức là chỉ cần một con dấu cũng đủ chứng tỏ đây là kinh Bụt.

Có bốn quan niệm về Pháp ấn. Quan niệm thứ nhất là: vô thường, vô ngã, niết bàn; ba Pháp ấn của Bắc tông, chung cho cả Đại thừa và Tiểu thừa. Quan niệm thứ hai là: vô thường, khổ, vô ngã; đây là truyền thống Nam tông.

Vì không thể lấy giáo lý về khổ ra, cho nên phải đưa vào. Tuy nhiên có những người không đồng ý vì tin rằng giáo lý về niết bàn là một con dấu rất đặc biệt của đạo Bụt, nếu bỏ niết bàn ra thì không đầy đủ. Vì niết bàn là bản chất mà từ đó biểu hiện vô thường và vô ngã. Cho nên chúng ta có quan niệm thứ ba là Tứ Pháp ấn: vô thường, khổ, vô ngã, niết bàn.

Trong kinh Bụt dạy rằng có một cái, cái đó không có ở đây, không có ở kia, không có sinh, không có diệt, không có còn, không có mất, không có có, không có không, không có ta, không có người, không phải một, không phải nhiều. Nếu không có cái đó thì tất cả những cái gọi là bên này – bên kia, sinh – diệt, có – không,… không có chỗ nào để đi về, cái đó gọi là niết bàn. Vì vậy niết bàn là nền tảng, là căn bản của tất cả những cái ta gọi là vô thường, vô ngã và khổ. Cho nên không thể lấy niết bàn ra ngoài được, lấy niết bàn ra ngoài thì sẽ rất thiếu sót, chưa phải là dấu ấn đầy đủ của giáo lý đạo Bụt. Vì vậy, giáo lý về Tứ Pháp ấn được đưa ra, tức là vô thường, khổ, vô ngã và niết bàn. Nếu muốn đưa khổ vào cũng được, nhưng nếu lấy niết bàn ra thì tôi không chịu. Quan niệm Tứ Pháp ấn có sau, nhưng đầy đủ hơn quan niệm Tam Pháp ấn. Tuy nhiên quan niệm Tam Pháp ấn gồm vô thường, vô ngã và niết bàn tuy là ba nhưng đã đầy đủ, vì có thể tìm thấy khổ trong vô thường và vô ngã. Hễ vô thường mà mình cho là thường, hễ vô ngã mà mình cho là ngã thì đã là khổ rồi. Tại sao phải có thêm một pháp ấn khác là khổ. Vậy thì quan niệm thứ nhất Tam Pháp ấn: vô thường, vô ngã và niết bàn là chung cho cả Đại thừa lẫn Tiểu thừa. Đứng về phương diện nội dung thì nó cũng bao trùm được quan niệm Tứ Pháp ấn, có khổ ở trong đó. Quan niệm thứ hai: vô thường, khổ, vô ngã thì chỉ đứng về phương diện tích môn và phương diện hiện tượng, không chú ý tới phương diện bản môn tức là phương diện thực thể. Tích môn về hiện tượng (phenomenon) là: vô thường, khổ và vô ngã. Nhưng đứng về phương diện bản môn (noumenon) thì phải có niết bàn làm căn bản. Trong giáo lý đạo Bụt Đại thừa thì chỉ có một pháp ấn. Pháp ấn đó gọi là thật tướng, Nhất thật tướng. Đây là quan niệm thứ tư của pháp ấn, Nhất thật tướng tức là Một thật tướng. Theo quan niệm Nhất thật tướng, nếu giáo lý nào mang dấu ấn Nhất thật tướng thì giáo lý đó có thể xem là Phật giáo chính thống; còn nếu không có dấu ấn Nhất thật tướng thì không phải là Phật giáo. Nhất thật tướng tức là niết bàn. Thật tướng (the true characteristic, the true nature) là Chân như (suchness), là Pháp tính hay Pháp giới tính (the true nature of the Dharmadhātu), tức là tính chất đặc biệt của thế giới. 

Chân như (真如) tức là thực tại trong tự thân của nó. Thực tại không phải hiển bày trong nhận thức, tri giác của mình, mà thực tại trong bản thân của nó (reality as it is by itself). Ví dụ như khi nhìn bông hoa, ta có một tri giác, một ý niệm về bông hoa. Nhưng tri giác và ý niệm về bông hoa đó có thể rất cạn cợt và sai lầm, cái đó chưa phải là chân như. Cho nên chữ Chân như được dịch là suchness, tiếng Pháp là ainsité, la réalité telle qu’elle est. Nghĩa là phải lấy hết tất cả những ý niệm, tri giác, phân biệt và những vọng tưởng của mình ra để cho sự thật biểu hiện như chính tự thân nó, đó gọi là Chân như. Ví dụ khi ta biết một người nào đó, ta chơi và sống với người đó, thì có thể ta chỉ sống với tri giác của mình về người đó thôi, còn chân như người đó ta chưa đạt tới được. Ta hiểu lầm người đó, có một ý niệm tốt hay xấu về người đó, nhưng có thể cái hiểu và cái thấy của ta về người đó chưa đúng. Hoặc là ta chỉ đạt tới một phần nào cái thực chất, cái chân như của người đó thôi. Vì vậy, ta phải bỏ hết tất cả các ý niệm của mình để có cơ hội tiếp xúc sâu sắc thật sự với chân như của người đó. 

Ví dụ ở làng Hồng, xóm Hạ thuộc làng Meyrac, Loubès-Bernac, hay xóm Thượng thuộc làng Thénac. Tất cả chúng ta người nào cũng có một ý niệm về làng Loubès hay làng Thénac. Nhưng ý niệm của chúng ta về làng Thénac hay làng Meyrac đang còn ít ỏi và nhiều sai lầm. Chúng ta chưa biết được những gia đình ở đây, chưa biết cách họ sống như thế nào, chúng ta cũng không biết được nỗi buồn, niềm vui, khổ đau hay hạnh phúc của những người ở đây. Cho nên ý niệm về Thénac hay về Meyrac của chúng ta không phù hợp với thực tại. Chúng ta chưa tiếp xúc được sâu sắc với chân như của làng Thénac, hay làng Meyrac. Vì vậy chúng ta đừng quá tin rằng ta biết Meyrac và Thénac là gì. Và chính ta nữa, ta cũng chưa biết ta là ai đâu. Ta nghĩ rằng ta là cái thân này, ta là cái thọ này, ta là cái tưởng này, nhưng cái thấy của ta về ta rất cạn cợt, rất sai lầm và ta chưa tiếp xúc được một cách sâu sắc với chân như của ta. Vậy thì có một cái thực tại mà bản thân của thực tại đó cần phải có sự tu tập, có sự quán chiếu thì mới biểu lộ ra được, cái đó gọi là thật tướng. Nhất thật tướngChân như, là Pháp tính. Pháp tính tức là the true nature of the dharma. Pháp tính là chữ viết tắt của chữ Pháp giới tính, tính là nature. Pháp giới tức là thế giới của các pháp, lĩnh vực của các pháp; tiếng Phạn là dharmadhātu. Trong đạo Bụt chúng ta thường dùng hai danh từ “thế giới” và “pháp giới”; thế giới là lokadhātu và pháp giới là dharmadhātu, ta phải hiểu được hai danh từ đó.

Lokadhātu là thế giới có sinh có diệt, thế giới mà trong đó sự vật nằm ngoài nhau; cái này chỉ là cái này, cái kia chỉ là cái kia, tôi chỉ là tôi, chị chỉ là chị, em chỉ là em, mẹ chỉ là mẹ và con chỉ là con. Đó là do cái thấy của chúng ta bị hạn cuộc trong nhận thức tri giác sai lầm của mình. Cho nên ta chỉ tiếp xúc được với cái thế giới thôi, tức là tri giác của ta về thực tại là thế giới và chính trong cái thế giới đó mà ta sống đời sống hằng ngày của mình. 

Trong thế giới (lokadhātu) thì có sinh, có diệt, có có, có không, có tôi, có anh, cái này nằm ngoài cái kia, cái này không phải là cái kia, người này nằm ngoài người kia, người này không phải là người kia, đó là thế giới mà chúng ta đang sống, thế giới đó được làm bằng vô minh và vọng tưởng.

Ngược lại, trong pháp giới (dharmadhātu) thì không có sinh, không có diệt, không có có, không có không, tôi đồng thời cũng là anh, anh đồng thời cũng là tôi, cha đồng thời cũng là con, con đồng thời cũng là cha, cha chứa đựng con, con chứa đựng cha, không có sự tách rời ra. Pháp giới là thế giới của chân như, của tự thân, là Nhất thật tướng.

Thế giới có thể ví dụ như những đợt sóng: có sinh, có diệt, có cao, có thấp, đợt sóng này không phải là đợt sóng kia. Còn pháp giới được ví như nước và nước thì không có lên, không có xuống, không có sinh, không có diệt, không có đẹp hơn hay xấu hơn, không có cái này, không có cái kia. Nếu không có nước thì sóng không có chỗ quay về, cũng như nếu không có niết bàn thì các hiện tượng sinh, diệt, có, không, còn, mất, không có chỗ để quay về. Nước là bản môn, sóng là tích môn, tuy nhiên sóng với nước không thể tách rời nhau được, sóng tức là nước, nước tức là sóng, bỏ nước thì không có sóng và bỏ sóng thì cũng không có nước. Trong pháp giới không có sự còn, mất, sinh, diệt, cái này, cái kia và nếu một giáo lý mà không biểu lộ được Nhất thật tướng thì không thể gọi là giáo lý đạo Bụt được. Nhất thật tướngChân như, tức là Pháp tính, cũng là Bất nhị

Bất nhị nghĩa là không phải hai, mình với anh mình không phải là hai, mình với thầy mình không phải là hai, bông hồng với con sóc không phải là hai, trong bông hồng có con sóc, trong con sóc có bông hồng. Cái một nằm trong cái tất cả, cái tất cả nằm trong cái một, đó là Vô phân biệt. Vô phân biệt, tiếng Phạn là nirvikalpa, tức là không có sự kỳ thị, không có sự chia cắt. Vô phân biệt nghĩa là không có tưởng tượng, không có tạo tác, không có xây cất nên một thế giới mà trong đó cái này nằm ngoài cái kia, cái này không phải là cái kia. Trí năng của chúng ta giống như một lưỡi gươm, chúng ta cắt rời thực tại ra thành từng miếng. Chúng ta nói cái này là anh, cái này là chị, anh không phải là chị, cha không phải là con, nước không phải là đất, đất không phải là lửa, đó gọi là phân biệt (discrimination). Pháp giới Nhất thật tướng là thực tại không phân biệt. Nhất thật tướng cũng là lìa các hư vọng; ly chư hư vọng tức là free from all illusions. Hư vọng chính là những tri giác sai lầm (wrong perceptions). Nếu một giáo lý mà không dạy về những điều đó thì chưa phải đích thực là giáo lý đạo Bụt. Nếu so với Pháp ấn thứ tư là Nhất thật tướng, thì Pháp ấn thứ hai (vô thường, khổ, vô ngã) tuy cũng là giáo lý đạo Bụt nhưng chưa dạy về niết bàn, thực tướng, chưa dạy về chân như, nên chưa phải là giáo lý đầy đủ của đạo Bụt.

Trong kinh còn có các danh từ như Nhất tướng, Vô tướng. Nhất tướng là một tướng, một này có nghĩa là vượt ra khỏi sự phân biệt, kỳ thị, vượt ra khỏi tính cách lưỡng nguyên (dualism). Vô tướng tuy cũng gọi là tướng nhưng tướng đó là tướng vô tướng. Tuy vô tướng nhưng nhìn vào thì mình cũng bị kẹt vào tướng, gọi là Nhất tướng vô tướng. Còn bên này là Chân như, là Niết bàn (Tịch diệt), tức là bình đẳng, Bất khả đắc.

Bất khả đắc là không nắm được bằng tri giác của mình (you can not grasp it), nó cũng là ly ngôn thuyết. Ly ngôn thuyết tức là không bị trói cột trong những lời nói. Lời nói của ta không diễn tả và không chứa đựng được nó. Ly là lìa, ngôn thuyết (spoken words) là lời nói. Ly danh tự là không bị kẹt vào chữ nghĩa. Ly tâm duyên tức là không thể chứa đựng được bằng tâm thức và tri giác của mình. Nhất thật tướng là nhất tướng, là vô tướng, niết bàn tướng, là bình đẳng tướng, bất khả đắc tướng, là ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng. Đó là những danh từ được dùng để phá đổ những danh từ và những ý niệm khác. Dùng danh từ, dùng ý niệm để đập phá tất cả những danh từ và những ý niệm, để cho tự thân của thực tại được biểu hiện. Đó là những danh từ Phật học chuyên môn để nói về thực tại mầu nhiệm của Pháp giới, Pháp giới Tính. Đây là con dấu quan trọng nhất trong đạo Bụt, hễ giáo lý nào mà có con dấu đó là chúng ta có thể biết chắc rằng giáo lý này là giáo lý của đức Thế Tôn. Cho nên Nhất thật tướngMột Pháp ấn, nhấn mạnh về niết bàn ở trong Tam Pháp ấn, vì có niết bàn rồi thì có những biểu hiện của niết bàn là: vô thường, vô ngã. Vô thường, vô ngã là những cánh cửa mở ra để ta có thể đi vào niết bàn.

Chúng ta hãy để ý đến hai danh từ thế giới và pháp giới, nếu chúng ta bị kẹt vào trong thế giới thì ta đi vào pháp giới không được. Hằng ngày chúng ta sống trong thế giới một cách hời hợt, vì thế nên ta bị kẹt vào những khổ đau, thất vọng, sợ hãi, hận thù, giận hờn. Phải tìm cách mở cho được cánh cửa pháp giới để đi vào thế giới của nhất tướng, của niết bàn, của bình đẳng, của bất khả đắc, của ly ngôn thuyết, của ly danh tự, của ly tâm duyên. Cánh cửa giúp ta đi vào được pháp giới là cửa vô thường và cửa vô ngã. Ban đầu ta bị kẹt vào thường và ngã, sau khi thực tập vô thường và vô ngã thì ta có thể vượt được cái thường và cái ngã. Nhưng nếu thực tập không giỏi thì ta sẽ lại bị kẹt vào vô thường và vô ngã, vì vậy phải thoát ra khỏi vô thường và vô ngã thì ta mới hoàn toàn đi vào được trong pháp giới. Pháp giới là tự do, không bị danh từ nào trói buộc dầu là danh từ vô thường hay vô ngã. Ban đầu ta bị kẹt vào danh từ thường và ngã, bị kẹt vào ý niệm thường và ngã nên ta dùng vô thường, vô ngã để đập phá, để giải thoát cho mình. Nhưng nếu tu hành không thông minh thì ta sẽ lại bị kẹt vào hai ý niệm, hai danh từ là vô thường và vô ngã; mà nếu còn ý niệm, còn danh từ tức là chưa đi được vào pháp giới. Cho nên, ta phải đập phá luôn cả những danh từ, cả những ý niệm về vô thường và vô ngã, đó gọi là ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng.

Những danh từ ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng trong tác phẩm Đại thừa khởi tín luận được sử dụng rất nhiều. 

Kinh Pháp ấn mà chúng ta đang học đây được gọi là kinh Ba cửa giải thoát, một kinh nói về pháp ấn nhưng rất đặc biệt.. Kinh này tuy không sử dụng danh từ Nhất thật tướng ấn nhưng kỳ thực đang nói về cái ấn đó, tức là ấn niết bàn. Thay vì sử dụng vô thường, vô ngã, niết bàn thì kinh sử dụng Tam giải thoát môn (Ba cửa giải thoát) là: không, vô tướng và vô tác. 

Hồi đó Bụt đang ở thành Xá Vệ với đầy đủ quý vị trong cộng đồng khất sĩ. Một hôm Ngài nói với đại chúng:

– Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn giải pháp ấn này cho quý vị nghe. Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, khéo léo sử dụng tâm ý để ghi nhớ mà hành trì.

Kinh này thuộc về thể tài vô vấn tự thuyết. Vô vấn tự thuyết tức là không có ai hỏi mà đức Thế Tôn tự nói ra. Có những kinh như kinh Kim cương thường được nói ra vì có người đến tham vấn với Bụt, như câu hỏi của trưởng lão Tu Bồ Đề: “Thiện nam tử, thiện nữ nhân mà muốn phát tâm bồ đề thì phải điều phục tâm như thế nào?”. Do vậy mà Bụt đã giảng kinh Kim cương, đó là do câu hỏi mà ra. Còn kinh này không có ai hỏi, Bụt gọi các thầy tới và tự ý Bụt nói, gọi là vô vấn tự thuyết. Vô vấn là không có ai hỏi (no question), tự thuyết là tự mình nói ra. Hôm đó Bụt có chủ ý dạy các thầy về Pháp ấn, về Ba cửa giải thoát. Giáo lý này rất quan trọng trong cả hai truyền thống Nam tông và Bắc tông nhưng chưa được khai thác và sử dụng đúng mức. Giáo lý này có thể gọi là giáo lý về pháp ấn.

Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không?

Danh từ pháp ấn là do chính Bụt nói ra. Pháp ấn này là pháp ấn mầu nhiệm, nghĩa là pháp ấn không dễ dầu gì mà ta có thể hiểu được. Nếu ta học hỏi một cách cạn cợt, không đem hết tất cả trái tim của ta ra để học hỏi, hành trì thì không thể nào thấu hiểu được pháp ấn này. Nếu chỉ đem trí năng (intellect) của ta ra để học hỏi thì ta sẽ không tiếp nhận được pháp ấn này. Chúng ta có sẵn những tư tưởng, những thành kiến, nhiều danh từ và nếu không biết cách làm cho những tư tưởng, những danh từ và ý kiến riêng của ta được lắng yên, thì ta không thể nào tiếp nhận được pháp ấn này. Cho nên pháp ấn này được gọi là pháp ấn mầu nhiệm. 

Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn giải pháp ấn này cho quý vị nghe. Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để nghe cho kỹ…

Nhận thức thanh tịnh tức là nhận thức không bị quấy động bởi những ý kiến, những thành kiến có sẵn. Phải lắng lòng nghe thì mới tiếp nhận được pháp ấn, nếu tâm của chúng ta còn lăng xăng, đầy dẫy những ý kiến có sẵn thì không dễ gì tiếp nhận được pháp ấn này. Nếu những kiến thức mà ta đã chất chứa trong quá khứ đó đầy ắp trong tâm ta thì pháp ấn không thể nào đi vào được. Vì vậy phải nghe với nhận thức thanh tịnh, phải làm cho tâm ta trống rỗng, lắng dịu lại thì lúc đó ta mới có khả năng nghe được pháp ấn.

Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để nghe cho kỹ.

Nghe cho kỹ tức là đế thính (deep listening), nghe với tất cả con người của mình; thân, miệng và ý hợp nhất thì mới có thể nghe được. Nghe cho kỹ là phải nghe như vậy.

Tiếp nhận cho thấu đáo.

Tức là tôi đưa mười phần thì quý vị phải tiếp nhận cho được mười phần, chứ đừng tiếp nhận hai, ba phần rồi trả lại cho tôi bảy, tám phần; phải tiếp nhận cho thấu đáo. 

Sau khi tiếp nhận thấu đáo rồi thì: 

Khéo léo sử dụng tâm ý để ghi nhớ mà hành trì.

Phải có sự khéo léo nữa thì mới tiếp nhận được, chứ chỉ có thiện chí và ao ước của mình thôi thì chưa đủ. Ta rất muốn tiếp nhận, có lòng tiếp nhận, khao khát tiếp nhận nhưng nếu không có sự khéo léo (skillfulness) thì ta cũng không tiếp nhận được. Đây là điểm rất quan trọng. Không phải hễ có chủ ý là ta có thể tiếp nhận, dầu người trao tặng có trao bằng tất cả trái tim và nghệ thuật của họ, nhưng người tiếp nhận không khéo léo thì cũng rớt ra ngoài, không đi vào được. Ví dụ như ta đưa chén trà ra để xin trà, nếu tay ta run, cầm không vững thì trà sẽ bị rót ra ngoài. Phải có sự vững chãi, phải có sự khéo léo là vậy. Thầy khéo léo mà trò không khéo léo thì cũng không thành công. Dù thầy có lòng, dù trò có lòng, hai bên đều có chú tâm, nhưng nếu thầy không khéo léo, trò không khéo léo, thì sự trao truyền cũng không thực hiện được. Cho nên Bụt dạy trước hết là phải đem nhận thức thanh tịnh ra, thứ hai là phải nghe cho thật kỹ (đế thính), phải tiếp nhận cho thấu đáo (all the way through), phải khéo léo sử dụng tâm ý, khéo léo như một người thổi sáo, như một người vũ công, như một người nghệ sĩ, thì mới có thể tiếp nhận được. Tâm ý của ta phải khéo léo mới có thể ghi nhận và sau khi ghi nhận thì phải đem ra áp dụng, gọi là khéo léo sử dụng tâm ý để ghi nhớ và hành trì. Thành ra trước khi nói về ba cửa giải thoát, về pháp ấn, Bụt đã dặn trước rằng đây là một giáo lý rất vi diệu, vì vậy quý vị phải đem hết lòng và phải cẩn thận, khéo léo mới tiếp nhận được. Nội câu mở đầu, Bụt cũng cho chúng ta thấy rằng kinh này rất quan trọng. Và cố nhiên khi nghe Bụt nói như vậy thì các thầy ngồi rất im lặng, các thầy đem hết tất cả trái tim của mình ra để tiếp nhận. Còn chúng ta, không biết ta có đủ khéo léo để tiếp nhận hay không.

Các vị khất sĩ bạch:

– Hay quá, thưa đức Thế Tôn! Xin người chỉ dạy cho, chúng con muốn được nghe.

Bụt dạy:

– Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt và vượt thoát mọi tri kiến.

Ngay câu đầu tiên Bụt đã đưa chúng ta đến với thế giới của bản môn, thế giới của pháp giới. Ngài đã sử dụng danh từ Śūnyatā. Śūnyatā tức là Không. Giáo lý về Không có mặt trong tất cả các truyền thống đạo Bụt. Không những giáo lý về Không được hiển lộ trong kinh Bát nhã mà còn hiển lộ trong kinh A hàm và những kinh khác. Trong Phật giáo Nam tông cũng có giáo lý về Không nhưng chúng ta có cảm tưởng là trong truyền thống Nam tông, giáo lý về Không chưa được khai thác và áp dụng đúng mức. Cho nên chúng ta rất mong mỏi các thầy, các đạo hữu trong truyền thống Nam tông khai thác thêm về giáo lý Śūnyatā vì đây là một giáo lý hết sức quan trọng. Śūnyatā có nghĩa là trống rỗng, là empty, vide, nó không có nghĩa là không có. To be empty nghĩa là không có cái thực chất, chứ không có nghĩa là không có mặt. 

Ví dụ như bọt nước, bọt nước thì không có thực chất bên trong nhưng không phải là không có bọt nước. Bông hoa kia cũng vậy, nó không có thực chất, nhưng không thể nói rằng không có bông hoa. Bông hoa có mặt đó, nhưng nó không có thực chất mà thôi. Cũng như khi chúng ta chặt cây chuối xuống rồi bóc ra một bẹ chuối, với hy vọng tìm thấy lõi của cây chuối. Nếu chưa thấy lõi của cây chuối, chúng ta bóc thêm bẹ chuối thứ hai, vẫn chưa thấy lõi cây chuối… Và ta tiếp tục bóc cho đến khi hết tất cả những bẹ chuối rồi mà bên trong vẫn không có cái lõi nào, there is no core. Nhìn vào bọt nước hay một cây chuối, ta thấy nó trống rỗng, không có thực chất bên trong. Đây là những hình ảnh mà Bụt đã dùng. 

Ngoài ra, Bụt còn dùng hình ảnh khác như một dải cầu vồng (rainbow, arc en ciel). Nhìn dải cầu vồng chúng ta đều thấy rõ ràng có bảy sắc, nhưng cầu vồng không có bản chất bên trong, cũng không có cái gì thực chất. Vì vậy, không những bọt nước là Không mà cây chuối cũng Không và cầu vồng cũng Không. Đó là ba hình ảnh mà Bụt rất ưa dùng: đám bọt nước đang trôi trên sông Hằng, cây chuối và cầu vồng. Bụt cũng ưa dùng hình ảnh những bong bóng nước trong khi trời mưa và nhà ảo thuật đứng giữa ngã tư biểu diễn trò ảo thuật để hấp dẫn quần chúng đi chợ về. Trong khi biểu diễn, nhà ảo thuật làm hiện ra quân lính với đầy đủ khí giới đi rầm rập. Những người có nhận thức sâu sắc có thể thấy rằng tất cả những cái này đều là ảo ảnh chứ không có thật. 

Cũng giống như đám bọt nước, những bong bóng nước, cây chuối, , dải cầu vồng, hay những cảnh tượng của nhà ảo thuật biểu diễn, chúng ta thấy năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là có nhưng kỳ thực ở trong đều trống rỗng, empty. Cho nên tự tính của năm uẩn là Không, nhưng Không ở đây không có nghĩa là ngược với có. Không nghĩa là không chắc thực, không có ngã. Tự tính của Không, the nature of emptiness, the nature of Śūnyatā, là không nằm trên bình diện có không. Không này không nằm trong hai ý niệm có và không, nó vượt thoát ra khỏi có và không. Vì vậy chữ “Không” này phải viết hoa, không thể viết thường được, để khỏi nhầm với chữ không ngược lại với có. Có thể chúng ta nên dùng chữ Chân không, true emptiness.

Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng.

The nature of Śūnyatā is not found, is not caught, cannot be grasped by wrong perceptions (vọng tưởng). Đi tìm tự tính Không bằng tri giác (perception) thì chúng ta không thể nắm bắt được. Tại vì ta đang bị kẹt vào những vọng tưởng về không, về có, về trong, về ngoài, về trên, về dưới, về cái này, về cái kia, vì vậy ta không thể nắm được cái Không. Không ở đây tức là niết bàn, là sự vắng mặt của tất cả những ý niệm, những tướng trạng bên ngoài.

Không có tướng sinh, không có tướng diệt.

Thực tại tối hậu không bị kẹt vào tướng sinh, không bị kẹt vào tướng diệt, không bị sinh và diệt làm cho điên đảo.

Và vượt thoát mọi tri kiến.

Tri kiến tức là những cái thấy, cái biết của mình, our knowledge. Chúng ta học hỏi và đã chứa chấp những hiểu biết của mình. Những hiểu biết của chúng ta được làm bằng những khái niệm, những ý niệm và tự tính của Không, tức là thực tại – là niết bàn vượt thoát tất cả mọi tri kiến. Tri kiến của chúng ta có thể được ví như những tảng băng cứng, vì vậy nên nó chặn đứng dòng sông. Dòng sông đang trôi chảy tự nhiên có những tảng băng được thành lập, khiến nó không trôi chảy êm đềm nữa. Chúng ta cũng vậy, chúng ta thâu thập những ý niệm, dầu là ý niệm về giáo lý như ý niệm về vô thường, vô ngã, niết bàn,… mà niết bàn đâu phải là một ý niệm. Khi chúng ta có một ý niệm về niết bàn thì chúng ta chẳng khác gì những khối nước đá và vì vậy dòng sông của thực tại không trôi chảy được, thành ra phải làm cho những tảng băng ý niệm tan chảy trở thành nước thì dòng sông thực tại mới trôi đi được. Vì vậy thoát ra khỏi ý niệm, thoát ra khỏi mọi tri kiến là một sự thực tập.

– Tự tính của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt và vượt thoát mọi tri kiến. Tại sao thế? Vì tự tính của Không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng, không thể khái niệm được, chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm bắt được và thoát ly mọi sự nắm bắt.

Câu thứ hai này cũng chỉ để giải thích cho câu thứ nhất mà thôi. Tất cả mọi thứ ta đều có thể khái niệm được là vì nó nằm trong không gian và thời gian. Như chúng ta có ý niệm về cha, thì cha chúng ta nằm trong không gian và thời gian. Mẹ chúng ta cũng nằm trong không gian và thời gian. Chúng ta có ý niệm về Bụt, và chúng ta cũng đặt Bụt vào trong không gian và thời gian, thành Ca Tỳ La Vệ, 2.600 năm xưa, đó là khung cảnh không gian, thời gian mà chúng ta đặt Bụt vào. Bụt đó là Bụt của khái niệm, cha đó là cha của khái niệm, mẹ đó là mẹ của khái niệm, chứ chưa phải là tự thân của Bụt, tự thân của cha, của mẹ. Chính bản thân ta cũng vậy, chân như của bản thân ta cũng vậy, không nằm trong không gian, không nằm trong thời gian, chỉ khi nào đi vào bản môn, đi vào pháp giới, vượt thoát tri kiến thì mới thấy được. “Ta là ai?” là câu hỏi mà khi tìm ra được bản thân, vượt thoát khuôn khổ của thời gian và không gian, của có – không, lúc đó ta mới tìm thấy ta, và khi ta tìm thấy ta được rồi thì tất cả những sầu khổ, những sợ hãi sẽ tan biến.

Vì tự tính của Không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng.

Chúng ta hãy nhớ lại ví dụ về nước, H2O. H2O thoát ra khỏi mọi hình tướng. Có khi chúng ta thấy nó là tuyết, có khi nó không phải là tuyết mà là hơi, là sương mù, là mây, có khi là những cục nước đá, và ta có thể nhận diện sự có mặt của nước trong những lá cây, trong bàn tay của ta. Nếu bị kẹt vào một trong những tướng của nước thì ta sẽ có sự phân biệt, ta nói sông là nước còn mây không phải là nước, tuyết không phải là nước. Cho nên tự tính của nước, của H2O là vô tướng. Chưa thấy được tính chất vô tướng của H2O thì ta chưa thấy được H2O. Vì vậy, phải khéo léo, đừng để bị kẹt vào tướng như tướng cha, tướng mẹ, tướng anh, tướng em, tướng chị, tướng người thương, tướng kẻ thù,… Ta phải vượt ra khỏi tướng. “Không có hình tướng” là như vậy, Alakṣaṇa – không có hình tướng, nhất tướng (the appearance of one), vô tướng (the no-appearance).

Không thể khái niệm được.

Khái niệm tức là nắm bắt bằng những tri giác, unconceivable, you can not conceive it, you can not grasp it by your ideas and concepts. Chúng ta không thể nhốt thực tại của pháp giới trong những khái niệm, cũng giống như ta không thể nhốt tiếng chim cúc cu vào trong một cái lon, hay không thể nhốt được làn gió mùa xuân vào trong một cái rương. Nếu ta nghĩ rằng có thể nhốt được làn gió mùa xuân vào trong một cái rương tức là ta quá ngây thơ. Và nếu ta nghĩ rằng có thể thâu được thực tại niết bàn vào trong một khái niệm, một ý tưởng thì ta cũng ngây thơ tương đương như vậy. Cho nên, nhà triết học không thể nào đạt tới chân như vì nhà triết học chỉ có tư tưởng, chỉ có khái niệm và ngôn từ, trong khi thực tại chân như thì thoát khỏi tư tưởng, thoát khỏi danh tự và ngôn ngữ. Do đó mới gọi là “ly ngôn thuyết tướng”, “ly danh tự tướng”, “ly tâm duyên tướng”, và “bất khả đắc”, đây là những danh từ rất phổ thông. Ly tâm duyên tướng tức là không thể nắm được bằng khái niệm, tư tưởng. Ly danh tự tướng tức là không thể diễn tả được bằng những danh từ, những động từ. Ly ngôn thuyết tướng là không thể diễn tả được bằng lời nói. Và bất khả đắc tức là không nắm được, không nhốt được vào trong những khái niệm.

Không thể khái niệm được, chưa bao giờ từng sinh khởi.

Chưa bao giờ sinh khởi, danh từ chuyên môn là vô sinh. Chưa bao giờ sinh khởi nghĩa là sẽ không bao giờ hoại diệt. Không những chân như của Bụt là không sinh không diệt, mà chân như của bông hoa cũng không sinh không diệt, chân như của chính bản thân ta, của sư chú Pháp Dung, của sư cô Huyền Nghiêm cũng là vô sinh bất diệt. 

Lúc này là vào cuối tháng Tư, tới tháng Sáu các hồ sen của xóm Thượng, xóm Hạ sẽ nở ra những bông sen, và nếu đến gần, chúng ta sẽ ngửi thấy hương sen. Bây giờ chưa có một bông sen nào ló dạng, chỉ mới có những lá sen non, nhưng ta biết bông sen và hương sen đã có ở đó, nó sẽ biểu hiện, và ta không thể nói rằng không có bông sen, không có hương sen được. Hoa và hương sen có đó, nó vượt thoát khỏi ý niệm có không, chỉ đợi đủ điều kiện để biểu hiện. Và mùi hương tinh khiết của bông sen đó là cái gì? Ở trong kinh có một lần thầy Khemaka hỏi rằng: “Hương đó là hương của cánh sen, của nhụy sen, hay là hương của cành sen, hoặc của rễ sen?”. Câu hỏi đó rất khó trả lời, có thể nói hương của hoa sen cũng được. Nhưng nếu không có rễ kia, không có cành kia thì làm sao có hương nọ, vậy cho nên ta cứ tưởng rằng hương sen đó tự nó có, và nó có, nó không, có khi có, có khi không. Nhưng kỳ thực hồ sen có đó thì hương sen cũng có đó. Ngay trong mùa đông thì hương sen vẫn có đó, chẳng qua vì ta không tiếp xúc được cho nên ta nói nó là không. Đức Thế Tôn cũng vậy, hay ông ngoại của ta cũng vậy, bây giờ ta không thấy cái tướng, nhưng ta không thể nói đức Thế Tôn không có mặt và ông ngoại ta không có mặt. Nếu đi vào được thế giới của vô tướng thì nắm tay Bụt thiền hành là chuyện ta có thể làm được ngày hôm nay, hay ngồi uống trà với ông ngoại là chuyện ta cũng có thể làm được hôm nay, và tất cả những sầu khổ nhớ nhung không thể nào đi vào trong trái tim của ta nữa. Đây là tinh hoa của đạo Bụt mà ta phải tiếp nhận và phải thực tập cho được. 

Không có gì đã qua và đã mất, 

không có gì sẽ qua và sẽ mất. 

Đó là hai câu thơ của thầy trong tập Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt.

Vì tự tính của Không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng, không thể khái niệm được, chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm bắt được và thoát ly mọi sự nắm bắt.

Vì thoát ly được mọi sự nắm bắt nên nó bao hàm được tất cả các pháp và an trú nơi cái thấy bình đẳng không phân biệt

Cái thấy bình đẳng tức là Samatā, bình đẳng nghĩa là không có kỳ thị. Chúng ta có chữ bình đẳng, ban đầu thì kẹt vào tướng, ta thấy có sự khác nhau giữa Bụt và chúng sinh, giữa ngọn núi và hạt sỏi, nhưng đi vào thế giới của bản môn, của pháp giới, ta thấy rõ ràng rằng ngọn núi được làm bằng hạt sỏi, và hạt sỏi đại diện cho ngọn núi. Nhìn vào ngọn núi ta thấy hạt sỏi và nhìn vào hạt sỏi ta thấy ngọn núi, ta không có sự kỳ thị phân biệt nữa, cho nên ta đạt tới cái thấy bình đẳng, Samatā, bình đẳng tính. Chúng sinh và Bụt cũng vậy, ta nói chúng sinh là khác mà Bụt là khác, đó là hai thái cực, nhưng nhìn sâu thì thấy rằng Bụt được làm bằng chúng sinh, và chúng sinh có bản chất của Bụt, vì vậy giữa chúng sinh và Bụt có tính bình đẳng. Thấy được như vậy rồi thì ta không còn chạy đi tìm nữa. Hạt sỏi biết nó là ngọn núi, và ngọn núi biết nó là hạt sỏi, ngọn núi không tự hào và hạt sỏi cũng không mặc cảm tự ti, low self-esteem.

Không phân biệt tức là non discriminative, nirvikalpa. 

Cái thấy ấy là cái thấy chân chính và xác thực.

This is the only right understanding, the only right view. The right view is the view that is free from all kinds of view. Cái thấy chân thực là cái thấy vượt thoát tất cả những cái thấy.

Quý vị khất sĩ! Quý vị nên biết rằng không những tự tính của Không như thế mà tự tính của tất cả các pháp cũng đều như thế.

Không ở đây tức là niết bàn.

Không phải niết bàn là như vậy mà chiếc lá kia, hạt sỏi nọ, rồi chính bản thân chúng ta cũng giống như vậy: cũng nhất tướng, cũng vô tướng, niết bàn, bình đẳng, ly danh tự, ly ngôn thuyết, bất khả đắc.

Đó gọi là pháp ấn.

Kinh này nói về Nhất thật tướng ấn, bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Đại thừa, vì thế chúng ta không thể nói kinh này là kinh Tiểu thừa hay kinh Đại thừa. Kinh này không cần nói tới vô thường, vô ngã và niết bàn, nhưng đích thực là nói về pháp ấn. Danh từ Nhất thật tướng ấn, có thể dịch là The seal of the ultimate reality, chưa có trong kinh này, nhưng nội dung của Nhất thật tướng ấn thì đã có trong kinh dù không dùng đúng tên gọi đó (the seal of the ultimate reality is already here in the sutra, although it is not called by that name).

Quý vị khất sĩ! Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải thoát, là giáo lý căn bản của chư Bụt, là con mắt của chư Bụt, là chỗ đi về của chư Bụt.

Không có lời nào nhấn mạnh tới sự quan trọng của pháp ấn bằng câu nói này. Pháp ấn này là ba cánh cửa để đi vào giải thoát – Tam giải thoát môn; là giáo lý căn bản của chư Bụt, the basic teaching of all the Buddha; là con mắt của chư Bụt, they are the eyes of the Buddha, là Phật nhãn; là chỗ đi về của chư Bụt, the final destination of the Buddha. Không thể nào nói hơn được, không thể nhấn mạnh hơn về sự quan trọng của ba pháp ấn, tức là Tam giải thoát môn.

Vì vậy quý vị nên nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ mà tư duy và quán chiếu ngay trong lòng thực tại.

Bụt lại dặn dò thêm một lần nữa: nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ mà tư duy. Tư duy tức là thiền quán, vì thiền dịch là tư duy tu. Tư duy không có nghĩa là suy nghĩ mà phải dùng trí của mình để quán chiếu. Tư duy và quán chiếu ngay trong lòng thực tại, tức là phải nhìn vào thực tại để quán chiếu, đừng bay bổng trong thế giới của sự suy luận siêu hình. Đừng chơi thể thao với những ý niệm, dầu là ý niệm vô thường, vô ngã, không, vô tướng, vô tác. 

Bây giờ chúng ta đi sang pháp ấn thứ nhất gọi là Không – Śūnyatā.

Quý vị khất sĩ! Người tu hành nên tìm nơi tĩnh mịch như vào rừng, ngồi dưới gốc cây để thực tập quán chiếu về tự thân thực tại.

Phải thấy mọi hình sắc là khổ, không và vô thường để thoát ly cho được sự bám víu vào hình sắc và trở về an trú trong cái thấy bình đẳng không phân biệt đối với hình sắc.

Kinh này cũng nói tới vô thường, khổ và vô ngã. Trước hết là sắc, tức là hình hài của ta và vật chất, phải nhìn vào sắc để thấy tính cách vô thường của nó, và thấy rằng nếu ta dại dột ngây thơ thì nó sẽ gây khổ đau cho mình. Nó là vô thường, là vô ngã mà ta cứ tưởng là thường, là ngã, là chắc thật nên để nó gây khổ đau cho mình.

…để thoát ly cho được sự bám víu vào hình sắc.

Chúng ta an cư lập nghiệp trong sắc, xây nhà trong sắc, làm chùa trong sắc, ký kết lâu dài với sắc là rất dại dột. Cũng như ta ký kết lâu dài với mùi hương của bông sen, ký kết lâu dài với bông sen hay lá sen là dại dột. Ta phải thấy bông sen trong củ sen, phải thấy bông sen trong nước, trong đất và trong vũ trụ. Ta phải thấy sắc ở trong thanh, hương, vị, xúc và pháp. Ta phải thấy sắc ở trong tứ đại. Ta đừng bám víu vào một phần nhỏ của thực tại để làm ăn lâu dài với riêng nó, vì thân ta thế nào cũng già, cũng bệnh, cho rằng ta là cái thân này thì sẽ có ngày ta đau khổ, hoặc có khi phải đau khổ ngay từ bây giờ. Phải thấy thân là vô thường, là vô ngã, là không thì ta mới thoát được những khổ đau đó. 

Phải thấy mọi hình sắc là khổ, không và vô thường để thoát ly cho được sự bám víu vào hình sắc và trở về an trú trong cái thấy bình đẳng không phân biệt đối với hình sắc.

Chúng ta quán chiếu về sắc, phải thấy được tính bất khả đắc, chân như, pháp tính, bất nhị, vô phân biệt, ly chư vọng tưởng, ly chư hư vọng của sắc. 

Và đối với các uẩn khác như thọ, tưởng, hành, thức, ta cũng phải quán chiếu nhìn sâu để thấy được những cái đó.

Đối với cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức cũng thế: người ấy nên quán chiếu rằng chúng là khổ, không và vô thường để có thể thoát ly cho được cái thấy có tính cách sai lạc về cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức để đạt tới cái thấy bình đẳng không phân biệt về chúng.

Phải thấy được tính SamatāNirvikalpa. Nirvikalpa là không phân biệt. 

Này quý vị khất sĩ, các uẩn vốn là không, vốn được sinh khởi từ tâm, khi tâm không còn hiện hành thì uẩn cũng không còn tác dụng. Thấy biết được như thế tức là đạt được giải thoát chân chính. Giải thoát chân chính rồi thì thoát được mọi tri kiến. Phép quán sát này được gọi là KHÔNG, cánh cửa giải thoát thứ nhất.

Khi ta muốn ký kết làm ăn lâu dài với sắc thì sắc trở thành miếng đất phì nhiêu, màu mỡ cho những tham đắm, thèm khát, kỳ thị, giận hờn và sợ hãi. Vì vậy nên thức lớn mạnh, thức ở đây là vọng thức. Chính vọng thức làm cho ta điên đảo mỗi ngày. Sắc là hình hài, là một miếng đất màu mỡ, nếu đem vọng thức của ta trồng vào trong miếng đất màu mỡ của sắc thì vọng thức sẽ lớn lên. Vọng thức càng lớn chừng nào thì càng sinh ra nhiều tham đắm, kỳ thị, sợ hãi trong đó, cho nên thức lấy thức ăn từ sắc. Trong khi đó, cái mà ta cần thực hiện không phải là thức mà là trí tuệ. Khi trí tuệ phát triển thì ta sẽ không bám vào sắc, sẽ không ký kết làm ăn lâu dài với sắc vì ta biết sắc là vô thường, là không, là trống rỗng như một ráng trời. Chúng ta biết ráng trời là vô thường, cầu vồng là vô thường và không có thực chất, cho nên khi có ráng trời thì chúng ta vỗ tay vui mừng, đến khi ráng trời mất chúng ta không đau khổ, không than khóc là nhờ chúng ta có trí tuệ, ta biết rõ rằng ráng trời là vô thường và không có thực chất. Nhưng ta không áp dụng được cái thấy đó vào thân thể ta và thân thể của người kia cho nên ta không có trí tuệ, và không có trí tuệ tức là vọng thức lớn lên, khi vọng thức lớn lên thì ta rơi vào sợ hãi, khổ đau, và tuyệt vọng. Bụt dạy rằng sắc là miếng đất màu mỡ để phát sinh vọng thức, và phải dùng trí thì mới tránh khỏi tình trạng vọng thức sinh trưởng ở trên sắc. Phải quán chiếu sắc bằng trí tuệ, phải thấy sắc là vô thường, là không có thực chất.

Đối với thọ, phải quán chiếu thọ là vô thường và không có thực chất. Mỗi ngày ta có khuynh hướng chạy theo thọ, ký kết với thọ để tìm những cảm thọ dễ chịu. Nghe một câu nói khen ngợi, đi tìm những cảm thọ, muốn làm ăn lâu dài với những cảm thọ mà không thấy rằng cảm thọ là vô thường, là không có thực chất. Phải thấy được cảm thọ của ta cũng như chiếc cầu vồng thì chúng ta mới không đau khổ, còn nếu thấy cảm thọ là một cái gì chắc thật, lâu bền thì chúng ta sẽ đau khổ. Sắc là vô thường, là không có thực chất, thọ cũng vô thường, cũng không có thực chất. 

Tưởng cũng vậy, những tri giác của ta cũng vô thường và không có thực chất. Có những người giữ chặt những tri giác đến 20 năm, 40 năm và đau khổ vì những tri giác của mình. Tri giác vô thường và không có thực chất, vậy mà chúng ta cứ giữ chặt tri giác đó, bám vào tri giác, ký kết lâu dài với tri giác. Ví dụ ta nói: “Đây là người thương của mình, đây là kẻ thù của mình. Người thương của mình thì mình phải làm như thế này và kẻ thù của mình thì mình phải làm như thế kia”. Với tri giác đó ta có thể nuôi dưỡng vọng thức của mình trong 20 năm, 30 năm, 50 năm. Có khi ta không nhận ra người mà ta cho là kẻ thù có thể trở thành bạn thân và rất quan trọng với mình. Ta có thể biến người đó thành người thương và giúp người đó có hạnh phúc để người đó không gây khổ đau cho những người xung quanh. Vì vậy tri giác của chúng ta cũng là một miếng đất màu mỡ để nuôi vọng thức. Chúng ta đau khổ vì tri giác của mình, chúng ta níu lấy những tri giác, cho nó là chân thật, kỳ thực nó cũng như ráng trời, cũng vô thường và không có thực chất, có thể chỉ là những vọng tưởng. Trong khi đó, tuệ giác về vô thường vô ngã của chúng ta rất yếu ớt, cho nên ta mới để vọng thức được nuôi dưỡng bằng những miếng đất màu mỡ của sắc, thọ, tưởng, hành.

Này quý vị khất sĩ, các uẩn vốn là không, vốn được sinh khởi từ tâm.

Tâm biến hiện ra các uẩn và các uẩn đối với ta là những thủ uẩn, là những yếu tố mà ta bị kẹt vào. Nếu tâm ta được giải thoát, nếu tuệ phát triển thì vọng thức bị tiêu diệt, thủ uẩn không còn lưu lạc, níu kéo và giam hãm ta được nữa. Cho nên mới gọi là:

Khi tâm không còn hiện hành thì uẩn cũng không còn tác dụng.

Tâm ở đây tức là vọng thức. Lúc này, nó không còn làm được gì mình nữa.

Thấy biết được như thế tức là đạt được giải thoát chân chính.

Chúng không còn là thủ uẩn nữa mà là xả uẩn, cũng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhưng ta chơi với chúng một cách rất giải thoát. Giống như một đứa trẻ ngồi xây lâu đài bằng cát ở trên bãi biển, đây là cổng ra vào, đây là bức tường thành, đây là cái tháp ở giữa, chơi rất vui. Thế nhưng đứa trẻ biết rằng đó là những nhà cửa làm bằng cát, và khi mẹ gọi: “Con ơi về ăn cơm”, thì đứa trẻ có thể đưa chân đạp cái lâu đài đó sập xuống mà không tiếc nuối. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng vậy, nếu đó là những thủ uẩn thì chúng làm cho ta cực kỳ đau khổ, nhưng nếu ta biết bản chất của chúng là vô thường, vô ngã, thì ta có thể chơi với chúng mà không đau khổ vì khi đó chúng đã là xả uẩn.

Giải thoát chân chính rồi thì thoát được mọi tri kiến.

Giải thoát chân chính tiếng Anh là true liberation.

Mọi tri kiến tức là mọi thành kiến, mọi ý niệm.

Phép quán sát này được gọi là KHÔNG, cánh cửa giải thoát thứ nhất.

Phải mở cánh cửa đó thì mới ra khỏi tù ngục mà mình gọi là tam giới.

Bây giờ chúng ta đi sang giải thoát môn thứ hai là vô tướng. Chúng ta đã hiểu rằng vô tướng là không kẹt vào tướng.

Lại nữa, an trú trong định mà quán sát các đối tượng thì hành giả thấy các đối tượng hình sắc đều tan biến hết và người ấy thoát ly được tính cách hư ảo của tri giác về hình sắc.

Chúng ta thấy tướng hoa, tướng lá, tướng hương, tướng sắc. An trú trong định mà quán sát các đối tượng, khi chúng ta quán sát cầu vồng, quán sát cây chuối, đám bọt nước, hình hài của một người anh, người chị, người em, người con, hay hình hài của chính ta, thì ta phải an trú trong định mà quán sát. Tâm ta có định thì mới đi sâu vào sự quán sát, và muốn có định thì phải có chánh niệm, vì niệm đưa tới định, mà có định rồi thì mới có được tuệ. Công việc của người tu là đi tìm tuệ, phát triển tuệ, khai triển tuệ, mà muốn có tuệ thì phải có định, vì vậy phải sống chánh niệm và phải quán chiếu. Trong khi nấu cơm, ăn cơm, chùi nồi, giặt áo,… những lúc đó ta nên giữ gìn chánh niệm và nhìn sâu vào những gì đang xảy ra trong hiện tại. Với định lực, ta có thể thấy được tính cách không chắc thực của vạn pháp, tính cách vô thường và duyên sinh của vạn pháp. 

Khi nhai một miếng đậu que, thay vì nhai miếng đậu que để suy nghĩ tới chuyện quá khứ, chuyện tương lai, ta nên thực sự nhai miếng đậu que, thấy miếng đậu que là một hiện tượng mầu nhiệm. Trong miếng đậu que có mây, có nước, có ánh sáng, có vũ trụ và ta có thể thấy được tính cách vô tướng của đậu que. Trước đây độ chừng ba tháng ta không thấy được miếng đậu que này, miếng đậu que từ đâu tới, rồi ta thấy được hạt đậu, thấy được đất, mưa, nắng, và người làm vườn,… để cho hạt đậu thành cây đậu, biểu hiện ra một cách rất mầu nhiệm. Đậu que là danh từ Việt hóa haricot vert, đậu ve lại thành ra đậu que. Khi ăn miếng đậu que, ta tiếp xúc được với tướng của đậu que. Ta nhìn thấy tướng của hạt đậu que và thấy được cái vô tướng của hạt đậu que, miếng đậu que. Là người tu thành ra chúng ta không bị kẹt vào tướng. An trú trong định mà quán sát rất quan trọng và khi ăn như vậy là ăn rất sâu sắc. Với một ít định lực, nhìn vào miếng đậu que, ta có thể phát ra được tuệ giác về vô thường, về tương tức, về vô ngã. Ăn một miếng đậu que có thể chảy nước mắt vì hạnh phúc, mà cũng vì đau khổ. Những chất hữu cơ, những chất vô cơ hợp lại làm ra miếng đậu que. Và sinh mạng của nhiều chúng sinh cũng liên hệ tới miếng đậu mà chúng ta ăn. Chúng ta mỉm cười với miếng đậu que, thấy rằng miếng đậu que có mặt khắp nơi trên thế giới, và hôm nay nó biểu hiện cho chúng ta thấy để nhận diện được nó. 

Chúng ta phải thấy được cái vô tướng qua cái tướng. Trong khi uống trà, thói quen của ta cũng như uống nước, rồi ta để ý tới cái tướng của nước trà, hương vị của nước trà chứ ta không nhìn sâu để tiếp xúc được cái vô tướng của trà. Ta không thấy được rằng nước trà đã từng là mây bay trên trời, nó có thể đã từng bay qua dãy Hy Mã Lạp Sơn, hay là dãy Pyrenees, nó đã từng rơi xuống làm thành mưa trên Đại Tây Dương. Nó đã từng đi vào trong máu của một đức Thế Tôn, hình tướng của nó khi là máu của đức Thế Tôn thì đỏ, bây giờ thì vàng, và ta thoát được tướng đỏ, thoát được tướng vàng, thoát được tướng nước, thoát được tướng mây, thoát được tướng tuyết. Thành ra khi nhìn vào tướng của nước trà, ta thấy được cái vô tướng của nước trà. Chỉ khi nào đạt tới vô tướng thì sự sợ hãi của ta mới tiêu tan. Ta sợ hãi gì? Sợ hãi có, sợ hãi không, sợ hãi còn, sợ hãi mất, sợ hãi sinh, sợ hãi diệt. Thành ra vô tướng là một cánh cửa rất mầu nhiệm. Khi tiếp xúc với tướng và qua tướng, ta thấy được cái vô tướng, vì vậy tất cả những sự sợ hãi lo buồn của ta được tiêu tan. Bụt có tướng và Bụt có vô tướng, cha mình và mình đều có tướng và có vô tướng. Người tu là người phải tiếp xúc được với cái vô tướng thì mới có thể giải thoát được. Cánh cửa này là cánh cửa vương đạo, mở ra được thì giải thoát. Hãy tưởng tượng chúng ta nghe nói có một ngôi nhà cổ rất đẹp và đầy châu báu. Chúng ta tìm tới được ngôi nhà đó, thấy có ba cánh cửa rất chắc và ta biết nếu mở được một trong ba cánh cửa này thì ta có thể mở được không gian mầu nhiệm của căn nhà đó ra cùng với tất cả những châu báu bên trong. Cánh cửa đầu là cánh cửa Không, cánh cửa thứ hai là cánh cửa Vô tướng, và cánh cửa thứ ba là cánh cửa Vô tác. Chúng ta phải rất khéo léo mới có thể có được chiếc chìa khóa, mới có thể đưa chìa khóa vào được ổ khóa và mở tung được hai cánh cửa. Khi hai cánh cửa được mở ra thì bao nhiêu không gian mở ra, ánh sáng lùa vào trong căn nhà đó, và chúng ta thấy được thế giới của mầu nhiệm. Cánh cửa Không rất mầu nhiệm, cánh cửa Vô tướng cũng rất mầu nhiệm. 

Khi nhìn vào thầy, chúng ta có thể thấy được sư Ông của mình, có thể thấy được sư Tổ, có thể thấy được Bụt. Khi nhìn vào sư chị, ta cũng có thể thấy được Bụt, thấy được thầy, thấy được các đệ tử, các thế hệ tương lai. Chúng ta phải thấy được cái vô tướng nơi sư chị, phải thấy được cái vô tướng nơi sư anh, phải thấy được cái vô tướng của mình, vì vậy tự nhiên giữa ta với sư chị, sư anh của mình có một mối liên hệ rất mật thiết. Tất cả những ganh ghét, kỳ thị, buồn bực không còn nữa và chúng ta được giải thoát. Chị là em, em là chị, chúng ta cùng chung một dòng sinh mạng, trong em có chị, trong chị có em, trong em có thầy, trong thầy có Bụt, chúng ta tương tức. Và chúng ta thấy tướng của ta không phải là trong không gian, trong thời gian, vì vô tướng cũng như cái Không, nó vượt thoát không gian và thời gian, cho nên chúng ta không còn than khóc là Bụt nhập diệt cách đây đã 2.500 năm rồi. Khi thấy được cái vô tướng của Bụt thì chúng ta có thể ngồi ăn cơm với Bụt, có thể thiền hành với Bụt, nắm tay Bụt bất cứ lúc nào, vì Bụt cũng vô tướng, Bụt không sinh, Bụt không diệt, không có quá khứ, cũng không có tương lai.

Lại nữa, an trú trong định mà quán sát các đối tượng thì hành giả thấy các đối tượng hình sắc đều tan biến hết.

Chúng ta thấy tướng, nhưng tướng đó không làm cho ta kẹt nữa, cho nên gọi là tan biến. Ta đang ăn miếng đậu que, miếng đậu que có đó, nhưng ta nhìn sâu hơn, thấy tất cả vũ trụ muôn loài đều tới với ta để nuôi dưỡng ta trong lúc này. Thức ăn này là tặng phẩm của đất trời, cả đất trời tới để nuôi mình, và tới dưới hình tướng của một miếng đậu que, thành ra nhìn vào đậu que thì phải thấy trời đất và vũ trụ.

Và người ấy thoát ly được tính cách hư ảo của tri giác về hình sắc.

Chúng ta có tri giác sai lầm về sắc và khi tiếp xúc được vô tướng thì tri giác sai lầm đó tan biến, rất hay.

Các đối tượng khác là thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng đều tan biến hết và hành giả thoát ly được tính cách hư ảo của mọi tri giác về thanh, hương, vị, xúc và pháp. 

Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp là sáu đối tượng của sáu giác quan và nếu biết nhìn sâu, nhìn kỹ, ta khám phá được chiều sâu của vô tướng. Thấy được chiều sâu của vô tướng rồi thì ta không còn bị kẹt, không bị vướng vào đam mê, tham đắm nữa.

Phép quán sát này gọi là VÔ TƯỚNG, cửa giải thoát thứ hai. Vào được cánh cửa giải thoát này rồi thì tri kiến sẽ được thanh tịnh;

Pháp quán sát này gọi là Vô tướng, Alakṣaṇa, tức là không có những ý niệm lăng xăng, những vọng tưởng. Tri kiến thanh tịnh tức là cái thấy, cái biết của chúng ta phù hợp với chân như, phù hợp với pháp giới. Còn những tri kiến thường ngày là tri kiến không thanh tịnh, tức từ một tri kiến mà phát ra những cơn giận, buồn, lo sợ, ganh tị, thì ta biết tri kiến đó không phải là tri kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh sẽ không phát ra những cảm thọ như vậy.

Và vì tri kiến đã được thanh tịnh nên hành giả diệt trừ được hết các phiền não tham, sân và si.

Đúng như vậy, tri kiến không thanh tịnh đưa đến vướng mắc, hận thù và u mê.

Tham, sân và si đã tận diệt thì hành giả an trú được trong cái thấy bình đẳng.

Bình đẳng, Samatā, không có nghĩa là bình đẳng xã hội, người giàu – người nghèo, quyền công dân,… Mà bình đẳng ở đây là không có sự kỳ thị giữa ngọn núi với hòn sỏi, cha và con, Bụt và chúng sinh, mình với sư em của mình. Chúng ta phải thấy được bản chất nhất như của các hiện tượng đó và không kỳ thị, mới gọi là cái thấy bình đẳng.

An trú được trong cái thấy này thì lìa được những cái thấy về ta và về của ta.

This is me, this is mine, tức là vượt thoát ngã chấp.

Nghĩa là chấm dứt được mọi cái thấy sai lầm.

Khi vượt thoát được ý niệm ta và của ta tức là đã vượt thoát tất cả những ý niệm sai lầm. Tất cả những khổ đau, ganh tị, sợ hãi, buồn nản đều do ngã kiến và ngã sở kiến đưa đến. Ngã là ta, mà ngã sở là của ta.

Cái thấy này không còn cơ hội và căn cứ để sinh khởi nữa.

Những cái thấy sai lầm không còn cơ hội và căn cứ để sinh khởi, cho nên vọng thức không còn lớn lên được. Vì chấm dứt được cái thấy sai lầm cho nên vọng thức không thể tiếp tục được nuôi dưỡng bởi sắc, thọ, tưởng, hành, thức, theo chiều vô minh.

Cánh cửa giải thoát thứ nhất tức là Không, śūnyatā, emptiness. Cánh cửa thứ hai là Vô tướng, alakṣaṇa, signlessness. Bây giờ chúng ta học tới cánh cửa thứ ba là Vô tác, apraṇihita, aimlessness. 

Vô tác nghĩa là không cần làm gì hết, không có mục đích gì hết. Đây là một giáo lý rất đặc biệt của đạo Bụt. Apraṇihita nghĩa là không đặt ra một đối tượng để chạy theo, không có đối tượng của sự theo đuổi, của sự thực hiện. 

Tam giải thoát môn, 三解脫門, the three doors of liberation, trīṇi-vimokṣa-mukhāni
KhôngEmptinessŚūnyatā
Vô tướng無相SignlessnessAlakṣaṇa
Vô tác無作AimlessnessApraṇihita

Trong tôn giáo có danh từ eschatology (Thuyết mạt thế, Thế mạt luận hoặc Chung thời học), đặt vấn đề tìm ra và thấy được mục đích của vũ trụ, vũ trụ có mặt để làm gì, và cuối cùng thì nó trở thành như thế nào. Thượng đế tạo ra thế giới với mục đích gì, Ngài mong muốn điều gì, chúng ta phải đi theo đường lối nào và thực hiện được gì… những cái đó thuộc về phạm vi của eschatology. Theo giáo lý vô tác thì: “Không có mục đích gì cả, vũ trụ sinh ra không có mục đích gì cả”. Đứng về phương diện tích môn, historical dimension, chúng ta thấy rằng mỗi người chúng ta đều có mục đích, thế giới này cũng hướng tới một mục tiêu nào đó. Đứng về phương diện quốc gia thì ta thấy đất nước của mình muốn trở thành giàu mạnh và có thế lực trên thế giới. Người tu hành thì muốn diệt trừ phiền não, đạt tới an lạc để có thể độ người. Người nào cũng có một mục đích, có cái để theo đuổi và vươn tới. Nhưng theo giáo lý vô tác thì không cần làm gì và không cần có mục đích, chúng ta không cần trở thành cái gì hết, không cần đi đâu và không cần thực hiện điều gì. There is nothing for you to realize, there is no project for you to realize, you are already what you want to become. 

Khi ta hỏi một bông hồng hay một bông hoa lan: “Hoa có mặt để làm gì?” Hoa có thể trả lời: “Tôi có mặt để làm đẹp cho cuộc đời, tôi có mặt để cho anh vui”, nhưng bông hoa cũng có thể trả lời: “Tôi có mặt vậy thôi”, tôi có mặt để cho có mặt vậy thôi. To be là đầy đủ rồi. Một buổi chiều đi lên đồi, thấy có một người đang đứng trên đồi, ta hỏi: “Anh tới đây làm gì, anh đứng đây làm gì?” Người đó có thể trả lời: “Tôi đứng đây để ngắm sao, tôi đứng đây để hóng mát, tôi đứng đây để cho khỏe trong người tôi”, có thể trả lời nhiều câu Nhưng người đó cũng có thể trả lời: “Tôi đứng đây vậy thôi”, không có mục đích gì hết. 

Đứng về phương diện tích môn, người nào cũng có một mục đích, một mục tiêu để theo đuổi, để thực hiện, nhưng khi tiếp xúc được với thế giới của bản môn thì chúng ta thấy rằng không cần phải thực hiện gì cả. Đứng về phương diện bản môn, ta thấy tất cả các pháp trong đó có ta đều đã an trú trong niết bàn, ta không cần chạy đi tìm niết bàn ở đâu nữa, tại vì ta chính là niết bàn. Kinh Pháp Hoa có câu:

Chư pháp tùng bản lai

Thường tự tịch diệt tướng.

Tất cả các pháp từ xưa cho tới nay đều an trú trong tướng niết bàn và các pháp không cần đi tìm niết bàn. Cũng như đợt sóng, nó là nước rồi, nó không cần phải đi tìm nước nữa, nó không cần chạy đông, tây, nam, bắc, để đi tìm nước tại vì nó đã là nước rồi. Everything has been nirvāṇa for a long time, you don’t have to go and seek for nirvāṇa, you are already what you want to become. Vì vậy, anh khỏi phải làm gì hết, anh không cần đeo đuổi, không cần thực hiện gì hết. Nếu thấy được điều đó thì tất cả những lăng xăng, những bất an của anh sẽ biến mất. Just be there. You don’t have to do anything, you don’t have to realize anything, and suddenly all you restlessness will be gone. 

Có một tâm hành gọi là lăng xăng, bất an, trạo cử, tiếng Anh có thể dịch là restlessness, haste, rush, hurry, busybody, restless, uneasy, nervousness, agitation, disturbance, hasty, hurry, có rất nhiều chữ để diễn tả một tâm trạng mà chúng ta thường có trong đời sống hằng ngày. Chúng ta không ngồi yên được, vì trong ta có sự bất an, có sự lăng xăng. Ta muốn đi tìm một cái gì đó, ta muốn trở thành một cái gì đó, ta không an trú được trong hiện tại, không an hưởng được tính niết bàn có sẵn trong ta. Đợt sóng luôn luôn đi tìm, nhưng đợt sóng đi tìm cái gì? Có phải cái nó muốn đi tìm là nước không, tại sao nó phải đi hoài đi mãi trong khi cái mà nó muốn tìm đang nằm ngay trong chính tự thân của nó. Vì vậy, khi thấy được nó là nước rồi thì đợt sóng không còn tìm cầu nữa, khi đó, tất cả những lăng xăng, những bất an, những hối hả sẽ lập tức tan biến.

Nếu sư chú thấy trong lòng có sự bất an, hối hả, chộn rộn, lăng xăng, thì sư chú biết rằng tâm hành đó cần phải được ôm ấp, cần phải được quán chiếu để được chuyển hóa. Trong mỗi chúng ta đều có hạt giống của lăng xăng, của bất an, của ước muốn đi tìm kiếm. Chúng ta tìm kiếm cái gì, mục đích của chúng ta là gì mà khiến ta không an được, ta ngồi không yên, đứng không yên mà nằm cũng không yên. Ngồi thì như ngồi trên đống lửa, mới ngồi được mấy phút đã thấp thỏm muốn đứng dậy để lấy cái này cái kia, rồi cuối cùng bất an, lại đi tìm cuốn sách để đọc, tìm một người bạn để nói chuyện, hay mở truyền hình ra để khỏa lấp sự bất an của mình. Chúng ta luôn có khuynh hướng muốn chạy trốn, muốn đi tìm, muốn theo đuổi, muốn thực hiện một cái gì đó. Khuynh hướng muốn chạy trốn đó khiến chúng ta không an trú, không an tọa được. Và vì vậy, ta không thể trở về tiếp xúc với tự thân của chúng ta được. Vô tác tức là chấm dứt tất cả những sự tìm cầu, theo đuổi để trở về tiếp xúc với mầu nhiệm của tự thân. Đó là tính niết bàn, tính an lạc, tính giải thoát có sẵn trong ta, đó là giáo lý vô tác. Giáo lý Vô tác rất quan trọng, là giáo lý nguyên thủy có mặt trong tất cả các tông phái Phật giáo, Nam tông cũng như Bắc tông. Nhưng giáo lý này không được khai thác nhiều trong truyền thống của đạo Bụt Nam tông; cũng như giáo lý Không và giáo lý Vô tướng, giáo lý Vô tác chưa được khai thác đúng mức, và hiện nay chứng bệnh bất an, lăng xăng đã trở thành một chứng bệnh rất lớn của con người thời đại. Cho nên chúng ta phải khai thác trở lại giáo lý Vô tác, phải cống hiến những phương pháp thực tập giáo lý Vô tác để chữa trị căn bệnh hiện giờ của thời đại, căn bệnh của sự bất an, ngồi không yên, đứng không yên, ăn cơm không yên.

Trong bài hát Trăng già (Rong ca 8) của nhạc sĩ Phạm Duy có câu:

Trăng ơi im lặng suốt đời,

Mà sao ta cứ đứng ngồi không yên. 

Tại sao ta đứng ngồi không yên, tại sao ta restless, tại sao ta lăng xăng,… là tại vì ta không an trú, không trở về được với giây phút hiện tại. Ta phải trở về để tiếp xúc với mầu nhiệm của sự sống, tiếp xúc với tính Bụt, tính Pháp và tính Tăng, tính giải thoát, giác ngộ, tính an lạc trong ta. Cho nên, giáo lý Vô tác rất quan trọng. Anh muốn trở thành cái gì, chị muốn trở thành cái gì? Khi ta muốn trở thành một cái gì hay trở thành một người khác, tức là ta có ý muốn đàn áp con người hiện tại của ta. You don’t want to be yourself, you want to be someone else. Chúng ta hãy tưởng tượng một bông hoa lan mà lăng xăng đi tìm kiếm một đóa hoa lan thì thật buồn cười. Đóa hoa lan là một thực tại mầu nhiệm vô cùng, đóa hoa lan có thể nào hơn đóa hoa lan được không. Đóa hoa chỉ cần trở về và nhìn thấy sự mầu nhiệm của mình. Đóa hoa lan đã là một nụ cười của chân thiện mỹ, vậy thì nó còn đi tìm cái gì nữa. Ta đi tìm cái đẹp, cái thật, và cái lành, nhưng trong ta đã có sẵn cái đẹp, cái thật và cái lành rồi mà ta không biết nên cứ mải đi tìm ở nơi khác. Nếu biết chấm dứt sự đi tìm, ta sẽ đạt tới cái thật, cái đẹp và cái lành một cách mau chóng. Chúng ta không cần phải tu tập nhiều năm, cũng như nước, cũng như sóng, sóng dừng lại để có cơ hội thấy được mình là nước thì sóng trở thành nước ngay lập tức, không cần một giây, hai giây, hay là một giờ, hai giờ, tại vì sóng đã là nước rồi. Từ giáo lý Vô tác đã phát sinh ra giáo lý gọi là “đốn ngộ”. Đốn ngộ tức là sudden enlightenment.

Đợt sóng cần bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng mới trở thành nước được? Nó đâu cần năm, cần tháng gì, nó đang là nước rồi, cho nên đốn ngộ là chuyện có thể có được. Chỉ cần trở về và tiếp xúc với tự tính của mình là có giác ngộ lập tức trong chớp nhoáng, đó là đốn ngộ. Ngược với ý niệm đốn ngộ là tiệm ngộ gradual enlightenment. Tiệm tức là đi từ từ.

Trong đạo Bụt có những truyền thống chủ trương giác ngộ phải đến từ từ, phải giác ngộ từng cái nhỏ, rồi mới tới giác ngộ lớn. Giống như mình bước một bước có chánh niệm, rồi sau đó năm, bảy phút bước thêm một bước chánh niệm nữa, nở một nụ cười, thực tập từ từ, điều này ta thấy cũng đúng. Giáo lý tiệm ngộ cũng đúng, nhưng đứng về phương diện bản môn thì giáo lý đốn ngộ cũng đúng. Không phải ta chấp nhận giáo lý đốn ngộ mà bài bác giáo lý tiệm ngộ. Về phương diện tích môn thì ta thấy tiệm ngộ đúng, về phương diện bản môn thì đốn ngộ là đúng. Ai cũng biết rằng đợt sóng muốn là nước thì nó có thể là nước được liền, nó không cần phải chờ đợi. Chúng ta cũng vậy, chúng ta có tính Bụt, tính giác ngộ trong ta, và nếu ta trở về được thì ta là Bụt, ta là giác ngộ. Vì vậy giáo lý đốn ngộ phát xuất từ giáo lý Vô tác. Cùng với giáo lý đốn ngộ có giáo lý khác gọi là vô đắc 無得, non attainment. Anh có cần đi tìm cái gì đâu, có cái gì để cho anh chứng đắc đâu, tính Bụt có trong anh rồi, anh còn chạy đi đâu và cần chứng đắc gì nữa. Đợt sóng đâu cần phải đi tìm nước nữa, nó là nước rồi, vậy thì she has nothing to attain, she has attained already, she is herself attainment. Tụng Tâm kinh Bát nhã, chúng ta thấy rằng tự tính của các pháp là vô đắc, vì không có cái gì cho mình đắc hết: “Vô đắc dĩ vô sở đắc cố”. Cho nên chúng ta biết rằng những giáo lý cao huyền của Đại thừa như vô đắc, đốn ngộ đều từ nơi cánh cửa giải thoát thứ ba này mà phát xuất, đó là vô tác.

Theo giáo lý vô tác thì tất cả mọi hiện tượng đều đã mầu nhiệm trong giây phút hiện tại và chúng ta không cần phải tìm cầu, chúng ta không cần trở thành một hiện tượng khác. Chúng sinh không cần thành Bụt, cũng như Bụt không cần trở thành chúng sinh. Cây hoa lan đã đẹp rồi, nó không cần phải trở thành một cây khác, lá lan tự nó đã đẹp, và hoa lan tự nó cũng đẹp, trong lá lan có hoa lan, và trong hoa lan có lá lan. 

Khi mình là một sư chú thì sư chú đã đẹp lắm rồi, không cần phải trở thành sư ông hay trở thành giáo thọ mới đẹp. Khi mình là một sư cô thì sư cô đã đẹp lắm rồi, không cần phải trở thành sư bà hay giáo thọ, trụ trì gì cả. Khi mình thọ giới sa di thì giới sa di đã đẹp lắm rồi, không cần nao nức trông chờ để thọ giới lớn, vì vậy hạnh phúc có thể có được ngay lập tức, you don’t look forward to be something else, someone else, you enjoy yourself, you are already what you want to become. Tự mình đã là mầu nhiệm, mình không còn thao thức trở thành một cái khác, một người khác. Vô tác là giáo lý đặc biệt nhiệm mầu của Phật giáo. Anh không cần làm gì hết, anh không cần có mục đích gì hết, anh không cần thực hiện gì hết. Bài thơ Bướm bay vườn cải hoa vàng mà thầy viết năm 1963 có câu:

Công trình xây dựng ngàn đời

Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất

Hãy là đóa hoa

Hãy là nụ cười

Hạnh phúc có bao giờ được dựng xây bằng vôi với gạch

Khổ đau vì không tự biết là lá là hoa…

Có nhiều câu như vậy trong bài thơ đó. Khi ngồi ở thành phố New York để viết bài thơ này thì thầy không có ý niệm mình sẽ viết một bài thơ nói về vô đắc, chỉ viết ra những dòng như vậy, nhưng khi đọc lại thì thấy tuệ giác vô đắc chứa đựng bên trong.

Ta thấy được tất cả những mầu nhiệm ở quá khứ và tương lai ngay trong giây phút hiện tại, ta trở về và an trú trong hiện tại.

Mười năm vườn xưa xanh tốt

Hai mươi năm nắng dọi lều tranh

Mẹ tôi gọi tôi về

Bên bếp nước rửa chân

Hơ tay trên bếp lửa hồng

Đợi cơm chiều khi màn đêm buông xuống.

Tất cả những hình ảnh quá khứ trở thành hiện tại, và mình sống được những hình ảnh rất đẹp như vậy.

Tôi không bao giờ khôn lớn

Kể gì mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm.

Tôi đâu cần khôn lớn, tôi chỉ cần là một chú bé thôi là đã có hạnh phúc rồi.

Mới hôm qua đây, tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã

trong khu vườn cải hoa vàng.

Mẹ và em còn đó

Gió chiều như hơi thở

Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi?

Mơ gì một mảnh tương lai xa xôi, tại sao mình phải nghĩ tới tương lai xa xôi, tại sao không an trú trong hiện tại. 

Và vì vậy khi thực tập giáo lý vô tác, an trú được trong giây phút hiện tại và thấy được tính cách mầu nhiệm của hiện hữu trong giây phút hiện tại, thì những lăng xăng, bất an, trạo cử sẽ tan biến. Vô tác có thể nói là: Anh không cần phải làm gì cả, anh không cần phải theo đuổi một cái gì hết, anh là hiện hữu mầu nhiệm, và nếu anh thấy được điều đó thì tự nhiên hạnh phúc đến lập tức. Đây là một cách nhìn rất đặc biệt, thế gian này ít người có thể nhìn được như vậy. Khi nhìn và thấy được như thế rồi thì mình rong chơi, enjoy yourself, khỏi cần làm gì cả. Ta trở thành một nguồn suối bất tuyệt của hạnh phúc, của an lạc thì những người chung quanh ta sẽ thừa hưởng được nguồn suối an lạc, hạnh phúc đó, đó là giáo lý vô tác. There is nothing to obtain, there is nothing to become, we are already it.

Vô tác là một cánh cửa lớn, nếu mở tung được cánh cửa đó và đi vào thế giới của thực tại thì hạnh phúc có liền lập tức. Đứng về phương diện kiến thức, chúng ta có thể chấp nhận được, nhưng đứng về phương diện thực tập thì có thể là ta chưa quen, nhưng giây phút chứng nhập được vô tác là ta có thể nếm được hạnh phúc của sự dừng lại, của sự an lạc, và tất cả những bất an, những lăng xăng kia sẽ biến mất.

Lại nữa, các vị khất sĩ! Thoát ly được cái thấy về ta rồi, thì hành giả không còn cho rằng những sự vật mà ta thấy, nghe, cảm và biết là những sự vật có thật ngoài nhận thức nữa.

Trong đời sống hằng ngày chúng ta thường nghĩ rằng những gì ta thấy, nghe, cảm và biết là những hiện tượng có ngoài tâm thức của ta. Ta có một tâm thức, rồi ta đem tâm thức đó đi nhận thức cái này là hoa, cái kia là bàn, kia là người bạn, và ta có tri giác sai lầm là: Tất cả những đối tượng nhận thức đó có ngoài tâm thức của ta, nó có ngoài ta. Nhưng nếu học Duy biểu, chúng ta sẽ thấy rằng: Thấy bao giờ cũng là thấy cái gì, nghe bao giờ cũng là nghe cái gì; và đối tượng của thấy, nghe nằm trong nhận thức của ta, đối tượng của nhận thức là một phần của nhận thức. Tất cả những cái mà ta cảm, ta thấy, ta nghe, đều là những biểu hiện từ tâm thức của ta, tâm thức cộng đồng và tâm thức cá nhân. 

Trong kinh Hoa nghiêm, Bụt dạy rằng tâm là một họa sĩ, có thể vẽ ra được tất cả các pháp. Bông hoa lan ở trước mặt mình là một sản phẩm của tâm thức, cũng như người ngồi trước mặt mình, cũng là một sản phẩm của tâm thức, tâm thức cộng đồng và tâm thức cá nhân. Chúng ta học về vô thường và vô ngã, thấy rằng những đối tượng của nhận thức ta như bông hoa, cái bàn, đám mây, đều là vô thường, vô ngã, không chắc thật, nhưng chúng ta không biết rằng tâm thức của ta cũng vậy. Tâm thức ta cũng vô thường, vô ngã, giống như tất cả những đối tượng của nhận thức ta, nếu không có sắc, thọ, tưởng và hành, thì cũng không có thức. Thức phát sinh từ sắc, thọ, tưởng, hành, cũng như sắc phát sinh từ thức, năm cái đó tương tức, trong một cái ta thấy được cả bốn cái còn lại. Ta đừng lầm rằng bốn cái kia có ngoài ta và cái thứ năm là thức, là cái trong ta, kỳ thực thức cũng phát sinh và vận hành theo đường lối duyên sinh như sắc, thọ, tưởng và hành. Tất cả những cái chúng ta theo đuổi đều do tâm thức biến hiện, nếu chúng ta để ra mười năm miệt mài đèn sách, muốn có bằng tiến sĩ, thì mười năm đèn sách với mảnh bằng tiến sĩ đó là từ tâm thức làm ra, nếu ta không có ý niệm và ước muốn đó thì đâu có mười năm kia. Vì ta có ý niệm nhận thức rằng nếu ta có bằng cấp tiến sĩ thì đời ta sẽ có hạnh phúc, đó là tạo tác của tâm ý, tạo tác trên hướng tác chứ không phải là vô tác. Ta cần phải làm gì, ta phải học bác sĩ 10 năm, và khi có tâm đó rồi, thì ta tạo tác ra 10 năm với tất cả đêm ngày trong trường đại học. Và những ước mơ, những công phu, tất cả những tạo tác trong 10 năm đó là do ý niệm trong tâm ta làm ra và ta nghĩ nếu không đi theo con đường đó, không thực hiện được 10 năm đèn sách đó thì ta không có tương lai, không có hạnh phúc. Trong khi đó những người không có 10 năm đèn sách, không có bằng cấp tiến sĩ mà lại có hạnh phúc nhiều hơn ta. Họ nói tại sao phải như vậy mới hạnh phúc, tại sao tôi không ngồi đây, nhìn trời mỉm cười, và có hạnh phúc ngay lập tức. Có thể ta bỏ ra 10 năm để học và lấy được bằng cấp, đi tìm được một sở làm, nhưng ta vẫn không cảm thấy hạnh phúc, có khi còn khổ hơn hồi chưa đi học. Tất cả đều do tâm mình tạo tác ra. Nếu mình đang còn theo đuổi một mục tiêu, muốn thực hiện một điều gì đó, thì mình phải xét lại mục tiêu kia dưới tuệ giác của vô tác. Is it necessary or it is only an idea of mind? Điều đó có thật sự quan trọng không, hay chỉ là một sự tạo tác của tâm và tâm muốn tạo tác ra cái gì thì mình có cái đó. Cho nên chúng ta phải học phương pháp vô tác, đừng tạo tác gì nữa. Sự vật, vạn pháp mầu nhiệm ngay trong giờ phút hiện tại, nếu ta tỉnh thức và tiếp xúc được với mầu nhiệm đó thì ta không cần phải đi đâu, không cần phải làm gì nữa, There’s nothing to do, There’s nowhere to go, hạnh phúc có mặt ngay lập tức. 

Đức Thế Tôn ngồi yên được, đức Thế Tôn không có dự án cần phải thực hiện. Đức Thế Tôn không cần thực hiện tu viện Trúc Lâm hay tu viện Kỳ Viên, đức Thế Tôn không cần phải đi tìm cái gì hết, đức Thế Tôn sống an lạc trong từng phút từng giây, còn những cái kia tự đến. Chúng ta cũng vậy, chúng ta là sư chú, sư cô, là Tiếp hiện, là người giữ Năm giới, tại sao chúng ta không có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Tại sao chúng ta phải cần trở nên một cái gì khác mới có hạnh phúc. Có phải làm chúng trưởng, làm giáo thọ, làm sư chị sướng hơn hay không? Điều này chưa chắc. Không có cái gì chắc chắn, tất cả đều do những tạo tác của tâm mình, đều do tâm làm ra, vì tâm là một họa sĩ, vẽ ra cái gì thì mình chịu cái đó.

Có một người điêu khắc một khúc gỗ, sau hai mươi mấy ngày đục đẽo thì làm ra một bức tượng. Khi bức tượng thành hình, người đó nhìn lên bức tượng thì rất sợ hãi liền cúi lạy trước bức tượng kia. Cũng vậy, chúng ta tạo tác ra những hình tượng, rồi chúng ta bị kẹt vào những hình tượng đó. Vì vậy, tâm của chúng ta đi những nước cờ rất lạ, nó là họa sĩ, là kiến trúc sư chuyên môn tạo tác, và ta có thể trở thành nạn nhân của sự tạo tác đó. Trong quá trình tạo tác, ta lăng xăng, bất an, ta không ngồi yên được, cho nên vô tác là một pháp môn rất mầu nhiệm. Cố nhiên, khi chúng ta trình bày giáo lý vô tác thì sẽ có nhiều người chống đối. Đất nước và dân tộc như vậy mà anh khuyên mọi người ngồi yên không làm gì hết, thì có phải anh là người phá hoại hay không. Nhìn xung quanh chúng ta thấy bao nhiêu người lăng xăng, bận rộn bởi những hoạt động, và những lăng xăng, bận rộn, những hoạt động đó làm cho tình thế càng ngày càng rối beng. Tất cả đều do sự tạo tác của tâm, tâm cộng đồng và tâm cá nhân. Thế giới lộn xộn vì có quá nhiều người hành động, we have too many activists. Đó là lý do thế giới chúng ta rất lăng xăng,  cho nên vấn đề là phải ngồi yên. Tây phương hay nói: Don’t just sit there, do something for the situation. (Đừng chỉ ngồi yên đó, hãy làm cái gì để giúp cho hoàn cảnh trước mắt đi). Nhưng càng làm thì càng lộn xộn. Giáo lý vô tác nói: Don’t just do something, sit there. (Đừng làm gì hết, hãy ngồi yên đó.) 

Những thuyền nhân đi trên một chiếc thuyền vượt biển, gặp cơn sóng gió người nào cũng cuống lên, vì cuống lên cho nên làm cái này, làm cái kia, vì vậy mà thuyền mất thăng bằng và chìm nghỉm. Nếu trên thuyền có một người có trí tuệ, người đó bảo: Các anh các chị đừng làm gì hết, ngồi yên giùm tôi. Nếu mọi người theo lệnh đó mà ngồi yên thì tất cả sẽ có thể sống sót. Chúng ta sở dĩ không sống sót được là vì chúng ta quá động, chúng ta lăng xăng, chúng ta làm quá nhiều chuyện, chúng ta bất an. Cho nên ngồi yên đừng làm gì hết có thể là phương pháp giải cứu thế giới của chúng ta trong thế kỷ tới. Học ngồi cho yên, học an trú trong hiện tại, học tiếp xúc với những mầu nhiệm hiện hữu trong giây phút này là nghệ thuật tuyệt vời nhất mà chúng ta có thể thực tập và quảng bá trong thế kỷ tới.

Thoát ly được cái thấy về ta rồi, thì hành giả không còn cho rằng những sự vật mà ta thấy, nghe, cảm và biết là những sự vật có thật ngoài nhận thức nữa. Vì sao thế? Vì nhận thức cũng chính là do nhân duyên mà phát sinh.

Nhận thức ở đây tức là thức, uẩn thứ năm.

Nhận thức và các nhân duyên làm phát khởi ra nhận thức đều biến chuyển vô thường, mà vì thức vô thường cho nên ta cũng không nắm bắt được.

Ta không những không nắm bắt được đối tượng nhận thức, mà cũng không nắm bắt được thức , không nắm bắt được cái “ta”. Đây là tư tưởng vô đắc, không nắm bắt được là non-attainment, you can not grasp anything. Ta không bao giờ nắm bắt được một mùi hương, một cơn gió. Các pháp cũng vậy, không thể nắm bắt được, trong khi đó nếu ta không nắm bắt thì tự nhiên ta có tất cả. Rất mầu nhiệm. Hễ anh bắt đầu có ý muốn nắm bắt thì anh nắm không được, nhưng khi anh hết ý muốn nắm bắt thì tất cả đều là của anh. 

Trong bài thơ Uống rượu tiêu sầu (hoặc Nghĩ đời mà chán, Chán đời), thi sĩ Cao Bá Quát có viết: Kho trời chung mà vô tận của mình riêng. The treasure of sky and earth is for everyone, but if you know how to look at it, everything belongs to you. Cái đẹp, cái mầu nhiệm của trời đất là chung cho tất cả mọi người, nhưng nếu anh biết thì anh được thừa hưởng hết tất cả những cái đẹp đó. Kho trời chung mà vô tận của mình riêng. Theo thi sĩ thì mỗi giây phút mà biết thưởng thức, biết tiếp xúc với những mầu nhiệm của đất trời đó là mỗi giây phút lợi lạc, bình an và hạnh phúc. Vậy thì cần gì phải rào một mảnh đất nào đó lại và nói là của mình, cần gì phải mở rương bỏ cái đó vào khóa lại và nói là của mình? Cái gì mà không phải là của mình? Tại sao mình phải đi kiếm, đi tìm? 

Có một vị thầy ở Việt Nam nghĩ rằng nếu mình có bằng bác sĩ thì có lẽ sẽ giúp được nhiều người hơn. Cho nên sau khi học Phật chừng ba đến bốn năm, thầy ấy đi học thêm ngành bác sĩ, và cuối cùng thầy trở thành bác sĩ. Khi làm bác sĩ, thầy chăm lo nhiều chuyện quá nên không đi sâu được vào sự thực tập giáo lý để chế tác hạnh phúc, an lạc, giải thoát. Tại sao người tu mà phải hành nghề bác sĩ, tại sao tâm từ bi và ý nguyện giúp đời chỉ có thể biểu hiện được qua nghề bác sĩ. Tâm từ bi, lòng thương yêu có thể biểu hiện dưới bất cứ hình thức nào và với tư cách một người tu, ta có thể biểu hiện lòng từ bi của mình dưới mọi hình thức. Tất cả những ông bác sĩ và những bà bác sĩ tới với ta đều trở thành ta hết. Ta giúp cho những người bác sĩ đó biết thở biết cười, biết an trú trong hiện tại, và tất cả những gì mà những người bác sĩ đó đang làm trong nhà thương hay trong xã hội đều là ta làm hết. Tại sao ta muốn làm một bác sĩ, mà không phải là tất cả các bác sĩ, ta có thể là tất cả các bác sĩ cùng một lúc. 

Thầy đã từng mở những khóa tu cho các bác sĩ, y tá, và các tác viên xã hội ở Bắc Mỹ, the retreat for helping professional. Những khóa tu đó thu hút chừng 500, 600 người tới tu học trong một tuần lễ. Những người đó rất năng động, họ có trái tim muốn giúp đời, giúp người, nhưng cuộc sống của họ rất khó khăn, luôn luôn bị áp lực của thời gian, của công việc, cho nên họ bị stress rất nhiều. Họ đau khổ vì khả năng của mình có hạn, và khi họ thiếu sự an tâm, thiếu sự vững chãi, sự bình tĩnh thì công tác của họ làm không đem lại những kết quả như họ mong ước. Vì vậy họ đã ghi tên trong những khóa tu. Trong những khóa tu đó, các bác sĩ, y tá, các tác viên xã hội tập đi từng bước vững chãi thảnh thơi, tập ngồi yên, tập thở, tập nhìn sâu để biết rõ giới hạn của mình. Làm thế nào để nuôi dưỡng mình, để cho công tác của mình có thể được lâu dài, nếu không thì chỉ trong một vài năm mình sẽ đánh mất mình, sẽ bị kiệt sức (burn out) và không thể tiếp tục làm việc được nữa. Chúng ta phải biết giới hạn của mình, phải biết nuôi dưỡng mình trong đời sống hằng ngày thì mới tiếp tục được nghề nghiệp của mình một cách lâu dài. Chúng ta là tác viên xã hội, là bác sĩ, y tá, chúng ta phải nuôi dưỡng mình, phải biết tự bảo vệ để mình có sức khỏe về thể chất, tinh thần, có đủ niềm vui để tiếp tục làm việc được năm này sang năm khác, và trao truyền kinh nghiệm của chúng ta cho những người khác. Trong một khóa tu như vậy, là người tu, chúng ta trao truyền tất cả những cái đó, và những người bác sĩ, những cô y tá, những tác viên xã hội đang làm việc ngoài đời, họ chính là chúng ta, tại sao ta phải làm một ông bác sĩ thì mới thỏa mãn. Tất cả các bác sĩ, y tá, các tác viên xã hội làm việc với sự vững chãi, thảnh thơi đều chính là chúng ta. Với tư cách một người tu, chúng ta có thể trao truyền những điều đó cho những người muốn thực tập theo. Chúng ta có thể hóa thân thành một trăm ngàn ông bác sĩ, một trăm ngàn cô y tá, tại sao ta phải rào giới hạn đó lại mà cố biến mình thành một ông bác sĩ. Tất cả đều do sự tạo tác của tâm, nếu tâm được giải thoát thì ta không còn rong ruổi nữa.

Thức đã không như bất cứ hiện tượng nào khác thì còn có gì cần được tạo tác nữa đâu?

Nếu thức của ta cũng vô thường, cũng không, cũng vô ngã, như sắc, thọ, tưởng và hành, thì tại sao ta phải vâng theo nó, tại sao ta không nhìn thẳng vào trong lòng của nó để thấy rằng những tạo tác của nó có thể đưa ta tới sự gian truân, vất vả, vướng mắc. Cho nên, ta đi tới cái thấy không cần tạo tác một cái gì nữa cả. Và tự nhiên ta có thể dừng lại được. Tất cả những bí quyết của sự thực tập thiền quán là dừng lại. Dừng lại, chữ Hán là chỉ (止), tiếng Phạn là śamatha, tiếng Anh là stop. Dừng lại thì tự nhiên hết lăng xăng, hết bất an. Dừng lại tức là có an lạc và hạnh phúc. Phần lớn chúng ta là những người đang chạy, tuy đang nằm ngủ nhưng ta vẫn chạy trong giấc ngủ, tuy đang ngồi ăn cơm với nhau nhưng ta cũng chạy khi ăn cơm. Nếu có con mắt của Bụt mà nhìn thì tức cười lắm, một đại chúng 100 người đang ngồi ăn cơm với nhau, đứng về phương diện không gian, thời gian thì đúng là bữa ăn cơm, nhưng nhìn cho kỹ bằng con mắt Bụt thì thấy trong số 100 người đang ngồi ăn cơm với nhau có nhiều người đang chạy, nhiều người không ăn cơm gì hết, nhiều người tuy miệng đang nhai, nhưng cái đầu bận nhai chuyện khác. Nó nhai chuyện quá khứ, nhai chuyện tương lai, nhai giận hờn, buồn rầu, ganh tỵ, nó tiếp tục tạo tác chứ không chịu vô tác. Nếu đức Thế Tôn nhìn chúng ta ăn cơm thể nào Ngài cũng buồn cười lắm! Ngồi ăn cơm mà tại sao lại còn rong ruổi, tại sao vẫn tiếp tục chạy trong khi ăn cơm. Ăn cơm là sự thực tập rất quan trọng, phải thực sự dừng lại, ngồi yên trong hiện tại, an trú trong hiện tại và ăn cơm cho đàng hoàng. Mấy ai đã ăn cơm được như vậy. Mỗi tuần hai lần chúng ta tập họp trong thiền đường cùng ăn cơm theo kiểu đó để thực tập. Ăn cơm không kéo dài lâu, chưa tới một giờ đồng hồ. Có thức ăn do đại chúng nấu, có tăng thân ngồi cùng, có Bụt ngồi chung với ta, vậy mà khi ngồi ăn cơm ta vẫn tiếp tục chạy thì thiệt là hết cứu. Bụt đã sắp đặt cho chúng ta nhiều điều kiện để thực tập mà chúng ta không chịu thực tập. Trong khi ngồi ăn cơm làm sao để chúng ta có hạnh phúc, an lạc. Chúng ta vừa có thức ăn và có tăng thân, có pháp môn, ấy vậy mà ngồi ăn cơm cũng không chịu ăn cơm, cứ chạy. Khi ngồi thiền, nhiều khi chúng ta cũng chạy, khi đang nằm ngủ ta cũng chạy trong giấc ngủ. Chúng ta đã quen thói chạy rồi. Chạy đi đâu, chạy đi tìm cái gì? Do đó, vô tác là pháp môn giúp cho chúng ta dừng lại. Chính tâm thức của chúng ta tạo tác, đẩy chúng ta chạy đi kiếm cái này, cái kia, không bao giờ dừng được, cho nên chỉ là hiệu lệnh đầu tiên của Bụt: Con phải dừng lại!

Có một câu chuyện người ta hay kể trong nhà thiền. Có một người đàn ông đứng chơi bên bờ ruộng, thấy một người bạn đang cưỡi một con ngựa phi rất mau, anh ta hỏi lớn: “Anh đi đâu đó? Anh đi đâu đó?”. Anh chàng kia quay mặt lại trả lời: “Tôi không biết tôi đi đâu hết, anh hãy hỏi con ngựa.” I don’t know, you ask the horse. Con ngựa đưa tôi đi đâu thì tôi đi đó, chứ tôi không biết mình đi đâu. Con ngựa này là con ngựa nào? Đó là con ngựa tập khí, tức là tâm thức của chúng ta tạo ra một con ngựa, và con ngựa muốn đưa ta đi. Chúng ta đang ăn cơm mà nó cũng đưa ta đi, ta đang nằm ngủ nó cũng đưa ta đi, đi không bao giờ dừng nghỉ. Where are you going? I don’t know, you ask the horse. Con ngựa ở đây tức là sự tạo tác của tâm thức, bắt ta phải theo đuổi cái này, phải thực hiện cái kia, bắt ta làm đủ thứ khiến ta không có khả năng an lạc và hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại.

Phép quán sát này được gọi là VÔ TÁC, cửa giải thoát thứ ba. Vào được cửa giải thoát này rồi thì hành giả thấy được chân tướng các pháp một cách triệt để, không còn bị kẹt vào một pháp nào nữa và thể nghiệm được tính cách tịch diệt của các pháp.

Tính cách tịch diệt của các pháp chính là tính niết bàn mầu nhiệm của các pháp. Tịch diệt tức là niết bàn, sự tắt ngấm của tất cả những lăng xăng, bận rộn, phiền não, những ý niệm tạo tác như sinh, diệt, có, không, thường, đoạn, và lúc đó ta có hạnh phúc chân thật. Các pháp mang trong tự thân của chúng tính tịch diệt, nhưng vì chỉ nhìn sơ sơ, khơi khơi  nên ta không tiếp xúc được một cách sâu sắc với chiều sâu bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai của các pháp, từ đó chúng ta mới chạy đi tìm kiếm. Một là chạy trốn, hay là chạy tìm, và con ngựa của tập khí luôn luôn chở chúng ta đi. Do đó, ta phải ôm lấy đầu con ngựa và nói rằng: Ngựa ơi ngựa là ai, tại sao ngựa cứ chở tôi đi hoài vậy? Ta hỏi con ngựa, con ngựa sẽ trả lời.

Không, vô tướng, và vô tác là ba cánh cửa mở ra cho chúng ta đi vào thế giới của thực tại. Ba cánh cửa đó là ba dấu hiệu của một pháp ấn gọi là Nhất thật tướng ấn, vì không cũng đưa tới nhất thật tướng, vô tướng cũng đưa tới nhất thật tướng, mà vô tác cũng đưa tới nhất thật tướng. 

Bụt bảo quý vị khất sĩ:

– Pháp ấn mầu nhiệm là như thế. Đó là ba cánh cửa đi vào giải thoát. Quý vị khất sĩ, nếu quý vị tu học theo pháp ấn này thì chắc chắn là sẽ đạt được tri kiến thanh tịnh.

That is the wonderful dharma seal.

Tri kiến thanh tịnh tức là trí tuệ, trí tuệ vượt thoát tất cả mọi tạo tác vẽ vời của tâm ý.

Toàn thể các vị khất sĩ nghe pháp này đều tỏ ra rất sung sướng. Họ làm lễ Bụt sau khi đã tiếp nhận giáo pháp này để hành trì.

Kinh Ba cửa giải thoát

Hồi đó Bụt đang ở thành Xá Vệ với đầy đủ quý vị trong cộng đồng khất sĩ. Một hôm Ngài nói với đại chúng:

“Có pháp ấn mầu nhiệm, quý vị có biết không? Hôm nay tôi muốn phân tích và diễn giải pháp ấn này cho quý vị nghe. Quý vị hãy đem nhận thức thanh tịnh ra để nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, khéo léo sử dụng tâm ý để ghi nhớ mà hành trì.

Các vị khất sĩ bạch:

“Hay quá, thưa đức Thế Tôn! Xin Người chỉ dạy cho, chúng con muốn được nghe.”

Bụt dạy:

“Tự tánh của Không là không nằm trên bình diện có không, không nằm trong khuôn khổ các vọng tưởng, không có tướng sinh, không có tướng diệt và vượt thoát mọi tri kiến. Tại sao thế? Vì tự tánh của Không không có vị trí trong không gian, không có hình tướng, không thể định nghĩa được, chưa bao giờ từng sinh khởi, tri kiến không nắm bắt được và thoát ly mọi sự nắm bắt. Vì thoát ly được mọi sự nắm bắt nên nó bao hàm được tất cả các pháp và an trú nơi cái thấy bình đẳng không phân biệt. Cái thấy ấy là cái thấy chân chánh và xác thực. Quý vị khất sĩ! Quý vị nên biết rằng không những tự tánh của Không như thế mà tự tánh của tất cả các pháp cũng đều như thế. Ðó gọi là pháp ấn.

“Quý vị khất sĩ! Pháp ấn này chính là ba cánh cửa đi vào giải thoát, là giáo lý căn bản của chư Bụt, là con mắt của chư Bụt, là chỗ đi về của chư Bụt. Vì vậy quý vị nên nghe cho kỹ, tiếp nhận cho thấu đáo, để ghi nhớ mà tư duy và quán chiếu ngay trong lòng thực tại.

“Quý vị khất sĩ! Người tu hành nên tìm nơi tĩnh mịch như vào rừng, ngồi dưới gốc cây để thực tập quán chiếu về tự thân thực tại. Phải thấy mọi hình sắc là khổ, không và vô thường để thoát ly cho được sự bám víu vào hình sắc và trở về an trú trong cái thấy bình đẳng không phân biệt đối với hình sắc. Ðối với cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức cũng thế: Người ấy nên quán chiếu rằng chúng là khổ, không và vô thường để có thể thoát ly cho được cái thấy có tính cách sai lạc về cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức để đạt tới cái thấy bình đẳng không phân biệt về chúng. Này quý vị khất sĩ, các uẩn vốn là không, vốn được sinh khởi từ tâm, khi tâm không còn hiện hành thì uẩn cũng không còn tác dụng. Thấy biết được như thế tức là đạt được giải thoát chân chánh. Giải thoát chân chánh rồi thì thoát được mọi tri kiến. Phép quán sát này được gọi là không, cánh cửa giải thoát thứ nhất.

“Lại nữa, an trú trong định mà quán sát các đối tượng thì hành giả thấy các đối tượng hình sắc đều tan biến hết và người ấy thoát ly được tính cách hư ảo của tri giác về hình sắc. Các đối tượng khác là thanh, hương, vị, xúc và pháp cũng đều tan biến hết và hành giả thoát ly được tính cách hư ảo của mọi tri giác về thanh, hương, vị, xúc và pháp. Phép quán sát này gọi là vô tướng, cánh cửa giải thoát thứ hai. Vào được cánh cửa giải thoát này rồi thì tri kiến sẽ được thanh tịnh; và vì tri kiến đã được thanh tịnh nên hành giả diệt trừ được hết các phiền não tham, sân và si. Tham, sân và si đã tận diệt thì hành giả an trú được trong cái thấy bình đẳng. An trú được trong cái thấy này thì lìa được những cái thấy về ta và về của ta, nghĩa là chấm dứt được mọi cái thấy sai lầm. Cái thấy này không còn cơ hội và căn cứ để sinh khởi nữa.

“Lại nữa, các vị khất sĩ! Thoát ly được cái thấy về ta rồi, thì hành giả không còn cho rằng những sự vật mà ta thấy, nghe, cảm và biết là những sự vật có thật ngoài nhận thức nữa. Vì sao thế? Vì nhận thức cũng chính là do nhân duyên mà phát sinh. Nhận thức và các nhân duyên làm phát khởi ra nhận thức đều biến chuyển vô thường, mà vì thức vô thường cho nên ta cũng không nắm bắt được. Thức đã không như bất cứ hiện tượng nào khác thì còn có gì cần được tạo tác nữa đâu? Phép quán sát này được gọi là vô tác, cánh cửa giải thoát thứ ba. Vào được cánh cửa giải thoát này rồi thì hành giả thấy được chân tướng các pháp một cách triệt để, không còn bị kẹt vào một pháp nào nữa và thể nghiệm được tính cách tịch diệt của các pháp.”

Bụt bảo quý vị khất sĩ:

“Pháp ấn mầu nhiệm là như thế. Ðó là ba cánh cửa đi vào giải thoát. Quý vị khất sĩ, nếu quý vị tu học theo pháp ấn này thì chắc chắn là sẽ đạt được tri kiến thanh tịnh.”

Toàn thể các vị khất sĩ nghe pháp này xong đều tỏ ra rất sung sướng. Họ làm lễ Bụt sau khi đã tiếp nhận giáo pháp này để hành trì.

Giảng kinh

(Phiên tả pháp thoại ngày 9/4, 12/4, 16/4, 19/4, 23/4 năm 1998)

Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 09 tháng 04 năm 1998. Chúng ta đang ở tại xóm Mới trong khóa tu mùa Xuân. Hôm nay chúng ta học kinh Bát nhã hành. 

Trước khi học kinh, chúng ta sẽ nghe lại một vài điều liên hệ tới chuyện học hỏi. Khi nghe một điều gì, chúng ta phải áp dụng phương pháp lắng nghe. Nghe như thế nào để điều người khác nói có thể đi vào được trong con người của ta, tại vì trong chúng ta rất ít người có thể tiếp nhận được những điều người khác nói. Chúng ta đã có sẵn những ý kiến (idea), chúng ta đã có sẵn những tri giác (perception). Chúng ta đầy ý kiến và đầy tri giác. Và khi nghe chúng ta đem những ý kiến, những tri giác đó lên để so sánh với những điều chúng ta đang nghe. Khi nhận thấy những điều người khác nói không phù hợp với ý kiến hoặc tri giác của mình thì ta có khuynh hướng muốn gạt cái đó ra, cho cái đó không phải là sự thật. Hầu hết chúng ta đều nghe theo kiểu đó. Vậy nên chúng ta không thấm được những điều mà chúng ta nghe. Đế thính, lắng nghe là nghe mà không đưa những ý kiến, những tri giác của mình lên để so sánh, vì những ý kiến đó, những tri giác đó giống như một bức tường, chặn đứng trái banh trở lại. Người ta liệng trái banh vào bức tường, bức tường thả trái banh trở lại. Bức tường không có khả năng tiếp nhận trái banh. Trong ta có một bức tường, bức tường của ý kiến, bức tường của tri giác luôn luôn đứng đó và mỗi khi có một điều gì người khác muốn nói cho ta nghe thì ta đưa bức tường ra để chống đỡ và vì vậy cho nên ta không tiếp nhận được những điều người khác nói. 

Nếu điều người khác nói phù hợp với ý kiến, tri giác của ta thì ta nói “Anh nói đúng”. Câu đó còn có nghĩa là tôi cũng đúng. Anh nói đúng có nghĩa là tôi cũng đúng. Anh với tôi đều đúng hết. Mà sự thật có thể là cả hai đều sai. Và nếu điều người khác nói không phù hợp với ý và tri giác của ta thì ta nói “Anh không đúng, anh sai”. Tại vì ta có bức tường rồi, ta có sự so sánh. Như vậy trong cả hai trường hợp ta không tiếp nhận được gì hết. Dù ta nói anh đúng hay anh sai thì cả hai trường hợp đó ta đều không tiếp nhận được điều gì từ người kia cả. Phần lớn chúng ta đều nghe như vậy. Và vì vậy nghe nhiều cũng vô ích, nói nhiều cũng vô ích. 

Đế thính tức là cho người kia một cơ hội, cho những điều chúng ta nghe một cơ hội để nó có thể đi vào được trong ta. Vậy nên phải chừa ra một khoảng trống trong lòng mình (faire le vide, empty yourself when you listen). Ở trong đó không có ý kiến, không có tri giác thì điều người khác nói mới lọt vào được. Cũng như lấy bức tường đi thì tự nhiên có một khoảng trống và trái banh mới lọt qua được. Khi ngồi nghe kinh cũng vậy, chúng ta phải cho những ý kiến và những tri giác của ta đi nghỉ ngơi (đi vacation) thì ta mới tiếp nhận được kinh. Ngồi nghe kinh là một nghệ thuật mà ngồi nghe người khác nói cũng là một nghệ thuật. Đó là nghệ thuật của sự lắng nghe. Tại vì mỗi người chúng ta đầy những ý kiến, đầy những tri giác và có thể những ý kiến và tri giác đó đầy rẫy những sai lầm, thành kiến. Khi thầy dạy ta một điều gì hay là sư anh, sư chị của ta nói cho ta một điều gì thì ta phải cho phép điều đó đi vào ta. Còn nếu ta lập tức phản ứng, nghĩa là đem cái thấy và cái biết của ta ra để so sánh nghĩa là ta đang chối bỏ điều người kia đang nói cho mình. Có thể là người kia vì thương ta mà nói cho ta điều đó. Nếu người kia không thương ta thì sẽ không nói điều đó cho ta nghe. Nhưng ta có ý kiến của mình rồi, thành ra ta đưa ý kiến của mình ra để đẩy ý kiến của người kia đi, đó là một sự chối bỏ (rejection). Điều đó rất là thiệt thòi cho chính ta. Thiệt thòi cho chính ta và người kia không làm được vai trò của một người thầy, một người anh, một người chị, một người bạn đối với mình, vì người kia nói cái gì ta cũng hất đi hết. Ta nghĩ là mình biết rồi, ta có ý kiến của mình rồi, ta đúng rồi. Cho nên, việc chừa khoảng trống là một nghệ thuật rất lớn, empty yourself là điều mà chúng ta phải thực tập. Khi người kia nói ta phải biết lắng nghe. Người kia có thể là cha ta, chồng ta, có thể là vợ ta, con ta, có thể là thầy ta hay sư em của ta và khi người kia nói thì ta phải có một thái độ rất kính cẩn, ta phải tạo ra một khoảng trống để cho cái đó có cơ hội đi vào. Nhạc sĩ Phạm Duy có một bài hát rất ngộ nghĩnh, nói là Em là khoảng trống cho tình đong vào, anh là nơi vắng cho tình căng đầy. Tại vì nếu không có khoảng trống, không phải là nơi vắng mà nó đầy dẫy hết thì làm sao có chỗ để đi vào. Cũng như là chén trà đã đầy trà rồi làm sao mình rót được nữa. Vậy nên, chén trà phải có khoảng trống. Chúng ta cũng vậy, ta cần khoảng trống khi ta nghe, ta sống.

Vậy cho nên tất cả chúng ta đều phải học hỏi, đều phải luyện tập để có được thái độ đó. Khi ngồi lắng nghe thì phải có khả năng lắng nghe, đừng nên lấy cái ý của mình, cái tri giác của mình ra mà đối đáp lại liền. Nếu làm như vậy là ta đang phụ lại lời của người kia. Im lặng làm khoảng trống để điều người kia nói có thể đi vào được. Dù là ta có cảm tưởng điều người kia nói không đúng, tại vì ta có sẵn một cái ý rồi nên cố nhiên cảm tưởng lời nói của người kia không đúng. Phương pháp này áp dụng rất thường trong thiền môn, nhất là trong những cuộc đối đáp giữa thầy và trò. Ví dụ như có một đệ tử rất bằng lòng với sự học hiểu của mình, tin tưởng rằng cái gì cũng có Phật tánh, Nature of Buddha, con người có Phật tánh, mà núi cũng có Phật tánh, con chim cũng có Phật tánh, con cá cũng có Phật tánh. Một hôm người đệ tử lên hỏi thầy: “Bạch Thầy, con chó có Phật tánh hay không?” Người đệ tử chắc mẻm là có rồi, ai dè thầy nói con chó làm gì có Phật tánh. Anh chàng rất ấm ức trong lòng, nhưng đây là thầy mình nên chịu thôi. Nếu là người khác nói thì chết với anh, anh sẽ viện dẫn kinh này, kinh kia, thiền sư này, thiền sư kia để chứng tỏ rằng con chó có Phật tánh. Vị thầy biết rằng anh này bị kẹt vào ý niệm, vào lý thuyết, không chịu tu tập cho nên thầy nói không có Phật tánh để cho anh chưng hửng và về xét lại cách học của mình. Khi chúng ta đọc Tâm kinh Bát nhã, nghe Bồ tát Quan Thế Âm nói rằng không có mắt, không có mũi, không có lưỡi, không có thân, không có ý, chúng ta chịu lép vế. Trong tâm chúng ta nói tại sao không có mắt được, không có mắt thì tại sao tôi thấy sư anh của tôi. Tại sao không có mũi được, không có mũi tại sao sáng nay tui ngửi thấy mùi mật ong. Không có lưỡi, vậy tại sao sáng nay tôi thấy chén cháo yến mạch của tôi rất ngon. Vậy mà Bồ tát Quán Âm nói là không có mắt, mũi, lưỡi. Trong người của ta có một cái ý, nghe một ý khác ý mình như vậy, ta thấy chưa đúng, nhưng vì ở đây uy tín của đức Quán Âm lớn quá nên ta không dám gân cổ lên cãi. Chứ nếu một sư em mà dám nói như vậy thì chắc ta cũng không để yên cho sư em đó rồi. Không mắt, không tai, không mũi, không lưỡi, không đắc, không khổ, không tập, không diệt, không đạo…

Vậy thì khi nghe một điều gì đó ta phải cho mình một cơ hội để mình có thể hiểu. Có một lần, sư bà Đức Viên nói với các sư cô ở đây rằng các cô có cái tật là nói cái gì thì tìm ra một câu khác để ứng đối liền. Ví dụ như sư bà nói hôm nay cơm con nấu sao nhão quá đi, thì sư cô liền trả lời: “Bạch sư bà, tại vì con để nước hơi nhiều”. Tìm ra một cái gì để nói vậy thôi. Tất nhiên là để nước nhiều thì cơm mới nhão chứ. Nhưng mà đó là một thói quen, thói quen muốn tìm cái gì lập tức để biện hộ cho mình. Dù đó là lỗi của ta 100% mà vẫn tìm cách để biện hộ, huống hồ là ta có cảm tưởng mình không có lỗi. Ta có rất nhiều kinh nghiệm, rất nhiều tri giác, rất nhiều ý kiến mà ta đã học được từ sách vở, sẵn sàng để mà đối đáp. Cho nên trong uy nghi ta được học rằng khi thầy dạy cái gì thì ta phải chắp tay im lặng chấp nhận, dù điều thầy nói không phù hợp với nhận thức của ta. Điều này ngày xưa thầy đã học thuộc lòng. Bây giờ ta chưa thấy thầy đúng nhưng mà hai ba ngày nữa mới thấy thì ra thầy nói có sự thật ở trong đó. Và có khi không phải hai ba ngày sau, mà đến tận hai ba năm sau ta mới thấy rằng thầy của mình nói đúng. Và nếu chúng ta dùng tri giác, ý niệm của mình để đối chọi với điều thầy nói thì làm sao được, như vậy thì ta đâu cần thầy, đâu cần tăng thân. Thầy có đó, tăng thân có đó là để soi sáng cho ta, để hướng dẫn ta và nếu ta quá tự tin nơi sự thông minh của mình, quá tự tin nơi tri giác của mình thì ta đâu cần thầy nữa,  đâu cần tăng thân nữa.

Vì vậy, chúng ta phải học để tạo ra một khoảng trống ở trong mình, đó là vì mình mà làm như vậy, để đừng phụ công ơn của thầy và của tăng thân. Phải luyện tập để đừng đối đáp liền ngay lập tức, phải tìm cách đè nén cái ý riêng của mình và tri giác riêng của mình xuống để cho điều của thầy và của tăng thân nói đi vào được. Đi thiền, ngồi thiền là để thấy được tuệ giác, kinh nghiệm trong những điều ta mới được nghe. Khi học kinh cũng vậy, chúng ta cũng có ý kiến, cũng có tri giác của mình về giáo lý. Đọc kinh với tâm niệm so sánh thì ta sẽ không chấp nhận được ý kinh. Chúng ta phải để một khoảng trống ở trong lòng thì ý kinh mới biểu lộ ra được. Có nhiều người cùng đọc kinh đó, nhưng có người đọc hoài mà không thấy gì mới, không thấy gì lạ, không thấy gì đặc thù hết. Nhưng có người đọc thì những cái mới, những cái lạ, những cái đặc thù lại bung nở ra như một bông hoa vì người đó đọc bằng con mắt, bằng trái tim tự do, mà không đầy tràn kiến thức của những thành kiến có sẵn. Vậy nên empty yourself, faire le vide, làm ra một khoảng trống. Đó là một nghệ thuật rất lớn.

Khi đi tới trạm xăng để mua xăng thì ta hay nói là faire le plein (đổ đầy bình) nhưng bây giờ ta phải làm ngược lại faire le vide, thay vì nói fill it up thì nói empty it. Đó là nghệ thuật mà ta phải học cho được. Chỉ có trong đạo Bụt mới dạy kỹ lưỡng điều này. Chúng ta gây chiến tranh với nhau, chúng ta giết nhau, chúng ta đánh đập nhau cũng tại vì cái đó hết. Nếu chúng ta biết lắng nghe, biết tạo khoảng trống thì chúng ta sẽ có cơ hội xây dựng hòa bình và tình thương giữa chúng ta với nhau và giữa những dân tộc khác nhau. Điều này phải đem ra thực tập trong đời sống hằng ngày, chúng ta tập nghe và tập nói. Chỉ nói khi nào ta thấy thật sự cần thiết. Hễ mở miệng ra là để nói có lợi ích cho người khác và khi người kia nói thì mình phải nghe với tất cả sự cẩn trọng của mình. 

Chúng ta có danh từ Thanh văn, tiếng Phạn là Śrāvaka, tiếng Anh dịch là students, learners. Thanh văn tức là nghe, nghe cái âm thanh. Thanh văn là người đệ tử của Bụt, theo Bụt, nghe Bụt giảng dạy để học hỏi. Ta nghe để làm gì? Trước hết là để thấy rõ trạng thái của thân tâm mình. Trong thân mình có những bệnh gì, trong tâm mình có những bệnh gì, có những khiếm khuyết nào để mình có thể học hỏi, có thể tu tập chuyển hóa. Và khi nghe mình phải nghe với tâm cầu học. Đáng lý khi nghe là phải chắp tay, nhưng tại chắp tay lâu thì mỏi nên mình để tay xuống như vậy thôi nhưng trái tim của mình thì chắp lại trong khi nghe. Ví dụ ta đi gặp ông bác sĩ, để ông nghe ngóng khám xét, ông nói cho ta biết có cái gì bất thường ở trong cơ thể của mình. Và ta trả ông tiền để được nghe ông nói, what is wrong within your body. Ta cần ông bác sĩ nói cho ta biết là tim của mình ra sao, phổi của mình ra sao, bao tử của mình ra sao, máu của mình ra sao và ruột non ruột già của mình ra sao. Ta muốn biết sự thật và ông bác sĩ có thể nói rằng ruột già của anh bị sưng, phổi của anh có vi trùng lao. Khi nghe như vậy ta biết được sự thật, ta hỏi phải làm thế nào để chữa trị cho ruột già hết bị sưng và phải làm sao để những con vi trùng lao trong phổi không còn nữa. Chứ ta không nổi giận mà nói rằng phổi tôi như vậy mà ông nói rằng lao hả, ruột già tôi như vậy mà ông nói rằng nó bị sưng hả. Ông trù ẻo tôi hả? Ông bác sĩ đâu có trù ẻo ta, ông bác sĩ chỉ muốn cho ta biết sự thật về cái thân của ta để cùng với ông lo chữa trị về căn bệnh đó thôi.

Trong một đạo tràng cũng vậy, thầy và tăng thân giúp ta để ta thấy được những gì không hoàn hảo trong tâm mình. Ví dụ, ta có sự vướng mắc, sự mê đắm, giận hờn, bực bội trong lòng thì thầy và tăng thân nói rằng sư em có sự giận hờn, sư em có sự bực bội, có sự vướng mắc. Nói như vậy không có nghĩa là ta bị nhiếc mắng hay nhục mạ, mà để chỉ cho ta thấy những khuyết điểm về phương diện tâm để ta tu tập chuyển hóa. Chúng ta cũng cần thuốc cho tâm giống như đã cần thuốc cho thân. Vì vậy ta phải chắp tay lại để nghe những điều đó với tất cả sự biết ơn của ta thì mới được. Tại vì người nói là nói với sự thương yêu và muốn cho ta được chữa trị chứ không phải họ muốn nhiếc mắng ta. Soi sáng là như vậy. Khi đại chúng ngồi lại soi sáng cho mình (offering guidance) là để cho mình tu tập và chuyển hóa mau chóng chứ không phải là ngồi lại để tố khổ mình, để lên án mình, để mắng nhiếc mình. Chúng ta phải đi tới tăng thân, đi tới thầy với tâm niệm của một người bệnh tới với bác sĩ, cầu xin bác sĩ chỉ cho ta biết những gì bất thường trong thân, những gì bất thường trong tâm và cầu xin những pháp môn, những y dược hữu hiệu để có thể trị liệu được những điều đó.

Đức Thế Tôn được xưng tụng là vua của các thầy thuốc, gọi là y vương. Vì đức Thế Tôn thấy được các chứng bệnh của con người và đã đưa ra những pháp môn để chữa trị những căn bệnh đó. Và vì Ngài là thầy thuốc giỏi hơn hết trên thế gian cho nên ta gọi Ngài là vua của các thầy thuốc, y vương. Chúng ta là học trò của đức Thế Tôn thì ta cũng phải học ngành thuốc đó để tự chữa trị cho ta và chữa trị cho những người ta thương. Ta phải có con mắt quán chiếu để thấy được những gì bất ổn trong thân, trong tâm của người kia và đề ra những biện pháp chữa trị cụ thể. Cho nên pháp môn soi sáng của Làng nhắm tới mục đích là đề ra những biện pháp rất cụ thể giúp cho đối tượng soi sáng có thể thực tập được để chuyển hóa, để đem lại hạnh phúc cho tăng thân.

Lời nói của Bụt, những lời Bụt dạy thường được diễn tả là lời nói tròn đầy, viên âm (圓音). Viên có nghĩa là tròn, âm có nghĩa là tiếng. Tiếng của Bụt rất là tròn. Tròn ở đây có nghĩa là nó bao trùm, ôm ấp được hết, không loại bỏ ai và lời nói này có tác dụng chữa trị không phải chỉ cho một người mà cho nhiều người. Chúng ta cũng phải học để nói được tiếng nói viên âm như vậy. Ví dụ như khi thầy cho một bài pháp thoại, điều này diễn ra gần như hằng ngày. Cùng nghe bài pháp thoại đó, nhưng trong đại chúng sẽ có người nghĩ rằng bài pháp thoại này hình như là thầy đang nói riêng cho mình. He’s speaking directly to me, he talks about me. Làm sao thầy biết được cái tâm của mình như vậy, tại sao lại nói đúng tim của mình quá, thầy chắc chắn nói bài pháp thoại này cho riêng mình rồi. Và phía sau cũng có người suy nghĩ như vậy. Có khi có những bài pháp thoại đụng tới chiều sâu trái tim của tất cả mọi người ở trong đại chúng. Bởi vì đó là một bài pháp thoại có tính chất viên âm. Nó không phải chỉ nói cho một người mà nói cho tất cả, người nào cũng đều được thừa hưởng. Nó như một trận mưa rơi xuống, không những cây lớn tiếp nhận được để tự nuôi thân mà cây nhỏ cũng tiếp nhận được, cây thân gỗ cũng vậy mà cây thân leo cũng vậy. Tất cả mọi loài cây cỏ đều có thể tiếp nhận được nước mưa, thì bài pháp thoại của đức Thế Tôn cũng vậy, cũng làm lợi lạc cho tất cả mọi người trong chúng. Khi bài pháp thoại được nói ra, nó được gọi là viên âm. Và dầu ta nghĩ rằng điều thầy nói trong pháp thoại này là để nói riêng cho mình, nhưng kỳ thực nhiều người khác cũng đang được thừa hưởng, và nhiều người khác cũng nghĩ rằng thầy đang nói riêng cho mình. Ở đây có vị nào có kinh nghiệm đó chưa, mỗi khi nghe pháp thoại mà có cảm tưởng rằng thầy đang nói chỉ cho riêng mình hay chưa. Nếu đã trải qua kinh nghiệm đó thì giơ tay cho thầy coi thử.

Vậy nên ta đừng bao giờ nghĩ rằng thầy nói một bài pháp thoại là chỉ để riêng cho mình. Pháp thoại có mục đích rất cao siêu, đó là cống hiến những pháp môn để cho mọi người tu tập. Pháp thoại không thể nào được sử dụng để chỉ trích hay là la mắng một người. Pháp thoại phải có mục đích lớn lao trong đó, tức là viên âm. Ta đem hết trái tim của mình ra để nghe pháp thoại. Ta đem hết khổ đau, kinh nghiệm của mình ra để nghe pháp thoại. Ta mở lòng ra để pháp thoại như một cơn mưa tưới xuống, thấm vào trong hạt giống của ruộng tâm mình. Ta đừng chống đối, đừng kháng cự lại pháp thoại. Ta chống đối, kháng cự bằng những ý kiến và những tri giác của mình thì cũng giống như là ta lấy tấm ni lông trải ra trên đất, làm cho nước mưa không thấm được vào lòng đất.

Trên mảnh đất tâm của ta có những hạt giống của hiểu biết, của giác ngộ vùi chôn trong chiều sâu. Nếu ta mở được lòng mình ra, mở được đất tâm của mình ra để cho pháp thoại đi vào thì sẽ có một ngày nào đó, những hạt giống quý báu trong ta, hạt giống của hiểu biết, giác ngộ nhờ thấm nhuần nước mát của pháp thoại sẽ nảy mầm, sẽ trồi lên trên mặt đất rồi nở thành hoa, thành trái cho mình và cho mọi người. Phải mở lòng mình ra và đừng chống cự, đừng so sánh, đừng phê phán bằng những cái ý mà mình đã sẵn có, bằng kiến thức mà mình đã thu thập được. Đó là nghệ thuật nghe pháp thoại.

***

Kinh Bát nhã hành là một trong những kinh khó nhất trong Nhật Tụng Thiền Môn. Chúng ta phải đem hết tim óc của chúng ta ra để học mới hiểu được chỗ sâu sắc của kinh. 

Hành ở đây là một cuộc đi, có thể dịch là une pratique, hay une marche. Đây không phải là một sự suy tư hay một công trình suy tư biện luận mà là một chuyến đi. Chúng ta phải đem cả thân và tâm gia nhập vào chuyến đi – Bát nhã hành. Bát nhã hành tức là một chuyến đi quán chiếu, une marche de la sagesse. Bát nhã là trí tuệ. La marche de la grande compréhension, la pratique de la grande compréhension. Hiểu biết là nền tảng của thương yêu, hạnh phúc và tha thứ. Hiểu biết là ánh sáng xua đuổi bóng tối của tất cả những sợ hãi, kỳ thị và nghi ngờ. Vì vậy Bát nhã được diễn tả như là Mẹ của tất cả các vị Bụt và Bồ tát. Trên con đường tu học, chúng ta chấp nhận Bát nhã là mẹ vì chúng ta được sinh ra từ bà mẹ trí tuệ. Đã nhiều đời, chúng ta đi theo vô minh, mờ ám, đi theo bóng tối. Bây giờ biết rằng chỉ khi nào được sinh ra trở lại trong ánh sáng của trí tuệ Bát nhã thì chúng ta mới có thể ly khai được đời sống hệ lụy và tối tăm. Chúng ta cũng muốn như Bụt, được sinh ra từ bà mẹ Bát nhã, nên kinh Bát nhã hành còn được gọi là Phật mẫu, Bát nhã Phật mẫu, The Mother of the Buddha. 

Kinh này được dịch từ phần trùng tụng của kinh Phật mẫu Bảo đức tạng Bát nhã Ba la mật, trong tạng Hán do thầy Pháp Huyền dịch vào đầu thế kỷ thứ XI, kinh số 229 của tạng kinh Đại chánh. Đây là kinh Bát nhã xuất hiện sớm nhất trong nền văn học Bát nhã. Những tư tưởng căn bản của Bát nhã đều được hàm chứa trong kinh này. 

Bát nhã Ba la mật dịch từ chữ Prajñāpāramitā, tức là sự hiểu biết, trí tuệ có khả năng đưa ta sang bến bờ giải thoát, có thể gọi là Trí tuệ độ hay Trí độ. Bát nhã là trí, Ba la mật là độ. Độ tức là vượt qua bờ bên kia. 

Phật mẫu tức là mẹ của Bụt. Chúng ta đều là những vị Bụt tương lai nên chúng ta biết rằng Bát nhã cũng là mẹ của ta. Ta phải được sinh ra từ mẹ Bát nhã mới hết khổ đau. Ta phải là con đẻ của Bát nhã. Nếu tiếp tục là con đẻ của vô minh thì ta còn khổ đau dài dài. Đi tu là ta được sinh trở lại với một bà mẹ mới, bà mẹ này là bà mẹ Bát nhã – Phật mẫu. 

Vào thế kỷ thứ VII, thứ VIII, các Phật tử ở Ấn Độ đã tạo tượng Bát nhã dưới hình thái một người phụ nữ. Cũng như bên Mỹ có tượng Nữ thần Tự Do, The statue of Liberty. Tự do được nhân cách hóa. Bát nhã ở đây cũng được nhân cách hóa, là hình một người phụ nữ và chúng ta là con của bà. Đức Thế Tôn là con của bà và chúng ta cũng là con của bà. 

Bảo đức tạng: Bảo (寶) là châu báu, tiếng Phạn là ratna, jewel; đức (德) có thể đem lại an lạc giải thoát hạnh phúc, tiếng Phạn là guṇa; ratna guṇa là bảo đức (寶德). Tạng (藏) là kho tàng, kho tàng của công đức, kho tàng của những khả năng có giá trị tương đương với châu ngọc. Kho tàng quý giá này có thể giúp ta vượt khỏi phiền não, đạt tới giải thoát, thành tựu sự nghiệp người tu nên gọi là Bảo đức tạng. 

Như đã nói, kinh Bát nhã này được xem là văn kiện Bát nhã xuất hiện sớm nhất trong nền văn học Bát nhã, nghĩa là kinh này đã xuất hiện vào khoảng 100 năm trước chúa Kitô giáng sinh. Theo sự khảo cứu của các nhà khoa học thì kinh này xuất hiện dưới hình thức những bài kệ, gāthā. Hồi đó, người ta chưa chép kinh xuống lá bối, vì vậy kinh xuất hiện dưới hình thức những bài kệ để học thuộc lòng và dễ truyền tụng. Sau này người ta mới thêm vào phần gọi là văn xuôi – danh từ Phật học gọi là trường hàng, còn kệ gọi là trùng tụng. Những bài kệ có số âm tiết nhất định giống như những bài thơ nên dễ học thuộc lòng và người ta cũng khó thêm bớt vì có khuôn mẫu sẵn nên được giữ gìn, bảo tồn một cách dễ dàng hơn. Ngược lại, nếu kinh là văn xuôi thì thường trong khi đọc, người ta có thể thêm bớt một vài chữ hay thêm vào ý riêng, do đó sẽ không giữ được tính chất nguyên bản. Thường chúng ta nghĩ rằng những bài kệ là để tóm thâu lại các ý của văn xuôi, nhưng kỳ thực trong nhiều trường hợp như trường hợp này thì những bài kệ xuất hiện trước và phần văn xuôi được thêm vào sau. Phần trùng tụng có trước và trường hàng có sau. 

Vào trước thời đạo Bụt Đại thừa xuất hiện, tuy mới được hơn 400 trăm tuổi nhưng đạo Bụt lúc đó đã hơi cũ và có khuynh hướng bám lấy hình thức, chữ nghĩa nên bắt đầu mất bớt sinh lực. Thường con người hay như vậy, ưa bám lấy hình thức và để cho nội dung chết từ từ. Điều này đúng với tất cả các truyền thống, nhất là các truyền thống tôn giáo. Ngày xưa đức Thế Tôn sống rất đơn giản và các thầy trong giáo đoàn đi theo đức Thế Tôn cũng sống đơn giản. Tuy là có những tu viện lớn như tu viện Kỳ Viên, tu viện Trúc Lâm nhưng giáo đoàn vẫn giữ được nếp sống lành mạnh, đơn giản của Bụt. Bây giờ chúng ta thấy có những ngôi chùa xây lên thật nguy nga, tráng lệ. Nếu đức Thế Tôn và các thầy sống trong những cơ sở như vậy thì có được thoải mái không? Không biết khi nhìn thấy các vị hòa thượng, các thầy đội mũ tỳ lư, mang áo gắn kim tuyến, xa hoa lộng lẫy thì đức Thế Tôn có mỉm cười hay không? Chúng ta thấy nét bình dị, đơn giản ngày xưa của giáo đoàn nguyên thủy không giống với những màu sắc phô trương, lòe loẹt của bây giờ. Chúng ta dựng một tượng Bụt, đặt đèn neon rồi gắn máy móc để ánh đèn nhấp nháy năm sáu màu làm thành hào quang phía sau tượng; chắc Bụt cũng tức cười: Tôi đâu phải như vậy, tôi đơn giản hơn nhiều. Đứng về phương diện giáo lý và hành trì cũng như vậy, từ từ chúng ta kẹt vào hình thức và đánh mất nội dung. Ngày xưa, Chúa Kitô sống ở trên núi cũng đơn giản, nhưng giờ đây người ta đã dựng ra những cơ sở rất lớn. Bây giờ nếu Chúa Kitô có về Vatican thì chắc Ngài cũng thấy hơi không thoải mái. Chúng ta bám lấy hình thức và tô trét thêm vào, nên đã đánh mất sức sống về phương diện nội dung. 

Đạo Bụt Đại thừa là phong trào chấn hưng đạo Bụt trở lại, khai triển những châu báu trong đạo Bụt Nguyên thủy và thổi vào một luồng gió mới để cho người ta thấy được những sức sống nơi giáo pháp của đức Thế Tôn. Văn học Bát nhã là nền/hệ tư tưởng mang sứ mạng lớn lao đó. Tiếng sấm báo hiệu đầu tiên của Phật giáo Đại thừa là nền văn học Bát nhã mà đại diện tiêu biểu là kinh Bát nhã hành này. Phải học kinh này với cái thấy như vậy thì mới hiểu được. Cố nhiên phe bảo thủ đã chống đối một cách quyết liệt nhưng cuộc cách mạng đã thành hình. Đây là kinh đầu tiên của Đại thừa xuất hiện để cứu vãn phần nội dung của giáo lý đã bị tô vẽ và nhốt vào trong những cái vỏ hình thức khô cằn.

Bài kệ 1:

Những vị Bồ tát nào vì đời 

Diệt trừ chướng ngại và phiền não 

Phát tâm tịnh tín nơi Niết bàn 

Đều nên noi theo Bát nhã độ.

所有菩薩為世間 Sở hữu Bồ tát vị thế gian

滅除蓋障煩惱垢 Diệt trừ cái chướng phiền não cấu

發淨信心住寂靜 Phát tịnh tín tâm trú tịch tĩnh 

當行智度彼岸行 Đương hành trí độ bỉ ngạn hành.

Điều này có nghĩa là nếu anh, chị là người có tâm chí lớn thì tu học vì đời chứ không phải vì cá nhân của anh, của chị. Ngay vào đầu kinh đã cho thấy đây là giọng nói của Đại thừa: Những vị Bồ tát nào vì đời. Bên kia là Thanh văn, còn bên này là Bồ tát. Thanh văn thì lo làm sao cho mình bớt khổ: Tôi có những khổ đau nên tôi lo phần tôi. Còn ở đây vị Bồ tát tu học không phải vì mình mà phải vì đời. Những vị Bồ tát nào vì đời, anh có phải là một người như vậy không, chị có phải là một người như vậy không. Anh là một vị Bồ tát, chị là một vị Bồ tát, chúng ta tu tập là vì đời chứ không phải vì cá nhân chúng ta. 

Diệt trừ chướng ngại và phiền não. Mình diệt trừ những chướng ngại và phiền não cho mình và cho người. Mình diệt trừ phiền não và chướng ngại ở nơi mình để mình có thể phụng sự được cho người và cho các loài khác, không những chướng ngại và phiền não nơi mình cần phải tiêu diệt mà chướng ngại phiền não nơi cuộc đời, nơi chúng sinh, nơi xã hội cũng cần được diệt trừ. Ngay trong bài kệ thứ nhất chúng ta đã thấy tinh thần năng động (dynamic) của Đại thừa. 

Phát tâm tịnh tín nơi Niết bàn. Niết bàn là một lối thoát. Những khổ đau của thế gian chồng chất tràn ngập nhưng chúng ta không thất vọng hay tuyệt vọng vì chúng ta có một lối thoát, lối thoát đó chính là Niết bàn. Niết bàn không nằm đâu xa mà nằm ngay tại đây. Khi ta có một niềm tin, một niềm lạc quan rằng hạnh phúc và giải thoát là chuyện có thể đạt được, đó là Niết bàn. Nếu không tin như vậy, ta sẽ bị chết chìm trong biển khổ não và tuyệt vọng. Vì vậy Phát tâm tịnh tín nơi Niết bàn là chúng ta đều tin rằng giải thoát và hạnh phúc là chuyện có thể làm được và đạt tới được nên ta có thêm năng lượng. Diệt trừ chướng ngại và phiền não: Ta làm cho Niết bàn hiển lộ. Và đó là công trình của tất cả chúng ta. Tất cả chúng ta, các anh, các chị, các vị Bồ tát muốn thực tập để đạt tới điều đó đều phải nương theo Bát nhã độ. 

Đều nên noi theo Bát nhã độ: Tức là phải đi theo bà mẹ của ta là Phật Mẫu, phải thực tập Bát nhã độ và đi theo Bát nhã hành. Vừa vào đầu kinh đã đưa ra thông điệp quan trọng nhất, giống như bức điện tín (telegram), không dư một chữ nào. Trong khi pháp đàm cũng vậy, đến lượt chúng ta phát biểu, chúng ta phải đánh trước một bức điện tín, nghĩa là nếu có ý gì quan trọng ta phải nói ngay câu đó. 

Sở hữu Bồ tát vị thế gian. Nếu có những vị Bồ tát vì thế gian mà diệt trừ những chướng ngại. 

Diệt trừ cái chướng phiền não cấu. Cái là ngăn che (ngũ cái: năm sự ngăn che); chướng là sự cản trở, chặn đứng lại, obstacle. Phiền não cấu là những dơ uế của phiền não. 

Phát tịnh tín tâm trú tịch tĩnh. Phát tịnh tín tâm tức là mở lòng tin thanh tịnh ra. Trú tịch tĩnh là an trú nơi Niết bàn. Tịch tĩnh ở đây có nghĩa là Niết bàn – nirvāṇa, nơi mà khổ đau vắng mặt, chấm dứt . Đây là sự thật thứ ba của Tứ diệu đế, gọi là diệt. 

Đương hành trí độ bỉ ngạn hành: Tất cả những người đó phải hành trì phép gọi là Trí độ bỉ ngạn. Trí prajñā, độ bỉ ngạnpāramitā, nghĩa là sang bờ bên kia; độ là qua, bỉ là bên kia, ngạn là bờ. 

 Bài kệ 2:

Các sông lưu nhuận châu Diêm phù 

Làm tươi dược thảo và hoa quả 

Đều do uy lực của Long vương 

Cư trú nơi hồ Vô nhiệt trì.

諸江河流閻浮提 Chư giang hà lưu Diêm phù đề

華果藥草皆得潤 Hoa quả dược thảo giai đắc nhuận

龍王主住無熱池 Long vương chủ trú Vô nhiệt trì

彼龍威力流江河 Bỉ long uy lực lưu giang hà.

Châu Diêm phù tức là Ấn Độ. Diêm phù, rose apple, là tên một loại cây phổ biến ở Ấn Độ. Châu Diêm phù, tiếng Anh là rose apple continent. Như Canada thì có thể gọi là châu Cây Phong, maple continent. Trong châu Diêm phù có rất nhiều con sông tưới đất đai làm cho tươi tốt cỏ cây hoa lá. Tất cả những con sông đó đều phát xuất từ một cái hồ trên núi, gọi là hồ Vô nhiệt và hồ đó do Long vương (Nāga king – vua rồng) trấn ngự. Ngày xưa ở Ấn Độ người ta tin rằng tất cả các con sông đều phát xuất từ những nguồn suối trên núi Hy Mã Lạp, trên đó có một hồ nước rất lớn do Long vương làm chủ. Hồ rất mát và có rất nhiều nước, tất cả nước tưới đất đai đều bắt nguồn từ đó nên hồ được gọi là Vô nhiệt trì, Anavatapta. Vô nhiệt trì tức là hồ không có sự nóng bức, the lake of no fever

Ý của bốn câu này nói rằng tất cả những giáo lý, những sự giáo hóa của Bụt lưu hành trong toàn cõi Ấn Độ vào thời đại đó (khoảng 100 năm trước khi Thiên Chúa giáng sinh) hiện đang được nhiều thầy, nhiều sư cô rất giỏi giảng dạy và làm cho rạng rỡ. Tất cả các vị đó đều có chung một nguồn gốc là đức Thế Tôn, chung một giáo lý là giáo lý nguyên thủy của đức Thế Tôn. Bây giờ ta có những pháp môn mới, những giáo lý mới đang giúp cho thiên hạ có hạnh phúc, tất cả những điều đó cũng đều có nguồn gốc là Phật giáo Nguyên thủy.

Bài kệ thứ 3:

Các giới Thanh văn đệ tử Bụt 

Phương tiện thuyết pháp độ được người

Vui hưởng phước báo hạnh tối thắng 

Đều do uy lực Tối Thắng Tôn.

亦如佛子聲聞等 Diệc như Phật tử Thanh văn đẳng,

 說法教他方便說 Thuyết pháp giáo tha phương tiện thuyết,

 樂最聖行求果報 Lạc tối thánh hành cầu quả báo

 此諸如來勝威德 Thử chư Như Lai thắng uy đức.

Bốn câu này cắt nghĩa cho bốn câu trước. Tất cả các giới Thanh văn đệ tử của Bụt đang sử dụng nhiều phương tiện thuyết pháp để độ thoát các loài chúng sinh, để cho chúng sinh vui hưởng được những phước báo tối thắng. Tất cả các công trình này nếu thực hiện được cũng là nhờ uy lực của đức Thế Tôn chứ ta không giỏi giang gì, ta không sáng tác ra được điều gì mới. Cũng như nước của các con sông đang tưới tẩm cả châu Diêm phù đều từ trên hồ Vô nhiệt chảy xuống, tất cả công việc chúng ta đang thực hiện: thuyết pháp, độ người hay đang tạo ra những pháp môn mới,… những việc này không phải do tài năng của chúng ta mà nhờ uy lực tối thắng của đức Thế Tôn, tức là hồi hướng tất cả cho đức Thế Tôn. Điều này có nghĩa rằng cuộc cách mạng vĩ đại của Đại thừa đã nhắm đến mục đích làm mới đạo Bụt, đem lại hạnh phúc cho nhiều người. Nhưng đây không phải là công trình của chúng ta mà có nguồn gốc từ giáo lý Nguyên thủy của Bụt, đã có từ thời của đức Thế Tôn. Hồ Vô nhiệt của Long vương là nguồn gốc cho tất cả các sông ở Diêm phù thì bây giờ những giáo lý dù là mới, những pháp môn dù là mới và có công dụng lớn lao trong xã hội đương thời cũng đều phát xuất từ giáo lý Nguyên thủy của Bụt. Chúng ta không tự hào gì cả, không sáng tác gì thêm cả, chúng ta chỉ làm mới lại và sáng rõ hơn mà thôi. Đó là ý của kinh. 

Diệc như Phật tử Thanh văn đẳng,

Thuyết pháp giáo tha phương tiện thuyết, 

Lạc tối thánh hạnh cầu quả báo, 

Thử chư Như Lai thắng uy đức.

Cũng như các vị Phật tử, Thanh văn khi thuyết pháp giáo hóa cho người sẽ dùng những phương tiện mới, những pháp môn mới để giúp cho người ta có hạnh phúc, thưởng thức được hạnh tối thắng và những quả báo tốt đẹp. Tất cả những điều đó đều do uy đức tối thắng của đức Như Lai. Điều này có nghĩa rằng cuộc cách mạng Đại thừa này phải hồi hướng công đức cho đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn là nguồn gốc. Dù có tài năng gì đi chăng nữa thì chúng ta cũng chỉ đang nương vào uy lực của đức Thế Tôn mà làm ra thôi.

Chúng ta có thể học được gì từ những câu kinh này. Chúng ta biết rằng trong xã hội ngày nay, dù là xã hội phương Tây hay xã hội phương Đông đều có những đau khổ mới, những vấn đề mới, những câu hỏi mới. Chúng ta phải trở về với đạo Bụt Nguyên thủy để tìm ra biện pháp có thể trả lời những câu hỏi của thời đại và cống hiến cho thời đại những phép tu mới, thích hợp với con người ngày nay, giúp người ta bớt khổ và phục hồi được sự an vui. Nhưng tất cả những gì chúng ta làm ngày hôm nay đều là nhờ uy lực của đức Thế Tôn và chúng ta phải hồi hướng tất cả cho đạo Bụt Nguyên thủy. Đây là tinh thần của cuộc cách mạng Đại thừa. Chúng ta phải tiếp tục cuộc cách mạng và làm cho đạo Bụt phù hợp với những nhu cầu mới của một xã hội mới. Và khi làm theo tinh thần đó, nghĩa là chúng ta biết rằng tất cả đều lưu nhuận từ tuệ giác của đức Thế Tôn.

Bài kệ thứ 4:

Bụt truyền con mắt của chánh pháp 

Đệ tử theo đó mà hành trì 

Thực hiện tự chứng và dạy người 

Tất cả đều do uy lực Bụt.

云何佛說此法眼 Vân hà Phật thuyết thử pháp nhãn 

令諸弟子如佛學 Linh chư đệ tử như Phật học,

自證教他及方便 Tự chứng giáo tha cập phương tiện 

此亦佛力非自力 Thử diệc Phật lực phi tự lực.

Bụt truyền con mắt của chánh pháp.

Phật thuyết thử pháp nhãn, chúng ta có danh từ pháp nhãn, dharma eyes, tức là con mắt pháp mà Bụt đã truyền lại cho chúng ta. 

Đệ tử theo đó mà hành trì. Hành trì có nghĩa là thực hiện tự chứng và dạy người. Có hai mục tiêu, một là tự độ, hai là độ tha. Chúng ta chấm dứt những khó khăn, khổ đau, phiền não trong tự thân, đồng thời có thể giúp những người khác cùng làm chuyện đó, gọi là tự chứng và dạy người. Tất cả công trình này đều là nhờ uy lực của đức Thế Tôn.

Thử diệc Phật lực phi tự lực. Đừng nên nghĩ là mình giỏi, đừng tự hào, đừng cho rằng cái đó do mình mà có, phải nhớ rằng tất cả đều do uy lực của đức Thế Tôn. Nếu không có hồ Vô nhiệt, không có trí tuệ nguyên thủy thì làm sao chúng ta có những con sông đầy nước, có những pháp môn tu tập chuyển hóa khổ đau như hiện có. Tất cả đều do uy lực của đức Thế Tôn. Ở đây, chúng ta thấy rõ ràng thái độ khiêm cung của những người làm cách mạng. Ta có tổ có tông, có ông có bà và biết rằng ta chỉ là sự tiếp nối của tổ tông, của ông bà mà thôi. Đó là một thái độ rất hay mà chúng ta nên học hỏi.

Bài kệ thứ hai, thứ ba và thứ tư là tuyên ngôn (proclamation) về nguyên tắc và đường lối của cuộc cách mạng Đại thừa. Bài kệ thứ nhất là tôn chỉ của cuộc cách mạng Đại thừa: Chúng ta tu tập và hành đạo không phải để riêng cho cá nhân chúng ta, mà là cho tất cả xã hội. Chúng ta có một niềm tin, vì vậy ta cần phải quay về và thực tập trí tuệ đáo bỉ ngạn, Mahāprajñāpāramitā. Chỉ có bốn câu thôi, đó là tuyên ngôn đầu tiên. 

Ba bài kệ tiếp theo nói về tính chất, phương pháp của Đại thừa. Đại thừa là gì? Đó là một công trình làm mới đạo Bụt để độ người, độ đời, để tạo nên hạnh phúc, và tất cả công trình đó đều có nguồn gốc từ nơi tuệ giác của đức Thế Tôn.

Bài kệ thứ 5:

Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt

Không có sở chứng, không bồ đề

Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ

Là Bồ tát kia hiểu được Bụt.

最上般若不可知 Tối thượng Bát nhã bất khả tri

非心可知非菩提 Phi tâm khả tri phi bồ đề

如是聞已不驚怖 Như thị văn dĩ bất kinh bố

彼菩薩行知佛智 Bỉ Bồ tát hành tri Phật trí.

Bài kệ thứ năm được xem là “tiếng sấm đầu tiên của cuộc cách mạng”. Tiếng sấm đầu tiên này là giáo lý vô đắcnothing to obtain, nothing to grasp, la non-obtention.

Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt. Chúng ta thường nghĩ đi tu, thực tập các pháp môn là để nắm bắt một cái gì đó, có thể là sự giác ngộ, satori (悟り) hoặc Niết bàn – đối tượng của sự chứng đắc. Ta nghĩ rằng mình không có cái đó nên đi tìm và tin rằng một khi nắm được nó là tất cả mọi thứ đều êm xuôi, everything will be alright if we get it. Vì vậy, chúng ta chạy Đông chạy Tây, chạy Nam chạy Bắc,… chạy về Làng Mai. Chúng ta nghĩ rằng cái đó mình không có, nó nằm bên ngoài mình. Đó là chướng ngại đầu tiên. Đối tượng tuyệt vời đó không thể nào nắm bắt được. What you want to grasp, what you want to obtain, you can not grasp it, you can not obtain. 

Tối thượng Bát nhã bất khả tri. Tri tức là nắm bắt. Nắm bắt bằng cái gì? Nắm bắt bằng tri thức (intellect) và trí năng của mình. Anh đừng mong lấy cái vợt ra để bắt con bướm. Anh nghĩ trí năng của anh là cái vợt và đối tượng Bát nhã, Niết bàn là con bướm. Anh nghĩ lấy cái vợt ra là có thể úp chụp được con bướm. Không phải như vậy! Trí năng của anh không thể nào nắm bắt được đối tượng của sự chứng đắc. Đây là tiếng sấm đầu tiên của Bát nhã: đối tượng tuyệt vời không thể nắm bắt. The incomparable understanding is not to be grasped. 

Trong Tâm kinh Bát nhã, câu “dĩ vô sở đắc cố” nghĩa là: Làm gì có chứng đắc! Bởi vì làm gì có đối tượng của chứng đắc mà chứng đắc. There is no attainment because there is no object of attainment. Có lần thầy hướng dẫn một khóa tu ở Omega Institute, trời mưa suốt năm ngày. Có một thiền sinh làm bài thơ: 

It rains, rains, rains. 

It’s nothing to attain. 

(Trời cứ mưa, cứ mưa

Có gì mà nắm bắt).

Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt

Không có sở chứng không bồ đề.

Năng chứng là trí năng của mình. Sở chứng là cái mình nắm được. Đó gọi là Bồ đề hay là đạo, là quả. Cái đó không có, không nắm được. Anh tưởng tượng rằng có một cái như vậy ở ngoài anh và anh phải chạy theo để nắm bắt nó. Tôi nói cho anh biết, rằng anh đừng hy vọng với trí năng của anh mà có thể nắm bắt được. Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ. Là Bồ tát kia hiểu được Bụt. Trong truyền thống có nhiều người không hiểu điều này, họ không hiểu được giáo lý vô đắc, vô sở đắc nên khi nghe như vậy thì có thể họ sẽ rất lo lắng: Tôi tu để làm gì nếu anh nói rằng không có cái gì để đắc cả.

Chúng ta tu, chúng ta đi tìm Bụt, đi tìm Chúa, đi tìm sự giải thoát, đi tìm sự giác ngộ, chúng ta là những người đi tìm và tâm trạng chúng ta là tâm trạng của người đi tìm. Ta đi tìm vì nghĩ ta không có nên phải đi tìm. Vì vậy ta mới tới đây (Làng Mai). Tới được đây rồi, nghe người ta nói có gì đâu mà tìm, ta thấy rất thất vọng và sợ hãi. Nhưng cũng chính nhờ giáo lý này mà ta biết đối tượng ta đi tìm không hề nằm bên ngoài ta. Nó đã có sẵn. Ta có rồi. Niết bàn, Bồ đề, nước Chúa (Kingdom of God) đang ở ngay trong mỗi tế bào cơ thể ta, tại sao ta phải đi tìm. Đi tìm với trí năng thì ta sẽ không thể nắm được. Khuynh hướng của chúng ta là nắm bắt. Nắm bắt bằng hai tay, nắm bắt bằng trí năng. Thử tưởng tượng một người chạy theo một mùi hương để nắm bắt mùi hương, chạy theo một cơn gió để nắm bắt cơn gió. Làm sao có thể nắm bắt được một mùi hương hay một cơn gió. Ở đây cũng vậy, sở chứng không thể nắm bắt được bằng trí năng của mình. Nếu người ta hứa hẹn rằng có “một cái” mà nếu ta tu tập cho tinh chuyên thì họ sẽ đưa ta “cái đó”, ta sẽ đạt được “cái đó” thì ta phải cẩn thận! Nếu có trí tuệ thì ta biết rằng cái đó là vô đắc. Vô đắc là vì không có đối tượng của sự chứng đắc. 

Bài kệ thứ năm này làm cho chúng ta hoảng hốt, giật mình và dừng lại. Chúng ta thấy rằng bao nhiêu năm qua mình đã đi trên con đường nắm bắt, cho nên đã thất bại. Do đó, bây giờ mình phải đi theo con đường mới – con đường của sự không nắm bắt. 

Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt. Không có sở chứng không bồ đề. There is no enlightenment. Ban đầu, chúng ta lý luận theo cách của mình rằng nếu không có giác ngộ thì tu làm gì. Bodhi là giác ngộ – enlightenment. Đây là nội dung của Bát nhã, và nếu nghe câu này mà không khiếp sợ thì quả thật người nghe là một vị Bồ tát có khả năng hiểu được Bụt.

Tối thượng Bát nhã bất khả tri

Phi tâm khả tri phi bồ đề

Bất khả tri là một chữ rất cổ nhưng bây giờ chúng ta vẫn còn dùng. Bất khả tri, agnosticism, nghĩa là không nắm bắt được, không thể biết được – agnostic. Nghĩa là với trí năng của ta, ta không thể nào nắm bắt và hiểu được cái đó. Cái đó là đối tượng của Bát nhã, tức là trí tuệ tuyệt vời mà ta muốn nắm bắt nhưng thực sự không thể nắm bắt được bằng trí năng. Trí năng của ta chỉ có thể nắm bắt được ý niệm và tri giác, mà đối tượng tuyệt vời của Bát nhã không phải là một ý niệm hay tri giác, vì vậy chạy theo để nắm bắt Bát nhã bằng trí năng thì cũng như ta đưa hai bàn tay ra để níu lấy một cơn gió hay một mùi hương. 

Chúng ta khởi hành từ ý niệm là ta không có cái đó và nó nằm ngoài ta, vì vậy ta chạy theo cái đó, nắm lấy nó. Sự u mê của chúng ta đã có ngay từ đầu: một chủ thể đang chạy theo để nắm bắt một đối tượng nên bài kệ này nói rằng không có sở chứng, không bồ đề (there is nothing to obtain, there is no enlightenment). There is nothing outside of you, there is no enlightenment outside of you to run after. Nếu nghĩ rằng sở chứng và bồ đề là cái gì ở bên ngoài, phải chạy theo để nắm bắt thì ta lầm rồi. Không có gì gọi là sở chứng và không có gì gọi là bồ đề. 

Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ, là Bồ tát kia hiểu được Bụt. Trong truyền thống, người ta nghĩ rằng mình đang thực tập, tức là đang chạy theo một đối tượng để nắm bắt. Đối tượng đó là chứng ngộ, là giải thoát, tiếng Nhật là satori (悟り). Nhưng kinh này cho chúng ta thấy rằng đừng nên áp dụng thái độ đó, đừng chạy theo một cái gì cả. Bốn câu trên đều nói về vô đắc.

Bài kệ thứ 6:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, là không 

Không dính mảy may, không xứ sở 

Bồ tát không trú nơi pháp nào 

Là chứng bồ đề không nắm bắt.

色受想行識皆無 Sắc thọ tưởng hành thức giai vô

不著纖塵無處所 Bất trước tiêm trần vô xứ sở

彼若不住一切法 Bỉ nhược bất trú nhất thiết pháp

行無受想得菩提 Hành vô thọ tưởng đắc Bồ đề.

Bài thứ năm nói về vô đắc và bài thứ sáu nói về vô trú (no dwelling, not being caught). Vô đắc rồi thì tới vô trú. Bây giờ chúng ta đi vào giáo lý vô trú. Ta phải nhìn sâu vào năm yếu tố sắc, thọ, tưởng, hành, thức để thấy trong đó có sự rỗng không (emptiness). Nếu chưa thấy tính không của năm uẩn thì ta vẫn còn dính mắc như thường. Để đừng bị dính mắc, ta phải thấy được tính không của năm uẩn.

Không dính mảy may, không xứ sở. Có một chất keo, một loại mủ mít trong con người của ta, và ta rất dễ bị dính, một khi đã bị dính vào rồi thì gỡ ra rất khó, gỡ không được, có thể bị hư hao, rách nát, làm động chúng và làm mất hết hạnh phúc trong chúng. Đó là bởi vì ta chưa thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều trống rỗng, đều không có một chủ thể bất biến đồng nhất. Cho nên khi thấy được bản chất của năm uẩn là không thì ta đâu còn dính mắc nữa, gọi là không dính mảy may

Tiêm trần là một mảnh bụi rất nhỏ. Không dính một chút mảnh bụi nào tức là hoàn toàn có tự do. Muốn hoàn toàn có tự do ta phải nhìn sâu vào trong năm uẩn, thấy được năm uẩn đó không có thực thể. Cũng như các nhà khoa học vật lý bây giờ, nhìn vào trong vật chất thấy được vật chất không có thực thể. Trong sắc không có thực thể, mà trước hết nó bao hàm rất nhiều không gian. Vật chất nhìn như là chắc nịch nhưng bên trong chỉ có không gian (space), không có chất gì cả (totally empty). Đức Thế Tôn không những nhìn vào sắc thấy như vậy mà khi nhìn vào thọ, tưởng, hành, thức, Ngài cũng thấy như vậy. Ngài thấy được tính không của tất cả năm uẩn: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không. Không dính mảy may, không xứ sở. Không xứ sở nghĩa là không chọn chỗ đó làm nơi cư trú của mình. Nếu chọn chỗ đó làm nơi trú ẩn, ta sẽ khổ. Bởi vì khi nó xoay chuyển, biến thiên, quay cuồng thì ta cũng phải xoay chuyển, biến thiên và quay cuồng theo. Năm uẩn là như vậy. Những cảm thọ của ta như những cơn lốc, dù là khổ thọ, lạc thọ hay xả thọ đều là những cơn gió lốc. Ta chọn cảm thọ làm nhà thì rất nguy hiểm. Có ai đã từng cư trú trong một cảm thọ chưa? Có những cảm thọ như một cơn lốc, làm cho ta thất điên bát đảo. Ai dại gì đi chọn chỗ đó làm nơi cư trú chứ. Nếu cho đó là nơi có an ninh và chọn làm nơi cư trú thì rất nguy hiểm. We should not settle in such a storm. Sắc cũng vậy, thọ và tưởng cũng vậy. Tưởng là những đợt sóng, những cơn lốc; nếu chọn chúng làm nhà thì cũng thật nguy hiểm. Vì vậy, ta phải nhìn vào năm uẩn để thấy đó là những cơn lốc, là những gì luôn biến chuyển, di động và đừng tìm chỗ an cư lạc nghiệp trong năm uẩn. 

Không dính mảy may, không xứ sở.

Chúng ta đã nghe Bụt nói như vậy trong kinh Kim cương: “Bất ưng trú sắc sinh tâm, bất ưng trú thanh, hương, vị, xúc, pháp sinh tâm”. Nghĩa là đừng phát tâm dựa trên sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. “Ưng vô sở trú nhi sinh kỳ tâm.” Tâm của ta phải được phát ra trên nền tảng vô sở trú chứ đừng dựa vào bất cứ một điều gì. Anh mà dựa vào một trong năm yếu tố kia là anh sẽ chết. Khi làm nhà, có ai lại xây nhà trên một đống cát bao giờ. Cũng vậy, nếu muốn xây ngôi nhà của sự an lạc, hạnh phúc và thanh tịnh thì đừng xây nhà trên nền tảng của năm uẩn.

Bồ tát không trú nơi pháp nào, là chứng Bồ đề không nắm bắt. Khi thực tập được vô trú thì đồng thời ta cũng chứng được vô đắc, lúc bấy giờ không cần nắm bắt mà tự nhiên có Bồ đề.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức giai vô 

Bất trước tiêm trần vô xứ sở

Bỉ nhược bất trú nhất thiết pháp

Hành vô thọ tưởng đắc bồ đề.

Vô xứ sở tức là không tìm cách đóng đô ở trong đó. Nếu ta không trú vào các pháp thì có thể thực tập để đạt tới bồ đề, tức là sự giác ngộ mà không còn nắm bắt. Sự thực tập của Bồ tát không bị kẹt vào trong thọ, cũng không bị kẹt vào trong tưởng, vì thế có thể có được bồ đề. Tại sao ban đầu nói không có bồ đề, bây giờ lại nói có bồ đề? Nói không có bồ đề là vì có sự nắm bắt, nếu không có nắm bắt thì bồ đề sẽ tự nhiên có. Chính vì nắm bắt nên mới không có bồ đề. Ví dụ, ta đang ngồi trên bãi cỏ xanh tươi giữa nắng ấm mùa xuân, nếu không sinh tâm nắm bắt thì ánh nắng mùa xuân đó sẽ tới với ta trên khắp da thịt, mặt mũi. Nhưng nếu ta muốn nắm bắt nắng gió mùa xuân đem về phòng để xài riêng thì ta sẽ không có được nó. 

Vô đắc và vô trú là hai yếu tố có liên hệ với nhau, no obtainment, no dwelling, no settling. Nếu muốn bảo tồn tự do thì ta đừng an cư lập nghiệp trong năm uẩn. Phần lớn chúng ta đều muốn an cư lập nghiệp trong năm uẩn. Em có thể là nơi nương tựa cho tôi không, tôi cần một nơi nương tựa. Anh có thể làm chỗ nương tựa cho tôi không, tôi cần một nơi nương tựa. Ai trong chúng ta cũng muốn có một nơi nương tựa nhưng chúng ta không biết thực tập nương tựa. Chúng ta đi tìm và nương tựa vào những cái không đáng nương tựa. Trong khi giáo lý của đức Thế Tôn đã nói một cách rõ ràng là chúng ta chỉ có thể nương tựa được trên những cái đáng nương tựa mà thôi. Những cái đáng nương tựa đó không phải là sắc, thọ, tưởng, hành, thức; mà chính là Tam bảo (Bụt, Pháp, Tăng), là vô đắc, vô trú. Người nào nương tựa được Tam bảo, vô đắc, vô trú thì bảo tồn được tự do và hạnh phúc của mình. Người nào chỉ có thể dựa vào cái không đáng nương tựa như năm uẩn, như sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp thì người đó sẽ mất hết tự do và hạnh phúc. Chúng ta hãy lấy đau khổ, kinh nghiệm của mình ra xem xét điều này thì sẽ thấy đó là sự thật. Trong quá khứ chúng ta đã nương tựa vào cái gì? Chúng ta đã đau khổ như thế nào? Chúng ta nghĩ rằng có thể tìm được an lạc và hạnh phúc trên những cái đó cho nên ta mới đi tìm chúng để nương tựa, ai ngờ chỉ sau nửa năm, một năm, hai năm… ta khám phá ra rằng đó là những cơn lốc. Ta bị xoay chuyển, bất an và khổ đau theo những cái đó. Vì vậy nương tựa vào những cơn lốc là chuyện chúng ta phải xét lại nếu thực sự muốn có tự do, hạnh phúc. Chúng ta hãy suy xét lại xem trong quá khứ ta đã nương tựa vào những cái gì, những cái đó có đáng cho ta nương tựa hay không. Chúng ta sẽ lên xuống quay cuồng, khổ đau theo đối tượng nương tựa của mình, vì thế đức Thế Tôn nói không nên nương tựa vào: ưng vô sở trú. Nếu có nương tựa thì nên dựa vào những cái đáng nương tựa.

Có một tâm hành gọi là sợ hãi, fear. Nếu học và thực tập theo kinh Bát nhã hành thì ta có thể vượt thắng được sự sợ hãi. Trong tiềm thức của ta thường chôn lấp rất nhiều hạt giống của sự sợ hãi. Nếu ta không quán chiếu và thực tập theo kinh Bát nhã hành thì không cách gì có thể chuyển hóa được những hạt giống sợ hãi trong ta. Đi đôi với hạt giống sợ hãi luôn là hạt giống của sự vướng mắc. Vì sợ hãi nên ta mới bám víu và vì bám víu cho nên ta mới vướng mắc. Sự vướng mắc có dính líu đến sự sợ hãi. Trí tuệ Bát nhã là để diệt trừ sự sợ hãi, đồng thời diệt trừ sự vướng mắc. Sợ hãi và vướng mắc là nguồn gốc của mọi khổ đau. Ta phải đem hết tất cả tim óc của ta ra để học kinh này, đem tất cả những khổ đau và tuyệt vọng của ta ra để học kinh này thì mới mong có thể hiểu được kinh. 

Trong thời gian học, chúng ta phải cố công thực tập. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi cái bát chúng ta rửa, mỗi cái nồi chúng ta chùi, mỗi phòng tắm, cầu tiêu chúng ta lau dọn,… ta phải sử dụng thời gian làm những việc đó để quán chiếu thì mới thành công được. Nếu chỉ học sơ sơ, quán chiếu sơ sơ thì không đi tới đâu cả. Ai trong chúng ta cũng đã từng nghĩ tới cái chết của chính mình, đã từng có tư tưởng muốn tự sát, từng nghĩ tới người thân đã chết hoặc một ngày nào đó sẽ chết… Chúng ta biết rằng hạt giống của sự sợ hãi, tuyệt vọng và khuynh hướng muốn bám víu còn rất mạnh trong ta. Kinh này chính là một ngón tay chỉ thẳng vào những hạt giống của sự sợ hãi, tuyệt vọng và vướng mắc đó, giúp ta nhận thức được để tu tập và chuyển hóa.

Mỗi người chúng ta đều được tạo nên từ năm yếu tố gọi là năm uẩn. Uẩn có nghĩa là sự tập hợp, như sự tập hợp của một bầy ong, một đám mây, một dòng sông hay một cơn bão. Tự nhiên ta có một cơn bão nổi dậy, cơn bão là tập hợp những dòng không khí bị nhiễu động; tự nhiên ta có một dòng sông, dòng sông được tập hợp lại từ những con suối; tự nhiên ta có một đám mây, đám mây được tập hợp lại từ hơi nước và khói. Cũng như vậy, con người chúng ta được tạo nên từ năm nhóm tập hợp, gọi là năm uẩn.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức giai vô

Bất trước tiêm trần vô xứ sở

Bỉ nhược bất trú nhất thiết pháp

Hành vô thọ, tưởng đắc bồ đề.

Sắc tức là hình hài (formation), thọ tức là cảm thọ (feeling), tưởng tức là tri giác (perception), hành tức là những tâm hành (mental formations), tâm ý tiếp theo nhau, biểu hiện trong ta và thức là nhận thức (consciousness). Sắc, thọ, tưởng, hành và thức gọi là năm sự tập hợp. Hành động quán chiếu, nhìn sâu vào trong năm uẩn gọi là quán chiếu ngũ uẩn. Khi nhìn sâu, ta thấy được nội dung, bản tánh của ngũ uẩn. Hành động nhìn sâu này rất quan trọng. Sở dĩ ta có ảo tưởng về nó, tri giác sai lầm về nó, ta thất điên bát đảo, khổ đau, sợ hãi, vướng mắc,… là vì ta có một ý niệm về năm uẩn. Nhưng khi nhìn sâu và thấy được tự tánh của năm uẩn rồi thì những vướng mắc, tuyệt vọng, sợ hãi kia tan biến. Ta thấy rằng năm khối tụ hợp đó không có một bản chất nào cả, bên trong trống rỗng, không thật sự rắn chắc để có thể gọi là đồng nhất và bất biến, cũng không thể trường tồn qua thời gian và không gian. Năm uẩn không có ngã.

Tất cả các tông phái đạo Bụt đều chấp nhận lời dạy của đức Thế Tôn là không có ngã, không có cái ta (self). Nhưng có những tông phái nói rằng tuy ngã không có nhưng pháp thì có. Tuy trong năm uẩn không có cái ngã, nhưng tất cả các pháp thì đều có, đó gọi là tư tưởng ngã không pháp hữu (我空法有). Học phái Sarvāstivāda và một số học phái khác nói rằng: Đúng rồi, không có ngã nhưng có pháp. Năm uẩn không có ngã, đi tìm ngã trong năm uẩn thì không có, nhưng năm uẩn thì hiện hữu. Ở đây, kinh Bát nhã nêu ra rằng năm uẩn cũng không có và pháp cũng không có. Pháp là một ảo tưởng, mình tưởng nó là nó nhưng kỳ thực nhìn cho kỹ thì nó không phải là nó. Nó chỉ là một ảo tưởng, một trò ảo thuật mà thôi.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không

Không dính mảy may, không xứ sở.

Không những ngã là không mà các pháp cũng không, tất cả đều là huyễn hóa. Chúng ta thấy được chủ trương ngã không pháp không của Đại thừa. Ta không còn kẹt vào một chân lý nửa vời là ngã không pháp hữu, ta đạt tới chân lý toàn vẹn là ngã không pháp không. Không những không có ngã mà pháp cũng chỉ là một trò huyễn hóa thôi. 

Trong giấc mơ chúng ta thấy người, thấy vật, có hành động, có buồn vui nhưng giấc mơ là một trò huyễn hóa. Sự u mê của ta trong cuộc sống hằng ngày làm cho đời sống trở thành giấc mơ và ta cũng buồn bã, khổ đau và tuyệt vọng như trong giấc mơ, vì vậy ta phải thức dậy. Đạo Bụt được gọi là đạo Thức dậy. Bud nghĩa là thức dậy, Buddha là người đã thức giấc, còn chúng ta là những người đang trong một giấc mơ. Và vì chưa thức dậy, ta vẫn bám chấp vào ý niệm rằng tất cả những gì ta đang thấy, đang nghe đều có thật nên những tuyệt vọng, khổ đau và sợ hãi tiếp tục quấy động tâm của ta. 

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không. Không dính mảy may, không xứ sở. Vì đã thấy được các pháp là huyễn hóa, cho nên ta không bị mắc kẹt và ta không muốn an cư lạc nghiệp ở trong đó nữa. Lâu nay, ta dính mắc vào các pháp, muốn ký một hiệp ước là mình sẽ sống lâu đời với chúng cho đến khi đầu bạc răng long và sau đó nữa. Sắc là hình hài của ta, ta phải nhìn vào sắc. Sắc là một tập hợp (formation), sắc là một hành. Cũng như một dòng sông là tập hợp của những giọt nước, sắc là sự tập hợp của các tế bào có đất, nước, lửa và gió. Ta phải thấy bản chất thực của sắc là một tập hợp (the body is a formation). Nó là một dòng sông, một tổ ong, một đám mây, một cơ thể. Đám mây có khi bay trên trời, có khi chuyển động, có khi biến thành mưa. Dòng sông cũng vậy, có khi cuồn cuộn, gào thét, chảy xiết, cuốn phăng đi không biết bao nhiêu sinh mạng, cỏ cây. Dòng sông có lúc sẽ trở thành ngọn thác. 

Cơ thể chúng ta cũng vậy, có lúc sẽ trở nên như một cơn lốc (tornado). Có khi nào chúng ta thấy cơ thể của mình trở thành một cơn lốc không? Nếu muốn an cư lập nghiệp trong cơn lốc đó thì ta sẽ bị nó cuốn theo, đồng nhất với nó. Không dính mảy may, không xứ sở. Xứ sở tức là an cư lập nghiệp, seeking the settlement in it. Nhìn vào trong cơ thể, phải thấy nó là một tập hợp, một uẩn, ta đừng ký kết hiệp ước lâu dài với nó, chẳng hạn như: “Tôi và em, tôi sẽ ở với em mãi mãi và mãi mãi, tôi sẽ đóng đô ở đây, sẽ không bao giờ đi nơi khác, tôi sẽ không sống được nếu không có em.” Đừng ký kết những hiệp ước vụng dại như vậy với cơ thể vì khi nhìn sâu vào, ta thấy nó trống rỗng. Đức Thế Tôn đã nói: “Thân là đại dương sâu, có những đợt sóng ngầm, có những loài thủy quái, có những trận cuồng phong. The body is a deep ocean, there are hidden waves underneath, there are sea monsters, there are hidden storms within it.” Có ai chỉ cho ta thấy những điều đó không? Đức Thế Tôn đã chỉ, thân hình của chúng ta, những người con trai, con gái nhìn hiền lành, dịu dàng và bình thản như vậy nhưng có lúc cái thân đó trở thành một cơn lốc, một đợt sóng trào lên, rồi những loài thủy quái xuất hiện và ta bị cuốn theo, lên xuống, chìm nổi trong cơn lốc đó. Vì vậy, ta đừng dính vào và đừng ký kết với nó, đó gọi là không dính mảy may không xứ sở.

Uẩn thứ hai là thọ (feeling), là những cảm thọ của ta. Chúng ta đã từng đi qua những cảm thọ: vui, buồn, dễ chịu, khó chịu… Chúng ta biết rằng cảm thọ cũng có khi trở thành những cơn lốc. Có nhiều khi cơn lốc mạnh quá khiến ta nghĩ rằng chỉ có chết mới hết khổ, chỉ có đâm đầu xuống sông, chỉ có bắn một phát vào trái tim, chỉ có uống thuốc độc để cho thân thể tàn hoại thì cảm thọ kia mới tàn hoại. Đã có những lúc chúng ta bị cuốn theo những cảm thọ, bị giày vò lên xuống bởi những cảm thọ, ràng buộc vào cảm thọ, chết đi sống lại vì cảm thọ… Cảm thọ là một đại dương sâu có những đợt sóng ngầm, những loài thủy quái, những trận cuồng phong trong đó. Vì vậy đừng nắm bắt, đừng mắc kẹt vào, đừng ký kết những hiệp ước ngàn đời với cảm thọ. Cảm thọ là vô thường, ta phải thấy được bản chất của cảm thọ. Hạnh phúc của chúng ta không nên xây dựa trên cảm thọ. 

Tri giác (perception) là một tập hợp. Cái mà ta nhận thức, định nghĩa, thấy nghe, đó là tri giác. Đã từng có những tri giác làm ta thất điên bát đảo, làm ta căng thẳng và bất lực. Từ những tri giác đó mà sự sợ hãi, hận thù, tuyệt vọng được sinh ra. Hãy nhìn vào tri giác, nhìn vào bản chất của tri giác, đừng bị tri giác kềm kẹp, thống trị, đừng ký kết những hiệp ước ngàn đời với tri giác. Không dính mảy may không xứ sở thì mình mới có tự do. Có được tự do thì mới không đau khổ. Bồ tát Quán Tự Tại khi quán chiếu thâm sâu Bát nhã Ba la mật, bỗng soi thấy năm uẩn đều không có tự tánh, tức là thấy được pháp không và ngã không. Bồ tát khi thấy được rồi thì vượt thoát mọi khổ nạn.

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba la mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Độ là vượt qua. Nhất thiết là tất cả. Khổ ách là khổ đau và ách nạn. Nhìn như thế nào, quán như thế nào, soi như thế nào để có thể vượt qua được mọi khổ ách, đó là vấn đề. Bồ tát Quán Tự Tại làm được. Chúng ta có thể làm được không? Thầy sẽ chia sẻ cách giúp quý vị thực tập và vượt thoát được như Bồ tát Quán Tự Tại để đừng vướng mắc, đừng cam kết, đừng ràng buộc vào năm uẩn. 

 Bồ tát không trú nơi pháp nào 

Là chứng Bồ đề không nắm bắt.

Không trú tức là không kẹt vào. Đây là giáo pháp vô trú, không tùy thuộc, không đầu tư vào bất cứ cái gì khi nó là một cơn lốc. You should never invest in anything that looks like a tornado. Chỉ có pháp là cái đáng để cho ta nương tựa vì pháp không phải là một cơn lốc. Ta có một sư anh tên Pháp Trú, tức là người chỉ nương tựa vào pháp mà thôi. Pháp ở đây là trí tuệ, một trí tuệ lớn, trí tuệ Bát nhã. 

Chúng ta đang ở trong mùa Phục sinh, hãy quán tưởng về tính vô sinh bất diệt của Chúa Kitô. Chúng ta có cơ hội thấy được rằng Chúa Kitô là một thực thể vượt thoát ra khỏi sống và chết, sinh và tử. Chúng ta nói tới Chúa Kitô như một thực thể thoát ra ngoài sống chết, The Living Jesus, The Living Christ. Đọc kinh Pháp hoa, chúng ta nghe nói đến đức Thế Tôn là một thực thể vượt thoát ra ngoài sống và chết. Thọ mạng của đức Thế Tôn là vô lượng. Cái sinh ra và cái chết đi không động được tới đức Thế Tôn. Những người bạn Cơ Đốc cũng nghĩ như vậy đối với Chúa Kitô, việc sinh ra và chết đi không động được tới Chúa. Vì vậy Phục sinh có nghĩa là sinh ra trở lại. Sinh ra trở lại được một lần thì cũng có thể sinh ra trở lại muôn ngàn lần. 

Trong đạo Bụt, chúng ta có giáo lý Thị hiện. Thị hiện tức là biểu hiện ra như vậy nhưng kỳ thực không phải như vậy. Trên bình diện hiện tượng thì ta thấy rằng Bụt đã có lúc sinh ra và đã có lúc nhập Niết bàn. Nhưng vì thọ mạng của Bụt là vô lượng nên sinh là giả sinh và diệt là giả diệt. Bụt giả vờ sinh ra rồi Bụt giả vờ chết đi, gọi là thị hiện. Bụt thị hiện đản sinh và thị hiện Niết bàn. He pretended to be born, he pretended to die. Chúa cũng vậy. Ở Bethlehem Chúa giả vờ sinh ra và trên thập tự giá Chúa giả vờ chết đi. Thật ra sinh và tử không động được tới Chúa. Đó là thực thể của Bụt, của Chúa. Chúng ta có được điều đó không? Bản chất của chúng ta, chân như của chúng ta có tính bất sinh bất diệt của Bụt và Chúa không? Do we share the nature of no birth, no death of The Buddha and Jesus? Trong đạo Bụt, câu trả lời là . Không những thọ mạng của đức Thế Tôn là vô lượng mà thọ mạng của một chiếc lá hay của một con sóc cũng vô lượng. Chiếc lá cũng giả vờ sinh ra, chiếc lá giả vờ rơi xuống và chết đi, kỳ thực trong chiều sâu chiếc lá là bất sinh bất diệt. Chúng ta cũng vậy. Chúng ta nghĩ rằng, từ không ta đã sinh ra để trở thành và từ ta sẽ chết đi để trở thành không. Đó là vì ta chưa quán chiếu sâu sắc về năm uẩn nên mới kẹt vào tướng. Kẹt vào tướng rồi thì nảy sinh sợ hãi và vướng mắc. Phải quán chiếu thế nào để đừng kẹt vào tướng, vượt khỏi tướng thì ta sẽ vượt thoát khỏi sợ hãi và vướng mắc.

Ta phải tìm cho ra cái trứng của tuệ giác. Trong mỗi chúng ta đều có mầm mống của tuệ giác, nên ta đều có cái trứng đó. Cái trứng này không phải làm bằng chocolate mà là hạt giống tuệ giác trong ta. Ta phải ôm ấp cái trứng đó và làm cho lớn lên để nó nở ra thành con chim của trí tuệ. Một khi con chim trí tuệ được sinh ra, ta sẽ vượt thoát khỏi thế giới của sợ hãi và vướng mắc. 

Suốt mùa Đông năm nay đại chúng Làng Mai đã quán chiếu khá nhiều về những chiếc lá sen. Ở xóm Thượng, xóm Hạ và xóm Mới đều có hồ sen. Chúng ta đã từng thấy hoa sen nở rộ trong hồ, đã từng thấy những chiếc lá sen xanh tươi mơn mởn. Đầu mùa Đông, những lá sen tàn tạ, không còn một bông hoa nào, không còn một ngọn lá xanh tươi nào. Chúng ta tiếp tục quan sát. Các sư cô, sư chú đã từng chụp hình những bông sen, lá sen mơn mởn và cũng chụp hình những lá sen đang tàn tạ, vàng úa cho đến khi các chiếc lá đó rũ xuống, rã ra và trở thành bùn đất. Những tấm hình đó được giữ lại để làm tài liệu quán chiếu. Trong các buổi thiền hành tại xóm Thượng cũng như xóm Mới, xóm Hạ, chúng ta đi quanh hồ, quan sát những bông sen, lá sen khi chúng còn xanh tươi, sống động cho đến khi những bông hoa, chiếc lá tàn tạ và biến trở lại thành bùn. Có người trong chúng ta đã quán chiếu sâu sắc, để ra rất nhiều thì giờ quán chiếu. Có người trong chúng ta chỉ quán chiếu sơ sài. Mùa Đông năm nay, thầy tiếp xúc với sen nhiều hơn các vị. Thầy thường đi quanh hồ sen ngắm và quán chiếu rất kỹ những lá sen tàn tạ. Sư cô Phúc Nghiêm thỉnh thoảng đào lên một củ sen, nhồi đậu xanh và hầm canh cho thầy. Mỗi khi ăn lát sen trên dĩa, thầy có cơ hội quán chiếu thêm về sen và có thể nói là thầy tiếp xúc với sen rất sâu sắc dầu trong mùa Đông không có bông sen nào nở, không một chiếc lá sen nào vươn mình trên mặt nước. Bây giờ thầy chia sẻ với quý vị một phần sự quán chiếu đó để giúp quý vị hiểu được kinh Bát nhã hành.

Chúng ta hãy tưởng tượng đây là mặt nước hồ và dưới hồ có rất nhiều những củ sen và ngó sen. Khi đi quanh bờ hồ, quý vị không thấy những củ sen và ngó sen. Mùa Xuân năm qua có những lá sen mọc lên, có những bông sen nở, có những lá sen nhỏ, lá sen lớn. Quán tưởng ta là một lá sen vươn mình lên khỏi mặt nước, tỏa chiếu màu xanh rạng rỡ, ta đón nhận ánh sáng mặt trời và sống đầy đủ cuộc sống của một lá sen. Lá sen rất đẹp, nhìn vào lá sen ta thấy sự tươi mát, vững chãi. Mỗi chúng ta là một chiếc lá sen. Khi sống đời sống của một lá sen, ta có thể ý thức được ta là con của củ sen, của ngó sen và ta được mẹ ta nuôi dưỡng hằng ngày. Ngày đêm ta tiếp nhận chất nước, chất dinh dưỡng của củ sen truyền qua. Trong khi ta phát triển thành chiếc lá sen đẹp đẽ tuyệt vời như vậy, ta biết gốc rễ của ta là củ sen, đồng thời sự sống của ta cũng làm cho củ sen lớn lên. Lá sen không chỉ tiếp nhận mà còn cống hiến, giúp những củ sen, những bông sen và những lá sen khác lớn lên. Khi sống cuộc sống của lá sen, nó đồng thời cũng sống cuộc sống của hoa sen, củ sen và của những lá sen khác, chúng ta phải thấy được như vậy. Anh là một lá sen mới nhô lên khỏi mặt nước, thấy một lá sen rất to, rất đẹp và nghĩ rằng đó là một lá sen khác, anh không ngờ chính lá sen này đã đóng vai trò làm cha mẹ của anh. Chính mỗi ngày vươn lên trong ánh nắng, thở và sống, lá sen đó đã nuôi củ sen và làm cho những đứa em của mình ra đời. Những đứa em là sự tiếp tục của mình. Khi lá sen này nhìn bông sen kia và nhìn vào lá sen khác thì nó phải thấy tính tương tức giữa những hiện tượng đó, phải thấy rằng nó và bông sen kia không phải là hai thực thể riêng biệt. Đứng về phương diện hiện tượng nói rằng nó và bông sen kia là một thì không ổn mà nói nó với bông sen kia là hai cá thể biệt lập cũng không ổn. Trong đạo Bụt dùng danh từ phi nhất phi dị (非一非異, not the same, not different), nghĩa là không phải một mà cũng không phải khác. Lá sen với bông sen không phải là một nhưng cũng không phải là hai cái khác nhau, điều này đúng với củ sen và lá sen, đúng với lá sen lớn và lá sen nhỏ. 

Khi ta là một sư chị, ta sống cuộc đời của một sư chị cho thật đẹp và tỏa chiếu rạng rỡ với tư cách của người sư chị. Và khi ta sống cuộc đời sư chị như vậy ta đồng thời cũng đang nuôi tăng thân, nuôi các sư em, sư chị của ta. Đây là sự thật. Khi một sư chú có những nỗi buồn, khó khăn, khổ đau thì những nỗi buồn, khó khăn, khổ đau đó cũng dính líu với tất cả các sư anh, sư em của sư chú. Sự có mặt của sư chú trong tăng thân ảnh hưởng sâu đậm đến sự sống của tăng thân. Mỗi khi sư chú mỉm cười và tháo gỡ được nỗi khổ niềm đau thì tự nhiên niềm vui của tăng thân lớn lên và sư chú nuôi dưỡng được tăng thân. Không những sư chú nở ra như một bông hoa mà sư chú cũng làm cho tăng thân nở ra như một bông hoa, vì sư chú và tăng thân không phải là hai. Ta phải thấy rằng sư chú đang nuôi tăng thân lớn lên, đang nuôi thầy lớn lên. Ta thấy được mối liên hệ duyên sinh mà không bị kẹt vào hình tướng rằng “tôi đây là một chiếc lá khác, còn anh là một chiếc lá khác, chúng ta không dính líu gì với nhau”. Kỳ thực chúng ta là nhau, we inter-penetrate, we inter-are, tương nhập (相入), we inter-being, tương tức (相卽). 

Chuyện này ta có thể làm được, đây không phải là lý thuyết. Trong đời sống hằng ngày ta có sống chánh niệm để tiếp xúc được với sự thật này không, hay chỉ thấy rằng ta là một chiếc lá sen đơn độc không dính líu gì đến củ sen, ngó sen và những bông sen khác. Chúng ta bị giam hãm vào trong lớp vỏ cứng chắc của bản ngã. Lớp vỏ bản ngã cứng cáp đó là một khối u mê, một tri giác sai lầm. Có phải nụ cười của ta làm cho cả tăng thân rạng rỡ hay không? Nụ cười của ta không những làm nhẹ thân tâm ta mà còn làm nhẹ luôn thân tâm của cả tăng thân, làm nhẹ luôn thân tâm của cả thầy, tổ, của cả gia đình, phải vậy không? Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày ta phải sống sâu sắc như thế nào để thấy được tính tương tức giữa ta và các hiện tượng khác trong đời sống, đó gọi là quán chiếu. Chư tổ cũng vậy, đức Thế Tôn cũng vậy, các vị cũng đứng, cũng ngồi, cũng ăn, cũng uống, cũng đi tắm, rửa mặt, đi vệ sinh như ta, nhưng trong khi làm các việc đó quý vị ấy có định, có niệm và có quán chiếu cho nên có tuệ. Trong khi rửa nồi ta không chịu rửa nồi cho đàng hoàng trong chánh niệm, ta để tâm rong ruổi theo những tư tưởng buồn lo, giận hờn, và vì vậy ta không dùng được thời gian rửa nồi để quán chiếu, nhìn sâu vào trong năm uẩn để thấy được tính không của năm uẩn, nghĩa là tính tương tức của năm uẩn. 

Khi lá sen này nhìn thấy một lá sen mới trồi lên trên mặt nước nghĩa là nó thấy nó. I am here but also I am there. Phải thấy nó là một với lá sen kia thì mới có tuệ giác. Nhìn sâu vào ta mới thấy được điều đó, còn nhìn trên mặt nước thì chỉ thấy lá sen này với lá sen kia hoàn toàn là hai lá sen khác nhau. Mùa Xuân, mùa Hè rồi mùa Thu, chiếc lá này vẫn tươi nhưng tới mùa Đông thì nó yếu dần và bắt đầu rã xuống. Có thể sự tàn tạ bắt đầu từ trên đầu lá hoặc bắt đầu ở cuống lá, tùy theo từng loại thực vật. Mùa Thu tới ta thấy có những chiếc lá rụng xuống mặt đất vì cuống lá tách rời khỏi cành nhưng chiếc lá vẫn còn tươi. Nhặt lá vàng rơi, xem màu lá còn tươi, đó là một câu trong bài hát Thu vàng của nhạc sĩ Cung Tiến. Khi nhặt một chiếc lá vàng lên và thấy rằng ngọn lá đó còn tươi, tức là sự sống đang còn trong đó. Tuy chiếc lá đã tách rời khỏi cành rồi nhưng chiếc lá vẫn tiếp tục thở được trong không gian, vẫn tiếp tục tự nuôi lấy nó trong một thời gian nữa rồi từ từ khô héo lại. Sự sống đang còn dù chiếc lá đó đã rời cành. Thấy cái tướng nối liền giữa chiếc lá với cành cây, nhưng ta không thấy được những cái tướng khác. Tuy đã tách khỏi cành cây nhưng chiếc lá vẫn tiếp nhận được những nguồn sinh lực khác, nó vẫn tiếp tục thở được. Tùy theo ta để vào môi trường nào mà chiếc lá tươi đó sẽ khô liền trong vòng một giờ đồng hồ hay còn sống thêm ba, bốn ngày nữa. Nếu môi trường thuận lợi, chiếc lá vẫn tiếp tục nhận được những chất liệu để nuôi dưỡng nó trong mấy ngày nữa. Khi chúng ta được mẹ sinh ra cũng có một cái cuống như vậy, gọi là cuống rốn (umbilical cord). Cô y tá cắt đứt cuống rốn nhưng ta không sao hết. Qua cuống rốn đó ta đã sống phụ thuộc mẹ ta trong gần một năm nay nhưng bây giờ không còn cuống rốn nữa thì ta vẫn tiếp tục sống. Có những cuống rốn khác mà ta không thấy, nhưng ta không thể nói rằng không có. Ta vẫn còn phụ thuộc vào cha mẹ ta, vào không khí, mặt trời, đám mây, cơn mưa. Giữa ta và mặt trời có cuống rốn, giữa ta và cơn mưa hay đám mây đều có cuống rốn. Có rất nhiều cuống rốn liên hệ giữa ta với cuộc đời và ta phải thấy được những điều đó. 

Ta đang được nuôi dưỡng bởi vũ trụ muôn loài. Có vô số những cuống rốn mà ta phải thấy được. Phải thấy cái không tướng của các tướng. Nếu chỉ kẹt vào tướng thôi thì thấy ta không có liên hệ gì cả. Chiếc lá này có liên hệ với tất cả các chiếc lá khác và với những bộ rễ khác. Nhưng vì u mê nên chiếc lá thấy không có sự liên hệ giữa chúng, ta là ta, ngươi là ngươi. Kỳ thực chúng có liên hệ với nhau tới mức không thể tách lìa và dầu có tách rời ra được thì chúng vẫn liên hệ với nhau bằng những cách khác. Chiếc lá rơi xuống nằm an ổn trên mặt đất, sống những ngày còn lại và nó cũng mong ước có mưa rơi xuống để được tan rã, trở thành đất, và tiếp tục cuộc hành trình. Bởi khi thành đất, chiếc lá vẫn trở về, lá rụng về cội, nó sẽ tiếp tục yểm trợ cho cây, không có cái gì mất đi. Chiếc lá đó giả vờ rơi, giả vờ chết, kỳ thực nó đang tiếp tục sứ mệnh của nó. 

Nếu quý vị đã chụp được hình hồ sen vào mùa Đông thì sẽ thấy tất cả những bông sen, lá sen ngã gục xuống và ngâm trong nước. Trong bài thơ Cảm thu, tiễn thu của Tản Đà có câu: 

Lá sen tàn tạ trong đầm

Nặng mang giọt lệ âm thầm khóc hoa.

Câu thơ nghe rầu rĩ quá, toàn là tàn tạ, rồi giọt lệ, rồi khóc, vì không thấy cái chết này là chết giả. Ví dụ cuống lá này khô đi và nó biết rằng chỉ có thể sống trong hai tuần lễ nữa thôi là sẽ trở thành một lá sen khô. Ta cũng vậy, khi được bác sĩ cho biết chỉ còn hai tuần hay bốn tháng nữa để sống thì ta sinh ra sợ hãi, cảm thấy như đất đang sụp dưới chân mình, đó là tâm trạng của những người sau khi phát hiện ra mình mắc bệnh ung thư, bệnh AIDS và chỉ có thể sống được bốn tuần, sáu tháng hay hai năm nữa thì họ sợ hãi và có sự bám víu. 

Sợ hãi cái gì và bám víu cái gì? Trước hết là sợ hãi hư vô, the fear of non – being. Hư vô tiếng Phạn là abhāva. Chúng ta rất sợ hư vô. Không phải ai cũng sợ hư vô nhưng phần lớn chúng ta đều sợ hư vô. Ta đang là, ta đang có, tự nhiên một mai ta không là ta nữa, tasẽ không có nữa. We are someone and some day we become no one, we are something and one day we become nothing. Đó là nỗi đau của con người. Con người có ý thức, các loài khác cũng chết nhưng chúng không có ý thức đó, không có sự lo lắng (angoisse) đó. Con người có ý thức nên con người sợ hãi hư vô, và nếu không nhờ Bát nhã Ba la mật thì không thể nào thoát ra khỏi sự sợ hãi. Quý vị tới với đạo Bụt mà không được học về giáo lý Bát nhã thì uổng lắm. Có thể tới để học thở, học cười, học chuyển hóa một vài buồn giận, trị liệu một vài bệnh về tâm thần và thể chất. Nhưng nếu quý vị không học được cái quý giá nhất trong đạo Bụt thì sẽ rất thiếu sót. Phải học được cái thâm sâu nhất để chuyển hóa sự sợ hãi. Sự sợ hãi lớn lao nhất của con người trước hết là sợ hãi hư vô. 

Ngày xưa tôi chưa có, tự nhiên mẹ sinh tôi ra thì tôi bắt đầu có. Bây giờ tôi được nói rằng ngày mai tôi sẽ không có trở lại, đó là nỗi đau buồn của kiếp nhân sinh. Nỗi đau buồn này đã làm chảy không biết bao nhiêu nước mắt, tiêu tốn không biết bao nhiêu giấy mực của các nhà văn, nhà thơ. Có một thi sĩ tên là Trần Tử Ngang đã viết:

Tiền bất kiến cổ nhân 

Hậu bất kiến lai giả

Niệm thiên địa chi du du

Độc thương nhiên nhi thế há.

(Đăng U Châu Đài Ca)

Nghĩa là: Những người ngày xưa bây giờ làm sao mình thấy được nữa. Những người sẽ sinh ra ngày mai mình cũng chưa thấy được. Trời đất vô cùng mà kiếp người lại quá hạn hẹp, mình cảm thương, mình chảy nước mắt.

Đó là tâm trạng chung của tất cả chúng ta. Đứng trước cảnh cao rộng, đứng trước cái vô cùng, ta thấy thân phận của con người quá bé nhỏ, quá ngắn ngủi và ta khóc thương cho thân phận đó. Kỳ thực thân phận của chúng ta không như vậy. Ta kẹt vào tướng do chưa nhìn sâu vào năm uẩn, vì vậy ta mang nỗi niềm sợ hãi hư vô. Đừng tưởng rằng tất cả chúng ta ai cũng sợ hãi hư vô, abhāva. Có những người sợ hãi cái ngược lại, tức là hữu, là bhāva. Khi có sự sợ hãi thì ta sẽ có sự bám víu. Vì sợ hãi abhāva nên mới tìm cách bám víu lấy cái bhāva, và chính vì bám víu nên mới đau khổ. 

Sự thực tập của đạo Bụt là làm sao buông bỏ cả bhāvaabhāva. Hữu vô đều không thật. Hữu vô đều là những trò huyễn hóa. Sự thật vượt thoát khỏi hữu vô. Có những người trong chúng ta quá đau khổ, thấy hiện hữu là một gánh nặng, cuộc sống quá vất vả. Sắc, hình hài, cảm thọ, cảm xúc, những sợ hãi khiến ta đau khổ quá, chịu không nổi cho nên ta đi tìm, không phải đi tìm hữu mà là tìm vô. Những người muốn tự tử là những người đang tìm cầu cái vô, những người đó nghĩ rằng abhāva – hư vô, là nẻo thoát duy nhất của họ. Chúng ta biết rằng số lượng thanh niên tự tử nhiều lắm, nhiều hơn số người chết vì tai nạn xe hơi. Khi đau khổ quá nhiều, mà ta lại không có khả năng xử lý, chăm sóc, quản lý thì ta nghĩ lối thoát duy nhất là tự tử. Người thế gian thường đi tìm hai cái, một là cái hữu, hai là cái vô, trong khi trí tuệ Bát nhã nói rằng đó là hai ý niệm cần phải vượt thoát. Chúng ta bắt gặp tinh thần này trong bài kệ 13:

Vô sở hành ấy không thể nắm

Kẻ ngu chấp tướng nói có không

Có không cả hai đều chẳng thật

Bồ tát liễu tri nên thoát khỏi.

Vô sở hành ấy không thể nắm, tức là không thể nắm bắt được phương pháp thực tập gọi là vô hành . Những người bị kẹt vào hình tướng có thể nói có hay là không, nhưng thực sự cả hai cái có-không đều không phải thật. Bồ tát nhờ thoát ra khỏi hai ý niệm có và không nên đạt được tự do. Both bhāva and abhāva are not real, the bodhisattva, because she understands that, she gets free.

Khi chiếc lá sen còn xanh thì nó có thời gian, có khả năng, có năng lượng để quán chiếu và biết rằng nó là một với rễ sen, củ sen, với những bông sen và những lá sen khác. Nó đang sống cho những cái đó, và những cái đó đang sống cho nó. Lá sen thấy được tính vô ngã, tính tương tức. Khi biết rằng chỉ còn vài ba tuần lễ để sống thì lá sen đâu có đau khổ gì vì nó biết nó không phải chỉ là cái lá này. Nó biết rằng “thân này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào nơi thân ấy”, nó là ở đây, nó là khắp nơi. Ta khổ đau vì nghĩ ta ở trong này, cái này đang tan rã và ta tan rã theo. Ta bị kẹt vào tướng ngã nên mới sợ hãi và vướng mắc. 

Đập phá cái tướng ngã và thấy được tính tương tức rồi thì ta nhìn sự tàn úa rất thản nhiên. Khi biết ta không phải ở đây nên không cần đầu tư tất cả vào đây, ta đã đầu tư tất cả vào chân như, vào thực tại, vào toàn vẹn rồi. Ta biết rằng cái này cũng là ta, em ta cũng là ta, chị ta, anh ta cũng là ta,, cả thế hệ tương lai là ta. Dù cho một mai có héo úa đi thì ta cũng không sợ vì chiếc lá này đâu phải là ta. Mai mốt nó rã ra rồi, phần còn lại sẽ yểm trợ nuôi dưỡng tiếp, có gì đâu mà sợ hãi, mà vướng mắc. 

Khi thầy nhìn con, thầy thấy con là thầy. Thầy nhìn con mà kỳ thực là đang nhìn thầy vì thầy sống cho con, thầy nuôi con bằng sữa pháp của thầy. Thầy biết bàn tay của con là bàn tay của thầy. Sau này, bàn tay con làm gì thì thầy làm cái đó, bàn tay con xoa dịu những khổ đau của kẻ khác thì thầy cũng xoa dịu những khổ đau của kẻ khác. Bàn tay con không động đến sinh mạng của kẻ khác thì thầy cũng vậy. Vì vậy nên thầy thấy bàn tay của con cũng là bàn tay của thầy. Thấy được như vậy rồi tại sao thầy phải đau khổ khi thấy bàn tay này tàn hoại. Bàn tay thầy đâu phải chỉ là bàn tay này. Thầy có 10 bàn tay, 200 bàn tay, 500 bàn tay ở khắp nơi và đang làm công việc của thầy. Bụt đã truyền cho thầy đôi mắt, Bụt đã truyền cho thầy bàn tay. Thầy đã truyền cho con đôi mắt đó để con có thể thấy được như Bụt, thấy được như thầy. Bụt và thầy đã truyền cho con bàn tay đó để con có thể tiếp tục làm được những công việc của Bụt và của thầy. 

Ngày xưa vì u mê, vì chưa có giới, định, tuệ, bàn tay con đã làm những điều gây đau khổ, nhưng bây giờ bàn tay con đã có giới, định, tuệ, có tình thương, bàn tay con đã có bàn tay Bụt và bàn tay thầy, bàn tay con sẽ không bao giờ làm những điều mà ngày xưa con đã làm nữa. Nhìn vào bàn tay con mà xem, bàn tay đó được làm bằng bàn tay cha mẹ, tổ tiên, tay thầy, tay Bụt, có chất giới, chất định, chất tuệ trong đó. Có những cái ngày xưa bàn tay con không làm được, bây giờ bàn tay con đã làm được. Có những cái ngày xưa bàn tay con đã làm, bây giờ bàn tay con không bao giờ làm như vậy nữa. Ngày xưa, bàn tay con đã có lần cầm hai cánh của một con bướm rồi xé nó ra làm hai, nhưng bây giờ bàn tay của con không làm được như vậy nữa vì trong bàn tay con đã có bàn tay thầy, bàn tay Bụt. Vì vậy bất cứ điều gì con làm với bàn tay của thầy sau này cũng tức là thầy làm với bàn tay đó. 

Thấy như vậy, thầy không bị kẹt vào một cái thân, vào một cái ngã nên thầy không có sự sợ hãi, thầy không có sự vướng mắc. Thân này không phải là tôi, thân tôi lớn hơn nhiều; bàn tay này không phải là tay tôi, bàn tay tôi lớn hơn nhiều, nhiều hơn nhiều,… phải quán chiếu như vậy. 

Khi thấy được điều đó thì lá sen đâu có sợ hãi, đâu có vướng mắc, đâu có muốn đi tìm abhāva hay bhāva làm gì nữa. Nó thoát được. Đây không phải là vấn đề lý thuyết. Bụt chỉ cho ta, thầy chỉ cho ta để ta quán chiếu trong đời sống hằng ngày, để rồi từ từ tuệ giác sẽ sinh ra. Cái trứng của ta nở ra thành con chim tuệ giác và lúc đó ta mới thoát được. 

Con người ta có nhiều nỗi sợ lớn lao, trước hết là sợ chết, sợ trở thành hư vô. Đó là sự sợ hãi abhāva. Nhiều người sợ hãi hư vô nên cố bám víu cái thứ hai là hữu, bhāva, nhưng hữu cũng không đúng, không thật, đó là cái ngã. Chúng ta bị ngã tướng đánh lừa nên muốn nắm bắt, muốn ghì chặt vào cái không thể nào ghì chặt được, đó là cái ngã. Nó không có thì làm sao ta ghì chặt được. Sự sống mầu nhiệm và thênh thang đang có mặt mà ta không thấy được, ta đi tìm và nắm bắt những ý niệm trừu tượng về ngã. Ta bị khống chế bởi những ý niệm trừu tượng về hữu – vô, có – không và ta đau khổ. Vì vậy phương thuốc chữa căn bệnh này là Bát nhã. Nếu ông bác sĩ không biết phương thuốc đó mà chỉ sử dụng hóa trị (chemotherapy) hay trị liệu bằng tia X (radiotherapy) thì sẽ không đi đến đâu. Ông phải trị bằng thuốc của Bụt, thuốc của Bát nhã. Chúng ta ai cũng có những căn bệnh đó, bệnh của sự sợ hãi, vướng mắc, sợ hãi hư vô và vướng mắc cái hữu. Từ sự sợ hãi và vướng mắc đó chúng ta đã trải qua biết bao nhiêu cơn đau khổ. Vì vậy, chúng ta phải dùng thuốc Bát nhã để chữa trị thân tâm của mình. Sống đời sống hằng ngày cho thật vững chãi, quán chiếu cho thật sâu sắc để vượt thoát ý niệm có và không, vượt thoát ý niệm ta và không phải ta. Khi đã thấy được rồi thì ta vượt thoát khỏi mọi sự sợ hãi và vướng mắc. 

Tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố, vô hữu khủng bố, viễn ly điên đảo mộng tưởng, cứu cánh Niết bàn. Quái ngại tức là những sự chướng ngại. Ta mắc kẹt vào rồi thì ta gặp chướng ngại. Nếu không mắc kẹt vào thì ta có tự do và ta không có sợ hãi. 

Vì tâm không chướng ngại nên không có sợ hãi. Xa lìa mọi vọng tưởng, xa lìa mọi điên đảo, đạt Niết bàn tuyệt hảo. Đó là những cái ta có thể làm được. Đừng nói rằng chỉ có Bồ tát Quán Tự Tại mới làm được. Quan Thế Âm còn có tên khác là Quán Tự Tại. Quán Tự Tại là phương pháp nhìn sâu để đạt được tự do. Chúng ta muốn có tự do thì phải nhìn sâu vào năm uẩn để thấy được năm uẩn không có ngã, năm uẩn không có thật. Tự tính của năm uẩn là tương tức, là vô ngã. Một khi thấy như vậy rồi, ta thấy được ta trong tất cả và thấy được tất cả trong ta nên ta không còn sợ hãi và vướng mắc nữa. Đó là kết quả tốt nhất, là thành tựu lớn nhất của cuộc đời một người tu: thong dong, thảnh thơi do đã chuyển hóa được nỗi sợ hãi và sự vướng mắc – sợ hãi hư vô, sợ hãi hữu, vướng mắc hư vô, vướng mắc hữu – những chứng bệnh trầm kha và nặng nề nhất của chúng sinh. 

Thì giờ của ta là để làm gì, không lẽ để làm ra thật nhiều tiền, xây một cái nhà, xây ngôi chùa hay mua chiếc xe hơi? Làm những điều đó cũng vui, nhưng sự nghiệp của người tu là tuệ. Duy tuệ thị nghiệp (sự nghiệp duy nhất là sự thực hiện trí tuệ giác ngộ) và tuệ giác đó chỉ có thể đạt được bằng quán chiếu. Mỗi ngày chúng ta sống đời sống của chúng ta thế nào cho sâu sắc, cho hiện hữu để khi nhìn bông hoa, hòn sỏi, đám mây, nhìn người chị, người anh, người em, ta thấy được tính tương tức giữa ta với các biểu hiện đó hay với người đó. Như vậy, ta vượt thoát được ý niệm về ngã và về pháp. 

Đó là mục đích của Bụt khi giảng dạy cho chúng ta kinh Bát nhã hành. Vậy chúng ta biết rằng không những đức Thế Tôn không bị vướng vào hữu và vô, vào sinh và diệt mà Chúa Kitô cũng không bị vướng vào hữu và vô, vào sinh và diệt, nên các Ngài không có sợ hãi, không có vướng mắc. Chúng ta cũng vậy, trong bản chất của chúng ta có tự do, hữu và vô không động được ta, sinh và diệt không động tới ta. Ta quán chiếu để có thể dần thấy được bản chất vô sinh bất diệt ở trong ta và quán chiếu như vậy để diệt trừ tận gốc tâm hành sợ hãi, tâm hành vướng mắc.

Bài kệ thứ 7:

Bồ tát khi cầu trí xuất gia 

Soi thấy năm uẩn không thật tướng 

Biết vậy không tìm cầu tịch tĩnh 

Mới thật là hạnh trí Bồ tát.

菩薩若求出家智 Bồ tát nhược cầu xuất gia trí

照見五蘊無實相 Chiếu kiến ngũ uẩn vô thật tướng

知此不求於寂靜 Tri thử bất cầu ư tịch tĩnh 

彼是菩薩之行智 Bỉ thị Bồ tát chi hành trí.

Mỗi bài kệ đều là một tiếng sấm. Thế nào là cầu trí xuất gia? Xuất gia có nghĩa là ra khỏi nhà. Cái nhà ở đây không phải là gia đình của mình, mà là những cái nhà đang bốc cháy: nhà phiền não (gọi là xuất phiền não gia), nhà tam giới (gọi là xuất tam giới gia, gồm có dục giới, sắc giới và vô sắc giới). Vì vậy, phải đạt đến một trí tuệ lớn mới có thể thực sự xuất gia. Xa lìa cha mẹ và anh chị em để xuống tóc và thọ Mười giới chưa phải là xuất gia. Xuất gia như vậy chỉ là hình thức. Phải thoát ra khỏi ngục tù của tam giới vốn được mô tả như đang bốc cháy, phải ra khỏi căn nhà của phiền não và hận thù thì mới gọi là xuất gia. Trí tuệ có thể đưa ta ra khỏi ngục tù đó, gọi là xuất gia trí, và ta đang tìm cầu cái trí đó. 

Trong kinh Pháp hoa có một chương nói về chuyện xuất gia như vậy. Những đứa con đang ở trong ngôi nhà đang cháy mà lại cảm thấy an ninh, vì vậy người cha phải dùng đủ mọi phương tiện để đưa đám trẻ ra khỏi ngôi nhà đó, nếu không chúng sẽ chết. Chúng ta phải xuất gia và phải giúp cho người khác xuất gia, gia này gọi là phiền não gia. 

Bồ tát khi cầu trí xuất gia

Soi thấy năm uẩn không thật tướng. 

Năm uẩn trình bày ra giống như có thật nhưng khi quán chiếu thì thấy rằng chúng vốn không có thật tướng, chúng là trống rỗng (empty), hư vọng (illusory). Không thực tướng tức là không có một bản chất chắc thật, giống như một trò ảo hóa, chỉ có vẻ như vậy nhưng không phải như vậy. Điều này ta có thể hiểu được trong tri giác của mình. Khi nhìn vào mặt trời, mặt trăng, cây dừa, cây cau, thành phố Paris, núi Phú Sĩ,… ta thấy cái tướng của chúng hiện ra như vậy. Nhưng khi nhìn thật kỹ vào trong lòng những sự vật đó thì ta thấy rất khác với tri giác lúc ban đầu. Chính cái tướng bên ngoài đã đánh lừa ta. Năm uẩn cũng vậy, giống như những cái gì chắc thật, có ngã và thường tại, nhưng nhìn kỹ vào thì thấy rằng chúng không có gì chắc thật, không thường, không có ngã, không có bản chất gì bên trong. Đó gọi là thật tướng.

Chúng ta nhớ lại câu đầu của Tâm kinh Bát nhã: 

Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba La Mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. 

Bồ tát Quán Tự Tại 

Khi quán chiếu thâm sâu 

Bát nhã Ba la mật

Tức diệu pháp Trí Độ 

Bỗng soi thấy năm uẩn 

Đều không có tự tánh. 

Thực chứng điều ấy xong 

Ngài vượt thoát tất cả 

Mọi khổ đau, ách nạn. 

Ai trong chúng ta cũng có những khổ đau, ách nạn. Nếu muốn thoát khỏi những khổ đau, ách nạn đó thì phải làm như Bồ tát Quan Thế Âm là nhìn vào trong ngũ uẩn và thấy năm uẩn là không, lúc đó ta mới thoát khỏi ách nạn. Tại sao ta cứ muốn chui đầu vào ngôi nhà đang cháy đó? Ta phải quán chiếu để thấy rằng đó là năm cái nhà (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) đang cháy. Khi thấy được chúng không có thực tướng, thấy được chúng vô tướng, thì tự nhiên ta vượt thoát được những khổ ách, tai ương. Độ nhất thiết khổ ách.

Biết vậy không tìm cầu tịch tĩnh. Tịch tĩnh ở đây là Niết bàn. Khi có được nhận thức sâu sắc về năm uẩn, thấy được năm uẩn đều là hư vọng, không có thực tướng thì ta thật sự có tự do, không còn vướng mắc, sợ hãi nữa. Chính vì vậy, ta không cần chạy trốn năm uẩn để đi tìm Niết bàn. Tại sao? Ban đầu, ta muốn lìa phiền não để đi tìm Niết bàn vì cho rằng phiền não làm cho ta đau khổ, Niết bàn làm cho ta an vui. Ta chán cái khổ và đi tìm cái lạc. Nhưng khi nhìn vào phiền não, ta thấy trong đó không có tự tánh và ta cười lớn. Khi không sợ phiền não nữa thì Niết bàn tự hiện ra ngay trong phiền não. Người không thực tập bị dính như mủ mít vì không thấy được tính không của năm uẩn, còn ta đã phát hiện ra tính vô tướng của năm uẩn rồi nên dù ở trong đó nhưng ta không bị dính mắc. Vì vậy, ta không có nhu yếu đi tìm một cái khác đối lập với Niết bàn, và chúng ta đi tới một quan niệm rất Đại thừa là: Niết bàn sinh tử thị không hoa. Cả Niết bàn và sinh tử đều là những hoa đốm trong hư không; Phiền não tức Bồ đề, chính phiền não là giác ngộ, là bồ đề. Ban đầu, ta thấy nó là phiền não vì nó làm cho ta thất điên bát đảo, nhưng khi nhìn kỹ và thấy được thực tướng của nó thì tự nhiên nó mất hết sự cám dỗ lẫn năng lượng sai sử của nó, và ta có tự do lớn nên nó trở thành bồ đề, trở thành Niết bàn. 

Ngày xưa, có một thầy tên là Vân Phong, sống vào cuối thế kỷ thứ X ở Việt Nam. Thầy hỏi thầy Thiện Hội: “Thầy dạy con là phải xa lìa sinh tử để cầu Niết bàn, vậy con cầu Niết bàn ở đâu?” Thầy Thiện Hội đáp: “Con đi tìm cầu Niết bàn ngay ở trong sinh tử”. Ban đầu thầy Thiện Hội nói rằng người tu phải xa lìa sinh tử (affliction) mà tìm cho được Niết bàn (nirvāṇa). Nirvāṇa là bình an (peace), vững chãi (stability), tự do (freedom). Có một cái ta cần phải xa lìa và một cái ta cần phải tìm cầu. Nhưng khi thầy Vân Phong hỏi con tìm Niết bàn ở đâu thì thầy Thiện Hội nói: Con tìm ngay trong sinh tử. Như vậy, thông điệp rất rõ ràng. Ban đầu mình nói năm uẩn là không, là cơn lốc, là sự nguy hiểm, là phiền não nhưng nếu quán chiếu năm uẩn và thấy được tự tánh không của năm uẩn rồi thì tự nhiên mình không còn dính mắc, không cần chạy trốn năm uẩn nữa và tự năm uẩn sẽ trở thành Niết bàn. Nghe những điều này mà không khiếp sợ, không rối loạn thì ta đã là một vị Bồ tát có thể hiểu được Bụt.

Bốn câu này nói về vô tướng. Trước hết là vô đắc, rồi tới vô trú, bây giờ đến vô tướng. Khi thấy được tự tính vô tướng của năm uẩn rồi thì ta không cần xuất, không cần trốn chạy nữa, stay right there. Cái hay là ở đó. Nếu vẫn còn trốn chạy khỏi một cái gì hoặc còn tìm cầu, nắm bắt một điều gì thì đó vẫn chưa phải là hạnh trí của Bồ tát, chưa có thể gọi là xuất gia được. Còn khi biết quán chiếu, thì cái gọi là cơn lốc, là hệ lụy, là ngôi nhà bốc cháy đó tự nhiên sẽ trở thành Niết bàn tịch tĩnh, rất an lạc và hạnh phúc của chúng ta.

Trong bản tiếng Anh như thế này: 

If bodhisattvas as monastics seek understanding,

they shine light on the five aggregates,

and see their signless nature.

Knowing this, they do not seek the peace of nirvāṇa.

Only then is it the real practice and understanding of a bodhisattva.

Nếu một vị Bồ tát ước ao thực tập được cái trí của người xuất gia thì phải chiếu ánh sáng vào để thấy được năm uẩn là không có thực tướng. Khi đã thấy rồi thì sự mong cầu đạt được Niết bàn cũng sẽ biến mất. Tri thử bất cầu ư tịch tĩnh là thấy được điều này rồi thì không có nhu cầu đi tìm Niết bàn nữa vì Niết bàn đã có sẵn. Niết bàn biểu hiện ngay trong ngũ uẩn. Bỉ thị Bồ tát chi hành trí là trí tuệ thực tập của vị Bồ tát đích thực.

Bài kệ thứ 7 này cho thấy rằng chúng ta không cần trốn chạy để đi tìm cầu một cái gì khác. Tâm lý ban đầu của người tu có thể muốn trốn chạy một cái gì để đi tìm cầu một cái gì khác nhưng sau khi quán chiếu sâu vào trong lòng thực tại, ta bật cười, ta thấy cái đó không như mình tưởng. Một khi thấy được bản chất của nó rồi, ta không còn sợ hãi và chán ghét nó nữa. Cái tìm cầu không phải ở ngoài, ở xa, mà nằm ngay tại đây. Không trốn chạy, không tìm cầu, đó là bài kệ thứ 7.

Bài kệ thứ 8:

Sở đắc của trí này là gì?

Là soi thấy tất cả đều không

Một soi thấy rồi không hoảng sợ

Bồ tát tự giác và giác tha. 

復次云何智所得 Phục thứ vân hà trí sở đắc

照見一切法皆空 Chiếu kiến nhất thiết pháp giai không

不著不驚照見時 Bất trước bất kinh chiếu kiến thời

 自覺覺他諸菩薩 Tự giác giác tha chư Bồ tát. 

Chúng ta gặp lại câu này trong Tâm kinh Bát nhã: Quán Tự Tại Bồ tát hành thâm Bát nhã Ba La Mật đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Chiếu tức là soi rọi ánh sáng xuống. Kiến là thấy được. Chiếu xuống năm uẩn và thấy được năm uẩn đều không có tự tánh. 

Một soi thấy rồi không hoảng sợ. Khi đã thấy rồi thì không hoảng sợ vì cái không này không phải là non-being. Chúng ta ai cũng sợ hư vô. We are so afraid of non-being, we think that we are something and tomorrow we will become nothing. We believe that we are someone and tomorrow we will become no one. (Chúng ta rất sợ hãi hư vô, ta nghĩ rằng ta đang là một cái gì đó và ngày mai ta sẽ trở thành không là gì cả, chúng ta tin rằng ta là một ai đó và ngày mai ta sẽ trở thành không ai cả). Một vị Bồ tát nhìn vào trong thực tướng của năm uẩn thì thấy năm uẩn là trống rỗng, không có tự tánh. Chữ không, śūnyatā, này không phải là hư vô, mà là hư không, tức không có gì hết. Śūnyatā ở đây là thực tướng của các pháp, lìa khỏi hai ý niệm có và không, không phải là being, cũng không phải là non-being, vì vậy ta không hoảng sợ. Chúng ta thường hay sợ hãi cái non-being nên cố níu lấy cái being, do vậy mà ta khổ. Khi quán chiếu được năm uẩn đều không thì ta vượt thoát được cả being lẫn non-being. Có và không đều là những ý niệm và đều không thực. Vì vậy khi thấy được tính không (śūnyatā, emptiness) của vạn pháp rồi, thì ta không còn hoảng sợ nữa. Nhờ cái thấy đó mà vị Bồ tát giác ngộ được cho mình và bắt đầu giác ngộ cho người khác, đó là Bồ tát tự giác và giác tha.

Phục thứ vân hà trí sở đắc

Chiếu kiến nhất thiết pháp giai không

Bất trước bất kinh chiếu kiến thời

Tự giác giác tha chư Bồ tát. 

Phục thứ có nghĩa là này nữa, thêm vào đó. 

Vân hà trí sở đắc: Vân hà là cái gì, trí sở đắc là cái mình đạt được do trí tuệ, là đối tượng của trí tuệ. Vân hà trí sở đắc: Cái đạt được của trí này là gì? Trí tuệ Bát nhã thấy được gì? 

Chiếu kiến nhất thiết pháp giai không: là soi vào và thấy được tất cả các pháp đều là không, là thấy được tự tánh không của các pháp – seeing the true nature of emptiness of all dharma

Bất trước là không dính vào. Bất kinh là không sợ hãi. Bất trước bất kinh chiếu kiến thời: Khi soi sáng và thấy rõ thì ta không còn dính mắc và không sợ hãi. Trong bản tiếng Phạn không có chữ bất trước, chỉ có chữ sợ hãi. Trong bản chữ Hán có cả hai, vừa không dính mắc vừa không sợ hãi. 

Tự giác giác tha chư Bồ tát: Đó là vị Bồ tát tự giác ngộ cho mình, vừa giác ngộ cho người. Cho nên Tự giác giác tha chư Bồ tát là mình trở thành những vị Bồ tát có thể làm được công việc tự giác và giác tha. Trước đó có hai cái là dính mắc và sợ hãi. Dính mắc là trước, sợ hãi là kinh. Một mặt chúng ta sợ hãi, vì sợ hãi nên ta bám víu vào cái hữu, cái có, cái being và càng bám víu thì càng đau khổ. Vì vậy, ta phải tập quán chiếu để thấy được tự tánh không của các pháp, thấy được rồi thì sẽ không bị dính mắc và không còn sợ hãi nữa. Tâm kinh Bát nhã cũng dạy không bố úy, không sợ hãi. Vì vậy khi thực tập Bát nhã Ba la mật, ta vượt thoát hai phiền não căn bản này: dính mắc và sợ hãi. Vượt thoát được hai cái đó rồi ta sẽ thấy hạnh phúc là một điều có thật. Khi pháp đàm, chúng ta phải đem những giáo lý này ra áp dụng vào trong đời sống hằng ngày, phải nói tới sự dính mắc và sợ hãi của chúng ta. 

Thực tập như thế nào để vượt thoát sự dính mắc và sợ hãi? Theo kinh này là ta phải quán chiếu về sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Ta chỉ là năm cái đó. Ta không cần phải đi thật xa mới quán chiếu được vì sắc nằm đó, thọ nằm đó, tưởng, hành, thức đều nằm đó, chỉ cần nhìn vào là ta thấy được thật tướng của chúng. Đức Quán Thế Âm Bồ tát vượt thoát các khổ ách cũng nhờ nhìn sâu vào trong năm uẩn của chính mình và năm uẩn của những người chung quanh.

Bài kệ thứ 9:

Các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Khi hành phải hiểu được tự tánh

Bồ tát soi thấy uẩn đều không

Hành theo vô tướng, không danh tự.

色受想行及識蘊  Sắc thọ tưởng hành cập thức uẩn

是蘊見行而不知  Thị uẩn kiến hành nhi bất tri

菩薩照見蘊皆空  Bồ tát chiếu kiến uẩn giai không

行無相化不著句  Hành vô tướng hóa bất trước cú.

Hành, tiếng Anh là practice, tức là chiếu kiến, là tu, là quán, là thực tập. Chiếu tức là rọi ánh sáng vào, kiến là thấy cho rõ. Phải hiểu cho được tự tánh và bản chất của nó, nếu chỉ nhìn bề ngoài rồi sợ hãi, trốn chạy thì đó chưa phải là phương pháp thực tập của một vị Bồ tát. Ở đây ta thấy phản ảnh lối tu của những người trong truyền thống cố chấp vào hình thức hay tu tập có vẻ hình thức. Tức là thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức trấn ngự, bao vây, làm cho ta đau khổ nên ta sợ và muốn chạy khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đó là thái độ của người chưa dung thông, luôn trốn chạy một cái gì đó để tìm cầu một cái gì đó khác. Nhìn vào năm uẩn chỉ thấy có sợ hãi và chán ghét mà không biết nhìn cho sâu để khám phá ra tự tánh không tịch, duyên sinh của các uẩn.

Trong bản chữ Hán chúng ta thấy rất rõ:

Sắc, thọ, tưởng, hành, cập thức uẩn

Thị uẩn kiến hành nhi bất tri.

Kiến hành nhi bất tri, nghĩa là: khi hành phải hiểu được tự tánh Nhiều người chỉ mới nhìn năm uẩn khơi khơi rồi thấy sợ hãi và chạy trốn. Đó là có tu học về năm uẩn nhưng không thấy được bản chất của năm uẩn. Nếu hiểu được tự tánh (true nature) của năm uẩn thì ta không còn chán ghét, sợ hãi và dính mắc vào nó nữa. 

Bồ Tát soi thấy uẩn đều không

Hành theo vô tướng không danh tự.

Năm uẩn vốn không có tự tánh, không có ngã. Cái này liên hệ đến cái kia, tương tức với cái kia, chúng là vô thường, vô ngã, tương tức và không. Hành theo vô tướng là thấy được tính cách vô tướng của năm uẩn. Khi thấy được tính vô tướng rồi thì không bị kẹt lại, không bị vướng mắc và không còn sợ hãi nữa. Vô tướng nghĩa là vượt thoát khỏi hình thức, tướng trạng. Khi mới nhìn một sự vật ta thấy tướng của nó, nhưng nếu nhìn thật sâu, thật kỹ vào trong lòng sự vật thì ta có thể thấy được cái vô tướng của nó. Thấy được cái vô tướng rồi thì ta được tự do. Ví dụ nước có khi loãng, tướng của nước lúc đó là tướng loãng. Nhưng tướng loãng chưa chắc là tướng của nước vì nước có thể đông lại, cứng như đá, nên nói nước là loãng thì không đúng. Rồi nước có khi bốc hơi lên thành mây, thành khói, nước rất nhẹ, không nặng như cục đá nên nước cũng có tướng nhẹ, tướng mây. Có khi nước thành tuyết và tuyết tan thành nước, nên tuyết cũng là một tướng của nước. Nếu kẹt vào tướng thì ta không thấy được cái vô tướng của nó, nước vốn là vô tướng. Các nhà khoa học đặt tên cho nước là H2O và H2O là vô tướng, nó không phải mềm, không phải cứng, không phải nặng, không phải nhẹ. Tất cả các tướng cứng, mềm, nặng, nhẹ đó là cái bề ngoài của H2O. Nếu kẹt vào tướng thì không thấy được bản chất của H2O. Khi nhìn hoa, đám mây, cây dừa hay em bé cũng phải nhìn như vậy, phải vượt thoát cái tướng để nhìn thấy cái vô tướng. Nhìn thấy được cái vô tướng thì ta không còn sợ hãi, sầu đau nữa. Kẹt vào tướng mới vướng mắc, sầu đau; thấy được vô tướng thì không vướng mắc, không sầu đau, đó là hành theo vô tướng

Ví như tướng cha và tướng con. Ban đầu nhìn vào hai cha con ta thấy hai cha con hoàn toàn khác nhau, một bên là cha, một bên là con. Con có thể giận cha, cha có thể giận con, con có thể từ cha, cha có thể từ con, nhưng đó là bị kẹt vào tướng cha con. Nhìn sâu vào thì thấy cha và con là một. Con do cha mà có, cha do con mà có, cha và con cùng một dòng sinh mạng. Thấy điều đó rồi thì ta không theo phe cha mà cũng không theo phe con, ta làm sao giúp cho hai cha con hòa giải được với nhau. Những người Do Thái và những người Palestinian đã gây khổ đau cho nhau, họ đang hận thù, sợ hãi nhau. Có người yểm trợ người Do Thái và có người yểm trợ người Palestinian, thấy bên này là thiện, bên kia là ác, bên này chịu khổ, bên kia gây ra đau khổ. Nhìn vào đó rồi chọn theo một phe là do ta bị kẹt vào tướng, còn nếu nhìn thật kỹ thì ta thấy Palestinian và Israel là anh em với nhau. Bên này khổ đau thì bên kia cũng khổ đau, bên này hạnh phúc thì bên kia mới được hạnh phúc. Khi chọc thủng được cái tướng, thấy rằng hai cộng đồng đó cùng chia với nhau một số phận, một hạnh phúc, một cương vực thì ta mới có trí tuệ, gọi là trí tuệ vô tướng. Có trí tuệ vô tướng thì mới giúp được hai bên sống hòa hợp và hạnh phúc. Các nhà chính trị cần có trí tuệ vô tướng. 

Cũng như loài người có tướng người, các loài thú vật, cây cỏ, đất nước cũng có tướng thú vật, tướng đất nước, tướng cây cỏ. Nếu nói rằng sở dĩ sinh ra các loài thú vật, thực vật là để cho con người ăn,, có đất có nước là để cho con người sử dụng, như vậy là ta đang bị kẹt vào tướng, ta không thấy rằng các loài động vật, thực vật, khoáng vật cùng chung một thể tánh. Cái này làm ra cái kia, cái kia làm ra cái này, phá hoại cái này cũng tức là phá hoại cái kia. Nếu phá hoại cây cỏ, đất đá và sinh môi thì đồng thời ta cũng phá hoại con người. Vì vậy, để bảo vệ con người thì cần phải bảo vệ sinh môi; phải chăm sóc các loài cầm thú, cây cỏ và đất nước thì cái thấy của nhà sinh môi học là cái thấy vô tướng. Cái thấy của những người chỉ muốn khai thác để làm giàu là cái thấy của những người bị kẹt vào tướng. Trí tuệ vô tướng là trí tuệ chúng ta phải đạt tới cho được, không phải chỉ những người tu đạo Bụt mới cần đạt tới trí tuệ vô tướng mà tất cả những ai có lòng nghĩ đến sự an toàn, hạnh phúc và hòa bình của thế giới đều phải tu tập để có thể đạt được trí gọi là trí vô tướng. 

Vô tướng, signlessness, marklessness, là một trong ba cửa giải thoát gọi là Tam Giải Thoát Môn. You are not caught by the sign, you are not caught by the mark. You break through the sign, the mark in order to see the true reality underneath.

Hành theo vô tướng không danh tự. Danh tự chia rẽ ta và bám theo tướng, vì vậy thấy được sự thực rồi ta không còn bị kẹt vào danh tự nữa. Danh tự và tướng thường đi đôi với nhau. Có nhiều khi chỉ cần nghe danh tự thì ta đã nổi điên lên vì danh tự gợi cho ta một cái tướng, vì vậy khi vượt thoát tướng rồi ta cũng vượt thoát luôn danh tự. Chẳng hạn như danh tự Niết bàn và sinh tử, chúng ta muốn đi tìm Niết bàn và trốn chạy sinh tử. Kỳ thực sinh tử và Niết bàn là vô tướng. Nếu ta quán chiếu được bản chất của sinh tử thì sẽ thấy sinh tử chính là Niết bàn. Vì vậy mới có câu Niết bàn sinh tử thị không hoa. Phiền não tức là Bồ đề. Khi nói phiền não tức Bồ đề là ta đã vượt được danh tự và vượt được cái tướng.

Bài kệ thứ 10:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không

Không hành nên gọi vô tướng hành

Có hành nên không trí tối thắng

Không định vô tướng và tịch tĩnh.

無色受想行識等  Vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức đẳng 

不行是名無相行  Bất hành thị danh vô tướng hành 

若行不得最上智  Nhược hành bất đắc tối thượng trí

 無相寂靜三摩地 Vô tướng tịch tĩnh tam ma địa.

Bài kệ này cũng nói tới khuynh hướng cố chấp. Khi tu mà thấy rằng ta đang tu có nghĩa là ta tu chưa sâu sắc lắm. Cũng như ăn chay mà luôn nhớ tôi đang ăn chay, còn anh là người không ăn chay, tôi tu hơn anh, thì việc ăn chay của ta chưa đạt tới đâu cả. Ta ăn chay mười năm mà không thấy ta ăn chay, đó mới thật là hành. Giữ giới mà không thấy mình giữ giới. Ta nói tôi giữ giới còn anh phạm giới và tự hào về cái hành của ta thì đó là hành có tướng. Nếu hành vô tướng thì trình độ thực tập cao hơn gọi là vô hành. Không hành nên gọi vô tướng hành

Ở trong kinh Tứ Thập Nhị Chương, Bụt nói rằng “Pháp của tôi là hành cái vô hành, tu cái vô tu và chứng cái vô chứng”. (My practice, my Dharma is the practice of non-practice, obtain the non-obtainable). “Ngã pháp hành vô hành hành, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng”. Câu đó rất hay. Pháp của ta là hành cái hành vô hành, tu cái tu vô tu, chứng cái chứng vô chứng, nghĩa là không có hình thức. Có những người tu ráo riết nhưng bị kẹt vào hình thức, vì vậy nên không tu sâu được. Khi chúng ta đi thiền, chúng ta đi thiền một cách vô hành, ở trong có niệm, có định, có tuệ, và ta đi rất tự nhiên. Người khác nhìn vào thấy giống như chúng ta không tu, nhưng kỳ thật chúng ta đang tu. Có những người nghiêm nét mặt, đưa chân này ra, đặt chân này xuống, đưa chân kia ra, đặt chân kia xuống… khá tức cười, ta thấy người này bị kẹt vào hình tướng, chứng tỏ rằng mình đang tu, cái tu đó kẹt vào chủ nghĩa hình thức và trong truyền thống có những người như vậy. Kinh Bát nhã vốn là tiếng sấm cách mạng đầu tiên, không sao tránh khỏi việc chỉ danh, gọi tên, điểm mặt khuynh hướng cố chấp và chủ nghĩa hình thức. 

Không hành nên gọi vô tướng hành tức là theo Bát nhã thì phải tu theo vô tướng hành, đừng có kẹt vào hình thức.

Có hành nên không trí tối thắng tức là nếu còn thấy có hành, có tu thì ta chưa đạt tới trí cao nhất gọi là trí tối thắng. (Because you see that you practice, that is why you do not obtain the highest understanding.) 

Có hành nên không trí tối thắng, không định vô tướng và tịch tĩnh tức là chưa đạt tới định vô tướng và tịch tĩnh.

Chúng ta đọc bản chữ Hán:

Vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức đẳng 

Bất hành thị danh vô tướng hành 

Nhược hành bất đắc tối thượng trí

Vô tướng tịch tĩnh tam ma địa.

Vô sắc, thọ, tưởng, hành, thức đẳng: Những cái ta gọi là sắc, thọ, tưởng, hành và thức, những cái đó đều không.

Bất hành thị danh vô tướng hành: Hành mà không thấy hành mới gọi là vô tướng hành, tức là hành một cách vô tướng.

Nhược hành bất đắc tối thượng trí: Nếu còn thấy rằng mình hành tức là chưa đắc được trí vô thượng.

Vô tướng tịch tĩnh tam ma địa: Tam ma địa là định, tức là ta chưa đạt được định vô tướng và tịch tĩnh. Tịch tĩnh là sự im lặng của tất cả các khái niệm, tri giác.

Bài kệ thứ 11:

Nếu hành tịch tĩnh được như thế

Chư Bụt quá khứ đều thọ ký

Bản tính nhân duyên đã biết rồi

Khổ vui không còn chạm tới được.

若菩薩行自寂靜  Nhược Bồ tát hành tự tịch tĩnh

過去諸佛咸授記  Quá khứ chư Phật hàm thọ ký

身苦樂等皆不及  Thân khổ lạc đẳng giai bất cập

由知因果法本性  Do tri nhân quả pháp bản tánh.

Nếu thực tập mà đạt được tới chỗ tịch tĩnh như vậy thì chư Bụt quá khứ đều thọ ký. Tịch tĩnh là sự vắng lặng – sự vắng lặng của ngôn ngữ và của tướng trạng. Thọ ký có nghĩa là chứng nhận mình sẽ thành công hoàn toàn trong sự tu học, trở thành một bậc vô thượng giác. Chư Bụt quá khứ đều thọ ký tức là được các vị Thế Tôn chứng nhận mình sẽ thành công hoàn toàn.

Bản tính nhân duyên đã biết rồi. Khi thấy được tự tính duyên sinh của tất cả các pháp, thấy các pháp là không và tương tức thì khổ vui không còn chạm tới được nữa, tức là ta đạt tới trạng thái tự do tự tại. Cái khổ không chạm được tới ta mà cái vui cũng không chạm được tới ta. Tại sao cái khổ không chạm mà cái vui cũng không chạm? Vì cái vui cũng có thể làm mình thất điên bát đảo, mất thăng bằng, mất an lạc, có khi còn tiêu diệt luôn cả chính mình. Những cái như tiền tài, sắc dục, tiếng tăm, sự khen ngợi,… tất cả những cái đó đều có thể làm cho ta đánh mất thân và tâm. Ta gọi đó là những cái vui, nhưng chúng không động tới ta được nữa. Khi người ta khen mà mình không bị rúng động, sự tự hào không biểu hiện thì lúc đó mình có tự do; khi người ta chê mà mình không giận hờn, không đau buồn, không tự ái thì mình có tự do. Khổ không động được tới mình mà vui cũng không động được tới mình thì lúc đó mới có tự do, mà có tự do mới thực sự có hạnh phúc. Hạnh phúc này vượt thoát khổ vui thường tình, hạnh phúc này là hạnh phúc xuất thế gian. 

Người đi tu không tìm hạnh phúc thế gian mà tìm hạnh phúc xuất thế gian. Khi làm một cái gì không thành công thì ta không thất vọng, làm cái gì thành công thì ta cũng không tự hào. Thất vọng và tự hào thuộc về những cái buồn vui của thế gian. Nếu thấy cái đó có ý nghĩa, đáng làm, phù hợp với đường hướng từ bi và trí tuệ thì ta làm thôi. Trong khi làm ta có hạnh phúc, chuyện thành bại không động tới được ta. Thành ra khi thành công ta không vui mừng, không tự hào và khi thất bại ta cũng không mặc cảm vì ta biết rằng nếu nhân duyên chưa đủ thì chưa thành, còn nhân duyên đầy đủ thì nó thành. Vì vậy cái khổ và cái vui đều không chạm tới ta được. Khi đã thấy được con đường của ta rồi, thấy cái gì nên làm thì ta làm, đó là cái vui. Cái vui này không bị ai lấy đi, không tùy thuộc điều kiện ở bên ngoài, thành hay bại, khen hay chê, đó là cái vui xuất thế gian. Điều kiện căn bản để đạt tới tự do tự tại lớn là phải thấy được bản chất của năm uẩn, phải thấy được tự tính duyên sinh của năm uẩn. Bản tính nhân duyên đã biết rồi, khổ vui không còn chạm tới được, đó là mục tiêu cao nhất của người tu

Có người nói rằng cuộc đời mà không có khổ, không có vui thì đâu có ý vị gì. Nói như thế là chưa hiểu, tại vì khổ vui của thế gian làm cho ta chìm đắm, trôi nổi, lên xuống, vì thế nên ta thực hiện hạnh phúc khác, hạnh phúc siêu việt thế gian. Chất liệu nuôi dưỡng ta hằng ngày là niềm vui xuất thế gian, niềm vui này chỉ có được khi tah có trí tuệ về nhân duyên. Đức Thế Tôn nói rằng người nào thấy được bản tính của nhân duyên thì người đó thấy được Như Lai. (The person who sees the nature of interbeing, that person has seen the Buddha). Quán chiếu để thấy được tính nhân duyên, tính tương tức, tính vô tướng và tịch tĩnh của vạn pháp thì khi đó ta thấy được đức Thế Tôn và có được hạnh phúc lớn. Cái tên Quán Tự Tại rất có ý nghĩa. Quán là nhìn sâu, nhìn kỹ. Khi nhìn sâu, nhìn kỹ thì thấy được và đạt tới tự do, đó gọi là quán tự tại. (The one who is free because of his capacity to look deeply into the nature of reality)

Nhược Bồ tát hành tự tịch tĩnh

Quá khứ chư Phật hàm thọ ký

Thân khổ lạc đẳng giai bất cập

Do tri nhân quả pháp bản tánh.

Nếu vị Bồ tát hành và tự chứng được cái tịch tĩnh thì chư Bụt quá khứ đều thọ ký. Quá khứ chư Phật hàm thọ ký, hàm nghĩa là đều thọ ký. 

Thân khổ lạc đẳng giai bất cập: những cái khổ, cái vui không chạm được tới thân tâm của mình.

Do tri nhân quả pháp bản tánh: vì thấy được bản tánh của phép nhân quả.

Bài kệ thứ 12:

Hành mà không thấy pháp sở hành

Là hành theo trí bậc Thiện Thệ

Hành theo được pháp vô sở hành

Mới là Bát nhã hành tối thượng.

若行於法不可得  Nhược hành ư pháp bất khả đắc

行如是行乃佛智  Hành như thị hành nãi Phật trí

行無所行了知已 Hành vô sở hành liễu tri dĩ

是行最上般若行 Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Pháp sở hành tức là đối tượng của cái hành. Khi thực tập mà còn thấy đối tượng của sự thực tập thì mình chưa đi xa, nghĩa là khi tu mà còn biết mình tu, khi chứng mà còn biết mình chứng, khi hành mà biết có pháp sở hành thì lúc đó mình chưa đi xa. Khi ta thực tập được mà không thấy, không bị mắc kẹt vào trong ý niệm là có một đối tượng thực tập của ta thì lúc đó ta đang thực tập theo trí tuệ của đức Thế Tôn. Thiện Thệ, tiếng Phạn là Sugata, chỉ người đã khéo léo vượt thắng sinh tử, u mê và qua tới bờ giải thoát. Thệ là đi qua. Thiện là khéo léo. Có khi mình xưng tán Bụt là đức Thế Tôn, the World-Honored One, là đức Thiện Thệ, the Well-Gone One. Từ bến mê đi qua bờ giác, từ sinh tử đi đến Niết bàn, đi một cách khéo léo và vượt qua được, gọi là Thiện Thệ. Chúng ta phải khéo léo mới đi qua được như Ngài, chứ không phải chỉ cần lao động tốt là có thể đi qua được, không phải làm như trâu kéo cày mới đi qua được. Tu hành cần phải có nghệ thuật, phải có sự khéo léo, phải có trí tuệ thì mới tu thành công.

Hành theo được pháp vô sở hành

Mới là Bát nhã hành tối thượng.

Bát nhã hành: tức là sự tu tập theo Bát nhã. Chúng ta thấy câu này đi đôi với câu trong kinh Tứ Thập Nhị Chương là “hành vô hành hành”. Bát nhã hành tối thượng: Bát nhã tức là sự hiểu biết, understanding.

Bài kệ thứ 13:

Vô sở hành ấy không thể nắm

Kẻ ngu chấp tướng nói có không 

Có không cả hai đều chẳng thật

Bồ tát liễu tri nên thoát khỏi. 

彼無所有不可得  Bỉ vô sở hữu bất khả đắc

愚癡著相謂有無  Ngu si trước tướng vị hữu vô

有無二法皆非實  Hữu vô nhị pháp giai phi thật 

出此了知乃菩薩  Xuất thử liễu tri nãi Bồ tát.

Trong bài kệ thứ 12, chúng ta vừa nhắc đến vô sở hành, tức là hành vô hành hành. “Hành vô hành hành” là cái gì, chỉ cho tôi, dạy cho tôi đi? Câu trả lời rằng: Vô sở hành ấy không thể nắm. Nó không phải là một khái niệm hay một tri giác, vì vậy anh nắm nó không được, nhất là khi anh muốn nắm nó bằng trí năng của anh. 

Vô sở hành ấy không thể nắm

Kẻ ngu chấp tướng nói có không.

Nói cái vô sở hành là có, có khi nói cái vô sở hành là không. Nhưng cái vô sở hành đó ta không thể nắm bắt được bằng ý niệm có và không. Cái mà không nắm bắt được thì ta không nắm bắt được, dầu nắm bắt bằng ý niệm có hay ý niệm không, ý niệm trong hay ý niệm ngoài, ý niệm sinh hay ý niệm diệt. Có những ý niệm căn bản gọi là có – không, sinh – diệt, một – nhiều, trong – ngoài, tới – đi. Ta không thể nắm bắt được bất cứ cái gì bằng những ý niệm đó. Bông hoa cũng như đám mây, cũng như cái vô sở hành, tất cả những cái đó đều không thể nắm bắt được bằng ý niệm hay bằng tri giác. 

Vô sở hành ấy không nắm bắt: Tức là không thể nắm. Kẻ ngu: tức là người đang còn bị kẹt trong các tướng, chưa có trí tuệ. Kẻ ngu chấp tướng nói có không: Người chưa có trí tuệ thường nói có hay nói không.

Có không cả hai đều chẳng thật 

Bồ tát liễu tri nên thoát khỏi.

Hai ý niệm có và không đều không thể áp dụng vào trong sự thật. Vị Bồ tát thấy được điều đó nên không bị kẹt vào hai ý niệm có và không. Cũng như ngã, ngã là gì? Chúng ta tin là có ngã, do đó đức Thế Tôn mới dạy chúng ta rằng không có ngã. Ban đầu chúng ta bị kẹt vào ý niệm có, sau khi được học giáo lý, chúng ta lại bị kẹt vào ý niệm không. Người tu hành cạn cợt sau khi thoát khỏi ý niệm có lại bị kẹt vào ý niệm không, mà bị kẹt vào ý niệm không thì đi chưa xa, vì vậy phải bỏ luôn ý niệm không thì mới đi tới được Bát nhã hành. Những người tu hành hình thức thường chấp danh tự, chấp hình tướng, vì vậy họ không đi xa được. Bát nhã là cuộc cách mạng để giúp người ta thoát khỏi hình tướng và danh tự.

Vô sở hành ấy không thể nắm

Kẻ ngu chấp tướng nói có không

Có không cả hai đều chẳng thật

Bồ tát liễu tri nên thoát khỏi.

Bồ Tát liễu tri nên thoát khỏi: Thoát khỏi hai ý niệm có và không. 

Trong kinh, Bụt dạy rằng không có ngã. Ban đầu ta tin có ngã, nay được dạy không có ngã thì ta tin không có ngã. Buông bỏ được cái có rồi, ta lại kẹt vào cái không, mà kẹt vào cái không cũng có nghĩa là đang còn kẹt vào cái có. Tưởng rằng đi qua cái không rồi thì ta đã thoát khỏi cái có. Không phải như vậy. Chừng nào còn bị kẹt vào một cái này thì ta còn bị kẹt vào cái kia. Tin vào cái không tức là tin vào cái có, vì cái không là cái ngược lại của cái có. Phải vượt thoát khỏi cái không lẫn cái có.

Bỉ vô sở hữu bất khả đắc

Ngu si trước tướng vị hữu vô

Hữu vô nhị pháp giai phi thật 

Xuất thử liễu tri nãi Bồ tát.

Bỉ vô sở hữu bất khả đắc: Đáng lý phải ghi “Bỉ vô sở hành” mới đúng.

Ngu si trước tướng vị hữu vô: Những kẻ ngu si kẹt vào tướng thường nói có hữu có vô.

Hữu vô nhị pháp giai phi thật: Có không hai pháp đó đều không phải là thật.

Xuất thử liễu tri nãi Bồ tát: Ra khỏi cái đó và hiểu biết một cách hoàn toàn, liễu tri thì mới gọi là Bồ tát. Nãi có nghĩa mới là. Nãi Bồ tát: Mới là một vị Bồ tát.

Bài kệ thứ 14:

Bồ tát biết được là huyễn hóa

Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Thoát ly các tướng tịch tĩnh hành

Đó là Bát nhã hành tối thượng.

菩薩若知諸幻化  Bồ tát nhược tri chư huyễn hóa

色受想行識亦然  Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, diệc nhiên

寂靜行離種種相  Tịch tĩnh hành ly chủng chủng tướng

 此名最上般若行 Thử danh tối thượng Bát nhã hành. 

Bồ tát thấy được năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức là huyễn hóa. Huyễn hóa tức là một trò huyễn thuật. Và khi nhìn vào năm uẩn, nhìn vào bông hoa, nhìn vào đám mây, nhìn vào không gian và thời gian, ta thấy chúng chỉ là huyễn hóa. Trước đó ta thấy những cái đó có thật, chắc nịch nó là nó, nhưng nhìn kỹ vào thì thấy rằng nó là một trò ảo thuật. Cũng như xem một bộ phim chiếu trên màn ảnh, chúng ta thấy người, nghe giọng nói, tiếng cười, thấy hành động, nước mắt,… nếu ta đưa tay nắm bắt những cái đó thì nắm không được. Chúng là những huyễn hóa do các điều kiện tạo thành. Tuy ta nghe tiếng, thấy hình, ta có những cảm xúc, nhưng tất cả những cái đó đều là hình ảnh trên màn hình và không có thực. Chúng không phải là sự thật đang xảy ra. Vậy mà ta vẫn có thể cười, khóc, tuyệt vọng, hy vọng như thường. Đó là một trò huyễn hóa. Trò huyễn hóa đã bày ra đấy. Kiếp phù sinh trông thấy mà đau. Đây là hai câu trong Cung oán ngâm khúc.

Bồ tát biết được là huyễn hóa: Nghĩa là các pháp biểu hiện trong tri giác của ta, ban đầu ta tin là có thật nhưng nhìn kỹ thì thấy nó như một trò ảo thuật, nó không phải như ta đã tưởng mà là huyễn hóa. Cái gì là huyễn hóa? Đó là năm uẩn: sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Khi nhìn kỹ, thấy được năm uẩn là những trò huyễn hóa thì ta thoát ly được các tướng, tức là những biểu hiện bên ngoài, và ta đã nhìn thấy cái bên trong rồi, ta đạt tới sự thực tập gọi là tịch tĩnh hành. Tịch tĩnh hành là làm cho vắng lặng hết tất cả những khái niệm có – không, sinh – diệt, tới – lui, còn – mất. Khi làm được như vậy thì mới gọi là Bát nhã hành tối thượng (The highest practice of Prajñāpāramitā).

Bồ tát nhược tri chư huyễn hóa: Nếu Bồ tát thấy được trò huyễn hóa và thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. 

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức diệc nhiên: Diệc nhiên nghĩa là cũng như vậy.

Tịch tĩnh hành ly chủng chủng tướng: Phép thực tập gọi là vắng lặng giúp ta vượt thoát tất cả các tướng trạng bên ngoài. Chủng chủng tức là các loại. Chủng chủng tướng tức là mọi tướng trạng.

Thử danh tối thượng Bát nhã hành: Đây được xem là Bát nhã hành cao nhất.

Bài kệ thứ 15:

Thầy hiền bạn tốt mách bảo cho

Nghe kinh Phật Mẫu không hoảng sợ

Thầy hư bạn xấu đưa lầm đường

Là vò chứa nước nung chưa chín.

善友方便令知覺  Thiện hữu phương tiện linh tri giác

使聞佛母不驚怖  Sử văn Phật mẫu bất kinh bố

惡友同行及化他  Ác hữu đồng hành cập hóa tha

坏器盛水非堅牢  Phôi khí thịnh thủy phi kiên lao.

Trong bản chữ Hán chỉ có bạn tốt thôi, nhưng trong bản chữ Phạn có thêm thầy hiền nữa.

Thầy hiền bạn tốt mách bảo cho: Tức là khi ta đang thực tập theo đường lối hữu tướng, kẹt vào danh từ, kẹt vào hình thức thực tập thì may mắn có một vị thầy giỏi, có những người bạn tu thông minh mách bảo cho phương pháp thực tập vượt thoát khỏi hình tướng và danh tự nên nghe kinh Phật mẫu không hoảng sợ, vì nếu không thì ta rất sợ. Lâu nay ta tin rằng có một pháp môn và ta phải thực tập theo pháp môn đó để trốn thoát một cái và đi tìm một cái khác, bây giờ nghe nói tất cả những cái đó đều sai lạc, phải đi vào vô tướng, sinh tử tức là Niết bàn,, không cần chạy đi đâu nữa, không cần thực hiện gì hết, nghe vậy ta rất hoảng sợ, ta mất đức tin. Tại lâu nay thầy ta dạy như vậy rồi, rằng ta phải sợ hãi và chán ghét năm uẩn, chạy đi tìm Niết bàn. Bây giờ, được nghe Niết bàn không có ở ngoài, nó nằm trong năm uẩn, vì vậy đừng nên chán ghét năm uẩn, đừng sợ hãi năm uẩn… thì ta hoảng sợ! Ta đã được giáo dục theo kiểu hình tướng và bị kẹt vào danh tự, cho nên bây giờ nghe kinh Bát nhã thì hoảng sợ.

Thầy hiền bạn tốt mách bảo cho

Nghe kinh Phật Mẫu không hoảng sợ.

Chúng ta nhớ rằng bài kệ thứ 5 đã nói tới chuyện này:

Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt

Không có sở chứng không bồ đề

Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ

Là Bồ tát kia hiểu được Bụt.

Đây là lặp lại ý: Đó là Bát nhã hành, để dành cho những người có cảnh trí cao muốn vượt thoát hình tướng và danh tự.

Thầy hư bạn xấu đưa lầm đường

Là vò chứa nước nung chưa chín.

Thầy hư bạn xấu là những người tu theo chủ nghĩa hình thức và kẹt vào danh tự, họ đưa ta đi lầm đường thì ta không thể nào đi xa được. Ta không giữ được những gì đã học, giống như cái vò chứa nước chưa nung chín vậy, nó không giữ được nước. Có học bao nhiêu cũng lọt ra ngoài, gọi là hữu lậu. Phải nung tới trên ngàn độ thì cái vò, cái lu đó mới chín, mới có thể đựng nước mà không bị rò rỉ. Giáo lý và sự thực tập kia cũng vậy, vì học chưa tới mức, nung chưa chín nên thực tập bao nhiêu cũng không có ích lợi gì. Tu năm này sang năm khác mà tham vẫn tham, si vẫn si, sân vẫn sân, không có sự chuyển hóa gì, đó là vò chứa nước nung chưa chín.

Chúng ta đọc bản dịch tiếng Anh của bài kệ này:

Advised by good teachers and spiritual friends,

when they hear the Mother of Buddhas’ Verses, they are not afraid.

Taken on the wrong path by false teachers and friends,

they are like a clay pot that has not been fired.

Là vò chứa nước nung chưa chín. Nhìn lại thử, ta có phải vò chứa nước nung chưa chín? Coi thầy ta, bạn ta có phải là những cái vò nung chưa chín không? Hình ảnh vò chứa nước nung chưa chín này hay lắm. Sau này, ta sẽ được học rằng có sáu phép Ba la mật mà nếu trí tuệ Ba la mật chưa vững thì tất cả các Ba la mật kia cũng đều tiêu tan hết. Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, tất cả năm Ba la mật này không đi theo Bát nhã Ba la mật thì chúng cũng tiêu tan hết. Bố thí cách mấy, trì giới cách mấy mà không có trí tuệ thì cũng như có rất nhiều nước, có rất nhiều dầu, có rất nhiều thức để chứa đựng nhưng cái vò chứa nước của ta nung chưa chín thì tất cả những thứ đó cũng tiêu tan. Trí tuệ Ba la mật là vò chứa nước, nếu trí tuệ vững chãi thì các công phu trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định mới được giữ lại, mới thành công, còn không thì sẽ tiêu tan hết. Đây là hình ảnh rất đặc thù của kinh Bát nhã: vò chứa nước nung chưa chín. Đây cũng là một hình ảnh trong những hình ảnh của kinh Phật mẫu.

Thiện hữu phương tiện linh tri giác

Sử văn Phật mẫu bất kinh bố

Ác hữu đồng hành cập hóa tha

Phôi khí thịnh thủy phi kiên lao.

Thiện hữu phương tiện linh tri giác: Nghĩa là các bạn hiền dùng những phương tiện giúp cho ta được thấy và biết, được tỉnh dậy. Linh là khiến cho, tri là biết, giác là tỉnh.

Sử văn Phật mẫu bất kinh bố: Khiến cho ta khi nghe được kinh Phật mẫu thì không còn hoảng sợ.

Ác hữu đồng hành cập hóa tha. Phôi khí thịnh thủy phi kiên lao: Những người bạn xấu đồng hành và đồng hóa những người khác theo con đường của họ thì cũng giống như những khí cụ bằng đất để đựng nước nung chưa chín.

Bài kệ thứ 16: 

Thế nào được gọi là Bồ tát?

Không còn vướng mắc các dục hành

Cầu quả Bồ đề không chấp trước

Vì vậy nên gọi là Bồ tát.

云何得名為菩薩? Vân hà đắc danh vi Bồ tát

一切樂行皆無著  Nhất thiết lạc hành giai vô trước

求佛菩提無所著  Cầu Phật bồ đề vô sở trước

是故得名為菩薩 Thị cố đắc danh vi Bồ tát.

Đây là định nghĩa của một vị Bồ tát. Vị hành giả trong truyền thống gọi là Thanh văn, còn vị hành giả trong phong trào cách mạng này gọi là Bồ tát. Một bên là Śrāvaka, một bên là Bodhisattva. Những người tu học theo phong trào Đại thừa thì gọi là những vị Bồ tát, còn những người theo truyền thống kia thì gọi là các vị Thanh văn. 

Điều kiện thứ nhất không còn vướng mắc các dục hành: là những người đã buông bỏ con đường chạy theo những lạc thú của thế gian. Điều kiện thứ hai cầu quả Bồ đề không chấp trước là những người đang thực tập giác ngộ mà không còn bị vướng mắc: vào hình tướng hoặc vào danh tự. 

Đó là hai điều kiện người ta nêu ra. Nếu anh muốn gia nhập phong trào Phật giáo mới, là phong trào Phật giáo Đại thừa, thì anh phải theo hai nguyên tắc đó. Thứ nhất là phải buông bỏ những dục hành và thứ hai là phải thực tập cho thông minh, đừng bị vướng mắc vào hình tướng và danh tự. Đó là tiêu chí để gọi là một vị Bồ tát. 

Vân hà đắc danh vi Bồ tát?: Thế nào được gọi là Bồ tát? Đắc danh tức là được gọi.

Nhất thiết lạc hành giai vô trước: Tức là không bị dính vào những hành động gọi là hành lạc đó.

Cầu Phật Bồ đề vô sở trước: Những người đó đang đi theo hướng thực hiện giác ngộ của Bụt, được gọi là Phật Bồ đề. Vô sở trước tức là không vướng vào bất cứ điều gì. Ở đây muốn nói là vướng vào hình tướng và danh tự.

 Thị cố đắc danh vi Bồ tát: Như vậy được gọi là Bồ tát.

Bài kệ thứ 17:

Thế nào gọi là Ma ha tát? 

Là kẻ đạt tới đệ nhất nghĩa

Chặt hết tà kiến trong quần sinh

Vì vậy nên gọi Ma ha tát.

云何得名摩訶薩  Vân hà đắc danh Ma ha tát

得第一義眾生中  Đắc đệ nhất nghĩa chúng sinh trung

斷眾生界諸邪見  Đoạn chúng sinh giới chư tà kiến

是故得名摩訶薩  Thị cố đắc danh Ma ha tát.

Chúng ta để ý có hai danh từ, một danh từ là Bồ tát (Bodhisattva), là những người giác ngộ và những người đang làm công tác giác ngộ người khác. Danh từ thứ hai là Ma ha tát, tiếng Phạn là Mahāsattva, có nghĩa là những con người lớn, vĩ nhân. Mahā là lớn, sattva là hữu tình, Hán Việt dịch là đại nhân, các vị Bồ tát đại nhân. Thế nào gọi là đại nhân? Là kẻ đạt tới đệ nhất nghĩa. Đệ nhất nghĩa tức là chân lý tuyệt đối, tiếng Phạn là paramatā. Đệ nhất nghĩa có nghĩa là chân đế, không phải là tục đế. Thế tục đế tức là sự thật tương đối và đệ nhất nghĩa đế tức là sự thật tuyệt đối. Khi nói có sinh có tử, đó là sự thật tương đối; khi nói thực tại vượt qua sinh tử, không có sinh, không có tử là sự thật tuyệt đối. Khi nói có có, có không là sự thực tương đối, khi đi vào thực tế bản chất của thực tại thì nói rằng không còn có – không, vượt thoát có – không, gọi là đệ nhất nghĩa. Chúng ta đang ngồi đây thì cho rằng đây là phía trên, đây là phía dưới, đó là thế tục đế, là sự thật nhưng là sự thật tương đối, vì người Nhật Bản đang ngồi phía bên kia trái đất đâu có đồng ý rằng phía này là phía trên của họ, họ cho là phía dưới. Vì vậy trên dưới là sự thật tương đối. Đứng về phương diện vũ trụ thì nó không có trên không có dưới. Cho nên nói có trên có dưới là sự thật, mà nói không có trên không có dưới cũng là sự thật. Nhưng không có trên không có dưới là sự thật tuyệt đối, là paramatā. Bồ tát đại nhân là người không dừng lại nơi những sự thật tương đối, là người đã thành tựu sự thật tuyệt đối. 

Chặt hết tà kiến trong quần sinh. Trong quần sinh có những cái thấy sai lạc nửa vời và ta không bằng lòng với những cái thấy sai lạc nửa vời đó. 

Whom do we call a mahāsattva?

Those who have realized the ultimate truth

and cut through all wrong views in the world.

They are called mahāsattvas.

Vân hà đắc danh Ma ha tát?: Thế nào được gọi Ma ha tát? Đó là người đã đạt tới đệ nhất nghĩa trong xã hội này Đắc đệ nhất nghĩa chúng sinh trung. Chúng sinh trung là trong xã hội này.

Đoạn chúng sinh giới chư tà kiến: Là cắt đứt tất cả những tà kiến trong thế giới của chúng sinh. Chúng sinh giới tức là xã hội. 

Thị cố đắc danh Ma ha tát: Đó được gọi là Ma ha tát.

Bài kệ thứ 18:

Đại thí, đại huệ, đại uy đức

Ngồi xe tối thượng của Phật thừa

Phát tâm bồ đề độ chúng sanh

Cho nên gọi là Ma ha tát.

大施大慧大威德  Đại thí đại huệ đại uy đức

佛乘最上而得乘  Phật thừa tối thượng nhi đắc thừa 

發菩提心度眾生  Phát Bồ đề tâm độ chúng sinh

是故得名摩訶薩  Thị cố đắc danh Ma ha tát.

Đại nhân là người có khả năng bố thí lớn, chia sẻ lớn. Chữ thí ở đây nghĩa là chia sẻ, sharing. Đại huệ tức là có hiểu biết lớn. Đại uy đức là có cái uy và cái đức (authority and virtue, great authority and great virtue).

Đây là hình ảnh một vị Ma ha tát, một người có chí hướng chia sẻ niềm vui, hạnh phúc, trí tuệ với rất nhiều người. Có một trí tuệ lớn, một uy đức lớn và người đó ngồi trên một chiếc xe rất lớn gọi là Phật thừa (The vehicle of the Buddha). Ta ngồi trên chiếc xe chỉ chở một mình ta đi tới mục đích giải thoát thôi gọi là Tiểu thừa, như đi xe đạp thì chỉ chở một mình ta. Ta muốn bớt khổ, trốn tránh những khổ đau, những khó khăn của cuộc đời thì ta đi kiếm một chiếc xe nhỏ đi tới chỗ đó, ta hoàn toàn chỉ lo cho thân mình, gọi là chiếc xe nhỏ tức Tiểu thừa. Còn vị Ma ha tát không sử dụng những chiếc xe nhỏ, phải sử dụng những cỗ xe lớn để có thể chở được nhiều người đi tới chỗ giải thoát, an lạc, hạnh phúc, gọi là Đại thừa (The Great Vehicle).

Ngồi xe tối thượng của Phật thừa: Tối thượng tức cao hơn hết. Phật thừa là chiếc xe của Bụt.

Phát tâm bồ đề độ chúng sinh: Khi tâm nghĩ tới sự giải thoát, hạnh phúc, an lạc của tất cả chúng sinh, khi đó ta mới đáng được gọi là bậc đại nhân Ma ha tát, còn chỉ lo cho thân phận của mình để cho bớt khổ chút ít, trốn tránh khổ đau, đi tìm an ổn cho riêng mình thì không thể gọi là một vị Ma ha tát được.

Chủ đích, ước vọng, chí nguyện của ta làm cho ta trở thành một vị Ma ha tát.

Bài kệ thứ 19:

Như nhà ảo thuật giữa ngã tư

Hóa hiện đám đông chặt đầu người

Mọi cõi thế giới đều huyễn hóa

Biết thế Bồ tát không sợ hãi.

幻化四足俱胝數  Huyễn hóa tứ túc câu tri số

多人眾前悉截首  Đa nhân chúng tiền tất tiệt thủ

一切世界皆幻化  Nhất thiết thế giới giai huyễn hóa

菩薩知已得無怖  Bồ tát tri dĩ đắc vô bố.

Đây là hình ảnh được dùng rất nhiều trong kinh điển. Có một người làm ảo thuật bày ra một cuộc trình diễn giữa ngã tư, người đó hóa hiện ra một đám đông và có những người bị chặt đầu nhưng tất cả những cái đó đều là trò huyễn thuật, không có thật. Những cõi giới trong đó có sắc, thọ, tưởng, hành và thức thường mang những biểu hiện như vậy. Ban đầu ta cho là thật nhưng nhìn kỹ vào sẽ thấy tính cách huyễn hóa của nó. Thấy như có sinh ra, có chết đi. Tự nhiên từ không sinh ra có, rồi đang có tự nhiên trở thành không. Thấy những điều đó ta sợ hãi vô cùng, ta sợ hãi chuyện sinh – tử, chuyện có – không. Nhưng khi nhìn vào trong lòng sự thật, ta phát hiện rằng những cái ta thấy: sinh tử, có không… đều là huyễn hóa, là trò ảo thuật và khám phá ra như vậy rồi thì bao nhiêu sợ hãi của ta tan biến hết. Quý vị đọc bốn câu này có cảm tưởng là nói triết lý, nhưng không phải, nó quan trọng vô cùng. Khi quán chiếu được theo trí tuệ này thì khổ đau giảm thiểu một cách rất mau chóng. Chính vì bám vào những ý niệm về có và về không nên chúng ta thường sợ hãi cái không, chúng ta bám vào cái sinh và trốn chạy cái diệt. Người nào cũng vậy, tất cả những hành động, ý nghĩ và lời nói của chúng ta đều nhắm tới chuyện trốn chạy, tìm cầu, bám víu vào một cái, mà tất cả những cái đó đều có sự sợ hãi nằm bên dưới. Sự sợ hãi này điều khiển, xúi giục, thúc đẩy ta đi làm những cái đó, đi nói những cái đó và suy nghĩ những cái đó. Vì vậy nên khi nhìn sâu vào trong thực tại và khám phá ra được rằng thực tại là một trò huyễn hóa, thấy được tính vô sinh bất diệt, không có không không của hiện hữu thì tự nhiên nỗi sợ kia tan biến và ta có được sự an lạc chưa bao giờ có. Đây không phải là triết học, đây là sự quán chiếu.

As when a magician at the crossroads,

conjures up an illusory crowd and cuts off their heads,

all worlds are such an illusion.

Knowing this, bodhisattvas feel no fear.

Huyễn hóa tứ túc câu tri số

Đa nhân chúng tiền tất tiệt thủ

Nhất thiết thế giới giai huyễn hóa

Bồ tát tri dĩ đắc vô bố.

Câu tri là vô lượng, là nhiều lắm. Ở ngã tư bày ra trò huyễn hóa. Tứ túc là ngã tư, huyễn hóa là làm ảo thuật. Câu tri số là hóa hiện ra rất nhiều, đông vô số.

Đa nhân chúng tiền tất tiệt thủ: Hóa hiện ra rất nhiều người, nhiều đến vô số, rồi trước mặt người ta làm ra chuyện chém đầu. Chém đầu tất cả những người đã được hóa hiện đó. Nhất thiết thế giới giai huyễn hóa: Tất cả những gì, tất cả các thế giới mà ta trông thấy kia đều là những trò ảo thuật và Bồ tát biết được như vậy nên không còn sợ hãi.

Bồ Tát tri dĩ đắc vô bố: đắc là được, vô bố là không sợ hãi, non-fear.

Bên Ấn Độ ngày xưa có những nhà ảo thuật đứng ngồi giữa ngã tư đường và họ làm trò để người ta coi. Khi một đám đông vây quanh, nhà ảo thuật đó hóa hiện ra một đám đông cả hàng ngàn, hàng vạn người rồi hóa phép chặt đầu từng người một, người ta thấy những cái đầu rơi rụng rõ ràng. Nếu người coi tỉnh táo thì biết rằng kỳ thực không có đám đông ngàn người nào cả, không có người nào chặt đầu người nào cả, mà đúng thực là như vậy, đây chỉ là trò ảo thuật làm ra để ông ta lấy tiền. Vậy thì năm uẩn của ta, ta tưởng là có thiệt nhưng nếu nhìn sâu vào bằng con mắt của Bát nhã, thì ta khám phá ra là không có thực, nó là một trò huyễn hóa. Điều này càng học và quán chiếu thì ta càng thấy rõ.

Bài kệ thứ 20:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng

Biết chúng không thật không cần cởi

Hành tâm Bồ tát không vướng mắc

Đó gọi là Bồ tát tối thượng.

色受想行識纏縛 Sắc thọ tưởng hành thức triền phược

知不實已不求解 Tri bất thật dĩ bất cầu giải 

行菩提心無所著 Hành Bồ đề tâm vô sở trước

此名最上諸菩薩 Thử danh tối thượng chư Bồ tát.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng: Nghĩa là chúng ta để cho sắc, thọ, tưởng, hành, thức ràng buộc chúng ta. Khi sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng ta thì chúng được gọi là thủ uẩn. Vì có một ảo tưởng về năm thủ uẩn (upādānaskandha) nên ta đã để cho chúng buộc ràng. 

Biết chúng không thật không cần cởi (cởi chứ không phải cõi). Nếu nhìn kỹ, thấy được chân tướng của chúng thì làm sao chúng buộc ràng ta được. Vì vậy ta không còn  cần phải cởi sợi dây buộc ràng đó nữa. Ban đầu ta cảm thấy mình bị trói, cần phải cởi nó ra. Ta bị cái gì trói, bị năm uẩn trói. Ta có nhu cầu cởi năm uẩn đó ra nhưng sau khi nhìn kỹ năm uẩn thì ta thấy chúng không có tự tánh. Và khi thấy được tính tương tức, tính duyên sinh của năm uẩn rồi thì chúng không ràng buộc ta được nữa. Ban đầu ta có nhu cầu cần cởi trói, cần giải thoát, nhưng sau thấy không cần giải thoát nữa vì ta vốn đã giải thoát rồi. Tất cả đều là do nhận thức của ta. 

Trong kinh Bảo tích, đức Thế Tôn đưa ra một hình ảnh rất ngộ nghĩnh. Có một người lượm cục đất lên, anh ta liệng trúng vào con chó, con chó đau quá kêu ẳng ẳng rồi chạy theo cục đất mà sủa, nó giận lắm, muốn trả thù cục đất. Nhưng con chó không biết rằng cục đất không phải là nguyên do sự đau khổ của nó, mà chính là anh chàng ném cục đất. Đáng lẽ nó phải chạy theo anh chàng ném cục đất mà sủa. Chúng ta cũng vậy, ta tưởng là sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm khổ mình, ai dè chính nhận thức sai lầm của ta về năm uẩn mới là thủ phạm làm cho ta khổ, chứ không phải năm uẩn làm ta khổ. Ta trừng phạt năm uẩn thì thật tội nghiệp cho năm uẩn. Chính sự sợ hãi, vướng mắc của ta mới là thủ phạm. 

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng, nhưng một khi biết là chúng không thật, là ảo hóa rồi thì ta đã giải thoát, không còn cần cởi ra nữa.

Hành tâm Bồ tát không vướng mắc. Bồ tát như vậy gọi là Bồ tát tối thượng. Tâm tu học của Bồ tát không còn vướng mắc nữa, khi đó ta gọi là một vị Bồ tát cao nhất.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức triền phược: Người miền Bắc đọc triền phược là triền phọc.

Tri bất thật dĩ biết rằng nó không có thật. Biết nó không có thật rồi thì bất cầu giải là không cần cởi ra nữa, giải là cởi ra, cởi trói.

Hành Bồ đề tâm vô sở trước: Tu tập tâm Bồ đề không còn bị dính mắc nữa thì gọi là vị Bồ tát tối thượng. Tối thượng tức là cao nhất.

Bài kệ thứ 21:

Thế nào mệnh danh là Bồ tát?

Cưỡi xe Đại thừa độ chúng sinh

Thể tướng Đại thừa như hư không

Bồ tát được niềm vui an ổn.

云何得名為菩薩  Vân hà đắc danh vi Bồ tát

乘大乘行度眾生  Thừa đại thừa hành độ chúng sinh

大乘體相如虛空  Đại thừa thể tướng như hư không

菩薩由得安隱樂  Bồ tát do đắc an ẩn lạc.

Chúng ta biết rằng trong văn học Phật giáo nguyên thủy, chữ Bồ tát chỉ được dùng cho một mình đức Thế Tôn khi Ngài chưa thành đạo mà thôi. Nhưng trong cuộc cách mạng Đại thừa này tất cả những người có chí hướng lớn muốn thành tựu đạo Bồ đề và cứu độ vô số chúng sinh thì đều được gọi là Bồ tát. Vì vậy trong những kinh đầu của nền văn học Bát nhã, định nghĩa thế nào là Bồ tát rất quan trọng. Tu trong truyền thống Nguyên thủy gọi là Thanh văn, còn tu trong truyền thống mới của Đại thừa thì được gọi là Bồ tát.

Thế nào mệnh danh là Bồ tát? Cưỡi xe Đại thừa độ chúng sinh. Ta phải là người ngồi trên xe Đại thừa và độ chúng sinh mới được. Nếu anh tu một mình cho anh thì anh không được gọi là Bồ tát. 

Cưỡi xe Đại thừa độ chúng sinh

Thể tướng Đại thừa như hư không.

Đại thừa là gì? Mahāyāna là gì? Tức là bản chất cũng như hình tướng Đại thừa rất vĩ đại, lớn như hư không. Nhờ thực tập theo đường hướng Đại thừa nên vị Bồ tát được rất nhiều an vui, Bồ tát được niềm vui an ổn. An ổn là safety, stability.

Thế nào gọi là một vị Bồ tát? Là người cưỡi trên cỗ xe Đại thừa. Thừa đại thừa hành độ chúng sinh tức là cưỡi trên cỗ xe Đại thừa, chiếc xe lớn đi độ chúng sinh.

Đại thừa thể tướng như hư không: Cái thể tướng đại thừa như hư không.

Bồ Tát do đắc an ẩn lạc: Bồ tát do đó mà có được niềm vui an ổn.

Bài kệ thứ 22:

Cỗ xe Đại thừa không nắm được

Tới cõi Niết bàn, đi mọi nơi

Nơi về không thấy, như lửa tắt

Vì thế nên gọi là Niết bàn.

大乘之乘不可得  Đại thừa chi thừa bất khả đắc

乘涅盤往諸方所  Thừa Niết bàn vãng chư phương sở

行已不見如火滅  Hành dĩ bất kiến như hỏa diệt

是故名為入涅盤  Thị cố danh vi nhập Niết bàn.

Vừa mới nhắc tới Đại thừa thì vội vàng nói thêm rằng Đại thừa không nắm bắt được đâu. Vì khi nghe, người nghe sẵn sàng đưa trí năng ra để nắm bắt nên phải rất cẩn thận, đừng để bị mắc kẹt. 

Cỗ xe Đại thừa không nắm được. Ta tưởng Đại thừa là một cái gì trái chống với Tiểu thừa, như vậy là ta kẹt vào tướng. Nhờ có Tiểu thừa nên mới có Đại thừa, nhờ có Đại thừa nên người ta mới hiểu được thế nào là Tiểu thừa. Đại thừa và Tiểu thừa dung thông với nhau, không có cái này thì không có cái kia. Nếu ta đem óc kỳ thị của ta ra để so sánh thì ta sẽ bị kẹt vào tướng và danh tự. Cho nên cỗ xe Đại thừa là không nắm được. Phải chích thuốc ngừa liền! Rằng, coi chừng anh có thể có một ý niệm về Đại thừa và bị kẹt vào ý niệm ấy. Anh không thể nào nắm bắt được Đại thừa.

Cỗ xe Đại thừa không nắm được

Tới cõi Niết bàn đi mọi nơi.

Cỗ xe Đại thừa dùng để đi đâu? Là phải đi tới Niết bàn. Niết bàn tức là chỗ vắng lặng của tất cả những ý niệm (có – không, sinh – diệt, …), những khổ đau. Nhưng chỗ tới đó là chỗ nào? Là mọi nơi, chỗ nào cũng là chỗ tới cả – Everywhere is your destination. Lời kinh nói vậy! Nơi về không thấy! You cannot see the destination, you cannot recognise the destination.

Nơi về không thấy, ta leo lên tàu cao tốc TGV (Train à Grande Vitesse) tới Paris thì sẽ thấy Paris rõ ràng. Nhưng ở đây không thấy được. Nếu muốn thấy bằng ý niệm và danh tự thì không thể, ta phải chọc thủng cái tưởng.

Nơi về không thấy như lửa tắt. Lửa tắt, và ta nghĩ rằng không có lửa là sai. Lửa là một sự biểu hiện. Nếu có đủ điều kiện thì ta gọi lửa trở lại như thường. Nói lửa có hay không thì tội nghiệp cho nó. Lửa luôn luôn có mặt một cách siêu việt, vượt ra khỏi có – không. Nếu hội đủ những điều kiện thì ta gọi lửa về được, nếu mình lấy bớt một trong những điều kiện thì lửa ẩn đi, lửa thoát ra khỏi hai ý niệm có và không. 

Niết bàn cũng vậy. Nơi về không thấy như lửa tắt, vì thế nên gọi là Niết bàn. Niết bàn không phải là sự ngược lại của sinh tử, chính trong sinh tử mà ta thấy Niết bàn. Nếu có điều kiện thì ta gọi Niết bàn hiện ra, nếu không hội đủ những điều kiện thì Niết bàn ẩn tàng và ta chỉ thấy sinh tử. Những giáo lý này có trong kinh điển Nguyên thủy (Tương ưng bộ, Saṃyutta Nikāya).

Nơi về không thấy như lửa tắt

Vì thế nên gọi là Niết bàn.

Cỗ xe Đại thừa không nắm được: Vừa nói anh cần phải cưỡi trên cỗ xe Đại thừa thì mới có an lạc hạnh phúc, nay lại nói rằng đừng tưởng anh sẽ nắm được cỗ xe ấy, không thể nắm được đâu nếu anh đưa trí năng của anh ra để kỳ thị, phân biệt. Mục đích của cỗ xe Đại thừa là đưa chúng ta tới Niết bàn, nhưng không có nghĩa chúng ta rời bỏ một nơi này để đi tìm một địa chỉ khác, vì Niết bàn ở mọi nơi. Không tới, không đi, no coming no going, không có điểm khởi hành và không có nơi tới. Kẻ vãng lai tam giới là ai? Người lữ khách không có điểm khởi hành và không có nơi tới. Vì vậy, ý niệm về điểm khởi hành và nơi đến cũng phải vượt thoát mới thấy được cỗ xe của Đại thừa. Cũng như khi lửa cháy thì ta gọi là có, khi hết nhiên liệu ta nói lửa không có, nhưng kỳ thực lửa vượt thoát cái có và cái không, vấn đề ở chỗ biểu hiện và điều kiện mà thôi.

Nhập Niết bàn tức là không nhập gì hết. Niết bàn đâu phải bên trong để đi vào, Niết bàn cũng không phải ở ngoài để đi ra, những ý niệm trong và ngoài đều là tướng. 

Nghe kinh Phật mẫu không hoảng sợ. Có nhiều vị không biết kinh đang nói gì và nếu quý vị đọc thấy lộn xộn, là vì chưa quen được với ngôn từ của giáo lý đạo Bụt. Nó siêu việt ngôn ngữ và hình tướng.

Đại thừa chi thừa bất khả đắc. Đại thừa chi thừa tức chiếc xe gọi là Đại thừa đó là bất khả đắc, không thể nắm bắt được.

Thừa Niết bàn vãng chư phương sở: Là đi về Niết bàn cũng như đi về mọi nơi.

Hành dĩ bất kiến như hỏa diệt: Khi tới Niết bàn rồi thì nó không có hình tướng, ta không thể thấy được nó, không thể nhìn nhận nó qua cái có và cái không được, cũng giống như lửa đã tắt.

Thị cố danh vi nhập Niết Bàn: Cái đó gọi là đi vào Niết bàn. 

Niết bàn không phải ở trong, cũng không phải ở ngoài, không phải điểm khởi hành, cũng không phải chỗ tới. Niết bàn là sự tắt ngấm của tất cả những ý niệm. Cho nên dịch Niết bàn là extinction rất hay. Extinction of all ideas and of all sufferings based on these ideas.

Bài kệ thứ 23:

Sở hành Bồ tát không nắm được

Tất cả ba thời đều thanh tịnh

Thanh tịnh, vô úy, không hý luận 

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

菩薩所行不可得 Bồ tát sở hành bất khả đắc

初後現在三清淨 Sơ hậu hiện tại tam thanh tịnh

清淨無畏無戲論 Thanh tịnh vô úy vô hí luận

是行最上般若行 Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Đối tượng tu học và sự thực tập của vị Bồ tát, ta không nắm được bằng trí năng của mình. Ta thấy rằng quá khứ, hiện tại và tương lai, những ý niệm đó đều thanh tịnh cả. Quá khứ nằm trong hiện tại, tương lai cũng nằm trong hiện tại và hiện tại cũng nằm trong quá khứ và tương lai. Ta thấy và chia ra ba thời như vậy là do ý niệm của ta, kỳ thực ba thời cùng dung nhiếp, tương tức và tương nhập, nếu tiếp xúc được sâu sắc với một thời tức là ta tiếp xúc luôn với cả ba thời. 

Thanh tịnh, vô úy, không hí luận, đó là ba đặc tính của Bát nhã hành. Trước hết là sự im lặng của các ý niệm – the silence of all notions and ideas. Khi nào còn kẹt vào tướng, danh từ và ý niệm thì ta chưa tiếp xúc được với Bát nhã hành. Thứ hai là vô úy, là không còn sợ hãi nữa. Khi còn sợ hãi tức là ta chưa đi trên con đường Bát nhã hành. Bước chân lên con đường Bát nhã hành là không còn sợ hãi vì ta chiếu kiến ngũ uẩn giai không. Thứ ba là không hí luận, tức là không đàm luận triết lý, no metaphysical speculation, cái này không phải là lý thuyết suông, mà là những cái búa đập vỡ hết các khối u mê, những ý niệm của mình. 

Kinh Bát nhã chính là sấm sét, là cái chày kim cương, thunderbolt. Mục đích của kinh Bát nhã là đập cho tan hết tất cả những ý niệm của ta về thực tại, ý niệm có – không, ý niệm sinh – diệt, ý niệm đi – tới, ý niệm còn – mất, đập cho tan nát tất cả những ý niệm đó và làm cho im lặng hết tất cả các hí luận – speculation. Triết học nói về có – không, sinh – diệt, tánh – tướng, nói về đủ thứ nhưng không đi tới đâu. Hí luận, là nói để mà chơi, nghĩa là chơi. Chữ còn có nghĩa vui chơi để thời gian trôi qua. Cũng như rạp ciné, rạp hát gọi là hí trường. Hí trường là chỗ để giải trí, để chơi thì hí luận là dùng thì giờ của mình để nói qua nói lại mà chơi, chơi trò của những tư tưởng, những danh tự. Đây là điều rất húy kỵ trong Phật giáo. Hí luận làm mất thì giờ của mình. Kinh Bát nhã không hí luận. Kinh Bát nhã là những đòn chí tử giáng xuống những ý niệm và dập tắt tất cả những hí luận, extinguish every speculation. Nếu làm được theo ba đặc tính của Bát nhã hành tức là ta đang đi trên con đường Bát nhã hành tối thượng. Thứ nhất là thanh tịnh – silence. Sự im lặng này không chỉ của ngôn ngữ mà còn là sự im lặng của ý tưởng trong đầu, sự im lặng của những bóng dáng, hình tướng dối gạt bên ngoài. Thứ hai là vô úy, là không sợ hãi. Vô úy chứng tỏ mình đã thấy cái gì đó về thực tại nên không còn sợ hãi nữa. Thứ ba là không hí luận, no speculation

Bồ tát sở hành bất khả đắc: Sở hành của vị Bồ tát thì không nắm được. Sơ hậu hiện tại: Sơ là trước, hậu là sau, và hiện tại là bây giờ, tức là quá khứ, hiện tại và vị lai. Tam thanh tịnh là cả ba thời đó đều vắng lặng. Vắng lặng nghĩa là ý niệm về quá khứ, hiện tại và tương lai đều không còn nữa. Sự chia chẻ, phân biệt giữa ba cái không còn nữa, ta thấy cái một trong cái ba, cái ba trong cái một, ta chọc thủng cái tướng ba để thấy cái một. Chọc thủng cái tướng một để thấy cái ba nên gọi là thanh tịnh. Thanh tịnh này là thanh tịnh của những ý niệm.

Thanh tịnh vô úy vô hý luận

Thị hành tối thượng Bát nhã hành. 

Bài kệ thứ 24:

Khi Bồ tát hành hạnh đại trí

Phát đại từ bi độ chúng sinh

Không hề phát khởi niệm chúng sinh

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

大智菩薩行行時  Đại trí Bồ tát hành hành thời

發大慈悲為眾生  Phát đại từ bi vị chúng sinh 

為已不起眾生相  Vị dĩ bất khởi chúng sinh tướng

是行最上般若行 Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Khi vị Bồ tát thực tập Đại trí (Mahāprajña) này thì trong tâm Bồ tát có một ước nguyện lớn, có tình thương lớn muốn độ hết tất cả chúng sinh nhưng không phát khởi niệm chúng sinh, tức là không bị ý niệm chúng sinh làm cho vướng mắc. 

Chúng ta học kinh Kim cương thì hiểu, có bốn ý niệm chúng ta phải vượt thoát là ý niệm về ngã, về con người, về chúng sinh và về thọ mạng. Bây giờ chúng ta bắt đầu với ý niệm chúng sinh. 

Chúng sinh tức là những loài có sinh mạng và ta biết rằng những loài ấy dính líu tới các loài không có sinh mạng như là cây cối, đất đá. Chúng sinh không thể có được, không thể biểu hiện được nếu không có những loài không phải chúng sinh. Cái living being không có nếu không có cái non-living being. Khi nhìn vào chúng sinh phải thấy cái không chúng sinh ở trong đó, phải thấy cầm thú và cây cỏ, đất đá ở trong đó. Khi nhìn vào cây cỏ và đất đá phải thấy rằng chúng sinh từ đó mà ra, vì vậy không có sự phân biệt kỳ thị giữa chúng sinh và không chúng sinh nữa. Lúc đó ta lấy ra được ý niệm về chúng sinh. Bài kệ thứ 24 này giúp chúng ta lấy ra ý niệm về chúng sinh.

Bài kệ thứ 25:

Bồ tát khởi niệm vì chúng sanh

Tu các khổ hạnh, có khổ tướng

Là còn tướng ngã, tướng chúng sanh

Không phải Bát nhã hành tối thượng.

菩薩起念為眾生 Bồ tát khởi niệm vị chúng sinh

修諸苦行有苦相 Tu chư khổ hạnh hữu khổ tướng

是有我相眾生相 Thị hữu ngã tướng chúng sinh tướng

此非最上般若行 Thử phi tối thượng Bát nhã hành.

Lúc đầu vì chúng sinh mà ta tu khổ hạnh, ăn chay nằm đất, ta thấy có khổ, có sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ. Đây là Phật giáo Tiểu thừa. Khổ để tu hành khổ hóa vui. Ta đang bị kẹt vào các khổ tướng. Tu như vậy là chưa đi xa, đang bị vướng vào cái tướng ngã và tướng chúng sinh, đó chưa phải là Bát nhã hành. Chúng ta nên biết đây là văn kiện đầu tiên của nền văn học Bát nhã, vì vậy chúng ta phải thấy rằng trong mỗi lời nói đều có ám chỉ tới truyền thống cằn cỗi, vướng mắc vào hình tướng và danh tự. Một mặt thì xiển dương đường hướng tu hành mới, linh động, một mặt thì đả phá hình thức khô cứng của truyền thống cũ. Đây là nói về những người tu hình tướng: Cứ nói cái này khổ, cái kia khổ; tu khổ hạnh, vướng vào hình tướng, vướng vào mục đích, vì vậy không đi xa được và không phải là Bát nhã hành tối thượng.

Khi quyết tâm thực tập là chúng ta khơi mở tâm Bồ tát. Tâm đó là ước ao muốn làm cho chúng sinh bớt khổ. Ban đầu ta có một ước ao, một quyết tâm vì mọi loài mà thực tập. Tu tập không phải vì bản thân mà vì tất cả mọi loài nên mới gọi là Bồ tát khởi niệm vì chúng sinh

Tu các khổ hạnh, có khổ tướng. Nếu vị Bồ tát không được hướng dẫn đúng mức và mắc kẹt vào trong hình tướng, tức là vị Bồ tát đó còn bị kẹt vào tướng ngã và tướng chúng sinh, vị ấy chưa bước đi trên con đường Bát nhã hành cao nhất. Trong khi thực tập ăn chay mà ta thấy ăn chay là khổ, khi thực tập ngồi thiền mà cảm thấy ngồi thiền là mệt, khi thực tập giới luật mà cho giới luật là giới hạn tự do, như vậy là ta đang kẹt vào tướng. Một người ăn chay theo kiểu vô tướng thì không kẹt vào ý niệm mình ăn chay và người khác thì không ăn chay, không có tư tưởng tôi đang tu và anh đang không tu. Ý niệm về ăn chay và không ăn chay không còn nữa và mình rất tự do, tuy ăn chay nhưng không kẹt vào tướng. Cũng như khi tay phải chăm sóc cho tay trái khi tay trái bị thương, tay phải chăm sóc tay trái một cách rất tự nhiên mà không nói rằng: “Ta là tay phải, ta đang chăm sóc ngươi là tay trái và ngươi phải biết ơn ta”. Như vậy tay phải đang hành Bồ tát hành tối thượng, tức là làm công việc độ người khác. Ta thấy rõ ràng tay phải đang làm tất cả để giúp tay trái nhưng không bị vướng vào ý niệm ngã và phi ngã. Khi tu hành cũng vậy, nếu còn giữ suy nghĩ: “Ta đây đang tu còn các người không tu, ta làm việc mệt còn các người đi ngủ trưa” thì chứng tỏ rằng mình đang kẹt vào tướng. Trong khi chấp tác, ngồi thiền ta phải có an lạc của sự chấp tác, ngồi thiền. Sở dĩ niềm vui, niềm an lạc của ta không còn nữa là vì ta kẹt vào tướng ngã và tướng chúng sinh. Trong truyền thống có những người tu với tính cách hình thức, cho nên cuộc cách mạng Đại thừa mới bung ra để đưa người ta trở về với tinh thần Nguyên thủy của đạo Bụt, tức là tu mà không bị kẹt vào hình tướng và hình thức. 

Trong khi học về Tứ đế, ta được dạy rằng sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh và chết là khổ, bị cách biệt với người thương là khổ, chung đụng với những người mình ghét là khổ,… Ngày đêm ta bị ám ảnh bởi tư tưởng khổ và tìm cách trốn ra khỏi cuộc đời này, đó là bị kẹt vào khổ tướng, tu các khổ hạnh có khổ tướng. Vị Bồ tát Đại thừa không muốn đi theo con đường đó mà muốn thoát ly, không còn kẹt vào tướng nữa. 

Bồ tát khởi niệm vì chúng sanh. 

Tu các khổ hạnh, có khổ tướng

Là còn tướng ngã, tướng chúng sanh 

Không phải Bát nhã hành tối thượng. 

Trong bài kệ 24 đã có câu Không hề phát khởi niệm chúng sinh, sang bài kệ 25 thì ta quán chiếu thêm vào một tướng nữa là tướng ngã. Tướng chúng sinh vượt rồi phải vượt luôn tướng ngã và tướng khổ hạnh, tướng khổ tướng. 

Bồ tát khởi niệm vị chúng sinh

Tu chư khổ hạnh hữu khổ tướng

Thị hữu ngã tướng chúng sinh tướng

Thử phi tối thượng Bát nhã hành.

Bài kệ này chỉ bày cho chúng ta phương pháp gọi là hành vô hành hành, tu vô tu tu, chứng vô chứng chứng.

Bài kệ thứ 26:

Biết rõ tự thân và chúng sinh 

Biết rõ các pháp cũng như thế 

Sinh diệt không hai, không phân biệt 

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

知自及諸眾生等  Tri tự cập chư chúng sinh đẳng 

乃至諸法亦復然  Nãi chí chư pháp diệc phục nhiên 

生滅無二無分別  Sinh diệt vô nhị vô phân biệt 

是行最上般若行  Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Tự tức là tự thân, cập là và, chư chúng sinh là các chúng sinh, đẳng tức là vân vân. 

Nãi chí là cho đến. Nãi chí chư pháp là cho đến các pháp. Diệc phục nhiên là cũng lại như vậy, diệc là cũng, phục là lại, nhiên là như vậy. 

Bài kệ này đề cập đến cái thấy vượt thoát khỏi những cặp đối lập. Ta áp dụng khi nhìn vào tự thân, chúng sinh và các pháp. Tự thân là một, chúng sinh là hai, các pháp là ba. Khi nhìn vào ba đối tượng này ta phải áp dụng cái thấy bất nhị (non duality), và thoát ra khỏi những cặp đối lập (pairs of opposite). Có những cặp đối lập làm cho ta không thấy được chân lý và bị kẹt vào những cặp đối lập đó, như cặp đối lập tự thân và chúng sinh. Ta nghĩ rằng tự thân là tự thân mà chúng sinh là chúng sinh, ta không ngờ rằng tự thân và chúng sinh tương tức, tương nhập với nhau. Nếu không có chúng sinh thì không có tự thân và nếu không có tự thân thì không có chúng sinh. 

Ta phải nhìn làm sao để vượt ra khỏi cái đối lập, cái lưỡng nguyên đó. Lưỡng nguyên tức là duality, dualism. Khi nhìn chúng sinh và tất cả các pháp ta cũng phải nhìn như vậy. Khi nhìn các pháp, thấy các pháp có sinh ra, ta cũng thấy các pháp có hoại diệt. Thấy sinh là đối lập với diệt thì ta bị kẹt vào trong tướng sinh – diệt. Kẹt vào trong tướng sinh – diệt rồi thì ta sợ hãi, buồn lo và tuyệt vọng. Phải nhìn theo phương pháp bất nhị, the non dualistic approach, thấy rằng trong cái sinh có cái diệt và trong cái diệt có cái sinh. Nếu không có sinh thì không có diệt và nếu không có diệt thì không có sinh. Khi nhìn vào bản thân, ta sẽ thấy rằng sinh diệt xảy ra trong từng giây phút và sinh diệt đó nương vào nhau mà có. Những tế bào trong cơ thể ta tàn hoại trong từng giây từng phút, đó là diệt, và nếu không có diệt thì những tế bào mới không được sinh ra, vì vậy cái diệt được làm bằng cái sinh, cái sinh được làm bằng cái diệt. Nếu không có diệt thì làm sao có sinh và ta không thể tiếp tục sự sống. 

Sự sống tiếp tục được là nhờ cái diệt trong mỗi phút giây, vì vậy trốn chạy cái diệt để đi theo cái sinh là một thái độ rất dại khờ. Ta không ngờ rằng chính nhờ diệt mà sinh có mặt và nhờ sinh nên mới có diệt. Nếu nhìn một cách sâu sắc thì ta vượt ra khỏi cả diệt và sinh, vượt ra khỏi cái nhìn lưỡng nguyên và ta vượt được cặp đối lập sinh – diệt. Thực tại tối hậu (the ultimate reality) vượt thoát sinh diệt. Khi quán chiếu sâu sắc, ta khám phá được bản tính không sinh không diệt rồi thì sự sợ hãi không còn nữa. 

Biết rõ tự thân và chúng sanh. Biết rõ các pháp cũng như thế. Sinh diệt không hai, không phân biệt. Birth and death are not two things. Không hai tức là bất nhị. Bất nhị không có nghĩa là nhất. Không hai là non-dual. Ta đừng tưởng không hai tức là một. Chữ không hai rất hay. Không hai giúp ta vượt thoát ý niệm một và hai. 

Sinh diệt là một cặp đối lập, một và hai là một cặp đối lập khác. Có và không là một cặp đối lập, tới và đi là một cặp đối lập khác. Những cặp đối lập đó trói buộc tâm trí của ta lại, làm cho ta không thấy được sự thật. Khi nhìn vào cha và con, ta thấy cha là cha, con là con mà không thấy rằng sở dĩ có cha là vì có con, sở dĩ có con là vì có cha. Thấy được tính không hai của cha và con thì mới thấy được thực tại. Cũng vậy, khi nhìn vào tự thân cũng như nhìn vào chúng sinh hay các pháp, ta phải thấy được tính không hai mới có tự do, mới không sợ hãi sinh diệt và hư vô. Hư vô là non-being, là một tướng; thường tại là being, cũng là một tướng. Cả hai tướng này đều phải vượt, bởi vì thực tại không bị kẹt vào ý niệm có (being) và không (non-being). Chỉ có cái nhìn sâu sắc mới khám phá được điều đó. Không phân biệt tức là không lấy lưỡi gươm của trí năng chặt ra làm hai. Con người là một thực tại. Thực tại là thực tại, thế mà ta dùng lưỡi gươm của phân biệt, kỳ thị chặt ra làm hai, một bên là có, một bên là không, một bên là sinh, một bên là diệt, một bên là một, một bên là khác. Đó là lưỡi gươm phân biệt – the sword of discrimination. Phân biệt, chữ Phạn là vikalpa, là một thứ tưởng tượng của trí óc. 

Sinh diệt không hai, không phân biệt 

Là hành Bát nhã hành tối thượng. 

Bài kệ thứ 27:

Bỏ hết danh từ và tên gọi 

Các pháp sinh diệt thế gian này 

Đạt trí cam lộ vô tỉ ấy 

Là hành Bát nhã hành tối thượng. 

乃至所說世界等  Nãi chí sở thuyết thế giới đẳng

名離一切生滅法  Danh ly nhất thiết sanh diệt pháp 

最上無比甘露智  Tối thượng vô tỉ cam lộ trí 

是故得名為般若  Thị cố đắc danh vi Bát nhã.

Nãi chí là cho đến. Sở thuyết là những điều được nói ra. Thế là thế giới, đẳng là vân vân. 

Danh ly: Danh tức là danh từ, tên gọi, ly là xa lìa. Nhất thiết sinh diệt pháp là tất cả các pháp sinh diệt. Nhất thiết là tất cả. 

Tối thượng vô tỉ cam lộ trí. Vô tỉ là không thể so sánh được, incomparable, không có cái gì so sánh được với nó. Dù là thuốc linh đơn cũng không thể so sánh được, vì thuốc linh đơn chỉ sống thêm vài trăm năm, còn cam lộ trí là vô sinh, bất diệt – deathless, birthless. Tối thượng là cao hơn hết. 

Thị cố đắc danh vi Bát nhã: vì vậy nên được gọi là Bát nhã. 

Chúng ta có những ý niệm được gọi bằng một danh từ và danh từ đó đi theo ý niệm. Ví dụ ý niệm về cha (bố hay ba) của chúng ta đi theo danh từ cha. Nhưng dù danh từ cha, bố, ba hay daddy cũng đều chỉ cho ý niệm đó. Người nào nhìn vào cha mà thấy ông nội, thấy mình, thấy con mình, thấy cháu mình, thì người đó bắt đầu thoát khỏi tướng cha. Khi thoát khỏi tướng cha mới thấy được cha rõ ràng. Cũng như khi nhìn vào bình trà mà thấy có đất sét, có lửa, có người thợ gốm thì lúc đó mới thấy được bình trà, còn trước kia chưa thấy rõ được bình trà mà chỉ mới thấy khơi khơi. A mà không phải là A. Khi nhìn vào cha mà thấy toàn những yếu tố không cha ở trong cha thì lúc đó mới bắt đầu thấy được cha. Thấy được thực tại cha rồi thì ta không bị danh từ cha bó buộc nữa, nên gọi là bỏ hết danh từ và tên gọi. Chúng ta có một mớ ý niệm trong tâm thức, chúng ta có một mớ danh từ, tên gọi cũng nằm trong tâm thức. Khi nói lên một danh từ thì tự nhiên danh từ đó làm nảy sinh ra một hình ảnh, thành ra danh từ và tên gọi đi theo cùng ý niệm. 

Bỏ hết danh từ và tên gọi. 

Các pháp sinh diệt thế gian này

Tất cả các pháp sinh diệt trên thế gian này đều đi theo những danh từ và tên gọi. Khi không bị những ý niệm cũng như những danh từ đó khống chế, đàn áp, đánh lừa thì ta mới đạt tới tự do. 

Ví dụ, ta có một ý niệm về thời gian và có danh từ thời gian đi theo ý niệm đó. Thực tập quán chiếu vào ý niệm thời gian để thấy rằng thời gian là một cái gì do ta tưởng tượng ra, bản thân của thời gian rất khác với cái ta tưởng tượng, thời gian được chia ra làm thế kỷ, năm, tháng, tuần lễ, ngày, giờ, phút, giây. Ban đầu ta có ý niệm về thời gian rất ngây thơ, ta cho thời gian là một cái gì độc lập, một cái khung trong đó có những hiện tượng xảy ra, cũng giống như không gian là một cái khung trong đó có những sự kiện xảy ra. Khi nghiên cứu, nhìn sâu vào ta thấy thời gian được không gian và vật thể làm ra. Thời gian không phải là một thực tại độc lập, mà là một biểu hiện của thực tại, chính nhờ không gian và vật thể mà thời gian có thể biểu hiện. Khi nhìn vào thời gian như vậy, ta vượt thoát ý niệm về thời gian và vượt thoát luôn danh từ thời gian mà ta có. 

Tri giác của ta rất nông cạn và thường sai lầm. Nhìn cho sâu sắc vào thời gian ta thấy đất, thấy nước, thấy lửa, thấy gió, thấy tâm thức và thấy không gian. Thoát khỏi những ý niệm, những danh từ rồi thì ta có tự do thênh thang, không còn sợ hãi hay vướng mắc nữa. Yếu tố giúp cho ta thoát khỏi sự sợ hãi, vướng mắc đó là trí cam lộ, amṛta prajñā, là sự hiểu biết. Cam lộ là một thứ nước có thể đem lại cho ta sự bất tử (amṛta là bất tử, ambrosia là đưa lại sự bất tử), làm tiêu tan hết tất cả những phiền não, lo lắng, sợ hãi, những hận thù trong ta. 

Chúng ta thường hoảng sợ, lo lắng, tuyệt vọng, sầu thương, đau khổ da diết là vì mang những tâm trạng sợ hãi, vướng mắc,… Nhưng khi có một giọt nước cam lộ trí đi vào thì ta được tưới mát, làm tiêu tan hết tất cả những sầu đau. Ta phải tự bào chế nước cam lộ trí cho mình bằng cách quán chiếu, nhìn sâu vào lòng thực tại, để giọt nước cam lộ được biểu hiện, tẩy sạch tất cả những phiền muộn khổ đau và nhất là sự sợ hãi như sợ hãi hư vô.

Chúng ta thường nghĩ rằng trước khi cha mẹ sinh ra ta thì ta chưa có, rồi khi cha mẹ sinh ra ta thì có ta, chừng bảy, tám chục năm sau ta chết và bắt đầu không có trở lại. Ta kẹt vào ý niệm có và không, cho nên khi nhìn vào sự sống, vào tương lai ta sợ hãi vô cùng. Sự sợ hãi hư vô phát sinh từ khái niệm có và không. Chúng ta đặt ra một cái khung không rồi tự giam hãm mình vào bên trong để sợ hãi, trong khi đó thực tại của ta là không có cũng không không, vượt thoát có – không. 

Thử tưởng tượng ta là một đợt sóng đang vươn lên trên mặt biển. Nhìn qua đợt sóng khi nó vươn lên thì thấy như có và khi rơi xuống tan ra, nó bắt đầu không. Có và không là nhìn về tướng. Đợt sóng khi nghĩ tới thân phận của nó là thân phận bèo bọt, trôi nổi và ngắn ngủi thì rất buồn đau, sợ hãi. Đợt sóng đó tự giam hãm vào trong ý niệm sinh ra và chết đi, ý niệm có và không. Nhưng nếu đợt sóng biết phản quan, trở về và nhìn lại tự thân thì nó có cơ hội tiếp xúc với sự thật: Nó là đợt sóng nhưng đồng thời cũng là nước. Khi đợt sóng biết nó là nước thì ý niệm có và không, sinh và diệt không còn đụng chạm tới nó được nữa. Đợt sóng đi lên cũng vui mà đi xuống cũng vui, không sợ hãi điều gì. Đợt sóng cưỡi trên sinh tử mà đi và thấy đợt sóng bên cạnh cũng là mình. Khi tiếp xúc được với thực tại bất sinh bất diệt của mình thì đợt sóng vượt thoát tất cả những sợ hãi, khổ đau. Đợt sóng trong khi tiếp xúc được với bản chất là đã đạt tới cái thấy giải thoát cho mình, gọi là cam lộ trí. 

Ngày xưa có nhiều người tu tiên để được sống hoài, sống lâu chừng nào tốt chừng đó. Các nhà tu tiên, tu theo đạo Lão bào chế thuốc trường sinh bất tử, uống một viên có thể sống thêm vài trăm năm. Người ta thường vẽ hình của Lão Tử, Thái Thượng Lão Quân ngồi bên chiếc lò luyện đơn, tinh luyện thuốc trường sinh bất tử. Nếu người nào may mắn uống được một viên linh đơn đó thì có thể kéo dài sinh mạng thêm được chừng một, hai trăm năm. Đó là đường lối tu tiên. Đường lối tu Phật thì khác, không cần thuốc, chỉ cần quán chiếu và chạm tới được tính vô sinh bất diệt của mình thì giọt nước cam lộ của trí tuệ ứa ra. Khi giọt nước cam lộ ứa ra rồi thì tất cả những phiền não, khổ đau và sợ hãi đều tan sạch. 

Trong chữ Hán, chữ cam (甘) có nghĩa là ngọt, chữ lộ (露) nghĩa là sương. Cam lộ là giọt sương ngọt, tiếng Phạn là amṛta, tiếng Pali là amata.

Bài kệ thứ 28:

Bồ tát hành sở hành như thế 

Biết rõ phương tiện, không mong gì 

Bản tánh pháp này biết không thật 

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

菩薩如是所行行  Bồ tát như thị sở hành hành

了知方便無所求  Liễu tri phương tiện vô sở cầu

知此法本性非實  Tri thử pháp bản tánh phi thật

是行最上般若行  Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Bồ tát như thị sở hành hành. Sở hành hành tức là practice the object of practice. Trong sở hành hành thì chữ hành cuối có nghĩa là thực tập (practice), sở hành là đối tượng của hành (object of your practice). Như thị là như vậy. Bồ tát thực tập sự thực tập của mình như thế đó. Vị Bồ tát hành sở hành theo đường lối đó – The Bodhisattva practices his practice in that way

Biết rõ phương tiện không mong gì. Phương tiện là một dụng cụ, tiếng Phạn là Upāya. Phương tiện thường được dùng theo nghĩa những dụng cụ, không phải là cứu cánh. Giáo lý về Bát nhã, pháp môn đó hay sở hành đều phải được coi là phương tiện. Cũng như những giáo lý về vô thường, khổ, không, tương tức, duyên sinh đã được Bụt hiến tặng cho ta là những phương tiện. Ta đừng để bị kẹt vào, vì kẹt vào chúng là bị kẹt vào tướng. 

Ta phải khôn khéo mới sử dụng được những phương tiện, nếu không ta sẽ bị kẹt vào đó. Chẳng hạn như khi đưa một ngón tay chỉ cho người bạn nhìn mặt trăng tròn vừa mới nhô lên khỏi núi là ta muốn bạn nương vào ngón tay để thấy. Ngón tay là phương tiện, mục đích là để cho bạn thấy được vầng trăng mầu nhiệm trên bầu trời. Nhưng khi vừa đưa ngón tay ra, nếu người bạn nắm lấy ngón tay và kẹt vào đó, thì làm sao có hy vọng thấy được mặt trăng. 

Cũng vậy, những giáo pháp của đức Thế Tôn hiến tặng cho chúng ta đều là những phương tiện. Khi những phương tiện đó được đưa ra, ta liền nắm chặt lấy, vì vậy không đạt tới trí tuệ giải thoát mà chỉ vướng mắc vào giáo lý. Đó là thái độ của những hành giả đang bị kẹt vào hình tướng thực tập và có thể trở nên cố chấp. Ngón tay là phương tiện, nhưng đừng nghĩ phương tiện là cứu cánh. Tất cả những giáo lý như vô thường, khổ, vô ngã, tương tức và Bát nhã Ba la mật đều là những phương tiện. Cũng như chiếc bè để đưa ta sang sông chứ không phải để đội lên đầu mà đi bên bờ sông. Làm như vậy là ta không thông minh, chẳng có ích lợi gì. 

Liễu tri phương tiện. Liễu tri là biết rõ. Phải thấy rằng đây là phương tiện khéo léo, thường gọi là quyền xảo, upāyakauśalya. Quyền có nghĩa là tạm; xảo có nghĩa là khéo léo, như trong chữ thiện xảo. Upāya là phương tiện, kauśalya là thiện xảo. Khi đưa ra pháp gọi là Bát nhã hành, người thực tập thông minh phải biết rằng đây là một pháp phương tiện, đừng bám víu, đừng coi là đối tượng của sự thờ phụng và bị kẹt vào nó. Vô sở cầu là không đi tìm một cái gì ở ngoài mình, không có đối tượng của sự tìm kiếm. Cầu tức là tìm kiếm. Ta không nghĩ rằng mình đang đi tìm kiếm một cái gì dù đó là trí cam lộ, cũng như đợt sóng không đi tìm cầu cái bất sinh bất diệt ở ngoài nó. Khi trở về tự thân thì nó biết nó là nước. Sóng có lên có xuống, có sinh có diệt, nhưng nước không lên không xuống, không sinh không diệt. Trí tuệ ấy không phải được tìm thấy từ những đợt sóng khác hay từ trên trời dưới biển mà có sẵn trong con sóng đó. Chỉ cần giác ngộ bản chất không sinh không diệt thì ta chấm dứt được sự tìm cầu, gọi là không tìm cầu. Đó là giáo lý vô đắc, no attainment. Giáo lý vô đắc là một giáo lý rất đặc biệt của Bát nhã. 

Bản tánh pháp này biết không thật, là hành Bát nhã hành tối thượng. Đây là phương tiện nên đừng chấp vào nó như một cái gì có thật. Trong kinh Bách dụ có câu chuyện về một anh chàng mắc bệnh nan y. Ông thầy thuốc nói rằng bệnh của anh chỉ cần chim trĩ sẽ lành. Anh hỏi chim trĩ là gì? Vì bận việc phải đi gấp nên ông thầy thuốc vẽ một con chim trĩ trên giấy đưa cho anh. Anh này đem hình con chim trĩ ra ngắm, ngày nào cũng ngắm nhưng không thấy lành bệnh, anh bèn cắt con chim trĩ bằng giấy cho vào miệng nhai, nhưng cũng không lành bệnh. Hình ảnh con chim trĩ đó là một phương tiện, phải nương vào phương tiện để đi tìm con chim trĩ thật thì bệnh mới lành. Anh chàng đó lặp lại danh từ chim trĩ, đem hình chim trĩ ra ngắm và cuối cùng lấy kéo cắt hình chim trĩ nhai và nuốt mà cũng không lành bệnh, vì anh ta đã kẹt vào phương tiện. Chúng ta cũng vậy, tu hành cũng gần như vậy, người Phật tử, người Cơ đốc cũng vậy, kẹt vào những lời dạy nên không đạt tới được tự do và hạnh phúc. 

Bản tánh pháp này biết không thật. Đó là phương tiện thôi, đừng tưởng hình ảnh chim trĩ vẽ trên giấy là con chim trĩ thật. Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Tri thử pháp bản tánh phi thật 

Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Tri thử pháp là biết pháp này. Bản tánh tức là tính cách tự thân – true nature. Phi thật là không phải là thật.

Bài kệ thứ 29: 

Nếu không trú sắc, không trú thọ 

Cũng không trú tưởng, hành và thức 

Mà chỉ an trú nơi chánh pháp 

Là hành Bát nhã hành tối thượng. 

若不住色亦無受  Nhược bất trú sắc diệc vô thọ

亦不住想亦無行  Diệc bất trú tưởng diệc vô hành

復不住識住正法  Phục bất trú thức trú chánh pháp

是名最上般若行  Thị danh tối thượng Bát nhã hành.

Có năm sự tập hợp là sắc, thọ, tưởng, hành và thức. Đừng dựa vào năm cái đó vì như vậy sẽ rất nguy hiểm. Ta chỉ nên dựa trên một cái thôi, đó là chánh pháp, dựa vào chánh pháp là chắc chắn nhất. Bất ưng trú sắc sinh tâm (不應住色生心), đó là câu trong kinh Kim cương. Bất ưng là không nên, không nên dựa vào sắc để phát khởi tâm vì sắc là một trong năm tập hợp, dịch là aggregate – uẩn. Có năm sự tập hợp hữu vi có thể tàn hoại – pháp hữu vi – hữu vi pháp dịch là conditioned things hay phenomena. Những gì do những yếu tố khác tập hợp lại thì gọi là một pháp, một hành – formation. Bông hoa là một pháp hữu vi, chiếc lá là một pháp hữu vi vì chúng do những yếu tố khác tập hợp lại. Ví dụ như mặt trời, đám mây, hạt cây tập hợp lại, gọi là một hành và nếu là một hành (một sự tập hợp) thì có ngày chúng sẽ tan rã. Có tập hợp thì có tan rã, vì vậy những pháp hữu vi trong đó có sắc, thọ, tưởng, hành và thức vẫn là năm tập hợp – formations, dịch là aggregates hoặc heaps, nghĩa là dồn lại thành một khối. Sắc là thân – body. Đó là sự tập hợp thứ nhất. 

Kinh Bát nhã dạy chúng ta đừng dại dột nương tựa vào sắc vì sắc là một hợp thể hữu vi không vững chắc, có thể trở thành một cơn lốc. Nếu dựa vào sắc thì ta sẽ bị cuốn theo, chúng ta đừng đồng nhất ta với sắc. Phần lớn mọi người đều nghĩ rằng mình là thân này: This body is me, I’m this body. Đó gọi là thân kiến, một kiến chấp nặng: Thân này là tôi; Tôi là thân này. Người tu phải tập quán chiếu để thấy rằng mình không phải là thân này, vì nếu là thân này thì ta là nạn nhân của sinh và diệt. Thân này có sinh và diệt, có lên và xuống, thân này có khi yên tĩnh nhưng cũng có khi trở thành một cơn lốc, vì vậy ta đồng ý đồng nhất với thân thì rất nguy hiểm. Đừng dựa vào thân và cho rằng thân này là của mình vì thân là một hợp thể hữu vi, là vô thường, vô ngã, tất sẽ biến hoại. Nếu không muốn là nạn nhân của sự sợ hãi, lo âu thì ta phải tập nhìn, tập thấy rằng ta không phải là thân này. I’m not this body, this body is not me, thân này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào thân này. Phải quán chiếu như thế nào để thấy được như vậy, nếu không ta sẽ đau khổ cực kỳ khi nghĩ rằng một ngày mai ta sẽ trở thành hư vô. 

Chúng ta đã quán chiếu với nhau về lá sen. Lá sen quán chiếu như thế nào? Nó quán chiếu rằng lá sen này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào trong lá sen này. Đây là mực nước hồ, đây là một lá sen, xa hơn nữa có một bông sen và gần hơn nữa có một búp sen nhỏ rồi một lá sen nhỏ. Bên dưới hồ có những củ và rễ sen. Lá sen này nhìn vào tự thân, nó đang mơn mởn, đang vươn lên đón ánh sáng mặt trời, nó rất vui, nó hát ca nhưng đồng thời nó quán chiếu và thấy rằng nó dính líu tới củ sen. Mỗi ngày nó sống và nuôi lớn củ sen, đồng thời nuôi lớn những bông hoa và lá sen khác. Nó thấy được sự liên hệ tương sinh, thấy nó trong củ, trong hoa, trong lá, trong tơ sen và thấy nó có trong chất bùn để nuôi nấng củ sen. Suốt ba tháng trời sống đời sống của lá sen, nó biết rằng nó đang nuôi củ sen, nuôi rễ sen, nuôi những bông sen và thấy rằng nó không chỉ là lá mà còn là hoa, là củ sen… Nó lớn hơn những cái đó nhiều. Khi thấy được như vậy, nó không còn bị kẹt vào trong lá sen này nữa. Thấy được vậy rồi nên nó rất yên tâm, mùa đông tới nó bắt đầu vàng úa, gục xuống nhưng nó không trở thành hư vô, vì biết rằng nó rộng lớn hơn chiếc lá sen nhiều. Nó vừa ở trong này nhưng nó cũng ở khắp nơi. Nó không buồn khi chiếc lá úa tàn, gục xuống, rồi trong ba tháng mùa đông sẽ tan rữa ra, thành chất bổ dưỡng và tiếp tục nuôi những củ sen này lại. Không có gì phải lo lắng buồn khổ vì nó vượt thoát được ý niệm về ngã, ý niệm lá sen này là tôi, tôi chỉ là cái lá sen này. Chỉ có sự quán chiếu mới cho ta thoát ra khỏi cái thấy như vậy. 

Lá sen là một đợt sóng, đợt sóng nhờ trí cam lộ vô tỷ nên vượt thoát khỏi thân phận của một đợt sóng. Chiếc lá sen cũng vậy, nhờ sự quán chiếu mà thoát ra khỏi thân phận của một lá sen. Nó không đồng nhất nó với lá sen, nó thấy sự sống thênh thang và tự tánh của nó là không sinh không diệt. Sinh diệt chẳng qua là hình tướng bên ngoài, không động được tới nó. 

Khi nhìn vào thân, ta phải nhìn bằng con mắt của trí tuệ. Đầu tiên phải thấy thân này là vô thường, vô ngã và tương tức. Phải nhìn bằng con mắt bất nhị, không phải cái này, không phải cái kia, không phải một, không phải hai, không phải có, không phải không, đó là nội dung của trí cam lộ. Có những người chết rất bình thản, họ mỉm cười và qua đời vì họ có tuệ giác đó. Họ thấy được dòng sống và nhìn thân thể của họ tàn hoại với một tâm trạng hết sức an ổn, không lo sợ sầu não vì họ không đồng nhất họ với thân thể đó.

Chúng ta hãy tưởng tượng, ngày xưa, chúng ta là gì trong cha trong mẹ của chúng ta. Một lúc nào đó ta trở thành một phôi thai nhỏ xíu nằm trong bụng mẹ, lớn lên từ từ rồi được sinh ra, khóc oe oe, rồi bú sữa, rồi chơi, rồi lật… Ta là cái thân bây giờ đây hay ta là cái thân hồi đó. Ta nhận ra ta hồi đó không, hồi đó ta rất khác bây giờ. Nếu nói ta là một với chú bé, cô bé ngày xưa thì không đúng, nói ta khác với chú bé, cô bé đó cũng không đúng. Một cũng không đúng, khác cũng không đúng. Không có ý niệm nào đúng hết. Tất cả các ý niệm đều phải được tiêu diệt hết thì mới tiếp xúc được với thực tại. Đó chính là Niết bàn. Niết bàn nghĩa là sự dập tắt tất cả các ý niệm, dập tắt ý niệm rồi thì thực tại mới hiển lộ. Cái thân của ta biến hoại, biến chuyển, vô thường, vô ngã, và nếu ta đồng nhất với cái đó thì ta khổ vì không có tuệ giác cam lộ trí. 

Người tu phải ngày đêm quán chiếu. Trong khi rửa bát, nấu cơm, gánh nước, quét nhà… ta phải quán chiếu để cho trí tuệ phát sinh, nếu không thì uổng cho đời tu của mình. Mục đích của chúng ta đâu phải để làm chùa cho lớn mạnh hay để đạt tới một danh tiếng, một địa vị nào đó trong xã hội. Mục đích của chúng ta là đạt tới tự do, đạt tới sự không sợ hãi, đạt tới nụ cười. Chỉ khi nào có sự vững chãi, thảnh thơi, hạnh phúc thì ta mới có thể chia sẻ và giúp đỡ được cho những người khác. Vì vậy quán chiếu trong đời sống hàng ngày rất quan trọng. Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi phải dùng thì giờ đó thực tập nhìn sâu, quán chiếu để vượt thoát những ý niệm, trước hết là ý niệm thân này là tôi, tôi là thân này. Ý niệm này nguy hiểm vì nó làm cho ta đau khổ da diết, sợ hãi không có bến bờ. Phải thực tập để thấy ta ở khắp nơi trong sự sống. 

Có lần thầy nằm mơ thấy mình đi qua cửa của một động đá, đến khi trở ra thì thấy cửa động bị lấp lại, không thể ra được nữa. Có thể quý vị đã từng có những giấc mơ như vậy, thấy mình bị kẹt vào trong một tình huống nào đó không ra được. Ta đang đi trong núi rồi qua một động đá và đi vào một thế giới khác, khi quay trở lại thì cửa động đã bít lấp và ta thấy rằng mình không bao giờ trở lại không gian trước đây được nữa. Giấc mơ đó đem lại những cảm giác rất khó chịu, buồn đau, sợ hãi. Giấc mơ đó chứng tỏ mình chưa chứng đạt, chưa vượt thoát ý niệm thân này là tôi và giấc mơ đó là một tiếng chuông cảnh cáo rằng sự tu hành của mình chưa thành đạt. Trong tâm ý của anh vẫn có sự phân biệt ngoài kia là không gian khác, những gì thuộc về anh bây giờ chỉ nằm trong này thôi, anh không có mặt bên kia, anh chỉ có mặt bên này. Hãy thử quán chiếu ta tới tuổi ba mươi, khi nhìn lại thì than ôi, tuổi trẻ của ta không còn nữa, bây giờ ta chỉ từ tuổi ba mươi trở lên, điều đó cũng giống như ta đi tới một cánh cửa và bị chặn đứng lại. Than ôi, tuổi trẻ đã qua, bây giờ mình chỉ còn tuổi này và tuổi già thôi. Như vậy có phải cùng một giấc mơ hay không? Mình nghĩ quá khứ không còn nữa, bây giờ chỉ còn hiện tại và tương lai, mình không biết hiện tại và tương lai này sẽ như thế nào. Như có một cánh cửa đóng chặt sau lưng, mình không thể trở lại thời gian còn là một đứa bé năm tuổi, mười tuổi, cảm tưởng đó ai mà không có. Như vậy tức là mình cũng có cùng một giấc mơ. Một bên là không gian, một bên là thời gian thì có khác gì đâu! Vậy có gì để cứu mình được?

Có người nào với sức mạnh của một thiên thần tới ôm tảng đá lớn đó đưa lên trên núi để ta có thể trở lại không gian trước đây hay không, ta có hy vọng điều đó không? Hay có vị thiên thần nào tới nói rằng anh đã ba mươi, bốn mươi tuổi rồi, anh không thể nào trở lại được cái tuổi mười, mười lăm, hai mươi nữa. Bây giờ tôi sẽ dùng thần thông của tôi cho phép anh trở thành một em bé. Ta có trông mong những phép lạ như vậy không? Chúng ta thường hay mơ tưởng như vậy. 

Trong nhạc Phạm Duy, ta cũng thấy những cái buồn thương, tiếc nuối theo kiểu đó. Trong bài hát Kỷ niệm, Phạm Duy nhớ lại quãng đời thơ ấu, ở trong nhà có một cây đèn dầu, bố đang đọc báo, mẹ đang may vá và gia đình rất ấm cúng, thầy giáo rất thương và mình có những cô bạn gái xinh xinh trong lớp. Bây giờ nghĩ lại thèm cái thời gian đó quá. Đó là suy tư của nhạc sĩ. Trong bài hát đó có câu Cho đi lại từ đầu, chưa đi vội về sau. Câu hát đó viết cách đây ba chục năm và năm 1995, Phạm Duy có làm những bài nói về nắng chiều chạng vạng, tức là mình đang sống những năm cuối của cuộc đời, có những câu như Nắng chiều hồng tươi hơn nắng trưa hay Nắng còn nắng lê thê thì đêm ơi vội gì, nắng còn nắng bao la thì xin đêm đợi chờ (lời bài hát Nắng chiều rực rỡ). Biết rằng ta chỉ còn hưởng được nắng chiều thôi và ta năn nỉ đêm đợi chờ mình, vì đêm tức là cái chết. 

Chúng ta có đang bị cánh cửa đó đóng sau lưng không? Đứng về phương diện không gian và thời gian, ta đang bị dồn vào thế bí, không gian và thời gian đóng cửa lại, giới hạn cái ngã của ta cho đến khi cái ngã của ta không còn nữa. Đó là cảm tưởng chung của bao nhiêu người. Hồi sư chú Pháp Cảnh 20 tuổi, có một hôm ngồi uống trà, thầy hỏi: “Con có muốn thầy biến thành một sư chú 20 tuổi không, thầy có thể làm được”. Không biết sư chú có hiểu ý thầy không nhưng thầy nói sự thật, vì thầy không bị cột vào tuổi già của thầy, thầy không đồng nhất thầy với thân này. Thầy thấy sư chú là thầy, thầy từng là một sư chú 16 tuổi, thầy từng là một sư chú 20 tuổi và thầy không tiếc nuối vì thầy đang có mặt nơi các sư chú, sư cô. Có sư cô mới 16 tuổi, có sư chú mới 17 tuổi, vì thầy không bị kẹt vào thân này nên thầy mới có thể có cái thấy như vậy và nếu thầy thấy như vậy rồi thì tại sao thầy phải lo sợ, buồn đau, hoảng hốt nữa. 

Ta không bị kẹt vào ý niệm thân này là ta. Cũng như lá sen không bị kẹt vào ý niệm mình là lá sen này, nó biết mình là sự sống thênh thang. Đó là giọt nước cam lộ, ứa ra từ công phu quán chiếu, không cần một vị thần có sức mạnh lớn lao xuống nâng hòn đá kia liệng ra ngoài hay hóa phép biến mình thành một chú bé mười hai tuổi, một cô bé mười sáu tuổi. Không cần những phép lạ, không cần thuốc trường sinh, chỉ cần trí cam lộ, đó là quán chiếu, quán chiếu để thấy mình không bị kẹt vào cái thân này. Nếu quý vị tới với đạo Bụt mà không thực tập những điều này thì uổng lắm. Khổ đau lớn nhất của con người là sự sợ hãi và cảm tưởng bị dồn ép vào thế phải đối đầu với có và không, vì vậy không thực tập phương pháp quán Bát nhã này thì rất uổng.

Mình tới để được vỗ về, xoa dịu những đau khổ nhưng nếu chỉ tới với mục đích như vậy thì hơi uổng phí vì tinh hoa của đạo Bụt là cam lộ trí, nước cam lộ đó chỉ có khi mình biết quán chiếu. Trong hợp thể của ngũ uẩn gọi là hợp thể hữu vi, ta không thấy được bản chất của nó nên bị kẹt vào nó. Vì vậy năm uẩn được gọi là năm thủ uẩn – Upādānaskandha. Thủ là bị dính, bị kẹt vào. Nếu nghĩ rằng thân này là anh và khi nào thân này tàn hoại là anh tàn hoại, đó là anh bị dính vào sắc, vào uẩn thứ nhất, gọi là sắc thủ uẩn. Đừng để vướng vào sắc uẩn mà phải quán chiếu vì trong sắc uẩn có những hiểm nguy, những tai nạn rất lớn, nếu dính vào anh sẽ đau khổ. 

Đức Thế Tôn nói: “Này các thầy, ngày xưa tôi đã đi tìm vị ngọt ở trong sắc, ngày xưa tôi đã đi tìm sắc vị”. Sắc vị tức là chất ngọt của thân thể. Đức Thế Tôn hồi còn trẻ cũng đã sống, đã vướng mắc, đã đau khổ. “Này các thầy, cơ thể thì vô thường, vô ngã, cơ thể tàn hoại, vì vậy tôi đã từng đi tìm chất ngọt của cơ thể, tôi cũng đã chứng thực được những tai họa của cơ thể (sắc họa). Và sau đó, này các thầy, tôi đã thoát ly được cơ thể (sắc ly), nghĩa là tôi đã đạt tới giai đoạn mà tôi không còn đồng nhất hóa tôi với cơ thể nữa, vì vậy cho nên cơ thể không còn làm tôi điêu đứng, khổ đau và sợ hãi. Cơ thể có chất ngọt, cơ thể có những tai họa nhưng cơ thể có thể đem tới tự do.”

Khi mình vướng vào thì nó là thủ uẩn và khi mình tự do, mình tách rời ra được, mình không đồng nhất với nó thì nó không còn là thủ uẩn nữa, mình tạm gọi nó bằng một danh từ là xả uẩn, tiếng Anh tạm dịch là neutral (Upādāna-skandha). Chữ xả nghĩa là không dính vào, cũng có nghĩa là không chán ghét, tức là mình đứng ở thế trung lập. Chữ xả uẩn là thầy đặt ra. 

Giải thoát không phải là điều vướng mắc nhưng cũng không phải là chuyện ghét bỏ và trốn chạy. Khi nhìn sâu vào ta thấy nó không phải là đối tượng ham muốn của mình nhưng ta có thể thấy rằng nó là mầu nhiệm. Trong bài hát “Mắt là đại dương sâu, có những đợt sóng ngầm, có những loài thủy quái, có những trận cuồng phong,…” ta thấy rằng trong mắt, mũi, tai, lưỡi, thân và ý đều có những tai họa đó. Chính đức Thế Tôn đã diễn tả sáu căn của mình như vậy. Đức Thế Tôn diễn tả sáu căn giống như một thi sĩ. Ngài nói mắt là đại dương sâu, có những đợt sóng ngầm ở dưới đó, có những loài thủy quái, có những trận cuồng phong. Tức là trong mắt có những tai họa và mình phải tỉnh táo, nếu không mình sẽ bị đắm chìm bởi những tai họa đó. Khi sư cô Chân Không viết bài này thành tiếng Pháp, sư cô thêm vào ý rất đúng, rằng mắt là một đại dương sâu có chứa đựng những mầu nhiệm nhưng cũng chứa đựng những hiểm nguy, tức là vừa đầy những mầu nhiệm mà cũng vừa đầy những hiểm nguy. Rất đúng! Uẩn là vậy. Nếu giải thoát thì ta thấy trong đó có rất nhiều mầu nhiệm và đồng thời cũng thấy trong đó có nhiều hiểm nguy. Vì vậy thái độ của mình là xả, là không vướng mắc mà cũng không ruồng bỏ, gọi là xả uẩn. 

Đây là sắc, đây là thái độ của mình đối với sắc. Cơ thể của mình cũng vậy mà cơ thể của người kia cũng vậy. Phải nhìn cho sâu và phải thấy cho được trong sắc có vị ngọt nhưng trong sắc cũng có những tai họa rất lớn, và nếu mình để cho sắc nắm lấy, trấn ngự thì mình sẽ đi theo cái tai họa đó không biết bao giờ mới giải thoát được. Trong một kinh khác, đức Thế Tôn nói mình bị sắc ăn. Kỳ thực chúng ta người nào cũng đang bị sắc ăn, làm cho ta điên đảo. Ta tưởng mình đang ăn sắc ai ngờ sắc đang ăn mình. Ta tưởng mình đang ăn ice-cream, không ngờ rằng ice-cream đang ăn mình. Đức Thế Tôn nói như vậy: “Này các thầy, các thầy có biết rằng các thầy có thể đang bị sắc ăn không?”. Đó là hợp thể thứ nhất. 

Hợp thể thứ hai là thọ – feeling. Chúng ta đã và có thể đang đi tìm vị ngọt của thọ. Đức Thế Tôn cũng nói như vậy: “Ngày xưa lúc còn trẻ tôi cũng đã đi tìm vị ngọt của thọ. Và các thầy có thể đang bị thọ ăn mà các thầy không biết”. Thọ (cảm thọ) là tập hợp thứ hai, uẩn thứ hai, luôn luôn được phát sinh, trưởng thành và tiêu diệt. Trong ta có một dòng sông cảm thọ luôn luôn trôi chảy. Chúng ta có thể đã và đang đi tìm vị ngọt của thọ nhưng chúng ta nên nghe lời đức Thế Tôn, thọ có những tai nạn của nó, ta phải thấy thọ là một cơn lốc và ta có thể lên xuống điêu đứng với thọ, vì vậy đừng đồng nhất ta với thọ. Thọ này không phải là ta, ta không bị kẹt vào trong thọ ấy. Mỗi khi có một cảm thọ thì phải nhìn sâu vào trong cảm thọ đó để thấy như vậy. Một mặt là không bị kẹt vào trong thọ, một mặt là không sợ hãi và trốn chạy cảm thọ. 

Đừng làm cho thọ trở thành một thủ uẩn! Ta phải có thái độ tự do đối với thọ và phải làm cho thọ trở thành một xả uẩn. Thân này không phải là tôi, tôi không kẹt vào nơi thân ấy. Thọ này không phải là tôi, tôi không bị kẹt vào nơi thọ ấy. Cuộc đời của ta không phải để đi tìm kiếm những chất ngọt của thọ mà phải vượt thoát nếu ta muốn có an lạc và tự do đích thực. 

Chúng ta chỉ nên nói tới sắc và thọ vì nếu nói hết cả năm uẩn thì chúng ta sẽ đi xa, sẽ không bao giờ học xong kinh này.

Nếu không trú sắc, không trú thọ 

Cũng không trú tưởng, hành và thức 

Mà chỉ an trú nơi chánh pháp 

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Đức Thế Tôn nói rằng các thầy nên trở về nương tựa hải đảo tự thân. Hải đảo tự thân không phải là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Hải đảo tự thân là chánh niệm và chánh pháp. Hãy nương tựa nơi pháp, đừng nương tựa vào bất cứ một cái gì khác, tức là đừng nương tựa vào năm uẩn. Đây là một sự rèn luyện thực tập. Chúng ta biết rằng pháp là mầu nhiệm, pháp đưa tới trí tuệ giác ngộ (trí cam lộ). Nương vào pháp thì ta sẽ có sự vững vàng. Đừng nương vào một trong năm uẩn hay là cả năm uẩn. Sự thật là khi nương vào pháp thì ta không đau khổ, còn nương vào sắc, thọ, tưởng, hành và thức thì ta đau khổ. Mỗi lần nương vào pháp thì ta có sự vững chãi, có đức tin, tháo gỡ được cho mình những bế tắc. Còn mỗi khi nương vào năm uẩn, ta có thể bị cuốn theo, nên kinh Kim cương nói rằng Bất ưng trú sắc (không nên vướng mắc vào sắc).

Nhược bất trú sắc diệc vô thọ

Diệc bất trú tưởng diệc vô hành

Phục bất trú thức trú chánh pháp

Thị danh tối thượng Bát nhã hành.

Nhược bất trú sắc diệc vô thọ: Nếu không vướng vào sắc, cũng không vướng vào thọ. 

Diệc là cũng, diệc bất trú tưởng là cũng không vướng vào tưởng, trú này có nghĩa là dựa vào. Diệc vô hành nghĩa là cũng không vướng vào hành. 

Phục bất trú thức trú chánh pháp: Lại cũng không dựa vào thức mà chỉ trú vào chánh pháp, tức là dựa vào chánh pháp thôi. 

Thị danh tối thượng Bát nhã hành: Cái này gọi là tối thượng Bát nhã hành, tức là hành Bát nhã, hình thức tu tập Bát nhã cao nhất. 

Bài kệ thứ 30: 

Thường và vô thường, khổ và lạc 

Ngã và vô ngã đều là không 

Không trú hữu vi, không vô vi 

Trú vô tướng hành như Bụt vậy.

常與無常苦樂等  Thường dữ vô thường khổ lạc đẳng 

我及無我悉皆空  Ngã cập vô ngã tất giai không

不住有為及無為  Bất trú hữu vi cập vô vi

住無相行佛亦然  Trú vô tướng hành Phật diệc nhiên.

Có nhiều người bị kẹt vào ý niệm vô thường. Bụt dạy tất cả là vô thường, nhưng vô thường là một phương tiện và ta có thể bị kẹt vào phương tiện đó. Ta có thể thoát ra khỏi ý niệm thường nhưng lại kẹt vào ý niệm vô thường, như vậy là vẫn còn kẹt vào ý niệm thường bằng cách này hay cách khác, vì thường – vô thường là một cặp, có cái này mới có cái kia. Tuy Bụt dạy vô thường nhưng ta phải sử dụng cái vô thường đó một cách khéo léo để đạt đạo chứ đừng bị kẹt vào trong giáo lý vô thường. Vô thường không phải một ý thức hệ, vô thường là chìa khóa để mở cửa thực tại. Nhưng chìa khóa không phải là thực tại, chìa khóa để mở cửa vào nhà chứ đâu phải chìa khóa là cái nhà. Khi mở cửa rồi thì bỏ chìa khóa vô túi để vào nhà. Vô thường chỉ là một cái chìa khóa, anh đừng bị kẹt vào chìa khóa. Kẹt vào chìa khóa thì anh không thể vào nhà được. 

Cũng như khi bị kẹt vào ngón tay thì anh không bao giờ thấy được mặt trăng. Trong Tứ diệu đế, Bụt dạy sự thật đầu tiên là khổ. Nghe Bụt nói như vậy thì ta cũng lặp đi lặp lại “Đời là khổ, khổ là đời, đời là khổ, cái này là khổ, cái kia là khổ”, ta nói ra rả suốt ngày về khổ, ai ngờ ta đang bị kẹt vào chiếc chìa khóa là khổ, đang bị kẹt vào ngón tay chỉ mặt trăng. Đó là thái độ của rất nhiều người. Họ bị vướng mắc sâu đến nỗi người nào cũng nói đời là khổ, cái này là khổ, cái kia là khổ và nghĩ rằng nếu không lặp lại câu “đời là khổ” thì sẽ không đạt đạo được! Do đó, ta phải vượt thoát khỏi ý niệm khổ và lạc, thường và vô thường.

Ngã và vô ngã đều là không. Cũng vậy, khi anh kẹt vào ý niệm ngã, người ta tìm cách cứu anh ra thì anh kẹt vào ý niệm vô ngã. Vì vậy kinh Bát nhã là để cứu người ra khỏi tình huống mắc kẹt, nên có thể nói đây là một cái búa bằng kim cương, khi đập xuống thì tất cả những ý niệm kia đều tiêu tan hết, lúc đó mới có sự giải thoát, chúng ta mới có kinh Kim cương Bát nhã

Không trú hữu vi, không vô vi. Hữu vi là những pháp được tập hợp (conditioned things), vô viunconditioned things. Ta có ý niệm hữu vi nên mới có ý niệm vô vi. Nếu còn kẹt vào ý niệm vô vi thì ta còn kẹt vào ý niệm hữu vi. Phải vượt thoát cả hữu vi lẫn vô vi. Hữu vi và vô vi là một cặp đối lập. Đây đích thực là tinh thần của Bát nhã, phải vượt hết tất cả những cặp đối lập: thường và vô thường, khổ và lạc, ngã và vô ngã, hữu vi và vô vi. Chỉ có trí tuệ này mới đem lại tự do, và hành này gọi là vô tướng hành. Vô tướng hành tức là sự thực tập không để bị kẹt vào tướng: tướng khổ, tướng lạc, tướng thường, tướng vô thường, tướng hữu vi, tướng vô vi.

Thường dữ vô thường khổ lạc đẳng. Dữ có nghĩa là và. Khổ lạc đẳng là những cặp đối lập như khổ vui,… 

Ngã cập vô ngã tức giai không: Nghĩa là ngã và vô ngã đều là không. Cập là và. 

Bất trú hữu vi cập vô vi: Nghĩa là không dựa vào hữu vi, cũng không dựa vào vô vi. 

Trú vô tướng hành Phật diệc nhiên: Nghĩa là chỉ nên dựa vào pháp môn tu học gọi là vô tướng hành. Tu học mà không bị kẹt vào tướng, Bụt cũng như vậy. Phật diệc nhiên là Bụt cũng vậy.

Bài kệ thứ 31:

Thanh Văn, Duyên giác quả muốn cầu

Hay cầu quả Bụt cũng như thế

Không trú nhẫn này không đạt được 

Như sang sông lớn chẳng thấy bờ.

若求聲聞緣覺等  Nhược cầu Thanh văn Duyên giác đẳng 

乃至佛果亦復然  Nãi chí Phật quả diệc phục nhiên 

不住此忍不可得  Bất trú thử nhẫn bất khả đắc

如渡大河不見岸  Như độ đại hà bất kiến ngạn.

Nhược là nếu, cầu là đi tìm, là mong ước, thực hiện. Nếu mà mong ước thực hiện những quả như Thanh văn và Duyên giác. 

Nãi chí là cho đến. Nãi chí Phật quả: cho đến Phật quả. Diệc phục nhiên: có nghĩa cũng là như vậy. Diệc có nghĩa cũng là, phục nhiên là lại như vậy. 

Bất trú thử nhẫn bất khả đắc: Nếu không trụ vào nhẫn này thì không thể đạt được. 

Như độ đại hà bất kiến ngạn. Độ là vượt qua, đại hà là sông lớn, bất kiến ngạn là không thấy bờ. 

Thanh văn, tiếng Anh có thể dịch là listeners hay students, tiếng Phạn là Śrāvaka, nghĩa là những người học trò của đức Thế Tôn, thường ngồi nghe đức Thế Tôn giảng dạy và căn cứ trên sự giảng dạy đó để tu tập. Thanh là âm thanh, văn là nghe. Chúng ta đều là những Thanh văn. 

Duyên giác – Pratyeka, là những người quán chiếu về tự tính duyên sinh của vạn pháp mà tu, không cần nghe giảng, không cần học hỏi, chỉ cần nhìn sâu vào trong sự vật để quán chiếu sự hình thành và hoại diệt của các pháp, để thấy được các pháp liên hệ tới nhau, tương quan tương duyên với nhau. Những người này có thể tu một mình, không cần có thầy mà vẫn có thể thấy được sự thật, vẫn có thể thành đạo giải thoát. Duyên tức là đạo lý duyên khởi (the discourse about dependent co-arising, dependent origination). Giác tức là giác ngộ. Những người giác ngộ nhờ quán chiếu về lý duyên khởi gọi là Duyên giác. 

Tu theo đường lối thanh văn và duyên giác thì ta thành tựu được hai quả, là quả Thanh văn và quả Duyên giác. Còn quả thứ ba là quả Bụt. Quả Bụt siêu việt hơn. Sự thực tập quả Bụt đưa tới tự giác và giác tha viên mãn, vừa giác ngộ cho mình vừa giác ngộ cho người. Quả Thanh văn chú trọng vào thành quả của cá nhân, quả Duyên giác cũng vậy, nhưng tới quả Bụt thì khác. Quả Bụt là một hoa trái của sự thực tập tới cùng lúc với cá nhân mình và với những chúng sanh khác. Vì vậy, quả Bụt là quả Đại thừa, quả Bồ tát thừa. Có ba con đường, hoặc là ba cỗ xe. Cỗ xe thứ nhất là Thanh văn, gọi là Thanh văn thừa, the Śrāvaka Vehicle, là con đường của những người sinh viên. Cỗ xe thứ hai là Duyên giác, gọi là Duyên giác thừa, the Pratyeka Vehicle, là con đường của những người tu một mình, quán chiếu duyên khởi để thành đạo, giải thoát. Và cỗ xe thứ ba là Phật thừa, Buddha Vehicle, Buddhayāna. Yāna là con đường,  và cũng có nghĩa là cỗ xe. Con đường thứ ba này là con đường rộng lớn, con đường Đại thừa, có khi gọi là Bồ tát thừa, the Bodhisattva vehicle. Cỗ xe Đại thừa chở được nhiều người chứ không phải chỉ chở một người. Chở một người như là chiếc xe đạp, còn xe lớn chở được nhiều người giống như tàu TGV (Train à Grande Vitesse). Chở một lần được nhiều người là Bồ tát thừa hay Phật thừa. 

Thanh văn Duyên giác quả muốn cầu

Hay cầu quả Bụt cũng như thế

Không trú nhẫn này không đạt được 

Như sang sông lớn chẳng thấy bờ.

Nếu không biết an trú trong nhẫn thì không đạt được những quả đó. Cũng như ta đang vượt ngang con sông mênh mông mà không thấy được bờ bên kia. Chữ nhẫn ở đây có nghĩa là chịu đựng – Śānti. Chúng ta thấy rằng kinh Bát nhã hành đã bắt đầu bằng những lời tuyên bố có sức mạnh khiến làm cho người ta hoảng sợ, như: Đối tượng tuyệt vời không nắm bắt; Không có sở chứng, không Bồ đề; Năm uẩn không có thật tướng; Sắc, thọ tưởng, hành, thức là không. 

Những lời tuyên bố đó đã mở ra cho ta một chân trời rộng lớn. Ta đã quen sống trong chân trời nhỏ hẹp nên không chịu nổi giáo lý đó. Vì không thể ôm được giáo lý đó cho nên ta hoảng sợ. Lâu nay chúng ta thực tập trong truyền thống, cái nhìn của ta còn nhỏ bé, bây giờ giáo lý của Bát nhã mở tung ra một chân trời rộng rãi thênh thang khiến ta cảm thấy choáng ngợp, vì vậy ta không chịu đựng nổi, không ôm nổi giáo lý lớn lao đó. Mà nếu không ôm nổi và không chịu đựng được thì sẽ không thành công. Phải ôm lấy và chấp nhận được giáo lý lớn lao đó thì mới có thể qua bờ được. Có nhiều người nghe những tin như người thân qua đời, nhà cháy,… không thể chịu đựng được đến nỗi đứng tim mà chết. Thậm chí khi nhận được tin vui như trúng số độc đắc họ cũng đứng tim mà chết vì không ôm nổi cái tin mừng đó. Những người đó không có nhẫn, tức là không có khả năng ôm được các tin tức lớn. Cũng vậy, có những người thực tập với tâm lượng nhỏ hẹp nên không có khả năng ôm được một giáo lý lớn, một chân trời thực tập lớn và do đó khi nghe kinh Bát nhã họ hoảng sợ và không thể nào chấp nhận được. 

“Pháp của ta là pháp hành cái vô hành, tu cái vô tu, chứng cái vô chứng”, nghe những câu như vậy thì hoảng sợ, chịu không nổi, ôm không nổi, đó là những người không qua bờ được, gọi là không trú nhẫn này không đạt được. Nhẫn tức là ôm lấy, chịu đựng được. Trong số chúng ta có những người có thể ôm được cả những đau khổ lẫn những hạnh phúc. 

Ngày xưa khi Đạo Tràng Mai Thôn vừa mới được thành lập năm đầu, có một em bé tên là Nhật Tâm. Nhật Tâm mới sinh ra được chừng mấy tháng, bé sinh vào mùa đông nên chưa bao giờ được đưa ra ngoài, chưa bao giờ bé thấy trời xanh. Vào một ngày đầu tháng Tư, trời rất xanh và có nắng ấm, cha mẹ bé ở xóm Hạ muốn đưa bé ra ngoài đi chơi lần đầu. Em bé Nhật Tâm còn có nickname là Chó Con. Người ta mặc áo ấm, quàng khăn, đội nón len cho Chó Con và mang Chó Con đặt vào chiếc xe đẩy để đưa bé đi chơi buổi đầu tiên trong cuộc đời của bé. Hôm đó, thầy cũng có mặt. Khi người ta ẵm Chó Con ra khỏi nhà, bé được tiếp xúc với bầu trời mênh mông mà bé chưa bao giờ thấy. Bao nhiêu tháng vừa qua bé chỉ sống với một không gian rất nhỏ trong phòng của mẹ. Lần đầu tiên thấy bầu trời như vậy thì bé sợ, bé chịu đựng không nổi. Hôm đó thầy đứng bên cạnh bé, thầy nhìn vào mặt bé thì thấy bé ngỡ ngàng, bé sợ hãi vì lần đầu tiên tiếp xúc với một cái gì vô cùng rộng lớn. Hai mắt bé hoảng hốt, miệng bé mếu lại tính khóc, nhưng sau đó thì bé nhẫn được, bé ôm được bầu trời đó. Tất cả đều xảy ra trong vòng ba hay bốn giây đồng hồ thôi. Chúng ta cũng vậy, khi đã quen sống trong một khung cảnh chật hẹp nhỏ bé, rồi sau đó được đưa ra một không gian thênh thang rộng lớn, chúng ta chịu đựng không nổi và muốn trở lại khung cảnh nhỏ bé của chúng ta trước đây. Trong sự thực tập cũng vậy, nhiều khi chúng ta chỉ quen với một không khí thực tập rất nhỏ bé, rất giới hạn. Vì vậy khi kinh Bát nhã hành mở ra một chân trời mới thì có rất nhiều người trong truyền thống không chấp nhận được.

Chúng ta biết rằng kinh Bát nhã hành là kinh đầu tiên của Đại thừa và kinh này được hình thành vào thế kỷ thứ I trước Thiên Chúa giáng sinh. Những người biên tập kinh này thấy được, chứng được và tiếp xúc được với bản chất vĩ đại của giáo lý đức Thế Tôn. Họ thấy rằng, có những người đã hiểu giáo lý của đức Thế Tôn một cách rất cạn cợt và thực tập theo một cách cứng ngắc. Họ muốn làm một cuộc cách mạng về giáo lý để phục hồi tinh thần vĩ đại của đạo Bụt Nguyên thủy. Đạo Bụt vào thời đại đó là đạo Bụt Bộ phái, không còn là đạo Bụt Nguyên thủy nữa. Trước hết chúng ta có đạo Bụt Nguyên thủy, rồi chúng ta có đạo Bụt bộ phái, rất nhiều bộ phái, hơn hai mươi, sau đó Phật giáo Đại thừa mới ra đời. 

Phật giáo Đại thừa lúc này chưa có căn cứ, chưa có cơ sở, tu viện, chỉ mới có Tuệ giác và những văn kiện về tuệ giác đó. Tất cả những chùa chiền, tu viện đều thuộc về truyền thống. Vì vậy những kinh Đại thừa xuất hiện không có một thực thể đàng hoàng. Phải năm mươi đến bảy mươi năm hay một trăm năm sau mới có những tu viện Đại thừa được thiết lập. Thành ra đây là một cuộc cách mạng vĩ đại. Khi kinh Pháp hoa ra đời thì Đại thừa đã có cơ sở rất vững chãi, đã có tu viện, đã có giáo đoàn đàng hoàng. Khi kinh Bát nhã ra đời chưa có giáo đoàn Đại thừa, chưa có tu viện Đại thừa, tất cả đều là những tu viện của truyền thống Bộ phái. Chúng ta phải thấy như vậy mới hiểu được. 

Không trú nhẫn này không đạt được tức là những người nghe giáo pháp này, thấy được không gian mênh mông này mà không chịu nổi thì không thể thành công được. Như sang sông lớn chẳng thấy bờ nghĩa là không đi tới đâu hết.

Bài kệ thứ 32: 

Nếu nghe pháp này nhất định đắc

Thành chánh đẳng giác, chứng bồ đề

Thấy nơi tất cả như tự thân

Đó là đại trí Như Lai nói.

若聞此法彼定得  Nhược văn thử pháp bỉ định đắc

成等正覺證涅盤  Thành chánh đẳng giác chứng Niết bàn

見於一切如自身  Kiến ư nhất thiết như tự thân

是大智者如來說  Thị đại trí giả Như Lai thuyết.

Nếu nghe pháp này mà người kia nhất định muốn đạt được, để thành Đẳng chánh giác và chứng Niết bàn, thì phải Kiến ư nhất thiết như tự thân, tức là phải thấy nơi tất cả mọi cái có cái tự thân của mình trong đó. Thị Đại trí giả Như Lai thuyết: Đó là Đại trí mà đức Như Lai muốn chia sẻ cho chúng ta. 

Nếu được nghe kinh Bát nhã hành, muốn thấy và đạt được tuệ giác Bát nhã Ba la mật, nếu quyết tâm thực hiện điều đó thì có thể thành chánh đẳng chánh giác, đạt tới sự giác ngộ hoàn toàn. Chánh đẳng giác tức là sự giác ngộ chân chính, cao tột, không có gì sánh bằng. Nói cho đủ là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, Anuttara Samyak Sambodhi. Lúc đó vị ấy sẽ có thể: 

Thấy nơi tất cả như tự thân 

Đó là đại trí Như Lai nói.

Phải quán chiếu để thấy rằng bất cứ một hiện tượng nào ta tiếp xúc cũng hoàn toàn bình đẳng với tự thân, nghĩa là phải thấy mình nơi sư anh, sư chị, sư em, nơi mẹ, cha, bạn, nơi đám mây, cây dừa, cơn mưa, con sông, thấy nơi tất cả như tự thân. Phải vượt thoát ra được ý niệm về ngã, ý niệm ta chỉ là thân thể, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức này. Phải thấy rằng ta không phải chỉ là thân này và cảm thọ này. 

Hôm trước thầy có nói tới giấc mơ, trong giấc mơ đó thầy vượt qua một cửa động, rồi cửa động bị đóng lại và có cảm tưởng là mình không thể trở về không gian phía bên kia được nữa. Đó là những hình ảnh rất hiện thực. Thầy có nói rằng mình cảm tưởng là không gian, thời gian của mình đã bị thu hẹp lại và mình không thể trở về với không gian, thời gian trước đây nữa. Cái thấy đó chứng tỏ rằng mình chưa thấy được đạo, mình chưa giác ngộ, vẫn còn chấp rằng thân này là mình, cảm thọ này là mình, cái tưởng, cái hành và cái thức này là mình. 

Đứng về phương diện không gian thì thấy rằng không phải ta chỉ ở bên này. Ta ở bên này nhưng đồng thời ta cũng đang ở bên kia. Nếu ta có sự chống đối, giằng co giữa ta và một người khác, nghĩ rằng ta đúng, người kia sai, nghĩ rằng ta là nạn nhân, người kia tạo ra những oan ức cho ta, như vậy là ta bị chia hai. Ta thấy ta bên này và thấy bên kia không phải là ta, đó không phải là thấy nơi tất cả như tự thân. Ta bị hạn chế, không thấy được rằng ta ở trong người kia và người kia ở trong ta nên ta đau khổ. Chúng ta có thể có những giấc mơ như vậy. Có thể quý vị đã từng có giấc mơ đó, nếu chưa có thì một ngày nào đó sẽ có. Tự nhiên ta bị cô lập, ta không còn có thể trở về tiếp xúc được với không gian bên kia, không gian bên kia dường như tan biến hết rồi, và ta bị bít lấp. Trong tâm ta tự nhiên phát sinh sự ấm ức, tuyệt vọng. Nếu ta không biết giải phóng, không biết tháo ra, không biết chuyển hóa nỗi ấm ức, tuyệt vọng đó thì một ngày kia ta có thể sẽ điên loạn, mắc bệnh tâm thần. Những chứng bệnh tâm thần thường là do những chuyện như vậy đưa đến. 

Đứng về phương diện thời gian cũng vậy. Tới tuổi lớn rồi ta nói rằng không bao giờ có thể trở thành một người trẻ nữa, bây giờ dành cho ta chỉ có cái già cái chết. Ta bị nhốt vào trong ý niệm đó. Tuổi trẻ, sự sung sức, tương lai thuộc về một không gian, một thời gian khác. Với ta bây giờ chỉ có cái già, cái chết, cái hư vô. Do đó nếu bị cột chặt, bị nhốt vào trong không gian đó thì bí bách lắm, ta có sự tuyệt vọng, sợ hãi và cầu cứu. Nếu không tìm được cách tháo gỡ để chuyển hóa thì có thể điều đó sẽ khiến cho ta bệnh, bệnh về thân cũng như bệnh về tâm. Biết bao nhiêu người đã điên loạn vì bị kẹt vào trong những cái thấy và hình ảnh như vậy, không sao chịu đựng nổi, thành ra Bát nhã là cánh cửa duy nhất để có thể giúp ta thoát khỏi ý niệm đó. 

Trong cái thấy của Bát nhã cũng như cái thấy của Hoa nghiêm, cái này được làm bởi cái kia. Cái bên nớ được làm bằng cái bên ni và cái bên ni được làm bằng cái bên nớ. Nếu vượt thoát được ý niệm thân này là ta, thọ này là ta thì ta có thể thấy được mình ở bên kia ranh giới, và do đó ranh giới được tháo gỡ ra. Ranh giới chỉ có thể tháo ra khi ta có được cái thấy, thấy nơi tất cả như tự thân. Câu này hay lắm! Chỉ có cái thấy này mới tháo ra được ranh giới đó, mới lấy ra được tảng đá lớn bằng cái nhà vừa mới bít lấp lối đi vào động. Ta không cần một thiên thần nào hết, ta không cần một cái xe ủi đất (bulldozer), chỉ cần có cái thấy đó là thoát ra. Giữa ta với kẻ thù cũng vậy, thấy rằng kẻ thù chính là ta, ta chính là kẻ thù thì tự nhiên ý niệm về thù hận tan đi, sự hận thù trở thành lòng từ bi. Vì vậy giáo lý vô ngã là cốt lõi của Phật pháp. 

Trong giáo lý Hoa nghiêm và Bát nhã, ta học được rằng cái một chứa đựng cái tất cả. Có thể thấy trong cái tất cả có cái một và cái một trong cái tất cả. Ta có một ý niệm về không gian và nghĩ rằng không gian nằm ngoài ta, nhưng kỳ thực không gian không phải như vậy. Chúng ta biết rằng trong mỗi tế bào của cơ thể chúng ta có mặt toàn thể vũ trụ. 

Khoa học bây giờ có thể làm được những chuyện hết sức bất ngờ, có thể lấy một tế bào của cơ thể ta để tạo ra một cơ thể thứ hai của ta là cloning, tiếng Việt gọi là sinh hóa thân. Nếu muốn hai, ba, bốn bản sao hay một ngàn bản sao của chính mình cũng có thể làm được. Ta biết rằng trong mỗi tế bào của cơ thể chứa đựng toàn thể cơ thể. Vì vậy từ một tế bào mới có thể làm ra được một cơ thể toàn vẹn. Có phải cái một chứa đựng cái tất cả không? Một tế bào cơ thể tại sao làm ra được một cơ thể nguyên vẹn, nếu sự thật không phải là cái tất cả nằm trong cái một? Điều này đã được khoa học chứng minh. Ta là cái một, là một người, nhưng nhìn sâu vào ta thấy rằng tất cả các thế hệ tổ tiên và con cháu đều đang có mặt trong ta. Trước kia ta tưởng rằng tổ tiên của ta đã qua đời rồi, không còn nữa, nhưng bây giờ nhìn vào chính ta, ta thấy rằng tất cả tổ tiên vẫn đang còn sống và có mặt trong ta với tất cả những tài năng cũng như những vụng dại của họ. 

Tất cả thời gian, không gian cũng nằm trong một tế bào, vậy tại sao ta nghĩ rằng không gian kia mình đã đánh mất? Ta có đánh mất cái gì đâu. Đừng tưởng không gian, thời gian nằm ngoài ta. Tất cả không gian vô cùng và thời gian vô tận đang ở trong mỗi tế bào của ta. Vậy tại sao ta lại có cảm tưởng bị chia cách? Tất cả đều do sự dại dột của mình, gọi là vô minh. Vô minh đã đặt ra không gian và thời gian. Vô minh đã làm cho ta tự đồng hóa với cái thân, thọ, tưởng, hành và thức, vì vậy mới có sự ngăn cách, có sự mất mát. Quán chiếu sâu thì ta đạt được cái thấy đó. Chính cái thấy đó đã tháo gỡ tất cả những tuyệt vọng, sợ hãi nơi ta. 

Em đến đây bằng đôi mắt hồn nhiên 

Nhìn màu xanh của pháp thân hiển hiện 

Dù thế giới tan tành 

Nụ cười bông hoa cũng không bao giờ tan biến     

Chúng ta đã được gì hôm qua 

Và sẽ mất gì sáng nay?

(Hoa mặt trời, Thơ từng ôm và mặt trời từng hạt)

Chúng ta tưởng rằng ngày hôm qua mình đã đạt được cái gì đó và hôm nay mình sẽ mất đi cái gì đó. Tuy nhiên sự thật là không có cái gì đạt được (đắc) mà cũng không có cái gì mất đi (thất). Ta tưởng rằng mình đã đạt được tuổi già và mất đi tuổi trẻ. Sự thật không như vậy. Chúng ta đã đạt được gì hôm qua và sẽ mất gì sáng nay? Không có đắc, không có thất, đó là chân lý của Bát nhã, no increasing, no decreasing – không có thêm, không có bớt, bất tăng bất giảm. Vì u mê nên chúng ta thấy rằng trong ta có cái gì đang tăng và có cái gì đang giảm. Tuổi già đang tăng và tuổi trẻ đang giảm. Danh lợi đang tăng hay danh lợi đang giảm. Sự thật trong bản chất không có gì tăng, không có gì giảm. Chúng ta đang không mất gì và cũng không được gì. Những ý niệm về được và mất do vô minh tạo tác. Cũng như dơ và sạch, chúng ta có cảm tưởng là ta dơ, ta tội lỗi nên ta đau khổ. Ta có mặc cảm, thấy ta không xứng đáng, ta nhơ nhuốc thì có ai cứu được ta? Có vị thiên thần nào cứu được ta? Không một vị thiên thần nào cứu được ta, chỉ có tuệ giác Bát nhã mới cứu ta được mà thôi. 

Hãy tưởng tượng một cô bé nghèo đang sống ở miền quê Hậu Giang. Gia đình không có đủ cơm ăn, mẹ bị bệnh, em đói, cô bé nghĩ rằng nếu lên Sài Gòn thì có thể kiếm được một vài đồng gửi về nuôi mẹ, nuôi em. Nhưng khi lên tới Sài Gòn, cô bé không biết thực chất của Sài Gòn, vì vậy cô bé bị một bà dụ dỗ đi làm nghề gọi là “đưa khách”, và cô trở thành một cô gái bán thân xác. Ban đầu cô bé không muốn như vậy, nhưng rốt cuộc em phải đi vào con đường đó. Vì khi lên Sài Gòn em cũng đói, cũng lạnh, đầu tiên bà đó cho em cơm ăn, áo mặc, rồi bà dụ dỗ, đến cuối cùng em phải đi vào con đường bán thân. Ở những thành phố lớn như ở Bangkok, Manila, Sài Gòn,… thành phố nào cũng có những cô gái như vậy. Những cô gái đó đêm nằm gác tay lên trán, nhìn lại đời sống của mình và thấy tủi hổ, buồn đau lẫn tuyệt vọng. Khi thấy một đoàn nữ sinh con nhà lành mặc áo trắng, đi xe đạp ngang qua thì em cảm thấy tủi hổ. Tại sao những đứa con gái khác may mắn như vậy, được sinh vào những nhà tử tế, sống cuộc đời lành mạnh, trong trắng như vậy mà mình thì mang một thân phận nhơ nhuốc của một cô gái ăn sương? Mặc cảm tội lỗi, nhơ nhuốc đó làm cho cô bé không có được một chút hạnh phúc nào. Cô bé nghĩ rằng chỉ có cái chết mới giúp thoát ra khỏi nỗi khổ niềm đau, đó là mặc cảm dơ và sạch. 

Ai là người có thể tới với cô bé đó để giải thoát cho cô bé? Không ai có thể giải thoát cho cô bé trừ giáo lý Bát nhã. Đức Quan Thế Âm Bồ tát tới ngồi bên cạnh cô bé và nói rằng: “Con hãy nhìn những cô nữ sinh kia, mặc áo thật trắng, nụ cười rất tươi, con biết họ là ai không? Họ là con đó! Tại vì họ được sinh ra trong những môi trường như vậy, nên họ đang sống như vậy và chính nhờ những người như con, phải gánh chịu những uất ức, những khổ đau cho nên những cô kia mới được sống như vậy đó. Và cũng vì các cô kia đang được sống như vậy, đang được thừa hưởng những tiện nghi, những may mắn của xã hội, cho nên con mới bị như thế này. Vì vậy, con làm như thế này để cô kia có thể được như vậy, và cô kia làm như vậy để con phải gánh chịu điều này. Con là họ và họ là con. Nếu con sinh ra trong gia đình đó, nếu con được nuôi dạy theo những điều kiện đó thì bây giờ con là một trong những cô kia. Nếu những cô kia đã sinh ra trong hoàn cảnh của con, được nuôi dưỡng trong hoàn cảnh của con thì bây giờ những cô kia là con. Con là cô đó, cô đó là con. Tự thân con là các cô đó, các cô đó là con. 

Ai chịu trách nhiệm? Đâu phải riêng chỉ một mình con. Xã hội này được tổ chức ra như vậy. Tất cả những người trong xã hội, từ Tổng thống, Thủ tướng, các vị Bộ trưởng, cho đến các nhà kinh tế, các nhà giáo dục,… tất cả đều chịu trách nhiệm về con. Tại sao con lại rước hết tất cả những trách nhiệm đó vào riêng con? Nếu thành phố không có những tú bà, không có những nhà điếm thì con lên đây đâu có bị như vậy. Vì vậy những nhà điếm, những tú bà đó, những người đi tìm tình dục (sex) đều phải chịu trách nhiệm, chứ không phải một mình con chịu trách nhiệm. Tất cả xã hội chịu trách nhiệm. Chính ta đây cũng chịu trách nhiệm!” Đức Quan Thế Âm Bồ tát nói như vậy. “Chính ta đây cũng chịu trách nhiệm về con, tại ta đến với con hơi trễ!”

Khi cô bé thấy được như vậy rồi, thấy được tất cả là tự thân, mình làm thế này để cho những người kia được như thế, những người kia sống như thế kia cho nên mình mới phải gánh chịu như thế này, thì cô bé trở thành vị Bồ tát – “I’m doing this in order for you to be doing that”. Cô bé thấy rằng mình chính là những cô thiếu nữ nhà lành kia, và cũng thấy rằng các cô nhà lành kia chính là mình. Tuệ giác đó rửa sạch tất cả những mặc cảm tội lỗi nhơ nhuốc của cô bé và cô bé mỉm cười. Chỉ có tuệ giác đó mới cứu được cô bé mà thôi, không có tuệ giác nào khác nữa. Tuệ giác đó là tuệ giác Bát nhã. Không có mặc cảm. 

Trong kinh nói là “Bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, không dơ cũng không sạch, không thêm cũng không bớt. Mấy ai có thể ôm được giáo lý này? Mấy ai có thể hiểu được giáo lý này? Nhưng nếu không nắm được giáo lý này, không hiểu được giáo lý này thì làm sao vượt thoát tất cả những giới hạn làm cho mình đau khổ, điên loạn. Sau khi được Bồ tát Quan Thế Âm khai thị thì mặc cảm tội lỗi, nhơ nhuốc của cô bé tan đi và cô bé thấy mình cũng trong sáng, trinh trắng như bất cứ một cô gái nào. Trên bước đường đó, với nhận thức đó, cô bé mới có thể bước lên một bước nữa để được giải thoát hoàn toàn. Nếu tiếp tục mang mặc cảm như trước thì cô bé không bao giờ thoát khỏi khổ đau. 

Nếu mình là một thiếu phụ, nếu mình đã dại dột phá thai vì hồi đó mình đang còn trẻ, sống không có giới, không có tăng thân nên mình đã lỡ có thai với một người con trai. Gia đình và xã hội tạo nhiều áp lực nên mình phải phá thai, phải giết đứa bé. Mình không thể làm gì hơn được, tuệ giác của mình còn kém, Phật pháp của mình chưa có, cha mẹ chưa biết thương mình, người yêu của mình không có trách nhiệm. Một mình lo lấy bản thân và đã phạm vào hành động tàn ác là giết em bé trong bụng mình. Bây giờ mình mang theo mặc cảm tội lỗi, trong những giấc mơ mình thấy em bé kêu mình để đòi lại mạng sống. Mình không còn hạnh phúc nữa, ai có thể cứu mình? Tội và không tội, ai có thể cứu mình? Không ai có thể cứu được mình, không ai có thể rước tội đó cho mình được, chỉ có tuệ giác Bát nhã mới có thể chuyển hóa. 

Anh cũng vậy, chị cũng vậy, nếu anh chị được đặt vào trường hợp của tôi lúc đó thì anh chị cũng sẽ làm như vậy vì anh chị không có tuệ giác, không có tăng thân, không có giới, không có thầy, không có Bụt. Cả xã hội phải cùng gánh chịu trách nhiệm đó chứ không phải chỉ một mình mình. Tại sao xã hội lại được tổ chức để cho một thiếu nữ phải bị kẹt ở trong đó? Chuyện đó có thể đã xảy ra ba năm hay năm năm về trước, nhưng nó cũng đang xảy ra trong giờ phút này, tại thành phố này. Bao nhiêu thiếu nữ đang lặp lại lỗi lầm của mình đã phạm cách đây năm năm hay bảy năm. Những thiếu nữ đó ngày mai cũng sẽ ân hận, khổ đau, điên loạn về hành động đó. 

Mình đã được giọt nước cam lộ của Bồ tát Quan Thế Âm tưới lên, giờ đây mình tiếp xúc được với giáo lý Bát nhã Ba la mật có khả năng đưa mình qua bên kia bờ, thì tại sao mình chịu nằm chết trong mặc cảm tội lỗi mà không tu tập để hành động. Mình phải thấy được rằng sự vụng dại của mình ngày xưa là sự vụng dại của cả xã hội, trong đó có cha mẹ, có anh em, có bà con thân thích và cả dư luận. Những cô gái ngày hôm nay cũng vẫn tiếp tục làm nạn nhân của xã hội đó, của cái thấy, của vô minh. Vì vậy mình phát tâm Đại thừa rằng phải làm một cái gì để cho những cô gái ngày hôm nay không đi vào con đường của mình. 

Ngày xưa mình đã vụng dại, đã chấm dứt sự sống của một hài nhi, bây giờ tại sao mình không biến mình thành một vị Bồ tát để ngăn chặn, giúp đỡ những thiếu nữ hôm nay đừng đi vào con đường đó. Ngày xưa mình đã có lỗi lầm, bây giờ mình có thể chuộc lại lỗi lầm đó, mình có thể giúp được một người, hai người, năm người, mười người, một trăm người, một ngàn người không thực hiện hành động dại dột đó. Bằng nhận thức và hành động này mình mới chuyển hóa được sự vụng dại ngày xưa, mới có thể làm mới lại một cách hoàn toàn. Khi đó mình trở thành con người tinh khôi, không bị mặc cảm đè nặng. Ai trong chúng ta mà chưa từng có lần vụng dại và lầm lỡ, nhưng chúng ta đừng để cho mặc cảm tội lỗi bám theo như một con ma khiến ta đứng ngồi không yên, ăn không được mà ngủ cũng không ngon. Nhưng làm thế nào để vượt thoát mặc cảm? Chỉ có Bát nhã Ba la mật, Prajñāpāramitā, mới cứu chuộc được chúng ta. Không có một đấng thần linh nào có thể cứu chuộc được chúng ta. Chỉ có cái thấy đó, the deep insight mới có thể cứu được ta. Cái thấy đó là thấy nơi tất cả như tự thân

Có một cặp vợ chồng, hôm đó, họ vô ý để đứa con bốn tuổi chạy ra đường và bị xe cán. Chỉ vì vô ý trong chốc lát mà sự việc đã xảy ra như vậy. Từ đó về sau hai vợ chồng ăn không ngon, ngủ không yên vì mặc cảm tội lỗi đeo đẳng suốt đời. Mặc cảm tội lỗi, tội và không tội, ai có thể rửa sạch được tội lỗi đó cho mình? Đấng thần linh nào có thể rửa sạch được? Chỉ có tuệ giác Bát nhã mới giúp được mình. 

Mình có thể làm được gì không? Mình có thể thực tập chánh niệm không? Mình có thể giúp những người khác thực tập chánh niệm được không? Mình có thể ngăn ngừa đừng để hành động đó xảy ra một lần nữa, với mình và với những người khác chung quanh hay không? Có thể được chứ sao không! Ai trong chúng ta cũng có thể học được từ những vụng về, khổ đau, từ những lầm lỡ của mình, chúng ta học cho chúng ta và chúng ta học cho những người khác. Chúng ta có khả năng giúp những người khác đừng phạm vào những lỗi lầm mà ta đã phạm và giúp cho chính ta đừng bao giờ phạm vào lỗi lầm đó lần thứ hai. Nếu thấy được điều đó, làm được điều đó thì chúng ta có thể làm mới tinh khôi trở lại, không có lý do gì để bị kẹt vào mặc cảm tội lỗi. 

Cũng như chuyện của một người lính Mỹ, đơn vị của anh ta bị sát hại gần hết trong trận chiến xảy ra tại một ngôi làng ở Việt Nam. Anh ta thù ghét những người dân trong làng đó. Từ hận thù, anh ta muốn trả thù. Anh ta đã đem tới ngôi làng một bịch bánh sandwich mà anh đã để thuốc súng vào trong những cái bánh đó. Anh ta chứng kiến bọn con nít mừng rỡ ăn những chiếc sandwich đó và chết ngay trước mắt anh. 

Sau đó trở về Mỹ, anh không ăn không ngủ được nữa. Hình ảnh những đứa trẻ chết vì ăn những chiếc sandwich có thuốc súng đó ám ảnh anh ta ngày đêm. Mãi cho đến khi thầy tổ chức một khóa tu cho cựu chiến binh Hoa Kỳ tại tiểu bang New York thì người đó mới có dịp khóc và tỏ lộ sự đau buồn của mình. Thầy đã dùng phương pháp này để trị liệu cho anh ta thầy nói: “Đúng rồi, ngày hôm đó anh đã giết năm đứa trẻ Việt Nam từ sự hận thù của anh và từ ngày hôm đó anh không còn có sự an tâm nữa, mỗi khi anh ngồi trong một gian phòng có con nít thì anh chịu không nổi, anh phải chạy ra ngoài ngay lập tức. Nó xảy ra trong mười mấy năm trời. Nhưng anh phải quán chiếu, anh phải thấy rằng trong giây phút hiện tại có những em bé đang chết, có thể không phải chết vì thuốc súng mà chết vì thiếu ăn, thiếu dinh dưỡng, thiếu thuốc men, chết ngay trên đất Mỹ chứ đừng nói là chết ở các nước nghèo khổ. Và cuộc đời của anh để làm gì? Nếu anh sử dụng đời anh để cứu những em bé đó thì mỗi ngày anh có thể cứu được một đứa, hai đứa. Nếu anh quả thật muốn hành động theo chí nguyện Bồ tát thì thì giờ và tâm lực của anh có thể được sử dụng để cứu những em bé đang chết trong giây phút hiện tại. Có những em bé chỉ cần có một viên thuốc thôi là có thể sống được, em bé không có viên thuốc đó nên đã chết trong tay người mẹ. Anh có thể là người đưa viên thuốc đó tới cho mẹ em bé để em bé uống, chuyện này nhiều người đang làm trên khắp thế giới. Có những tổ chức thiện nguyện như là tổ chức Bác sĩ không biên giới (Médecins Sans Frontière), họ đang làm những công việc đó. Tại sao anh lại nằm co rút lại và chịu chết trong mặc cảm tội lỗi của anh mà không tiếp nhận giáo lý Bát nhã để đi ra thực tập hành động. Nếu anh biết được giáo lý này và phát được tâm Đại thừa của Bồ tát thì mỗi ngày anh có thể cứu được một đứa, hai đứa hay năm đứa bé. Trong thời gian một vài năm anh có thể cứu được hàng trăm đứa bé. Tại sao anh đau khổ vì năm đứa bé đã chết mà không có đau khổ vì hàng trăm ngàn đứa bé đang chết? Anh cứu được những đứa bé này là anh cứu được năm đứa bé kia. Nếu ngày hôm nay anh cứu được năm đứa bé thì năm đứa bé ngày xưa sống dậy vì năm đứa bé ngày xưa tức là năm đứa bé hôm nay.” 

Đó là cái thấy của Bát nhã. Chính nhờ sự giáo huấn, nhờ sự soi sáng đó nên người cựu chiến binh Hoa Kỳ kia đã thoát khỏi mặc cảm tội lỗi và đang dấn thân vào công cuộc tu tập và hành động. Không có một thiên thần nào, không có một thần linh nào có thể cứu chuộc được mình, chỉ có tuệ giác siêu việt của Bát nhã mới có thể cứu được mình mà thôi. Theo tuệ giác siêu việt, không có gì dơ không có gì sạch, không có gì thêm không có gì bớt, không có gì có và không có gì không, mình phải thấy được mình nơi tất cả và tất cả nơi mình. 

Mình phải đạt được Mahāprajña tức là đại trí – Great wisdom. 

Bài kệ thứ 33:

Đại trí Bồ tát hành như thế

Không học Duyên giác và Thanh văn

Chỉ học nhất thiết trí Như Lai

    Học cái phi học mới là học.

大智菩薩如是行  Đại trí Bồ tát như thị hành

不學聲聞及緣覺  Bất học Thanh văn cập Duyên giác

樂學如來一切智  Nhạo học Như Lai nhất thiết trí 

是學非學名為學  Thị học phi học danh vi học.

Đại trí Bồ tát như thị hành: tức là thực tập đại trí của Bồ tát. Đại trí của Bồ tát thì phải thực tập như vậy đó, không thực tập theo đường lối Thanh văn và Duyên giác mà chỉ muốn học được cái Nhất thiết trí của đức Như Lai. Nhạo tức là muốn. Thị học phi học danh vi học: Học cái đó, cái học gọi là phi học mới là học. Như A mà không phải A thì mới là A. 

Con đường Duyên giác và Thanh văn là những con đường nhỏ, đang còn bị kẹt. Không gian thực tập của Duyên giác và Thanh văn là không gian còn có giới hạn, chỉ khi nào thực tập được Đại trí Bát nhã thì mới vượt tới không gian mênh mông. Cũng như khi là xe hơi hay xe lửa thì mình phải theo những con đường vạch sẵn. Khi biến thành một chiếc máy bay bay trên không trung thì mình không bị lệ thuộc vào những con đường có sẵn nữa, đường bay rộng rãi hơn, mình có tự do rất lớn. Thanh văn và Duyên giác giống như xe hơi và xe lửa, còn Bồ tát giống như máy bay với không gian rộng lớn hơn rất nhiều. 

Cái học ở đây không phải là cái học khái niệm, không bị kẹt vào chữ nghĩa, không cần phải thuộc lòng, không cần đọc vanh vách những câu căn bản như: “Đời là khổ, sinh ra là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ; đây là nguyên do của khổ, đó là những tham đắm, những si mê; Niết bàn là thoát khổ và con đường Bát chánh đạo là con đường thoát khỏi khổ…” Trong cái thấy này ta có thể nhìn rõ được ba sự thật ở trong một sự thật. Nhìn vào Khổ thấy Tập, Diệt và Đạo; nhìn vào Tập thấy Khổ, Diệt và Đạo; nhìn vào Đạo thấy Khổ, Tập và Diệt, nên cái học đó không phải là cái học bình thường, đó gọi là phi học, non-learning. Chúng ta không học những cái nửa vời, những cái tương đối, phải đi tìm cái tuyệt đối vô cùng rộng lớn gọi là Đại thừa Bồ tát, là nhất thiết trí. Nhất thiết trí tức là trí tuệ tròn đầy, Sarva Prajña, là gia tài của đức Như Lai để lại. Học cái phi học mới là học. 

Self Awakened Buddha: tức là Phật Bích Chi. Phật Bích Chi là Duyên Giác Phật, tức là một vị giác ngộ bằng cách quán chiếu duyên khởi. Self Awakened là Độc Giác, tức một mình mà giác ngộ, không cần sự hướng dẫn của một vị thầy.

Bài kệ thứ 34:

 Học không thọ sắc, không tăng giảm

Lại cũng không học những pháp khác

    Chỉ vui học theo nhất thiết trí

    Người nào có công đức xuất ly.

學不受色不增減  Học bất thọ sắc bất tăng giảm

亦復不學種種法  Diệc phục bất học chủng chủng pháp 

攝受樂學一切智  Nhiếp thọ nhạo học nhất thiết trí

若此功德出離者  Nhược thử công đức xuất ly giả.

Học không thọ sắc, không tăng giảm: Tức là ta không bị kẹt vào trong sắc, không lên xuống theo sắc. Chúng ta không đón đưa, không rước, không tìm, không chạy theo, không nương tựa, không lên xuống theo sắc. Dù nó có tăng có giảm, nhưng ta không tăng không giảm. Trong khi sống đời sống thực tập của mình, ta chứng nghiệm được chân lý không tăng không giảm vì ta không bị kẹt, không nương tựa vào năm uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức khi năm uẩn đó là những thủ uẩn. Ta phải khám phá ra bản chất đích thực của năm uẩn, phải thấy được năm uẩn là năm xả uẩn, và vì vậy ta giữ được sự tự do của mình. 

Lại cũng không học những pháp khác: Tất cả những giáo lý khác cống hiến cho ta, ta không cần phải tiếp nhận, chỉ cần tiếp nhận giáo lý tuyệt đối gọi là nhất thiết trí, Sarva Prajña tức là trí tuệ Bát nhã. Đối với sắc cũng vậy mà đối với thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy. 

Học bất thọ sắc bất tăng giảm: Chữ thọ ở đây có nghĩa là tiếp nhận, cũng mang nghĩa là bị kẹt vào, học mà không bị kẹt vào sắc. Học ở đây có nghĩa là tu học, thực tập, không có tăng không có giảm. Diệc phục bất học chủng chủng pháp: lại cũng không học những pháp môn khác. 

Nhiếp thọ nhạo học nhất thiết trí: Nhiếp thọ tức là ôm lấy, tiếp nhận lấy. Nhạo học là muốn học nhất thiết trí. 

Nhược thử công đức xuất ly giả: có nghĩa là nếu thực tập theo công phu này thì có thể giải thoát được. Xuất ly giả tức là vượt thoát khỏi.

Bài kệ thứ 35:

Sắc không hữu trí, không vô trí

Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế

Tự tính của sắc như hư không. 

Bình đẳng, vô nhị, không phân biệt

色非有智非無智  Sắc phi hữu trí phi vô trí

受想行識亦復爾  Thọ tưởng hành thức diệc phục nhĩ

色性自性如虛空  Sắc tánh tự tánh như hư không

平等無二無分別  Bình đẳng, vô nhị, vô phân biệt.

Câu hỏi đặt ra là trí tuệ Bát nhã đó nằm ở trong sắc hay nằm ở ngoài sắc. Khi nghe chữ sắc phải hiểu rằng sắc là đại diện cho cả bốn uẩn còn lại là thọ, tưởng, hành và thức. Chữ sắc ở đây cũng là thọ, tưởng, hành và thức. Vậy trí tuệ Bát nhã nằm ở trong sắc, tìm thấy ở trong sắc hay tìm thấy ở ngoài sắc? Câu trả lời là không thể nói được rằng trí tuệ đó nằm ở trong sắc mà cũng không thể nói rằng trí tuệ đó nằm ở ngoài sắc. Điều này cũng đúng đối với thọ, tưởng, hành và thức. Khi sắc là một thủ uẩn, nhìn vào sắc với cái nhìn vướng mắc và sợ hãi thì mình chưa thấy được bản chất của sắc và sắc trở thành thủ uẩn. Nhưng nếu quán chiếu thâm sâu vào trong lòng của sắc ta sẽ thấy được thực chất của sắc, khi đó trong lòng mình không còn sợ hãi và vướng mắc nữa. Lúc đó sắc không còn là một thủ uẩn mà là một xả uẩn, là Niết bàn, là thế giới của bản môn, là thực tại tối hậu. Tự tính của sắc như hư không, the nature of form is like space. 

Sắc tức là vật chất. Hình hài của ta là vật chất. Thí dụ như cái bàn là sắc, bàn tay là sắc. Trước kia ta có những tri giác sai lầm về sắc. Ta thấy sắc có giới hạn, có sinh có diệt, có thêm có bớt, có dơ có sạch. Nhờ trí tuệ Bát nhã mà ta khám phá được thực tướng của sắc. Sắc không có giới hạn, không dơ không sạch, không thêm không bớt. Vì vậy nếu ta nắm lấy sắc bằng bàn tay của tri giác thì nắm không được vì sắc giống như hư không, ta không thể nắm bắt được hư không. Cho nên gọi là tự tánh của sắc như hư không, bình đẳng, vô nhị, không phân biệt. Bình đẳng, upekṣā, nghĩa là không thể bị tách biệt ra khỏi những cái khác. Bình đẳng ở đây không có nghĩa là không có sự cao thấp mà có nghĩa là cùng chung một thể tánh. Khi nhìn một ngọn núi, rồi nhìn lại một hòn sỏi ta thấy rằng ngọn núi rất lớn, còn hòn sỏi rất nhỏ, giữa ngọn núi và hòn sỏi có sự bất bình đẳng. Nhưng nếu nhìn thật kỹ, ta thấy được bản chất của ngọn núi và của hòn sỏi, ta thấy rằng ngọn núi là hòn sỏi, hòn sỏi là ngọn núi. Nếu không có hòn sỏi thì làm sao có ngọn núi, nếu không có ngọn núi thì làm sao có hòn sỏi, cho nên ta thấy được tính bình đẳng giữa hòn sỏi và ngọn núi. Ban đầu ta thấy rằng đây là chị, đây là em, chị không phải là em, em không phải là chị, không có sự bình đẳng. Nhưng khi nhìn vào chiều sâu thì thấy chị được làm bằng em, em được làm bằng chị. Thấy được tự tính bất nhị đó rồi thì ta thấy được tính bình đẳng của chị và em, cũng như thấy được tính bình đẳng của ngọn núi và hòn sỏi. Nhìn vào hình thức thì ta thấy Bụt khác với chúng sinh. Bụt có giác ngộ, có tình thương, có từ bi, có trí tuệ. Còn chúng sinh là có sinh diệt, có khổ đau, có nghiệp, có luân hồi, có tham, sân, si. Đó là đứng về phương diện hình tướng mà nói, nhưng nhìn kỹ thì thấy tất cả chúng sinh đều có tính Bụt. Vì vậy ta biết rằng Bụt được làm bằng chúng sinh và chúng sinh được làm bằng Bụt. Giữa Bụt và chúng sinh có tính bình đẳng. Sắc ở đây cũng vậy. Sắc không nằm ngoài thọ, tưởng, hành và thức, cũng không nằm ngoài trí hay nằm trong trí. Tính của sắc là tính bình đẳng, vô nhị, tức là non-dual, non-dualistic. Cái này là cái kia, cái này không đối lập với cái kia, vì vậy không phân biệt được. Khi cầm cây bút thẳng đứng như thế này thì ta không có ý niệm về trái và phải, cầm cây bút ngang như thế này ta thấy bên này là trái, bên này là phải, rồi ta nói trái không phải là phải, phải không phải là trái. Nhưng kỳ thực nếu không có trái thì làm gì có phải, không có phải làm gì có trái, vì vậy trái – phải là vô nhị, là bình đẳng, là vô phân biệt. Cái thấy của Bát nhã là cái thấy vượt thoát những cặp đối lập, thấy được vào bên trong và tự nhiên những cặp như sinh – diệt, có – không, thường – đoạn, dơ – sạch, thêm – bớt… sẽ mất hết. Chỉ có cái thấy đó mới giúp ta giải thoát được. Ngoài ra, không một vị Thượng đế, một vị thần linh nào có thể giải thoát cho ta được. 

Không thể nói sắc là hữu trí hay vô trí, điều này cũng đúng đối với thọ, tưởng, hành và thức. Diệc phục nhĩ là cũng lại như vậy. 

Sắc tính tự tính như hư không: Nghĩa là tính của sắc nằm trong cái tự tính của nó, nó như hư không, không thể nắm bắt được bằng trí năng của ta. Bản chất của sắc vốn bình đẳng, là vô nhị và vô phân biệt. Vô phân biệt tức là non-discrimination. Chừng nào ta còn phân biệt thì chưa thấy được sắc, thọ, tưởng, hành và thức trong bản chất của nó. 

Bài kệ thứ 36: 

Bản tánh vọng tưởng không biên giới

Bản tánh chúng sinh cũng thế kia

Tự tánh hư không không ngằn mé

Trí thế gian giải cũng như vậy.

妄想本性無彼岸  Vọng tưởng bản tánh vô bỉ ngạn

眾生之界亦復然  Chúng sinh chi giới diệc phục nhiên

虛空自性亦同然  Hư không tự tánh diệc đồng nhiên

智慧世間解亦爾  Trí tuệ thế gian giải diệc nhĩ.

Đây là một bài kệ xưng tán trí tuệ Bát nhã. 

Vọng tưởng của chúng ta, bản tính của nó là không biên giới. Những tri giác sai lầm của chúng ta nhiều lắm, giống như không có biên giới. Chúng ta sống u mê, lầm lạc trong vọng tưởng của chúng ta. Chúng sinh cũng vậy, số kiếp của chúng sinh, hệ lụy của chúng sinh giống như không có ngằn mé, không có giới hạn. Hư không cũng vậy, hư không cũng không có biên giới, không có ngằn mé. Chỉ có trí tuệ Bát nhã mới hiểu thấu được thực tại thế gian vô lượng, vô biên như vậy. Bốn câu này ca tụng cái vô cùng lớn lao của trí tuệ Bát nhã, cho chúng ta nhớ đến một bài tụng mà chúng ta thường tụng vào buổi sáng: 

Thế giới vô tận, 

Chúng sinh vô tận,

Nghiệp cập phiền não 

Nhất thiết vô tận, 

Ngã nguyện vô tận. 

Nghĩa là thế giới vô tận, chúng sinh vô tận, nghiệp và phiền não cũng vô tận, cho nên cái nguyện của con cũng vô tận. Câu tụng đó lấy từ ý ở trong này: Thế giới vô tận, chúng sinh vô tận, nghiệp và phiền não đều cũng vô tận, nguyện con cũng thế, sẽ là vô tận. Ta thấy rõ ràng những bài tụng đều được lấy ở trong kinh ra. 

Thế gian giải là một danh hiệu của Bụt. Một trong mười danh hiệu của Bụt (Lokavidu). Bụt có mười danh hiệu là Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật Thế Tôn. Thế Gian Giải là một danh hiệu khác của Bụt. Trí thế gian giải cũng như vậy: tức là trí Bụt cũng như vậy, rộng lớn vô cùng không có ngằn mé. 

Bản tính của vọng tưởng là không có bờ bên kia.

Chúng sinh chi giới là giới hạn của chúng sinh, lĩnh vực của chúng sinh cũng như vậy. Diệc phục nhiên tức cũng là như vậy. 

Hư không tự tính là tự tính của hư không (nature of space) cũng đồng như vậy.

Trí tuệ Thế gian giải diệc nhĩ: Có nghĩa là trí tuệ của bậc Thế Gian Giải cũng như vậy. Diệc nhĩ là cũng như vậy.

Bài kệ thứ 37:

Trí tuệ không sắc, Bụt đã nói 

Lìa tất cả tưởng đến Niết bàn 

Nếu ai lìa được các tưởng rồi 

Ngữ ý người ấy trú chân như. 

智慧無色佛所說  Trí tuệ vô sắc Phật sở thuyết

 離一切想到彼岸 Ly nhất thiết tưởng đáo bỉ ngạn 

若人得離諸想已  Nhược nhân đắc ly chư tưởng dĩ

是人語意住真如  Thị nhân ngữ ý trú chân như.

Ở bài kệ thứ ba mươi lăm chúng ta đã nghe rằng “sắc không hữu trí, không vô trí”, tức là ta đồng nhất sắc với trí cũng không được, mà ta nói sắc không phải trí cũng không được, câu này cũng tương tự như vậy. Trí tuệ không sắc Bụt đã nói: nghĩa là mình mở miệng ra một cái là sai lầm liền, nên đừng có nói gì hết. Khi nói tới một cái gì ta liền có một ý niệm, một tri giác về cái đó. Trước hết ta có ý niệm về sắc, sau đó là ý niệm về trí. Ta hỏi: “Trí này có phải là sắc không? Trí này ở trong sắc hay ở ngoài sắc?”. Tất cả những cái đó đều là ngôn từ, là ý niệm, đều là những cái tưởng.

Trí tuệ không sắc Bụt đã nói 

Lìa tất cả tưởng đến Niết bàn. 

Chỉ khi nào vượt thoát tất cả các tưởng thì lúc đó ta mới tiếp xúc được trực tiếp với thực tại chân thật là Niết bàn. You can only touch Nirvāṇa if you abandon all your perceptions.

Chỉ có trí mới có thể tiếp xúc được với thực tại chân thật. Những cái tưởng của ta không thể nào chứa đựng được thực tại, không tiếp xúc được với thực tại. Tưởng ngược với trí mà trí ở đây là trí Bát nhã, có thể thấy và nhận thức được thực tại qua nguyên tắc bình đẳng, vô nhị và vô phân biệt. 

Lìa tất cả tưởng đến Niết bàn. 

Chúng ta biết rằng mỗi tri giác đưa tới cho chúng ta một ý niệm và một danh từ. Mặt khác chúng ta biết rằng Niết bàn là thực tại tuyệt đối, không thể diễn tả bằng bất cứ một tri giác, một ý niệm hay một danh từ nào nên chúng ta mới có câu Lìa tất cả tưởng đến Niết bàn. Nirvāṇa is obtained only when you get rid of all your perceptions, notions, and ideas and words.

Nếu ai lìa được các tưởng rồi 

Ngữ ý người ấy trú chân như

Người nào không còn bị những tri giác của mình điều kiện hóa thì lời nói cũng như tâm ý của người đó đang tương ưng, đang an trú trong chân như. Chân như tức là thực tại trong tự thân của nó (reality in itself). Nó là như vậy, ta không thể nghĩ được về nó, không thể nói gì về nó, cũng không thể quan niệm được. Chân như trong tiếng Pháp gọi là ainsité, tiếng Anh gọi là suchness, ta có thể nói chữ ainsité hay hơn. Trong triết học có danh từ l’être en tant qu’être. L’être en tant qu’être nhưng bị kẹt vào chữ être vì chữ être thường được dùng như là sự đối lập của non-être. Êtrebeing. Và nếu là being thì còn đối lập với non-being, vì vậy chữ ainsité hay hơn. “Nó là nó”. Nó là tự thân của nó, mình nói ra không được. 

Có một hôm thầy đi chơi với các em bé trong rừng, mấy ông cháu đang quan sát một vỏ cây và trên vỏ cây mọc một đám rêu có màu rất đẹp. Màu đó không phải là màu xanh mà cũng không phải màu vàng, màu đó nằm giữa màu xanh, màu vàng và màu đỏ, rất đẹp. Có một em bé hỏi: “Sư ông, màu này là màu gì?” thì thầy bí, không thể gọi tên được, rồi thầy nói: “Màu đó đó!”, tức là ta nói ra không được. “Ngươi, tại sao ngươi không trực tiếp tiếp xúc với thực tại đó mà ngươi phải cần qua trung gian của một tên gọi?” “Màu đó đó con!”. Đó là nói theo ý nghĩa của chân như. It is this colour, why do you need to call it by a name? You have direct access to this colour, it is it. Cái đó là chân như – as it is. Năm uẩn cũng vậy, thực tại tối hậu cũng vậy. Nếu muốn đạt tới thực tại nhiệm mầu thì ta phải vượt thoát tất cả những ý niệm, tri giác và tên gọi. Niết bàn là gì? Niết bàn là sự vắng mặt của tất cả các ý niệm và danh từ. Niết bàn không phải là một cái gì trừu tượng. Niết bàn là cái bàn, là bông hoa, là bước chân, là hơi thở, là thế giới. Tại sao ta phải đi tới Niết bàn qua trung gian của ý niệm, tri giác và danh từ? Chúng ta có thể nói Niết bàn là cái này, là cái anh đang sống, cái anh đang làm. Người nào không bị vướng vào những cái tưởng, những ý niệm và lời nói nữa thì ngữ và ý người đó đang an trú trong chân như, dù người đó có nói gì đi nữa thì lời người đó cũng không bị kẹt vào danh tự, và người nghe thông minh thì không mắc kẹt vào lời nói của người này.

Ly nhất thiết tưởng là lìa tất cả các tri giác. Đáo bỉ ngạn là tới bờ bên kia. Ở đây dịch là đến Niết bàn, có lẽ căn cứ trên bản chữ Phạn.

Nhược nhân đắc ly chư tướng dĩ: Nếu có người đạt được tới chỗ lìa tất cả các tướng rồi thì Thị nhân ngữ ý trú chân như: lời nói và tâm ý người đó trú ở trong chân như.

Bài kệ thứ 38:

Người ấy ở đời hằng sa kiếp

Không nghe Bụt nói tiếng “chúng sanh”

Chúng sanh bất sanh, vốn thanh tịnh

Là hành Bát nhã hành tối thượng. 

彼人住世恒沙劫  Bỉ nhân trụ thế hằng sa kiếp

不聞佛說眾生聲  Bất văn Phật thuyết chúng sinh thanh

眾生不生本清淨  Chúng sinh bất sinh bản thanh tịnh

 是行最上般若行  Thị hành tối thượng Bát nhã hành.

Người ấy ở đời hằng sa kiếp, không nghe Bụt nói tiếng chúng sinh”. Người đó là người lìa được các tướng, tâm ý cũng như ngôn ngữ trú ở chân như. Người đó ở đời hằng sa kiếp mà cũng không nghe Bụt nói tới tiếng chúng sinh. Vì sao vậy? Chúng ta có một ý niệm về chúng sinh, chúng ta nói rằng chúng sinh không phải là Bụt. Chúng sinh chỉ là chúng sinh còn Bụt là Bụt. Cái thấy như vậy là cái thấy nhị nguyên, còn phân biệt, chưa bình đẳng. Cái thấy cho rằng ngọn núi không phải hòn sỏi là cái thấy chưa bình đẳng, cái thấy còn nhị nguyên, cái thấy còn phân biệt. Đức Thế Tôn nhìn chúng sinh thì thấy Bụt, nhìn Bụt thì thấy chúng sinh. Cái thấy đó là cái thấy bình đẳng, vô phân biệt và vô nhị. Bụt không bao giờ mở miệng ra nói rằng: “Chúng sinh tụi bây cứng đầu!”, Bụt không nói như vậy. “Ta là Bụt, ta không cứng đầu”, Bụt không nói như vậy.

Chúng sinh là một trong những ý niệm mà ta phải lấy ra khỏi đầu. Chúng ta nhớ trong kinh Kim Cương Bụt có dạy bốn ý niệm cần phải vượt thoát là ý niệm ngã, ý niệm nhân, ý niệm chúng sinh và ý niệm thọ giả. Tư tưởng đó đã có sẵn trong kinh này, chúng sinh được làm bằng những yếu tố không phải chúng sinh, trong đó có yếu tố Bụt.

Người ấy ở đời hằng sa kiếp 

Không nghe Bụt nói tiếng chúng sinh.

Có thể là Bụt nói tiếng chúng sinh nhưng Bụt không kỳ thị, không có lưỡng nguyên, không mất bình đẳng. Nhưng khi ta nghe thì nghĩ rằng có kỳ thị, có lưỡng nguyên, có phân biệt. Vì vậy nên ở đời hằng sa kiếp với Bụt mà không bao giờ thấy Bụt tỏ ra một ý gì, nói một câu nào có tính cách phân biệt chúng sinh với không phải chúng sinh.

Chúng sinh bất sinh vốn thanh tịnh 

Là hành Bát nhã hành tối thượng. 

Chúng sinh bất sinh là bốn chữ rất khéo. Chúng sinh bất sinh nghĩa là chúng sinh không phải là chúng sinh, hay là ở chỗ đó. Ta có thể dịch là chúng sinh vô sinh cũng được, tức là có sinh ra rồi có diệt đi. Sinh nghĩa là không phải những vật vô tri vô giác. Chúng sinh tiếng Anh dịch là sentiment beings, tức là những loài có cảm giác. Chúng sinh hữu tình. Những loài có khổ, có đau, có tri giác là những loài hữu tình. Khi ta nói loài hữu tình tức là nói các loài này không phải là những loài vô tình như cỏ cây đất đá, thì đó là phân biệt, không bình đẳng, là lưỡng nguyên. Nhìn cho sâu sắc thì thấy rằng chúng sinh được làm bằng những yếu tố không phải là chúng sinh như cây cỏ, đất đá và Bụt. Nhìn vào chúng sinh thấy có những cái không chúng sinh ở trong đó. Mình thấy đất, thấy đá, thấy cây cỏ, thấy thú vật ở trong con người và cũng thấy Bụt ở trong con người nữa, nên mới gọi là chúng sinh bất sinh, nghĩa là trong chúng sinh thấy những yếu tố không phải chúng sinh.

Vốn thanh tịnh tức là chúng sinh cũng như Bụt, thoát khỏi tất cả những tên gọi và những ý niệm của chúng ta. Thanh tịnh là vắng lặng, là không còn sự có mặt của những ý niệm về sinh diệt nữa. Khi dùng chữ chúng sinh ta có thể bị kẹt vào ý niệm đây là chúng sinh, đây là các loài hữu tình chứ không phải là loài vô tình. Nếu còn cái tưởng đó thì chưa thấy được chúng sinh. Nhìn vào chúng sinh mà thấy chúng sinh đồng thời không phải là chúng sinh, thấy chúng sinh cũng là Bụt, là đất, đá, là cây cỏ thì lúc đó mới thấy được sâu sắc bản tính của chúng sinh. Nhìn vào A mà thấy A không phải là A thì mới thấy được A rõ ràng. Vì vậy bốn chữ chúng sinh bất sinh rất hay, đây là chơi chữ. Sư cô Chân Đức dịch là Born beings are birthless, cũng hay lắm.

Khi nhìn chúng sinh mà thấy rằng hữu tình cũng là vô tình, chúng sinh cũng là Bụt thì lúc đó cái thấy của mình mới là cái thấy của Bát nhã cao nhất.

Bỉ nhân trụ thế hằng sa kiếp. Người đó sống ở nhiều đời kiếp giống như cát sông Hằng. Hằng tức là sông Hằng, sa là cát. Kiếp là những kiếp sống. Bất văn Phật thuyết chúng sinh thanh: Chưa bao giờ nghe Bụt nói danh từ chúng sinh. Vì sao? Chúng sinh bất sinh thanh tịnh: Chúng sinh chưa bao giờ sinh ra. Chúng sinh cũng là vô sinh và bản tánh của chúng sinh vốn là thanh tịnh. Thanh tịnh tức là không bị kẹt vào những ngôn từ và những ý niệm.

Bài kệ thứ 39:

Tất cả ngôn từ ta nói ra 

Đều mang nghĩa tối thượng Bát nhã

Bụt quá khứ vì ta thọ ký 

Sẽ chứng Bồ đề đời vị lai.

佛說種種之語言  Phật thuyết chủng chủng chi ngữ ngôn

 皆具最上般若義 Giai cụ tối thượng Bát nhã nghĩa

過去佛為我受記  Quá khứ Phật vị ngã thọ ký

於未來世證菩提  Ư vị lai thế chứng Bồ đề.

Những điều ta nói ra đều mang theo hương vị, nghĩa lý của trí tuệ cao nhất và tối thượng Bát nhã. Và các vị Bụt trong quá khứ vì thấy ta có khả năng đó cho nên đã thọ ký cho ta, đã sờ đầu ta mà nói rằng: “Con sẽ đạt được quả bồ đề trong tương lai”. Đây là lời của Bụt nói: “Ngày xưa Bụt Nhiên Đăng có nói với tôi là trong đời tương lai tôi sẽ thành Bụt vì tôi có khả năng”. 

Chủng chủng là nhiều thứ. Ngữ ngôn là lời này, lời kia. Chủng chủng ngữ ngôn tức là different kinds of languages. Bụt nói ra những ngôn từ này, ngôn từ kia, nhưng bất cứ một lời nào cũng chứa đựng ý nghĩa của trí tuệ tối thượng. Giai cụ: Đều đầy đủ ý nghĩa của Bát nhã tối thượng. Cụ là đầy đủ, giai là đều.

Quá khứ Phật vị ngã thọ ký, ư vị lai thế chứng bồ đề

Bụt quá khứ vì tôi mà thọ ký: Tức là biết trước, đoán trước rằng ư vị lai thế là ở trong tương lai sẽ chứng được quả bồ đề.

Bài kệ thứ 40:

Nếu ai thường thọ trì Bát nhã

Hành tung chẳng khác Bụt sở hành

Đao kiếm, thuốc độc, lửa và nước

Cho đến loài ma không chạm được.

若人常受持般若 Nhược nhân thường thọ trì Bát nhã

所作上應諸佛行 Sở tác thượng ứng chư Phật hành
刀劍毒藥水火等 Đao kiếm độc dược thủy hỏa đẳng

乃至諸魔不能為 Nãi chí chư ma bất năng vi.

Nếu người nào thực tập theo Bát nhã thì sự sống, đường đi nước bước của người đó không khác với đường đi nước bước của Bụt. Sự thực tập của người đó không khác với sự thực tập của Bụt. Hành tung chẳng khác Bụt sở hành. Lúc đó thì đao, kiếm, thuốc độc, lửa và nước, cho đến loài ma không chạm được. Tất cả những tai nạn, những khổ đau của cuộc đời sẽ không chạm vào được thân thể và tâm hồn của ta nữa. Điều này thầy thấy rõ và tin chắc một trăm phần trăm.Tất cả những khổ đau, những đe dọa của cuộc đời không thể chạm vào thân thể và tâm hồn ta được nếu ta có được tuệ giác Bát nhã. Ta không bị ngăn ngại bởi thời gian, không gian. Ta không sợ hãi bởi cái thêm – bớt, cái dơ – sạch và ta được giải thoát hoàn toàn. Khi tới với đạo Bụt ta có nhiều cơ hội nhưng phải tìm cho ra, tới cho được cái quý nhất trong đạo Bụt. Cũng như ta tới một nhà kia, trong nhà có rất nhiều châu báu nhưng khi mới tới sân trước thì ta chỉ thấy được đụn rơm hay chuồng bồ câu chứ chưa đi vào được trong nhà, chưa thấy được cái quý báu nhất ở trong nhà. Đạo Bụt cũng vậy, ta có thể tới với đạo Bụt để tụng kinh, niệm Bụt, cầu nguyện cho dịu bớt một vài khổ đau của mình. Nhưng cái quý nhất của Bụt, tinh ba của Bụt là nằm ở trí tuệ Bát nhã. Khi tới ngôi nhà của đạo Bụt thì ta đừng bỏ ra nửa chừng, phải tới cho được chỗ đó, cái tinh hoa đó – Bát nhã hành tối thượng. Chỉ có cái đó mới giúp ta thoát ra khỏi những mặc cảm tội lỗi, những sợ hãi và tuyệt vọng của ta. Nếu anh không có đường thoát, chị không có đường thoát và nghĩ rằng anh chị sẽ trở thành điên loạn và chỉ có con đường tự tử mới bớt khổ thì anh chị nên biết rằng trong đạo Bụt có một con đường thoát. Con đường giải thoát đó là trí tuệ Bát nhã. Đó không phải là một vị thần linh. Đó chính là sự quán chiếu.

Kinh này là một trong những kinh khó của sách Nhật tụng Thiền môn năm 2000. Có thể chúng ta sẽ có cơ hội để học lại. Kinh này phải học suốt đời và chúng ta phải biết đem ra áp dụng trong đời sống hằng ngày. Nếu ta có những vướng mắc ở trong lòng thì ta phải biết rằng có những phương pháp để tháo gỡ. Chúng ta không nên chịu chết trong những vướng mắc của mình, cho dù đó là sự sợ hãi hay mặc cảm tội lỗi.

Kinh Bát nhã hành

Những vị Bồ tát nào vì đời

Diệt trừ chướng ngại và phiền não

Phát tâm tịnh tín nơi Niết bàn

Ðều nên noi theo Bát nhã độ.

Các sông lưu nhuận châu Diêm phù

Làm tươi dược thảo và hoa quả

Ðều do uy lực của long vương

Cư trú nơi hồ Vô Nhiệt Trì.

Các giới Thanh văn đệ tử Bụt

Phương tiện thuyết pháp độ được người

Vui hưởng phước báo hạnh tối thắng

Ðều do uy lực Tối Thắng Tôn.

Bụt truyền con mắt của chánh pháp

Ðệ tử theo đó mà hành trì

Thực hiện tự chứng và dạy người

Tất cả đều do uy lực Bụt. (C)

Ðối tượng tuyệt vời không nắm bắt

Không có sở chứng, không Bồ đề

Nghe vậy mà không thấy khiếp sợ

Là Bồ tát kia hiểu được Bụt.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không

Không dính mảy may, không xứ sở

Bồ tát không trú nơi pháp nào

Là chứng Bồ đề không nắm bắt.

Bồ tát khi cầu trí xuất gia

Soi thấy năm uẩn không thật tướng

Biết vậy không tìm cầu tịch tĩnh

Mới thật là hạnh trí Bồ tát.

Sở đắc của trí này là gì?

Là soi thấy tất cả đều không

Một soi thấy rồi không hoảng sợ

Bồ tát tự giác và giác tha.

Các uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Khi hành phải hiểu được tự tánh

Bồ tát soi thấy uẩn đều không

Hành theo vô tướng, không danh tự.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức là không

Không hành nên gọi vô tướng hành

Có hành nên không trí tối thắng

Không định, vô tướng và tịch tĩnh.

Nếu hành tịch tĩnh được như thế

Chư Bụt quá khứ đều thọ ký

Bản tánh nhân duyên đã biết rồi

Khổ vui không còn chạm tới được.

Hành mà không thấy pháp sở hành

Là hành theo trí bậc Thiện Thệ

Hành theo được pháp vô sở hành

Mới là Bát nhã hành tối thượng. 

Vô sở hành ấy không thể nắm

Kẻ ngu chấp tướng nói có không

Có không cả hai đều chẳng thật

Bồ tát liễu tri nên thoát khỏi.

Bồ tát biết được là huyễn hóa

Năm uẩn sắc, thọ, tưởng, hành, thức

Thoát ly các tướng tịch tĩnh hành

Ðó là Bát nhã hành tối thượng. (C)

Thầy hiền bạn tốt mách bảo cho

Nghe kinh Phật Mẫu không hoảng sợ

Thầy hư bạn xấu đưa lầm đường

Là vò chứa nước nung chưa chín.

Thế nào được gọi là Bồ tát?

Không còn vướng mắc các dục hành

Cầu quả bồ đề không chấp trước

Vì vậy nên gọi là Bồ tát.

Thế nào được gọi Ma ha tát?

Là kẻ đạt tới đệ nhất nghĩa

Chặt hết tà kiến trong quần sanh

Vì vậy nên gọi Ma ha tát.

Ðại thí, đại huệ, đại uy đức

Ngồi xe tối thượng của Phật thừa

Phát tâm bồ đề độ chúng sanh

Cho nên gọi là Ma ha tát.

Như nhà ảo thuật giữa ngã tư

Hóa hiện đám đông chặt đầu người

Mọi cõi thế giới đều huyễn hóa

Biết thế Bồ tát không sợ hãi.

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức buộc ràng

Biết chúng không thật không cần cởi

Hành tâm Bồ tát không vướng mắc

Ðó gọi là Bồ tát tối thượng.

Thế nào mệnh danh là Bồ tát?

Cưỡi xe Ðại Thừa độ chúng sanh

Thể tướng Ðại Thừa như hư không

Bồ tát được niềm vui an ổn.

Cỗ xe Ðại Thừa không nắm được

Tới cõi Niết bàn, đi mọi nơi

Nơi về không thấy, như lửa tắt

Vì thế nên gọi là Niết bàn.

Sở hành Bồ tát không nắm được

Tất cả ba thời đều thanh tịnh

Thanh tịnh, vô úy, không hý luận

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Khi Bồ tát hành hạnh đại trí

Phát đại từ bi độ chúng sanh

Không hề phát khởi niệm chúng sanh

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Bồ tát khởi niệm vì chúng sanh

Tu các khổ hạnh, có khổ tướng

Là còn tướng ngã, tướng chúng sanh

Không phải Bát nhã hành tối thượng.

Biết rõ tự thân và chúng sanh

Biết rõ các pháp cũng như thế

Sinh diệt không hai, không phân biệt

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Bỏ hết danh từ và tên gọi

Các pháp sinh diệt thế gian này

Ðạt trí cam lộ vô tỷ ấy

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Bồ tát hành sở hành như thế

Biết rõ phương tiện, không mong gì

Bản tánh pháp này biết không thật

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Nếu không trú sắc không trú thọ

Cũng không trú tưởng, hành và thức

Mà chỉ an trú nơi chánh pháp

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Thường và vô thường, khổ và lạc

Ngã và vô ngã đều là không

Không trú hữu vi, không vô vi

Trú vô tướng hành như Bụt vậy.

Thanh văn, Duyên giác quả muốn cầu

Hay cầu quả Bụt cũng như thế:

Không trú nhẫn này không đạt được

Như sang sông lớn chẳng thấy bờ.

Nếu nghe pháp này nhất định đắc

Thành chánh đẳng giác, chứng Bồ đề

Thấy nơi tất cả như tự thân

Ðó là đại trí Như Lai nói.

Ðại trí Bồ tát hành như thế

Không học Duyên giác và Thanh văn

Chỉ học nhất thiết trí Như Lai

Học cái phi học mới là học.

Học không thọ sắc, không tăng giảm

Lại cũng không học những pháp khác

Chỉ vui học theo nhất thiết trí

Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế

Sắc không hữu trí, không vô trí

Thọ, tưởng, hành, thức cũng như thế

Tự tánh của sắc như hư không

Bình đẳng, vô nhị, không phân biệt.

Bản tánh vọng tưởng không biên giới

Bản tánh chúng sanh cũng thế kia

Tự tánh hư không không ngằn mé

Trí thế gian giải cũng như vậy. (C)

Trí tuệ không sắc, Bụt đã nói

Lìa tất cả tưởng, đến Niết bàn

Nếu ai lìa được các tưởng rồi

Ngữ ý người ấy trú chân như.

Người ấy ở đời hằng sa kiếp

Không nghe Bụt nói tiếng “chúng sanh”

Chúng sanh bất sanh, vốn thanh tịnh

Là hành Bát nhã hành tối thượng.

Tất cả ngôn từ ta nói ra

Ðều mang nghĩa tối thượng Bát nhã

Bụt quá khứ vì ta thọ ký

Sẽ chứng Bồ Ðề đời vị lai.

Nếu ai thường thọ trì Bát Nhã

Hành tung chẳng khác Bụt sở hành

Ðao kiếm, thuốc độc, lửa và nước

Cho đến loài ma không chạm được.