Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 04 & 11 tháng 01 năm 1998, Làng Mai, Pháp)

Quay về là quy, nương tựa là y.

Khi tụng bài Quay về nương tựa, trong tâm chúng ta có cảm giác bình an và hạnh phúc bởi vì lúc ấy chúng ta có ý thức là ta đang đi đúng đường, đang có nơi để trở về và đang được che chở. Cái thấy đó đem lại cho ta năng lượng của sự bình an, vững chãi và hạnh phúc. Nếu trong khi tụng Quay về nương tựa mà không có hạnh phúc, không có vững chãi tức là chúng ta đang không thực tập đúng pháp. Chúng ta có danh từ hướng thượng và hướng hạ. Hướng thượng có nghĩa là đi về hướng đẹp, thật và lành. Nếu chúng ta đang không hướng thượng thì có nghĩa là đang hướng hạ. Khi trong tâm chúng ta có những lo buồn, khổ đau là chúng ta đang hướng về phía tối tăm, hướng hạ. Ngược lại, khi hướng thượng tức là hướng về phía hạnh phúc, tình thương thì chúng ta đang đi trên con đường hạnh phúc. Mỗi điểm trên con đường đều chứa đựng sự hướng thượng và sự hướng hạ. Thí dụ mỗi điểm trên con đường từ Boston lên New York đều chứa đựng sự hướng thượng và sự hướng hạ. Nếu chúng ta hướng về Boston và đi được một cây số từ New York đến Boston thì dù mới đi một cây số, đó cũng là Boston rồi. Trong mỗi bước chân đó đang có Boston. Tuy ta chưa tới Boston nhưng Boston đã nằm ngay dưới mỗi bước chân của ta. Chúng ta hướng về Boston thì bước chân đó có Boston. Ngược lại, nếu ta xoay về phía New York thì mỗi bước chân đó có New York. Cho nên, mê hay ngộ, quan trọng là cái hướng. Nếu là hướng hướng thượng, đó là ngộ, nếu là hướng hướng hạ thì đó là mê. Boston hay New York là tùy ta hướng về. Ta có thể nói rằng trong lộ trình New York – Boston, điểm nào cũng chứa đựng New York và Boston. Hướng về Boston thì nó là Boston, hướng về New York thì chỗ đó là New York. Mê và ngộ cũng vậy, trên bước đường hành đạo, khi tâm ta hướng về Tam bảo, đó là hướng thượng. Nếu ta hướng về đau buồn, trách móc, giận hờn thì đó là hướng hạ. Cho nên khi đọc Quay về nương tựa, ta thấy rõ ràng ta đang hướng thượng. Ta hướng về phía mặt trời, ta hướng về phía Bụt, Pháp và Tăng. Cố nhiên, khi đó cảm giác an ổn, vững chãi, thảnh thơi và hạnh phúc được biểu hiện trong ta. 

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.

Bụt trước hết là một vị đạo sư. Chữ đạo trong đạo sư có nghĩa là dẫn đường, chứ không phải là con đường. 

道 Đạo: con đường.

導 Đạo: dẫn đường. Phía dưới có chữ thủ 扌nghĩa là bàn tay.

Sư là thầy, đạo sư nghĩa là bậc thầy dẫn đường. Chúng ta là những người học trò của Bụt và chúng ta nên nhớ Bụt đối với chúng ta trước hết là một người đưa đường mà không phải là một vị thần linh, không phải là thượng đế (He is not a God. He is a teacher). Điều này rất quan trọng. Con nương tựa Bụt vì Bụt là người dẫn đường cho con. Đó là cái thấy của ta trong khi ta đọc bài Con về nương tựa Bụt. Tiếng Phạn, Buddha là Bụt. Âm “a” trong tiếng Phạn đọc rất nhẹ, chữ Buddha được đọc là Budd. Phát âm tiếng Việt Bụt rất đúng, và rất gần với tiếng Phạn. Khi chúng ta đọc là Phật tức là chúng ta đang bị ảnh hưởng cách phát âm của người Trung Quốc. Trong nghi thức tụng niệm của Phật giáo Nam tông chỉ có “Con về nương tựa Bụt”, chứ không có vế sau “người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời”. Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi. Gacchāmi là con đi về, Buddhaṃ là về với Bụt, Śaraṇaṃ là làm chỗ nương tựa. Con đi về với Bụt, lấy Bụt làm chỗ nương tựa (I go to the Buddha as refuge.) Trong bản tiếng Việt này chúng ta có thêm người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời thì rõ ràng hơn rất nhiều.

Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.

Chữ Pháp ở đây được định nghĩa là từ bi và trí tuệ. Chúng ta biết rằng từ bi và trí tuệ là hai yếu tố căn bản trong giáo pháp của Bụt, cho nên dùng chữ tình thương và sự hiểu biết bao hàm được bản chất của Pháp. Khi tụng Con về nương tựa Pháp (Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi), chúng ta phải biết rõ Pháp là gì, đó không phải là một ý niệm mơ hồ. Pháp là con đường trong đó tình thương và sự hiểu biết là hai yếu tố quan trọng. Cũng như câu  trước, ở đây chúng ta thêm: con đường của tình thương và sự hiểu biết, để cho rõ nghĩa hơn. 

Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. 

Saṃghaṃ śaraṇam gacchāmi. Con về nương tựa Tăng, I go to the Sangha as refuge.

Chúng ta có định nghĩa rất rõ ràng về Tăng. Tăng là đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. Có nhiều đoàn thể nhưng Tăng là đoàn thể có lý tưởng sống chánh niệm với nhau, sống tỉnh thức để có thể chế tác hiểu biết và thương yêu. Trong đạo Bụt, chữ Saṃgha có nghĩa rất chính xác, là đoàn thể của những người sống với nhau trong tinh thần tỉnh thức. Tỉnh thức là chánh niệm, chánh niệm đưa đến hiểu biết và thương yêu. Như vậy, bài kinh Ba sự quay về bằng tiếng Việt đầy đủ hơn bản tiếng Phạn. Các hành giả thuộc truyền thống Nam tông đọc Tam quy như sau:

Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi

Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi

Saṃghaṃ śaraṇam gacchāmi

Đọc như vậy, cảm thấy ngắn quá nên họ đọc thêm lần thứ hai, lần thứ ba. Cũng như khi hát mà thấy chưa đã, chúng ta hát lại lần thứ hai. Đọc Tam quy, ta có cảm giác khỏe khoắn, tăng thêm niềm tin; cho nên ta muốn đọc lại lần thứ hai, lần thứ ba. Tuy ba câu Quay về nương tựa Bụt, Pháp, Tăng bằng tiếng Việt đầy đủ nhưng chúng ta cũng muốn đọc lại lần thứ hai, và lần thứ hai đi sâu hơn. Theo tinh thần đọc ba lần gọi là Tam trùng Quy y tức là quy y tới ba lần. 

Lần thứ nhất ta thấy rõ hành động quy y. Quy y Phật, người đưa đường dẫn lối cho ta trong cuộc đời. Quy y Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết. Quy y Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. Ta thấy rất rõ bản chất và nội dung của hành động quy y. 

Lần thứ hai ta thấy rõ là ta đã quy y rồi:

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. 

Đã về nương tựa Bụt cho nên ta đang có hướng đi, thấy rõ là ta đang đi trên con đường sáng đẹp, rất hạnh phúc. Khi tụng câu con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời, theo nguyên tắc là phải chế tác được chất liệu của sự hân hoan trong ta. Ta đang có hướng đi sáng và đẹp trong cuộc đời, vì nhìn xung quanh ta thấy có nhiều người không biết đang đi về đâu. Họ không có một con đường, đường đi của họ tối tăm mịt mờ, không biết đi về đâu. Trong khi đó ta đang có hướng đi sáng và đẹp trong cuộc đời. Thấy được như vậy, ta có hạnh phúc trong lòng. 

Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. 

Về nương tựa Pháp không phải chỉ nương tựa bằng miệng, không chỉ là lời tuyên bố suông. Về nương tựa Pháp tức là phải học hỏi những pháp môn, những phương pháp giúp ta chuyển hóa những khổ đau và đạt tới an lạc. Pháp môn (法門) tức là những phương pháp thực tập. Môn (門) là cánh cửa. Đạo Bụt hiến tặng cho chúng ta rất nhiều cánh cửa, rất nhiều phương pháp thực tập. Có pháp môn này thích hợp cho người này, có pháp môn khác thích hợp cho người khác. Người thì thích thiền tọa nhiều hơn, người thì thích thiền hành nhiều hơn, người thì thích thiền lạy nhiều hơn. Và có nhiều người thì thích thực tập nhiều pháp môn một lúc. Chúng ta nghe nói đạo Bụt có khoảng 84.000 pháp môn, dù rất nhiều nhưng ta vẫn thấy chưa đủ. Cho nên mỗi ngày trong khi tu tập, ta còn sáng chế thêm những pháp môn mới. Con số 84.000 pháp môn cho chúng ta thấy đạo Bụt có tinh thần rất cởi mở. Đạo Bụt không bắt ép ta thực tập theo những pháp môn không thích hợp với ta, nên hiến tặng rất nhiều pháp môn và tùy ý ta muốn chọn lựa pháp môn nào thích hợp thì thực tập. Nếu ta không muốn ăn ớt thì không ai ép ta phải ăn ớt. Nếu ta không muốn ăn bột ngọt thì không ai ép ta ăn bột ngọt. Vì vậy ta có tự do chọn lựa ngay cả trong sự tu học. 

Con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. Chuyển hóa là biến đổi, transformation. Ta có đau khổ, pháp môn làm cho an vui, ta có giận hờn thì pháp môn làm cho ta tươi mát. Chuyển hóa không phải là chuyển hóa trên bề mặt, mà chuyển hóa ngay tận gốc cho nên gọi là chuyển y, transformation at the base. Y tức là chỗ nương tựa, là A lại gia, là tàng thức của ta. Chuyển hóa ở dưới chiều sâu tâm thức thì mới gọi là chuyển hóa chân thật. 

Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. 

Đã nương tựa Tăng rồi cho nên ta có tăng thân. Có rất nhiều cái lợi khi ta có tăng thân. Lợi thứ nhất là được tăng thân soi sáng, bởi vì ta có hai mắt nhưng tăng thân có rất nhiều mắt. Tăng thân gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần đều thực tập chánh niệm cho nên con mắt của tăng thân rất sáng. Ta phải quỳ lạy trước tăng thân để xin mắt tăng thân soi sáng cho ta. Ta phải vâng theo mắt Tăng, phải sử dụng mắt Tăng để soi sáng. Mỗi người trong chúng ta đều có mắt Tăng, Sangha eyes. Chúng ta đừng sợ hãi, hãy dùng mắt Tăng để soi sáng cho tự thân, có như vậy ta sẽ thấy được rất nhiều điều mà với con mắt cá nhân ta không thấy được. Mắt Tăng nhìn cuộc đời. 

Con đang được Tăng thân soi sáng. Người tu hành sống trong tăng thân là phải được thừa hưởng sự soi sáng của tăng thân. Vì vậy, khi tăng thân ngồi lại, chỉ ra cho ta thấy những ưu điểm và khuyết điểm của ta thì ta phải lắng nghe và cảm tạ. Tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ. Dìu dắt nghĩa là giúp ta không bị vấp ngã, té đau. Đi một mình, ta có thể vấp ngã. Nương tựa Tăng thân để tăng thân có mặt sau lưng, bên cạnh, bên phải, bên trái ta thì ta không còn bị vấp ngã. Những người tu hành mà không có tăng thân thì không biết tu có thành hay không. Tăng thân rất quan trọng, do đó ta phải quay về quy y Tăng. Giờ phút ta rời tăng thân là ta bắt đầu dấn thân vào đoạn đường nguy hiểm, cũng như giờ phút con cọp rời khỏi khu rừng của nó để về đồng bằng, con cọp bắt đầu dấn thân vào con đường nguy hiểm, vì thế nào cũng có người bắt giết và lột da nó. Người tu cũng vậy, người tu mà bỏ tăng thân của mình thì sẽ không có ai nâng đỡ và dìu dắt nữa. 

Tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. Thực tập những pháp môn chuyển hóa, ta cần phải có tăng thân xây dựng và nâng đỡ, như vậy thì mới thành công được. Khi đọc câu “đã về nương tựa Bụt, nương tựa Pháp và nương tựa Tăng”, hạnh phúc và sự vững tâm trong ta càng lớn. Đã về nương tựa Bụt chứ không phải là đang đi về nương tựa Bụt, đã về nương tựa Bụt con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời. Con đã có, con đang có hướng đi. Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa. Chúng ta có những pháp môn trong tay, có Pháp trong tay. Đã về nương tựa Tăng con đang được Tăng thân soi sáng dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. Chúng ta có Tăng trong tay, trong trái tim và xung quanh ta 24 giờ một ngày thì cảm giác vững chãi, an ninh biểu hiện rất rõ ràng. 

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, sớm mở lòng bồ đề. 

Chúng ta đi sâu vào một tầng nữa để thấy Bụt, Pháp và Tăng không còn là những thực tại bên ngoài ta mà Bụt, Pháp và Tăng là những thực tại có mặt ngay trong trái tim ta. Cho nên bài tụng Tam quy của chúng ta rất sâu. 

Tự quy y Phật, nghĩa là trở về nương tựa nơi bản chất của Bụt ở trong ta. Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người, thể nhận được giác tính, sớm mở lòng bồ đề. Thể nhận là thấy được, công nhận được sự có mặt. Giác tính (覺性), là khả năng có thể giác ngộ. Khi về nương Bụt ở nơi tự thân, ta biết rằng trong ta có giác tính, có Buddha nature. Lòng bồ đề là Bodhicitta. Khi có bồ đề tâm, ta có rất nhiều năng lượng, ta rất hạnh phúc. Ta đã về nương Bụt trong ta, đã thể nhận được giác tính, đã có tâm bồ đề rồi thì ta cũng mong ước cho tất cả chúng sanh người nào cũng được như ta, cũng thể nhận được giác tính, cũng sớm mở lòng bồ đề. Giác tính mỗi người đều có nhưng ít ai biết được. Vì vậy, giờ phút đức Thế Tôn thành đạo dưới cây bồ đề, khi nhìn thấy ngôi sao mai thì Ngài mới thốt ra câu nói: “Lạ thay, tất cả mọi chúng sinh đều có giác tính ở trong lòng mà tại sao cứ để bản thân bị chìm đắm trong biển khổ sông mê từ kiếp này sang kiếp khác.” Đó là sự ngạc nhiên của Bụt vào giờ phút Ngài giác ngộ. 

Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người, nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.

Thông thường chúng ta nghĩ rằng các pháp môn mà ta đang thực tập là ở bên ngoài ta và do một vị đạo sư trao truyền. Thực ra, các pháp môn đó có sẵn trong ta. Nếu tiếp xúc một cách sâu sắc với giác tính trong ta thì tự nhiên ta cũng tiếp xúc được Pháp tính ở trong ta. Ta có thể thấy được các pháp môn để chính ta thực tập và chia sẻ pháp môn đó với mọi người. Chúng ta đã xuất gia, đã quy y, đã thọ giới và đã được trao truyền những pháp môn. Trong khi thực tập, nhờ vào những kinh nghiệm, chúng ta có thể gia giảm, cắt bỏ và đặt ra những pháp môn thực tập cho phù hợp với mình. Chúng ta biết rằng Pháp là cái gì có sẵn trong mình, ta nguyện tu tập như thế nào để mỗi ngày những pháp môn càng rõ ra và ta có thể nắm được pháp môn rất vững. Khi nắm được pháp môn rồi, ta không còn sợ hãi nữa. Ta không sợ hãi những trường hợp như vướng mắc, tham đắm, giận hờn. Có pháp môn rồi thì mỗi khi những cái đó nổi lên, ta có thể thực tập và đối trị được. Khi những tâm niệm vướng mắc, thèm khát, tham đắm, nghi ngờ, giận hờn, tuyệt vọng nổi lên, ta sẽ không chịu chết, sẽ không bó tay để nó dắt đi đâu thì dắt. Ta rút pháp môn từ trong túi ra và nói: “Bớ các loài yêu quái, ta đâu có sợ ngươi, ta có đủ những pháp môn ở trong ta rồi” và đem ra áp dụng thực tập ngay! Các loài yêu quái sẽ không làm gì được! Nắm vững các pháp môn là như vậy. Nếu chưa vững thì ta phải thực tập, phải học hỏi mỗi ngày để nắm cho được. 

Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người, xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài.

Chúng ta thực tập cho đến khi có đủ khả năng xây dựng được bốn chúng. Trong ta có tăng thân, đi đâu ta cũng mang tăng thân trong trái tim, đến đâu ta cũng xây dựng tăng thân. Bốn chúng tức là xuất sĩ nam, xuất sĩ nữ, cư sĩ nam và cư sĩ nữ. Đi đâu ta cũng xây dựng nên bốn chúng và bốn chúng trở thành môi trường bảo hộ, nâng đỡ và dìu dắt mọi người. Người tu là phải như vậy. 

Xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. Nhiếp là ôm lấy, nắm vững, không để cho rơi rụng ra ngoài, hóa là chuyển hóa. Đó là mục đích của người tu. Quy y Bụt trong tự thân, ta mong cho mọi người thể nhận được giác tính và phát bồ đề tâm. Quy y Pháp trong tự thân, ta mong cho tất cả mọi người nắm vững được các pháp môn để cùng lên đường chuyển hóa. Quy y Tăng trong tự thân, ta nguyện cho mọi người, người nào cũng có khả năng xây dựng bốn chúng. Nhiếp chúng là ôm lấy, giữ gìn đừng cho chúng rơi rớt ra ngoài, làm sao cho chúng trở thành một khối đoàn kết, vững chãi, hạnh phúc. Người thực tập là người có khả năng xây dựng nên bốn chúng và nhiếp hóa bốn chúng đó.

Từ hôm nay về sau, mỗi khi tụng bài Quay về nương tựa chúng ta phải tụng tiếng cho rõ, cho sáng, cho hùng hậu. Trong khi tụng, ta phải làm thế nào cho năng lượng của sự an tâm, vững chãi, hân hoan, hạnh phúc được chế tác, được biểu hiện trong ta và tiếng tụng kinh của chúng ta hiển lộ được niềm hân hoan hạnh phúc đó, như vậy thì năng lượng sẽ rất hùng mạnh. Tụng kinh như vậy có thể chuyển hóa được hoàn cảnh của chúng ta và tất cả các loài tới nghe kinh sẽ cảm nhận được năng lượng đó. Nhờ vậy, tất cả mọi loài đều được thừa hưởng năng lượng đó và cảm thấy có sự chuyển hóa trong lòng họ. 

Trong truyền thống Theravāda, các hành giả tụng đọc Quay về nương tựa ba lần:

Buddhaṃ śaraṇaṃ gacchāmi

Dharmaṃ śaraṇaṃ gacchāmi 

Saṃghaṃ śaraṇam gacchāmi

Trong truyền thống Bắc tông cũng có bài tương tự, nhất là khi làm lễ quy y cho những vong hồn.

Hương linh quy y Phật

Hương linh quy y Pháp

Hương linh quy y Tăng

Hương linh là người đã chết, vì có thể khi còn sống người đó chưa được làm lễ quy y, nên khi cầu nguyện cho người đó thì chúng ta cho họ một cơ hội để được quy y.

Tuy nhiên, người ta thấy như vậy chưa đủ, nên đọc thêm câu thứ hai:

Quy y Phật lưỡng túc tôn

Quy y Pháp ly dục tôn

Quy y Tăng chúng trung tôn

Quy y Phật lưỡng túc tôn nghĩa là quy y Phật, bậc tôn kính trong loài hai chân, tức là loài người. Ngoài ra, chữ lưỡng túc cũng có thể được hiểu là sự đầy đủ của trí và bi.

Quy y Pháp ly dục tôn tức là bậc tôn kính đã xa lìa được sự thèm khát, ham muốn.

Quy y Tăng chúng trung tôn là bậc tôn kính trong các đoàn thể.

Quy y Phật bất đọa địa ngục

Quy y Pháp bất đọa ngạ quỷ

Quy y Tăng bất đọa bàng sinh

Quy y Phật bất đọa địa ngục: khi đã quy y Phật rồi thì không bị rơi xuống địa ngục nữa, đó là cái lợi của quy y Phật, với điều kiện là quy y thật.

Quy y Pháp bất đọa ngạ quỷ: khi đã quy y Pháp thì không bị rơi xuống thành quỷ đói nữa.

Quy y Tăng bất đọa bàng sinh: khi đã quy y Tăng thì không bị rơi xuống làm những loài cầm thú. 

Quy y Phật bất quy y thiên thần quỷ vật

Quy y Pháp bất quy y ngoại đạo tà giáo

Quy y Tăng bất quy y tổn hữu ác đảng

Quy y Phật bất quy y thiên thần quỷ vật: khi đã quy y Phật rồi thì không quy y các bậc thần linh, ma quỷ, hay những đối tượng thờ cúng khác như cây đa, bình vôi, v.v.

Quy y Pháp bất quy y ngoại đạo tà giáo: khi đã quy y Pháp rồi thì không theo những đường lối tín ngưỡng mê tín, sai lạc.

Quy y Tăng bất quy y tổn hữu ác đảng: khi đã quy y Tăng rồi thì không nương tựa vào những bè bạn xấu mà làm hư hại, tổn thất cho ta, không gia nhập những băng đảng, những đoàn thể bạo động, cướp bóc, dâm dục, xì ke, ma túy,… Đây là chuyện mà các bậc làm cha mẹ rất lo sợ, sợ con mình đi quy y các băng đảng xã hội đen, đi đánh phá cướp bóc ngân hàng, hút chích xì ke ma túy,…

Những câu trên là đọc cho cô hồn nghe, cô hồn sống và cô hồn chết.

Quy y Phật cảnh

Quy y Pháp cảnh

Quy y Tăng cảnh

Chữ cảnh ở đây có nghĩa là rồi. Đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng rồi. Nếu tụng đọc bốn phần trên và phát nguyện thực tập đàng hoàng thì có nghĩa là đã quy y Phật, đã quy y Pháp, đã quy y Tăng thật sự. Đây là trong nghi thức chữ Nho. Chúng ta hãy tụng đọc thật chậm rãi để cho hương linh được quy y, và chính ta cũng được quy y.