Sáu: Trị liệu em bé bên trong

Khi còn nhỏ, chúng ta rất mong manh, rất dễ bị tổn thương. Một cái nhìn nghiêm khắc của cha cũng có thể làm ta đau khổ. Một lời nói gắt gỏng của mẹ cũng có thể tạo nên vết thương trong tim ta. Là một đứa trẻ, ta có nhiều cảm thọ nhưng khó để bày tỏ. Ta cố gắng không biết bao nhiêu lần. Đôi khi ta tìm được lời lẽ thì người lớn chung quanh ta không lắng nghe ta hoặc không cho phép ta nói.

Chúng ta có thể trở về ngôi nhà của chính mình để nói chuyện với em bé, lắng nghe em và trả lời trực tiếp với em. Chính tôi cũng đã từng làm như vậy, ngay cả khi tôi nhận được tình thương và sự quan tâm từ cha mẹ. Sự thực tập này giúp tôi rất nhiều. Em bé vẫn còn đó và có thể bị tổn thương sâu nặng. Chúng ta đã bỏ bê em bé đó lâu lắm rồi. Bây giờ ta phải trở về an ủi, vỗ về, thương yêu và chăm sóc.

Thiền tập về em bé năm tuổi

Chúng ta có thể thiền tập về đề tài này trong khi ngồi thiền hay đi thiền. Điều quan trọng là ta phải tìm một nơi yên tĩnh, thoải mái và có thể buông thư mà không bị gián đoạn ít nhất là trong vòng năm phút. Khi thở vào thở ra, ta có thể nói với chính mình:

Thở vào, tôi thấy tôi là em bé năm tuổi.
Thở ra, tôi mỉm cười với em bé năm tuổi trong tôi bằng tình thương yêu.

Ban đầu chúng ta có thể nói nguyên câu, sau đó chúng ta chỉ dùng những từ khóa, như:

Tôi là em bé năm tuổi.
Mỉm cười bằng tình thương yêu.

Em bé năm tuổi bên trong ta cần nhiều tình thương và sự quan tâm, chăm sóc. Do vậy nếu mỗi ngày ta có năm phút để ngồi xuống và thiền tập về đề tài này thì rất hay. Rất được nuôi dưỡng và được an ủi. Bởi vì em bé năm tuổi trong ta vẫn còn sống và cần được chăm sóc. Bằng cách để ý và truyền thông, ta có thể thấy được em bé trả lời lại với chúng ta và nó sẽ bắt đầu cảm thấy khỏe khoắn, dễ chịu hơn. Nếu em bé thấy dễ chịu, ta cũng thấy dễ chịu và ta bắt đầu có tự do lớn.

Em bé bên trong ta không phải chỉ là bản thân ta thôi. Khi còn là một đứa trẻ, cha mẹ ta cũng đã từng khổ đau. Cho dù khi đã lớn lên, cha mẹ ta cũng không biết cách xử lý nỗi khổ đau đó, vì vậy cha mẹ đã làm cho con cái khổ đau. Họ là nạn nhân của nỗi khổ đau của họ, và con cái của họ cũng trở thành nạn nhân của những nỗi khổ đau ấy. Nếu chúng ta không có khả năng chuyển hóa nỗi khổ đau trong chúng ta thì ta sẽ trao truyền lại cho con cái ta. Mỗi bậc cha mẹ đều đã từng là em bé năm tuổi, rất mong manh và dễ bị tổn thương.

Cha tôi và tôi không phải là hai thực thể riêng biệt. Tôi là sự tiếp nối của cha tôi, vì vậy cha tôi có trong tôi. Giúp đỡ cho cậu bé năm tuổi là cha tôi trong tôi là cách trị liệu cho cả hai người cùng một lúc. Giúp đỡ em bé năm tuổi là mẹ tôi trong tôi là cách giúp mẹ tôi chuyển hóa và giải thoát. Tôi là sự tiếp nối của mẹ. Em bé năm tuổi bị tổn thương và khổ đau đó vẫn còn sống trong tôi. Nếu tôi có khả năng chuyển hóa và trị liệu cho cha mẹ tôi trong tôi, tôi cũng có thể giúp đỡ cha mẹ tôi ngoài tôi. Thiền tập về em bé năm tuổi sẽ giúp ta chế tác hiểu biết và thương yêu trực tiếp cho chính bản thân ta cũng như cho cha mẹ ta.

Chúng ta nói rất nhiều về cái hiểu. Nhưng liệu có cái hiểu nào cao hơn cái hiểu này không? Khi ta có thể mỉm cười được thì ta biết rằng ta đang mỉm cười với cha mẹ và giải thoát cho cha mẹ. Nếu thực tập được như vậy thì tất cả những vấn đề làm cho con người khổ đau như: Tôi là ai? Mẹ tôi có thương tôi không? Cha tôi có muốn tôi ra đời không? Cuộc sống tôi có ý nghĩa gì?… đều trở nên vô nghĩa.

Chúng ta không cần tìm về quê hương, không cần tìm về Ái Nhĩ Lan hay Trung Quốc để tìm lại gốc rễ của chính mình. Chúng ta chỉ cần tiếp xúc với mỗi tế bào trong cơ thể ta. Cha ta, mẹ ta, ông bà tổ tiên ta đều đang có mặt rất thực trong mỗi tế bào cơ thể ta, có mặt ngay cả trong những con vi khuẩn. Sự hiểu biết tỉnh thức được trao truyền cho ta qua tất cả các thế hệ, qua tất cả các loài có tri giác hoặc không có tri giác. Chúng ta cũng vừa là cha mà cũng vừa là con. Có khi ta biểu hiện dưới hình thức một người cha, một người mẹ, có khi ta biểu hiện dưới hình thức một người con. Ngay khi trái ổi được kết trái thì đã có hạt ổi trong đó rồi, vì vậy nó đã là một người mẹ, người cha rồi. Chúng ta có thể thực tập như sau:

Thở vào, tôi thấy cha tôi là cậu bé năm tuổi.
Thở ra, tôi mỉm cười với cậu bé năm tuổi là cha tôi.
Cha, năm tuổi.
Mỉm cười với tình thương yêu.

Cha ta là một cậu bé năm tuổi trước khi làm cha. Là một cậu bé năm tuổi, cha rất dễ bị tổn thương. Vết thương đó có thể do ông nội, bà nội hoặc những người chung quanh gây nên. Vì vậy cha gắt gỏng khó chịu, có thể là do khi còn là cậu bé năm tuổi cha bị đối xử như thế. Và có lẽ lúc còn nhỏ, cha đã bị tổn thương. Nếu hiểu được điều đó, ta sẽ không giận cha nữa. Ta sẽ có từ bi đối với cha. Nếu có bức ảnh của cha lúc cha năm tuổi, ta có thể nhìn vào bức ảnh đó để thiền tập. Nhìn vào cha khi cha là cậu bé năm tuổi, thở vào thở ra thật sâu ta sẽ thấy cậu bé năm tuổi ấy vẫn còn sống trong cha và trong ta.

Khi mẹ còn là một cô bé năm tuổi, mẹ cũng mong manh dễ bị tổn thương. Mẹ dễ bị tổn thương nhưng mẹ lại không có thầy, không có bạn để giúp mẹ trị liệu. Vì vậy mà vết thương và nỗi khổ đau vẫn tiếp tục nằm trong mẹ. Cho nên nhiều khi mẹ đã hành xử không dễ thương với mình. Nếu ta có thể thấy được mẹ là em bé năm tuổi thì ta có thể tha thứ cho mẹ một cách dễ dàng bằng tình thương yêu. Em bé năm tuổi vẫn luôn còn sống trong mẹ và trong ta.

Thở vào, tôi thấy mẹ tôi là em bé năm tuổi.
Thở ra, tôi mỉm cười với em bé năm tuổi bị tổn thương là mẹ tôi.
Mẹ, năm tuổi.
Mỉm cười với tình thương yêu.

Là một người trẻ, điều quan trọng là ta phải thực tập để trị liệu em bé năm tuổi trong ta. Nếu không, khi có con ta sẽ trao truyền đứa bé bị tổn thương đó cho con cái ta. Tuy nhiên, nếu ta đã trao truyền em bé năm tuổi bị tổn thương đó cho con cái ta rồi thì điều đó cũng chưa quá muộn. Bây giờ chúng ta phải thực tập để trị liệu em bé trong ta và giúp con mình trị liệu em bé bị tổn thương mà ta đã trao truyền.

Tất cả chúng ta, cha mẹ và con cái, cùng thực tập chung với nhau để trị liệu em bé bị tổn thương trong ta và trong con cháu ta. Đây là một sự thực tập rất khẩn thiết. Nếu ta thực tập thành công thì sự truyền thông giữa chúng ta và gia đình sẽ được tái lập, mọi người sẽ hiểu nhau và cảm thông cho nhau.

Chúng ta có mặt trong con cháu ta. Chúng ta trao truyền toàn bộ con người mình cho chúng. Con trai ta, con gái ta là sự tiếp nối của ta. Chúng có mặt trong ta. Và chúng sẽ mang ta đi về tương lai. Nếu chúng ta chăm sóc thương yêu con cái bằng sự cảm thông và lòng bi mẫn thì chúng sẽ thừa hưởng được. Như thế, chúng ta sẽ làm cho tương lai con cháu chúng ta và của các thế hệ tương lai xán lạn hơn.

Lắng nghe em bé trong mình

Để chăm sóc tốt cho chính mình, ta phải trở về chăm sóc em bé bị tổn thương trong ta. Chúng ta phải thực tập trở về với em bé bị tổn thương đó mỗi ngày. Chúng ta phải ôm ấp em bé một cách nhẹ nhàng như một người anh, người chị ôm ấp em mình.

Chúng ta phải lắng nghe em. Em bé bị tổn thương trong ta đang ở đây trong giây phút hiện tại. Và ta có thể trị liệu cho em bé ngay bây giờ. “Em bé bị tổn thương ơi, chị (anh) có mặt đây cho em, chị (anh) sẽ lắng nghe em nói, em nói cho chị (anh) nghe tất cả những nỗi khổ niềm đau của em đi. Chị (anh) đang có mặt đây để thật sự lắng nghe em.” Chúng ta phải thật sự ôm ấp em bé đó. Nếu cần, chúng ta cũng có thể khóc với em bé đó, có thể là trong lúc ngồi thiền. Chúng ta có thể vào rừng để thực tập điều này. Nếu ta biết cách trở về với em bé và lắng nghe em khoảng năm, mười phút mỗi ngày thì sự trị liệu sẽ xảy ra.

Trong số chúng ta đã có nhiều người thực tập như thế. Sau một thời gian là có sự chuyển hóa, và nỗi khổ đau được thuyên giảm rất nhiều. Sau khi thực tập như vậy, chúng ta thấy sự truyền thông giữa mình và người khác trở nên tốt đẹp và dễ dàng hơn. Trong ta cũng có nhiều an lạc và tình thương hơn.

Nói chuyện với em bé trong mình

Em bé trong ta và ta thực sự không phải là hai, mà cũng không phải là một. Chúng ta ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Chúng ta có thể thực tập chánh niệm và mời em bé trong ta cùng thực tập với ta. Em bé trong ta cũng có thực như con người trưởng thành này. Giống như hạt bắp vẫn còn nằm trong cây bắp vậy. Nó đang ở đó, không phải chỉ là vấn đề của quá khứ. Nếu cây bắp biết rằng nó là một với hạt bắp thì nó có thể trò chuyện được với hạt bắp. Nếu ta có khuynh hướng trở về quá khứ để sống lại với những ký ức đau thương thì chúng ta phải ý thức rằng bản thân chúng ta và em bé trong ta cũng đang trở về quá khứ sống lại những kinh nghiệm đau thương, sợ hãi và tham vọng đó. Điều này đã trở thành tập khí của ta mặc dù ta không muốn, và nó chẳng có lợi ích gì cả.

Thay vì sống lại những kinh nghiệm đau thương, ta có thể nói chuyện với em bé trong ta. Ta mời em lên, mời em đi ra để làm quen với cuộc sống mới trong giây phút hiện tại. An trú trong giây phút hiện tại là một sự thực tập, một sự rèn luyện. Ngay khi chúng ta thiết lập được thân tâm trong phút giây hiện tại, ta sẽ không khổ đau với những tổn thương (trauma) của quá khứ nữa. Trong giây phút hiện tại, ta có thể nhận ra nhiều điều mầu nhiệm và nhiều điều kiện tích cực khác. Vì vậy nắm tay em bé đi chơi và tiếp xúc sâu sắc hơn với những mầu nhiệm của sự sống là một sự thực tập đích thực. Đôi khi chúng ta cũng cần nâng đỡ yểm trợ, cần một người ta tin tưởng để giúp ta làm điều đó một cách dễ dàng, bởi vì ta có khuynh hướng trôi dạt về quá khứ.

Tất cả những mong muốn của ta đều phát xuất từ cái ước muốn nguyên thủy là muốn được an toàn. Trong giây phút hiện tại, mọi thứ đã yên ổn, không có một vấn đề nào, không có một sự đe dọa nào. Nhưng em bé trong ta vẫn tiếp tục lo lắng và sợ hãi. Nếu trong hiện tại ta không có vấn đề nghĩa là ta không có vấn đề. Tại sao ta lại tiếp tục lo lắng và sợ hãi? Chúng ta phải trao truyền tuệ giác này cho em bé trong ta. Chúng ta phải cho em biết rằng em không cần phải lo lắng, sợ hãi nữa.

Chúng ta có thể lên đồi ngồi một mình. Đi giữa những hàng cây mận, cây nho và nói chuyện với em bé. Ta có thể nói: “Em ơi, chị (anh) biết em đang đau khổ”. Em là em bé trong chị (anh). Chị cũng là em. Chúng ta đã trưởng thành rồi nên em đừng sợ hãi nữa. Chúng ta an toàn rồi. Chúng ta có cách để bảo vệ chính mình. Đến đây với chị và mình có mặt cho giây phút hiện tại. Đừng để quá khứ giam hãm mình. Hãy nắm tay chị và chúng ta cùng đi. Chúng ta hãy thưởng thức từng những bước chân của mình”.

Chúng ta phải thực sự nói chuyện với em bé bên trong mình thành tiếng, chúng ta không phải chỉ suy nghĩ mà hãy thực hiện nó. Chúng ta có thể nói chuyện với em bé mỗi ngày. Như vậy em bé sẽ được trị liệu. Và em bé sẽ tham dự vào cuộc đời của ta. Chúng ta nói chuyện với em bé, nắm tay em, dẫn em về với giây phút hiện tại để thưởng thức sự sống ngay bây giờ và ở đây. Nếu chúng ta có 15 phút nói chuyện như thế với em bé bị tổn thương trong ta, thì nỗi sợ hãi có thể được phơi bày ra.

Chúng ta hãy tưởng tượng chúng ta đang nấu một nồi nước sôi có nắp đậy. Hơi nóng sẽ đẩy cái nắp lên. Nếu chúng ta giở cái nắp ra cho hơi nước bốc lên thì hơi nước không còn gây áp lực nữa. Nó được giải thoát. Tương tự như vậy, nếu ta nói chuyện với em bé bên trong ta như thế và đem nỗi sợ hãi nguyên thủy từ thời thơ ấu phơi bày ra trong ánh sáng chánh niệm thì chúng ta có thể mang lại sự trị liệu. Chúng ta cũng phải cho em biết rằng mặc dù nỗi sợ hãi là có thật nhưng bây giờ nó không còn cơ sở, căn cứ nữa. Chúng ta đã trưởng thành rồi. Chúng ta có thể tự bảo hộ và phòng thủ cho chính mình.

Cuộc đối thoại với em bé bên trong mình.

Chúng ta phải nói chuyện với em bé trong ta, và điều quan trọng không kém là ta cũng phải để cho em bé nói chuyện, hãy để cho em tự bộc lộ chính mình. Nếu lúc nhỏ ta không có cơ hội để nói ra thì đây là cơ hội cho em.

Chúng ta thử lấy hai cái gối ngồi, xếp đối diện nhau. Chúng ta ngồi lên một cái và nhìn vào cái kia. Hãy quán tưởng mình là một em bé năm tuổi, bốn tuổi hay ba tuổi đang ngồi đó, và ta nói chuyện với em: “Em bé trong tôi ơi, tôi biết em đang ở đây, em đang bị tổn thương. Em đã trải qua rất nhiều đau khổ. Tôi biết đó là sự thật, bởi vì tôi cũng là em. Tuy nhiên bây giờ tôi nói chuyện với em với tính cách em là một người trưởng thành. Và tôi muốn nói cho em biết là cuộc sống rất mầu nhiệm với nhiều yếu tố tươi mát và trị liệu. Chúng ta đừng chạy về quá khứ để sống và gặm nhấm lại những nỗi khổ đau của quá khứ nữa. Nếu em có gì để nói thì xin em hãy nói cho tôi nghe”. Rồi ta đổi vị trí, ngồi vào cái gối ngồi kia. Nếu muốn ta cũng có thể nằm xuống như một em bé ba tuổi và nói chuyện bằng ngôn ngữ của trẻ em. Ta có thể phàn nàn, rằng ta rất mong manh, dễ bị tổn thương, dễ cảm thấy bất lực, ta không có khả năng làm được gì cả và ta rất sợ hãi. Ta rất muốn có người lớn ở đây bên cạnh ta. Ta muốn bày tỏ điều này và ta đóng vai em bé trong ta. Nếu có cảm thọ hay nỗi sợ hãi đi lên, điều đó cũng không sao. Ta thấy sợ hãi thật. Ta thực sự muốn có một ai đó ở gần để bảo vệ ta.

Sau đó ta đổi lại ngồi cái gối ngồi bên kia và nói: “Ồ, tôi đã nghe em nói, em bé của tôi ơi. Tôi hiểu hết những nỗi khổ đau của em. Nhưng em biết không, chúng ta đã trưởng thành rồi, đã trở thành người lớn rồi, bây giờ chúng ta có khả năng bảo vệ cho chính mình. Thậm chí nếu cần ta cũng có thể gọi điện cho cảnh sát. Chúng ta có thể ngăn chặn người khác không cho họ làm những điều mà ta không muốn. Chúng ta có thể tự làm bất cứ điều gì. Chúng ta không cần người lớn, không cần bất kỳ ai nữa. Chúng ta có khả năng hoàn toàn là mình rồi. Chúng ta thật sự không cần một người khác để trở thành chính mình”. Khuynh hướng của chúng ta là tin rằng phải có một người khác đóng vai mẹ hay cha để bảo hộ cho ta, nhưng đó chỉ là một cảm thọ, mà không phải là thực tại. Tôi có kinh nghiệm là ta có thể thấy đầy đủ trong chính tự thân mình, ta thấy thỏa mãn là chính ta, ta không cần có một người khác để cho ta cảm thấy thư giãn, nhẹ nhàng và dễ chịu. Nếu ta nói chuyện và lắng nghe như thế năm phút mỗi ngày, ta sẽ được trị liệu.

Viết thư cho em bé năm tuổi

Ta có thể viết một lá thư một, hai hay ba trang cho em bé trong ta để nói rằng ta công nhận sự có mặt của em và sẽ làm mọi cách có thể để trị liệu vết thương cho em. Sau khi viết vài bức thư cho em bé trong ta, ta có thể thấy rằng em bé cũng muốn viết gì đó cho ta.

Chia sẻ niềm vui với em bé trong mình

Một cách khác mà ta có thể đảm bảo cho em bé trong ta cảm thấy an toàn là mời em bé lên chơi với ta trong giây phút hiện tại. Khi ta leo lên một ngọn núi hùng vĩ, ta mời em bé trong ta cùng leo núi với ta. Khi ngắm ánh hoàng hôn rực rỡ huy hoàng, ta cũng mời em bé trong ta cùng ngắm với ta. Nếu ta thực tập như thế vài tuần hoặc vài tháng thì em bé bị tổn thương trong ta sẽ được trị liệu.

Ngồi với bạn bè trong tăng thân

Nếu khi còn là một em bé mà ta bị tổn thương sâu nặng, thì khó để ta tin tưởng và thương yêu, khó để cho tình thương thấm nhuận vào lòng mình. Tuy nhiên trong sự thực tập này, dù khó khăn đến đâu, ta cũng phải trở về ngôi nhà của chính mình để chăm sóc em bé bị tổn thương trong ta. Chúng ta cần những hướng dẫn thực tập cụ thể để chúng ta không bị khổ đau tràn ngập. Chúng ta thực tập nuôi lớn năng lượng chánh niệm cho đủ vững mạnh. Và năng lượng chánh niệm của bạn bè cũng có khả năng nâng đỡ ta. Có thể ban đầu lúc mới trở về, ta cần một hay hai người bạn, đặc biệt là những người đã thành công trong sự thực tập, ngồi cạnh ta, cho ta mượn năng lượng chánh niệm và sự yểm trợ từ họ. Khi người bạn ngồi cạnh ta, nắm tay ta, chúng ta kết hợp năng lượng của ngườí ấy với năng lượng của chính mình, trở về ôm ấp em bé bị tổn thương. Nếu chúng ta có một tăng thân dễ thương thì sự thực tập của ta sẽ trở nên dễ dàng hơn. Thực tập một mình, không có anh chị em bạn bè cùng thực tập chung thì rất khó, đặc biệt là đối với những ai mới bắt đầu thực tập. Nương tựa tăng thân và có các anh chị em giúp đỡ, khuyên bảo và yểm trợ trong những lúc khó khăn là điều rất rất quan trọng.

Năm: Chuyển hóa khổ đau

Chúng ta có thể làm gì để chuyển hóa hạt giống khổ đau có gốc rễ sâu xa trong tâm thức ta?

Có ba cách:

Cách thứ nhất là tập trung vào việc gieo trồng và tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc. Chúng ta không làm việc trực tiếp với hạt giống khổ đau, mà để cho hạt giống hạnh phúc chuyển hóa chúng. Đó là cách chuyển hóa gián tiếp.

Cách thứ hai là thực tập chánh niệm liên tục để khi hạt giống khổ đau phát khởi, chúng ta có khả năng nhận diện chúng. Mỗi khi chúng biểu hiện, chúng ta tắm gội chúng trong ánh sáng chánh niệm. Hạt giống là một vùng năng lượng, và chánh niệm cũng là một vùng năng lượng. Khi những hạt giống này được tiếp xúc với chánh niệm thì chúng sẽ yếu đi và chánh niệm sẽ chuyển hóa chúng.

Cách thứ ba là xử lý những phiền não đã có trong ta từ thời thơ ấu bằng cách thận trọng mời nó lên trên bề mặt ý thức. Chúng ta mời lên những nỗi buồn rầu, khổ đau, tuyệt vọng, hối tiếc, nhớ nhung mà chúng ta khó đối diện trong quá khứ, rồi ngồi xuống nói chuyện với chúng như một người bạn cũ. Nhưng trước khi mời chúng lên, ta phải đảm bảo là ngọn đèn chánh niệm trong ta đang được thắp sáng và ngọn lửa đó phải cháy đều và cháy mạnh.

Ý thức về khổ đau

Giả sử chúng ta đang đi thiền hành để tiếp xúc với những mầu nhiệm của cuộc sống thì tâm ta hướng về những hình ảnh từ hồi còn ấu thơ, và cảm giác khổ đau tuyệt vọng xuất hiện. Mặc dù bây giờ ta đang đi thiền hành, ta cũng không thấy thích thú vì ta không đi trong thiên đường mà đi trong địa ngục. Khổ đau đang có mặt đó. Cho nên bước đầu tiên là ta ý thức về nó: “Khổ đau đang có trong tôi”.

Thở vào, tôi biết khổ đau, tuyệt vọng, sợ hãi đang có trong tôi.
Thở ra, tôi ôm ấp nỗi khổ đau trong tôi.

Với chánh niệm và chánh định, chúng ta có thể trở về với hình ảnh đó và biết được nguyên nhân nào đã làm cho nó phát khởi: “Tôi có nỗi khổ đau này là bởi vì tôi tiếp xúc với cái kia. Nhờ chánh niệm và chánh định, chúng ta có thể đáp trả lại hình ảnh này bằng tuệ giác, rằng là chúng ta không còn là một đứa trẻ vô tích sự nữa. Chúng ta đã lớn rồi, đã trưởng thành rồi, chúng ta có khả năng tự bảo vệ chính mình.

Một số người trong chúng ta là dân di cư. Và nhiều người trong số đó là những thuyền nhân từ Đông Nam Á vượt biên đến tị nạn ở các nước Tây phương. Trong suốt những chuyến đi đó chúng ta rất sợ hãi. Chúng ta có thể rớt chìm sâu xuống đại dương và chết bất cứ lúc nào. Chúng ta có thể bị giết chết hoặc bị hãm hại bởi cá mập và hải tặc. Những ai đã từng đi trong những chuyến đi ấy, thì tất cả những cảnh tượng hiểm nguy vẫn còn đó trong tâm thức chúng ta.

Bây giờ chúng ta đã đến bờ bên kia rồi, đã được chấp nhận như những người tị nạn rồi, đã ở trên đất liền rồi, vậy mà có khi ta cũng quên. Mỗi khi tiếp xúc với những hình ảnh quá khứ, ta lại khổ đau mặc dầu hiện tại ta đang được an toàn. Điều này là có thật, cho dù nỗi khổ đau có thể đã xảy ra cách đây lâu lắm rồi.

Nhiều người trong số chúng ta vẫn còn bị kẹt trong thế giới của hình ảnh. Sự thật chúng chỉ là những hình ảnh thôi. Chúng không còn là thực tại nữa. Trong khi thở vào thở ra chánh niệm, chúng ta có thể có được tuệ giác này. Giả sử ta vẫn còn cất giữ những bức ảnh về đại dương, một cảnh tượng mà ta có thể chết chìm trong đó. Và khi xem những bức ảnh đó ta thấy khổ đau và sợ hãi. Nhưng chánh niệm và chánh định có thể mang đến cho ta tuệ giác rằng đây chỉ là hình ảnh thôi mà không phải là đại dương thật. Ta có thể chết chìm trong đại dương nhưng không thể chết chìm trong bức ảnh này.

Vì vậy khi ôm ấp một tâm hành tuyệt vọng và khổ đau, ta có thể thấy rằng nỗi khổ đau và tuyệt vọng này có thể được sinh ra từ đó, khổ đau và tuyệt vọng được sinh ra vì chúng ta tiếp xúc với hình ảnh của quá khứ. Thực tế là chúng ta đang an toàn và chúng ta có khả năng thưởng thức những mầu nhiệm của sự sống ngay trong giây phút hiện tại. Khi chúng ta nhận ra được nỗi khổ đau này chỉ dựa trên những hình ảnh của quá khứ mà không phải là thực tại đang hiển hiện thì sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại là điều mà chúng ta có thể làm được ngay tức thì. Đó là sức mạnh của chánh niệm và chánh định.

Giới thiệu thức mạt na

Một trong những lý do ta trốn tránh em bé bên trong mình là do ta sợ khổ đau. Giữa tàng thức và ý thức có một thức gọi là mạt na thức. Mạt na thức này khiến chúng ta đi tìm kiếm dục lạc và trốn tránh khổ đau. Mạt na là nền tảng của niềm tin hão huyền rằng chúng ta có một cái ngã riêng biệt. Chúng ta khổ đau bởi vì sự phân biệt và ảo tưởng trong thức mạt na.

Khi con cá thấy một miếng mồi hấp dẫn, nó có khuynh hướng muốn đớp miếng mồi đó. Nó không biết rằng trong miếng mồi ấy có một cái móc câu được giấu trong đó và nếu nó đớp miếng mồi ấy nó sẽ bị cắn câu và bị kéo ra khỏi mặt nước. Với chánh niệm, chúng ta có thể ý thức về sự nguy hại của việc đi tìm kiếm dục lạc. Chúng ta có thể khám phá ra hạt giống tuệ giác ở trong tàng thức để giúp mạt na chuyển hóa. Đây là công việc của ý thức.

Sáu đặc tính của mạt na

Mạt na có nhiều khuynh hướng.

Thứ nhất là nó luôn thích thú đi tìm kiếm dục lạc. Thứ hai là cố trốn tránh khổ đau. Thứ ba là mạt na không biết sự nguy hiểm của việc tìm kiếm dục lạc. Chạy theo dục lạc có thể hủy hoại thân tâm mình.

Nếu nhìn sâu vào đối tượng tham đắm, chúng ta có thể thấy được mối nguy hiểm này.

Đặc tính thứ tư của mạt na là không thấy được mặt tốt của khổ đau. Mỗi người trong chúng ta đều cần một liều lượng khổ đau nào đó để lớn lên, để chế tác hiểu biết thương yêu và vun trồng niềm an vui hạnh phúc. Hỷ và lạc của chúng ta chỉ có thể đạt được dựa trên nền tảng khổ đau.

Nếu không có khổ đau từ chiến tranh, chúng ta sẽ không có khả năng trân quý hòa bình. Nếu chúng ta chưa từng khổ vì đói, chúng ta sẽ không trân quý một cách trọn vẹn miếng bánh mì ta đang cầm trên tay. Có cái gì đó để ăn là một điều rất mầu nhiệm. Niềm hạnh phúc này chỉ có được khi ta biết đói là gì.

Trong cuộc đời của ta, ta đã từng trải qua những giây phút rất nguy hiểm. Khi nghĩ về những giây phút nguy hiểm ấy ta trân quý hơn sự an toàn ngay trong giây phút này. Nhờ có khổ đau mà ta học được bài học hiểu biết và thương yêu. Nhờ tiếp xúc với nỗi khổ đau, hiểu được nỗi khổ đau mà tình thương trong ta phát khởi.

Tôi không muốn gởi bạn bè, con cháu và đệ tử của tôi tới một nơi không có khổ đau, bởi vì những nơi như thế, ta không có cơ hội để học cách chế tác hiểu biết và thương yêu. Bụt nói rằng nếu không có khổ đau thì không có cách nào để học hỏi cả. Sở dĩ Bụt giác ngộ toàn vẹn là vì Ngài khổ đau nhiều. Mình phải đến với Bụt bằng tất cả những nỗi khổ đau của mình. Khổ đau là con đường. Chính vì trải qua những khổ đau mà ta có thể thấy được con đường giải thoát, thương yêu và từ bi. Chính vì nhìn sâu vào bản chất của nỗi buồn phiền, khổ đau, mà ta khám phá ra được con đường để đi ra. Nếu không biết khổ đau là gì thì ta không có cách nào để đến với Bụt, không có cơ hội nếm được an lạc và tình thương yêu. Chính vì nhờ ta có khổ đau mà bây giờ ta nhận ra được con đường đưa đến giải thoát, hiểu biết và thương yêu.

Trong mỗi chúng ta ai cũng có khuynh hướng chạy trốn khổ đau. Chúng ta nghĩ rằng đi tìm kiếm khoái lạc sẽ giúp chúng ta tránh được khổ đau. Nhưng kỳ thực không phải vậy. Nó sẽ làm ta cằn cỗi không lớn lên được, và hạnh phúc của ta cũng héo mòn theo. Hạnh phúc không thể có được nếu không có sự hiểu biết, lòng từ bi và tình thương yêu. Tình thương cũng không thể có được nếu ta không hiểu được nỗi khổ đau của ta và của người khác. Tiếp xúc với nỗi khổ đau giúp ta vun trồng hiểu biết và tình thương. Không có hiểu biết và thương yêu chúng ta không thể hạnh phúc được và chúng ta cũng không thể làm cho người khác hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều có hạt giống từ bi, tha thứ, bao dung, an vui và không sợ hãi. Nếu chúng ta liên tục trốn tránh khổ đau thì không có cách nào cho những hạt giống ấy lớn lên được.

Ở xóm Thượng, Làng Mai có một hồ sen. Chúng ta biết rằng sen không thể lớn lên được nếu không có bùn. Chúng ta cần bùn để có sen. Chúng ta không thể trồng sen trên cẩm thạch. Bùn đóng một vai trò quan trọng trong việc cho ra những bông sen. Khổ đau cũng vậy, cũng đóng một vai trò quan trọng để phát khởi hiểu biết và từ bi.

Ôm ấp khổ đau và nhìn sâu vào nó, chúng ta sẽ học hỏi được rất nhiều. Khi hạt giống sợ hãi từ trong chiều sâu tàng thức biểu hiện lên mặt ý thức thì sự thực tập của ta là mời chánh niệm cùng đi lên. Chánh niệm giúp ta có mặt thật sự để nhận diện và ôm ấp nỗi khổ đau mà không chạy trốn nó. Ban đầu có thể chánh niệm của ta không đủ mạnh để ôm ấp nỗi buồn khổ, đau đớn trong ta. Nhưng khi thực tập, đặc biệt là khi có tăng thân nâng đỡ, chánh niệm của ta sẽ lớn lên đủ mạnh, và ta sẽ ôm ấp được nỗi buồn khổ, đớn đau và sợ hãi.

Mỗi chúng ta đều cần một liều lượng khổ đau nào đó để vun trồng hiểu biết và thương yêu. Nhưng chúng ta không cần phải tạo thêm khổ đau nữa. Chúng ta đã có quá nhiều khổ đau trong ta và chung quanh ta rồi. Ý thức có khả năng học hỏi bằng cách quan sát nỗi khổ đau và chuyển tải sự hiểu biết này đến tàng thức.

Đặc tính thứ năm của mạt na là không biết chừng mực. Ý thức phải nhắc mạt na về tuệ giác chừng mực này. Với hơi thở chánh niệm, ta có thể giúp cho ý thức nhìn sâu, nhận diện mạt na với tất cả sự vô minh của nó và nhận ra rằng trong tàng thức có hạt giống tuệ giác. Khi ý thức thực tập định thì đối tượng của định là tương tức, tương duyên và vô phân biệt. Nếu ý thức tập trung vào những đối tượng này thì tuệ giác sẽ phát khởi một cách nhanh chóng, đáng ngạc nhiên.

Đặc tính thứ sáu của mạt na là luôn luôn tìm cách nắm giữ, chiếm hữu những gì nó muốn. Tham đắm là sự thôi thúc mạnh nhất. Vì nó mà trong ta đầy dẫy sự ganh tị, ta cố chiếm hữu những người ta thương, những vật ta muốn. Nhưng với tuệ giác tương tức, ta sẽ thấy không có gì để sở hữu cả.

Chuyển hóa mạt na

Nhờ chánh niệm, chúng ta có thể chuyển hóa được mạt na. Với hơi thở chánh niệm, ta có thể giúp cho ý thức nhìn sâu và nhận diện mạt na với tất cả sự vô minh của nó, đồng thời nhận ra rằng trong tàng thức có hạt giống tuệ giác. Khi mạt na được chuyển hóa thì nó sẽ trở thành vô phân biệt trí (trí tuệ không phân biệt, nirvikalpa-jñāna).

Có một câu chuyện diễn tả về vô phân biệt trí rất hay. Đó là câu chuyện của một hạt muối muốn biết độ mặn của nước biển như thế nào. Hạt muối nói: “Tôi là hạt muối, tôi rất mặn. Tôi tự hỏi liệu nước biển có mặn như tôi không?”. Một vị thầy đến bên hạt muối và trả lời: “Này hạt muối, cách duy nhất mà con muốn biết nước biển thật sự mặn như thế nào là con phải nhảy xuống biển”. Hạt muối nhảy xuống, hòa vào nước biển và trở thành một với nước biển. Nó hoàn toàn hiểu được nước biển mặn như thế nào.

Chỉ khi nào mình là một với người đó, vật đó, mình mới hiểu được người đó, vật đó một cách trọn vẹn. Trong tiếng Pháp, từ comprendre nghĩa là hiểu. Nghĩa đen của nó là cầm một vật gì lên và trở thành một với nó. Nếu còn tách biệt thì chúng ta đừng mong là hiểu được nó.

Thiền tập là khi nhìn vào thực tại ta không thấy có ranh giới giữa chủ thể và đối tượng. Chúng ta phải lấy đi cái ranh giới đó, ranh giới giữa người quán chiếu và đối tượng được quán chiếu. Nếu muốn hiểu một người nào, ta phải đặt mình là chính con người đó. Để cho bạn bè và những người thương trong gia đình hiểu được nhau thì họ phải là nhau. Cách duy nhất để hiểu trọn vẹn là ta phải trở thành một với đối tượng cần được hiểu. Để hiểu đúng, chúng ta phải phá vỡ rào cản giữa đối tượng hiểu và chủ thể hiểu.

Giả sử ta cho ai đó một vật gì thì với tuệ giác vô phân biệt ta sẽ thấy rằng không có người cho và không có người nhận. Nếu ta vẫn còn nghĩ ta là người cho và người kia là người nhận thì đó chưa thật sự là cho. Ta cho là bởi vì người kia đang cần thứ mà ta đang cho và ta cho một cách rất tự nhiên. Nếu thực sự thực hành hạnh bố thí, ta sẽ không nói: ‘nó không có biết ơn gì cả’. Ta không có những ý niệm như vậy.

Thực tập chánh niệm, ta sẽ nhận ra được sự có mặt của thức mạt na trong ta. Nếu ý thức được khuynh hướng của mạt na thì ta có thể sử dụng niệm, định, tuệ để chuyển hóa những khuynh hướng ấy và nuôi dưỡng tuệ giác vô phân biệt. Ta không chạy trốn khổ đau, trái lại ta nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào nó, như thế khổ đau bắt đầu chuyển hóa, và giải thoát giác ngộ sẽ hiển lộ.

Trong đời sống của mình, chúng ta phải có khả năng biết được những gì ta cần cho hạnh phúc của ta. Chúng ta cũng cần biết được những nhu yếu của mọi người trong gia đình, trong cộng đồng và xã hội. Khi biết được những nhu yếu đó, ta biết là ta nên làm gì. Ta có mục đích và bây giờ ta hành động, ta có thể cung cấp đầy đủ lương thực, thực phẩm, quyền dân chủ, tự do cho con người. Khi có mục đích, ta xác định rõ hành động của mình, công việc mà ta làm là giúp xã hội đi về hướng tích cực. Để xác định hành động của mình tốt hay xấu, thiện hay ác, chúng ta phải xem thử là hành động đó có hướng tới tầm nhìn tối hậu hay không.

Vô phân biệt trí

Trong tàng thức có một hạt giống có thể chuyển hóa được thức mạt na, đó là vô phân biệt trí. Phân biệt cái này với cái kia, hay cái này chống lại cái kia, là nền tảng của không biết bao nhiêu nỗi khổ đau. Điều quan trọng của ý thức là nhận diện hạt giống của tuệ giác vô phân biệt đang nằm sâu trong tàng thức và giúp nó biểu hiện. Với sự thực tập hơi thở chánh niệm và quán chiếu sâu sắc, chúng ta sẽ giúp cho tuệ giác vô phân biệt biểu hiện.

Trong mỗi chúng ta ai cũng có tuệ giác vô phân biệt. Ví dụ như khi tay phải thỉnh chuông hay làm thơ thì với tuệ giác vô phân biệt tay phải không bao giờ nói với tay trái: “Này tay trái, mày không làm được tích sự gì cả, chính tao làm tất cả những bài thơ này, chính tao là người viết nên những bức thư pháp này”. Không, tay phải không bao giờ thấy mình giỏi hơn tay trái. Chính vì vậy mà hai tay truyền thông và hợp tác với nhau rất hoàn hảo. Không có mặc cảm hơn người, thua người, hay thậm chí là bằng người. Khi so sánh, ta thấy có sự hơn, thua hay bằng. Từ sự so sánh này mà có sự phân biệt kỳ thị, và vì phân biệt kỳ thị nên mới có khổ đau.

Các tế bào trong cơ thể ta hợp tác với nhau một cách chặt chẽ, không hề có sự phân biệt. Một ngày nọ tôi muốn treo bức ảnh lên tường, tay trái tôi cầm chiếc đinh và tay phải cầm cái búa. Nhưng tôi đã không chánh niệm lắm, thay vì đóng vào đinh tôi đã đóng vào ngón tay trái. Ngay lập tức, tay phải đặt cái búa xuống và chăm sóc tay trái giống như là nó đang chăm sóc cho chính nó vậy. Tay trái cũng không hề giận dữ tay phải, vì tay trái có tuệ giác vô phân biệt. Tay phải không hề nói: “Này tay trái, ta đang chăm sóc cho mày nè, mày phải nhớ nhé”. Tay trái cũng không nói với tay phải là: “Này tay phải, mày không công bằng với tao gì cả, tao muốn được công bằng, đưa cái búa đây cho tao”. Không có tao, không có mày, không có sự phân biệt kỳ thị, hai tay là một. Giống như Chúa ba ngôi vậy. Đức Chúa Cha có trong đức Chúa Con. Đức Chúa Thánh Thần cũng có trong đức Chúa Cha và đức Chúa Con. Đó là tương tức. Trong một đức Chúa ta có thể thấy được hai đức Chúa kia. Khi tay trái bị đau thì cả hai cùng chia sẻ nỗi đau này, không hơn không kém, vì trong mối quan hệ thân thương không có sự phân biệt kỳ thị. Đó là xả (Upekṣā). Khi tuệ giác vô phân biệt có mặt thì hạnh phúc và khổ đau không còn là vấn đề cá nhân nữa.

Hạnh phúc và khổ đau

Với tuệ giác vô phân biệt, chúng ta có thể nhận ra rằng khổ đau và hạnh phúc có mặt trong nhau. Thông thường chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã có quá đủ khổ đau rồi và ta muốn một cái gì khác, như hạnh phúc chẳng hạn. Chúng ta muốn chạy trốn khổ đau và đi tìm kiếm hạnh phúc. Nhưng sự thực là hạnh phúc đã có đó rồi, trong khổ đau ta có thể tìm thấy an lạc. Nếu chạy trốn khổ đau ta sẽ ít có cơ hội hơn để tìm thấy hạnh phúc.

Tất cả những niềm hạnh phúc của chúng ta đều có hương vị khổ đau. Giống như bông hoa vậy. Khi nhìn sâu vào bông hoa ta sẽ thấy rác, thấy đất, thấy phân trong đó. Ta biết rằng nếu không có phân thì hoa sẽ không có được. Vì vậy khi tiếp xúc sâu sắc với bông hoa ta có thể tiếp xúc với phân.

Thức ăn

Một trong những cách chạy trốn khổ đau là ăn uống và giải trí. Chúng ta cảm thấy quá cô đơn, buồn tủi, trống trải, tuyệt vọng và sợ hãi đến nỗi ta cố lấp đầy những khoảng trống trong ta bằng phim ảnh hoặc thức ăn, như một miếng bánh mì sandwich chẳng hạn. Đó là cách chúng ta xử lý những phiền muộn nằm sâu kín trong tâm thức ta. Ta muốn đè nén nỗi khổ đau, tuyệt vọng, giận hờn và trầm cảm trong ta bằng cách tiêu thụ như nghe nhạc, mở tủ lạnh ra tìm cái gì đó để ăn, hay cầm tờ báo lên đọc. Cho dù chương trình tivi không hấp dẫn gì mấy ta vẫn cứ xem. Chúng ta nghĩ rằng làm bất kỳ điều gì cũng tốt hơn là chịu đựng nỗi khổ đau, phiền muộn ấy.

Tuy nhiên, càng tiêu thụ ta càng đưa vào cơ thể những độc tố của bạo động, thèm khát, hận thù, tuyệt vọng và kỳ thị, và ta càng làm cho tình trạng tệ hại hơn. Với năng lượng chánh niệm, chánh định, ta có thể nhìn sâu vào bản chất của khổ đau và nhận diện xem nguồn thức ăn nào đem lại nỗi khổ đau đó trong ta.

Không có gì có thể sống sót được mà không có thức ăn, ngay cả nỗi khổ đau cũng vậy. Không có một con vật hay một cây cối nào có thể sống được mà không cần đến thức ăn. Để cho tình thương của ta được sống mãi, ta cũng phải cho nó ăn. Nếu không cho nó ăn hay cho nó ăn nhầm thức ăn thì tình thương sẽ chết. Và chẳng bao lâu nữa tình thương sẽ biến thành thù hận. Khổ đau và trầm cảm của ta cũng cần thức ăn mới sống được. Sở dĩ cơn trầm cảm của ta cứ ở hoài với ta mà không chịu ra đi là bởi vì ta cho nó ăn hằng ngày. Chúng ta phải nhìn sâu vào nguồn thức ăn mà ta đang nuôi dưỡng nỗi khổ đau của ta.

Thỉnh thoảng nỗi khổ đau của chúng ta biểu hiện qua những cảm xúc mạnh khiến chúng ta suy nghĩ, cảm nhận và hành động bằng cách này hay cách khác. Nếu ta nhận ra được loại thức ăn nào ta đang nuôi dưỡng nỗi khổ đau của ta thì ta sẽ cắt bỏ nguồn thức ăn ấy đi, và như vậy nỗi khổ đau sẽ héo úa. Nếu tiêu thụ khổ đau, bạo động, ta sẽ làm cho bản thân và những người chung quanh ta đau khổ hơn. Chấm dứt việc tiêu thụ những hình ảnh bạo động và những truyền thông độc hại là cho ta cơ hội chuyển hóa bạo động, khổ đau trong ta. Hiểu biết, từ bi sẽ phát khởi để giúp ta trị liệu bản thân và trị liệu những người chung quanh.

Chấp nhận cuộc sống như chính nó đang là

Chúng ta biết rằng cuộc sống bao gồm cả sinh, lão, bệnh, tử. Chúng ta không muốn già, không muốn bệnh và không muốn chết, nhưng quy luật cuộc sống là như vậy. Nếu kháng cự, chống đối, ta sẽ đau khổ nhiều hơn. Nếu ta chấp nhận cuộc sống và chấp nhận những gì thuộc về nó như hạnh phúc, an lạc, vui tươi, kể cả bệnh tật, già yếu, chết chóc,… chúng ta sẽ không khổ đau nữa. Dù có khổ đau cũng không sao. Không những ta thấy khổ đau không có vấn đề gì mà trái lại nhờ khổ đau ta mới có cơ hội trải nghiệm hạnh phúc.

Để vượt thắng sự sợ hãi, trước hết ta phải ý thức về nỗi sợ hãi trong ta. Sau đó, bước thứ hai là ta tác ý không chạy trốn sự sợ hãi. Ta có khuynh hướng chạy trốn sự sợ hãi bởi vì nỗi sợ hãi không dễ chịu. Ta không muốn sống trong sự sợ hãi. Nhưng nỗi sợ hãi cứ trở về với ta. Ta sợ rằng điều gì đó sẽ xảy ra chiều nay hoặc ngày mai. Ta sợ vô thường. Vì vậy bước thứ hai trong sự chuyển hóa là cam kết có mặt cho chính mình dù bất cứ ở đâu, sau đó ta nhìn sâu vào nỗi sợ hãi ấy và chấp nhận nó.

Nếu nhìn sâu vào nỗi sợ hãi và chiệm nghiệm về nó, chúng ta sẽ thấy được những phản ứng của ta về nỗi sợ hãi đó. Chúng ta có thể phản ứng bằng sự bối rối, bất an, hay phủ nhận, từ chối. Hoặc chúng ta có thể đáp lại bằng sự ân cần, chấp nhận và thương yêu. Đây là cách phản ứng mang lại sự trị liệu. Đó là bước thứ ba, đáp lại sự sợ hãi bằng tuệ giác.

Bởi vì ta biết cách trị liệu, cho nên ta không bị những nỗi khổ đau bất ngờ ập tới. Nhờ thực tập, nhờ chánh niệm hùng hậu và vững chãi, ta không đợi cho hạt giống khổ đau xuất hiện đột ngột. Ta biết rằng chúng đang nằm sâu trong tàng thức ta. Ta có thể mời chúng lên trên bề mặt ý thức và chiếu ánh sáng chánh niệm vào.

Xử lý khổ đau cũng giống như bắt một con rắn độc. Chúng ta phải học hỏi cách bắt rắn, và chính chúng ta cũng phải đủ mạnh mẽ và vững chãi để bắt rắn mà không để nó làm hại chính mình. Cuối cùng là chúng ta phải giáp mặt, đối diện với con rắn. Nếu chúng ta không bao giờ đối diện với nó thì một ngày nào đó nó sẽ xuất hiện bất ngờ và cắn chết ta. Nỗi đau khổ mà ta mang trong chiều sâu tâm thức cũng tương tự như vậy. Khi nỗi đau khổ lớn lên và xuất hiện trong ta, ta sẽ không làm được gì nếu không thực tập chánh niệm hùng hậu vững chãi. Tuy nhiên chúng ta chỉ mời nỗi khổ đau đi lên khi ta đã sẵn sàng. Và khi nó đi lên chúng ta có khả năng xử lý một cách an toàn. Để chuyển hóa khổ đau, chúng ta không nên đấu tranh với nó cũng không chạy trốn nó. Đơn thuần chúng ta tắm gội nó dưới ánh sáng chánh niệm.

Bốn: Thở, đi thiền hành và buông bỏ

Hơi thở là một phương tiện tuyệt vời đưa chúng ta trở về với thân tâm và cảm thọ của mình. Nếu biết cách sử dụng hơi thở chánh niệm chúng ta không cần phải mất nhiều thời gian. Lúc nào ta cũng thở nhưng hầu hết ta không thở chánh niệm nên không có khả năng trở về với thân tâm và cảm thọ của mình.

Sự thực tập của chúng ta là luôn luôn trở về với giây phút hiện tại bây giờ và ở đây. Chỉ có giây phút hiện tại chúng ta mới có thể tiếp xúc sâu sắc với sự sống. Học cách sống sâu sắc trong mỗi phút giây của cuộc sống hằng ngày là sự thực tập đích thực của chúng ta. Hơi thở chánh niệm có khả năng đưa ta trở về với giây phút hiện tại. Nếu đánh mất hơi thở chánh niệm, chúng ta sẽ đánh mất giây phút hiện tại.

Khi đi, đứng, rửa bát, ăn cơm, chúng ta đều có thể thực tập hơi thở chánh niệm. Có rất nhiều cách trở về với giây phút hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với sự sống. Nhưng tất cả đều phải áp dụng hơi thở chánh niệm. Nếu biết nắm lấy hơi thở chánh niệm, chúng ta có thể thực tập bất cứ lúc nào và bất cứ ở đâu. Nếu không, chúng ta sẽ có nguy cơ đánh mất sự sống vì sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại bây giờ và ở đây.

Hơi thở chánh niệm là pháp môn thực tập căn bản. Thực tập hơi thở chánh niệm, ta đưa tâm trở về với thân và thiết lập thân tâm trong phút giây hiện tại. Năng lượng chánh niệm mang trong nó yếu tố của tình bằng hữu và tình thương yêu. Nếu không thực sự có mặt trong giây phút hiện tại, chúng ta không thể là người bạn cho chính mình, cũng không thể là người bạn cho bất cứ ai cả. Chỉ khi nào nuôi lớn được tình thương, ta mới có khả năng làm một người bạn đích thực.

Thực tập hơi thở chánh niệm, chúng ta trở thành một người bạn đích thực cho thân tâm, cảm thọ và tri giác của ta. Chỉ khi nào ta phát triển được tình bạn đích thực với chính mình, ta mới chuyển hóa được những tâm hành khác trong ta, và ta mới giúp được những người khác chuyển hóa. Muốn hòa giải với những người trong gia đình, với những người bạn đã làm ta tổn thương, ta phải chăm sóc bản thân trước. Nếu không có khả năng lắng nghe chính mình, làm sao ta có thể lắng nghe người khác? Nếu không biết cách nhận diện những nỗi khổ đau của mình, làm sao ta có thể hiểu được nỗi khổ đau của người khác, làm sao ta có khả năng mang đến sự an lạc và hòa hợp trong mối quan hệ của chúng ta?

Nhận diện và làm lắng dịu những cảm thọ đau nhức

Mỗi người trong chúng ta đều có một số đau nhức, bệnh tật nào đó trong thân và trong tâm. Cách hay nhất để bắt đầu trị liệu là dừng lại mọi thứ để hoàn toàn có mặt với giây phút hiện tại. Chỉ cần dừng lại thôi là đã làm cho thân tâm tự trị liệu rồi. Khi ta chú ý tới hơi thở, thì hơi thở sẽ trở nên nhẹ nhàng thư thái. Khi đi, chúng ta chỉ chú ý vào việc đi, không suy nghĩ, không để cho bất cứ một thứ gì lôi kéo, như vậy là ta đã bắt đầu có sự trị liệu.

Khi bị những nỗi khổ niềm đau lôi kéo, ta phải trở về với hơi thở ý thức. Hơi thở ý thức giúp cho nỗi khổ niềm đau lắng dịu và thư giãn. Khi nỗi khổ đau trở lại, thay vì để nó lôi kéo và làm ta bực bội, chúng ta phải nhận diện nó mà đừng đấu tranh với nó, vì ta biết rằng nỗi khổ đau ấy cũng chính là ta, là một phần của ta. Ta không muốn đấu tranh với chính mình. Niềm đau, cơn giận và sự đố kỵ cũng chính là ta. Khi chúng phát khởi, ta có thể làm cho chúng lắng dịu bằng cách trở về với hơi thở vào ra, hơi thở bình an sẽ làm lắng dịu những cảm xúc mạnh đó.

Khi cảm xúc lắng dịu, ta sẽ thấy được gốc rễ của những nỗi khổ niềm đau trong ta và hiểu được rằng những người làm cho ta đau khổ cũng đang có nhiều khổ đau. Thông thường khi khổ đau, ta nghĩ rằng duy chỉ có ta là khổ đau còn người kia thì hạnh phúc. Nhưng trên thực tế, người làm ta khổ cũng đang có nhiều nỗi khổ niềm đau và họ không biết cách để làm chủ những cảm xúc mạnh của họ. Trở về với hơi thở ý thức giúp ta chế tác năng lượng chánh niệm, nhờ chánh niệm ta có tuệ giác. Nhờ có tuệ giác, ta biết cách chuyển hóa nỗi khổ đau của chính mình; và với tình thương yêu, ta có thể giúp người khác chuyển hóa nỗi khổ đau của họ.

Khi bị tổn thương, thường chúng ta có hai khuynh hướng. Khuynh hướng thứ nhất là giận dữ hơn và muốn trả thù. Khuynh hướng thứ hai là làm lắng dịu vết thương bằng tình thương và sự hiểu biết, trở về ôm ấp niềm đau cho tâm mình được bình an.

Cách này giúp chúng ta thấy được người kia cũng đang đau khổ, và cơn giận của ta sẽ tiêu tan.

Buông thư

Nếu thân thể chúng ta bất an, nếu chúng ta có quá nhiều cảm xúc mạnh thì hơi thở của ta cũng hổn hển, bất an. Thực tập quán niệm hơi thở, chúng ta sẽ thấy rằng hơi thở chúng ta trở nên lắng dịu hơn, sâu hơn, hài hòa hơn, và những căng thẳng trong cơ thể ta cũng được buông thư hơn. Hơi thở chánh niệm đưa tâm trở về với hơi thở, và nếu tiếp tục thực tập ta sẽ đưa tâm trở về với toàn thân. Chúng ta trở về với thân thể và hòa giải với nó. Chúng ta biết chuyện gì đang xảy ra trên thân thể ta, chúng ta đã làm gì không đúng, chúng ta đã không dễ thương với thân thể ta như thế nào, và chúng ta biết là chúng ta nên làm gì và không nên làm gì để hòa giải với thân thể ta. Với hơi thở chánh niệm, chúng ta trở về nhận diện toàn thân:

Thở vào, tôi ý thức về toàn thân tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với toàn thân tôi.

Chúng ta phải dễ thương với chính mình, phải nhận diện và mỉm cười với thân thể mình. Nếu rảnh mười, mười lăm phút chúng ta nên thực tập thiền buông thư. Chúng ta chọn một tư thế thật thoải mái.

Lý tưởng nhất là tư thế nằm, để trở về với hơi thở của mình.

Thở vào, tôi ý thức về hơi thở vào của tôi.
Thở ra, tôi ý thức về hơi thở ra của tôi.

Chúng ta có thể nằm xuống, chỉ theo dõi hơi thở vào ra và trân quý sự có mặt của thân thể. Ta cho thân thể có cơ hội được nghỉ ngơi hoàn toàn. Đó là buông thư, là thực tập từ bi đối với thân thể.

Chúng ta bắt đầu chú ý đến toàn thân, sau đó chúng ta chú ý từng bộ phận trên thân thể:

Thở vào, tôi ý thức về toàn thân tôi.
Thở ra, tôi buông thư tất cả những căng thẳng trên thân thể tôi.

Chúng ta có thể bắt đầu từ đầu xuống đến các ngón chân, hoặc bắt đầu từ các ngón chân trở lên. Sử dụng ý thức để nhận diện từng bộ phận trên cơ thể đang còn đó cho ta. Chúng ta nhận diện và ôm ấp bằng năng lượng chánh niệm, cho phép từng bộ phận trên thân thể được buông thư.

Chúng ta bắt đầu thực tập chánh niệm với từng bộ phận ấy:

Thở vào, tôi ý thức về bộ não của tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với bộ não của tôi.

Mỗi bộ phận, ta có thể thở một hay mười hơi thở vào ra. Chúng ta đi qua tất cả các bộ phận trên thân thể. Scan thân thể bằng tia chánh niệm.

Thở vào, tôi ý thức về đôi mắt của tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với đôi mắt của tôi.

Hãy buông thư tất cả những căng thẳng trên đôi mắt bởi vì những căng thẳng thường tích tụ trên ấy. Nụ cười rất mầu nhiệm. Nụ cười giúp cho khuôn mặt được buông thư. Ta có thể gởi nụ cười đến những bộ phận khác trên thân thể.

Trên khuôn mặt ta có hàng trăm cơ bắp. Khi ta giận dữ hoặc sợ hãi thì những căng thẳng tích lũy trên những cơ bắp này. Nhưng nếu ý thức, theo dõi hơi thở, mỉm cười với chúng thì chúng ta sẽ buông thư những căng thẳng đó. Khuôn mặt của ta sẽ hoàn toàn khác hẳn sau một hơi thở vào ra. Nụ cười có thể mang đến cho ta một phép lạ. Hãy cho phép đôi mắt được buông thư và gởi đến đôi mắt một nụ cười. Chỉ để ý đến đôi mắt và mỉm cười thương yêu với chúng. Đôi mắt thật mầu nhiệm.

Rồi ta đi xuống tai:

Thở vào, tôi ý thức về hai tai của tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với hai tai của tôi.

Sau đó chúng ta đi xuống hai vai:

Thở vào, tôi ý thức về hai vai của tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với hai vai của tôi.

Chúng ta giúp cho đôi vai của mình buông thư, không để bị căng cứng. Rồi chúng ta đi đến phổi:

Thở vào, tôi ý thức về hai lá phổi của tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với hai lá phổi của tôi.

Hai lá phổi của tôi làm việc quá cực nhọc mà tôi không cho chúng đủ không khí trong lành để hít thở.

Tiếp theo:

Thở vào, tôi ý thức về trái tim tôi.
Thở ra, tôi mỉm cười với trái tim tôi.

Trái tim tôi làm việc suốt ngày đêm không ngừng nghỉ. Bây giờ tôi phải ngưng hút thuốc và uống rượu, tôi muốn thật sự quan tâm đến trái tim tôi.

Chúng ta đi qua hết toàn bộ thân thể. Thong thả scan từng bộ phận bằng ánh sáng chánh niệm. Nhận diện, ôm ấp và mỉm cười với chúng trong vòng mười, mười lăm hay hai mươi phút. Và buông thư những căng thẳng trên đó.

Khi đi ngang qua bộ phận nào đang đau nhức, chúng ta có thể ngừng lại đó lâu hơn, nhận diện và ôm ấp bằng năng lượng chánh niệm, mỉm cười với nó và buông thư những căng thẳng trên ấy. Khi có một nỗi đau nhức về thân, chánh niệm sẽ cho ta biết rằng đây chỉ là nỗi đau về thân. Với ý thức đó chúng ta sẽ dễ dàng buông thư hơn và cơn đau sẽ được trị liệu nhanh hơn.

Phương tiện và cứu cánh

Khi đi trong chánh niệm, bước chân của ta không còn là phương tiện để đến đích nữa. Khi vào bếp lấy thức ăn chúng ta không cần nghĩ: “Tôi phải vào bếp lấy thức ăn”. Với chánh niệm chúng ta có thể nói: “Tôi đang đi thảnh thơi vào nhà bếp và đang tận hưởng từng bước chân của mình”, và mỗi bước chân là đích đến. Không có sự phân biệt giữa phương tiện và cứu cánh. Không có con đường nào dẫn đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường. Không có con đường nào dẫn đến giải thoát, giải thoát chính là con đường.

Mỗi khi chúng ta bước một bước chân chánh niệm là chúng ta đang thực hiện một hành động giác ngộ. Chúng ta có thể giác ngộ trên mỗi bước chân của mình. Mỗi bước chân đều mang trong nó một vẻ đẹp. Rửa bát cũng có thể là một hành động giải thoát giác ngộ. Rửa bát như vậy rất thích thú, an vui và hạnh phúc.

Chăm sóc khổ thọ

Khi biết cách chăm sóc thân thể bằng năng lượng chánh niệm rồi, chúng ta có thể bắt đầu đi vào lãnh vực cảm thọ. Quán chiếu về cảm thọ nghĩa là khi có một cảm thọ đang đi lên chúng ta ý thức là có một cảm thọ đang đi lên, cho dù đó là lạc thọ, khổ thọ, trung tín hay hợp thọ. Trước khi chăm sóc những khổ thọ, ta phải học cách chăm sóc những cảm thọ trung tín (không khổ mà cũng không lạc).

Đức Bụt khuyên chúng ta nên chế tác lạc thọ và hỷ thọ để nuôi dưỡng mình trước khi có thể xử lý khổ thọ. Một bác sĩ phẩu thuật khi thấy bệnh nhân quá yếu, không thể chịu đựng được ca phẩu thuật, thì ông ta sẽ cho bệnh nhân nghỉ ngơi, bồi dưỡng để có đủ sức phẩu thuật. Chúng ta cũng cần nuôi lớn niềm vui và hạnh phúc (hỷ và lạc) trước khi chú tâm vào việc chuyển hóa khổ đau. Có thể chúng ta bắt đầu bằng niềm vui. Niềm vui và hạnh phúc luôn có trong tâm thức ta dưới hình thức hạt giống.

Thở vào, tôi cảm thấy mừng vui.
Thở ra, tôi mỉm cười với cảm thọ mừng vui đang có trong tôi.
Thở vào, tôi cảm thấy an lạc.
Thở ra, tôi mỉm cười với niềm an lạc đang có trong tôi.

Để lại mọi thứ sau lưng

Làm thế nào để nuôi lớn hỷ lạc (niềm vui và hạnh phúc) để những yếu tố này có thể giúp ta chuyển hóa khổ đau? Yếu tố đầu tiên là ly, buông bỏ. Ly sinh hỷ lạc.

Giả sử chúng ta đang sống trong một thành phố lớn như New York hoặc Paris, và chúng ta rất khổ đau bởi những tiếng ồn, khói xe và bụi bặm. Chúng ta muốn bỏ thành phổ để về quê nghỉ ngơi một thời gian. Chúng ta rất hạnh phúc dù có thể mất cả tiếng đồng hồ để lái xe. Khi đến miền quê, thấy không khí trong lành, thấy những ngọn đồi thoai thoải, thấy cây cối xanh tươi, thấy trời xanh mây trắng, chúng ta cảm thấy khỏe nhẹ và hạnh phúc. Chúng ta thấy mình có khả năng để lại thành phố sau lưng để ngắm nhìn và tận hưởng những khung cảnh đẹp đẽ của miền quê.

Tuy nhiên chúng ta không có khả năng giữ được niềm vui và hạnh phúc lâu dài. Được vài hôm chúng ta lại muốn trở về lại thành phố New York hay Paris. Có lẽ chúng ta ai cũng có kinh nghiệm này. Những ngày đầu ở miền quê, chúng ta rất hạnh phúc nhưng chúng ta không có khả năng nuôi dưỡng và giữ cho niềm vui hạnh phúc ấy lâu dài. Hạnh phúc được vài ba hôm, chúng ta lại khổ đau và muốn về. Chúng ta nghĩ rằng ngôi nhà ấm cúng thương yêu của chúng ta, quê hương của chúng ta là ở kia. Khi mới về lại New York hay Paris chúng ta cũng hạnh phúc bởi vì chúng ta được về lại ngôi nhà của mình, nhưng cũng được một thời gian sau đó ta lại khổ đau trở lại. Cho nên ta cứ đi tới đi lui như vậy hoài. Trong xã hội hiện đại ngày nay, rất nhiều người có hai ngôi nhà, ngôi nhà thứ hai là để khi cần họ có thể về nghỉ ngơi, bỏ qua một bên những bộn bề của cuộc sống.

Niềm vui và hạnh phúc cũng vô thường. Chúng ta cần phải nuôi dưỡng để chúng có thể ở lại với chúng ta lâu hơn. Nếu không biết nghệ thuật nuôi dưỡng niềm vui, hạnh phúc thì niềm vui, hạnh phúc sẽ chết đi. Và chúng ta sẽ đánh mất khả năng tận hưởng những niềm vui, hạnh phúc mà chúng ta đang có. Niềm vui, hạnh phúc có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu. Tuy nhiên chúng không đủ sâu để chuyển hóa những khổ đau cùng cực nằm sâu kín trong tâm thức ta. Vì vậy ta phải học cách để chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ trong ta.

Dưới bề mặt đại dương

Nhìn trên bề mặt đại dương chúng ta thấy rất yên tĩnh, nhưng bên dưới của nó có những dòng nước ngầm. Trong sự thực tập của chúng ta, nếu chúng ta không có khả năng chuyển hóa những khối khổ đau mà cha mẹ tổ tiên trao truyền lại thì chúng ta cũng chỉ hưởng được sự yên tĩnh trên bề mặt trong một khoảng thời gian nào đó. Thỉnh thoảng những khối khổ đau bên dưới sẽ trồi lên. Vì vậy, chỉ nuôi dưỡng niềm vui và hạnh phúc thôi thì không đủ. Khi có những vấn đề khó khăn và khổ đau, ta không biết vấn đề thực sự của ta là gì, nỗi khổ đau đích thực của ta là gì. Nỗi khổ đau đó có thể là nỗi khổ đau của cha ta trao truyền lại như một phần gia tài của ta. Nỗi khổ đau mà mẹ không có khả năng chuyển hóa, mẹ cũng trao truyền lại cho ta. Nếu chúng ta chỉ thực tập trên bề mặt thì những niềm vui, hạnh phúc và sự tĩnh lặng của ta cũng rất nông cạn. Chúng không đủ mạnh, không đủ năng lực để giúp ta chuyển hóa những khối khổ đau lớn đang nằm sâu trong chiều sâu tâm thức ta.

Vì không biết được bản chất của những nỗi khổ niềm đau đó nên ý thức ta không có khả năng soi sáng và nhận diện những nỗi khổ đau nằm sâu trong tâm thức. Khi khổ đau, ta đổ lỗi cho cái này cái nọ, cho người này người kia. Chúng ta nghĩ người này, vấn đề kia là nguyên nhân gây nên nỗi khổ của ta. Có thể chúng ta nghĩ rằng: “Chị không dễ thương với mình”, “Gia đình mình không tôn trọng môi trường”, hay “Tăng thân vẫn còn phân biệt, kỳ thị những người đồng tính luyến ái”, v.v… Biết bao nhiêu vấn đề như thế, gia đình có, xã hội có. Và vì chúng ta không biết đâu là đích thực nỗi khổ niềm đau của ta nên ta có khuynh hướng đổ lỗi cho những vấn đề mà ta nghĩ là nguyên nhân tạo nên những nỗi khổ niềm đau trong ta. Vì vậy chúng ta phải trở về ngôi nhà của chính mình để nhận diện và ôm ấp khổ đau. Có thể khi trở về nhận diện những nỗi khổ đau, ta lại thấy đau khổ hơn.

Ở châu Á có một loại mướp rất đắng, Việt Nam gọi là mướp đắng hay khổ qua. Khổ là khổ đau. Mình đã gọi đúng tên nó. Nếu không quen, chúng ta sẽ khổ đau khi ăn nó. Trong ngành y học Trung Quốc, người ta tin rằng thuốc đắng dã tật. Tuy đắng nhưng khi ăn vào thì thấy mát. Cho nên có người muốn đổi tên mướp đắng thành mướp mát. Nhưng cho dù có mát đi chăng nữa nó vẫn đắng. Tuy nhiên người nào biết ăn thì thấy ngon và thích. Vị đắng rất tốt, làm cho mình thấy khỏe.

Buông bỏ

Một ngày nọ, Bụt đang ngồi trong rừng với các vị khất sĩ thì có một bác nông dân đi đến. Bác hỏi Bụt và quý thầy có thấy những con bò của bác đi ngang qua đây không. Bác vừa mới bị mất mấy con bò, không biết chúng chạy đi đâu. Đức Bụt trả lời: “Không, chúng tôi không thấy con bò nào đi ngang qua đây cả, hay là bác đi tìm hướng kia thử”. Khi người nông dân đi rồi, Bụt quay lại các thầy, mỉm cười và nói: “Này quý thầy, quý thầy rất hạnh phúc vì quý thầy không có con bò nào để mất cả”.

Một trong những pháp môn thực tập của chúng ta là viết tên những con bò của mình xuống để quán chiếu, xem chúng ta có khả năng thả được con bò nào không. Có thể chúng ta nghĩ rằng những thứ này rất cần thiết cho sự an sinh của ta, nhưng nếu nhìn sâu hơn có thể chúng ta nhận ra rằng chúng là những chướng ngại cho niềm an vui và hạnh phúc đích thực của mình.

Tôi nhớ có một thương gia ở Đức đến tham dự khóa tu, ông ta cười hoài khi nghe tôi kể chuyện thả bò. Tôi mời ông ta ở lại, nhưng ông nói ông rất bận. Ông phải tiếp tục đi công tác ở Ý và còn nhiều việc khác phải làm nên ông phải chia tay. Hôm sau tôi rất ngạc nhiên khi thấy ông trong số những thính chúng đang ngồi lắng nghe. Ông nói ông đi nửa đường rồi nhưng quay lại. Và ông rất hạnh phúc. Ông có khả năng thả được con bò mà ông nghĩ là ông phải giữ nó.

Chánh niệm

Nguồn hỷ lạc đầu tiên là buông bỏ. Nhưng chỉ có buông bỏ thôi thì hạnh phúc mới chỉ ở trên bề mặt và tồn tại trong một thời gian rất ngắn. Vì vậy ta phải nuôi dưỡng niềm hạnh phúc lâu bền hơn. Nguồn hỷ lạc thứ hai là chánh niệm. Giả sử ta đang đứng ngắm nhìn cảnh mặt trời đang lên. Nếu tâm trí ta bận rộn với những dự án, hay lo lắng về quá khứ hoặc tương lai, thì ta không thực sự có mặt đó để quán chiếu và thưởng thức sâu sắc cảnh mặt trời đang mọc, rất đẹp đẽ huy hoàng, bởi vì ta thiếu chánh niệm. Nếu ta thực sự trở về với hơi thở vào ra, thở thật sâu và chậm rãi, ta có thể đưa toàn bộ tâm ý vào giây phút hiện tại. Như vậy, ta có thể thoát ra khỏi quá khứ, tương lai và những dự án. Thân tâm ta sẽ trở nên hợp nhất. Chánh niệm giúp ta có mặt hoàn toàn, để chứng kiến, để quán chiếu và thưởng thức một cách sâu sắc khung cảnh mặt trời huy hoàng đang lên.

Giả sử có một người bạn đến thăm và uống trà với ta. Chánh niệm giúp cho khoảng thời gian chúng ta có mặt cho nhau là khoảng thời gian vô cùng quý giá, không thể nào quên được. Chúng ta không suy nghĩ về bất cứ điều gì. Không nghĩ về công việc, không nghĩ về những dự án. Chúng ta chỉ tập trung sự chú ý vào giây phút chúng ta đang có mặt với người bạn của chúng ta. Chúng ta hoàn toàn ý thức rằng người đó đang có mặt đây, chúng ta có thể ngồi với người ấy và thưởng thức ly trà với người ấy. Chánh niệm giúp chúng ta hưởng được niềm vui một cách sâu sắc trong mỗi giây mỗi phút.

Giữa hỷ và lạc có một chút khác biệt. Giả sử ta đang đi qua một vùng sa mạc mà bị hết nước và ta rất khát. Bỗng nhiên ta thấy một hòn đảo trước mặt mình. Ta biết rằng sẽ có cây cối, hồ nước ở đó, và ta có thể uống nước từ đó. Ý thức ấy mang đến cho ta niềm vui. Ta biết rằng mình sẽ có cơ hội nghỉ ngơi và uống nước. Cảm thọ này gọi là hỷ. Khi đến hòn đảo rồi, ta ngồi xuống dưới bóng cây, quỳ gối xuống, vốc nước lên hai tay mà uống, lúc này ta rất hạnh phúc (đó là lạc). Trong hỷ còn có yếu tố bồn chồn, hưng phấn.

Nếu trong khi ngồi thiền, đi thiền, buông thư mà ta bị đau nhức thì có nghĩa là ta chưa thực hiện đúng. Chúng ta không cần phải đau khổ vì thiền. Thiền không phải là một lao tác mệt nhọc. Thiền phải mang đến cho chúng ta hỷ và lạc như một nguồn thức ăn. Nếu có đủ hỷ và lạc, chúng ta sẽ có đủ sức để xử lý khối khổ đau, buồn rầu và tuyệt vọng trong ta.

Đánh răng, nấu ăn sáng, đi đến thiền đường, hay làm bất cứ điều gì, mỗi bước chân, mỗi hơi thở phải mang đến cho ta hỷ và lạc. Cuộc sống đã đầy dẫy khổ đau rồi, ta không cần phải tạo thêm khổ đau nữa.

Để Bụt thở

Cách đây vài năm ở Seoul, Hàn Quốc, cảnh sát sắp xếp, dọn đường cho chúng tôi có một buổi thiền hành trong thành phố. Đến giờ thiền hành, tôi thấy rất khó để đi bởi vì cả hàng trăm chiếc máy ảnh đang chĩa vào tôi, không có chỗ nào để đi cả. Tôi liền nói với Bụt: “Bụt ơi, con chịu thua rồi, Bụt đi cho con đi”. Ngay tức thì Bụt đến và Bụt đi. Con đường bắt đầu mở ra. Sau kinh nghiệm này tôi làm một bài thi kệ mà chúng ta có thể dùng bất cứ lúc nào, đặc biệt là trong những lúc khó khăn để đi thiền và tập thở.

Để Bụt thở
Để Bụt đi
Mình khỏi thở
Mình khỏi đi.

Bụt đang thở
Bụt đang đi
Mình được thở
Mình được đi.

Bụt là thở
Bụt là đi
Mình là thở
Mình là đi.

Chỉ có thở
Chỉ có đi
Không người thở
Không người đi.

An khi thở
Lạc khi đi
An là thở
Lạc là đi.

Ban đầu có thể ta tin rằng phải có một ai đó mới có thể thở được, phải có ai đó để đi được. Nhưng thực tế thì đi và thở là đủ rồi. Mình không cần người đi, không cần người thở. Chúng ta chỉ ý thức là có cái đi đang xảy ra, có cái thở đang xảy ra.

Chúng ta hãy nghĩ về cơn mưa. Ta thường nói mưa rơi. Điều này hơi buồn cười. Bởi vì không rơi thì không có mưa. Bản thân của mưa là rơi rồi. Không cần phải có một người làm cho mưa rơi. Ta chỉ cần mưa thôi. Khi ta nói gió thổi thì cũng buồn cười như khi ta nói mưa rơi vì nếu không thổi thì không có gió. Chúng ta không cần người thổi. Vì vậy nói mưa hoặc gió là đủ rồi. Đi cũng vậy. Khi nói để Bụt đi thì chỉ có đi thôi, nhưng phẩm chất đi rất cao. Bởi vì cái đi đó rất vui, rất thích thú và dễ chịu. Đó là đi chánh niệm, có rất nhiều hỷ và lạc trong ấy. Bụt là thở, Bụt là đi bởi vì trong cái đi và thở đó có hỷ và lạc. Đó là đi chánh niệm, là thở chánh niệm.

Ba: Nỗi sợ hãi nguyên thủy và ước muốn nguyên thủy

Khi chúng ta sinh ra, nỗi sợ hãi cũng đi theo ta. Trong khoảng thời gian chín tháng trong bụng mẹ, chúng ta cảm thấy rất an toàn, không cần phải làm gì cả. Thật thoải mái và dễ chịu. Nhưng khi sinh ra thì hoàn cảnh thay đổi hoàn toàn. Cuống rốn của ta bị cắt đi và ta phải tự thở. Có thể trong phổi ta còn một ít chất loãng và ta phải đẩy chất loãng đó ra để có thể thở được hơi thở vào đầu tiên. Chúng ta có khả năng sống được hay không là nhờ vào những hơi thở đầu tiên ấy. Nỗi sợ hãi nguyên thủy cũng bắt đầu từ đó. Là một đứa trẻ bé bỏng, chúng ta có chân tay nhưng không biết cách sử dụng chân tay của mình như thế nào nên chúng ta cần người chăm sóc. Nguồn gốc, căn nguyên của nỗi sợ hãi này cũng do cái ước muốn nguyên thủy mà có. Đó là ước muốn được sống. Chúng ta sợ bị bỏ rơi một mình. Cho dù khi lớn lên, trưởng thành thành người lớn rồi, nỗi sợ hãi và ước muốn nguyên thủy này vẫn còn.

Nỗi sợ hãi và ước muốn này có cùng chung một gốc rễ. Đó là sợ chết và muốn sống. Chúng ta muốn có ai đó giúp chúng ta để chúng ta có thể sống được. Chúng ta hy vọng rằng mỗi phút mỗi giây đều có ai đó đến giúp ta, bảo vệ ta. Chúng ta cảm thấy bơ vơ, bất lực, không thể tự lo liệu được, không thể tự mình sống sót được. Chúng ta cần một người nào đó. Nếu nhìn sâu vào những ham muốn của ta trong hiện tại, ta sẽ thấy được mọi ham muốn của ta đều bắt nguồn từ cái ham muốn nguyên thủy này. Vì không biết được ước muốn của em bé bên trong nên chúng ta không thể thỏa mãn được mong muốn của mình. Chúng ta muốn có một mối quan hệ mới, một công việc mới, hay có thật nhiều tiền bạc. Nhưng khi đạt được những thứ này rồi, chúng ta vẫn không thấy thỏa mãn, vẫn không hạnh phúc. Cứ đi từ ham muốn này đến ham muốn khác, không bao giờ dừng lại.

Tri túc (Biết đủ)

Đức Bụt khuyên chúng ta thực tập saṃtuṣṭa, chúng ta phải thấy rằng chúng ta có đủ điều kiện để hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Chúng ta không cần phải thêm gì nữa cả. Saṃtuṣṭa nghĩa là thiểu dục, là muốn ít. Trở về với giây phút hiện tại, nhận diện những điều kiện hạnh phúc ta đang có, chúng ta sẽ thấy rằng ta đang có quá đầy đủ điều kiện hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Ta không cần phải tìm kiếm hay chạy theo bất cứ gì nữa cả, bởi vì cho dù có đạt được đối tượng mình mong muốn, ta cũng sẽ không hạnh phúc và tiếp tục chạy theo một đối tượng khác.

Nếu thấy đủ an toàn, chúng ta sẽ không còn tham muốn nữa. Cái thất của tôi rất nhỏ, nhưng tôi thấy vừa đủ, không cần phải có một cái lớn hơn. Cái thất ấy tuy nhỏ nhưng có nhiều khung cửa sổ, nhìn ra bên ngoài quang cảnh rất đẹp. Chúng ta đã có quá nhiều điều kiện hạnh phúc, chúng ta không cần phải chạy tới tương lai để tìm kiếm thêm những điều kiện khác. Những gì chúng ta đang có là đã quá đầy đủ rồi. Nếu chọn cách sống như vậy thì ngay lập tức chúng ta sẽ trở thành một người hạnh phúc.

Sống trong xã hội hiện đại này, chúng ta phải làm thế nào để có thể tiếp nhận tuệ giác đó. Nhiều người vẫn tin rằng mình chỉ có thể hạnh phúc khi có thật nhiều tiền tài, danh vọng và quyền lực. Nhưng nhìn chung quanh chúng ta, chúng ta thấy được rất nhiều người có nhiều tiền tài và quyền lực, mà họ vẫn khổ đau cùng cực vì nỗi cô đơn và căng thẳng. Vì vậy quyền lực và tiền tài không phải là tiêu chuẩn cho một cuộc sống hạnh phúc. Chúng ta phải rèn luyện cho chính mình một nghệ thuật sống chánh niệm.

Đừng kẹt vào quá khứ

Tàng thức là một nơi mà trong đó tất cả những bộ phim của quá khứ luôn luôn được trình chiếu. Những nỗi khổ đau và những vết thương vẫn còn cất giữ lại đó. Quá khứ đã qua rồi, nhưng những hình ảnh của quá khứ vẫn còn và thỉnh thoảng vẫn trở về trong giấc mơ của ta hay lúc ta còn thức, và chúng ta sống lại với những nỗi khổ đau trong quá khứ đó. Chúng ta có khuynh hướng để cho nhà tù quá khứ giam hãm ta. Về mặt lý thuyết chúng ta biết rằng quá khứ không còn nữa, những ký ức của chúng ta chỉ còn là những hình ảnh, những cuốn phim trong quá khứ. Tuy nhiên những bộ phim ấy vẫn được chiếu lên, và mỗi khi bộ phim được chiếu lên thì chúng ta đau khổ trở lại.

Giả sử chúng ta đang ngồi trong rạp chiếu bóng xem phim, chúng ta tin rằng đây là một câu chuyện có thật, và có thể chúng ta khóc. Khổ đau là có thật, những giọt nước mắt cũng có thật, nhưng những gì xảy ra trên màn hình thì không thật, nó chỉ là phim ảnh. Nếu lên sờ vào màn hình, ta thấy không có ai ở đó cả, chỉ có ánh sáng lung linh trên màn hình thôi. Ta không thể nói chuyện với người trên màn hình, không thể mời họ uống trà với ta bởi vì đó là một câu chuyện hư cấu, là một cái gì đó không thật. Tuy nhiên nó có thể tạo ra những khổ đau và trầm cảm thật cho ta.

Điều quan trọng là chúng ta phải nhận ra rằng em bé bên trong chúng ta vẫn còn đó, vẫn còn kẹt vào quá khứ. Chúng ta phải cứu em bé. Ngồi cho vững chãi, thiết lập thân tâm trong giây phút hiện tại và nói chuyện với em bé trong ta: “Em ơi, em nên biết là chúng ta đã lớn rồi. Giờ đây chúng ta có thể tự bảo hộ và che chở được cho chính mình rồi”.

Như lý tác ý

Nếu lúc bảy tuổi ta bị lạm dụng thì ta sẽ mang theo trong mình hình ảnh của em bé bảy tuổi bị lạm dụng đó, rất dễ bị tổn thương và đầy ắp sự sợ hãi. Khi nghe một điều gì gợi cho ta nhớ lại những nỗi khổ đau của thời quá khứ thì tự động chúng ta tiếp xúc với những hình ảnh của quá khứ đó. Nhiều thứ ta nghe, thấy, chứng kiến trong giây phút hiện tại đều có khả năng đưa chúng ta về với những ký ức khổ đau đó.

Nếu khi nhỏ ta bị lạm dụng thì hầu như những gì ta thấy, ta nghe đều có thể kéo ta trở về với hình ảnh của em bé đang bị lạm dụng đó. Thường xuyên tiếp xúc với những hình ảnh quá khứ ấy sẽ làm tăng thêm cảm giác sợ hãi, giận dữ và tuyệt vọng trong ta. Chúng ta gọi đó là phi như lý tác ý (Ayoniso Manasikāra) bởi vì nó làm cho ta đắm chìm trong những khổ đau của quá khứ mà không an trú được trong phút giây hiện tại. Khi nào tác ý của ta đi về hướng những hình ảnh quá khứ đó, ta phải biết cách để xử lý những nỗi buồn, sợ hãi và khổ đau đang trỗi dậy trong ta.

Tiếng chuông có thể nhắc nhở chúng ta dừng lại những suy nghĩ, nói năng và trở về an trú nơi hơi thở vào ra. Tiếng chuông có khả năng đưa chúng ta ra khỏi hình ảnh khổ đau và nhắc chúng ta trở về với hơi thở. Thở thật sâu và mỉm cười để làm lắng dịu thân tâm. Khi khổ đau trỗi dậy thì sự thực tập của chúng ta là trở về với hơi thở vào ra: “Thở vào, tôi biết là khổ đau đang có trong tôi”. Nhận diện và ôm ấp tâm hành chính là một trong những pháp môn thực tập của chúng ta. Nếu thực tập thành công, chúng ta có thể đi thêm một bước xa hơn. Với chánh niệm và chánh định, chúng ta có thể trở về với hình ảnh quá khứ để biết nguyên nhân nào làm cho hình ảnh đó phát khởi. Sở dĩ tôi có cái này là vì tôi tiếp xúc với cái kia.

Nhiều người trong chúng ta không thể thoát ra được thế giới của hình ảnh. Với năng lượng chánh niệm, chúng ta nhận ra rằng những khổ đau trong quá khứ chỉ là những hình ảnh mà không phải là một thực tại hiển hiện, và cuộc sống với những mầu nhiệm của nó đang có mặt ở đây. Sống hạnh phút trong giây phút hiện tại là điều chúng ta có thể làm được. Chúng ta có thể thay đổi được toàn bộ tình trạng.

Học hỏi từ khổ đau

Khả năng hiểu được nỗi khổ đau có thể mang đến cho ta tình thương và lòng từ bi. Hạnh phúc không thể có được nếu không có hiểu biết và thương yêu. Nhờ có khổ đau ta mới học được bài học hiểu biết và thương yêu. Hiểu được nỗi khổ đau rồi chúng ta không còn đổ lỗi, trách móc nữa, chúng ta có khả năng chấp nhận và thương yêu. Vì thế khổ đau rất hữu ích. Không biết cách xử lý khổ đau, chúng ta sẽ bị đắm chìm trong biển khổ. Nhưng nếu biết cách xử lý, chúng ta sẽ học được rất nhiều từ những nỗi khổ đau ấy.

Chúng ta có khuynh hướng trốn chạy khổ đau. Trốn chạy khổ đau và đi tìm kiếm dục lạc là khuynh hướng tự nhiên của con người. Tuy nhiên, chúng ta phải chỉ cho cái tâm của chúng ta biết rằng khổ đau đôi khi cũng rất hữu dụng. Khổ đau cũng có mặt tốt của nó. Nhờ có khổ đau chúng ta mới hiểu được, mới thông cảm được. Và nhờ hiểu biết, cảm thông chúng ta mới có khả năng chấp nhận và thương yêu. Không có hiểu biết và thương yêu thì không thể có hạnh phúc. Khổ đau dính liền với hạnh phúc. Vì vậy chúng ta không nên sợ hãi khổ đau. Chúng ta có thể ôm ấp nỗi khổ đau một cách nhẹ nhàng, nhìn sâu vào nó và học hỏi từ nó. Chúng ta biết là chúng ta có thể học hỏi rất nhiều từ khổ đau. Phải thấy được mặt tốt của khổ đau. Không có khổ đau thì không có hạnh phúc. Không có bùn thì không có sen. Vì vậy nếu biết cách xử lý khổ đau thì khổ đau đến cũng không sao. Khi ta có thái độ vô úy, không sợ hãi trước khổ đau, ta sẽ không khổ đau nhiều. Và khi ra khỏi khổ đau thì đóa hoa hạnh phúc sẽ bừng nở.

Năm phép quán tưởng

Đức Bụt nói rằng tất cả chúng ta ai cũng có hạt giống sợ hãi, nhưng hầu hết chúng ta đè nén nó và khóa chặt nó trong bóng tối. Để giúp chúng ta nhận diện, ôm ấp và nhìn sâu vào những hạt giống sợ hãi đó, đức Bụt đã cống hiến cho chúng ta một sự thực tập gọi là năm phép quán tưởng:

  1. Tôi thế nào cũng phải già. Tôi không thể nào tránh khỏi cái già.
  2. Tôi thế nào cũng phải bệnh. Tôi không thể nào tránh khỏi cái bệnh.
  3. Tôi thế nào cũng phải chết. Tôi không thể nào tránh khỏi cái chết.
  4. Tất cả những người tôi thương yêu và tất cả những gì tôi trân quý hôm nay, một mai tôi phải xa lìa và buông bỏ.
  5. Tôi không thể nào tránh thoát được sự xa lìa và buông bỏ ấy.
  6. Tôi là kẻ thừa tự những nghiệp quả do thân, khẩu, ý của tôi tạo nên.

Những nghiệp quả ấy là cái duy nhất tôi có thể mang theo với tôi sau này.

Mỗi ngày chúng ta phải để dành vài phút để thực tập, quán chiếu những bài tập này kết hợp với hơi thở. Chúng ta thực tập năm phép quán tưởng này để hạt giống sợ hãi trong ta được chuyển hóa. Chúng ta phải mời nỗi sợ hãi lên để nhận diện và ôm ấp. Khi nỗi sợ hãi trở lại hình thức hạt giống thì cường độ của nó sẽ nhẹ hơn. Mời hạt giống sợ hãi lên như thế, chúng ta sẽ được trang bị kỹ càng để chăm sóc cơn giận của chúng ta vì nỗi sợ hãi sẽ làm phát sinh sự giận dữ. Khi nỗi sợ hãi có mặt thì ta bất an, vì vậy nỗi sợ hãi trở thành mảnh đất cho cơn giận phát sinh. Vô minh là nguồn gốc của nỗi sợ hãi. Thiếu hiểu biết là nguyên nhân đầu tiên của cơn giận.

Hai: Ta là tổ tiên của ta, đồng thời là con cháu của ta

Tôi không biết quý vị có nhớ gì khoảng thời gian mình còn ở trong bụng mẹ không. Tất cả chúng ta đều trải qua chín tháng ở đó, một khoảng thời gian khá dài. Tôi nghĩ là một số trong chúng ta có thể vẫn còn nhớ điều gì đó hay một cảm thọ nào đó. Trong khoảng thời gian ấy chúng ta khóc hay cười? Tôi tin rằng tất cả chúng ta đều có cơ hội mỉm cười trong khoảng thời gian chín tháng trong bụng mẹ. Khi hạnh phúc, chúng ta có khuynh hướng mỉm cười. Tôi đã từng thấy những đứa trẻ mỉm cười trong lúc ngủ. Phải có một cái gì đó vui tươi, mầu nhiệm trong chúng, chúng mới cười như vậy.

Tôi tin rằng, đa số chúng ta vẫn còn nhớ khoảng thời gian mình ở trong bụng mẹ. Có thể chúng ta có ấn tượng rằng mình đang ở trong một thiên đường, vô cùng an toàn, ở đó chúng ta được bảo hộ, không cần lo lắng bất cứ điều gì. Trong tiếng Việt, chúng ta gọi bụng mẹ là ‘tử cung’, cung điện của đứa bé.

Ở trong cung điện này, mẹ ăn cho ta, uống cho ta và thở cho ta. Quý vị có nghĩ rằng thỉnh thoảng trong bụng mẹ ta cũng mơ không? Chúng ta chưa thấy được bầu trời, dòng sông bên ngoài. Tuy nhiên trong giấc mơ chúng ta có thể thấy một cái gì đó. Có lẽ trong khi mẹ mình đang mơ mình cũng thấy những gì mẹ thấy. Nếu mẹ mình mơ một điều gì đó không dễ chịu lắm và mẹ khóc thì có thể ta cũng khóc. Nếu mẹ cười, có lẽ chúng ta cũng cười. Mẹ và ta giống như là một, chứ không phải là hai người khác nhau. Giữa ta và mẹ có một đường dây kết nối với nhau đi qua cuống rốn. Qua cuống rốn mẹ truyền thức ăn, thức uống, oxy và mọi thứ cho ta, kể cả tình thương.

Điều này không có nghĩa là cha ta không truyền cho ta cái gì cả trong giai đoạn này. Một số trong chúng ta biết rằng ta đang có cha ở đó, chăm sóc mẹ rất đàng hoàng để mẹ có thể chăm sóc cho ta. Một số trong chúng ta có những người cha nói chuyện với mẹ rất ngọt ngào dễ thương, và cũng nói chuyện nhẹ nhàng trìu mến với ta qua bụng mẹ, biết rằng ta có thể nghe những gì cha nói.

Một số trong chúng ta cũng có những người mẹ nói chuyện với ta khi ta còn ở trong bụng mẹ. Có lẽ chúng ta cũng nghe mẹ nói và trả lời với mẹ. Có thể đôi khi mẹ cũng quên là ta đang ở đó nên ta đá mẹ một cái để nhắc nhở mẹ là ta đang ở đây. Cái đá của ta là một tiếng chuông chánh niệm, và khi mẹ cảm được điều đó thì mẹ sẽ trả lời ngay: “Con yêu, mẹ biết con ở đó nên mẹ rất hạnh phúc”.

Khi ta sinh ra, có người cắt cuống rốn cho ta. Ta bật khóc tiếng khóc đầu tiên. Ta phải tự thở một mình. Có rất nhiều ánh sáng chung quanh ta. Bây giờ ta đang ở ngoài bụng mẹ, nhưng bằng cách này hay cách khác ta cũng ở trong mẹ. Mẹ tiếp tục ôm ấp ta. Mẹ ôm ấp ta bằng tình thương của mẹ. Ta cũng ôm mẹ. Mặc dù cuống rốn không còn nữa, nhưng ta vẫn kết nối với mẹ bằng một cách thân mật và cụ thể.

Tương tức

Thiền tập giúp chúng ta có thể thấy được sợi dây kết nối giữa ta với mẹ. Chúng ta thấy rằng mẹ không những ở bên ngoài ta mà còn ở bên trong ta nữa. Cuống rốn vẫn còn đó. Khi nhìn sâu, chúng ta cũng thấy rằng cuống rốn nối chúng ta với những thứ khác, với những người khác. Hãy tưởng tượng cuống rốn nối ta với mặt trời. Mặt trời mọc mỗi sáng, nhờ mặt trời ta mới có ánh sáng, có hơi ấm. Không có mặt trời, không có hơi ấm chúng ta không thể sống được. Chúng ta nương tựa vào mặt trời giống như ta nương tựa mẹ vậy. Vì vậy cuống rốn nối ta với mặt trời. Một cuống rốn khác lại nối ta với đám mây trên bầu trời, bởi vì nếu đám mây không có đó thì sẽ không có mưa, sẽ không có nước để uống, không có sữa, không có trà, không có cà phê, không có cà rem, không có gì cả. Lại có một cuống rốn khác nối ta với dòng sông, và một cuống khác nối ta với rừng cây. Nếu tiếp tục quán chiếu, chúng ta sẽ thấy rằng chúng ta được kết nối với mọi người và mọi loài trong vũ trụ này. Chúng ta nương vào những loài khác để tồn tại. Chúng ta cần cả loài hữu tình lẫn vô tình như cây cối, khoáng chất, không khí và nước.

Khi lớn lên, có thể chúng ta tin rằng ta và mẹ ta là hai người khác nhau. Tuy nhiên điều đó không đúng. Chúng ta là sự nối dài của mẹ. Chúng ta nhầm lẫn, tin rằng ta khác mẹ. Nhưng chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ và của cả tổ tiên ta nữa.

Hãy tưởng tượng một hạt bắp ta gieo xuống đất. Bảy ngày sau, nó nảy mầm và bắt đầu hình thành cây bắp con. Khi cây bắp lớn lên, nó không thấy hạt bắp nữa, nhưng hạt bắp không chết. Hạt bắp vẫn còn đó. Nhìn sâu chúng ta vẫn có thể thấy được hạt bắp trong cây bắp. Hạt bắp và cây bắp không phải là hai thực thể riêng biệt. Cái này là sự tiếp nối của cái kia. Cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp đi về tương lai, và hạt bắp là sự tiếp nối của cây bắp đi về quá khứ. Chúng không phải một mà cũng không phải khác. Ta và mẹ ta cũng vậy, cũng không phải là một người, mà cũng không phải là hai người khác nhau. Điều này rất quan trọng. Không ai có thể một mình mà tồn tại được. Chúng ta phải nương nhau, tương tức với nhau, kết nối với mọi người, mọi loài và tất cả những thứ khác.

Nếu nhìn vào một tế bào trên cơ thể ta, hoặc một tế bào trong tâm thức ta, chúng ta sẽ nhận ra được sự có mặt của tất cả các thế hệ tổ tiên trong ta. Tổ tiên của ta không chỉ là loài người thôi. Trước khi loài người xuất hiện, chúng ta đã là những loài khác rồi. Chúng ta từng là cây, từng là đá, từng là khoáng vật, từng là con sóc, con nai, con khỉ và sinh vật đơn bào. Tất cả các thế hệ tổ tiên đều có mặt trong mỗi tế bào trên cơ thể và tâm thức ta. Chúng ta là sự tiếp nối của cả một dòng sinh mạng.

Giả sử chúng ta cầm chiếc lá trên tay, chúng ta có thấy gì không? Chiếc lá là chiếc lá, chiếc lá không phải là bông hoa. Nhưng thực tế khi nhìn sâu vào chiếc lá, chúng ta sẽ thấy rất nhiều thứ trong đó. Chúng ta có thể thấy cây cối, thấy ánh nắng mặt trời, thấy đám mây và thấy đại địa. Khi chúng ta phát âm từ ‘lá’, chúng ta phải ý thức rằng lá được làm bằng những yếu tố không phải lá. Nếu ta lấy đi yếu tố không phải lá như ánh nắng mặt trời, đám mây, đất đai ra khỏi chiếc lá thì sẽ không có chiếc lá nào tồn tại cả. Hình hài ta cũng vậy. Chúng ta không phải là một cũng không phải khác với những sinh vật hữu tình hay vô tình khác. Chúng ta kết nối với tất cả và tất cả đang còn hiện hữu trong ta.

Ba nghiệp thân khẩu ý

Các nhạc sĩ hay hoạ sĩ thường ký tên mình lên những bản nhạc hoặc tác phẩm mà họ sáng tác. Trong đời sống hằng ngày, chúng ta cũng tạo ra chữ ký của mình qua những suy nghĩ, lời nói và hành động. Khi tạo ra một suy nghĩ, chúng ta cũng mang theo chữ ký của mình. Nhìn vào suy nghĩ, dù đúng hay sai, chúng ta luôn thấy chữ ký của chúng ta, bởi vì nó là sản phẩm của ta. Suy nghĩ chân chánh (chánh tư duy) là suy nghĩ luôn đi đôi với sự hiểu biết, tình thương và tuệ giác. Trong đời sống hằng ngày chúng ta phải cẩn trọng để chỉ tạo ra những suy nghĩ phù hợp với chánh tư duy. Chúng ta có cơ hội tạo ra chánh tư duy trong mỗi giây mỗi phút. Suy nghĩ của chúng ta là nền tảng của lời nói và hành động. Chúng ta trao truyền suy nghĩ, lời nói và hành động (mà ta gọi là ba nghiệp) cho con cháu chúng ta và cho cả thế giới. Đó là tương lai của chúng ta.

Những gì chúng ta nói cũng là sản phẩm của ta. Cho dù lời nói của ta đúng hay sai (chánh ngữ hay tà ngữ), nó cũng mang theo chữ ký của ta. Những gì ta nói có thể gây nên sự giận dữ, tuyệt vọng, hoặc bi quan. Lời nói của ta có thể gây nên đau khổ và tai hại. Vì vậy, chúng ta phải thực tập chánh niệm để có thể chỉ nói những lời chánh ngữ, những lời nói đi đôi với hiểu biết, từ bi, an vui và tha thứ. Nhờ thực tập chánh niệm, chúng ta có thể tạo ra những lời nói chánh ngữ trong mỗi phút mỗi giây. Đó là những gì mà ta trao truyền cho con cháu ta và cho cả thế giới. Đó là sự tiếp nối của ta.

Hành động của ta cũng mang chữ ký của chúng ta. Những gì ta làm để bảo vệ sự sống, để giúp đỡ mọi người vơi bớt khổ đau, để chia sẻ sự hiểu biết và thương yêu với người khác đều là hành động chân chánh (chánh nghiệp). Chúng ta phải có chánh niệm để không tạo ra bất kỳ một hành động nào mang tính bạo lực, hận thù, sợ hãi và kỳ thị, bởi vì những hành động này cũng mang theo chữ ký của ta. Chúng ta không thể chối bỏ nó là sản phẩm của ta. Nó thực sự đến từ ta. Chúng ta tạo ra chính mình, và tạo ra tương lai. Chúng ta phải hiến tặng những suy nghĩ, lời nói và hành động hay nhất của ta. Chánh niệm giúp ta biết là ta có đang tạo ra những điều tốt đẹp cho tương lai của ta hay không, chánh niệm cũng giúp ta nhớ rằng những gì chúng ta đang tạo ra là chính chúng ta, là tương lai của chúng ta.

Đi với tổ tiên

Khi còn là em bé bốn tuổi, chúng ta có thể nghĩ rằng: ta chỉ là một đứa con nít bốn tuổi, non nớt bé bỏng. Tuy nhiên thực tế ta đã là một người mẹ, một người cha rồi. Tất cả những thế hệ quá khứ và tương lai đều đang có mặt trong cơ thể ta. Khi bước đi trên bãi cỏ xanh tươi của mùa xuân, chúng ta đi như thế nào để cho tất cả tổ tiên của chúng ta cùng bước với ta. Niềm an vui, hạnh phúc và tự do trong mỗi bước chân sẽ thấm nhuần năng lượng của các thế hệ tổ tiên và con cháu ta. Chúng ta đi bằng năng lượng chánh niệm. Mỗi bước chân, ta thấy được vô số thế hệ tổ tiên và con cháu đang cùng bước với ta.

Khi thở một hơi thở, chúng ta thấy nhẹ nhàng, tĩnh lặng và an lành. Chúng ta thở như thế nào để tất cả các thế hệ tổ tiên và con cháu cùng thở với ta. Chỉ khi đó ta mới đạt được phương pháp thở cao nhất. Chỉ cần một ít chánh niệm và chánh định là chúng ta có thể nhìn sâu và thấy được điều này. Ban đầu chúng ta có thể dùng phương pháp quán tưởng (hình dung) để thấy được tất cả tổ tiên đang cùng bước với chúng ta. Dần dần chúng ta không cần dùng phương pháp quán tưởng nữa. Mỗi bước chân ta đi, ta điều thấy được đây là bước chân của tất cả mọi người từ quá khứ cho đến tương lai.

Khi đang nấu một món ăn mà ta học được từ cha hay mẹ, hay từ nhiều thế hệ trong gia đình trao truyền lại, thì chúng ta nên nhìn vào đôi bàn tay của mình và mỉm cười bởi vì đôi bàn tay này là đôi bàn tay của mẹ, là đôi bàn tay của bà ngoại. Những ai đã từng làm món ăn này cũng đang có mặt và cùng làm với mình. Khi ở trong bếp nấu ăn, chúng ta hoàn toàn có thể thực tập chánh niệm được, chúng ta không cần phải vào thiền đường mới thực tập điều này.

Trong quá khứ, ông nội ta có chơi bóng chuyền không? Bà nội có chạy bộ mỗi ngày không? Bà nội có cơ hội thực tập an trú trong giây phút hiện tại trong khi bà đi bộ hoặc chạy bộ hay không? Khi chạy bộ ta cũng nên để cho bà nội chạy bộ với ta. Bà ta có mặt trong từng tế bào trên cơ thể ta. Chúng ta mang trong mình tất cả tổ tiên của chúng ta trong lúc ta chạy bộ, trong lúc thiền hành hay khi an trú trong giây phút hiện tại. Có thể những thế hệ đi trước không có cơ hội để thực tập như vậy. Giờ đây, cho dù chúng ta đang đi bộ, chạy bộ, hay thở những hơi thở chánh niệm, chúng ta cũng đều có cơ hội mang niềm vui và hạnh phúc tới cho vô số thế hệ tổ tiên của chúng ta.

Khi ta băn khoăn trăn trở với hàng loạt những câu hỏi như: Tôi là ai? Tôi từ đâu đến? Tôi đang muốn điều gì? Cuộc sống của tôi có ý nghĩa gì? Và ta đau khổ bởi vì ta bị kẹt vào ý niệm ta là một cái ngã riêng biệt. Tuy nhiên, nếu quán chiếu cho sâu sắc, chúng ta có thể thực tập được vô ngã. Chúng ta có thể nhận ra rằng ta không có một cái ngã riêng biệt, ta liên hệ mật thiết với tổ tiên của ta, cũng như với tất cả các loài hữu tình và vô tình khác.

Tâm lý học Tây phương nhắm đến việc giúp tạo ra một cái ngã hiền thiện và ổn định, nhưng vì tâm lý học Tây phương vẫn còn kẹt vào ý niệm ngã nên nó chỉ mang lại một ít chuyển hóa và trị liệu mà không thể đi xa được. Khi nào ta còn bị kẹt vào ý niệm về một cái ngã riêng biệt thì vô minh vẫn còn trong ta. Khi thấy được mối tương quan mật thiết giữa ngã và vô ngã thì vô minh được chuyển hóa, và khổ đau, giận dữ, ganh tị, sợ hãi sẽ biến mất. Nếu thực tập vô ngã, chúng ta sẽ giải đáp được những thắc mắc ở trên và có khả năng vượt thoát được những vấn đề làm cho con người khổ đau điêu đứng.

Chúng ta là sự tiếp nối của cả một dòng sinh mạng. Có thể cha mẹ chúng ta không có khả năng trân quý chúng ta đủ, nhưng ông bà, tổ tiên của chúng ta muốn ta ra đời. Sự thật là ông bà tổ tiên của chúng ta luôn muốn ta là sự tiếp nối của họ. Nếu biết được điều này, ta sẽ không khổ đau nhiều vì những cách hành xử không dễ thương của cha mẹ. Đôi khi cha mẹ ta cũng tràn đầy tình thương yêu nhưng có khi cũng đầy sự sân hận. Tình thương và sự sân hận này không phải chỉ do một mình cha mẹ tạo ra mà chúng được trao truyền từ tất cả các thế hệ đi trước. Thấy được điều này ta không còn đổ lỗi cho cha mẹ về những khổ đau mà cha mẹ gây ra cho ta nữa.

Tập khí

Mục đích của thiền tập là nhìn sâu vào sự vật để thấy được gốc rễ của chúng. Nhìn sâu vào bất cứ một hành động nào, ta cũng sẽ nhận ra được hạt giống của hành động đó. Hạt giống đó có thể là từ ông bà tổ tiên trao truyền lại cho ta. Bất cứ hành động nào ta làm thì tất cả tổ tiên của ta cũng đồng thời cùng đang làm với ta. Cha mẹ, ông bà, cố nội, cố ngoại cũng đang làm với ta. Tổ tiên của ta đang có mặt trong từng tế bào cơ thể ta. Có những hạt giống được gieo trồng trong suốt cuộc đời mình, nhưng cũng có những hạt giống được gieo trồng trước khi hình hài này biểu hiện.

Đôi khi chúng ta làm một điều gì đó không có cố ý, nhưng đó cũng là một hành động. Tập khí thúc giục chúng ta, khiến chúng ta làm những điều mà chúng ta không ý thức. Đôi khi ta làm mà ta không biết là ta đang làm. Cho dù có khi ta cũng không muốn làm mà ta vẫn cứ làm. Có khi ta nói: “Tôi không muốn làm nhưng có cái gì đó thôi thúc tôi, nó mạnh hơn tôi, xúi dục tôi phải làm”. Cái đó là hạt giống, là tập khí đã được trao truyền từ nhiều thế hệ trong quá khứ.

Chúng ta đã thừa hưởng rất nhiều. Nhờ chánh niệm mà chúng ta ý thức được những tập khí đã được trao truyền lại cho chúng ta. Chúng ta có thể thấy rằng ông bà cha mẹ chúng ta cũng có những yếu kém như chúng ta. Chúng ta có thể ý thức là những tập khí tiêu cực này có gốc rễ từ tổ tiên của ta mà ta không lên án hay phán xét. Chúng ta có thể mỉm cười với những yếu kém và tập khí của ta. Nhờ ý thức, chúng ta có khả năng chọn lựa và chúng ta có thể hành động bằng một cách khác. Chúng ta có thể chấm dứt vòng luẩn quẩn khổ đau ngay bây giờ.

Có thể trong quá khứ, khi thấy mình làm những điều vô ý mà ta đã được thừa hưởng từ ông bà tổ tiên là ta quay ra trách móc chính bản thân mình.

Ta thấy mình là một cá nhân, là một cái ngã biệt lập đầy khiếm khuyết vụng về. Nhưng giờ đây nhờ chánh niệm, chúng ta bắt đầu chuyển hóa và buông bỏ được những tập khí này.

Nhờ thực tập chánh niệm, chúng ta nhận ra được là ta đang hành động theo tập khí. Đây là ý thức đầu tiên mà chánh niệm đem lại. Sau đó, nếu tiếp tục thực tập, chánh niệm và chánh định sẽ giúp ta nhìn sâu để thấy được cội nguồn gốc rễ của hành động đó. Hành động đó có thể xuất phát từ những gì xảy ra hôm qua, hoặc là đã xảy ra cách đây 300 năm, có gốc rễ từ một trong những vị tổ tiên của ta. Một khi ý thức được hành động của mình, chúng ta có thể phán đoán được hành động này có mang lại lợi lạc hay không. Nếu không lợi lạc thì ta quyết định không lặp lại hành động này nữa. Nếu ý thức được tập khí trong ta, để ý hơn về những suy nghĩ, lời nói và hành động của mình thì chúng ta có khả năng chuyển hóa, không những cho bản thân mà còn cho cả tổ tiên ta nữa, người đã gieo trồng hạt giống này. Chúng ta thực tập cho tất cả tổ tiên và con cháu ta, mà không phải chỉ cho một mình ta, ta thực tập cho toàn thế giới. Nếu chúng ta có khả năng mỉm cười với những khiêu khích tức tối trong ta, ta sẽ ý thức được khả năng của mình, trân quý khả năng đó và tiếp tục thực tập như vậy. Nếu ta có khả năng làm được điều này thì tổ tiên của chúng ta cũng có khả năng mỉm cười với những gì tức tối khiêu khích trong họ. Nếu một người giữ được bình tĩnh, mỉm cười được với những khiêu khích tức tối trong lòng thì cả thế giới sẽ có được một cơ hội an lành, tốt đẹp hơn cho hòa bình. Điểm mấu chốt là chúng ta phải ý thức về hành động của chúng ta. Và chánh niệm sẽ giúp chúng ta hiểu được hành động này đến từ đâu, do đâu mà có.

Một: Năng lượng chánh niệm

Năng lượng chánh niệm là phương thuốc giúp ta nhận diện và chữa trị cho em bé trong ta. Nhưng chúng ta chế tác năng lượng này như thế nào?

Tâm lý học đạo Bụt chia tâm thức ra làm hai phần: Một phần là ý thức và phần kia là tàng thức. Ý thức là phần thức hoạt động của chúng ta. Tâm lý học phương Tây cũng gọi là ‘Ý thức’. Để vun bồi cho năng lượng chánh niệm, chúng ta phải cố gắng đưa ý thức của mình vào tất cả các hoạt động hằng ngày và thực sự có mặt với bất cứ công việc gì mà chúng ta đang làm. Chúng ta cần ý thức khi uống trà hoặc khi lái xe. Khi đi, chúng ta cũng ý thức rằng mình đang đi. Khi thở, phải ý thức là mình đang thở.

Tàng thức, được gọi là căn bản thức, là nền tảng của tâm thức ta. Tâm lý học phương Tây gọi là ‘vô thức’. Đó là nơi mà tất cả những kinh nghiệm của quá khứ được lưu trữ lại. Tàng thức có khả năng học hỏi và xử lý tất cả những thông tin.

Thông thường, tâm ta không có mặt với thân. Có khi chúng ta làm những công việc hằng ngày mà không hề có một chút ý thức nào cả. Chúng ta có thể làm nhiều việc chỉ bằng tàng thức, trong khi ý thức đang nghĩ về hàng ngàn thứ khác. Ví dụ, khi lái xe vào thành phố, ý thức của chúng ta có thể không nghĩ đến việc lái xe, nhưng chúng ta vẫn có thể đến nơi an toàn mà không bị lạc đường hoặc xảy ra tai nạn. Đó là do tàng thức tự nó làm việc.

Tâm thức của chúng ta giống như một căn nhà mà tầng hầm là tàng thức và phòng khách là ý thức. Những tâm hành như giận dữ, đau buồn hay vui vẻ,… nằm trong tàng thức dưới hình thức những hạt giống (Bīja). Chúng ta có hạt giống giận dữ, tuyệt vọng, kỳ thị, sợ hãi, và cũng có hạt giống chánh niệm, từ bi, hiểu biết, v.v… Tàng thức được tạo ra từ toàn thể những hạt giống ấy và cũng là đất để bảo tồn và duy trì tất cả các hạt giống ấy. Những hạt giống nằm yên đó, cho đến khi năm giác quan của chúng ta tiếp xúc với một đối tượng nào đó (như chúng ta nghe, thấy, đọc hoặc nghĩ về một điều gì) chạm đến những hạt giống ấy làm cho ta giận dữ, đau buồn hay vui mừng.

Đó là do hạt giống đi lên và biểu hiện trên tầng ý thức, trong phòng khách của chúng ta. Lúc bấy giờ ta không gọi nó là hạt giống nữa mà gọi là tâm hành.

Khi có ai nói hay làm một điều gì đó chạm vào hạt giống giận dữ của ta, làm cho ta buồn khổ, thì hạt giống giận dữ đó sẽ đi lên và biểu hiện trong ý thức ta dưới dạng một tâm hành (cittasaṃskāra) giận dữ. Từ ‘hành’ là một từ chuyên môn trong đạo Bụt dùng để chỉ một sự vật hay sự kiện được tạo ra bởi nhiều nhân duyên điều kiện kết hợp lại với nhau. Cây viết bảng là một hành; bàn tay, bông hoa, cái bàn, căn nhà,… tất cả đều là hành. Căn nhà là một vật lý hành. Bàn tay tôi là một sinh lý hành. Sự giận dữ là một tâm lý hành. Trong tâm lý học đạo Bụt, chúng ta thường nói về năm mươi mốt hạt giống khác nhau có thể biểu hiện thành năm mươi mốt tâm hành. Giận dữ chỉ là một trong những tâm hành đó. Trong tàng thức, giận được gọi là hạt giống nhưng trong ý thức, nó được gọi là tâm hành.

Bất kể khi nào một hạt giống, ví dụ như hạt giống giận chẳng hạn, đi lên phòng khách và biểu hiện thành một tâm hành thì việc đầu tiên chúng ta cần làm là tiếp xúc với hạt giống chánh niệm và mời chánh niệm cùng lên theo. Bây giờ, chúng ta có hai tâm hành trong phòng khách. Đó là chánh niệm và cơn giận. Chánh niệm luôn luôn phải là chánh niệm về cái gì. Khi chúng ta thở có chánh niệm, thì đó là chánh niệm về hơi thở. Khi chúng ta đi có chánh niệm thì đó là chánh niệm về đi. Khi chúng ta ăn có chánh niệm thì đó là chánh niệm về ăn. Cũng vậy, trong trường hợp này, chánh niệm của ta là chánh niệm về cơn giận. Chánh niệm giúp ta nhận diện và ôm ấp cơn giận của mình.

Sự thực tập của chúng ta là dựa trên tuệ giác bất nhị. Cơn giận không phải là kẻ thù của ta. Cả chánh niệm và cơn giận đều là ta. Chánh niệm có đó nhưng không phải để đàn áp hay đánh nhau với cơn giận mà để nhận diện và chăm sóc cơn giận. Giống như một người anh lớn đang giúp đỡ cho người em của mình. Vì vậy, năng lượng của sự giận dữ được năng lượng chánh niệm nhận diện và ôm ấp một cách dịu dàng.

Mỗi khi cần đến năng lượng chánh niệm, chúng ta chỉ cần chạm vào hạt giống chánh niệm bằng hơi thở ý thức, bằng bước chân thiền hành và mỉm cười an lạc thì chúng ta sẽ có được nguồn năng lượng ấy, sẵn sàng để làm công việc nhận diện, ôm ấp, nhìn sâu và chuyển hóa. Bất kể những gì chúng ta làm như nấu ăn, quét nhà, rửa chén, đi lại, ý thức về hơi thở, chúng ta đều có thể tiếp tục chế tác được năng lượng chánh niệm và hạt giống chánh niệm trong chúng ta sẽ trở nên vững mạnh hơn. Trong hạt giống chánh niệm có hạt giống của chánh định. Với hai nguồn năng lượng này, chúng ta có thể giải thoát chính mình ra khỏi những phiền não trói buộc.

Tâm cần được thông thương

Chúng ta biết rằng trong cơ thể ta có nhiều độc tố, nếu máu huyết không lưu thông tốt thì những độc tố ấy sẽ tích tụ lại và sinh ra bệnh tật. Khi máu huyết lưu thông tốt, thận và gan có thể làm đúng chức năng thải chất độc. Và chúng ta duy trì được sức khỏe tốt. Chúng ta cũng có thể dùng cách xoa bóp để giúp máu huyết lưu thông tốt hơn.

Tâm của chúng ta cũng vậy, cũng cần được lưu thông. Có thể tâm ta đang ở trong tình trạng kém lưu thông. Có thể chúng ta đang có một khối phiền não, đau buồn, sầu khổ hoặc tuyệt vọng tồn tại như những độc tố trong tâm thức ta. Ta gọi chúng là những nội kết. Ôm ấp những nội kết, những đau buồn, sầu khổ với năng lượng chánh niệm là sự thực tập xoa bóp cho tâm thức. Khi máu huyết không lưu thông tốt, những cơ quan trong cơ thể ta không thể hoạt động đúng chức năng của nó và chúng ta sẽ bị bệnh tật. Khi tâm của chúng ta không lưu thông tốt, tâm của chúng ta cũng sẽ trở nên bệnh hoạn. Do vậy, ta phải dùng chánh niệm để kích hoạt, làm cho lưu thông trở nên tốt hơn để đến chăm sóc những khối buồn khổ trong ta.

Chiếm giữ phòng khách

Những khối đau buồn, sầu khổ, giận hờn và tuyệt vọng luôn muốn biểu hiện lên trên bề mặt ý thức, tức là phòng khách của ta, bởi vì chúng phát triển quá mạnh và cần sự chú ý của ta. Chúng muốn trồi lên nhưng ta lại không muốn những người khách không mời này xuất hiện bởi vì nhìn thấy chúng là chúng ta đau khổ. Cho nên chúng ta cố gắng ngăn chặn con đường của chúng. Chúng ta muốn chúng ngủ yên ở bên dưới tầng hầm. Chúng ta không muốn đối diện với chúng, thói quen của chúng ta là làm kín phòng khách của mình bằng những vị khách khác. Bất kể khi nào có được mười, mười lăm phút rảnh rỗi là ta làm điều gì đó để phòng khách của ta luôn bận rộn. Ta gọi điện cho bạn bè, cầm sách lên đọc, mở truyền hình lên xem hoặc lái xe đi đâu đó. Ta hy vọng rằng nếu phòng khách bị chiếm cứ thì những tâm hành không dễ chịu sẽ không biểu hiện.

Tuy nhiên, tất cả những tâm hành của ta đều cần được lưu thông. Nếu ta không cho chúng biểu hiện thì tâm ta sẽ kém lưu thông, và như vậy những triệu chứng của bệnh tâm thần và trầm cảm sẽ bắt đầu biểu hiện trong thân tâm ta.

Đôi khi ta đau đầu, nhưng uống thuốc aspirin mà cơn đau đầu vẫn không hết. Kiểu đau đầu này có thể là triệu chứng của một căn bệnh thuộc về tinh thần. Hoặc giả chúng ta bị dị ứng và chúng ta nghĩ rằng đó là vấn đề thuộc về cơ thể, tuy nhiên dị ứng cũng có thể là triệu chứng của bệnh về tinh thần. Các bác sĩ khuyên chúng ta uống thuốc nhưng đôi khi những thứ thuốc đó tiếp tục đè nén khối nội kết trong ta, làm cho bệnh tình của chúng ta ngày càng tệ hại hơn.

Phá tung rào cản

Nếu học được cách bình thản trước những khối phiền não trong ta, chúng ta sẽ dần dần cho phép chúng lưu chuyển trong phòng khách của mình. Chúng ta sẽ học cách ôm ấp và chuyển hóa chúng bằng năng lượng chánh niệm. Khi chúng ta phá được những rào cản giữa tầng hầm tàng thức và phòng khách ý thức thì những khối phiền não sẽ đi lên, có thể chúng ta phải chịu đau khổ một chút. Đứa trẻ trong ta có thể có nhiều sợ hãi và giận dữ sau thời gian chất chứa lâu ngày dưới tầng hầm, không có cách nào tránh thoát được.

Đó là lý do tại sao sự thực tập chánh niệm rất quan trọng. Nếu chánh niệm không có đó thì chúng ta sẽ rất khổ đau, khó chịu khi những hạt giống ấy biểu hiện. Nhưng nếu chúng ta biết cách chế tác năng lượng chánh niệm thì việc mời khổ đau đi lên mỗi ngày và ôm ấp chúng sẽ có tác dụng trị liệu. Chánh niệm là một nguồn năng lượng hùng hậu có khả năng nhận diện, ôm ấp và chăm sóc những năng lượng tiêu cực. Có thể ban đầu những hạt giống tiêu cực này không muốn đi lên, vì trong ta có quá nhiều lo sợ và nghi ngờ, cho nên chúng ta phải dỗ dành chúng một chút. Sau khi được ôm ấp một thời gian, cơn cảm xúc mạnh sẽ quay xuống tầng hầm tàng thức và trở thành hạt giống trở lại, tuy nhiên nó sẽ yếu hơn trước.

Mỗi khi ta cho khối nội kết trong ta được tắm gội trong dòng suối chánh niệm thì cái khối đau buồn trong ta sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn, vì thế hãy cho cơn giận, sự tuyệt vọng, niềm lo sợ được tắm gội trong chánh niệm mỗi ngày. Sau vài ngày hoặc một tuần, ta mang chúng lên trên bề mặt ý thức và sau đó giúp chúng quay xuống trở lại dưới tàng thức, như thế chúng ta sẽ tạo ra một sự lưu thông tốt cho tâm thức ta.

Chức năng của chánh niệm

Chức năng đầu tiên của chánh niệm là nhận diện mà không đấu tranh. Chúng ta có thể dừng lại bất cứ lúc nào và ý thức về em bé trong ta. Lần đầu tiên khi nhận diện em bé bị tổn thương, tất cả những gì chúng ta cần làm là ý thức về em bé đó và chào em bé. Chỉ có vậy thôi. Có thể em bé đang buồn. Nếu nhận diện được điều này chúng ta chỉ cần thở vào, thở ra với chính mình và tự nhủ rằng: “Thở vào, tôi biết sự đau buồn đang biểu hiện trong tôi. Chào em, khối đau buồn của tôi. Thở ra, tôi hứa sẽ chăm sóc em cho đàng hoàng”.

Một khi đã nhận diện được em bé, công việc thứ hai của chánh niệm là ôm ấp nó. Đây là một sự thực tập rất thú vị. Thay vì dằn vặt, đánh nhau với những cảm xúc của mình, chúng ta chăm sóc chúng cho đàng hoàng. Chánh niệm mang đến cho ta một người bạn, đó là Định. Chỉ sau vài phút nhận diện và ôm ấp em bé bằng sự ân cần nhẹ nhàng, ta sẽ thấy nguôi ngoai và nhẹ nhõm. Những cảm xúc khó khăn vẫn còn đó nhưng ta không còn đau khổ nhiều nữa.

Sau khi nhận diện và ôm ấp em bé bị tổn thương, chức năng thứ ba của chánh niệm là xoa dịu và làm vơi nhẹ những cảm xúc khó chịu. Chỉ bằng cách ôm ấp em bé nhẹ nhàng, xoa dịu cảm xúc là ta đã bắt đầu cảm thấy dễ chịu rồi. Khi ôm ấp những cảm xúc mạnh của mình bằng chánh niệm và chánh định, chúng ta sẽ có khả năng thấy được gốc rễ của những tâm hành ấy. Chúng ta biết được nỗi khổ của ta bắt đầu từ đâu. Khi chúng ta nhìn ra được nguồn gốc của mọi vấn đề, những đau khổ trong ta sẽ được thuyên giảm. Vì vậy, chánh niệm giúp ta nhận diện, ôm ấp và làm lắng dịu khổ đau. Năng lượng chánh niệm chứa đựng trong nó năng lượng của định và tuệ. Định giúp chúng ta chú tâm vào một đối tượng duy nhất. Nhờ định mà năng lượng quán chiếu trở nên mạnh mẽ hơn và tuệ giác là điều ta có thể đạt được. Tuệ giác luôn luôn là một nguồn sức mạnh giải phóng chúng ta. Khi chánh niệm có mặt, nếu chúng ta biết cách duy trì nguồn năng lượng chánh niệm này thì định cũng sẽ có mặt. Và nếu chúng ta biết cách duy trì nguồn định lực thì tuệ giác sẽ phát sinh. Năng lượng chánh niệm giúp ta nhìn sâu và đạt được tuệ giác mà ta cần để chuyển hóa khó khăn và khổ đau.

Áo nâu phai màu nắng

(Thầy Chân Pháp Ứng)

Ngày 11.12.2023, gia đình xuất gia Con Cá tròn 30 tuổi. Sau 30 năm, số “cá” trưởng thành còn lại hai phần ba, nghĩa là từ sáu vị còn lại bốn vị, hiện giờ đều là những trụ cột của Làng Mai. Thầy Pháp Ứng là một trong bốn “con cá” còn lại, bên cạnh sư cô Thoại Nghiêm, sư cô Định Nghiêm và sư cô Tuệ Nghiêm. Dưới đây là những chia sẻ của thầy Pháp Ứng trong buổi ngồi chơi với BBT nhân dịp này.

Hạt đậu năm xưa hé miệng cười

Trong 30 năm được Sư Ông dạy dỗ và đại chúng dưỡng nuôi, Pháp Ứng có cảm tưởng như mình đi qua gần trọn một chu kỳ. Như một năm có bốn mùa, mùa đông lá rụng, mùa xuân biểu hiện. Pháp Ứng thấy mình trải nghiệm đủ mọi đổi thay.

Trong 30 năm ấy, Pháp Ứng đã trải qua đủ loại lỗi lầm, té xuống rồi đứng dậy, trầy da tróc vảy. Có lẽ nhờ vậy mà Pháp Ứng có cảm giác hoa trái dần dần hình thành, bây giờ hoa mới chớm nở. Pháp Ứng bắt đầu nhận ra, cảm được và có niềm tin nơi vị thầy trong mình. Điều đó quý vô cùng. Nhưng thật ra, đó cũng không phải là một điều gì mới. Cái cảm giác trở về được với chính mình, giống như quay về cội nguồn để rồi tiếp tục đi tới. Có thể đó là tố chất tổ tiên đã trao truyền, bây giờ nó tiếp tục chớm nở. Giống như một chu kỳ được tiếp nối.

Khi Pháp Ứng có ý muốn xuất gia, gia đình vẫn chưa sẵn sàng. Hôm đó Pháp Ứng tủi thân, lên gác nằm khóc. Đang khóc thì bỗng thấy có một vị nét mặt hồng hào, đôn hậu hiện ra, nói: “Con yên tâm đi!”. Nghe vậy, Pháp Ứng thấy lòng lắng xuống… Sau đó không lâu, Pháp Ứng được gặp Sư Ông trong một khóa tu ở Hà Lan. Sư Ông nhìn mặt Pháp Ứng, chắc là “ngáo ngáo” kiểu sinh viên, kiểu gia đình Phật tử, hỏi: “Con muốn làm kỹ sư Phật học không?”. Pháp Ứng nghĩ thầm: “Ủa, kỹ sư Phật học là cái gì? Sư Ông hỏi gì mình không hiểu”. Pháp Ứng ngơ ngơ nhìn Sư Ông, nhưng hạt giống đã được trao truyền, được gửi gắm. Hạt đậu năm xưa hé miệng cười.

 

Gia đình Con Cá sau lễ xuất gia

Chăm sóc sinh diệt là hạnh phúc lớn nhất

Hạnh phúc lớn nhất của Pháp Ứng là chí nguyện đi tu của mình được Sư Ông đáp ứng. Ước nguyện đi tu của Pháp Ứng là tìm ra con đường để có thể vượt thoát sinh diệt. Hồi xưa Pháp Ứng nghĩ tu là để về một thế giới khác, “bye bye” sinh diệt.

Nhưng Sư Ông dạy, mình không cần “bye bye” sinh diệt, mà mình chỉ cần chăm sóc cái sinh diệt. Mình cũng không cần chạy trốn khổ đau, không cần phải đi về thế giới nào khác. Trong đời sống hằng ngày, mình có hạnh phúc, có niềm vui, có chút ít gì cống hiến, mình chế tác thêm hiểu và thương… Nhờ vậy mình chăm sóc khổ đau của mình và của thế giới này. Mình thấy đời sống của mình có ý nghĩa rất rõ ràng.

Pháp Ứng được về với chính mình, tiếp xúc được với con người của mình, hiểu được sự sống theo cái nhìn của tích môn, có sinh có diệt, có những khổ đau. Nhưng đồng thời mình cũng có thể tiếp xúc được với bản môn, không sinh không diệt.

Pháp Ứng thấy mình quá may mắn. Đây là phước đức của tổ tiên tâm linh và huyết thống không biết bao nhiêu đời.

“Gậy của thiền sư”

Trong những năm kề cận Sư Ông để học hỏi và tu tập, Pháp Ứng cũng nhiều lần hứng “gậy của thiền sư”. Thường thường Sư Ông “ra gậy” nhanh lắm, nó đi vô trong lòng mình ngọt xớt, bởi vì bất ngờ quá.

Tính của Pháp Ứng là ít muốn va chạm. Thôi, mọi chuyện hòa cho nó khỏe. Nếu cần xông pha thì mình cũng xông pha, nhưng Pháp Ứng ẩn nhiều hơn là xông pha.

Lần đó Sư Ông dùng cây gậy trong bối cảnh xây dựng tăng thân ở Việt Nam. Pháp Ứng ở Việt Nam, bên này địa cầu, Sư Ông ở bên kia. Sư Ông nói qua điện thoại (thường rất ít khi Sư Ông nói chuyện điện thoại). Sư Ông “quất” một câu! Lúc đó, Pháp Ứng tủi thân vô cùng. Nhưng sau này Pháp Ứng rất biết ơn. Sư Ông muốn cho Pháp Ứng lớn lên, nắm lấy vận mệnh, làm những gì cần làm. Sư Ông cho một gậy giúp Pháp Ứng xông pha, mạnh mẽ, tiến lên nắm chủ quyền trong tay, có tự do, chứ không phải lúc nào mình cũng hòa, kiểu đi theo người khác.

Kiên nhẫn là dấu ấn của tình thương

Hồi đó chưa có trụ trì. Mãi tới năm 1996, xóm Thượng và xóm Mới mới có trụ trì cùng một lần. Trước đó chỉ có chúng trưởng, có tri sự, … thôi. Chắc là Sư Ông muốn đào tạo hay sao mà lúc đó Pháp Ứng còn nhỏ lắm, mới là sadi, rồi tân tỳ kheo mà Sư Ông đã đưa Pháp Ứng vào Hội đồng trưởng lão gồm toàn quý ôn lớn như thầy Giác Thanh, thầy Doji, thầy Xá Lợi Phất, thầy Nguyện Hải. Rồi từ từ không biết sao mà Pháp Ứng “bị” làm chúng trưởng.

Có một lần, ở phần thông báo sau buổi ăn cơm quá đường, Sư Ông nói: “Chiều nay có vấn đáp nha!”. Pháp Ứng “tài lanh” làm chúng trưởng: “Bạch Sư Ông, để chúng con coi lại, để chúng con bàn đã”. Lúc đó cả chúng giật mình, không biết sư chú nào mà gan thế! Chị Tịnh Thủy (sau này là sư cô Quy Nghiêm) ngồi kế bên nói nhỏ với Pháp Ứng: “Sao thầy kỳ quá vậy?!”.

Sau đó Pháp Ứng mới thấm từ từ, chứ lúc thưa với Sư Ông như vậy Pháp Ứng cũng không biết mình đã làm gì sai. Bởi vì lúc đó Pháp Ứng được dạy là hội đồng tỳ kheo bàn bạc theo tinh thần dân chủ, nên Pháp Ứng áp dụng liền. Nghe Pháp Ứng nói vậy, Sư Ông lặng thinh, Sư Ông thở thôi. Bây giờ nghĩ lại thấy thương Sư Ông thiệt.

Sư Ông để im như vậy không biết bao nhiêu năm. Sư Ông rất kiên nhẫn. Phải nhiều năm sau, Sư Ông mới dạy. Anh chàng này rù rù, ngáo ngáo nên phải đợi cho nó chín rồi mới nói.

Nhân dịp hai thầy trò ngồi tại cốc Ngồi Yên, bất ngờ Sư Ông kề sát lỗ tai Pháp Ứng, hình như lỗ tai bên trái, nói một câu: “Làng mình đó con, kết hợp hai yếu tố thâm niên và dân chủ”. Câu nói đó đi thẳng vô lòng. Pháp Ứng quên tuốt chuyện hồi xưa mình lỡ lầm ra sao. Mãi sau này nghiệm lại, ủa sao Sư Ông nói như vậy với mình? Té ra nó có nhân duyên.

Phao cứu sinh

Trong 30 năm, Pháp Ứng đã đi qua nhiều thăng trầm. Những lúc trầm, cái phao cứu sinh của Pháp Ứng là niềm tin, là liên hệ thầy trò, và liên hệ tăng thân. Sở dĩ Pháp Ứng được xuất gia là có sự yểm trợ của tổ tiên chứ không phải vì mình tài giỏi. Như Sư Ông thường nói là nhờ phước đức ông bà, mà cũng là phước đức của tổ tiên tâm linh, trong đó có tăng thân.

Nhìn sâu, Pháp Ứng thấy những thăng trầm của mình xuất phát từ vết thương của gia đình huyết thống, chứ không phải ngoại cảnh làm cho mình như vậy. Khi vết thương biểu hiện, mình có những suy nghĩ này, hoang mang kia, nghi ngờ nọ. Mình không có sự vững vàng. Pháp Ứng tập chấp nhận và kiên trì tìm hiểu cách vận hành của tâm mình. Pháp Ứng biết con đường mình đang đi rất xứng đáng, đúng với ước nguyện của mình. Chính niềm tin đó giúp Pháp Ứng tiếp tục bước. Té xuống lại đứng dậy đi tiếp. Bên cạnh đó, Pháp Ứng chăm sóc vết thương của tổ tiên. Vết thương này sâu quá nên nó cứ biểu hiện từng giai đoạn, nó không dừng lại.

Pháp Ứng may mắn được học rằng không cần phải đợi cho vết thương hoàn toàn được chữa lành thì mình mới có hạnh phúc, mà mình có thể hạnh phúc trong lúc chăm sóc vết thương. Mình không cần phải đi ra ngoài để tìm lối thoát, tìm sự an ủi hay chữa lành.

Có niềm tin làm nền tảng để đi tới, Pháp Ứng thực tập chăm sóc, hiểu và chấp nhận vết thương. Niềm tin này giúp cho mình cảm thấy không đơn độc. Liên hệ thầy trò, liên hệ tăng thân, gốc rễ tâm linh, huyết thống giúp cho Pháp Ứng đứng vững trong những cơn bão. Tức là mình áp dụng được những gì mình học để đi tiếp được. Một mặt mình nuôi dưỡng, một mặt mình chữa lành.

Khi đi tu, Pháp Ứng cũng muốn giúp làm vơi bớt phần nào những khổ đau trong cuộc đời. Nhưng làm gì thì làm, ngay cả chuyện giúp gia đình huyết thống, mình phải có cộng đồng, có tăng thân chứ làm anh hùng “một mình một ngựa” thì… không làm được gì nhiều. Một vị Bụt thôi thì không đủ (One Buddha is not enough).

Trình kệ kiến giải

Mùa thu năm 1994, Sư Ông dạy về kinh Tuổi trẻ và Hạnh phúc (kinh Tam Di Đề). Cuối khóa, Sư Ông đề nghị mỗi người làm một bài thơ, bài hát để trình kiến giải của mình. Tự nhiên Pháp Ứng được “biếu” một bài, không biết từ đâu nữa! Pháp Ứng trình cho Sư Ông và đại chúng. Sư Ông chấm điểm nữa chứ! Sau khi hát xong, thầy Pháp Đăng và Pháp Ứng phải đi khóa tu bên Đức. Khi về, Pháp Ứng nghe kể lại là mình cũng được 7 điểm (cười).

Áo nâu phai màu nắng
Người về đây với Bụt
Cành lá đi in dấu
Quê hương thoáng nhẹ bay
Em có mặt đây
Nuôi dưỡng tôi
Và tôi đang sống yểm trợ em
Từng bước chân bé nhỏ
Cùng chuyển cả đất trời
Ngược dòng và xuôi dòng
Đều nuôi hết cả Làng.

“Thầy ở sau lưng con”

Một bữa thầy trò đi trong rừng, rừng rất đẹp: “Đây là thiên đàng đó con!”. Tới một đoạn đường mòn khá hẹp, Sư Ông nói: “Con đi trước đi”. Pháp Ứng đâu dám. Sư Ông lại nói: “Con đi đi”. Mình đành vâng lời thôi. Pháp Ứng cảm được Sư Ông đang gửi gắm, là Sư Ông luôn có mặt yểm trợ sau lưng mình. Sư Ông có viết câu thư pháp “Thay is behind you” (Thầy ở sau lưng con). Có nhiều sư em chưa được tiếp xúc với Sư Ông, nhưng nếu may mắn thì bằng cách nào đó mình có thể cảm được Sư Ông luôn có mặt yểm trợ cho mình. Dù Sư Ông đã viên tịch thì nguyện của Sư Ông vẫn là “Cùng tăng thân xin nguyện ở lại, nơi cõi đời làm việc độ sinh”.

Sự thực tập của Sư Ông là an trú trong giây phút hiện tại. Hiện tại này là thiên thu, vượt thoát thời gian và không gian. Là đệ tử của Sư Ông, nếu mình chạm được giây phút đó thì mình khỏe lắm. Đã về, đã tới. Khỏe vô cùng. Giống như mình trở về được với gốc rễ. Đó là vốn liếng, là tuệ giác mà Sư Ông muốn mình chạm được.

Một trong những điều mà Pháp Ứng rất biết ơn Sư Ông, đó là khi mới xuất gia, Pháp Ứng chạm tới một nỗi khổ đau lớn, nói không ra lời, một mình mình biết, một mình mình ôm thôi. Các huynh đệ cảm nhận được, nhưng không biết là chuyện gì… May mà có Sư Ông lắng nghe, Sư Ông hiểu và thương mình. Nhờ vậy mình được chữa lành. Mình tiếp nhận tình thương làm hành trang.

Tinh thần vô úy

Phẩm chất nơi Sư Ông mà Pháp Ứng muốn tiếp nối nhất là tinh thần vô úy — không sợ hãi. Chất liệu đó rất cần thiết trong giai đoạn này của đời sống, của con người, của Trái Đất, của tất cả. Có bình an, không sợ hãi, có tinh thần dũng mãnh thì mình lại càng có niềm tin. Niềm tin mình cảm được trong máu trong xương, nó truyền lửa, truyền sức sống, giúp cho mình chăm sóc được khổ đau chứ không phải hy vọng trong tương lai. Đức vô úy, không sợ hãi này mang chất liệu của từ bi, có thể giúp mình đối diện với khổ đau của bạo lực, của sự tàn phá, cuồng loạn.

Bây giờ Sư Ông không còn trong hình tướng quen thuộc để trực tiếp hướng dẫn chúng ta nữa, cho nên bản thân mỗi người cần quay về nuôi dưỡng, chăm sóc mình để làm nền tảng. Chúng ta có chung nền tảng đó, giúp tạo nên sức mạnh. Giống như mình thở cùng một hơi thở, mình đi cùng một nhịp. Như vậy là mình có Bụt, có Tổ, có Sư Ông với mình.

 

Tại Viện Omega, New York, 1996. Nguồn: Simon Chaput

 

Điều quan trọng nữa là làm thế nào để mỗi người cảm thấy thoải mái, được là chính mình trong tăng thân. Nhu yếu đó rất thiết thực. Được là mình trong tinh thần mỗi người cần thời gian để phát triển, để hiểu, để lớn lên, cũng như cần thể hiện, cần được yểm trợ, cần được chấp nhận. Đó là những cái cần. Nhưng tự thân chúng ta cũng cần mở rộng lòng ra cho nhau, tạo chất keo kết nối trong tăng thân đa văn hóa, đa truyền thống này.

Giống như Sư Cố Thanh Quý dạy trong bài kệ truyền đăng cho Sư Ông là hành đương vô niệm diệc vô tranh, cái “vô niệm” quan trọng lắm. Ai cũng có ý niệm về đúng sai. Nhưng theo phương diện siêu đạo đức, chúng ta cần cái vô niệm đó, chấp nhận cả tay trái lẫn tay phải, cả bùn lẫn sen. Phát triển vun bồi những điều tốt đẹp, đồng thời cũng chấp nhận cái chưa tốt đẹp. Mình chăm sóc, mình thương cái chưa tốt đẹp. Yếu tố đó rất cần trong tăng thân. Mình cũng cần thực tập “vô tranh”, chăm sóc ba mặc cảm (hơn, kém, bằng) mà ai cũng có. Đây là hướng mà Pháp Ứng nghĩ chúng ta cần nuôi lớn để thực hiện sự nghiệp giác ngộ tập thể, giấc mơ của Sư Ông.

Khoá tu tháng 06/2024 “Đạo Bụt ứng dụng: Một hướng đi cho xã hội đương đại”

Trong hai tuần đầu vừa qua của tháng sáu (từ 01-15/06/2024), tại Làng Mai Pháp đã diễn ra khóa tu với chủ đề “Đạo Bụt ứng dụng: Một hướng đi cho xã hội đương đại”. Khóa tu với sự tham gia của gần 500 vị thiền sinh, trong đó có 92 vị Tiếp Hiện đến từ khắp nơi trên thế giới. 

Mở đầu khóa tu, đại chúng cùng nhau trì niệm danh hiệu bồ tát Quan Thế Âm, chế tác năng lượng bình an và từ bi trong trái tim mỗi người. Nguồn năng lượng hùng tráng, mát lành ấy được gửi đến những nơi đang bốc cháy vì ngọn lửa của bạo động, hận thù. Sự thực tập Từ bi quán được duy trì suốt khóa tu qua những buổi thiền hành, ngồi thiền hay thiền lạy. Pháp môn Im lặng hùng tráng đã đem lại rất nhiều hạnh phúc và lợi lạc, giúp tạo nên những khoảng lặng để mỗi người trở về có mặt với tự thân. 

Bên cạnh đó, những tương tác lẫn nhau qua công việc, qua những buổi ăn trưa ngoài trời và những giờ pháp đàm giúp mọi người trở nên gần gũi, xóa đi những rào cản ngăn cách của tuổi tác, quốc gia, chủng tộc để sẵn sàng trao nhau những nụ cười, những ánh mắt lấp lánh thương yêu. Càng về cuối khóa tu, mọi người càng nở ra như một bông hoa, buông bỏ được những muộn phiền, âu lo, trở thành suối nguồn hiến tặng niềm vui cho những người xung quanh.

Trong khóa tu, những vị Tiếp Hiện cư sĩ có cơ hội trình bày những tuệ giác, kinh nghiệm thực tập của mình thông qua những buổi vấn đáp, những buổi chia sẻ,… Quý thầy, quý sư cô Giáo thọ của Làng cũng có dịp ngồi lại với những vị Tiếp Hiện cư sĩ để cùng lắng nghe nhau, bàn bạc về cách thức xây dựng tăng thân, phương thức áp dụng pháp môn thực tập vào việc giải quyết những khó khăn của thời đại mới. Các vị Tiếp Hiện cư sĩ ngày càng phát huy được sứ mạng và vai trò đồng hành với chúng xuất sĩ mang đạo Bụt đi vào cuộc đời.

“Tre già hiên ngang đứng, măng non lớp lớp mọc”. Giữa khóa tu, vào ngày 9/6, với sự thành tâm hộ niệm và chứng minh của chúng xuất sĩ và các vị Tiếp Hiện lâu năm, tăng thân chào đón thêm 37 thành viên mới gia nhập vào Chúng Chủ Trì của dòng tu Tiếp Hiện…

 

(Nguồn hình ảnh: Làng Mai và Rob Walsh Media)

 

Câu trả lời là tình thương – phần 2

(Hà Vĩnh Thọ, Satish Kumar, Rehena Harilall)

Sư cô Lăng Nghiêm: Một số nhà hoạt động hồ nghi về vai trò của tâm linh trong việc giúp thay đổi xã hội. Sự chuyển hóa cá nhân và sự thay đổi xã hội liên quan với nhau như thế nào?

Bác Satish Kumar: Tại trường Cao đẳng Sinh thái Schumacher, chúng tôi cho rằng sự chuyển hóa nội tại và sự chuyển hóa ngoại tại là hai mặt của một đồng xu. Người ta không thể có sự chuyển hóa ngoại tại: hệ thống thay đổi, chế độ chính trị thay đổi, kinh tế hay xã hội thay đổi, mà nội tâm con người lại không thay đổi để vun bồi những phẩm chất như từ bi, thương yêu, bao dung và hiểu biết.

“Khi tâm thức ta bao trùm cả vũ trụ, ta sẽ cảm thấy cả vũ trụ này là quê hương, cả trái đất này là nhà của ta”

 

 “Eco” có nghĩa là nhà. Con người cũng chính là thiên nhiên, không khác gì cỏ cây, rừng núi. Trước khi tôi trở thành một Phật tử, một tín đồ của đạo Cơ Đốc, hay tín đồ của bất cứ một tôn giáo nào, thương yêu chính là đạo của tôi. Khi có cái thấy đó, ta có thể mang lại công bằng xã hội, xây dựng sự bình đẳng và biết làm cách nào để đem lại sự công bằng kinh tế. Không có sự phân biệt nào giữa ta và thế giới. Cho nên việc thay đổi thế giới và thay đổi chính bản thân là hai khía cạnh của chỉ một thực tại mà thôi.

Rehena Harilall: Tôi lớn lên dưới chế độ Phân biệt chủng tộc (Apartheid) của xã hội Nam Phi. Từ khi lên bốn cho đến nay, cả cuộc đời tôi hoàn toàn tập trung vào việc đem lại công bình xã hội. Tôi đã nhận ra rằng các nhà hoạt động xã hội cần để ý đến loại năng lượng nào mà mình mang vào trong công tác đó. Có phải chúng ta đang dùng thứ năng lượng mà người ta đang dùng để tạo nên sự đàn áp, chia rẽ trong khi chúng ta muốn thay đổi những hệ thống ngoài kia hay không? Nếu như thế thì chúng ta chỉ đang thay thế hệ thống này bằng một hệ thống khác tương tự mà thôi. Chúng ta không thật sự thay đổi điều gì cả. Bởi vì chúng ta vẫn còn bám chặt vào cái thấy của mình, cho rằng nó là đúng đắn, là duy nhất, là hay nhất. Nhận thức này chính là điều quan trọng nhất trong sự nghiệp hoạt động xã hội của tôi.

Pháp môn Làng Mai giúp tôi hiểu ra rằng tôi đã bị cái ngã chi phối, tôi đã từng cho rằng phải nên theo cách của mình vì đó là cách đúng. Bây giờ tôi đã có thể buông bỏ được phần nào cái thấy đó. Khi tham gia vào công trình thay đổi xã hội, chúng ta đang đi theo hướng hành động từ bi thay vì tàn phá. Một phần của cách thay đổi xã hội là sử dụng năng lượng và ý hướng tích cực để tạo ra một cái khác hữu hiệu có thể thay thế những gì cần thay đổi.

Sự tuyệt vọng thường đến từ những suy tư tiêu cực: “Mình chẳng có thể làm thay đổi được gì. Tình trạng là vậy rồi, làm gì cũng thế thôi”.

“Trên thực tế, mỗi một nỗ lực dù nhỏ bé đến đâu cũng đem lại sự thay đổi. Mỗi hơi thở, mỗi bước chân, hay hành động đều đem lại sự thay đổi.”

 

Ý thức này đem hy vọng đến cho chúng ta, bởi vì ta luôn luôn có thể làm một điều gì đó ngay trong giây phút hiện tại.

Sư cô Lăng Nghiêm: Trong nỗ lực đem yếu tố đạo đức vào bối cảnh thời đại mới, quý vị có gặp sự chống đối nào không, và quý vị làm thế nào để đi tiếp trước sự chống đối ấy?

Bác Satish Kumar: Một điều cốt yếu cần lưu ý là sự chuyển hóa nội tâm bao gồm luôn cả sự thay đổi quan niệm của chúng ta về thế giới. Hiện giờ chúng ta cho rằng con người thống lĩnh thiên nhiên. Cho nên chúng ta cho phép mình muốn làm gì thiên nhiên tùy thích. Thiên nhiên đối với con người chỉ là một nguồn tài nguyên kinh tế, là phương tiện để đạt tới mục đích. Quan niệm của chúng ta về thiên nhiên là một vấn đề về đạo đức. Chúng ta cần chuẩn bị thay đổi quan niệm này.

“Thiên nhiên có hồn thiêng riêng của nó, thiên nhiên chính là sự sống.”

 

Thế giới quan duy vật và công nghiệp hiện đại của chúng ta không chỉ biến thiên nhiên thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế mà còn biến con người thành nguồn tài nguyên cho nền kinh tế nữa. Thế giới quan đó phải thay đổi. Phẩm giá con người và tính toàn vẹn của thiên nhiên là một phần thiết yếu của thế giới quan đạo đức mới. Nền kinh tế cần phải phục vụ con người và thiên nhiên chứ không phải là ngược lại.

 

 

Giáo sư Hà Vĩnh Thọ: Phần lớn những cuộc xung đột trên thế giới đều bắt nguồn từ kinh tế, từ tham vọng thống trị và quyền lực. Chúng ta hành xử cứ như việc phát triển kinh tế và làm giàu là mục tiêu tối hậu. Nhưng hệ thống kinh tế chỉ là một phần trong cấu trúc của xã hội loài người, nói cách khác, nó chỉ là một trong các hình thái của đời sống. Cho nên chúng ta cần phải viết lại câu chuyện và tập trung trở lại vào mục tiêu đích thực của chúng ta. “Hạnh phúc của mọi người và sự an lành cho tất cả mọi loài” là một trong những mục tiêu đó. Đây là một sự chọn lựa mang tính đạo đức. Chúng ta đánh giá điều gì cao nhất: sự phát triển kinh tế, cạnh tranh, … hay sự tử tế, lòng từ bi và sự rộng lượng? Đó là lý do tại sao tôi đã xây dựng chương trình Tổng Giá trị Hạnh phúc Quốc gia (Gross National Happiness program) ở Bhutan.

Theo tôi, thay đổi các hệ thống xã hội gồm ba khía cạnh. Thứ nhất, chúng ta cần một câu chuyện mới hay một “kịch bản” trong đó những giá trị đúng đắn được đặt vào vị trí chủ đạo. Thứ hai, chúng ta cần phải có những thử nghiệm nhỏ để chứng minh điều đó có thể thực thi. Thí dụ như Làng Mai là một minh chứng cho thấy việc sống đơn giản mà hạnh phúc là điều có thể làm được. Các thầy và các sư cô không có nhiều tiền mà vẫn hạnh phúc, vì vậy có thể nói là không phải càng giàu càng dễ có hạnh phúc. Điều này, đối với rất nhiều người từng đến Làng Mai, là một kinh nghiệm làm thay đổi cuộc đời. Bởi vì ở đó, họ nhận ra rằng việc một cộng đồng cùng sống chung hòa hợp trong chánh niệm và từ bi là điều có thể làm được. Cũng với tinh thần đó, chúng tôi đã thiết lập một tăng thân cư sĩ ở Việt Nam có tên là Tịnh Trúc Gia, mà thành viên bao gồm cả những người khuyết tật.

Khía cạnh thứ ba là thay đổi hệ thống từ bên trong. Đây là điều mà đề án Trường học hạnh phúc ở Việt Nam đang nỗ lực thực hiện để góp phần chuyển đổi hệ thống giáo dục từ nội tại.

Sư cô Lăng Nghiêm: Trước khi kết thúc buổi trò chuyện này, xin quý vị chia sẻ một vài điều có thể giúp thắp sáng niềm tin và hy vọng trong trái tim của mọi người.

Giáo sư Hà Vĩnh Thọ: Ba nguồn cung cấp hạnh phúc và sức khỏe thân tâm của tôi là sống hòa hợp với chính bản thân, với những người xung quanh và với thiên nhiên.

Nguồn thứ nhất là có sự hòa hợp với chính mình, cho phép mình đủ thời gian để thực tập chánh niệm, từ bi; cố gắng sống theo những giá trị mà mình trân quý và thực hiện hạnh nguyện sâu sắc nhất của mình.

Thứ hai là sống hòa hợp với những người xung quanh mà gần nhất là những thành viên trong gia đình và bạn bè, dành thời gian để có mặt với họ. Mới đây, vào cuối tuần, tôi đã dành thời gian để cùng với các con và các cháu ăn mừng người bạn đời yêu quý của tôi tròn 70 tuổi. Vun bồi mối liên hệ có ý nghĩa, trong tình thương mến và tử tế với tất cả những ai mà tôi gặp là suối nguồn mang lại hạnh phúc và sự khỏe khoắn cho thân tâm tôi.

Và thứ ba là sống hòa hợp với thiên nhiên, cho mình thời gian để thưởng thức thiên nhiên, vào rừng, lên núi, có khi chỉ cần ra dạo chơi ở khu vườn nhỏ của mình là đã đủ.

Rehena Harilall: Chúng ta cần nuôi dưỡng hy vọng. Và đối với tôi, khả năng phục hồi, sự bền bỉ, dẻo dai chính là một dấu hiệu của hy vọng. Tôi thích nhảy múa, thích âm nhạc. Vì vậy bắt đầu ngày mới bằng một điệu múa hay một bài hát là hạnh phúc lớn của tôi, giúp tôi vui vẻ cả ngày. Trong ngày, có thể đủ loại cảm xúc đến rồi đi, nhưng tôi vẫn luôn có thể nhớ lại niềm vui đầu ngày đó của mình.

Tôi cố gắng nhận diện tâm mình ở phía sau mỗi hành động. Bởi vì nếu tôi hành động với ý thức là mình không cầu lợi, nghĩa là tôi đang phụng sự, thì hành động đó sẽ đem lại lợi lạc cho người khác. Như vậy tôi đã làm việc với tinh thần mà tôi muốn nhìn thấy nơi người khác. Điều đó đem tới cho tôi hy vọng và niềm vui.

Khi cảm thấy tuyệt vọng, tôi ra ngoài đi dạo để tiếp xúc với thiên nhiên. Đôi khi tôi nằm dài trên đất và nói với đất: “Chỉ cần ôm con là được rồi”. Thiết lập được liên hệ với một cái gì đó lớn lao hơn tự thân sẽ giúp chúng ta có được cái nhìn rõ ràng hơn về mọi sự. Cuộc sống cứ tiếp diễn dù tôi có mặt ở đây để gặt hái những gì mình đã gieo trồng hay không.

 

 

Theo truyền thống của người Zulu ở Nam Phi, khi một người qua đời, họ nói người ấy đang “quỳ xuống”. Quỳ xuống để người khác có thể đứng trên hai vai họ. Nghĩa là khi chúng ta mất đi, trong giai đoạn chuyển tiếp ấy, chúng ta lót đường để làm nền tảng cho người khác đứng lên và tiếp tục công trình. Điều đó đem đến cho tôi hy vọng.

Bác Satish Kumar: Tôi bắt đầu hoạt động xã hội từ lúc 18 tuổi – tham gia vào phong trào do Thánh Gandhi và Vinoba Bhave lãnh đạo. Bây giờ tôi 86 tuổi nhưng vẫn muốn tiếp tục làm nhà hoạt động xã hội cho đến hơi thở cuối cùng. Là một người hoạt động xã hội, bạn cũng phải đồng thời là một người có tinh thần tích cực. Sự yếm thế không thể dẫn ta đến hành động được. Chuyện thế giới có thay đổi hay không, điều đó không nằm trong sự kiểm soát của tôi, nhưng tôi có thể kiểm soát được hành động của mình. Tôi hành động vì từ bi, thương yêu, lân mẫn và vì tinh thần trách nhiệm. Cho nên tôi là một người có tinh thần tích cực. Và hy vọng của tôi là một hy vọng mang tính hành động. Tôi hành động mỗi ngày để phụng sự nhân loại, phụng sự trái đất. Điều đó đem lại cho tôi sự mãn ý và niềm vui bởi vì tất cả đều là tương tức.