(Phiên tả Pháp thoại ngày 05 tháng 04 năm 1998, Làng Mai, Pháp)
Kinh Người biết sống một mình được dịch từ kinh Bhaddekaratta sutta, thuộc về Trung bộ. Biết sống một mình ở đây không có nghĩa là sống lẻ loi, xa cách với những người khác như sống một mình trong rừng, trong núi hay trong hang động. Biết sống một mình tức là sống có chủ quyền, có tự do, không bị quá khứ níu giữ, không bị tương lai làm cho hoảng sợ, không bị hoàn cảnh hiện tại kéo đi. Ta luôn luôn có thể là ta, ta nắm được tình trạng và có chủ quyền, ta không đánh mất bản thân, đó gọi là biết sống một mình. Trong kinh, Bụt nói rằng sống một mình không có nghĩa là sống tách biệt với loài người. Ngồi trong đám đông, nhưng ta vẫn có thể sống được một mình vì ta không đánh mất ta.
Trong Trung bộ – Majjhima nikāya có ít nhất là bốn kinh nói về đề tài biết sống một mình và trong Trung A hàm cũng có nhiều kinh nói về đề tài sống một mình này. Vì vậy sống một mình là một đề tài rất quan trọng trong toàn bộ giáo lý của đạo Bụt. Là người tu, ta phải học nghệ thuật sống một mình, tức là sống có tự do, không bị quá khứ giam hãm, không bị tương lai lôi kéo hay bị ảnh hưởng bởi những gì đang xảy ra trong hiện tại.
Kinh Người biết sống một mình dạy cho chúng ta biết sống từng giây phút của đời sống hằng ngày một cách sâu sắc. Sống được như vậy thì chúng ta bắt đầu có định, có tuệ và chúng ta thấy được bản chất của cuộc đời. Khi đó chúng ta đạt tới tự do lớn. Mà tự do là điều kiện tất yếu của hạnh phúc, chúng ta thường đau khổ là vì chúng ta không có tự do. Tu tập nghĩa là chuyển hóa để ta có chủ quyền tự do. Khi có tự do rồi, ta cũng trở nên vững chãi. Vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn. Hạnh phúc của chúng ta có thể được đo bằng tiêu chuẩn vững chãi và thảnh thơi. Nếu một người đang khổ đau thì ta biết rằng người đó không có tự do. Không có tự do cho nên khổ đau, khổ đau vì bị quá khứ giam hãm, bị tương lai đe dọa và bị hiện tại kéo đi. Vì vậy có được chủ quyền, thiết lập lại được tự do ta sẽ bớt đau khổ, nhờ đó hạnh phúc của ta sẽ được tăng tiến.
Giả dụ một người nào đó nghe bác sĩ nói rằng anh ta bị ung thư, chỉ có thể sống được sáu tháng nữa. Người đó tự nhiên cảm thấy như đất sụp dưới chân mình và sự sợ hãi, viễn cảnh là mình sẽ chết trong vòng sáu tháng tới làm cho người đó mất hết tất cả những an lạc đang có. Trước khi bác sĩ nói cho anh ta biết điều đó thì anh ta có khả năng ăn cơm, uống trà, ngắm trăng và đi chơi với bạn. Nhưng từ khi được bác sĩ cho biết chỉ còn sáu tháng nữa để sống thì anh ta mất hết khả năng uống trà, ăn cơm, ngắm trăng và ngồi chơi với bạn. Đó là vì nỗi lo sợ về tương lai, sự sợ hãi cái chết đã lấy đi hết tự do và an lạc của anh ta. Nếu anh ta biết rằng chết là một điều tất yếu phải đến đối với tất cả mọi người thì anh ta sẽ bớt khổ đau. Bác sĩ nói rằng anh ta còn sáu tháng để sống, nhưng ông bác sĩ thì thế nào cũng phải chết. Có thể ông bác sĩ biết anh ta còn sáu tháng nữa, nhưng ông không biết được ông còn mấy tháng hay là mấy năm nữa, và có thể ông sẽ chết trước anh ta. Cũng có thể sau khi khám bệnh cho anh ta xong, ông lái xe về nhà và giữa đường không may gặp tai nạn. Như vậy, cái biết của ông bác sĩ không chắc chắn lắm. Ta được bảo rằng chỉ còn sáu tháng nữa để sống, nhưng có khi ta lại sống đến cả sáu năm mà vẫn không sao, trong khi đó thì ông bác sĩ lại qua đời trước.
Nếu nhìn sâu thì ta sẽ thấy được những điều mà nếu không quán chiếu ta sẽ không thấy được. Nhờ quán chiếu ta có thể phục hồi được sự tự do, sự không sợ hãi của ta. Với sự tự do và sự không sợ hãi đó, ta có thể sống hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều hoàn toàn bình đẳng về phương diện bệnh và chết. Chúng ta người nào cũng sẽ có bệnh và sẽ chết, rất bình đẳng. Ai rồi cũng phải chết, nhưng người khôn ngoan thì nói rằng: Tôi quyết định sẽ sống cho đàng hoàng trước khi chết! Đó là câu nói rất có tuệ giác. Chết thì chết, nhưng trong khi sống thì ta phải sống cho đàng hoàng. Nếu anh có thể sống được sáu tháng đàng hoàng thì phẩm chất sự sống trong sáu tháng đó của anh còn khá hơn là sáu năm hay là hai chục năm. Có những người sống sáu năm hay hai chục năm mà kéo lê thê cuộc đời với khổ đau, hệ lụy, buồn chán, sợ hãi,… thì phẩm chất của sự sống đó không bằng phẩm chất của sự sống trong sáu tháng của anh.
Vì vậy, phải thấy được rằng trước khi chết thì tôi sẽ sống cho đàng hoàng, nghĩa là sống thật sâu sắc, sống có tự do, sống có hạnh phúc. Chúng ta ai rồi cũng phải chết. Trong đó, có những người từ đây cho tới lúc chết thì sống an lạc, thảnh thơi. Nhưng cũng có những người từ đây cho tới lúc chết thì sống không đàng hoàng, sống như một người chết, chết ngay bây giờ chứ không đợi tới khi thân tứ đại tan rã.
Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải chuyển hóa để khôi phục quyền tự do và để có thể sống những giây phút của đời sống hằng ngày một cách sâu sắc. Trong những giây phút của đời sống hằng ngày, ta có thể có an lạc, hạnh phúc và ta cũng có thể chữa trị được những khổ đau đang có trong thân tâm. Sống sâu sắc trong từng giây phút của đời sống hằng ngày giúp ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, nuôi dưỡng thân tâm bằng những yếu tố mầu nhiệm, đồng thời cũng giúp cho chúng ta ôm ấp và chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau mà ta đang có.
Vì vậy, sống sâu sắc trong giây phút hiện tại của đời sống hằng ngày là một pháp môn tuyệt vời, có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Sống như vậy ta phục hồi được tự do, ta tiếp xúc được với sự sống sâu sắc và ta đúc rút ra được sự thật chân lý. Khi ta có tuệ giác thì những lo sợ, những buồn đau của chúng ta sẽ được tan biến và ta trở thành một nguồn vui sống cho chính ta và cho những người chung quanh. Đó là mục đích của phương pháp Hiện pháp lạc trú, sống an lạc hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại.
Kinh Người biết sống một mình là văn kiện xưa nhất dạy chúng ta về nghệ thuật sống sâu sắc và an lạc ngay trong giây phút hiện tại. Trong toàn bộ giáo lý kinh điển, những kinh có dính líu tới đề tài biết sống một mình, sống an lạc trong giây phút hiện tại rất nhiều. Và đây là một kinh rất quan trọng, chúng ta phải học cho kỹ và đem ra để thực tập.
Ngày xưa có một thầy tên là Thượng Tọa, Theranāmaka, có lẽ cái tên này là do các bạn đồng tu đặt cho thầy. Thera tức là Đại đức, Nāma là tên. Thầy đó ưa sống một mình, ưa đi khất thực một mình, ưa thiền hành một mình, ưa ăn cơm một mình, ưa giặt áo một mình… có vẻ như thầy muốn tránh né những người bạn đồng tu khác.
Tất cả các thầy đã từng nghe Bụt ca ngợi nếp sống độc cư. Danh từ “độc cư” – sống một mình mà Bụt sử dụng có nghĩa là không bị giam hãm bởi quá khứ, không bị lung lạc bởi tương lai và không bị lôi kéo bởi những gì trong hiện tại, chứ không phải là sống xa lìa, sống tách rời các bạn đồng tu. Nhưng vị thầy này thì hiểu theo kiểu khác, thầy muốn thiền hành một mình, đi khất thực, thọ trai, đi giặt áo một mình và tránh né các thầy khác.
Các thầy cũng biết là thầy này thích sống một mình nhưng có cảm tưởng rằng có điều gì đó không đúng trong cách sống một mình này. Các thầy không nghĩ rằng sống một mình như thầy đó là đúng theo tinh thần của Bụt dạy nên một hôm các thầy tới thưa với đức Thế Tôn:
– Bạch đức Thế Tôn, trong chúng con có một thầy tên là Thượng Tọa, thầy đó chủ trương sống một mình, thầy đi thiền một mình, ăn cơm một mình, làm việc một mình. Chúng con không biết sống như vậy có đích thực là sống một mình hay không?
Bụt hỏi:
– Thầy đó ở đâu? Các thầy đi mời thầy đó tới đây ngồi chơi uống trà.
Chừng mười lăm phút sau, các thầy mời được thầy Thượng Tọa tới. Rồi Bụt nói:
– Nghe nói thầy ưa sống độc cư một mình lắm phải không? Thầy sống như thế nào nói tôi nghe đi?
Thầy Thượng Tọa thưa rằng:
– Bạch đức Thế Tôn, con đi khất thực một mình, con ngồi thiền một mình, con thiền hành một mình, con ăn cơm một mình, con giặt áo một mình.
Bụt dạy:
– Đúng là thầy sống một mình thiệt đó, nhưng mà cách sống một mình của thầy chưa phải là cách sống hay nhất. Tôi có cách sống một mình này còn hay hơn vậy nhiều.
Rồi Bụt đọc lên bài kệ nói về nghệ thuật sống một mình: Sống không bị giam hãm bởi quá khứ, không bị lung lạc bởi tương lai, không bị lôi kéo bởi những hình sắc, âm thanh trong hiện tại. Sống sâu sắc, có tự chủ trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày thì người đó đích thực là người sống một mình.
Sau khi nghe Bụt dạy, thầy Thượng Tọa mới biết rằng lâu nay mình sống một mình theo kiểu hình thức, không đúng với tinh thần Bụt dạy, thầy đã chắp tay để cảm tạ đức Thế Tôn.
Đó là nội dung của kinh Theranāmaka, trong Tương ưng bộ 2110. Trong Tạp A hàm cũng có một kinh tương đương, đó là kinh Thượng tọa, kinh số 1071. Cốt lõi của kinh này được trình bày trong một bài kệ do đức Thế Tôn làm ra. Đức Thế Tôn cũng làm thơ, sư anh Pháp Dụng hay sư em Phúc Nghiêm cũng làm thơ nhưng thơ của đức Thế Tôn có công dụng hướng dẫn tu học nhiều hơn.
Bài kệ của đức Thế Tôn nói về nghệ thuật sống một mình có tên là Bạt địa ra đế. Bạt địa ra đế là phiên âm từ tiếng Pāḷi, Bhaddekaratta. Bhaddekaratta có nghĩa là nếp sống độc cư lý tưởng nhất. Nhưng đây là cụm danh từ khó phân tích cho nên nhiều thầy khi dịch thì đã dịch sai. Ví dụ trong bản của thầy Minh Châu dịch là Nhất dạ hiền giả, tức là vị hiền giả trong một đêm thì không đúng. Ngày xưa có thầy tên Đạt Ma Nan Di dịch là Hiền thiện cũng không đúng. Dịch cho đúng là: phương pháp, cách sống độc cư lý tưởng nhất. The best way to live alone. The ideal way to practice living alone.
Bài kệ:
Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi.
Tất cả những tinh yếu của giáo lý đạo Bụt đều nằm trong những câu này. Vững chãi và thảnh thơi là hai đặc tính của Niết bàn, đó là mục đích của người tu. Người tu cần phải dùng mỗi giây phút của đời sống hằng ngày để chế tác ra chất liệu vững chãi và thảnh thơi. Khi đi, khi đứng, khi nằm, khi ngồi, ta phải làm thế nào để cho chất liệu vững chãi và thảnh thơi càng ngày càng lớn thì hạnh phúc của ta mới càng ngày càng lớn, tự do của ta mới càng ngày càng lớn. Niết bàn có thể được tiếp xúc ngay trong giây phút hiện tại, không những bằng tâm mà còn bằng thân của ta. Khi nào hai bàn chân của ta có những bước đi thong dong, thảnh thơi, vững chãi tức là ta đang tiếp xúc với Niết bàn. Hễ có vững chãi, có thảnh thơi là có Niết bàn. Và mức độ vững chãi, thảnh thơi của ta sẽ cho biết rằng ta đã tiếp xúc được với Niết bàn sâu sắc tới mức độ nào.
Đừng tìm về quá khứ
Có những người bất mãn với hiện tại và nghĩ rằng quá khứ đẹp hơn bây giờ (En ce temps-là, la vie était plus mieux). Nghĩ rằng quá khứ đẹp hơn cho nên không thấy được hạnh phúc trong hiện tại, nhiều người trong chúng ta bị kẹt vào điều đó. Vì ngày xưa không còn nữa nên ta so sánh với bây giờ, bất mãn với bây giờ và cho rằng ngày xưa đẹp hơn. Nhưng kỳ thực nếu gởi ta về ngày xưa được thì ta cũng không quý gì ngày xưa mấy, ta muốn mau chóng lớn lên để làm người lớn. Ngày xưa ta đâu có an trú được trong hiện tại, ta đã chạy về tương lai thì bây giờ gởi ta trở về ngày xưa cũng sẽ như vậy thôi. Vào thời xưa, đời sống đẹp hơn và mặt trời rực sáng hơn. En ce temps-là, la vie était plus belle, đó là một câu trong bài Lá mùa thu mà người Pháp rất ưa hát.
Nhưng cũng có những người tìm về quá khứ, không phải vì quá khứ đẹp, mà vì quá khứ đã từng ám ảnh, đã từng gây khổ đau, quá khứ là một chấn thương tâm lý nặng nề (trauma) của ta. Ta đã khổ đau, ta đã ngất ngây, ta đã khắc khoải, ta đã “chết” trong quá khứ và những vết thương nặng nề ấy đã trở thành ngục tù luôn gọi ta trở về: Mày trở về đây! Ta là chúa tể, ta là cai ngục, mày không thoát khỏi tay ta đâu, dù mày đi đâu cũng sẽ không thoát khỏi. Quá khứ nói vậy và ta ngoan ngoãn như một con cừu, ta trở về quá khứ để cho quá khứ giam hãm, làm cho bầm dập, khổ đau. Như vậy, quá khứ cũng là một tên cai tù rất hung tợn, khiến ta phải riu ríu tuân theo. Trong đời sống hằng ngày ta không chịu sống với giây phút hiện tại mà cứ tìm về quá khứ. Đừng tìm về quá khứ! Đó là một hiệu lệnh của đức Thế Tôn, ta phải làm sao để thực hành theo cho được.
Có khi đang ngồi với một người bạn ta lại cảm thấy bị bỏ rơi, không phải vì người bạn đi chỗ khác, người ấy vẫn ngồi đó nhưng ta thấy rằng anh ta đang trầm ngâm, đang bị quá khứ giam hãm. Tuy đang ngồi bên cạnh ta nhưng anh ấy không có mặt, anh đã chìm đắm và chết đuối trong quá khứ, bị quá khứ bắt mất cả hồn lẫn xác. Ta phải tìm cách làm cho người bạn đó ra khỏi ngục tù quá khứ. Ta nói: “A penny for your thoughts?” – Anh nghĩ cái gì đó, nói cho tôi nghe đi, tôi sẽ trả anh mười cents. Người kia có thể giật mình, có thể mỉm cười và có thể thoát ra khỏi quá khứ. Là một người tu, ta phải biết phương pháp tháo gỡ cho người bạn tu của ta, đừng để cho bạn ta bị kìm kẹp, giam giữ bởi những hình ảnh của quá khứ. Ta phải dùng tình thương, chánh niệm và tình huynh đệ để kéo người đó ra khỏi ngục tù của quá khứ. Là người tu thì ta phải biết nương vào anh, vào chị, vào em của ta, để có thể vượt thoát ngục tù của quá khứ. Sống trong tăng thân có được những lợi ích như vậy.
Tăng thân dìu dắt ta từng bước, tăng thân kéo ta ra khỏi ngục tù của quá khứ, tăng thân nắm tay ta và dìu ta đi từng bước trong hiện tại, để ta có thể tập làm quen và có thể an trú vững chãi trong hiện tại. Giờ phút ta xuống tóc, giờ phút thầy rưới nước cam lồ trên đầu ta là giờ phút ta được sinh ra trở lại lần thứ hai. Tất cả tăng thân đang có mặt chung quanh ta, đang chắp tay trong khi những giọt nước cam lồ thấm trên đầu ta, đó là cam lồ quán đỉnh. Cam lồ quán đỉnh là nước cam lồ tưới trên đỉnh đầu của ta, giờ phút đó là giờ phút ta được ra đời lần nữa, trở thành một con người mới tinh khôi, đó là giờ phút ta chết và ta để cho quá khứ chết. Giờ phút đó ta để cho hiện tại sinh khởi. Thầy và tăng thân đưa ta ra đời, cho ta một thân thể mới, một tâm hồn mới, new being, một giới thân, một pháp thân. Giới thân, pháp thân đó được Bụt, Pháp, Tăng và Giới bảo hộ. Vậy nên không có lý do gì ta còn phải sợ hãi, còn cảm thấy bơ vơ, còn quá lo lắng đối với những lãnh chúa độc tài của quá khứ. Ta có thể quỳ lên, nhắm mắt lại, chắp tay quán tưởng đây là giây phút mà nước cam lồ chảy xuống trên đầu và ta đang trở thành một con người hoàn toàn mới. Thầy và tăng thân trao cho ta một giới thân, một tuệ mạng mới và ta có bổn phận phải để cho thầy và tăng thân dìu ta đi từng bước một trên con đường mới này. Phải thấy rằng ta đang có an ninh lớn, an ninh nhờ sự bảo hộ của Bụt, Pháp, Tăng và của Giới. Chưa bao giờ trong cuộc đời ta có an ninh như bây giờ. Nếu ta tự nhắc ta, cho phép tăng thân và thầy nhắc ta, rằng ta đang ở trong một tình trạng an ninh chưa bao giờ có; nếu ta sống được như vậy mỗi ngày thì cảm giác của sự sợ hãi, lo lắng sẽ không còn nữa. Hiện pháp lạc trú, mỗi bước chân có thể đưa về an lạc, mỗi nụ cười có thể tỏa chiếu thảnh thơi, đó là sự thực tập hằng ngày của ta.
Đừng tìm về quá khứ là như vậy. Có khi chúng ta không muốn tìm về quá khứ, nhưng quá khứ lại nắm đầu ta kéo về, vậy nên ta phải đối diện với sự yểm trợ của Bụt, Pháp và Tăng. Ta phải nhìn thẳng vào mặt quá khứ, mỉm cười và nói rằng: “Ngươi chỉ là một bóng ma, ngươi không thể nào ám ảnh được ta nữa, ta đã vượt thoát khỏi ngươi rồi”. Chỉ có năng lượng chánh niệm, chỉ có Tam bảo là Bụt, Pháp và Tăng mới đủ sức giúp ta nhìn quá khứ bằng con mắt đó. Kỳ thực quá khứ chỉ là một bóng ma nhưng bóng ma nhiều khi cũng rất dữ dằn. Ta biết điều đó, và nếu ta cứ để cho bóng ma nắm đầu kéo đi thì rất tệ. Vì vậy, là một người tu, ta phải biết nắm lấy hiện tại, phải biết sử dụng năng lượng của Bụt, của Pháp, của Tăng, của Giới để tự vệ và không để cho bóng ma đó quấy nhiễu đời sống hằng ngày của ta.
Đừng tìm về quá khứ.
Ta có nghe lời của đức Thế Tôn nói không?
Đừng tưởng tới tương lai.
Tương lai là gì? Tương lai có phải là bóng ma thứ hai hay không, sao ta lại sợ nó quá vậy? Mà sợ là cái gì? Phải chăng là những dự đoán (projections) trong đầu ta về những gì sẽ xảy ra vào ngày mai? Có phải là những dự đoán của ta về tương lai? Ngày mai có thể xảy ra chuyện này, xảy ra chuyện kia. Ta phóng chiếu (project) nó ra như vậy rồi chính cái đó làm cho ta sợ chứ không phải là cái sợ tự nhiên phát sinh. Ta tưởng tượng ra rằng ngày mai chuyện này sẽ xảy ra, chuyện kia sẽ xảy ra, do vậy nỗi sợ phát sinh. Tương lai là một cái gì chưa có vì tương lai có bao giờ tới đâu, khi nó tới thì trở thành hiện tại rồi. Tương lai cũng là một bóng ma rất lớn, nó hút hồn ta, khủng bố ta. Cái sợ phát sinh từ những dự tưởng trong đầu, rằng ngày mai ta sẽ như thế này, ngày mai ta sẽ như thế kia. Biết ra sao ngày sau? What will become of me tomorrow?
Bóng ma của quá khứ và bóng ma của tương lai là hai bóng ma chịu trách nhiệm rất lớn về chuyện ta mất tự do. Ta làm nô lệ cho hai con ma đó. Mara là cái gì? Ma vương là cái gì? Nó đâu phải là một cái gì trừu tượng? Ma là quá khứ, ma là tương lai, hai con ma đó theo sát ta và điều khiển đời sống của ta. Ta nói, ta làm, ta suy nghĩ theo chỉ thị của những con ma quá khứ và tương lai. Lâu nay ta đã nằm dưới vùng ảnh hưởng của hai con ma to lớn này. Ta không thể để cho điều đó tiếp tục xảy ra. Ta theo đức Thế Tôn là để học hỏi phương pháp đối trị với hai con ma này. Đó là phương pháp sống một mình, là phương pháp sống sâu sắc trong mỗi giờ phút của đời sống hiện tại.
Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai.
Đức Thế Tôn đã nói như vậy.
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới.
Đó là logic của tất cả chúng ta. Quá khứ chỉ là bóng ma, tại sao ta phải thần phục nó quá như vậy. Tương lai cũng chỉ là một bóng ma, tại sao ta phải sợ hãi nó quá như vậy? Chỉ cần quan tâm thứ duy nhất thôi là hiện tại, thế mà ta lại không chịu học cách sống trong hiện tại, cứ để cho quá khứ và tương lai trấn ngự thân và tâm của ta – Quá khứ đã không còn, tương lai thì chưa tới. Còn có những câu kinh nào vắn tắt được hơn nữa? Ngôn ngữ của kinh ở đây là như vậy, từng chữ cô đọng, không dư một chữ.
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại.
Phải sống một cách tỉnh táo, phải sống trong từng giây phút đang xảy ra với chính ta. Sống mà biết là ta đang sống. Nhìn bông hoa thì biết là ta đang nhìn bông hoa, nhìn một cách sâu sắc để có thể sống thật sự với bông hoa và có thể thấy được chiều sâu và tự tánh của bông hoa. Ta sống với nụ cười, ta sống với ánh sáng mặt trời, ta sống với ngày thứ Năm, ngày Chủ nhật… tất cả những thứ đó đều trở thành đối tượng quán chiếu, đều là những người bạn đồng hành của ta trong giây phút hiện tại.
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi.
The wise people dwell in peace with solidity and freedom. An trú là living peacefully, dwelling peacefully.
Thức giả là người có tuệ giác chứ không phải là người có học, có bằng cấp tiến sĩ. Người có tuệ giác là người không bị con ma quá khứ và tương lai nắm đầu. Người có tuệ giác là người biết sống một cách an lạc ngay trong giờ phút hiện tại, nhờ ngồi yên và đi yên được cho nên người đó có chất liệu của vững chãi và thảnh thơi. Đó là sự thực tập của chúng ta. Tất cả những giáo pháp mà đức Thế Tôn đã nêu, mục đích của Bụt, của Pháp và của Tăng là để giúp cho chúng ta làm được chuyện đó. Đó là chuyện an trú vững chãi thảnh thơi trong hiện tại.
Khi sư chú bước đi, sư chú phải thực tập được sự an trú. Mỗi bước chân của sư chú, vừa vững chãi vừa thảnh thơi, đó là lúc sư chú đang bước những bước chân của đức Thế Tôn. Mỗi khi sư cô ngồi xuống, sư cô cũng ngồi vững chãi như núi.
Ngồi đây ngồi cội Bồ đề
Vững thân chánh niệm không hề lãng xao.
Ngồi thực sự là ngồi. Đứng cho yên, ngồi cho vững trong hiện tại, có an lạc và hạnh phúc, đó là sự thực tập của chúng ta. Chúng ta sống trong tăng thân là để làm được chuyện đó.
Trong đời sống hằng ngày của xã hội, vì không có tăng thân nên dầu thấy được con đường, chúng ta cũng khó có thể đứng cho yên, ngồi cho vững, lái xe cho đàng hoàng. Chúng ta dễ bị quá khứ và tương lai thúc đẩy. Còn sống trong tăng thân, tất cả mọi người đều đang tập dượt, đều cùng luyện tập một phương pháp, vì vậy ta có cơ hội làm được chuyện này tốt hơn. Ta đứng thật yên, ta ngồi thật vững. Khi ngồi ăn cơm ta thật sự ngồi ăn cơm. Trong thời gian 45 phút hay một giờ đồng hồ, ta ăn cơm cho có hạnh phúc, vững chãi và thảnh thơi. Giặt áo, quét sân, chùi nồi hay ăn cơm cũng là thực tập. Mục đích của chúng ta khi có mặt ở đây là làm chuyện đó và làm trong môi trường của tăng thân, được tăng thân yểm trợ.
Phải tinh tiến hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp.
Phải thực tập ngay hôm nay. Người ta đã tạo dựng nên những khung cảnh, những điều kiện để có thể làm chuyện đó, ngay hôm nay nhưng ta không làm, còn nói “mai tôi mới làm” thì không được? Bởi vì vô thường cho nên Phải tinh tiến hôm nay, kẻo ngày mai không kịp.
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả.
“Cái chết ơi! Anh chờ tôi một chút vì tôi chưa kịp tu, cho tôi vài ngày nữa để tôi tu cho đàng hoàng rồi anh hãy tới.” Ta không thể nào mặc cả với cái chết như vậy. You can not deal with death. Vì vậy, cái chết trở thành một kích thích tố, một stimulus để cho ta có thể sống vững chãi và thảnh thơi. Khi được bác sĩ thông báo chỉ còn sáu tháng nữa để sống, ta hãy mỉm cười nói: Được, tôi sẽ sống sáu tháng của tôi thật đàng hoàng. Bác sĩ cũng vậy, bác sĩ thế nào cũng phải chết, vì vậy bác sĩ cũng làm như tôi đi, chúng ta hãy sống đời sống của chúng ta cho đàng hoàng.
Đó là thái độ của người có tuệ giác. Sự thật ai cũng phải chết sẽ giúp cho hành giả biết phải sống những ngày tháng còn lại như thế nào để có vững chãi, thảnh thơi, hạnh phúc và để cho con cháu có một tương lai, nghĩa là họ cũng sẽ được sống như mình. Điều ông bác sĩ nói, rằng anh còn sáu tháng nữa để sống, thực sự là tiếng chuông chánh niệm rất lớn. Chúng ta người nào cũng có “sáu tháng” của chúng ta. Người sáu tháng, người bảy tháng, người sáu năm, người bảy năm, người nào cũng sẽ như vậy cả.
Đức Thế Tôn dạy:
Phải tinh tiến hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả.
Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Người biết sống một mình.
Mâu Ni, phiên âm từ chữ Śākyamuni, là ông thầy tu của dòng họ Thích Ca. Như vậy, định nghĩa sống một mình là sống an trú đêm ngày trong chánh niệm, sống trong hiện tại.
Hồi nhỏ, mỗi khi được nghe kể chuyện ma, chúng ta thường rất sợ hãi, nhưng càng sợ lại càng thích nghe. Rồi có người lớn muốn cho chúng ta đừng bị nhập tâm quá nên mới nói làm gì có ma, theo khoa học bây giờ làm gì có ma. Nhưng rõ ràng là có ma, và còn là con ma ác ôn vô cùng. Con ma quá khứ, con ma tương lai là hai con ma mà ta phải đương đầu mỗi ngày. Hồi nhỏ chúng ta được người lớn bảo rằng khi nào gặp ma thì phải bắt ấn cát tường và đọc câu thần chú Án ma ni bát di hồng hay làm cái gì đó. Vậy nên chúng ta học thuộc rồi ban đêm khi nằm mơ mơ màng màng thấy con ma dễ sợ quá, chúng ta bắt ấn và đọc câu thần chú nhưng con ma chẳng sợ gì hết, nó còn nhe răng ra thêm nữa. Nhưng những con ma đó vẫn còn rất dễ thương. Chỉ có con ma quá khứ và con ma tương lai này mới là ác ôn.
Theo phương pháp của đức Thế Tôn, mặc dù con ma quá khứ, con ma tương lai kia ác ôn như vậy, nhưng nếu biết cách thì ta sẽ không bao giờ bị rơi vào nanh vuốt của chúng. Chỉ cần mỉm cười, thở trong chánh niệm, chỉ cần đưa năng lượng chánh niệm vào nụ cười và mỉm cười với chúng. “A, tôi biết anh là ma rồi!” Khi ta mỉm cười với nó thì nó không làm gì ta được nữa vì trong nụ cười đó có chất liệu của Bụt, của Pháp, của Tăng. Sở dĩ ta bị nằm gọn trong nanh vuốt của nó là vì ta không biết nó là nó, không biết nó là ma. Nụ cười của ta là nụ cười của giác ngộ, giải thoát, nụ cười có chánh niệm bên trong. Vậy nên ta hãy tập mỉm cười với ma, trước hết là con ma quá khứ. “Này ma quá khứ, tôi biết anh chỉ là một con ma mà thôi, anh dễ dầu gì mà bắt được tôi.” Mỉm được nụ cười đó thì ta được giải thoát, ta được thảnh thơi.
Với con ma tương lai cũng vậy. Khi chúng ta có những nỗi sợ hãi, ta biết rằng con ma tương lai đang trấn ngự, ta phải nhìn vào nỗi sợ đó, mỉm cười và nói: “Tôi biết rồi, anh là ma!”. Ngày xưa đức Thế Tôn cũng làm như vậy. Ma vương hiện ra rất nhiều lần trong cuộc đời của đức Thế Tôn, kể cả khi Ngài đã thành đạo. Mỗi lần Ma vương hiện ra thì Bụt mỉm cười: “À, tôi biết rồi, anh là mara chớ ai nữa”. Mỗi khi đức Thế Tôn mỉm cười và nói như vậy thì mara rút lui. Trong kinh điển mara xuất hiện rất nhiều lần, mỗi lần như thế đức Thế Tôn đều cười. Ngài không cần bắt ấn cũng không cần đọc thần chú.
Vậy ai là người biết tu tập? Khi nụ cười ý thức, nụ cười chánh niệm của chúng ta nở ra thì con ma quá khứ không những không làm gì được mà ta còn thương nó nữa. Ta thấy nó tội nghiệp, nó không phải là kẻ thù của ta và ta sẽ tu tập để cho nó cũng được giải thoát như ta. –
Bây giờ chúng ta đọc lại từ đầu kinh Người biết sống một mình:
Sau đây là những điều tôi được nghe lúc đức Thế Tôn còn lưu trú ở tịnh xá Kỳ Viên trong vườn Kỳ Đà tại thành Xá Vệ. Ngài gọi các vị khất sĩ và bảo:
– Này quý thầy!
Các vị khất sĩ đáp:
– Có chúng con đây.
Đức Thế Tôn dạy:
– Tôi sẽ nói cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình. Trước hết tôi nói đại cương, sau đó tôi sẽ giải thích. Quý thầy hãy lắng nghe.
– Thưa Thế Tôn, chúng con đang lắng nghe đây.
Đức Thế Tôn dạy:
Đừng tìm về quá khứ
Đừng tưởng tới tương lai
Quá khứ đã không còn
Tương lai thì chưa tới
Hãy quán chiếu sự sống
Trong giờ phút hiện tại
Kẻ thức giả an trú
Vững chãi và thảnh thơi.
Phải tinh tiến hôm nay
Kẻo ngày mai không kịp
Cái chết đến bất ngờ
Không thể nào mặc cả.
Người nào biết an trú
Đêm ngày trong chánh niệm
Thì Mâu Ni gọi là
Người biết sống một mình.
Bụt có một bài thơ, một bài kệ. Bụt cho gọi các thầy đến, Bụt đọc bài kệ đó cho các thầy nghe, rồi Bụt giải thích.
Sau khi gặp thầy Thượng Tọa, Bụt thấy rằng học trò mình có nhiều người không thông minh lắm. Nghe mình nói về chuyện sống một mình thì họ sống một mình theo kiểu đó, đi khất thực một mình, ngồi ăn cơm một mình, làm gì cũng một mình, xa lánh các bạn đồng tu… đó đâu phải là sống một mình. Thành ra sau khi đã dạy cho thầy Thượng Tọa, Bụt nghĩ rằng mình phải dạy lại một cách đàng hoàng nên Ngài mới gọi các thầy tới và đọc cho các thầy nghe bài kệ. Đọc xong rồi Bụt giải thích:
Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế, nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.
Người ấy là ai? Người ấy là tất cả chúng ta. Chúng ta đều là nạn nhân của quá khứ. Thân thể của ta đã từng bị thương tích như thế trong quá khứ. Cảm thọ của ta đã từng u ám như thế trong quá khứ. Tri giác của ta đã từng mù mịt, tối tăm như thế trong quá khứ. Tâm hành của ta đã đầy những buồn đau như thế trong quá khứ và tâm thức của ta cũng đầy những u mê như thế trong quá khứ. Tóm lại, tất cả con người của ta trong quá khứ đã như vậy. Con người của ta gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức; năm yếu tố đó trong quá khứ đã như vậy. Những ấn tượng đó, những kỷ niệm đó đã bị chôn giấu một cách chặt chẽ trong chiều sâu tâm thức. Nếu quá khứ như vậy thì tương lai ra sao? Anh chàng quá khứ liên minh với anh chàng tương lai để làm cho ta thất điên bát đảo. Hai con ma này có một thế liên minh rất chặt chẽ. Vì quá khứ đã như vậy nên ta mới sợ tương lai. Những kỷ niệm quá khứ đau buồn quá, ta biết rằng nếu chúng sống dậy ta sẽ khổ đau, buồn tủi, lo sợ. Ta sẽ không chịu đựng nổi và sẽ sụp đổ; cho nên, ta đã cố tình chôn giấu những kỷ niệm đau buồn đó trong chiều sâu của quá khứ, giống như kiếp trước vậy. Khi ta ngủ, thỉnh thoảng chúng cựa quậy và trồi lên trong những giấc mơ, bởi vì càng bị đè nén chừng nào thì càng ấm ức chừng đó.
Trong ta có một cơ chế tự tồn (defense mechanism), cơ chế này tìm cách khóa những hình ảnh đó vào trong chiều sâu tâm thức để ta có thể tạm thời được an lạc, một cách giả tạo (artificial), tạm bợ, hời hợt trên bề mặt, khả dĩ sống tiếp. Ta biết rằng ở tầng dưới có một trái bom và những chất nổ rất lớn. Trái bom đó, chất nổ đó đã được một lớp đất cát phủ lên và ta ngồi ở trên, tưởng tượng rằng ở bên dưới không có gì hết. Chúng ta đã chôn, đã giấu, đã đẩy chúng xuống dưới và trong đời sống hằng ngày tuy rằng ta không muốn nghĩ tới nhưng những điều đó vẫn âm thầm sai sử ta. Chúng sai sử ta trong khi ta nói, ta làm và ta sống. Nhiều khi ta rất muốn ngọt ngào với anh, với chị, với em, nhưng ta không ngọt ngào được vì ta bị quá khứ sai sử, ta bị nó điều kiện hóa. Nhiều khi ta muốn mở cửa trái tim của ta nhưng mở không được, không phải là ta không muốn. Ta rất muốn nhưng không làm được vì ta đang bị nó sai sử.
Này quý thầy, sao gọi là tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế. Nghĩ như thế và khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy thì người đó đang tìm về quá khứ.
Người đó tìm về quá khứ một cách vô tâm hay hữu ý? Có khi cố ý nhớ lại. Có khi không muốn nhớ nhưng vẫn bị kéo về. Thứ nhất là ta có những thương tích trong quá khứ, thứ hai là ta có những hình ảnh thân thương trong quá khứ. Những thứ đó dầu là kỷ niệm đẹp, nỗi tiếc thương hay là những thương tích nặng nề thì chúng vẫn là một nhân tố kéo ta trở về. Vì vậy, ta phải ý thức rằng nếu không tu tập thì ta vẫn luôn là nạn nhân của con ma quá khứ. Đừng tìm về quá khứ không có nghĩa là hãy ráng quên đi quá khứ, hãy chôn vùi quá khứ, hãy làm bộ như quá khứ chưa bao giờ từng xảy ra. Tại sao? Tại vì quá khứ đã trở thành hiện tại. Nếu ta sống sâu sắc được trong hiện tại thì ta có thể chuyển hóa được quá khứ. Trong hiện tại ta đang có những tập khí rất rõ ràng… Nhưng nếu ta nhận diện được và mỉm cười với tập khí đó thì ta không những có thể giải thoát bản thân ra khỏi những tập khí đó, mà còn có thể chuyển hóa được những tập khí đó.
Xin nhắc lại là ta trở về quá khứ bằng hai cách. Một là ta cố tâm nhớ tới, hai là nó như con ma kéo ta trở về. Trong khi đó, phương pháp tu học của chúng ta là an trú trong hiện tại. An trú trong hiện tại không có nghĩa là phủ nhận những ảnh hưởng của quá khứ. Bởi tất cả những đau thương hay những đam mê trong quá khứ đều đang có mặt ở hiện tại, dưới hình thức của hiện tại. Cách chúng ta đang hành xử, nói năng, làm việc được sai sử, được điều kiện hóa bởi những gì đã xảy ra trong quá khứ. Vì vậy, chúng ta phải sống trong hiện tại để thấy cho rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại, chỉ khi thấy được một cách rõ ràng thì ta mới có thể mỉm cười với chúng và chuyển hóa chúng. Cho nên đức Thế Tôn đã nói: Hãy quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại.
Sự sống có hai điều quan trọng. Thứ nhất là những mầu nhiệm của sự sống có công năng nuôi dưỡng và chữa trị cho ta. Sống trong hiện tại ta phải tiếp xúc được với những yếu tố mầu nhiệm có công năng nuôi dưỡng và trị liệu ấy. Thứ hai là sống trong hiện tại ta quán chiếu và thấy được những lề thói, những tập khí đang sai sử ta. Chúng đang xúi ta nói những điều mà ta không muốn nói, xúi ta nghĩ những điều mà ta không muốn nghĩ, xúi ta làm những điều mà ta không muốn làm để gây đổ vỡ trong ta và xung quanh ta. Chỉ khi nào an trú trong hiện tại, ta mới có thể nhận diện được chúng, mỉm cười với chúng và chuyển hóa được chúng. Chuyển hóa được chúng thì con ma quá khứ sẽ không còn làm gì ta được nữa. Trong quá khứ ta đã từng đau khổ và vì vậy nên ta sợ hãi. Ngay trong hiện tại ta cũng có sự sợ hãi, dù không có gì đáng sợ nhưng ta vẫn run sợ, nỗi sợ này không có căn cứ. Đó là một tập khí và nó khiến ta có những chuẩn mực hành xử. Những hành vi theo thói quen (habitual patterns) tạo ra những khuôn khổ mà trong đó ta không thấy thoải mái, không thấy an lạc, đồng thời ta cũng làm mất sự thoải mái và an lạc của những người chung quanh. Chỉ khi nào biết quán chiếu sự sống trong giờ phút hiện tại thì ta mới thấy được mặt mũi của chúng, rồi mỉm cười với chúng: “A! Cái này là tập khí. Cái này là thói quen. Cái này đã làm cho ta không mở lòng ra được, làm cho ta không thương yêu được”. Khi ta tiếp tục nhận diện bằng nụ cười thì tự nhiên những tập khí đó sẽ tiêu tán và những hình ảnh ma quái của quá khứ cũng sẽ được chuyển hóa, được tan biến.
Trong đoạn kinh này, Bụt dạy rằng nếu ta cứ để cho mình trở về quá khứ, để cho con ma quá khứ nắm đầu thì ta không có cơ hội sống trong hiện tại, để làm công việc nuôi dưỡng và trị liệu cho ta.
Này quý thầy, sao gọi là không tìm về quá khứ? Khi một người nghĩ rằng: Trong quá khứ hình thể ta từng như thế, cảm thọ ta từng như thế, tri giác ta từng như thế, tâm tư ta từng như thế, nhận thức ta từng như thế.
Không tìm về quá khứ là sự thực tập của ta. Điều đó có nghĩa là ta có thể nghĩ về quá khứ, nhưng đừng để cho quá khứ lôi kéo. Đức Thế Tôn không dạy là chúng ta không được suy nghĩ về quá khứ. Chúng ta có quyền nghĩ rằng: Trong quá khứ ta đã bị như thế đó, ta đã được như thế đó, thân của ta như thế đó, tâm của ta như thế đó. Ta có quyền nghĩ về những điều như vậy, nhưng không để cho những hình ảnh đó chi phối, lung lạc và giam hãm ta.
Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc quyến luyến về những gì thuộc về quá khứ ấy, thì người đó đang không tìm về quá khứ.
Có nhiều người cho rằng hiện pháp lạc trú là chỉ được nghĩ tới hiện tại thôi, không được nghĩ tới quá khứ, điều đó không đúng. Nếu ta tự thiết lập mình trong quá khứ một cách vững chãi, ta có thể quán chiếu trong hiện tại, có thể quán chiếu về quá khứ, tức là ta có tuệ giác về quá khứ.
Ví dụ ta kể lại một câu chuyện ngày xưa đã xảy ra với ta. Có hai cách kể. Một là ta kể mà hoàn toàn bị kỷ niệm ngày xưa ôm lấy, thống trị, và trong khi kể câu chuyện đó ta khóc như mưa như gió, không làm chủ được mình. Cách thứ hai là ta thiết lập sự vững chãi trong hiện tại, ta có sư anh, sư em ngồi kề bên và nói: “Tôi sẽ kể câu chuyện đó cho sư anh và sư em nghe” rồi ta kể. Ta kể đúng những gì đã xảy ra, nhưng ta vẫn là ta như bình thường, ta không bị quá khứ nắm đầu, giam hãm và không khóc như mưa như gió. Đó là ta đang an trú trong hiện tại để quán chiếu về một chuyện đang xảy ra trong quá khứ, điều này không có nghĩa phép thực tập của Làng Mai là không có quyền nghĩ tới quá khứ. Ta có quyền nghĩ về quá khứ với điều kiện là ta đang an trú vững chãi trong hiện tại, ta mời quá khứ đi lên để làm đối tượng của sự quán chiếu. Nếu còn yếu thì ta phải biết phương pháp chế tác thêm năng lượng chánh niệm và phải nhờ năng lượng chánh niệm của sư anh, sư chị, sư em để ta có thể quán chiếu quá khứ mà không bị quá khứ kéo đi.
Cho nên tăng thân rất quan trọng. Nếu muốn quán chiếu về quá khứ một mình thì phải biết ta mạnh hay con ma mạnh. Nếu thấy con ma mạnh hơn thì ta khoan hãy làm, mà hãy thực tập thiền hành, thiền tọa cho vững vàng hơn. Để cho sự thực tập dễ thành công, ta nên nhờ một sư anh, sư chị ngồi bên cạnh để yểm trợ, hộ niệm cho ta, rồi ta mới mời con ma kia về. “Ma ơi, tới đây để ta xem mặt!”. Ta phải nắm chắc phần thắng trong tay thì mới làm. Đó là một cuộc hành quân, một cuộc chiến đấu, một cuộc đối diện, một cuộc pháp trận và vì vậy sống trong tăng thân có những người cùng thực tập với ta là điều kiện rất thuận lợi.
Này quý thầy, sao gọi là tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: Trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia, nghĩ như thế mà khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng tới những gì thuộc về tương lai ấy, thì người đó đang tưởng tới tương lai.
Lo lắng, sợ hãi hoặc mơ tưởng, sầu đau đều là những con ma lớn. Nếu bị con ma quá khứ và con ma tương lai nắm đầu thì ta đâu còn sự sống nữa, ta không còn khả năng để sống trong giây phút hiện tại. Trong khi chúng ta biết rằng Tịnh độ, Cực lạc, Thiên đường, nước Chúa,… tất cả những nơi này chỉ có thể có mặt trong hiện tại mà thôi. Ta đã đánh mất những điều đó vì hai con ma kia. A la hán là bậc có thể phá được tất cả bầy ma mà trước hết là bầy ma quá khứ và bầy ma tương lai. Chúng ta hãy trở về với chuyện anh chàng được bác sĩ bảo chỉ còn sáu tháng nữa để sống. Anh chàng đó nói: “Được, cứ cho là sáu tháng nữa tôi chết đi nhưng tôi không tin rằng điều bác sĩ nói chắc chắn đúng”. Vì có những bác sĩ cũng đã nói điều tương tự nhưng sự việc lại không xảy ra đúng như vậy. Có khi bác sĩ nói người đó chỉ còn sống được sáu tháng nữa nhưng anh ta đã sống luôn 25 năm, vậy thì ông bác sĩ đó cũng không giỏi gì mấy, bởi vì còn tùy theo cách ta sống. Cứ cho rằng sáu tháng nữa người đó chết đi, nhưng từ đây cho tới khi chết người đó sẽ sống đàng hoàng. Và người đó thực tập phương pháp của kinh Người biết sống một mình. Người đó trở về sống an lạc, vững chãi và thảnh thơi trong từng giây phút để nâng cao phẩm chất của đời sống. Khi sống được như vậy thì người đó đạt được tự do – không bị quá khứ nắm đầu, không bị tương lai làm cho run sợ. Sống vững chãi, thảnh thơi trong giây phút hiện tại, người đó tự nhiên thấy được chiều sâu của sự sống và tìm ra được rằng: Thọ mạng của mình là vô lượng.
Những kinh khác như kinh Pháp hoa hay kinh Kim cương đều nói rằng thọ mạng của các đức Thế Tôn là vô cùng. Ý niệm về thọ mạng của ta là ta sinh ra từ một giây phút nào đó và ta sẽ chết đi trong một giây phút nào đó; giữa hai giây phút có thể là 80 năm, 90 năm hay 100 năm. Người ta nghĩ rằng đó chính là thọ mạng của họ. Nhưng đó là vì chúng ta chưa biết sống vững chãi, thảnh thơi trong giây phút hiện tại. Nếu ta biết sống vững chãi, thảnh thơi và quán chiếu sự sống sâu sắc, ta sẽ khám phá ra rằng, thọ mạng của ta cũng vô lượng như thọ mạng của đức Thế Tôn và cái gọi là sinh hay diệt kia không động chạm được đến thọ mạng của ta. Ta sẽ thấy không có cái chết, đó chỉ là sự biểu hiện và ẩn tàng. Vậy, trong sáu tháng đó, người ấy có thể đắc đạo, có thể tiếp xúc được cái không sinh không diệt; đối với người đó sáu tháng, tám tháng hay là 60 năm không có nghĩa lý gì nữa. Quan trọng là ta tiếp xúc được với tự tính bất sinh bất diệt, vì khi tiếp xúc được với tự tính đó rồi thì sống chết đâu còn làm gì được ta. Sinh tử đâu có thể ép uổng được ta.
Sinh tử tương bức hề ư ngã hà phương. Đó là một câu kệ của Tuệ Trung Thượng sĩ. Ý niệm về sinh diệt, về cái chết đã từng ép uổng ta, bây giờ nó không thể đụng tới ta được nữa. Vậy thì dù cho ông bác sĩ nói như vậy nhưng ta có thể xem việc còn lại sáu tháng để sống là một tiếng chuông chánh niệm, ta trở về sống từ bây giờ cho tới phút giây đó, thì không hẳn là ta sống sáu tháng mà cũng có thể là một năm hay ba mươi năm. Nếu sống được một cách vững chãi và thảnh thơi, thậm chí ta có thể sống lâu hơn ông bác sĩ, ông bác sĩ có thể sẽ chết trước ta vì ông sống thiếu chánh niệm, thiếu an lạc, thiếu thảnh thơi. Trong khi đó, nhờ tiếng chuông chánh niệm thỉnh lên, ta bắt đầu học được cách sống an lạc và thảnh thơi. Cho nên trong thân ta có những chuyển hóa và ta có thể sống lâu hơn ông bác sĩ. Chuyện đó từng xảy ra và đã xảy ra rất nhiều lần.
Này quý thầy, sao gọi là không tưởng tới tương lai? Khi một người nghĩ rằng: Trong tương lai hình thể ta sẽ như thế kia, cảm thọ ta sẽ như thế kia, tri giác ta sẽ như thế kia, tâm tư ta sẽ như thế kia, nhận thức ta sẽ như thế kia. Nghĩ như thế mà không khởi tâm ràng buộc, lo lắng hay mơ tưởng về những gì thuộc về tương lai ấy thì người đó đang không tưởng tới tương lai.
An trú được trong hiện tại, ta có thể quán sát về tương lai. Một mai dù sẽ nằm cứng đơ lạnh ngắt trên giường, ta vẫn không sợ hãi. Khi những người thân gọi tên ta, ta im lặng không trả lời vì tai không nghe, mắt không thấy, ta vẫn bình thản không sợ hãi. Ta không sợ hãi bởi vì ta đã sống sâu sắc, đã quán chiếu, đã tiếp xúc được với thế giới không sinh không diệt nên giờ phút đó ta biết rằng cái tử thi kia đâu phải là ta. Ta không còn đồng nhất ta với hình hài lạnh ngắt kia nữa thì sao phải sợ. Có người nghĩ tới giờ phút mình bệnh và chết, phải bỏ lại những người thân thì rất lấy làm sợ hãi, nhưng cũng có người nghĩ tới thì vẫn mỉm cười như thường. Tại sao lại có sự khác biệt đó? Sở dĩ như vậy là vì người này biết sống sâu sắc, vững chãi trong hiện tại, đã khám phá được tính vô sinh bất diệt của sự sống. Không phải ta cố tình không nghĩ tới nó, mà ta nghĩ tới là để quán chiếu. Vì vậy các thầy, các sư cô mỗi ngày đều nên đọc lại năm điều quán niệm. “Tôi thế nào cũng phải già nua, tôi không thể nào tránh được sự già nua. Tôi thế nào cũng phải bệnh, tôi không thể nào tránh thoát được cái bệnh. Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thể nào tránh thoát được cái chết. Tất cả những người tôi thương yêu và tất cả những gì tôi trân quý hôm nay, một mai này tôi đều phải xa lìa và buông bỏ; tôi không thể nào tránh thoát được giờ phút xa lìa và buông bỏ ấy. Tôi là kẻ thừa tự những nghiệp quả do thân, miệng, ý của tôi tạo nên, và những nghiệp quả ấy là cái duy nhất tôi có thể mang theo với tôi sau này.” Tôi không đem theo thứ gì hết, tất cả những điều đó Bụt đã dạy cho chúng ta, chúng ta phải làm vì Bụt là một bác sĩ trị liệu cho cả thân lẫn tâm. Bụt nhắc chúng ta như vậy để chúng ta trở về sống sâu sắc trong giây phút hiện tại. Nếu sống sâu sắc được những giây phút hiện tại thì ta vượt thoát khỏi cái già, cái bệnh và cái chết. Khi những cái đó xảy ra ta vẫn mỉm cười vì ta thấy đây là chuyện rất tự nhiên, đôi khi ta cảm thấy thích vì đó là cơ hội để ta làm mới lại chính mình.
Kinh Người biết sống một mình giúp chúng ta thấy rõ sống trong hiện tại không có nghĩa là cấm ta không được nghĩ tới quá khứ, tưởng tới tương lai. Phải biết an trú trong hiện tại để mỗi khi quán chiếu quá khứ hay tương lai ta vẫn có tự do và có thể vượt thoát được những nỗi sầu đau, sợ hãi. Trong giáo lý tương tức và tương nhập thì quá khứ làm ra hiện tại, hiện tại làm ra tương lai. Vì vậy tiếp xúc với hiện tại là ta đang tiếp xúc với quá khứ và tương lai mà không bị con ma quá khứ và tương lai sai sử.
Này quý thầy, thế nào gọi là bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người không học, không biết gì về Bụt, Pháp, Tăng, không biết gì về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, không tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang bị lôi cuốn theo hiện tại.
Sống trong hiện tại không có nghĩa là bị lôi cuốn theo hiện tại, mà là ta có chủ quyền. Đoạn văn này bổ sung rõ ý cho hai câu Hãy quán chiếu sự sống, trong giờ phút hiện tại. Sống trong hiện tại nghĩa là sống sâu sắc với một ý thức minh mẫn để có thể thực tập quán chiếu. Khi quán chiếu như vậy, ta không thấy rằng cái thân này là ta nữa. Ta không nói: “Tôi là hình thể này, hình thể này là tôi. Một mai hình thể này không còn nữa thì tôi không còn nữa”. Nếu nói như vậy là vô minh, chính điều đó làm phát sinh ra sự sợ hãi, sầu đau, chính điều đó làm cho ta bị con ma quá khứ và con ma tương lai nắm đầu. Vì vậy, sống sâu sắc trong hiện tại là khám phá ra được tính tương tức tương nhập, tính tương duyên của tất cả vạn pháp và không bị sự u mê chấp ngã điều khiển. Không thấy rằng ta chỉ là cái thân này, cái thân này là ta; ta chỉ là những cảm thọ này, những cảm thọ này là ta; ta là những tri giác này, những tri giác này là ta; ta là những tâm hành này, những tâm hành này là ta; ta là những nhận thức này, những nhận thức này là ta. Khi ta không đồng nhất ta với những yếu tố của năm uẩn, khi ta nhận thấy sự sống là thênh thang, ta không bị kẹt vào ý niệm về ngã thì lúc đó không còn con ma nào có thể lung lạc được ta nữa, kể cả con ma quá khứ và con ma tương lai. Sống được như vậy, ta tiếp xúc được với thế giới của không sinh không diệt, mà đã tiếp xúc được với thế giới không sinh không diệt rồi thì quá khứ làm sao còn có thể giam hãm ta và tương lai làm sao còn có thể tạo ra sợ hãi cho ta được nữa. Đây là tinh túy của giáo lý đạo Bụt.
Này quý thầy, thế nào gọi là không bị lôi cuốn theo hiện tại? Khi một người có học, có biết về Bụt, Pháp, Tăng, có biết về các bậc hiền nhân và giáo pháp của các bậc này, có tu tập theo giáo pháp của các bậc hiền nhân, không cho rằng hình thể này là mình, mình là hình thể này, cảm thọ này là mình, mình là cảm thọ này, tri giác này là mình, mình là tri giác này, tâm tư này là mình, mình là tâm tư này, nhận thức này là mình, mình là nhận thức này… thì người đó đang không bị lôi cuốn theo hiện tại.
Chỉ có một câu thôi nhưng đủ để ta áp dụng suốt đời. Mỗi ngày, ta sống với những gì thuộc về sắc, thọ, tưởng, hành và thức cho nên ta cần phải biết tính nhân duyên, tính duyên khởi của chúng. Ta biết rằng nội sắc hay ngoại sắc cũng chỉ là sắc; nội thọ hay ngoại thọ cũng chỉ là thọ. Khi thấy được tính nhân duyên, tính duyên sinh của tất cả các hiện tượng đó thì ta sẽ không còn nắm bắt, không còn bị vướng mắc, vì vậy ta không còn bị quá khứ, tương lai và hiện tại đàn áp, sai sử nữa.
Ðó, tôi đã chỉ cho quý thầy biết về đại cương và giải thích cho quý thầy nghe thế nào là người biết sống một mình.
Bụt nói xong, các vị khất sĩ đồng hoan hỷ phụng hành.
Ekavihāra có nghĩa là độc cư (獨居), eka là một, vihāra là cư. Khi ta sống với một con ma thì không còn gọi là độc cư nữa mà gọi là song cư (雙居) hay nhị cư (二居) – Sadutiyavihāra. Độc cư là sống một mình, song cư là sống hai mình. Vì vậy, người tu là phải biết sống một mình. Khi ngồi, khi đi, khi ăn cơm… nếu ta để một con ma ngồi bên cạnh thì đó không phải độc cư mà là song cư hay nhị cư. Khi thấy một sư anh đang ngồi với một con ma thì ta nên hỏi: Sư anh ơi, sư anh đang ngồi với ai đó? Câu hỏi sẽ giúp sư anh tỉnh dậy. Khi thấy một sư em đang ngồi với một con ma, có thể là con ma tương lai, thì ta nên hỏi: Sư em đang ngồi với ai đó? Sư em cũng sẽ thức dậy. Ta đừng để cho nó ám ảnh, ta phải phá ma. Trong hiện tại ta có những đam mê, những vướng mắc, những hận sầu, những dự án và ta sống với những cái đó thì không phải là sống độc cư mà ta đang sống với con ma thứ hai. Là một người tu, ta đừng sống với con ma.
Ban đầu khi nghe bác sĩ nói anh còn sáu tháng để sống thì anh thấy đất sụp dưới chân mình: “Trời ơi, tôi còn biết bao nhiêu chuyện để làm, tại sao phải chết sớm quá, tôi còn biết bao nhiêu chỗ để đi chơi, đi thăm, tôi còn biết bao nhiêu người muốn gặp”. Nhưng sau khi học kinh này, ta sẽ nói: Bây giờ anh làm đi, anh còn sáu tháng, anh làm đi, anh làm cho đàng hoàng, lâu nay anh cũng làm đó nhưng anh làm như một con ma. Bây giờ anh sẽ thực tập hay hơn, muốn làm cái gì thì anh làm đi, và hãy làm với tất cả con người của anh, anh an trú trong hiện tại, anh sống cho sâu sắc. Anh muốn đi chơi đâu thì đi nhưng khi tới đó anh phải an trú hết mình tại đó. Nếu gặp một người chỉ còn bốn hay sáu tháng nữa để sống thì ta cũng bắt chước đức Thế Tôn mà nói: Anh sẽ phải chết thì tôi cũng sẽ phải chết, nhưng từ bây giờ cho tới khi chết ta phải sống cho thật đàng hoàng. Anh có khả năng sống được như thế hay không, hay là trong sáu tháng đó anh để cho con ma sợ hãi hớp hồn và không còn thực sự sống được giây phút nào nữa. Ta phải làm sao giúp cho người kia sống sáu tháng còn lại cho thật đàng hoàng. Nếu người đó sống được sáu tháng đàng hoàng thì anh ta có thể sống được thêm sáu năm hay hai mươi năm, vì đó là cách sống hay nhất: sự nhẹ nhàng, thảnh thơi, hạnh phúc sẽ chuyển hóa những bệnh khổ trong cơ thể cũng như những bệnh khổ trong tâm tư. Khi mới nghe tin ta bị ung thư (cancer), ta nói ta sẽ tranh đấu, ta sẽ trị bằng tia điện, trị bằng chất hóa học, vừa làm liệu pháp hóa học (chemotherapy), vừa làm liệu pháp xạ trị (radiotherapy), đánh một lần cho tan ung thư. Ta áp dụng phương pháp của người chiến sĩ. Ta thấy có kẻ thù, kẻ thù là cái chết, là căn bệnh ung thư. Sống trong tâm trạng đó ta sẽ đau khổ vô cùng. Vì vậy, nếu tiếp nhận được một giọt nước từ bi của Bụt, ta sẽ thấy Ngài mỉm cười: Sống hả? Hay lắm! Chết hả? Cũng hay lắm! Bởi sống chết là hai khía cạnh của một thực tại, nếu không có chết làm sao có sống, nếu không có sống làm sao có chết. To live or to die, both are good. Điều quan trọng là nếu sống thì phải sống cho đàng hoàng; nếu chết cũng phải chết cho đàng hoàng. Sống cho đẹp và chết cho đẹp. Chết cho đẹp tức là sống và sống cho đẹp tức là chết, vì vậy ta nên khuyên người kia hãy trở về và sống những giây phút của đời sống hằng ngày cho thật sâu sắc. Có thể người bệnh ung thư sắp chết kia sẽ đạt tới kết quả tốt đẹp mà những người không mắc ung thư không đạt tới được. Họ có thể chứng đạt và sống cuộc đời của mình rất sâu sắc, có cơ hội tiếp xúc được với tự tính vô sinh, bất diệt của mình. Trong khi đó, những người không mắc ung thư có thể kéo lê cuộc đời mình từ bây giờ cho đến lúc chết trong đau khổ, trong oán hờn, trong u muội.
Cuốn sách Ước hẹn với sự sống – Your appointment with life chú giải một cách tường tận kinh Người biết sống một mình. Nếu vị nào chưa đọc hoặc chưa có thì hãy đi tìm sách đó trong quán Con Nghé Nhỏ hay quán Ô Môi. Tôi tin rằng cuốn kinh đó cũng đã được dịch ra tiếng Pháp.
































































































































































