Định đề 15

 

Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt và ngăn ngừa tạo tác của lầm lỗi và gieo nghiệp nhân xấu.

The awareness of suffering helps us recognize the existing conditions of happiness and also helps prevent the creation of wrong actions and the planting of negative seeds that will bring about suffering.

Câu này cho chúng ta thấy rằng khổ đế trong Tứ diệu đế trước hết có nghĩa là ý thức được sự có mặt của khổ đau. Khổ đế không phải là một giáo điều mà là một ý thức. Ý thức về sự có mặt của khổ đau giúp ta rất nhiều trong sự tu tập, tại vì khổ đau và hạnh phúc tương tức. Cũng như ngày và đêm, nếu không biết đêm thì ta cũng không ý thức được ngày là gì. Nếu đã từng đau khổ thì ta mới biết nhận diện được hạnh phúc. Có những người sống trong những điều kiện hạnh phúc mà không thấy hạnh phúc. Họ giẫm lên trên những điều kiện hạnh phúc mà đi. Ý thức được khổ đau và lấy nó làm bối cảnh thì tự nhiên ta nhận diện được hạnh phúc ta đang có.

Quên khổ đau thì mất hạnh phúc là như vậy! Khi nhớ lại những thời gian khổ đau, những lúc ta bị mắc kẹt và tuyệt vọng, và những lúc ta bị rơi vào trạng thái bế tắc thì tự nhiên ta nhận diện ra sự thật là hiện bây giờ ta đang có điều kiện của thảnh thơi, của hạnh phúc. Ta có thể nói rằng khổ đau là bối cảnh giúp cho điều kiện hạnh phúc hiện rõ ra, cũng như màu trắng của cuốn sách giúp cho ta thấy chữ viết rõ hơn. Trên bối cảnh của khổ đau hạnh phúc hiện ra rõ hơn. Chánh niệm về đệ nhất đế không phải là sự nhồi sọ “đời là khổ”. Chánh niệm về khổ có công năng đem lại hạnh phúc cho ta, căn cứ trên những điều kiện hạnh phúc ta đang có.

Trước khi xuất gia có thể ta đã có những khổ đau, bức xúc và tuyệt vọng. Khi được xuất gia, trong những năm đầu ta có hạnh phúc vì ta thoát ra được khỏi khổ đau và niềm tuyệt vọng đó. Ta sống trong những điều kiện thuận lợi, ta có thầy, có anh, có chị, có em, có thời khóa, có pháp môn. Nhưng sau vài ba năm thì ta lờn. Hạnh phúc nào cũng bị lờn, đó là sự thật. Khi chưa đậu bằng đó thì ta nghĩ nếu đậu được bằng đó ta mới thật sự có hạnh phúc. Khi có được mảnh bằng rồi thì ta chỉ được hạnh phúc trong sáu tháng hay một năm rồi ta thấy cái bằng ấy cũng không đem lại hạnh phúc gì mấy. Đó là thân phận của con người. Đó là lối hành xử của con người: Không biết trân quí những điều kiện của hạnh phúc đang có. Ta bị lờn với hạnh phúc, ta thấy chán. Trong năm thứ nhất và năm thứ hai của đời tu, ta thấy hạnh phúc quá. Nhưng qua năm thứ ba, thứ tư thì ta lờn, ta không thấy hạnh phúc nữa tại vì ta quên đi cái bối cảnh khổ đau đã giúp ta nhận diện được hạnh phúc. Vì vậy cho nên ta phải mang bối cảnh khổ đau đi theo để so sánh và khi nhận diện được điều kiện của hạnh phúc thì ta có hạnh phúc trở lại. “Làm thế nào để nuôi dưỡng hạnh phúc?” là một chủ đề rất lớn cho người xuất gia, ta phải quán chiếu và pháp đàm với nhau. Đạt tới hạnh phúc thì dễ, nuôi dưỡng và duy trì hạnh phúc mới là khó. Lúc đầu khi mới thương nhau thì dễ, làm sao giữ cho tình thương tiếp tục được ngọt ngào, nuôi dưỡng mới là chuyện khó.

Chánh niệm về khổ đau giúp ta nhận diện điều kiện hạnh phúc đang có mặt. Thấy được khổ cũng giúp cho ta hành xử cẩn thận, để ta không nói và không làm những điều gây ra khổ đau. Nếu ta nhận diện được khổ đau có ở trong ta và xung quanh ta thì ta cũng nhận diện được nguyên nhân gây ra khổ đau. Ở đâu có khổ đế thì ở đó có tập đế. Sở dĩ ta khổ là vì ta đã làm, đã nói, đã nghĩ như vậy. Sở dĩ người đó khổ là do người đó đã nói, đã làm, đã nghĩ như vậy. Thấy khổ thì ta biết là ta không nên nghĩ, không nên nói, không nên làm như vậy. Đó là chánh niệm. Gieo gió thì gặt bão, vì thấy bão tàn phá quá nên ta cương quyết không gieo gió. Vì vậy ý thức về khổ đau rất có lợi. Trong Mười bốn giới Tiếp Hiện có một giới nhắc ta đừng đánh mất ý thức về khổ đau. Không đánh mất ý thức về khổ đau thì tự nhiên ta duy trì được hạnh phúc, ta biết những gì ta nên làm và những gì ta không nên làm để cho hạnh phúc được tiếp tục và khổ đau không xảy ra.

Định đề 15 có liên hệ tới cách ta nhìn, cách ta học và cách ta hiểu về Bốn diệu đế. Đạo Phật không mắc kẹt vào giáo điều nên Tứ diệu đế được coi như một cách nhìn mà không phải là một giáo điều ta phải nhồi sọ. Nhiều người bị nhồi sọ quá nên nghĩ: trong kinh đã nói “đời là khổ” rồi thì ta phải tin thôi. Những cái mà người ta gọi là vui thì ta đều phải cho là khổ hết. Như vậy tức là ta bôi đen cuộc đời. Học Phật như thế là để bôi đen cuộc đời, ta thấy không có gì là hạnh phúc cả, trong khi sự thật thứ ba (diệt đế) là: Hạnh phúc có thể có được.

Sự thật thứ nhất là khổ đế và sự thật thứ ba là diệt đế tức là sự chấm dứt khổ đau. Chấm dứt khổ đau tức là có mặt hạnh phúc. Tứ diệu đế nói tới đau khổ nhưng cũng nói tới hạnh phúc. Cặp nhân quả đầu, khổ đế – tập đế, nói về đau khổ và cặp nhân quả thứ hai, diệt đế – đạo đế nói về hạnh phúc. Nhưng vì quá giáo điều nên khi học đế thứ nhất là khổ đế người ta nói “thôi đủ rồi” và không học tiếp nữa. Cách nhìn đó rất trái ngược với tinh thần của đạo Bụt. Chúng ta phải nhìn giáo lý Tứ diệu đế dưới ánh sáng của sự thực tập chánh niệm.

Định đề 14

 

Niệm, định và tuệ tương dung, cả ba đều có công năng đưa tới hỷ, lạc và giải thoát.

Mindfulness, concentration and insight inter-are, interpenetrate. All three have the capacity to bring joy, happiness and liberation.

Nếu có người hỏi ta thực tập chánh niệm, chánh định để làm gì thì ta có thể nói ta thực tập để có hạnh phúc (hỷ lạc). Ngay trong khi thực tập thì ta đã có hỷ lạc chứ không phải là thực tập lâu năm rồi mới có hỷ lạc. Ví dụ khi đang đi ta ý thức được là ta đang còn sống, đang đi trên trái đất, đang tiếp xúc với trời xanh, mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở. Đó là niệm. Và khi có niệm thì ta có hạnh phúc, ta không còn đi như một người mộng du. Niệm có thể đưa tới hạnh phúc liền. Khi ta có ý thức về những tiêu cực đang xảy ra như ta đang bệnh hay thế giới đang bị chiến tranh, thì tuy niệm ấy không đưa tới hạnh phúc nhưng nó giúp ta ý thức được sự thật đang xảy ra để ta có thể sử dụng thì giờ và tâm lực mà chuyển hóa và tự giải thoát, giúp cho mình và cho người khác thoát ra khỏi tình trạng đó.

Chúng ta đã học: ly sinh hỷ, ly sinh lạc. Ly sinh hỷ lạc là niềm vui và hạnh phúc phát sinh ra nhờ khả năng buông bỏ. Chúng ta buông bỏ những sầu đau, vướng mắc, ganh tị. Chúng ta buông bỏ sự quên lãng, sự ôm đồm, sự chạy theo những gì không ích lợi. Sự buông bỏ đó đem lại hỷ lạc. Đó gọi là ly sinh hỷ, ly sinh lạc.

Chúng ta cũng đã học: niệm sinh hỷ và niệm sinh lạc, định sinh hỷ và định sinh lạc. Khi ngồi có niệm và có định thì ta ngồi có hạnh phúc. Khi đi có niệm, có định thì ta cũng có hạnh phúc. Khi ăn cơm hay rửa bát mà có niệm, có định thì ta có hạnh phúc. Bơi lội trong dòng sông mà có niệm, có định thì hạnh phúc được bơi trong dòng sông của ta rất lớn. Không có niệm, không có định thì ta không thật sự có mặt. Không thật sự có mặt thì ta không hưởng được những cái đẹp, cái tươi mát, những cái mầu nhiệm trong sự sống và ta không có hạnh phúc.

Có tuệ là có cái thấy, có sự hiểu biết. Có sự hiểu biết thì không còn bị kẹt vào những sự hiểu lầm, giận hờn, lo âu. Vì vậy tuệ cũng đưa tới hỷ, lạc và sự giải thoát.

Nếu được hỏi tại sao ta phải thực tập niệm-định-tuệ thì câu trả lời đơn giản nhất là thực tập niệm-định-tuệ sẽ đưa tới hạnh phúc liền cho ta. Lúc đầu hạnh phúc có thể còn nhỏ nhưng từ từ sẽ lớn lên và khi hạnh phúc lớn thì giải thoát cũng lớn. Trong niệm đã bắt đầu có định. Niệm càng được duy trì thì định càng lớn. Và khi niệm và định hùng hậu thì tuệ sẽ đến mau chóng. Tuệ cũng giúp cho duy trì niệm và định. Do đó ba loại năng lượng này nương nhau mà phát sinh và lớn lên. Đó là những loại năng lượng có thể chế tác niềm vui và xử lý khổ đau. Tu tập là để chế tác ba loại năng lượng này.

Định đề 13

 

Cần hay tinh tấn cũng là giới, và vì vậy cũng là niệm.

Right diligence is also a precept and therefore is also mindfulness.

Cần, chúng ta dịch là sự siêng năng (diligence), cũng là một hình thức thực tập giới. Chúng ta có danh từ “Tứ chánh cần” hay danh từ “tinh tấn”. Cần là siêng năng, nhưng nếu ta không giải thích siêng năng như thế nào thì người ta không thực tập được. Dịch là effort (cố gắng) thì không nói lên được bản chất của tinh tấn, hay của cần.

Tứ chánh cần

Tứ chánh cần giải bày về sự thực tập siêng năng rất rõ ràng:

  1. Những xấu ác, những tiêu cực, những hạt giống không lành chưa phát hiện thì ta tìm cách ngăn ngừa không cho chúng phát hiện. Chúng ta ai cũng có hạt giống của thèm khát, ganh tị, giận hờn, tuyệt vọng. Biết mình có hạt giống đó, ta phải sống như thế nào để những hạt giống đó không bị tưới tẩm. Đó là chánh cần, không cho những hạt giống xấu có cơ hội để phát hiện. Đó cũng là giới. Khi đọc sách báo, nghe âm nhạc, lên mạng, xem TV hay ngâm thơ thì những bài nhạc, những bài thơ, những phim ảnh đó có thể tưới tẩm những hạt giống tiêu cực trong ta như thèm khát, bạo động, hận thù, ganh tị. Ta phải cẩn thận, ta không nên đọc những sách báo, nghe những bài nhạc hay coi những phim ảnh tưới tẩm những hạt giống tiêu cực ấy. Đó là điểm thứ nhất của Tứ chánh cần.
  2. Nếu những hạt giống tiêu cực đã bị tưới tẩm và biểu hiện rồi thì ta phải làm cho chúng ngừng lại. Những hạt giống (chủng tử) đã hiện hành thì ta phải làm cho chúng ngưng hiện hành, và trở về với trạng thái chủng tử. Có phương pháp gọi là “thay chốt”: Ta tắt phim đó và mở phim khác, ta ngâm bài thơ khác hay không ngâm nữa. Khi giúp cho những hạt giống tốt phát khởi thì những hạt giống xấu ngưng phát khởi. Đó là phương pháp thứ hai của Tứ chánh cần.
  3. Những hạt giống tốt chưa biểu hiện ta phải cho chúng cơ hội biểu hiện. Ta chọn sống trong một môi trường mà các hạt giống tốt có cơ hội được tưới tẩm và biểu hiện. Tìm môi trường để sống là một vấn đề rất quan trọng. Môi trường nào mà trong đó hạt giống của hiểu biết, thương yêu, hạt giống của niềm vui, của từ bi được tưới tẩm là một môi trường tốt. Nếu ta chơi với những người bạn xấu, nghe họ nói và thấy họ làm những điều đang tưới tẩm hạt giống xấu nơi ta thì sẽ có hại cho ta. Ta phải chọn bạn mà chơi, đó là sự thực tập. Ta chơi với những người bạn mà lời nói hay việc làm của họ giúp tưới tẩm hạt giống tốt trong ta. Đó là ta tạo điều kiện cho những hạt giống tốt trong ta được biểu hiện. Môi trường tốt và bạn lành là mặt thứ ba của Tứ chánh cần.
  4. Nếu những hạt giống tốt đã được hiện hành rồi thì ta phải tìm cách để duy trì chúng trong trạng thái hiện hành ấy càng lâu càng tốt. Những hạt giống ấy đã từ chiều sâu tàng thức phát hiện trên vùng ý thức. Thực tập tùy niệm ta có thể duy trì chúng ở trong vùng ý thức. Trong thời gian chúng biểu hiện trên ý thức, những hạt giống ấy tiếp tục lớn lên dưới vùng tàng thức. Phương pháp này gọi là chuyển y, nghĩa là chuyển hóa tận nơi căn bản. Nhìn vào Tứ chánh cần, chúng ta thấy cần cũng là giới và cũng là niệm.

Tam tụ tịnh giới

Trong Luật tạng có ý niệm “Tam tụ tịnh giới”, nghĩa là ba nhóm giới:

  1. Nhiếp luật nghi giới (giữ gìn giới, luật và uy nghi)

Nhiếp luật nghi là nắm cho vững giới luật và uy nghi, đừng để mất đi. Sự thực tập giới luật và uy nghi gọi là nhiếp luật nghi.

  1. Nhiếp thiện pháp giới (làm những điều lành)

Nhiếp thiện pháp là nắm lấy và làm phát triển những cái tích cực. (Try to develop, try to do everything that is positive, good, nourishing and healing.)

Phát khởi lòng từ bi, mỉm một nụ cười thân thiện, giúp người khác bớt sầu khổ, đó cũng là trì giới, đó là nhiếp thiện pháp giới.

  1. Nhiêu ích hữu tình giới (làm lợi ích cho các loài hữu tình)

Hữu tình (sattva) là các loài chúng sinh, nhiêu ích là làm lợi ích. Bất cứ hành động hay lời nói nào có thể giúp ích cho mọi người và mọi loài (giúp cho họ được cơm ăn, áo mặc, thuốc men, được bảo hộ, không bị tai nạn, không bị chiến tranh) đều thuộc về hành động nhiêu ích hữu tình giới.

Ba nhóm này gọi là Tam tụ tịnh giới. Chúng ta thấy chúng cũng là niệm, cũng là cần, là sự siêng năng. Trong đạo Bụt, khi nói đến siêng năng, tinh tấn, cần mẫn thì chúng ta cần đưa ra những hành động cụ thể. Làm được những việc đó thì gọi là tinh tấn, gọi là siêng năng.

Tất cả sự hành trì đều là giới, là niệm

Chúng ta đã thấy được rằng tất cả những gì ta hành trì của ta đều là giới, là niệm. Ví dụ trước khi ăn, ta đọc Năm quán:

  1. Thức ăn này là tặng phẩm của đất, trời và công phu lao tác: Đây là niệm. Ta ý thức rằng thức ăn trong bát của ta là tặng phẩm của đất, trời, muôn loài và công phu lao tác. Ta biết bát cơm này từ đâu tới (lượng bỉ lai xứ). Đó là niệm. Mà hễ đã là niệm thì đó là giới. Không phát khởi chánh niệm như vậy khi ăn cơm là không trì giới. Nếu trong khi đọc câu ấy mà không thấy được cơm này là tặng phẩm của đất trời, của muôn loài và công phu lao tác là ta không có niệm. Không có niệm là không có giới thật sự.
  2. Xin nguyện ăn trong chánh niệm và với lòng biết ơn để xứng đáng thọ nhận thức ăn này: Đó cũng là niệm và cũng là giới. Khi ăn cơm nếu ta phóng tâm nghĩ đến những chuyện khác là ta không giữ giới vì ta không có niệm.
  3. Chỉ xin ăn những thức có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh: Có niệm như vậy ta sẽ không lấy những thức ăn không phù hợp với tạng phủ của mình.

Tất cả năm điều trong Ngũ quán đều là niệm và đồng thời cũng là giới. Vì vậy tất cả sự hành trì của chúng ta trong đời sống hàng ngày đều là sự biểu hiện của niệm và của giới.

Trong Bát chánh đạo cũng có chánh tinh tấn. Trong Ngũ căn, Ngũ lực cũng có tinh tấn (tín, tấn, niệm, định, huệ). Tấn là cần. Trong Ngũ lực không có chữ “giới”, nhưng cần thật ra đã là giới. Cần đã là giới, thì cần cũng là niệm. (Diligence is also a percept and therefore it is also mindfulness.)

Định đề 12

 

Giới cũng là niệm. Giới luật và uy nghi là biểu hiện cụ thể của chánh niệm.

Precepts are mindfulness. Śīla is smŗti. Precepts and mindful manners are concrete expressions of mindfulness.

Đây là một giáo lý rất quan trọng của Làng Mai. Định đề 12 có liên hệ với định đề 11. Tam vô lậu học “niệm-định-tuệ” có khi được gọi là “giới-định- tuệ”. Có khi trong kinh nói: Từ giới mà sinh định, từ định mà có tuệ. Nhưng có khi trong kinh lại nói: từ niệm mà sinh định, từ định mà phát tuệ. Vì vậy chúng ta đi tới kết luận: Giới tức là niệm. Làng Mai chúng ta gọi Năm Giới là “Năm phép thực tập chánh niệm” (the Five Mindfulness Trainings). Nếu giới không phải là niệm thì giới chỉ là những ràng buộc hình thức.

Chúng ta vừa được học là giới luật và uy nghi giúp cho chúng ta phát khởi chánh niệm để ta đừng bị những phi như lý tác ý lôi kéo đi. Có phi như lý tác ý thì không còn niệm. Giới luật và uy nghi giúp ta phát khởi chánh niệm, cho nên giới là niệm. Giới mà không phát xuất từ niệm thì nó chỉ là hình thức. Đồng thời ta biết được tuy giới là niệm, nhưng phạm vi của niệm rộng hơn của giới. Các giáo lý cơ bản như bát chánh đạo và ngũ căn ngũ lực đều sử dụng cặp ba niệm định tuệ thay vì cặp ba giới- định-tuệ. Ta cũng thấy đối với hành giả, giới cụ thể hơn niệm, cũng vì giới nằm trong phạm vi của niệm.

Là người lái xe, chúng ta phải tuân theo luật đi đường. Tại sao ta phải tuân theo luật? Tại sao ta không lái tự do? Tại sao ta phải ngừng khi có đèn đỏ? Tại vì tất cả những luật lệ, những nguyên tắc, những thực tập đó đều nhằm ngăn ngừa không cho tai nạn xảy ra. Tới đèn đỏ ta phải dừng lại, ta không được qua mặt khi đường có gạch thẳng, làm theo như vậy thì ta sẽ tránh được tai nạn xe cộ. Nếu không thấy được mục đích của luật lệ thì ta sẽ bực bội: Tại sao phải ngừng khi đèn đỏ, tại sao không được qua mặt, tại sao không được bật đèn pha trong khi xe đối diện đang đi tới? Luật lệ là để giúp cho mọi người tránh được tai nạn.

Nếu không có chánh niệm, không thấy được rằng giới và uy nghi là để bảo hộ cho ta, giúp ta phát khởi chánh niệm thì ta sẽ bực bội: Tại sao phải giữ giới, tại sao phải giữ uy nghi? Giới là niệm, đó là cái thấy của Làng Mai. Giới phải lấy chánh niệm làm căn bản, giới phải phát xuất từ chánh niệm.

Những giới chúng ta đọc tụng ở Làng Mai như Năm giới hay Mười bốn giới đều chứng tỏ là giới phát xuất từ chánh niệm:

Ý thức được rằng chiến tranh và bạo động đã và đang gây ra quá nhiều đau khổ, con nguyện không sát hại, con nguyện bảo vệ sự sống của mọi người và mọi loài.

Lối diễn bày giới tướng như vậy chứng tỏ rằng giới phát sinh từ niệm. Ý thức được rằng làm cái này thì sẽ có khổ đau này, nói cái kia thì sẽ có khổ đau kia, đó là chánh niệm. Vì có chánh niệm nên con mới quyết định không nói như vậy, không làm như vậy. Giới là niệm, nếu giới không là niệm thì giới không thật sự là giới. Ta giữ giới với niềm vui và hạnh phúc chứ không có cảm tưởng là ta đang bị gò bó, ép buộc và ta rất hãnh diện khi giữ được giới luật và hành trì được uy nghi.

“Giới là niệm” là một khám phá của Làng Mai. Chúng ta tìm được rằng giới-định-tuệ cũng là niệm-định-tuệ vì bản chất của giới là niệm. Ý thức được sự khổ đau do sự sát hại gây ra nên chúng ta giữ giới không sát sinh. Nếu không có ý thức, không có chánh niệm như vậy thì giới không sát sinh bị xem như là một sự ràng buộc và làm bớt đi sự tự do của ta. Sau này tất cả các giới của Làng Mai đều sẽ được trình bày theo tinh thần đó để mọi người nhớ rằng: Bản chất của giới là niệm. Giới luật và uy nghi (Luật nghi) mà chúng ta hành trì với tư cách của người xuất gia hay người tại gia đều phát sinh từ niệm. Tất cả những uy nghi chúng ta thực tập đều có mục đích nuôi dưỡng chánh niệm và cũng phát sinh từ chánh niệm.

Hình thức của giới cũng như của uy nghi có thể được thay đổi để phù hợp với thời đại và nơi chốn chúng ta đang thực tập. Tuy giới luật và uy nghi có thể khác, nhưng bản chất của chúng vẫn là chánh niệm. Giới luật và uy nghi có thể thay đổi tùy theo văn hóa và tập tục địa phương, nhưng dù cho có thay đổi thì chúng vẫn là biểu hiện của niệm và có mục đích duy trì chánh niệm.

Trong những “Đại hội tu chỉnh giới luật và uy nghi” trong tương lai, ta sẽ sắp đặt và điều chỉnh lại ý của các giới tướng và uy nghi cho phù hợp. Uy nghi trong sách “Bước tới thảnh thơi” có khác hơn uy nghi trong cuốn “Sa di luật nghi yếu lược”. Trong sách “Sa di luật nghi yếu lược” không có uy nghi liên hệ tới chuyện đi xe máy, chuyện lái xe hơi hay chuyện sử dụng điện thoại. Trong cuốn “Bước tới thảnh thơi” có những uy nghi mới cho việc sử dụng điện thoại, sử dụng máy vi tính hay sử dụng xe máy. Làm thế nào để giữ được chánh niệm và uy nghi trong khi sử dụng điện thoại, máy vi tính hay sử dụng xe máy? Giới tướng và cách diễn bày các uy nghi sẽ thay đổi, nhưng thay đổi không có nghĩa là không căn cứ trên niệm và không có công dụng duy trì niệm. Nếu chúng ta nhớ điều đó thì những thay đổi và tu chỉnh về giới luật và uy nghi sẽ tiếp tục đi về mục tiêu mà ta đang muốn hướng tới.

Định đề 11

 

Niệm-định-tuệ là sự thực tập nòng cốt để đi tới giải thoát.

Mindfulness, concentration and insight are the essential practices that give rise to liberation.

Niệm-định-tuệ, có khi còn gọi là giới-định-tuệ, thường được gọi là “Tam vô lậu học”. Tam vô lậu học là ba mặt của sự thực tập. Trong văn học Phật giáo, học là sự thực tập, tiếng Anh là training. Chúng ta phải thực tập đàng hoàng chứ không phải chỉ đi tới trường để tiếp thu lý thuyết. Khi thực tập thành công rồi thì gọi là “vô học”, tức không cần phải tìm tòi nữa, chỉ cần tiếp tục nuôi dưỡng tuệ giác thôi. Chữ vô học trong đạo Bụt có nghĩa là thực tập thành công rồi, còn chữ vô học ngoài đời có nghĩa là không có được cơ hội đi tới trường học.

Tam học (the triple training) là sự thực tập niệm, định và tuệ. Ba cái đó đan vào nhau, nâng đỡ cho nhau. Tam học, gọi đầy đủ là “Tam vô lậu học”. Chữ vô lậu có nghĩa là không rơi trở lại. Trong khi thực tập, ta có thể leo lên tới một mức nào đó rồi rớt trở lại, ta lại tìm cách leo lên rồi bị rớt trở lại, đó gọi là lậu. Lậu là rỉ ra, lọt xuống. Vô lậu có nghĩa là một khi đã thoát rồi thì không rớt trở xuống nữa. Nhiều người trong chúng ta làm lỗi và sám hối, nhưng sám hối xong vài tháng thì làm lỗi trở lại, đó gọi là lậu. Khi thực tập tinh chuyên cho bền thì ta bước hẳn lên không rơi rụng xuống nữa, đó gọi là vô lậu.

Nếu chúng ta thực tập niệm-định-tuệ cho tinh chuyên thì sẽ đạt đến chỗ vô lậu, không bị lọt xuống vùng trầm luân và trôi lăn trong sinh tử luân hồi nữa. Vì vậy, niệm- định-tuệ được gọi là Tam vô lậu học.

Niệm

Niệm thắp sáng được hiện hữu. Trong đời sống hàng ngày, chúng ta sống trong thất niệm, sống trong cõi u mê quên lãng. Là người mà ta không biết ta có may mắn làm người. Ta có mắt sáng thấy được trời xanh mây trắng mà ta không biết là ta có mắt sáng. Ta có cha, có mẹ, có thầy mà ta cứ quên là ta có cha, có mẹ, có thầy. Ta sống trong quên lãng. Đó là thất niệm, là không có sự sống, không có sự sống tại vì không có sự can thiệp của niệm. Niệm là biết rõ, nhận diện những gì đang xảy ra: Đi thì biết là mình đang được đi, ngồi thì biết là mình đang được ngồi, ăn cơm thì biết là mình đang được ăn cơm, nhìn mây trắng thì biết rằng mình đang được nhìn mây trắng. Niệm là một năng lượng thắp sáng sự sống, thắp sáng hiện hữu.

Đức Thế Tôn được gọi là người giác ngộ tại vì Ngài luôn luôn có niệm. Cũng như một cái máy tính, nếu không có dòng điện thì máy tính không vận hành. Đường dây điện thoại mà không có dòng điện thì ta không nói chuyện được. Chúng ta phải làm cho máy tính được bật lên, làm cho dòng điện được luân lưu trong đường dây điện thoại. Người tu phải thắp sáng sự sống của mình bằng chánh niệm. Người tu không thể sống trong quên lãng, đi như người mộng du, ngồi như ngồi trong hang tối, không thấy được tất cả những mầu nhiệm của sự sống. Niệm cũng giống như điện, là một năng lượng thắp sáng đời sống hàng ngày.

Trong đời sống hàng ngày, có nhiều lúc chúng ta rơi vào thất niệm. Vì vậy ta phải tổ chức cách sống như thế nào để có thể có cơ hội trở về tiếp xúc với niệm. Chúng ta đang suy nghĩ vẩn vơ, hoặc đang buồn khổ thì nghe một tiếng chuông. Nghe tiếng chuông, ta ý thức rằng ta đang trôi lăn, ta đang phiêu lưu trong thế giới của tạp niệm. Ta trở về phát khởi niệm, tiếng chuông là một điều kiện giúp ta tác ý, biết rằng ta đang trôi lăn và chỉ trong một sát na từ thất niệm ta trở về niệm. Tác ý 作 意 (manaskāra) rất quan trọng. Trong manas-kāra có chữ manas tức là ý, nhưng tác ý này đưa ta vào chánh niệm mà không đưa ta vào nẻo của thèm khát, giận hờn. Đó gọi là như lý tác ý. Ví dụ như khi ngửi mùi hương trầm, tự nhiên ta nhớ tới sự tinh khiết, nhớ tới kinh, nhớ tới Bụt. Mùi hương trầm đó đang đưa ta về như lý tác ý. Tác ý đưa ta vào chánh niệm gọi là như lý tác ý (yoniso-manaskāra). Tác ý đưa ta vào những nẻo đường tham đắm, ví dụ như nghe mùi hương thì nhớ nàng đến mức không chịu nổi, đó gọi là phi như lý tác ý. Trong đời sống hàng ngày, ta phải sắp đặt như thế nào để có được những yếu tố giúp ta có như lý tác ý, đưa về nẻo thiện, về sự tỉnh thức, về với nếp sống đẹp. Tiếng chuông là một yếu tố giúp ta phát khởi chánh niệm. Khi thấy một thầy hay một sư cô đang bước đi thong dong, nhẹ nhàng, tự tại, làm chủ được mình thì hình ảnh đó có thể giúp ta phát khởi như lý tác ý. Nếu ta cũng đi được những bước vững chãi, thảnh thơi, an lạc thì ta cũng là một nhân duyên giúp được người khác phát khởi như lý tác ý. Khi để ý tới những hình ảnh, âm thanh, tư tưởng không tạo như lý tác ý mà đưa ta về những nẻo của buồn khổ, nhớ nhung, mơ mộng thì gọi là phi như lý tác ý (ayoniso-manaskāra). Ta phải sắp đặt đời sống hàng ngày của ta như thế nào để trong môi trường, trong hoàn cảnh của sự sống có những yếu tố giúp ta tác ý một cách chân chính. Ta sắp đặt những cuốn sách ta đọc, những bài nhạc ta nghe, những hình ảnh ta thấy như thế nào để chúng đưa ta về như lý tác ý. Ta phải tránh những bài báo, những phim ảnh, những cuốn sách, những khúc nhạc đưa ta về nẻo của nhớ thương, buồn khổ, giận hờn, mơ mộng tại vì nó có thể đưa ta về hướng phi như lý tác ý.

Giới

Giới luật và uy nghi có mục đích tránh cho ta những giây phút phi như lý tác ý. Giới luật và uy nghi đưa ta về niệm. Tại sao ta phải thực tập giới luật? Tại sao ta phải khép mình vào uy nghi? Tại vì ta không muốn bị cái phi như lý tác ý kéo đi. Ta muốn thắp sáng đời sống hàng ngày, muốn được tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống và sống một cách tỉnh thức, không mê mờ, nên ta thực tập giới và uy nghi. Giới và uy nghi không phải là những hạn chế, những bó buộc mà là những điều kiện giúp ta sống hạnh phúc, an lạc, tỉnh thức.

Nhờ như lý tác ý mà niệm phát sinh. Khi bước một bước chân hay khi thở một hơi thở thì bước chân và hơi thở đó chế tác chánh niệm. Trong ta có một luồng điện, tức chánh niệm. Năng lượng chánh niệm này thắp sáng hết tất cả những tế bào trong cơ thể ta. Nếu máy tính có điện thì tất cả các phần trong máy tính đều có điện. Nếu trong đường dây điện thoại có dòng điện luân lưu thì hai bên đều nghe tiếng u u. Sự sống của ta cũng vậy, khi có tiếng u u của chánh niệm là ta đang sống, còn không có tiếng u u của chánh niệm là ta đã chết.

Nhà văn người Pháp Albert Camus, trong tác phẩm “L’Étranger” (Người xa lạ) có nói: “Có những người sống như những người chết.” (Il y a des gens qui vivent comme des morts.) Nhìn xung quanh ta thấy có rất nhiều người đang sống như những người chết. Họ đi qua, đi lại, họ ngồi, họ đứng, họ làm việc, họ ngủ; nhưng họ sống như những người chết tại vì trong con người họ không có luồng điện của chánh niệm.

Nếu có gốc Cơ đốc giáo quý vị có thể gọi năng lượng chánh niệm là năng lượng của Thượng đế, là Chúa thánh thần (the holy spirit, l’esprit saint). Có l’esprit saint là ta đang thực sự sống, không có nó thì ta đã chết.

Cơ đốc giáo có Chúa ba ngôi: Chúa cha, Chúa con và Chúa thánh thần. Ngôi thứ ba là Chúa thánh thần (le Saint-esprit). Người nào có Chúa thánh thần biểu hiện trong người tức có năng lượng tương đương với niệm thì người đó có sự sống, đi đứng nằm ngồi trong sự tỉnh thức. Năng lượng này phải đủ hùng hậu để kích thích, để làm sống dậy các tế bào trong cơ thể. Nó động viên tất cả tế bào trong cơ thể.

Định

Khi ngồi thiền mà thật sự là ngồi trong thiền thì tất cả toàn thân của ta được thắp sáng bởi năng lượng của chánh niệm. Không phải chỉ có tế bào óc có niệm mà những tế bào tim, phổi, thận, các tế bào của bắp thịt ở mỗi ngón chân, ngón tay v.v… đều được thắp sáng. Trong khi ngồi thiền ta phải động viên tất cả các tế bào trong cơ thể đồng thời phát khởi chánh niệm. Đồng bộ phát khởi là synchronisation, trong lúc đó sẽ không có tình trạng riêng lẻ cục bộ, tại vì chánh niệm thắp sáng tất cả tế bào của ta. Cơ thể ta trở thành một môi trường, trong đó có sự thống nhất (unification), không phân biệt. Trong lúc đó không còn những tế bào óc, tế bào tim, tế bào phổi v.v… riêng biệt, tất cả đều trở thành một (completely unified). Lúc đó niệm trở thành định và định soi cho chúng ta thấy sự thật rõ ràng hơn. Ta ngồi đó như một ngọn đèn sáng. Mỗi tế bào trong cơ thể ta trở thành tất cả các tế bào. Cái một trở thành cái tất cả, không còn có sự riêng lẻ cục bộ nữa, tất cả là một. Ta bắt đầu thấy được tính duyên khởi trong kinh Hoa Nghiêm: Một là tất cả, tất cả là một.

Khoa học đã có thể thực hiện được những trạng thái trong đó những điện tử hành xử như cái tất cả. Nó vượt thoát được khuôn khổ của thời gian và không gian, cái một trở thành cái tất cả. Khoa học gia David Bohm có lần đã nói: “Một nguyên tử cũng đồng thời là tất cả các nguyên tử. Một điện tử cũng đồng thời là tất cả các điện tử.” Một điện tử được làm bằng tất cả các điện tử. (One electron is made of all electrons). Lúc đó ta đi vào thế giới trùng trùng duyên khởi của Hoa Nghiêm.

Trong tư thế ngồi thiền chúng ta có thể thấy rằng tất cả các tế bào trong cơ thể đều đang vận hành một cách hoàn toàn thống nhất. Cái một trở thành cái tất cả và hoàn toàn không có sự khu biệt, kỳ thị nữa.

Khoa học đã nói đến một trạng thái gọi là “chất tụ BE” (Bose-Einstein-condensate). B là Bose, E là Einstein, chất tụ là condensate. Trước đây gần một thế kỷ, Einstein có tiên đoán được rằng: Khi đem nhiệt độ của một chất xuống tới (-273,15)⁰C thì người ta tạo ra được chất tụ BE (Bose-Einstein-condensate). Bose là tên của một nhà vật lý học người Ấn Độ. Trong chất tụ BE người ta thấy mỗi điện tử, mỗi nguyên tử hành xử như toàn thể, không có sự khu biệt về thời gian và không gian. Tất cả đều nằm trong trạng thái không, không còn không gian (locality) và thời gian (temporality) nữa. Các nhà khoa học cho biết rằng, khi có sự kích thích thì những vi tử (ion) làm bằng protein hay bằng chất béo nằm ở màng (membrane) tế bào phát ra một chút ánh sáng. Khi sự kích thích đúng mức thì các ion phối hợp với nhau và tạo ra một môi trường lượng tử (quantum field) và tự nhiên cái một hành xử như cái tất cả.

Tuệ

Nếu thực tập đàng hoàng ta cũng có thể tạo được tình trạng đó trong cơ thể mình. Với năng lượng của chánh niệm ta thắp sáng các tế bào trong cơ thể, làm cho cơ thể đi tới trạng thái hoàn toàn thống nhất, không có sự chia rẽ, không có thời gian, không có không gian nữa. Ta tiếp xúc được với bản môn. Trong từng tế bào cơ thể ta có hạt giống của cha mẹ, của tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh. Khi tế bào được thắp sáng bằng năng lượng chánh niệm thì ta thấy cha mẹ đang ngồi đó với ta, tổ tiên đang ngồi đó với ta. Ta thấy đức Thế Tôn đang ngồi đó với ta, thầy Ca Diếp, thầy A Nan, thầy Ưu Ba Ly, cư sĩ Cấp Cô Độc, cư sĩ Duy Ma Cật đều cùng biểu hiện. Ta ngồi với thánh chúng của thời Nguyên thỉ vì trong lúc đó ta vượt khỏi thời gian và không gian nên tất cả đều có mặt một lần. Ta thấy rõ là ta đang ngồi trong thánh chúng, ngồi với đức Thế Tôn, với chư Phật, với chư vị Bồ tát và các vị đại đệ tử ngay trong giây phút hiện tại. Không còn sự cách biệt giữa quá khứ, tương lai và hiện tại. Không còn sự cách biệt giữa nơi này với Ấn Độ hay thế giới Cực Lạc. Ta vượt thoát thời gian và không gian, ta tiếp xúc được bản môn. Trong khi ngồi thiền nếu ta tiếp xúc được bản môn thì đó là nhờ niệm, niệm đưa tới định.

Khi tạo được trạng thái định trong ta thì ta được nuôi dưỡng, được chuyển hóa. Ngồi thiền như vậy đưa tới pháp lạc rất lớn và nếu ngồi thiền thành công thì sau khi ngồi thiền ta cũng có thể tiếp tục đi, đứng, nói, cười trong trạng thái đó.

Trong lúc thực tập thiền đi, tuy ta đi bằng chân của ta, nhưng chánh niệm thắp sáng cho biết rằng chân này cũng là chân của cha, cũng là chân của mẹ. Cha đang đi với ta, mẹ đang đi với ta. Việc này rất dễ, ai làm cũng được: Bước một bước, ta thấy cha cùng đi với mình, mẹ cùng đi với mình. Lúc đó ta bắt đầu thoát ra khỏi tình trạng cục bộ, thoát ra khỏi cái ngã. Ta thấy mẹ cùng đi, ông nội cùng đi, ta thấy đức Thế Tôn cùng đi với mình. Ta là học trò, ta nối tiếp đức Thế Tôn. Ta là con của đức Thế Tôn nên ta thấy Ngài đang đi, ta thấy sư anh Ma Ha Ca Diếp, sư anh Mục Kiền Liên cùng đi với ta. Điều đó, nếu muốn ta có thể làm được và ta thoát ra khỏi được thân phận nhỏ bé của cái ngã làm ta bị hạn chế. Bằng bước chân ta thoát ra khỏi những khổ đau, bực bội phát sinh từ thân phận bị hạn chế đó. Đi như vậy thì không khác gì ta đang nắm tay Bụt, nắm tay thầy A Nan hay thầy Ca Diếp cùng đi.

Không phải chỉ trong tư thế ngồi ta mới đi vào tuệ mà trong tư thế đi hay đứng ta cũng có thể làm được như vậy. Nếu muốn ta cũng có thể ngồi ăn cơm với chư Bụt và chư vị Bồ tát, chư vị thánh tăng. Ăn cơm như vậy đem lại pháp lạc rất lớn, từ đó những buồn phiền nho nhỏ không thể xâm chiếm được ta. Những bực bội, ganh tị, lo lắng trong đời sống hàng ngày không có công năng thâm nhập và kéo ta đi vì ta đã có pháp lạc, ta đã có cái thấy lớn.

Niệm, định, tuệ đồng thời cụ túc tương ưng

Trong niệm đã có định và tuệ. Không phải có niệm xong rồi mới có định và có định xong rồi mới có tuệ. Trong niệm đã có định và tuệ, tùy theo niệm sâu hay không sâu. Niệm và định có thể tương tức (interbeing) hay tương nhập (interpenetration) và có công năng đưa tới cái gọi là “đồng thời cụ túc tương ứng” (synchronisation) tức là cùng một lúc mà tất cả đều biểu hiện ra một lần. Vì ta có đây nên tất cả tổ tiên ta cũng có đây. Vì ta có đây nên con cháu ta cũng đang có đây. Tất cả đều biểu hiện một lần.

Ví dụ chúng ta vẽ một tam giác ABC, rồi kéo một đường thẳng AH. Tự nhiên có hai tam giác nhỏ sinh ra một lần mà không phải một cái sinh trước rồi một cái sinh sau. Không phải tam giác nhỏ này làm phát sinh tam giác nhỏ kia mà thực ra hai tam giác nhỏ đồng thời phát khởi. Tại vì ta có mặt đó nên ta biết rằng tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh có mặt đó, tại vì ta có mặt đó cho nên con cháu có mặt đó. Không phải đợi thời gian tới rồi ta mới sinh con cháu, cũng không phải đợi tổ tiên chết rồi thì ta mới sinh ra, mà tất cả đồng thời phát hiện một lần.

Trong niệm phát sinh ra định. Trong giáo lý Thập huyền môn, huyền môn thứ nhất là: Đồng thời cụ túc tương ưng môn. Trong giây phút này tất cả đều có mặt, đều biểu hiện ra cả, chỉ do ta thấy hay không thấy mà thôi. Ta đi tìm Bụt, đi tìm Tổ ở đâu? Bây giờ và ở đây. Chúng ta có cơ duyên rất lớn, được tiếp nhận giáo pháp, chúng ta có thời giờ để thực tập. Trong khi đi, ta phải đi với niệm, với định, với tuệ. Nếu không thì rất uổng. Thà rằng ta ở ngoài đời làm nhà băng, làm ở công sở, làm bác sĩ, làm y tá, làm thợ mộc, thợ nề còn hơn. Ta có cơ duyên nên ta đừng đi như bác thợ nề. Nhưng nếu được học hỏi chánh pháp thì bác thợ nề cũng đi được như Bụt, như các Bồ tát. Ta phải học đi, đi như thế nào mà tất cả tổ tiên đều có mặt một lần với ta trong mỗi bước chân. Ta ăn cơm như thế nào để tất cả tổ tiên, con cháu đều ăn cơm cùng với ta. Chuyện đó ta có thể làm được, tùy ta có muốn hay không mà thôi. Khi có như lý tác ý, khi thắp sáng được chánh niệm thì ta bắt đầu làm được chuyện đó. Nhưng ta đừng nên chỉ thắp sơ sơ, thắp mờ mờ! Ánh sáng đó sẽ không đủ để ta thấy được sự mầu nhiệm của trùng trùng duyên khởi. Ta phải làm ăn cho đàng hoàng, phải làm cho tới mức, nếu không thì uổng một đời tu.

Tại trường đại học M.I.T cách đây đúng mười năm, ba nhà khoa học đã thực hiện được điều mà Einstein đã thấy được. Lần đầu tiên họ tạo ra được chất tụ BE. Hàn lâm viện Thụy Điển đã tặng giải Nobel cho ba nhà khoa học đó và trong bản văn trao giải có câu: Giải thưởng Nobel được trao cho quý vị vì quý vị là người đầu tiên đã làm cho các điện tử, các nguyên tử hợp ca chung (sing in unison). Trong một bản hợp ca, cái một ca bài ca của cái tất cả và cái tất cả ca bài ca của cái một, không còn sự phân biệt giữa một và tất cả, và nhà Bác học Einstein đã sử dụng hình ảnh này.

Satyendranath Bose, lúc đó còn trẻ, đã khám phá ra được một điều, ghi chép lại sự khám phá của mình thành bốn trang và gửi cho các tạp chí khoa học trên thế giới.

Nhưng không tạp chí nào chịu đăng bài viết đó. Bose nói về cách đếm các quang tử và đưa ra ý: Nếu các quang tử có cùng một phase, có cùng một ba trường (wave- length) thì chúng sẽ hành xử như là một. Vì vậy ta phải đếm theo cách: Một là tất cả và tất cả là một. Ví dụ như có hai anh em sinh đôi thật, ta để hai người ngồi trên hai cái ghế, một bên trái và một bên phải. Ta quay lưng lại và cho hai người đổi chỗ. Khi ta quay lại thì thấy hai người giống hệt như nhau, không khác gì hết. Tuy là hai người nhưng cũng như một, ta không có cách nào phân biệt được người anh ngồi ở đâu và người em ngồi ở đâu. Các quang tử cũng vậy, chúng giống hệt như nhau, chúng có cùng một ba trường, chúng hành xử như một nên không làm sao đếm được. Ở chỗ phân biệt ta còn đếm được, nhưng khi đến chỗ vô phân biệt thì không thể nào đếm được. Chúng ta có cơ hội thoát ra khỏi ý niệm “một và tất cả”. Trong đạo Bụt, chúng ta phải làm sao để thoát ra khỏi ý niệm sinh-diệt, có-không, một-khác và khoa học cũng đang đi về hướng đó.

Vì không báo nào chịu đăng bài viết của mình nên Bose tuyệt vọng quá, đánh bạo gửi cho Einstein. Einstein đọc rất thích thú. Căn cứ trên cái thấy của Bose, và với sự suy tư và ngôn ngữ khoa học của mình Einstein giả định rằng: Có một trường hợp có thể tạo ra được chất tụ BE, trong đó mỗi nguyên tử đều hành xử như tất cả nguyên tử. Cái một hành xử như cái tất cả, cũng như khi đi một bước ta thấy tất cả tổ tiên, con cháu cùng đi với ta. Einstein rất hứng khởi, dịch bài viết đó ra tiếng Đức và gửi cho các báo đăng. Ông kết luận: Chúng ta có thể làm cho tất cả nguyên tử đó hợp xướng trong sự đồng nhất, một là tất cả. Einstein đã dùng chữ: You can make them sing in unison. Hàn lâm viện Thụy Điển đã lặp lại câu đó khi trao giải thưởng cho ba nhà khoa học M.I.T: Giải thưởng này trao cho quý vị vì quý vị đã làm cho các nguyên tử cùng hợp xướng trong sự thống nhất.

Chúng ta cũng có thể làm được chuyện đó bằng thiền quán, với năng lượng của chánh niệm, chánh định và bát nhã. Ta không cần sử dụng những dụng cụ khoa học hay ngôn ngữ của văn học mà ta vẫn tạo được cái đó. Niệm- định-tuệ đưa ta ra khỏi thân phận bé nhỏ của bản ngã để hòa nhập với đại thể. Ta không còn bị phiền não trói buộc, những phiền não phát sinh ra từ quan niệm về ngã, về ta, về người, về có, về không, về một, về nhiều. Vì vậy Phật học có thể đi đôi, có thể chơi với khoa học.

Tam học “niệm-định-tuệ” là cái cốt lõi của Phật giáo. Trong định ta có sự quán chiếu về vô thường, vô ngã, về Niết bàn, về duyên sinh, không, vô tướng, vô tác. Tất cả đều có thể đối thoại với khoa học. Chuyện đức Thích Ca được sinh ra từ hông của mẹ hay sinh ra theo lối thông thường không quan trọng mấy. Cõi trời Đao Lợi có đó hay không có đó cũng không quan trọng gì mấy. Có cõi trời thứ 36 hay không cũng không quan trọng lắm tại vì cốt tủy của đạo Phật là niệm-định-tuệ, là giáo lý về vô thường, vô ngã, Niết bàn, về duyên sinh. Khi đi tới kinh Hoa Nghiêm thì giáo lý duyên sinh đã được phát triển đến mức độ tinh vi nhất.

Đồng thời câu khởi là cái này nương vào cái kia mà biểu hiện một lần. Ngày xưa đức Thế Tôn hay dùng hình ảnh của ba cây sậy, cây này dựa vào hai cây kia mà đứng vững. Một cây rớt xuống thì các cây kia cũng rớt xuống theo. Chúng nương vào nhau mà phát hiện cùng một lúc. Cái này nâng cái kia, cái kia nâng cái nọ, đó là giáo lý duyên khởi. Giáo lý duyên khởi được tinh luyện và phát triển đến mức rất cao trong kinh Hoa Nghiêm. Nếu ngày nay các nhà khoa học vật lý và khoa học sinh lý tìm được cảm hứng ở tuệ giác này thì họ sẽ có niềm tin và niềm vui trong sự khám phá. Thế kỷ thứ 21 có thể là thế kỷ của sự hợp tác giữa đạo Phật và khoa học.

Các thầy, các sư cô, các đạo hữu nên nhớ là từ đây trở đi Phật học phải tìm cách đi đôi với khoa học. Khoa học có khuynh hướng muốn thực nghiệm, đạo Phật cũng là con đường thực nghiệm chứ không phải chỉ là lý thuyết và tín mộ mà thôi.

Định đề 10

 

Những định căn bản là vô thường, vô ngã và Niết bàn.

The basic concentrations (samādhi) are the concentrations on impermanence, no-self and Nirvāṇa.

Phật giáo Nguyên thỉ có nói tới vô thường, vô ngã và Niết bàn như là những cái định. Định nào cũng phải có đối tượng của nó. Trong Phật giáo Đại thừa có những định mới như Lăng Nghiêm tam muội, Hải Ấn tam muội, Hoa Nghiêm tam muội, Sư Tử Phấn Tấn tam muội, v.v… Có hàng trăm thứ định. Chúng ta có thể hiểu về vô thường nhưng ta không sống với ý thức về vô thường. Chúng ta phải nuôi dưỡng định vô thường để trong suốt cả ngày ta có thể thấy được tính vô thường của vạn vật. Thấy được tính vô thường là thấy được tính vô ngã, mà thấy được vô ngã là bắt đầu thấy được Niết bàn. Vô ngã đã là Niết bàn rồi. Quá trình vô thường – vô ngã – Niết bàn là quá trình của sự thâm nhập, của sự chọc thủng màn hiện tượng để đi vào màn bản thể. Nhờ vô thường nên ta khám phá được vô ngã và nhờ vô ngã nên ta khám phá được Niết bàn. Tiếp xúc với vô thường cho sâu sắc thì ta tiếp xúc được vô ngã. Vì vậy vô thường là cửa ngõ đi vào vô ngã. Vô ngã có nghĩa là không có tự tánh riêng biệt, nó là cửa ngõ để đi tới Niết bàn. Đó là quá trình của tam pháp ấn: vô thường tiếp xúc vô ngã và vô ngã tiếp xúc Niết bàn.

Hòa thượng Thiện Siêu có viết: Vô ngã là Niết bàn. Thế hệ của quý vị, của những người hành trì Phật pháp trong thời đại kỹ thuật, phải tìm ra những phương pháp thực tập cụ thể để sử dụng những định vô thường, vô ngã, Niết bàn hoặc những định không, vô tướng, vô tác để giải quyết những vấn đề có thật trong cuộc sống. Phải tìm những biện pháp chính trị và kinh tế cụ thể có công năng giải quyết được những vấn đề như giảm thiểu sự ô nhiễm sinh môi, chuyển hóa sự kỳ thị giữa các chủng tộc và tôn giáo, giải tỏa hận thù, chuyển hóa bạo động. Lối sống của ta phải căn cứ trên tuệ giác vô thường, vô ngã, Niết bàn. Cách sống hàng ngày của ta phải căn cứ trên các định không, vô tướng, vô tác tại vì định đem tới tuệ, có tuệ thì ta không hành động như những người u mê. Chiến tranh Iraq là hành động u mê của con người. Sự chống đối giữa người Do Thái và người Ả Rập là sự u mê. Đi tìm hạnh phúc trong sự tàn hoại sinh môi và trong sự tiêu diệt các chủng loại khác trên trái đất là sự u mê. Ta chỉ có thể đánh tan được những u mê đó khi mỗi người trong chúng ta sống được trong tuệ giác của không, vô tướng, vô tác và vô thường, vô ngã, Niết bàn. Chúng ta làm sao để không, vô tướng, vô tác và vô thường, vô ngã, Niết bàn không còn là những lý thuyết hay những ý niệm mơ hồ trong đầu mà là một cái thấy, một cách nhìn, một cách sống đem lại hạnh phúc, thư thái, đem lại sự tha thứ, thương yêu. Chúng ta phải tập, phải nói ra, phải trình bày, phải lấy thí dụ, phải làm gương mẫu về tuệ giác không – vô tướng – vô tác và vô thường – vô ngã – Niết bàn để ta và những người xung quanh ta có thể thực hiện được. Nếu không thì đó chỉ là triết học, là những gì bay lơ lửng trên mây. Chúng ta phải kéo chúng xuống đất để chúng trở thành sự sống thật sự.

Định đề 9

 

Ba pháp ấn là vô thường – vô ngã – Niết bàn. Chúng ta có thể nói Bốn pháp ấn hay Năm pháp ấn với điều kiện là trong những pháp ấn ấy phải có Niết bàn.

The Three Dharma Seals are: Impermanence, non-self and Nirvāṇa. We can mention Four Dharma Seals or Five Dharma Seals with one condition: They should include Nirvāṇa.

Ba pháp ấn là vô thường, vô ngã và Niết bàn.Chúng ta có thể nói tới Bốn pháp ấn hay Năm pháp ấn nếu trong đó có pháp ấn Niết bàn. Có khi các học giả gọi Ba pháp ấn là The three signata. Ta gọi pháp ấn là Dharma Seal cũng được, vì nó giống như giấy chứng nhận đó là giáo lý chân thật của đạo Bụt. Nếu không mang dấu ấn đó thì không phải thật là Phật pháp.

Phật giáo Nam tông ghi rằng Ba pháp ấn là khổ, vô thường và vô ngã. Điều này cũng dễ hiểu vì Tứ diệu đế là nền tảng của sự thực tập, nên ý niệm về khổ rất quan trọng. Phải công nhận sự có mặt của khổ đau rồi mới đi tìm nguyên do của nó, vì vậy các thầy nghĩ rằng trong Ba pháp ấn phải có khổ. Lý luận này không phù hợp mấy, nó không đủ sâu sắc. Trong kinh có nhiều đoạn Bụt nói về vô thường. Một ngày nọ có một thầy đã trùng tuyên lại lời Bụt dạy như thế này và từ đó về sau người ta đã bắt chước theo:

  • Này các thầy, các thầy thấy sự vật có vô thường không?
  • Dạ bạch đức Thế Tôn, con thấy sự vật là vô thường.
  • Nếu là vô thường, có sinh-lão-bệnh-tử thì là khổ phải không?
  • Dạ vì vô thường cho nên khổ.

Đó là lý luận thông thường, dễ nghe và dễ hiểu nên ai cũng tin là thật. Nhưng thật ra vô thường không phải là nguyên do của khổ. Nếu có một chế độ độc tài mà thường hoài, không có hy vọng được thay đổi để có dân chủ và tự do thì cái đó có phải khổ không? Thường cũng có thể là khổ. Vạn vật là vô thường, nhưng tại ta cho chúng là thường nên ta khổ. Biết chúng là vô thường thì ta không khổ. Khổ hay không là do cách ta nhìn sự vật chứ không phải do sự vật.

Đứng về phương diện hiện tượng ta thấy vạn vật vô thường và vô ngã. Những vật vô thường, vô ngã đó, nếu không có Niết bàn thì sẽ không có chỗ để trở về. Vì vậy Niết bàn rất quan trọng, nó là một trong ba pháp ấn. Tác phẩm Đại Trí Độ Luận của thầy Long Thọ vào thế kỷ thứ hai, cũng nói Ba pháp ấn là vô thường – vô ngã – Niết bàn mà không phải là vô thường – khổ – vô ngã. Muốn nói khổ là một pháp ấn cũng được nhưng phải thêm vào Niết bàn để thành bốn pháp ấn: khổ – vô thường – vô ngã – Niết bàn. Chúng ta nói bốn pháp ấn hay năm pháp ấn đều được, nhưng với điều kiện là phải có Niết bàn: vô thường – khổ – không – vô ngã – Niết bàn, vì Niết bàn là bản môn, là chỗ quay về của tất cả các pháp. Đó là cái thấy của Làng Mai.

Nhiều nhà triết học và nhiều vị giáo chủ công nhận có khổ, có vô thường và họ cũng có khả năng công nhận vô ngã. Nhưng điểm đặc sắc của đạo Bụt là nói có chỗ trở về cho những cái khổ đau, vô thường, vô ngã. Đó là Niết bàn. Chúng ta nhìn, tiếp xúc với những cái khổ đau, vô thường, vô ngã ấy như thế nào để có thể tiếp xúc với bản môn của chúng tức Niết bàn. Vì vậy nói tới pháp ấn là phải nói tới Niết bàn.

Rất nhiều người nói tới vô thường, nhưng cái đó chưa hẳn là đạo Bụt. Vô thường mà không có Niết bàn thì chưa phải là vô thường của đạo Bụt. Vô ngã mà chưa có Niết bàn thì chưa phải là vô ngã của đạo Bụt. Nói khổ, không mà không nói tới Niết bàn thì khổ, không đó cũng không phải là đạo Bụt. Niết bàn nằm trong khổ, không, vô thường, vô ngã.

Trong A Hàm của Hán tạng có một kinh, trong đó đức Thế Tôn lặp lại bốn lần ba danh từ: vô thường-vô ngã-Niết bàn (chư hành vô thường, chư pháp vô ngã, Niết bàn tịch tĩnh). Đó là kinh số 262 của bộ Tạp A Hàm. Kinh này đã cứu vớt được sự suy nghĩ lệch lạc cho rằng Tam pháp ấn chỉ là khổ, vô thường và vô ngã.

Định đề 8

 

Các định không, vô tướng, vô tác giúp ta tiếp xúc với Niết bàn.

The concentrations on emptiness, signlessness and aimlessness help us to touch Nirvāṇa and the Unconditioned.

Chữ quan trọng trong câu là chữ định. Định là một trạng thái của tâm ý, một tâm hành (mental formation) có khả năng được duy trì trong thời gian. Nếu không được duy trì thì nó không được gọi là định. Định tiếng Phạn là samādhi. Chữ samādhi dịch ra tiếng Hán là đẳng trì, tức là giữ cho đều đều không để xuống thấp, kéo dài đừng cho đứt đoạn.

Đẳng trì là một trong năm tâm hành biệt cảnh (particular) không phải là biến hành (universal). Không, vô tướng, vô tác là ba giáo lý phải được nhận thức như đối tượng của định, mà không phải là những đối tượng của sự học hỏi. Đó là những dụng cụ. Sử dụng những định không, vô tướng, vô tác chúng ta có thể chọc thủng được cái vỏ hiện tượng, cái vỏ tích môn để đi vào trong bản môn, đi vào trong thể tính. Nếu ta duy trì được những định không, vô tướng và vô tác thì khi nhìn, khi nghe, khi tiếp xúc ta có thể đi sâu vào thế giới của tích môn và tiếp xúc được với thế giới bản môn tức Niết bàn. Đó là việc có thể làm được với điều kiện đó phải đích thực là định chứ không phải là những ý tưởng.

Chúng ta đã học không, vô tướng, vô tác như những ý tưởng; chúng ta phải biến chúng thành định thì mới có thể sử dụng được. Ba định này có công năng cởi trói, giải phóng mình ra khỏi những cái kẹt, những lo lắng, sợ hãi và buồn đau. Cho nên ba định này cũng được gọi là Ba cánh cửa giải thoát (Tam giải thoát môn). Người nào có nỗi khổ niềm đau chưa thể thoát ra thì có thể sử dụng ba định này để thoát ra, không những thoát ra khỏi nỗi khổ niềm đau mà còn tiếp xúc được với bất sinh bất diệt, với vô vi, với Niết bàn tại vì Niết bàn là sự chấm dứt của vô minh, của khổ đau và phiền não.

Ba cánh cửa giải thoát nằm trong trái tim của Phật giáo, nằm trong trái tim của sự thực tập. Không những giáo lý không – vô tướng – vô tác (The three doors of liberation) được khai triển trong truyền thống Đại thừa mà đã có mặt sẵn trong Phật giáo Nguyên thỉ.

Chánh định và tà định

Nếu khoa học hiện đại biết đi theo chiều hướng của ba định: không, vô tướng, vô tác, thì sẽ khám phá được rất nhiều. Muốn khám phá trong khi nghiên cứu khoa học thì ta phải có định. Định có hai loại: chánh định và tà định. Có khi chúng ta chuyên chú, nhưng sự chuyên chú đó không phải là để chọc thủng màng vô minh mà là để thực hiện việc ta muốn làm. Ví dụ như khi đi ăn trộm, ta phải rất chuyên chú trong thời gian mở khóa. Nếu tâm bị phân tán thì ta sẽ không có khả năng bẻ khóa tìm lối đi vào. Nhưng cái định của người ăn trộm không phải là chánh định, đó là tà định. Chánh định (sammā-samādhi) là cái định giúp ta phá được phiền não, chọc thủng được vô minh. Sammā là chánh, samādhi là định. Niệm cũng có tà niệm và chánh niệm. Nhớ nghĩ tới những cái làm ta đau buồn, thương tiếc, ganh tị, đó là tà niệm. Còn nhớ nghĩ tới Bụt, Pháp, Tăng, thực tập “Bốn phép tùy niệm” là chánh niệm (sammā-sati).

Định thứ nhất: Không

  • Không là duyên sinh

Không là śūnyatā. Chữ không ở đây không có nghĩa là vô thể (non-being), là không có. Không có nghĩ là trống rỗng, tiếng Anh là empty. Phải dùng chữ rỗng thì đúng hơn là dùng chữ không tại vì chữ không có thể làm người ta hiểu là trái với có.

Đám bong bóng kia rỗng, nhưng không phải là không có, có bong bóng nhưng bong bóng rỗng ở phía trong. Ta nói chùm bọt nước kia không có là không đúng, phải nói các bong bóng ấy rỗng trong ruột thì đúng hơn. Chữ rỗng (emptiness) đúng hơn là chữ không. Chữ không, tiếng Hán có nghĩa là trống rỗng, nhưng cũng có nghĩa là không có. Sau này trong tiếng Việt các thầy nên dùng chữ trống rỗng thì hay hơn là dùng chữ không.

Nhìn vào một bông hoa, ta thấy bông hoa được cấu tạo nên bởi những yếu tố không phải là bông hoa như mặt trời, ánh sáng, hạt giống, đất đai, người trồng hoa v.v… Bông hoa đó không có tự tánh riêng biệt, nghĩa là không thể tự có mặt một mình. Lấy các yếu tố kia ra thì bông hoa không còn là bông hoa nữa. Đó gọi là không. Bông hoa có nhưng kỳ thực nó không có sự có mặt riêng biệt của nó. Đó là định nghĩa dễ nhất và gần nhất của chữ không. Không là không có tự tánh, không có sự có mặt riêng biệt mà phải dựa vào những cái khác mà có. Không có nghĩa là duyên sinh. Trong luận Đại Trí Độ của thầy Long Thọ có một bài kệ:

Nhân duyên sở sinh pháp

Ngã thuyết tức thị không

Tất cả những gì do nhân duyên tập họp lại mà biểu hiện ra thì được tôi gọi là không. (All the things that manifest from dependant origination, I call them empty).

Khoa học hiện đại có thể đi đôi với cái thấy đó. Khi đi vào khoa học lượng tử (quantum physics) chúng ta có thể thấy được cái không. Ví dụ như cái bàn, với nhận thức thông thường thì ta cho cái bàn là một khối vật chất đặc cứng. Nhưng dưới con mắt của một nhà khoa học lượng tử thì cái thấy đó không sâu lắm. Nhìn với mắt của nhà khoa học lượng tử thì cái bàn là một tập hợp của những nguyên tử. Và nhìn sâu vào trong lòng của những nguyên tử thì chúng ta thấy nguyên tử không là những cái gì cứng ngắc mà gồm có những hạt như trung hòa tử, điện tử v.v… Những điện tử này di động với vận tốc kinh khiếp là 300.000 cây số/giây. Chúng ta thấy tri giác cho cái bàn là một khối vật chất là quá sai lầm. Nếu nghiên cứu sâu hơn, nhìn vào một nguyên tử ta thấy trong nó không có gì chắc thật, hình như chỉ có không gian và năng lượng, mà không gian và năng lượng cũng không phải là hai cái tách rời nhau. Mới nhìn thì giống như có, nhưng nhìn kỹ lại thì là không.

  • Không không phải là một chủ trương triết học mà là một cái định

Trong truyền thống đạo Bụt có nói tới định không, ta nuôi lớn cái định đó để tập nhìn sự vật như vậy, nếu không ta sẽ bị cột vào trong cái thấy dung thường. Ta phải thấy được tự tánh không của vạn vật. Trong Phật giáo Đại thừa có một kho tàng văn học rất đồ sộ về giáo lý không, đó là nền văn học Bát Nhã. Tâm Kinh Bát Nhã chúng ta tụng mỗi buổi sáng là văn bản ngắn nhất, gọn nhất thuộc về nền văn học Bát Nhã. Kinh Kim Cương cũng là một văn bản nổi tiếng trong nền văn học Bát Nhã có chủ đích diễn bày tự tánh không. Nếu không khéo chúng ta sẽ làm cho không trở thành một nền triết học. Nếu không là một triết học thì ta không đi xa được, ta không có khả năng chọc thủng được màn vô minh và đạt tới Niết bàn. Chúng ta phải sử dụng không như một cái định. Định không là một năng lượng, vì chỉ có năng lượng đó mới chọc thủng được màn vô minh.

Theo nguyên tắc, ai có học vật lý đều biết rằng mặt trời không lặn, nhưng vì trái đất quay nên ta thấy mặt trời lặn. Ta biết rõ như vậy, nhưng trong đời sống hàng ngày ta vẫn thấy mặt trời lặn. Kiến thức của ta không phải là định, tại vì ta không duy trì được cái thấy: Mặt trời không bao giờ lặn, chỉ có trái đất quay và làm cho ta có cảm tưởng là mặt trời đang lặn hay đang mọc. Vấn đề ở đây là cái thấy không biến thành cái định.

Nhiều người trong chúng ta đều biết là vạn vật vô thường. Ta nghe lời Bụt, ta tin và công nhận một trăm phần trăm như vậy. Nhưng trong đời sống hàng ngày ta vẫn sống như không biết là vạn vật vô thường. Vô thường ở đây không phải là định mà là kiến thức, là cái ta chấp nhận bằng trí năng của ta. Vì vậy vô thường không đóng được vai trò của nó tại vì nó chưa phải là định.

Không phải là một cái định. Định được dịch là concentration, tức tập trung tâm ý. Nhưng tập trung tâm ý luôn luôn phải là tập trung tâm ý vào đối tượng nào? Mục đích của sự tập trung tâm ý là gì? Ta phải nuôi không định (concentration on emptiness). Nhìn người anh, người em, người chị, nhìn bản thân, nhìn cái bàn, nhìn đám mây ta đều thấy tính chất không của chúng. Lúc đó ta đang ở trong định và chỉ khi nào ta duy trì được cái định đó thì ta mới có khả năng chọc thủng được màn vô minh. Định đó gọi là không, không không phải là một ý niệm đối lập với ý niệm . Không ở đây rất sâu sắc, không này rất thậm thâm vi diệu.

Các nhà khoa học cũng đã bắt đầu sờ mó tới tính không, nhưng họ chỉ sử dụng trí năng mà chưa sử dụng được định. Họ không có ý hướng sử dụng định để diệt trừ phiền não. Mục đích của Phật học là diệt trừ phiền não. Đó là sự khác nhau giữa khoa học và Phật học. Trong các phiền não có vô minh, có tham đắm, giận hờn, ganh tị… làm cho con người khổ. Mục tiêu của đạo Phật không phải nêu ra một triết lý để giải thích vũ trụ vì chúng ta không có thì giờ để làm chuyện triết học.

Bụt khuyên tất cả những người bạn, những đệ tử của Ngài nên để thì giờ lo việc quan trọng nhất là đối phó với những khổ đau. Mục tiêu của đạo Bụt là diệt khổ, chuyển hóa phiền não. Người ta cũng có thể áp dụng khoa học để làm cho đời sống bớt khổ hơn, nhưng mục tiêu của khoa học là tìm hiểu và giải thích chứ không phải để diệt khổ.

  • Vượt thoát không gian và thời gian

Các nhà khoa học khi nghiên cứu một điện tử thấy nó có thể có mặt ở hai hay ba nơi một lần. Khi nghiên cứu vật thể, họ để ý đến tốc độ (speed), khối lượng (masse) và năng lượng (energy) và thấy rằng điện tử giống như một con ma, nó có ở mặt ở chỗ này nhưng đồng thời nó cũng có thể có mặt ở chỗ kia. Trong bài tụng “Hướng về kính lạy” có câu: Nguyện có mặt một lần trong ba cõi. Nếu ở dục giới thì ta chỉ có mặt ở dục giới, làm sao đồng thời có mặt ở sắc giới? Nếu ở sắc giới thì ta chỉ có mặt ở sắc giới, làm sao đồng thời có mặt ở vô sắc giới? Nhưng trong kinh Hoa Nghiêm có câu chuyện trình bày ý này rất rõ:

Có một lúc chư thiên ở cõi trời Dạ Ma thấy đức Thế Tôn lên thăm, họ nghĩ đức Thế Tôn đang ở tại Dạ Ma thiên và họ chắc mẩm như vậy. Có những người khách ở cõi Ta bà lên thăm nói rằng đức Thế Tôn hiện đang ở cõi Ta bà. Và không những Ngài đang ở cõi Ta bà mà Ngài còn đang ở cõi trời Đao Lợi. Ngài có mặt một lần ở khắp nơi.

Khi nhìn bằng mắt thường ta tưởng rằng: Cái đó ở đó trong thời điểm đó. Nhưng nhìn bằng mắt của “không” hay của nhà nghiên cứu khoa học lượng tử thì ta có thể thấy cái đó có thể có mặt một lần trong ba cõi. Ta là cái này nhưng đồng thời ta cũng là cái khác, ta là người này nhưng đồng thời ta cũng là người khác. Ta là con nhưng đồng thời ta cũng là mẹ, ta là cháu nhưng đồng thời ta cũng là ông. Ta cũng không cần phải dùng tới máy móc tinh xảo để thấy, ta chỉ cần quán nhân duyên là có thể thấy được rằng trong ta có ông bà, cha mẹ. Ta là sự tiếp nối của ông bà, cha mẹ và con cháu đã có mặt từ lâu rồi trong ta.

Khi nghe một tiếng chuông, tất cả đại chúng đều ngưng suy nghĩ và bắt đầu phát khởi chánh niệm để nghe chuông. Chánh niệm của từng người giao thoa với chánh niệm của tất cả những người khác tạo ra một lượng từ trường và trong lúc đó có một năng lượng được tạo ra gọi là năng lượng tập thể. Năng lượng chánh niệm tập thể được tạo ra và đi vào trong mỗi người. Quý vị ai cũng đã từng có kinh nghiệm đó rồi. Khi chúng ta đi thiền hành chung thì năng lượng khác với năng lượng khi chúng ta đi thiền hành riêng. Khi chúng ta ngồi nghe chuông và thở chung thì năng lượng đó khác với khi ta ngồi một mình nghe chuông. Khoa học thần kinh đã bắt đầu thấy được điều đó. Khi có một sự kích thích tới từ quá khứ, từ tương lai hay từ cảm giác thì các tế bào thần kinh bắt đầu hoạt động. Các năng lượng giao thoa với nhau để tạo ra một cảm giác, một tư tưởng, một quyết định. Quyết định đó, cảm giác đó, tư tưởng đó không phải do một mà do tất cả tế bào thần kinh tạo ra. Cái này trở thành cái kia.

Trong khi nghe chuông, chúng ta phát khởi được chánh niệm và chánh niệm của mình giao thoa với chánh niệm của tất cả những người khác. Tự nhiên ta thoát ra khỏi thời gian và không gian, và trở thành người sư em, người sư chị, người sư anh của ta; ta không còn ngã, không còn sự có mặt riêng biệt nữa. Ta có mặt trong sư anh và sư anh có mặt trong ta, ta vượt thoát ra thời gian và không gian. Đó là một môi trường lượng tử (quantum field), trong lúc đó chúng ta thoát ra khỏi được thân phận của một cá nhân, của một cái ngã riêng biệt. Ta trở thành tất cả, một trở thành tất cả và tất cả có thể nằm trong một. Chỉ cần nghe chuông thôi là ta đã có thể thoát ra khỏi ngục tù của ngã chấp, vượt được thời gian và không gian. “Không” có nghĩa là không có một cái ta riêng biệt, không có một sự có mặt riêng biệt. Cái này là do cái kia và cái kia là do cái này, cái này nằm trong cái kia và cái kia nằm trong cái này. Đó là phạm vi của “không”.

Nếu có sự cộng tác giữa những nhà thiền tập và những nhà khoa học thì ta có thể hướng khoa học đi về một phía khám phá rất mầu nhiệm.

Định thứ hai: Vô tướng

  • Nhìn bằng con mắt vô tướng

Vô tướng là animitta (signlessness). Nimitta là tướng, animitta là vô tướng. Ta có một tri giác (tưởng) và tri giác đó phát sinh từ tướng. Mưa có tướng của mưa, đám mây có tướng của đám mây, tuyết có tướng của tuyết. Nhờ tướng đó mà ta có một tri giác về mưa, về mây, về tuyết. Chúng ta phân biệt nhờ cái tướng bên ngoài, nhưng khi kẹt vào tướng thì ta lại bị nó đánh lừa. Kinh Kim Cương nói: Chỗ nào có tướng là chỗ đó có sự lừa gạt (Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng). Kẹt vào tướng là bị đánh lừa, hãy sử dụng định vô tướng để đừng bị đánh lừa nữa. Đám mây có tướng của đám mây và khi nó không còn trên trời thì ta nói đám mây không có. Nhưng đám mây vẫn tiếp tục có mặt dưới một tướng khác là mưa, nó đã trở thành mưa. Nó có tướng mới là mưa hay là tuyết. Ta bị đánh lừa bởi ý niệm có và không, rồi ta đau khổ, khóc lóc, tuyệt vọng. Nhìn bằng con mắt vô tướng thì ta có an ninh hơn. Ta có thể thấy được đám mây của mình trong cơn mưa hay trong bông tuyết.

Đây không phải là suy tư triết học, đây là một cái định. Người hành giả phải nuôi cái định đó và luôn giữ cho nó có mặt trong tâm mình. Khi nhìn sự vật và bản thân, ta phải nhìn bằng con mắt vô tướng. Nhìn bằng con mắt vô tướng thì ta nhẹ nhàng, thanh thoát, và tiếp xúc được với bản môn. Nhìn bằng con mắt của không ta cũng tiếp xúc được với bản môn mà nhìn bằng con mắt vô tướng ta cũng tiếp xúc được với bản môn.

Chúng ta thấy có không gian, vật thể và năng lượng và ta nghĩ không gian, vật thể và năng lượng là ba cái khác nhau. Đó là do chúng ta nhìn bằng con mắt tướng. Nhìn bằng con mắt của vô tướng ta sẽ thấy rằng vật thể, năng lượng và không gian tương tức với nhau.

  • Tên gọi là những giả danh

Khi có tướng thì chúng ta bắt buộc phải dùng danh để gọi. Cái đó có tướng mây thì gọi nó là mây. Nó có tướng tuyết thì ta gọi đó là tuyết, nhưng mây và tuyết không phải là hai cái chống đối nhau hoặc loại trừ nhau. Trong tích môn mây và tuyết có thể là hai vì chúng ta nhìn chúng như vậy, nhưng trong bản môn mây và tuyết là một. Trong một bài kệ của Trung Quán Luận, thầy Long Thọ có nói:

Nhân duyên sở sinh pháp

Ngã thuyết tức thị không

Diệc danh vi giả danh

Diệc danh trung đạo nghĩa

Những pháp phát sinh ra từ nhân duyên, tôi gọi chúng không, là giả danh, là trung đạo. Không là emptiness, nếu nó có một tên thì tên đó cũng là giả tạm (giả danh). Giả danh là một phương tiện quyền xảo. Ví dụ như danh từ “con” và “cha” là những phương tiện quyền xảo tại vì con là sự tiếp nối của cha, con cũng là cha. Tuy cha là cha nhưng cha cũng có thể là ông nội. Những danh từ như “ông nội”, “cha”, “con” đều là những giả danh, tiếng Anh là conventional designations. Nhìn đám mây chúng ta nói: “Mây ơi! Ta gọi em là mây là gọi tạm vậy thôi. Mai mốt em thành tuyết thì ta phải gọi em là tuyết. Ta biết vậy nên ta không kẹt vào giả danh”. Tiếng Phạn có chữ prajñapti hay samketa, là những chữ được dịch là giả danh.

  • Trung đạo là vượt thoát có và không

Một điện tử (electron), một trung hòa tử (neutron) hay một giới tử (meson) là một đơn vị vật chất rất nhỏ, đi rất nhanh và đi xuyên qua những bức thành, ta có thể gọi những pháp đó là không, là giả danh hay là trung đạo (madhyamaka). Trung đạo là không phải có cũng không phải không, là vượt ra khỏi ý niệm có và không, là không bị kẹt vào hai thái cực có-không, sinh-diệt, một-khác. Cha với con có khác nhau hay không? Trả lời là khác hoặc trả lời không khác đều là hai thái cực. Nhìn kỹ ta thấy cha cũng là con và con cũng là cha. Cái thấy đó vượt khỏi hai thái cực: “khác” (otherness) hay “không khác” (sameness). Sự vật do nhân duyên làm phát khởi, tự tánh của nó không phải một cũng không phải khác, không phải sinh cũng không phải diệt, không phải có cũng không phải không. Sự vật thoát ra khỏi những cặp đối nghịch, chúng là vô thường. Khi nhìn sự vật với con mắt vô thường thì ta tiếp xúc được với bản môn, với Niết bàn.

Trung đạo không có nghĩa là nằm giữa có và không, giữa một và khác hay giữa tới và đi. Trung đạo có nghĩa là vượt thoát cả hai cái (neither).

Trong đời sống hàng ngày chúng ta có cơ hội thấy cây xanh, thấy tảng đá, thấy sư em, sư anh, thấy thầy của mình v.v… Đó là những cơ hội để ta khám phá ra tính không và tính vô tướng của những gì ta thấy.

Định thứ ba rất ngộ nghĩnh, rất đặc biệt, đó là vô tác.

Định thứ ba: Vô tác

  • Ta đã là cái mà ta muốn trở thành

Vô tác là apraṇihita (aimlessness), là không có mục đích. Nếu hiểu chưa sâu thì ta nghĩ aimlessness là không có ước muốn (desirelessness). Khi nói: Vũ trụ có mục đích và con người sinh ra để có một mục đích thì chúng ta đang đứng trong cái khung của không gian và thời gian. Muốn đi tới và thành tựu được một cái gì đó thì phải có không gian và thời gian. Nhưng nếu đi sâu vào cái thấy của “không” và “vô tướng” thì ta vượt thoát được luôn ý niệm về không gian và thời gian.

Khi tu tập chúng ta hỏi: Tu tập để làm gì? Ta tu tập để thành Bụt, để giải thoát. Ta thấy rõ tu tập có một mục đích và khi có mục đích rồi thì ta dùng hết năng lượng để tiến tới mục đích đó. Ta nhận ra một mục đích và thấy ta chưa có ở đó, ta còn đang ở đây. Nhận ra rằng ta đang ở đây và ta có một mục đích để tới thì ta bị cái đó thu hút để đi tới và trong lúc ta bương bả đi tới cái đó thì ta mất cái này. Ta không biết rằng cái mà ta muốn tìm cầu đang nằm ở đây. Trong bản môn ta đã là Bụt, ta đã là Niết bàn rồi.

Một đợt sóng đi tìm nước. Nó đặt cho nó một mục đích. Lý tưởng của đời nó là phải đi tìm cho được nước, cũng giống như chúng ta đặt cho ta lý tưởng là phải đạt tới Niết bàn, phải tiếp xúc được với bản môn. Khi đặt cho ta một mục tiêu rồi thì ta bương chải, ta cố gắng, và vì bương chải và cố gắng nên ta từ khước cái bây giờ, cái ở đây, ta từ khước cái Niết bàn mà ta đang có để đi tìm một cái Niết bàn mà ta chưa có. Ta đã có một cái đầu rồi mà ta tưởng ta chưa có nên ta đi tìm một cái đầu khác. Đó là câu chuyện của anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa. Nếu sự kiện sóng đi tìm nước là một chuyện buồn cười thì việc chúng ta đi tìm Niết bàn hay đi tìm Thượng đế cũng rất buồn cười. Các pháp đang an trú ngay trong Niết bàn. Chúng không sinh không diệt, không tới không đi, không một không khác. Nhưng vì chưa chọc thủng được màn vô minh nên ta thấy các pháp có sinh có diệt, có tới có đi, có một có khác. Khi sử dụng được hai định đầu thì định thứ ba sẽ thành. Tổ Lâm Tế hỏi: “Này các vị, các vị đang cố gắng thành Bụt, thành Tổ mà các vị có biết Bụt, Tổ là ai không? Bụt và Tổ chính là quý vị đang ngồi nghe Pháp trước mặt tôi.”

Đã bao nhiêu kiếp, đã bao nhiêu năm tháng chúng ta chạy đi tìm, tìm những cái mà ta tưởng nằm trong không gian và thời gian. Nó chưa có mặt bây giờ và ở đây, phải tới đó mới có nó. Đó là một sự dại dột giống như sự dại dột của Diễn Nhã Đạt Đa có đầu rồi mà tưởng mình mất đầu, bương chải chạy đi tìm cái đầu khác. Đợt sóng đã là nước rồi, nó không cần phải đi tìm nước nữa. Ta đã là Bụt rồi, ta đừng đi tìm Bụt ở đâu xa. Chỉ cần nhìn cho kỹ là ta thấy ta đã là mầu nhiệm, ta đã là cái mà ta đang đi tìm. Nhờ có định này ta dừng lại được sự tìm cầu bên ngoài và thấy được sự mầu nhiệm của từng phút giây, ta thấy được rằng ta có thể làm Bụt, làm Tổ ngay trong giây phút hiện tại.

  • Vô đắc

Trên cái thấy đó chúng ta có nguyên tắc vô đắc. Trong Bát Nhã Tâm Kinh có câu: Không đắc vì không có sở đắc (There is no obtainment because there is nothing to obtain). Trong cuộc sống chúng ta hay đặt cho mình một mục đích, một bằng cấp, một danh vọng, một hạnh phúc nào đó rồi chúng ta hướng về đó, dùng tất cả năng lượng của mình để bương chải đi về hướng đó. Cũng vì lý do đó mà chúng ta không có khả năng sống với những mầu nhiệm của giây phút hiện tại. You are already what you want to become. Chúng ta hãy tưởng tượng: Có một chàng sinh viên ghi tên vào đại học. Anh ta nghĩ rằng chỉ khi nào có được mảnh bằng thì mới đáng sống, nên trong bốn hoặc tám năm tại trường đại học anh chàng không sống cho mình mà chỉ nghĩ tới mảnh bằng. Đời sống đó không có niềm vui! Nếu anh chàng sinh viên đi học mà có niềm vui trong mỗi giờ phút của những năm tại trường đại học thì anh ấy khôn ngoan hơn nhiều. Đi vào lớp học anh cũng vui, đi chơi anh cũng vui, học bài anh cũng vui, học toán thì thích toán, học sử thì thích sử, anh cảm thấy niềm vui trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Đó mới đúng là một chàng sinh viên có hạnh phúc. Tu là như vậy! Ta nghĩ tới chuyện Tổ Bụt, ta bương chải đi tìm mà quên đi là ngày hôm nay ta đang có sư anh, sư chị, sư em, có thầy, có trời xanh, mây trắng. Ta không sống hết lòng với những cái ta có và ta gây ra những đổ vỡ, những lo lắng, phiền muộn. Đó là ta đã bỏ sự thực tập chính đáng của mình. Chính lúc sống, lúc xây dựng tình huynh đệ và có hạnh phúc được nuôi dưỡng là lúc ta đang sống với Bụt, với Tổ. Ta là Bụt, là Tổ trong những giây phút đó.

Thiền tông nói tới vô đắc, các tông phái khác cũng có nói tới vô đắc và vô đắc phát sinh từ vô tác. Ở Làng Mai chúng ta có bài hát:

Happiness is here and now

Nothing to do

Nowhere to go

Ta hạnh phúc liền giây phút này. Bài hát biểu lộ được tinh thần vô tác. Ta có thể đang đi đâu đó và đang làm gì đó:

Something to do

Somewhere to go

Nhưng ta không bị cái đó quấy rối, làm ta mất ăn mất ngủ. Ta đi hoặc ta làm với tâm niệm tự tại, nhẹ nhàng, vô đắc. Đây là một phương thuốc rất mầu nhiệm để chữa trị bệnh của thời đại là bương chải đi tìm một hạnh phúc tương lai mà bỏ quên đi sự sống mầu nhiệm, rồi bị sự căng thẳng tàn phá thân tâm mình. Vô tác là một phương thuốc rất mầu nhiệm cho nền văn minh hiện tại.

Ta có thể đi thiền với tinh thần vô tác. Ta đi mà không cần tới. Mỗi bước chân đều đem lại hạnh phúc.

Ta cứ nghĩ: “Tôi đi như vậy để có hạnh phúc!”. Ta làm như “đi” là một phương tiện và “hạnh phúc” là một cứu cánh, nhưng sự thật thì đi là hạnh phúc, phương tiện và cứu cánh trở thành một. Đạt tới bản môn không phải là chuyện ngày mai ta mới làm được. Ngày hôm nay ta cũng có thể làm được. Đi một bước là ta đã về, ta về thật, ta cảm thấy không bị lôi kéo bởi tương lai. Ta “feel at home”, ta cảm thấy chỗ này là chỗ của ta, giờ phút này là giờ phút quan trọng nhất của đời ta. Cái ta tìm kiếm lâu nay là gì? Là bước chân đó (this is it), cái ta tìm lâu nay là cái đó. Ta tiếp xúc được với cái mầu nhiệm của sự sống, ta tiếp xúc được với bản môn bằng bước chân. Đó là vô tác.

Mục đích của sự tu học của ta là gì? Ta đang chạy theo cái gì? Đó là bước chân, ta thành công hay không là do ở bước chân đó. This is Nirvāṇa. Bằng mỗi bước chân ta tiếp xúc được với Niết bàn. Chỗ nào ta chạm chân tới thì chỗ đó là Niết bàn. Hạnh phúc của đức Thế Tôn rất lớn vì chỗ nào Ngài đặt chân tới cũng đều là Niết bàn, vượt ra khỏi thời gian, không gian, ta và người. Ta thực hiện được vô tác trong mỗi bước chân. Lúc đó ta thật sự có hòa bình, có sự dừng lại. Nếu không có vô tác thì ta chưa có sự dừng lại thật sự, ta chưa dừng lại được sự tìm cầu.

Hầu hết, nếu không nói là tất cả, những mục tiêu ta đặt ra cho ta là những ý niệm. Nhưng thực tại đã có mặt đầy đủ, nếu đánh đổi thực tại để lấy ý niệm thì ta dại dột vô cùng, cho dù ý niệm đó là ý niệm Niết bàn. Ví dụ như ý niệm của ta là phải học cho giỏi để trở thành một người có khả năng cứu độ chúng sanh. Đó là ý niệm, là tâm bồ đề. Nhưng khi sư em ta đang bị kẹt vào một tâm trạng khó khăn mà ta không giúp được cho sư em, khi ta có nỗi khổ niềm đau mà ta không tháo gỡ được cho ta, có tiếng chim hót mầu nhiệm mà ta không có khả năng lắng nghe và thưởng thức, thì thử hỏi làm sao ta có thể thực hiện được lý tưởng của mình? Ngay trong giây phút hiện tại ta đã có thể làm được việc của Bụt, của Tổ, của một vị Bồ tát.

Sư em, sư chị, sư anh và thiền sinh tới đây đều có những khó khăn và khúc mắc của họ. Ta có thể giúp cho họ ngay trong phút giây hiện tại với những gì ta đã học và thực tập. Ta có thể làm Bụt, làm Bồ tát, làm thiện tri thức, ngay trong giây phút hiện tại. Tại sao ta lại nghĩ rằng phải ngày mai ta mới làm được? Ta không cần phải đi Phi châu hay Iraq mới giúp người được. Ngay ở đây là ta có thể giúp được người rồi.

Ta cũng biết rằng, tuy là đang ở đây nhưng đồng thời ta cũng đang ở đó. Ở đây, ta làm công việc ở đây và công việc ở đây sẽ ảnh hưởng tới đó.

Vô tác là apraṇihita, tức là không đặt một đối tượng trước mặt để chạy theo.

Định đề 7

 

Vô sinh có nghĩa là Niết bàn, có nghĩa là chánh giác cùng với bất diệt, vô khứ vô lai, phi nhất phi dị, phi hữu phi vô.

Not born means nirvāṇa and it is awakening to the truth of the deathless, the no-coming and no-going, the not the same and not different, the not being and not non-being.

Vô sinh là not born. Chúng ta có bài hát: Cửa vô sinh mở rồi. Cửa vô sinh là cửa bất diệt (deathless). Vô sinh là Niết bàn, là chánh giác, là bất diệt, là vô khứ vô lai, là phi nhất phi dị, phi hữu phi vô.

Niết bàn là sự vắng mặt của vô minh. Vô minh được đại diện bởi tám ý niệm căn bản: ý niệm sinh, ý niệm diệt, ý niệm khứ, ý niệm lai, ý niệm nhất, ý niệm dị, ý niệm hữu, ý niệm vô. Lấy tám ý niệm đó ra thì ta có cơ hội tiếp xúc được với Niết bàn. Chữ vô sinh đại diện cho bất diệt, vô khứ, vô lai, phi nhất, phi dị, phi hữu, phi vô.

Chủ đề thứ tám mở ra cánh cửa của sự thực tập. Đợt sóng đã là nước rồi, nó không cần phải tiếp xúc với nước nữa. Tại sao chúng ta phải tiếp xúc với Niết bàn? Sóng đã là nước thì không cần phải chạy đi tìm nước. Ta đã an trú trong Niết bàn thì tại sao ta phải cần tiếp xúc với Niết bàn?

Lâu nay ta chỉ sống khơi khơi, hời hợt trên phương diện tích môn, trên phương diện hiện tượng nên ta đau khổ, ta có nhiều vô minh, phiền não. Vì vậy ta chỉ cần trở về, chỉ trở về thôi mà không cần phải đi thêm bước nào nữa. Đây là một sự thức dậy. Đợt sóng không cần phải đi hàng chục cây số mới tìm thấy nước. Ta cũng vậy, ta không cần phải đi bước nào để tìm Niết bàn tại vì ta đã an trú trong Niết bàn. Vấn đề là ta bừng tỉnh ra thôi. Bừng tỉnh dậy, biết mình là Niết bàn, mình là Bụt. Nói như thiền sư Lâm Tế, đó là tiếp xúc với Niết bàn. Chữ tiếp xúc không có nghĩa là đi tìm, tiếp xúc ở đây là bừng tỉnh để thấy ta là cái đó. Và đạo Bụt là con đường, là phương pháp để tiếp xúc. Chúng ta thực hiện sự tiếp xúc không phải bằng sự học hỏi đàm luận mà bằng sự thực tập. Định là sự thực tập, định không phải là sự suy tư. Định là sự duy trì cái thấy để cho cái thấy đó ngày càng sâu sắc. Ba định: không, vô tướng, vô tác, là ba định căn bản trong đạo Bụt.

Nhờ thực tập ba định mà ta an trú được trong Niết bàn, ta chuyển hóa tất cả phiền não trong đó có vô minh. Ba định: không, vô tướng, vô tác, được gọi là ba cánh cửa của giải thoát tức Tam giải thoát môn (the three doors of liberation).

Định đề 6

 

Niết bàn không phải là một pháp mà là tự tánh của tất cả các pháp.

Nirvāṇa is not a phenomenon, but it is the true nature of all phenomena.

Liên hệ tánh – tướng

Chúng ta phân biệt ra tướngtánh. Đứng về phương diện tướng thì ta gọi là các pháp. Tướng và tánh không lẫn lộn với nhau nên ta không thể gọi Niết bàn là một pháp. Tuy chúng ta có một ý niệm về Niết bàn, nhưng nếu cho Niết bàn là một pháp là ta đưa tánh lên ngang hàng với tướng, đưa bản thể lên ngang hàng với hiện tượng.

Chúng ta trở lại ví dụ những đợt sóng trên biển. Chúng ta có thể thiết lập sự liên hệ giữa các đợt sóng với nhau. Sự xuất hiện của một đợt sóng có liên hệ tới sự có mặt của những đợt sóng khác tại vì những đợt sóng xô đẩy nhau, làm ra nhau. Đó là nhân duyên, là sự liên hệ trên mặt hiện tượng. Nhưng có một chiều hướng liên hệ khác, đó là sự liên hệ giữa nước và sóng. Sự liên hệ giữa nước và sóng rất quan trọng, nhưng không giống như sự liên hệ giữa sóng và sóng. Sự liên hệ nước – sóng là sự liên hệ bản thể.

Khi nói đến sự tạo sinh (Thượng đế tạo ra vạn vật và con người) thì ta muốn nói đến sự liên hệ nào, sự liên hệ God – man, liên hệ dọc hay liên hệ ngang, liên hệ bản thể – hiện tượng hay liên hệ hiện tượng – hiện tượng? Một bên là tánh còn một bên là tướng. Liên hệ giữa tướng với tướng và liên hệ giữa tánh với tướng khác nhau.

Tánh – tướng biệt quán

Khi nói “Thượng đế tạo ra muôn vật và con người” thì chúng ta để Thượng đế lên trên bình diện của tướng ngang hàng với muôn vật hay là chúng ta để Thượng đế trên bình diện của tánh?

Nhiều nhà thần học đã đi tới quan niệm: Thượng đế là nền tảng của vạn pháp (the ground of being). Họ đã đi rất gần tới quan hệ tánh – tướng, cho nên có một vấn đề nẩy sinh ra: Thượng đế có phải là một con người hay không? Chúng ta có thể quan niệm Thượng đế như một con người có năm uẩn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) hay không? Nếu Thượng đế là một con người giống như mình, nhưng có quyền lực cao hơn, thì mình cầu nguyện với Thượng đế rất dễ. Nhưng nếu Thượng đế không phải là con người mà chỉ là nền tảng của hiện hữu thì cầu nguyện với một nền tảng rất khó đối với nhiều người. Sự thực tập cơ bản trong Cơ đốc giáo hay trong Hồi giáo là sự cầu nguyện. Cầu nguyện giữa người với người thì dễ hơn, cũng như những đợt sóng nói chuyện với nhau dễ hơn là đợt sóng nói chuyện với nước. Vì vậy vấn đề “Thượng đế là một con người (person) hay không phải là một con người” là một câu hỏi rất lớn trong Cơ đốc giáo. Có những nhà thần học nói: Tuy Thượng đế không phải là một con người nhưng Ngài không phải ít hơn một con người. God is not a person but not less than a person. Nghe có vẻ rắc rối, khó hiểu! Một mặt thì ta muốn Thượng đế là một con người để cầu nguyện cho dễ, một mặt thì ta thấy con người còn nằm trên bình diện hiện tượng, chưa phải là bản thể. Vì vậy đứng về phương diện bản thể học (ontology) thì ta còn có chỗ kẹt.

Riêng tôi, tôi có thể nói chuyện với trăng sao, với đất, với nước, với quá khứ, với tương lai. Tại sao nói không được? Ta cũng có thể nói chuyện với Niết bàn:

“Niết bàn ơi, ta biết ngươi có đó. Ta là ngươi nên ta không sợ hãi!”

Niết bàn không cần phải mang hình thức một con người hay hình thức một ngôi sao. Tôi nghĩ, những người Cơ đốc giáo tu học tới trình độ cao có thể nói chuyện với Thượng đế mà không cần Thượng đế phải là một con người.

Trong truyền thống đạo Bụt, nhất là trong Duy Thức Học (Duy Biểu Học) có một nguyên tắc gọi là tánh tướng biệt quán (noumena and phenomena are to be investigated separately), có nghĩa là khi nghiên cứu ta phải phân biệt tánh và tướng mà đừng lẫn lộn hai cái đó với nhau. Tánh là noumena, là một entité ontologique. Tướng là phenomena, là thế giới của hiện tượng. Chúng ta phải nghiên cứu tướng và tánh riêng, đừng để chúng trên cùng một bình diện. Ta đừng để Thượng đế đứng ngang hàng với con người. Thượng đế là nền tảng ở dưới.

Trong đạo Bụt thì đó không phải là vấn đề vì Bụt Thích Ca là một con người, còn Niết bàn là nền tảng chung của tất cả. Bụt Thích Ca và ta cũng như nhau, cũng đều có tự tánh của Niết bàn và hoàn toàn bình đẳng. Hãy tìm hiểu tánh và tướng riêng nhau, đừng trộn lẫn hai cái làm một, đừng cho hai cái đứng trên cùng một bình diện.

Đạo lý duyên khởi

Trong đạo Bụt có nói tới đạo lý duyên khởi. Duyên khởi là interdependance, dependant origination, có nghĩa là trên bình diện hiện tượng thì cái này nương vào cái kia mà có.

Nhưng đạo lý duyên khởi cũng nói đến liên hệ giữa bản thể và hiện tượng, gọi là chân như duyên khởi, có nghĩa là các pháp từ chân như mà biểu hiện cũng như tất cả các đợt sóng đều từ nước mà biểu hiện. Đây là loại duyên khởi theo chiều dọc, không phải là duyên khởi chiều ngang. Chúng ta còn gọi là A lại da duyên khởi hay pháp giới duyên khởi. Chúng ta cũng có thể nói tới Niết bàn duyên khởi tại vì Niết bàn là vô vi, là cái không sinh không diệt, không có không không, không tới không đi.

Đức Thế Tôn đã từng nói: Nếu cái không sinh không diệt, không tới không đi mà không có đó thì tất cả những cái có sinh có diệt, có tới có đi sẽ không có chỗ để quay về. Cũng như nếu không có nước thì sóng sẽ không có chỗ để quay về. Chân như duyên khởi hay Niết bàn duyên khởi là duyên khởi theo chiều dọc.

Trong kinh Udāna (Vô vấn tự thuyết) nguyên văn tiếng Pali có một đoạn (Ud.2.44) nói về Niết bàn rất hay. Hiện nay chúng ta có một bản dịch bằng Anh ngữ:

There is a not-born, a not-brought-to-being, a not- made, a not-conditioned. If there were no not-born, not- brought-to-being, not-made, not-conditioned; no escape would be discerned from what is born, brought-to-being, made and conditioned.

Có một cái không sinh, không từ không mà trở thành có, không được tạo tác, không bị điều kiện hóa. Nếu cái không sinh, không từ không mà trở thành có, không được tạo tác, không bị điều kiện hóa đó mà không có đó[1] thì sẽ không có đường thoát cho tất cả những cái có sinh, có từ không mà trở thành có, có được tạo tác và có điều kiện hóa.

Đây là câu nói đầy đủ và rõ ràng nhất của Bụt để diễn tả Niết bàn. Niết bàn là nền tảng cho tất cả những cái có sinh có diệt, có có có không, có tạo tác có hình thành. Nhưng câu kinh này cũng là một lọn mía, nếu không biết cách ăn mía thì chúng ta sẽ bị hóc cổ. Câu kinh bắt đầu bằng chữ “there is” tức là “có một cái”, cái đó là Niết bàn. Và chúng ta cho rằng Niết bàn là cái có thật, cũng như người ta cho Thượng đế là cái có, chứ không phải không có. Nhưng bản chất của Niết bàn là không có cũng không không. Nếu có ý niệm về “có” thì đó không phải là Niết bàn, nếu có ý niệm về “không” thì đó cũng không phải là Niết bàn. “Có Niết bàn hay không có Niết bàn?” là một câu hỏi rất là buồn cười tại vì tự thân của Niết bàn là không có cũng không không theo cái quan niệm có và không của ta. Cho rằng Niết bàn là không đã trật rồi mà cho rằng Niết bàn là có còn trật hơn nữa, tại vì Niết bàn là cái tự tánh không có cũng không không, không sinh cũng không diệt.

Chìa khóa là ở chỗ đó! Chính Bụt cũng phải sử dụng ý niệm và danh từ, nhưng nếu là học trò giỏi của Bụt, thì ta sẽ không bị kẹt vào những danh từ và ý niệm ấy. Bụt luôn luôn nhắc chúng ta rằng: “Giáo lý của ta là chiếc bè để chở người qua sông. Đừng để kẹt vào chiếc bè!”.

Niết bàn, theo định nghĩa của nó, là cái tự thể không có cũng không không. Đặt câu hỏi “Có Niết bàn hay không có Niết bàn?” là một việc làm rất ngu xuẩn. Trong thần học Cơ đốc giáo cũng vậy, có người đặt câu hỏi: “Có Thượng đế hay không?”. Nếu cho Thượng đế là không thì sai đã đành, nhưng cho Thượng đế là có thì đó cũng chưa phải là Thượng đế.

Vấn đề này chỉ giải quyết được trên cơ bản tướng và tánh: Đứng về phương diện tướng thì có thể nói là có hay không, nhưng đứng về phương diện tánh thì ý niệm có-không, còn-mất, ta-người, trước-sau đều tan biến. Đó mới gọi là tịch diệt (extinction). Niết bàn có thể được gọi là sự dập tắt của tất cả mọi ý niệm. Sau này các tổ cũng lấy từ trong kinh và nói rất rõ:

Không sinh cũng không diệt

Không thường cũng không đoạn

Không một cũng không khác

Không đi cũng không tới

Đó là giáo lý của Trung Luận, mà giáo lý của Trung Luận đã có sẵn trong giáo lý của Nguyên thỉ, Bắc tông cũng như Nam tông.

Đức Thế Tôn đã dùng chữ vô sinh. Vô sinh cũng có nghĩa là bất diệt. Chữ vô sinh là chữ đại diện, cũng như khi nói tới con mắt là nói tới sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Khi nói tới vô sinh thì cũng đồng thời nói tới bất diệt, vô khứ, vô lai, phi hữu, phi vô, phi nhất, phi dị.

[1] Trong kinh Itivuttaka (Như thị ngữ) nguyên văn tiến Pali cũng có một đoạn (It.8.3) tương tự. Và trong Pháp cú Hán tạng, phẩm thứ 36, Nê Hoàn Phẩm, cũng có câu: Tỳ Khưu, hữu thế sinh, hữu hữu, hữu tác hành, hữu vô sinh vô hữu, vô tác vô sở hành, có nghĩa là: “Này các vị Khất sĩ, trên đời có cái sinh, có cái hữu, có cái tạo tác và cái hình thành. Nhưng cũng có cái vô sinh, vô hữu, vô tác và vô hành.” Câu kinh này tương đương trong nguyên bản tiếng Pali là Atthi bhikkhava, ajàtạm abhutạm akatam asankhatam, may mắn còn giữ lại được.