Giảng kinh

(Phiên tả Pháp thoại ngày 05 tháng 04 năm 1998, Làng Mai, Pháp)

Kinh Người biết sống một mình được dịch từ kinh Bhaddekaratta sutta, thuộc về Trung bộ. Biết sống một mình ở đây không có nghĩa là sống lẻ loi, xa cách với những người khác như sống một mình trong rừng, trong núi hay trong hang động. Biết sống một mình tức là sống có chủ quyền, có tự do, không bị quá khứ níu giữ, không bị tương lai làm cho hoảng sợ, không bị hoàn cảnh hiện tại kéo đi. Ta luôn luôn có thể là ta, ta nắm được tình trạng và có chủ quyền, ta không đánh mất bản thân, đó gọi là biết sống một mình. Trong kinh, Bụt nói rằng sống một mình không có nghĩa là sống tách biệt với loài người. Ngồi trong đám đông, nhưng ta vẫn có thể sống được một mình vì ta không đánh mất ta.

Trong Trung bộ Majjhima nikāya có ít nhất là bốn kinh nói về đề tài biết sống một mình và trong Trung A hàm cũng có nhiều kinh nói về đề tài sống một mình này. Vì vậy sống một mình là một đề tài rất quan trọng trong toàn bộ giáo lý của đạo Bụt. Là người tu, ta phải học nghệ thuật sống một mình, tức là sống có tự do, không bị quá khứ giam hãm, không bị tương lai lôi kéo hay bị ảnh hưởng bởi những gì đang xảy ra trong hiện tại. 

Kinh Người biết sống một mình dạy cho chúng ta biết sống từng giây phút của đời sống hằng ngày một cách sâu sắc. Sống được như vậy thì chúng ta bắt đầu có định, có tuệ và chúng ta thấy được bản chất của cuộc đời. Khi đó chúng ta đạt tới tự do lớn. Mà tự do là điều kiện tất yếu của hạnh phúc, chúng ta thường đau khổ là vì chúng ta không có tự do. Tu tập nghĩa là chuyển hóa để ta có chủ quyền tự do. Khi có tự do rồi, ta cũng trở nên vững chãi. Vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn. Hạnh phúc của chúng ta có thể được đo bằng tiêu chuẩn vững chãi và thảnh thơi. Nếu một người đang khổ đau thì ta biết rằng người đó không có tự do. Không có tự do cho nên khổ đau, khổ đau vì bị quá khứ giam hãm, bị tương lai đe dọa và bị hiện tại kéo đi. Vì vậy có được chủ quyền, thiết lập lại được tự do ta sẽ bớt đau khổ, nhờ đó hạnh phúc của ta sẽ được tăng tiến.

Giả dụ một người nào đó nghe bác sĩ nói rằng anh ta bị ung thư, chỉ có thể sống được sáu tháng nữa. Người đó tự nhiên cảm thấy như đất sụp dưới chân mình và sự sợ hãi, viễn cảnh là mình sẽ chết trong vòng sáu tháng tới làm cho người đó mất hết tất cả những an lạc đang có. Trước khi bác sĩ nói cho anh ta biết điều đó thì anh ta có khả năng ăn cơm, uống trà, ngắm trăng và đi chơi với bạn. Nhưng từ khi được bác sĩ cho biết chỉ còn sáu tháng nữa để sống thì anh ta mất hết khả năng uống trà, ăn cơm, ngắm trăng và ngồi chơi với bạn. Đó là vì nỗi lo sợ về tương lai, sự sợ hãi cái chết đã lấy đi hết tự do và an lạc của anh ta. Nếu anh ta biết rằng chết là một điều tất yếu phải đến đối với tất cả mọi người thì anh ta sẽ bớt khổ đau. Bác sĩ nói rằng anh ta còn sáu tháng để sống, nhưng ông bác sĩ thì thế nào cũng phải chết. Có thể ông bác sĩ biết anh ta còn sáu tháng nữa, nhưng ông không biết được ông còn mấy tháng hay là mấy năm nữa, và có thể ông sẽ chết trước anh ta. Cũng có thể sau khi khám bệnh cho anh ta xong, ông lái xe về nhà và giữa đường không may gặp tai nạn. Như vậy, cái biết của ông bác sĩ không chắc chắn lắm. Ta được bảo rằng chỉ còn sáu tháng nữa để sống, nhưng có khi ta lại sống đến cả sáu năm mà vẫn không sao, trong khi đó thì ông bác sĩ lại qua đời trước. 

Nếu nhìn sâu thì ta sẽ thấy được những điều mà nếu không quán chiếu ta sẽ không thấy được. Nhờ quán chiếu ta có thể phục hồi được sự tự do, sự không sợ hãi của ta. Với sự tự do và sự không sợ hãi đó, ta có thể sống hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều hoàn toàn bình đẳng về phương diện bệnh và chết. Chúng ta người nào cũng sẽ có bệnh và sẽ chết, rất bình đẳng. Ai rồi cũng phải chết, nhưng người khôn ngoan thì nói rằng: Tôi quyết định sẽ sống cho đàng hoàng trước khi chết! Đó là câu nói rất có tuệ giác. Chết thì chết, nhưng trong khi sống thì ta phải sống cho đàng hoàng. Nếu anh có thể sống được sáu tháng đàng hoàng thì phẩm chất sự sống trong sáu tháng đó của anh còn khá hơn là sáu năm hay là hai chục năm. Có những người sống sáu năm hay hai chục năm mà kéo lê thê cuộc đời với khổ đau, hệ lụy, buồn chán, sợ hãi,… thì phẩm chất của sự sống đó không bằng phẩm chất của sự sống trong sáu tháng của anh. 

Vì vậy, phải thấy được rằng trước khi chết thì tôi sẽ sống cho đàng hoàng, nghĩa là sống thật sâu sắc, sống có tự do, sống có hạnh phúc. Chúng ta ai rồi cũng phải chết. Trong đó, có những người từ đây cho tới lúc chết thì sống an lạc, thảnh thơi. Nhưng cũng có những người từ đây cho tới lúc chết thì sống không đàng hoàng, sống như một người chết, chết ngay bây giờ chứ không đợi tới khi thân tứ đại tan rã.

Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải chuyển hóa để khôi phục quyền tự do và để có thể sống những giây phút của đời sống hằng ngày một cách sâu sắc. Trong những giây phút của đời sống hằng ngày, ta có thể có an lạc, hạnh phúc và ta cũng có thể chữa trị được những khổ đau đang có trong thân tâm. Sống sâu sắc trong từng giây phút của đời sống hằng ngày giúp ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, nuôi dưỡng thân tâm bằng những yếu tố mầu nhiệm, đồng thời cũng giúp cho chúng ta ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà ta đang có. 

Vì vậy, sống sâu sắc trong giây phút hiện tại của đời sống hằng ngày là một pháp môn tuyệt vời, có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Sống như vậy ta phục hồi được tự do, ta tiếp xúc được với sự sống sâu sắc và ta đúc rút ra được sự thật chân lý. Khi ta có tuệ giác thì những lo sợ, những buồn đau của chúng ta sẽ được tan biến và ta trở thành một nguồn vui sống cho chính ta và cho những người chung quanh. Đó là mục đích của phương pháp Hiện pháp lạc trú, sống an lạc hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. 

Kinh Người biết sống một mình là văn kiện xưa nhất dạy chúng ta về nghệ thuật sống sâu sắc và an lạc ngay trong giây phút hiện tại. Trong toàn bộ giáo lý kinh điển, những kinh có dính líu tới đề tài biết sống một mình, sống an lạc trong giây phút hiện tại rất nhiều. Và đây là một kinh rất quan trọng, chúng ta phải học cho kỹ và đem ra để thực tập.

 Ngày xưa có một thầy tên là Thượng Tọa, Theranāmaka, có lẽ cái tên này là do các bạn đồng tu đặt cho thầy. Thera tức là Đại đức, Nāma là tên. Thầy đó ưa sống một mình, ưa đi khất thực một mình, ưa thiền hành một mình, ưa ăn cơm một mình, ưa giặt áo một mình… có vẻ như thầy muốn tránh né những người bạn đồng tu khác. 

Tất cả các thầy đã từng nghe Bụt ca ngợi nếp sống độc cư. Danh từ “độc cư” – sống một mình mà Bụt sử dụng có nghĩa là không bị giam hãm bởi quá khứ, không bị lung lạc bởi tương lai và không bị lôi kéo bởi những gì trong hiện tại, chứ không phải là sống xa lìa, sống tách rời các bạn đồng tu. Nhưng vị thầy này thì hiểu theo kiểu khác, thầy muốn thiền hành một mình, đi khất thực, thọ trai, đi giặt áo một mình và tránh né các thầy khác. 

Các thầy cũng biết là thầy này thích sống một mình nhưng có cảm tưởng rằng có điều gì đó không đúng trong cách sống một mình này. Các thầy không nghĩ rằng sống một mình như thầy đó là đúng theo tinh thần của Bụt dạy nên một hôm các thầy tới thưa với đức Thế Tôn:

– Bạch đức Thế Tôn, trong chúng con có một thầy tên là Thượng Tọa, thầy đó chủ trương sống một mình, thầy đi thiền một mình, ăn cơm một mình, làm việc một mình. Chúng con không biết sống như vậy có đích thực là sống một mình hay không? 

Bụt hỏi: 

– Thầy đó ở đâu? Các thầy đi mời thầy đó tới đây ngồi chơi uống trà.

Chừng mười lăm phút sau, các thầy mời được thầy Thượng Tọa tới. Rồi Bụt nói:

– Nghe nói thầy ưa sống độc cư một mình lắm phải không? Thầy sống như thế nào nói tôi nghe đi?

Thầy Thượng Tọa thưa rằng:

– Bạch đức Thế Tôn, con đi khất thực một mình, con ngồi thiền một mình, con thiền hành một mình, con ăn cơm một mình, con giặt áo một mình.

Bụt dạy:

– Đúng là thầy sống một mình thiệt đó, nhưng mà cách sống một mình của thầy chưa phải là cách sống hay nhất. Tôi có cách sống một mình này còn hay hơn vậy nhiều.

Rồi Bụt đọc lên bài kệ nói về nghệ thuật sống một mình: Sống không bị giam hãm bởi quá khứ, không bị lung lạc bởi tương lai, không bị lôi kéo bởi những hình sắc, âm thanh trong hiện tại. Sống sâu sắc, có tự chủ trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày thì người đó đích thực là người sống một mình.

Sau khi nghe Bụt dạy, thầy Thượng Tọa mới biết rằng lâu nay mình sống một mình theo kiểu hình thức, không đúng với tinh thần Bụt dạy, thầy đã chắp tay để cảm tạ đức Thế Tôn. 

Đó là nội dung của kinh Theranāmaka, trong Tương ưng bộ 2110. Trong Tạp A hàm cũng có một kinh tương đương, đó là kinh Thượng tọa, kinh số 1071. Cốt lõi của kinh này được trình bày trong một bài kệ do đức Thế Tôn làm ra. Đức Thế Tôn cũng làm thơ, sư anh Pháp Dụng hay sư em Phúc Nghiêm cũng làm thơ nhưng thơ của đức Thế Tôn có công dụng hướng dẫn tu học nhiều hơn. 

Bài kệ của đức Thế Tôn nói về nghệ thuật sống một mình có tên là Bạt địa ra đế. Bạt địa ra đế là phiên âm từ tiếng Pāḷi, Bhaddekaratta. Bhaddekaratta có nghĩa là nếp sống độc cư lý tưởng nhất. Nhưng đây là cụm danh từ khó phân tích cho nên nhiều thầy khi dịch thì đã dịch sai. Ví dụ trong bản của thầy Minh Châu dịch là Nhất dạ hiền giả, tức là vị hiền giả trong một đêm thì không đúng. Ngày xưa có thầy tên Đạt Ma Nan Di dịch là Hiền thiện cũng không đúng. Dịch cho đúng là: phương pháp, cách sống độc cư lý tưởng nhất. The best way to live alone. The ideal way to practice living alone.

Bài kệ:

Đừng tìm về quá khứ

Đừng tưởng tới tương lai 

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới

Hãy quán chiếu sự sống 

Trong giờ phút hiện tại 

Kẻ thức giả an trú

Vững chãi và thảnh thơi.

Tất cả những tinh yếu của giáo lý đạo Bụt đều nằm trong những câu này. Vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn, đó là mục đích của người tu. Người tu cần phải dùng mỗi giây phút của đời sống hằng ngày để chế tác ra chất liệu vững chãi và thảnh thơi. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, ta phải làm thế nào để cho chất liệu vững chãi và thảnh thơi càng ngày càng lớn thì hạnh phúc của ta mới càng ngày càng lớn, tự do của ta mới càng ngày càng lớn. Niết bàn có thể được tiếp xúc ngay trong giây phút hiện tại, không những bằng tâm mà còn bằng thân của ta. Khi nào hai bàn chân của ta có những bước đi thong dong, thảnh thơi, vững chãi tức là ta đang tiếp xúc với Niết bàn. Hễ có vững chãi, có thảnh thơi là có Niết bàn. Và mức độ vững chãi, thảnh thơi của ta sẽ cho biết rằng ta đã tiếp xúc được với Niết bàn sâu sắc tới mức độ nào.

Đừng tìm về quá khứ

Có những người bất mãn với hiện tại và nghĩ rằng quá khứ đẹp hơn bây giờ (En ce temps-là, la vie était plus mieux). Nghĩ rằng quá khứ đẹp hơn cho nên không thấy được hạnh phúc trong hiện tại, nhiều người trong chúng ta bị kẹt vào điều đó. Vì ngày xưa không còn nữa nên ta so sánh với bây giờ, bất mãn với bây giờ và cho rằng ngày xưa đẹp hơn. Nhưng kỳ thực nếu gởi ta về ngày xưa được thì ta cũng không quý gì ngày xưa mấy, ta muốn mau chóng lớn lên để làm người lớn. Ngày xưa ta đâu có an trú được trong hiện tại, ta đã chạy về tương lai thì bây giờ gởi ta trở về ngày xưa cũng sẽ như vậy thôi. Vào thời xưa, đời sống đẹp hơn và mặt trời rực sáng hơn. En ce temps-là, la vie était plus belle, đó là một câu trong bài Lá mùa thu mà người Pháp rất ưa hát. 

Nhưng cũng có những người tìm về quá khứ, không phải vì quá khứ đẹp, mà vì quá khứ đã từng ám ảnh, đã từng gây khổ đau, quá khứ là một chấn thương tâm lý nặng nề (trauma) của ta. Ta đã khổ đau, ta đã ngất ngây, ta đã khắc khoải, ta đã “chết” trong quá khứ và những vết thương nặng nề ấy đã trở thành ngục tù luôn gọi ta trở về: Mày trở về đây! Ta là chúa tể, ta là cai ngục, mày không thoát khỏi tay ta đâu, dù mày đi đâu cũng sẽ không thoát khỏi. Quá khứ nói vậy và ta ngoan ngoãn như một con cừu, ta trở về quá khứ để cho quá khứ giam hãm, làm cho bầm dập, khổ đau. Như vậy, quá khứ cũng là một tên cai tù rất hung tợn, khiến ta phải riu ríu tuân theo. Trong đời sống hằng ngày ta không chịu sống với giây phút hiện tại mà cứ tìm về quá khứ. Đừng tìm về quá khứ! Đó là một hiệu lệnh của đức Thế Tôn, ta phải làm sao để thực hành theo cho được. 

Có khi đang ngồi với một người bạn ta lại cảm thấy bị bỏ rơi, không phải vì người bạn đi chỗ khác, người ấy vẫn ngồi đó nhưng ta thấy rằng anh ta đang trầm ngâm, đang bị quá khứ giam hãm. Tuy đang ngồi bên cạnh ta nhưng anh ấy không có mặt, anh đã chìm đắm và chết đuối trong quá khứ, bị quá khứ bắt mất cả hồn lẫn xác. Ta phải tìm cách làm cho người bạn đó ra khỏi ngục tù quá khứ. Ta nói: “A penny for your thoughts?” – Anh nghĩ cái gì đó, nói cho tôi nghe đi, tôi sẽ trả anh mười cents. Người kia có thể giật mình, có thể mỉm cười và có thể thoát ra khỏi quá khứ. Là một người tu, ta phải biết phương pháp tháo gỡ cho người bạn tu của ta, đừng để cho bạn ta bị kìm kẹp, giam giữ bởi những hình ảnh của quá khứ. Ta phải dùng tình thương, chánh niệm và tình huynh đệ để kéo người đó ra khỏi ngục tù của quá khứ. Là người tu thì ta phải biết nương vào anh, vào chị, vào em của ta, để có thể vượt thoát ngục tù của quá khứ. Sống trong tăng thân có được những lợi ích như vậy. 

Tăng thân dìu dắt ta từng bước, tăng thân kéo ta ra khỏi ngục tù của quá khứ, tăng thân nắm tay ta và dìu ta đi từng bước trong hiện tại, để ta có thể tập làm quen và có thể an trú vững chãi trong hiện tại. Giờ phút ta xuống tóc, giờ phút thầy rưới nước cam lồ trên đầu ta là giờ phút ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Tất cả tăng thân đang có mặt chung quanh ta, đang chắp tay trong khi những giọt nước cam lồ thấm trên đầu ta, đó là cam lồ quán đỉnh. Cam lồ quán đỉnh là nước cam lồ tưới trên đỉnh đầu của ta, giờ phút đó là giờ phút ta được ra đời lần nữa, trở thành một con người mới tinh khôi, đó là giờ phút ta chết và ta để cho quá khứ chết. Giờ phút đó ta để cho hiện tại sinh khởi. Thầy và tăng thân đưa ta ra đời, cho ta một thân thể mới, một tâm hồn mới, new being, một giới thân, một pháp thân. Giới thân, pháp thân đó được Bụt, Pháp, Tăng và Giới bảo hộ. Vậy nên không có lý do gì ta còn phải sợ hãi, còn cảm thấy bơ vơ, còn quá lo lắng đối với những lãnh chúa độc tài của quá khứ. Ta có thể quỳ lên, nhắm mắt lại, chắp tay quán tưởng đây là giây phút mà nước cam lồ chảy xuống trên đầu và ta đang trở thành một con người hoàn toàn mới. Thầy và tăng thân trao cho ta một giới thân, một tuệ mạng mới và ta có bổn phận phải để cho thầy và tăng thân dìu ta đi từng bước một trên con đường mới này. Phải thấy rằng ta đang có an ninh lớn, an ninh nhờ sự bảo hộ của Bụt, Pháp, Tăng và của Giới. Chưa bao giờ trong cuộc đời ta có an ninh như bây giờ. Nếu ta tự nhắc ta, cho phép tăng thân và thầy nhắc ta, rằng ta đang ở trong một tình trạng an ninh chưa bao giờ có; nếu ta sống được như vậy mỗi ngày thì cảm giác của sự sợ hãi, lo lắng sẽ không còn nữa. Hiện pháp lạc trú, mỗi bước chân có thể đưa về an lạc, mỗi nụ cười có thể tỏa chiếu thảnh thơi, đó là sự thực tập hằng ngày của ta.

Đừng tìm về quá khứ là như vậy. Có khi chúng ta không muốn tìm về quá khứ, nhưng quá khứ lại nắm đầu ta kéo về, vậy nên ta phải đối diện với sự yểm trợ của Bụt, Pháp và Tăng. Ta phải nhìn thẳng vào mặt quá khứ, mỉm cười và nói rằng: “Ngươi chỉ là một bóng ma, ngươi không thể nào ám ảnh được ta nữa, ta đã vượt thoát khỏi ngươi rồi”. Chỉ có năng lượng chánh niệm, chỉ có Tam bảo là Bụt, Pháp và Tăng mới đủ sức giúp ta nhìn quá khứ bằng con mắt đó. Kỳ thực quá khứ chỉ là một bóng ma nhưng bóng ma nhiều khi cũng rất dữ dằn. Ta biết điều đó, và nếu ta cứ để cho bóng ma nắm đầu kéo đi thì rất tệ. Vì vậy, là một người tu, ta phải biết nắm lấy hiện tại, phải biết sử dụng năng lượng của Bụt, của Pháp, của Tăng, của Giới để tự vệ và không để cho bóng ma đó quấy nhiễu đời sống hằng ngày của ta.

Đừng tìm về quá khứ.

Ta có nghe lời của đức Thế Tôn nói không?

Đừng tưởng tới tương lai.

Tương lai là gì? Tương lai có phải là bóng ma thứ hai hay không, sao ta lại sợ nó quá vậy? Mà sợ là cái gì? Phải chăng là những dự đoán (projections) trong đầu ta về những gì sẽ xảy ra vào ngày mai? Có phải là những dự đoán của ta về tương lai? Ngày mai có thể xảy ra chuyện này, xảy ra chuyện kia. Ta phóng chiếu (project) nó ra như vậy rồi chính cái đó làm cho ta sợ chứ không phải là cái sợ tự nhiên phát sinh. Ta tưởng tượng ra rằng ngày mai chuyện này sẽ xảy ra, chuyện kia sẽ xảy ra, do vậy nỗi sợ phát sinh. Tương lai là một cái gì chưa có vì tương lai có bao giờ tới đâu, khi nó tới thì trở thành hiện tại rồi. Tương lai cũng là một bóng ma rất lớn, nó hút hồn ta, khủng bố ta. Cái sợ phát sinh từ những dự tưởng trong đầu, rằng ngày mai ta sẽ như thế này, ngày mai ta sẽ như thế kia. Biết ra sao ngày sau? What will become of me tomorrow?

Bóng ma của quá khứ và bóng ma của tương lai là hai bóng ma chịu trách nhiệm rất lớn về chuyện ta mất tự do. Ta làm nô lệ cho hai con ma đó. Mara là cái gì? Ma vương là cái gì? Nó đâu phải là một cái gì trừu tượng? Ma là quá khứ, ma là tương lai, hai con ma đó theo sát ta và điều khiển đời sống của ta. Ta nói, ta làm, ta suy nghĩ theo chỉ thị của những con ma quá khứ và tương lai. Lâu nay ta đã nằm dưới vùng ảnh hưởng của hai con ma to lớn này. Ta không thể để cho điều đó tiếp tục xảy ra. Ta theo đức Thế Tôn là để học hỏi phương pháp đối trị với hai con ma này. Đó là phương pháp sống một mình, là phương pháp sống sâu sắc trong mỗi giờ phút của đời sống hiện tại.

Đừng tìm về quá khứ 

Đừng tưởng tới tương lai.

Đức Thế Tôn đã nói như vậy.

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới.

Đó là logic của tất cả chúng ta. Quá khứ chỉ là bóng ma, tại sao ta phải thần phục nó quá như vậy. Tương lai cũng chỉ là một bóng ma, tại sao ta phải sợ hãi nó quá như vậy? Chỉ cần quan tâm thứ duy nhất thôi là hiện tại, thế mà ta lại không chịu học cách sống trong hiện tại, cứ để cho quá khứ và tương lai trấn ngự thân và tâm của ta – Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới. Còn có những câu kinh nào vắn tắt được hơn nữa? Ngôn ngữ của kinh ở đây là như vậy, từng chữ cô đọng, không dư một chữ.

Hãy quán chiếu sự sống 

Trong giờ phút hiện tại.

Phải sống một cách tỉnh táo, phải sống trong từng giây phút đang xảy ra với chính ta. Sống mà biết là ta đang sống. Nhìn bông hoa thì biết là ta đang nhìn bông hoa, nhìn một cách sâu sắc để có thể sống thật sự với bông hoa và có thể thấy được chiều sâu và tự tánh của bông hoa. Ta sống với nụ cười, ta sống với ánh sáng mặt trời, ta sống với ngày thứ Năm, ngày Chủ nhật… tất cả những thứ đó đều trở thành đối tượng quán chiếu, đều là những người bạn đồng hành của ta trong giây phút hiện tại.

Kẻ thức giả an trú

Vững chãi và thảnh thơi.

The wise people dwell in peace with solidity and freedom. An trú living peacefully, dwelling peacefully. 

Thức giả là người có tuệ giác chứ không phải là người có học, có bằng cấp tiến sĩ. Người có tuệ giác là người không bị con ma quá khứ và tương lai nắm đầu. Người có tuệ giác là người biết sống một cách an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, nhờ ngồi yên và đi yên được cho nên người đó có chất liệu của vững chãi và thảnh thơi. Đó là sự thực tập của chúng ta. Tất cả những giáo pháp mà đức Thế Tôn đã nêu, mục đích của Bụt, của Pháp và của Tăng là để giúp cho chúng ta làm được chuyện đó. Đó là chuyện an trú vững chãi thảnh thơi trong hiện tại. 

Khi sư chú bước đi, sư chú phải thực tập được sự an trú. Mỗi bước chân của sư chú, vừa vững chãi vừa thảnh thơi, đó là lúc sư chú đang bước những bước chân của đức Thế Tôn. Mỗi khi sư cô ngồi xuống, sư cô cũng ngồi vững chãi như núi. 

Ngồi đây ngồi cội Bồ đề

Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.

Ngồi thực sự là ngồi. Đứng cho yên, ngồi cho vững trong hiện tại, có an lạc và hạnh phúc, đó là sự thực tập của chúng ta. Chúng ta sống trong tăng thân là để làm được chuyện đó.

Trong đời sống hằng ngày của xã hội, vì không có tăng thân nên dầu thấy được con đường, chúng ta cũng khó có thể đứng cho yên, ngồi cho vững, lái xe cho đàng hoàng. Chúng ta dễ bị quá khứ và tương lai thúc đẩy. Còn sống trong tăng thân, tất cả mọi người đều đang tập dượt, đều cùng luyện tập một phương pháp, vì vậy ta có cơ hội làm được chuyện này tốt hơn. Ta đứng thật yên, ta ngồi thật vững. Khi ngồi ăn cơm ta thật sự ngồi ăn cơm. Trong thời gian 45 phút hay một giờ đồng hồ, ta ăn cơm cho có hạnh phúc, vững chãi và thảnh thơi. Giặt áo, quét sân, chùi nồi hay ăn cơm cũng là thực tập. Mục đích của chúng ta khi có mặt ở đây là làm chuyện đó và làm trong môi trường của tăng thân, được tăng thân yểm trợ.

Phải tinh tiến hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp.

Phải thực tập ngay hôm nay. Người ta đã tạo dựng nên những khung cảnh, những điều kiện để có thể làm chuyện đó, ngay hôm nay nhưng ta không làm, còn nói “mai tôi mới làm” thì không được? Bởi vì vô thường cho nên Phải tinh tiến hôm nay, kẻo ngày mai không kịp.

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả.

“Cái chết ơi! Anh chờ tôi một chút vì tôi chưa kịp tu, cho tôi vài ngày nữa để tôi tu cho đàng hoàng rồi anh hãy tới.” Ta không thể nào mặc cả với cái chết như vậy. You can not deal with death. Vì vậy, cái chết trở thành một kích thích tố, một stimulus để cho ta có thể sống vững chãi và thảnh thơi. Khi được bác sĩ thông báo chỉ còn sáu tháng nữa để sống, ta hãy mỉm cười nói: Được, tôi sẽ sống sáu tháng của tôi thật đàng hoàng. Bác sĩ cũng vậy, bác sĩ thế nào cũng phải chết, vì vậy bác sĩ cũng làm như tôi đi, chúng ta hãy sống đời sống của chúng ta cho đàng hoàng. 

Đó là thái độ của người có tuệ giác. Sự thật ai cũng phải chết sẽ giúp cho hành giả biết phải sống những ngày tháng còn lại như thế nào để có vững chãi, thảnh thơi, hạnh phúc và để cho con cháu có một tương lai, nghĩa là họ cũng sẽ được sống như mình. Điều ông bác sĩ nói, rằng anh còn sáu tháng nữa để sống, thực sự là tiếng chuông chánh niệm rất lớn. Chúng ta người nào cũng có “sáu tháng” của chúng ta. Người sáu tháng, người bảy tháng, người sáu năm, người bảy năm, người nào cũng sẽ như vậy cả. 

Đức Thế Tôn dạy:

Phải tinh tiến hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả.

Người nào biết an trú

Đêm ngày trong chánh niệm

Thì Mâu Ni gọi là

Người biết sống một mình.

Mâu Ni, phiên âm từ chữ Śākyamuni, là ông thầy tu của dòng họ Thích Ca. Như vậy, định nghĩa sống một mình là sống an trú đêm ngày trong chánh niệm, sống trong hiện tại. 

Hồi nhỏ, mỗi khi được nghe kể chuyện ma, chúng ta thường rất sợ hãi, nhưng càng sợ lại càng thích nghe. Rồi có người lớn muốn cho chúng ta đừng bị nhập tâm quá nên mới nói làm gì có ma, theo khoa học bây giờ làm gì có ma. Nhưng rõ ràng là có ma, và còn là con ma ác ôn vô cùng. Con ma quá khứ, con ma tương lai là hai con ma mà ta phải đương đầu mỗi ngày. Hồi nhỏ chúng ta được người lớn bảo rằng khi nào gặp ma thì phải bắt ấn cát tường và đọc câu thần chú Án ma ni bát di hồng hay làm cái gì đó. Vậy nên chúng ta học thuộc rồi ban đêm khi nằm mơ mơ màng màng thấy con ma dễ sợ quá, chúng ta bắt ấn và đọc câu thần chú nhưng con ma chẳng sợ gì hết, nó còn nhe răng ra thêm nữa. Nhưng những con ma đó vẫn còn rất dễ thương. Chỉ có con ma quá khứ và con ma tương lai này mới là ác ôn. 

Theo phương pháp của đức Thế Tôn, mặc dù con ma quá khứ, con ma tương lai kia ác ôn như vậy, nhưng nếu biết cách thì ta sẽ không bao giờ bị rơi vào nanh vuốt của chúng. Chỉ cần mỉm cười, thở trong chánh niệm, chỉ cần đưa năng lượng chánh niệm vào nụ cười và mỉm cười với chúng. “A, tôi biết anh là ma rồi!” Khi ta mỉm cười với nó thì nó không làm gì ta được nữa vì trong nụ cười đó có chất liệu của Bụt, của Pháp, của Tăng. Sở dĩ ta bị nằm gọn trong nanh vuốt của nó là vì ta không biết nó là nó, không biết nó là ma. Nụ cười của ta là nụ cười của giác ngộ, giải thoát, nụ cười có chánh niệm bên trong. Vậy nên ta hãy tập mỉm cười với ma, trước hết là con ma quá khứ. “Này ma quá khứ, tôi biết anh chỉ là một con ma mà thôi, anh dễ dầu gì mà bắt được tôi.” Mỉm được nụ cười đó thì ta được giải thoát, ta được thảnh thơi. 

Với con ma tương lai cũng vậy. Khi chúng ta có những nỗi sợ hãi, ta biết rằng con ma tương lai đang trấn ngự, ta phải nhìn vào nỗi sợ đó, mỉm cười và nói: “Tôi biết rồi, anh là ma!”. Ngày xưa đức Thế Tôn cũng làm như vậy. Ma vương hiện ra rất nhiều lần trong cuộc đời của đức Thế Tôn, kể cả khi Ngài đã thành đạo. Mỗi lần Ma vương hiện ra thì Bụt mỉm cười: “À, tôi biết rồi, anh là mara chớ ai nữa”. Mỗi khi đức Thế Tôn mỉm cười và nói như vậy thì mara rút lui. Trong kinh điển mara xuất hiện rất nhiều lần, mỗi lần như thế đức Thế Tôn đều cười. Ngài không cần bắt ấn cũng không cần đọc thần chú. 

Vậy ai là người biết tu tập? Khi nụ cười ý thức, nụ cười chánh niệm của chúng ta nở ra thì con ma quá khứ không những không làm gì được mà ta còn thương nó nữa. Ta thấy nó tội nghiệp, nó không phải là kẻ thù của ta và ta sẽ tu tập để cho nó cũng được giải thoát như ta. –

Bây giờ chúng ta đọc lại từ đầu kinh Người biết sống một mình:

Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ. Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo:

Này quý thầy!

Các vị khất sĩ đáp:

Có chúng con đây.

Đức Thế Tôn dạy:

Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.

Thưa Thế Tôn, chúng con đang lắng nghe đây.

Đức Thế Tôn dạy:

Đừng tìm về quá khứ

Đừng tưởng tới tương lai

Quá khứ đã không còn

Tương lai thì chưa tới

Hãy quán chiếu sự sống

Trong giờ phút hiện tại

Kẻ thức giả an trú

Vững chãi và thảnh thơi.

Phải tinh tiến hôm nay

Kẻo ngày mai không kịp

Cái chết đến bất ngờ

Không thể nào mặc cả.

Người nào biết an trú

Đêm ngày trong chánh niệm

Thì Mâu Ni gọi là

Người biết sống một mình. 

Bụt có một bài thơ, một bài kệ. Bụt cho gọi các thầy đến, Bụt đọc bài kệ đó cho các thầy nghe, rồi Bụt giải thích. 

Sau khi gặp thầy Thượng Tọa, Bụt thấy rằng học trò mình có nhiều người không thông minh lắm. Nghe mình nói về chuyện sống một mình thì họ sống một mình theo kiểu đó, đi khất thực một mình, ngồi ăn cơm một mình, làm gì cũng một mình, xa lánh các bạn đồng tu… đó đâu phải là sống một mình. Thành ra sau khi đã dạy cho thầy Thượng Tọa, Bụt nghĩ rằng mình phải dạy lại một cách đàng hoàng nên Ngài mới gọi các thầy tới và đọc cho các thầy nghe bài kệ. Đọc xong rồi Bụt giải thích:

Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.

Người ấy là ai? Người ấy là tất cả chúng ta. Chúng ta đều là nạn nhân của quá khứ. Thân thể của ta đã từng bị thương tích như thế trong quá khứ. Cảm thọ của ta đã từng u ám như thế trong quá khứ. Tri giác của ta đã từng mù mịt, tối tăm như thế trong quá khứ. Tâm hành của ta đã đầy những buồn đau như thế trong quá khứ và tâm thức của ta cũng đầy những u mê như thế trong quá khứ. Tóm lại, tất cả con người của ta trong quá khứ đã như vậy. Con người của ta gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức; năm yếu tố đó trong quá khứ đã như vậy. Những ấn tượng đó, những kỷ niệm đó đã bị chôn giấu một cách chặt chẽ trong chiều sâu tâm thức. Nếu quá khứ như vậy thì tương lai ra sao? Anh chàng quá khứ liên minh với anh chàng tương lai để làm cho ta thất điên bát đảo. Hai con ma này có một thế liên minh rất chặt chẽ. Vì quá khứ đã như vậy nên ta mới sợ tương lai. Những kỷ niệm quá khứ đau buồn quá, ta biết rằng nếu chúng sống dậy ta sẽ khổ đau, buồn tủi, lo sợ. Ta sẽ không chịu đựng nổi và sẽ sụp đổ; cho nên, ta đã cố tình chôn giấu những kỷ niệm đau buồn đó trong chiều sâu của quá khứ, giống như kiếp trước vậy. Khi ta ngủ, thỉnh thoảng chúng cựa quậy và trồi lên trong những giấc mơ, bởi vì càng bị đè nén chừng nào thì càng ấm ức chừng đó.

Trong ta có một cơ chế tự tồn (defense mechanism), cơ chế này tìm cách khóa những hình ảnh đó vào trong chiều sâu tâm thức để ta có thể tạm thời được an lạc, một cách giả tạo (artificial), tạm bợ, hời hợt trên bề mặt, khả dĩ sống tiếp. Ta biết rằng ở tầng dưới có một trái bom và những chất nổ rất lớn. Trái bom đó, chất nổ đó đã được một lớp đất cát phủ lên và ta ngồi ở trên, tưởng tượng rằng ở bên dưới không có gì hết. Chúng ta đã chôn, đã giấu, đã đẩy chúng xuống dưới và trong đời sống hằng ngày tuy rằng ta không muốn nghĩ tới nhưng những điều đó vẫn âm thầm sai sử ta. Chúng sai sử ta trong khi ta nói, ta làm và ta sống. Nhiều khi ta rất muốn ngọt ngào với anh, với chị, với em, nhưng ta không ngọt ngào được vì ta bị quá khứ sai sử, ta bị nó điều kiện hóa. Nhiều khi ta muốn mở cửa trái tim của ta nhưng mở không được, không phải là ta không muốn. Ta rất muốn nhưng không làm được vì ta đang bị nó sai sử.

Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế. Nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ. 

Người đó tìm về quá khứ một cách vô tâm hay hữu ý? Có khi cố ý nhớ lại. Có khi không muốn nhớ nhưng vẫn bị kéo về. Thứ nhất là ta có những thương tích trong quá khứ, thứ hai là ta có những hình ảnh thân thương trong quá khứ. Những thứ đó dầu là kỷ niệm đẹp, nỗi tiếc thương hay là những thương tích nặng nề thì chúng vẫn là một nhân tố kéo ta trở về. Vì vậy, ta phải ý thức rằng nếu không tu tập thì ta vẫn luôn là nạn nhân của con ma quá khứ. Đừng tìm về quá khứ không có nghĩa là hãy ráng quên đi quá khứ, hãy chôn vùi quá khứ, hãy làm bộ như quá khứ chưa bao giờ từng xảy ra. Tại sao? Tại vì quá khứ đã trở thành hiện tại. Nếu ta sống sâu sắc được trong hiện tại thì ta có thể chuyển hóa được quá khứ. Trong hiện tại ta đang có những tập khí rất rõ ràng… Nhưng nếu ta nhận diện được và mỉm cười với tập khí đó thì ta không những có thể giải thoát bản thân ra khỏi những tập khí đó, mà còn có thể chuyển hóa được những tập khí đó. 

Xin nhắc lại là ta trở về quá khứ bằng hai cách. Một là ta cố tâm nhớ tới, hai là nó như con ma kéo ta trở về. Trong khi đó, phương pháp tu học của chúng ta là an trú trong hiện tại. An trú trong hiện tại không có nghĩa là phủ nhận những ảnh hưởng của quá khứ. Bởi tất cả những đau thương hay những đam mê trong quá khứ đều đang có mặt ở hiện tại, dưới hình thức của hiện tại. Cách chúng ta đang hành xử, nói năng, làm việc được sai sử, được điều kiện hóa bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ. Vì vậy, chúng ta phải sống trong hiện tại để thấy cho rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại, chỉ khi thấy được một cách rõ ràng thì ta mới có thể mỉm cười với chúng và chuyển hóa chúng. Cho nên đức Thế Tôn đã nói: Hãy quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại.

Sự sống có hai điều quan trọng. Thứ nhất là những mầu nhiệm của sự sống có công năng nuôi dưỡng và chữa trị cho ta. Sống trong hiện tại ta phải tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm có công năng nuôi dưỡng và trị liệu ấy. Thứ hai là sống trong hiện tại ta quán chiếu và thấy được những lề thói, những tập khí đang sai sử ta. Chúng đang xúi ta nói những điều mà ta không muốn nói, xúi ta nghĩ những điều mà ta không muốn nghĩ, xúi ta làm những điều mà ta không muốn làm để gây đổ vỡ trong ta và xung quanh ta. Chỉ khi nào an trú trong hiện tại, ta mới có thể nhận diện được chúng, mỉm cười với chúng và chuyển hóa được chúng. Chuyển hóa được chúng thì con ma quá khứ sẽ không còn làm gì ta được nữa. Trong quá khứ ta đã từng đau khổ và vì vậy nên ta sợ hãi. Ngay trong hiện tại ta cũng có sự sợ hãi, dù không có gì đáng sợ nhưng ta vẫn run sợ, nỗi sợ này không có căn cứ. Đó là một tập khí và nó khiến ta có những chuẩn mực hành xử. Những hành vi theo thói quen (habitual patterns) tạo ra những khuôn khổ mà trong đó ta không thấy thoải mái, không thấy an lạc, đồng thời ta cũng làm mất sự thoải mái và an lạc của những người chung quanh. Chỉ khi nào biết quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại thì ta mới thấy được mặt mũi của chúng, rồi mỉm cười với chúng: “A! Cái này là tập khí. Cái này là thói quen. Cái này đã làm cho ta không mở lòng ra được, làm cho ta không thương yêu được”. Khi ta tiếp tục nhận diện bằng nụ cười thì tự nhiên những tập khí đó sẽ tiêu tán và những hình ảnh ma quái của quá khứ cũng sẽ được chuyển hóa, được tan biến. 

Trong đoạn kinh này, Bụt dạy rằng nếu ta cứ để cho mình trở về quá khứ, để cho con ma quá khứ nắm đầu thì ta không có cơ hội sống trong hiện tại, để làm công việc nuôi dưỡng và trị liệu cho ta.

Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: Trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế. 

Không tìm về quá khứ là sự thực tập của ta. Điều đó có nghĩa là ta có thể nghĩ về quá khứ, nhưng đừng để cho quá khứ lôi kéo. Đức Thế Tôn không dạy là chúng ta không được suy nghĩ về quá khứ. Chúng ta có quyền nghĩ rằng: Trong quá khứ ta đã bị như thế đó, ta đã được như thế đó, thân của ta như thế đó, tâm của ta như thế đó. Ta có quyền nghĩ về những điều như vậy, nhưng không để cho những hình ảnh đó chi phối, lung lạc và giam hãm ta.

Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy, thì người đó đang không tìm về quá khứ.

Có nhiều người cho rằng hiện pháp lạc trú là chỉ được nghĩ tới hiện tại thôi, không được nghĩ tới quá khứ, điều đó không đúng. Nếu ta tự thiết lập mình trong quá khứ một cách vững chãi, ta có thể quán chiếu trong hiện tại, có thể quán chiếu về quá khứ, tức là ta có tuệ giác về quá khứ. 

Ví dụ ta kể lại một câu chuyện ngày xưa đã xảy ra với ta. Có hai cách kể. Một là ta kể mà hoàn toàn bị kỷ niệm ngày xưa ôm lấy, thống trị, và trong khi kể câu chuyện đó ta khóc như mưa như gió, không làm chủ được mình. Cách thứ hai là ta thiết lập sự vững chãi trong hiện tại, ta có sư anh, sư em ngồi kề bên và nói: “Tôi sẽ kể câu chuyện đó cho sư anh và sư em nghe” rồi ta kể. Ta kể đúng những gì đã xảy ra, nhưng ta vẫn là ta như bình thường, ta không bị quá khứ nắm đầu, giam hãm và không khóc như mưa như gió. Đó là ta đang an trú trong hiện tại để quán chiếu về một chuyện đang xảy ra trong quá khứ, điều này không có nghĩa phép thực tập của Làng Mai là không có quyền nghĩ tới quá khứ. Ta có quyền nghĩ về quá khứ với điều kiện là ta đang an trú vững chãi trong hiện tại, ta mời quá khứ đi lên để làm đối tượng của sự quán chiếu. Nếu còn yếu thì ta phải biết phương pháp chế tác thêm năng lượng chánh niệm và phải nhờ năng lượng chánh niệm của sư anh, sư chị, sư em để ta có thể quán chiếu quá khứ mà không bị quá khứ kéo đi. 

Cho nên tăng thân rất quan trọng. Nếu muốn quán chiếu về quá khứ một mình thì phải biết ta mạnh hay con ma mạnh. Nếu thấy con ma mạnh hơn thì ta khoan hãy làm, mà hãy thực tập thiền hành, thiền tọa cho vững vàng hơn. Để cho sự thực tập dễ thành công, ta nên nhờ một sư anh, sư chị ngồi bên cạnh để yểm trợ, hộ niệm cho ta, rồi ta mới mời con ma kia về. “Ma ơi, tới đây để ta xem mặt!”. Ta phải nắm chắc phần thắng trong tay thì mới làm. Đó là một cuộc hành quân, một cuộc chiến đấu, một cuộc đối diện, một cuộc pháp trận và vì vậy sống trong tăng thân có những người cùng thực tập với ta là điều kiện rất thuận lợi.

Này quý thầy, sao gọi là tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: Trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia, nghĩ như thế mà khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng tới những gì thuộc về tương lai ấy, thì người đó đang tưởng tới tương lai

Lo lắng, sợ hãi hoặc mơ tưởng, sầu đau đều là những con ma lớn. Nếu bị con ma quá khứ và con ma tương lai nắm đầu thì ta đâu còn sự sống nữa, ta không còn khả năng để sống trong giây phút hiện tại. Trong khi chúng ta biết rằng Tịnh độ, Cực lạc, Thiên đường, nước Chúa,… tất cả những nơi này chỉ có thể có mặt trong hiện tại mà thôi. Ta đã đánh mất những điều đó vì hai con ma kia. A la hán là bậc có thể phá được tất cả bầy ma mà trước hết là bầy ma quá khứ và bầy ma tương lai. Chúng ta hãy trở về với chuyện anh chàng được bác sĩ bảo chỉ còn sáu tháng nữa để sống. Anh chàng đó nói: “Được, cứ cho là sáu tháng nữa tôi chết đi nhưng tôi không tin rằng điều bác sĩ nói chắc chắn đúng”. Vì có những bác sĩ cũng đã nói điều tương tự nhưng sự việc lại không xảy ra đúng như vậy. Có khi bác sĩ nói người đó chỉ còn sống được sáu tháng nữa nhưng anh ta đã sống luôn 25 năm, vậy thì ông bác sĩ đó cũng không giỏi gì mấy, bởi vì còn tùy theo cách ta sống. Cứ cho rằng sáu tháng nữa người đó chết đi, nhưng từ đây cho tới khi chết người đó sẽ sống đàng hoàng. Và người đó thực tập phương pháp của kinh Người biết sống một mình. Người đó trở về sống an lạc, vững chãi và thảnh thơi trong từng giây phút để nâng cao phẩm chất của đời sống. Khi sống được như vậy thì người đó đạt được tự do – không bị quá khứ nắm đầu, không bị tương lai làm cho run sợ. Sống vững chãi, thảnh thơi trong giây phút hiện tại, người đó tự nhiên thấy được chiều sâu của sự sống và tìm ra được rằng: Thọ mạng của mình là vô lượng.

Những kinh khác như kinh Pháp hoa hay kinh Kim cương đều nói rằng thọ mạng của các đức Thế Tôn là vô cùng. Ý niệm về thọ mạng của ta là ta sinh ra từ một giây phút nào đó và ta sẽ chết đi trong một giây phút nào đó; giữa hai giây phút có thể là 80 năm, 90 năm hay 100 năm. Người ta nghĩ rằng đó chính là thọ mạng của họ. Nhưng đó là vì chúng ta chưa biết sống vững chãi, thảnh thơi trong giây phút hiện tại. Nếu ta biết sống vững chãi, thảnh thơi và quán chiếu sự sống sâu sắc, ta sẽ khám phá ra rằng, thọ mạng của ta cũng vô lượng như thọ mạng của đức Thế Tôn và cái gọi là sinh hay diệt kia không động chạm được đến thọ mạng của ta. Ta sẽ thấy không có cái chết, đó chỉ là sự biểu hiện và ẩn tàng. Vậy, trong sáu tháng đó, người ấy có thể đắc đạo, có thể tiếp xúc được cái không sinh không diệt; đối với người đó sáu tháng, tám tháng hay là 60 năm không có nghĩa lý gì nữa. Quan trọng là ta tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt, vì khi tiếp xúc được với tự tính đó rồi thì sống chết đâu còn làm gì được ta. Sinh tử đâu có thể ép uổng được ta.

Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương. Đó là một câu kệ của Tuệ Trung Thượng sĩ. Ý niệm về sinh diệt, về cái chết đã từng ép uổng ta, bây giờ nó không thể đụng tới ta được nữa. Vậy thì dù cho ông bác sĩ nói như vậy nhưng ta có thể xem việc còn lại sáu tháng để sống là một tiếng chuông chánh niệm, ta trở về sống từ bây giờ cho tới phút giây đó, thì không hẳn là ta sống sáu tháng mà cũng có thể là một năm hay ba mươi năm. Nếu sống được một cách vững chãi và thảnh thơi, thậm chí ta có thể sống lâu hơn ông bác sĩ, ông bác sĩ có thể sẽ chết trước ta vì ông sống thiếu chánh niệm, thiếu an lạc, thiếu thảnh thơi. Trong khi đó, nhờ tiếng chuông chánh niệm thỉnh lên, ta bắt đầu học được cách sống an lạc và thảnh thơi. Cho nên trong thân ta có những chuyển hóa và ta có thể sống lâu hơn ông bác sĩ. Chuyện đó từng xảy ra và đã xảy ra rất nhiều lần.

Này quý thầy, sao gọi là không tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: Trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia. Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người đó đang không tưởng tới tương lai. 

An trú được trong hiện tại, ta có thể quán sát về tương lai. Một mai dù sẽ nằm cứng đơ lạnh ngắt trên giường, ta vẫn không sợ hãi. Khi những người thân gọi tên ta, ta im lặng không trả lời vì tai không nghe, mắt không thấy, ta vẫn bình thản không sợ hãi. Ta không sợ hãi bởi vì ta đã sống sâu sắc, đã quán chiếu, đã tiếp xúc được với thế giới không sinh không diệt nên giờ phút đó ta biết rằng cái tử thi kia đâu phải là ta. Ta không còn đồng nhất ta với hình hài lạnh ngắt kia nữa thì sao phải sợ. Có người nghĩ tới giờ phút mình bệnh và chết, phải bỏ lại những người thân thì rất lấy làm sợ hãi, nhưng cũng có người nghĩ tới thì vẫn mỉm cười như thường. Tại sao lại có sự khác biệt đó? Sở dĩ như vậy là vì người này biết sống sâu sắc, vững chãi trong hiện tại, đã khám phá được tính vô sinh bất diệt của sự sống. Không phải ta cố tình không nghĩ tới nó, mà ta nghĩ tới là để quán chiếu. Vì vậy các thầy, các sư cô mỗi ngày đều nên đọc lại năm điều quán niệm. “Tôi thế nào cũng phải già nua, tôi không thể nào tránh được sự già nua. Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào tránh thoát được cái bệnh. Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thể nào tránh thoát được cái chết. Tất cả những người tôi thương yêu và tất cả những gì tôi trân quý hôm nay, một mai này tôi đều phải xa lìa và buông bỏ; tôi không thể nào tránh thoát được giờ phút xa lìa và buông bỏ ấy. Tôi là kẻ thừa tự những nghiệp quả do thân, miệng, ý của tôi tạo nên, và những nghiệp quả ấy là cái duy nhất tôi có thể mang theo với tôi sau này. Tôi không đem theo thứ gì hết, tất cả những điều đó Bụt đã dạy cho chúng ta, chúng ta phải làm vì Bụt là một bác sĩ trị liệu cho cả thân lẫn tâm. Bụt nhắc chúng ta như vậy để chúng ta trở về sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Nếu sống sâu sắc được những giây phút hiện tại thì ta vượt thoát khỏi cái già, cái bệnh và cái chết. Khi những cái đó xảy ra ta vẫn mỉm cười vì ta thấy đây là chuyện rất tự nhiên, đôi khi ta cảm thấy thích vì đó là cơ hội để ta làm mới lại chính mình.

Kinh Người biết sống một mình giúp chúng ta thấy rõ sống trong hiện tại không có nghĩa là cấm ta không được nghĩ tới quá khứ, tưởng tới tương lai. Phải biết an trú trong hiện tại để mỗi khi quán chiếu quá khứ hay tương lai ta vẫn có tự do và có thể vượt thoát được những nỗi sầu đau, sợ hãi. Trong giáo lý tương tứctương nhập thì quá khứ làm ra hiện tại, hiện tại làm ra tương lai. Vì vậy tiếp xúc với hiện tại là ta đang tiếp xúc với quá khứ và tương lai mà không bị con ma quá khứ và tương lai sai sử. 

Này quý thầy, thế nào gọi là bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người không học, không biết gì về Bụt, Pháp, Tăng, không biết gì về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, không tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang bị lôi cuốn theo hiện tại

Sống trong hiện tại không có nghĩa là bị lôi cuốn theo hiện tại, mà là ta có chủ quyền. Đoạn văn này bổ sung rõ ý cho hai câu Hãy quán chiếu sự sống, trong giờ phút hiện tại. Sống trong hiện tại nghĩa là sống sâu sắc với một ý thức minh mẫn để có thể thực tập quán chiếu. Khi quán chiếu như vậy, ta không thấy rằng cái thân này là ta nữa. Ta không nói: “Tôi là hình thể này, hình thể này là tôi. Một mai hình thể này không còn nữa thì tôi không còn nữa”. Nếu nói như vậy là vô minh, chính điều đó làm phát sinh ra sự sợ hãi, sầu đau, chính điều đó làm cho ta bị con ma quá khứ và con ma tương lai nắm đầu. Vì vậy, sống sâu sắc trong hiện tại là khám phá ra được tính tương tức tương nhập, tính tương duyên của tất cả vạn pháp và không bị sự u mê chấp ngã điều khiển. Không thấy rằng ta chỉ là cái thân này, cái thân này là ta; ta chỉ là những cảm thọ này, những cảm thọ này là ta; ta là những tri giác này, những tri giác này là ta; ta là những tâm hành này, những tâm hành này là ta; ta là những nhận thức này, những nhận thức này là ta. Khi ta không đồng nhất ta với những yếu tố của năm uẩn, khi ta nhận thấy sự sống là thênh thang, ta không bị kẹt vào ý niệm về ngã thì lúc đó không còn con ma nào có thể lung lạc được ta nữa, kể cả con ma quá khứ và con ma tương lai. Sống được như vậy, ta tiếp xúc được với thế giới của không sinh không diệt, mà đã tiếp xúc được với thế giới không sinh không diệt rồi thì quá khứ làm sao còn có thể giam hãm ta và tương lai làm sao còn có thể tạo ra sợ hãi cho ta được nữa. Đây là tinh túy của giáo lý đạo Bụt.

Này quý thầy, thế nào gọi là không bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người có học, có biết về Bụt, Pháp, Tăng, có biết về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, có tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, không cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang không bị lôi cuốn theo hiện tại.

Chỉ có một câu thôi nhưng đủ để ta áp dụng suốt đời. Mỗi ngày, ta sống với những gì thuộc về sắc, thọ, tưởng, hành và thức cho nên ta cần phải biết tính nhân duyên, tính duyên khởi của chúng. Ta biết rằng nội sắc hay ngoại sắc cũng chỉ là sắc; nội thọ hay ngoại thọ cũng chỉ là thọ. Khi thấy được tính nhân duyên, tính duyên sinh của tất cả các hiện tượng đó thì ta sẽ không còn nắm bắt, không còn bị vướng mắc, vì vậy ta không còn bị quá khứ, tương lai và hiện tại đàn áp, sai sử nữa.

Ðó, tôi đã chỉ cho quý thầy biết về đại cương và giải thích cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình.

Bụt nói xong, các vị khất sĩ đồng hoan hỷ phụng hành.

Ekavihāra có nghĩa là độc cư (獨居), eka là một, vihāra là cư. Khi ta sống với một con ma thì không còn gọi là độc cư nữa mà gọi là song cư (雙居) hay nhị cư (二居) – Sadutiyavihāra. Độc cư là sống một mình, song cư là sống hai mình. Vì vậy, người tu là phải biết sống một mình. Khi ngồi, khi đi, khi ăn cơm… nếu ta để một con ma ngồi bên cạnh thì đó không phải độc cư mà là song cư hay nhị cư. Khi thấy một sư anh đang ngồi với một con ma thì ta nên hỏi: Sư anh ơi, sư anh đang ngồi với ai đó? Câu hỏi sẽ giúp sư anh tỉnh dậy. Khi thấy một sư em đang ngồi với một con ma, có thể là con ma tương lai, thì ta nên hỏi: Sư em đang ngồi với ai đó? Sư em cũng sẽ thức dậy. Ta đừng để cho nó ám ảnh, ta phải phá ma. Trong hiện tại ta có những đam mê, những vướng mắc, những hận sầu, những dự án và ta sống với những cái đó thì không phải là sống độc cư mà ta đang sống với con ma thứ hai. Là một người tu, ta đừng sống với con ma.

Ban đầu khi nghe bác sĩ nói anh còn sáu tháng để sống thì anh thấy đất sụp dưới chân mình: “Trời ơi, tôi còn biết bao nhiêu chuyện để làm, tại sao phải chết sớm quá, tôi còn biết bao nhiêu chỗ để đi chơi, đi thăm, tôi còn biết bao nhiêu người muốn gặp”. Nhưng sau khi học kinh này, ta sẽ nói: Bây giờ anh làm đi, anh còn sáu tháng, anh làm đi, anh làm cho đàng hoàng, lâu nay anh cũng làm đó nhưng anh làm như một con ma. Bây giờ anh sẽ thực tập hay hơn, muốn làm cái gì thì anh làm đi, và hãy làm với tất cả con người của anh, anh an trú trong hiện tại, anh sống cho sâu sắc. Anh muốn đi chơi đâu thì đi nhưng khi tới đó anh phải an trú hết mình tại đó. Nếu gặp một người chỉ còn bốn hay sáu tháng nữa để sống thì ta cũng bắt chước đức Thế Tôn mà nói: Anh sẽ phải chết thì tôi cũng sẽ phải chết, nhưng từ bây giờ cho tới khi chết ta phải sống cho thật đàng hoàng. Anh có khả năng sống được như thế hay không, hay là trong sáu tháng đó anh để cho con ma sợ hãi hớp hồn và không còn thực sự sống được giây phút nào nữa. Ta phải làm sao giúp cho người kia sống sáu tháng còn lại cho thật đàng hoàng. Nếu người đó sống được sáu tháng đàng hoàng thì anh ta có thể sống được thêm sáu năm hay hai mươi năm, vì đó là cách sống hay nhất: sự nhẹ nhàng, thảnh thơi, hạnh phúc sẽ chuyển hóa những bệnh khổ trong cơ thể cũng như những bệnh khổ trong tâm tư. Khi mới nghe tin ta bị ung thư (cancer), ta nói ta sẽ tranh đấu, ta sẽ trị bằng tia điện, trị bằng chất hóa học, vừa làm liệu pháp hóa học (chemotherapy), vừa làm liệu pháp xạ trị (radiotherapy), đánh một lần cho tan ung thư. Ta áp dụng phương pháp của người chiến sĩ. Ta thấy có kẻ thù, kẻ thù là cái chết, là căn bệnh ung thư. Sống trong tâm trạng đó ta sẽ đau khổ vô cùng. Vì vậy, nếu tiếp nhận được một giọt nước từ bi của Bụt, ta sẽ thấy Ngài mỉm cười: Sống hả? Hay lắm! Chết hả? Cũng hay lắm! Bởi sống chết là hai khía cạnh của một thực tại, nếu không có chết làm sao có sống, nếu không có sống làm sao có chết. To live or to die, both are good. Điều quan trọng là nếu sống thì phải sống cho đàng hoàng; nếu chết cũng phải chết cho đàng hoàng. Sống cho đẹp và chết cho đẹp. Chết cho đẹp tức là sống và sống cho đẹp tức là chết, vì vậy ta nên khuyên người kia hãy trở về và sống những giây phút của đời sống hằng ngày cho thật sâu sắc. Có thể người bệnh ung thư sắp chết kia sẽ đạt tới kết quả tốt đẹp mà những người không mắc ung thư không đạt tới được. Họ có thể chứng đạt và sống cuộc đời của mình rất sâu sắc, có cơ hội tiếp xúc được với tự tính vô sinh, bất diệt của mình. Trong khi đó, những người không mắc ung thư có thể kéo lê cuộc đời mình từ bây giờ cho đến lúc chết trong đau khổ, trong oán hờn, trong u muội.

Cuốn sách Ước hẹn với sự sống – Your appointment with life chú giải một cách tường tận kinh Người biết sống một mình. Nếu vị nào chưa đọc hoặc chưa có thì hãy đi tìm sách đó trong quán Con Nghé Nhỏ hay quán Ô Môi. Tôi tin rằng cuốn kinh đó cũng đã được dịch ra tiếng Pháp.

Kinh Người biết sống một mình

Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Ðà tại thành Xá Vệ; Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo:  

“Này quý thầy.” 

 Các vị khất sĩ đáp: 

“Có chúng con đây.”

 Ðức Thế Tôn dạy:

 “Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.”

“Thưa Thế Tôn, chúng con đang lắng nghe đây.”

Ðức Thế Tôn dạy: 

“Ðừng tìm về quá khứ

Ðừng tưởng tới tương lai, 

Quá khứ đã không còn 

Tương lai thì chưa tới, 

Hãy quán chiếu sự sống 

Trong giờ phút hiện tại, 

Kẻ thức giả an trú

Vững chãi và thảnh thơi. 

Phải tinh tấn hôm nay 

Kẻo ngày mai không kịp, 

Cái chết đến bất ngờ 

Không thế nào mặc cả. 

Người nào biết an trú

Ðêm ngày trong chánh niệm

Thì Mâu Ni gọi là

Người biết sống một mình. 

“Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.

“Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế. Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang không tìm về quá khứ. 

“Này quý thầy, sao gọi là tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia, nghĩ như thế mà khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng tới những gì thuộc về tương lai ấy thì người đó đang tưởng tới tương lai.

“Này quý thầy, sao gọi là không tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia. Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người đó đang không tưởng tới tương lai. 

“Này quý thầy, thế nào gọi là bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người không học, không biết gì về Bụt, Pháp, Tăng, không biết gì về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, không tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang bị lôi cuốn theo hiện tại.

“Này quý thầy, thế nào gọi là không bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người có học, có biết về Bụt, Pháp, Tăng, có biết về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, có tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, không cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang không bị lôi cuốn theo hiện tại.

“Ðó, tôi đã chỉ cho quý thầy biết về đại cương và giải thích cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình.”

 Bụt nói xong, các vị khất sĩ đồng hoan hỷ phụng hành.

Khoá tu Sức khoẻ thân tâm tại xóm Mới từ 13.06 – 20.06.2025

“Muốn đạt tới hạnh phúc, ta phải cắt bỏ những nguồn thực phẩm không lành mạnh và thực tập chỉ tiêu thụ những loại thực phẩm lành mạnh có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu.”

Từ ngày 13.06 đến 20.06.2025, khoá tu “Sức khoẻ Thân Tâm” đã được tổ chức tại Xóm Mới, Làng Mai Pháp. Gần 200 thiền sinh đã cùng nhau trở về, mang theo ước nguyện làm mới lại năng lượng và chăm sóc sâu sắc cho thân tâm của mình.

Qua những bài pháp thoại sâu sắc từ sư cô Tuệ Nghiêm và sư cô Chân Đức, thiền sinh học cách dừng lại những lao xao trong tâm trí, để thực sự lắng nghe và nhận diện những căng thẳng đang tồn tại trong cơ thể.

Bên cạnh đó, các bạn cũng được hướng dẫn cách ôm ấp những cảm xúc mạnh, nhìn sâu vào những loại “thực phẩm” mà mình đưa vào thân tâm mỗi ngày – không chỉ qua bữa ăn, mà còn qua truyền thông, lời nói, suy nghĩ và môi trường sống.

Một điểm thực tập đặc biệt trong khóa tu là thiền buông thư – cơ hội quý báu để trở về với thân thể. Bằng hơi thở ý thức và năng lượng chánh niệm, thiền sinh được mời gọi soi chiếu toàn thân, đi qua từng bộ phận trên cơ thể để làm lắng dịu, thư giãn và chữa lành.

Sau một tuần thực tập, bước chân ai cũng trở nên chậm rãi, nhẹ nhàng hơn; và trên nhiều gương mặt đã nở rộ những nụ cười rạng rỡ, tràn đầy sức sống.

Đặc biệt, hơn 50 thiền sinh đã phát nguyện thọ trì Năm giới, mang theo hạt giống chánh niệm để tiếp tục nuôi dưỡng thân tâm và góp phần chuyển hoá đời sống hàng ngày bằng hiểu biết và tình thương.

Mời đại chúng cùng nhìn lại những khoảnh khắc lắng dịu và tươi mát trong khóa tu “Sức khoẻ Thân Tâm” vừa qua:

 

Tuần lễ “Người làm vườn hạnh phúc” từ 06.06 – 13.06.2025 tại xóm Mới

“Tâm thức của chúng ta chứa đủ tất cả những loại hạt giống, có hạt giống khổ đau nhưng cũng có hạt giống hạnh phúc, có hạt giống của thù hận nhưng cũng có hạt giống của thương yêu, có hạt giống của si mê nhưng cũng có hạt giống của trí tuệ. Có thể chưa có ai giúp chúng ta nhận diện và tiếp xúc được với những hạt giống của niềm vui và hạnh phúc đó. Vì vậy cho nên chúng ta mới cần tới Thầy, tới bạn và tới sự thực tập.”

Từ ngày 06/06 đến ngày 13/06, các bạn thiền sinh đã trở về Xóm Mới để tham dự tuần lễ “Người làm vườn hạnh phúc – Happy Farm”. Người hành thiền cũng giống như một người làm vườn – cần có mặt, chăm sóc và nuôi dưỡng khu vườn tâm của mình mỗi ngày.

Bằng hơi thở chánh niệm và bước chân tỉnh thức, chúng ta nhận diện và tưới tẩm những hạt giống của niềm vui, tình thương và hiểu biết – để những hạt giống tích cực trong ta được đơm hoa, kết trái.

Kính mời đại chúng cùng nhìn lại những khoảnh khắc an lành qua các hình ảnh dưới đây:

 

Âm nhạc: Con đường tâm linh

(Thầy Chân Pháp Hữu)

Năm 2023, lần đầu tiên, một nhóm xuất sĩ Làng Mai tổ chức chuyến lưu diễn âm nhạc ở Bắc Mỹ với chủ đề “The Way Out Is In: A Musical Meditation” (tạm dịch Đường vào nội tâm: Âm nhạc thiền). Đây là một sự kết hợp đặc biệt giữa âm nhạc đương đại, thơ và những bài hướng dẫn thực tập súc tích và đầy cảm hứng. Chuyến lưu diễn bắt đầu từ ngày 21.04 tại Baltimore, đến Washington D.C. và Boston, kết thúc bằng một buổi hòa nhạc ở Toronto, Canada vào ngày 1.5. Dưới đây là những chia sẻ của thầy Pháp Hữu với BBT trong buổi ngồi chơi ngày 2.1.2024.

Tinh thần cởi mở và uyển chuyển

Khi bắt đầu chuyến lưu diễn, chúng tôi có ý định thiết kế những buổi nhạc thiền theo kiểu lồng âm nhạc vào câu chuyện dòng sông mà Thầy đã viết như một bài thơ, giống như nhiều buổi nhạc thiền chúng tôi từng tổ chức trong các khóa tu tại Làng Mai. Tuy nhiên, sư cô Hiến Nghiêm và tôi – hai người dẫn chương trình – nhận ra rằng có tới 90% số người trong thính chúng sẽ không hiểu được ý nghĩa của câu chuyện mang tính thiền quán này vì nó khá sâu. Chúng tôi cần phải giải thích ý nghĩa câu chuyện. Mô thức này phù hợp trong các khóa tu vì thính chúng là những thiền sinh và xuất sĩ, mọi người đã quen thuộc với hình ảnh “đi như một dòng sông”. Nhưng trong chuyến lưu diễn này, nhiều người đến tham dự vì họ nghe được thông tin từ bạn bè. Chúng tôi nhận thấy thơ của Thầy có lẽ không thích hợp với họ.

May mắn thay, một điểm nổi bật trong chuyến lưu diễn là chúng tôi thực tập với tinh thần cởi mở và uyển chuyển. Chúng tôi quyết định lồng những chia sẻ về chánh niệm và pháp môn thực tập thông qua những bài pháp thoại ngắn chừng năm bảy phút, dẫn dắt người nghe đến với âm nhạc. Điều này giúp thiết lập những nền tảng cơ bản cho toàn bộ buổi diễn. Chúng tôi bắt đầu bằng chia sẻ “Thầy là ai?”, bởi vì mục đích của chuyến lưu diễn là nhằm tôn vinh gia tài Thầy để lại. Sau đó, chúng tôi chia sẻ về tinh thần của đạo Bụt dấn thân, về sự sáng tạo và cởi mở của Thầy giúp mọi người có được niềm vui và hạnh phúc khi thực tập.

Hồi xưa ở Tây phương, rất nhiều người biết đến Thầy với vai trò một nhà hoạt động hòa bình và nhà thơ hơn là một vị xuất sĩ. Những bài thơ là phương tiện để Thầy truyền tải thông điệp của mình về hòa bình. Đoàn thể đầu tiên của Thầy là những thanh niên trẻ làm việc trong những ngôi làng bị chiến tranh tàn phá, chứng kiến cảnh giết chóc và bom đạn cày xới mỗi ngày. Đó là lý do hình thành những Ngày quán niệm trong truyền thống Làng Mai. Thầy nhận ra rằng chúng ta cần tới với nhau mỗi tuần một lần để cùng nhau trân quý những nhiệm mầu của cuộc sống – đạo Bụt chính là một nếp sống. Mỗi tuần chúng ta đến với nhau để thắp sáng ý thức về vẻ đẹp của giây phút hiện tại, đồng thời đem chánh niệm soi chiếu vào những khổ đau, nhìn sâu vào gốc rễ của chúng, ôm ấp và chuyển hóa chúng, cùng nhau vun trồng những tuệ giác mới và những hạt giống thiện lành trong tâm thức chúng ta.

Trong những ngày quán niệm, Thầy cho phép những bạn trẻ mang theo đàn và trống để chơi nhạc và cùng hát với nhau. Rất nhiều bài thơ của Thầy đã được phổ nhạc. Thầy cũng mời nhiều nghệ sĩ, nhạc sĩ, ca sĩ, nhà thơ tới tham dự, những người trở nên rất nổi tiếng ở Việt Nam sau này. Âm nhạc rất quan trọng đối với Thầy. Sáng tác nhạc là một trong những sở thích của Thầy. Bản thân Thầy cũng là một nghệ sĩ đầy tài năng.

Nhịp cầu đưa mọi người đến với con đường tâm linh

Sau phần giới thiệu về Thầy, chúng tôi chia sẻ về hơi thở ý thức bởi vì bài hát đầu tiên nói về mười sáu bài tập hơi thở ý thức. Chánh niệm luôn luôn là chánh niệm về cái gì, vì vậy sau đó chúng tôi nói tới chánh niệm về khổ đau, rồi dẫn tới bài hát Đêm nguyện cầu, lấy ý từ một bài thơ của Thầy. Đôi khi có tiếng đàn cello hoặc piano đệm vào những lời chia sẻ. Thích chúng được trải nghiệm những khoảnh khắc thiền quán sâu lắng trong sự hòa điệu giữa âm nhạc và thiền vị.

Chúng tôi rất may mắn vì trong nhóm có những vị xuất sĩ trước đây từng là nhạc công chuyên nghiệp, như thầy Pháp Linh chơi đàn cello và sư cô Trai Nghiêm chơi violin. Đây là sự trình diễn kết hợp giữa những bài hát với giai điệu, tiếng đàn, rap, trống theo phong cách pop, hip-hop; một sự kết hợp đa dạng và linh động tạo thành nhịp cầu giúp kết nối mọi người với đời sống tâm linh. Đối với những người thuộc thế hệ trẻ như chúng tôi, con đường tâm linh không đơn thuần là trở thành Phật tử hay đi theo một tôn giáo nào. Đời sống tâm linh là khả năng tỉnh thức ở mỗi người chúng ta, là học được nghệ thuật dừng lại, kết nối với khổ đau của chính chúng ta, ôm ấp, chăm sóc và chuyển hóa chúng với lòng từ bi.

Sau những buổi trình diễn, rất nhiều người chia sẻ rằng họ tiếp xúc được với năng lượng bình an và vững chãi rất sâu sắc. Vì chúng tôi là xuất sĩ, nhiều người nghĩ rằng âm nhạc của chúng tôi phải chậm rãi và thiền vị. Do đó, khi chúng tôi trình diễn bài hát có chút phong cách nhạc beat, chút phong cách rap, thính giả đã rất ngạc nhiên thốt lên “wow”. Họ không thể tin nổi đó là một phần của buổi trình diễn. Điều này giúp họ thay đổi cách nhìn và nhận ra rằng các xuất sĩ có thể tự do sáng tạo về cách thức truyền bá Phật pháp, chuyển tải ngôn ngữ của đạo Bụt, của chánh niệm và tỉnh thức vào đời sống xã hội. Hơn nữa, chuyến lưu diễn cũng giúp chính chúng tôi vượt thoát khỏi ý niệm cũ của mình về chúng tôi là ai. Chúng tôi thấy mình cần có can đảm để đi tới, miễn sao những hình thức nghệ thuật đó luôn gắn liền với những nguyên tắc và tuệ giác căn bản của đạo Bụt. Đây cũng chính là tuệ giác của Thầy.

 

“Đó là đạo Bụt của thầy”

Khi bắt đầu chuyến lưu diễn này, ai trong chúng tôi cũng lo ngại: Liệu chúng tôi có đủ khả năng không? Chúng tôi có tham vọng quá không? Đối với tôi, một trong những điểm nổi bật của chuyến lưu diễn này là niềm vui khi được khuyến khích làm một điều gì đó “khác lạ”. Điều này đòi hỏi niềm tin nơi Phật pháp và nơi Tăng thân. Từ sâu trong tim, tôi biết Thầy luôn ủng hộ chúng tôi.

Tôi nhớ trong khóa tu mùa Hè năm 2012, khi chúng tôi tổ chức lễ kỷ niệm 30 năm Làng Mai, theo qui tắc thông thường thì chúng tôi có thể biểu diễn những bài hát thật hay, nhưng không phải là hip-hop. Nhóm chúng tôi, những học trò còn trẻ tuổi của Thầy, lớn lên trong văn hóa hip-hop và pop, đánh liều thử xem sao. Chúng tôi muốn đem tới một không khí mới cho lễ kỷ niệm. Do đó chúng tôi luyện tập hai bài: một bài rap của Lupe Fiasco tên là The show goes on, nói về việc tiếp thêm sức mạnh cho những người đang đau khổ vì bị áp bức và kỳ thị; một bài khác của Jessi J và B.o.B tên là Price tag, nói về việc không bị cuốn hút bởi đời sống vật chất và chủ nghĩa tiêu thụ. Khi chúng tôi trình diễn hai bài hát, khán giả trở nên cuồng nhiệt một cách rất… chánh niệm. Gần như ai cũng yêu thích hai tiết mục đó.

Tuy nhiên, đây là một điều rất mới đối với văn hóa xuất sĩ. Vài người nhướng mày, tự hỏi “Chuyện gì xảy ra vậy? Việc này có được phép hay không?” và đi kể cho Thầy nghe. Vài ngày sau, tôi có cơ hội được ngồi uống trà với Thầy ở Sơn Cốc. Khi tôi bước vào, ánh mắt của Thầy như muốn nói “Chúng ta sẽ nói chuyện về việc con vừa làm đây”. Tôi ngồi xuống gần bên, Thầy nhìn tôi và nói: “Pháp Hữu, thầy nghe nói mấy hôm trước con và vài huynh đệ trẻ đã biểu diễn một bài hát không phù hợp với truyền thống chúng ta, và hình như các con còn nhảy nữa”. Tôi nhủ thầm: “Con không nghĩ là chúng con có nhảy”. Nhưng khi chúng tôi cảm nhận về nhạc điệu, cơ thể chúng tôi đã chuyển động theo. Do đó tôi trả lời: “Dạ, thưa Thầy, chúng con đã làm như vậy”. Thầy nói: “Một vài vị xuất sĩ có ý kiến và tới nói với thầy”.

Trong tâm trí của một vị xuất sĩ trẻ như tôi, tôi nghĩ rằng tôi đành phải từ bỏ việc này, tôi sẽ không bao giờ được phép biểu diễn loại hình âm nhạc như thế nữa. Nhưng Thầy nhìn tôi và nói: “Con có biết thầy đã trả lời thế nào không? Thầy nhìn những vị đó, mỉm cười và nói: Đó là đạo Bụt của thầy”. Đối với tôi, đây là một sự ghi nhận và chấp thuận lớn nhất mà một vị xuất sĩ trẻ có thể nhận được; Thầy đã tin tưởng chúng tôi. Thầy còn nói thêm: “Bây giờ là thời đại mới. Hãy để những người trẻ thể hiện bản thân bằng ngôn ngữ của chính họ, bằng trải nghiệm của chính họ về những gì có thể chạm tới trái tim họ”. Tôi nghĩ câu chuyện này thể hiện được sự sâu sắc, tình thương cũng như tầm nhìn của thầy chúng tôi.

Từ đó đến nay, chúng tôi đã biểu diễn với nhiều loại nhạc cụ khác nhau, và còn hát rap khi có sự hiện diện của Thầy trong nhiều dịp khác nữa, thậm chí với sự có mặt của chư Tôn đức đến từ Việt Nam. Đối với tôi, đây là một lời tuyên bố. Thầy muốn chỉ ra rằng đây là một hình thức của đời sống xuất sĩ Thầy muốn xây dựng và nuôi dưỡng giữa những người trẻ, những trái tim trẻ tràn đầy nhiệt huyết. Những người lớn tuổi hơn nên cho phép điều này được phát triển trong tăng thân theo tinh thần của sự thực tập, và cho phép những nhạc cụ trở thành một phần của đời sống xuất sĩ.

Tuệ giác của đạo Bụt đã được tiếp nối từ 2600 năm qua và tồn tại đến ngày nay nhờ sự thích nghi với văn hóa của từng thời đại. Trong lịch sử, chúng ta có thể thấy thơ văn, thư pháp, nghệ thuật làm vườn, võ thuật và âm nhạc đã được đưa vào trong rất nhiều truyền thống đạo Bụt. Ví dụ, ở Việt Nam, nhiều loại nhạc cụ đã được đưa vào trong khi tụng kinh. Ở Làng Mai, khi bắt đầu giới thiệu hình thức niệm danh hiệu Bồ tát Quan Thế Âm theo tiếng Phạn, chúng tôi chỉ sử dụng một cây đàn guitar và một chiếc trống. Sau đó, khi thầy Pháp Linh và sư cô Trai Nghiêm gia nhập tăng thân xuất sĩ, Thầy nói: “Đừng bỏ phí tài năng của con. Hãy sử dụng tài năng đó để truyền tải Phật pháp”. Kết quả là, những bài tụng kinh và bài hát của chúng tôi sau này có sử dụng cả cello, violin, piano, guitar, trống v.v.

Thầy từng nói rằng những việc chúng ta làm không phải là điều gì mới mẻ, thực ra điều này đã có trong truyền thống. Ví dụ, trống từng được sử dụng trong chiến trận để làm hiệu lệnh. Nhưng trống cũng được sử dụng làm trống Bát nhã trong những sự kiện quan trọng như lễ truyền giới. Chúng ta có thể sử dụng những chất liệu của truyền thống nhưng với một ý nghĩa mới, một mục đích mới mà nó vẫn có thể truyền tải sức mạnh của Phật pháp.

Hãy cười cùng tôi, hãy khóc cùng tôi

Chuyến lưu diễn cũng giúp tôi thực tập với nỗi buồn vì thiếu vắng hình bóng quen thuộc của Thầy. Một trong những bài hát tôi yêu thích là bài Unborn and Indestructible (Vô sinh và Bất diệt). Bài hát nói rằng không gì có thể mất đi. Ở Washington D.C., tôi đã khóc khi bài Unborn and Indestructible và bài Oneness (Nhất như) được cất lên. Khi nghe tới câu “hãy cười cùng tôi, hãy khóc cùng tôi” trong bài Oneness, trái tim tôi bỗng xúc động; tôi có thể lắng nghe và cảm nhận nỗi buồn của sự mất mát. Chánh niệm là khả năng nhận biết được điều gì đang hiện diện trong chúng ta, nhận diện nó và đủ can đảm ôm ấp nó. Chuyến lưu diễn giúp tôi nhận rõ tôi nhớ Thầy biết bao, tôi mong ước Thầy có thể hiện diện ở đó với chúng tôi. Tôi đã được trị liệu rất nhiều khi nhận ra rằng tôi không cần phải hoàn toàn chuyển hóa nỗi buồn mất Thầy, để có thể trở thành một vị giáo thọ thật sự vững chãi.

 

 

Đây là chuyến hoằng pháp lớn đầu tiên tại Mỹ sau khi Thầy viên tịch. Đây cũng là cơ hội cho chúng tôi – những vị giáo thọ trẻ trong đoàn – có những khoảnh khắc gắn bó thực sự. Chúng tôi hợp tác làm việc và phụng sự như một cơ thể. Không ai trong chúng tôi cố gắng để làm người lãnh đạo hoặc nổi bật hơn những người khác. Chúng tôi học cách làm việc hòa hợp với nhau như những ngón tay trên cùng một bàn tay. Thật mầu nhiệm! Nghệ sĩ đồng thời là ca sĩ nhạc rap Ofusu, tham gia cùng nhóm chúng tôi, đã nói: “Tôi chưa bao giờ tham dự một nhóm nào có sự đồng lòng và hòa điệu tuyệt vời như thế này”. Với tinh thần phụng sự, tình huynh đệ và sự hòa hợp, chuyến hoằng pháp này thể hiện được sự tiếp nối thực sự của Thầy.

Khi đến Boston, một trong những niềm vui lớn nhất của tôi là nhận được sự yểm trợ của sư cô Chân Không. Sau khi chúng tôi biểu diễn, tất cả khán giả đều đứng dậy, và sư cô Chân Không cũng đứng lên khỏi xe lăn để cùng tham gia tán thưởng. Thật là xúc động. Khi chúng tôi cúi chào khán giả, mọi người hô lên “Một bài nữa…một bài nữa…” và sư cô Chân Không cũng tán thành: “một bài nữa…một bài nữa…” Cả nhóm chúng tôi đi tới chỗ Sư cô và xá xuống đáp lễ. Chúng tôi giới thiệu với mọi người: “Hôm nay giữa chúng ta hiện diện một con người huyền thoại. Một trong những học trò đầu tiên của Thầy, một vị Bồ tát của thời đại chúng ta, và bây giờ Sư cô sẽ cúng dường đại chúng một món quà bất ngờ, bài hát The Smile (Nụ cười) – bài hát mà Sư cô luôn luôn hát trong những khóa tu của Thầy”. Khi Sư cô hát xong, đại chúng tán thưởng nhiệt liệt. Giây phút thật ấm lòng. Sư cô chia sẻ: “Sư cô rất vui vì vẫn còn sống để chứng kiến những khoảnh khắc này”. Tôi gần như muốn khóc khi nghe điều đó. Chúng tôi trình diễn buổi hòa nhạc cuối cùng tại trường Đại học Toronto, một phần tư khán giả là sinh viên, nhiều người trong số họ chưa bao giờ biết đến Làng Mai. Một bạn trẻ người Canada gốc Trung Hoa chia sẻ: “Đầu tiên, con muốn bày tỏ lòng biết ơn vì những điều quý thầy, quý sư cô hiến tặng. Con chưa bao giờ có những trải nghiệm như thế này. Xin quý thầy, quý sư cô giải thích cho con ý nghĩa của câu Namo’valo (Nam mô Bồ tát Quan Thế Âm), bởi vì khi nghe con đã khóc như một đứa trẻ. Con là một người trẻ 23 tuổi, cảm giác mờ mịt về tương lai phía trước, không có một đường hướng tâm linh, rồi bỗng nhiên con thấy mình đang khóc nức nở”. Tôi nói với người bạn trẻ: “Bạn đừng cố gắng để hiểu, mà hãy chỉ cảm nhận thôi. Bạn hãy tiếp xúc với những điều nằm sâu trong bạn, và nhiều khi ngôn từ không quan trọng và không cần thiết để giải thích những điều đó”.

Tìm album nhạc ở đâu?

Rất nhiều người hỏi chúng tôi: “Tôi có thể tìm album nhạc ở đâu? Tôi muốn nghe. Tôi muốn những bài hát này được đưa lên Spotify, hay trên Apple Music. Tôi muốn nghe những bài hát này khi lái xe đi làm, hoặc khi tôi có những cảm xúc mạnh. Tôi muốn sử dụng loại âm nhạc này để làm nơi nương tựa”. Thông thường, các ban nhạc cần có một album trước để mọi người biết đến họ, bởi vì khi mọi người thích âm nhạc của ban nhạc đó, họ sẽ muốn nghe những buổi trình diễn trực tiếp. Thành ra nhiều người không thể tin nổi chúng tôi không hề có album.

Một vài người rất yêu thích những bản nhạc mà chúng tôi trình bày và hỏi: “Có cách nào để những bài hát, những bản nhạc này có thể đến với nhiều người mà không chỉ giới hạn trong tăng thân Làng Mai? Cần có thêm điều kiện gì nữa để thực hiện được điều này?”. Sau một thời gian cùng quán chiếu với thầy Pháp Linh, chúng tôi nhận ra mình còn thiếu một nhà sản xuất âm nhạc. Chúng tôi có khả năng về âm nhạc, nhưng chúng tôi cần một ai đó giúp kết nối mọi thứ lại với nhau. Điều này dẫn đến một kết quả thật tuyệt vời sau chuyến lưu diễn: sự ra đời của một album nhạc mới tên là A cloud never dies (Đám mây không bao giờ chết), sẽ được phát hành vào mùa xuân 2024.

Nhà sản xuất album mới này là Jack Peñate, vốn là một nghệ sĩ đầy tài năng. Trong suốt thời gian ba tuần tiến hành ghi âm, chúng tôi thường xuyên ngồi lại với nhau, cùng thắp lên nén trầm, uống trà và chia sẻ những ước nguyện sâu kín nhất của mình. Ngồi trong thất Da Cóc và được ôm ấp bởi năng lượng tâm linh của Thầy, mọi thứ đều như được thấm nhuận chánh pháp Thầy truyền trao. Một khung cảnh thật huyền diệu. Chúng tôi mong muốn rằng âm nhạc có thể đưa mọi người vào một cuộc hành trình, một không gian để mọi người được cầu nguyện, được buồn đau, được cảm nhận bất cứ điều gì trong bản thân, và đồng thời nuôi hy vọng và cảm hứng để hành động. Đó là nguyện ước thâm sâu của chúng tôi.

Jack nhận ra chúng tôi có một chút vướng mắc vào những bản nhạc đã được trình bày trong chuyến lưu diễn. Anh khuyến khích chúng tôi nên buông bỏ những gì đã xảy ra, thưởng thức giây phút hiện tại bên nhau để tạo ra những cảm xúc tươi mới, để cho âm nhạc tuôn chảy thật tự nhiên.

Ban đầu, chúng tôi chuẩn bị tinh thần sẽ dành ra hẳn một năm để cho album được biểu hiện. Nhưng đến khoảng ngày thứ tám hay thứ mười, Jack và tôi nhìn nhau, tôi nói: “Tôi nghĩ chúng ta đã có một album, nó đang hình thành”. Jack nói: “Thầy Pháp Hữu, tôi không nói ra bởi vì tôi không muốn lạc quan quá sớm, nhưng tôi nghĩ thầy nói đúng. Nó đã hình thành. Thật tuyệt!”. Tôi chưa bao giờ gặp người nào tài năng và cũng rất khiêm cung như Jack. Anh còn trở lại Làng Mai vào dịp Ngày tiếp nối của Thầy và chơi đàn trong buổi hòa nhạc kết thúc khóa tu về biến đổi khí hậu. Khi chúng tôi mời anh tham dự, anh nói “đây quả là niềm vinh dự lớn nhất đối với tôi”, bởi vì anh nhận thấy đây chính là Tăng thân của anh, gia đình của anh, và anh muốn trở về nương tựa nơi vị thầy tâm linh vĩ đại ở đây.

Jack nói rằng điều anh học được từ âm nhạc và khoảng thời gian ở với chúng tôi là khả năng lãnh đạo với lòng từ bi. Anh nói: “Điều tôi học được là tình huynh đệ, sự đoàn kết, sự lãnh đạo với lòng từ bi, khả năng lắng nghe sâu, lời nói hòa ái, và sự tin tưởng, tiếp tục tin tưởng”. Đó cũng chính là những điều tôi học được từ lần làm việc chung này.

Có lần tôi chia sẻ với Jack về điều Thầy thường dạy chúng tôi: “Hãy để tổ tiên giúp chúng ta”. Tôi thật sự cảm nhận được rằng xuyên suốt chặng đường từ buổi hòa nhạc cho đến khi album biểu hiện, chúng tôi đã được yểm trợ rất nhiều từ tổ tiên, cả gia đình tâm linh và gia đình huyết thống. Con đường luôn luôn ở đó, nhưng đôi khi chúng ta cần phải quét dọn những cỏ cây lấp lối để con đường được hiển lộ thênh thang.

 

Về nâng sự sống trên tay

( Trích sách Về Việt Nam của thiền sư Thích Nhất Hạnh, NXB Lá Bối 1992)

Mỗi phút của cuộc đời ta là một viên ngọc. Mỗi giờ đồng hồ trong ngày là một viên bảo châu và nếu chúng ta sống có chánh niệm, sống tỉnh thức với nụ cười thì giây phút đó trở thành tuyệt vời và rất đáng sống. Ðó là ngọc, đó là châu báu.

Khi có chánh niệm và có nụ cười, thì giây phút mà chúng ta đang sống trở nên một phép lạ màu nhiệm. Chỉ nhờ một tiếng chuông chánh niệm thôi, tự nhiên chúng ta nghe được tiếng chim hót, tiếng thông reo và bao thứ tiếng vi diệu khác; chúng ta thấy được một đóa hoa đang nở, chúng ta thấy được trời xanh, mây trắng và mỗi phút của đời ta như vậy trở thành viên ngọc. Nếu chúng ta tiếp tục sống trong chánh niệm như vậy thì mỗi ngày chúng ta có từng rổ châu báu và chúng ta sẽ không phải than phiền như nhạc sĩ Phạm Duy là cả cuộc đời không còn cái gì nữa cả.

Châu báu của Bụt để lại cho chúng ta rất nhiều, đó là những giây phút tỉnh thức và nếu muốn, chúng ta có thể vốc từng vốc đầy tay những hạt kim cương. Châu báu thật ra đầy cả thế giới, nếu sống tỉnh thức quý vị sẽ có rất nhiều châu báu và quý vị có thể xúc một rổ đem tặng những người thương, làm cho họ sống ngày hôm nay của họ có chánh niệm có hạnh phúc có nụ cười, và nếu có căn cơ và hạt giống thì người đó sẽ tiếp nhận cái rổ kim cương của qúy vị và sẽ sống được mỗi giây phút trong đời của người đó với thật nhiều hạnh phúc. Mỗi giây là một viên ngọc, mỗi phút là một viên ngọc và mỗi giờ là một viên kim cương và mỗi ngày là một rổ châu báu.

 

 

Thành ra chúng ta, con trai cũng như con gái, nên biết rằng chúng ta là những người cùng tử nghèo đói đi lang thang từ bao nhiêu tháng năm và đây là lúc chúng ta phải chấm dứt cái kiếp nghèo hèn của kẻ cùng tử đi lang thang để trở về tiếp nhận cái gia tài của Bụt, những rổ kim cương lóng lánh sáng chói, để sống những giờ phút của chúng ta cho thật hạnh phúc, thật sâu sắc. Và khi mà chúng ta học được cách sống hạnh phúc như vậy thì cố nhiên chúng ta sẽ gieo rắc hạnh phúc xung quanh chúng ta. Chúng ta sẽ có rất nhiều châu báu và chúng ta sẽ đem một vốc châu báu tặng người phía trái rồi vốc một vốc khác tặng người bên tay mặt, và chúng ta trở thành những người con trai con gái mà Bụt nói trong Kinh Kim Cang. Châu báu của chúng ta chứa đựng đầy tam thiên đại thiên thế giới. Chúng ta rất giàu mà xưa nay vẫn nghĩ là mình nghèo:

Châu báu chất đầy thế giới
Tôi đem tặng bạn sáng nay
Một vốc kim cương sáng chói
Long lanh suốt cả đêm ngày.

Mỗi phút một viên ngọc quý
Tóm thâu đất nước trời mây
Chỉ cần một hơi thở nhẹ
Là bao phép lạ hiển bày.

Chim hót thông reo hoa nở
Trời xanh mây trắng là đây
Ánh mắt thương yêu sáng tỏ
Nụ cười ý thức đong đầy.

Này người giàu sang bậc nhất
Tha phương cầu thực xưa nay!
Hãy thôi làm thân cùng tử
Về đi, tiếp nhận gia tài!

Hãy dâng cho nhau hạnh phúc
Và an trú phút giây nầy
Hãy buông thả dòng sầu khổ
Về nâng sự sống trên tay.

Đi tìm ánh ban mai

(Sư cô Chân Trăng Tâm Thuận)

Góc yên, ngày 3 tháng 11 năm 2024.

Bạn hiền thương,

Sau những ngày nắng hiếm hoi của mùa đông, Huế trở lạnh và mưa rả rích cả ngày. Mình ngồi ở góc nhỏ, đốt nến, pha trà và muốn viết vài dòng thương gửi bạn.

Tuổi nắng tròn

Năm nay mình sẽ đón tuổi mới với những cơn mưa quen thuộc và vui là vẫn có bạn ở bên. Hai mươi tuổi năm thứ ba, mình nhớ về bài thơ Tuổi nắng tròn được tặng năm ấy:

“Em nhớ đừng gột rửa tháng năm
Và chút tình trong với sự sống ngoài kia thì nâng niu thêm một chút
Rộn rã với niềm vui
Và chỉ cần the thé với niềm đau.
Như vậy đó,
Sống đẹp giữa những gì khai hội
Và tìm nhau
Trong ngọn cỏ lời thơ.”

(Trích bài thơ Tuổi nắng tròn – tặng bé chị, bé em)

 

Tuổi hai mươi ấy, chúng mình bắt đầu đi tìm hạnh phúc. Không phải thứ hạnh phúc mà người ta tìm kiếm từ danh vọng, bằng cấp, hay từ những thước đo ước lệ của xã hội. Bạn bảo chúng mình băng cánh đồng mà đi vì không ai chịu đi theo con đường sẵn có. Bạn chọn học và làm những điều bạn muốn, mình thì đi tu. Song cũng là những khao khát muốn khám phá, muốn hiểu chính mình bằng những trải nghiệm có được. Những buổi tối chưa ngủ, vắt tay lên trán, mình suy nghĩ lý do vì sao mình có mặt, sứ mệnh của mình giữa cuộc đời là chi.

“Hai mươi hai lăm
Mùa cây thay lá
Xanh vàng rụng rời
Con quên tiếng gọi à ơi
Con đi đi tìm thực tại
Con đi tìm ánh ban mai
Con đi tìm mình là ai.”

(Trích bài hát À ơi tiếng hát con tặng mẹ cha – Bụng Mỡ)

Là lời hát chúng mình thường nghe, là không tìm thấy niềm vui từ việc học, là sự lạc lõng giữa đám bạn bè ở giảng đường, là những tháng ngày ngổn ngang của tuổi trẻ. May là mình có bạn, có người yên lặng lắng nghe. Mình có dòng Hương, có trăng Thiên Mụ, có Diệu Trạm,… là nơi trở về nhìn rõ hơn lòng mình. Những bước đầu vào đời, mình mang theo hạnh phúc êm ấm từ gia đình, từ mái chùa và cả những băn khoăn tuổi trẻ.

 

 

Chọn một con đường

Ngày mình đi tu, thật đột ngột. Bạn bảo, ở đó cũng là một trải nghiệm để lớn lên. Mình không rõ, phương trình của cuộc đời mình sẽ tiếp tục như thế nào nếu mình vẫn đi học và đi tìm bản thân từ thế giới rộng lớn đó, đáp án liệu có khó để tìm ra hay không? Nhưng khi đó mình đã chọn làm điều mình thích, chọn làm người tu. Bằng cách này hay cách khác, bạn biết, lời giải mà chúng mình đi tìm chính là hạnh phúc chân thật. 

Thầy viết trong Nói với tuổi hai mươi: “Chỉ cần mở mắt ra, chỉ cần nhận thức cho chính xác, chỉ cần có ý thức về những hạnh phúc mà chính ta đang có thì ta đã trông thấy được diện mục của hạnh phúc rồi […] Yếu tố lớn nhất để tạo nên hạnh phúc là ý thức về hạnh phúc. […] Yếu tố thứ nhì của hạnh phúc là biết rõ được con người của mình có những nhu yếu nào trong lĩnh vực khám phá, thương yêu và hướng về sự thực hiện những nhu yếu ấy, những nhu yếu đích thực là nhu yếu, nghĩa là những nhu yếu bảo vệ và bồi đắp sự sống, sự vươn lên của mình.[…] Nếu khám phá và hiểu biết là một nguồn hạnh phúc thì thương yêu cũng là một nguồn hạnh phúc – hạnh phúc trong ý nghĩa thỏa mãn được nhu yếu của mình.” 

Vậy thì hạnh phúc không phải là nơi cuối cùng của con đường, mà chính chúng mình phải nhận thấy được một số hạnh phúc có được ngay trong tầm tay, hiểu thấu được chính mình, thương được chính mình là một niềm hạnh phúc thật sự. Ở chùa cho mình cơ hội học cách tử tế về kết nối với chính mình.

Bé vẫn là bé, bé mới đẹp

Tuổi thơ nhận được nhiều tình thương từ gia đình, mình nghĩ đó là sự bù đắp cho những điều không may xảy đến với mình từ khi còn nằm trong bụng mẹ. Lớn lên một chút mình bắt đầu nhận thấy sự khác biệt của mình với các anh chị em hay bạn bè. Ngoài việc không khỏe mạnh, mình còn có những mặc cảm với vẻ bề ngoài. Mình ít khi nhắc đến vết sẹo, không bao giờ nhìn trực tiếp vào mắt người đối diện. Tính cách mình rụt rè, nhiều ngần ngại, chắc một phần vì như vậy. 

Trong suốt các năm đi học, mình đã tìm thấy và thể hiện khả năng của mình trong việc học. Dù không ai đòi hỏi, mình vẫn thấy thua kém vì những so sánh trong tự thân: “Nếu không bị đau chắc mình sẽ khác”. “Bé vẫn là bé, bé mới đẹp” là bài học mà một đứa trẻ như mình đã may mắn nhận được từ một món quà – “ly trà Sư Ông”. Hẳn là khi đó, mình đã bắt đầu ý thức về việc chấp nhận chính mình. Không cần phải là một ai khác, mình vẫn là chính mình, với những gì rất thật: những buồn tủi, những hạnh phúc,… Khao khát thương yêu bản thân, mong muốn tìm một con đường của chính mình (có khi mình gọi đó là “cái tôi”) dần dần lớn mạnh lên, để mình trả lời được tất cả những thao thức trong lòng.

Bạn ơi, mình sẽ còn kể cho bạn nghe nhiều hơn về bài học thương yêu nữa. Nhưng câu thiền ngữ “Be beautiful be yourself” (Ta có là ta, ta mới đẹp) vẫn luôn là một khung trời tuổi thơ đầy kỷ niệm mình cất giữ trong lòng và luôn mang theo trong hành trình sắp tới.

Ta vẫn sống trong ta từ lâu rồi

Bạn hiền thương, tối nay đọc Lời quán nguyện Bồ tát Thường Bất Khinh, mình đã hiểu tại sao mình luôn cảm thấy được kết nối và nuôi dưỡng mỗi khi đọc tới lời quán nguyện cuối cùng này: Vì chính công trình chấp nhận, thương yêu bản thân để phá bỏ những mặc cảm tự ti trong mình đã được bắt đầu. Mình đã nhận ra “Bài học quan trọng nhất trong cuộc đời là bài học thương yêu”. Mình thương những mặc cảm của mình mà cũng thương những khó khăn, mặc cảm của người khác. Mình không thể nào có hạnh phúc nếu cứ ôm lấy những cảm giác đó hoài. Và mình biết, mình sợ trở thành một người như vậy. May mắn là mình sớm nhận ra và có cơ hội để thực tập với nó. Dám đối diện và gọi tên mà cũng can đảm đủ để chia sẻ với bạn, lần này và cả những lần trước nữa.

Có lần mình thật lòng nói với bạn những mặc cảm, tự ti về ngoại hình khiến mình mong cầu nhiều sự quan tâm, chú ý của người khác. Năng lượng đó là một phần của tuổi trẻ nhưng cũng xuất phát từ những vết thương thuở nhỏ. Và bạn bảo, mình đẹp hơn trong hình dáng của một sư cô. Đó có phải là nét đẹp của sự hiền lành, chân thật mà bất kỳ người tu nào cũng cần trui rèn không hì? Tự nhiên mình tin nhiều vào chánh niệm, vào vẻ đẹp của sự thực tập oai nghi.

“Hộ trì sáu căn mỗi phút mỗi giây đi đứng nằm ngồi tâm chánh niệm
Trau dồi ba học khi cười khi nói vào ra tiếp xúc tướng đoan nghiêm”
 

Câu đối này được treo bên trong thiền đường Trăng Rằm ở chùa Tổ, mình đọc chắc cũng nhiều lần rồi. Giờ mình đã rõ, có chánh niệm, mình được trở về làm hòa với chính bản thân.

Trong nhiều buổi thực tập thiền buông thư, mình có cơ hội được quay về để làm quen trở lại với người bạn cũ. Theo dõi hơi thở và biết mình đang có một thân thể khỏe mạnh. Mình gửi lòng biết ơn đến thân thể vẫn còn có đó, mặc cho những đòi hỏi, tủi hờn hiện hữu trong thân tâm mình.

“Thở vào, mình gửi sự chú tâm đến đôi mắt
Thở ra, mình biết ơn với sự có mặt của đôi mắt.”

 

Ánh sáng chánh niệm của mình luôn dừng lại lâu hơn ở đôi mắt, là biểu hiện rõ nhất của tất cả  những gì mà mình tự cho là “điểm yếu” của bản thân. Chừng nào thương được đôi mắt là mình thương được những mớ lộn xộn trong lòng: chán nản, nhu nhược, yếu đuối,… Không công nhận sự có mặt của đôi mắt cũng có nghĩa là mình không công nhận những gì thuộc về con người mình. Mình trở về để làm hòa với tất cả. 

Xin lỗi vì đã xua đẩy, ghét bỏ chính mình, mà không nhận ra sự có mặt của mình là tất cả những gì rất mầu nhiệm của sự sống. Không nhớ là mình đã rất mạnh mẽ trong những năm tháng đầu đời, là mình đã tiếp nhận tình thương, sự che chở từ ông bà, tổ tiên hay sao! Mình cúi đầu để ôm lấy tất cả, để thương được cả con người mình. Chỉ cần sống hạnh phúc thôi là đã trọn vẹn những điều mình cần phải làm. Còn thở, còn sống là đã hạnh phúc. Bạn thương, vậy mà mình cứ quên hoài, cứ đắm chìm trong những mông lung, những đòi hỏi mãi thôi. Sớm nay, mình lắng nghe tiếng gọi của đất trời, tiếng gọi của sự sống nhẹ nhàng trôi chảy, “Ta vẫn sống trong ta từ lâu rồi”. Bạn đang mỉm cười, hẳn chứ!

Đã trót thương

“Đã trót thương đàn kiến băng qua đường thành dòng trôi qua nắng sớm lung linh, đàn sẻ ríu rít sà xuống đồng ngô mới hái, hay thường râm ran vòm trưa sớm chiều, đàn ong cần cù xúm xít cất xây, dòng người bồng bềnh đi thiền trong sương sớm, giọt nước sau bao tháng năm tuổi trẻ kiếm tìm thấy những liên kết định mệnh của mình hòa dòng xuôi lối thênh thang hạnh phúc.”

(Trích Trót thương – Thầy Chân Trời Hải Thượng)

Mình vừa mượn chữ người đi hái thuốc để viết tiếp gửi bạn. Vì mình thương quá những niềm thương mênh mông của người tu trẻ đã chạm được lắng yên đó. Từ những lời trót thương mà mình tiếp xúc được với cái bình yên trên con đường “dừng lại” mỗi ngày rõ hơn. Đó là những buổi sớm nhẹ bước trên con đường đất đỏ, những bước chân bình an, những hơi thở tĩnh lặng nuôi dưỡng đời sống của nhau. Có Thầy, có bạn, mình hạnh phúc hoà vào dòng chảy tâm linh này.

 

 

Bạn hiền thương, có lẽ đây là lần đầu tiên mình viết cho bạn nhiều như vậy. Tuổi mới mình đã nhìn rõ hơn một chút về chặng đường hiểu thấu và yêu thương. Niềm vui dẫn mình đi tới. Mong là bạn cũng thấy vui trên cánh đồng của bạn. Và bạn ơi, chúng mình hãy cùng hát lên đi, bài ca của sự sống.

Thương gửi tới bạn – tất cả những người bạn mình được gặp gỡ và thương yêu trong đời. Mong sớm nhận được hồi âm.

Một ngày mưa đông,

từ người bạn bé nhỏ Trăng Tâm Thuận.



Khoá tu tiếng Pháp 2025

Khoá tu tiếng Pháp đã diễn ra từ ngày 19 đến ngày 26 tháng 04 năm 2025. Tuy thời tiết năm nay không được yểm trợ lắm vì mưa từ đầu đến cuối khoá tu nhưng không vì vậy mà thiếu đi sự ấm áp của bình an. Những hạt mưa tinh khôi trong lành như những giọt cam lồ của đức Bồ tát Quán Thế Âm đã tưới mát bao tâm hồn sáng tươi trở lại. Đại chúng đã cùng nhau tinh cần thực tập và chế tác được rất nhiều năng lượng của hạnh phúc cùng sự chuyển hoá.

Kính mời mọi người cùng thưởng thức vài hình ảnh của khoá tu trong mưa mùa Xuân trên đất lành!