Buông bỏ đối tượng

— Tăng thân Buckeye —

Thiền sư Lâm Tế là một vị thiền sư nổi tiếng người Trung Hoa ở thế kỷ 9, là người sáng lập ra thiền phái Tông Lâm Tế, Làng Mai cũng thuộc tông phái này. Thiền sư đã dạy phải “buông bỏ đối tượng”. Đối tượng ở đây là con người, là tình trạng mà ta đang nghĩ về. Ta phải buông bỏ đối tượng và trở về với thân thể, cảm thọ của mình. Bằng cách theo nguồn năng lượng trở về với thân thể và cảm thọ, ta có thể buông bỏ được những suy nghĩ và thấy được những nội kết trong ta. Ta ôm ấp chúng nhẹ nhàng, để cho những căng thẳng được thư giãn và chúng ta có cơ hội được chữa lành. Tương tự như cách ta tập lái xe đạp. Chúng ta có thể ngồi trên xe và ai đó vịnh cho ta ở đằng sau, đến một lúc nào đó ta có thể tự lái được. Ta sẽ reo lên sung sướng: “Ồ, tôi lái được rồi, tôi lái được rồi”.

Thực tập buông bỏ đối tượng như sau:

  1. Thở vào, tôi nhận diện đây là hơi thở vào; thở ra, tôi nhận diện đây là hơi thở ra.
  2. Thở vào, tôi mời đối tượng trong tâm tôi đi lên; thở ra, tôi cởi mở với đối tượng đó.
  3. Thở vào, tôi dừng suy nghĩ về đối tượng đó; thở ra tôi ôm ấp nguồn năng lượng đang có trong cơ thể tôi.
  4. Thở vào, tôi ý thức về cơ thể và những cảm xúc của tôi; thở ra, tôi dịu dàng ôm ấp cơ thể và những cảm xúc của tôi.
  5. Thở vào, tôi gửi hơi thở vào của tôi đến cơ thể và cảm xúc của tôi; thở ra, tôi buông bỏ những căng thẳng trên cơ thể và cảm xúc của tôi.
  6. Thở vào, tôi ý thức về hơi thở vào của tôi; thở ra tôi ý thức về hơi thở ra của tôi.

Đôi khi nguồn năng lượng trong cơ thể và cảm thọ của ta nặng nề, nhận chìm chúng ta xuống. Trong trường hợp này, chúng ta có thể tiếp xúc với tình trạng khó khăn hay khổ đau trong một thời gian ngắn, có thể từ 20 giây đến 1 phút. Sau đó chúng ta có thể mở mắt ra, hướng sự chú tâm của mình đến một đối tượng khác từ bên ngoài và nghỉ ngơi trên đối tượng đó trong vòng vài phút. Ta có thể nhìn ra ngoài cửa sổ để tiếp xúc với thế giới thiên nhiên. Sau đó khi nào thấy sẵn sàng, chúng ta quay lại tiếp xúc với những cảm thọ khổ đau ấy lần nữa. Chúng ta có thể thử tới lui với những cảm thọ đó vài lần. Thay đổi sự chú tâm của mình như thế cung cấp cho ta một nền tảng vững chắc bên ngoài và một không gian an toàn bên trong.

Ấm áp

Tôi bưng mặt trong lòng hai bàn tay

Có phải để khóc đâu anh

Tôi bưng mặt để giữ cho ấm áp sự cô đơn

Hai bàn tay chở che

Hai bàn tay nuôi dưỡng

Hai bàn tay ngăn cản

Sự ra đi hờn dỗi của linh hồn.

– Thích Nhất Hạnh

Ngồi với bạn mình

— Elmar Vogt —

Tôi đến Làng Mai tham dự khóa tu 21 ngày vào tháng 6 năm 2006 và tôi bệnh gần hết ba tuần. Hầu như lúc nào tôi cũng nằm trên giường vì chứng đau dạ dày dữ dội. Tôi cũng bị tiêu chảy nặng và không ăn được gì nhiều, mọi người xung quanh kể cả quý thầy, các bạn cùng phòng và các thiền sinh đều cố gắng hết mình để giúp đỡ tôi.

Tôi và một người bạn cùng phòng có mối quan hệ rất tốt với nhau. Anh ấy có mang theo một cây đàn concertina, một loại nhạc cụ giống như cây phong cầm mini có nhiều phím, và ngay từ đầu chúng tôi đã khám phá ra rằng mình có cùng chung niềm say mê hát hò. Vào một buổi chiều vàng nắng, thấy anh ta ngồi trên cánh đồng và chơi những bản nhạc dân ca Mỹ, tôi tiến đến gần anh và chúng tôi hát với nhau rất đồng điệu. Kể từ ngày ấy, hễ khi có giờ rảnh, chúng tôi đều ngồi lại hát cùng nhau. Chúng tôi trở nên thân thiết, tin tưởng nhau và trở thành bạn của nhau.

Sáng một ngày gần cuối khóa tu, lúc tôi đang còn nằm trên giường thì anh ấy đi ăn sáng về. Anh ngồi bên mép giường và hỏi thăm tình hình sức khỏe của tôi. Sau đó anh hỏi tôi có muốn khám phá cái cảm giác đau thắt trong lòng qua thiền tập không. Tôi đồng ý. Thế là anh hát cho tôi nghe hai bài, rồi anh thỉnh chuông và đề nghị tôi chỉ tập trung vào những cảm giác đang có, buông bỏ mọi suy nghĩ và mở lòng ra để những cảm giác tự do đi lên.

Một vài phút sau, tôi thấy mình trở lại là một cậu bé, đang trốn dưới tầng hầm, phía sau chỗ để than đá, tôi đang quát tháo bà tôi và đuổi bà ra khỏi nhà. Bà tôi sống cùng với gia đình tôi suốt cả cuộc đời từ trước khi tôi sinh ra, từ khi ông tôi mất tích trong trận đánh ở Stalingard trong Thế chiến thứ hai. Tôi chưa bao giờ được biết đến ông. Khi còn nhỏ, tôi đã rất bực bội, căng thẳng vì sự có mặt của bà trong nhà. Trong lúc thiền tập, đứa bé trong tôi yêu cầu cha tôi đưa tôi rời khỏi nơi ấy. Sau một hai phút như vậy, tôi cảm nhận được từ nơi khóe mắt mình những giọt nước mắt đang lăn dài trên má. Người bạn cùng phòng của tôi ắt đã thấy được điều này, anh ta với tay ra và bắt đầu vuốt ve tay tôi, anh nói: “Không sao, hãy để cho những cảm xúc ấy đi lên”. Tôi òa lên khóc nức nở trong một khoảng thời gian rất lâu, có lẽ là hai mươi phút. Sau đó tôi cảm thấy được chữa lành rất nhiều.

Khi tôi yên lắng lại, lòng tôi cũng đã đỡ hơn nhiều. Chúng tôi kể chuyện cho nhau nghe về sự trưởng thành của tôi, về cha mẹ tôi, và về con gái của chúng tôi, cả hai chúng tôi đều có con gái khoảng hai mươi mấy tuổi. Chúng tôi ăn trưa cùng nhau, và tôi dạy cho anh bạn tôi một bài dân ca Đức: “Bunt sind schon die Walder”, nói về sắc màu của những chiếc lá trên cánh đồng mùa thu.

Dạ dày của tôi vẫn còn khó chịu nhưng đã khác hơn nhiều so với trước khi thiền tập. Tôi biết rằng đó là nỗi tuyệt vọng của đứa bé đang nằm trong tử cung người mẹ mà không có cảm giác được an toàn. Và tôi cũng nhìn thấy cha tôi trong tôi, cha tôi đã bị gửi cho dì của cha nuôi khi cha chỉ mới hai tuổi. Cha không bao giờ biết lý do vì sao, và cha chưa bao giờ có một gia đình thực sự. Mẹ tôi mất cha (ông ngoại tôi) khi mẹ còn nhỏ, thậm chí còn không biết khóc khi ông bị mất tích. Không một ai biết được liệu ông có trở về hay không. Bà tôi đã cố gắng làm việc vất vả để nuôi hai người con của mình. Bà rất thương ông, nhưng ông không bao giờ trở lại. Và ông tôi cũng giống như cha tôi, cũng không được lớn lên trong vòng tay yêu thương của cha mẹ. Có một lần bà tôi kể với tôi, ông đã chia sẻ với bà rằng ông chỉ biết được tình gia đình là như thế nào từ khi ông kết hôn và chung sống với bà. Nhưng thương tâm làm sao, ông đã mãi mãi không trở về!

Khi nhìn lại, tôi thấy trong suốt thời gian ở Làng Mai, những vách ngăn trong tôi như đang vỡ òa ra. Bây giờ tôi vẫn còn cảm thấy đau và khó chịu ở dạ dày, nhưng tôi nhận ra rằng những nỗi đau và sự khó chịu đó không chỉ của riêng tôi mà của nhiều thế hệ gia đình tôi, và đó cũng là nỗi đau của người Đức chúng tôi. Có lẽ nỗi khổ đau ấy quá lớn và tôi không thể chuyển hóa hết được trong một đời. Tuy nhiên điều mà tôi cần làm bây giờ là tiếp xúc với em bé bên trong mình, lắng nghe em, trò chuyện với em và mời em cùng an trú trong giây phút hiện tại và chỉ cho em thấy những nhiệm mầu của sự sống.

Con người thật của tôi

— Glen Schneider —

Một buổi chiều nọ, tôi ngồi suy nghĩ về một tình bạn quan trọng đã đổ vỡ cùng nỗi đau mà tôi đã gánh chịu. Tôi tự hỏi liệu mình có nên gọi cho người bạn ấy một lần nữa không, xem thử chúng tôi có thể cởi mở giải quyết vấn đề này và hòa giải được không. Khi tôi tưởng tượng ra những gì cô ấy có thể nói và tôi sẽ trả lời cô ấy như thế nào, thì tôi cảm thấy lòng tôi dường như đang thắt lại. Tôi nghĩ rằng, đang là buổi chiều, mình đang có một ít thời gian rảnh rỗi và không ai ở nhà cả, tại sao mình không tìm hiểu xem cảm giác đó là gì.

Tôi ngồi trên chiếc ghế dài và tập trung hoàn toàn tâm ý vào cái nút thắt trong lòng. Chẳng mấy chốc, tôi bắt đầu nghe từ góc trái đầu mình những tiếng “chát, chát, chát”rất rõ ràng và dứt khoát. Tôi nhận ra ngay đó là tiếng dây nịt của cha tôi, tiếng dây nịt đang quất vào cái mông trần truồng của tôi hồi tôi mới có sáu tuổi. Tôi thực sự thấm thía những trận đòn đó. Tôi bật khóc, gào thét và van nài rất lâu. Giờ đây tôi đang sống lại trong ký ức của những trận đòn roi cùng hình ảnh mẹ tôi đang đứng trong nhà bếp. Mẹ kéo cha ra và đứa trẻ trong tôi van xin: “Đừng đánh con nữa, con sẽ ngoan mà”. Ngồi trên ghế, tôi tự hỏi rằng liệu tôi có bị tâm thần hay không khi nhớ lại những chuyện này, tuy nhiên, việc này cũng có công năng trị liệu rất lớn, tôi để cho nguồn năng lượng này đi lên và đi ra khỏi người mình.

Khi tôi bắt đầu yên lắng, trong tâm tôi xuất hiện một đường hầm đen tối và kéo tôi vào đó. Tôi cảm thấy sợ hãi, nhưng rồi tôi nghĩ: “Ôi, tôi sắp sửa khám phá một vết thương, một sự ngược đãi nào đó mà tôi không nhớ rõ”. Nhưng tôi vẫn quyết định tiến vào, và ngay khoảnh khắc đó…

… Tôi là một bé trai đang ngồi trong chuồng gà nhà mình và để tay dưới một con gà nằm trong ổ, cảm nhận hơi ấm toát ra từ nó, những chiếc lông mềm mại và những quả trứng láng lẫy, ấm áp. Khi tôi còn nhỏ, gia đình tôi sống ở nông thôn và nhà tôi nuôi khoảng năm mươi con gà. Gia đình chúng tôi bán trứng và nhiệm vụ của tôi là phụ giúp chăm sóc những con gà mái. Đặt tay bên dưới con gà là một trong những cảm giác tuyệt vời và đẹp đẽ nhất mà tôi đã từng có. Tôi nhìn xung quanh và thấy cạnh của những chiếc vỏ hàu mà chúng tôi cho gà ăn, thấy những chi tiết của cánh cửa chúng tôi đóng hằng đêm để ngăn cáo và gấu mèo; ngoài vườn có một cây mù tạc đang nở hoa vàng rực rỡ. Tôi mơ màng khoảng mười phút, như tôi đang ở trên thiên đường vậy, tôi mơ về những khung cảnh tuyệt vời vui tươi và những hương vị của tuổi thơ. Những màu sắc thật rực rỡ, những hình dáng thật sinh động và tôi cảm thấy bàng hoàng. Cuối cùng thì khoảnh khắc đó cũng kết thúc, cậu bé bước đi trên con đường về nhà và một giọng nói xuất hiện trong đầu tôi: “Họ đặt chúng vào trong mày đó”.

Nhờ sự giúp đỡ của một người chị trong Tăng thân, một người thường giúp đỡ những thanh niên khó khăn hay đang bị giam giữ, tôi bắt đầu hiểu được rằng “họ đặt chúng vào trong mày đó” có nghĩa là những người ấy đã đặt những tổn thương vào trong tôi, những điều tồi tệ đã xảy ra, nhưng đó thực sự không phải là tôi. Con người thật của tôi là một cậu bé yêu thương những khung cảnh, màu sắc và hình ảnh mà tôi đã cùng nó lớn lên. Năng lượng tiêu cực được đặt vào tôi như một cánh cửa đóng sầm lại ký ức của tôi, đóng sầm lại cái phần tốt đẹp trong quá trình trưởng thành của tôi, để mỗi khi nhớ về quá khứ, tôi chỉ nhớ đến những ký ức đau buồn và quên mất những thứ đẹp đẽ.

Tôi cảm thấy may mắn vì đã lấy ra khỏi mình nguồn năng lượng gây tổn thương đó. Tôi ước gì tôi có thể nói là tôi đã buông bỏ nỗi đau đó trong một buổi thiền tập, nhưng tôi không thể. Tôi phải “viếng thăm” chúng vài lần, tuy nhiên sau mỗi lần “viếng thăm” thì nỗi khổ đau đều giảm nhẹ hơn nhiều, và tôi cảm thấy khá đơn giản như khi làm những công việc lặt vặt trong nhà: “Ồ, đến lúc quét dọn rồi, mình đi quét dọn thôi”. Với thời gian và sự chuyên cần, tất cả đều được “quét đi” một cách nhẹ nhàng. Tôi nghĩ rằng phần bị tổn thương trong chúng ta cũng có khả năng thương yêu, đó là tính tốt của chúng ta. Mặc dù cái phần ấy có thể ẩn sâu bên dưới nỗi khổ niềm đau, nhưng trong ta vẫn sẽ luôn có một phần có khả năng ôm ấp và tận hưởng những thứ dịu dàng, đẹp đẽ, quý giá của thế giới, và thích thú chăm sóc, chia sẻ những thứ đẹp đẽ quý báu ấy bằng một tấm lòng cởi mở. Đó là trải nghiệm của tôi.

Con có thể làm gì để giúp cha?

— Joanne Friday —

Mẹ tôi bệnh rất nặng gần cả năm, và trong thời gian ấy mẹ đã tám lần nhập viện. Giữa những lần nằm viện, mẹ được chuyển đến vài nơi an dưỡng để được chăm sóc đặc biệt. Tôi đã cùng cha đến thăm mẹ tại một trong những nơi đó. Cha tôi là một cựu chiến binh trong Thế chiến thứ hai, cha rất giỏi trong việc kiểm soát tình huống và tạo mọi điều kiện để ngăn những điều tệ hại xảy đến. Cha là một người cực kỳ tỉ mỉ. Sống gọn gàng ngăn nắp, đâu vào đó là điều rất quan trọng đối với cha. Cha tôi luôn chăm sóc mọi thứ chu toàn, và cũng rất tuyệt vời trong việc chăm sóc mẹ. Nhưng giờ đây, cha phải chứng kiến mẹ tôi hấp hối mà không có cách nào để giải quyết, đó là một điều cực kỳ khó khăn với cha. Khi mọi thứ nằm ngoài tầm kiểm soát thì cha tôi càng cố gắng nhiều hơn và trở nên thiếu kiên nhẫn, cáu gắt và giận dữ. Đó chính là tập khí của cha tôi.

Chúng tôi đang ngồi trong nhà an dưỡng thì cha tôi nổi giận và trở nên thiếu kiên nhẫn với mẹ. Tôi ngồi đó, cảm nhận cơn giận đang dâng lên trong thân mình. Nếu tôi đang ở quá khứ, tập khí của tôi sẽ nói với cha rằng: “Dừng lại đi, mẹ sẽ không thể chịu nổi như vậy”. Nhưng thay vì nói thế, tôi dừng lại, hít thở, và tôi biết rằng mình cần đi ra ngoài. Tôi biết rằng nếu tôi nói hoặc làm điều gì đó vào lúc này thì tôi chỉ gây thêm nhiều đau khổ hơn cho tôi và cho gia đình tôi. Vì vậy, tôi nói: “Con đi bộ một tí” rồi ra bãi đỗ xe và hành thiền.

Tôi tiếp xúc với hơi thở. Vài phút sau, tôi trở nên yên lắng và bình tĩnh. Sau đó, tôi mời cơn giận của mình lên. Tôi thở với nó, nhìn sâu vào nó để hiểu được bản chất của nó. Cơn cảm xúc đã đưa tôi về với quá khứ của mình. Tôi hiểu được phản ứng của tôi đối với cha thực ra là phản ứng của một đứa bé ba tuổi. Khi đó, cha tôi cũng giận dữ và thiếu kiên nhẫn với tôi y như thế. Đứa bé ba tuổi ấy đã vô cùng đau khổ, và nó đang phản ứng cực kỳ mạnh mẽ trong giây phút hiện tại, khi thấy mẹ chịu sự giận dữ của cha tôi.

Tôi chăm sóc đứa bé ba tuổi trong tôi. Ôm ấp em và giảng giải cho em hiểu, sự giận dữ và thiếu kiên nhẫn của cha không liên quan gì tới em cả. Khi em ba tuổi, làm sao em có thể hiểu rằng em đừng mang theo những giận dữ ấy bên mình, bởi đó chỉ là nỗi khổ của cha mà thôi. Với tất cả mọi người, cha đều cư xử như thế, không phải chỉ có riêng em. Khi tôi hiểu được điều này, lòng từ bi đối với chính mình và đối với cha dâng lên trong tôi. Đó là kinh nghiệm trực tiếp của về những điều Thầy (Thiền sư Nhất Hạnh) đã dạy: Niệm sẽ đưa đến định, định sẽ đưa đến tuệ, tuệ sẽ đưa đến hiểu, có hiểu thì mới phát tâm từ bi.

Mỗi người đều có những cách phản ứng khác nhau khi rèn luyện điều này. Đa số chúng ta chạy trốn cả đời với những cảm thọ đã làm ta sợ hãi. Song, chỉ cần dừng lại, thở và ôm ấp những cảm thọ ấy, thì trong ta đã bắt đầu quá trình chuyển hóa rồi, và chúng ta sẽ nuôi dưỡng dần khả năng vô úy (không sợ hãi) của chính mình. Trong trường hợp của tôi, cơn giận dữ đã đưa tôi về với quá khứ, về với đứa bé ba tuổi đang trải nghiệm những cảm xúc tương tự như tôi ở hiện tại, phải chứng kiến cảnh cha khó chịu và giận dữ. Khi cảm nhận được điều ấy, tôi biết có gì đó đã được chuyển hóa. Tôi biết là tôi có thể trở về với cha mẹ một cách ổn thỏa.

Lúc đi ra khỏi phòng, tôi đã xem cha mình như một tên hung bạo; nhưng khi trở lại, tôi chỉ thấy nỗi đau của cha tôi. Nỗi đau ấy quá lớn, không thể chịu đựng nổi. Tôi có thể hiểu được nỗi lo sợ của cha lớn đến mức nào. Và rồi, tất cả những gì tôi cảm nhận được đối với cha chỉ còn lòng từ bi. Không có gì khác ngoài lòng từ bi và chỉ có một điều tôi có thể nói: “Con rất tiếc vì cha phải trải qua khó khăn này. Con có thể làm gì để giúp cha không?”.

Rất rõ ràng là khi tôi bị kẹt vào nỗi khổ đau của bản thân, tôi không còn có thể thấy nỗi đau của bất kỳ ai nữa. Tôi không thể có cái nhìn sáng suốt, thông minh, tôi chỉ thấy nỗi khổ đau của riêng mình mà thôi. Tôi đã không thể chăm sóc cảm xúc của tôi, tôi đã tự cho mình là đúng. Tôi nói với bản thân rằng tôi là một đứa con gái ngoan, tất cả những gì tôi cần quan tâm là mẹ tôi. Tôi tin rằng tôi đang cố gắng để chăm sóc và bảo vệ mẹ, và cách để làm điều đó là nói với cha “dừng lại đi, đừng nói nữa”. Tuy nhiên, nếu tôi nói như thế, thì đó chính xác là sự giận dữ mà tôi đã tập nhiễm từ cha tôi: phản ứng lại mọi thứ bằng phê phán và chỉ trích. Có thể khi ấy cha sẽ cảm thấy giống như tôi, cảm thấy mình bị trách móc và có thể cha sẽ hành xử tệ hơn với mẹ. Và tôi sẽ tạo ra chính cái tình cảnh mà tôi muốn ngăn chặn.

Tôi đã rèn luyện đủ lâu để biết điều gì nên nói và nên nói điều đó như thế nào. Tôi có thể dừng lại, không phê phán cha mình ngay khi cơn giận phát khởi mà không cần đi ra ngoài. Nhưng có thể cảm giác tức giận vẫn còn đó, và dù tôi có nói những điều tương tự như “Con có thể làm gì để giúp cha không?”, thì lời nói của tôi vẫn có thể làm cho cha cảm thấy bị chỉ trích bởi giọng điệu, nét mặt và cử chỉ của tôi.

Vì vậy, tôi khám phá ra rằng nói lời chánh niệm không phải chỉ là chọn lựa từ ngữ đúng đắn, chánh niệm phải là chuyển hóa những ý xấu trong trái tim tôi. Khi tôi nhìn sâu và phát khởi sự thấu hiểu, tôi sẽ cảm nhận được lòng từ bi, lòng từ bi đối với tôi và đối với người khác. Khi nỗi khổ đau trong tôi được chuyển hóa, tôi sẽ hiểu và thương được cả hai. Những từ ngữ mà tôi chọn lúc này không còn quan trọng lắm. Người ấy sẽ cảm nhận tình thương từ tôi. Người ta sẽ biết khi nào thì họ được thương yêu thực sự.

Tôi đã nhận ra rằng, càng rèn luyện thì cường độ cảm xúc tiêu cực càng suy yếu, dù tôi vẫn trải qua những cảm xúc dữ dội. Tôi có thể nói: “Xin chào cơn giận, người bạn nhỏ của tôi, bạn trở lại đấy à” và cơn giận sẽ ra đi. Khi tôi chăm sóc đứa bé bị tổn thương trong tôi tử tế thì những cảm xúc tuy vẫn có thể còn đó, nhưng các mối quan hệ đã được chuyển hóa và những tri giác của tôi về thế giới này và về những người khác cũng được thay đổi. Đó là phép lạ của chánh niệm!

Đôi mắt trẻ thơ

— Lillian Alnev —

Chỉ cần nói “tôi đã từng trải qua tổn thương sâu sắc” cũng có thể khiến cho tôi co rút lại vì mặc cảm.

Tôi có viết ra một danh sách thật dài trên giấy, và danh sách ấy cũng kiến cho tôi xấu hổ. Nó quá dài và kinh khủng đến nỗi khó có thể coi là sự thật. Tuy nhìn lại cũng chẳng có gì đáng kể nhưng lúc đó tôi rất khổ đau. Người ta nói với tôi rằng đó là mặc cảm tội lỗi của những người sống sót. Buông bỏ sự so sánh và phán xét chính mình có thể là điều mà tôi phải thực tập suốt đời.

Trong từng nghĩ rằng những người khiến tôi tổn thương có thể bị đưa ra tòa xét xử nếu họ bị phát giác. Tôi đã từng chứng kiến nhiều sự phẫn nộ tương tự đối với người khác. Sự kiện đau lòng nhất trong thời thơ ấu của tôi thực ra chẳng lớn lao, nhưng nó đã ảnh hưởng đến tinh thần tôi rất nhiều. Đó là một ví dụ điển hình cho quá trình chữa lành.

Tôi lớn lên trong một xóm nghèo với các món đồ hoen gỉ cũ nát. Nhưng ở lưu vực Great Lakes thì quanh năm bốn mùa đều xinh đẹp. Sự cực đoan của thời tiết đã làm cho các khoảng sân trở thành những chiếc hộp dụng cụ nghệ thuật từ thiên nhiên với đủ thứ gỗ, đá, bột màu và đồ trang trí cho những đứa trẻ thích sáng tạo.

Tôi đã dành hết thời gian rảnh rỗi của mình để xây dựng một tiểu vương quốc. Nơi đó không có trường học, không có quán rượu, không có nhà thờ hay nhà tù nào cả. Tôi xây dựng một thế giới tưởng tượng rất hoàn hảo như trong một giấc mơ, ở đó những kẻ hay ức hiếp người khác không được bước chân vào. Tôi làm những căn nhà bằng cây lợp mái cỏ tranh và những căn nhà đá ốp bằng đá cuội. Tôi làm những con đường trên băng đá, ngăn nước mưa thành hồ và kênh rạch. Nhà cửa, cao ốc và thị trấn từ từ mọc lên. Có cả một nông trại gieo trồng củ cải và cà rốt khổng lồ, những hạt giống này được lấy từ khu vườn của gia đình tôi.

Những chú khủng long và những con vật ở nông trại là những món đồ chơi tôi yêu thích, tôi mang chúng đến để chúng trở thành những thần dân của tôi. Vì tôi đã làm việc quanh năm, suốt bốn mùa, để xây dựng nhà cửa cho những công dân tí hon ấy, nên tôi đã phát triển những sự ngộ nhận về các giác quan của mình, tôi nhìn toàn bộ thế giới từ độ cao khoảng chừng 2,5 tấc. “Đôi mắt trẻ thơ” của tôi ánh lên niềm hân hoan, và tôi cảm thấy mình có thể tự bảo vệ được cho chính mình.

Vào một buổi sáng Chủ Nhật mùa đông, tôi thức dậy sớm và mặc đồ đi ra ngoài, tôi hân hoan nhìn ngắm thành phố của mình được bao phủ bởi một lớp tuyết mới. Khi tôi đi vòng quanh cây bách, chỗ chắn gió cho chiếc cửa sau, tôi thấy một loạt những dấu chân nhỏ màu đen in trên tuyết từ cổng trước hướng về vương quốc của tôi.

Một đôi giày đế cứng nào đó đã để lại những dấu chân này, hoàn toàn không phải loại giày cao su mà chúng ta thường mang vào mùa đông. Ý nghĩ đầu tiên trong tôi khi ấy là người đó hẳn sẽ gặp rắc rối khi mang giày đi học vào trong tuyết. Rồi những dấu chân ấy đã dẫn tôi đến một sự thật tàn nhẫn. Tôi còn nhớ rằng chỉ có dấu chân đi vào mà không thấy đi ra. Cả kẻ viếng thăm, lẫn cái tiểu vương quốc cùng những thần dân của tôi đã không cánh mà bay đi mất. Tôi chạy vào nhà, gào thét và buộc tội cha tôi đã phá hủy cái thế giới nhỏ bé đó của tôi như một hình thức trừng phạt tàn nhẫn.

Tôi vẫn không thể nào biết được chuyện gì đã thực sự xảy ra. Tôi đã trải qua nhiều đòn roi và cay nghiệt, nhưng tôi chưa hề trải qua nỗi mất mát. Ai đó đã mang đi những con thú, công trình của tôi, mang theo cả “đôi mắt trẻ thơ” của tôi. Tôi bắt đầu ngờ vực mảnh đất này. Từ đó, những tác phẩm nghệ thuật của tôi trở nên vụng về và không thường xuyên nữa.

May mắn rằng tôi vẫn sống và đã giác ngộ. Tôi biết ơn rằng mình đã có một đường hướng tâm linh. Tôi có thể thiền tập với mọi người là nhờ câu nói “gặp Phật giết Phật” đã an ủi tôi, nhắc nhở tôi rằng: không kẹt vào những hình tướng bên ngoài là tinh yếu của cuộc sống.

Khi các huynh đệ trong Tăng thân tổ chức khóa tu cho những người khổ đau vì những vết thương sâu dày trong quá khứ hay những người có tuổi thơ đã từng bị lạm dụng, và gọi tên khóa tu là “chữa lành em bé trong mình”, thì đứa bé hay chỉ trích trong tôi nổi điên lên. Nền công nghiệp “Tự chữa lành tâm thức”, nào là “Con người yếu đuối trong bạn”, “Thiên tài trong bạn”, “Nhà lãnh đạo trong bạn”,… đã khơi dậy con người nổi loạn và tổn thương trong tôi. Kỳ thực tôi rất sợ hãi. Tuy nhiên, tôi vẫn đăng ký khóa tu và tham dự các buổi rèn luyện. Tôi quyết định viết một lá thư cho em bé trong tôi. Tôi bắt đầu: “Này cậu bé. Ta biết cậu không thích cái tên của mình. Vậy ta nên gọi cậu là gì nhỉ?”. Tôi viết rất lâu nhưng không thể chạm được đến đứa bé ấy, cho đến khi giọng văn của tôi bắt đầu thay đổi. Chính đứa bé ấy đang viết cho tôi. Thoạt đầu tôi chỉ biết khóc. Sau đó tôi lắng nghe. Cuối cùng tôi bước ra ngoài và làm những gì mà đứa bé yêu cầu.

Tôi đến bên bờ suối, nhặt những viên đá cuội nhẵn nhụi và mát rượi. Tôi để chúng nằm yên lành trong tay tôi. Rồi tôi xếp chúng lên cát. Một lúc sau, tiếng chuông báo giờ ăn tối đã cắt ngang mạch tập trung của tôi. Tôi phủi cát trên tay và ngắm nhìn tác phẩm của mình. Một chiếc bàn đá, trên đó bày ra hai cái dĩa đá, chứa đầy hạt lấy từ cái cây cạnh bờ suối. Hai cái ghế đá đặt hai bên chiếc bàn. Chỗ ngồi hướng ra dòng nước có tầm nhìn rất đẹp.

Sáng sớm hôm sau tôi trở lại dòng suối. Chiếc bàn ăn nhỏ bé tối qua vẫn còn đó, và trên nền cát còn ẩm ướt tôi thấy dấu chân của những con hươu, chim và vài con thú nhỏ khác, chúng đã bước đi rất thận trọng quanh chiếc bàn. Nhưng đống hạt thì đã biến mất. Đến chiều, tôi trở lại một lần nữa. Dòng nước mát lạnh đã chuyển dòng và toàn bộ bờ suối xám xịt đã trở nên tươi mới, êm ả và trống vắng. Giờ đây, tôi biết, không ai có thể lấy đi của tôi bất cứ thứ gì nữa. Khi tôi bước tới thiền đường, tôi thấy đứa bé khoảng chừng vài ba tấc trong tôi nhìn mọi vật rất rõ ràng và sống động. Cuối cùng tôi cũng đã nhìn thấu nỗi khổ đau của mình. Đôi mắt trẻ thơ của tôi đã trở lại.

Dựng tượng tuổi thơ

Đứng nhìn bên khung cửa sổ sáng nay của cuộc đời

Tôi thấy em ngã xuống, rồi em đứng dậy mỉm miệng cười

Cầu nguyện cho em đừng để thân em lấm bụi thẹn thùng,

Đừng để tâm em mang sẹo cô đơn vụng về yếu đuối

Mỗi lần ngã là một lần đứng dậy

Để trưởng thành

Để cuộc đời nhường một bước đi lên.

Những mũi tên bắn vào thân thể em

Hãy để cho chúng rơi như lá thu đẹp lìa cành

Ngoạn mục trò chơi tuổi thơ con trẻ

Em có thấy khi chiều gió qua

Nước hồ trong thoáng gợn

Nhưng rồi nước hồ sau đó vẫn bình yên

Lặng chiếu bóng núi bóng trăng?

Em đã trưởng thành rồi

Cho tôi xin thêm của cuộc đời một ít tháng năm

Vừa đủ dựngTượng tuổi thơ can đảm.

Tám: Trở thành một vị Bồ tát

Nhiều người trong chúng ta ngồi thiền là để trốn chạy khổ đau của mình, bởi vì ngồi thiền đem lại cho ta một ít thư giãn, tĩnh lặng, giúp ta từ bỏ thế giới khổ đau tranh chấp để trải nghiệm một ít an vui và hạnh phúc. Chúng ta ngồi thiền để bớt đau khổ. Chúng ta hành xử như những con thỏ chui vào cái hang của nó để có cảm giác được an toàn và được bảo hộ, để không bị quấy rầy. Chúng ta muốn bỏ lại thế giới sau lưng. Chúng ta hành xử như vậy là bởi vì ta khổ đau quá nhiều, nên muốn chạy trốn để được nghỉ ngơi. Nhưng đó không phải là mục đích đích thực của thiền tập. Khi ta ngồi như một con thỏ chui vào hang, ta chỉ trốn tránh khổ đau, trốn tránh thực tại. Chúng ta phải sử dụng trí thông minh và định lực của ta để đạt được tuệ giác, chuyển hóa khổ đau trong lòng và trở thành một vị Bụt, trở thành một người giải thoát giác ngộ.

Trong đạo Bụt, có ý niệm về tam giới: dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Chúng ta có khả năng rời bỏ cõi dục, buông bỏ những tham muốn thèm khát, để lại sau lưng thế giới của dục lạc để nếm được niềm an vui và hạnh phúc. Đó là bước đầu tiên của sự thực tập. Cho dù chúng ta có rời bỏ cõi dục giới đi chăng nữa thì những cuộc độc thoại trong tâm chúng ta vẫn tiếp tục hoạt động. Đó là lý do tại sao ta phải thực tập tĩnh lặng. Những cuộc độc thoại được làm bằng hai yếu tố: tầm (vitarka) và từ (có khi gọi là tứ, vicāra). Tầm là suy nghĩ đơn thuần ban đầu và từ là suy nghĩ sâu xa hơn, nghĩ lui nghĩ tới, liên tục không ngừng.

Chúng ta không thể dừng suy nghĩ được. Trong đầu ta luôn có một cái máy thu thanh chạy liên tục, đó là tiếng ồn gây ra bởi những cuộc độc thoại luôn diễn ra trong tâm thức ta. Để dừng lại những suy nghĩ, dừng lại những cuộc độc thoại đó, chúng ta phải nhận diện và an trú nơi hơi thở vào ra. An trú nơi hơi thở vào ra là ta có khả năng dừng lại những cuộc độc thoại ấy. Đó là tĩnh lặng. Chúng ta có thể ngồi theo dõi hơi thở và “chơi” với hơi thở vào ra, thưởng thức sự tĩnh lặng, thưởng thức sự vắng mặt những cuộc độc thoại trong tâm thức, và thưởng thức niềm an vui hạnh phúc của mình.

Tuy nhiên chừng đó cũng chưa đủ. Nếu chỉ thực tập chừng đó thôi thì ba năm sau, chúng ta có thể rời bỏ tăng thân. Khi chúng ta từ bỏ tăng thân để trở về với thế giới bên ngoài, một lần nữa ta lại thấy được khổ đau trên thế giới nhiều đến mức nào. Sau ba tháng, hoặc một năm sống với thế giới bên ngoài, ta lại muốn quay trở lại với tăng thân. Và điều đó cứ tiếp tục tái diễn. Chúng ta có thể thực tập như trước, an vui và hạnh phúc được phát sinh từ sự tĩnh lặng, nhờ bỏ lại mọi thứ sau lưng.

Đây là một tiếng chuông chánh niệm nhắc nhở chúng ta phải đi sâu hơn. Khi thực tập không có hạnh phúc, chúng ta thường đổ lỗi cho những thứ làm cho ta không hạnh phúc. Chúng ta nói rằng sở dĩ ta không hoàn toàn hạnh phúc vì những điều kiện bên ngoài và chung quanh ta, mà không phải là do ta gây ra. Đây là vấn đề của tất cả các trung tâm tu học. Nếu biết rõ vấn đề, chúng ta sẽ có khả năng xây dựng một tăng thân như thế nào để mọi người có thể nhận ra được điều này. Sở dĩ ta không có hạnh phúc là vì ta không biết cách gìn giữ và duy trì niềm hạnh phúc của ta. Ta không biết cách thực tập sâu hơn để chuyển hóa những lo lắng, muộn phiền, bất an, chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ thâm sâu vẫn còn nằm trong chiều sâu tâm thức ta.

Nỗi khổ đau đó có thể là nỗi khổ đau ta chịu đựng trong khoảng thời gian thơ ấu. Có thể do khi còn nhỏ ta đã bị lạm dụng. Hoặc là nỗi khổ đau của cha mẹ trao truyền lại, do lúc còn nhỏ cha mẹ ta bị đối xử tệ bạc và bây giờ nỗi khổ đau đó trở thành nỗi khổ đau của ta. Cho dù chúng ta còn rất mơ hồ về nỗi khổ của ta, chúng ta cũng phải thực tập để tiếp xúc với nó. Sử dụng tuệ giác để nhận diện. Nếu cần khổ đau, chúng ta cứ khổ đau và chúng ta có thể nói: “Tôi sẽ khổ đau, bởi vì tôi biết rằng khổ đau như thế, tôi sẽ học hỏi được từ khổ đau và tôi sẽ khá hơn”. Điều này cũng giống như ta ăn mướp đắng. Chúng ta không sợ hãi vì ta biết rằng mướp đắng giúp ích cho ta.

Vì vậy, khi nỗi khổ đau xuất hiện, chúng ta có mặt với nó, chào đón nó, cho dù đó là cơn giận, nỗi tuyệt vọng, hay sự bất mãn về điều gì đó mà ta không đạt được. Cho dù khối khổ đau đó không có tên gọi, và ta chưa gọi được tên nó thì nó vẫn là nỗi khổ đau. Vì vậy ta phải sẵn sàng chào đón nó, ôm ấp nó nhẹ nhàng và sống với nó.

Khi chúng ta chấp nhận được nỗi khổ đau và sẵn sàng đau khổ, thì nỗi khổ đau không quấy rầy ta nữa. Chúng ta thấy rằng chúng ta có khả năng sống với nỗi khổ đau đó. Bởi vì nỗi khổ đau sẽ giúp ích cho ta, giống như mướp đắng vậy, nó sẽ trị liệu ta. Vì vậy ta hãy cho phép nỗi khổ đau có mặt. Chấp nhận nó, sẵn sàng khổ đau một ít để được học hỏi. Nếu không chấp nhận nó, không ôm ấp nó nhẹ nhàng, ta sẽ không biết nó là gì. Ta sẽ không hiểu được rằng khổ đau có thể dẫn dắt ta, mang đến cho ta niềm vui và hạnh phúc. Không có khổ đau, không hiểu được nỗi khổ đau thì sẽ không có hạnh phúc chân thật.

Chấm dứt hiểu lầm

Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, hàng triệu người tin rằng tôi là cộng sản, còn những người khác thì tin rằng tôi là thành viên của CIA. Nếu quý vị ở trong hoàn cảnh đó quý vị sẽ khổ đau rất nhiều. Quý vị có thể nghĩ mình là nạn nhân của sự hiểu lầm và bất công. Quý vị có thể nghĩ rằng khổ đau chỉ chấm dứt khi người ta không còn nghĩ mình là cộng sản hay là thành viên của CIA nữa. Tuy nhiên chúng ta có thể làm khác đi, chúng ta có thể chấp nhận tình huống đó. Có cả hàng triệu người tin rằng quý vị là cộng sản, và cũng có hàng triệu người khác tin rằng quý vị là người yểm trợ cho CIA. Đó là cách nghĩ duy nhất của họ, một là thuộc về bên này, hai là thuộc về bên kia. Tôi không phải là cộng sản, cũng không phải là người của CIA, vì vậy không có lý do gì để tôi đau khổ cả. Chỉ bằng cách sống, cách hành động và cách nói năng, tôi có thể chứng minh được tôi có thiện chí tốt, có mục đích lành mạnh, đó là mục đích đạt được bình an và hòa giải. Nếu chúng ta có khả năng làm được điều đó thì khổ đau không còn quấy rầy ta nữa.

Khổ đau là do sự hiểu lầm, giận dữ, hận thù và vô minh gây ra. Nếu chúng ta trông chờ vào người khác để xua tan đi những hiểu lầm này, có thể ta phải chờ đợi rất lâu. Chúng ta phải đi sâu hơn, dùng định lực và tuệ giác của ta để hiểu, rằng những người chung quanh ta khổ đau là do cách họ suy nghĩ, cách họ hành động và cách họ nói năng. Nếu ta khổ đau như họ, ta sẽ không giúp được họ. Vì vậy chúng ta phải thấy được vấn đề để chuyển hóa khổ đau, phải phát khởi tuệ giác và từ bi để giúp đỡ họ. Với thái độ và sự hiểu biết đó, chúng ta sẽ không khổ đau nữa, bởi vì bây giờ ta có tuệ giác và từ bi. Tuệ giác và từ bi này ta chỉ có thể đạt được bằng sự thực tập mà thôi.

Trong suốt thời đại của Bụt, Bụt cũng từng gặp những khó khăn và bất công. Một lần nọ, có người giết một cô vũ công rồi chôn thi thể cô ấy trong khuôn viên tu viện và sau đó báo cho quan quân. Quân lính đến, khám phá ra thi thể đó và bắt đầu loan tin là Bụt và quý thầy đã tà dâm với cô vũ công này, rồi giết cô ta và chôn giấu thi hài cô. Vào buổi sáng khi quý thầy mang áo, cầm bát đi vào thành để khất thực, người ta nhìn quý thầy với một cái nhìn nghi kị, khinh miệt và khó chịu.

Điều này xảy ra trong nhiều ngày. Quý thầy chịu không nổi nữa nên đến thưa với Bụt: “Bạch đức Thế Tôn, chúng con không thể chịu đựng nổi nữa. Mỗi khi chúng con đi vào thành, người ta nhìn chúng con với con mắt khinh miệt như thế, chúng con rất đau khổ”. Đức Bụt nói: “Điều quan trọng là quý thầy không làm điều đó, quý thầy không làm những điều mà người ta lên án cho rằng quý thầy làm. Quý thầy biết rõ là quý thầy giữ gìn uy nghi và giới luật nghiêm túc. Một ngày nào đó, bằng cách sống và thực tập của chính mình, sự hiểu lầm sẽ tan biến đi. Những chuyện như thế này thường xảy ra khắp nơi trên thế giới. Nếu quý thầy hiểu được điều này và quý thầy có lòng từ bi, quý thầy sẽ không khổ đau. Có những người hay những nhóm người vì sự ganh tị và đố kị mà đã tạo ra những tình huống để bôi nhọ thanh danh của chúng ta. Những người như thế họ khổ đau rất nhiều. Vì vậy, ta phải đối xử với họ bằng lòng từ bi. Nhờ thực tập mà chúng ta có khả năng giúp họ thức tỉnh và giúp họ hiểu được rằng những gì họ đã làm không xứng đáng với những người đi trên con đường tâm linh”. Nghe Bụt nói, quý thầy không còn khổ đau nữa.

Vài tuần sau, cư sĩ Cấp Cô Độc, học trò của Bụt và cũng là người người yểm trợ Bụt hết lòng, thuê những thám tử tư để dò xét, và họ đã tìm ra tội phạm. Tuy nhiên tăng đoàn của Bụt đã phải chịu khổ đau gần cả tháng vì sự việc này.

Sở dĩ ta khổ đau ít hay nhiều, hay không khổ đau tí nào cả, là do ta có tuệ giác và từ bi hay không. Hoàn toàn là tùy thuộc vào ta. Vì vậy, nếu cần một ít khổ đau thì hãy cho phép ta khổ đau. Ôm ấp nỗi khổ đau một cách nhẹ nhàng bằng tất cả trái tim mình, sử dụng nguồn định lực và tuệ giác, quán chiếu cho thật sâu sắc, để phát khởi tâm từ bi và sự cảm thông. Nhờ thế ta sẽ không ghét người đã gây cho ta khổ đau. Ta nguyện tập sống như thế nào để có thể giúp được người ấy.

Nếu nỗi khổ đau của ta được cha mẹ trao truyền lại thì cũng đừng đổ lỗi cho cha mẹ. Ví như cha mẹ không có cơ hội gặp được Phật Pháp, không có cơ hội thực tập cho nên nỗi khổ đau đó cứ tiếp tục biểu hiện trong cha mẹ và cha mẹ đã trao truyền nó lại cho ta. Nếu chúng ta biết cách thực tập, chúng ta sẽ giúp được cho cha trong mình, giúp được cho mẹ trong mình. Chúng ta sẵn sàng khổ cho cha, sẵn sàng khổ cho mẹ. Khổ đau như thế không phải là một điều tiêu cực. Chúng ta khổ đau để biết cách tìm đường đi ra. Ta hãy cho phép mình khổ đau một ít. Đừng cố chạy trốn khổ đau. Đây là một sự thực tập rất mầu nhiệm. Có nhiều đứa trẻ ban đầu rất ghét khổ qua (mướp đắng), nhưng khi lớn lên chúng rất thích ăn canh khổ qua.

Trường hợp khó nhất là khi ta biết khổ đau có mặt đó nhưng không biết được bản chất của nỗi khổ đau ấy vì nó rất mơ hồ. Ta không thể gọi tên được. Nó thật sự có mặt trong ta, tuy nhiên rất khó để soi chiếu ánh sáng ý thức vào đó để nhận diện. Đó là do ta có những bế tắc trong lòng, do ta có những kháng cự, có khuynh hướng chạy trốn, và không chịu quay trở về với chính mình để nhận diện nó. Như chúng ta đã biết, đây là khuynh hướng của thức mạt na. Mỗi khi chuẩn bị tiếp xúc với nỗi khổ đau, ta không muốn đụng tới nó, ta muốn chạy trốn. Ta đã hành xử như thế lâu lắm rồi, vì vậy ta không có cơ hội gặp gỡ, tiếp xúc và nhận diện nỗi khổ đau. Ta phải nói với chính mình rằng ta sẽ không hành xử như vậy nữa. Bất cứ khi nào nỗi khổ đau đến gần ta, ta sẽ dừng lại để đón tiếp, ta sẽ không chạy trốn nữa. Bằng cách quan sát và ý thức chánh niệm, ta sẽ có khả năng nhận diện nỗi khổ đau trong ta. Bởi vì bất kỳ khối khổ đau nào cũng luôn tìm cách biểu hiện. Chúng ta không cần phải tìm cách trở về quá khứ để tiếp xúc và nhận diện khổ đau. Chúng ta chỉ cần có mặt trong giây phút hiện tại, với sự cẩn trọng và chánh niệm, chúng ta sẽ thấy nó biểu hiện bằng cách này hay cách khác. Khi nhận ra những dấu hiệu biểu hiện, chúng ta sẽ có khả năng nhận diện được bản chất của nỗi khổ đau đó.

Thiền tập trong đạo Bụt chú trọng đến phút giây hiện tại. Chúng ta không cần phải trở về quá khứ, trở về với tuổi thơ để tiếp xúc với nỗi khổ đau và tìm hiểu nguyên nhân của nỗi khổ đau đó. Chúng ta chỉ cần có mặt ngay nơi phút giây hiện tại và quan sát. Chúng ta sẽ thấy rằng nỗi khổ đau có gốc rễ từ quá khứ sẽ biểu hiện, có thể nỗi khổ đau này đã có từ trong nhiều kiếp trước. Thực tế nó biểu hiện trong mọi lúc và chúng ta có thể nhận diện được.

Con người tỉnh thức

Đức Bụt là một trong những mẫu người mẫu mực, đẹp nhất của loài người mà ta gọi là loài người tỉnh thức. Chúng ta đã có loài người đứng thẳng, loài người khéo léo, và loài người ý thức. Bây giờ ta có cụm từ loài người tỉnh thức. Người tỉnh thức là người có ý thức, chánh niệm. Đây là một cụm từ đã được mọi người dùng trước đây mà không phải do tôi sáng tạo ra.

Khi con người ý thức rằng “mình sẽ bệnh, mình sẽ già, mình sẽ chết…” thì cái ý thức đó có thể mang tới cho ta nhiều lo lắng, sợ hãi, thống khổ, và điều này có thể làm cho ta bệnh hoạn. Người ta tự hỏi là liệu có một loài khác ít ý thức hơn và không khổ đau vì những lo lắng cho tương lai của mình hay không? Vì loài người có những nỗi thống khổ đó nên ta đặt ra những câu hỏi triết học như: Tôi là ai? Điều gì sẽ xảy ra cho tôi? Trong quá khứ tôi có tồn tại không? Nếu có, thì trong quá khứ tôi thuộc loài nào? Trong tương lai tôi có tồn tại không? Nếu có, tôi sẽ thuộc loài nào? Tất cả những câu hỏi đó đến từ nỗi khổ đau trầm kha của chúng ta và đem đến cho ta nhiều bất an, bệnh tật. Và những câu hỏi như: Cha mẹ tôi có muốn tôi có mặt trên cõi đời này không? Có phải tôi ra đời là vì mong muốn của cha mẹ không hay vì tai nạn? Có ai thương tôi không? Tất cả những câu hỏi đó cũng đến từ nỗi thống khổ này và những suy nghĩ dựa trên những nỗi thống khổ đó.

Tuy nhiên, khả năng ý thức, khả năng làm người có chánh niệm sẽ cứu chúng ta. Ý thức đó sẽ giúp chúng ta biết rằng môi trường hành tinh xanh này là của tất cả mọi loài, và ta nhận ra rằng loài người đang hủy hoại môi trường sống này. Khi người ta ý thức những nỗi khổ đau do áp lực chính trị, bất công xã hội gây ra, họ sẽ có khả năng dừng lại những gì họ đang làm và giúp những người khác dừng lại để đi về một hướng khác, đó là hướng bảo hộ hành tinh xanh. Ý thức của chúng ta đưa đến những lo lắng, bất an, sầu khổ. Nhưng nếu ta biết cách sử dụng ý thức đó, biết cách sử dụng chánh niệm đó, ta sẽ có khả năng thấy được tình trạng của chúng ta. Chúng ta sẽ biết những gì chúng ta nên hay không nên làm để chuyển hóa tình trạng, mang lại bình an, hạnh phúc và cuộc sống tươi đẹp cho tương lai.

Ngồi thiền không phải để đạt được giải thoát giác ngộ trong tương lai. Khi ngồi ta có cơ hội có mặt hoàn toàn cho chính mình. Chúng ta thở như thế nào để chúng ta thực sự sống trọn vẹn, hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại, trong cái bây giờ và ở đây. Có thời gian để ngồi, có thời gian để đi, có thời gian để đánh răng, để tận hưởng dòng nước mát đang chảy trên đôi tay, đang tẩy sạch xà phòng khi mình rửa tay, đó là văn minh.

Khi ăn cơm, chúng ta ăn như thế nào để sự thảnh thơi, nhẹ nhàng, khinh an và hạnh phúc có mặt, bởi vì ăn cơm chung với nhau là một sự thực tập sâu sắc. Cũng giống như thở, ngồi, đi và làm việc, ta ăn như thế nào để tổ tiên của ta cùng ăn với ta. Cha ta cùng ăn với ta, mẹ ta cùng ăn với ta, ông bà nội ngoại cùng ăn với ta. Ngồi thoải mái thảnh thơi như một người tự do, không có chuyện gì ràng buộc, không lo lắng buồn khổ. Đức Bụt dạy ta khi ăn đừng để đánh mất mình trong những suy nghĩ và những cuộc chuyện trò vô nghĩa. Chúng ta nên an trú trong phút giây hiện tại để tiếp xúc sâu sắc với thức ăn và với mọi người chung quanh. Ăn như thế nào mà hạnh phúc, nhẹ nhàng, bình an có mặt để cho tổ tiên và con cháu ta được thừa hưởng lợi lạc.

Khi tôi còn là một cậu bé bốn, năm tuổi, mỗi khi đi chợ về mẹ tôi thường mua cho tôi một cái bánh đậu xanh. Khi mẹ đi vắng, tôi thường ra vườn chơi với những viên sỏi và những chú ốc sên. Khi mẹ tôi về, tôi rất hạnh phúc, chạy vào cầm chiếc bánh mẹ cho rồi chạy ra vườn ăn. Tôi biết là tôi không nên ăn nhanh, tôi phải ăn thật chậm rãi, càng chậm càng tốt. Tôi chỉ cắn từng miếng thật nhỏ quanh phần rìa chiếc bánh, nhai thật chậm cho chất ngọt thấm vào miệng và ngước nhìn lên bầu trời. Rồi nhìn xuống con chó, con mèo. Tôi ăn bánh như vậy đó, phải mất nửa tiếng mới ăn hết chiếc bánh. Tôi không lo lắng gì cả. Tôi không nghĩ về danh vọng, địa vị hay lợi nhuận. Vì vậy chiếc bánh tuổi thơ là một ký ức tuyệt vời mà tôi không bao giờ quên được. Tất cả chúng ta đều sống qua những giây phút đẹp đẽ như thế khi chúng ta không tham đắm, hối tiếc bất cứ điều gì. Ta sẽ không đặt ra những câu hỏi triết học như ‘tôi là ai’ nữa. Bây giờ ta có khả năng ăn một chiếc bánh, uống một tách trà như thế không? Ta có khả sống với chính mình một cách hạnh phúc trong môi trường chúng ta đang sống không?

Chúng ta có thể học đi trở lại, chậm rãi như một người tự do, không một bóng ma nào có thể đuổi theo sau lưng ta. Chúng ta phải học cách ngồi, ngồi cho khỏe nhẹ, thoải mái như thể ta đang ngồi trên hoa sen mà không phải ngồi trên một đống than hồng. Ngồi trên than hồng ta sẽ đánh mất bình an. Chúng ta sẽ học cách thở, cách mỉm cười, cách nấu ăn. Mẹ ta đã dạy cho ta cách ăn, cách uống, cách đứng, cách đi, cách nói năng, mẹ ta dạy cho ta mọi thứ. Bây giờ ta phải học lại tất cả những thứ ấy bằng chánh niệm. Như thế chúng ta sẽ được tái sinh trở lại trong ánh sáng ý thức chánh niệm.

Bồ đề tâm

Bồ đề tâm là tâm giác ngộ, là sơ tâm. Khi chúng ta có cảm hứng muốn thực tập để chuyển hóa nỗi khổ đau trong ta và giúp những người quanh ta đang đau khổ cũng được chuyển hóa, cái tâm của giây phút đó rất đẹp. Đó là tâm của một vị Bồ tát, đã đạt tới giải thoát giác ngộ, muốn giúp đỡ cho tất cả chúng sanh. Có khi ta gọi đó là tâm thương yêu. Vì tình thương yêu mà ta thực tập. Chúng ta không muốn chỉ có trốn chạy khổ đau thôi, ta muốn nhiều hơn thế. Chúng ta muốn chuyển hóa nỗi khổ đau và đạt được giải thoát để giúp đỡ nhiều người chuyển hóa nỗi khổ đau của họ. Là quý thầy, quý sư cô hay cư sĩ, chúng ta phải giữ cho tâm ấy lớn mạnh, bởi vì đó là một nguồn năng lượng rất hùng hậu. Chúng ta sẽ được nuôi dưỡng bởi nguồn năng lượng ấy. Nhờ nguồn năng lượng này mà chúng ta thực tập giới luật tinh chuyên. Chúng ta sẽ đủ năng lượng để đối diện và đi ra khỏi những khó khăn trong cuộc sống. Vì vậy nuôi dưỡng tâm thương yêu, gìn giữ sơ tâm, làm lớn mạnh bồ đề tâm là một sự thực tập rất quan trọng. Đừng để cho nó chết đi sau vài ba năm thực tập.

Tôi rất hạnh phúc giữ cho sơ tâm của mình lớn mạnh và bền bỉ, điều đó không có nghĩa là trên con đường thực tập tôi không gặp những chướng ngại. Thực tế tôi gặp rất nhiều chướng ngại, nhiều khó khăn trắc trở. Nhưng tôi không bỏ cuộc, bởi vì bồ đề tâm, sơ tâm trong tôi luôn luôn lớn mạnh. Vì vậy ta nên biết rằng mỗi khi tâm bồ đề còn hùng mạnh thì ta không cần phải lo lắng gì nữa cả. Cho dù gặp nhiều khó khăn trên đường đi, ta cũng có khả năng vượt qua. Khi nào thấy bồ đề tâm trong ta suy yếu thì khi đó ta biết ta sẽ gặp hiểm nguy lớn, bởi vì bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra nếu tâm bồ đề trong ta suy yếu. Cho nên ta hãy nuôi dưỡng bồ đề tâm, gìn giữ vị Bồ tát trong mình suốt đời, đừng để cho nó suy yếu đi. Chúng ta sẽ là những người hạnh phúc. Và ta có khả năng chế tác hạnh phúc cho nhiều người.