Năm giới

 

Năm giới là một trong những phương pháp thực tập chánh niệm cụ thể nhất. Năm giới không thuộc về một đảng phái hay một tôn giáo nào, bản chất của năm giới là trùm khắp. Đó đích thực là sự thực tập từ bi và trí tuệ. Tất cả các truyền thống tâm linh đều có những nguyên tắc tương đương với năm giới để hướng dẫn, chỉ đạo, giúp chúng ta xử lý và đối phó với những cám dỗ không lành mạnh, đang có mặt khắp nơi trong xã hội.

Giới thứ nhất là bảo vệ sự sống, nhằm làm giảm bớt bạo động trong tự thân, trong gia đình và trong xã hội. Giới thứ hai là thực tập công bằng xã hội, nuôi dưỡng lòng từ bi, không trộm cắp và không bóc lột kẻ khác. Giới thứ ba là bảo vệ tiết hạnh, nhằm đem lại hạnh phúc cho cá nhân, gia đình và trẻ em. Giới thứ tư là thực tập lắng nghe sâu và sử dụng ái ngữ để thiết lập lại truyền thông và hòa giải. Giới thứ năm là tiêu thụ có chánh niệm, không đưa độc tố vào thân tâm, không tiêu thụ những sản phẩm truyền hình, sách báo, phim ảnh có chứa đựng nhiều độc tố như bạo động, hận thù, thèm khát v.v…

Năm giới được đặt trên nền tảng của những giới luật được chế tác trong thời Bụt, làm nền tảng căn bản cho sự thực tập của giới cư sĩ.

Tôi đã làm mới năm giới này thành “Năm phương pháp thực tập chánh niệm” để phù hợp với thời đại của chúng ta, bởi vì chánh niệm là nền tảng của mỗi giới. Nhờ chánh niệm, chúng ta ý thức được những gì đang xảy ra trong thân thể, cảm thọ, tâm thức, cũng như trên thế giới để tránh làm tổn hại chính mình và làm tổn hại kẻ khác. Chánh niệm có khả năng bảo hộ cho tự thân, gia đình và xã hội, đảm bảo cho chúng ta một hiện tại bình an, hạnh phúc, một tương lai an vui, tươi sáng. Khi có chánh niệm, chúng ta thấy rằng không làm điều này, chúng ta có thể ngăn ngừa những điều khác, không để cho chúng xảy ra. Chúng ta có thể đạt tới một tuệ giác mà không một quyền lực bên ngoài nào có thể áp đặt lên chúng ta. Đó là hoa trái của sự thực tập quán chiếu. Do đó, thực tập giới giúp chúng ta bình an hơn, định tĩnh hơn, mang lại cho chúng ta nhiều tuệ giác và giác ngộ, làm cho sự thực tập của chúng ta trở nên vững vàng hơn.

Trong các đạo tràng Mai Thôn, cả hai giới cư sĩ và xuất sĩ đều thực tập năm giới để làm lớn mạnh thêm sự thực tập chánh niệm và sống chung với nhau trong tinh thần hòa hợp. Không hút thuốc, không uống rượu, giữ gìn tiết hạnh là một phần của năm giới quý báu đã được các đạo tràng Mai Thôn thực tập rất nghiêm túc.

Bất kỳ ai trong thời điểm nào cũng đều có thể sống và thực tập theo năm giới quý báu này. Thực tập năm giới, chúng ta sẽ trở thành những vị Bồ Tát biết sống hòa hợp, bảo vệ môi trường, giữ gìn hòa bình và xây dựng tình huynh đệ. Chúng ta không chỉ bảo vệ những cái đẹp của nền văn hóa của chúng ta mà còn bảo vệ những cái đẹp của các nền văn hóa khác, cũng như bảo vệ tất cả những cái đẹp của Trái Đất. Mang năm giới quý báu trong tim là chúng ta đã đang đi trên con đường của chuyển hóa và trị liệu.

Thực tập

Năm Giới Tân Tu

Lời mở đầu

Năm giới tức là năm phép thực tập chánh niệm, biểu hiện được một cách cụ thể giáo lý Tứ Đế và Bát Chánh Đạo, con đường của Bụt, con đường của hiểu biết và thương yêu đích thực có khả năng đưa tới trí tuệ, chuyển hóa và hạnh phúc cho bản thân và cho thế giới. Năm giới mang theo tuệ giác Tương Tức, tức là Chánh Kiến, có khả năng tháo bỏ mọi cuồng tín, cố chấp, kỳ thị, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng. Sống và thực tập theo năm giới là chúng ta đã đi vào con đường mà các vị Bồ Tát đang đi. Năm giới này đại diện cho cái thấy của đạo Bụt về một nền Tâm Linh và Đạo Đức Toàn Cầu. Biết rằng đang được đi trên con đường của Bụt, chúng ta không còn lý do gì để lo lắng cho hiện tại và sợ hãi cho tương lai.

Giới thứ nhất: Bảo vệ sự sống

Ý thức được những khổ đau do sự giết chóc gây ra, con xin nguyện thực tập nuôi dưỡng tuệ giác Tương Tức và lòng Từ Bi để có thể bảo vệ sinh mạng của con người, của các loài động vật, thực vật và môi trường của sự sống. Con nguyện không sát hại, không để kẻ khác sát hại và không yểm trợ cho bất cứ một hành động sát hại nào trên thế giới, trong tư duy cũng như trong đời sống hằng ngày của con. Thấy được rằng tất cả những bạo động do sự sợ hãi, hận thù, tham vọng và cuồng tín gây ra đều bắt nguồn từ cách tư duy lưỡng nguyên và kỳ thị, con nguyện học hỏi thái độ cởi mở, không kỳ thị và không cố chấp vào bất cứ một quan điểm, một chủ thuyết hay một ý thức hệ nào để có thể chuyển hóa hạt giống cuồng tín, giáo điều và thiếu bao dung trong con và trong thế giới.

Giới thứ hai: Hạnh phúc chân thực

Ý thức được những khổ đau do lường gạt, trộm cắp, áp bức và bất công xã hội gây ra, con nguyện thực tập san sẻ thì giờ, năng lực và tài vật của con với những kẻ thiếu thốn, trong cả ba lĩnh vực tư duy, nói năng, và hành động của đời sống hằng ngày. Con nguyện không lấy làm tư hữu bất cứ một của cải nào không phải do tự mình tạo ra. Con nguyện thực tập nhìn sâu để thấy rằng hạnh phúc và khổ đau của người kia có liên hệ mật thiết đến hạnh phúc và khổ đau của chính con, rằng hạnh phúc chân thực không thể nào có được nếu không có hiểu biết và thương yêu, và đi tìm hạnh phúc bằng cách chạy theo quyền lực, danh vọng, giàu sang và sắc dục có thể đem lại nhiều hệ lụy và tuyệt vọng. Con đã ý thức được rằng hạnh phúc chân thực phát sinh từ chính tự tâm và cách nhìn của con chứ không đến từ bên ngoài, rằng thực tập phép tri túc con có thể sống hạnh phúc được ngay trong giây phút hiện tại nếu con có khả năng trở về giây phút ấy để nhận diện những điều kiện hạnh phúc mà con đã có sẵn. Con nguyện thực tập theo Chánh Mạng để có thể làm giảm thiểu khổ đau của mọi loài trên trái đất và để chuyển ngược lại quá trình hâm nóng địa cầu.

Giới thứ ba: Tình thương đích thực

Ý thức được những khổ đau do thói tà dâm gây ra, con xin học hỏi theo tinh thần trách nhiệm để giúp bảo hộ tiết hạnh và sự an toàn của mọi người, mọi gia đình và trong xã hội. Con biết tình dục và tình yêu là hai cái khác nhau, rằng những liên hệ tình dục do thèm khát gây nên luôn luôn mang tới hệ lụy, đổ vỡ cho con và cho kẻ khác. Con nguyện không có liên hệ tình dục với bất cứ ai nếu không có tình yêu đích thực và những cam kết chính thức và lâu dài. Con sẽ làm mọi cách có thể để bảo vệ trẻ em, không cho nạn tà dâm tiếp tục gây nên sự đổ vỡ của các gia đình và của đời sống đôi lứa. Con nguyện học hỏi những phương pháp thích ứng để chăm sóc năng lượng tình dục trong con, để thấy được sự thật thân tâm nhất như và để nuôi lớn các đức Từ, Bi, Hỉ và Xả, tức là những yếu tố căn bản của một tình yêu thương đích thực để làm tăng trưởng hạnh phúc của con và của người khác. Con biết thực tập Tứ Vô Lượng Tâm ấy, con sẽ được tiếp tục đẹp đẽ và hạnh phúc trong những kiếp sau.

Giới thứ tư: Lắng nghe và ái ngữ

Ý thức được những khổ đau do lời nói thiếu chánh niệm và do thiếu khả năng lắng nghe gây ra, con xin nguyện học các hạnh Ái Ngữ và Lắng Nghe để có thể hiến tặng niềm vui cho người, làm vơi bớt nỗi khổ đau của người, giúp đem lại an bình và hòa giải giữa mọi người, giữa các quốc gia, chủng tộc và tôn giáo. Biết rằng lời nói có thể đem lại hạnh phúc hay khổ đau cho người, con nguyện học nói những lời có khả năng gây thêm niềm tự tin, an vui và hi vọng, những lời chân thật có giá trị xây dựng hiểu biết và hòa giải. Con nguyện không nói năng gì khi biết cơn bực tức đang có mặt trong con, nguyện tập thở và đi trong chánh niệm để nhìn sâu vào gốc rễ của những bực tức ấy, nhận diện những tri giác sai lầm trong con và tìm cách hiểu được những khổ đau trong con và trong người mà con đang bực tức. Con nguyện học nói sự thật và lắng nghe như thế nào để có thể giúp người kia thay đổi và thấy được nẻo thoát ra ngoài những khó khăn đang gặp phải. Con nguyện không loan truyền những tin mà con không biết chắc là có thật, không nói những điều có thể tạo nên những sự bất hòa trong gia đình và trong đoàn thể. Con nguyện thực tập Chánh Tinh Tấn để có thể nuôi dưỡng khả năng hiểu, thương, hạnh phúc và không kỳ thị nơi con và cũng để làm yếu dần những hạt giống bạo động, hận thù và sợ hãi mà con đang có trong chiều sâu tâm thức.

Giới thứ năm: Nuôi dưỡng và trị liệu

Ý thức được những khổ đau do thói tiêu thụ không chánh niệm gây nên, con nguyện học hỏi cách chuyển hóa thân tâm, xây dựng sức khỏe cơ thể và tâm hồn bằng cách thực tập chánh niệm trong việc ăn uống và tiêu thụ. Con nguyện nhìn sâu vào bốn loại thực phẩm là đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực để tránh tiêu thụ những thực phẩm độc hại. Con nguyện không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy, không ăn uống hoặc tiêu thụ bất cứ một sản phẩm nào có độc tố, trong đó có mạng lưới internet, phim ảnh, truyền thanh, truyền hình, sách báo, bài bạc và cả chuyện trò. Con nguyện thực tập thường xuyên trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc với những gì tươi mát, có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu trong con và xung quanh con, không để cho tiếc nuối và ưu sầu kéo con trở về quá khứ và không để cho lo lắng và sợ hãi kéo con đi về tương lai. Con nguyện không tiêu thụ chỉ để khỏa lấp sự khổ đau, cô đơn và lo lắng trong con. Con nguyện nhìn sâu vào tự tính tương quan tương duyên của vạn vật để học tiêu thụ như thế nào mà duy trì được an vui trong thân tâm con, trong thân tâm của xã hội và trong môi trường sự sống.

 

 

Quay về nương tựa

 

Khi thấy mình đang ở trong tình trạng nguy hiểm, khó khăn hoặc đang đánh mất mình, chúng ta có thể thực tập quay về nương tựa. Thay vì hoang mang, hốt hoảng hoặc để mình chìm đắm trong tuyệt vọng, chúng ta phải tin vào khả năng tự chữa trị, tin vào sức mạnh của sự hiểu biết và thương yêu trong chính chúng ta. Chúng ta gọi đó là hải đảo tự thân, là hải đảo của bình an, của niềm tin, của vững chãi, thảnh thơi và thương yêu. Chúng ta có thể quay về đó để nương tựa. Chúng ta không cần đi tìm ở một nơi nào khác. Hãy là hải đảo cho chính mình.

Chúng ta luôn muốn được an toàn, muốn được bảo hộ, muốn được bình yên. Vì vậy mỗi khi lâm vào tình trạng bất an, rối loạn, quá tải hoặc khổ đau, chúng ta phải thực tập quay về nương tựa Bụt trong ta. Trong mỗi người chúng ta, ai cũng có Phật tính, đó là khả năng định tĩnh, hiểu biết và từ bi, là khả năng quay về nương tựa nơi hải đảo an toàn của tự thân để có thể duy trì tình thương, an lạc và hy vọng. Thực tập như vậy, chúng ta trở thành một hải đảo bình an đầy lòng yêu thương và chúng ta có khả năng gây nguồn cảm hứng cho những người khác cùng thực tập như vậy.

Thực tập

Hãy sử dụng bài thi kệ này để quay về với chính mình, bất kể là chúng ta đang ở đâu:

Quay về nương tựa, hải đảo tự thân

Chánh niệm là Bụt, soi sáng xa gần

Hơi thở là pháp, bảo hộ thân tâm

Năm uẩn là tăng, phối hợp tinh cần

Thở vào, thở ra

Là hoa tươi mát

Là núi vững vàng

Nước tĩnh lặng chiếu

Không gian thênh thang.

Chúng ta giống như một chiếc thuyền đang vượt đại dương. Nếu thình lình gặp một cơn bão mà mọi người trên thuyền đều sợ hãi, hoảng loạn thì thuyền sẽ bị lật úp. Nhưng nếu có một ai đó trên thuyền giữ được bình tĩnh thì người đó sẽ giúp cho những người khác bình tĩnh theo. Nhờ vậy mà mọi người trên thuyền có hy vọng. Ai là người có thể giữ được sự điềm tĩnh trong tình huống hiểm nghèo đó? Mỗi người trong chúng ta đều là người đó. Chúng ta phải nương tựa vào nhau.

 

 

Đã về, đã tới

 

Hãy tưởng tượng ta đang ngồi trên một chuyến bay đến New York. Mỗi lần ngồi trên máy bay, ta nghĩ: “Mình phải ngồi đây sáu tiếng đồng hồ mới đến được đó.” Ngồi trên máy bay ta chỉ nghĩ đến New York mà không có khả năng sống trong giây phút hiện tại. Thực ra, ta không cần phải đến New York để được an lạc và hạnh phúc. Trên máy bay, ta có thể đi như thế nào để tận hưởng từng bước chân của mình. Mỗi bước chân sẽ mang lại cho ta hạnh phúc và ta đã về trong mỗi giây mỗi phút. Về, nghĩa là về một nơi nào đó. Khi thực tập thiền đi, chúng ta về đến đích của sự sống. Giây phút hiện tại là một cái đích. Thở vào, tôi bước một bước và bước khác tôi tự nói với mình là: “Tôi đã về, tôi đã tới.”

“Tôi đã về” là sự thực tập của chúng ta. Khi thở vào, chúng ta nương vào hơi thở vào và nói: “Tôi đã về”. Khi bước một bước, chúng ta an trú nơi bước chân của mình và nói: “Tôi đã về”. Đó không phải là một lời tuyên bố suông. “Tôi đã về” có nghĩa là tôi đã dừng lại, tôi đã về với giây phút hiện tại bởi vì chỉ có giây phút hiện là giây phút đáng sống nhất. Khi thở vào và an trú trong hơi thở vào, khi bước một bước và hoàn toàn có mặt trong bước chân của mình là tôi đang tiếp xúc sâu sắc với sự sống, như thế là tôi đã dừng lại.

Thực tập dừng lại rất quan trọng. Chúng ta đã chạy suốt đời mình. Chúng ta tin rằng an lạc, hạnh phúc và thành công đang có mặt ở một nơi nào đó trong tương lai. Chúng ta không biết rằng an lạc, hạnh phúc và sự yên ổn chỉ có thể được tìm thấy trong giây phút hiện tại. Đó là ước hẹn của sự sống, là giao điểm của bây giờ và ở đây.

Thực tập thiền là về trong mỗi phút giây. Ngôi nhà đích thực của chúng ta nằm ngay trong giây phút hiện tại. Khi chúng ta bước vào giây phút hiện tại một cách sâu sắc thì những nuối tiếc, lo buồn của chúng ta sẽ biến mất và chúng ta có thể khám phá sự sống với tất cả những mầu nhiệm của nó.

Thực tập

Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về, nương tựa.

Chúng ta có thể sử dụng bài thi kệ này để thực tập trong suốt buổi thiền hành. Rất mầu nhiệm! Trong khi thở vào, trên mỗi bước chân, ta nói: “Đã về”. Khi thở ra, với mỗi bước chân ta nói: “Đã tới”. Nếu nhịp điệu hơi thở của ta là 2-3, ta có thể nói: “Đã về, đã về – Đã tới, đã tới, đã tới”. Kết hợp câu thiền ngữ với những bước chân theo nhịp hơi thở của ta.

Sau khi thực tập “đã về, đã tới” một lúc, nếu cảm thấy khỏe nhẹ, hoàn toàn có mặt nơi mỗi bước chân và hơi thở của mình, ta có thể chuyển sang “bây giờ, ở đây”. Thiền ngữ thì khác nhau nhưng cách thức thực tập thì không khác.

Khi ngồi thiền chúng ta cũng có thể sử dụng bài thi kệ này, rất có hiệu quả. Thở vào: “Con đã về”. Thở ra: “Con đã tới”. Thực tập như vậy, tâm ta không còn tán loạn nữa, ta có khả năng an trú trong giây phút hiện tại, đó là giây phút duy nhất mà ta có thể sống.

“Tôi đã về” là sự thực tập chứ không phải là một lời tuyên bố. Tôi đã về trong giây phút hiện tại, bây giờ ở đây và tôi có thể tiếp xúc sâu sắc với sự sống với tất cả những mầu nhiệm của nó. Cơn mưa là một mầu nhiệm, ánh nắng mặt trời là một mầu nhiệm, cây xanh là một mầu nhiệm và những gương mặt của trẻ thơ là một mầu nhiệm. Có rất nhiều điều mầu nhiệm của sự sống chung quanh ta và trong ta. Đôi mắt ta cũng là một mầu nhiệm. Chỉ cần mở mắt ra là ta thấy được cả một thiên đường màu sắc và hình ảnh. Trái tim ta cũng là một mầu nhiệm, nếu trái tim ta ngừng đập thì mọi thứ sẽ chấm dứt.

Trở về giây phút hiện tại, ta tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang có mặt chung quanh ta và trong ta. Hãy sống cho hết lòng với giây phút này, đừng đợi đến ngày mai để có an lạc và hạnh phúc. Khi ta thở vào và nói: “Tôi đã về”, ta sẽ biết được là ta đã về hay chưa, ta có còn rong ruổi hay không. Có thể thân ta đang ngồi yên nhưng tâm ta còn rong ruổi ở đâu đó. Khi thấy mình đã về, ta sẽ rất hạnh phúc. Ta phải nói với bạn ta là: “Này bạn, tôi đã thực sự về rồi”. Đó là một tin mừng.

 

 

Thi kệ

 

Thực tập hơi thở, ngồi thiền và đi thiền là những pháp môn thực tập rất mầu nhiệm. Tuy nhiên trong đời sống hàng ngày, có khi chúng ta quá bận rộn mà quên đi chủ đích của chúng ta là thở và đi cho có chánh niệm. Một trong những phương pháp giúp ta an trú trong giây phút hiện tại là thực tập thi kệ. Thi kệ là những bài thơ nho nhỏ giúp ta thực tập chánh niệm trong những sinh hoạt hằng ngày. Thi kệ có thể giúp ta làm giàu thêm kinh nghiệm của mình khi làm những công việc thường nhật mà ta cho là hiển nhiên. Tập trung tâm ý vào thi kệ giúp ta trở về với chính mình và có ý thức hơn về mỗi hành động của ta. Thực tập xong phần thi kệ, chúng ta tiếp tục công việc của mình với một ý thức cao hơn. Ở Làng Mai, chúng tôi thực tập thi kệ khi thức dậy, khi vào thiền đường, trong suốt các bữa ăn, khi rửa bát v.v… Thật ra, thực tập thi kệ suốt ngày giúp chúng ta có mặt trong giây phút hiện tại.

Khi lái xe, biển chỉ đường sẽ giúp ta tìm thấy đường đi. Tấm biển chỉ đường này có thể hướng dẫn chúng ta đi cho đến khi chúng ta tìm thấy tấm biển kế tiếp. Cũng vậy, khi thực tập thi kệ, thi kệ có thể hướng dẫn những sinh hoạt hằng ngày của ta, giúp ta sống trọn một ngày của mình trong ý thức.

Thực tập

Khi mở vòi nước, chúng ta hãy nhìn sâu để thấy được sự mầu nhiệm và quý giá của nước. Nhớ đừng lãng phí một giọt nước nào bởi vì có rất nhiều người trên thế giới không có đủ nước để sử dụng.

Nước từ nguồn suối cao

Nước từ lòng đất sâu

Nước nhiệm mầu tuôn chảy

Ơn nước luôn tràn đầy.

Trong khi đánh răng, chúng ta cũng có thể phát nguyện nói lời ái ngữ với bài kệ:

Đánh răng và súc miệng

Cho sạch nghiệp nói năng

Miệng thơm lời chánh ngữ

Hoa nở tự vườn tâm.

Trước khi mở máy xe, chúng ta có thể đọc thầm bài thi kệ “Cho máy nổ” để chuẩn bị cho một chuyến đi an toàn của chúng ta:

Trước khi cho máy nổ

Tôi biết tôi đi đâu

Xe với tôi là một

Xe mau tôi cũng mau.

Thi kệ đưa tâm và thân về lại với nhau. Với một tâm trí tĩnh lặng, sáng suốt, hoàn toàn ý thức về những hoạt động của thân thể, chúng ta sẽ làm giảm bớt khả năng gây tai nạn giao thông.

Thi kệ là nguồn thức ăn nuôi dưỡng thân tâm, có khả năng đem đến cho ta sự bình an, tĩnh lặng và niềm vui sống mà ta có thể chia sẻ với mọi người, giúp ta thực tập không gián đoạn trong đời sống hằng ngày. Chúng ta có thể bắt đầu bằng những bài thi kệ này và tìm thêm trong sách Bước tới thảnh thơi, hoặc tự làm thi kệ cho mình. Làm thi kệ cho chính mình là một truyền thống thiền tập đã có từ lâu đời, điều này tôi đã được thừa hưởng từ thầy tôi và tôi đã trao truyền lại cho các đệ tử của mình.

 

 

Xá chào

 

Khi chắp tay xá chào một người nào đó là chúng ta có cơ hội có mặt cho người đó, công nhận khả năng tỉnh giác trong ta và trong người đó. Chúng ta không xá chào chỉ vì lịch sự hoặc vì xã giao mà để nhận diện một điều mầu nhiệm là người kia đang còn sống và nhận diện khả năng tỉnh thức trong mỗi người. Vấn đề không phải là xá hay không xá, điều quan trọng là phải có chánh niệm.

Thực tập

Khi thấy ai đó chắp tay xá chào mình, chúng ta nên chắp tay xá chào lại. Chắp tay lại, thở vào, chúng ta thầm nói: “Sen búp xin tặng người.” Xá xuống, thở ra, ta nói: “Một vị Bụt tương lai.” Chúng ta xá chào trong chánh niệm, hoàn toàn ý thức về người đó đang có mặt trước mặt mình. Chúng ta xá bằng tất cả sự chân thành từ trái tim mình. Có những lúc, ta thấy có một mối tương giao sâu sắc hay một cảm giác kinh ngạc trước những nhiệm mầu của sự sống như khi thấy một bông hoa đang nở, đứng trước cảnh hoàng hôn, một cội cây cổ thụ hoặc xòe tay đón những giọt mưa mát lạnh, chúng ta cũng có thể chắp tay xá chào để hiến tặng sự có mặt của mình và bày tỏ niềm biết ơn đối với những mầu nhiệm đó.

Khi xá Bụt, chúng ta hoàn toàn ý thức về khả năng tỉnh thức mà ta đã được thừa hưởng từ Bụt. Hiểu và thực tập được như thế thì lạy Bụt, tỏ bày niềm tôn kính đối với Bụt không chỉ là vấn đề tín mộ mà là một sự thực tập tuệ giác. Khi xá chào hay lễ lạy các vị Bồ Tát lớn, chúng ta cũng trở về tiếp xúc sâu sắc với hạnh nguyện cao đẹp được biểu trưng qua các vị Bồ Tát ấy và cảm nhận niềm biết ơn sâu xa đối với những ai đang theo gương của các Ngài. Trong khi bày tỏ sự tôn kính trước những vị Bồ Tát lớn, chúng ta cũng đang cam kết thực tập đi theo con đường Bồ Tát của mình, nguyện vun trồng nguồn năng lượng hiểu biết, thương yêu và từ bi trong ta. Xá chào, lễ lạy trong tinh thần đó là một sự thiền tập.

 

 

Thiền điện thoại

 

Đừng xem thường lời nói của mình, những lời nói ái ngữ có ảnh hưởng rất lớn đến người khác, có khả năng xây dựng hiểu biết và thương yêu. Lời nói có thể đẹp như châu ngọc, đáng yêu như hoa quý và có khả năng đem lại hạnh phúc cho rất nhiều người. Nhưng thông thường, khi nói chuyện qua điện thoại, chúng ta quá bận rộn, nói hết chuyện này đến chuyện khác mà ít để ý đến lời nói của mình.

Điện thoại là một phương tiện truyền thông rất tiện lợi. Đặc biệt là điện thoại di động lại càng nhiều tiện lợi hơn. Điện thoại có thể giúp ta tiết kiệm thời gian đi lại và chi phí, nhưng cũng khống chế ta nhiều mặt. Nếu điện thoại cứ reo liên tục thì ta cũng mệt và không làm được gì cả. Nếu nói chuyện điện thoại không có ý thức, chúng ta sẽ lãng phí nhiều tiền bạc và thời gian quý báu của mình. Thông thường chúng ta hay nói những điều không cần thiết và đánh mất rất nhiều điều thú vị hay niềm vui đang xảy ra quanh ta trong giây phút hiện tại như có một em bé muốn nắm tay ta đi chơi, tiếng chim ca hót líu lo hay ánh mặt trời đang tỏa chiếu khắp nơi.

Khi chuông điện thoại reo, tiếng chuông tạo ra trong ta một sự xung động, có thể đó là sự lo lắng, như: “Ai gọi vậy? Tin tốt hay tin xấu đây?” Rồi có một lực kéo ta đi tới điện thoại. Ta không thể kháng cự được. Và ta có thể trở thành nạn nhân của cuộc điện thoại.

Thực tập

Lần tới, khi điện thoại reo, chúng ta hãy ngồi yên tại chỗ và ý thức về hơi thở của mình: “Thở vào, tôi làm an tịnh toàn thân. Thở ra, tôi mỉm cười.” Khi điện thoại reo lần thứ hai, ta cũng thở như thế. Điện thoại reo lần thứ ba, ta cũng tiếp tục thực tập, sau đó mới nhấc điện thoại lên. Hãy luôn nhớ rằng, ta có thể làm chủ chính mình, an trú trong chánh niệm và đi như Bụt đi. Khi nhấc điện thoại lên, chúng ta mỉm cười, mỉm cười không chỉ cho riêng ta mà còn cho cả người kia nữa. Nếu chúng ta cáu kỉnh hoặc nổi giận, người kia sẽ lãnh đủ nguồn năng lượng tiêu cực đó, còn nếu chúng ta mỉm cười thì người kia sẽ may mắn nhận được năng lượng tươi mát nơi ta.

Trước khi gọi điện cho ai, hãy thở vào, thở ra hai lần và đọc thầm bài thi kệ rồi mới nhấc điện thoại lên bấm số:

Tiếng đi ngoài ngàn dặm

Xây dựng niềm tin yêu

Mỗi lời là châu ngọc

Mỗi lời là gấm thêu.

Khi chuông điện thoại reo, có thể người bạn của ta cũng đang thở, mỉm cười và sẽ không nhấc điện thoại lên ngay cho đến tiếng chuông thứ ba. Ta hãy tiếp tục thực tập: “Thở vào, tôi làm an tịnh toàn thân. Thở ra, tôi mỉm cười với toàn thân.” Cả hai, ta và người bên kia đầu dây đều đang thở và mỉm cười. Thật đẹp! Ta không cần phải đi vào thiền đường mới thực tập điều mầu nhiệm này. Nó có sẵn ngay trong nhà hay trong văn phòng của mình. Thực tập thiền điện thoại có thể giúp ta trung hòa những căng thẳng hay trầm cảm trong ta và ta có thể mang Bụt vào trong đời sống hàng ngày của mình.

Nghe chuông

 

Thỉnh thoảng chúng ta cần một âm thanh nào đó để nhắc nhở chúng ta trở về với hơi thở ý thức. Chúng ta gọi âm thanh đó là “tiếng chuông chánh niệm.” Ở Làng Mai và những trung tâm khác thuộc truyền thống Làng Mai, bất cứ khi nào nghe chuông đồng hồ, chuông điện thoại hay chuông sinh hoạt, chúng ta đều dừng lại. Đó là những tiếng chuông chánh niệm. Khi nghe chuông, chúng ta dừng lại mọi nói năng, hoạt động và suy nghĩ. Chúng ta buông thư toàn thân và ý thức về hơi thở của mình. Làm một cách tự nhiên với niềm vui thích mà không phải là một hình thức cứng nhắc. Dừng lại thở, lấy lại năng lượng định tĩnh và bình an là chúng ta có tự do, và khi đó, những công việc mà chúng ta đang làm trở nên thú vị hơn, những người bạn trước mặt chúng ta trở nên “thực” hơn.

Đôi khi, thân chúng ta ở đây mà tâm chúng ta thì lại đang ở một nơi nào khác. Vì vậy chúng ta không thực sự có mặt trong ngôi nhà đích thực của mình. Tiếng chuông có thể giúp ta đưa tâm trở về với thân. Đó là phương pháp thực tập trong tu viện. Tiếng chuông có thể giúp ta trở về với chính mình, trở về với giây phút hiện tại. Tiếng chuông được xem như một người bạn, một vị Bồ Tát giúp ta thức tỉnh.

Ở nhà, chúng ta cũng có thể sử dụng tiếng chuông điện thoại, chuông nhà thờ, tiếng khóc của trẻ thơ, hay ngay cả tiếng còi báo động, tiếng xe cấp cứu… để làm tiếng chuông chánh niệm cho mình. Chỉ cần ba hơi thở có ý thức là ta đã có thể buông bỏ được những căng thẳng trên thân tâm và trở về với trạng thái tươi mát, trong lành của ta.

Ở Việt Nam tôi thường được nghe tiếng chuông chùa. Nhưng khi qua Tây phương thì tiếng chuông chùa không còn nữa, chỉ có tiếng chuông nhà thờ. Một hôm, đang đi thiền hành trên một quảng trường ở Tiệp Khắc bỗng nhiên tôi nghe tiếng chuông nhà thờ đổ. Lúc đó tôi đã ở châu Âu được vài năm, đó là lần đầu tiên tôi tiếp xúc được với linh hồn Âu châu xưa cổ một cách sâu sắc. Kể từ đó, mỗi khi nghe chuông nhà thờ, bất kể là ở đâu, Thụy Sĩ, Pháp hay Nga, tôi đều tiếp xúc sâu sắc với linh hồn châu Âu. Đối với những người không thực tập thì tiếng chuông không có ý nghĩa gì mấy. Nhưng nếu chúng ta có thực tập thì tiếng chuông mang lại một ý nghĩa tâm linh rất thâm sâu, có khả năng đánh thức những điều mầu nhiệm nhất trong chúng ta.

Trong truyền thống Làng Mai, chúng ta không nói “đánh chuông” mà nói là “thỉnh chuông”. Người thỉnh chuông được gọi là “duy na” (tri chung) và cái dùi gỗ để thỉnh chuông là “dùi thỉnh”. Có nhiều loại chuông khác nhau: chuông đại hồng mỗi khi được thỉnh lên thì cả làng đều nghe; chuông báo chúng (báo hiệu thời khóa sinh hoạt của tu viện) mỗi khi thỉnh lên thì khắp tu viện đều nghe được, chuông gia trì trong thiền đường được thỉnh lên trong các buổi pháp thoại, làm mới, ngồi thiền, tụng kinh…, kế đó là chuông nhỏ (minibell) đựng vừa vặn trong một cái túi mà chúng ta có thể mang đi bất cứ nơi đâu. Tất cả đều giúp chúng ta thực tập trở về theo dõi hơi thở.

Chúng ta phải tập để thỉnh chuông cho được, điều này rất quan trọng. Nếu ta có vững chãi, thảnh thơi, có tỉnh thức, chánh niệm thì tiếng chuông ta thỉnh lên có công năng giúp người khác tiếp xúc được với những gì thâm sâu nhất trong họ.

Thực tập

Khi làm tri chung và muốn thỉnh lên một tiếng chuông, điều đầu tiên ta cần làm là xá chuông. Chuông là người bạn giúp ta đưa tâm trở về với thân. Khi thân tâm hợp nhất thì tự nhiên ta có mặt trong giây phút hiện tại, ngay bây giờ và ở đây, chúng ta có thể sống đời sống của chúng ta một cách sâu sắc.

Nếu ta sử dụng chuông nhỏ, đặt vừa vặn trong lòng bàn tay thì sau khi xá chuông ta đặt nó vào lòng bàn tay. Bàn tay ta là một đóa sen năm cánh và chiếc chuông nhỏ là một viên ngọc quý nằm trong lòng đóa sen. Trong lúc giữ chuông như vậy, ta thực tập thở cho có chánh niệm. Ta có thể sử dụng thi kệ để đưa tâm trở về với thân, để thực sự có mặt trong giây phút hiện tại. Nếu không thực sự có mặt trong giây phút hiện tại thì ta không phải là một vị tri chung giỏi. Vì vậy sau khi thở vào và thở ra hai lần theo bài thi kệ, ta mới bắt đầu thỉnh chuông.

Ba nghiệp lắng thanh tịnh

Gửi lòng theo tiếng chuông

Nguyện người nghe tỉnh thức

Vượt thoát nẻo đau buồn.

Bài thi kệ có bốn câu: một câu đi với hơi thở vào, một câu đi với hơi thở ra. Cố nhiên là bài thi kệ rất hay nhưng nếu ta không nhớ cũng không sao. Ta chỉ cần theo dõi hơi thở, thở vào ý thức là hơi thở đang đi vào, thở ra ý thức là hơi thở đang đi ra. Thở cho thân tâm lắng dịu cũng giúp ta trở thành một vị tri chung giỏi. Bây giờ, ta đã có đủ phẩm chất để sẵn sàng thỉnh chuông.

Chúng ta nhấp một tiếng nhẹ nhàng để thức chuông. Đó là một thông báo quan trọng cho chuông và cho mọi người. Chúng ta phải nhẹ nhàng với chuông để chuông không giật mình và chúng ta cũng báo hiệu cho mọi người biết là sẽ có một tiếng chuông được thỉnh lên sau đó, để mọi người chuẩn bị thân tâm nghe chuông với sự có mặt đích thực của họ. Tiếng chuông là tiếng gọi của Bụt trong ta, gọi ta trở về với giây phút hiện tại. Khi thức chuông, mọi người sẽ dừng lại những suy nghĩ, nói năng và hành động, trở về với hơi thở để nghe chuông. Chúng ta phải cho mọi người có đủ thời gian chuẩn bị thân tâm để đón nhận tiếng chuông, phải cho họ thời gian một hơi thở vào – và một hơi thở ra. Có thể họ đang háo hức, nói chuyện hoặc suy nghĩ về một điều gì đó. Nhưng khi nghe tiếng thức chuông, họ biết là họ phải ngừng lại, ngừng lại những suy nghĩ, nói năng và hành động để chuẩn bị thân tâm, sẵn sàng nghe chuông.

Rồi ta thỉnh lên một tiếng chuông. Thở vào, thở ra ba hơi thật sâu. Nếu thở vào, thở ra nhẹ nhàng thì sau ba hơi thở vào ra, ta sẽ trở nên thư thái, tĩnh lặng, khinh an và có chánh niệm hơn. Ta có thể đọc thầm bài thi kệ trong khi thở vào, thở ra:

Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm.

“Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe” nghĩa là chúng ta nghe với tất cả trái tim của ta khi thở vào. Khi thân và tâm hợp nhất thì ta tiếp xúc được với sự sống với tất cả những mầu nhiệm đang có trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Nếu thực tập giỏi thì nước Chúa hay cõi Tịnh Độ của Bụt sẽ luôn có mặt ngay bất cứ lúc nào ta nghe chuông và giúp ta trở về ngôi nhà đích thực của mình.

 

 

Thức dậy

 

Chúng ta có thể bắt đầu ngày mới của chúng ta bằng một nụ cười hạnh phúc, bắt đầu một ngày mới bằng hạnh nguyện của mình, dành trọn con người mình cho con đường hiểu biết và thương yêu. Chúng ta ý thức rằng hôm nay là một ngày mới, rất tươi đẹp và chúng ta có hai mươi bốn giờ quý giá để sống.

Thực tập

Khi thức dậy vào buổi sáng, mở mắt ra, ta có thể đọc bài thơ ngắn này (gọi là thi kệ):

Thức dậy miệng mỉm cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.

Dòng cuối của bài thi kệ được trích ra từ kinh Pháp Hoa: “Từ nhãn thị chúng sanh. Người nhìn cuộc đời bằng mắt thương là Bồ Tát Quan Thế Âm, Bồ Tát đang lắng nghe những tiếng kêu khóc của thế gian. Tình thương không thể có được nếu không có sự hiểu biết, cảm thông. Để hiểu được người khác, chúng ta phải biết về họ và đi vào trong da thịt của họ. Có như vậy chúng ta mới có thể tiếp xử với họ bằng lòng thương yêu. Suối nguồn của tình thương chính là tâm tràn đầy tỉnh thức của chúng ta.

Sau khi thức dậy, chúng ta có thể vén màn cửa và nhìn ra ngoài trời. Hay có thể mở cửa sổ và cảm nhận những làn không khí mát lạnh của buổi sáng với những hạt sương còn đọng trên cỏ. Khi mở cửa sổ nhìn ra ngoài, ta thấy được cuộc sống thật mầu nhiệm. Ngay lúc đó, ta phát một lời nguyện là sẽ sống tỉnh thức suốt ngày này, nguyện chế tác niềm vui, bình an, tự do và hòa hợp. Sống được như vậy, tâm ta sẽ trở nên trong suốt và sáng tỏ như mặt hồ tĩnh lặng.

Hãy cố gắng ngồi dậy ngay sau khi theo dõi ba hơi thở sâu để đưa ta trở về với chánh niệm. Đừng nằm nướng. Ta có thể ngồi dậy, nhẹ nhàng xoa bóp thân hình từ đầu xuống cổ, vai và hai cánh tay để máu huyết được lưu thông. Ta có thể làm vài động tác co duỗi để buông thư các cơ bắp và các khớp xương, làm cho cơ thể tỉnh táo. Uống một ly nước ấm cũng giúp cho các cơ quan nội tạng của ta hoạt động tốt để khởi đầu cho một buổi sáng tốt lành.

Chúng ta có thể tắm rửa hoặc làm những gì cần thiết trước khi đi làm, đi học, hoặc đi đến thiền đường. Hãy cho mình đủ thời gian để không phải vội vã, hấp tấp. Nếu trời còn tối, hãy tận hưởng bầu không khí tĩnh mặc yên lắng với những ngôi sao lấp lánh như đang chào đón mình. Hãy hít thở thật sâu và tận hưởng không khí mát lạnh của buổi sớm. Trong khi đi thong thả ra xe, đến trường học, đến sở làm hoặc ra thiền đường, hãy để cho buổi sáng thấm vào tràn ngập con người mình và đánh thức thân tâm bằng niềm vui của ngày mới.

Còn cách nào tốt hơn để bắt đầu ngày mới bằng nụ cười? Nụ cười của ta sẽ xác định sự thức tỉnh và quyết tâm sống trong an lạc của ta. Có bao nhiêu ngày ta đã để trôi qua trong quên lãng? Ta đang làm gì với cuộc đời mình? Hãy nhìn cho kỹ và mỉm cười. Một nụ cười chân thật sẽ bắt nguồn từ một trái tim tỉnh thức.

Khi thức dậy, làm sao ta nhớ để mỉm cười? Ta có thể treo một cái gì đó lên cửa sổ hoặc trên trần nhà ngay đầu giường để nhắc nhở ta, như một cành cây, một chiếc lá, một bức tranh hoặc một câu gì đó gây cảm hứng cho ta. Khi quen với việc thực tập mỉm cười thì có thể chúng ta không cần sự nhắc nhở này nữa. Chúng ta sẽ mỉm cười ngay khi nghe tiếng chim hót hoặc khi nhìn thấy ánh nắng ban mai chiếu qua khung cửa sổ. Điều này sẽ giúp chúng ta bước vào một ngày mới nhẹ nhàng hơn, có nhiều cảm thông và hiểu biết hơn.

 

 

Thiền hành

 

Ý về muôn vạn nẻo

Thiền lộ tâm an nhiên

Từng bước gió mát dậy

Từng bước nở hoa sen.

Mỗi ngày ta đi rất nhiều, nhưng thường thì ta chạy nhiều hơn đi. Những bước chân vội vã của ta đã in lên mặt đất dấu ấn của lo âu, buồn phiền, tuyệt vọng. Nếu ta có khả năng bước được một bước chân an lạc thì ta cũng có thể bước được hai bước, ba bước, bốn bước, năm bước cho an lạc, hạnh phúc của nhân loại và trái đất.

Thiền hành là đi để mà đi. Đi mà không cần tới, đó cũng là một sự thực tập. Tiếng Sanskrit có từ apranihita là vô nguyện hay vô tác, n­ghĩa là không đặt bất cứ một mục tiêu nào phía trước để chạy theo cả. Khi thực tập thiền hành, chúng ta cũng đi trong tinh thần đó. Chúng ta chỉ đi thôi, không có một mục đích đặc biệt nào hay không cần một đích đến nào. Chúng ta đi không phải để đến. Chúng ta đi để mà đi.

Tâm của chúng ta hay có khuynh hướng nhảy từ chuyện này sang chuyện khác, như một con khỉ chuyền cành không bao giờ ngừng nghỉ. Tư duy của chúng ta có hàng triệu lối mòn và chúng luôn kéo chúng ta đi vào thế giới của thất niệm, lãng quên. Nếu chúng ta có khả năng chuyển hóa những lối đi của mình thành những con đường thiền hành thì mỗi bước chân của ta sẽ đi trong tỉnh thức. Hơi thở của ta sẽ hài hòa với bước chân, tâm ta sẽ tự nhiên lắng dịu và khỏe nhẹ hơn. Mỗi bước chân ta đi sẽ làm tăng trưởng niềm hỷ lạc và tạo nên một nguồn năng lượng tĩnh lặng chảy tràn khắp thân tâm.

Bất cứ đi đâu, chúng ta cũng có thể thực tập thiền hành, từ bãi đậu xe vào văn phòng hay từ nhà bếp lên phòng khách. Đi đâu, chúng ta cũng dành đủ thời gian để thực tập thiền hành. Thay vì ba phút, chúng ta dành tám phút hay mười phút. Mỗi lần đi xa, tôi luôn đến phi trường sớm hơn quy định một giờ đồng hồ để có thời gian thong thả. Ở đó tôi có thể đi thiền hành, rất thảnh thơi. Nhiều người hay muốn giữ tôi lại cho đến phút cuối nhưng tôi thường từ chối. Tôi nói với họ là tôi cần thời gian. Thiền hành cũng giống như ăn cơm vậy. Mỗi bước chân ta đi đều có khả năng nuôi dưỡng thân tâm ta. Nếu chúng ta đi bằng những bước chân bực bội, ưu phiền thì thức ăn đó không lành mạnh. Thức ăn thiền hành phải có chất lượng cao hơn. Chúng ta hãy đi chậm lại và thưởng thức bữa tiệc an lành của chúng ta.

  1. A.J. Muste nói rằng: “Không có con đường dẫn đến an lạc, an lạc chính là con đường.” Đi trong chánh niệm mang đến cho ta bình an và làm cho cuộc sống của ta trở nên thật hơn. Tại sao ta phải vội vã? Đích đến cuối cùng của ta cũng chỉ là cái nghĩa trang thôi. Tại sao ta không đi về hướng sự sống, tận hưởng niềm an lạc trong từng phút giây bằng mỗi bước chân của mình? Ta không cần phải tranh đấu. Hãy đi cho nhẹ nhàng và thảnh thơi, tận hưởng từng bước chân mà ta đang bước. Mỗi bước chân sẽ mang ta trở về với giây phút hiện tại bây giờ và ở đây. Đó là ngôi nhà đích thực của chúng ta – bởi vì sự sống chỉ thật sự có mặt trong giây phút hiện tại, ngay tại đây. Chúng ta đã tới rồi.

Đất là Mẹ của chúng ta. Nếu rời xa đất Mẹ, chúng ta sẽ bệnh hoạn. Do đó mỗi bước chân đi trong chánh niệm sẽ giúp ta trở về tiếp xúc với đất Mẹ để chúng ta được khỏe mạnh trở lại. Đất Mẹ đã bị chúng ta làm tổn hại quá nhiều, vì vậy giờ đây là lúc chúng ta xoa dịu đất Mẹ bằng những bước chân nhẹ nhàng và an lành của chúng ta để đất Mẹ có cơ hội được trị liệu.

Một số người trong chúng ta không thể đi được. Nhưng điều đó không thể ngăn cản chúng ta thực tập. Nếu ta là một trong số đó, ta hãy chọn cho mình một người đang đi thiền hành, rồi quan sát người ấy và trở thành một với người ấy. Chúng ta nhìn và theo dõi bước chân của người ấy trong chánh niệm. Như vậy, chúng ta cũng bước được những bước chân an lạc và thanh bình cùng với người bạn đồng hành của ta cho dù ta không đi được.

Chúng ta phải luôn nhớ rằng mình đang có một đôi chân lành lặn, khỏe mạnh và chúng ta phải biết ơn vì điều đó. Chúng ta đi cho chính mình và đi cho những ai không thể đi được. Chúng ta đi cho tất cả mọi người, mọi loài – từ trong quá khứ cho tới hiện tại và cả trong tương lai.

Thực tập

Khi mới bắt đầu thực tập thiền hành, có thể chúng ta thấy mình đi như một đứa trẻ đang chập chững bước những bước đầu tiên, khập khiễng, không vững vàng. Hãy theo dõi hơi thở và an trú trong chánh niệm với những bước chân của mình, ta sẽ sớm lấy lại được thăng bằng. Hãy quán tưởng đến một con hổ đang đi rất ung dung, tĩnh tại, chúng ta sẽ thấy những bước chân của ta cũng trở nên oai vệ như nó.

Chúng ta có thể bắt đầu thiền hành vào buổi sáng và để cho không khí trong lành của buổi sớm đi vào ta. Những thao tác của ta sẽ trở nên uyển chuyển, nhẹ nhàng; tâm ý ta sẽ trở nên tỉnh táo, bén nhạy. Và suốt ngày, những hoạt động của ta sẽ có sự tỉnh thức cao hơn. Nếu phải làm một quyết định thì sau buổi thiền hành, chúng ta sẽ sáng suốt, định tĩnh hơn, ta sẽ có nhiều tuệ giác và từ bi hơn. Nếu mỗi bước chân ta đi trong an lạc thì tất cả mọi người mọi loài, dù gần hay xa, cũng đều hưởng được lợi lạc ấy.

Khi đi, hãy đưa sự chú tâm vào mỗi bước chân của mình. Đi cho thong thả, đừng hấp tấp vội vàng. Mỗi bước chân sẽ mang chúng ta về những giây phút đẹp nhất của cuộc sống. Trong khi đi thiền hành, chúng ta hãy tập ý thức về số bước chân tương ứng với mỗi hơi thở. Bao nhiêu bước chân khi thở vào và bao nhiêu bước chân khi thở ra. Khi đi thiền hành, chúng ta đo hơi thở bằng bước chân mà không phải là đo bước chân bằng hơi thở. Khi thở vào, chúng ta bước hai hoặc ba bước, tùy vào khả năng mà phổi của ta cho phép. Nếu phổi ta muốn hai bước trong khi ta thở vào, hãy bước đúng hai bước. Nếu ta cảm thấy ba bước thì tốt hơn, hãy bước ba bước. Khi thở ra cũng vậy, hãy lắng nghe hai lá phổi của ta để biết xem phổi ta cần bao nhiêu bước trong khi thở ra.

Thông thường, hơi thở vào ngắn hơn hơi thở ra. Vì vậy, ta có thể bắt đầu bằng hai bước cho hơi thở vào và ba bước cho hơi thở ra: 2-3, 2-3, 2-3. Hoặc 3-4, 3-4, 3-4. Tiếp tục thực tập như thế, hơi thở của ta sẽ trở nên chậm hơn và thư thái hơn một cách tự nhiên. Nếu thấy cần thêm một bước trong khi thở vào, thì hãy bước thêm bước nữa. Khi thấy muốn thêm một bước trong khi thở ra thì hãy cho phép mình bước thêm một bước. Mỗi bước chân hãy là một niềm vui.

Đừng cố gắng điều khiển hơi thở. Hãy cho phép phổi của ta có đủ thời gian và không khí như nó cần. Đơn giản là ghi nhận ta cần bao nhiêu bước để hít không khí vào đầy hai lá phổi của ta và bao nhiêu bước để đẩy hết không khí trong phổi ra. Phép đếm hơi thở là sợi dây nối kết giữa hơi thở và bước chân.

Khi lên dốc hay xuống dốc, số bước chân cho mỗi hơi thở có thể thay đổi. Hãy cho buồng phổi của ta đúng số lượng bước chân mà nó cần. Luôn theo dõi và quan sát nhu cầu của buồng phổi một cách sát sao. Đừng quên thực tập mỉm cười. Một nụ cười buông thư sẽ đem lại sự tĩnh lặng, niềm vui thích cho những bước chân và hơi thở của ta, giúp ta duy trì sự chú tâm. Sau khi thực tập khoảng nửa giờ hoặc một giờ, ta sẽ thấy hơi thở, bước chân, việc đếm hơi thở và nụ cười buông thư của ta trở thành một với nhau một cách dễ dàng.

Sau một thời gian thực tập, ta sẽ thấy hơi thở vào và hơi thở ra của ta dài gần bằng nhau hơn. Phổi ta trở nên khỏe mạnh hơn và máu huyết ta lưu thông tốt hơn. Cách thở của ta sẽ được chuyển hóa.

Ta có thể thực tập thiền hành bằng cách đếm hơi thở hoặc sử dụng những câu thiền ngữ. Ví dụ, nếu nhịp điệu hơi thở của ta là 3-3 thì ta có thể nói thầm: “Hoa sen nở, hoa sen nở” hoặc “hành tinh xanh, hành tinh xanh”. Nếu nhịp điệu của hơi thở ta là 2-3, ta có thể nói: “Hoa sen, hoa sen nở.” Nếu năm bước thở vào và năm bước thở ra, ta có thể nói: “Đi trên hành tinh xanh, đi trên hành tinh xanh.” Hoặc “đi trên hành tinh xanh, tôi đi trên hành tinh xanh” cho nhịp 5-6. Mỗi chữ cho một bước chân.

Chúng ta không chỉ lặp lại những câu chữ đó mà chúng ta thực sự thấy được những đóa hoa đang nở dưới chân chúng ta. Chúng ta thực sự trở thành một với hành tinh xanh. Chúng ta cũng có thể dùng tuệ giác của chính mình để sáng tạo ra những bài thực tập cho riêng mình. Đây là một số câu mà tôi đã viết:

An lạc từng bước chân

Mặt trời là trái tim của tôi

Từng đóa hoa mỉm cười

Là dòng sông xanh mát ra biển khơi

Cùng gió ca lời chim

Đường dài em bước như dạo chơi

Chúng ta nên đưa thiền hành vào trong đời sống hằng ngày của mình. Điều này không tốn kém nhiều thời gian hay đòi hỏi chúng ta phải đi đâu khác. Hãy chọn cho mình một nơi nào đó như cầu thang, đường lái xe hoặc khoảng cách từ cái cây này đến cây khác để thực tập thiền hành mỗi ngày. Tất cả mọi con đường đều có thể trở thành con đường thiền hành.

Thiền ngồi

 

Ngồi thiền là một phương pháp giúp ta trở về ngôi nhà đích thực của mình. Ta mang sự chú tâm về chăm sóc chính mình. Mỗi khi ngồi, bất kể là ngồi ở đâu, trong phòng, ở một gốc cây hay trên một tọa cụ, chúng ta đều có khả năng tỏa chiếu sự tĩnh lặng như Bụt. Chúng ta hoàn toàn chú tâm vào những gì đang xảy ra trong ta và chung quanh ta. Chúng ta hãy để cho tâm mình trở nên thông thoáng, lắng dịu và cởi mở. Chỉ cần vài phút ngồi như vậy là chúng ta đã có thể phục hồi lại sức lực và tinh thần một cách trọn vẹn.

Ngồi thiền có tác dụng trị liệu rất lớn. Ta chỉ cần nhận diện và có mặt với những gì đang xảy ra trong ta dù đó là một niềm đau, cơn giận, bực tức, tình thương, an vui hay hạnh phúc. Có mặt với tất cả những gì đang xảy ra mà không bị chúng lôi kéo. Chúng ta hãy để tự nhiên cho chúng đến, ở lại và ra đi. Chúng ta không cần xua đuổi, không cần đè nén mà cũng không giả vờ là những suy nghĩ của ta không có đó. Thay vào đó, ta có thể quan sát những suy nghĩ, những hình ảnh trong tâm ta bằng sự chấp nhận và thương yêu. Cho dù những cơn bão có nổi lên trong ta, ta vẫn bình tĩnh và yên ổn. Khi ta ngồi có an lạc; thở và mỉm cười với sự tỉnh thức thì ta sẽ hoàn toàn tự chủ.

Ngồi yên và thở như thế, ta có thể chế tác được sự có mặt đích thực của ta ngay bây giờ, ở đây. Và ta hiến tặng sự có mặt ấy cho tăng thân, cho thế giới. Đó là mục đích của ngồi thiền: ngồi yên mà không làm gì cả, có mặt trọn vẹn và ý thức là mình đang còn sống.

Thực tập

Ngồi thiền là phải vui. Ngồi như thế nào mà ta thấy hạnh phúc, an lạc và thư thái trong suốt buổi ngồi thiền. Ngồi thiền không phải là một lao tác mệt nhọc mà là cơ hội để tận hưởng sự có mặt của tự thân, của gia đình, của những người bạn đồng tu, tận hưởng sự có mặt của đất trời và vũ trụ. Không cần phải cố gắng gì cả.

Nếu ngồi trên bồ đoàn, chúng ta phải chọn bồ đoàn nào thích hợp với mình. Chúng ta có thể ngồi bán già, kiết già hay ngồi chéo chân. Ngồi như thế nào mà ta cảm thấy thoải mái nhất. Giữ lưng thẳng, đầu không cúi xuống hay ngửa ra và hai tay đặt nhẹ nhàng lên nhau. Nếu ngồi trên ghế, hai bàn chân ta phải đặt sát sàn nhà hoặc đặt trên một chiếc bồ đoàn. Nếu chân bị tê hoặc đau trong khi ngồi thiền, ta có thể nhẹ nhàng điều chỉnh lại thế ngồi. Ta có thể duy trì định lực trong khi đổi tư thế bằng cách theo dõi hơi thở và ý thức về những thao tác của ta.

Hãy để cho tất cả các cơ bắp trên thân thể ta được buông thư. Đừng đấu tranh hay gồng mình gì cả. Có những người sau mười lăm phút ngồi thiền là cảm thấy đau nhức khắp cơ thể. Đó là vì người ấy đã cố gắng quá nhiều, cố gắng để thành công. Ta không cần phải làm như vậy, hãy để cho mình được thư giãn, như thể ta đang ngồi chơi trên bãi biển, không cần đạt một mục đích nào cả.

Trong khi ngồi, ta theo dõi hơi thở vào và hơi thở ra. Bất cứ khi nào có một suy nghĩ hay một cảm thọ đi lên, ta hãy nhận diện nó. Ta có thể học được rất nhiều từ việc quán chiếu những gì đang xảy ra trong thân tâm ta trong suốt buổi ngồi thiền. Ngồi thiền là một cơ hội để không phải làm gì cả. Ta không có gì để làm, chỉ ngồi yên thở cho khỏe nhẹ và tận hưởng điều đó.

Thở vào, tôi biết là tôi còn sống

Thở ra, tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi.

Còn sống là một phép lạ. Chỉ cần ngồi yên, tận hưởng hơi thở vào ra đã là một niềm hạnh phúc lớn. Vì khi thở vào thở ra, ta biết là ta còn sống. Chừng đó đáng cho ta ăn mừng rồi. Vì vậy, ngồi thiền là một cách ăn mừng sự sống với hơi thở vào ra của mình.

Điều quan trọng là để cho thân thể buông thư hoàn toàn. Đừng cố gắng thành Bụt. Chỉ cần ngồi cho hạnh phúc và chấp nhận chính mình như mình đang là. Cho dù trong thân ta có một vài căng thẳng, tâm ta có một vài đau nhức, ta cũng chấp nhận như vậy. Ta ngồi trong tư thế buông thư, thở thật nhẹ nhàng và dùng năng lượng chánh niệm để ôm ấp chúng.

Thở vào, tôi đã về

Thở ra, tôi đã tới.

Ta không cần phải rong ruổi đi đâu nữa. Ngôi nhà đích thực của ta đang ở đây trong giây phút hiện tại. Ta có vững chãi và tự do. Ta có thể mỉm cười và buông thư tất cả các cơ bắp trên khuôn mặt mình.

Ta cần phải tập luyện để ngồi thiền cho thành công. Ta có thói quen cần phải làm một cái gì đó. Do đó, lúc ban đầu ngồi yên và không làm gì hết có thể là một việc khó khăn. Khi ông Nelson Mandela đến Pháp thăm tổng thống Francois Mitterrand, báo chí đã phỏng vấn ông: “Ông thích làm gì nhất?” Ông nói: “Điều mà tôi muốn làm nhất bây giờ là ngồi yên mà không làm gì cả. Kể từ khi được phóng thích khỏi nhà tù, tôi quá bận rộn, không có cả thời gian ngồi yên để thở. Vì vậy, việc tôi muốn làm nhất là ngồi yên và không làm gì cả.”

Nếu chúng ta cho ông Nelson Mandela vài ngày để ngồi yên không làm gì cả, liệu ông có thể ngồi yên được không? Đối với hầu hết chúng ta, ngồi yên không làm gì cả không phải là chuyện dễ dàng. Chúng ta có thói quen bận rộn, phải luôn làm một cái gì đó. Nếu không làm thì chịu không nổi. Vì vậy, chúng ta cần phải tập ngồi yên; để có thể không làm gì cả mà vẫn hạnh phúc. Ngồi yên và không làm gì cả là một nghệ thuật. Nghệ thuật ngồi yên.

Nếu chúng ta có khó khăn là không định tâm được, thì đếm hơi thở là một phương pháp rất hữu hiệu. Thở vào, đếm “một.” Thở ra, đếm “một.” Thở vào, đếm “hai.” Thở ra, đếm “hai.” Tiếp tục cho tới mười rồi bắt đầu đếm từ một trở lại. Nếu chúng ta quên không biết mình đếm tới đâu thì hãy đếm lại từ “một”. Phương pháp đếm hơi thở giúp ta không bị lôi kéo bởi những suy nghĩ miên man, rối rắm. Ta tập trung tâm ý vào hơi thở và việc đếm hơi thở. Khi ta kiểm soát được những suy nghĩ của mình thì đếm hơi thở có thể không còn hấp dẫn đối với ta nữa, vì vậy ta có thể bỏ đếm và chỉ theo dõi hơi thở.

Nếu thiền tập mà đấu tranh để đạt cho được một cái gì đó, để đến được một nơi nào đó hay cố gắng để thành công thì chúng ta không thể thư giãn được. Chúng ta hãy nhìn ra ngoài trời. Có thể ngoài trời đang có cây xoan hoặc cây sồi rất xinh đẹp và khỏe mạnh. Nó hoàn toàn là nó. Nó không cần cố gắng gì cả. Nó cho phép nó như nó đang là – tươi mát, xanh tốt và vững chãi. Chúng ta có thể hình dung, quán tưởng về núi. Núi rất hùng vĩ và vững chãi để bảo vệ, che chở cho tất cả các loài sinh vật mà không cần gắng sức hay căng thẳng. Thực tập thiền ngồi, chúng ta cũng vững chãi như núi. Chúng ta có thể thực tập như sau:

Thở vào, tôi thấy mình là núi

Thở ra, tôi thấy vững chãi.

Để ngồi thiền thành công, chúng ta phải buông bỏ mọi căng thẳng trên thân thể và trong những cảm thọ của ta. Ngồi cho thật thoải mái. Dù chỉ mới bắt đầu thở vào thở ra là chúng ta đã thấy khỏe nhẹ rồi. Đừng đấu tranh, ngồi cho khỏe và mỉm cười. Có cơ hội được ngồi yên như thế là một ân huệ lớn. Chúng ta là hải đảo tự thân của mình. Lúc này không ai có thể bắt ta làm bất cứ điều gì. Không ai quấy rầy ta, không ai được quyền hỏi ta, nhờ ta đi đâu, không ai nhờ ta rửa nồi hay dọn nhà tắm. Đây là cơ hội quý giá để ta buông thư và thực sự là ta.