Im lặng hùng tráng

 

Đó là sự im lặng xuất phát từ trái tim của chúng ta mà không phải là từ bên ngoài. Nếu chúng ta thực sự im lặng thì dù trong bất kỳ tình huống nào, chúng ta cũng có thể tận hưởng được sự im lặng. Im lặng không có nghĩa là không nói và không làm điều gì gây nên tiếng động mà nghĩa là chúng ta không có sự xáo động bên trong và không độc thoại một mình. Có những lúc ta nghĩ rằng ta đang im lặng và tất cả chung quanh ta cũng đều im lặng nhưng thực ra những câu chuyện vẫn đang tiếp diễn không ngừng trong đầu ta. Đó không phải là im lặng.

Thực tập im lặng hùng tráng không phải là im lặng trong những hoạt động bên ngoài mà là sự yên lặng trong nội tâm. Ngồi ăn với nhiều người trong tăng thân hoặc trong gia đình là một cơ hội để tận hưởng sự im lặng. Ngồi thiền và đi thiền là cơ hội để được im lặng, cũng như khi nghe pháp thoại, nghe một vị giáo thọ chia sẻ lời Bụt dạy cũng là cơ hội để thực tập im lặng. Khi chúng ta có sự yên lặng trong nội tâm thì sự tỉnh thức có thể thấm nhuận vào mảnh đất tâm của chúng ta.

Thực tập

Trong những khóa tu ở các đạo tràng Mai Thôn, có một thời khóa thực tập im lặng hùng tráng được tuân thủ bắt đầu từ khi kết thúc buổi ngồi thiền tối cho đến sau buổi ăn sáng hôm sau. Hãy để sự yên lặng và tĩnh tại thấm vào xương thịt ta, cho năng lượng và chánh niệm của tăng thân đi vào thân tâm ta. Sau buổi ngồi thiền tối, chúng ta thong thả đi về chỗ nghỉ của mình. Ý thức từng bước chân mình đang bước. Thở sâu và thưởng thức sự yên tĩnh, tươi mát của không khí về đêm. Cho dù có một người nào đó đang đi bên cạnh, chúng ta cũng duy trì sự yên lặng của mình vì người này cũng cần sự yểm trợ của ta. Chúng ta cũng có thể ngồi lại một mình ngoài trời với cây cỏ, trăng sao, sau đó vào nhà, đi vệ sinh, thay áo quần và đi ngủ.

Chúng ta có thể nằm xuống, buông thư toàn thân cho đến khi đi vào giấc ngủ. Sáng hôm sau, khi thức dậy, chúng ta đi lại trong chánh niệm, im lặng vào nhà tắm, cho mình có đủ thời gian để quay về với hơi thở và sau đó đi đến thiền đường ngay. Chúng ta không cần phải chờ ai. Khi thấy ai đó trên đường đi, chúng ta chỉ cần chắp tay xá chào, để cho người đó có cơ hội thưởng thức buổi sáng như ta đang thưởng thức.

 

 

Độc cư

 

Bụt đã từng sống với hàng ngàn vị khất sĩ túc trực xung quanh. Bụt cũng đi, cũng ngồi, cũng ăn cơm với những vị nam và nữ khất sĩ khác nhưng Ngài luôn an trú trong sự tĩnh lặng. Trong kinh “Người biết sống một mình” Bụt đã dạy cho ta phương pháp sống một mình. Sống một mình không có nghĩa là không có ai chung quanh, mà nghĩa là an trú vững chãi trong giây phút hiện tại và có ý thức về những gì đang xảy ra trong giây phút ấy. Chúng ta sử dụng chánh niệm để ý thức về những cảm thọ, tri giác trong ta và ý thức về những gì đang xảy ra quanh ta. Chúng ta luôn có mặt cho chính mình và không đánh mất chính mình. Đó là định nghĩa của Bụt về sự thực tập hạnh độc cư lý tưởng: không kẹt vào quá khứ, không mơ tưởng tới tương lai và không bị lôi kéo bởi đám đông, luôn có mặt trọn vẹn, thân tâm hợp nhất và ý thức về những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Nếu không có khả năng sống một mình thì càng ngày ta càng trở nên nghèo nàn hơn. Ta không đủ chất liệu để nuôi dưỡng chính mình cũng như không có gì để hiến tặng cho người khác. Vì thế học cách sống một mình rất quan trọng. Mỗi ngày chúng ta nên dành trọn vẹn một khoảng thời gian nào đó để sống một mình. Vì sống một mình, chúng ta sẽ dễ dàng nhìn sâu và nuôi dưỡng chính mình hơn.

Độc cư không phải là ẩn cư một mình trên núi cao hoặc trong các am cốc trong rừng sâu. Cũng không phải là chạy trốn khỏi xã hội, chạy trốn khỏi các nền văn minh. Độc cư thật sự đến từ một trái tim vững chãi, không bị lôi kéo bởi đám đông, bởi những đau buồn trong quá khứ, bởi những lo lắng về tương lai hay những điều quá khích trong hiện tại. Độc cư là giữ vững chánh niệm để không đánh mất chính mình. Nương vào hơi thở chánh niệm, trở về giây phút hiện tại, đó chính là nương tựa vào hải đảo xinh đẹp và bình an trong mỗi chúng ta.

Độc cư không có nghĩa là ta không có khả năng sống một mình và nhìn sâu khi ta đang ở giữa một nhóm đông người. Ngược lại, dù đang ở nơi họp chợ, chúng ta cũng có thể sống một mình mà không bị lôi kéo bởi đám đông. Ta vẫn là chính ta, cho dù ta đang ở trong một nhóm hội thảo và đang có một cảm xúc tập thể xảy ra. Ta vẫn có thể an trú vững chãi nơi hải đảo tự thân của mình.

Thực tập

Bước đầu tiên là ta ở một mình. Bước thứ hai là trở về với chính mình và sống trong sự độc cư, ngay cả khi ta đang ngồi với những người khác. Sống độc cư không có nghĩa là ta tách mình ra khỏi mọi người. Bởi vì tuy sống một mình nhưng sự thật là ta có thể hòa đồng vào tất cả mọi người, mọi loài. Tôi thấy mình tương quan với bạn vì tôi hoàn toàn là tôi. Rất đơn giản. Để thực sự thấy được sự liên hệ mật thiết giữa mình với thế giới xung quanh, việc đầu tiên là chúng ta phải trở về với chính mình để thấy sự liên hệ mật thiết trong chính tự thân.

Chúng ta có thể ngồi thiền, đi thiền, ăn cơm và làm việc với người khác nhưng luôn nhớ quay về với hải đảo tự thân. Trân quý sự có mặt của nhau trong gia đình, bè bạn mà không bị lôi cuốn và đánh mất mình trong những dòng cảm xúc, tri giác của mọi người. Cộng đồng, tăng thân là nơi nâng đỡ mình. Khi thấy ai đó trong tăng thân hành xử với chánh niệm, nói năng bằng tình thương yêu, vui thích với công việc đang làm là người đó đang nhắc nhở ta quay về với nguồn chánh niệm trong ta và sống nếp sống độc cư.

Khi sống chung với mọi người hoặc với bạn bè quanh mình mà ta không bị đánh mất mình trong những giao tiếp với những người xung quanh thì cho dù đang sống giữa xã hội bận rộn đi nữa, ta cũng có thể thở, cười trong an lạc và an trú vững chãi nơi hải đảo tự thân của mình.

 

 

Viết thư cho người thương

 

Mỗi khi có khó khăn với ai đó, chúng ta nên để ra một ít thời gian để viết thư cho người đó. Chúng ta có thể viết thư cho người mà chúng ta gặp mỗi ngày hoặc viết thư cho người mà đã lâu chúng ta không gặp. Cả hai đều có hiệu quả tốt. Có nhiều người đã nhận thấy được lợi ích trong sự thực tập này khi viết thư cho một người thân đã qua đời. Làm công việc hòa giải là một sự hiến tặng tuyệt vời cho chính bản thân, cho người ta thương và cho cả tổ tiên ta. Chúng ta hòa giải với ba, mẹ trong ta và chúng ta có thể tìm ra một cách khéo léo để hòa giải với ba, mẹ trong gia đình ta. Sẽ không bao giờ quá trễ để mang lại bình an và trị liệu cho gia đình của mình.

Thực tập

Chúng ta hãy để ra ít nhất là ba giờ đồng hồ để viết một lá thư với những lời ái ngữ. Trong khi viết, chúng ta hãy nhìn sâu vào bản chất thực của mối quan hệ giữa ta và người kia. Tại sao sự truyền thông lại trở nên khó khăn như vậy? Tại sao ta không thể hạnh phúc được? Chúng ta có thể tham khảo ví dụ sau đây:

Con trai thương!

Ba biết con đã đau khổ nhiều trong suốt những năm qua và ba đã không giúp gì được cho con. Trái lại, ba đã làm cho tình huống tệ hại hơn. Ba không có ý làm con khổ, con trai ạ. Có lẽ ba không đủ khéo léo. Ba đã áp đặt ý kiến của ba lên con và làm cho con khổ. Trước đây ba nghĩ là con làm cho ba khổ, rằng nỗi khổ của ba chính là do con gây nên. Nhưng bây giờ ba thấy rằng chính ba đã gây nên những nỗi khổ của mình và đã làm cho con khổ. Làm cha mẹ, không ai muốn làm con mình đau khổ cả. Con hãy giúp ba đi. Hãy nói cho ba biết những vụng về của ba từ trước đến nay, để ba sẽ không làm cho con khổ nữa bởi vì nếu con khổ thì ba cũng khổ. Ba cần con giúp đỡ, con thương yêu của ba. Mình phải là một cặp cha con hạnh phúc. Ba quyết tâm làm điều đó. Con nói cho ba biết những gì đang có trong lòng con đi. Ba hứa sẽ cố gắng hết sức để không nói, không làm những điều khiến cho con tổn thương nữa. Con cần phải giúp ba, nếu không, một mình ba không thể làm được. Trước đây, mỗi khi ba khổ, ba muốn trừng phạt con, ba đã nói, đã làm những điều khiến con khổ. Ba nghĩ như thế sẽ làm vơi đi nỗi khổ trong ba, nhưng ba đã lầm. Bây giờ đây, ba thấy bất cứ điều gì mà ba nói hoặc làm cho con khổ thì chính ba cũng khổ theo. Ba quyết tâm không lặp lại chuyện đó nữa. Con giúp ba được không?!

Chúng ta sẽ thấy rằng người vừa viết xong lá thư sẽ không còn là người khi mới bắt đầu viết thư nữa. Bình an, hiểu biết và từ bi đã chuyển hóa chúng ta. Chúng ta có thể thực hiện được một phép lạ trong vòng hai mươi bốn giờ đồng hồ. Đó là sự thực tập nói lời ái ngữ.

 

 

Soi sáng

 

Soi sáng cho một người nghĩa là dùng sự quán sát và tuệ giác của mình để chỉ bày cho người kia thấy được những điểm mạnh, điểm yếu của người đó và đề nghị những cách thức thực tập cụ thể để người đó có thể thực tập tiến bộ hơn. Đây là một sự thực tập quan trọng, có hiệu quả tốt nhất khi chúng ta thực tập đều đặn, có những mối liên hệ thân thiết và tương giao tốt với nhau.

Thực tập

Mỗi người đều xin tăng thân soi sáng cho mình, để giúp mình nhìn lại tự thân rõ ràng hơn – những điểm mạnh, những điểm yếu và phẩm chất tu học của mình. Đây là sự thực tập sâu sắc cho người soi sáng lẫn người được nhận soi sáng. Điều này đòi hỏi phải có sự quán chiếu. Chúng ta cần nhìn vào sư anh, sư chị, sư em của mình và tiếp xúc với những gì ta thực sự trân quý nơi sự thực tập của người ấy. Động lực duy nhất của việc soi sáng là muốn giúp cho người kia chuyển hóa bằng tình thương và lòng từ bi của mình.

Trước khi bắt đầu soi sáng, chúng ta sẽ đọc một bản văn để quán chiếu và thực tập trong buổi soi sáng. Sau đó, người được soi sáng sẽ chắp hai tay lại và xin tăng thân soi sáng cho mình: “Kính bạch đại chúng, xin đại chúng chỉ cho con thấy những điểm mạnh, điểm yếu của con và chỉ cho con cách thức thực tập để sự tu học của con được vững mạnh hơn”. Người đó sẽ tự trình bày sự thực tập mà người đó đã áp dụng trong vài tháng nay: “Kính bạch đại chúng, con có những điểm yếu kém này, những tập khí này… Con đã ý thức, đã sử dụng những phương pháp này để vượt qua và chuyển hóa những tập khí của con… Con đã nắm được phương pháp nhưng chưa thực sự thành công trong việc chuyển hóa điều này, điều kia…” Người đó sẽ thưa với tăng thân những cái thấy của mình về bản thân.

Sau đó, mỗi người trong tăng thân sẽ lần lượt chia sẻ cái thấy của mình về người đó trong khi những người khác thực tập lắng nghe, kể cả người đang xin tăng thân soi sáng.

Chúng ta chỉ thực tập pháp môn này khi chúng ta sống với nhau ít nhất là ba tháng. Sự thực tập này sẽ có hiệu quả hơn khi chúng ta ở với nhau lâu dài. Đầu tiên, chúng ta tưới hoa cho người được nhận soi sáng. Chúng ta nói cho người đó biết về những điểm mạnh, những mặt tích cực và những đức tính tốt của người đó, giúp người đó phát huy những phẩm chất tốt đẹp trong mình. Sau đó, chúng ta nói đến những điểm yếu, những điểm cần chuyển hóa. Chúng ta luôn soi sáng với tình thương, tuệ giác và lòng từ bi. Nhờ sử dụng ái ngữ nên người nghe sẽ không bị tổn thương. Sau cùng, chúng ta đề nghị những phương pháp thực tập mà người đó có thể áp dụng để chuyển hóa tập khí của mình v.v… Những điểm ta đề nghị phải đến từ những kinh nghiệm của chính ta. Nếu chúng ta đã thực tập có kinh nghiệm, đã vượt qua những khó khăn, đã chuyển hóa được tập khí, chúng ta có thể đề nghị những cách thức rất cụ thể giúp người kia chuyển hóa dễ dàng. Những gì chúng ta nói phải gần với sự thật, giúp người đó nhìn lại tự thân rõ ràng hơn. Người đó có thể đón nhận và áp dụng những điều ta đề nghị để làm tăng tiến sự thực tập. Chúng ta không phê bình, chỉ trích mà chỉ nâng đỡ, chia sẻ cách thức thực tập của mình.

Điều quan trọng là phải có một người viết xuống tất cả những điều được chia sẻ trong buổi soi sáng. Một người khác sẽ lấy những ý đó và viết lại thành một bức thư soi sáng. Một lá thư soi sáng phải có ít nhất ba phần. Phần đầu thư soi sáng nói về những điểm tích cực, những điểm mạnh và những phẩm chất tốt đẹp của người được nhận soi sáng. Phần thứ hai của thư soi sáng là đề cập đến những điểm còn yếu kém. Phần thứ ba là những đề nghị thực tập cụ thể giúp người đó cải thiện sự tu học và phẩm chất của cuộc sống. Vì vậy, trong việc soi sáng có rất nhiều tình thương.

Lúc đầu, có thể chúng ta hơi miễn cưỡng. Chúng ta có một chút lo sợ khi có người nói về những điểm yếu của ta, chúng ta thấy không thoải mái, dễ chịu lắm. Nhưng ngay sau đó chúng ta sẽ thấy thích. Chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều và hiểu chính mình hơn sau mỗi buổi soi sáng.

Ngồi trong buổi soi sáng, chúng ta sẽ học được nhiều điều. Mỗi người đều có một cái nhìn riêng. Chúng ta kết hợp cái nhìn của mỗi người thành một cái nhìn chung và gọi đó là “tăng nhãn” (con mắt tăng). Con mắt tăng thì luôn sáng hơn bất kỳ con mắt cá nhân nào. Sử dụng con mắt cá nhân mình để nhìn, có thể chúng ta thấy không rõ ràng lắm. Nhưng nếu kết hợp lại những cái nhìn, những quán sát của ba mươi, bốn mươi, năm mươi người thì sẽ mang chúng ta lại gần sự thật hơn.

Lời quán niệm đọc trước buổi soi sáng

“Khi nhìn anh (chị, em) tôi thấy anh là một dòng chảy mà không thấy một cái ngã riêng biệt để trách móc hay để khen ngợi. Nhìn vào anh tôi thấy tổ tiên, dòng họ, cha mẹ, đất nước và văn hóa của anh, những cái hay cái đẹp và những cái còn chưa được hay, chưa được đẹp. Anh là một biểu hiện nhiệm mầu, một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Tôi thấy tôi trân quý sự có mặt của anh. Và tôi cũng mong anh thấy tôi là một dòng chảy, không phải một cái ngã riêng biệt để trách móc, chê bai hay tán dương khen ngợi. Chúng ta được làm anh chị em của nhau trong tăng thân này, vì vậy tôi có anh trong tôi và anh có tôi trong anh. Chúng ta phải nâng đỡ nhau, khuyến khích nhau làm lớn những cái hay cái đẹp và chuyển hóa những cái chưa hay chưa đẹp. Nếu tôi có nói điều gì để giúp anh chuyển hóa, đó không phải là sự trách móc mà là một ước mong. Nhìn vào tôi, anh cũng thấy những cái vụng về, không toàn hảo nơi tôi và nếu anh có nói điều gì với tôi thì đó cũng không phải là sự chê bai hay trách móc mà chỉ là một ước mong cho tôi chuyển hóa. Anh chuyển hóa thì tôi có hạnh phúc thêm và tôi có chuyển hóa thì anh có hạnh phúc thêm. Chúng ta nâng đỡ nhau trên con đường thực tập. Chúng ta cần nhau. Tôi rất trân quý sự có mặt của anh trong tăng thân này.”

Chăm sóc cơn giận và những cảm xúc mạnh

 

Cơn giận của chúng ta như một đứa trẻ đang khóc đòi mẹ. Khi em bé khóc, người mẹ ẵm em bé lên một cách nhẹ nhàng, lắng nghe em bé và quan sát kỹ lưỡng để tìm ra nguyên nhân vì sao em bé khóc. Chỉ cần ôm em bé vào lòng với tình thương yêu và sự dịu dàng là đã làm dịu đi những khổ đau trong em bé rồi. Cũng vậy, nếu ta ôm ấp cơn giận bằng tình thương yêu thì ngay lập tức ta sẽ thấy lắng dịu. Ta không cần tống khứ cơn giận đi bởi vì cơn giận cũng là một phần của ta, đang cần tình thương và sự lắng nghe sâu như em bé kia. Sau khi em bé dịu xuống, người mẹ có thể nhận ra là em bé đang bị sốt hay em bé cần thay tã. Cũng vậy, khi thân tâm lắng dịu, mát mẻ, ta có thể nhìn sâu vào cơn giận của mình để thấy rõ những điều kiện, nguyên nhân nào làm cơn giận phát sinh.

Sách “Thiền Uyển Tập Anh” có kể về lịch sử các vị thiền sư. Trong đó, có một vị thiền sư nói rằng: “Một vị xuất sĩ không được giận quá một đêm” (Tăng hận bất cách túc). Còn trẻ con Việt Nam thì hay nói là: “Buồn (giận) năm phút!” Chúng ta có quyền giận hay buồn nhưng chỉ năm phút thôi là đủ. Vị thiền sư trong “Thiền Uyển Tập Anh” cho ta được quyền giận cả một đêm, nhưng vào sáng hôm sau, chúng ta phải chấm dứt sự giận hờn của mình.

Nếu chúng ta thực tập có mặt với những cảm xúc mạnh thì năng lượng từ bi và sự quan tâm chăm sóc của ta sẽ làm giảm bớt cường độ hờn giận và buồn phiền trong ta. Mỗi khi có một cơn bão đi qua, chúng ta phải quay về nhà, đóng hết cửa nẻo lại để mưa gió không xâm nhập vào làm hư hoại nhà cửa. Nếu không có điện, chúng ta thắp nến, thắp đèn lên. Nếu trời lạnh, chúng ta nhóm lên một đống lửa hoặc mở sưởi lên. Chúng ta tạo ra một nơi an toàn ấm áp bên trong, trong khi bên ngoài cơn bão vẫn đang ập tới.

Một cảm xúc mạnh cũng giống như một cơn bão, có thể gây ra rất nhiều thiệt hại. Chúng ta phải tìm cách bảo vệ chính mình, tạo ra một môi trường an toàn để trú ẩn và chờ cho cơn bão chấm dứt. Chúng ta không thể ngồi nhìn cơn bão đi qua càn quét hết gia tài của mình. Giữ cho thân tâm an toàn khi có cơn bão ập tới là sự thực tập của chúng ta. Sau mỗi cơn bão, chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ hơn, vững chãi hơn và không bao lâu, chúng ta sẽ không còn sợ giông bão nữa. Chúng ta không cầu cho trời yên biển lặng mà chỉ nguyện cầu cho mình có đủ tuệ giác và sức mạnh để giải quyết những vấn đề khó khăn trong cuộc sống.

Tuy nhiên, chúng ta không chờ đến lúc những cơn bão cảm xúc nổi lên mới bắt đầu thực tập. Chúng ta phải thực tập ngay hôm nay và mỗi ngày từ 5 đến 10 phút. Sau vài ba tuần, chúng ta sẽ nắm được phương pháp thở và khi những cơn bão cảm xúc đến, tự nhiên ta sẽ nhớ thực tập ngay.

Thực tập

Có mặt với cơn giận

Khi ta giận, cách tốt nhất là đừng nói gì và làm gì cả. Đừng để ý đến người hoặc tình huống đang tưới tẩm hạt giống giận hờn trong ta. Thay vào đó, chúng ta trở về với chính mình. Thực tập hơi thở ý thức và đi thiền hành ngoài trời để làm lắng dịu thân tâm, làm cho thân tâm tươi tỉnh trở lại. Sau khi thấy lắng dịu, thư thái, chúng ta có thể nhìn sâu vào chính mình, vào người làm mình giận và vào tình huống gây ra cơn giận của mình. Thông thường, khi chúng ta có khó khăn với một người nào đó, có thể là do người đó có những đặc điểm, tính cách phản ảnh lại những yếu kém của ta khiến ta khó chấp nhận. Khi ta biết nuôi lớn tình thương, biết chấp nhận chính mình thì tự nhiên ta sẽ biết thương yêu và chấp nhận người khác.

Khi giận, chúng ta nên đi thiền hành. Chúng ta có thể đọc thầm những câu sau:

Thở vào, tôi biết cơn giận đang có trong tôi.

Thở ra, tôi biết đây là một cảm thọ không dễ chịu.

Và sau khi đã đi thiền hành một lát:

Thở vào, tôi thấy lắng dịu

Thở ra, bây giờ tôi cảm thấy đủ mạnh để chăm sóc cơn giận của tôi.

Chúng ta chỉ theo dõi hơi thở, đi thiền hành cho an và thưởng thức những cảnh đẹp bên ngoài cho đến khi ta cảm thấy đủ bình tĩnh để nhìn thẳng vào cơn giận. Một lát sau, cơn giận sẽ lắng xuống và chúng ta thấy đủ mạnh để nhìn thẳng vào nó, tìm hiểu những nguyên nhân gây ra nó và bắt đầu công trình chuyển hóa của ta.

Nếu khi ngồi thiền mà cơn giận vẫn còn đó, chúng ta có thể quán chiếu về bài thi kệ sau:

Giận nhau trong bản môn

Nhắm mắt nhìn mai sau

Trong ba trăm năm nữa

Em đâu và tôi đâu?

Đây là tuệ giác vô thường. Khi giận một người nào đó, ta muốn trừng phạt người đó cho hả giận. Đó là khuynh hướng tự nhiên. Nhưng nếu nhắm mắt lại và quán tưởng về mình và người thương của mình trong ba trăm năm sau, ta sẽ đạt được tuệ giác vô thường. Chỉ với một hơi thở vào và một hơi thở ra là đủ để chúng ta đạt tới tuệ giác này. Khi mở mắt ra, chúng ta chỉ còn muốn làm một việc duy nhất, là mở rộng vòng tay và ôm người đó vào lòng. Đó là điều duy nhất đáng làm, trân quý sự có mặt của người đó vì sự thật vô thường. Chỉ khi nào chúng ta đánh mất ý thức về vô thường, chúng ta mới nổi giận.

Chúng ta đau khổ không phải vì sự vật vô thường mà vì sự vật là vô thường mà ta cho là thường. Điều này rất quan trọng. Vì vậy chúng ta phải thực tập hơi thở chánh niệm để đạt được tuệ giác vô thường và sống được với tuệ giác ấy. Sau đó chúng ta sẽ biết điều gì nên làm và điều gì không nên làm để cho cuộc sống thú vị hơn. Nhìn vào một bông hoa, một cụm mây, một con người, chúng ta có thể tiếp xúc được với tự tính vô thường. Vô thường quan trọng như thế nào? Không có vô thường thì không có gì có thể có được. Đừng phàn nàn về vô thường. Nếu mọi sự mọi vật không vô thường, làm sao hạt bắp có thể trở thành cây bắp? Làm sao con cái ta trưởng thành? Vô thường là nền tảng của sự sống. Tuy nhiên, dù ta sống với thực tại vô thường mỗi ngày, ta cũng phủ nhận nó. Khi thực tập nhìn sâu vào lòng sự vật, ta có thể khám phá ra bản chất của vô thường và làm cho nó trở thành một tuệ giác linh động mà ta có thể mang theo trong mỗi phút giây của cuộc sống hằng ngày.

Thực tập với những cảm xúc mạnh (1)

Mỗi khi nỗi buồn, cơn giận hay thất vọng đi lên trong ta, ta phải có khả năng xử lý chúng. Bởi vì giận hờn, thất vọng là một phần của ta. Đừng đấu tranh hay phản kháng lại, bởi vì làm như vậy là ta đang tiếp tay cho một hành động bạo động chống lại chính mình. Mỗi lần cơn bão cảm xúc mạnh nổi lên, ta ngồi yên lặng, giữ lưng thẳng, quay về với hơi thở, quay về với tự thân và đóng tất cả những cánh cửa giác quan lại.

Chúng ta có sáu giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đừng nhìn, đừng nghe, đừng suy nghĩ về những điều mà ta tin đó là nguồn gốc gây ra đau khổ cho ta, như một câu nói, một lá thư, một hành động, một tin tức… Hãy trở về với chính mình, nắm lấy hơi thở và theo sát từng hơi thở vào ra. Giống như một vị thuyền trưởng giữ chặt bánh lái con tàu đang tròng trành trên sóng nước. Hơi thở chánh niệm là cái neo, là bánh lái, là cột buồm.

Thở một hơi dài, để toàn bộ sự chú tâm vào hơi thở vào ra. Chú ý vào phần bụng dưới, thấy bụng phồng lên khi thở vào và xẹp xuống khi thở ra. Tập trung tâm ý vào đan điền, đừng để nó lang thang lên đầu. Dừng lại mọi suy nghĩ, chỉ theo dõi một cách sát sao hơi thở của mình. Hãy nhắc nhở chính mình là: “Ta đã đi qua nhiều cơn bão. Cơn bão nào cũng đều phải đi qua, không có cơn bão nào ở lại mãi mãi. Tình trạng này của tâm cũng phải đi qua. Tất cả đều vô thường. Cơn bão chỉ là cơn bão. Ta không chỉ là cơn bão. Ta có thể tìm thấy an toàn trong cơn bão. Ta sẽ không để cho cơn bão tàn hại ta.” Thấy được như vậy, nhớ thực tập như vậy là ta đã bắt đầu làm chủ được chính mình và không còn là nạn nhân của cơn bão cảm xúc nữa.

Nhìn vào một ngọn cây đang quằn quại trong giông bão, ta có cảm giác cái cây đó sẽ bị ngã đổ, trốc gốc bất cứ lúc nào. Nhưng nếu nhìn xuống thân cây hoặc gốc cây, chúng ta biết rằng cây đó có rất nhiều rễ bám sâu vào lòng đất. Ta sẽ thấy nhẹ nhõm. Ta biết rằng cây đó sẽ đứng vững mạnh. “Đan điền” là một huyệt dưới rốn, là gốc của cái cây. Ta hãy đem sự chú tâm vào đan điền, đừng để những suy nghĩ, những cái nhìn, cái nghe đẩy ta lên ngọn cây. Thực tập thở như vậy trong năm, mười hoặc mười lăm phút, chú tâm vào hơi thở, vào đan điền và để những cảm xúc đi qua. Khi cơn bão cảm xúc đã đi qua, ta biết rằng ta có khả năng bảo vệ chính mình, có khả năng làm chủ những cơn bão cảm xúc trong ta. Ta có niềm tin nơi chính mình và không còn sợ hãi nữa. Chúng ta có nhiều cách để bảo vệ chính mình mỗi khi cơn bão cảm xúc xảy đến. Và như vậy, chúng ta sẽ có rất nhiều bình an.

Thực tập với những cảm xúc mạnh (2)

Nếu đang trải qua một giai đoạn khó khăn trong đời thì chúng ta cần phải làm lớn mạnh lên hạnh phúc trong ta trước khi giải quyết những thách thức đó. Nhưng thực tế thì chúng ta làm ngược lại. Vì vậy, bắt đầu nuôi dưỡng hạnh phúc cho chính mình là nền tảng để giải quyết những nỗi khổ đau trong ta.

Chúng ta có thể áp dụng bài tập sau đây. Ngồi tĩnh lặng ở một nơi yên vắng nào đó và ý thức về hơi thở của mình. Sử dụng bài thiền tập đầu tiên để chế tác niềm hỷ lạc trong ta. Sau đó, thực tập bài tập thứ hai để lấy lại dũng khí, chuyển hóa khổ đau.

  1. Thở vào, tôi ý thức về sự an vui trong tôi.

Thở ra, tôi mỉm cười với sự an vui trong tôi.

Thở vào, tôi ý thức về hạnh phúc trong tôi.

Thở ra, tôi mỉm cười với niềm hạnh phúc trong tôi.

  1. Thở vào, tôi ý thức về những khổ thọ đang có trong tôi.

Thở ra, tôi buông bỏ những căng thẳng do khổ thọ gây nên trong tôi.

Sử dụng ái ngữ và lắng nghe sâu

 

Khi truyền thông bị cắt đứt hay bị bế tắc, chúng ta khổ đau. Khi không có ai lắng nghe và hiểu ta, ta sẽ trở thành một trái bom sắp nổ. Lắng nghe với tâm từ bi mang đến cho ta nhiều trị liệu. Đôi khi, chỉ cần mười phút lắng nghe sâu là chúng ta có thể được chuyển hóa và có lại nụ cười trên môi.

Trong gia đình chúng ta, nhiều người đã đánh mất khả năng lắng nghe và nói lời ái ngữ. Vì vậy, ngay cả khi ở trong gia đình, ta vẫn cảm thấy rất đơn độc. Chúng ta tìm đến bác sĩ tâm lý trị liệu, hy vọng họ có thể lắng nghe mình. Nhưng nhiều nhà tâm lý trị liệu cũng có những đau khổ cùng cực trong lòng. Đôi khi họ không thể lắng nghe ta một cách sâu sắc như ta mong muốn. Vì thế, nếu thực sự thương ai đó, chúng ta cần luyện tập để trở thành một người biết lắng nghe sâu.

Chúng ta cũng cần luyện tập để nói cho được những lời nói ái ngữ. Chúng ta đã đánh mất khả năng nói chuyện nhã nhặn, ôn hòa. Chúng ta dễ cáu kỉnh, bực bội. Mỗi lần mở miệng, lời nói của ta trở nên chua chát, đắng cay. Chúng ta đã đánh mất khả năng nói chuyện từ tốn, dễ thương. Không có khả năng này, chúng ta không thể thành công được trong việc tái lập lại sự hòa hợp, thương yêu và hạnh phúc.

Trong truyền thống đạo Bụt, có những vị Bồ Tát có trí tuệ và từ bi lớn, nguyện ở lại trái đất này để làm vơi bớt khổ đau của muôn loài. Một trong số đó là Bồ Tát Quan Thế Âm, còn được gọi là Quán Tự Tại, là người có khả năng lắng nghe siêu việt với lòng từ bi và với sự có mặt đích thật của mình. Bồ Tát Quán Tự Tại có thể lắng nghe và hiểu được những âm thanh của thế gian, hiểu được những tiếng kêu đau thương của muôn loài.

Thực tập

Chúng ta thở chánh niệm để lòng từ bi luôn luôn có mặt trong ta. Chúng ta lắng nghe mà không đưa ra một lời khuyên bảo hay phê bình nào. Chúng ta có thể tự nói với mình rằng: “Tôi đang lắng nghe anh chỉ vì tôi muốn làm vơi bớt những đau khổ trong anh.” Đó gọi là lắng nghe với tâm từ bi. Chúng ta phải nghe như thế nào để lòng từ bi có mặt với ta trong suốt thời gian lắng nghe. Đó là một nghệ thuật. Nếu đang nghe nửa chừng mà sự bực tức và giận dỗi nổi lên thì ta không thể tiếp tục lắng nghe được. Chúng ta phải thực tập như thế nào để mỗi lần năng lượng bực bội, giận hờn trỗi dậy, ta có thể trở về với hơi thở chánh niệm và tiếp tục giữ được lòng từ bi trong ta. Chính nhờ lòng từ bi mà ta có thể lắng nghe người khác. Cho dù người kia có nói bất cứ điều gì, nhìn nhận sự việc không công bằng, hay người đó có kết án, đổ lỗi cho ta, ta vẫn tiếp tục ngồi yên và theo dõi hơi thở.

Nếu thấy mình không thể tiếp tục ngồi nghe như vậy, hãy cho người kia biết. Chúng ta có thể nói: “Chị ơi (anh ơi), mình có thể tiếp tục nói chuyện này vào một ngày khác không? Em cần làm mới chính mình. Em cần thực tập thêm để có thể lắng nghe chị (lắng nghe anh) bằng cách hay nhất mà em có thể.” Nếu không đủ sức, chúng ta không thể lắng nghe người đó. Chúng ta cần thực tập thiền hành nhiều hơn, thực tập hơi thở chánh niệm nhiều hơn và ngồi thiền nhiều hơn để phục hồi lại khả năng lắng nghe với tâm từ bi của mình.

 

 

Thiền ôm

 

Khi chúng ta ôm nhau, trái tim ta sẽ mở ra và thấy được sự liên hệ mật thiết giữa mình và mọi người, chúng ta biết rằng chúng ta không phải là những thực thể riêng biệt. Ôm trong chánh niệm, chánh định có thể mang lại cho ta sự hòa giải, trị liệu, cảm thông và hạnh phúc. Thực tập thiền ôm đã giúp rất nhiều người hòa giải được với nhau như: hai cha con, hai mẹ con, hai người bạn và nhiều người khác nữa.

Thực tập

Chúng ta có thể thực tập thiền ôm với bạn mình, với con mình, với cha, mẹ, vợ, chồng, hoặc với một thân cây. Đầu tiên, chúng ta xá nhau và nhận diện sự có mặt của người kia. Nhắm mắt lại, thở một hơi thật sâu, quán tưởng mình và người thương của mình trong 300 năm sau. Sau đó ta có thể thực tập ba hơi thở có ý thức để đưa mình trở về với giây phút hiện tại, có mặt một trăm phần trăm. Thực tập hơi thở ý thức để đưa tuệ giác vô thường vào sự sống. “Thở vào, tôi biết rằng trong giờ phút này, sự sống thật quý giá. Thở ra, tôi trân quý phút giây này của sự sống.” Mỉm cười với người đứng trước mặt mình, cho người đó biết mình muốn được ôm người đó trong tay. Đây vừa là một sự thực tập vừa là một nghi lễ. Khi chúng ta hợp nhất thân tâm để có mặt trọn vẹn, để thật sự sống thì đó là một nghi lễ.

Khi uống một ly nước, tôi để 100% con người tôi vào việc uống nước. Chúng ta nên tập luyện để sống mỗi giây phút trong đời sống hàng ngày của mình như vậy. Thiền ôm là một sự thực tập sâu sắc. Chúng ta cần có mặt trọn vẹn để thực tập cho có hiệu quả.

Kế đó, chúng ta mở rộng vòng tay và ôm người đó vào lòng. Ôm nhau trong ba hơi thở vào – ra. Với hơi thở thứ nhất, chúng ta ý thức rằng chúng ta đang có mặt trong giây phút này và chúng ta rất hạnh phúc. Với hơi thở thứ hai, chúng ta ý thức rằng người kia cũng đang có mặt trong giây phút này và người đó cũng rất hạnh phúc. Với hơi thở thứ ba, chúng ta ý thức rằng cả hai người đang cùng có mặt ở đây, ngay bây giờ trên mặt đất này, chúng ta cảm được một niềm biết ơn sâu xa và vô cùng hạnh phúc là chúng ta đang có mặt cho nhau. Sau đó, ta buông người kia ra và xá nhau để bày tỏ niềm biết ơn của mình.

Chúng ta cũng có thể thực tập như sau: trong hơi thở vào – ra đầu tiên, chúng ta ý thức rằng ta và người thương của ta đều đang còn sống. Trong hơi thở vào – ra thứ hai, hãy nghĩ đến 300 năm sau, ta và người thương của ta sẽ ở đâu. Và trong hơi thở vào ra – thứ ba, ta trở về với tuệ giác rằng cả hai đều đang còn sống.

Thực tập thiền ôm như vậy, người kia sẽ trở nên có thực và sống thực. Chúng ta không cần đợi đến khi một trong hai người đi xa mới thực tập thiền ôm, chúng ta có thể thực tập thiền ôm ngay bây giờ để tiếp nhận sự ấm áp và vững chãi của người ta thương trong giây phút hiện tại. Thiền ôm có thể là một sự thực tập hòa giải sâu sắc.

Suốt những giây phút ôm nhau trong im lặng, chúng ta cũng có thể gởi đi một thông điệp: “Em, em yêu quý của anh! Anh xin lỗi là đã không chánh niệm và không chu đáo. Anh đã phạm nhiều lỗi lầm. Hãy cho anh cơ hội để làm mới trở lại!”

Sự sống trở nên thật ở giây phút đó. Những kiến trúc sư cần xây dựng sân bay và nhà ga đủ rộng để có chỗ thực tập thiền ôm. Nếu thực tập thiền ôm sâu sắc thì hạnh phúc của ta cũng lớn hơn.

 

 

Đệ nhị thân

 

Trong một tăng thân hoặc một gia đình lớn, khó để biết được những gì đang xảy ra cho tất cả mọi người. Vì vậy, ở Làng Mai, chúng ta chế tác ra một pháp môn thực tập để xây dựng tăng thân, gọi là đệ nhị thân. Chính bản thân mình được gọi là “thân thứ nhất” và một người khác trong tăng thân hoặc trong gia đình là “thân thứ hai” (đệ nhị thân). Đệ nhị thân của ta sẽ chọn một người khác làm đệ nhị thân của người ấy và cứ thế tiếp tục cho đến người cuối cùng. Người cuối cùng sẽ chọn người thứ nhất. Như vậy, mỗi người đều có một người để chăm sóc và mỗi người cũng đều được chăm sóc bởi một người khác.

Chăm sóc nghĩa là quan tâm và giúp đỡ đệ nhị thân của mình khi người đó bị bệnh, bị mệt mỏi vì làm việc quá sức hay bị phiền não quấy rầy trong tâm. Ví dụ như khi đi du lịch chung với nhau, chúng ta có trách nhiệm kiểm tra đệ nhị thân của mình để người ấy không bị bỏ lại. Khi tinh thần của đệ nhị thân sa sút, chúng ta phải tìm cách nâng đỡ. Khi đệ nhị thân của mình không vui, không thể cười nổi, chúng ta để tâm giúp cho người đó vui cười trở lại. Khi đệ nhị thân bị cảm, chúng ta có thể mang thức ăn và thuốc men đến cho người đó. Ở các đạo tràng Mai Thôn đều thực tập pháp môn đệ nhị thân, điều này đã nâng cao phẩm chất hạnh phúc khi sống chung với nhau. Mặc dù chăm sóc cho một người, nhưng bằng cách này chúng ta thấy được mình tương quan với tất cả mọi người trong tăng thân. Trong một gia đình đông người, thực tập pháp môn đệ nhị thân cũng đem lại kết quả tương tự.

Thực tập

Thân thứ nhất của ta chính là ta. Thân thứ hai (đệ nhị thân) của ta là một người khác mà ta sẽ chăm sóc như một thân rộng lớn hơn. Nếu bạn là đệ nhị thân của tôi, thì tôi là Người Chăm Sóc bạn. Mỗi người đều chọn một người để làm đệ nhị thân của mình. Người thứ nhất chọn người thứ hai làm đệ nhị thân, người thứ hai chọn người thứ ba làm đệ nhị thân và cứ tiếp tục như thế cho đến người cuối cùng. Người cuối cùng sẽ chọn người thứ nhất làm đệ nhị thân. Như vậy sẽ hình thành một vòng tròn đệ nhị thân. Chúng ta phải thấy mình tương quan với đệ nhị thân của mình như thể người kia là một phần của cơ thể mình mà mình muốn quan tâm và chăm sóc. Vì vậy, nếu đệ nhị thân của mình không khỏe thì chúng ta phải tìm cách làm thế nào để giúp đỡ người ấy như mang thức ăn cho người ấy, báo cho tăng thân biết là đệ nhị thân của mình bị bệnh. Nếu thấy đệ nhị thân của mình không hạnh phúc như trước thì chúng ta cần quan tâm, chăm sóc, hỏi han và quán chiếu để tìm cách giúp đỡ. Nếu cần vắng mặt trong các buổi sinh hoạt, chúng ta cũng phải cho người chăm sóc mình biết.

Người chăm sóc mình không phải là một nhân viên cảnh sát canh gác, theo dõi tất cả các sinh hoạt của mình. Trái lại, người đó quan tâm, chăm sóc đặc biệt cho mình. Đến lượt mình cũng quan tâm, chăm sóc đặc biệt cho đệ nhị thân. Nên nhớ rằng mỗi người đều có những nhu cầu khác nhau, vì vậy chúng ta phải nhạy bén và thông minh để biểu lộ sự quan tâm của mình. Đôi lúc, chúng ta cần ân cần hỏi han tử tế, nhưng có khi, an trú nơi hải đảo tự thân với hơi thở ý thức lại là một sự nâng đỡ, yểm trợ tốt nhất cho đệ nhị thân của mình.

Chăm sóc đệ nhị thân là sự thực tập rất cụ thể giúp chúng ta có liên hệ mật thiết với nhau và nhận ra rằng chúng ta thực sự là những bộ phận của cùng một cơ thể. Mỗi người trong tăng thân đều có một đệ nhị thân. Như vậy, người mà đệ nhị thân của mình đang chăm sóc sẽ là “thân thứ ba” (đệ tam thân) của mình. Cứ như vậy, bằng cách chăm sóc cho đệ nhị thân, chúng ta sẽ chăm sóc cho toàn thể đại chúng.

 

 

Hiệp ước sống chung an lạc

 

Giả sử có một người bạn hoặc một đồng nghiệp nói điều gì đó không hay làm ta bị tổn thương. Nếu ta trả lời lại ngay lập tức thì tình trạng có nguy cơ trở nên tệ hơn. Thay vào đó, ta theo dõi hơi thở để làm lắng dịu và an tịnh thân tâm. Khi thân tâm an tịnh, ta có thể nói: “Này anh, những lời anh nói làm em thấy bị tổn thương. Em muốn nhìn sâu vào điều này và em cũng muốn anh nhìn sâu vào nó”. Sau đó chúng ta sẽ hẹn một ngày khác trong tuần để cùng nhìn lại việc này. Một người biết nhìn vào gốc rễ của khổ đau là đã tốt rồi, nhưng nếu cả hai người nhìn lại thì tốt hơn. Và nếu cả hai người cùng nhìn chung với nhau thì sẽ là tốt nhất.

Có thể bên trong chúng ta đang có một trận chiến, chúng ta đang làm thương tổn thân thể mình bằng rượu và các chất ma túy. Giờ đây, chúng ta có cơ hội để ký một hiệp ước với thân thể ta, với những cảm thọ, cảm xúc trong ta. Mỗi khi ký một hiệp ước sống chung an lạc là chúng ta bắt đầu có an lạc, có khả năng hòa giải được với những người thương của ta. Nếu trong ta có xung đột, chiến tranh thì với người thương của ta, ta cũng dễ dàng gây chiến, nói chi đến kẻ thù. Cách chúng ta nói năng và hành xử cho thấy là ta đang đối xử với nhau như thế nào, như những người thương hay như kẻ thù. Nếu người thương của ta là kẻ thù của ta thì làm sao hy vọng có hòa bình an lạc trên đất nước và trên thế giới này?

Tất cả chúng ta đều có những hạt giống của tuệ giác. Chúng ta biết rằng trừng phạt sẽ không đi đến đâu cả, ấy vậy mà chúng ta vẫn luôn cố trừng phạt nhau. Khi người thương của ta nói hoặc làm điều gì đó khiến ta đau khổ thì ta muốn trừng phạt người đó, bởi vì ta tin rằng trừng phạt người đó, ta sẽ khuây khỏa, nhẹ nhàng. Có những lúc tỉnh táo, sáng suốt, ta biết rằng điều đó thật trẻ con và ngu dại, bởi vì ta đã làm cho những người ta thương đau khổ, tới lượt người ấy cũng sẽ trừng phạt lại ta cho hả dạ, và như vậy sự trừng phạt sẽ leo thang.

Hiệp ước sống chung an lạcMẫu giấy nhắn tin là hai phương tiện giúp ta trị liệu những cơn giận, những thương tổn trong ta và trong người kia. Khi ký hiệp ước sống chung an lạc, chúng ta không chỉ tạo nên an lạc với người khác mà còn tạo nên an lạc cho tự thân.

Thực tập

Văn bản Hiệp ước sống chung an lạc chỉ thật sự có ích nếu chúng ta thực sự ký giao kèo với nó mà không phải chỉ đọc nó. Trong hiệp ước đề nghị lấy tối thứ Sáu làm buổi tối hòa giải. (Nếu chúng ta bắt đầu có sự xung đột vào ngày thứ sáu thì chúng ta có thể chọn tối thứ Sáu tuần sau làm tối hòa giải). Chúng ta cũng có thể chọn bất kỳ buổi tối nào làm tối hòa giải. Tuy nhiên, hiệp ước đề nghị vào tối thứ Sáu có hai lý do. Thứ nhất, nếu chúng ta còn đau khổ, còn thấy bị tổn thương mà chúng ta đàm luận ngay thì rất nguy hiểm. Chúng ta có thể nói những điều làm cho tình trạng tồi tệ hơn. Từ bây giờ cho đến tối thứ Sáu, ta và người kia có thể thực tập nhìn sâu vào bản chất nỗi khổ đau. Trong khi lái xe, ta cũng có cơ hội để nhìn sâu vào nó. Trước tối thứ Sáu, một trong hai người, hoặc cả hai người có thể nhìn thấy được nguồn gốc của vấn đề và có thể nói chuyện với người kia, xin lỗi người kia. Sau đó vào tối thứ Sáu, hai người có thể uống trà chung với nhau, có mặt cho nhau và trân quý sự có mặt của nhau. Đó là thiền tập. Thiền là để an định chính mình và nhìn sâu vào bản chất của nỗi khổ niềm đau.

Nếu gần đến tối thứ Sáu mà nỗi khổ đau vẫn chưa được chuyển hóa, chúng ta có thể thực tập nghệ thuật lắng nghe của Bồ Tát Quan Thế Âm: một người bày tỏ những nỗi niềm của mình trong khi người kia hết lòng lắng nghe. Khi nói, chúng ta nói ra những sự thật sâu sắc nhất bằng lời nói ái ngữ để người kia có thể hiểu và chấp nhận được. Trong khi lắng nghe, chúng ta phải ý thức rằng việc lắng nghe của ta phải có phẩm chất để làm vơi đi nỗi khổ đau trong người kia. Lý do thứ hai chờ đến tối thứ Sáu là nếu chúng ta hòa giải được vào tối thứ Sáu thì ta có ngày thứ Bảy và Chủ nhật để có mặt cho nhau, hết lòng với nhau.

HIỆP ƯỚC SỐNG CHUNG AN LẠC

Để sống hạnh phúc chung với nhau lâu dài, để tiếp tục xây dựng tình thương và hiểu biết, chúng con, những người ký tên dưới đây, xin nguyện cam kết và thực tập theo đúng những đề mục sau đây:

Con, người đang chịu đau khổ vì hờn giận, xin cam kết:

  1. Không nói, không làm bất cứ điều gì có thể tạo thêm đổ vỡ và làm cho cơn giận của hai bên lớn thêm.
  2. Không đè nén cơn giận xuống mà cũng không đàn áp cơn giận của mình.
  3. Nắm lấy hơi thở, thực tập hơi thở chánh niệm, quay về nương tựa hải đảo tự thân.
  4. Cho người kia biết một cách bình tĩnh là mình đang giận và đang khổ, trong thời hạn tối đa là 24 giờ đồng hồ.
  5. Bình tĩnh xin hẹn gặp người kia vào tối thứ Sáu để cùng nhìn lại vấn đề rõ hơn.
  6. Nếu chưa được bình tĩnh để nói thẳng thì có thể điền vào mẫu giấy nhắn tin (gọi là giấy hẹn, mẫu đính kèm sau đây) và đưa cho người kia.
  7. Đừng tự ái mà nói: “Tôi đâu có giận. Có sao đâu. Tôi đâu có khổ gì đâu. Có gì đâu mà giận. Không có gì đáng cho tôi giận cả.”
  8. Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, lái xe hoặc làm việc… thực tập hơi thở chánh niệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:
  9. Đôi lúc tôi cũng thiếu chánh niệm, thiếu khéo léo.
  10. Tôi đã làm cho người kia buồn khổ nhiều lần vì tập khí của tôi.
  11. Hạt giống của giận hờn trong tôi là nguyên nhân chính làm tôi đau khổ.
  12. Người kia chỉ là người tưới tẩm hạt giống giận hờn trong tôi.
  13. Người kia cũng đang đau khổ cho nên mới làm như vậy.
  14. Chừng nào người kia còn khổ, chừng ấy tôi vẫn chưa có được an lành và hạnh phúc.
  15. Nếu thấy được sự vụng về và thiếu chánh niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi người kia ngay, đừng đợi đến chiều thứ Sáu.
  16. Nếu đến tối thứ Sáu mà còn chưa đủ bình tĩnh thì xin dời hẹn đến thứ Sáu tuần sau.

Con, người có trách nhiệm về việc làm người kia giận hờn:

  1. Thấy người kia giận, đừng chế nhạo. Phải tôn trọng cảm thọ của người ấy và để cho người ấy đủ thời gian lấy lại sự bình an.
  2. Đừng ép người kia phải giãi bày liền về cơn giận của người ấy.
  3. Bằng lời nói hoặc viết lên một mẫu giấy nói với người kia là mình đã nghe hoặc đã biết người kia giận và hứa với người kia rằng mình sẽ có mặt vào chiều thứ Sáu.
  4. Trong khi đi, đứng, nằm, ngồi, lái xe hoặc làm việc… thực tập hơi thở chánh niệm và quán chiếu sâu sắc để thấy:
  5. Trong tôi cũng có những hạt giống của sự không dễ thương, của bực bội và giận hờn.
  6. Tập khí trong tôi đã có nhiều phen gây ra đau khổ cho người kia.
  7. Tôi tưởng làm cho người kia khổ thì tôi sẽ bớt khổ nhưng tôi đã lầm.
  8. Làm cho người kia khổ, tôi cũng làm cho tôi khổ theo.
  9. Nếu thấy được sự vụng về và thiếu chánh niệm của mình, hãy tìm cách xin lỗi người kia ngay, đừng đợi đến chiều thứ Sáu. Xin lỗi mà đừng tìm cách biện bạch.

Trước sự chứng minh của đức Thế Tôn và với niệm lực của tăng thân, chúng con xin nguyện tuân theo những đề mục của hiệp ước này và thực tập hết lòng. Cầu xin Tam Bảo gia hộ cho chúng con có đủ niềm tin và sự sáng suốt.

Hiệp ước làm tại…… ngày…… tháng…… năm…..

Các đương sự: ………………………………………………..

Thực tập

Chúng ta có thể sử dụng Mẫu giấy nhắn tin kèm với Hiệp ước sống chung an lạc, photo sẵn trong nhà để khi cần là có để sử dụng.

“Mẫu giấy nhắn tin” như sau:

Ngày:

Giờ:

……… thương mến!

Sáng nay (chiều nay) anh đã nói những điều làm cho em rất giận và em rất khổ đau. Em muốn anh biết điều này. Anh đã nói: “……….”

Xin anh hãy cùng em nhìn lại những gì anh đã nói và chúng ta cùng ngồi lại với nhau một cách cởi mở, bình tĩnh để hiểu rõ hơn vấn đề này vào tối thứ Sáu.

Làm mới

 

Làm mới là nhìn thật sâu vào chính mình, vào những hành động, lời nói, suy nghĩ của mình trong quá khứ để sửa đổi, để bắt đầu lại một sự mới mẻ trong ta và trong mối liên hệ giữa ta với những người khác. Chúng ta làm mới là để làm cho thân tâm thanh tịnh và giữ cho sự thực tập của chúng ta luôn tươi mới. Nếu chúng ta có khó khăn với ai đó, ta hoặc người kia buồn giận, khổ đau thì chúng ta biết đây là lúc để thực tập làm mới.

Làm mới giúp ta phát triển khả năng nói lời ái ngữ và lắng nghe sâu với tâm từ bi, vì đó là sự thực tập công nhận và trân quý những yếu tố lành mạnh tích cực trong tăng thân. Công nhận những điểm tích cực của người khác giúp ta thấy được những phẩm chất tốt đẹp của chính mình. Bên cạnh những điểm tốt, mỗi chúng ta ai cũng có những yếu kém như vung vãi sự giận dữ lên người khác hoặc bị kẹt vào những tri giác sai lầm của mình. Cũng giống như trong một khu vườn, khi ta chăm sóc, tưới tẩm những đóa hoa từ bi thì đồng thời ta cũng lấy đi được cái năng lượng cỏ dại của giận dữ, ganh tị, đố kị và hiểu lầm trong ta.

Chúng ta có thể thực tập làm mới mỗi ngày bằng cách bày tỏ sự trân quý của ta đối với mọi người trong tăng thân và xin lỗi ngay nếu chúng ta nói hoặc làm điều gì đó đau lòng người khác. Chúng ta cũng có thể khéo léo, nhã nhặn cho người khác biết là chúng ta đang bị tổn thương. Sức khỏe, hạnh phúc của tăng thân tùy thuộc vào sự hòa hợp và niềm an vui của mọi người.

Thực tập

Ở Làng Mai, chúng ta thực tập làm mới mỗi tuần. Mọi người ngồi lại với nhau thành một vòng tròn, ở giữa có một bình hoa tươi. Chúng ta theo dõi hơi thở trong khi chờ vị chủ tọa bắt đầu. Làm mới có ba bước: thứ nhất là tưới hoa, thứ hai là bày tỏ sự hối tiếc, thứ ba là nói lên những niềm đau và khó khăn của mình. Sự thực tập này giúp ngăn chặn tình trạng khổ đau chồng chất từ tuần này sang tuần khác và tạo ra một không khí hòa hợp cho mọi người trong tăng thân.

Khi có ai đó đã sẵn sàng làm mới, người ấy chắp tay lên, những người khác cũng chắp tay đáp lại tỏ ý là mọi người đã sẵn sàng lắng nghe và người kia có thể chia sẻ. Sau đó người ấy đứng dậy, từ từ đi đến bình hoa, nâng bình hoa lên và trở về chỗ ngồi của mình. Khi nói, những lời nói của người kia chứa đựng sự tươi mát, đẹp đẽ của những bông hoa trong tay người ấy. Chúng ta bắt đầu phần làm mới bằng cách tưới hoa. Trong suốt thời gian tưới hoa, người ấy công nhận những phẩm chất hiền thiện, quý giá của những người khác. Đây không phải là tâng bốc mà là sự thật. Mỗi người ai cũng có những điểm mạnh, chỉ cần ý thức là ta có thể thấy được điều đó. Không ai được cắt ngang lời người đang chia sẻ (người đang giữ bình hoa). Mọi người phải thực tập lắng nghe sâu và cho phép người ấy có đủ thời gian để nói ra những gì người ấy cần nói. Khi nói xong, người ấy đứng dậy, từ từ mang bình hoa trả lại giữa vòng tròn.

Chúng ta không nên xem thường bước tưới hoa đầu tiên này. Khi thật sự công nhận những phẩm chất tốt đẹp của người kia thì chúng ta dễ dàng buông bỏ những trách móc, giận hờn trong ta. Tự nhiên ta sẽ mềm ra và cái nhìn của ta trở nên thoáng rộng hơn. Ta có khả năng ôm ấp, chấp nhận, bao dung được tất cả những gì đang xảy ra. Khi không còn bị kẹt vào những tri giác sai lầm, bực dọc và phán xét, chúng ta có thể dễ dàng tìm ra cách hòa giải với những người khác trong tăng thân hoặc trong gia đình. Điểm chính yếu của sự thực tập này là khôi phục lại tình thương và sự hiểu biết của mọi người trong tăng thân. Chúng ta có thể thay đổi cách thức đôi chút để phù hợp với tình hình và căn cơ của những người đang tham dự. Vì vậy, chúng ta cần tham vấn những người có nhiều kinh nghiệm trong sự thực tập này và đã từng đi qua những khó khăn tương tự để mọi người được lợi lạc.

Trong bước thứ hai của phần làm mới, chúng ta xin lỗi người mà ta đã làm tổn thương. Đôi khi chỉ cần một câu nói thiếu cẩn trọng, thiếu chánh niệm là ta đã làm cho người khác bị tổn thương rồi. Buổi làm mới là một cơ hội giúp ta nhớ lại những lỗi lầm của mình trong tuần để thay đổi và làm mới trở lại.

Bước thứ ba, chúng ta dùng lời ái ngữ để nói cho người kia biết là người kia đã làm ta tổn thương. Chúng ta nói ra sự thật mà không làm tổn hại nhau vì chúng ta muốn trị liệu cho tăng thân chứ không phải muốn phá hoại tăng thân. Lắng nghe sâu là một phần quan trọng của sự thực tập này. Khi ngồi trong vòng tròn mà tất cả mọi người đều đang thực tập lắng nghe sâu thì những lời nói của ta sẽ trở nên dễ thương hơn, có tính chất xây dựng hơn. Chúng ta không tranh cãi hay đổ lỗi.

Bước cuối cùng của phần làm mới là lắng nghe sâu – lắng nghe với tâm từ bi. Lắng nghe với tâm từ bi rất quan trọng. Chúng ta lắng nghe những khó khăn và niềm đau của người khác với tinh thần tự nguyện để làm vơi bớt những khổ đau của họ mà không phải để phê phán hay tranh cãi. Chúng ta lắng nghe với tất cả sự chú tâm của mình. Cho dù người kia có nói điều gì không đúng sự thật, chúng ta vẫn tiếp tục lắng nghe để người kia có thể nói hết những niềm đau trong họ, giúp họ vơi bớt những căng thẳng trong lòng. Nếu chúng ta trả lời lại hoặc chỉnh sửa họ thì sự thực tập sẽ không mang lại kết quả. Chúng ta chỉ lắng nghe thôi. Nếu cần cho người kia biết những tri giác của họ không đúng thì chúng ta có thể đợi vài ngày và nói một cách kín đáo, bình tĩnh. Rồi những buổi làm mới sau, có thể chính người kia tự chỉnh sửa những sai lầm ấy mà chúng ta không cần phải nói gì cả. Chúng ta có thể kết thúc buổi làm mới bằng một bài hát, hay nắm tay nhau và cùng thở với nhau trong vài phút.