Giảng kinh
(Phiên tả Pháp thoại ngày 18 tháng 12 năm 1997 tại xóm Mới, Làng Mai, Pháp)
Chúng con hiện tiền tâm thanh tịnh
Thiền tọa kinh hành và tụng kinh
Chuyển niệm nghĩa là chuyển từ tụng kinh sang niệm Bụt.
Hiện tiền là bây giờ và ở đây.
Tâm thanh tịnh là tâm được lắng đọng lại, không bị những phiền não quấy động, lặng yên như nước hồ thu, bởi vì chúng ta vừa được nghe những lời kinh rất mầu nhiệm. Chúng ta cũng đã được sống hơn nửa giờ hoặc một giờ đồng hồ trong tịnh niệm nên tâm ta đã thanh tịnh trở lại.
Thiền tọa, kinh hành và tụng kinh là ba sự thực tập đem lại sự thanh tịnh. Chúng ta nên tập dùng chữ thiền ngồi thay cho chữ thiền tọa, vì chữ thiền ngồi rất Việt Nam.
Kinh hành tức là thiền đi chậm. Chữ kinh (經) có bộ mịch (糸) gợi ý về hình ảnh sợi chỉ. Khi đóng một quyển kinh, chúng ta phải dùi lỗ tất cả những tờ giấy và dùng một sợi chỉ luồn qua những lỗ đó để giữ các tờ giấy không bị rơi rụng. Kinh có nghĩa là đi xuyên qua và giữ lại, xâu lại, không để cho mất mát, như chúng ta xâu một hạt chuỗi, không để cho viên ngọc nào rơi ra ngoài. Sợi dây có tác dụng giữ tất cả các hạt minh châu lại để làm thành chuỗi hạt. Kinh hành cũng vậy, mỗi bước chân là một viên ngọc và chánh niệm đi xuyên qua mỗi bước chân. Không có bước chân nào rơi ra ngoài, bước chân nào cũng có chánh niệm. Kinh hành là thiền đi trong thiền đường, đi chậm hơn so với đi ngoài trời, mỗi bước chân kết hợp với một hơi thở. Nếu thực tập giỏi thì khi đi một trăm bước, ta sẽ có một trăm bước chánh niệm. Còn nếu chúng ta không thực tập đàng hoàng thì sẽ có những bước chân bị lạc trong thất niệm. Khi chúng ta nghĩ tới chuyện này, chuyện kia thì cũng giống như sợi dây không xâu hết những viên ngọc, đó là do công phu của ta thiếu sót. Nếu có bước chân nào dẫm xuống cõi ta bà, dẫm xuống cõi sầu khổ và giận hờn thì bước chân đó đã bị rớt ra ngoài, nghĩa là không nằm trong sợi dây chánh niệm. Ta có thể kinh hành trong im lặng và sử dụng những câu Đã về đã tới, Quay về nương tựa hay Đây là Tịnh độ… nhưng điều thiết yếu là mỗi bước chân phải bước trên Tịnh độ, đừng bước vào cõi sầu khổ và giận hờn. Khi chúng ta vừa kinh hành vừa niệm Bụt bằng những câu Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni hay Nam mô Bồ tát Quán Thế Âm, ta hãy để mỗi bước chân cùng đi với Bụt và đi bằng bước chân của Bụt. Tức là phương pháp niệm Bụt (念佛 – Buddhānusmṛti), niệm Pháp, niệm Tăng. Người Nhật thích niệm Pháp: Nam mô Đại thừa Diệu Pháp Liên Hoa kinh.
Trong khi kinh hành, dù im lặng hay niệm Bụt, chúng ta cũng phải duy trì chánh niệm, đừng để bước chân nào lạc ra ngoài. Niệm Bụt thì niệm Bụt, theo thi kệ thì theo thi kệ, trong giờ phút đó chúng ta phải an trú trong Tịnh độ, đừng rời khỏi Tịnh độ.
Tụng có nghĩa là đọc lại. Ta đã biết trong kinh nói gì rồi nhưng ta vẫn tụng lại. Ở đây không phải là vấn đề học hỏi mà là vấn đề thực tập. Tụng kinh là để tưới tẩm những hạt giống tốt mà ta đang có. Ta đã đọc và hiểu kinh đó rồi nhưng ta vẫn tụng như thường vì mỗi lần tụng thì hạt giống của hiểu biết và tuệ giác trong ta được tưới tẩm. Do đó, tụng kinh rất quan trọng nhưng chỉ quan trọng khi chúng ta tụng có chánh niệm. Còn tụng kinh như một con vẹt, chỉ để ý tới âm tụng làm sao cho đừng sai, trong khi tâm không duyên với nghĩa lý của kinh thì không có nhiều lợi lạc. Tiếng kinh giống như một nhát búa, giáng vào khối si mê của ta. Khối si mê đó giống như một khối sắt, đập tuy khó vỡ nhưng ta cứ kiên nhẫn, có công mài sắt có ngày nên kim. Những ý tưởng, những giáo huấn của đức Thế Tôn mỗi ngày sẽ soi sáng cho ta. Ta cứ tưởng rằng mỗi buổi sáng hoặc buổi tối tụng kinh đều như tất cả những lần tụng khác, nhưng không, lần tụng này sẽ làm cho nổ tung và làm vỡ khối si mê trong ta và tự nhiên ta thoát được, vỡ ra. Đó là do ta bắt đầu hiểu, gọi là ngộ. Mê nghe kinh trọn kiếp, ngộ chỉ một sát na (Nhạc Tịnh Thủy). Sát na đó là sát na của lần tụng cuối cùng.
Xin nguyện Tam bảo và Long thiên
Yểm trợ đạo tràng cùng bốn chúng
Tam bảo là Bụt, Pháp và Tăng. Tam bảo có hai nghĩa:
- Đồng thể Tam bảo (同体三寶): là ba ngôi báu cùng một thể chất.
- Biệt tướng Tam bảo (別相三寶): thấy được Bụt là khác, Pháp là khác, Tăng là khác.
Đứng về phương diện bản chất thì Tam bảo cùng thể tính như nhau. Nhưng đứng về phương diện tướng thì Tam bảo có khác nhau. Bụt là Bụt, Pháp là Pháp, Tăng là Tăng. Nhưng nhìn cho sâu thì thấy Bụt sở dĩ được là Bụt vì nhờ có Pháp và có Tăng. Pháp có được là nhờ Bụt và Tăng. Tăng có được là nhờ Bụt và Pháp. Nhìn sâu vào từng biệt tướng của Tam bảo thì ta thấy được đồng thể Tam bảo.
Long thiên là loài rồng và chư thiên, hai giới cùng với loài người bảo vệ chánh pháp. Loài rồng và chư thiên cũng như A tu la và Dược xoa đều là học trò của Bụt. Nhiều khi tụng kinh ta tưởng chỉ có sư anh, sư chị, sư em của ta nghe thôi nhưng kỳ thực có những loài khác cũng đang nghe. Vì vậy, phải tụng kinh cho đàng hoàng. Có những loài tới nghe tụng kinh, họ có thể ở trên không hay ở dưới đất (Hoặc tại địa thượng hoặc cư không). Nên khi tụng kinh là tụng cho nhiều loài cùng nghe chứ không phải tụng cho riêng mình hay cho các sư anh, sư chị, vì vậy tụng sai rất tội nghiệp cho họ. Trong nghi thức có câu:
Thiên, A tu la, Dược xoa đẳng
Lai thính Pháp giả ưng chí tâm
Nghĩa là các loài trời, A tu la, Dược xoa và loài rồng tới nghe Pháp thì phải hết lòng và bảo hộ cho Phật pháp. Vì vậy, khi tụng tới câu Xin nguyện Tam bảo và Long thiên ta phải thấy chư thiên đang ở trên trời, trên mái chùa của mình cùng các loài rồng và các loài khác nữa đều đến nghe tụng kinh. Cho nên ta phải tụng hết lòng và tụng rất nghiêm chỉnh để tất cả đều được lợi lạc. Bởi vì chỗ nào có Pháp là chỗ đó có điều kiện của giải thoát, hạnh phúc. Đó là ta cũng đang làm mưa Pháp.
Yểm trợ đạo tràng cùng bốn chúng
Quý vị tới đây nghe Pháp, thực tập Pháp thì quý vị hãy yểm trợ cho đạo tràng, cho ngôi chùa này.
Đạo tràng là practice center, là dharma center. Đạo là practice, là sự thực tập.
Tràng là center, là nơi chốn.
Bốn chúng tức là các vị xuất sĩ nam, xuất sĩ nữ, cư sĩ nam và cư sĩ nữ.
Và các bậc Thiên, Long, Dạ xoa, A tu la, Càn thát bà, Khẩn na la, Ma hầu la già, nhân, phi nhân tới nghe pháp thì phải tìm cách che chở và yểm trợ cho đạo tràng và những người đang tu học. Khi chúng ta đọc tới đây, chúng ta phải thấy được sự có mặt của họ và phải cầu nguyện cho họ được lợi lạc thì họ sẽ yểm trợ chúng ta. Ta yểm trợ họ bằng cách tụng kinh và ngồi thiền cho thật đàng hoàng. Long thiên và Hộ pháp luôn có chung quanh ta, ta làm điều gì sai quấy hay phạm giới, các bậc Long thiên và Hộ pháp đều biết và họ sẽ thất vọng. Đôi khi, ta che giấu các sư anh, sư chị về lỗi lầm của ta nhưng ta không thể nào che giấu các bậc Long thiên, Hộ pháp được, cho nên đừng làm cho họ thất vọng mà tội nghiệp họ. Khi chúng ta tu hành, giữ giới đàng hoàng thì Long thiên và Hộ pháp sẽ yểm trợ ta.
Tám nạn ba đường đều thoát khỏi
Tám nạn tức là chỉ tám hoàn cảnh tai nạn mà trong đó chánh pháp không có mặt.
- Địa ngục: rơi xuống địa ngục rồi thì làm gì có pháp.
- Ngạ quỷ: tức là quỷ đói. Khi làm quỷ đói thì không được tiếp nhận chánh pháp.
- Súc sinh: loài vật.
- Hưởng thụ thiên (cõi trời hưởng thụ): trên đó ta chỉ ăn chơi thôi. Ta đâu cần tìm ở đâu xa, chỉ cần tới Bordeaux, Paris, nơi có những quán rượu, ăn chơi, nhảy nhót tức là tới cõi trời của hưởng thụ dục lạc.
- Biên địa: Biên tức là ở góc, ở biên giới. Biên địa là những vùng xa xăm, không có văn minh, chánh pháp không tới được.
- Manh, lung, ấm, á: đó là những người đui mù, điếc, câm, ngọng, tật nguyền, không có cơ hội nghe pháp, không có con mắt để đọc kinh.
- Thế trí biện thông (世智辯通): người có tài biện bác giỏi, dùng lý luận của đời, đó là những người ngụy biện, đây là tai nạn rất lớn. Có những thầy nói năng rất đơn giản, hành động rất đơn giản mà biểu lộ được đức hạnh đích thực của đức Thế Tôn. Nhưng cũng có những người lẻo mép vô cùng nên cái gì cũng nói trượt ra hết và rốt cuộc ta không tiếp nhận được từ thầy này một chánh pháp nào cả. Cái đó gọi là thế trí biện thông. Thế trí là sự hiểu biết ngoài đời. Biện thông tức là nói xuôi, nói tuột luột ra hết. Ví dụ, có người nói cuộc đời là khổ thì thầy đó sẽ nói: “Có khổ gì đâu nào, tôi đâu thấy khổ gì đâu?”. Nói rất khéo, gọi là thế trí biện thông. Trong chúng ta, có thể có những người có hạt giống của thế trí biện thông, chúng ta nên biết hạt giống đó nguy hiểm lắm.
- Sinh trước hay sinh sau Bụt: nghĩa là không được gặp Bụt. Chúng ta không phải là những người sinh sau Bụt, chúng ta là người sinh cùng thời với Bụt. Tại vì giáo pháp còn thì Bụt đang còn, phải không? Và Bụt đang có mặt mỗi ngày quanh ta và trong ta.
Ngoài ra, theo luật Tứ phần (Vinaya) thì tám nạn là:
- Chính quyền
- Giặc giã
- Hỏa tai: nạn cháy
- Nước lụt, nước trôi
- Bệnh tật
- Con người: Đó là những người làm đủ cách để chánh pháp không được quảng bá.
- Phi nhân: những loài không phải là người
- Độc trùng: những côn trùng độc hại
Ba đường (tam đồ) là ba nẻo về tối tăm, gồm: địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh. Chúng ta biết rằng hạt giống địa ngục, hạt giống ma đói và hạt giống thú vật đang có trong ta. Nếu không tu tập thì ba đường đó sẽ hiện lên trong ta và ta sẽ đi trên ba đường đó lúc nào không hay. Cho nên ta phải thực tập để thoát khỏi tám nạn và ba đường. Và ta thực tập với sự yểm trợ của đạo tràng, của tứ chúng, của Tam bảo và của Long thiên.
Bốn ân ba cõi thấm hồng ân
Bốn ân gồm có cha mẹ, thầy, bằng hữu và mọi loài chúng sinh.
Hồng ân tức là ân lớn. Chữ hồng 洪, nghĩa là lớn, như hai chữ hồng chung 洪鐘 (cái chuông lớn) và hồng thủy 洪水 (trận lụt lớn).
Ba cõi tức là cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc.
Mong ước của chúng ta là cha mẹ, thầy, bạn, mọi loài chúng sinh cũng như tất cả sinh linh trong ba cõi đều được thấm nhuần ân đức lớn lao của Bụt. Ân đức của Bụt còn gọi là ân lớn (hồng ân).
Thế giới khắp nơi không chiến tranh
Gió hòa mưa thuận dân an lạc
Đây là sự thực tập từ bi, mong ước không có chiến tranh. Nếu sự mong ước được lặp đi lặp lại hằng ngày thì chúng ta sẽ có cơ hội làm được một cái gì đó để ngăn chặn chiến tranh và sẽ không làm bất cứ điều gì để châm ngòi cho chiến tranh.
Gió hòa mưa thuận là nói về thời tiết.
Đại chúng chuyên tu càng tinh tiến
Đại chúng tức là Mahāsaṅgha (Great/Noble community). Có khi chỉ năm hay sáu người mà vẫn được gọi là đại chúng. Chữ đại ở đây có nghĩa là cao cả, đáng tôn sùng.
Mười địa đi lên không khó khăn
Mười địa tức là mười trình độ mà một vị đại Bồ tát đi ngang qua trước khi trở thành Bụt.
- Địa hoan hỷ (pramuditā-bhūmi): Pramuditā là hoan hỷ, bhūmi là địa (đất). Dấu hiệu chứng tỏ đây là vị Bồ tát bởi vì vị đó có sự hoan hỷ. Trên con đường tu học nếu ta có niềm vui là ta đã đi vào địa thứ nhất.
- Địa ly cấu (vimalā-bhūmi): Cấu là dơ bẩn, cấu uế. Ly cấu là xa lìa những cấu uế trong thân và tâm, nhất là những cấu uế trong tâm. Nếu thực tập giới luật và uy nghi vững chãi thì ta đi được vào địa vô cấu, ly cấu.
- Địa phát quang (prabhākarī-bhūmi): nhờ ly cấu mà từ từ sự có mặt của ta làm cho hoàn cảnh được sáng ra. Khi chúng ta thực tập giới luật thì tâm của ta xa lìa tất cả những cấu uế; giới sinh định và ánh sáng này do giới và định tỏa ra nên gọi là phát quang địa. Quý vị cứ để ý nếu vị nào trì giới đàng hoàng, uy nghi vững chãi và sống trong chánh niệm thì người đó giống như là có phát ra ánh sáng.
- Địa diệm tuệ (arciṣmatī-bhūmi): Diệm tức là cháy lên, tuệ là trí tuệ; trí tuệ của ta giống như cây đuốc, bắt đầu cháy lên và soi sáng cho ta. Tuệ là hiểu biết, là cái biết, đốt cháy tất cả mọi phiền não, si mê, thèm muốn, giận hờn. Thiền sư Khương Tăng Hội có định nghĩa về thiền như sau: Thiền là sự tiêu diệt, đốt cháy những phiền não.
- Địa nan thắng (sudarjayā-bhūmi): Nan tức là sự khó khăn. Sẽ có những khó khăn, những trở lực trên con đường tu học nhưng nhờ có giới, định và tuệ nên ta vượt thắng được những khó khăn đó. Một khó khăn cũng vượt được, hai hay ba khó khăn cũng vượt được, cho đến năm, sáu khó khăn cũng vượt được. Ta đi tu, ta không sợ những khó khăn gần và những khó khăn xa. Khi nào ta có quyết chí, quyết tâm mạnh thì những khó khăn có thể do cha mẹ, người quen, hay do sức khỏe yếu kém của ta gây ra, ta đều vượt qua được. Nan thắng tức là vượt qua những khó khăn.
- Địa hiện tiền (abhimukhī-bhūmi): Tức là sống được an lạc, hạnh phúc hoàn toàn trong giây phút hiện tại. Tịnh độ hay Phật địa đều ở trước mặt ta, có ngay bây giờ, ở đây chứ không phải đi tìm kiếm ở trong tương lai hay ở đâu xa. Một khi ta đã đạt tới chỗ này rồi thì không cần nghĩ rằng qua bên đó hay về bên này ta mới hạnh phúc.
- Địa viễn hành (dūraṅgamā-bhūmi): Viễn hành là đi xa, đi khá xa. Con đường của Bồ tát là con đường vô tận, vô lượng. Có những người tu nghĩ rằng tôi tu được ba, bốn năm là được rồi; đã học đủ nghề thầy tu, thầy cúng rồi; thôi tôi dừng tại đây và về chùa làng cho rồi. Cái đó không phải là viễn hành, không thể đi xa được, đi xa là phải có lương thực cho thật nhiều, phải có chí nguyện cho thật lớn mới có thể vượt xa được.
- Địa bất động (acalā-bhūmi): Bất động nghĩa là vững chãi như núi, bất cứ một phiền não, cám dỗ nào cũng không thể lay động được.
- Địa thiện tuệ (sādhumatī-bhūmi): matī là tuệ, sādhu là thiện. Đạt tới địa này rồi thì tâm ta hoàn toàn tự tại. Rất lạ, bất cứ điều gì ta làm, ta nói, ta hành xử đều đúng với chánh pháp. Và niềm vui lớn đó là niềm vui vô ngại, không có gì ngăn ngại nữa, ta là người tự do hoàn toàn.
- Địa pháp vân (dharmameghā-bhūmi): Đạt tới địa này rồi thì pháp thân của Bồ tát đã tới mức viên mãn, đã đạt Nhất thiết trí.
Mười địa đi lên không khó khăn, giống như ta lấy cái bánh ở trong tủ lạnh ra, không khó khăn gì hết. Khi ta có tăng thân, có hành trì giới luật, uy nghi, và có pháp môn thực tập thì mười địa đó ta đi lên từ từ và không thấy khó khăn gì mấy. Đó là sự hành trì của một vị Bồ tát. Phải có ý chí lớn thì ta mới đi được con đường này.
Tăng thân an lạc sống tươi vui
Mọi giới quy y thêm phước tuệ
Trong kinh điển nói tới danh từ Phật thân (Buddhakāya), Pháp thân (Dharmakāya) và nay chúng ta dùng từ Tăng thân (Saṅghakāya). Bây giờ ở Làng Mai bắt đầu sử dụng danh từ Tăng thân và dùng rất nhiều. Tăng thân là cái thân của ta. Ta có thân sắc phàm và ta cũng có tăng thân. Ta phải học làm sao để thấy đại chúng, những người sư anh, sư chị, sư em của ta đều là ta, khi đó ta mới có tăng thân. Không có tăng thân thì chưa phải là người tu. Người tu phải có Phật thân, Pháp thân và Tăng thân. Vì vậy, ta phải nhận ra Phật thân của ta là gì? Phật thân tức là năng lượng chánh niệm trong ta. Pháp thân là phương pháp ta thực tập hằng ngày. Ta phải làm cho hai thân đó lớn lên mỗi ngày. Và thân thứ ba là Tăng thân, cũng phải làm cho lớn lên và phải có hạnh phúc. Trên đường tu học không có tăng thân thì làm sao ta tu học được. Hạnh phúc và an lạc của tăng thân là nền tảng cho không biết bao nhiêu người. Nếu tăng thân không an lạc thì làm sao ta có an lạc được.
Mọi giới quy y thêm phước tuệ.
Mọi giới là tất cả các loài khác trong đó có loài người.
Quy y tức là quay về nương tựa. Khi chúng ta sống hạnh phúc và hòa hợp như một tăng thân thì ta có thể tạo hạnh phúc cho rất nhiều người. Còn nếu chúng ta không có hạnh phúc, không có sự hòa điệu thì chúng ta không thể làm chỗ nương tựa cho một ai hết. Cho nên bắt buộc tăng thân phải có hạnh phúc. Tăng thân xóm Mới, xóm Thượng, xóm Hạ hay Rừng Phong bắt buộc phải có hạnh phúc. Nếu không có hạnh phúc, không có sự hòa điệu thì không phải là tăng thân nữa. Khi chính ta không có chỗ nương tựa thì thử hỏi những người xung quanh làm sao nương tựa vào ta được. Thật sự thì có hàng trăm ngàn người, hàng triệu người muốn nương tựa vào ta; biết vậy ta phải làm cho tăng thân ta có an lạc, có tươi vui, có sự hòa điệu thì mới được.
Thêm phước tuệ nghĩa là làm cho phước đức và tuệ giác lớn lên. Có hai hình thái thực tập: tu phước (福 – puṇya) và tu huệ (慧 – prajñā). Khi chúng ta phục vụ cho tăng thân bằng cách làm vườn, rửa bát, lau nhà, chùi cầu tiêu, dọn thiền đường… thì chúng ta có phước đức. Nhưng phước đức này nếu có thêm tuệ vào thì phước đức tăng lên gấp trăm lần, ngàn lần. Như vậy tuệ cũng là phước, tuệ làm cho phước lớn lên. Cho nên khi chúng ta bố thí, làm các công việc xã hội, giúp con nít đói, giúp đỡ người già cô đơn thì chúng ta có được một ít phước nhưng phước đó còn nhỏ lắm. Nếu chúng ta làm những công việc đó mà có sự quán chiếu, có chánh niệm và làm cho cái hiểu, cái thương ngày càng lớn lên thì tác dụng của công việc đó lớn lên rất nhiều. Khi công đức được lớn lên rồi thì phước đức của ta sẽ trở nên thâm hậu (sâu dày). Và khi ta được phước đức thâm hậu rồi thì không một ngọn gió nào có thể thổi bay ta được, không tai nạn nào có thể tiêu diệt được ta và ta cũng không còn sợ điều gì nữa hết. Ta sợ hãi là khi phước của ta mỏng, còn khi phước của ta đã dày thì ta trở nên vững chãi như núi. Để được như vậy thì trong khi làm những công việc xã hội, công việc cứu tế, phục vụ tăng thân, ta phải sử dụng thời giờ đó để nhìn sâu, để quán chiếu, để cho cái hiểu và cái thương lớn lên và công đức này được nhân lên gấp ngàn lần, vạn lần. Phước tuệ càng lớn thì hạnh phúc càng nhiều.
Trí Bụt sáng ngời như trăng tỏ
Thân Bụt thanh tịnh như lưu ly
Bụt ở thế gian thường cứu khổ
Tâm Bụt không đâu không từ bi.
Bốn câu này đều ca ngợi đức Thế Tôn, mở đầu cho sự thực tập niệm Bụt.
Bài này được dịch từ bài:
Phật thân thanh tịnh tợ lưu ly
Phật diện do như mãn nguyệt huy
Phật tại thế gian thường cứu khổ
Phật tâm vô xứ bất từ bi.
Vầng trăng sáng tỏ được ví với trí tuệ của Bụt. Ngọc lưu ly được đem ra để ví với thân của Bụt. Bụt trì giới và thực tập uy nghi cho nên thân Bụt rất thanh tịnh và thân Bụt trở thành pháp thân gọi là pháp thân thanh tịnh. Bụt có nghĩa là cứu khổ và cứu khổ tức là Bụt. Chỗ nào có khổ và cứu khổ thì chỗ đó có Bụt. Dù không hiện ra 32 tướng, không có hào quang, nhưng chỗ đó có người đang làm việc cứu khổ thì Bụt cũng đang có mặt ở đó. Cứu khổ là công việc tự nhiên của Bụt. Là học trò của Ngài, ta cũng phải cứu khổ, cứu khổ về tâm và về thân. Lòng thương yêu của Bụt luôn ở khắp mọi nơi. Lên cõi trời Ngài cũng thương, xuống địa ngục Ngài cũng thương. Ở Pháp Ngài cũng thương yêu mà qua Philippines Ngài cũng thương yêu. Không có chỗ nào là không có sự thương yêu. Cho nên câu chót của bài Chuyển niệm là Tâm Bụt không đâu không từ bi.
Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni.
Thích Ca Mâu Ni là phiên âm từ chữ Śākyamuni. Thích Ca (Śākya) dịch ra chữ Hán là năng nhân, năng là có khả năng thực hiện và nhân là nhân từ. Mâu Ni (Muni) là tịch mặc, tức là sự vắng lặng. Muni thật ra có nghĩa là ông thầy tu, luôn luôn có sự điềm đạm, yên lặng, lặng lẽ. Đứng về phương diện hình tướng thì ông thầy tu có vẻ lặng lẽ, nhẹ nhàng và điềm đạm. Đứng về phương diện tâm lý thì những bồn chồn, bứt rứt, giận hờn, lo lắng bên trong đã lắng xuống hết, gọi là lặng lẽ. Nên chữ Thích Ca Mâu Ni có nghĩa là năng nhân tịch mặc hay cũng có thể gọi là ông thầy tu thuộc dòng họ Thích Ca (Śākya).
Nếu quý vị lên xóm Thượng, vào thiền đường Nước Tĩnh và nhìn lên bàn thờ Phật sẽ thấy một bình bát bằng đất có nắp đậy đàng hoàng. Bình bát đó là của một vị tỳ kheo thuộc dòng họ Thích Ca. Cách đây tám năm, thầy đi hành hương ở Ấn Độ, tại vườn Lâm Tỳ Ni, nơi Bụt đản sinh, thầy đã gặp một vị thầy cao lớn của dòng họ Thích Ca. Khi thầy đang chiêm bái trong vườn Lâm Tỳ Ni thì vị thầy đó xuất hiện và nói: “Tôi nghe Thầy và phái đoàn tới nên tôi ra đón ba, bốn ngày nay mà không gặp, cho đến bữa nay mới được gặp”. Và vị thầy đó mời phái đoàn về chùa của mình và trao cho thầy một cái bình bát bằng đất nung, nói rằng đó là bình bát của dòng họ Thích Ca trao truyền lại. Quý vị có thể lên đó quan sát, nó hơi nặng. Vị thầy ấy cũng trao lại cho thầy một chiếc y, không biết tại sao? Nó giống như một sự sắp đặt hay tiền định nào đó mà vị thầy ấy đã cúng dường y và bình bát cho thầy. Thầy biết y và bình bát đó do một vị thầy của dòng họ Thích Ca trao lại nên thầy chỉ để thờ chứ không sử dụng.
(Vừa niệm Bụt vừa đi nhiễu)
Đi nhiễu có nghĩa là đi vòng và đi về phía bên phải. Đi về bên trái là không đúng. Khi đi thăm tháp hay một ngôi chùa và muốn đi xung quanh thì ta nên đi về phía tay phải. Nếu ta đi ngược lại, người khác quan sát thì có thể biết ta chưa được “thấm tương chao” cho lắm, tức là chưa nắm được nề nếp, phép tắc của sự thực tập.
Khi đi ta nên chắp tay, để đối tượng cung kính của ta bên tay mặt. Như vậy chứng tỏ ta đang tôn kính đối tượng kia. Cho nên đi nhiễu là một hành động tôn kính. Ví dụ khi qua Tàu và đi thăm tháp xá lợi của thầy Huyền Trang, ta tới lạy và muốn đi quanh thì phải đi theo con đường của chiều kim đồng hồ. Thường ta đi ba vòng, nếu không đi ba vòng được thì đi một vòng. Đi như vậy tức là tỏ lộ sự cung kính. Theo truyền thống Việt Nam, trong khi đi nhiễu thì ta phải chắp tay. Khi kinh hành chúng ta có thể không cần chắp tay nhưng chúng ta vẫn phải đi về tay phải. Và khi niệm Bụt và xưng tán đức Thế Tôn thì ta nên chắp tay. Trong lúc chắp tay đi nhiễu và niệm Bụt, ta cần sử dụng âm thanh niệm Bụt và hình ảnh của Bụt để duy trì chánh niệm. Những hình thức chắp tay và đi nhiễu phải là những yếu tố giúp ta an trú trong chánh niệm. Nếu không thì chỉ là hình thức suông. Vừa tỏ bày sự tôn kính, vừa thực tập chánh niệm, tức là chúng ta vừa tu phước, vừa tu tuệ.
