Vượt thoát sợ hãi

 

(Trích trong sách “Hướng đi của đạo Bụt cho hoà bình và môi sinh” của Sư Ông Làng Mai)

Mỗi ngày trong cơ thể ta đều có những tế bào cũ chết đi và những tế bào mới sinh ra nhưng có bao giờ chúng làm đám tang hay tổ chức sinh nhật cho chúng đâu.

Đức Bụt dạy rằng tất cả mọi hiện tượng đều vô thường, không có cái gì mà không thay đổi từ giây phút này qua giây phút kia. Có được tuệ giác này, ta mới thấy được bản chất của thực tại và không còn bị kẹt vào ý niệm về hình hài và thọ mạng.

Mọi nền văn minh đều có một đời sống giống như đời sống của con người, có sanh và có diệt. Nền văn minh của chúng ta cũng sẽ có ngày chấm dứt, chấm dứt sớm hay muộn là do ta quyết định. Sự quyết định này rất tối hậu. Nếu loài người chúng ta vẫn tiếp tục sống như hiện nay thì nền văn minh của chúng ta sẽ sớm bị diệt vong. Cách chúng ta sử dụng xe hơi, cách chúng ta tiêu thụ, khai thác không nương tay những nguồn tài nguyên thiên nhiên sẽ làm cho nền văn minh của chúng ta nhanh chóng bị diệt vong. Việc trái đất bị nóng lên có thể là triệu chứng đầu tiên của sự diệt vong. Nếu chúng ta vẫn tiếp tục tiêu thụ một cách bừa bãi như hiện nay thì phần lớn dân số trên hành tinh này sẽ bị tiêu diệt, vì hệ sinh thái đang bị thương tổn nặng nề, không thể nào bảo vệ chúng ta được nữa. Rất nhiều nền văn minh trước đây đã bị diệt vong, không có gì có thể tồn tại được lâu dài.

Mọi sự vật đều bị định luật vô thường chi phối, không có cái gì có thể tồn tại một cách độc lập. Lý trí chúng ta hiểu rõ như vậy, nhưng trong thực tế chúng ta khó chấp nhận điều đó. Ta vẫn muốn những người ta thương yêu và những vật ta trân quý luôn còn mãi với chúng ta. Chúng ta khó mà hiểu được vô thường chỉ qua ngôn từ và khái niệm. Phải để hết lòng thực tập mới hiểu được thế nào là vô thường, và mới biết chấp nhận nó. Khi thở vào, ta nhìn sâu vào đối tượng đang quán chiếu, đối tượng đó có thể là hoa, là lá, hay là người… Và khi thở ra, ta quán sát tính chất vô thường của đối tượng. Nhờ thực tập quán sát và nhìn sâu, ta thấy được sự vật thay đổi không ngừng trong mỗi giây phút.

 

 

Có hai loại vô thường, sát na vô thường (impermanence in every instant) và nhất kỳ vô thường (cyclic impermanence). Sát na vô thường là sự thay đổi trong từng giây phút, trong từng sát na. Nhất kỳ vô thường là khi sự vật đến giai đoạn chót của chu kỳ: sinh, trụ, hoại, diệt, ta mới thấy được sự đổi thay. Như khi ta nấu nước, nước cứ nóng lên từ từ cho đến khi nước sôi lên và bốc hơi . Khi nước sôi và bốc hơi, ta mới thấy có sự thay đổi, đó là nhất kỳ vô thường (cyclic impermanence). Còn sự đổi thay liên tục (sát na vô thường) rất khó nhận thấy nếu ta không chú ý kỹ. Cũng như một đứa bé bắt đầu lớn, trong giai đoạn đang lớn lên, có rất nhiều thay đổi nho nhỏ trong đứa bé nhưng ít khi ta chú ý tới, đến khi đứa bé lớn phổng lên, lúc ấy ta mới thấy có sự thay đổi. Ðó gọi là nhất kỳ vô thường. Ta phải học nhìn sâu vào nhất kỳ vô thường (cyclic change) để có thể chấp nhận những thay đổi cần thiết cho cuộc sống, để không còn bị điêu đứng vì chúng. Ta học quán sát sự thay đổi trong tự thân của ta, nơi những vật quanh ta, nơi những người ta thương yêu, nơi cả những người gây khổ đau cho ta. Nếu không biết nhìn sâu vào những thay đổi đó, ta có thể nghĩ rằng vô thường là khía cạnh tiêu cực của đời sống, bởi vì vô thường lấy đi của ta những thứ ta yêu quý. Nhưng nếu quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy rằng vô thường không tiêu cực mà cũng không tích cực. Nó là vô thường, vậy thôi! Không có vô thường thì sự sống không thể tồn tại được. Không có vô thường, làm sao chúng ta có hy vọng chuyển hóa được khổ đau của chúng ta, chuyển hóa khổ đau của những người ta thương? Không có vô thường, làm sao chúng ta có hy vọng thay đổi được những hành vi sai lầm của chúng ta đối với đất Mẹ?

Vô thường cũng có nghĩa là duyên sinh bởi vì không có một hiện tượng nào có thể tồn tại một cách độc lập, bởi vì vạn vật không ngừng biến chuyển, đổi thay. Một bông hoa luôn tiếp nhận những yếu tố không phải là hoa như nước, không khí, ánh nắng mặt trời để có thể biểu hiện thành hoa. Muốn là hoa là cả một tiến trình chuyển biến không ngừng, con người cũng vậy. Trong mỗi khoảnh khắc đều có cái đi vào và đi ra. Bông hoa không ngừng sinh và diệt, và nó liên kết chặt chẽ với mọi thứ quanh nó. Mọi thành phần trong vũ trụ đều nương vào nhau để tồn tại. Ví dụ về sóng và nước giúp ta hiểu được bản chất vô ngã của mọi sự vật. Con sóng có thể lên cao và xuống thấp, sinh và diệt. Nhưng thực chất của sóng là nước thì không cao, không thấp, không sinh không diệt. Các hình tướng cao, thấp, sinh, diệt không ảnh hưởng gì đến bản chất của nước. Chúng ta dễ khóc dễ cười bởi vì chúng ta bị kẹt vào hình tướng bên ngoài, chúng ta chưa tiếp xúc được với bản chất thực của sự vật. Nếu chúng ta chỉ thấy sóng với hình tướng sinh diệt của nó, làm sao chúng ta không khổ đau. Nếu chúng ta thấy được bản chất của sóng là nước và tất cả các con sóng đều trở về với nước thì chúng ta sẽ không còn sợ hãi nữa.

“Thở vào, tôi thấy được tính vô thường. Thở ra, tôi thấy được tính vô thường.” Ta phải thực tập như thế nhiều lần. Bởi vì sự sống là vô thường. Nếu không thực tập để thấy được như vậy, ta sẽ thấy bất an. Ta phải tập sống sâu sắc trong từng giây phút để đối diện với cảm giác bất an khi chúng phát khởi.

Khi mới bắt đầu thực tập, ta vẫn còn muốn sự vật là thường. Ta nghĩ rằng sự vật có một cái ngã riêng biệt và khi sự vật thay đổi thì ta khổ đau. Để giúp ta vượt thoát khổ đau, đức Bụt cho ta chiếc chìa khóa Vô Thường và Vô Ngã. Nhìn sâu vào bản chất Vô Thường, Vô Ngã, ta mở tung được cánh cửa đi vào thực tại, đi vào Niết Bàn. Nhờ vậy, sợ hãi và khổ đau sẽ tan biến, và ta không còn bận tâm là mình già hay trẻ, ngay cả sống chết cũng không còn động tới ta. Ta không còn hiểu chết theo nghĩa thông thường là ta không còn hiện hữu nữa, bởi vì ta đã thấy sự sống là một dòng chuyển hóa liên tục. Vô Thường, Vô Ngã, Niết Bàn là ba pháp ấn, đó là ba dấu ấn của đạo Bụt. Nếu ta không hiểu về Vô Thường và tìm cách chống lại nó, ta sẽ khổ đau, vì sợ hãi, giận hờn và tuyệt vọng sẽ xâm chiếm ta. Cho nên việc làm trước tiên là biết cách đối diện với những nỗi sợ hãi, tuyệt vọng trong lòng mình trước khi biết đối diện với những vấn đề môi trường, vấn đề trái đất bị hâm nóng. Đức Bụt dạy rất rõ về điều này, ta phải biết chăm sóc và chữa trị cho ta trước, sau đó ta mới biết cách chăm sóc và chữa trị cho hành tinh mẹ của chúng ta. Nếu ta không nhận diện được nỗi sợ hãi đang có mặt trong ta thì nỗi sợ hãi đó sẽ tiếp tục sai sử ta. Đức Bụt đã dạy ta không nên trốn tránh sự sợ hãi, mà ta nên mời chánh niệm giúp ta nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nỗi sợ hãi. Thực tập được như vậy, ta sẽ nuôi lớn sự hiểu biết và khả năng chấp nhận trong ta. Ta sẽ không còn bị nỗi sợ hãi lôi kéo ta đi một cách mù quáng.

Nỗi sợ hãi về cái chết luôn luôn có mặt trong tàng thức của ta. Khi ta được tin mình phải chết, ta thường có phản ứng chống lại, không chịu chấp nhận sự thật này. Tôi đã chứng kiến nhiều người bạn thân khi được báo tin có bệnh AIDS hoặc bệnh ung thư, họ quyết liệt từ chối, không muốn tin. Họ không ngừng đấu tranh với nỗi sợ hãi này trong một thời gian dài. Cho đến khi họ chịu chấp nhận sự thật thì ngay lúc đó họ có bình an. Khi có bình an, có sự thư giãn, ta có cơ hội điều trị cơn bệnh. Tôi có biết nhiều người mắc bệnh ung thư vẫn có thể sống thêm mười năm, hai mươi năm, hay ba mươi năm sau khi được chẩn đoán có bệnh, ấy là nhờ họ có khả năng chấp nhận căn bệnh và biết sống bình an với nó.

 

 

Có một sư thầy ở Hà Nội được bác sĩ cho biết là bị bệnh ung thư. Bác sĩ nói sư thầy chỉ còn sống thêm vài tháng nữa thôi. Nghe tin đó, sư thầy quyết định qua Làng Mai để tu học trước khi phải chết. Sư thầy hoàn toàn chấp nhận việc mình sắp sửa phải chết. Khi đến làng, một sư cô khuyên sư thầy nên đi bác sĩ để biết chính xác hơn về căn bệnh của mình. Sư thầy trả lời: tôi đến làng để được tu học vài tháng với đại chúng, chứ đâu phải đến đây để đi bác sĩ.” Sư thầy sống hết lòng trong mỗi phút giây suốt ba tháng ở làng. Sư thầy tinh cần thực tập thiền hành, thiền tọa, nghe pháp thoại, dự pháp đàm. Ba tháng trôi qua, chiếu khán của sư thầy hết hạn, sư thầy phải về lại Việt Nam. Sư cô ở làng, một lần nữa, đề nghị sư thầy đi bác sĩ để kiểm tra lại căn bệnh của mình. Lần này thì sư thầy đồng ý. Đến khám bác sĩ thì sư thầy được bác sĩ cho biết: “Di căn đã ngưng và chứng ung thư hầu như biến mất.” Bây giờ là hơn 14 năm trôi qua kể từ ngày sư thầy đến làng Mai mà sư thầy vẫn còn sống rất khỏe mạnh. Cho nên biết sống chấp nhận là điều rất quan trọng. Biết chấp nhận cái chết giúp ta có bình an và với sự bình an đó, ta có thể tiếp tục sống vui.

Khi một con sóng được lên cao, có thể nó rất vui, và khi phải rơi xuống, có thể nó có nhiều lo lắng. Có lên thì phải có xuống, có sinh thì có diệt. Nếu con sóng biết thiền tập thì nó sẽ thấy được nó là nước, cho nên nó có thể tan biến đi một cách vui vẻ. Bởi vì là sóng thì có thể tan biến đi, là nước thì không bao giờ tan biến cả. Giáo lý của Bụt giúp ta tiếp xúc được với bản chất thực của sự sống, và với tuệ giác này, ta có thể xua tan được mọi sợ hãi. Lúc ấy ta có thể mỉm cười với cái chết, không còn hoảng hốt, không còn tức giận.

Một hạt mưa vừa rơi xuống đất là biến mất. Nhưng sự thực là nó vẫn còn đó, dù nó đã thấm vào lòng đất, nó vẫn còn đó dưới một hình thức khác. Khi nó bốc hơi thì nó vẫn còn đó trong không khí dưới hình thức hơi nước. Ta không còn nhìn thấy hạt mưa nhưng không phải vì vậy mà hạt mưa không còn nữa. Đám mây cũng vậy, đám mây không bao giờ chết, đám mây chỉ thay hình đổi dạng, khi là mưa, là tuyết, là băng đá, đám mây không thể nào trở thành hư không. Chúng ta thường nghĩ rằng chết tức là từ có trở thành không. Nhờ có thiền tập, ta tiếp xúc được với tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Trước khi biểu hiện thành mây, đám mây đã là hơi nước, là đại dương sâu. Cho nên mây không phải từ không mà trở thành có. Sinh và diệt chỉ là ý niệm của ta. Có được tuệ giác này rất quan trọng, vì nó giúp ta lấy đi nỗi sợ hãi. Nếu ta hiểu rằng ta không bao giờ thật sự biến mất thì ta vượt thoát được sợ hãi. Vượt thoát được sợ hãi là trút được một khối nặng khiến ta thấy vô cùng nhẹ nhõm. Có đức vô úy này thì có bình an và hạnh phúc thật sự. Khi ta có bình an thật sự thì nền văn minh của chúng ta mới có cơ hội trường tồn. Nếu lúc nào ta cũng sống trong lo âu sợ hãi thì ta chỉ càng đẩy mạnh nền văn minh của chúng ta xuống hố thẳm. Khi ta có được sự bình an, ta sẽ dễ dàng biết cách xử lý với những tình huống khó khăn.

Đức Bụt dạy chúng ta nên tập nhìn thẳng vào những hạt giống sợ hãi thay vì tìm cách che đậy hoặc chạy trốn. Chúng ta ai cũng có hạt giống sợ hãi. Chúng ta sợ chết, sợ bị bỏ rơi, sợ bị bệnh tật… vì thế chúng ta luôn tìm cách để quên đi, bằng cách làm cho ta bận rộn suốt ngày, hết công việc này đến công việc khác, để quên đi nỗi sợ hãi trong ta. Nhưng một ngày nào đó chúng ta cũng bị bệnh, chúng ta cũng phải chết, phải dứt bỏ mọi thứ. Cho nên đức Bụt khuyên ta không nên chạy trốn nữa, mà nên thực tập nhận diện hạt giống sợ hãi trong ta mỗi ngày. Ta có thể thực tập năm phép quán tưởng. Năm phép quán tưởng giúp ta nhận diện những hạt giống sợ hãi trong ta và làm quen với chúng. Phép quán tưởng thứ nhất: “Tôi thế nào cũng phải chết, tôi không thể nào tránh khỏi cái chết.” Ta tập đối diện với sự thật, ta mời hạt giống sợ hãi lên, và dùng chánh niệm để đối diện với nó và ôm ấp nó. Ta cần phải can đảm. Có thực tập như vậy, ta mới thấy là cường độ của sợ hãi dần dần giảm xuống, và ta bắt đầu chấp nhận được cái già, cái bệnh, cái chết là những sự kiện có thật mà ta không thể nào tránh được. Khi ta biết chấp nhận những điều này, ta cảm thấy dễ chịu hơn.

Khi ta biết chấp nhận cái chết của mình, cũng như khi ta biết chấp nhận sự tàn hoại của nền văn minh của chúng ta thì trong lòng ta có được sự bình an. Và khi ta có bình an, ta sẽ có hạnh phúc, nhờ vậy ta biết cách sử dụng những phương tiện kỹ thuật hiện đại để cứu sống hành tinh của chúng ta. Nếu ta đầy tuyệt vọng và sợ hãi, thì dù ta có đầy đủ những phương tiện kỹ thuật, ta vẫn không biết cách để cứu sống trái đất này. Ta có thể chết một cách an lành khi ta hiểu thế nào là tương tức và tiếp xúc được với bản tánh vô sinh bất diệt của mình.

 

Thư gửi bạn hiền mùa Cô Vy

 

 

Bạn hiền thương quý,

Tôi lại về đây, về cái Xóm Mới nhỏ mà rộn ràng đầy ắp thương yêu. Mỗi năm dịp cuối đông là tôi lại bay về Pháp để gia hạn cho cái visa ở lâu. Lần này giữa mùa dịch, tôi về được một tuần hơn thì việc vào Pháp trở nên khó khăn. Và song song vào đó việc trở về lại Việt Nam cũng thành vô hạn định cho đến khi nào hết dịch. Khi nào? Nên sau khi tự cách ly 14 ngày ở Nhà Lưng Đồi để nghỉ ngơi cho quen với múi giờ và bảo đảm an toàn cho cộng đồng sau khi đi qua nhiều phi trường: Huế, Hà Nội, Charles de Gaules, Bordeaux, tôi thấy mình trở thành “dân Xóm Mới” thực thụ. Có nghĩa là đợt này tôi không thấy mình chỉ có vài ba tuần ở tạm chờ lấy giấy tờ mà tôi thấy mình hội nhập hoàn toàn với nếp sống của Xóm Mới. Có lẽ vì thời gian về dài hơn, lại không có khoá tu tiếng Pháp như mọi năm để ai cũng bận tất bật, và vì cả tu viện được cách ly nên mọi người đều ở nhà, cảm giác “at home” – về nhà, thật là rõ nét.

Tôi về đây khi trời bắt đầu vào xuân dù còn lạnh lắm. Còn những ngày mưa phùn ướt át nhưng cũng đã bắt đầu có những ngày nắng óng ả vàng tươi. Hoa thuỷ tiên tàn rồi nhưng hoa tulip đang nở, và hoa lê trắng, hoa đào hồng, hoa forsythia (mai Đông Á) vàng đều đang khoe sắc trong vườn. Mùa xuân của Pháp đẹp quá. Trên bãi cỏ xanh thì bồ công anh vàng và những đoá cúc trắng tí xíu nở đầy. Nên dù bị ngứa mắt, sổ mũi, ho khục khục vì dị ứng trở lại (ở Việt Nam không khí ô nhiễm vậy mà thoát cái nạn bị dị ứng phấn hoa bụi cỏ này), tôi vẫn không ngăn được mình cầm kéo ra vườn tỉa cây và thơ thẩn… ngắm trời ngắm đất.

Thầy có lần bảo cái gì cũng là một cơ hội. Đúng vậy đó bạn hiền. Bao nhiêu năm rồi có bao giờ mình dám “đóng cửa chùa”, không tiếp nhận thiền sinh về thực tập trong một thời gian dài như bây giờ? Cả tu viện như đang trong một thời kỳ “an cư” không chủ định. Không cần kiết giới mà cũng không ai ra khỏi giới trường. May đất đủ lớn để đi bộ trong xóm. May có vườn mận nhà bên gần là của mình rồi (vì chịu bán nhưng chưa đủ tiền mua) nên ngày nào đại chúng cũng được đi thiền hành lên ngọn đồi đầy hoa nở trắng. Mùa thu vừa rồi thu hoạch mận xong tới mùa tỉa cây không ai chịu tỉa (vì chủ đất coi như sẽ bán đất nên không chăm sóc nữa, nhà mình thì chưa mua nên chưa trách nhiệm) nên nhờ đó hoa mận nhiều hơn, trắng ngợp cả trời. Ngày hội hoa mai chị em tổ chức gần tháp chuông, nghe nhạc và ngắm hoa rất vui. Năng lượng trẻ đầy tràn qua “ban nhạc Xóm Mới” với vĩ cầm, keyboard, ghi ta, đàn tranh và những nụ cười tươi hết cỡ. Giữa mùa dịch bệnh, chúng tôi nuôi nhau bằng năng lượng tích cực để nâng cao sức khoẻ thân và tâm, không phải chỉ cho mình mà còn cho tất cả mọi người.

 

 

Các hoạt động bên ngoài đều giới hạn, chỉ có tri khố mỗi hai tuần ra khỏi nhà. Tri xa thì “ế ẩm”. Ai bước chân ra ngoài là phải cầm theo giấy chính quyền yêu cầu: phải điền lý do, giờ rời nhà. Trong xe chỉ được có hai người. Từ nhà chính đi qua nhà Lưng Đồi hay Sơn Cốc cũng phải cầm theo giấy vì phải đi xe hơi. Từ nhà chính đi qua nhà Giếng Thơm cũng đi đường bên trong cho an toàn. Có một hôm vài chị em đi thiền hành trên con đường đất ranh giới vườn rau Xóm Mới với nhà hàng xóm trồng măng tây cũng được cảnh sát ưu ái nhắc nhở chỉ nên đi trong đất nhà mình, và mỗi lần đi không được quá hai người đi chung. Thế là “the way out is in”, tha hồ mà quay về NHÀ. Mọi thời khoá đều đủ người. Năng lượng tu tập và học hành lên cao. Không có thiền sinh đồng nghĩa với thời gian dành toàn bộ cho nhau, nên lớp học đều đặn và không ai bị vắng mặt. Người đứng lớp cũng nhiều hơn vì không ai phải đi hướng dẫn khoá tu nước khác. Mọi chuyến hoằng pháp mùa Xuân đều bị huỷ bỏ. Vì thế thời khoá được sắp xếp lại để các lớp học có thêm giờ và thêm nhiều môn như các lớp về ngôn ngữ, kỹ năng, nội điển, v.v… Lớp học hầu như xảy ra mỗi ngày. Nhờ vậy mọi người đều được học hỏi và thực tập sâu sắc hơn.

Vì tình trạng cách ly nên ba xóm không còn gặp nhau vào ngày quán niệm như truyền thống nhưng chúng tôi vẫn giữ chương trình quán niệm đều đặn mỗi thứ năm và chủ nhật, pháp thoại thì online: ngày thứ năm xem DVD của Sư Ông, ngày chủ nhật giáo thọ ba xóm chia nhau giảng dạy. Tới phiên xóm nào giảng thì hai xóm kia học online (trực tuyến). Gặp nhau qua màn hình thôi cũng ấm áp lắm rồi. Những buổi ngồi thiền sáng tối chúng tôi đều gởi năng lượng an lành cầu nguyện cho các nạn nhân nhiễm bệnh cũng như cho cả thế giới. Nghĩ tới các thân hữu không được tới tu viện tu tập chung với quý thầy quý sư cô giữa cơn bão dịch bệnh này chúng tôi rất thương. Biết là bên trang nhà tiếng Anh (plumvillage.org) đã có nhiều hoạt động được online, phía tiếng Việt các thầy các sư cô cũng bàn tính sẽ lên chương trình ngày quán niệm online bằng những video hướng dẫn ngồi thiền, nghe pháp thoại, thiền buông thư,… để các thân hữu và đồng bào có thể tham dự. Cùng thực tập, dù là qua mạng, sẽ chế tác năng lượng bình an cộng đồng để chăm sóc những bất an, sợ hãi trong tâm mọi người. Và chưa bao giờ, tôi thấy “ngôi chùa online” như ý Thầy mong muốn được rõ nét như bây giờ. Ngày ấy, đã mười mấy năm rồi, Thầy dạy chúng tôi làm chùa trực tuyến để mọi người cùng thực tập nhưng có lẽ phải đủ nhân duyên như bây giờ, khi cửa chùa bên ngoài bị đóng lại thì cổng chùa trên mạng mới được chú ý tới. Mới biết, tầm nhìn của Thầy xa đến chừng nào !

Bạn hiền thương! Đây là khoá tu online và những video hướng dẫn thiền tập đăng tải trên trang nhà tiếng Anh, ghi lại để bạn hiền có thể vào cùng thực tập trong khi chờ đợi phần tiếng Việt:

 Chúng tôi có mặt đây cho bạn

Pháp thoại của thầy Pháp Lưu

Pháp thoại của thầy Pháp Dung

Thiền tập có hướng dẫn

Hướng dẫn thiền hành

Tôi ngừng bút ở đây bạn hiền nhé. Mình sẽ gặp nhau khi thực tập ngồi thiền, nghe pháp thoại, thiền buông thư… Khoảng cách thì xa nhưng tâm lại gần hơn bao giờ, vì mình sẽ cùng nhau đi qua giai đoạn khủng hoảng này bằng niềm tin, tin là với luật vô thường thành, trụ, hoại, diệt thì rồi cũng có ngày cơn dịch bệnh này phải chấm dứt thôi.

Lạy Bụt gia hộ cho tất cả chúng ta được an lành trong tình thương của Người.

 

 

Chân Thoại Nghiêm

 

 

Giỗ tổ Hùng Vương

(Trích trong sách “Tý – Cây tre triệu đốt, Chiếc lá ổi non” của Sư Ông Làng Mai)

 

 

Từ hồi còn nhỏ xíu, Tý đã thỉnh thoảng có nghe nói tới tên Sư Ông. Nghe nói Sư Ông cưng Tý lắm, ngay từ khi Tý mới lọt lòng Mẹ. Mẹ nói Sư Ông là thầy tu; ngày xưa Sư Ông đã từng dạy Ba học. Tý tưởng tượng Sư Ông là một người già, có hai con mắt hiền và một bộ râu dài trắng xóa. Tý nghe nói ở bên Pháp Sư Ông trồng cà chua, khoai tây, củ cải, rau ngò, rau tía tô và rau húng. Mẹ nói qua Pháp Tý sẽ được gặp cả cô Chín nữa. Cô Chín rất cưng Tý và Miêu. Hồi còn ở Thủ Ðức, Tý và Miêu thường nhận quà của cô từ Pháp gửi về; khi thì bút chì màu, khi thì cục gôm, khi thì cuốn tập. Mẹ quý những hộp quà của cô Chín lắm, bởi vì trên nắp của hộp nào cũng có nét chữ chi chít của cô Chín. Trong những hộp quà đó thỉnh thoảng lại có thuốc bổ gởi cho bà ngoại của Tý. Ngoại của Tý cư trú ở miền quê, quận Trúc Giang, tỉnh Bến Tre…

Trại tỵ nạn Palawan năm đó ăn Tết lớn lắm. Ăn Tết lớn không có nghĩa là tiêu xài nhiều đâu. Tiền bạc đâu ở trại mà tiêu xài nhiều. Tý nhớ rất rõ buổi lễ giỗ tổ Hùng Vương được tổ chức vào đêm giao thừa. Lễ giỗ tổ trang trọng lắm. Tất cả mọi người trong trại đều có mặt tại buổi lễ, ở sân chào cờ trung ương. Các anh chị Hướng Ðạo và Gia Ðình Phật Tử là những người đứng ra sắp đặt mọi nghi lễ. Từ hôm hai mươi ba Tết, ban tổ chức đã thông báo cho mọi gia đình biết về lễ giỗ tổ rồi. Năm nay Mẹ Tý không cúng ông Táo, bởi vì ở đây gia đình Tý không có bếp núc riêng. Mẹ Tý đã dành dụm để có tiền mua đậu và nếp để làm bánh chưng cúng Tết. Ba nói ngày Tết mà không có bánh chưng để cúng ông bà thì tủi lắm. Ðọc sách Văn Lang Dị Sử Tý biết tục gói bánh chưng vào ngày Tết rất đẹp. Mẹ Tý ngâm đậu và nếp từ hôm hăm chín Tết. Sáng ba mươi Ba của Tý bắt đầu gói bánh. Ba gói bánh chưng khéo lắm. Ba nói Ba đã học được nghệ thuật gói bánh chưng tại Am Phương Bối, trên rừng Ðại Lão, cách đây đã gần hai mươi năm. Ba làm một cái khung gỗ để gói bánh. Những chiếc bánh của Ba gói rất vuông và rất gọn. Mấy gia đình kế cận thấy Ba gói bánh đẹp quá liền đến nhờ Ba gói dùm cho họ. Ba vui vẻ nhận lời. Trước hết chỉ có hai gia đình nhờ Ba gói bánh. Sau đó, năm sáu gia đình khác cũng đến nhờ. Rồi mười mấy gia đình khác nữa đến nhờ Ba gói giúp. Khởi sự gói bánh từ tám giờ sáng ba mươi Tết mà mãi đến mười một giờ khuya đêm ba mươi, Ba mới gói xong. Ba mệt lắm. Hai cánh tay của Ba mỏi nhừ. Ba chỉ nghỉ gói chừng mươi phút để ăn cơm trưa mà thôi. Gói xong cái bánh cuối cùng cho một gia đình hàng xóm, Ba đi rửa mặt và thay áo vì đã sắp đến giờ làm lễ giao thừa và giỗ tổ Hùng Vương rồi. Ngoài kia những tiếng trống và những tiếng chiêng đã được điểm lên đều đặn và uy nghiêm. Mẹ cũng đã mặc áo, anh em Tý cũng đã mặc áo quần xong xuôi. Tội nghiệp cho Mẹ, đi ra nước ngoài mà không đem theo được áo dài. Anh em Tý thì mặc áo sơ mi cụt tay, tuy đã cũ nhưng mới được giặt rất sạch.

Lễ đài được thiết lập gần cột cờ, rất trang nghiêm. Khói trầm hương nghi ngút. Ðèn nến sáng trưng trên bàn thờ. Những người đứng ra giỗ tổ đều mặc áo thụng xanh, tay áo rất rộng. Tý chưa từng thấy một buổi lễ nào mà trang nghiêm và thành kính như thế. Trên bảy ngàn người mà không ai gây thành tiếng động. Người dự lễ đứng chật vòng trong vòng ngoài. Người chủ tế là một cụ đứng tuổi, có chòm râu bạc rất đẹp. Tất cả có bảy người mặc áo thụng xanh. Họ đi tới, đi lui, quỳ xuống và đứng lên theo nhịp chiêng và nhịp trống. Mỗi khi có tiếng “hưng” hô lên, là họ đưa hai tay áo rộng lên ngang đầu. Mỗi khi có tiếng “bái” là họ lạy xuống. Lại có những anh chừng mười bốn mười lăm tuổi mặc áo dài đứng một bên cạnh để giúp việc hương đèn và sớ giấy. Ðứng nghiêm trang trước bàn thờ, vị chủ tế bắt đầu đọc văn tế. Giọng đọc rất trang trọng. Tổ Hùng Vương đã khai sáng nước Văn Lang. Người dân Việt Nam giỗ tổ để nhớ lại công ơn lập quốc của tổ tiên.

 

 

Tý nhớ đến chuyện anh Hùng và chị Mỵ đi xuống thủy cung để thỉnh Lạc Quân về làm mưa. Chuyện này Tý đọc trong Văn Lang Dị Sử. Anh Hùng chính là vua Hùng Vương thứ nhất. Ðó là một chàng trai dũng cảm và thông minh. Có tới mười tám đời vua Hùng Vương nối tiếp nhau để cai trị đất nước và giữ cho đất Văn Lang được độc lập và thái bình. Ðúng vào lúc giao thừa, những bánh pháo được đem ra đốt. Không khí rất tưng bừng. Tý thấy khói pháo thơm quá. Khói pháo làm cho nó nhớ lại những cái Tết ở quê ngoại. Ba tấm tắc khen ban tổ chức đã khéo mượn được đủ chiêng trống và đã may được cả áo thụng xanh để làm lễ giỗ tổ. Trong các làng mạc Việt Nam ngày xưa, Ba nói, mỗi khi tế thần, các quan viên đều mặc áo thụng xanh như thế.

Lễ giỗ tổ cử hành xong thì đại diện các đoàn thể lên lễ đài đọc diễn từ chúc Tết. Các bài diễn từ hơi dài đối với Tý. Bài diễn văn cuối cùng đọc xong thì có tiếng chiêng trống rộn ràng vọng lên, à đây là tiếng chiêng trống múa lân. Tý nhớ ngay tới chú Dũng. Nãy giờ chú Dũng đâu có đứng chung với Tý. Chú có mặt trong ban múa lân. Lúc này, đèn lồng đã được giăng thành hai hàng. Lân tới. Chắc chắn người cầm đầu lân là chú Dũng. Tiếng trống rung lên, Lân bắt đầu múa. Chú Dũng múa khéo lắm. Người ta reo hò không ngớt. Lại có những tràng pháo nổ. Không khí toàn trại thật tưng bừng và rộn ràng. Múa lân xong thì đã một giờ rưỡi khuya. Chú Dũng trở về với gia đình. Chú mệt nhưng tươi cười. Ba, Mẹ, Tý và Miêu theo chú trở về căn phòng nhỏ của gia đình, trong đó ba đã thiết lập một bàn thờ ông bà rất đơn giản. Ba thắp hương, đứng ngay ngắn trước bàn thờ để khấn vái. Mọi người cung kính đứng sau lưng Ba. Trên bàn thờ có một bình hoa và một đĩa bánh chưng. Mẹ đã lựa ba cái bánh đẹp nhất để bày lên cúng. Tý thấy hai mắt của Mẹ long lanh. Ðây là cái Tết đầu tiên xa quê hương, xa đất nước. Tất cả lạy trước bàn thờ, hướng về quê hương, hướng về đất nước.

Ba nói : “Chúng ta xa quê hương, nhưng quê hương mãi mãi còn trong lòng chúng ta.”

Trịnh Công Sơn với thông điệp của tình thương yêu

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai ngày 01-02-2004 tại tu viện Lộc Uyển)

 

Nếu lời nguyện của Đức Bồ Tát Địa Tạng là đi vào địa ngục để cứu độ chúng sanh, lời nguyện của Đức Bồ Tát Quan Thế Âm là lắng nghe tiếng kêu đau thương của muôn loài để tìm tới cứu khổ, thì lời nguyện của Trịnh Công Sơn là gởi tới những thính giả của mình thông điệp của tình yêu thương, tức là tưới tẩm hạt giống thương yêu và tha thứ nơi mọi người. Trong cuộc đời mà ai cũng được dẫn đạo bằng hướng đi như vậy thì thật là quý hóa. Tuy Trịnh Công Sơn đã được tiếp nhận hạt giống thương yêu từ mẹ, từ chùa nhưng chưa có cơ hội học hỏi và thực tập về phương pháp thiền quán để có thể tiếp xúc được với tự tính vô sinh bất diệt của mình. Vì vậy cho nên Trịnh Công Sơn chưa vượt thoát được nỗi ám ảnh của cái chết.

 

 

Tôi không bị ám ảnh bởi cái chết vì tôi có tuệ giác về sống chết, tôi đã thiền quán và tôi đã tiếp xúc được với tính vô sinh bất diệt của mình. Quý vị hãy nhìn lên đám mây trên bầu trời. Đám mây đó chiều nay hoặc ngày mai sẽ biến thành mưa. Đám mây đó từ đâu mà có? Có phải từ không mà trở thành có hay không? – Không. Đám mây đó từ nước ao hồ, sông biển do sức nóng mặt trời bốc hơi lên ngưng tụ mà thành. Đám mây không phải từ không mà trở thành có. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng, chúng ta từ hư vô tới và chúng ta sẽ trở về hư vô. Nói như vậy tức là chưa có tuệ giác của người tu thiền. Chúng ta không phải từ hư vô tới và chúng ta cũng không đi về hư vô.

Trong Thánh Kinh có nói chúng ta từ hạt bụi tới và chúng ta sẽ trở về cát bụi. Trịnh Công Sơn cũng có cùng quan điểm đó “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi.” Hạt bụi không phải hư vô, hạt bụi cũng không đủ để hóa kiếp thân tôi. Nhiều nhân, nhiều duyên kết hợp lại tôi mới biểu hiện, chứ một nhân, một duyên thì tôi không thể nào biểu hiện được. Theo đạo Cơ Đốc thì Thượng Đế là nhân và là nhân duy nhất để có hiện hữu, nhưng trong đạo Bụt ý niệm về nguyên nhân duy nhất là vô lý. Không có cái gì có thể phát sinh ra từ một nhân duy nhất. Ví dụ như bông hoa này, phải có hạt giống của hoa, phải có đất, có phân, có ánh sáng mặt trời, phải có đám mây biến thành nước mưa… tức là nhiều nhân, nhiều duyên mới có thể làm cho bông hoa biểu hiện được. Thành ra ý niệm một nguyên nhân duy nhất không phù hợp với sự thật. Sự thật là đa nhân đa duyên “trùng trùng duyên khởi”.

Rất tiếc là Trịnh Công Sơn trong những năm tháng đó đã không có cơ hội lên chùa để học hỏi thêm về thiền quán. Trịnh Công Sơn có gởi cho tôi một tập nhạc đề là “Tặng thầy Nhất Hạnh”. Bây giờ tôi vẫn còn giữ. Tôi cũng có viết thư cho Trịnh Công Sơn yêu cầu Trịnh Công Sơn phổ nhạc dùm một số bài kinh. Vì tôi biết rằng nếu Trịnh Công Sơn phổ nhạc những bài kinh này thì Phật tử đọc, tụng, hát sẽ hay lắm, sẽ được nhiều lợi lạc. Thế nhưng thư của tôi bi thất lạc, đến khi Trịnh Công Sơn nhận được thư đó thì ông đã bị bệnh nặng nên không làm được. Thật đáng buồn! Nhưng Trịnh Công Sơn vẫn đang còn đó. Trịnh Công Sơn đang nghe lời tôi nói, mai mốt Trịnh Công Sơn sẽ sáng tác những bài thơ, bài nhạc, bài kinh theo tinh thần của Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn đang ở đây, đang ở trong quý vị. Trong số các thượng tọa, ni sư từ Việt Nam sang có Trịnh Công Sơn trong đó. Đừng tưởng Trịnh Công Sơn chết rồi. Trịnh Công Sơn đang sống hùng mạnh hơn bao giờ hết. Đám mây kia không phải từ hư vô tới và nó cũng không phải trở thành hư vô. Mai mốt nó sẽ biến thành mưa. Nó chỉ biến đổi hình thức thôi.

Bây giờ xin quý vị quán chiếu với tôi: giả dụ 2/3 đám mây kia gặp khí lạnh trở thành mưa, rơi xuống, một phần biến thành dòng, thành khe, một phần đi vào trong ruộng lúa xanh tươi. Đứng trên cao, đám mây kia nhìn xuống và nhận ra mình đang ở dưới đó. Một phần của mình biến thành ruộng lúa xanh tươi, một phần biến thành dòng suối. Rồi đám mây nói:“Chào em, tôi biết em là tôi, em là sự tiếp nối của tôi”. Như vậy đám mây kia đâu chết, khi không còn hình thức của đám mây nữa thì nó biến thành một hình thức khác, hình thức của dòng suối hay hình thức của đám mạ xanh tươi. Thế nên trong đạo Bụt nói bản tánh của chúng ta là “vô sinh bất diệt”, chúng ta chỉ thay đổi hình thức thôi. Tự tánh của đám mây cũng vô sinh bất diệt. Trịnh Công Sơn cũng vô sinh bất diệt.

Nếu ta có con mắt của Bụt, nếu ta có con mắt của thầy thì ta có thể thấy Trịnh Công Sơn có mặt một cách rất đích thực ngay trong thính chúng này. Quý vị có thấy được Trịnh Công Sơn trong trái tim mình hay không? Ngày hôm qua thầy nghe thầy Thông Hội hát nhạc Trịnh Công Sơn. Người ta thường hỏi: “Sau khi chết ta sẽ đi về đâu?” Câu hỏi đó làm tốn rất nhiều bút mực và nước bọt để giải thích. Thông thường muốn trả lời câu hỏi đó phải trả lời một câu hỏi khác là “Trong giây phút hiện tại chúng ta đang đi về đâu?” Chúng ta tưởng rằng sau khi thân xác này tàn hoại chúng ta mới đi, nhưng kỳ thực bây giờ chúng ta đang đi, chúng ta đang trở thành một cái khác.

Hãy tưởng tượng Trịnh Công Sơn lúc 5 tuổi và Trịnh Công Sơn lúc 25 tuổi, hai người rất khác nhau, và khi Trịnh Công Sơn 45 tuổi thì lại khác nữa. Chúng ta chuyển biến, sinh diệt trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Đứng về phương diện năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức) ta so sánh ta trước khi vào đây và ta bây giờ là đã có sự khác nhau rồi. Bao nhiêu sinh diệt, bao nhiêu biến chuyển đã đi qua trong chúng ta và chúng ta luôn luôn được tiếp nối. Nước mưa tiếp nối đám mây, sương mù cũng tiếp nối đám mây. Khi chúng ta nâng một tách trà lên để uống, nếu có chánh niệm, có tuệ giác của Bụt, thì chúng ta thấy rằng mây đang nằm đây trong ly trà này. Thay vì đang uống nước chúng ta đang uống mây. Đây là một sự thật rất khoa học. Nó không phải chỉ là thi ca mà thôi.

 

 

Tôi đang uống mây và đám mây chiều nay có thể trở thành một bài thơ, hay ngày mai mây trở thành bài pháp thoại. Mây biến hóa vô cùng. Cho nên ta phải có khả năng nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn dưới những hình thái biểu hiện khác của Trịnh Công Sơn. Thế nên ta không thể nói Trịnh Công Sơn chết được. Vì sự thực không có cái gì chết đi cũng không có cái gì sanh ra. Chết nghĩa là từ có trở thành không, Trịnh Công Sơn không phải từ có trở thành không. Đã không có từ không mà trở thành có thì cũng không thể nào từ có mà trở thành không được. Nếu quý vị vừa mới mất một người thân mà quý vị tưởng người thân đó không còn nữa là quý vị lầm. Người thân đó bây giờ đang biểu hiện dưới một hình thức khác. Nhìn cho kỹ ta sẽ thấy được người thân của mình và ta nói: “Chào em, chị rất hạnh phúc nhận ra em dưới một hình thức mới”. Đó là diệu dụng của thiền quán.

Trong những năm 80, 90 nếu Trịnh Công Sơn có được tuệ giác đó thì Trịnh Công Sơn sẽ không bị ám ảnh bởi cái chết, vì Trịnh Công Sơn biết rõ mình không bao giờ chết cả. Trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, mình đã hiến tặng những lời nói, những lời ca, những tư duy và những hành động của mình cho đời và đó là sự tiếp nối của mình. Đó gọi là ba nghiệp. Ba nghiệp là thân, khẩu, ý. Cũng như cây đèn cầy, khi được thắp sáng lên thì trong mỗi giây phút nó đều hiến tặng ánh sáng, sức nóng và hương thơm. Con người cũng vậy, trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày, chúng ta đã hiến tặng tư duy, lời nói và hành động của ta. Nếu tư duy của ta đầy tham, sân, si thì những hiến tặng của ta sẽ không có giá trị, chúng sẽ làm hư xấu cuộc đời, như thế chúng ta sẽ không có sự tiếp nối đẹp đẽ. Còn nếu tư duy của ta có lòng thương yêu, có lòng nhân ái, có tha thứ, bao dung thì sự tiếp nối của ta sẽ đẹp đẽ.

Trịnh Công Sơn đã hiến tặng tư duy của mình qua nhiều hình thái khác nhau. Hình thái mà ta dễ thấy nhất là những ca khúc của ông. Trịnh Công Sơn đã cống hiến những ngôn từ, hành động, cử chỉ biết thương yêu, chăm sóc, biết tha thứ, bao dung. Có lần ngồi chơi với Hoàng Phủ Ngọc Tường trong một quán cà phê ở Huế, cô bé bán quán bưng tới cho Trịnh Công Sơn một ly cà phê, nhưng vô tình, bé làm đổ hết ly cà phê vào chiếc áo vest của Trịnh Công Sơn, bé sợ xanh mặt, bà chủ tới la bé rất dữ dội. Cô bé sợ quá co rúm người lại. Rất tội nghiệp! Trịnh Công Sơn thấy vậy thương quá, liền nói: “Không phải nó làm đổ đâu, chính tôi làm đổ đó”. Và Trịnh Công Sơn móc túi lấy tiền ra trả cho ly cà phê ấy để cho bà chủ đừng la bé. Sau khi trả tiền Trịnh Công Sơn đứng dậy, nháy mắt cô bé đó rồi ra đi. Đó là một hành động biểu dương lòng tốt của tình thương trong Trịnh Công Sơn. Những cái đó không bao giờ mất đi cả. Đó là nghiệp. Chúng ta đừng hiểu nghiệp là xấu. Nghiệp có thể xấu mà cũng có thể là tốt. Nghiệp xấu gọi là ác nghiệp, nghiệp tốt gọi là thiện nghiệp.

Trịnh Công Sơn đã làm ra những thiện nghiệp và những thiện nghiệp ấy đang tiếp tục đi về tương lai. Chúng ta có thể nhận diện sự có mặt của Trịnh Công Sơn qua những thiện nghiệp mà Trịnh Công Sơn đã tạo tác ra qua những tư duy, lời nói và hành động của ông. Trịnh Công Sơn chưa bao giờ giết người. Trịnh Công Sơn không kỳ thị, Trịnh Công Sơn có can đảm dám nói ra sự thật, yêu nước, yêu dân. Ba mẹ Trịnh Công Sơn phải hãnh diện về điều đó.

Quý vị đã nghe và đã thấy Trịnh Công Sơn có mặt trong mình và bây giờ tôi muốn chia sẻ để quý vị thấy mình cũng có mặt trong Trịnh Công Sơn. Có một lần Trịnh Công Sơn được nhà báo hỏi: “Anh có bao giờ hình dung ra thân xác và tâm hồn mình lúc ở bờ bên kia chưa?”– “Chưa! Đó là tại do lười biếng mà ra.” Do không chịu quán chiếu. Mình có tự do, có thiền đường mà không chịu tham khảo đề tài sống chết, để rồi mai mốt khi nằm trên giường không biết mình đi về đâu. Trịnh Công Sơn công nhận mình làm biếng, không chịu giành thời gian để quán chiếu sâu sắc về vấn đề sinh tử. Các cô, các chú có thấy mình có trong Trịnh Công Sơn không?

Trịnh Công Sơn nói: “… Vì do lười biếng mà ra cả, mình không bao giờ chuẩn bị trước cho mình cái gì hết cho những ngày sắp tới, như thể là khi muốn về Huế là cứ bỏ đồ đạc vào vali mà đi thôi”. Ra Huế thiếu gì thì tính sau. Điều đó rất con người. Và ta thấy sự lười biếng đó nằm trong tất cả chúng ta. Chúng ta giải đãi, làm biếng, như thể là mình sẽ sống cả ngàn năm và mình có cả ngàn năm để thiền quán, nhưng kỳ thực chúng ta không biết mình sống được bao lâu. Vì vậy chúng ta phải tinh tiến và phải làm thay cho Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn chưa làm được thì mình phải làm cho Trịnh Công Sơn. Thầy cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn, các thầy, các sư cô cũng đang làm cho Trịnh Công Sơn. Quý vị cũng phải làm cho Trịnh Công Sơn. Chúng ta phải đưa Trịnh Công Sơn đi tới. Bởi vì Trịnh Công Sơn không phải là Trịnh Công Sơn. Trịnh Công Sơn là quý vị. Khi người ta hỏi Trịnh Công Sơn: “Không biết có cõi nào mà sau khi chết mình đi về hay không?” Thì Trịnh Công Sơn trả lời:

“Nếu có một sự tiếp nối ở một cõi khác, một thế giới khác thì chắc là vui lắm. Và tôi nghĩ nếu thực sự có một cõi khác với cõi đời này thì tôi hy vọng chúng ta sẽ được rong chơi mãi mãi”.

Rong chơi là từ của Trịnh Công Sơn. Mình ở trên cuộc đời này là để rong chơi, và nếu hết cuộc đời này có một cõi khác, mình cũng sẽ tiếp tục rong chơi. Đó là hy vọng. Cõi đó gọi là thiên quốc hay thiên đường. Nhưng nếu Trịnh Công Sơn nhưng nếu biết quán chiếu sâu hơn thì sẽ thấy được rằng thân xác này chẳng qua là sự chấm dứt của một giai đoạn biểu hiện và mình sẽ được biểu hiện lại dưới một hình thức khác trong giai đoạn kế tiếp. Đám mây khi không còn là hình thức của đám mây nữa thì nó tiếp tục làm con suối hay làm tảng băng. Làm mây bay trên trời cũng vui mà làm mưa rơi xuống ruộng đồng cũng vui. Tại sao phải sợ?

 

 

Trịnh Công Sơn có thể rong chơi mãi mãi trên thế gian nầy mà không cần phải giả định có một thế giới khác hay có một cõi nào khác nữa. Không có cái gì tự nhiên mà có, cũng không có cái gì từ có trở thành không. Trịnh Công Sơn là một thực tại. Trịnh Công Sơn là mãi mãi. Trịnh Công Sơn tha hồ rong chơi, nếu không dưới hình thức của một người Huế, thì dưới hình thức của người Thụy Sĩ. Làm người Huế cũng vui mà làm người Thụy Sĩ cũng vui. Làm một bông hoa thủy tiên cũng hay, làm một bông sen cũng hay. Hình thức nào của sự sống cũng đẹp cả.

Khi Trịnh Công Sơn thấy được điều đó thì Trịnh Công Sơn sẽ thấy được tự tánh của mình là vô sinh bất diệt, mình có thể rong chơi mãi mãi hoài hoài. Mong rằng các thầy, các sư cô, các sư chú, các đạo hữu nắm được chân lý này và thấy được tự tánh vô sinh bất diệt của mình. Cho nên đối với tôi, Trịnh Công Sơn chưa bao giờ chết. Nếu thắp một nén hương cho Trịnh Công Sơn thì chúng ta không nên thắp bằng sự tiếc thương mà thắp bằng ý thức là Trịnh Công Sơn đang còn đó với mình và mình có thể mang Trịnh Công Sơn đi về tương lai, để Trịnh Công Sơn có thể tiếp tục sứ mạng của mình, sứ mạng chuyên chở thông điệp thương yêu. Chúng ta hãy cùng hát với nhau bài “Nối vòng tay lớn” để tưới tẩm hạt giống của tình huynh đệ, của hy vọng và của tình thương yêu trong ta.

Hội hoa mai mùa xuân 2020

“Nhìn vào hành tinh Đất Mẹ ta thấy được cả vũ trụ. Khi bước chân trên trái đất ta thấy Đất Mẹ đang có mặt trong mình. Mình và Đất Mẹ không phải là hai thực tại tách rời… Mẹ là một nơi nương tựa vô cùng vững chãi cho tất cả chúng ta. Mỗi khi ta lao đao, lận đận, đánh mất mình trong quên lãng, buồn tủi, hận thù, cô đơn và tuyệt vọng, ta có thể trở về tiếp xúc, nương tựa nơi Đất Mẹ để lấy lại sự bình an, phục hồi niềm vui sống và đức tự tin trong ta. Đất Mẹ luôn bảo hộ, nâng đỡ và đón ta trở về. Nếu ta ý thức được điều đó và để cho Đất Mẹ cùng những mầu nhiệm của sự sống nuôi dưỡng và trị liệu thì ta mới có thể giúp ích được cho những người chung quanh mình.” – (Sư Ông Làng Mai)

Kính mời đại chúng cùng trở về với hơi thở ý thức và tiếp xúc với những mầu nhiệm của Đất Mẹ đang có mặt trong mình và trong cả muôn loài.

 

Nở ra rồi một đoá từ bi

(Sư chú Aggapanno xuất gia năm 2015 tại Indonesia và đang nương tựa đại chúng chùa Pháp Vân, xóm Thượng, Làng Mai để tu học từ năm 2017 đến nay. Bài viết được BBT chuyển ngữ từ tiếng Anh)

 

Hạt giống giận

Con ra đời tại Indonesia, mười bảy năm sau khi Tướng Suharto chiếm chính quyền trong một cuộc đảo chính vào năm 1965. Thế hệ những người gốc Hoa ở Indonesia, lớn lên trong giai đoạn từ 1965 đến 1998, phải mang trong mình rất nhiều khổ đau do hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ. Đối với con, sinh ra và lớn lên trong một gia đình nghèo khó người Indonesia gốc Hoa vào giai đoạn đó không phải là một điều dễ dàng. Nhiều người Indonesia bản địa vẫn luôn nghĩ là người Hoa ai cũng giàu có, vì vậy họ không có cảm tình và rất ganh tị. Người Hoa bị đàn áp nặng nề, và cộng đồng người Hoa phải đối diện với nạn diệt chủng trong hơn ba mươi năm trên đất Indonesia. Ở trường tiểu học, con đã bị bạn bè và thầy cô giáo kỳ thị, hiếp đáp, bởi vì gia đình con nghèo trong khi gia đình các bạn thì giàu có.

Hạt giống giận bắt đầu lớn lên trong lòng con. Con không thể hiểu được tại sao mình lại sinh ra là một người Hoa nghèo mà không phải là một người địa phương như những người hàng xóm, hoặc một người Hoa giàu có như các bạn cùng lớp. Nỗi hiềm hận trong lòng con càng lớn thêm khi ba con gặp rắc rối với những người Indonesia bản địa.

Con đã lớn lên như thế với hạt giống tức giận và hiềm hận. Vào năm học cuối cùng của con ở cấp hai, một cuộc khủng hoảng chính trị đã diễn ra ở Indonesia. Nhiều người bản địa đã tấn công vào khu vực của người Hoa. Ám sát, cướp bóc và xâm phạm tình dục đã diễn ra. Họ đã hành hạ, giết chết hầu như bất cứ người Hoa nào họ gặp và cưỡng hiếp phụ nữ. Hầu hết các nạn nhân là người Hoa nghèo hoặc trung lưu. Những người Hoa giàu có đã kịp chạy ra nước ngoài để lánh nạn.

Cuộc khủng hoảng chấm dứt với sự sụp đổ của chính quyền Suharto. Sau mấy thập niên bị chế độ độc tài khống chế, hệ thống thông tin cuối cùng đã được thông thoáng. Thời gian này con đang học cấp ba. Trong trường học, các thầy cô giáo luôn khuyến khích học sinh tư duy phản biện và sáng tạo. Học sinh được dạy cách tranh luận và chủ động tìm kiếm những thông tin có giá trị chứ không chỉ theo những gì người khác nói. Chúng con đã được học về cách thức tướng Suharto sử dụng để chia rẽ người Indonesia bản địa và cộng đồng người Hoa. Ông ta đã bắt tay với những doanh nhân người Hoa giàu có, nhưng cùng lúc ấy lại cấm người Hoa không được học tiếng Hoa, cấm văn hóa và tín ngưỡng của người Hoa.

 

 

Con đã lớn lên với một ngọn lửa uất ức và hận thù trong tim. Nhận ra mình đã lớn lên một cách không lành, con bắt đầu tìm kiếm một con đường thoát. Con đã thực tập trong rất nhiều truyền thống tâm linh và bắt đầu thiền tập. Có vẻ như sự cố gắng của con mang lại kết quả tốt vì con đã bình tĩnh lại từ khi bắt đầu thiền tập. Nhưng ngọn lửa kia vẫn còn đó. Thiền tập chỉ là một cơ chế giúp con trốn chạy sự giận dữ của mình. Bất cứ khi nào cơn giận đi lên là con thiền tập để lắng dịu lại. Khi tác dụng của thiền yếu đi, con lại tức giận như cũ. Bao giờ đọc tin tức về những áp bức, bất công, cơn giận của con lại bùng lên. Thiền tập chỉ là một lớp điểm trang con phủ lên khuôn mặt giận dữ của mình để người khác chỉ có thể thấy con là một con người đẹp đẽ. Nhưng khi lớp điểm trang đó phai đi, con người đẹp đẽ ấy trở thành một con quái vật.

Với lòng tức giận đó, con kết bạn với nhiều người từ các nhóm bị gạt ra bên lề xã hội, như nhóm đồng tính, nhóm thân Cộng, nhóm Sa man giáo, nhóm vô thần, nhóm theo thuyết bất khả tri, và thành viên của các tôn giáo bị chính phủ coi là dị giáo. Rất nhiều người trong số đó đã bị đàn áp rất tàn bạo. Họ bị mất việc, mất cơ hội được đến trường, thậm chí gia đình họ có người còn bị mất cả mạng sống. Khi nghe họ kể lại, nước mắt của con đã trở thành nhiên liệu tưới vào ngọn lửa tức giận vốn có sẵn trong con.

Thật lòng con cảm thấy mệt mỏi vì sự tức giận của mình. Con muốn nghỉ ngơi. Nhưng mặt khác, con lại thấy lòng ray rứt vì không thể làm gì để giảm thiểu khổ đau của những người xung quanh. Trong thời gian ấy, con đã tìm được một việc làm tốt, nhưng con không thấy thỏa mãn chút nào. Sau một thời gian dài chiêm nghiệm, con bỏ việc và quyết định xuất gia như một thầy tu đạo Bụt. Lúc ấy con không biết nhiều về đời sống xuất gia. Điều duy nhất mà con biết là giáo lý đạo Bụt nói đến việc mang lại hạnh phúc cho tất cả chúng sanh và giúp họ thoát khỏi khổ đau. Con cũng được gây cảm hứng bởi hình ảnh của một số vị thầy lớn trong đạo Bụt, đặc biệt là Thầy và Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14. Cuộc đời quý Ngài cũng đã trải qua bất công và đàn áp, nhưng quý Ngài vẫn trung kiên với con đường của tình thương và từ bi.

Tách trà cho một sự mở đầu mới mẻ

Tiếng chuông mời con trở lại với ngôi nhà đích thực của mình, bây giờ và ở đây. Thời thiền tọa tối vừa chấm dứt. Trong suốt thời thiền tọa con đã quán chiếu về sự thực tập Sám pháp địa xúc. Thực tập này giúp con thực sự nhìn sâu vào gốc rễ khổ đau của mình – một người Indonesia gốc Hoa nghèo đang bị đốt cháy bởi hận thù. Con thấy cơn giận trào lên mỗi khi con phải lạy xuống trước tổ tiên đất đai, những người đã làm tổn thương con, rõ ràng đó là ông Suharto, bạn bè cùng lớp và thầy cô giáo. Nhưng khi đang thiền lạy với đại chúng, con không thể đứng đó trong khi tất cả mọi người đều đang lạy xuống. Thầy giáo thọ giải thích cho con rằng lạy xuống trước một người nghĩa là mình cảm ơn người đó về tất cả những điều tốt đẹp mà người đó đã trao truyền cho mình, chấp nhận tất cả những điều không hay mà họ đã làm, những khiếm khuyết và tập khí chưa đẹp của họ cũng như của chính tự thân mình. Chấp nhận họ vì chúng ta tương tức với họ. Chúng ta phát nguyện sẽ thực tập để chuyển hóa năng lượng của các tập khí không đẹp mà họ đã trao truyền cho chúng ta. Lúc ấy, trí năng của con chấp nhận lời giải thích này nhưng lòng con thì vẫn chưa thông.

Một hôm con và một sư anh cùng uống trà với nhau. Sư anh pha trà thật chánh niệm. Con đón nhận với tất cả lòng biết ơn. Hai anh em cùng thưởng thức trà trong giây phút hiện tại, có mặt cho nhau với ly trà trong hai tay.

“Sư anh, em có thể hỏi sư anh một điều không?”, con hỏi. Sư anh gật đầu, cười. Con hỏi: “Trong thời gian Bát Nhã xảy ra chuyện, sư anh đang ở đâu?”.

“Sư anh đang ở đó.” Sư anh bắt đầu kể lại cho con nghe về biến cố ấy.

Trong thời gian xảy ra biến cố ở Bát Nhã, sư anh con vẫn còn ở tuổi thiếu niên (teen). Một nhóm người đã tấn công vào tu viện trong khi quý thầy và quý sư cô đang tụng kinh. Họ phá cổng và đã hành xử rất bạo động với quý thầy, quý sư cô. Sư anh con là một trong những người đã bị đánh, dù khi ấy sư anh vẫn còn là một chú sa di nhỏ tuổi. Vì biến cố ấy mà sau đó sư anh phải rời bỏ quê hương Việt Nam để nương náu ở Thái Lan. Sư anh chia sẻ với con về nỗi nhớ quê hương. Nghe sư anh kể chuyện, con đã khóc. Con không hiểu tại sao sư anh vẫn có thể nhớ thương mảnh đất nơi mà sư anh đã bị đối xử một cách bạo động và tàn bạo như vậy.

“Bởi vì sư anh yêu quê hương”, đó là câu trả lời duy nhất của sư anh. Chúng con tiếp tục thưởng thức một ly trà nữa. Con vẫn còn nhiều câu hỏi trong đầu nhưng con không dám hỏi thêm. Con không muốn tạo ra một vết thương khác cho sư anh bằng cách đi sâu vào chi tiết về những gì đau lòng nhất mà sư anh đã phải đi qua trong thời đó. Mặt khác, con rất ấn tượng khi sư anh vẫn giữ vẹn tình yêu và lòng từ bi đối với quê hương và đồng bào mình. Con chưa bao giờ được học về một tình thương và lòng từ bi như thế. Con đã tiếp nhận một nền giáo dục trong trường Cơ Đốc giáo, và Kinh Thánh dạy rằng khi người ta tát mình vào má trái, mình phải chìa má phải ra cho họ, nhưng ba mẹ con luôn nói rằng giáo lý ấy chỉ áp dụng cho những bậc thánh nhân chứ không phải cho những người phàm như mình.

 

 

Trong màn đêm tĩnh mịch, con nhắm mắt lại để mang ý thức trở về với hiện tại. Con có thể nghe em bé bị tổn thương trong mình đang gào khóc. Thở vào, con tiếp cận với em bé đang tổn thương đó. Thở ra, con ôm lấy em bé. Nước mắt của em chảy như một dòng sông. Nước mắt của em chính là nước mắt của con. Em chính là em bé tổn thương trong con. Em đã bị bạn cùng lớp, bị thầy cô ruồng rẫy. Em là một người Hoa nghèo bị hàng xóm láng giềng chối bỏ. Em cũng là một phần của con nhưng lại bị con chối bỏ. Con không muốn giống như em. Con luôn hình dung mình được sinh ra là một người bản địa không bao giờ bị chính quê hương của mình đẩy ra bên lề xã hội. Hoặc sinh ra là một người Hoa giàu có, lúc nào cũng có thể dùng tiền để giải quyết vấn đề. Con đã thật sự ruồng rẫy em bé đó. Giờ đây, con ôm và xin lỗi em.

Con mở mắt ra, đứng dậy và bước qua thư viện. Con thấy bước chân của mình an nhiên hơn sau khi đã xin lỗi em bé tổn thương trong lòng. Em bé ấy đang mỉm cười với con, và bước cùng con sang thư viện. Nụ cười của em cũng chính là nụ cười của con. Bật đèn lên, con đưa tay lấy ngẫu nhiên một quyển sách của Thầy và mở ra. Thật kỳ lạ, trước mắt con là bài thơ “Hãy gọi đúng tên tôi”.

Tôi là con phù du thoát hình trên mặt nước

Và là con chim sơn ca mùa xuân về trên sông đón bắt phù du

Tôi là con ếch bơi trong hồ thu

Và cũng là con rắn nước trườn đi tìm cách nuôi thân bằng thân ếch nhái

Tôi là em bé nghèo Ouganda, bao nhiêu xương sườn đều lộ ra, hai bàn chân bằng hai ống sậy

Tôi cũng là người chế tạo bom đạn

Để cung cấp kịp thời cho các dân tộc Á Phi.

Tôi là em bé mười hai bị làm nhục nhảy xuống biển sâu

Tôi cũng là người hải tặc sinh ra với một trái tim chưa biết nhìn biết cảm

Tôi là người đảng viên cao cấp, cầm quyền sinh sát trong tay

Và cũng là kẻ bị coi là có nợ máu nhân dân đang chết dần mòn trong trại tập trung cải tạo

Nỗi vui của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối

Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi

Cho tôi được nghe một lần tất cả những tiếng tôi khóc tôi cười

Cho tôi thấy được nỗi đau và niềm vui là một

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi

Cho tôi giật mình tỉnh thức

Và để cho cánh cửa lòng tôi để ngỏ

Cánh cửa xót thương.

(Hãy gọi đúng tên tôi – thơ  Sư Ông Làng Mai)

Nước mắt con lại chảy như một dòng sông, nhưng giờ đây nỗi hiềm hận trong tim con đã bắt đầu được yên ngủ trong tàng thức và đóa hoa từ bi đang dần hé nở. Con nhận ra rằng cảm thọ của mình khi lắng nghe những câu chuyện về áp bức bất công không phải do lòng từ bi thật sự, mà là sự thương hại dành cho bản thân khi nhìn thấy phần nào hình ảnh của chính mình trong hoàn cảnh bị áp bức bất công ấy.

 

 

Đó là lý do tại sao con đã không thấy được phần khác của mình trong vai người áp bức. Con đã không thấy được rằng rất nhiều lần con đã góp phần tạo ra sự áp bức qua suy nghĩ, lời nói và hành động của mình. Con cũng không thấy được rằng khi những kẻ ấy áp bức người khác, thực ra họ cũng muốn cố gắng đi ra khỏi những khó khăn của chính họ, nhưng lại bằng những cách thức rất sai lầm. Trong quá khứ, con đã không có đủ hiểu biết, vì vậy con luôn đổ lỗi cho họ.

Một lần nữa, con nhắm mắt lại, mang ý thức trở về với hơi thở và giây phút hiện tại. Con thấy các bạn cùng lớp, các thầy giáo, cô giáo trong hình thức của những đứa trẻ bị tổn thương. Con cũng thấy ông Suharto là một đứa trẻ bị thương. Con thấy rất rõ những khổ đau của họ. Tất cả các em bé đều đang khóc nức nở. Nước mắt của các em chảy như một dòng sông. Nước mắt đó cũng chính là nước mắt của con. Con đến gần và ôm từng em bé vào lòng, xin lỗi vì trước đây con chỉ biết đổ lỗi cho các em. Cuối cùng, con thấy những nụ cười hiện lên trên môi các em như những hoa sen đang nở. Nụ cười của các em cũng là nụ cười của chính con.

Từ khoảnh khắc ấy, con có thể thấy mình rõ ràng hơn. Khi con quyết định trở thành một người xuất gia, con chỉ có một mục tiêu duy nhất, đó là phụng sự và giúp mọi người, mọi loài chuyển hóa khổ đau. Rồi con nhận ra rằng muốn phụng sự và giúp người khác, trước tiên con phải chuyển hóa khổ đau của chính mình. Con nguyện sẽ cố gắng để chăm sóc em bé bị thương trong mình. Con cũng nguyện nhìn sâu và lắng nghe sâu, cả những kẻ áp bức và bị áp bức, bởi vì thật sâu bên trong mỗi người, ai cũng có một em bé bị thương cần được chăm sóc và chữa lành.

Cầu mong Bụt Tổ chứng minh và yểm trợ để con đời đời hoàn thành ước nguyện.

Khi năm uẩn không hoà hợp

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai tại Xóm Hạ, Làng Mai ngày 02 tháng 10 năm 1994) 

 

Khi một người có “chiến tranh” với cha mẹ, anh em, vợ con trong gia đình hay với bạn bè ngoài xã hội, thì chính người đó đang có sự rối loạn bất ổn trong nội thân. Những lúc đó tâm họ không an lạc, nói một cách khác, năm uẩn của người đó không có sự phối hợp điều hòa, chúng đang chống đối nhau.

Thường thường khi có “chiến tranh” ở bên trong là chúng ta hay “khai chiến” với bên ngoài. Thành ra những người hay “khai chiến” với bên ngoài là chắc chắn họ đang có nội chiến trong thân tâm của họ. Những lúc như vậy, nếu biết nắm lấy hơi thở và thở theo chánh pháp, tức là ta biết dùng chánh niệm để soi chiếu nội tâm, thì tự nhiên năm uẩn sẽ trở lại hòa điệu với nhau, và nhờ vậy mà ta có được an lạc, ta thôi gây chiến.

Trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt dạy “Tôi đang thở vào và làm cho thân thể tôi trở nên an tịnh”, tức là ta có thể dùng hơi thở có chánh niệm để tạo ảnh hưởng tốt trên sắc và thọ của mình. Trong khi thực tập nắm lấy hơi thở ta điều hợp năm uẩn để cho chúng êm dịu lại và tự nhiên sự an lạc sẽ tới và nhờ vậy mà mình không còn khai chiến với người khác nữa.

Năm uẩn ở đây không có nghĩa là cái thế giới bên trong. Khi nói năm uẩn là năm uẩn của anh là không đúng, tại vì đứng về phương diện thân tức là sắc, cũng như đứng về phương diện thọ, tưởng, hành và thức thì thân thể của tôi được làm bằng những chất liệu không phải là tôi. Thức ăn tôi ăn, không khí tôi thở, nước tôi uống, tất cả những cái đó là từ anh, từ chị, từ những người khác, từ những hiện tượng khác trong vũ trụ. Cho nên khi ta nói cái sắc này là của tôi là không đúng. Thọ cũng vậy, thọ tức là cảm giác, mà cảm giác luôn luôn là cảm giác giác về cái gì, cảm giác về những cái ở trong thân và cảm giác về những cái ngoài thân. Còn tưởng tức là tri giác, cũng vậy. Tri giác là tri giác về cái gì. Ví dụ tôi có tri giác về anh thì chủ thể của tri giác với đối tượng của tri giác là một. Anh là đối tượng của tri giác của tôi, thành ra nói anh ở ngoài tôi là không đúng. Những tâm hành khác như giận cũng vậy. Giận thì giận ai, hay thương là thương ai. Thành ra đối tượng của những tâm hành này là tất cả những cái ở bên ngoài. Vì vậy nên nói năm uẩn là những cái ở bên trong tôi là không đúng. Khi chưa tu học thì ta tưởng như vậy, nhưng nhờ quán chiếu, nhờ nhìn kỹ ta thấy năm uẩn thật ra không phải là của ta. Chúng nó dính chùm, liên kết với nhau. Năm uẩn của anh và năm uẩn của tôi nó dính líu tới cái mức mà ta không thể nào tách rời ra được.

 

 

Khi một tăng thân không có sự hòa hợp thì mọi người không có hạnh phúc. Khi năm uẩn của ta không có hòa hợp thì chúng có chiến tranh, và ta không có hạnh phúc. Hơi thở chánh niệm làm lắng dịu, và đem lại sự hòa điệu bên trong, vì vậy cho nên hơi thở chánh niệm là sự thực tập rất quan trọng. Sơ khởi, chánh niệm làm dịu tâm tư ta lại, gọi là an tịnh tâm hành. Tâm hành an tịnh rồi, nếu tiếp tục thì chánh niệm càng soi sáng, ta thấy cái này sai, cái kia không đúng. Điều chỉnh lại một lúc tự nhiên có sự hòa điệu ở trong năm uẩn của ta. Cũng như trong căn phòng ta ở, nếu không có thì giờ để sắp xếp, đồ đạc lung tung, thì khi bước vào ta thấy cấn cái, khó chịu. Nhưng nếu có thì giờ, nhìn cho kỹ, ta thấy cái này phải xoay lại một chút, cái kia xếp lại một chút, sắp đặt một hồi tự nhiên căn phòng có không gian, và ta sống được thoải mái. Năm uẩn cũng vậy nếu không có chánh niệm thì ta để sắc, thọ, tưởng, của ta bất an, xáo trộn, và vì vậy mà ta khó chịu, bứt rứt ở bên trong. Mà khó chịu ở bên trong thì ta khai chiến với bên ngoài! Cho nên thắp ngọn đèn chánh niệm lên, nhìn cho kỹ, sắp đặt lại bằng hơi thở chánh niệm là tạo ra sự an lạc và hòa điệu bên trong thì tự nhiên mình có hạnh phúc với cả bên trong lẫn bên ngoài. Vì vậy mà năm uẩn đích thực là tăng thân của ta. Khi dùng hơi thở chánh niệm và phối hợp một cách tinh cần, thì ta tạo ra sự an lạc. Từ đó những lo sợ, những giận hờn, những thất vọng của ta sẽ được chuyển hóa. Sau đó ta thực tập tiếp bài Quán niệm hơi thở:   

Thở vào, thở ra

Là hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang

Thở vào biết thở vào, thở ra biết thở ra. Thở vào tôi thấy là hoa, thở ra tôi thấy tôi tươi mát, thở vào tôi thấy tôi là núi, thở ra tôi thấy tôi vững vàng, thở vào tôi thấy tôi là nước tĩnh …

Lúc đó những cảm xúc, những giận hờn, những lo lắng của ta sẽ lắng xuống, và tâm ta an lạc như mặt nước tĩnh, và nhờ vậy nó mới phản chiếu được sự thật. Nước tĩnh lặng chiếu là vậy. Nếu tâm mình còn ghét, còn giận thì cái hình ảnh về người anh, người em hay người chị của mình nó méo mó một cách rất là buồn cười. Khi tâm tĩnh lặng thì tri giác ta sẽ đúng lại từ từ, nếu không thì chỉ là vọng tưởng và là tri giác sai lầm mà thôi. Tri giác sai lầm sẽ làm cho mình khổ và làm cho người khác khổ theo.

Câu cuối của bài thực tập “Không gian thênh thang” nghĩa là lúc đó ở trong tâm ta có không gian và ta thấy khỏe, không còn chật chội nữa! Lúc có những tri giác sai lầm, có những giận hờn buồn phiền thì trái tim ta co lại nhỏ xíu, không có chỗ để cho người sư anh, sư em ngồi trong đó. Khi tâm tĩnh xuống thì ta bắt đầu thấy được rõ hơn, tim ta mở rộng hơn ra, vì vậy mà có không gian bên trong và chấp nhận được người kia.

 

 

Những lúc mà ta do dự, sợ hãi, không được vững chãi, là những lúc ta cần tới những bài thực tập này hơn lúc nào hết. Những lúc không do dự, không sợ hãi, không lung lay mà thực tập bài này thì nó hạnh phúc nhiều hơn lên. Đừng đợi tới khi có do dự, sợ hãi, lung lay rồi mới thực tập. Chúng ta hãy thực tập hàng ngày cho thuần thục, để lúc sắp có “chiến tranh” ta chỉ cần vài hơi thở là có thể tạo được hòa bình.

 

Bao dung lòng biển

Chân Trăng Mai Thôn

 

 

Bụt trong ta nói
Hạt muối ơi, nếu muốn biết biển mặn dường nào
Con phải nhảy vào, hòa tan trong lòng biển
Hôm nay mình gặp nhau
Tôi tự hỏi
Có phải là một sự ngẫu nhiên?
Bạn hiền ơi
Ngay khi mình ngồi đây, trong vòng tròn lượng từ vừa thiết lập                                         Nỗi đau của bạn, tôi cảm được
Nỗi đau của tôi, bạn nếm
Không có nỗi đau nào hơn,
hay kém
Tất cả đều là nỗi đau.
Vậy đó
Bạn ơi,
Xin đừng sợ
Khi bạn sa nước mắt
Cũng xin đừng lo
Khi bạn thấy nước mắt tôi rơi
Bởi vì
Nó giúp tôi nhảy vào lòng và hòa tan với biển
Bởi vì
Nó làm mềm và giàu thêm đất bùn
Trong hồ chứa đau thương của bạn và tôi
Hơi thở là ánh mặt trời
Tình thương
Là nước mát
Hiểu biết
Là không gian và thời gian
Để hoa sen của chúng mình
Từ bùn lầy
Vươn lên
Tỏa ngát hương thơm
Tri kỷ.

Mũi tên thứ hai

(Trích pháp thoại của Sư Ông Làng Mai, phần câu hỏi trả lời – tuần thứ 3, khóa tu mùa hè 2013 – phần III)

Câu hỏi:  Kính bạch Thầy, cách đây 2 tháng, con phát hiện ra một khối u trong ngực, nhưng may mắn cho con, diễn biến của nó lành tính và không gây nguy hiểm chết người. Vào lúc đầu, con bị sốc rất nhiều và tự hỏi là : đạo Bụt có thể giúp những người bị bệnh nặng hoặc bệnh nan y như thế nào ?

 

 

Sư Ông Làng Mai: Sự thực tập hơi thở có ý thức, nhất là khi chúng ta thở sâu, có thể giúp cho phổi của chúng ta khỏe mạnh hơn. Và khi phổi của chúng ta khỏe mạnh hơn, chúng ta có thể đề kháng được những bệnh viêm nhiễm hay những điều tương tự như vậy. Hơi thở chánh niệm không những giúp cho phổi mà còn giúp cho mỗi tế bào trong cơ thể.

Tôi nhớ thời gian Việt Nam bị phân chia thành hai miền Nam, Bắc và mẹ tôi qua đời, khi đó tôi đã bị trầm cảm nặng. Bác sĩ không thể giúp gì được cho tôi, nhưng với hơi thở chánh niệm tôi đã vượt qua được hoàn cảnh đó. Vì vậy sự thực tập hơi thở có ý thức là một sự thực tập rất mầu nhiệm, nó có thể chữa trị rất nhiều chứng bệnh. Trong suốt thời gian bị trầm cảm, tôi đã thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm.

Trong bệnh viện cũng vậy, tôi luôn tìm cách để có thể đi thiền hành mỗi ngày. Bất kỳ lúc nào có thể là tôi đều dành để đi thiền hành và thở. Đặc biệt là khi không khí trong lành và có chất lượng tốt thì việc thực tập hơi thở có thể giúp ích cho cơ thể rất nhiều. Khi chúng ta có một trục trặc nào đó trong thân mà chúng ta không biết làm gì, trong khi bác sĩ lại không nói cho chúng ta biết phải làm gì để xử lý vấn đề mà cơ thể đang gặp phải thì chúng ta phải biết rằng cái mà chúng ta có thể làm ngay lập tức là thực tập hơi thở có ý thức.

Hãy quay về với sự thực tập hơi thở, mỗi hơi thở là một sự trị liệu. Tôi tin chắc như vậy, đó là sự thực tập của tôi. Mỗi hơi thở là nuôi dưỡng. Mỗi hơi thở là trị liệu. Mỗi hơi thở không những có thể giúp cho phổi mà còn cho thận, gan và tất cả các tế bào trong cơ thể. Điều này rất rõ. Trong khi thiền hành, thiền tọa, chúng ta cần thực tập như thế nào để mỗi hơi thở vào là một niềm vui, mỗi bước chân đi là một niềm vui và chúng ta biết rằng mỗi hơi thở, mỗi bước chân đều có thể giúp cho sự trị liệu. Đối với tôi, đây là một điều chắc chắn.

Một điều quan trọng nữa là chúng ta không nên để cho năng lượng lo âu trấn ngự. Nếu chúng ta tưởng tượng quá nhiều và nghĩ rằng mình sẽ chết trong nay mai thì sẽ làm cho tình trạng càng tồi tệ hơn. Vì vậy lo lắng không có ích lợi gì cả. Có nhiều cách để giải quyết sự lo lắng của chúng ta. Bụt đã dạy về “mũi tên thứ hai”. Đây là một giáo lý rất hay. Bụt dạy rằng người bị trúng một mũi tên thì sẽ rất đau và khổ sở, nhưng nếu có một mũi tên thứ hai phóng tới và đâm ngay đúng vào vết thương đó thì nỗi đau khổ sẽ không chỉ tăng lên gấp đôi mà có thể tăng lên đến gấp mười lần. Vì thế chúng ta đừng để mình trúng mũi tên thứ hai.

Mũi tên thứ hai đó chính là sự lo lắng. Nếu chúng ta để cho giận dữ, lo lắng chiếm ngự trong ta thì chúng ta có thể sẽ đau khổ thêm gấp 100 lần. Đó là lý do tại sao chúng ta phải thực tập để những giận dữ, đau buồn, sợ hãi không làm chủ được ta. Những thứ đó chính là mũi tên thứ hai, rất độc hại. Vì vậy bằng hơi thở ý thức, bước chân ý thức, chúng ta sẽ nhìn sâu và nhận diện ra chân tướng của sự vật, sự việc. Đừng thổi phồng sự việc lên, nếu cần chúng ta có thể hỏi ý kiến một bác sĩ, một vị giáo thọ, một nhà tâm lý trị liệu… nhưng đừng bao giờ tưởng tượng và thổi phồng mọi thứ lên quá nhiều. Đó là mũi tên thứ hai.

Như vậy, có hai việc mà mỗi người trong chúng ta đều có thể nắm lấy và thực tập. Đó là trở về theo dõi hơi thở để xử lý những gì không ổn đang xảy ra trong thân tâm ta và đừng để cho mũi tên thứ hai đâm trúng.

Việc thứ ba là quán chiếu về sự sống và cái chết. Dù đang lâm bệnh vào giai đoạn cuối đi nữa, chúng ta đều có thể thực tập để luôn có được niềm vui. Bản chất của chúng ta là vô sinh, bất diệt. Khi nhìn vào một đám mây, chúng ta thấy rằng đám mây không thể nào chết đi. Đám mây có thể biến thành mưa, tuyết, băng hoặc thành sông, thành cây cối chứ không thể trở thành không có gì. Một đám mây có thể biểu hiện dưới hình tướng một cơn mưa, hay một dòng sông…

Chúng ta có thể thay đổi hình thức biểu hiện nhưng chúng ta không thể chết đi. Khi một người đang đối diện với giai đoạn cuối của căn bệnh, nếu người đó được một vị thầy hướng dẫn cách thiền quán như vậy thì người đó sẽ không còn sợ chết nữa bởi vì người đó hiểu rằng mình sẽ được biểu hiện trở lại trong những hình thức khác.

Vì vậy trong đạo Bụt, chúng ta học được rất nhiều cách để xử lý bệnh tình của mình. Và hãy nhớ rằng điều trước tiên chúng ta cần làm là thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm. Niềm vui, sự bình an sẽ giúp ngăn chặn bệnh hoặc mang đến sự an dịu và cho phép sự trị liệu xảy ra nhanh chóng. Điều thứ hai là đừng để mũi tên thứ hai đâm trúng ta.