Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay
Có phải để khóc đâu anh
Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn
Hai bàn tay chở che
Hai bàn tay nuôi dưỡng
Hai bàn tay ngăn cản
Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.
– Thích Nhất Hạnh –
Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay
Có phải để khóc đâu anh
Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn
Hai bàn tay chở che
Hai bàn tay nuôi dưỡng
Hai bàn tay ngăn cản
Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.
– Thích Nhất Hạnh –
— Elmar Vogt —
Tôi đến Làng Mai tham dự khóa tu 21 ngày vào tháng 6 năm 2006 và tôi bệnh gần hết ba tuần. Hầu như lúc nào tôi cũng nằm trên giường vì chứng đau dạ dày dữ dội. Tôi cũng bị tiêu chảy nặng và không ăn được gì nhiều, mọi người xung quanh kể cả quý thầy, các bạn cùng phòng và các thiền sinh đều cố gắng hết mình để giúp đỡ tôi.
Tôi và một người bạn cùng phòng có mối quan hệ rất tốt với nhau. Anh ấy có mang theo một cây đàn concertina, một loại nhạc cụ giống như cây phong cầm mini có nhiều phím, và ngay từ đầu chúng tôi đã khám phá ra rằng mình có cùng chung niềm say mê hát hò. Vào một buổi chiều vàng nắng, thấy anh ta ngồi trên cánh đồng và chơi những bản nhạc dân ca Mỹ, tôi tiến đến gần anh và chúng tôi hát với nhau rất đồng điệu. Kể từ ngày ấy, hễ khi có giờ rảnh, chúng tôi đều ngồi lại hát cùng nhau. Chúng tôi trở nên thân thiết, tin tưởng nhau và trở thành bạn của nhau.
Sáng một ngày gần cuối khóa tu, lúc tôi đang còn nằm trên giường thì anh ấy đi ăn sáng về. Anh ngồi bên mép giường và hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi. Sau đó anh hỏi tôi có muốn khám phá cái cảm giác đau thắt trong lòng qua thiền tập không. Tôi đồng ý. Thế là anh hát cho tôi nghe hai bài, rồi anh thỉnh chuông và đề nghị tôi chỉ tập trung vào những cảm giác đang có, buông bỏ mọi suy nghĩ và mở lòng ra để những cảm giác tự do đi lên.
Một vài phút sau, tôi thấy mình trở lại là một cậu bé, đang trốn dưới tầng hầm, phía sau chỗ để than đá, tôi đang quát tháo bà tôi và đuổi bà ra khỏi nhà. Bà tôi sống cùng với gia đình tôi suốt cả cuộc đời từ trước khi tôi sinh ra, từ khi ông tôi mất tích trong trận đánh ở Stalingard trong Thế chiến thứ hai. Tôi chưa bao giờ được biết đến ông. Khi còn nhỏ, tôi đã rất bực bội, căng thẳng vì sự có mặt của bà trong nhà. Trong lúc thiền tập, đứa bé trong tôi yêu cầu cha tôi đưa tôi rời khỏi nơi ấy. Sau một hai phút như vậy, tôi cảm nhận được từ nơi khóe mắt mình những giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Người bạn cùng phòng của tôi ắt đã thấy được điều này, anh ta với tay ra và bắt đầu vuốt ve tay tôi, anh nói: “Không sao, hãy để cho những cảm xúc ấy đi lên”. Tôi òa lên khóc nức nở trong một khoảng thời gian rất lâu, có lẽ là hai mươi phút. Sau đó tôi cảm thấy được chữa lành rất nhiều.
Khi tôi yên lắng lại, lòng tôi cũng đã đỡ hơn nhiều. Chúng tôi kể chuyện cho nhau nghe về sự trưởng thành của tôi, về cha mẹ tôi, và về con gái của chúng tôi, cả hai chúng tôi đều có con gái khoảng hai mươi mấy tuổi. Chúng tôi ăn trưa cùng nhau, và tôi dạy cho anh bạn tôi một bài dân ca Đức: “Bunt sind schon die Walder”, nói về sắc màu của những chiếc lá trên cánh đồng mùa thu.
Dạ dày của tôi vẫn còn khó chịu nhưng đã khác hơn nhiều so với trước khi thiền tập. Tôi biết rằng đó là nỗi tuyệt vọng của đứa bé đang nằm trong tử cung người mẹ mà không có cảm giác được an toàn. Và tôi cũng nhìn thấy cha tôi trong tôi, cha tôi đã bị gửi cho dì của cha nuôi khi cha chỉ mới hai tuổi. Cha không bao giờ biết lý do vì sao, và cha chưa bao giờ có một gia đình thực sự. Mẹ tôi mất cha (ông ngoại tôi) khi mẹ còn nhỏ, thậm chí còn không biết khóc khi ông bị mất tích. Không một ai biết được liệu ông có trở về hay không. Bà tôi đã cố gắng làm việc vất vả để nuôi hai người con của mình. Bà rất thương ông, nhưng ông không bao giờ trở lại. Và ông tôi cũng giống như cha tôi, cũng không được lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Có một lần bà tôi kể với tôi, ông đã chia sẻ với bà rằng ông chỉ biết được tình gia đình là như thế nào từ khi ông kết hôn và chung sống với bà. Nhưng thương tâm làm sao, ông đã mãi mãi không trở về!
Khi nhìn lại, tôi thấy trong suốt thời gian ở Làng Mai, những vách ngăn trong tôi như đang vỡ òa ra. Bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy đau và khó chịu ở dạ dày, nhưng tôi nhận ra rằng những nỗi đau và sự khó chịu đó không chỉ của riêng tôi mà của nhiều thế hệ gia đình tôi, và đó cũng là nỗi đau của người Đức chúng tôi. Có lẽ nỗi khổ đau ấy quá lớn và tôi không thể chuyển hóa hết được trong một đời. Tuy nhiên điều mà tôi cần làm bây giờ là tiếp xúc với em bé bên trong mình, lắng nghe em, trò chuyện với em và mời em cùng an trú trong giây phút hiện tại và chỉ cho em thấy những nhiệm mầu của sự sống.
— Glen Schneider —
Một buổi chiều nọ, tôi ngồi suy nghĩ về một tình bạn quan trọng đã đổ vỡ cùng nỗi đau mà tôi đã gánh chịu. Tôi tự hỏi liệu mình có nên gọi cho người bạn ấy một lần nữa không, xem thử chúng tôi có thể cởi mở giải quyết vấn đề này và hòa giải được không. Khi tôi tưởng tượng ra những gì cô ấy có thể nói và tôi sẽ trả lời cô ấy như thế nào, thì tôi cảm thấy lòng tôi dường như đang thắt lại. Tôi nghĩ rằng, đang là buổi chiều, mình đang có một ít thời gian rảnh rỗi và không ai ở nhà cả, tại sao mình không tìm hiểu xem cảm giác đó là gì.
Tôi ngồi trên chiếc ghế dài và tập trung hoàn toàn tâm ý vào cái nút thắt trong lòng. Chẳng mấy chốc, tôi bắt đầu nghe từ góc trái đầu mình những tiếng “chát, chát, chát”rất rõ ràng và dứt khoát. Tôi nhận ra ngay đó là tiếng dây nịt của cha tôi, tiếng dây nịt đang quất vào cái mông trần truồng của tôi hồi tôi mới có sáu tuổi. Tôi thực sự thấm thía những trận đòn đó. Tôi bật khóc, gào thét và van nài rất lâu. Giờ đây tôi đang sống lại trong ký ức của những trận đòn roi cùng hình ảnh mẹ tôi đang đứng trong nhà bếp. Mẹ kéo cha ra và đứa trẻ trong tôi van xin: “Đừng đánh con nữa, con sẽ ngoan mà”. Ngồi trên ghế, tôi tự hỏi rằng liệu tôi có bị tâm thần hay không khi nhớ lại những chuyện này, tuy nhiên, việc này cũng có công năng trị liệu rất lớn, tôi để cho nguồn năng lượng này đi lên và đi ra khỏi người mình.
Khi tôi bắt đầu yên lắng, trong tâm tôi xuất hiện một đường hầm đen tối và kéo tôi vào đó. Tôi cảm thấy sợ hãi, nhưng rồi tôi nghĩ: “Ôi, tôi sắp sửa khám phá một vết thương, một sự ngược đãi nào đó mà tôi không nhớ rõ”. Nhưng tôi vẫn quyết định tiến vào, và ngay khoảnh khắc đó…
… Tôi là một bé trai đang ngồi trong chuồng gà nhà mình và để tay dưới một con gà nằm trong ổ, cảm nhận hơi ấm toát ra từ nó, những chiếc lông mềm mại và những quả trứng láng lẫy, ấm áp. Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi sống ở nông thôn và nhà tôi nuôi khoảng năm mươi con gà. Gia đình chúng tôi bán trứng và nhiệm vụ của tôi là phụ giúp chăm sóc những con gà mái. Đặt tay bên dưới con gà là một trong những cảm giác tuyệt vời và đẹp đẽ nhất mà tôi đã từng có. Tôi nhìn xung quanh và thấy cạnh của những chiếc vỏ hàu mà chúng tôi cho gà ăn, thấy những chi tiết của cánh cửa chúng tôi đóng hằng đêm để ngăn cáo và gấu mèo; ngoài vườn có một cây mù tạc đang nở hoa vàng rực rỡ. Tôi mơ màng khoảng mười phút, như tôi đang ở trên thiên đường vậy, tôi mơ về những khung cảnh tuyệt vời vui tươi và những hương vị của tuổi thơ. Những màu sắc thật rực rỡ, những hình dáng thật sinh động và tôi cảm thấy bàng hoàng. Cuối cùng thì khoảnh khắc đó cũng kết thúc, cậu bé bước đi trên con đường về nhà và một giọng nói xuất hiện trong đầu tôi: “Họ đặt chúng vào trong mày đó”.
Nhờ sự giúp đỡ của một người chị trong Tăng thân, một người thường giúp đỡ những thanh niên khó khăn hay đang bị giam giữ, tôi bắt đầu hiểu được rằng “họ đặt chúng vào trong mày đó” có nghĩa là những người ấy đã đặt những tổn thương vào trong tôi, những điều tồi tệ đã xảy ra, nhưng đó thực sự không phải là tôi. Con người thật của tôi là một cậu bé yêu thương những khung cảnh, màu sắc và hình ảnh mà tôi đã cùng nó lớn lên. Năng lượng tiêu cực được đặt vào tôi như một cánh cửa đóng sầm lại ký ức của tôi, đóng sầm lại cái phần tốt đẹp trong quá trình trưởng thành của tôi, để mỗi khi nhớ về quá khứ, tôi chỉ nhớ đến những ký ức đau buồn và quên mất những thứ đẹp đẽ.
Tôi cảm thấy may mắn vì đã lấy ra khỏi mình nguồn năng lượng gây tổn thương đó. Tôi ước gì tôi có thể nói là tôi đã buông bỏ nỗi đau đó trong một buổi thiền tập, nhưng tôi không thể. Tôi phải “viếng thăm” chúng vài lần, tuy nhiên sau mỗi lần “viếng thăm” thì nỗi khổ đau đều giảm nhẹ hơn nhiều, và tôi cảm thấy khá đơn giản như khi làm những công việc lặt vặt trong nhà: “Ồ, đến lúc quét dọn rồi, mình đi quét dọn thôi”. Với thời gian và sự chuyên cần, tất cả đều được “quét đi” một cách nhẹ nhàng. Tôi nghĩ rằng phần bị tổn thương trong chúng ta cũng có khả năng thương yêu, đó là tính tốt của chúng ta. Mặc dù cái phần ấy có thể ẩn sâu bên dưới nỗi khổ niềm đau, nhưng trong ta vẫn sẽ luôn có một phần có khả năng ôm ấp và tận hưởng những thứ dịu dàng, đẹp đẽ, quý giá của thế giới, và thích thú chăm sóc, chia sẻ những thứ đẹp đẽ quý báu ấy bằng một tấm lòng cởi mở. Đó là trải nghiệm của tôi.
— Joanne Friday —
Mẹ tôi bệnh rất nặng gần cả năm, và trong thời gian ấy mẹ đã tám lần nhập viện. Giữa những lần nằm viện, mẹ được chuyển đến vài nơi an dưỡng để được chăm sóc đặc biệt. Tôi đã cùng cha đến thăm mẹ tại một trong những nơi đó. Cha tôi là một cựu chiến binh trong Thế chiến thứ hai, cha rất giỏi trong việc kiểm soát tình huống và tạo mọi điều kiện để ngăn những điều tệ hại xảy đến. Cha là một người cực kỳ tỉ mỉ. Sống gọn gàng ngăn nắp, đâu vào đó là điều rất quan trọng đối với cha. Cha tôi luôn chăm sóc mọi thứ chu toàn, và cũng rất tuyệt vời trong việc chăm sóc mẹ. Nhưng giờ đây, cha phải chứng kiến mẹ tôi hấp hối mà không có cách nào để giải quyết, đó là một điều cực kỳ khó khăn với cha. Khi mọi thứ nằm ngoài tầm kiểm soát thì cha tôi càng cố gắng nhiều hơn và trở nên thiếu kiên nhẫn, cáu gắt và giận dữ. Đó chính là tập khí của cha tôi.
Chúng tôi đang ngồi trong nhà an dưỡng thì cha tôi nổi giận và trở nên thiếu kiên nhẫn với mẹ. Tôi ngồi đó, cảm nhận cơn giận đang dâng lên trong thân mình. Nếu tôi đang ở quá khứ, tập khí của tôi sẽ nói với cha rằng: “Dừng lại đi, mẹ sẽ không thể chịu nổi như vậy”. Nhưng thay vì nói thế, tôi dừng lại, hít thở, và tôi biết rằng mình cần đi ra ngoài. Tôi biết rằng nếu tôi nói hoặc làm điều gì đó vào lúc này thì tôi chỉ gây thêm nhiều đau khổ hơn cho tôi và cho gia đình tôi. Vì vậy, tôi nói: “Con đi bộ một tí” rồi ra bãi đỗ xe và hành thiền.
Tôi tiếp xúc với hơi thở. Vài phút sau, tôi trở nên yên lắng và bình tĩnh. Sau đó, tôi mời cơn giận của mình lên. Tôi thở với nó, nhìn sâu vào nó để hiểu được bản chất của nó. Cơn cảm xúc đã đưa tôi về với quá khứ của mình. Tôi hiểu được phản ứng của tôi đối với cha thực ra là phản ứng của một đứa bé ba tuổi. Khi đó, cha tôi cũng giận dữ và thiếu kiên nhẫn với tôi y như thế. Đứa bé ba tuổi ấy đã vô cùng đau khổ, và nó đang phản ứng cực kỳ mạnh mẽ trong giây phút hiện tại, khi thấy mẹ chịu sự giận dữ của cha tôi.
Tôi chăm sóc đứa bé ba tuổi trong tôi. Ôm ấp em và giảng giải cho em hiểu, sự giận dữ và thiếu kiên nhẫn của cha không liên quan gì tới em cả. Khi em ba tuổi, làm sao em có thể hiểu rằng em đừng mang theo những giận dữ ấy bên mình, bởi đó chỉ là nỗi khổ của cha mà thôi. Với tất cả mọi người, cha đều cư xử như thế, không phải chỉ có riêng em. Khi tôi hiểu được điều này, lòng từ bi đối với chính mình và đối với cha dâng lên trong tôi. Đó là kinh nghiệm trực tiếp của về những điều Thầy (Thiền sư Nhất Hạnh) đã dạy: Niệm sẽ đưa đến định, định sẽ đưa đến tuệ, tuệ sẽ đưa đến hiểu, có hiểu thì mới phát tâm từ bi.
Mỗi người đều có những cách phản ứng khác nhau khi rèn luyện điều này. Đa số chúng ta chạy trốn cả đời với những cảm thọ đã làm ta sợ hãi. Song, chỉ cần dừng lại, thở và ôm ấp những cảm thọ ấy, thì trong ta đã bắt đầu quá trình chuyển hóa rồi, và chúng ta sẽ nuôi dưỡng dần khả năng vô úy (không sợ hãi) của chính mình. Trong trường hợp của tôi, cơn giận dữ đã đưa tôi về với quá khứ, về với đứa bé ba tuổi đang trải nghiệm những cảm xúc tương tự như tôi ở hiện tại, phải chứng kiến cảnh cha khó chịu và giận dữ. Khi cảm nhận được điều ấy, tôi biết có gì đó đã được chuyển hóa. Tôi biết là tôi có thể trở về với cha mẹ một cách ổn thỏa.
Lúc đi ra khỏi phòng, tôi đã xem cha mình như một tên hung bạo; nhưng khi trở lại, tôi chỉ thấy nỗi đau của cha tôi. Nỗi đau ấy quá lớn, không thể chịu đựng nổi. Tôi có thể hiểu được nỗi lo sợ của cha lớn đến mức nào. Và rồi, tất cả những gì tôi cảm nhận được đối với cha chỉ còn lòng từ bi. Không có gì khác ngoài lòng từ bi và chỉ có một điều tôi có thể nói: “Con rất tiếc vì cha phải trải qua khó khăn này. Con có thể làm gì để giúp cha không?”.
Rất rõ ràng là khi tôi bị kẹt vào nỗi khổ đau của bản thân, tôi không còn có thể thấy nỗi đau của bất kỳ ai nữa. Tôi không thể có cái nhìn sáng suốt, thông minh, tôi chỉ thấy nỗi khổ đau của riêng mình mà thôi. Tôi đã không thể chăm sóc cảm xúc của tôi, tôi đã tự cho mình là đúng. Tôi nói với bản thân rằng tôi là một đứa con gái ngoan, tất cả những gì tôi cần quan tâm là mẹ tôi. Tôi tin rằng tôi đang cố gắng để chăm sóc và bảo vệ mẹ, và cách để làm điều đó là nói với cha “dừng lại đi, đừng nói nữa”. Tuy nhiên, nếu tôi nói như thế, thì đó chính xác là sự giận dữ mà tôi đã tập nhiễm từ cha tôi: phản ứng lại mọi thứ bằng phê phán và chỉ trích. Có thể khi ấy cha sẽ cảm thấy giống như tôi, cảm thấy mình bị trách móc và có thể cha sẽ hành xử tệ hơn với mẹ. Và tôi sẽ tạo ra chính cái tình cảnh mà tôi muốn ngăn chặn.
Tôi đã rèn luyện đủ lâu để biết điều gì nên nói và nên nói điều đó như thế nào. Tôi có thể dừng lại, không phê phán cha mình ngay khi cơn giận phát khởi mà không cần đi ra ngoài. Nhưng có thể cảm giác tức giận vẫn còn đó, và dù tôi có nói những điều tương tự như “Con có thể làm gì để giúp cha không?”, thì lời nói của tôi vẫn có thể làm cho cha cảm thấy bị chỉ trích bởi giọng điệu, nét mặt và cử chỉ của tôi.
Vì vậy, tôi khám phá ra rằng nói lời chánh niệm không phải chỉ là chọn lựa từ ngữ đúng đắn, chánh niệm phải là chuyển hóa những ý xấu trong trái tim tôi. Khi tôi nhìn sâu và phát khởi sự thấu hiểu, tôi sẽ cảm nhận được lòng từ bi, lòng từ bi đối với tôi và đối với người khác. Khi nỗi khổ đau trong tôi được chuyển hóa, tôi sẽ hiểu và thương được cả hai. Những từ ngữ mà tôi chọn lúc này không còn quan trọng lắm. Người ấy sẽ cảm nhận tình thương từ tôi. Người ta sẽ biết khi nào thì họ được thương yêu thực sự.
Tôi đã nhận ra rằng, càng rèn luyện thì cường độ cảm xúc tiêu cực càng suy yếu, dù tôi vẫn trải qua những cảm xúc dữ dội. Tôi có thể nói: “Xin chào cơn giận, người bạn nhỏ của tôi, bạn trở lại đấy à” và cơn giận sẽ ra đi. Khi tôi chăm sóc đứa bé bị tổn thương trong tôi tử tế thì những cảm xúc tuy vẫn có thể còn đó, nhưng các mối quan hệ đã được chuyển hóa và những tri giác của tôi về thế giới này và về những người khác cũng được thay đổi. Đó là phép lạ của chánh niệm!
— Lillian Alnev —
Chỉ cần nói “tôi đã từng trải qua tổn thương sâu sắc” cũng có thể khiến cho tôi co rút lại vì mặc cảm.
Tôi có viết ra một danh sách thật dài trên giấy, và danh sách ấy cũng kiến cho tôi xấu hổ. Nó quá dài và kinh khủng đến nỗi khó có thể coi là sự thật. Tuy nhìn lại cũng chẳng có gì đáng kể nhưng lúc đó tôi rất khổ đau. Người ta nói với tôi rằng đó là mặc cảm tội lỗi của những người sống sót. Buông bỏ sự so sánh và phán xét chính mình có thể là điều mà tôi phải thực tập suốt đời.
Trong từng nghĩ rằng những người khiến tôi tổn thương có thể bị đưa ra tòa xét xử nếu họ bị phát giác. Tôi đã từng chứng kiến nhiều sự phẫn nộ tương tự đối với người khác. Sự kiện đau lòng nhất trong thời thơ ấu của tôi thực ra chẳng lớn lao, nhưng nó đã ảnh hưởng đến tinh thần tôi rất nhiều. Đó là một ví dụ điển hình cho quá trình chữa lành.
Tôi lớn lên trong một xóm nghèo với các món đồ hoen gỉ cũ nát. Nhưng ở lưu vực Great Lakes thì quanh năm bốn mùa đều xinh đẹp. Sự cực đoan của thời tiết đã làm cho các khoảng sân trở thành những chiếc hộp dụng cụ nghệ thuật từ thiên nhiên với đủ thứ gỗ, đá, bột màu và đồ trang trí cho những đứa trẻ thích sáng tạo.
Tôi đã dành hết thời gian rảnh rỗi của mình để xây dựng một tiểu vương quốc. Nơi đó không có trường học, không có quán rượu, không có nhà thờ hay nhà tù nào cả. Tôi xây dựng một thế giới tưởng tượng rất hoàn hảo như trong một giấc mơ, ở đó những kẻ hay ức hiếp người khác không được bước chân vào. Tôi làm những căn nhà bằng cây lợp mái cỏ tranh và những căn nhà đá ốp bằng đá cuội. Tôi làm những con đường trên băng đá, ngăn nước mưa thành hồ và kênh rạch. Nhà cửa, cao ốc và thị trấn từ từ mọc lên. Có cả một nông trại gieo trồng củ cải và cà rốt khổng lồ, những hạt giống này được lấy từ khu vườn của gia đình tôi.
Những chú khủng long và những con vật ở nông trại là những món đồ chơi tôi yêu thích, tôi mang chúng đến để chúng trở thành những thần dân của tôi. Vì tôi đã làm việc quanh năm, suốt bốn mùa, để xây dựng nhà cửa cho những công dân tí hon ấy, nên tôi đã phát triển những sự ngộ nhận về các giác quan của mình, tôi nhìn toàn bộ thế giới từ độ cao khoảng chừng 2,5 tấc. “Đôi mắt trẻ thơ” của tôi ánh lên niềm hân hoan, và tôi cảm thấy mình có thể tự bảo vệ được cho chính mình.
Vào một buổi sáng Chủ Nhật mùa đông, tôi thức dậy sớm và mặc đồ đi ra ngoài, tôi hân hoan nhìn ngắm thành phố của mình được bao phủ bởi một lớp tuyết mới. Khi tôi đi vòng quanh cây bách, chỗ chắn gió cho chiếc cửa sau, tôi thấy một loạt những dấu chân nhỏ màu đen in trên tuyết từ cổng trước hướng về vương quốc của tôi.
Một đôi giày đế cứng nào đó đã để lại những dấu chân này, hoàn toàn không phải loại giày cao su mà chúng ta thường mang vào mùa đông. Ý nghĩ đầu tiên trong tôi khi ấy là người đó hẳn sẽ gặp rắc rối khi mang giày đi học vào trong tuyết. Rồi những dấu chân ấy đã dẫn tôi đến một sự thật tàn nhẫn. Tôi còn nhớ rằng chỉ có dấu chân đi vào mà không thấy đi ra. Cả kẻ viếng thăm, lẫn cái tiểu vương quốc cùng những thần dân của tôi đã không cánh mà bay đi mất. Tôi chạy vào nhà, gào thét và buộc tội cha tôi đã phá hủy cái thế giới nhỏ bé đó của tôi như một hình thức trừng phạt tàn nhẫn.
Tôi vẫn không thể nào biết được chuyện gì đã thực sự xảy ra. Tôi đã trải qua nhiều đòn roi và cay nghiệt, nhưng tôi chưa hề trải qua nỗi mất mát. Ai đó đã mang đi những con thú, công trình của tôi, mang theo cả “đôi mắt trẻ thơ” của tôi. Tôi bắt đầu ngờ vực mảnh đất này. Từ đó, những tác phẩm nghệ thuật của tôi trở nên vụng về và không thường xuyên nữa.
May mắn rằng tôi vẫn sống và đã giác ngộ. Tôi biết ơn rằng mình đã có một đường hướng tâm linh. Tôi có thể thiền tập với mọi người là nhờ câu nói “gặp Phật giết Phật” đã an ủi tôi, nhắc nhở tôi rằng: không kẹt vào những hình tướng bên ngoài là tinh yếu của cuộc sống.
Khi các huynh đệ trong Tăng thân tổ chức khóa tu cho những người khổ đau vì những vết thương sâu dày trong quá khứ hay những người có tuổi thơ đã từng bị lạm dụng, và gọi tên khóa tu là “chữa lành em bé trong mình”, thì đứa bé hay chỉ trích trong tôi nổi điên lên. Nền công nghiệp “Tự chữa lành tâm thức”, nào là “Con người yếu đuối trong bạn”, “Thiên tài trong bạn”, “Nhà lãnh đạo trong bạn”,… đã khơi dậy con người nổi loạn và tổn thương trong tôi. Kỳ thực tôi rất sợ hãi. Tuy nhiên, tôi vẫn đăng ký khóa tu và tham dự các buổi rèn luyện. Tôi quyết định viết một lá thư cho em bé trong tôi. Tôi bắt đầu: “Này cậu bé. Ta biết cậu không thích cái tên của mình. Vậy ta nên gọi cậu là gì nhỉ?”. Tôi viết rất lâu nhưng không thể chạm được đến đứa bé ấy, cho đến khi giọng văn của tôi bắt đầu thay đổi. Chính đứa bé ấy đang viết cho tôi. Thoạt đầu tôi chỉ biết khóc. Sau đó tôi lắng nghe. Cuối cùng tôi bước ra ngoài và làm những gì mà đứa bé yêu cầu.
Tôi đến bên bờ suối, nhặt những viên đá cuội nhẵn nhụi và mát rượi. Tôi để chúng nằm yên lành trong tay tôi. Rồi tôi xếp chúng lên cát. Một lúc sau, tiếng chuông báo giờ ăn tối đã cắt ngang mạch tập trung của tôi. Tôi phủi cát trên tay và ngắm nhìn tác phẩm của mình. Một chiếc bàn đá, trên đó bày ra hai cái dĩa đá, chứa đầy hạt lấy từ cái cây cạnh bờ suối. Hai cái ghế đá đặt hai bên chiếc bàn. Chỗ ngồi hướng ra dòng nước có tầm nhìn rất đẹp.
Sáng sớm hôm sau tôi trở lại dòng suối. Chiếc bàn ăn nhỏ bé tối qua vẫn còn đó, và trên nền cát còn ẩm ướt tôi thấy dấu chân của những con hươu, chim và vài con thú nhỏ khác, chúng đã bước đi rất thận trọng quanh chiếc bàn. Nhưng đống hạt thì đã biến mất. Đến chiều, tôi trở lại một lần nữa. Dòng nước mát lạnh đã chuyển dòng và toàn bộ bờ suối xám xịt đã trở nên tươi mới, êm ả và trống vắng. Giờ đây, tôi biết, không ai có thể lấy đi của tôi bất cứ thứ gì nữa. Khi tôi bước tới thiền đường, tôi thấy đứa bé khoảng chừng vài ba tấc trong tôi nhìn mọi vật rất rõ ràng và sống động. Cuối cùng tôi cũng đã nhìn thấu nỗi khổ đau của mình. Đôi mắt trẻ thơ của tôi đã trở lại.
Đứng nhìn bên khung cửa sổ sáng nay của cuộc đời
Tôi thấy em ngã xuống, rồi em đứng dậy mỉm miệng cười
Cầu nguyện cho em đừng để thân em lấm bụi thẹn thùng,
Đừng để tâm em mang sẹo cô đơn vụng về yếu đuối
Mỗi lần ngã là một lần đứng dậy
Để trưởng thành
Để cuộc đời nhường một bước đi lên.
Những mũi tên bắn vào thân thể em
Hãy để cho chúng rơi như lá thu đẹp lìa cành
Ngoạn mục trò chơi tuổi thơ con trẻ
Em có thấy khi chiều gió qua
Nước hồ trong thoáng gợn
Nhưng rồi nước hồ sau đó vẫn bình yên
Lặng chiếu bóng núi bóng trăng?
Em đã trưởng thành rồi
Cho tôi xin thêm của cuộc đời một ít tháng năm
Vừa đủ dựngTượng tuổi thơ can đảm.
Nhiều người trong chúng ta ngồi thiền là để trốn chạy khổ đau của mình, bởi vì ngồi thiền đem lại cho ta một ít thư giãn, tĩnh lặng, giúp ta từ bỏ thế giới khổ đau tranh chấp để trải nghiệm một ít an vui và hạnh phúc. Chúng ta ngồi thiền để bớt đau khổ. Chúng ta hành xử như những con thỏ chui vào cái hang của nó để có cảm giác được an toàn và được bảo hộ, để không bị quấy rầy. Chúng ta muốn bỏ lại thế giới sau lưng. Chúng ta hành xử như vậy là bởi vì ta khổ đau quá nhiều, nên muốn chạy trốn để được nghỉ ngơi. Nhưng đó không phải là mục đích đích thực của thiền tập. Khi ta ngồi như một con thỏ chui vào hang, ta chỉ trốn tránh khổ đau, trốn tránh thực tại. Chúng ta phải sử dụng trí thông minh và định lực của ta để đạt được tuệ giác, chuyển hóa khổ đau trong lòng và trở thành một vị Bụt, trở thành một người giải thoát giác ngộ.
Trong đạo Bụt, có ý niệm về tam giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Chúng ta có khả năng rời bỏ cõi dục, buông bỏ những tham muốn thèm khát, để lại sau lưng thế giới của dục lạc để nếm được niềm an vui và hạnh phúc. Đó là bước đầu tiên của sự thực tập. Cho dù chúng ta có rời bỏ cõi dục giới đi chăng nữa thì những cuộc độc thoại trong tâm chúng ta vẫn tiếp tục hoạt động. Đó là lý do tại sao ta phải thực tập tĩnh lặng. Những cuộc độc thoại được làm bằng hai yếu tố: tầm (vitarka) và từ (có khi gọi là tứ, vicāra). Tầm là suy nghĩ đơn thuần ban đầu và từ là suy nghĩ sâu xa hơn, nghĩ lui nghĩ tới, liên tục không ngừng.
Chúng ta không thể dừng suy nghĩ được. Trong đầu ta luôn có một cái máy thu thanh chạy liên tục, đó là tiếng ồn gây ra bởi những cuộc độc thoại luôn diễn ra trong tâm thức ta. Để dừng lại những suy nghĩ, dừng lại những cuộc độc thoại đó, chúng ta phải nhận diện và an trú nơi hơi thở vào ra. An trú nơi hơi thở vào ra là ta có khả năng dừng lại những cuộc độc thoại ấy. Đó là tĩnh lặng. Chúng ta có thể ngồi theo dõi hơi thở và “chơi” với hơi thở vào ra, thưởng thức sự tĩnh lặng, thưởng thức sự vắng mặt những cuộc độc thoại trong tâm thức, và thưởng thức niềm an vui hạnh phúc của mình.
Tuy nhiên chừng đó cũng chưa đủ. Nếu chỉ thực tập chừng đó thôi thì ba năm sau, chúng ta có thể rời bỏ tăng thân. Khi chúng ta từ bỏ tăng thân để trở về với thế giới bên ngoài, một lần nữa ta lại thấy được khổ đau trên thế giới nhiều đến mức nào. Sau ba tháng, hoặc một năm sống với thế giới bên ngoài, ta lại muốn quay trở lại với tăng thân. Và điều đó cứ tiếp tục tái diễn. Chúng ta có thể thực tập như trước, an vui và hạnh phúc được phát sinh từ sự tĩnh lặng, nhờ bỏ lại mọi thứ sau lưng.
Đây là một tiếng chuông chánh niệm nhắc nhở chúng ta phải đi sâu hơn. Khi thực tập không có hạnh phúc, chúng ta thường đổ lỗi cho những thứ làm cho ta không hạnh phúc. Chúng ta nói rằng sở dĩ ta không hoàn toàn hạnh phúc vì những điều kiện bên ngoài và chung quanh ta, mà không phải là do ta gây ra. Đây là vấn đề của tất cả các trung tâm tu học. Nếu biết rõ vấn đề, chúng ta sẽ có khả năng xây dựng một tăng thân như thế nào để mọi người có thể nhận ra được điều này. Sở dĩ ta không có hạnh phúc là vì ta không biết cách gìn giữ và duy trì niềm hạnh phúc của ta. Ta không biết cách thực tập sâu hơn để chuyển hóa những lo lắng, muộn phiền, bất an, chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ thâm sâu vẫn còn nằm trong chiều sâu tâm thức ta.
Nỗi khổ đau đó có thể là nỗi khổ đau ta chịu đựng trong khoảng thời gian thơ ấu. Có thể do khi còn nhỏ ta đã bị lạm dụng. Hoặc là nỗi khổ đau của cha mẹ trao truyền lại, do lúc còn nhỏ cha mẹ ta bị đối xử tệ bạc và bây giờ nỗi khổ đau đó trở thành nỗi khổ đau của ta. Cho dù chúng ta còn rất mơ hồ về nỗi khổ của ta, chúng ta cũng phải thực tập để tiếp xúc với nó. Sử dụng tuệ giác để nhận diện. Nếu cần khổ đau, chúng ta cứ khổ đau và chúng ta có thể nói: “Tôi sẽ khổ đau, bởi vì tôi biết rằng khổ đau như thế, tôi sẽ học hỏi được từ khổ đau và tôi sẽ khá hơn”. Điều này cũng giống như ta ăn mướp đắng. Chúng ta không sợ hãi vì ta biết rằng mướp đắng giúp ích cho ta.
Vì vậy, khi nỗi khổ đau xuất hiện, chúng ta có mặt với nó, chào đón nó, cho dù đó là cơn giận, nỗi tuyệt vọng, hay sự bất mãn về điều gì đó mà ta không đạt được. Cho dù khối khổ đau đó không có tên gọi, và ta chưa gọi được tên nó thì nó vẫn là nỗi khổ đau. Vì vậy ta phải sẵn sàng chào đón nó, ôm ấp nó nhẹ nhàng và sống với nó.
Khi chúng ta chấp nhận được nỗi khổ đau và sẵn sàng đau khổ, thì nỗi khổ đau không quấy rầy ta nữa. Chúng ta thấy rằng chúng ta có khả năng sống với nỗi khổ đau đó. Bởi vì nỗi khổ đau sẽ giúp ích cho ta, giống như mướp đắng vậy, nó sẽ trị liệu ta. Vì vậy ta hãy cho phép nỗi khổ đau có mặt. Chấp nhận nó, sẵn sàng khổ đau một ít để được học hỏi. Nếu không chấp nhận nó, không ôm ấp nó nhẹ nhàng, ta sẽ không biết nó là gì. Ta sẽ không hiểu được rằng khổ đau có thể dẫn dắt ta, mang đến cho ta niềm vui và hạnh phúc. Không có khổ đau, không hiểu được nỗi khổ đau thì sẽ không có hạnh phúc chân thật.
Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, hàng triệu người tin rằng tôi là cộng sản, còn những người khác thì tin rằng tôi là thành viên của CIA. Nếu quý vị ở trong hoàn cảnh đó quý vị sẽ khổ đau rất nhiều. Quý vị có thể nghĩ mình là nạn nhân của sự hiểu lầm và bất công. Quý vị có thể nghĩ rằng khổ đau chỉ chấm dứt khi người ta không còn nghĩ mình là cộng sản hay là thành viên của CIA nữa. Tuy nhiên chúng ta có thể làm khác đi, chúng ta có thể chấp nhận tình huống đó. Có cả hàng triệu người tin rằng quý vị là cộng sản, và cũng có hàng triệu người khác tin rằng quý vị là người yểm trợ cho CIA. Đó là cách nghĩ duy nhất của họ, một là thuộc về bên này, hai là thuộc về bên kia. Tôi không phải là cộng sản, cũng không phải là người của CIA, vì vậy không có lý do gì để tôi đau khổ cả. Chỉ bằng cách sống, cách hành động và cách nói năng, tôi có thể chứng minh được tôi có thiện chí tốt, có mục đích lành mạnh, đó là mục đích đạt được bình an và hòa giải. Nếu chúng ta có khả năng làm được điều đó thì khổ đau không còn quấy rầy ta nữa.
Khổ đau là do sự hiểu lầm, giận dữ, hận thù và vô minh gây ra. Nếu chúng ta trông chờ vào người khác để xua tan đi những hiểu lầm này, có thể ta phải chờ đợi rất lâu. Chúng ta phải đi sâu hơn, dùng định lực và tuệ giác của ta để hiểu, rằng những người chung quanh ta khổ đau là do cách họ suy nghĩ, cách họ hành động và cách họ nói năng. Nếu ta khổ đau như họ, ta sẽ không giúp được họ. Vì vậy chúng ta phải thấy được vấn đề để chuyển hóa khổ đau, phải phát khởi tuệ giác và từ bi để giúp đỡ họ. Với thái độ và sự hiểu biết đó, chúng ta sẽ không khổ đau nữa, bởi vì bây giờ ta có tuệ giác và từ bi. Tuệ giác và từ bi này ta chỉ có thể đạt được bằng sự thực tập mà thôi.
Trong suốt thời đại của Bụt, Bụt cũng từng gặp những khó khăn và bất công. Một lần nọ, có người giết một cô vũ công rồi chôn thi thể cô ấy trong khuôn viên tu viện và sau đó báo cho quan quân. Quân lính đến, khám phá ra thi thể đó và bắt đầu loan tin là Bụt và quý thầy đã tà dâm với cô vũ công này, rồi giết cô ta và chôn giấu thi hài cô. Vào buổi sáng khi quý thầy mang áo, cầm bát đi vào thành để khất thực, người ta nhìn quý thầy với một cái nhìn nghi kị, khinh miệt và khó chịu.
Điều này xảy ra trong nhiều ngày. Quý thầy chịu không nổi nữa nên đến thưa với Bụt: “Bạch đức Thế Tôn, chúng con không thể chịu đựng nổi nữa. Mỗi khi chúng con đi vào thành, người ta nhìn chúng con với con mắt khinh miệt như thế, chúng con rất đau khổ”. Đức Bụt nói: “Điều quan trọng là quý thầy không làm điều đó, quý thầy không làm những điều mà người ta lên án cho rằng quý thầy làm. Quý thầy biết rõ là quý thầy giữ gìn uy nghi và giới luật nghiêm túc. Một ngày nào đó, bằng cách sống và thực tập của chính mình, sự hiểu lầm sẽ tan biến đi. Những chuyện như thế này thường xảy ra khắp nơi trên thế giới. Nếu quý thầy hiểu được điều này và quý thầy có lòng từ bi, quý thầy sẽ không khổ đau. Có những người hay những nhóm người vì sự ganh tị và đố kị mà đã tạo ra những tình huống để bôi nhọ thanh danh của chúng ta. Những người như thế họ khổ đau rất nhiều. Vì vậy, ta phải đối xử với họ bằng lòng từ bi. Nhờ thực tập mà chúng ta có khả năng giúp họ thức tỉnh và giúp họ hiểu được rằng những gì họ đã làm không xứng đáng với những người đi trên con đường tâm linh”. Nghe Bụt nói, quý thầy không còn khổ đau nữa.
Vài tuần sau, cư sĩ Cấp Cô Độc, học trò của Bụt và cũng là người người yểm trợ Bụt hết lòng, thuê những thám tử tư để dò xét, và họ đã tìm ra tội phạm. Tuy nhiên tăng đoàn của Bụt đã phải chịu khổ đau gần cả tháng vì sự việc này.
Sở dĩ ta khổ đau ít hay nhiều, hay không khổ đau tí nào cả, là do ta có tuệ giác và từ bi hay không. Hoàn toàn là tùy thuộc vào ta. Vì vậy, nếu cần một ít khổ đau thì hãy cho phép ta khổ đau. Ôm ấp nỗi khổ đau một cách nhẹ nhàng bằng tất cả trái tim mình, sử dụng nguồn định lực và tuệ giác, quán chiếu cho thật sâu sắc, để phát khởi tâm từ bi và sự cảm thông. Nhờ thế ta sẽ không ghét người đã gây cho ta khổ đau. Ta nguyện tập sống như thế nào để có thể giúp được người ấy.
Nếu nỗi khổ đau của ta được cha mẹ trao truyền lại thì cũng đừng đổ lỗi cho cha mẹ. Ví như cha mẹ không có cơ hội gặp được Phật Pháp, không có cơ hội thực tập cho nên nỗi khổ đau đó cứ tiếp tục biểu hiện trong cha mẹ và cha mẹ đã trao truyền nó lại cho ta. Nếu chúng ta biết cách thực tập, chúng ta sẽ giúp được cho cha trong mình, giúp được cho mẹ trong mình. Chúng ta sẵn sàng khổ cho cha, sẵn sàng khổ cho mẹ. Khổ đau như thế không phải là một điều tiêu cực. Chúng ta khổ đau để biết cách tìm đường đi ra. Ta hãy cho phép mình khổ đau một ít. Đừng cố chạy trốn khổ đau. Đây là một sự thực tập rất mầu nhiệm. Có nhiều đứa trẻ ban đầu rất ghét khổ qua (mướp đắng), nhưng khi lớn lên chúng rất thích ăn canh khổ qua.
Trường hợp khó nhất là khi ta biết khổ đau có mặt đó nhưng không biết được bản chất của nỗi khổ đau ấy vì nó rất mơ hồ. Ta không thể gọi tên được. Nó thật sự có mặt trong ta, tuy nhiên rất khó để soi chiếu ánh sáng ý thức vào đó để nhận diện. Đó là do ta có những bế tắc trong lòng, do ta có những kháng cự, có khuynh hướng chạy trốn, và không chịu quay trở về với chính mình để nhận diện nó. Như chúng ta đã biết, đây là khuynh hướng của thức mạt na. Mỗi khi chuẩn bị tiếp xúc với nỗi khổ đau, ta không muốn đụng tới nó, ta muốn chạy trốn. Ta đã hành xử như thế lâu lắm rồi, vì vậy ta không có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc và nhận diện nỗi khổ đau. Ta phải nói với chính mình rằng ta sẽ không hành xử như vậy nữa. Bất cứ khi nào nỗi khổ đau đến gần ta, ta sẽ dừng lại để đón tiếp, ta sẽ không chạy trốn nữa. Bằng cách quan sát và ý thức chánh niệm, ta sẽ có khả năng nhận diện nỗi khổ đau trong ta. Bởi vì bất kỳ khối khổ đau nào cũng luôn tìm cách biểu hiện. Chúng ta không cần phải tìm cách trở về quá khứ để tiếp xúc và nhận diện khổ đau. Chúng ta chỉ cần có mặt trong giây phút hiện tại, với sự cẩn trọng và chánh niệm, chúng ta sẽ thấy nó biểu hiện bằng cách này hay cách khác. Khi nhận ra những dấu hiệu biểu hiện, chúng ta sẽ có khả năng nhận diện được bản chất của nỗi khổ đau đó.
Thiền tập trong đạo Bụt chú trọng đến phút giây hiện tại. Chúng ta không cần phải trở về quá khứ, trở về với tuổi thơ để tiếp xúc với nỗi khổ đau và tìm hiểu nguyên nhân của nỗi khổ đau đó. Chúng ta chỉ cần có mặt ngay nơi phút giây hiện tại và quan sát. Chúng ta sẽ thấy rằng nỗi khổ đau có gốc rễ từ quá khứ sẽ biểu hiện, có thể nỗi khổ đau này đã có từ trong nhiều kiếp trước. Thực tế nó biểu hiện trong mọi lúc và chúng ta có thể nhận diện được.
Đức Bụt là một trong những mẫu người mẫu mực, đẹp nhất của loài người mà ta gọi là loài người tỉnh thức. Chúng ta đã có loài người đứng thẳng, loài người khéo léo, và loài người ý thức. Bây giờ ta có cụm từ loài người tỉnh thức. Người tỉnh thức là người có ý thức, chánh niệm. Đây là một cụm từ đã được mọi người dùng trước đây mà không phải do tôi sáng tạo ra.
Khi con người ý thức rằng “mình sẽ bệnh, mình sẽ già, mình sẽ chết…” thì cái ý thức đó có thể mang tới cho ta nhiều lo lắng, sợ hãi, thống khổ, và điều này có thể làm cho ta bệnh hoạn. Người ta tự hỏi là liệu có một loài khác ít ý thức hơn và không khổ đau vì những lo lắng cho tương lai của mình hay không? Vì loài người có những nỗi thống khổ đó nên ta đặt ra những câu hỏi triết học như: Tôi là ai? Điều gì sẽ xảy ra cho tôi? Trong quá khứ tôi có tồn tại không? Nếu có, thì trong quá khứ tôi thuộc loài nào? Trong tương lai tôi có tồn tại không? Nếu có, tôi sẽ thuộc loài nào? Tất cả những câu hỏi đó đến từ nỗi khổ đau trầm kha của chúng ta và đem đến cho ta nhiều bất an, bệnh tật. Và những câu hỏi như: Cha mẹ tôi có muốn tôi có mặt trên cõi đời này không? Có phải tôi ra đời là vì mong muốn của cha mẹ không hay vì tai nạn? Có ai thương tôi không? Tất cả những câu hỏi đó cũng đến từ nỗi thống khổ này và những suy nghĩ dựa trên những nỗi thống khổ đó.
Tuy nhiên, khả năng ý thức, khả năng làm người có chánh niệm sẽ cứu chúng ta. Ý thức đó sẽ giúp chúng ta biết rằng môi trường hành tinh xanh này là của tất cả mọi loài, và ta nhận ra rằng loài người đang hủy hoại môi trường sống này. Khi người ta ý thức những nỗi khổ đau do áp lực chính trị, bất công xã hội gây ra, họ sẽ có khả năng dừng lại những gì họ đang làm và giúp những người khác dừng lại để đi về một hướng khác, đó là hướng bảo hộ hành tinh xanh. Ý thức của chúng ta đưa đến những lo lắng, bất an, sầu khổ. Nhưng nếu ta biết cách sử dụng ý thức đó, biết cách sử dụng chánh niệm đó, ta sẽ có khả năng thấy được tình trạng của chúng ta. Chúng ta sẽ biết những gì chúng ta nên hay không nên làm để chuyển hóa tình trạng, mang lại bình an, hạnh phúc và cuộc sống tươi đẹp cho tương lai.
Ngồi thiền không phải để đạt được giải thoát giác ngộ trong tương lai. Khi ngồi ta có cơ hội có mặt hoàn toàn cho chính mình. Chúng ta thở như thế nào để chúng ta thực sự sống trọn vẹn, hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, trong cái bây giờ và ở đây. Có thời gian để ngồi, có thời gian để đi, có thời gian để đánh răng, để tận hưởng dòng nước mát đang chảy trên đôi tay, đang tẩy sạch xà phòng khi mình rửa tay, đó là văn minh.
Khi ăn cơm, chúng ta ăn như thế nào để sự thảnh thơi, nhẹ nhàng, khinh an và hạnh phúc có mặt, bởi vì ăn cơm chung với nhau là một sự thực tập sâu sắc. Cũng giống như thở, ngồi, đi và làm việc, ta ăn như thế nào để tổ tiên của ta cùng ăn với ta. Cha ta cùng ăn với ta, mẹ ta cùng ăn với ta, ông bà nội ngoại cùng ăn với ta. Ngồi thoải mái thảnh thơi như một người tự do, không có chuyện gì ràng buộc, không lo lắng buồn khổ. Đức Bụt dạy ta khi ăn đừng để đánh mất mình trong những suy nghĩ và những cuộc chuyện trò vô nghĩa. Chúng ta nên an trú trong phút giây hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với thức ăn và với mọi người chung quanh. Ăn như thế nào mà hạnh phúc, nhẹ nhàng, bình an có mặt để cho tổ tiên và con cháu ta được thừa hưởng lợi lạc.
Khi tôi còn là một cậu bé bốn, năm tuổi, mỗi khi đi chợ về mẹ tôi thường mua cho tôi một cái bánh đậu xanh. Khi mẹ đi vắng, tôi thường ra vườn chơi với những viên sỏi và những chú ốc sên. Khi mẹ tôi về, tôi rất hạnh phúc, chạy vào cầm chiếc bánh mẹ cho rồi chạy ra vườn ăn. Tôi biết là tôi không nên ăn nhanh, tôi phải ăn thật chậm rãi, càng chậm càng tốt. Tôi chỉ cắn từng miếng thật nhỏ quanh phần rìa chiếc bánh, nhai thật chậm cho chất ngọt thấm vào miệng và ngước nhìn lên bầu trời. Rồi nhìn xuống con chó, con mèo. Tôi ăn bánh như vậy đó, phải mất nửa tiếng mới ăn hết chiếc bánh. Tôi không lo lắng gì cả. Tôi không nghĩ về danh vọng, địa vị hay lợi nhuận. Vì vậy chiếc bánh tuổi thơ là một ký ức tuyệt vời mà tôi không bao giờ quên được. Tất cả chúng ta đều sống qua những giây phút đẹp đẽ như thế khi chúng ta không tham đắm, hối tiếc bất cứ điều gì. Ta sẽ không đặt ra những câu hỏi triết học như ‘tôi là ai’ nữa. Bây giờ ta có khả năng ăn một chiếc bánh, uống một tách trà như thế không? Ta có khả sống với chính mình một cách hạnh phúc trong môi trường chúng ta đang sống không?
Chúng ta có thể học đi trở lại, chậm rãi như một người tự do, không một bóng ma nào có thể đuổi theo sau lưng ta. Chúng ta phải học cách ngồi, ngồi cho khỏe nhẹ, thoải mái như thể ta đang ngồi trên hoa sen mà không phải ngồi trên một đống than hồng. Ngồi trên than hồng ta sẽ đánh mất bình an. Chúng ta sẽ học cách thở, cách mỉm cười, cách nấu ăn. Mẹ ta đã dạy cho ta cách ăn, cách uống, cách đứng, cách đi, cách nói năng, mẹ ta dạy cho ta mọi thứ. Bây giờ ta phải học lại tất cả những thứ ấy bằng chánh niệm. Như thế chúng ta sẽ được tái sinh trở lại trong ánh sáng ý thức chánh niệm.
Bồ đề tâm là tâm giác ngộ, là sơ tâm. Khi chúng ta có cảm hứng muốn thực tập để chuyển hóa nỗi khổ đau trong ta và giúp những người quanh ta đang đau khổ cũng được chuyển hóa, cái tâm của giây phút đó rất đẹp. Đó là tâm của một vị Bồ tát, đã đạt tới giải thoát giác ngộ, muốn giúp đỡ cho tất cả chúng sanh. Có khi ta gọi đó là tâm thương yêu. Vì tình thương yêu mà ta thực tập. Chúng ta không muốn chỉ có trốn chạy khổ đau thôi, ta muốn nhiều hơn thế. Chúng ta muốn chuyển hóa nỗi khổ đau và đạt được giải thoát để giúp đỡ nhiều người chuyển hóa nỗi khổ đau của họ. Là quý thầy, quý sư cô hay cư sĩ, chúng ta phải giữ cho tâm ấy lớn mạnh, bởi vì đó là một nguồn năng lượng rất hùng hậu. Chúng ta sẽ được nuôi dưỡng bởi nguồn năng lượng ấy. Nhờ nguồn năng lượng này mà chúng ta thực tập giới luật tinh chuyên. Chúng ta sẽ đủ năng lượng để đối diện và đi ra khỏi những khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy nuôi dưỡng tâm thương yêu, gìn giữ sơ tâm, làm lớn mạnh bồ đề tâm là một sự thực tập rất quan trọng. Đừng để cho nó chết đi sau vài ba năm thực tập.
Tôi rất hạnh phúc giữ cho sơ tâm của mình lớn mạnh và bền bỉ, điều đó không có nghĩa là trên con đường thực tập tôi không gặp những chướng ngại. Thực tế tôi gặp rất nhiều chướng ngại, nhiều khó khăn trắc trở. Nhưng tôi không bỏ cuộc, bởi vì bồ đề tâm, sơ tâm trong tôi luôn luôn lớn mạnh. Vì vậy ta nên biết rằng mỗi khi tâm bồ đề còn hùng mạnh thì ta không cần phải lo lắng gì nữa cả. Cho dù gặp nhiều khó khăn trên đường đi, ta cũng có khả năng vượt qua. Khi nào thấy bồ đề tâm trong ta suy yếu thì khi đó ta biết ta sẽ gặp hiểm nguy lớn, bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra nếu tâm bồ đề trong ta suy yếu. Cho nên ta hãy nuôi dưỡng bồ đề tâm, gìn giữ vị Bồ tát trong mình suốt đời, đừng để cho nó suy yếu đi. Chúng ta sẽ là những người hạnh phúc. Và ta có khả năng chế tác hạnh phúc cho nhiều người.
Chúng ta có khuynh hướng đổ lỗi cho người khác như thể họ với ta không hề dính líu gì với nhau cả. Ta phải nhìn sâu và đặt câu hỏi là: Chúng ta có cùng lớn lên mỗi ngày không? Chúng ta có hạnh phúc mỗi ngày không? Chúng ta có hòa hợp với chính mình và những người khác quanh mình không, những người dễ thương và những người không dễ thương?
Những gì người khác nói và làm không nhất thiết phải ảnh hưởng đến ta. Ta vẫn có thể chăm sóc chính mình. Chúng ta có thể cố gắng hết sức để thực sự giúp đỡ người khác thay vì phán xét, la mắng hay tạo ra chiến tranh quanh mình.
Khi tay trái bị thương ta không hề nói là: “Đồ ngu. Tại sao mày có thể làm như vậy?”. Chúng ta chăm sóc tay trái một cách tự nhiên để cho nó được chữa lành. Đây là cách mà ta đối xử với những người khác trong gia đình hoặc trong tăng thân ta, những người không mấy dễ thương, có nhiều khó khăn và dễ bị tổn thương. Chúng ta không nói: “Anh đối xử không dễ thương với tôi, anh phải thay đổi”. Chúng ta phải học cách chăm sóc những người ấy như cách ta chăm sóc cho bàn tay trái đang bị thương.
Sở dĩ ta giận một ai đó là do ta không có khả năng thấy được nhiều yếu tố trong người đó không phải là người đó. Chúng ta không thấy được người đó hành xử vì tập khí mà người đó được trao truyền lại. Khi hiểu được một cách sâu sắc hơn, ta có thể chấp nhận người đó dễ dàng hơn. Điều này cũng đúng với tự thân chúng ta. Khi chúng ta thấy được trong ta tất cả những yếu tố đến từ nhiều nguồn khác nhau, như cha mẹ, ông bà tổ tiên và môi trường thì chúng ta sẽ thấy được đa phần những tính nết khắt khe của chúng ta đến từ những gốc rễ, yếu tố khác nhau. Chúng ta có thể thấy rằng: “A, đây là ông nội, ông đang phán xét bạn mình”. Nếu để tâm đến những hành động tương tác qua lại của ta mà không phán xét, ta sẽ làm phát khởi ý thức chánh niệm, giúp ta hiểu được những suy nghĩ, lời nói, hành động của ta không phải do một mình ta tạo ra. Tổ tiên của ta tiếp tục biểu hiện trong ta mỗi ngày. Với sự hiểu biết này, chúng ta có thể tìm cách tháo gỡ những khó khăn giữa ta với người khác để tạo nên sự an lạc.
Vì thường bị kẹt trong nhiều hình ảnh khổ đau của quá khứ nên chúng ta dễ xây dựng lên những tri giác sai lầm, dễ phản ứng lại với người khác và tạo ra nhiều khổ đau hơn. Giả sử như ta đang giận một ai đó, đó là do ta tin rằng người đó có chủ tâm, cố tình làm cho ta đau khổ, làm cho cuộc đời ta khốn đốn. Tri giác đó đưa đến sự giận dữ và phản ứng. Chính sự giận dữ và phản ứng này mang lại nhiều khổ đau hơn cho bản thân và cho tất cả những người có liên quan.
Thay vì đả kích nhau, chúng ta có thể sử dụng hơi thở chánh niệm hoặc đi thiền hành để chế tác sự tỉnh thức và tuệ giác. Chúng ta có thể thở vào thở ra để thấy được trong ta có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Trong người kia cũng có những nỗi khổ niềm đau và tri giác sai lầm. Có thể chúng ta đã đạt được một sự thức tỉnh nào đó nhưng người kia có thể không có vì họ không biết cách nhận diện và xử lý nỗi khổ niềm đau để vượt thoát tình trạng khó khăn. Người ấy đau khổ, và người ấy làm cho bản thân cũng như những người chung quanh đau khổ.
Ngay khi nhận ra được điều này, ta nhìn người ấy bằng một cách khác. Ta thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy và ta hiểu được rằng người ấy không biết cách xử lý khổ đau của họ. Khi chúng ta có khả năng thấy được nỗi khổ niềm đau trong người ấy, thấy được tình trạng của người ấy, lòng từ bi trong ta sẽ phát khởi. Khi từ bi phát khởi thì cơn giận được chuyển hóa. Chúng ta không hành động để trừng phạt bởi vì ta không còn giận dữ nữa.
Đây là sự can thiệp của tuệ giác. Nhờ tuệ giác mà ta được an toàn bởi vì tuệ giác giúp ta điều chỉnh lại tri giác sai lầm. Khi tri giác sai lầm không còn thì sự giận dữ, sợ hãi và tuyệt vọng cũng không còn. Ta sẽ phát khởi tâm từ bi và thiện chí muốn giúp đỡ.
Tư niệm thực (ước muốn của ta) là nền tảng căn bản của mọi hành động. Khi có tri giác sai lầm thì cái ước muốn của ta thúc đẩy, khiến ta phản ứng tạo thêm nhiều khổ đau hơn. Tuy nhiên nếu có tuệ giác, ước muốn của ta sẽ trở thành ước muốn tốt, trở thành nguồn tư niệm thực tốt. Chúng ta có cảm hứng muốn giúp đỡ mà không phải trừng phạt. Khi động cơ thúc đẩy của ta đi về hướng tích cực, ta sẽ thấy khỏe hơn nhiều cho dù ta chưa làm gì cả. Ta hưởng được lợi lạc từ sự thực tập này ngay lập tức. Người kia, người mà ta nghĩ đã gây khổ đau cho ta cũng sẽ hưởng được lợi lạc theo sau đó.
Có thể cha ta xem ta như một thứ tài sản quý báu của cha, như nhà cửa, tiền bạc, xe hơi. Cha nghĩ rằng ta là con của cha, cha đã làm tất cả mọi thứ cho ta, và cha chỉ muốn ta đi theo con đường mà cha đã vạch ra. Cha không nghĩ rằng ta cũng là một con người như bao người khác có quyền được suy nghĩ, được hành động, được đi theo những gì mà ta tin là chân thiện mỹ. Tại sao lại có những người cha như thế? Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những người cha rất khác, rất tâm lý, có khả năng đối xử với con mình một cách rất kính trọng, cho con quyền được tự do lựa chọn.
Nếu cha đối xử không tốt với ta, có thể là do cha ta thiếu may mắn. Nền giáo dục và môi trường của cha không dạy cho cha cách cảm nhận cũng như cách bày tỏ tình thương yêu và sự hiểu biết. Nếu ta đổ lỗi cho cha, nếu ta muốn trừng phạt cha thì cha ta chỉ khổ đau hơn mà thôi. Ngoài ra không có lợi lạc gì cả. Chúng ta không thể giúp đỡ cha bằng cách ấy. Nếu ta hiểu được rằng do cha mình thiếu may mắn thì cái giận của ta đối với cha sẽ tan biến. Ta sẽ thấy cha ta là người cần tình thương của ta mà không phải sự trừng phạt.
Tất nhiên, ta cũng cần giữ cho mình được an toàn. Nếu cha ta làm tổn hại ta vì cảm xúc hoặc hành động thì ta không nên đến gần cha. Tuy nhiên bỏ trốn cha cũng làm tăng thêm nỗi khổ đau cho cả hai bên. Nếu không thực tập chánh niệm với cha mẹ, chúng ta sẽ tạo ra địa ngục cho nhau.
Hễ khi nào cha mẹ và con cái xung đột, cãi cọ, la mắng nhau thì bao giờ con cái cũng thiệt thòi hơn, bởi vì con cái không được nói lại những lời mà cha mẹ đã nói với chúng. Cha mẹ có thể đánh con cái nhưng con cái không thể đánh lại cha mẹ. Cha mẹ có thể mắng nhiếc con cái nhưng con cái không thể mắng nhiếc cha mẹ. Vì chúng không thể bạo động lại như những gì chúng nhận được nên chúng trở nên bệnh hoạn. Những bạo động mà chúng nhận được vẫn còn đó trong chúng, và nó muốn tìm đường để thoát ra, muốn bạo động trở lại. Là một người trẻ, sở dĩ ta không đối xử tốt với bản thân, làm cho bản thân bị tổn thương là do ta không biết cách để cho những bạo động trong ta thoát ra ngoài. Chúng ta là nạn nhân của những bạo động mà ta nhận được từ cha mẹ và xã hội.
Đôi khi cha mẹ chúng ta cũng không đủ khéo léo và sáng suốt để không bạo động với con cái cho dù họ rất muốn thương yêu con cái, muốn làm cho con cái hạnh phúc. Tôi biết có một em thanh niên trẻ đang học ngành y khoa. Cha em là một bác sĩ. Em muốn mình là một người thuộc thế hệ trẻ, hành xử phóng khoáng hơn, và em hứa với lòng mình là lớn lên em sẽ không hành xử như cha em. Nhưng khi làm cha, em lại hành xử y hệt như cha mình. Em la mắng và phê bình con cái mỗi ngày.
Khi làm con, ta nguyện làm ngược lại những gì mà cha mẹ ta đã làm. Tuy nhiên khi có con, chúng ta thường lặp lại tập khí của cha mẹ. Đó là một vòng luẩn quẩn, nối tiếp những nỗi khổ đau trong cuộc sống từ thế hệ này sang thế hệ khác. Chúng ta phải thực tập để chấm dứt vòng luân hồi này, dừng lại những tập khí của mình và không để cho chúng ảnh hưởng đến mối quan hệ của ta với con cái.
Cả hai thế hệ phải nhận diện được những bạo động đang hủy hoại chúng ta, hủy hoại những người ta thương yêu. Cả hai bên đều phải tìm cách nhìn sâu bởi vì cả hai đều là những nạn nhân. Con cái nghĩ rằng mình là nạn nhân của cha mẹ, và cha mẹ nghĩ rằng cha mẹ là nạn nhân của con cái. Chúng ta tiếp tục đổ lỗi cho nhau. Chúng ta không chấp nhận sự thật là bạo động có mặt trong cả hai bên. Vì vậy thay vì xung đột, cãi cọ, la mắng nhau, cả hai bên cha mẹ và con cái nên đến với nhau để tìm cách hòa giải. Không phải vì chúng ta khổ đau thì chúng ta tiếp tục làm cho người kia khổ đau. Bên nào cũng đều khổ đau nhiều vì cùng những nguyên nhân như nhau. Vì vậy, chúng ta cần những đồng minh chứ không phải là kẻ thù. Những nỗi khổ niềm đau trong ta cũng đủ giúp ta biết cách làm thế nào để không lặp lại những lỗi lầm đó nữa. Đức Bụt nói rằng: “Tất cả những gì xảy ra, ta phải quán chiếu sâu sắc vào bản chất của nó”. Một khi hiểu được bản chất của sự vật là ta đang đi trên con đường tự do giải thoát rồi.
Vì vậy hai bên phải đến với nhau, bạn đến với bạn, mẹ đến với con. Chúng ta đồng ý với nhau rằng cả hai bên đều đang khổ đau. Cả hai bên đều có những bạo động, hận thù và phiền não trong lòng. Thay vì chống đối hay đổ lỗi, chúng ta nên giúp đỡ và thực tập chung với nhau, nếu cần ta cũng có thể nhờ thầy hoặc tăng thân giúp đỡ.
Tôi biết có một thanh niên trẻ rất giận cha và đã nói: “Con không có liên quan gì với cha cả”. Điều này cũng dễ hiểu. Anh ta nghĩ rằng tất cả những nỗi khổ đau của mình là do cha gây nên và anh ta không muốn dính líu gì đến cha cả. Anh ta muốn cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ. Tuy nhiên, nếu nhìn sâu anh ta sẽ thấy rằng cho dù anh ta có giận cha mình đến tận xương tủy đi nữa thì người kia vẫn là cha mình, anh là sự tiếp nối của cha. Ghét cha tức là ghét mình. Không có cách nào khác hơn là chấp nhận cha. Nếu trái tim ta nhỏ bé thì ta không thể ôm ấp được người kia, vì vậy ta phải có trái tim rộng lớn hơn. Ta có thể làm mọi cách cho trái tim ta rộng lớn để có đủ không gian ôm ấp cha ta.
Nhìn sâu là sự thực tập duy nhất giúp cho trái tim rộng mở đến vô lượng, vô biên, không thể nào đo lường được. Một trái tim mà còn có thể đo lường được thì không phải là một trái tim lớn. Có bốn yếu tố để làm nên tình thương chân thật, gọi là tứ vô lượng tâm. Đó là từ (maitrī), bi (karuṇā), hỷ (muditā) và xả (upekṣā). Chúng ta thực tập bốn yếu tố này để biến trái tim ta thành vô lượng. Khi trái tim ta bắt đầu lớn rộng, chúng ta sẽ có khả năng dung chứa, chấp nhận bất kỳ loại khổ đau nào. Khi có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau trong lòng, ta sẽ không còn khổ đau nữa.
Đức Bụt ví trái tim rộng lớn giống như một dòng sông. Nếu có một chút bùn nhơ rơi vào ly nước thì ta không thể uống nước đó được mà ta phải đổ nó đi. Nhưng nếu ta thả chút bùn nhơ đó vào trong một dòng sông rộng lớn thì ta vẫn có thể sử dụng nước trong dòng sông ấy. Vì dòng sông lớn có khả năng chấp nhận chút bùn nhơ đó mà không ảnh hưởng đến dòng nước.
Khi trái tim ta bé nhỏ, ta không thể chịu đựng được nỗi khổ niềm đau do người khác và xã hội giáng xuống cho ta. Nhưng nếu trái tim ta rộng lớn thì ta có khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau ấy và ta sẽ không khổ đau. Thực tập tứ vô lượng tâm là giúp cho trái tim ta rộng lớn như dòng sông.
Maitrī nghĩa là từ. Gốc của nó là mitra, nghĩa là bạn. Từ quán giúp ta trở thành người bạn cho chính mình và cho người khác. Chúng ta có thể bắt đầu thực tập bằng lời nguyện: “Nguyện cho con…”. Sau đó ta vượt thoát lời nguyện, nhìn sâu vào những đặc tính tích cực và tiêu cực của đối tượng thiền quán, trong trường hợp này là chính mình. Thiện chí thương yêu chưa phải là tình thương yêu. Chúng ta phải nhìn sâu với tất cả con người của mình để hiểu. Chúng ta không phải chỉ lặp lại ngôn từ. Đây không phải là tự kỷ ám thị. Chúng ta cần nhìn sâu vào thân thể, cảm thọ, tri giác, tâm hành và nhận thức của mình, chỉ trong vòng vài tuần thì nguyện ước thương yêu của ta sẽ trở thành một ước muốn sâu sắc. Tình thương sẽ đi vào suy nghĩ, lời nói, hành động của ta, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta sẽ trở nên an vui, hạnh phúc và nhẹ nhàng hơn, trong thân cũng như trong tâm.
Phép từ quán này được dựa vào Thanh Tịnh Đạo Luận (Visuddhimagga) của ngài Phật Âm (Buddhaghoṣa) là một bộ luận hệ thống hóa những lời dạy của Bụt, được thực hiện vào thế kỷ thứ 15. Chúng ta bắt đầu thực tập từ quán với chính mình “Nguyện cho con…”. Không có khả năng thương yêu và chăm sóc chính mình, ta không thể giúp được cho người khác. Sau khi thực tập với chính mình, ta thực tập cho người khác: “Nguyện cho người ấy… hoặc Nguyện cho họ…”, trước hết là những người ta thích, kế đến là những người bình thường, sau đó đến những người ta thương yêu và cuối cùng là những người gây khổ đau cho ta.
Nguyện cho thân tâm con được nhẹ nhàng, an lạc và thảnh thơi.
Nguyện cho con được an toàn và không vướng vào tai nạn.
Nguyện cho con thoát khỏi sự giận hờn, ưu sầu, sợ hãi và lo lắng.
Nguyện cho con học nhìn vào chính con bằng đôi mắt hiểu biết và thương yêu.
Nguyện cho con có khả năng nhận diện và tiếp xúc được với những hạt giống an vui, hạnh phúc trong con.
Nguyện cho con nhận diện và thấy được nguồn gốc của sự giận hờn, tham đắm, si mê trong con.
Nguyện cho con biết cách nuôi dưỡng những hạt giống an vui, hạnh phúc mỗi ngày trong con.
Nguyện cho con có khả năng sống tươi mát, vững chãi và thảnh thơi.
Nguyện cho con không rơi vào thái độ dửng dưng, không kẹt vào hai mặt tham đắm và ghét bỏ.
Tình thương yêu không chỉ là ước muốn thương yêu, mà là khả năng làm vơi bớt nỗi khổ đau và hiến tặng niềm an vui, hạnh phúc. Thực tập thương yêu là làm lớn mạnh tính kiên nhẫn và khả năng ôm ấp nỗi khổ niềm đau. Nếu trái tim ta rộng lớn, ta có thể ôm được niềm đau mà không khổ. Kiên nhẫn không có nghĩa là đè nén niềm đau.
Nếu ta và người kia, hay ta và gia đình ta không muốn khổ đau, không muốn kẹt vào trong những cuộc xung đột, đổ lỗi cho nhau, chúng ta có thể ký một hiệp ước. Chúng ta nói rằng: “Em ơi, tôi biết trong em có hạt giống giận dữ. Tôi biết mỗi khi tôi tưới tấm hạt giống giận dữ đó thì em khổ và em cũng làm tôi khổ. Vì vậy, tôi nguyện không tưới tẩm hạt giống giận dữ trong em. Tôi hứa như vậy. Tất nhiên tôi cũng hứa là sẽ không tưới tẩm hạt giống giận dữ trong tôi. Xin em hãy quán chiếu xem thử chúng ta có thể cam kết với nhau hay không. Trong đời sống hằng ngày, xin em đừng đọc, đừng xem, đừng tiêu thụ bất cứ thứ gì tưới tẩm hạt giống giận dữ, bạo động trong em. Em biết là trong tôi có hạt giống giận dữ rất lớn. Mỗi khi em tưới tẩm hạt giống giận dữ trong tôi bằng lời nói hay hành động thì tôi khổ đau và tôi làm cho em khổ đau. Vì vậy, chúng ta phải ý thức và nỗ lực để đừng tưới tẩm những hạt giống bạo động và giận dữ cho nhau”.
Đó là một phần của hiệp ước sống chung an lạc mà chúng ta cam kết với người thương của chúng ta, như vợ, chồng, con cái. Nếu có ai đó trong gia đình hay trong tăng thân làm chứng cho việc ký kết hiệp ước của ta thì rất tuyệt vời. Theo hiệp ước sống chung an lạc thì mỗi khi cơn giận phát khởi, ta không nói gì và làm gì cả. Chúng ta chỉ trở về ngôi nhà của chính mình để chăm sóc cơn giận, chúng ta thực tập nhìn sâu để tiếp xúc và nhận diện nguồn gốc của nỗi khổ đau trong ta.
Tuệ giác đầu tiên mà ta đạt được đó là thấy được nguồn gốc chính của nỗi khổ đau là do hạt giống giận dữ trong ta, còn người kia chỉ là nguyên nhân thứ hai. Chúng ta có thể nhìn vào người kia và hiểu được là họ không biết cách thực tập, không biết cách làm chủ và chăm sóc những bạo động trong họ. Người ấy đã khổ đau nhiều lần và đã trở thành nạn nhân của chính nỗi khổ đau của họ. Vì vậy người ấy tiếp tục khổ đau và làm cho những người chung quanh đau khổ. Điều này cũng rất tự nhiên. Người ấy cần sự giúp đỡ hơn là trừng phạt. Đó là tuệ giác thứ hai mà ta đạt được.
Chúng ta cũng có thể đi xa hơn nữa bằng cách đặt câu hỏi: “Nếu người kia cần sự giúp đỡ thì ai sẽ là người giúp họ?”. Chúng ta nhận ra rằng chúng ta là người hiểu người ấy hơn ai hết, và ta có nhiệm vụ trở về để giúp đỡ người ấy. Khi cái ước muốn trở về giúp đỡ người ấy phát sinh trong ta, ta biết rằng cơn giận của ta đã chuyển hóa thành tình thương yêu. Tình thương và lòng từ bi thúc đẩy ta trở về giúp đỡ. Tôi biết có nhiều người trẻ thực tập ở Làng Mai đã trở về nhà giúp đỡ cha mẹ họ. Họ không còn giận cha mẹ nữa.
Có một chàng thanh niên rất giận dữ với mẹ. Tôi yêu cầu mọi người đang tham dự khóa tu viết xuống những phẩm chất tốt đẹp của cha mẹ mình. Chàng thanh niên đó tự nói với chính mình rằng: “Ồ, viết những đức tính tốt của cha thì dễ, nhưng viết những đức tính tốt của mẹ thì chẳng có gì nhiều để viết cả”. Nhưng rồi anh ta cũng ngồi xuống viết; và khi bắt đầu đặt bút xuống, anh ta rất ngạc nhiên là mình tìm thấy hết điểm này đến điểm khác, cứ thế mà anh ta viết xuống rất nhiều những đức tính tốt của mẹ. Một trang không đủ. Anh ta phải lật sang trang khác và tiếp tục viết.
Trong suốt thời gian này, anh ta thực tập nhìn sâu và nhận ra rằng mẹ mình có rất nhiều đức tính tốt. Anh ta giận mẹ chỉ vì một điểm, thế mà cơn giận che hết tất cả mọi thứ khác. Làm xong bài tập này anh ta khám phá ra mẹ mình là một người quá tuyệt vời. Và bài tập tiếp theo là anh ta viết bức thư đầy tình cảm cho mẹ.
Trong lá thư anh ta nói: “Mẹ ơi, con rất hạnh phúc và tự hào là đã có người mẹ như mẹ”. Và anh ta đề cập đến tất cả những đức tính tốt mà anh ta được tiếp nhận từ mẹ. Một tuần sau, vợ anh từ Mỹ gọi điện thoại và báo cho anh biết rằng: “Mẹ anh rất hạnh phúc khi đọc bức thư của anh. Mẹ nói là mẹ đã khám phá ra rằng mẹ có một người con rất tuyệt vời. Và mẹ nói là nếu bà ngoại còn sống mẹ sẽ viết cho bà ngoại một lá thư như thế”.
Sau khi nói chuyện với vợ, người thanh niên này viết cho mẹ anh một lá thư khác: “Mẹ ơi, nếu mẹ nhìn sâu, mẹ sẽ thấy rằng bà ngoại vẫn còn sống trong mẹ, trong mỗi tế bào cơ thể mẹ. Và con tin chắc rằng nếu mẹ ngồi xuống viết thư cho bà ngoại thì bà ngoại sẽ đọc được lá thư ấy. Không quá trễ đâu mẹ”. Tình mẹ con được tái lập một cách đẹp đẽ mà không cần nhiều thời gian.
Theo Hiệp ước sống chung an lạc, nếu ta không có khả năng chuyển hóa cơn giận sau khi thực tập ôm ấp và nhìn sâu vào nó, chúng ta phải cho người kia biết trước 24 giờ, chúng ta phải nói với người ấy tình trạng của ta. Thật không lành mạnh nếu ta giữ nó trong lòng. Ta hãy tới với người kia và nói là ta đang giận, ta đang khổ đau. Nếu ta cảm thấy ta chưa bình tĩnh, ta có thể viết xuống giấy. Theo Hiệp ước sống chung an lạc, chúng ta phải gởi mẩu giấy nhắn tin này trước khi hết hạn. (Xem Mẩu giấy nhắn tin ở sau)
Ở Làng Mai có ba câu linh chú để thực tập khi ta khổ đau vì một ai đó. Chúng ta có thể viết xuống, cất vào ví của mình để nhắc nhở ta thực tập. Câu thứ nhất là: “Em yêu, tôi đang giận. Tôi đang khổ đau và tôi muốn em biết điều này”. Bằng lời nói ái ngữ, ta cho người kia biết sự thật là ta đang khổ đau, ta đang giận người ấy. Có thể ta tự cao tự đại, tự cho mình là đúng. Và khi một người khác tới hỏi ta có ổn không, ta có giận không, có thể ta nói: “Tôi à, tôi mà giận à? Tôi không giận gì cả, không khổ đau gì hết”. Điều này là đi ngược lại với sự thực tập. Thay vì nói như vậy, ta nói rằng: “Em yêu, tôi giận lắm, thật sự rất giận. Tôi khổ đau và muốn em biết điều này”. Nếu muốn ta có thể nói tiếp: “Tôi không hiểu tại sao em lại nói những điều như thế, em lại làm những điều như thế đối với tôi. Tôi rất đau khổ”. Đó là nội dung của câu thần chú thứ nhất.
Câu thần chú thứ hai: “Tôi sẽ cố gắng hết sức”. Điều này có nghĩa là tôi đang thực tập. Tôi biết là mỗi khi tôi giận, tôi không nên nói và làm gì cả mà chỉ trở về với hơi thở, thực tập ôm ấp cơn giận bằng chánh niệm, và nhìn sâu vào nó để thấy rõ gốc rễ sâu xa của nó. Tôi đang cố gắng hết sức. Ta chỉ cho người kia thấy được ta là một hành giả, ta biết cách xử lý cơn giận của ta. Điều này tạo thêm niềm tin và sự kính trọng trong lòng người ấy. Đây cũng là một lời mời gián tiếp, mời người kia cùng thực tập và tự hỏi: “Mình đã làm gì, nói gì khiến người kia đau khổ như vậy?”. Chừng đó là đã bắt đầu thực tập rồi. Câu thần chú thứ hai là mời người kia nhìn sâu để xem thử là người kia đã nói và làm như vậy có chính đáng hay không.
Câu thần chú thứ ba là: “Xin em hãy giúp đỡ tôi”. Bởi vì một mình tôi, tôi không thể chuyển hóa nổi nỗi khổ đau và cơn giận này. Nếu có khả năng viết ra câu thần chú thứ ba này thì ta đã bớt khổ đi rồi. Khi đã trở thành bạn đồng hành với nhau trên con đường thực tập, ta phải chia sẻ với nhau cả niềm hạnh phúc lẫn nỗi khổ đau. “Bây giờ tôi khổ đau và tôi muốn chia sẻ nỗi khổ đau này với anh và tôi muốn anh giúp tôi.” Nếu ta có khả năng viết xuống câu này nghĩa là ta đã vượt qua được sự tự ái của ta.
Thông thường khi bị tổn thương quá nặng, ta muốn trở về phòng, khóc một mình và từ chối sự giúp đỡ của người khác. Chúng ta tự ái. Chúng ta muốn trừng phạt người kia, bằng cách cho người ấy biết không có người ấy ta vẫn có thể sống bình thường. Vì vậy ba câu này là những hướng dẫn giúp ta thực tập. Thay vì từ chối sự giúp đỡ, ta nói: “Em yêu, anh rất giận em. Anh đang khổ đau. Anh muốn em biết điều này. Anh đang làm hay nhất có thể để xử lý nỗi khổ đau của mình. Xin em giúp đỡ anh”. Ta có thể viết những câu này xuống trên những tấm giấy nhỏ cỡ tấm ‘name card’ và cất vào ví. Khi năng lượng giận dữ xuất hiện, ta biết ta nên làm gì. Ta có thể lấy nó ra đọc. Trong giây phút này Bụt sẽ có mặt với ta. Ta biết rõ những gì nên làm và những gì không nên làm. Nhiều người đã thực tập điều này và chuyển hóa được mối quan hệ của mình, giữa cha và con trai, mẹ và con gái hay giữa những cặp vợ chồng với nhau. Thực tập hơi thở chánh niệm và đi thiền hành giúp ta làm lắng dịu thân tâm rất lớn. Chúng ta cố gắng hết sức mình để giải quyết tình trạng. Đừng phản ứng, đừng để cho cơn giận và bạo động gây thêm khổ đau nữa.
Ba câu linh chú này là nền tảng căn bản của một lá thư hòa giải. Viết thư là một sự thực tập rất quan trọng. Cho dù ta có thiện chí lớn bao nhiêu đi nữa nhưng nếu sự thực tập của ta không đủ vững chãi, chúng ta cũng có thể bực bội cáu gắt khi nói chuyện và rồi ta sẽ phản ứng thiếu khéo léo. Điều đó sẽ đánh mất cơ hội hòa giải. Vì vậy đôi khi để an toàn và dễ dàng hơn ta nên viết thư. Trong thư ta cũng có thể nói thật hoàn toàn. Chúng ta có thể cho người kia biết những điều mà người kia đã làm khiến cho ta khổ đau và tổn thương. Chúng ta có thể viết tất cả những điều ta cảm nhận trong lòng.
Trong khi viết thư, sự thực tập của chúng ta là làm lắng dịu những cảm xúc và sử dụng ngôn ngữ hòa ái, thương yêu. Chúng ta cố gắng thiết lập một cuộc đối thoại. Chúng ta có thể viết: “Anh ơi, có thể em là nạn nhân của tri giác sai lầm, và những gì em viết ra đây có thể không phản ánh đúng sự thật. Tuy nhiên, đây là cái thấy của em, là điều em thật sự cảm nhận trong trái tim mình. Nếu tri giác em sai lầm thì xin anh hãy giúp em lấy đi cái tri giác sai lầm này ra khỏi em. Nếu những gì em viết không đúng sự thật thì xin anh hãy cùng em nhìn lại để làm rõ vấn đề này hơn và phá tan những hiểu lầm trong nhau”. Khi viết thư chúng ta phải sử dụng ái ngữ. Nếu có một câu nào đó chưa đủ khéo léo, ta có thể làm mới lại và viết lại câu khác dễ thương hơn.
Trong lá thư, chúng ta phải chứng minh là ta có khả năng hiểu được nỗi khổ đau của người kia. “Anh thương mến, em biết là anh đang đau khổ. Và em biết là anh không hoàn toàn chịu trách nhiệm về nỗi khổ đau của anh”. Khi thực tâp nhìn sâu, ta có thể khám phá ra gốc rễ và nguyên nhân nỗi khổ đau của người kia. Chúng ta có thể nói cho người kia nghe tất cả những gì ta thấy. Chúng ta cũng có thể nói cho người kia biết nỗi khổ của ta, và cho người kia biết là ta hiểu được vì sao người kia lại hành xử, nói năng như vậy.
Chúng ta có thể để dành một, hai, ba tuần để hoàn tất lá thư bởi vì đây là một lá thư rất quan trọng.
Lá thư này rất thiết thực cho hạnh phúc của chúng ta. Khoảng thời gian ta dành để viết lá thư này thậm chí còn quan trọng hơn là khoảng thời gian một, hai năm ta dùng để viết luận án tiến sĩ. Luận án của ta không quan trọng bằng lá thư. Viết thư như thế là cách hay nhất ta có thể làm để phá tan những chướng ngại trong ta và tái lập được truyền thông. Chúng ta là bác sĩ, là nhà tâm lý trị liệu giỏi nhất cho người thương của ta, bởi vì ta hiểu người đó nhất.
Chúng ta không làm điều này một mình. Chúng ta có những người anh, người chị đã từng thực tập có thể soi sáng và giúp ta viết lá thư này. Người mà ta cần, có mặt ngay tại đây trong tăng thân của chúng ta. Khi viết một cuốn sách, ta thường gởi bản thảo cho bạn bè hoặc cho những nhà chuyên môn nhờ họ đọc và góp ý giúp. Những người bạn đồng hành trong sự thực tập của ta là những chuyên gia, bởi vì họ biết thực tập lắng nghe bằng tâm từ bi, biết quán chiếu vấn đề sâu sắc và biết nói năng bằng lời ái ngữ. Vì vậy ta đưa thư nhờ sư chị sư anh đọc giúp, và xin sư chị sư anh nói cho ta biết là ngôn ngữ ta sử dụng có đủ hòa ái, bình an, trầm tĩnh chưa, tuệ giác của ta đã đủ sâu chưa. Sau đó ta đưa lá thư này cho một người sư anh sư chị khác. Chúng ta cứ tiếp tục làm như vậy cho đến khi ta thấy lá thư có khả năng mang đến sự chuyển hóa trong người kia và giúp người kia trị liệu.
Chúng ta phải đầu tư thời gian, năng lượng và tình thương yêu vào những lá thư như thế. Không ai lại từ chối giúp đỡ ta trong nỗ lực quan trọng này. Tái lập truyền thông với người ta thương yêu và quan tâm chăm sóc là điều rất quan trọng. Người đó có thể là cha ta, mẹ ta, con gái, con trai ta hay là người bạn hôn phối của ta. Người đó cũng có thể là người ngồi cạnh ta. Chúng ta có thể bắt đầu liền ngay bây giờ. Chúng ta có thể bắt đầu viết thư hôm nay. Chúng ta sẽ khám phá ra rằng chỉ cần một cây viết và một tờ giấy thôi là chúng ta có thể làm thay đổi mối quan hệ của chúng ta.
Trong khi ngồi thiền, đi thiền, làm vườn, dọn dẹp hay nấu ăn ta không nghĩ về lá thư. Tuy nhiên tất cả những gì ta làm đều liên quan đến lá thư. Thời gian ta ngồi xuống viết thư chỉ là thời gian ta trải lòng mình ra lên tờ giấy. Chúng ta viết thư khi ta tưới rau, đi thiền hành, nấu cơm cho đại chúng. Tất cả những thực tập này giúp cho ta vững chãi hơn, bình an hơn. Chánh niệm và chánh định mà ta chế tác qua những công việc hằng ngày giúp cho hạt giống của sự hiểu biết, thương yêu trong ta lớn lên. Nếu lá thư của ta được viết ra từ nguồn năng lượng chánh niệm mà ta chế tác trong ngày thì đó là một lá thư quá tuyệt vời. Cho dù những lúc ta không nghĩ về lá thư thì lá thư cũng đang được viết từ trong chiều sâu tâm thức của ta.
Chúng ta không thể chỉ ngồi viết thư thôi. Chúng ta cũng cần phải làm những thứ khác nữa. Chúng ta uống trà, nấu ăn, giặt áo, tưới rau. Thời gian ta làm những công việc này vô cùng quan trọng. Chúng ta phải làm cho đàng hoàng. Chúng ta phải để một trăm phần trăm con người mình vào việc nấu ăn, tưới cây hay rửa chén. Chúng ta thưởng thức tất cả những gì ta đang làm và làm một cách sâu sắc. Điều này rất quan trọng cho lá thư của ta và cho bất cứ điều gì ta muốn thực hiện.
Giải thoát, giác ngộ không tách rời việc rửa chén hay trồng rau. Học cách sống sâu sắc trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày bằng năng lượng chánh niệm và chánh định là sự thực tập của chúng ta. Những ý niệm và những sáng tạo cho tác phẩm nghệ thuật của ta diễn ra ngay nơi mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Lúc ta bắt đầu viết nhạc hay làm thơ chỉ là thời gian ta sinh nó ra. Giống như là thời gian ta sinh con vậy. Đứa bé đã có trong ta rồi trước khi ta sinh ra. Nếu trong ta không có ý niệm gì thì cho dù ta có ngồi vào bàn từ giờ này sang giờ khác, ta cũng không viết được gì, không có gì để cho ra cả. Tuệ giác, lòng từ bi và khả năng viết thư khiến cho trái tim người kia xúc động là hoa trái của sự thực tập. Chúng ta phải tận dụng từng phút giây của đời sống hằng ngày để cho tuệ giác và từ bi đơm hoa.
Chính năng lượng chánh niệm trong ta cho phép ta viết một lá thư rất thực, đầy tình thương yêu và có khả năng hòa giải với người kia. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu được làm bằng tuệ giác, hiểu biết và từ bi. Nếu không thì đó không phải là một lá thư đầy tình thương yêu. Một lá thư chân thành đầy tình thương yêu phải có khả năng mang lại sự chuyển hóa trong người kia và trên thế giới. Nhưng trước khi mang lại sự chuyển hóa cho người kia chúng ta phải chuyển hóa trong tự thân mình. Có những lá thư mà ta có thể để ra cả đời để viết.
Chúng ta không nên nản lòng khi nhận ra rằng trong quá khứ chúng ta đã từng khổ đau và đã từng làm cho người kia đau khổ. Nếu biết cách xử lý khổ đau, ta sẽ có khả năng thừa hưởng được những lợi lạc do khổ đau đem đến. Cố nhiên ta đã gây ra những lỗi lầm, ta đã không khéo léo. Ta đã làm cho bản thân ta khổ đau và làm cho những người chung quanh ta khổ đau. Nhưng điều đó không ngăn cản ta làm mới trở lại và làm hay hơn cho năm tới, thậm chí là ta có thể làm hay hơn cho giây phút tới. Chúng ta nên nhìn vào nỗi khổ đau của mình như thế nào đó để nỗi khổ đau có thể trở thành điều tích cực. Tất cả chúng ta ai cũng mắc phải những lỗi lầm và thiếu sự khéo léo. Tuy nhiên điều đó không ngăn cản ta cải thiện, làm mới lại và chuyển hóa.
Khi có điều gì bất ổn xảy ra, ta muốn sửa chữa ngay. Chúng ta muốn làm cho những nỗi khổ đau, những sai lầm của ta biến đi càng nhanh càng tốt. Tuy nhiên khi có khó khăn xảy ra, bước đầu tiên ta cần làm là nhận diện khó khăn mà không phải là chỉnh sửa. Sau khi có mặt với chính mình một thời gian, ta sẽ dễ dàng đến gần với người mà ta đang tranh cãi. Chúng ta có thể nói: “Em yêu, tôi biết là trong những năm tháng trước em đã khổ đau rất nhiều. Và tôi đã đóng góp vào làm cho nỗi khổ đau trong em lớn hơn. Tôi đã không chánh niệm đủ. Tôi đã không hiểu đủ nỗi khổ đau và khó khăn của em. Có thể tôi đã làm, đã nói những điều làm cho tình trạng tệ hại hơn. Tôi rất xin lỗi. Tôi không muốn điều đó xảy ra. Tôi muốn em hạnh phúc, an toàn, tự do và có nhiều niềm vui sống. Nhưng vì tôi không hiểu đủ em, không hiểu đủ nỗi khổ đau của em nên nhiều khi tôi đã không khéo léo. Có lẽ em có cảm tưởng là tôi muốn làm cho em đau khổ. Nhưng điều đó không đúng. Vì thế xin em hãy nói cho tôi biết nỗi khổ đau của em để tôi không lặp lại những lỗi lầm tương tự như trong quá khứ tôi đã gây ra. Hạnh phúc của em rất quan trọng cho hạnh phúc của tôi. Hãy nói cho tôi nghe những nỗi sợ hãi, những mối quan tâm, những khó khăn của em để tôi có thể giúp em dễ dàng hơn”. Đó là ngôn ngữ phát sinh từ ý thức.
Nhiều người trong chúng ta đã không chánh niệm đủ để hiểu được những khó khăn, khổ đau, giận hờn và phiền muộn của con em mình. Cha mẹ phải có khả năng nói chuyện được với con cái bằng ngôn ngữ của trái tim. Như thế ta mới có khả năng tái lập lại truyền thông và tạo nên sự an lạc cho cả hai bên. Nhờ đó quá trình trị liệu sẽ bắt đầu xảy ra.
Tất cả chúng ta đều biết rằng bình an phải đến từ chính tự thân mình. Nhưng không phải ai cũng biết cách chế tác bình an. Khi chúng ta chế tác được năng lượng chánh niệm thì nỗi khổ đau của chúng ta sẽ chuyển hóa thành nguồn hiểu biết thương yêu, và sự hòa giải sẽ xảy ra dễ dàng hơn nhiều. Trước đó ta không thể hòa giải được. Sự tự ái, giận dữ, sợ hãi, khổ đau trấn ngự tâm ý ta, ngăn cản con đường của ta. Nhờ chánh niệm mà sự hiểu biết thấm nhuần vào mảnh đất tâm của ta và có khả năng làm ứa ra những giọt nước cam lộ thanh lương.
Ở Làng Mai, có một cặp vợ chồng sắp cưới nhau đến hỏi tôi: “Thưa thầy, còn 24 giờ đồng hồ nữa là chúng con làm lễ kết hôn. Chúng con có thể chuẩn bị những gì cho buổi lễ của chúng con được thành công tốt đẹp?”. Tôi trả lời: “Điều quan trọng nhất là hai con phải nhìn sâu vào chính tự thân mình để xem trong lòng hai con còn có chướng ngại nào không. Ngay giây phút này có ai mà hai con chưa hòa giải được hay không? Trong lòng hai con có điều gì chưa hòa giải hay không?”. Hòa giải không phải lúc nào cũng là hòa giải với người khác, có khi ta phải hòa giải với chính tự thân mình. Trong ta có rất nhiều xung đột vì vậy ta phải ngồi xuống hòa giải những xung đột đó. Chúng ta phải đi thiền hành, phải ngồi thiền để nhận diện những gì đang xảy ra trong ta, để thấy rõ tình trạng của ta và những gì ta cần làm.
Chúng ta đi thiền hành, ngồi thiền, nấu ăn, rửa bát,… làm tất cả những công việc ấy là để nhìn sâu và thấy rõ những gì cần làm để làm mới lại. Cuối cùng, đôi bạn trẻ ấy nhận ra là họ có quá nhiều thứ để làm trước buổi lễ tân hôn, mà họ chỉ có 24 giờ đồng hồ. Họ có một người bạn cần phải hòa giải liền. Làm sao họ có thể gởi lá thư cho người ấy trong vòng 24 tiếng đồng hồ? Nếu ta hòa giải được với người ấy trong tự thân, như thế cũng đủ. Bởi vì sau đó hiệu quả của việc hòa giải sẽ ảnh hưởng khắp mọi nơi.
Cho dù người mà ta muốn hòa giải ở rất xa ta, cho dù người đó không chịu trả lời điện thoại, không chịu mở thư ra đọc, hay cho dù người đó đã qua đời rồi thì sự hòa giải vẫn có thể xảy ra. Người đó có thể là cha ta, mẹ ta, anh chị em của ta, con trai ta hay con gái ta. Dù người đó vẫn còn sống hay đã qua đời rồi thì ta vẫn có thể hòa giải được. Bởi vì hòa giải nghĩa là hòa giải trong tự thân ta để cho hòa bình an lạc được tái lập. Chúng ta biết là ta có khả năng làm mới, có khả năng làm cho mọi thứ trở nên mới mẻ. Mẹ ta có thể đã qua đời rồi. Nhưng nếu nhìn sâu, ta sẽ thấy rằng mẹ vẫn còn sống trong ta. Chúng ta không thể tồn tại mà không có mẹ. Cho dù ta ghét mẹ, cho dù ta giận mẹ, cho dù ta không muốn nghĩ về mẹ thì mẹ vẫn ở trong chúng ta. Hơn thế nữa, mẹ là ta. Và ta là mẹ. Ta là con của mẹ. Ta là sự tiếp nối của mẹ. Dù ta có thích hay không thì ta cũng là mẹ. Hòa giải được thực hiện trong tự thân của ta. Hòa giải với cha, mẹ, con cái hay vợ chồng nghĩa là hòa giải với chính mình.
Đôi khi chúng ta hối tiếc, ân hận là đã không nói những điều lẽ ra ta nên nói với những người thương trong gia đình ta trước khi họ qua đời. Chúng ta hối hận là chúng ta đã không dễ thương với người ấy trong suốt cuộc đời của họ. Bây giờ chúng ta nghĩ là đã quá trễ rồi. Tuy nhiên chúng ta không cần phải hối hận như thế. Người kia vẫn còn trong chúng ta và ta có thể bắt đầu làm mới lại. Chúng ta mỉm cười với người ấy và nói với người ấy những điều mà lẽ ra ta nên nói với người ấy nhưng ta đã không có cơ hội để nói. Chúng ta nói điều ấy ngay bây giờ và người kia có thể nghe được. Đôi khi ta cũng không cần phải nói gì cả. Chúng ta chỉ cần sống với tinh thần làm mới thì người kia sẽ cảm nhận được.
Tôi đã nói chuyện với một cựu chiến binh Hoa Kỳ, người đã giết chết năm đứa trẻ em ở Việt Nam, rằng: “Ông không cần phải tiếp tục khổ đau vì ông đã giết năm đứa trẻ. Nếu ông biết cách sống quãng đời còn lại của mình, biết cách cứu các trẻ em trong hiện tại và trong tương lai thì năm đứa trẻ này sẽ hiểu được tấm lòng của ông, sẽ mỉm cười với ông, sẽ yểm trở ông trên con đường thực tập này”. Không có lý do gì ta phải kẹt vào những mặc cảm tội lỗi. Mọi thứ đều có thể xảy ra, đều có thể làm mới lại được. Quá khứ không mất đi đâu cả. Quá khứ vẫn còn đó trong hiện tại. Nếu ta biết cách tiếp xúc sâu sắc với giây phút hiện tại thì ta sẽ tiếp xúc được với quá khứ và ta có thể thay đổi được quá khứ. Đây là lời Bụt dạy. Nếu ta đã nói những điều không dễ thương với bà ngoại mà bây giờ bà đã qua đời rồi, ta vẫn có thể làm mới được.
Chúng ta ngồi xuống, thực tập những hơi thở vào ra trong chánh niệm và mời bà có mặt với ta. Chúng ta mỉm cười với bà và nói: “Bà ơi, cháu xin lỗi bà. Cháu sẽ không nói những điều như thế nữa”. Ta sẽ thấy bà mỉm cười. Sự thực tập này mang lại cho ta sự bình an, tươi mới, đồng thời đem lại cho những người chung quanh ta và cho các thế hệ tương lai nhiều niềm vui, hạnh phúc.
Chúng ta phải làm gì khi làm người khác bị tổn thương và họ xem ta như kẻ thù của họ? Người này có thể là những người trong gia đình ta, trong tăng thân ta, hay trong một đất nước khác. Tôi biết là chúng ta đã có câu trả lời. Có rất nhiều điều chúng ta có thể làm. Đầu tiên là ta phải làm thế nào để nói cho được: “Tôi xin lỗi. Vì vô minh, vì thiếu chánh niệm, vì thiếu khéo léo mà tôi đã làm cho anh bị tổn thương. Tôi sẽ cố gắng hết sức để hiểu và thông cảm hơn. Tôi sẽ không nói với anh những điều như thế nữa. Tôi không muốn làm anh tổn thương”. Đôi khi chúng ta không có chủ tâm làm cho người kia bị tổn thương nhưng vì ta không đủ chánh niệm và khéo léo nên đã làm người khác đau khổ. Vì vậy thực tập chánh niệm trong đời sống hằng ngày là rất quan trọng, nhờ đó chúng ta có khả năng sử dụng ngôn ngữ hòa ái để không làm tổn thương người khác.
Điều thứ hai mà ta có thể làm là cố gắng biểu hiện những điều tốt đẹp nhất về bản thân mình, những đức tính tốt, những bông hoa tươi đẹp để chuyển hóa bản thân. Đây là cách duy nhất mà ta có thể dùng để chứng minh những gì ta vừa mới nói. Khi chúng ta trở nên tươi mát và dễ chịu, người kia sẽ sớm nhận ra được. Sau đó, khi có cơ hội đến gần người kia, ta đến như một bông hoa tươi mát và người kia sẽ nhận ra ngay. Có thể chúng ta không cần phải nói gì cả. Chỉ cần nhìn cách ta thay đổi thì người kia sẽ chấp nhận và tha thứ cho ta. Ta làm theo những gì ta nói chứ không phải là những lời nói suông.
Khi ta thấy được “kẻ thù” ta đang khổ đau là ta bắt đầu có tuệ giác. Thấy được trong tự thân có ước muốn giúp người kia hết khổ, đó là dấu hiệu của tình thương yêu. Nhưng chúng ta cũng phải cẩn thận. Đôi khi ta nghĩ rằng ta mạnh hơn khả năng ta có. Để thử sức mạnh của mình, ta thử đến với người kia và nói chuyện với người ấy. Chúng ta sẽ khám phá ra ngay lập tức là tình thương và lòng từ bi của ta có thực sự vững mạnh hay không. Chúng ta cần một người khác có mặt đó cho ta thử nghiệm sức mạnh của ta. Nếu thiền tập chỉ dựa trên những nguyên tắc trừu tượng về hiểu biết và thương yêu thì có thể đó chỉ là sự tưởng tượng mà không phải là sự hiểu biết và tình thương yêu đích thực.
Hòa giải là bỏ lại sau lưng những cái nhìn lưỡng nguyên và khuynh hướng muốn trừng phạt. Hòa giải không đứng về một bên. Trong một cuộc xung đột xảy ra, hầu hết chúng ta đều muốn đứng về một bên nào đó. Chúng ta phân biệt giữa cái đúng và cái sai, một phần dựa trên những bằng chứng, hoặc những tin đồn. Chúng ta nghĩ rằng chúng ta cần sự căm phẫn để hành động. Nhưng cho dù sự căm phẫn ấy có đúng lý và chính đáng đi chăng nữa cũng không đủ. Thế giới này không thiếu những người sẵn sàng lao mình vào hành động. Điều chúng ta cần là những người có khả năng thương yêu và không đứng về một bên để họ có thể ôm được cả hai bên, ôm được thực tại một cách trọn vẹn.
Chúng ta phải tiếp tục thực tập chánh niệm và hòa giải cho đến khi nào ta có khả năng thấy được hình hài của những trẻ em đói khổ là hình hài của chính ta, nỗi khổ đau của mọi người mọi loài là nỗi khổ đau của chính ta. Lúc đó chúng ta sẽ nhận ra được tình thương chân thật vô phân biệt. Chúng ta có thể nhìn tất cả mọi người mọi loài bằng con mắt từ bi và chúng ta có thể làm công việc giúp người thực sự, đó là làm vơi đi nỗi khổ đau trong lòng người.
Chúng ta thực tập là bởi vì chúng ta muốn học lại một lần nữa cách đi, cách thở và cách ngồi. Đi như thế nào mà hạnh phúc an lạc có mặt trong suốt buổi đi, thở như thế nào để bình an, từ bi và niềm vui sống có mặt trong ta. Khi ăn sáng, chúng ta ăn như thế nào để tự do và niềm vui có mặt. Đó là điều mà ta có thể học hỏi và rèn luyện nhờ vào sự nâng đỡ yểm trợ của tăng thân, của các sư anh sư chị trong sự thực tập. Có những người trong chúng ta có khả năng thở trong chánh niệm, biết thưởng thức và nếm được hương vị của giây phút hiện tại. Một hơi thở vào có thể mang lại cho ta niềm vui. “Thở vào, tôi còn sống”. Đây là giây phút ta ăn mừng sự sống đang có mặt. Chúng ta biết là ta đang còn sống, và chúng ta có thể sống đời sống của ta một cách đích thực, ta có thể ăn mừng sự sống của ta trong mỗi phút mỗi giây. Thở vào, tôi biết tôi còn sống. Thở ra, tôi mỉm cười với sự sống trong tôi và chung quanh tôi.
Bất kỳ ai cũng có thể làm được điều này. Bất kỳ ai cũng có thể thở vào và ăn mừng sự sống với hơi thở vào đó. Khi ta đi, mỗi bước chân của ta có thể giúp ta tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống. Chúng ta biết mùa xuân đang có mặt đó, mặt trời đang có mặt đó, sự sống đang có mặt đó, những đóa hoa đang có mặt đó và đang mỉm cười với chúng ta. Theo nguyên tắc thì ta có khả năng tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy để được nuôi dưỡng, để được trị liệu. Tuy nhiên có vài thứ xen vào trong tâm ý ta, ngăn cản ta không cho ta sống hạnh phúc, nhẹ nhàng và khinh an, làm cho ta đánh mất nụ cười.
Tuy vậy, chúng ta có thể lấy lại nụ cười ấy. Mỗi bước chân ta đi, mỗi cái nhìn tiếp xúc với sự sống với những mầu nhiệm của nó có thể trở thành một bữa tiệc ăn mừng sự sống. Đi như thế là ta đi với sự tự do, vượt thoát khỏi những nỗi khổ đau, sợ hãi và tuyệt vọng. Tự do đó là nền tảng của hạnh phúc. Khi đi, ta đi như một con người tự do. Khi có tự do, ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống, có công năng trị liệu và nuôi dưỡng ta.
Điều gì đã xen vào tâm tư ta khi ta đi thiền hành, khi ta ăn mừng sự sống trong mỗi bước chân? Chướng ngại của ta là gì? Chúng ta phải nhận diện và gọi tên nó. Điều gì ngăn cản ta đi và thở như thế, điều gì ngăn cản ta ăn sáng trong niềm hân hoan và hạnh phúc? Chúng ta biết rõ rằng giây phút hiện tại là giây phút duy nhất mà ta có thể tiếp xúc sâu sắc với sự sống. Quá khứ đã qua rồi, quá khứ không còn chứa đựng sự sống nữa. Và tương lai thì chưa tới. Quá khứ là một cái gì không thật, tương lai cũng không thật. Chỉ có giây phút hiện tại là có thật. Vì vậy sự thực tập của chúng ta là tiếp xúc với giây phút hiện tại, sẵn sàng có mặt cho phút giây hiện tại và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại để chúng ta có thể tiếp xúc với sự sống và thực sự sống đời sống của chúng ta một cách trọn vẹn. Điều này được thực hiện trong mỗi bước chân đi, trong mỗi hơi thở, trong mỗi tách trà, trong mỗi bữa ăn sáng, hay trong mỗi một tiếng chuông. Tất cả những điều đó đưa ta về với giây phút hiện tại để ta có thể thực sự sống đời sống của ta. Chúng ta luyện tập để đi như thế nào mà mỗi bước chân, mỗi hơi thở vào ra của ta mang lại cho ta sự sống và niềm hạnh phúc.
Khi đến một trung tâm tu học hoặc tham dự một khóa tu, có thể ta không có vấn đề gì, nhưng khi nghĩ đến chuyện về nhà thì vấn đề lại xuất hiện. Vấn đề đó có thể là từ người kia. Chúng ta có nhiều khó khăn trong quá khứ, và ta nghĩ rằng người kia là vấn đề của ta, nên ta không thể thở được, không thể ngắm nhìn hoa thủy tiên được, bởi vì chúng ta luôn nghĩ đến cái giây phút mà ta phải trở về nhà đối diện với người ấy. Cho nên ta không có tự do. Chúng ta không thể thưởng thức được hơi thở vào ra của mình, chúng ta cứ nghĩ về điều đó, cứ chạy về quá khứ. Tuy nhiên, ta có thể thực sự thiết lập thân tâm trong cái bây giờ ở đây, và chỉ có cái bây giờ ở đây mới chứa đựng sự sống.
Nỗi sợ hãi phải đối diện với người kia không thể quấy rầy ta. Nhìn cho sâu sắc chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta có khả năng làm chủ tình huống bằng sự thực tập hơi thở chánh niệm, bằng cách thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại. Chúng ta có khả năng xử lý tất cả mọi trường hợp. Cũng giống như ta biết cách sử dụng gas để nấu ăn hay dùng điện để thắp sáng và sưởi ấm nhà cửa vậy. Nếu không có những hiểu biết đúng đắn về chúng, ta có thể bị chết vì gas và điện. Tuy nhiên thực tế là chúng ta biết đủ. Cho dù chúng ta không biết nhiều về điện, dù chúng ta không phải là những thợ điện chuyên nghiệp, chúng ta cũng có thể hiểu biết đủ để xử lý. Cho nên ta không sợ bị điện giật. Chúng ta không sợ điện, không sợ gas bởi vì chúng ta biết cách xử lý và biết cách sử dụng. Chúng ta có thể chết vì hậu quả của gas và điện, nhưng không phải gas và điện muốn giết chết chúng ta. Chắc chắn là không. Thực tế là gas có thể giúp ta nấu ăn, điện có thể giúp ta nhiều thứ trong nhà.
Điều này cũng giống như người kia. Người đó không muốn làm ta khổ. Chính vì không có khả năng thấy được sự tương tức giữa mình với người kia nên ta mới khổ. Chúng ta phải hiểu người đó. Nếu chúng ta hiểu được tính tình của người đó, cách người đó hành xử thì cũng giống như ta hiểu được gas và điện. Sẽ không còn nguy hiểm nữa, và ta không còn khổ đau nữa. Người đó không có ý làm ta khổ hay làm hại ta. Người đó có thể có những khó khăn hay khổ đau mà không biết cách xử lý và chăm sóc. Vì vậy mà người đó khổ và làm ta khổ. Nhưng nếu ta hiểu được tất cả những điều này và ta hiểu đủ về người đó, ta sẽ thấy rằng không đáng để ta khổ đau quá nhiều như vậy.
Nếu người kia nói điều gì đó khó chịu làm ta khổ đau thì cũng giống như ta mở gas lên. Chúng ta biết bản chất của gas, chúng ta phải cẩn thận, vậy thôi. Người kia có khổ đau trong lòng và chưa học cách xử lý. Vì vậy mà người kia tiếp tục khổ đau và làm người khác khổ đau. Nếu mọi người biết rõ về người đó, biết cách xử lý tình huống thì sẽ không khổ đau vì người đó. Và chúng ta có thể giúp người đó vơi bớt khổ đau rất hiệu quả.
Khi người đó nói những điều thô lỗ với ta, nếu ta có sự cảm thông và lòng từ bi thì ta được bảo hộ.
Chúng ta biết rõ rằng người đó đang khổ đau và không biết cách xử lý nỗi khổ đau của mình. Người đó cần tình thương và cần sự giúp đỡ. Nếu ta có sự cảm thông và có tuệ giác ta sẽ không khổ đau vì những gì người đó nói hoặc làm. Có thể ta không phản ứng, trái lại còn có động cơ muốn làm điều gì đó để giúp đỡ người kia vơi bớt khổ đau. Hiểu biết và từ bi bảo hộ cho chúng ta. Cũng giống như biết được bản chất của gas và điện để chúng ta không còn sợ hãi về nó nữa. Người kia cũng giống như vậy, cũng cùng một bản chất. Người kia không muốn làm ta tổn thương, không muốn làm ta khổ đau. Người ấy khổ đau và ta phải giúp đỡ người ấy.
Quán chiếu cho sâu sắc, chúng ta sẽ không còn sợ hãi nữa, chúng ta có thể nói với mình rằng: “Khi tôi trở về với người ấy, tôi sẽ áp dụng quy tắc này, tôi sẽ không khổ đau nữa. Tôi sẽ tìm cách giúp người ấy bớt khổ”. Được trang bị bằng lòng từ bi và sự hiểu biết, chúng ta sẽ được giải thoát. Cho nên hạnh phúc là điều mà ta có thể đạt được trong giây phút hiện tại. Đóa hoa đang giữ nụ cười cho chúng ta, chúng ta có thể lấy lại nụ cười ngay lập tức và sung sướng mỉm cười trở lại. Ngay giây phút này ta hãy nhìn vào hình hài, cảm thọ và tri giác của ta xem ta có vấn đề gì không? Nếu thấy mình không có vấn đề gì trong giây phút hiện tại thì đừng để cho những con ma quá khứ thống trị ta. Chúng ta không nên để cho những dự án của quá khứ hoặc tương lai hạ gục ta. Chúng chỉ là những bóng ma. Vì vậy ta phải luôn luôn an trú trong giây phút hiện tại. Đó là sự thực tập của chúng ta. Là con đường của chúng ta. Là cách thức đưa đến sự hòa giải.