Bạn chỉ đẹp khi là chính mình

 

Andrea Miller

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là tờ Shambhala Sun – tháng 01 năm 2012)

Sau khóa tu tại Vancouver, Canada, năm 2011 với Thầy hoàn mãn, tôi được hai sư cô hướng dẫn vào một phòng khách nhỏ liền kề với bếp nấu ăn trong một ký túc xá sinh viên của trường đại học British Columbia. Tôi có thể nhìn thấy bầu trời xanh rực rỡ bên ngoài và eo biển Georgia. Còn bên trong thì chỉ toàn một màu nâu: Thầy, trong chiếc áo tràng nâu, đang thưởng thức một loại trà màu nâu trong chiếc ly thủy tinh trong suốt, trong khi đó thì một số vị xuất sĩ mặc áo nâu đang ngồi xúm xít trên một chiếc ghế sofa màu nâu, và cả trên sàn nhà. Sư cô Chân Không giới thiệu tôi với Thầy, rồi Sư cô tươi cười, nói tôi làm mọi người ngạc nhiên. Khi tôi gửi e-mail xin có một cuộc phỏng vấn với Thầy, mọi người không biết Andrea Miller là tên của một người nữ, vì vậy nên ai cũng nghĩ tôi là nam, là một người đã đứng tuổi. Vì vậy sự có mặt của tôi đem lại cho mọi người một sự bất ngờ. Nhưng rốt cuộc, trong cuộc phỏng vấn, chính tôi lại là người bị bất ngờ. Được hỏi về sự sống sau khi chết, về sự an lạc khi thiền tọa, về mối liên hệ giữa có mặt và hành động, Thầy đã cho tôi những câu trả lời thật bất ngờ. Lúc nào cũng tươi mát, đầy tuệ giác. Và sau đây là những gì Thầy đã chia sẻ trong buổi phỏng vấn ấy.

Thật đau lòng khi người thân của mình đang phải đối diện với những khó khăn nghiêm trọng, thí dụ như bị bệnh tâm thần, rối loạn tâm lý vì những tổn thương tinh thần trong quá khứ, hoặc nghiện ngập. Đôi khi ta cảm thấy vấn đề của họ quá lớn, vượt quá khả năng giúp đỡ của ta, vì vậy có lúc ta muốn không dính líu gì tới họ và vấn đề của họ. Lúc khác ta lại cố gắng giúp họ, nhưng lại bị mất sức vì sự vật vã của họ. Làm sao để có thể giúp những người thân của mình trong những hoàn cảnh như thế mà không bị nhấn chìm?

Khi bạn cảm thấy bị nhấn chìm có nghĩa là bạn đã cố gắng quá sức. Năng lượng đó không giúp gì được cho người kia và cũng không giúp gì được cho chính bạn. Đừng nên quá nhiệt tình muốn giúp đỡ ngay lập tức. Có hai điều: (to be) và làm (to do). Đừng nghĩ nhiều quá đến việc phải làm gì. phải đứng hàng đầu. Là bình an. Là niềm vui. Là hạnh phúc. Rồi trên nền tảng đó mới làm ra niềm vui, làm ra hạnh phúc. Vì vậy điều đầu tiên cần làm là tập trung vào sự thực tập để là sự tươi mát. Là bình an. Là sự ân cần. Là rộng lượng. Là từ bi. Đây là thực tập căn bản. Cũng giống như người kia đang ngồi dưới một gốc cây. Cái cây đó không làm gì cả, nhưng nó rất mát mẻ và sống động. Giống như cái cây đó, khi bạn tỏa ra năng lượng của sự tươi mát, bạn sẽ giúp cho khổ đau nơi người kia lắng dịu.

Sự hiện diện của bạn cần phải dễ chịu, điềm tĩnh, và bạn nên có mặt đó cho người kia. Được như vậy là bạn đã hiến tặng rất nhiều rồi. Khi trẻ con thích đến ngồi gần bạn không có nghĩa là bạn có nhiều bánh kẹo để cho chúng mà bởi vì ngồi gần bạn, chúng thấy dễ chịu, thấy khỏe ra. Vì vậy khi ngồi bên cạnh một người đang đau khổ, bạn hãy cố gắng hết sức để là con người tốt nhất của mình – dễ chịu, ân cần và tươi mát.

Khi đang quá giận dữ hoặc quá buồn, nếu con trở về và tập trung vào hơi thở thì chẳng phải đó là một cách để trốn tránh cảm xúc của mình hay sao?

Thường thường chúng ta hay đánh mất mình khi có một cảm xúc mạnh và bị nó nhận chìm. Đó không phải là cách để đối trị với cảm xúc, bởi vì khi đó ta trở thành nạn nhân của cảm xúc. Để tránh tình trạng này, ta cần trở về với hơi thở để lấy lại sự bình tĩnh. Khi ấy ta sẽ chứng nghiệm được rằng cảm xúc chỉ đơn thuần là cảm xúc mà thôi, không có gì hơn. Cái thấy này rất quan trọng, bởi vì nó giúp ta không còn sợ hãi nữa. Ta có thể bình tĩnh và không tìm cách trốn chạy, nhờ đó ta sẽ ứng phó với cảm xúc đó tốt hơn.

Hơi thở của bạn chính là bạn, bạn cần liên minh với hơi thở để được là chính mình, để mạnh hơn. Khi ấy bạn có thể ứng phó tốt hơn với cảm xúc của mình. Bạn không tìm cách quên đi cảm xúc ấy, mà trái lại bạn tìm cách để là chính mình hơn, khi ấy bạn có đủ vững chãi để đương đầu.

Thật là ấm áp khi thấy có nhiều trẻ con trong khóa tu. Tôi rất thoải mái với trẻ con. Chưa bao giờ tôi thấy mình xa cách với thế hệ trẻ. Tôi luôn giữ liên lạc với những bạn trẻ, dù đó là xuất sĩ hay cư sĩ. Đó là một trong những điều làm tôi hạnh phúc.

Đôi khi có những bà mẹ trẻ mang con vào trong thiền đường vì họ không muốn bị mất bài pháp thoại. Sự có mặt của các bé làm mọi người rất hạnh phúc. Trẻ nhỏ đâu biết cái gì đang xảy ra, nhưng chúng cảm được bầu không khí bình an. Năng lượng bình an đó rất hiếm hoi ngoài xã hội. Rất hiếm khi có một ngàn năm trăm người ngồi với nhau và chế tác ra năng lượng của chánh niệm, của bình an như vậy. Nếu bạn cống hiến cho trẻ em chỉ một thoáng bình an và tình thương, dù các bé còn rất nhỏ, chưa biết nói, nhưng các bé không phải là không cảm nhận được. Hãy hình dung một bà mẹ trẻ đang cho con bú trong khóa tu. Bà mẹ đó nghe pháp thoại, tiếp nhận bài pháp thoại đó, và vì vậy em bé sẽ vừa bú sữa mẹ vừa tiếp nhận bài pháp thoại cùng một lúc. Rất là hay. Sau này, khi lớn lên, phải đi qua những trắc trở trong cuộc sống, các em sẽ nhớ lại là mình đã từng có cơ hội tiếp xúc với năng lượng bình an.

Khi một tăng thân đến với nhau để tu tập thì luôn có thể tạo ra loại năng lượng bình an đó. Người trẻ có thể trải nghiệm nó và bắt đầu gieo những hạt giống cho tương lai. Đạo Bụt Dấn Thân đang cố gắng đem năng lượng bình an này đến nhiều nơi, nhiều lĩnh vực của cuộc sống. Tại trường học, bệnh viện, tòa thị chính, quốc hội, ở đâu cũng có thể thực tập hơi thở chánh niệm.

Sống trong hiện tại có trái chống với việc thưởng thức các phương tiện truyền thông không? Chúng ta có thể thưởng thức internet, truyền hình, phim ảnh và sách báo mà vẫn giữ chánh niệm không?

Có rất nhiều sách báo, phim ảnh lành mạnh và bổ ích mà ta có thể thưởng thức. Nhưng nhiều khi có những phim hoặc sách kém chất lượng nhưng ta vẫn xem, vẫn đọc bởi vì nếu không xem những thứ đó nữa thì ta sẽ phải trở về đối diện với những đau khổ đang có mặt trong ta. Đó là cái mà rất nhiều người trong xã hội đang làm. Rất nhiều người không thể đối diện với chính mình. Họ có những nỗi đau, hối tiếc hoặc lo lắng trong lòng, và họ đọc, xem hoặc nghe cái gì đó để khỏa lấp, để trốn chạy chính mình.

Tiêu thụ các phương tiện truyền thông như thế chỉ là chạy trốn và không có hiệu quả lâu dài. Bạn có thể quên đi các khổ đau của mình trong một thời gian, nhưng rồi cuối cùng bạn cũng phải quay trở lại với chính mình. Bụt dạy chúng ta không nên trốn chạy mà phải học cách chăm sóc khổ đau để có thể chuyển hóa chúng.

Thầy sẽ nói gì khi một người thấy ngồi thiền là đau và khó nên họ phải vật lộn trong khi tọa thiền?

Vậy thì đừng ngồi nữa.

Thật vậy sao thưa Thầy?

Đúng vậy. Nếu ngồi thiền mà thấy không dễ chịu thì đừng ngồi nữa. Ta cần phải nắm cho được tinh thần đúng đắn của thiền tọa. Nếu phải cố gắng trong khi ngồi thiền, ta sẽ bị căng thẳng và làm toàn thân đau nhức. Ngồi thiền phải có sự dễ chịu. Khi xem ti vi trong phòng khách, ta có thể ngồi hàng giờ mà không thấy khổ sở tí nào. Vậy mà trong khi ngồi thiền, ta khổ sở. Tại sao? Tại vì ta vật lộn. Ta muốn thành công trong khi ngồi thiền, vì vậy ta tranh đấu. Trong khi xem ti vi, ta không tranh đấu. Ta phải học cách ngồi thiền mà không cần tranh đấu mới được. Nếu ta biết ngồi như thế, ta sẽ thấy rất dễ chịu.

Khi Tổng thống Nelson Mandela đến thăm nước Pháp lần đầu, một nhà báo đã hỏi: “Ngài mong muốn điều gì nhất?”. Tổng thống trả lời là: “Tôi quá bận, cho nên điều mà tôi mong muốn nhất là ngồi yên và không làm gì cả”. Bởi vì được ngồi yên và không làm gì cả là điều rất dễ chịu. Ngồi như thế ta sẽ thấy khỏe khoắn trở lại. Đó là lý do tại sao Bụt diễn tả ngồi như ngồi trên một đóa sen. Khi ngồi ta thấy nhẹ, thấy khỏe, thấy tự do. Nếu ta không cảm thấy như vậy khi ngồi thiền thì việc ngồi thiền của ta trở thành một loại lao tác cực nhọc.

Đôi khi ta không ngủ đủ giấc, hoặc bị cảm lạnh, v.v… có thể buổi ngồi thiền không được dễ chịu như ta mong muốn. Nhưng nếu ta bình thường, không bị gì cả thì ta luôn có thể trải nghiệm sự dễ chịu trong khi ngồi thiền. Vấn đề không phải là ngồi hay không ngồi, mà là ngồi như thế nào. Ngồi như thế nào để ta có an lạc trong khi ngồi, nếu không thì ta chỉ phí thời gian vô ích.

So với những vị thầy khác trong Phật giáo thì Thầy nhấn mạnh nhiều đến sự thưởng thức – thưởng thức hơi thở, ngồi thiền, đi thiền, thưởng thức cuộc sống.

Trong giáo lý của đạo Bụt, nhẹ nhàng (khinh an) và niềm vui (hỷ) là hai trong bảy yếu tố giác ngộ. Trong cuộc sống đã có rất nhiều đau khổ. Tại sao ta phải tạo thêm khổ đau khi thực tập đạo Bụt? Ta thực tập đạo Bụt để bớt khổ, có phải vậy không? Bụt là một người hạnh phúc. Khi Ngài ngồi, Ngài ngồi một cách hạnh phúc, và khi Ngài đi, Ngài cũng đi có hạnh phúc. Tại sao ta lại muốn làm khác với Bụt?

Có thể vì người ta sợ bị nói “Tu tập mà không nghiêm túc gì cả. Toàn cười nói, chơi đùa. Muốn tu tập đàng hoàng thì phải rất nghiêm túc, cứng rắn”. Có thể vì muốn được đàn na tín thí cúng dường nhiều hơn nên có người đã quan niệm như vậy – để người khác có cảm giác là họ tu tập nghiêm túc hơn những người khác. Thí dụ như bạn thực tập ngồi thiền suốt đêm. Bạn không được nghỉ ngơi và bạn nghĩ rằng tu như thế là tu cao, nhưng bạn lại khổ sở cả đêm, và bạn phải uống cà phê để không buồn ngủ. Thật là vô lý. Chất lượng của buổi ngồi thiền mới chính là cái giúp cho bạn chuyển hóa chứ không phải là việc ngồi lâu và chịu đựng trong khi ngồi. Thiền tọa và thiền hành là để cho chúng ta thưởng thức, và cũng để cho chúng ta nhìn sâu và phát triển tuệ giác. Tuệ giác đó sẽ giúp ta giải thoát khỏi khổ đau, giận hờn và tuyệt vọng.

Con thật sự rất thích những buổi đi thiền hành ngoài trời trong khóa tu này.

Thường thường trong truyền thống đạo Bụt, người ta ngồi thiền một lúc, đứng dậy đi kinh hành trong thiền đường, rồi lại tiếp tục ngồi thiền. Ở đây chúng ta không làm như thế. Thay vào đó chúng ta đi thiền ngoài trời. Sự thực tập đó có ích lợi, bởi vì mọi người có thể áp dụng nó vào cuộc sống hàng ngày. Bạn có thể đi bình thường, không quá chậm nên sẽ không ai biết là bạn đang thực tập và người ta sẽ thấy bạn rất bình thường. Và khi về nhà, bạn có thể áp dụng cách đi như vậy khi đi từ chỗ đậu xe đến văn phòng.

Điều căn bản của sự thực tập là làm thế nào để thưởng thức – làm sao để thưởng thức khi đi, khi ngồi, khi ăn, khi tắm. Ta có thể thưởng thức tất cả mọi cái, nhưng xã hội đã được tổ chức theo cách thức làm cho mình không có thời gian để thưởng thức. Làm cái gì cũng phải làm cho thật nhanh.

Theo Thầy thì những yếu tố nào làm nên một người Phật tử?

Một người không mang danh Phật tử, nhưng người đó có thể còn Phật tử hơn là một Phật tử.

Đạo Bụt được làm nên bởi niệm, định và tuệ. Nếu bạn có những phẩm chất này thì bạn chính là một Phật tử. Còn nếu không thì bạn không phải là Phật tử. Khi nhìn vào một người mà ta thấy người đó có niệm, có từ bi, có tuệ giác thì ta biết người ấy là một Phật tử. Nhưng nếu người đó, dù là một người tu, mà lại không có những năng lượng và những phẩm chất này, thì vị ấy chỉ mang hình tướng của một Phật tử mà không có nội dung của một Phật tử.

Chỉ cần tham dự một buổi lễ (truyền Năm giới) là ta có thể trở thành Phật tử?

Không phải vậy. Một buổi lễ không thể làm bạn trở thành Phật tử, mà chính là cam kết thực tập của bạn. Có nhiều Phật tử bị kẹt vào những nghi thức và nghi lễ, nhưng Bụt không thích như vậy. Trong các kinh, nhất là những kinh được Bụt giảng sau khi thành đạo, Ngài có nói là chúng ta không nên kẹt vào nghi thức. Ta không thể giác ngộ hoặc giải thoát chỉ vì chúng ta thi hành các nghi thức. Nhưng vấn đề là người ta đã làm cho đạo Bụt trở nên quá nặng về nghi thức. Như thế là chúng ta không dễ thương với Bụt.

Thầy có tin vào sự tái sinh không?

Tái sinh có nghĩa là một linh hồn đã xuất khỏi thân và nhập vào một thân khác. Quan niệm này rất phổ thông và không đúng với quan niệm về sự tiếp nối trong đạo Bụt. Nếu bạn nghĩ rằng có một linh hồn, một cái ngã đang cư trú trong một thân thể, và linh hồn đó sẽ xuất ra khi thân thể này hoại diệt để nhập vào một hình tướng khác, thì đó không phải là đạo Bụt.

Khi nhìn vào một người, ta sẽ thấy năm uẩn, tức là năm yếu tố làm nên con người chúng ta: thân, thọ, tưởng, hành, và thức. Không có một linh hồn, một cái ngã nào nằm ngoài năm yếu tố này. Vì vậy khi năm yếu tố này tan rã, thì cái nghiệp, tức là những hành động mà ta đã tạo ra trong đời, chính là sự tiếp nối của ta. Những tư tưởng, lời nói, hành động của ta vẫn còn đó dưới dạng năng lượng. Ta không cần phải có một linh hồn, hoặc một cái ngã để có thể tái sinh.

Cũng giống như một đám mây. Ngay cả khi đám mây không có đó, nó vẫn luôn luôn được tiếp nối dưới dạng tuyết hoặc mưa. Đám mây không cần có một linh hồn để tái sinh. Không có nơi bắt đầu cũng không có nơi kết thúc. Ta không cần đợi đến khi thân thể này hoàn toàn tan rã mới có thể tái sinh, ta tái sinh trong mỗi giây mỗi phút.

Giả dụ như tôi trao truyền năng lượng của tôi cho hàng trăm người thì những người này sẽ tiếp nối tôi. Nếu bạn nhìn vào họ, bạn sẽ thấy tôi. Nếu bạn nghĩ tôi chỉ là cái này (Thầy tự chỉ vào mình) thì bạn chưa thấy được tôi. Nhưng nếu bạn thấy tôi qua lời nói, qua hành động thì bạn sẽ thấy những cái đó là sự tiếp nối của tôi. Khi nhìn vào các đệ tử xuất gia cũng như tại gia, vào bạn bè, vào những cuốn sách được xuất bản, bạn sẽ thấy sự tiếp nối của tôi. Tôi sẽ không bao giờ chết. Sẽ có sự tàn hoại của thân này, nhưng điều đó không có nghĩa là tôi sẽ chết. Tôi sẽ tái sinh hoài hoài.

Điều đó cũng đúng với tất cả chúng ta. Ta không chỉ là hình hài này, bởi vì năm uẩn luôn tạo ra năng lượng. Cái đó gọi là nghiệp, nhưng không có người tạo nghiệp – ta không cần người tạo nghiệp. Nghiệp là đã đủ. Điều này có thể hiểu qua vật lý lượng tử. Khối lượng và năng lượng, lực và vật chất, không phải là hai cái khác biệt.

Ta có thể làm gì để đối trị với lối sống quá thiên về vật chất trong xã hội hiện nay?

Ta có thể tạo nên một môi trường trong đó mọi người sống đơn giản mà hạnh phúc, sau đó ta mời người khác đến để quán sát. Đó là cách duy nhất có thể thuyết phục họ buông bỏ ý tưởng về hạnh phúc dựa trên vật chất. Họ nghĩ là chỉ khi nào có nhiều thứ để tiêu thụ thì mới có hạnh phúc, nhưng có rất nhiều người, dù rất giàu có nhưng không hề hạnh phúc. Trong khi đó, lại có những người tiêu thụ ít hơn, nhưng họ lại có nhiều hạnh phúc hơn.

Chúng ta cần chứng minh rằng nếp sống đơn giản cùng với sự thực tập tâm linh có thể làm cuộc sống của ta rất viên mãn. Bởi vì chỉ khi nào người ta tận mắt thấy và tự trải nghiệm thì người ta mới được thuyết phục. Ở Làng Mai, mọi người cười cả ngày, vậy mà không có ai có tài khoản riêng trong ngân hàng. Không ai có một chiếc xe hơi riêng hay một chiếc điện thoại riêng. Ai cũng ăn toàn thức ăn chay. Vậy mà chúng tôi không hề đau khổ vì không ăn trứng hoặc ăn thịt. Trên thực tế, chúng tôi còn hạnh phúc hơn bởi vì chúng tôi biết rằng mình không ăn thịt chúng sinh và chúng tôi đang bảo hộ trái đất. Điều đó mang lại rất nhiều niềm vui. Chúng tôi rất may mắn có thể sống như thế, có thể ăn như thế.

Người ta thường tin rằng khi nào mình có thật nhiều tiền, có một vị trí cao trong xã hội thì mới có thể thật sự hạnh phúc. Thật là khó để buông bỏ niềm tin đó cho đến khi người ta thấy được sự thật là hạnh phúc có thể đạt được bằng một cách sống khác. Thấy được điều đó thì con cháu chúng ta mới có một tương lai. Vì vậy tôi nghĩ rằng trong cộng đồng những người thực tập đạo Bụt, chúng ta phải tổ chức lại để có thể cho người ta thấy một nếp sống hạnh phúc làm bằng chất liệu của hiểu và thương, mà không phải dựa trên vật chất. Một bài pháp thoại thôi thì không đủ, bởi vì bài pháp thoại chỉ là một bài pháp thoại. Chỉ khi nào mọi người thấy được một cộng đồng sống không chạy theo vật chất, thấy được một lối sống như vậy thì họ mới được thuyết phục.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/be-beautiful-be-yourself-january-2012/

Tình yêu dành cho đất Mẹ không còn là ý niệm về môi trường

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian, ngày 20.2.2012)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh giải thích vì sao chúng ta cần một cuộc cách mạng tâm linh để bảo vệ sinh môi và giảm thiểu những tác động của biến đổi khí hậu.

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là người đã có 70 năm kinh nghiệm thực tập thiền và chánh niệm. Từ Thầy tỏa ra một sự bình an và tĩnh lặng lạ thường. Đây là con người đang sống những gì mình nói, con người được giới Phật tử coi như một vị Bồ tát, không ngừng tìm kiếm những cách thức tốt nhất để giúp người.

Ngay từ những ngày tháng trực tiếp sống và đối mặt với cuộc chiến thảm khốc tại Việt Nam, vị Thầy hiện đã 86 tuổi này phát nguyện cống hiến cả cuộc đời cho sự nghiệp hòa bình và hóa giải xung đột. Năm 1967, Mục sư Martin Luther King đã đề cử Thầy cho giải Nobel Hòa bình, vì theo Mục sư “Những phát kiến cho hòa bình của thầy Nhất Hạnh, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Vì vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi những năm gần đây, Thầy không chỉ chú trọng tới việc hòa giải xung đột trong mối quan hệ giữa người với người, mà còn hướng sự quan tâm tới hành tinh xanh của chúng ta – nơi nương náu của mọi loài.

Thầy, như hàng ngàn thiền sinh và đệ tử vẫn gọi, thấy rằng vì đời sống thiếu ý nghĩa, thiếu sự liên hệ mật thiết với nhau mà chúng ta trở thành con nghiện của chủ nghĩa tiêu thụ. Chúng ta cần phải nhận ra và ứng phó với những áp lực mà ta đang gây ra cho trái đất, nếu loài người chúng ta muốn sống sót.

Điều mà đạo Bụt có thể đóng góp cho nhân loại là giúp chúng ta nhận diện sự có mặt của khổ đau trong mỗi chúng ta, và chỉ cho chúng ta con đường thoát khổ, đó là: Trực tiếp đối diện mà không phải tìm cách trốn chạy hay khỏa lấp bằng công việc, mua sắm, giải trí hay chăm chút làm đẹp. Những ham muốn về danh vọng, giàu sang, quyền lực và tình dục chỉ có tác dụng tạo nên ảo giác về hạnh phúc mà không phải là hạnh phúc đích thực, kết cục chỉ làm trầm trọng thêm cảm giác trống trải, xa cách.

Thầy lấy ví dụ câu chuyện của một tỷ phú, Giám đốc Điều hành một trong những công ty lớn nhất Hoa Kỳ. Ông này tới tham dự một khóa tu với Thầy, kể về những khổ đau, lo lắng và nghi ngờ của ông. Ông nghĩ rằng mọi người đến với ông chỉ vì muốn lợi dụng mình, nên ông chẳng có ai để làm bạn.

Trong một cuộc phỏng vấn tại Làng Mai – một trung tâm thiền tập của Thầy gần Bordeaux, Thầy đã chỉ rõ tại sao chúng ta lại cần một cuộc cách mạng tâm linh khi phải đối mặt với vô số thách thức về tình trạng môi trường hiện nay.

Trong khi nhiều chuyên gia chỉ tập trung nói về sự phức tạp và khó khăn trong việc giải quyết các vấn đề – từ chuyện hệ sinh thái bị phá hủy cho đến nạn tuyệt chủng của hàng triệu loài sinh vật, Thầy có thể nhìn xuyên suốt được vấn đề hóc búa này, và chỉ cần một “lát dao bén” của Thầy là có thể tháo gỡ được.

Vượt thoát ý niệm “môi trường”

Thầy cho rằng chúng ta cần phải vượt thoát ý niệm về môi trường, vì điều này khiến mọi người có cảm tưởng bản thân mình và trái đất là hai thực thể riêng biệt và nhìn hành tinh này dưới góc độ những lợi ích mà nó đem lại cho con người.

Chỉ khi nào ta công nhận con người và hành tinh này có trong nhau, hay tương tức, thì ta mới thay đổi được tình trạng.

Thầy nói: “Bạn đang mang đất Mẹ trong bạn. Đất Mẹ không ở bên ngoài. Đất Mẹ không chỉ là môi trường. Đất Mẹ là bạn. Nhìn bằng tuệ giác tương tức đó, chúng ta mới có thể thực sự truyền thông với đất Mẹ, đó là hình thức cầu nguyện tối ưu nhất. Trong mối tương quan này, bạn có đủ tình thương, sức mạnh và sự thức tỉnh để thay đổi cuộc sống của bạn.

“Thay đổi không chỉ là thay đổi những yếu tố bên ngoài ta. Trước hết, chúng ta cần có chánh kiến – cái thấy đúng – để vượt thoát mọi ý niệm, kể cả ý niệm về có – không, về tạo hóa – tạo vật, về tâm – vật. Tuệ giác này rất cần cho sự chuyển hóa và trị liệu. Chúng ta sợ hãi, xa cách, hận thù, sân giận là do cái thấy sai lầm cho rằng chúng ta và trái đất là hai thực thể riêng biệt, trái đất chỉ là môi trường. Chúng ta coi mình là tâm điểm và muốn làm điều gì đó cho trái đất để chúng ta có thể sống sót. Đó là cái thấy nhị nguyên.

“Vì vậy để cứu lấy đất Mẹ, bạn hãy thở vào, ý thức về cơ thể bạn và nhìn sâu vào cơ thể để thấy rằng bạn là trái đất, và tâm thức bạn cũng là tâm thức của trái đất. Không chặt phá rừng, không làm ô nhiễm nguồn nước – chừng ấy chưa đủ.”

Đặt cho thiên nhiên một giá trị kinh tế là chưa đủ

Mùa xuân này Thầy sẽ tới nước Anh để hướng dẫn một khóa tu năm ngày và một ngày hội thảo về chánh niệm trong lĩnh vực giáo dục. Thầy nói hiện nay trong giới kinh doanh xuất hiện trào lưu cho rằng cách tốt nhất để bảo vệ hành tinh là đặt cho môi trường thiên nhiên một giá trị kinh tế. Như vậy thì chẳng khác nào dùng một miếng băng để dán tạm thời lên trên một vết thương đang hở miệng.

“Tôi không nghĩ là biện pháp đó đem lại hiệu quả. Chúng ta cần một sự thức tỉnh và giác ngộ thực sự để thay đổi cách suy nghĩ và nhìn nhận sự việc của chúng ta”, Thầy nói.

Muốn thay đổi tận gốc thì thay vì đặt cho những khu rừng và thảm san hô những trị giá nào đó, ta phải thương yêu đất Mẹ trở lại. “Trái đất không thể được miêu tả bằng vật chất hay tinh thần. Vật chất hay tinh thần chỉ là những khái niệm. Thực chất chúng là hai mặt của cùng một thực tại. Cây tùng kia không chỉ là vật chất, bởi vì trong nó có chứa cái thấy biết của nó. Một hạt bụi không chỉ là vật chất, bởi từng nguyên tử trong hạt bụi đều là một thực thể sống và có trí thông minh. Khi ta nhận ra những đức hạnh, tài năng và vẻ đẹp của đất Mẹ, thì trong ta sẽ nảy sinh một cái gì đó. Cái đó là sự tương quan mật thiết giữa ta với đất Mẹ, là tình thương của ta dành cho đất Mẹ. Chúng ta muốn được kết nối, muốn được hòa là một, đó là ý nghĩa của tình thương. Khi thương một người nào đó, ta muốn nói ta cần người đó, ta muốn nương tựa vào người đó. Ta làm tất cả vì lợi ích của đất Mẹ và đất Mẹ sẽ làm tất cả cho sự an vui của chúng ta.”

Trong giới kinh doanh, Thầy lấy ví dụ về Yvon Chouinard, người sáng lập và sở hữu công ty may mặc Patagonia. Ông đã kết hợp giữa việc phát triển kinh doanh thành công với sự thực tập chánh niệm và từ bi. Thầy khẳng định: “Làm giàu theo cách không tàn phá, đề cao công bằng xã hội, làm tăng sự hiểu biết, giảm thiểu khổ đau đang tồn tại quanh ta, đó là điều ta có thể làm được. Nhìn cho sâu, ta thấy ngay trong thế giới kinh doanh, ta có thể mang lại nhiều hạnh phúc cho ta và cho người khác. Và như vậy thì công việc của ta trở nên có ý nghĩa.”

Thầy, tác giả của hơn 100 cuốn sách, đã chỉ ra rằng nguyên nhân đằng sau rất nhiều những căn bệnh của thời đại là do chúng ta mất sự kết nối với nhịp điệu tự nhiên của trái đất. Trong khi đó, một cách vô thức, ta lại đổ lỗi cho đất Mẹ, cũng giống như ta hay cho rằng những khổ đau bất hạnh của ta là do cha mẹ gây ra.

Trong bài viết Tâm tình với đất Mẹ mới đây, Thầy viết “Trong chúng con, có những người oán hận Mẹ vì Mẹ đã sinh ra họ và làm họ khổ, đó là bởi vì họ chưa có khả năng hiểu được Mẹ và chưa biết trân quý Mẹ.”

Chánh niệm giúp ta thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa ta và đất Mẹ

Thầy đưa ra rất nhiều bằng chứng để chứng tỏ chánh niệm có thể giúp loài người thiết lập lại mối tương quan mật thiết giữa mình với đất Mẹ bằng cách sống chậm lại và trân quý tất cả những món quà mà đất Mẹ hiến tặng cho ta.

“Rất nhiều người đau khổ cùng cực mà không biết là mình đang đau khổ. Họ cố gắng che đậy nỗi khổ đau bằng cách bận rộn. Nhiều người ốm đau bệnh tật chỉ vì họ xa lánh đất Mẹ. Thực tập chánh niệm giúp chúng ta tiếp xúc được với đất Mẹ trong ta, sự thực tập này có thể giúp chữa lành bệnh tật. Quá trình trị liệu, chữa lành cho con người phải được tiến hành đồng thời với việc chữa lành cho đất Mẹ. Đây là tuệ giác và ai cũng có thể thực tập được. Sự giác ngộ này rất quan trọng, đưa đến sự thức tỉnh cộng đồng. Trong đạo Bụt, chúng tôi nói về thiền tập như một hành động thức tỉnh, thức tỉnh trước thực trạng là trái đất đang lâm nguy, mọi loài sinh vật đang trong tình trạng nguy kịch.”

Thầy lấy một ví dụ rất đơn giản và bình dị, là việc uống một ly trà cũng có thể giúp chuyển hóa cuộc đời một con người, nếu người đó thực sự để hết tâm ý vào việc uống trà.

“Khi có chánh niệm, tôi thưởng thức ly trà sâu sắc hơn”, Thầy nói và rót cho mình một ly trà rồi chậm rãi nhấp ngụm đầu tiên. “Tôi có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây, không bị kéo đi bởi sợ hãi, buồn đau, dự án, quá khứ hay tương lai. Tôi có mặt cho sự sống.

“Khi ta uống trà, giây phút uống trà là giây phút mầu nhiệm. Ta không cần nhiều quyền lực, danh vọng hay tiền bạc để có thể hạnh phúc. Chánh niệm có thể giúp ta hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Mỗi giây phút đều có thể là giây phút hạnh phúc. Chúng ta hãy thực tập để làm gương cho những người khác theo đó cùng thực tập theo. Chúng ta hãy dành ra vài phút để thực chứng điều này.”

Cần phải xử lý cơn giận trong tự thân trước khi muốn trở thành một nhà hoạt động xã hội hiệu quả

Trong hàng thập kỷ qua, Thầy đã dày công phát triển Đạo Bụt Ứng Dụng mà nền tảng là sự thực tập Năm nguyên tắc đạo đức – Năm phép thực tập chánh niệm hay còn gọi là Năm giới – trong đó đề cập rất rõ về tầm quan trọng của việc giải quyết những bất công xã hội.

Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh, nếu các nhà hoạt động xã hội và môi trường muốn làm việc có hiệu quả, trước tiên họ phải xử lý cơn giận trong họ. Chỉ khi nào phát khởi được tình thương và lòng từ bi đối với chính bản thân mình, ta mới có khả năng đối phó với những lực lượng mà ta qui trách nhiệm đang làm ô nhiễm biển và chặt phá rừng.

“Trong Đạo Bụt có nói đến ‘cộng nghiệp’. Khi có một chuyện gì không hay đang diễn ra trên thế giới, chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng đó là chuyện của người khác, người khác làm mà không phải là ta. Nhưng qua cách sống hàng ngày của ta, ta cũng đang góp phần vào tình trạng đó. Nếu ta có khả năng hiểu ra sự thật này, rằng không chỉ ta đang khổ mà người khác cũng đang khổ thì đó đã là một tuệ giác.

“Khi thấy ai đó đang khổ, ta không muốn trừng phạt hay lên án người đó, mà ta muốn giúp người đó bớt khổ. Nhưng nếu chính ta đang đầy sợ hãi, giận hờn, vô minh và đau khổ thì làm sao ta giúp được người khác? Khi có hạnh phúc, ta nhẹ nhàng hơn, tươi vui hơn, ai cũng dễ chịu khi ở gần ta và ta có khả năng giúp đỡ người khác. Những nhà hoạt động xã hội hay bảo vệ sinh môi cần phải thực tập tâm linh để có khả năng nuôi dưỡng hạnh phúc, xử lý khổ đau và giúp người bớt khổ, như vậy công việc phụng sự thế giới của họ mới có hiệu quả. Nếu trong ta còn đầy giận dữ và bất mãn thì ta không thể làm được gì cả.”

Tiếp xúc Bản môn

Điểm chính trong những lời dạy của Thầy là trong khi sống và sinh hoạt trong thế giới tích môn (thế giới của hiện tượng, được nhận thức qua khung thời gian và không gian), ta cần hiểu rằng hạnh phúc, an lạc của ta tùy thuộc vào việc nhận diện và tiếp xúc với bản môn (thế giới của bản thể, không sinh không diệt, không đến không đi, không còn không mất, không một không khác, vượt thoát giới hạn thời gian và không gian). Điều này rất quan trọng. “Nếu ta có khả năng tiếp xúc sâu sắc với thế giới tích môn – thông qua một chiếc lá, một bông hoa, một viên sỏi, một tia nắng, một con chim, ngọn núi, dòng sông và chính thân thể ta – thì khi đó ta cũng đang tiếp xúc được với bản môn. Bản môn không thể được diễn tả là con người hay phi con người, là vật chất hay tinh thần, chủ thể nhận thức hay đối tượng nhận thức. Ta chỉ có thể nói rằng nó luôn luôn tỏa sáng. Tiếp xúc với bản môn, ta cảm thấy hạnh phúc, thoải mái như con chim tự do trên bầu trời, như con nai được tự do trên đồng cỏ. Ta biết rằng ta không cần phải tìm kiếm bản môn ở ngoài ta, bản môn luôn có trong ta, ngay chính trong giây phút này.”

Dù tin rằng chúng ta có thể xây dựng mối liên hệ hài hòa hơn giữa loài người và trái đất, Thầy cũng đồng thời nhận thấy một hiểm họa thực sự đang xảy ra là con người vẫn tiếp tục lối sống tàn hoại và nền văn minh này có nguy cơ sụp đổ.

Thầy nói tất cả những gì chúng ta cần làm là quan sát cách phản ứng của thiên nhiên đối với những loài sinh vật khác khi chúng phát triển quá mức: “Khi nhu yếu sinh tồn bị thay thế bởi lòng tham lam và ngạo mạn thì bạo động sẽ phát sinh và luôn đưa tới những hủy diệt không đáng có. Chúng ta đã học bài học rằng gây bạo lực cho con người và cho những loài sinh vật khác chính là ta đang gây bạo lực với chính ta, còn khi ta biết bảo hộ mọi loài thì ta cũng đang bảo hộ chính ta.”

Lạc quan trước nguy cơ thảm họa

Trong thần thoại Hy Lạp, khi nàng Pandora mở hộp quà, tất cả những tai ương thoát ra ngoài và tràn xuống trái đất. Chỉ có một thứ còn sót lại, đó là “hy vọng”.

Thầy khẳng định rõ ràng rằng duy trì niềm lạc quan là điều rất cần thiết nếu chúng ta muốn tìm một con đường thoát khỏi nguy cơ hủy diệt do khí hậu thay đổi thất thường cũng như tránh những biến động lớn về mặt xã hội do sự thay đổi khí hậu gây ra.

Tuy nhiên, Thầy cũng nhận ra rằng nhiều thế lực hùng mạnh vẫn đang không ngừng đẩy loài người tới bờ vực thẳm.

Trong cuốn sách nổi tiếng viết về môi trường, Hướng đi của đạo Bụt cho hòa bình và môi sinh (The World We Have), Thầy viết: “Chúng ta đã tạo nên một hệ thống xã hội mà ta không còn kiểm soát được nữa. Ta bị nó điều khiển, khống chế và trở thành nạn nhân, nô lệ của hệ thống đó.

“Chúng ta tạo nên một xã hội mà người giàu càng giàu thêm và người nghèo càng thêm túng quẫn. Ta chỉ biết chăm chút lo cho riêng mình, và chỉ thấy những cái lợi trước mắt mà quên đi những hậu quả về sau. Chúng ta ít khi để tâm đến số phận của người khác, đến tương lai của đất Mẹ. Chúng ta có khác gì những con gà đang bị nhốt trong chuồng và đang giành xé nhau một vài hạt bắp mà không biết rằng lát nữa mình sẽ bị giết làm thịt”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/zen-thich-naht-hanh-buddhidm-business-values

Xem Video Jo Confino phỏng vấn Thầy

Không cần phải là Phật tử mới có thể thọ Năm giới

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh chia sẻ với Andrea Miller, Shambhala Sun, số ra tháng Giêng 2013, rằng: “Ai cũng có thể thực tập theo Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm” để sống một cuộc đời đầy hiểu biết và thương yêu. Dưới đây là bài ghi lại cuộc phỏng vấn do Andrea Miller thực hiện tại Làng Mai.

Tại sao Thầy nói rằng không cần phải là Phật tử mới có thể nhận Năm giới?

Bạn không cần phải là một Phật tử mới có thể tư duy bằng hiểu biết và thương yêu. Bạn không cần phải là một Phật tử mới có thể nói những lời dễ thương và từ ái. Vì vậy chúng tôi có thể nói rằng Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm là những giá trị đạo đức mang tính toàn cầu, dành cho cả những người Phật tử và những người không phải là Phật tử.

Pháp môn thực tập chánh niệm rất cụ thể. Bạn không thể chỉ nói về các phương pháp này mà bạn cần phải thực tập, phải sống với chúng. Nếu bạn đã đến Làng Mai tu tập một thời gian thì khi về, có thể bạn cũng muốn mang sự thực tập ở Làng Mai về nhà và làm cho gia đình của mình trở thành một tăng thân nhỏ như kiểu Làng Mai – có nghĩa là bạn và gia đình cùng tụng giới chung với nhau, cùng tập thở, tập ngồi và ăn cơm như thế nào để chế tác được hạnh phúc và làm vơi bớt khổ đau của chính mình và của mọi người.

Con được biết Năm giới là phương pháp thực tập cụ thể của bát chánh đạo – tám sự hành trì chân chính – gồm có: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm và chánh định. Xin Thầy giải thích cụ thể hơn về điều này.

Chánh kiến là cái thấy về tương tức, vượt thoát mọi sự phân biệt, kỳ thị. Nhờ có cái thấy về tương tức mà ta có được chánh tư duy. Chánh tư duy là cách tư duy không có sự phân biệt, kỳ thị. Khi bạn khởi lên một ý nghĩ theo hướng chánh tư duy thì ý nghĩ đó sẽ mang đầy chất liệu hiểu biết và thương yêu. Nó có công năng trị liệu cho chính bạn và cho thế giới. Với chánh kiến – tức là với tuệ giác tương tức – bạn cũng có thể thực tập chánh ngữ. Bất cứ điều gì bạn nói ra hoặc viết xuống, dù đó là một email, một bài viết hay một bài thơ cũng đều có thể biểu hiện tinh thần không kỳ thị. Điều đó có nghĩa là những gì bạn nói và viết đều hoàn toàn thoát khỏi những chia rẽ, sợ hãi và hận thù. Nó chứa đầy chất liệu từ bi và hiểu biết. Chỉ bằng sự thực tập chánh ngữ, bạn cũng có thể chữa lành cho chính mình và cho thế giới này. Còn chánh nghiệp là những hành động do thân thể bạn làm ra. Nếu bạn không kỳ thị, không sợ hãi thì bất cứ điều gì bạn làm cũng có thể giúp duy trì sự sống của hành tinh này.

Thầy nói rằng hành động, lời nói và ý nghĩ là sự tiếp nối của chúng ta. Điều đó có nghĩa là gì?

Những gì bạn nghĩ, bạn nói và bạn làm chính là sự tiếp nối của bạn – đó là một loại năng lượng tồn tại trong một thời gian dài. Khi thân này đã tàn hoại, bạn sẽ vẫn được tiếp nối bởi ba loại năng lượng mà bạn chế tác ra mỗi ngày. Sau khi bạn rời bỏ hình tướng này, bạn sẽ mang một hình tướng khác bởi vì năng lượng mà bạn chế tác ra sẽ biểu hiện thành những hình tướng mới.

Giống như một đám mây. Khi đám mây không còn là đám mây nữa, nó sẽ biểu hiện thành một cái gì khác, chẳng hạn như mưa, hay tuyết hoặc mưa đá. Vì vậy khi không nhìn thấy đám mây trên trời, bạn không thể nói là đám mây không còn đó nữa. Nó vẫn còn đó, nhưng dưới những hình tướng khác mà thôi. Điều này cũng đúng đối với con người chúng ta. Khi bạn không còn biểu hiện dưới hình hài này nữa thì chính các hành động bằng thân, bằng ý nghĩ và bằng lời nói – hay còn gọi là nghiệp (karma) – sẽ là sự tiếp nối của bạn. Đó là lý do tại sao khi bạn thực tập niệm, định và tuệ thì chắc chắn bạn sẽ có một sự tiếp nối đẹp đẽ trong tương lai.

Thầy có hy vọng gì cho tương lai của Làng Mai?

Chúng tôi không lo lắng cho tương lai. Chúng tôi chỉ lo cho hiện tại, bởi vì chúng tôi biết rằng nếu trong giây phút hiện tại chúng tôi đã làm hết sức mình thì như vậy là quá đủ rồi. Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể làm cho tương lai. Tương lai tùy thuộc vào hiện tại, vì vậy nếu ta để hết tâm trí vào những gì ta đang làm trong giây phút hiện tại, thì chúng ta luôn có hy vọng cho tương lai. Còn nếu trong giây phút hiện tại mà chúng ta cảm thấy tuyệt vọng, bất lực thì sẽ không có hy vọng gì cho tương lai cả. Sự sống của hành tinh này có thể duy trì được hay không đều tùy thuộc vào ngày hôm nay của chúng ta, tùy thuộc vào cách sống trong hiện tại của chính chúng ta.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/you-dont-need-to-be-buddhist-january-2013/

Trong 100 năm nữa, có thể loài người sẽ không còn tồn tại trên trái đất

 

Tom Levitt

(Đăng trên tạp chí The Ecologist của Anh quốc, ngày 22.3. 2012)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – vị thầy nổi tiếng của Phật giáo – trò chuyện với tạp chí The Ecologist về những mất mát liên quan đến sự đa dạng sinh học và tại sao chúng ta không nên tuyệt vọng trước những tác động của biến đổi khí hậu đối với loài người.

Thầy nghĩ rằng loài người có thể tránh được sự sụp đổ của hệ thống môi sinh toàn cầu, hay chúng ta đang tự đưa mình về hướng đó?

Theo số liệu của Liên đoàn Bảo tồn Môi trường Hoang dã Hoa Kỳ (National Wildlife Federation), mỗi ngày có khoảng 100 loài thảo mộc và động vật bị tuyệt chủng do nạn phá rừng. Sự tuyệt chủng của các giống loài diễn ra hàng ngày. Trong một năm có thể có 200.000 loài đi đến chỗ diệt vong. Đó là cái đang diễn ra; đó không phải là vấn đề của tương lai. Chúng ta biết rằng 251 triệu năm về trước, sự hâm nóng trái đất đã diễn ra do hoạt động của các núi lửa khổng lồ. Đó là nguyên nhân gây nên sự tuyệt chủng tệ hại và lớn rộng nhất trong lịch sử của trái đất. Nhiệt độ trái đất tăng lên 6oC cũng đủ để làm cho 95% giống loài bị xóa sổ.

Giờ đây sự hâm nóng địa cầu lần thứ hai có thể xảy ra. Lần này là do nạn phá rừng và công nghiệp hóa, do con người làm ra. Có thể trong 100 năm tới, loài người sẽ không còn tồn tại trên trái đất. Chỉ trong 100 năm thôi. 251 triệu năm về trước, sau khi 95% giống loài trên trái đất biến mất, trái đất đã cần 100 triệu năm để hồi phục lại sự sống trên hành tinh này. Nếu nền văn minh của chúng ta tuyệt diệt, có lẽ sẽ cần một khoảng thời gian tương tự như vậy để cho một nền văn minh khác xuất hiện. Khi núi lửa hoạt động, khí CO2 tích tụ và làm nên hiệu ứng nhà kính. Đó là cái đã xảy ra 251 triệu năm về trước. Hiện tại sự tích tụ của khí CO2 là do cách sống và nền công nghiệp của chúng ta.

Nếu nhiệt độ của trái đất tăng lên 6oC thì 95% các giống loài sẽ bị hủy diệt, kể cả loài người (Homo sapiens). Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải học cách tiếp xúc với tự tính bất sinh bất diệt trong hơi thở vào ra của mình. Sự diệt chủng của các giống loài đã từng xảy ra nhiều lần. Sự diệt chủng với quy mô lớn đã xảy ra năm lần, và lần này là lần thứ sáu. Theo đạo Bụt thì không có gì sinh mà cũng không có gì diệt. Sau khi bị tuyệt chủng, các loài sẽ biểu hiện trở lại qua những hình thức khác, vì vậy mà ta cần phải thở thật sâu để công nhận một sự thật là loài người chúng ta có thể sẽ biến mất khỏi trái đất chỉ trong vòng 100 năm tới.

Chúng ta phải học cách chấp nhận sự thật phũ phàng đó. Đừng để bị nhấn chìm trong tuyệt vọng. Giải pháp là học cách tiếp xúc với tự tính bất sinh bất diệt trong giây phút hiện tại. Chúng ta thường nói về môi trường cứ như nó là một cái gì hoàn toàn tách biệt khỏi chúng ta, trong khi đó chúng ta lại chính là môi trường.

Con người được làm bởi những yếu tố không-phải- con-người. Những yếu tố không-phải-con-người là môi trường của chúng ta, nhưng chúng ta lại là môi trường của các yếu tố không-phải-con-người, vì vậy chúng ta và môi trường là một. Chúng ta chính là môi trường. Chúng ta là trái đất, và trái đất có khả năng lấy lại sự cân bằng. Đôi khi nhiều giống loài phải biến mất để cho sự cân bằng đó được xảy ra. Sự tái lập cân bằng đó có thể biểu hiện dưới dạng lũ lụt, hay nóng bức, hay không khí thay đổi.

Dân số ở các thành phố khắp nơi trên thế giới càng lúc càng tăng. Chúng ta mất mát những gì (nếu có), khi con người trở nên đô thị hóa?

Cuộc sống ở thành thị và cuộc sống ở nông thôn có sự liên hệ mật thiết. Bởi vì phải nuôi người dân thành thị nên nông thôn phải thay đổi và bị ô nhiễm bởi nhiều thứ. Ở nông thôn, người dân quê phải dùng thuốc kháng sinh, thuốc diệt sâu rầy để có thể cung cấp đủ thực phẩm và các thứ khác cho người dân thành thị.

Vì vậy thôn quê không còn là một chỗ an toàn cho chúng ta nữa. Thậm chí nếu ta quay về nông thôn mà vẫn tiếp tục tiêu thụ như cũ thì cũng không giải quyết được gì. Bất cứ ở thôn quê hay ở thành thị ta vẫn bị mất mát rất nhiều, dù là khi ở thôn quê ta có cơ hội tiếp xúc với thiên nhiên, tiếp xúc với đất mẹ nhiều hơn. Thực tập tiếp xúc với thiên nhiên khi ở thôn quê giúp ta chữa lành thương tích dễ dàng hơn, nhưng thôn quê cũng đang đánh mất mình vì sự đô thị hóa.

Phần lớn các nhà hoạt động vì môi trường thu gọn các vấn đề mà chúng ta đang phải đối diện vào hai điểm chính: tiêu thụ quá mức và tăng dân số quá mức. Thầy nghĩ sao về điều này?

Dĩ nhiên là chúng ta cần tiêu thụ như thế nào để giảm thiểu khổ đau của các loài sinh vật trên trái đất, điều này rất rõ ràng. Nhưng chúng ta cũng phải giảm dân số lại. Trở thành người xuất gia cũng là một cách để giảm dân số, vì vậy tôi kêu gọi các bạn nên đi xuất gia với chúng tôi. Nếu bạn có thể tạo dựng nên những cộng đồng nho nhỏ, xây trường học và chăm sóc con cái của những người khác, bạn sẽ không cần phải có con. Vì vậy, dựa trên kinh nghiệm của bản thân là một người xuất gia, tôi thấy cuộc sống của mình không bị thiếu thốn bất cứ một thứ gì. Trái lại tôi có rất nhiều. Ngay cả khi tôi không có con do chính mình sinh ra, tôi thấy mình vẫn có rất nhiều con. Những người con này mang lại cho tôi rất nhiều niềm vui và sự tươi mát. Tôi nghĩ là chúng ta cần phải hành động trên cả hai phương diện: giảm thiểu sự tiêu thụ và giảm thiểu dân số. Đây là điều chúng ta có thể làm được thông qua nếp sống cộng đồng. Chúng ta sẽ không cảm thấy thiếu thốn bất cứ thứ gì, kể cả sự có mặt của trẻ em trong đời sống của chúng ta.

Trong cách sống mà thầy đã chọn, cái gì là thử thách lớn nhất?

Tôi không nghĩ mình bị mất mát bất cứ điều gì trong cuộc sống khi trở thành một người xuất gia. Trên thực tế, tôi rất tận hưởng cuộc sống của một thầy tu. Thí dụ như khi chúng tôi ăn chay trường, chúng tôi rất hạnh phúc khi mình có thể làm như vậy. Chúng tôi không bị khổ đau khi ăn chay, khi không ăn thịt. Chúng tôi thấy mình rất may mắn khi không ăn thịt bởi vì chúng tôi không phải ăn thịt của các loài khác để sinh tồn. Mình có thể bảo vệ sự sống qua cách ăn uống. Chúng ta cần phải học cách ăn như thế nào để bảo hộ trái đất và giảm thiểu khổ đau của các loài khác. Đó là lý do tại sao ăn chay có thể là một niềm vui lớn, nhất là khi bạn biết cách nấu nướng. Chúng ta cần phải xuất bản một quyển sách dạy nấu ăn để cho mọi người biết là ăn chay rất vui.

Chúng tôi nhận thấy cuộc sống của một người tu dễ hơn nhiều so với cuộc sống của một người cư sĩ. Là một người tu, bạn sống trong một tăng thân, và bạn chỉ cần đi theo tăng thân ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm đúng giờ giấc, rất là dễ. Chỉ cần là một người tu thôi. Chúng tôi không bị thiệt thòi gì hết, bởi vì chúng tôi sống với nhau rất vui. Chúng tôi có thì giờ để xây dựng tình huynh đệ. Niềm vui đôi lứa không lâu bền bằng tình huynh đệ. Và chúng tôi đề nghị là mọi người không nên tiếp tục đổ xô về thành phố mà nên cố gắng xây dựng những cộng đồng ở thôn quê.

Bạn có thể xây dựng một cộng đồng của người cư sĩ, không nhất thiết phải là một cộng đồng Phật giáo. Ở đó, mọi người sử dụng xe hơi, xe máy cày chung với nhau. Sự hiện diện của trẻ con trong các cộng đồng là điều rất tuyệt vời và bạn không cần phải là một người cha hay người mẹ mới có thể thưởng thức sự có mặt của trẻ con.

Tôi xuất gia ở tuổi 16 và tôi không hề đau khổ vì điều đó, bởi vì tôi có rất nhiều con tâm linh, cả xuất sĩ lẫn cư sĩ. Trong một cộng đồng, ngay cả khi bạn không có con, bạn có thể coi con của những người khác là con của mình; bạn có thể xây trường học; cho người khác ở chung trong căn hộ, hay căn nhà của bạn. Sống trong một cộng đồng với 100 – 200 người, số lượng xe sử dụng sẽ được giảm thiểu, bởi vì bạn sẽ dùng xe chung của cộng đồng. Bạn sẽ dùng chung tủ lạnh, xe máy cày; bạn sẽ làm một khu vườn chung, trường học hoặc công viên chung; và bạn cũng sẽ coi con của người khác là con của mình.

Thầy làm thế nào để cuốn hút người trẻ theo Thầy?

Tôi không hề có ý cuốn hút người trẻ theo mình. Những người trẻ đến với Làng Mai vì khi tham gia các khóa tu và đến các trung tâm tu tập của Làng, họ thấy có tình huynh đệ. Và đó là cái mà chúng ta cần nhất trong đời. Rất nhiều người trẻ đã trải nghiệm tình yêu đôi lứa và những khổ đau trong tình yêu. Khi đến tu viện của chúng tôi, họ nếm trải được tình huynh đệ và được là chính mình. Chính năng lượng của tình huynh đệ đã nuôi dưỡng chúng tôi.

Đó là lý do vì sao việc xây dựng cộng đồng và xây dựng tình huynh đệ để được nuôi dưỡng là một điều vô cùng quan trọng. Bạn có thể đầu tư cả cuộc đời mình để làm điều đó. Vậy nên thay vì đi ra các thành phố lớn để hít thở không khí ô nhiễm, chúng ta có thể tổ chức như thế nào để xây dựng các cộng đồng ở thôn quê, và sống một cuộc sống có thể giúp bảo hộ đất Mẹ và môi sinh. Chúng ta có thể làm việc, đồng thời cũng có thì giờ để làm vườn, và ta có thể cùng làm với nhau. Bạn có thể sử dụng tài năng của mình để phụng sự cho cộng đồng trong việc xây dựng tình huynh đệ. Đó là một lối sống khác mà ta có thể trải nghiệm.

Vì vậy nếu người trẻ có đến với chúng tôi thì không phải vì chúng tôi kêu gọi, mà vì niềm vui, hạnh phúc chế tác được bởi tình huynh đệ. Sinh hoạt tu tập hàng ngày của chúng tôi nhằm để chế tác năng lượng thương yêu của tình huynh đệ. Nên có một đảng phái có khả năng chế tác tình huynh đệ, tình bác ái. Chúng ta biết tình huynh đệ rất quan trọng, nhưng ta lại không biết cách để chế tác, để xây dựng. Nếu có một đảng nào biết làm điều ấy thì ta sẽ tham gia vào đảng đó. Thế nhưng rất nhiều người chỉ có thể nói về điều đó mà thôi. Thiết lập những cộng đồng nho nhỏ như thế, chúng ta sẽ thực sự chế tác năng lượng của tình huynh đệ. Người trẻ có thể nhận thấy điều này, và rất nhiều người sẽ cống hiến cuộc đời họ để chế tác cái năng lượng mà bạn không thể nào mua được từ siêu thị.

Phần lớn người Tây phương chúng tôi vẫn kẹt vào lối sống tiêu thụ cao. Chúng tôi thích mua những đồ đạc mới và hấp dẫn. Có một lối sống nào khác đủ mạnh để thuyết phục chúng tôi rời bỏ lối sống tiêu thụ cao hay không?

Cái chúng ta cần là sự thay đổi tâm thức, thay đổi ý niệm của chúng ta về hạnh phúc, về lối sống. Không chỉ những người Tây phương mới bị kẹt vào lối sống tiêu thụ cao; ở các nước Á châu, người ta cũng đang lâm vào hoàn cảnh tương tự. Chúng ta thích mua đồ đạc mới lạ. Ta tìm kiếm hạnh phúc, nhưng trong ta vẫn đầy dẫy khổ đau. Chúng ta có một khoảng trống lớn ở bên trong, vì vậy ta luôn tìm cách để lấp đầy khoảng trống đó.

Đó là hoàn cảnh hiện nay của chúng ta. Chúng ta không cảm thấy bình an với chính mình. Ta có một khoảng trống lớn, và ta không biết cách lấp khoảng trống đó bằng cách nào khá hơn, nên ta tìm đến sự tiêu thụ. Ta nghĩ rằng nếu ta có thể mua các vật dụng mới lạ thì ta có thể khỏa lấp khổ đau và lấp đầy khoảng trống ấy trong lòng. Nhưng cách ấy không đem lại hiệu quả mà ta mong muốn. Ta tiêu thụ ngày càng nhiều nhưng lại không cảm thấy thỏa mãn trong lòng. Ta cần thương yêu, cần bình an, nhưng ta lại không biết làm thế nào để chế tác bình an, vì vậy ta tìm kiếm ở bên ngoài để khỏa lấp những khổ đau và trống vắng trong lòng.

Dĩ nhiên là phải có một lối sống khác có thể giúp ta chế tác được tình thương, niềm vui mà ta không cần phải đi ra siêu thị để mua sắm. Nếu ta không biết cách tạo ra một lối sống như thế thì ta sẽ vẫn tiếp tục đi mua sắm.

Giả dụ như bạn biết cách thưởng thức thiền hành. Với một chút luyện tập, bạn sẽ biết cách đem tâm bạn trở về với thân, để cho thân và tâm hợp nhất. Khi thân và tâm cùng có mặt, bạn cũng thật sự có mặt, và bạn có thể nhận ra cơn mưa thật tuyệt làm sao, cây cối sao mà đẹp, và khí trời vẫn trong lành biết bao. Bạn thưởng thức hơi thở vào ra, và bạn có thể tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống trong giây phút hiện tại. Khi ta có chánh niệm về hình hài của mình và về những gì đang diễn ra xung quanh, ta có thể tiếp xúc với những phép lạ của sự sống xung quanh ta. Giây phút hiện tại này chứa đầy những điều mầu nhiệm. Nếu bạn không biết thưởng thức những mầu nhiệm đó, bạn sẽ không biết trân quý sự sống – trân quý những gì đang có mặt. Thay vào đó, bạn lại chạy theo một cái gì đó mà bạn cho là sẽ đem lại cho mình hạnh phúc.

Giả dụ như bạn tìm hiểu về Năm giới – năm phép thực tập chánh niệm. Năm giới là lối sống dựa trên cái thấy được gọi là tương tức: Mọi sự vật, hiện tượng đều liên hệ mật thiết với nhau. Hạnh phúc của ta và hạnh phúc của những loài khác tương tức với nhau. Nếu bạn khỏe mạnh, hạnh phúc thì các hình thái khác của sự sống cũng nhờ bạn mà được lợi lạc. Nếu bạn bị bệnh và đau khổ thì các loài khác cũng đau khổ cùng với bạn. Tuệ giác về tương tức ấy sẽ giúp bạn thấy được rằng bạn gắn kết với tất cả mọi người, mọi loài. Để bảo hộ cho chính bạn, bạn phải biết bảo hộ thiên nhiên và tất cả các loài khác. Tuệ giác tương tức ấy sẽ giúp bạn cởi bỏ kỳ thị, sợ hãi, giận dữ và giúp bạn thấy khỏe khoắn hơn nhiều.

Năm giới giúp ta bảo hộ sự sống. Giới thứ nhất là về bảo hộ sự sống – sự sống của chính ta và của các loài khác.

Sự sống của ta có liên hệ mật thiết tới sự sống của các loài khác. Khi ta bảo hộ sự sống của các loài khác thì ta cũng đang đồng thời bảo hộ sự sống của chính ta. Để bảo hộ cho chính ta, ta phải bảo hộ cho các loài khác, và đó chính là sự thực tập của giới thứ nhất. Khi bạn thở trong chánh niệm, bạn có thể thấy đất Mẹ ở trong bạn và bạn chính là đất Mẹ. Tuệ giác này giúp bạn vượt thoát sợ hãi về cái chết, và giúp bạn thấy rằng muốn bảo hộ cho chính mình thì bạn phải bảo hộ cho đất Mẹ. Bảo hộ đất Mẹ cũng chính là bảo hộ cho các loài khác, mà cũng là bảo hộ cho chính ta. Điều này rất là rõ ràng.

Ngay cả khi loài người chúng ta là loài trẻ nhất trong tất cả các loài trên trái đất, chúng ta cũng có thể đóng vai trò của một người anh, người chị lớn trong việc bảo hộ sự an vui của các loài khác. Đó là một việc làm rất đẹp, và cũng là điều mà đất Mẹ mong đợi ở loài người chúng ta. Bảo hộ sự sống là niềm vui, và là một hành động, một lối sống phát khởi từ tuệ giác tương tức. Bạn làm việc đó cho chính bạn bởi vì sự sống tương tức, nó không thể bị chia cắt ra thành nhiều mảnh. Bảo hộ sự sống mang lại cho bạn thật nhiều niềm vui bởi vì tự thân hành động đó chính là tình thương. Khi trong bạn có tình thương, bạn không cần phải chạy theo hoặc tìm kiếm một cái gì nữa cả, bởi vì tình thương tự nó đã đủ để cho bạn có bình an và hạnh phúc.

Giới thứ hai là hạnh phúc chân thực. Nếu ta nhận ra rằng hạnh phúc không thể nào có được chỉ bằng cách kiếm tiền và mua sắm, thì ta cần biết làm thế nào để chế tác ra hạnh phúc chân thực.

“Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cướp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập chia sẻ thời giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trên cả ba phương diện: tư duy, nói năng, và hành động trong đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy được hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con. Con biết hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, trong khi đó đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con ý thức được hạnh phúc chân thực phát sinh từ cách nhìn của con mà không phải từ bên ngoài đem tới. Thực tập tri túc giúp con sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Con nguyện thực tập Chánh mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi người, mọi loài, bảo hộ được trái đất và chấm dứt những nguyên nhân gây biến đổi khí hậu bất thường.”

Hạnh phúc chân thực là điều có thể có được và ta cần phải dừng lại, không chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền bạc và dục lạc. Ta cần nhận diện những mầu nhiệm của sự sống đang có sẵn cho ta trong giây phút hiện tại. Ta phải có khả năng giúp chính mình và giúp người khác bớt khổ. Đó là những gì rất cụ thể mà chúng ta có thể làm được và đó cũng là một phần của lối sống mà ta đang tìm kiếm.

Giới thứ ba là về tình thương đích thực. Ta phải học cách chế tác năng lượng của từ, bi, hỉ và xả: Đó là nghệ thuật thương yêu.

Nếu bạn quá bận rộn, nếu bạn chỉ nghĩ về chuyện tiêu thụ, làm sao bạn có thì giờ để thương yêu? Có một điều mà ta học được ở giới thứ ba: Tình dục không phải là tình yêu, hai cái đó rất khác nhau, bởi vì tình yêu mang tính chất xây dựng, phục hồi và trị liệu. Ta phải học cách thương yêu chính bản thân mình, chăm sóc thân thể mình, buông bỏ các căng thẳng và đau nhức trong cơ thể. Có những cách rất cụ thể để làm việc đó.

Có thể bạn đã biết cách thực tập tiếp xúc với đất Mẹ qua những bước chân thiền hành, hoặc nghỉ ngơi, cho phép thiên nhiên trị liệu cho mình. Bạn cũng biết cách buông bỏ căng thẳng hay đau nhức trong cơ thể, không bắt cơ thể làm việc quá sức. Tất cả những cái đó bạn đều có thể làm được, nhưng nếu bạn quá bận rộn kiếm tiền để mua sắm thì làm sao bạn có thì giờ để thực hiện? Trong chúng ta có những người biết cách tổ chức cuộc sống để có thì giờ thương yêu, chăm sóc cho chính mình và cho những người xung quanh.

Mỗi khi tiếp xúc với khổ đau, hiểu được khổ đau của chính mình và của người khác thì năng lượng từ bi sẽ phát khởi trong tâm bạn. Thật vậy, mỗi khi ta tiếp xúc với khổ đau, nhìn sâu vào tự tánh của khổ đau, ta có thể thấy được nguyên nhân của nó, và khi đó từ bi sẽ phát khởi trong ta như một loại năng lượng, dù khổ đau đó là của chính ta hay của người khác. Vì vậy tiếp xúc với khổ đau và cho phép năng lượng của từ bi phát khởi là một việc ta có thể làm được, với điều kiện là ta không quá bận rộn kiếm tiền hay mua sắm. Năng lượng của từ bi có thể chữa lành cho ta, cho người khác và cho trái đất. Học chế tác niềm vui và hạnh phúc bằng cách tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống, và chế tác năng lượng từ bi bằng cách tiếp xúc và tìm hiểu nỗi khổ niềm đau là những cách thức mà ta có thể làm được. Đây cũng là một phần của lối sống có thể giúp chữa lành thương tích cho ta và cho đất Mẹ. Ta có thể thực tập giới thứ ba này chung với nhau như một cộng đồng tu học.

Giới thứ tư – Ái ngữ và Lắng nghe sâu – liên quan đến cách phục hồi truyền thông giữa cha mẹ và con cái, giữa vợ chồng, giữa anh chị em, v.v… Nếu ta không thể truyền thông với nhau, ta sẽ khổ. Thông thường ta không có truyền thông ngay cả với chính mình. Ta không thích chính mình, ta ghét bản thân, ta không biết cách lắng nghe mình và giúp chính bản thân mình. Vì vậy thực tập ái ngữ và lắng nghe sâu cũng là thực tập với chính mình. Ta phải học cách lắng nghe chính mình, lắng nghe những thao thức sâu sắc nhất của mình, lắng nghe nỗi khổ niềm đau trong tâm mình để hiểu. Khi ta hiểu được khổ đau của chính mình, ước mong sâu sắc nhất của mình, ta sẽ có thể lắng nghe khổ đau và thao thức của người khác. Đây là việc ta có thể làm được – đây chính là đối tượng thực tập của giới thứ tư.

Xã hội chúng ta đang bị chia rẽ trầm trọng. Chúng ta muốn sát hại nhau, và sự sát hại xảy ra khắp mọi nơi, mọi lúc. Chúng ta có quá nhiều giận dữ, sợ hãi, kỳ thị, tuyệt vọng bởi vì không có đủ truyền thông giữa các thành viên trong cộng đồng nhân loại. Chúng ta không chỉ giết hại những loài sinh vật khác, mà chúng ta còn giết hại đồng loại. Điều đó cho thấy sự phát triển của khoa học công nghệ không đủ để kết nối mọi người lại với nhau. Ta phải học cách lắng nghe nhau, cách nói năng từ ái.

Đọc giới thứ tư, có thể thấy ta cần thời gian để rèn luyện cho mình khả năng lắng nghe sâu và nói năng bằng lời từ ái. Tuy nhiên, ai trong chúng ta cũng có thể làm được điều này. Chỉ cần bốn ngày tham dự khóa tu tại một trong những trung tâm tu tập của chúng tôi, thiền sinh đã báo cáo về những thành công của họ. Phép lạ luôn luôn xảy ra trong những khóa tu này. Tình thâm, sự truyền thông luôn có thể được nối lại. Đó là một phần của lối sống mà bạn đang tìm kiếm. Nó đang có đó – một lối sống cao quý. Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể tiếp nhận lối sống ấy.

Giới thứ năm là về sự thực tập nuôi dưỡng và trị liệu. Tất cả chúng ta ai cũng cần được nuôi dưỡng và trị liệu. Phần đông ai cũng có bệnh nhưng ta không biết cách quay về với thiên nhiên để được trị liệu. Ta không biết cách chế tác năng lượng của từ bi và niềm vui để trị liệu cho chính mình. Ta trông cậy vào thuốc men, trụ sinh và phẫu thuật. Đọc giới thứ năm, ta có thể thấy tiêu thụ có chánh niệm chính là lối thoát cho chúng ta. Nội dung của giới thứ năm chính là một phần của câu trả lời giúp ta thoát khỏi lối sống tiêu thụ quá mức.

Đây là sự thực tập chính yếu: tiêu thụ. Ta không thể nào ra khỏi hoàn cảnh khó khăn đầy tuyệt vọng của mình trừ khi ta làm một cuộc bức phá trong cách tiêu thụ. “Con nguyện nhìn sâu vào các loại thực phẩm mà con tiêu thụ qua đường miệng và các giác quan, nhìn sâu vào bản chất của những ước muốn trong con cũng như những loại thức ăn cho tâm thức. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới toàn cầu, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con mà không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ; không để lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong xã hội, và trong môi trường sống.”

Ta có thể đạt được sự thỏa mãn cả về tài chính lẫn tâm linh hay không? Hay có cái này thì không thể có cái kia?

Bạn có thể vừa là một người giàu có vừa là một người tâm linh hay không? Bạn có cần giàu có? Bạn có cần kiếm nhiều tiền hay không? Chúng tôi cũng cần tiền, nhưng không phải để tiêu thụ. Chúng tôi cần tiền để tổ chức các chuyến hoằng pháp, để thuê xe buýt, để xây dựng một trung tâm thiền tập. Khi chúng tôi đến một thành phố, chúng tôi cần một ít tiền để mua vé xe cho các thầy, các sư cô bởi vì chúng tôi biết là trong một khóa tu, để sự chuyển hóa có thể xảy ra cho thiền sinh, chúng ta cần có đủ số lượng các vị giáo thọ và xuất sĩ.

Nhưng chúng tôi tìm kiếm sự hỗ trợ về tài chính không phải để mua sắm các sản phẩm mới mẻ và hấp dẫn, mà để có thêm chỗ cho thiền sinh ở trong khóa tu và các vị xuất sĩ có thể tham gia với số lượng đông hơn, để xây dựng thiền đường, nơi tu học. Nhưng tất cả những hỗ trợ đó chỉ xảy ra khi sự thực tập tâm linh của chúng tôi mang lại hoa trái, khi đó sẽ có những người bạn xuất hiện hỗ trợ về mặt tài chính. Rất rõ ràng là sự thực tập tâm linh có thể mang đến rất nhiều hạnh phúc, tình thương và sự mãn ý. Và bạn không cần phải có rất nhiều tiền để có hạnh phúc, vì vậy tiền bạc không còn là một vấn đề đáng lo ngại. Nếu có sự yểm trợ về tài chính thì càng có nhiều người được lợi lạc từ sự thực tập. Nếu chúng tôi có sự giới hạn về điều kiện tài chính thì số lượng thiền sinh đến tu học cũng bị giới hạn, tuy nhiên chúng tôi sẽ không hy sinh đời sống tâm linh của mình để tài chính được dồi dào.

Nguồn: https://theecologist.org/2012/mar/22/thich-nhat-hanh-100-years-there-may-be-no-more-humans-planet-earth

Chỉ có tình thương mới có thể cứu chúng ta khỏi những hiểm họa của biến đổi khí hậu

 

Jo Confino

(Đăng ngày 21.1.2013 trên tờ The Guardian)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh là một trong những vị thầy tâm linh có ảnh hưởng hàng đầu trên thế giới. Năng lượng bình an nơi Thầy thật hùng hậu, ngay cả khi Thầy dự đoán nền văn minh của nhân loại có khả năng sụp đổ trong vòng một trăm năm tới do hậu quả của biến đổi khí hậu.

Vị thầy người Việt hiện đã 86 tuổi này – người có hàng trăm ngàn đệ tử xuất gia và tại gia trên khắp thế giới – cho rằng: Sở dĩ phần lớn chúng ta không hành động gì để đối phó lại trước nguy cơ trái đất bị hâm nóng, cho dù đã có vô số các chứng cứ khoa học, là vì chúng ta không có khả năng tự cứu mình khỏi những khổ đau của tự thân thì làm sao có thể lo lắng cho vận mệnh của đất Mẹ.

Thầy nói rằng bình an là điều mà chúng ta có thể có được nếu chúng ta chọc thủng được bức màn của thế giới hiện tượng vốn được xây dựng dựa trên ý niệm về sinh – diệt để chạm tới thế giới bản môn, thế giới không sinh không diệt.

Nhận thấy tính cách tương tức của vạn hữu trong vũ trụ, chúng ta sẽ vượt thoát ý niệm cho rằng chúng ta là những thực thể tách biệt, khi đó tình thương, lòng từ bi trong ta sẽ trở nên rộng lớn và chính năng lượng đó thôi thúc ta hành động để bảo hộ đất Mẹ.

Nhìn sâu vào nỗi sợ hãi

Trong tác phẩm mới xuất bản có tên là Nỗi sợ hãi (Fear), Thầy viết rằng con người chúng ta thường bỏ ra quá nhiều thời gian để lo lắng về bệnh tật, về cái già, về sự mất mát những gì mà chúng ta trân quý nhất, cho dù sự thật hiển nhiên là một ngày nào đó chúng ta sẽ phải buông bỏ tất cả.

“Chúng ta không chỉ là hình hài nhỏ bé này mà thôi, và chúng ta không phải từ không mà trở thành có và rồi từ có mà tan biến vào hư vô. Thấy được điều đó thì chúng ta sẽ thoát khỏi sợ hãi”, Thầy nói. “Không những vượt thoát được sợ hãi, chúng ta còn chạm tới được niềm vui lớn nhất”.

Chia sẻ với tôi tại Làng Mai – nước Pháp, Thầy nói rằng: “Chúng ta cần nhìn lại ý niệm của mình về thời gian. Đối với chúng ta, tình trạng hiện giờ rất khẩn cấp, rất đáng báo động, nhưng đối với đất Mẹ thì đất Mẹ vẫn có khả năng tự trị liệu cho chính mình cho dù công việc đó phải mất khoảng 100 triệu năm. Chúng ta cho rằng thời gian của con người trên trái đất chỉ khoảng 100 năm, thành ra chúng ta thiếu kiên nhẫn. Hành động và sự vô minh tập thể của loài người chúng ta cũng như năng lượng giận dữ và bạo động tập thể sẽ đưa chúng ta đến chỗ bị hủy diệt và chúng ta phải chấp nhận điều đó.

“Và có thể đất Mẹ sẽ sản sinh ra một vĩ nhân trong một thập niên tới… Chúng ta không thể biết và không thể nói trước được. Đất Mẹ rất tài năng. Người đã từng sản sinh ra các vị Bụt, các vị Bồ tát và các bậc đại nhân.

“Vì vậy ta hãy nương tựa đất Mẹ, phó thác thân mạng cho Mẹ và nhờ Mẹ trị liệu, cứu giúp chúng ta. Và ta phải chấp nhận rằng điều xấu nhất có thể sẽ xảy ra: Chúng ta sẽ bị hủy diệt như các chủng loại khác trên trái đất và đất Mẹ sẽ có khả năng đưa chúng ta biểu hiện trở lại, có thể là sau hàng triệu năm, và lần biểu hiện sau này chúng ta sẽ có nhiều tuệ giác hơn.”

Đối diện với sự thật

Thầy chỉ ra rằng phần lớn chúng ta thường chạy theo danh lợi, giàu sang, quyền hành và sắc dục, coi đây là nơi trú ẩn tuyệt hảo để trốn tránh thực tại đầy khó khăn, thách thức mà thế giới đang phải đối mặt. Thêm vào đó, lối sống xô bồ cùng thói quen hưởng thụ những tiện nghi vật chất chỉ tạo ra một miếng băng dán tạm thời để băng bó cho những vết thương sâu về cảm xúc và tâm linh bên trong ta. Điều này chỉ làm tăng thêm sự cô đơn và khổ đau.

Trước thực trạng con người vẫn chưa có những hành động cần thiết để đối diện với hệ thống sinh thái đang bị phá hủy, sự đa dạng sinh học đang suy giảm nhanh chóng, Thầy chia sẻ rằng: “Có những người đã thấy được thực trạng nhưng vẫn không muốn thức tỉnh, bởi vì thực trạng đó làm cho họ khổ, họ không thể đối diện với sự thực. Không phải là họ không biết chuyện gì đang xảy ra. Chỉ là họ không muốn nghĩ về nó mà thôi.

“Họ làm cho mình thật bận rộn để quên đi thực tại. Với những người như vậy, ta đừng khuyên họ nên làm thế này, không nên làm thế kia cho tương lai. Ta hãy trò chuyện như thế nào để chạm được trái tim của những người ấy, giúp họ cùng bước trên con đường của hạnh phúc chân thực, con đường của hiểu biết và thương yêu. Khi đã nếm được một chút bình an và thương yêu thì họ sẽ thức tỉnh”.

Thầy đã thành lập phong trào Đạo Bụt Dấn Thân nhằm thúc đẩy vai trò tích cực của cá nhân trong việc tạo ra sự thay đổi trong xã hội. Thông qua Năm giới tân tu – được xem như một tấm bản đồ chỉ đường đưa ta đi về nếp sống đạo đức – Thầy kêu gọi mọi người không tiêu thụ các sản phẩm gây hại đến môi trường và đối diện với những bất công xã hội.

Thuyết phục những người có thế lực trong xã hội thay đổi cách hành xử của mình là điều không hề dễ dàng, vì vậy Thầy cho rằng các phong trào tự phát từ quần chúng rất cần thiết, đây cũng là chiến thuật của Thánh Gandhi. Tuy nhiên, Thầy nhấn mạnh rằng điều này chỉ thực sự hiệu quả khi những nhà hoạt động vì môi trường biết cách đối diện với cơn giận và sự sợ hãi trong họ trước tiên, thay vì hướng năng lượng đó vào những người mà họ cho là phải chịu trách nhiệm cho tình trạng ô nhiễm môi trường.

Người tiêu thụ tỉnh thức có thể ảnh hưởng đến đường lối kinh doanh của doanh nghiệp.

Về những doanh nghiệp chuyên sản xuất các sản phẩm độc hại, Thầy nói rằng: “Những doanh nghiệp đó không nên tiếp tục sản xuất những sản phẩm độc hại. Chúng ta không cần các sản phẩm như vậy. Chúng ta cần những loại sản phẩm giúp ta khỏe mạnh hơn. Nếu những người tiêu thụ có sự tỉnh thức thì nhà sản xuất sẽ phải thay đổi. Chúng ta có thể buộc họ thay đổi bằng cách không tiêu thụ các sản phẩm của họ.

“Thánh Gandhi đã kêu gọi được người dân Ấn Độ tẩy chay một số hàng hóa để phản đối chính sách của nước Anh. Ông biết cách chăm sóc cho chính mình trong quá trình tranh đấu bất bạo động. Ông biết giữ gìn năng lượng vì cuộc đấu tranh sẽ kéo dài. Chính vì vậy sự thực tập tâm linh rất cần thiết nếu ta muốn giúp thay đổi xã hội.”

Thầy, tác giả của hơn 100 đầu sách trong đó có cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức, nói rằng những người có quyền lực trong xã hội không dễ lên tiếng về sự tàn hại mà hệ thống kinh tế hiện nay gây ra đối với môi trường, vì họ sợ bị tẩy chay và nhạo báng. Tuy nhiên, chúng ta cần có thêm nhiều nhà lãnh đạo có can đảm thay đổi tình trạng.

“Để có thể làm được điều này, các nhà lãnh đạo kinh tế và chính trị cần nuôi dưỡng tình thương, lòng từ bi để có thể ôm ấp và làm giảm bớt cái ngã của mình”, Thầy nói.

“Sở dĩ ta có can đảm nói ra sự thật là vì ta có lòng từ bi trong trái tim, lòng từ bi là một loại năng lượng rất hùng hậu,” Thầy nói. “Với lòng từ bi, ta có thể hy sinh thân mạng mình vì người khác, như người mẹ có thể hy sinh thân mạng cho đứa con của mình. Ta có can đảm nói ra sự thật vì ta không sợ mất gì cả, ta biết rằng hiểu biết và thương yêu là nền tảng của hạnh phúc. Còn nếu vẫn sợ mất địa vị, quyền lực thì ta sẽ không có đủ can đảm để làm điều đó”.

Giây phút suy ngẫm

Trong khi nhiều người đang mất phương hướng trước những phức tạp của cuộc sống và bị choáng ngợp bởi quá nhiều lựa chọn trong một xã hội tiêu thụ, những khóa tu do Thầy hướng dẫn chỉ ra cho mọi người một cách sống khác, khá giản dị mà vô cùng sâu sắc.

Trong khóa tu an cư kiết đông ở Làng, Thầy thường xuyên hướng dẫn cho hàng trăm xuất sĩ và cư sĩ về sự thực tập tắt “đài phát thanh” (những ồn ào không dứt) trong đầu mình và tập trung vào những thực tập căn bản về chánh niệm như thưởng thức hơi thở ý thức, chế tác niềm vui trong khi đi thiền hành và nhìn sâu vào giây phút hiện tại.

Thầy chỉ ra rằng thay vì tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề trong cuộc sống bằng tư duy triết học hay tìm kiếm những trải nghiệm tột đỉnh thăng hoa, ta có thể tìm thấy hạnh phúc thật sự khi tiếp xúc được với sự mầu nhiệm trong những điều rất đỗi bình thường của đời sống hàng ngày, những điều mà ta thường xem nhẹ.

Chẳng hạn như trái tim làm việc suốt ngày đêm để giữ gìn sự sống cho ta, nhưng ta có thường thể hiện sự trân quý đối với trái tim không? Thầy chia sẻ rằng ta có thể tìm thấy những chân lý thâm diệu khi định tâm vào một việc đơn giản như ăn một củ cà rốt. Khi sự định tâm của ta vững chãi, ta sẽ thấy được rằng củ cà rốt đó không thể nào tồn tại nếu không có sự góp mặt của cả vũ trụ.

“Nếu bạn thực sự tiếp xúc với một miếng cà rốt, bạn sẽ tiếp xúc được với đất, với mưa, với ánh nắng mặt trời,” Thầy nói. “Bạn cũng đồng thời tiếp xúc được với đất Mẹ. Ăn như thế, bạn cảm thấy mình đang thực sự tiếp xúc với sự sống, với gốc rễ của mình. Và đó là thiền quán. Nếu ta nhai mỗi miếng thức ăn theo cách đó, ta sẽ phát khởi tâm niệm biết ơn. Và chừng nào còn biết ơn, chừng đó ta còn hạnh phúc”.

Dù thiền tập mỗi ngày trong bảy mươi năm qua, Thầy vẫn tin rằng mình vẫn còn nhiều điều để học hỏi. “Trong đạo Bụt, thương yêu được diễn tả thành bốn khía cạnh mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng hay tứ vô lượng tâm. Bốn tâm đó là từ, bi, hỷ và xả. Vô lượng có nghĩa là không thể đo lường được, không có biên giới.

“Đó là cách nhìn của Bụt. Các đệ tử của Bụt coi Bụt như một con người toàn hảo, nhưng đó là vì lòng thương kính mà thôi, sự thật là ta không bao giờ có thể toàn hảo được. Mà ta cũng không cần phải toàn hảo. Nếu mỗi ngày ta có tiến bộ một chút, có thêm một chút niềm vui và bình an, vậy là tốt rồi. Vì vậy tôi vẫn đang tiếp tục thực tập và có những cái thấy mỗi ngày mỗi sâu hơn.

“Sự thực tập không hề có giới hạn. Và tôi nghĩ là điều này cũng đúng đối với loài người chúng ta. Chúng ta có thể tiếp tục học hỏi từ thế hệ này sang thế hệ khác, và bây giờ là lúc chúng ta cần bắt đầu học hỏi cách thương yêu không kỳ thị, bởi vì loài người chúng ta đã có đủ thông minh, nhưng chưa có đủ tình thương.”

Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Một cuộc đời thầm lặng

Thầy thường được so sánh với Đức Đạt Lai Lạt Ma, nhưng Người luôn tìm cách tránh sự chú ý của công chúng và chọn sống một nếp sống giản dị, thầm lặng của một người tu. Thầy đã tránh cái bẫy của sự nổi tiếng và chỉ đồng ý phỏng vấn đối với những phóng viên chịu dành thời gian thiền tập với Thầy trước khi phỏng vấn, vì chánh niệm là cái cần phải được trải nghiệm thay vì được mô tả.

Nhưng Thầy không phải là người sống khép kín. Người đã sống một cuộc đời phi thường và đã được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967 vì những đóng góp của Người trong việc chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Trong thư đề cử của mình, Mục sư King nói rằng: “Cá nhân tôi không thấy ai xứng đáng được trao giải Nobel Hòa bình hơn vị thầy tu Phật giáo đến từ Việt Nam này. Những phát kiến cho hòa bình của Ngài, nếu được áp dụng, sẽ dựng nên một tượng đài của tinh thần đại đồng, tình huynh đệ và nhân bản”.

Thầy đã thành lập nên Làng Mai tại Pháp cách đây 30 năm, từ khi sống nơi xứ người, và sau đó thành lập thêm nhiều tu viện khác tại Mỹ, Thái Lan, Hồng Kông, cũng như Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức. Người vẫn tiếp tục phụng sự cho hòa bình, hòa giải các cuộc xung đột trên thế giới, trong đó phải kể đến việc tổ chức các khóa tu cho người Israel và Palestin.

Dù đã đạt được rất nhiều thành tựu, – gần đây Thầy đã được mời làm Tổng biên tập danh dự của tờ báo Times of India khi tờ báo này ra ấn bản đặc biệt về hòa bình – Thầy vẫn khiêm tốn khi nhìn lại cuộc đời mình.

“Tôi không đạt được gì nhiều ngoài một chút bình an, một chút hỷ lạc trong tự thân. Như vậy cũng đã nhiều rồi,” Thầy nói. “Những giây phút hạnh phúc nhất là khi tôi ngồi yên và cảm nhận được sự có mặt của các vị xuất sĩ lẫn cư sĩ đang cùng nhau thực tập thiền tọa hay thiền hành. Đó là thành tựu chính, còn việc xuất bản sách và thành lập các viện Phật học ứng dụng như ở Đức, những cái đó không quan trọng.

“Điều quan trọng là xây dựng được một tăng thân – một cộng đồng tu học, và tôi có một cái thấy là đức Bụt của thời đại chúng ta có thể không phải là một cá nhân mà là một tăng thân. Nếu mỗi ngày ta thực tập thiền hành, thiền tọa và chế tác năng lượng của niệm, định và bình an thì ta đang là một tế bào trong thân của Bụt. Đây không phải là một giấc mơ. Điều này có thể thực hiện được ngay hôm nay và ngày mai. Bụt không phải ở một nơi xa xôi mà Bụt đang có mặt ngay bây giờ và ở đây”.

Mặc dù tại thời điểm này Thầy vẫn đang khỏe mạnh và trí tuệ của Người sắc bén như một lưỡi gươm nhưng Thầy đã lớn tuổi và sẽ không thể tiếp tục có những chuyến hoằng pháp dài ngày trên khắp thế giới như trước đây. Năm nay Thầy có chuyến hoằng pháp tại nhiều tiểu bang của Mỹ cũng như tại một số nước châu Á, và có lẽ đây sẽ là chuyến hoằng pháp ra nước ngoài cuối cùng của Thầy.

Dù Thầy tin rằng bản chất của chúng ta là vô sinh bất diệt nhưng Thầy cảm thấy như thế nào về sự ra đi của chính mình?

“Tôi sẽ không chết nhưng sẽ tiếp tục nơi những người khác, đó là điều rất rõ ràng,” Thầy nói. “Không có gì mất đi cả. Và tôi rất vui vì đã được tham gia vào công trình làm mới lại giáo lý của Bụt. Có nhiều người đã hiểu sai lời Bụt dạy, vì vậy chúng ta cố gắng làm cho giáo lý của Bụt trở nên dễ hiểu, dễ áp dụng đối với tất cả mọi người.”

Nâng chén trà trong tay, Thầy nói thêm: “Tôi đã chết rất nhiều lần, có thể nói chúng ta đều được sinh ra và chết đi trong mỗi phút giây, đó là cách mà chúng ta cần rèn luyện cho chính mình. Cũng giống như lá trà, khi ta cho lá trà vào ấm rồi đổ nước sôi lên, vài phút sau là ta có trà để uống. Rồi ta chế thêm nước sôi để có ly trà thứ hai. Sau vài lần như vậy, ta sẽ thấy rằng lá trà tuy còn trong ấm nhưng hương vị của nó đã đi vào ly trà rồi, cái còn lại trong ấm chỉ là bã trà mà thôi.

“Nhưng đó không có nghĩa là lá trà đã chết. Dù chỉ còn là bã trà nhưng ta vẫn có thể sử dụng chúng để bón cho chậu hoa trong vườn và như vậy lá trà vẫn tiếp tục hiến tặng cho cuộc đời. Chúng ta phải nhìn hiện tượng sinh – diệt theo cách đó. Vì vậy khi tôi nhìn các đệ tử xuất sĩ và cư sĩ đang thực tập, tôi thấy đó là sự tiếp nối của Bụt, đó cũng là sự tiếp nối của chính tôi.”

Nhận được một lá thư cho biết là có một vị đã xây một ngôi tháp tại Hà Nội để tưởng nhớ công đức của Thầy, gần đây Thầy đã gửi một lá thư cho Tổ đình Từ Hiếu tại Huế nơi Thầy xuất gia tu học và nói rõ rằng: “Thầy không muốn sau này quý vị xây cho thầy một ngôi tháp ở Tổ Đình. Tốn đất chùa vô ích. Thầy rất không thích chuyện lấy một mớ tro từ hình hài của thầy bỏ vào trong một cái hũ, rồi đặt vào trong tháp. Thầy không muốn được tiếp nối như vậy. Đem tro mà rải hết ra ngoài để nuôi cây cỏ. Đừng ngăn sự tiếp nối của nắm tro ấy.”

Thầy nói thêm: “Nếu đã lỡ xây rồi thì phải ghi lên trước tháp mấy chữ: Trong này không có gì. Thầy không nằm trong tháp ấy đâu. Nếu người ta vẫn chưa hiểu thì ghi thêm một câu nữa: Ngoài kia cũng không có gì. Và nếu vẫn còn chưa hiểu thì ghi thêm một câu chót là: Nếu có gì thì nó có trong bước chân và hơi thở của bạn”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/zen-master-thich-nhat-hanh-love-climate-change

Thiền sư Thích Nhất Hạnh nói gì về khổ đau, hy vọng và thành đạt

 

Malte Conradi Sarah Raich

(Đăng trên tờ The Suddeutsche Zeitung của Đức, ngày 1 & 2.06.2013)

Nếu nhân vật Yoda – nhà hiền triết trong phim Chiến tranh giữa các vì sao (Star Wars) – được xây dựng dựa trên một người có thật trong cuộc đời thì ắt hẳn phải là vị thầy này.

Đầu cạo sạch và mặc chiếc áo tràng nâu của một tu sĩ Phật giáo, Thiền sư Thích Nhất Hạnh, 86 tuổi, đang ngồi dưới sàn của thiền đường, mỉm cười thân thiện với chúng tôi. Trước mặt Thầy là một bình trà mới pha. Ông thầy tu nhỏ bé và hiền lành này được xem là người đại diện quan trọng nhất cho Phật giáo, sau Đức Đạt Lai Lạt Ma. Thầy buộc phải rời quê hương Việt Nam của mình từ năm 1966 để kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh Việt Nam. Điều này đã không làm hài lòng nhà cầm quyền Việt Nam thời bấy giờ, vì vậy Thầy không được về lại quê hương. Thầy sống lưu vong tại miền Nam nước Pháp và từ nơi này, Thầy đã đem những phương pháp thực tập của đạo Bụt giảng dạy cho người Tây phương. Mỗi năm một lần, Thầy đến Đức để giảng dạy cho các vị xuất sĩ lẫn cư sĩ tại một vùng quê của miền Rhineland.

Phỏng vấn ư? Thầy hiếm khi có thời giờ cho chuyện này. Và nếu có thì các đệ tử của Thầy cũng tận dụng cơ hội này để đến lắng nghe và học hỏi. Sau 90 phút, Thầy vẫn ngồi trong tư thế kiết già, lưng thẳng như cây nến, trong khi khách thì xương cốt đã rêm đau từ lâu rồi.

SZ: Thầy đã chứng kiến rất nhiều khổ đau trong cuộc đời, vậy Thầy làm cách nào để vẫn giữ cho mình niềm hy vọng?

Thầy: Đúng vậy, tôi đã chứng kiến rất nhiều khổ đau, nhất là trong cuộc chiến tranh tại Việt Nam. Hồi đó, tôi cùng với các tác viên xã hội giúp xây dựng những ngôi làng ở vùng phi quân sự làm nơi tị nạn cho người dân. Sau đó không lâu, ngôi làng bị lính Mỹ dội bom. Chúng tôi đã dựng lại. Ngôi làng lại bị dội bom. Và chúng tôi dựng lại thêm một lần nữa. Đến lần thứ ba, chúng tôi bàn với nhau có nên dựng lại hay không. Lúc ấy tôi thấy rằng nếu chúng tôi bỏ cuộc thì người dân sẽ mất hết hy vọng. Vì thế chúng tôi đã tái thiết ngôi làng lần thứ ba, lần thứ tư và cuối cùng là lần thứ năm.

SZ: Nhưng Thầy đã lấy nghị lực từ đâu để làm được điều đó?

Thầy: Chúng tôi cố gắng biến khổ đau thành điều tốt lành. Hoa sen cũng phải cần có bùn để sống. Hoa sen không thể mọc trên đá cẩm thạch được. Chúng ta cần nhận thấy rằng hạnh phúc và khổ đau có mối liên hệ mật thiết với nhau. Nếu ta trốn chạy khổ đau thì cũng khó tìm ra hạnh phúc. Trái lại, chúng ta nên tìm hiểu những nguyên nhân gốc rễ đưa đến khổ đau. Chỉ khi đó hiểu biết và thương yêu trong ta mới có cơ hội lớn lên.

Hiểu biết và thương yêu là chìa khóa của hạnh phúc. Mọi của cải và quyền hành trên thế gian này không thể đem lại hạnh phúc, nếu không có hiểu và thương. Trước những hành động cực đoan, đàn áp, sân hận và sợ hãi thì mình chỉ có một cách mà thôi: Hãy nhìn sâu vào lớp bùn để có thể trồng trên đó một đóa sen. Nếu ta có thể nhận ra những khổ đau trong lòng của kẻ gây hấn với mình thì ta sẽ không còn thù ghét người đó nữa.

SZ: Hôm nay, Thầy mời những người Tây phương đến tu viện để chia sẻ về giáo lý của đạo Bụt. Cụ thể Thầy hướng dẫn những gì?

Thầy: Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể áp dụng phương pháp thực tập của chúng tôi. Chúng tôi gọi phương pháp này là chánh niệm. Đó là nghệ thuật sống trong hiện tại, một loại năng lượng mà chính bạn có thể tự tạo ra. Chánh niệm giúp cho ta buông bỏ những căng thẳng, buồn phiền và thưởng thức cuộc sống nhiều hơn. Những người bạn Tây phương đến với chúng tôi được học cách đối diện với khổ đau, sân hận và hoang mang trong mình. Sau một khóa tu với chúng tôi, những vị ấy sẽ biết làm thế nào để chế tác thêm niềm vui và bình an trong cuộc sống của mình, làm thế nào để tái lập truyền thông với những người chung quanh. Có thể bạn gọi chúng tôi là những người Phật tử, nhưng thật ra những gì mà chúng tôi đang thực tập đều có thể áp dụng cho tất cả mọi người.

SZ: Điều Thầy vừa nói nghe có vẻ trừu tượng quá.

Thầy: Ồ, thực ra nó đơn giản lắm! Ví dụ khi đi từ bãi đậu xe đến văn phòng, bạn dừng lại hết những suy tư của bạn trong thời gian đó. Bạn chỉ đi bằng chân mà không đi bằng cái đầu của mình, bước từng bước từng bước thong thả như vậy. Phải cần thực tập một chút, nhưng những bước chân chánh niệm sẽ đưa bạn trở về với phút giây hiện tại, bây giờ và ở đây. Nó làm cho bạn trở thành một con người tự do. Nếu bạn biết thưởng thức từng bước chân của mình thì khi vào đến công sở, bạn sẽ có thể đưa ra những quyết định thật sáng suốt, thật hay. Bạn thấy đó, những thực tập này rất đơn giản và cụ thể. Chỉ cần vài ngày thực tập là bạn sẽ thấy rõ sự chuyển hóa và trị liệu. Chính bạn sẽ tự chứng nghiệm điều đó.

SZ: Nhưng trong đời sống ta có rất nhiều thứ phải suy nghĩ, lo âu và chịu nhiều áp lực. Làm sao ta có thể đi đến chỗ làm việc của mình một cách thảnh thơi được?

Thầy: Để tôi kể bạn nghe một câu chuyện. Trước đây tôi có biết một phụ nữ trẻ tên là Laura. Chồng của cô là Frederik, một doanh nhân thành đạt. Mặc dù có đầy đủ mọi thứ nhưng Laura không hạnh phúc, vì hai vợ chồng không có thì giờ cho nhau và cho đứa con trai của họ. Frederik chỉ có thì giờ cho công việc mà thôi. Lúc ban đầu, Laura rất hãnh diện về chồng mình, nhưng không lâu sau đó cô bắt đầu cảm thấy cô đơn. Cô thử nhiều cách như quay lại đại học và học thêm một văn bằng khác, tổ chức các công tác từ thiện. Nhưng dường như những cách này không giúp được gì cho cô cả. Nhiều đêm cô nằm khóc. Mỗi lần như vậy Frederik cố giải thích với cô rằng không ai có thể thay thế anh trong công việc ở công ty cả. Anh nói, có thể ba năm nữa anh sẽ bớt việc hơn. Nhưng sau ba năm, anh vẫn làm việc lu bù như trước. Thậm chí anh còn không có thì giờ đến nhà thương thăm đứa con trai khi nó làm phẫu thuật. Rồi một ngày nọ, Frederik bị tai nạn xe hơi và qua đời. Chỉ ba ngày sau đó, đã có một người khác lên thay vị trí của anh trong công ty. Chuyện như vậy có thể xảy ra với nhiều người. Chúng ta phải thức tỉnh thôi. Thức tỉnh ngay bây giờ, chứ không phải chờ đến ba năm nữa. Đừng hy sinh hạnh phúc hôm nay của mình cho một tương lai nào đó!

SZ: Vì sao người Tây phương lại thích pháp môn của Thầy?

Thầy: Chúng ta đang trải qua một cuộc khủng hoảng trầm trọng, nhất là ở Tây phương. Ngày càng có nhiều người chạy trốn những khổ đau, buồn phiền của chính mình, họ sợ phải đối diện với những khổ đau đó. Vì vậy họ tiêu thụ ngày càng nhiều: âm nhạc, rượu, thức ăn, internet. Họ không phải tiêu thụ vì họ cần những thứ đó, mà vì họ không chịu nổi sự cô đơn của mình, không chịu nổi khoảng trống vắng trong tâm hồn mình. Chúng ta lo sợ nỗi buồn sẽ nhấn chìm chúng ta, nếu chúng ta đối diện với nó. Nhưng nỗi buồn lại ngày càng lớn thêm lên. Chúng ta hối tiếc về quá khứ, sợ hãi và lo lắng cho tương lai. Trong tình trạng đó, sự thực tập chánh niệm sẽ giúp chúng ta. Khi chúng ta buông thả được quá khứ và tương lai, thì chúng ta cũng đồng thời giải thoát cho mình khỏi những ưu sầu và khổ đau rồi.

SZ: Thầy đã sống gần 50 năm ở Tây phương. Điều này có tạo ra sự thay đổi nào trong việc giảng dạy của Thầy không?

Thầy: Khi phải sống lưu vong sau chiến tranh Việt Nam, tôi phải tìm cách làm quen với cách suy nghĩ và làm việc của người Tây phương. Điều này giúp tôi trình bày giáo lý đạo Bụt theo những cách mà người phương Tây có thể tiếp nhận một cách dễ dàng. Tôi tránh dùng những từ Phật giáo, mà tìm những cách nói giản dị hơn. Ví dụ, từ “sám hối” là một từ khá nặng nề cho người Tây phương. Cho nên chúng tôi dùng từ “địa xúc” hay là “tiếp xúc với đất”. Bạn hãy chạm vào mặt đất và làm mới chính mình, hãy để quá khứ lại sau lưng bạn. Ngày nay, chúng tôi thậm chí còn đem một số cách nói như thế này sang tiếng Việt. Trong mọi ngôn ngữ, chúng ta đều cần một cách nói mới để truyền đạt cho giới trẻ. Người Tây phương thích pháp môn của chúng tôi, vì pháp môn này không rườm rà về nghi lễ. Chúng ta không nên làm cho sự thực tập tâm linh trở nên phức tạp và nặng nề về lý thuyết. Tất cả những sự thực tập đều gắn liền với đời sống hàng ngày của chúng ta. Tôi nghĩ rằng điều này cũng có thể áp dụng đối với Cơ Đốc giáo. Chỉ khi nào đạo Cơ Đốc được làm mới, được cải tiến thì mới có khả năng phụng sự được cho con người của xã hội hiện đại.

SZ: Những người canh tân thường không được những người chính thống ưa thích lắm.

Thầy: Đúng vậy. Khi còn là một thầy tu trẻ, tôi cũng có khó khăn với những người thủ cựu trong Phật giáo. Tôi thậm chí còn phải rời khỏi ngôi chùa mà mình đã xuất gia tu học. Cùng với một số bạn bè, tôi đã thành lập một nơi tu tập mới nằm giữa rừng già.

SZ: Thầy đã viết hơn 100 đầu sách. Làm sao mà Thầy có thể làm được điều đó?

Thầy: Chúng tôi làm chung với nhau. Như một dòng sông. Khẩu hiệu của chúng tôi là: “Đi như một dòng sông, không làm hạt nước nhỏ”. Chúng tôi không có những anh hùng cá nhân. Nhiều cuốn sách dù mang tên tôi nhưng không phải do tôi trực tiếp viết ra: Một thầy hay một sư cô ghi chép lại những bài giảng của tôi, một người khác biên tập rồi dàn trang và cho in ấn. Chúng tôi cùng nhau ra quyết định: Một vấn đề khi nào cũng được mọi người thảo luận, sau đó người chủ tọa cuộc họp sẽ đúc kết lại và đưa ra đề nghị về hướng giải quyết. Ai đồng ý thì im lặng. Ai không đồng ý thì lên tiếng. Chúng tôi hỏi ba lần xem mọi người có đồng ý với đề xuất đó không. Nếu cả ba lần mà tất cả đều im lặng nghĩa là đề xuất đó được thông qua. Đó là cách thức chúng tôi làm việc. Cách này cũng có thể được áp dụng trong các đoàn thể, ngay cả đối với các doanh nghiệp.

SZ: Thầy có nghĩ mình là một nhà kinh doanh giỏi không?

Thầy: Có. Chúng tôi đã tìm được một nguyên tắc tốt cho hoạt động của chúng tôi, đó là: Hạnh phúc và niềm vui phải là những điều quan trọng nhất. Không có niềm vui và hạnh phúc thì tiền tài chẳng có ích lợi gì. Nếu chúng ta làm việc hết lòng và có nhiều niềm vui thì chắc chắn chúng ta sẽ thành công trong công việc. Và việc kinh doanh sẽ thành đạt. Nhưng mục tiêu của chúng tôi không phải là tiền bạc, mà chính là nếp sống cộng đồng.

SZ: Thầy nói như một người hoàn toàn viên mãn. Thầy không khi nào đau khổ hay sao?

Thầy: (Cười) Nói như vậy chứng tỏ là anh vẫn chưa hiểu những gì tôi đã nói, anh bạn trẻ ơi! Không có khổ đau thì cũng không có hạnh phúc. Ngay cả tôi cũng không thể nào trồng hoa sen trên cẩm thạch được đâu.

Nguồn: https://plumvillage.org/thich-nhat-hanh-interviews/touch-the-earth-and-begin-anew/

Google tìm cầu tuệ giác của Thiền sư Thích Nhất Hạnh

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian ngày 5.9.2013)

Các tập đoàn công nghệ toàn cầu đang tìm cách ứng dụng sự thực tập chánh niệm và thiền định vào hoạt động của mình để có được hạnh phúc và sự phát triển bền vững.

Tại sao nhiều tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới, trong đó có Google, lại dành sự quan tâm đặc biệt đối với một vị thiền sư Phật giáo người Việt đã 87 tuổi?

Câu trả lời là tất cả các tập đoàn này đều mong muốn tìm hiểu: Làm thế nào những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh – thường được hàng trăm ngàn đệ tử trên khắp thế giới gọi một cách thương kính là Thầy – có thể giúp cho tổ chức của họ hoạt động một cách hiệu quả hơn và mang lại nhiều hạnh phúc hơn.

Thầy Nhất Hạnh được mời hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm tại trụ sở chính của Google tại California vào cuối tháng này – đây là một dấu hiệu cho thấy sự thực tập chánh niệm đang bắt đầu trở nên phổ biến trong xã hội hiện nay. Thầy – tác giả của hơn hai triệu cuốn sách được bán ra ở Mỹ – sẽ có một buổi gặp gỡ với hơn 20 Giám đốc Điều hành (CEO) của các tập đoàn công nghệ có trụ sở tại Thung lũng Silicon để chia sẻ tuệ giác của Thầy về nghệ thuật an trú trong hiện tại.

Trong buổi gặp gỡ này, Thầy dự định sẽ thảo luận với các CEO của các tập đoàn công nghệ về cách thức làm thế nào để họ có được một sự hiểu biết sâu sắc về bản chất gắn kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi loài. Với hiểu biết đó, họ có thể hiến tặng những công cụ thực tiễn để đưa chánh niệm trở thành một phần thiết yếu trong công việc hàng ngày của họ, trong những sản phẩm mà họ chế tạo ra cũng như trong chiến lược mà họ hoạch định để khoa học công nghệ có thể mang lại sự thay đổi cho thế giới này. Buổi gặp gỡ sẽ kết thúc bằng sự thực tập thiền hành.

Những nỗ lực của Thầy trong hơn 50 năm qua đã được nhiều nhà lãnh đạo thế giới ghi nhận. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới Jim Yong Kim đã nói rằng phương pháp thực tập của Thầy Nhất Hạnh là phương pháp “giúp cho chúng ta có thể cảm thông và thương yêu một cách sâu sắc đối với những người đang khổ đau”. Thầy cũng đã từng được Mục sư Martin Luther King đề cử cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967 vì những nỗ lực của Thầy trong việc kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam.

Mục sư Luther King nói rằng việc trao giải Nobel Hòa bình cho Thầy Nhất Hạnh “sẽ một lần nữa làm cho nhân loại thức tỉnh trước bài học lớn về cái đẹp và tình yêu được tìm thấy trong hòa bình. Nó làm sống dậy niềm hy vọng về một trật tự mới mang tính công bằng và hòa hợp cho thế giới này”.

Thầy Nhất Hạnh xuất gia đã được 71 năm. Mặc dù tuổi đã cao, Thầy vẫn liên tục đi hoằng pháp khắp nơi trên thế giới. Thầy hiện đang trong chuyến đi hoằng pháp ba tháng tại Bắc Mỹ với lịch trình khá nặng. Trước đó, Thầy đã có chuyến đi hoằng pháp tại châu Á cũng trong ba tháng.

Tăng thân xuất sĩ của Thầy Nhất Hạnh được đánh giá là tăng thân có tốc độ phát triển nhanh nhất thế giới. Vé tham dự những khóa tu do Thầy hướng dẫn trong một tuần tại Toronto, Canada hay tại New York, Mississippi và California – mỗi khóa tu đều có hơn 1.000 người tham dự – đều được bán hết chỉ trong vài ngày.

Nền kinh tế chạy theo ham muốn

Thầy Nhất Hạnh cảnh báo rằng nền văn minh của chúng ta đang có nguy cơ sụp đổ trước những thiệt hại nghiêm trọng về xã hội cũng như môi trường sinh thái do nền kinh tế chạy theo ham muốn gây nên. Thầy cũng đồng thời chỉ ra cho chúng ta một hướng đi mới, đó là xây dựng một nền kinh tế lấy hạnh phúc chân thực làm mục tiêu, thay vì hy sinh hạnh phúc của mình để thờ phụng chủ nghĩa vật chất như bấy lâu nay chúng ta vẫn làm.

Những lời dạy của Thầy tập trung chủ yếu vào sự thực tập chuyển hóa khổ đau bằng cách buông bỏ những ưu sầu của quá khứ cũng như những lo lắng về tương lai, thông qua thiền định và nếp sống chánh niệm.

Thầy đã chỉ ra rằng tình trạng đam mê tiêu thụ hiện nay là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang cố gắng khỏa lấp khổ đau trong chính mình. Và Thầy đề nghị chúng ta nên đi theo hướng ngược lại, đó là trở về tiếp xúc trực tiếp với nỗi khổ, niềm đau trong ta để có thể vượt thoát những khổ đau đó.

Thầy cho rằng để các doanh nghiệp có thể đóng vai trò quan trọng trong việc chận lại con tàu tư bản đang chạy trật đường ray thì trước tiên các nhà lãnh đạo tập đoàn cần phải nhận ra sai lầm căn bản của mình, đó là cách tư duy hạn hẹp, lấy lợi nhuận làm thước đo duy nhất cho sự thành công của tập đoàn.

Cần có sự thay đổi căn bản trong nhận thức của các doanh nghiệp

Các doanh nghiệp cần phải trải qua một quá trình chuyển đổi căn bản về nhận thức. Họ cần phải nhận ra tầm quan trọng của việc đưa những giá trị tâm linh vào trong đời sống hàng ngày.

Trong một cuộc phỏng vấn với tờ The Guardian vào cuối khóa tu tuần trước tại Catskill Mountains về nghệ thuật chuyển hóa khổ đau, Thầy chia sẻ rằng: “Chúng ta cần phải xem lại quan niệm của chúng ta về hạnh phúc. Chúng ta nghĩ rằng hạnh phúc chỉ có được khi nào chúng ta giành thắng lợi, khi chúng ta giành được vị trí đứng đầu. Tuy nhiên, sự thực thì không cần thiết phải như vậy. Bởi vì ngay cả khi chúng ta kiếm được nhiều tiền hơn, chúng ta vẫn khổ đau như thường. Chúng ta cạnh tranh bởi vì chúng ta không hạnh phúc. Thiền tập có thể giúp cho chúng ta bớt khổ hơn. “Nhiều người trong chúng ta nghĩ rằng chúng ta chỉ có thể hạnh phúc khi nào chúng ta vượt lên trên những người khác, khi nào chúng ta trở thành nhân vật số 1. Sự thực là chúng ta không cần phải trở thành number one mới có thể hạnh phúc.

“Chúng ta cần phải có một hướng đi tâm linh trong đời sống của mình cũng như trong công việc kinh doanh, nếu không thì chúng ta chẳng thể nào xử lý được những khổ đau do công việc và đời sống hàng ngày tạo ra.”

Những cuộc gặp gỡ với Mục sư Martin Luther King

Nhớ lại những lần gặp gỡ với Mục sư Luther King – những cuộc gặp gỡ này có ảnh hưởng rất quan trọng đến quyết định đấu tranh cho hòa bình và chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam của nhà tranh đấu cho dân quyền nổi tiếng thế giới này, Thầy Nhất Hạnh nói rằng Tổng thống Obama đã bỏ sót một yếu tố quan trọng trong bài phát biểu của mình vào tuần trước, nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày Mục sư Martin Luther King đọc bài diễn văn bất hủ có tựa đề “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream).

“Khi Tổng thống Obama kêu gọi hãy để cho tự do được vang tiếng bay xa, Tổng thống chỉ nói về tự do đến từ bên ngoài như tự do chính trị, tự do xã hội. Nhưng thực tế là ngay cả khi chúng ta có rất nhiều tự do về tổ chức, về ngôn luận, về báo chí, v.v. chúng ta vẫn có thể khổ đau như thường, bởi vì chúng ta không có tự do ở bên trong, đó là sự tự do khỏi những giận hờn và sợ hãi”, Thầy chia sẻ.

Một trong những điều tâm huyết của Mục sư Luther King là xây dựng những cộng đồng, những đoàn thể sống hạnh phúc mà ông gọi là Beloved Community (tạm dịch là Tăng thân yêu quý). Cũng với mong ước đó, Thầy Nhất Hạnh đã dành hết tâm lực của mình cho việc xây dựng hơn một ngàn tăng thân cư sĩ trên khắp thế giới.

Tuy nhiên, liệu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp có thể tạo ra một sự thay đổi tích cực hơn thông qua việc xây dựng tinh thần cộng đồng, xây dựng văn hóa tập thể trong doanh nghiệp của mình?

Chánh niệm và thiền tập tại công sở

Thầy Nhất Hạnh cho rằng phương pháp thực tập chánh niệm và thiền tập nếu được áp dụng vào các doanh nghiệp sẽ giúp cho họ thay đổi được cách sống, cách làm việc có tính tiêu cực, đồng thời giúp họ nhận ra được bản chất tương tức và phụ thuộc lẫn nhau giữa mọi người và mọi loài.

“Thiền tập có thể giúp cho các thành viên trong doanh nghiệp vơi bớt khổ đau,” Thầy nói. “Chỉ riêng điều này thôi cũng đủ hữu ích rồi, bởi vì nếu nhân viên của một doanh nghiệp có đủ hạnh phúc thì doanh nghiệp đó sẽ làm ăn hiệu quả hơn.

“Trong trường hợp công ty của anh đang có những hoạt động gây tổn hại môi trường, và bởi vì anh đã thực tập thiền nên anh có thể có được một cái thấy, cái thấy này sẽ giúp anh tìm ra cách thức điều hành công ty của mình theo hướng làm giảm nhẹ những tổn hại đối với môi trường.

“Thiền tập có tác dụng làm lắng dịu nỗi khổ, niềm đau trong ta, đồng thời mang lại cho ta nhiều tuệ giác và một cái thấy chân thực (chánh kiến) về chính bản thân mình và về thế giới. Và nếu ta có được tuệ giác của một tập thể thì chắc chắn là ta sẽ tổ chức và điều hành hoạt động của doanh nghiệp mình theo hướng làm cho thế giới này vơi bớt khổ đau”.

Theo Thầy, đem chánh niệm vào công sở, vào các doanh nghiệp còn có tác dụng giúp cho các nhân viên tránh được tình trạng bị quá tải bởi công việc, tuy nhiên để làm được điều này thì các chủ doanh nghiệp, các giám đốc công ty cần phải làm gương trước.

Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp cần phải biết chăm sóc chính mình trước tiên

Thầy cho rằng nhiều lãnh đạo cao cấp của các tập đoàn đã bắt đầu đề cập đến tầm quan trọng của sự phát triển bền vững, tuy nhiên rất ít người trong số đó thấy được mối liên hệ giữa sự phát triển bền vững của một doanh nghiệp với văn hóa bên trong của doanh nghiệp mà họ đang điều hành.

“Nếu người giám đốc doanh nghiệp dành toàn bộ thời gian của mình cho công việc của doanh nghiệp, người đó sẽ không còn thời gian để chăm sóc cho chính mình hay cho gia đình mình. Người giám đốc đó cần phải nhận ra rằng doanh nghiệp của mình sẽ hoạt động hiệu quả hơn nếu người đó trở nên lắng dịu, tươi mát hơn, có khả năng cảm thông và thương yêu nhiều hơn”, Thầy nói.

Trong điều kiện hiện nay, khi mà máy tính trở nên quá phổ biến và tiện dụng với tốc độ xử lý ngày càng nhanh thì các giám đốc doanh nghiệp lại càng khó có được thời gian cho riêng mình, thời gian để nhìn lại bản thân và tìm niềm cảm hứng cho cuộc đời.

Sức mạnh của vô tác

Thầy chia sẻ về tầm quan trọng của sự thực tập vô tác, tức là không chờ đợi kết quả, không mong cầu gì hết khi hành động, không có đối tượng nào để chạy theo. Thông thường chúng ta hay có thói quen chạy theo hết dự án này đến dự án khác, không ngừng nghỉ.

“Chúng ta thường cho rằng hạnh phúc nằm ở tương lai, vì vậy sự thực tập vô tác là dừng lại, không đuổi theo một đối tượng nào nữa cả và tìm hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây”, Thầy nói.

“Hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có bình an. Nếu ta cứ mãi đuổi theo một đối tượng nào đó thì làm sao ta có thể có bình an. Ta cứ chạy hoài, chạy mãi, ngay cả trong giấc mơ chúng ta vẫn còn chạy. Đó là thực trạng của nền văn minh chúng ta.

“Chúng ta phải đi ngược lại xu hướng này. Chúng ta phải trở về với chính mình, trở về với những người thân yêu, trở về với thiên nhiên. Lâu nay chúng ta để cho các thiết bị điện tử kéo chúng ta ra khỏi chính mình. Chúng ta đánh mất mình trong internet, trong các dự án, các kế hoạch kinh doanh, vì vậy chúng ta không có thời gian cho chính mình. Chúng ta không có thời gian để chăm sóc những người mà ta thương yêu và cũng đồng thời không để cho Đất Mẹ có cơ hội trị liệu cho chúng ta. Chúng ta luôn có xu hướng trốn chạy khỏi chính mình, khỏi gia đình và khỏi thiên nhiên xung quanh”.

Hầu hết các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đều khó nói ra những áp lực mà họ đang phải gánh chịu. Tuy nhiên gần đây một số Giám đốc Điều hành của những tập đoàn nổi tiếng đã can đảm chia sẻ với công chúng về những áp lực trong công việc của mình, tương tự như những lo ngại của Thầy Nhất Hạnh.

Từ chức một vài tháng trước khi tập đoàn của mình bị phá sản, Erin Callan, cựu Giám đốc Tài chính của tập đoàn Lehman Brothers, đã can đảm viết lại những trải nghiệm của mình khi bị công việc lôi kéo hoàn toàn và chia sẻ điều đó với công chúng vào đầu năm nay.

“Khi quyết định nghỉ việc ở công ty, tôi cảm thấy suy sụp và buồn khổ vô cùng”, Erin Callan chia sẻ trên tờ New York Times. “Tôi không thể nào lấy lại sức lực và đi tiếp được nữa. Tôi không biết phải dựa vào đâu để khẳng định chính mình nếu không có công việc.

“Vào ngày nghỉ cuối tuần, nếu không phải làm thêm việc của công ty thì tôi cũng dành thời gian để sạc lại năng lượng cho một tuần làm việc kế tiếp. Nói chung, đối với tôi lúc đó, công việc luôn chiếm vị trí ưu tiên số 1, trên cả gia đình, bạn bè và cả việc hôn nhân – chuyện hôn nhân của tôi cũng chỉ kéo dài được một vài năm”.

Bản chất lưỡng nguyên của công nghệ

Mặc dù lo ngại về những tác dụng tiêu cực của công nghệ, Thầy vẫn nhận thấy bản chất lưỡng nguyên của công nghệ, nghĩa là bên cạnh những tác dụng tiêu cực, công nghệ cũng rất hữu ích. Đó là lý do vì sao trong cuộc gặp gỡ sắp tới, Thầy sẽ kêu gọi các CEO của các tập đoàn công nghệ tập trung phát triển các phần mềm ứng dụng và những thiết bị công nghệ khác để giúp đưa mọi người trở về với một cuộc sống cân bằng.

“Chúng ta cần phải có sự tỉnh thức. Khi nói chuyện với Google và các tập đoàn công nghệ khác, tôi sẽ đề nghị họ sử dụng trí tuệ và thiện chí của mình để tạo ra những phương tiện, những công cụ có khả năng giúp cho mọi người trở về với chính mình, để trị liệu cho chính mình”, Thầy nói. “Chúng ta không loại trừ hay vứt bỏ tất cả các thiết bị công nghệ này, mà chúng ta có thể hoàn toàn tận dụng được những tiến bộ của công nghệ”.

Thầy gợi ý về việc phát triển những phần mềm ứng dụng có khả năng giúp mọi người lắng dịu cơn giận khi nó phát khởi. Thầy cũng đề cập đến loại đồng hồ Now Watch được Thầy thiết kế với mục đích giúp mọi người trở về với phút giây hiện tại: Trên mặt đồng hồ, mỗi giờ được đánh dấu bằng chữ “Now” (nghĩa là Bây giờ) thay vì số giờ như thông thường.

Google đã mời Thầy chia sẻ về những nội dung như: xây dựng mục tiêu trong công việc, sự sáng tạo và tuệ giác. Thầy nói rằng chúng ta đều có thể đạt được những điều này thông qua sự thực tập chánh niệm.

Thầy đã được mời đến thăm tập đoàn Google vào năm 2011 và kể từ đó, sự thực tập chánh niệm đã được áp dụng nhanh chóng tại tập đoàn công nghệ hàng đầu này. Số lượng người tham gia vào chương trình “Tìm kiếm trong tự thân” (Search Inside Yourself) – chương trình thiền tập chính thức của Google – ngày càng tăng. Các phòng dành cho thiền tập cũng đã được thiết kế bên trong nhiều tòa nhà làm việc của Google.

Thầy nói rằng: “Cũng như mọi người, các nhân viên của Google cũng mong muốn học hỏi cách thức chuyển hóa khổ đau của chính mình”.

“Đa số các nhân viên ở đây đều còn rất trẻ và tài năng, vì vậy họ có thể hiểu và thực tập những điều Thầy dạy một cách nhanh chóng. Họ còn có đủ phương tiện để đem sự thực tập này đến được với rất nhiều người.”

“Sẽ rất hữu ích nếu họ biết rằng ai trong chúng ta cũng có ước mong làm những điều đẹp và lành, bởi vì mỗi người trong chúng ta đều có tính Bụt. Khi nhìn vào con đường bất thiện, không chân chính, chúng ta có thể tìm thấy trong đó một con đường ngược lại. Cũng như nhìn vào khổ đau, chúng ta sẽ thấy được con đường đưa tới hạnh phúc. Đây là giáo lý Tứ diệu đế trong đạo Bụt, nhưng chúng ta không cần phải là một Phật tử mới có thể hiểu được điều đó.”

“Xã hội của chúng ta đang cần một sự tỉnh thức tập thể để có thể cứu chúng ta ra khỏi cuộc khủng hoảng hiện nay. Vì vậy chúng ta cần phải thực tập để chế tác năng lượng tỉnh thức trong từng bước chân và từng hơi thở. Nếu ta có được sự tỉnh thức thì cũng có nghĩa là ta đang đi trên con đường hạnh phúc, ta có thể chuyển hóa được khổ đau trong ta. Và khi đó ta có thể giúp những người khác làm được tương tự.”

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/global-technology-ceos-wisdom-zen-master-thich-nhat-hanh

Có Bụt trong ta

 

Andrea Miller

(Đăng trên tờ Lion’s Roar – trước đây là tờ Shambhala Sun – ngày 13.11.2013)

Trong suốt thời gian tham dự khóa tu tại tu viện Bích Nham, tôi hay thắc mắc về một ngôi nhà nhỏ đơn sơ mà các thầy, các sư cô gọi là “cốc” của Thầy. Mãi rồi vào ngày cuối cùng, tôi đã được mời vào bên trong ngôi nhà ấy. Tôi thấy một căn phòng ấm cúng sáng hẳn lên nhờ các cành hoa phong lan, một bức hình Bụt đang bắt ấn địa xúc, một chân nến với những ngọn nến trắng thuôn dài và được trang trí bằng họa tiết chim muông.

Thầy đang ngồi nơi một cái bàn thấp, thô sơ. Tôi được hướng dẫn đến ngồi trên một bồ đoàn cạnh Thầy. Trong suốt cuộc phỏng vấn, Thầy đã tiết lộ những chi tiết riêng tư về gia đình, về cuộc đời của một vị thiền sư rất lỗi lạc mà không phải ai cũng biết. Thầy cũng giải thích tại sao Bụt luôn luôn thuyết pháp – nếu ta có một đôi tai và một cặp mắt chánh niệm thì ta sẽ nghe thấy. Ngồi với Thầy được một lúc thì Jo Confino, ký giả của tờ báo The Guardian, Anh quốc đến tham gia. Và câu chuyện chuyển qua đề tài làm thế nào để thiền tập có thể đem lại ích lợi cho các doanh nhân, các công ty và cho xã hội.

Khi các bạn đọc những dòng ghi lại buổi phỏng vấn này, xin lưu ý rằng có một điều mà tôi không thể ghi lại trên mặt giấy, đó là nụ cười tươi vui thường xuyên nở trên gương mặt của Thầy.

Thưa Thầy, vai trò của một người thầy trên con đường thực tập tâm linh là gì?

Một người bạn, một người đồng đạo và ngay chính bạn cũng có thể là một người thầy. Người thầy là người có thể giúp bạn tu tập và có nhiều tự do hơn – thậm chí bạn có đủ tự do để không còn bám víu vào vị thầy đó nữa.

Bạn phải thông minh và không nên phụ thuộc vào vị thầy của mình. Nếu bạn theo vị thầy ấy một cách mù quáng thì không tốt chút nào. Không có người thầy nào là hoàn hảo. Bạn có thể học những điều hay từ thầy, và bạn cũng có thể giúp cho thầy mình tốt hơn. Chẳng bao lâu, bạn sẽ tìm thấy người thầy trong chính tự thân và bạn có thể theo người thầy đó.

Vì thế một người thầy giỏi là một người giúp bạn không phụ thuộc vào vị ấy suốt đời. Đó là lý do tại sao Bụt nói trước khi nhập diệt: “Quý vị phải thực tập làm hải đảo tự thân, biết nương tựa nơi chính mình mà đừng nương tựa vào một ai khác”.

Có như vậy bạn sẽ không bị bơ vơ khi thầy của bạn không còn trong hình tướng này nữa, bởi vì bạn sẽ thấy rằng thầy luôn có trong bạn và trong tất cả các đệ tử của thầy. Khi tôi viết thư pháp, có khi tôi mời thầy của tôi lên viết cùng tôi, và thầy trò cùng viết rất là vui. Thở vào, vẽ nửa vòng tròn. Thở ra, vẽ nửa vòng còn lại. Khi tôi mỉm cười, thầy của tôi cũng mỉm cười.

Tôi cũng mời tất cả những vị thầy trong quá khứ cùng vẽ vòng tròn thư pháp với tôi, và tôi biết rằng bàn tay này không chỉ là bàn tay của tôi. Bàn tay này đồng thời cũng là bàn tay của cha, của mẹ tôi. Đôi khi tôi mời tất cả bạn bè của tôi cùng viết với tôi, bởi vì họ cũng là tôi.

Thầy có thể kể một chút về cha của Thầy?

Cha của tôi từng là một viên quan trong quân đội của triều đình nhà Nguyễn. Khi ấy ở Việt Nam, nhà vua và triều đình bị người Pháp khống chế, vì vậy nhiệm vụ chính của cha là đi tìm kiếm những vùng đất thích hợp cho người dân nghèo có thể tái định cư. Cha thích công việc ấy. Lâu lâu tôi được theo mẹ đi thăm cha ở những vùng rất xa trên núi.

Cha tôi mang theo một cái chuông và một số kinh để tụng. Cha muốn thực tập đạo Bụt, nhưng vì luôn bận rộn nên cha không thực hiện được. Tôi thấy rất vui vì giờ đây tôi có thể làm việc đó cho cha.

Sở dĩ tôi có thể làm như thế bởi tôi cũng như tất cả các bạn đều là sự tiếp nối của cha mẹ và ông bà tổ tiên. Đó là sự thật. Khi bạn đi thiền hành, tất cả những vị ấy cùng đi với bạn. Khi bạn bước những bước chân bình an, hạnh phúc, họ cũng vậy. Bạn không phải là một cái ngã riêng biệt, vì vậy bạn có thể thực tập cho tất cả tổ tiên của bạn. Nếu bạn đã gặp được pháp môn tu tập và có chuyển hóa, trị liệu thì tất cả tổ tiên của bạn cũng được lợi lạc. Vì vậy tôi thấy cha mẹ trong tôi đang rất hạnh phúc.

Thầy có nói trong pháp thoại là mẹ của Thầy bị sẩy thai một lần trước khi có Thầy. Khi còn nhỏ Thầy nghĩ là em bé bị mất đó chính là Thầy, và mẹ bị sẩy thai bởi vì Thầy chưa sẵn sàng để ra đời. Con tự hỏi không biết bây giờ Thầy nghĩ sao về em bé bị mất đó. Một em bé mất trước khi chào đời vẫn tiếp tục được tái sinh có phải vậy không?

Em bé đó không phải là một thực thể riêng biệt. Em bé được làm nên bởi cha, mẹ và nhiều yếu tố khác. Vì vậy những yếu tố này sẽ hội tụ lại và em bé biểu hiện sau này không hẳn là em bé đã mất khi xưa, mà cũng không hẳn là một em bé hoàn toàn mới.

Nếu bạn buồn đau khi mất em bé, đó là vì bạn bị kẹt vào ý niệm về ngã. Chính tuệ giác vô ngã sẽ giải phóng cho bạn khỏi buồn đau. Bạn không có một cái ngã riêng biệt và em bé nhỏ xíu đó cũng không có ngã. Cũng giống như khi bạn cố gắng xây một lâu đài bằng cát, nếu điều kiện không đủ thì lâu đài cát đó sẽ sụp đổ. Bạn có thể xây một lâu đài khác, nhưng bạn không thể nói đây là một lâu đài khác, bởi vì nó cũng được làm từ cùng vật liệu. Không có cái gì mất đi cả.

Xin Thầy chia sẻ một chút về thiền ở Việt Nam. Thiền Việt Nam có những đặc điểm nào để phân biệt với các dòng thiền đang được thực tập ở các nước khác?

Vào nửa đầu thế kỷ thứ III, có một tu sĩ Phật giáo – sinh ra tại Việt Nam – đã trở thành một thiền sư, đó là thiền sư Tăng Hội. Đây là một người có thật trong lịch sử, không phải như đức Bồ Đề Đạt Ma – người được các truyền thống cho rằng đã đem dòng thiền tới Trung Hoa vào thế kỷ thứ VI. Rất nhiều sự kiện đã được tưởng tượng hoặc sáng tác ra về cuộc đời của đức Bồ Đề Đạt Ma. Trong khi đó thiền sư Tăng Hội đã để lại các bài viết hiện vẫn còn được lưu giữ.

Thiền ở Việt Nam là sự tiếp nối của những điều mà thiền sư Tăng Hội đã dạy. Ở Việt Nam có khuynh hướng là lúc nào cũng dựa trên các kinh nguyên thủy. Khi thiền sư Tăng Hội dạy thiền, phần lớn ngài sử dụng các kinh nguyên thủy nhưng giảng dạy theo tinh thần của đạo Bụt đại thừa. Vì vậy ở Việt Nam chúng tôi được thừa hưởng điều đó. Không bao giờ quá bay bổng mà mất đi gốc rễ.

Thiền tập ở Việt Nam đồng thời cũng có tính cách nhập thế. Chúng tôi đã có những vị vua tu thiền và thường cung thỉnh những thiền sư cao đức đến hoàng cung để tham vấn. Các vị vua này lúc nào cũng có một thiền đường trong cung điện và áp dụng rất rốt ráo giáo lý cũng như sự thực tập đạo Bụt vào trong chính sự. Vua Trần Nhân Tông vào thế kỷ thứ XIII đã nhường ngôi lại cho con trai để trở thành một ông thầy tu Phật giáo. Ngài chăm lo phần tâm linh cho dân tộc và để con trai chăm sóc đất nước về phương diện chính trị. Ngài đã du hành đến vương quốc Champa để giao hòa. Vương quốc này nằm trên phần đất nay thuộc miền Trung Việt Nam và theo Ấn Độ giáo. Ngài đi bộ khắp cả nước để dạy dân chúng thực hành Năm giới và bỏ bớt những hủ tục mê tín.

Vì vậy tinh thần đạo Bụt ở Việt Nam là chính trị và tâm linh yểm trợ lẫn nhau. Tâm linh không hề tách rời thế giới thực tại. Thiền tập không phải là để trốn tránh thực tại.

Tại sao cần phải làm mới đạo Bụt?

Xã hội luôn thay đổi. Người trẻ có rất nhiều khổ đau và hoang mang. Nếu ta muốn họ ngồi đó chiêm nghiệm về những công án thiền như tiếng vỗ của một bàn tay, hoặc hỏi họ con chó có tính Bụt hay không thì làm sao họ chịu nổi. Nếu cứ tiếp tục giảng dạy như vậy thì họ sẽ bỏ đi. Đạo Bụt ở Hàn Quốc và Nhật Bản không còn thu hút được nhiều người là vì vậy.

Trong lịch sử đạo Bụt, các vị thầy đã cống hiến giáo pháp một cách khế lý, khế cơ để đáp ứng lại nhu cầu của thời đại mà các vị đang sống. Sở dĩ các vị tổ sáng chế ra thiền công án, thiền mặc chiếu là vì những pháp môn này thích ứng với thời đại đó. Thế nhưng khi những pháp môn ấy không còn hiệu quả nữa thì tại sao phải giữ chúng lại?

Sự thực tập đạo Bụt của chúng ta phải đáp ứng được, giải quyết được những khổ đau của con người trong xã hội hiện đại. Đó là lý do tại sao những phương pháp thực tập về truyền thông và hòa giải rất quan trọng. Những phương pháp này rất dễ hiểu, thậm chí trẻ con cũng có thể hiểu được. Nhưng điều đó không có nghĩa là những phương pháp này không dựa trên nền tảng giáo lý đạo Bụt vững chắc. Nền tảng của chúng là vô ngã, vô thường và tương tức.

Chúng ta phải là những đệ tử thông minh của Bụt. Ta phải biết sử dụng giáo pháp một cách hữu hiệu, phải biết trình bày giáo lý và sự thực tập như thế nào để người ta có thể áp dụng và đem lại sự chuyển hóa.

Như tôi đã nói, đạo Bụt Việt Nam rất gần với đạo Bụt Nguyên thủy, nhưng chúng tôi biết kết hợp với tinh thần của đạo Bụt Đại thừa. Có rất nhiều châu báu trong đạo Bụt Đại thừa. Thí dụ như trong đạo Bụt Nguyên thủy, thân Bụt chính là báo thân, là thân của một con người. Nhưng trong đạo Bụt Đại thừa, thân Bụt đích thực chính là pháp thân, là nền tảng bản thể cho tất cả mầu nhiệm của vũ trụ và thân đó không bao giờ hoại diệt.

Nếu ta biết cách lắng nghe trong chánh niệm, ta sẽ thấy rằng Bụt chưa bao giờ ngừng thuyết pháp. Trái đất này chính là một bài pháp tuyệt vời của Người. Gió, hoa, cỏ cây đang không ngừng thuyết pháp về vô thường và vô ngã. Đó chính là thân của Bụt, thân này không bao giờ hoại diệt. Vì vậy nếu ta có đôi mắt và đôi tai chánh niệm, ta sẽ tiếp tục thấy Bụt. Điều này cũng gần với quan niệm Thiên quốc đang có mặt ngay bây giờ và ở đây trong Cơ Đốc giáo. Ta thậm chí có thể giúp cho các đạo hữu Cơ Đốc giáo thay đổi quan niệm về Thiên quốc. Thượng đế có thể là pháp thân, thân đích thực của Bụt.

Có người nói rằng một khi ai đó đã được giải thoát thì họ không còn tạo nghiệp nữa. Thầy nghĩ sao thưa Thầy?

Trong đạo Bụt, nghiệp gồm có ý nghiệp, khẩu nghiệp và thân nghiệp. Khi ta khởi lên một ý nghĩ thì đó là ta đang tạo nghiệp, có thể nghiệp thiện hoặc bất thiện. Khi ta nói một điều gì, làm một điều gì, đó cũng là tạo nghiệp.

Khi một người đã giải thoát thì nghiệp của người đó chỉ có thể là nghiệp tốt. Khi ấy, người đó không còn kỳ thị, giận dữ hay sợ hãi nữa. Vì vậy suy nghĩ, lời nói, hành động của người ấy chỉ đem lại kết quả tốt đẹp mà thôi. Sự chấm dứt luân hồi chính là sự chấm dứt những điều tiêu cực. Tại sao ta lại muốn những điều tốt đẹp phải dừng lại? Ta muốn chúng nên tiếp tục. Vì vậy sự thực tập của chúng ta là làm sao cho những điều tốt đẹp được duy trì càng lâu càng tốt. Đó chính là nghiệp lành.

Nếu nhìn Bụt, chúng ta sẽ thấy Bụt vẫn đang tiếp tục có mặt với chúng ta. Ngài đang thuyết pháp, đang làm việc, bởi vì các đệ tử của Ngài đang tiếp nối Ngài. Vậy nên Bụt vẫn đang tiếp tục tạo ra nghiệp – những nghiệp lành! Vì vậy ta không thể nói rằng vì Bụt đã giải thoát nên Ngài đã dứt nghiệp. Đó không phải là sự thật.

Trong đạo Bụt, Bụt, Pháp và Tăng được gọi là Tam Bảo. Tam Bảo liên hệ như thế nào đến sự thực tập của chúng ta?

Tam Bảo có trong ta. Bụt có trong ta. Đó chính là khả năng tỉnh thức, thương yêu, hiểu biết của mỗi người trong chúng ta. Nếu ai đó có những phẩm chất này thì người đó chính là một vị Bụt, và ta muốn có thật nhiều những vị Bụt như thế.

Ta cũng có Pháp trong ta. Những phương pháp để chế tác từ bi, hiểu biết và tự do, đó chính là Pháp. Pháp trong mỗi người có thể yếu hay mạnh, tùy thuộc vào sự thực tập của người đó.

Và để chế tác được năng lượng giải thoát, từ bi, hiểu biết một cách hùng hậu, ta cần một tăng thân, một đoàn thể. Ta xây dựng một tăng thân để cùng yểm trợ nhau nuôi lớn Bụt và Pháp trong mỗi người.

Tam Bảo rất là cụ thể, mà không phải là đối tượng của sự tín ngưỡng. Ta không thể chối bỏ sự hiện diện của Tam Bảo. Đó không phải là một cái gì ở bên ngoài ta. Bụt không phải ở trên mây. Bụt chính là sự tỉnh thức, hiểu biết và từ bi trong ta, đó chính là tính Bụt trong ta. Ta tu tập để làm tính Bụt đó lớn lên và bảo hộ ta. Đó chính là cái mà chúng ta có thể nương tựa. Điều đó rất khoa học.

Trong đạo Bụt có đạo Bụt tín mộ và đạo Bụt tuệ giác. Đối với đạo Bụt tín mộ, người ta nghĩ rằng Tam bảo ở bên ngoài họ. Sự tín ngưỡng đó mang lại lợi ích cho họ. Tuy nhiên, có một đạo Bụt sâu sắc hơn – một đạo Bụt tuệ giác – đó là khi ta có thể chế tác ra được năng lượng của Bụt cho chính mình và cho cộng đồng của mình. Đạo Bụt tuệ giác này có khuynh hướng bị mất đi, nhường chỗ cho đạo Bụt tín mộ, vì vậy ta phải cố gắng giúp cho đạo Bụt tuệ giác được tiếp tục. Nếu không thì đạo Bụt sẽ trở thành một tôn giáo như bất kỳ tôn giáo nào khác, chỉ dựa trên sự cứu độ của một đấng quyền năng tối thượng.

Trong chuyến hoằng pháp tại Bắc Mỹ, Thầy có gặp gỡ với một số Giám đốc Điều hành (CEO) của các công ty hàng đầu về công nghệ. Thầy nghĩ sao khi các nhà lãnh đạo doanh nghiệp và nhân viên của họ học hỏi về thiền?

Chúng ta không cần phải lo lắng về vấn đề liệu thiền có bị lợi dụng để làm tăng lợi nhuận cho các doanh nghiệp. Sự thực là thiền chỉ có thể đem lại lợi ích mà thôi. Thiền không chỉ giúp làm lắng dịu cảm xúc mà còn đem lại cho ta một cái thấy chân thực về chính bản thân và về thế giới. Nếu doanh nghiệp của bạn gây ra những vấn đề về môi sinh mà bạn lại là một thiền giả, thì bạn sẽ biết vận hành doanh nghiệp như thế nào để giảm thiểu tác hại đến môi trường thiên nhiên. Khi bạn có được những cái thấy (hay tuệ giác) nhờ thiền tập thì tự nhiên bạn sẽ muốn vận hành doanh nghiệp làm sao để cho thế giới này bớt khổ đau.

Vì vậy không cần lo là thiền tập sẽ phục vụ cho sự bất thiện. Thiền tập có thể giúp thay đổi từ bất thiện sang hảo ý.

Xin Thầy chia sẻ cái thấy của Thầy về sự cạnh tranh trong doanh nghiệp, trong chính trị và trong đời sống cá nhân?

Rất nhiều người trong chúng ta tin rằng hạnh phúc chỉ có được khi mình giành được vị trí số một, mình vượt thắng tất cả những người khác. Nhưng mình đâu cần phải là số một mới có hạnh phúc. Thầy không muốn mình là số một (cười).

Ta cần phải xem lại ý niệm của ta về hạnh phúc. Thậm chí ngay khi ta thành công và kiếm được nhiều tiền, ta vẫn khổ đau như thường. Trong khi đó có thể đối thủ cạnh tranh của ta không làm ra nhiều tiền bằng ta nhưng họ lại hạnh phúc hơn. Vậy thì ta chọn hạnh phúc hay thành công theo kiểu đó?

Có hạnh phúc chính là một thành công đích thực. Khi có hạnh phúc, bạn không cần phải cạnh tranh nữa. Bạn cạnh tranh là vì bạn không có hạnh phúc. Thiền tập có thể giúp bạn bớt khổ đau và sống hạnh phúc hơn.

Trong xã hội của chúng ta, có vẻ như tất cả mọi thứ đều tăng tốc, và mọi người cảm thấy bị quá tải. Vấn đề là ở chỗ người ta tin rằng hạnh phúc nằm ở tương lai. Nhưng nếu bạn dừng lại đừng chạy nữa, đừng tăng tốc nữa, thì bạn sẽ tìm được hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Hạnh phúc chân thực không thể có được nếu thiếu sự bình an. Nếu bạn cứ tiếp tục chạy, làm sao bạn có được bình an? Chúng ta thường chạy trốn bản thân, gia đình và xa rời thiên nhiên. Xã hội bây giờ là như vậy. Chúng ta sợ phải quay về với chính mình để chăm sóc tự thân. Chúng ta không có thì giờ để chăm sóc những người thương của chúng ta. Và ta cũng không cho phép đất Mẹ giúp ta chữa lành thương tích.

Chúng ta đắm chìm trong các thiết bị điện tử. Nhưng các công ty có thể sử dụng sự thông minh và thiện chí của họ để sáng chế ra các công cụ có thể giúp mọi người quay về với chính mình để trị liệu. Thí dụ như một thiết bị có thể nhận ra lượng adrenaline trong máu đang lên quá cao, và báo động qua một tiếng chuông, giúp ta dừng lại để thở vào, thở ra. Thiết bị đó rất là ích lợi. Nó nhắc ta rằng: Bạn đang có một cảm xúc mạnh. Hãy ngưng những gì bạn đang làm lại, ôm ấp cảm xúc của bạn và nhìn xem tại sao bạn lại có cảm xúc đó. Loại thiết bị điện tử đó sẽ giúp ta trở về với mình chứ không phải là đánh mất mình. Vì vậy ta không cần xa lánh hay vứt bỏ các thiết bị điện tử, mà trái lại có thể sử dụng chúng một cách hữu ích.

Chính tôi cũng có một cái đồng hồ “Now” (Bây giờ). Khi tôi xem giờ, bất cứ lúc nào đồng hồ cũng chỉ thời gian là “bây giờ”. Tôi có thể để đồng hồ lên tai rồi thở vào thở ra theo tiếng tíc tắc của đồng hồ. Thường thường hơi thở vào của tôi là bốn giây còn thở ra là sáu giây. Tôi ngưng lại mọi suy tư và chỉ thưởng thức hơi thở mà thôi. Vì vậy tôi đã sử dụng hữu hiệu một thiết bị điện tử rất đơn giản. Nhưng người ta cũng có thể làm ra những thiết bị hiện đại hơn nhiều để giúp cho ta thực tập.

Làm thế nào để có được một mục đích sống tích cực?

Ai cũng muốn làm việc tốt bởi vì ai cũng có tính Bụt trong tự thân. Khi tìm ra được một con đường giúp ta làm những việc tốt, ta sẽ thấy lòng mình bình an và hạnh phúc. Nhưng ta phải dùng trí thông minh của mình để tìm ra con đường đó. Con đường đúng đắn, con đường lành thì đối lập với con đường bất thiện. Con đường bất thiện luôn đem lại cho ta khổ đau. Vì vậy thay vì có cái nhìn lệch lạc, sai lầm, ta muốn có một cái nhìn đúng đắn. Thay vì suy nghĩ lệch lạc, tiêu cực, ta muốn phát khởi tư duy đúng đắn – nghĩa là tư duy với tâm từ bi và hiểu biết.

Khi nhìn một con đường không đúng đắn, ta có thể thấy được những con đường khác. Vì vậy nhìn vào khổ đau, ta có thể thấy được con đường của hạnh phúc. Đó là giáo lý của Tứ diệu đế. Bạn không cần phải là Phật tử mới có thể hiểu được điều này. Cái mà bạn cần làm là dành thời gian để nhìn sâu vào khổ đau và hạnh phúc của chính bạn.

Theo Thầy thì chìa khóa của hạnh phúc là gì?

Một sinh viên có thể nghĩ rằng mình sẽ không thỏa mãn cho đến khi có bằng đại học. Nhưng khi có tấm bằng rồi, em chỉ hạnh phúc được vài ngày trước khi nói: “Mình cần phải tìm việc làm và mua một cái nhà”. Vậy nên, không có gì thỏa mãn được một người nếu người đó lúc nào cũng chạy về tương lai.

Dừng lại và học cách sống hạnh phúc trong hiện tại chính là chìa khóa. Ta gọi đó là vô nguyện hay vô tác. Đó chính là giải thoát. Vì vậy một sinh viên có thể rất hạnh phúc ngay cả khi chưa lấy được bằng đại học. Những điều kiện của hạnh phúc luôn có sẵn trong hiện tại, nhưng có thể bạn không biết làm sao để tận hưởng chúng. Bạn không nhận diện được chúng và vì vậy bạn đi tìm hạnh phúc ở tương lai.

Giáo lý của đạo Bụt là giáo lý tỉnh thức. Xã hội của chúng ta đang rất cần một sự tỉnh thức tập thể để có thể ra khỏi tình trạng khủng hoảng hiện nay. Vì vậy sự thực tập tỉnh thức cần phải xảy ra trong mỗi bước chân, ở khắp mọi nơi. Một khi có sự tỉnh thức, bạn biết rằng bạn đang đi trên con đường của hạnh phúc. Bạn không còn khổ đau nữa, và bạn có thể giúp rất nhiều người làm được như vậy.

Nguồn: https://www.lionsroar.com/you-have-the-buddha-in-you-an-interview-with-thich-nhat-hanh-january-2014/

Đem chánh niệm vào doanh nghiệp: Điều này có làm thay đổi bản chất của chánh niệm?

 

Jo Confino

(Đăng trên tờ The Guardian ngày 28.3.2014)

Thực tập chánh niệm ngày càng trở thành một đề tài được ưa chuộng trong giới lãnh đạo doanh nghiệp. Vài tháng gần đây, nhiều Giám đốc Điều hành (CEO) của các tập đoàn nổi tiếng đã công khai chia sẻ về sự thực tập chánh niệm giúp họ như thế nào trong việc tăng lợi nhuận doanh nghiệp.

Tuần qua, Khajax Keledjian, Giám đốc Điều hành của Intermix đã tiết lộ bí quyết chế tác bình an trong nội tâm với tờ Nhật báo Phố Wall (Wall Street Journal). Arianna Huffington, tổng biên tập của The Huffington Post cũng chia sẻ về chánh niệm trong quyển sách mới của bà có nhan đề “Thrive” (“Thành công đâu chỉ tiền – quyền”) được phát hành trong tuần này. Có thể kể tên nhiều gương mặt tiêu biểu trong giới doanh thương đã và đang thực tập thiền như Mark Bertolini – CEO của Aetna, Marc Benioff – CEO của Salesforce.com, Tony Hsieh – CEO của Zappos. com, v.v…

Tháng trước, trên blog của mình, Huffington đã viết như sau: “Không có gì phải quá bức xúc về việc tăng lợi nhuận trong kinh doanh. Nền kinh tế bây giờ tương đối khó khăn… Thực tập để giảm căng thẳng và áp dụng chánh niệm không những giúp chúng ta hạnh phúc và khỏe mạnh hơn mà còn giúp cho doanh nghiệp có thêm lợi thế cạnh tranh nếu muốn.”

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: Khi tận dụng những lợi ích do thực tập chánh niệm mang lại để gia tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, phải chăng các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đang làm biến chất những giáo lý cốt tủy của đạo Bụt?

Thích Nhất Hạnh, vị thiền sư 87 tuổi được nhiều người xem là cha đẻ của pháp môn thực tập chánh niệm ở Tây phương nói rằng, miễn là các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thực tập chánh niệm “thật sự”, thì cho dù động cơ ban đầu khiến họ thực tập là để làm việc có hiệu quả hơn hay làm ra nhiều lợi nhuận hơn cũng không sao. Bởi vì sự thực tập chánh niệm sẽ làm cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp thay đổi một cách căn bản quan niệm của họ về cuộc sống. Với sự thực tập, trái tim của họ tự nhiên sẽ mở ra và lòng từ bi càng thêm lớn rộng, khi đó trong họ sẽ phát khởi ước muốn giúp người bớt khổ.

Tại trung tâm thực tập chánh niệm Làng Mai, gần thành phố Bordeaux, nước Pháp, trong tư thế ngồi kiết già, Thầy chia sẻ với phóng viên báo The Guardian: “Nếu quý vị biết cách thực tập chánh niệm, quý vị sẽ chế tác được bình an và niềm vui ngay bây giờ và ở đây. Quý vị sẽ trân quý điều đó và nó sẽ làm quý vị thay đổi. Ban đầu, quý vị có thể nghĩ là nếu không trở thành nhân vật “số một” thì mình không thể nào hạnh phúc. Nhưng nếu thực tập chánh niệm, quý vị sẽ sẵn sàng buông bỏ quan niệm đó. Chúng ta không cần lo sợ chánh niệm chỉ có thể là phương tiện mà không phải là cứu cánh. Bởi vì trong chánh niệm, cứu cánh và phương tiện chỉ là một mà thôi. Không có con đường đưa đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường.”

Tuy nhiên, Thầy cũng chỉ rõ rằng nếu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp chỉ thực tập vì những lý do ích kỷ cá nhân thì họ chỉ thấy được cái bóng rất mờ nhạt của chánh niệm mà thôi.

“Nếu anh coi chánh niệm chỉ là phương tiện để kiếm thật nhiều tiền thì anh chưa tiếp xúc được với mục đích thật sự của nó”, Thầy nói. “Về hình thức, có vẻ như đó là sự thực tập chánh niệm nhưng về nội dung thì không có sự bình an, niềm vui và hạnh phúc được chế tác. Đó chỉ là một sự sao chép giả hiệu mà thôi. Nếu anh không cảm nhận được năng lượng của tình huynh đệ, tình bằng hữu tỏa chiếu ở nơi làm việc thì đó không phải là chánh niệm.”

Và Thầy nói thêm rằng: “Nếu anh hạnh phúc, anh không thể nào là nạn nhân của hạnh phúc. Nhưng nếu anh thành công, anh có thể trở thành nạn nhân của sự thành công.”

Nguy cơ bị công kích và chế giễu

Cho dù phương pháp thực tập chánh niệm đang đi vào dòng chảy chính thống của xã hội, thì nhiều tổ chức, doanh nghiệp vẫn còn lo ngại là bị công kích và chế giễu khi có liên hệ trực tiếp với một phương pháp thực tập đạo Bụt cổ xưa như thế.

Gần đây Thầy đã được ông Jim Yong Kim, Chủ tịch Ngân hàng Thế giới mời đến trụ sở chính của tổ chức này tại Washington để hướng dẫn một ngày thực tập chánh niệm – một sự kiện được các nhân viên của Ngân hàng Thế giới hoan nghênh nhiệt liệt. Một trong những quyển sách ưa thích nhất của ông Kim là quyển Phép lạ của sự tỉnh thức mà Thầy là tác giả. Ông ca ngợi phương pháp thực tập của Thầy có khả năng giúp chúng ta phát khởi “lòng lân mẫn và từ bi sâu sắc đối với những người đang khổ đau”.

Tuy nhiên, điều này cũng không ngăn được sự chỉ trích từ những người đồng sự cao cấp của ông trước khi chuyến thăm của Thầy đến trụ sở Ngân hàng Thế giới diễn ra. Những quan chức này lo ngại không biết dư luận sẽ phản ứng thế nào. Thực tế là tờ The Economist đã có một bài báo chỉ trích Ngân hàng Thế giới về sự kiện này.

Mặc dù vậy, ông Kim vẫn không hề bị lung lay. Ông chia sẻ với tờ The Guardian là ông đã vô hiệu hóa những lời chỉ trích bằng cách viện dẫn rất nhiều nghiên cứu khoa học để chứng minh cho những lợi ích của chánh niệm.

Sự giao thoa giữa chánh niệm và khoa học kỹ thuật

Có lẽ sự giao thoa thú vị nhất trong thế giới kinh doanh là sự giao thoa giữa chánh niệm và khoa học kỹ thuật, bởi vì nhìn bề ngoài thì hai lĩnh vực này có vẻ hoàn toàn trái ngược nhau. Thực tập chánh niệm có công năng làm cho những hoạt động của tâm ý chậm lại và giúp cho đầu óc ta rỗng rang, trong khi đó cuộc cách mạng kỹ thuật số lại làm nhịp sống của ta trở nên nhanh hơn và nạp đầy đầu óc con người một lượng thông tin khổng lồ.

Dù vậy, cả hai lĩnh vực tưởng như rất khác biệt này lại có một lịch sử gắn bó rất lâu dài với nhau. Tại California nơi hội tụ của rất nhiều tập đoàn công nghệ, chánh niệm đã hòa quyện và trở thành một phần nếp sống của thành phố này trong nhiều thập kỷ qua. Steve Jobs, nhà sáng lập của tập đoàn Apple cũng rất yêu thích pháp môn Thiền trong đạo Bụt.

Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên khi Thầy – tác giả có lượng sách phát hành lên tới con số hai triệu bản ở Hoa Kỳ – đã được Google mời tới Thung lũng Silicon để hướng dẫn một ngày chánh niệm dành riêng cho các Giám đốc Điều hành của 15 tập đoàn công nghệ lớn nhất thế giới.

Thông điệp quan trọng mà Thầy gửi đến các nhà lãnh đạo của các tập đoàn công nghệ trong dịp này là: Cần sử dụng ảnh hưởng có tầm cỡ thế giới của mình để tập trung vào việc làm thế nào góp phần xây dựng thế giới này trở nên tốt đẹp hơn, thay vì chỉ hướng vào mục tiêu làm ra càng nhiều tiền càng tốt.

Thầy và tăng đoàn xuất sĩ Làng Mai đã có một ngày gặp gỡ các vị lãnh đạo cao cấp của tập đoàn tại trụ sở Google, đồng thời hướng dẫn cho khoảng 700 nhân viên của Google thực tập thiền tọa, thiền hành và pháp đàm về chánh niệm. Số nhân viên muốn đến tham dự quá đông nên tập đoàn này đã phải sắp xếp thêm hai địa điểm bên ngoài thính đường chính để mọi người có thể đồng thời theo dõi pháp thoại của Thầy trên màn ảnh.

Thầy nói về sự tương phản rõ rệt giữa nhịp độ làm việc nhanh đến chóng mặt ở tập đoàn công nghệ khổng lồ này và sự bình an được chế tác khi mọi người ở đây cùng ngồi thiền im lặng trong ngày chánh niệm tại khuôn viên của Googleplex. “Không khí hoàn toàn khác hẳn”, Thầy nói. “Có một sự tĩnh lặng, một sự bình an được chế tác từ hành động ngồi yên và không làm gì cả. Chính trong không gian ấy, mọi người có thể nhận ra được sự quý giá của thời gian”.

Những lời khuyên dành cho giới khoa học công nghệ

Trong chuyến viếng thăm Google với chủ đề “Mục đích, Sáng kiến và Tuệ giác” (Intention, Innovation, Insight), Thầy đã gặp gỡ một số kỹ sư hàng đầu của Google để bàn thảo về việc làm thế nào Google có thể sử dụng khoa học công nghệ một cách từ bi và hiệu quả hơn để giúp đem lại những thay đổi tích cực cho thế giới này, thay vì làm cho con người càng ngày càng bị căng thẳng và tăng thêm sự cô lập giữa con người với con người cũng như giữa con người với thiên nhiên.

Khi sáng chế ra một thiết bị điện tử, các kỹ sư của Google có thể quán chiếu xem mặt hàng mới này có nguy cơ làm cho con người xa cách bản thân, gia đình và thiên nhiên hay không. Thầy nói: “Thay vào đó, các kỹ sư có thể chế tạo ra một thiết bị hay phần mềm có thể giúp con người quay trở về với chính mình và chăm sóc cảm thọ trong mình. Làm như thế, họ sẽ cảm thấy vui trong lòng, bởi vì họ đang làm một điều tốt đẹp cho xã hội”.

Trong ngày chánh niệm dành riêng cho các CEO, Thầy đã hướng dẫn họ ngồi thiền trong yên lặng và hiến tặng một buổi thiền trà trước khi nói pháp thoại cho nhóm người mà phần lớn là các nhà tỷ phú này. Thầy chia sẻ với họ về tầm quan trọng của sự dừng lại, không để cho công việc lấy hết thì giờ mà lẽ ra họ có thể dành cho gia đình của mình. “Thời gian không phải là tiền bạc,” Thầy nói. “Thời gian là sự sống, thời gian là tình thương”.

Sau khi trở về Làng Mai, Thầy nói về chuyến đi ấy như sau: “Lần nào đến Google, tôi cũng chia sẻ với họ là: Quý vị cần tổ chức việc kinh doanh như thế nào để hạnh phúc có thể đến với tất cả mọi người trong tập đoàn. Có thêm nhiều tiền để làm gì, nếu điều đó đồng nghĩa với việc chúng ta phải khổ đau hơn? Quý vị cũng cần phải hiểu rằng nếu có một chí nguyện đẹp và lành, quý vị sẽ hạnh phúc hơn bởi vì việc giúp cho xã hội thay đổi theo chiều hướng tốt đẹp hơn sẽ làm cho cuộc sống của quý vị trở nên có ý nghĩa”.

“Chuyến viếng thăm ấy chỉ là một sự khởi đầu”, Thầy nói thêm. “Tôi nghĩ là chúng tôi đã gieo được nhiều hạt giống tốt và cần có thời gian để cho những hạt giống này nẩy mầm”, Thầy tiếp. “Nếu các nhà lãnh đạo và nhân viên của Google bắt đầu thực tập chánh niệm, họ sẽ nếm được niềm vui, niềm hạnh phúc, và sự chuyển hóa. Khi ấy họ có thể tìm ra cho mình một sự hứng khởi, một chí nguyện mới. Danh vọng, quyền hành và tiền tài không chắc sẽ mang đến cho quý vị hạnh phúc chân thực so với việc chọn cho mình một lối sống mà quý vị có thể chăm sóc hình hài và cảm thọ của mình”.

Nguồn: https://www.theguardian.com/sustainable-business/thich-nhat-hanh-mindfulness-google-tech

Ta hạnh phúc liền giây phút này

 

Claudio Gallo

Ngày 10.9.2014, nhật báo La Stampa – một trong những tờ báo lớn nhất ở Ý – có đăng một bài phỏng vấn Thầy. Claudio Gallo – Biên tập viên phụ trách chuyên mục Văn hóa (Culture Editor) của tờ báo đã tham dự trọn vẹn khóa tu dành cho người Ý được tổ chức tại Làng Mai trong tuần lễ cuối của tháng 8, và anh đã tự mình trải nghiệm được cái gọi là “hiện pháp lạc trú”. Sau đây là bài tường thuật của anh với tựa đề “Happiness is Now” đã được chuyển ngữ sang tiếng Việt.

Có một cái gì thật dịu ngọt mà cũng thật hùng tráng tỏa ra từ những ruộng nho, những cánh rừng, những đồng cỏ xanh mướt trải dài nối đuôi nhau lướt qua ô cửa sổ của chuyến tàu đi về miền quê nước Pháp, từ Bordeaux đến Bergerac. Đó cũng là sự nhẹ nhàng đầy hùng lực mà ta có thể tìm thấy trong những lời giảng của Thầy Nhất Hạnh. Là một tu sĩ Phật giáo người Việt, Thầy sống với tăng thân của mình tại Làng Mai, một trung tâm tu học tọa lạc trên những ngọn đồi bao quanh ngôi làng Thénac nhỏ bé. Mọi người đều gọi Thầy một cách giản dị là “Thầy” (nghĩa là “một vị thầy tâm linh”).

Thầy đã 88 tuổi, gương mặt trông có vẻ nghiêm khắc nhưng có thể bất ngờ nở một nụ cười trẻ thơ khiến cho ai nhìn thấy cũng phải mỉm cười theo. Năm 1973, Thầy bị chính quyền miền Nam Việt Nam buộc phải lưu vong và Thầy đã chọn Tây phương nơi mà Thầy được Mục sư Martin Luther King và Linh mục Thomas Merton vô cùng trân quý. Ở Mỹ, Thầy cũng được biết đến thông qua các chuyến đi vận động hòa bình cho Việt Nam.

Là tác giả của trên 100 cuốn sách, Thầy đã đem đến cho người Tây phương một phương pháp thực tập dựa trên giáo lý căn bản của đạo Bụt, đó là phương pháp thực tập chánh niệm – sự thực tập tỉnh thức và có mặt một trăm phần trăm cho những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Trong Phật giáo, cùng với đức Đạt Lai Lạt Ma, Thầy có lẽ là vị thầy nổi tiếng nhất trên thế giới với rất nhiều trung tâm tu học ở khắp các châu lục và có số người theo tu học lên đến hàng trăm nghìn người. Điều đáng chú ý là Thầy không đòi hỏi các đệ tử Tây phương phải từ bỏ đạo gốc của mình. Rất nhiều người trong số 700 người Ý tham dự khóa tu vào cuối tháng 8 vừa qua tại Làng Mai là những người theo truyền thống Cơ Đốc giáo.

Thưa Thầy, đạo Bụt có thể cống hiến được gì cho thế hệ kỹ thuật số hiện nay – thế hệ những người trẻ suốt ngày vùi đầu vào internet?

Hiện nay, những người trẻ đã bỏ quá nhiều thì giờ vào internet. Đây là căn bệnh của thời đại chúng ta. Khi ngồi hai tiếng đồng hồ trước máy vi tính, chúng ta hoàn toàn quên là mình có một hình hài. Internet là một phương tiện có khả năng mang lại rất nhiều lợi ích cho con người, nhưng đồng thời nó cũng tạo ra vô số vấn đề.

Sử dụng internet là một hình thức tiêu thụ. Ta tiêu thụ thông qua những tư tưởng, hình ảnh, âm thanh mà ta tiếp xúc được trên internet và sự tiêu thụ đó có thể lành mạnh hoặc có thể gây tàn hại cho thân tâm ta. Thực tế là chỉ riêng lượng thông tin nhận được qua internet thôi cũng đủ khiến cho nhiều người rơi vào tình trạng quá tải thông tin rồi.

Cũng có nhiều người trong chúng ta trở nên nghiện internet. Ta đánh mất mình trong biển thông tin đó và ta không có mặt cho chính mình, không có mặt cho những người thương của mình và không có mặt cho thiên nhiên. Ta có ảo tưởng là thông qua mạng internet chúng ta có thể nối kết được với nhau, nhưng kỳ thực ta lại càng cảm thấy cô đơn.

Chánh niệm giúp cho ta biết điều độ khi lên mạng, đồng thời cũng giúp cho ta thấy được cái mà ta đang tiếp xúc có thật sự ích lợi hay chỉ làm cho ta càng cô đơn và tuyệt vọng thêm. Ta tiêu thụ internet để khỏa lấp sự cô đơn, nhưng thật ra nó chỉ làm cho tình trạng tệ hại hơn mà thôi. Thường thì khi tiêu thụ những tin tức, quảng cáo, những phim ảnh khêu gợi và kích thích dục tình, ta đồng thời cũng đang đưa vào trong thân tâm ta những độc tố như giận hờn, bạo động, sợ hãi và thèm khát.

Theo đạo Bụt thì cái ta riêng biệt là một ảo tưởng, vậy trong cái thấy đó có còn sự phân biệt giữa thiện và ác hay không?

Trong thế kỷ XX, chủ nghĩa cá nhân được đưa lên vị trí hàng đầu và điều này đã tạo ra rất nhiều khổ đau. Chúng ta tạo ra sự phân biệt, chia cách giữa ta và người, giữa cha và con, giữa con người và thiên nhiên, giữa quốc gia này và quốc gia khác. Chúng ta không ý thức được mối tương quan mật thiết giữa mình với mọi người và mọi loài xung quanh. Đạo Bụt gọi mối liên hệ đó là “tương tức” (“inter-being”).

Cái hiểu, cái thấy sâu sắc về tương tức chính là nền tảng của con đường đạo đức mà đạo Bụt đóng góp cho nhân loại. Những gì xảy ra cho một cá nhân cũng ảnh hưởng tới toàn thể xã hội và cả thế giới. Với cái thấy này, sự thực tập chánh niệm giúp cho ta phân biệt được cái gì thiện, cái gì ác, cái gì đúng, cái gì sai. Có chánh niệm thì ta sẽ nhận ra được những tàn hại đối với các loài gia súc, gia cầm cũng như đối với hành tinh này do ngành công nghiệp sản xuất thịt gây ra. Ý thức được điều đó thì ăn chay là một hành động thương yêu đối với chính mình, đối với sinh môi và đối với trái đất.

Nhiều người trong chúng ta đang chạy theo danh vọng, quyền hành, tiền tài và sắc dục. Chúng ta nghĩ rằng những thứ đó đem lại cho ta hạnh phúc, nhưng thực ra nó có thể dẫn chúng ta đi tới chỗ tàn hoại thân tâm mình. Những người trẻ thường lẫn lộn giữa tình dục và tình yêu chân thật. Trên thực tế thì tình dục có thể hủy hoại tình yêu và đưa tới sự thèm khát, cô đơn và tuyệt vọng nhiều hơn. Sự thực tập chánh niệm giúp chúng ta mỗi ngày hiểu sâu hơn về người mà ta thương. Cái hiểu chính là nền tảng của tình thương đích thực. Chúng ta không thể nào có được một tình thương đích thực nếu ta không hiểu được người mình thương.

Có thể vượt thoát sự sợ hãi về cái chết hay không?

Gốc rễ của sự sợ hãi nằm ở cái thấy sai lạc của ta về bản chất cái chết. Ta sợ hãi cái chết tại vì ta nghĩ rằng khi chết rồi thì ta sẽ trở thành không. Khoa học hiện đại đã chứng minh cho ta thấy rằng: Không có gì sinh cũng không có gì diệt, tất cả đều chuyển biến không ngừng.

Quan sát một đám mây, ta có thể đặt câu hỏi: Đám mây có thể chết không? Đám mây có thể từ mà trở thành không? Nhìn cho sâu ta thấy đám mây có thể trở thành mưa, thành tuyết, thành mưa đá, rồi thành hơi nước trở lại. Bản chất của chúng ta cũng giống như bản chất của đám mây. Cũng như mưa, tuyết là sự tiếp nối của đám mây thì những hành động, lời nói và tư tưởng mà ta chế tác ra chính là sự tiếp nối của ta.

Chúng ta sống trong một thế giới đầy xung đột và bất công xã hội. Làm sao ta có thể cải thiện được tình trạng đó với tư cách một Phật tử?

Sự xung đột và bất công trong xã hội phát sinh ra từ tâm chúng ta. Đạo Bụt cống hiến cho chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc đích thực. Khi tình thương và hạnh phúc có mặt thì ta có thể tạo ra sự bình an trong tự thân và góp phần vào hòa bình trên thế giới. Khi tâm ta bị cuốn đi bởi tham vọng và sợ hãi thì bất công xã hội và bạo động sẽ phát sinh. Sự thực tập chánh niệm giúp cho ta nuôi lớn hạnh phúc và bình an trong giây phút hiện tại. Và đây chính là sự đóng góp tuyệt vời cho nền hòa bình thế giới và cũng đồng thời là nền tảng để chúng ta có thể làm tốt những công tác phụng sự cho xã hội.

Thầy dạy cho mọi người về sự thực tập chánh niệm và chánh định, thế nhưng một tình trạng đáng lo ngại của thế giới hiện nay là tình trạng suy giảm khả năng tập trung của con người…

Nhiều người trong chúng ta không biết làm thế nào để thật sự có mặt cho người mình thương và cho những mầu nhiệm đang có sẵn trong giây phút hiện tại. Tâm của ta rất dễ bị phân tán. Trong khi đó, thị trường bên ngoài không ngừng cung cấp cho ta những phương tiện để giữ cho tâm ta luôn ở trong tình trạng này. Thân của ta ở đây mà tâm của ta thì đang chạy theo những dự án ở tương lai, những sầu đau của quá khứ hay những lo lắng, buồn phiền trong hiện tại.

Cách đây không lâu, chúng tôi được mời hướng dẫn thực tập chánh niệm cho hơn 700 nhân viên Google tại trụ sở chính của tập đoàn này ở California. Điều đầu tiên mà chúng tôi chia sẻ là sự thực tập dừng lại, vì trong xã hội hiện nay chúng ta luôn có thói quen rong ruổi, tìm cầu. Khi ta có khả năng dừng lại, ta có thể nhận diện được những gì đang xảy ra trong thân và trong tâm mình. Đây là cách thức để ta có thể bắt đầu chăm sóc cho chính mình. Chúng ta đã có quá đủ những điều kiện để hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại và nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt là ta có thể tiếp xúc được ngay với hạnh phúc đích thực.

Nguồn: http://plumvillage.org/news/an-italian-journalist-reports-from-plum-village/