Vị trụ trì giỏi của Tổ Đình

Phương Khê, ngày 12 tháng 06 năm 2006,
Thân gửi Sư thúc Chí Mậu,

Tôi nhớ hồi Sư thúc ở bên này mình đã có dịp ngồi chơi và đi chơi với nhau thật nhiều lần. Sáng nào ngồi thiền cũng có mặt Sư thúc, trưa nào ăn cơm với chúng cũng có Sư thúc, buổi thiền hành nào tại xóm Thượng, xóm Mới hay xóm Hạ cũng đều có Sư thúc đi bên cạnh tôi. Các sư em luôn muốn được gần gũi với Sư thúc. Chúng ta đã có cơ hội bàn tới tương lai và hướng đi của Tổ đình. Ngày hôm nay Sư thúc đã đưa Tổ đình ra khỏi được vòng tranh chấp, và năng lượng tu tập của đại chúng cũng như chất lượng hạnh phúc của đại chúng trong Tổ đình rất cao, điều này đang tạo ra nhiều niềm tin và hạnh phúc cho thật nhiều người. Tôi đã chứng kiến được sư tu tập và chuyển hóa của Sư thúc. Ngày xưa một mình Sư thúc lo cho Tổ đình, bây giờ Sư thúc đã buông bỏ được quyền hành và tiền bạc và để cho đại chúng trực tiếp điều hành việc chùa, đó là một sự thay đổi rất lớn. Sư thúc lại có khả năng ân cần tiếp cận và nâng đỡ các vị đệ tử để cho tình thầy trò và huynh đệ càng ngày càng bền chặt; đó là một sự thực tập hết sức quý hóa và cần thiết. Tôi nghĩ lịch sử sẽ ghi tên Sư thúc như là một trong những vị trú trì giỏi nhất của Tổ đình.

Từ Hiếu đang nổ lực để trở thành một Tổ đình gương mẫu cho thời đại mới, cung cấp những giáo lý và thực tập có khả năng giúp người trí thức và thanh niên thời đại mới chuyển hóa và đi tới. Công việc của Sư thúc cùng các thầy ở Tổ đình bây giờ là sư tiếp nối quan trọng của công việc mà các nhà chấn hưng Phật giáo tại Huế như các hòa thượng Thiền Tông, Trúc Lâm, các vị giáo thọ trẻ thời ấy như Mật Khế, Mật Thể, các vị cư sĩ giỏi thời ấy như Lê Đình Thám v.v.. đã làm trong những năm từ 1930 đến 1945. Nếu không có những người can đảm như thế thì làm sao có được hội An Nam Phật học và Tổng hội Phật Giáo Việt Nam để đi đến một giáo hội Thống Nhất các tông phái?

Cho nên tôi mong muốn Sư thúc và các vị cộng sự nhớ rằng chúng ta đang tiếp nối công trình chư tổ, đẩy bánh xe lịch sử Phật giáo đi tới, và không sờn lòng trước những trở ngại mà thời nào cũng có, nơi nào cũng có.

Thân chúc Sư thúc cùng tất cả đại chúng Tổ đình một mùa Kiết hạ nhiều hạnh phúc.

 

Kính thư
Nhất Hạnh


Kết hợp

Nội viện, ngày 06 tháng 12 năm 2006,
Thư gởi các Thầy, các Sư cô và các vị Phật tử cư sĩ, các đạo tràng Từ Hiếu và Diệu Nghiêm

Hôm thứ sáu vừa qua, không biết các Thầy đã đốt lò sưởi ở thiền đường Nước Tĩnh ở xóm Thượng bằng thứ củi nào mà làm cho thiền đường thơm quá, tôi ngồi thiền trong ấy với đại chúng chùa Pháp Vân mà thấy dễ chịu quá chừng. Ở xóm Thượng nhiều khi các Thầy cũng đốt những thứ hương rất thơm và rất ngọt, nhưng chưa hề có thứ hương nào cho ta cảm giác sảng khoái như thứ hương của loại đốt trong lò sưởi hôm ấy. Tôi biết trận bão mùa thu đã làm gãy đổ nhiều cây tùng trên xóm Thượng, và chắc chắn là thứ gỗ mà các Thầy, các sư chú bỏ vào lò hôm ấy thuộc về một loại tùng gỗ rất thơm, theo tôi thì không có thứ gỗ chiên đàn nào bì kịp.

Mùa An cư kết đông năm nay tôi rất phong lưu dù tôi không bỏ một buổi pháp thoại nào hay một buổi ngồi thiền nào hay một buổi cơm trưa nào của đại chúng. Gần như mỗi ngày tôi đều có đi thiền hành xuống chùa Sơn Hạ dưới chân núi Thệ Nhật, thường là vào buổi sáng, mỗi buổi đi thiền như thế kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ. Nhưng buổi đi thiền một mình như vậy rất là dễ chịu, dù rằng mỗi tuần đi thiền hành chung với đại chúng ba lần cũng đem lại cho tôi rất nhiều hạnh phúc. Từ thất Ngồi Yên tôi đi xuống rừng sồi lá đỏ rồi băng qua rừng tùng để xuống Sơn Hạ. Đã tháng chạp tây rồi mà ở đây còn ấm quá, cỏ còn xanh và lá vàng mùa thu rụng trên cỏ vẫn còn tươi. Hành tinh của mình thật là quý giá; tưởng tượng đi trên mặt trăng ta không thấy một lá cỏ hay một tờ lá vàng. Thấy được như vậy mỗi bước chân đem lại rất nhiều hạnh phúc. Rừng tùng còn trẻ, hai chàng Yannick và Utam đã dọn rất sạch, thành ra con đường tùng xuống Sơn Hạ đi rất dễ chịu, có khoảng chín ngàn cây tùng trong vùng đất này, tôi đã từng đưa Thầy Chí Mậu đi trên con đường này hai lần. Ngày xưa còn là chú điệu chưa biết đi thiền hành trên đồi Dương Xuân trước cửa tam quan Từ Hiếu. Lớn lên làm vị giáo thọ có nhiều việc ưa làm thành ra không có cơ hội thưởng thức từng bước chân thảnh thơi an lạc trên ngọn đồi thông ấy. Hai năm trước được về trở lại quê hương tôi đã dẫn chúng xuất gia đi thiền hành lên đồi thông Từ Hiếu và mỗi bước chân đều tiếp xúc được rất sâu sắc với thực tại. Đúng như lời vua Trần Thái Tông nói: ‘bộ bộ đạp trước thực địa’. Hạnh phúc của từng bước chân rất lớn. Trong khóa tu người xuất gia tổ chức tại Tổ đình Từ Hiếu, những buổi thiền hành qua hồ Sao Mai lên đồi Dương Xuân, thật là những giờ phút mầu nhiệm. Tôi an trú trong giờ phút hiện tại không ít hơn một trăm phần trăm trong từng bước chân, không hề có một cố gắng nào. Đúng là “this is it”. Xin các vị trong tứ chúng Từ Hiếu và Diệu Nghiêm đừng bỏ lỡ cơ hội. Hãy bước những bước chân an lạc, chánh niệm cho Bụt, cho chư tổ, cho đất nước và cho thành phố Huế. Tôi tin rằng mỗi ngày quán niệm các Thầy các sư cô và các Phật tử cư sĩ đều đi thiền hành qua các hồ Sao Hôm, Sao Mai và lên đồi Từ Hiếu rồi ngồi thiền trên ấy chừng hai mươi phút rồi mới trở về.

Tôi nghe quý vị có nhiều hạnh phúc khi được tu học dưới sự che chở của Sư Bà Diệu Nghiêm và Ôn Trú trì Từ Hiếu và rất mừng cho Huế. Tôi nghĩ Từ Hiếu và Diệu Nghiêm tu học cho có hạnh phúc và mỗi ngày xây dựng cho bền vững tình huynh đệ, đó là hai tặng phẩm đẹp nhất cho Huế. Khóa tu cho người xuất gia tổ chức tại Tổ đình hai năm về trước đã lấy chủ đề là Tình huynh đệ trên hết. Có tình huynh đệ, ta sẽ không bao giờ để cho ai chia rẽ chúng ta. Mười bốn năm trước, Phật giáo bị chia rẽ trầm trọng, tại vì chúng ta còn khờ dại. Có người sợ sức mạnh của Phật giáo Huế cho nên cố tình chia rẽ chúng ta, họ muốn cho Phật giáo Huế tê liệt để đừng làm gì có hại cho họ đó là tri giác sai lầm về phần họ. Mình tu học thì duy trì được đạo đức, khiến cho những tệ nạn xã hội giảm bớt thì mình góp phần vào việc xây dựng an ninh xã hội, chứ có gì mà họ phải sợ. Họ làm cho các nhóm gia đình Phật tử ghét nhau, chống nhau. Họ làm cho các vị trưởng thượng giận nhau, chống nhau. Và chúng ta đã phải gánh chịu tình trạng tê liệt trong 12 năm. May mắn được chư Tổ gia hộ nên cách đây hai năm chúng ta đã về tụng giới với nhau được. Kỳ này chúng ta nhất định đề cao cảnh giác để họ không còn chia rẽ chúng ta. Xin các Thầy và các sư cô đọc lại các bài giảng trong khóa tu Tăng ni tại chùa Từ Hiếu. Các bài này đã được phiên tả in thành sách, với nhan đề là Dựng Xây Tình Huynh Đệ. Sống theo đúng tình thần của khóa tu ấy, chúng ta sẽ không bao giờ lặp lại lỗi lầm của 16 năm về trước. Chúng ta phải tìm cách giúp họ, cho họ thấy rằng con đường phụng sự đất nước và làm đẹp cho Huế của chúng ta là con đường tu học, không phải là con đường chính trị. Họ mà hiểu cho chúng ta thì họ sẽ không còn nghi ngờ và sợ hãi, mà chúng ta sẽ có nhiều an ổn và hạnh phúc lớn.

Vấn đề của chúng ta vốn rất nhỏ. Có một vài vị trưởng thượng có khuynh hướng thủ cụ, chưa chấp nhận được đường hướng và pháp môn tu học của chúng ta, không thấy thoải mái khi chúng ta chỉ dùng tiếng Việt mà không dùng chữ Hán, khi chúng ta tổ chức tu tập không như một đoàn thể tứ chúng, khi chúng ta đi theo hướng không còn kỳ thị người nữ. Ta chỉ cần kiên nhẫn thì một ngày nào đó các vị ấy sẽ thấy được con đường ta đi là con đường mà các thế hệ tương lai thế nào cũng phải đi. Chúng ta đang ở vào thời đại toàn cầu mà! Cho nên dù các vị có rầy la chê trách, chúng ta không nên giận hờn oán trách mà phải tìm cách lễ phép ôn hòa giúp cho các vị từ từ hiểu được mà chấp nhận chúng ta. Đừng để người ngoài lợi dụng đôi chút khác biệt về ‘cũ mới’ ấy mà chia rẽ chúng ta, làm cho chúng ta trách móc và thù nghịch nhau. Tôi đã xem Ôn như một người em trong đạo từ lúc Ôn còn hai mươi tuổi. Thầy Chí Thắng cũng là em của tôi. Thầy Thái Hòa và thầy Viên Đức cũng là cháu của tôi. Các vị có thể có vài cái thấy không giống tôi, nhưng không bao giờ tôi có thể nhìn các vị ấy là người thù nghịch được. Tôi đã khôn lớn rồi có phải không? Tuệ giác của tôi đủ để che chở cho tôi và cho các vị ấy, xin quý vị đừng lo. Tôi tin chắc là nếu chúng ta thực tập theo lối của tình huynh đệ, thì chúng ta sẽ không thấy ai là kẻ thù, và sẽ không bao giờ bước vào cái bẫy pháp nạn nào nữa.

Bên này đại chúng bắt đầu chuẩn bị cho đại giới đàn Văn Lang và mới nhận tin là có sáu vị Hòa Thượng và Thượng Tọa từ quê hương đã nhận lời qua tham dự vào hội đồng truyền giới. Các vị sẽ được mời cư trú tại tăng xá xóm Thượng để chứng kiến được tình huynh đệ trong nếp sống tu học hằng ngày. Tôi có đức tin rất mãnh liệt là các Thầy các sư cô và các Phật tử cùng các thân hữu của hai đạo tràng Từ Hiếu và Diệu Nghiêm có đủ thương yêu và tuệ giác để nuôi dưỡng được hạnh phúc trong hiện tại và trong tương lai. Chúng ta hãy nhớ thực tập cho im lặng và cho khiêm cung thì không có lý do gì mà chúng ta không hoàn thành được chí nguyện.

Tôi cầu chư Bụt chư Bồ tát và các vị Tổ sư ngày đêm che chở cho liệt vị.

Nhất Hạnh

Thầy thở con thở

Chùa Sùng Phúc, Hà Nội, ngày 27.4.2007

Hôm qua ngồi trên võng bên cạnh thất, thầy thấy rõ là dù đang ở đâu các con cũng đang tiếp nối thầy bằng cách này hay cách khác hoặc bằng nhiều cách khác nhau cùng một lần. Nơi nào có con ngồi thì có thầy ngồi, nơi nào có con thở thì có thầy thở, nơi nào có con đi thì có thầy đi, nơi nào có con mỉm cười thì có thầy mỉm cười. Trong chuyến đi này những vị đi với thầy đều tu tập và làm việc hết mình, thầy cũng vậy, dù có những lúc mệt, thiếu ngủ, thiếu nghỉ ngơi nhưng lúc nào ai cũng thấy được năng lượng của tăng thân bảo hộ, che chở và nâng đỡ. Các trai đàn chẩn tế nhờ quốc dân yểm trợ và cầu nguyện hết lòng đã làm cảm động cả quỷ thần và trời đất. Mấy ngày hôm nay Hà Nội rất mát mẻ nhờ những trận mưa Cam Lộ đổ xuống sau trai đàn chẩn tế Sóc Sơn. Mọi loài mát mẻ sống an vui …

Tối hôm qua thầy trù trì chùa Sùng Phúc và các sư em Bát Nhã, Từ Hiếu và Diệu Nghiêm đã được mời tới tham dự và hộ niệm cho buổi pháp thoại nói bằng Anh ngữ tại khách sạn Melia ở Hà Nội, một khung cảnh mà lần đầu tiên quý vị ấy bước tới, rất khác với khung cảnh chùa. Khách sạn Melia năm sao quá sang trọng, và người nghe toàn là người ngoại quốc. Chắc thầy trú trì và các sư em cũng lấy làm lạ là pháp môn cũng đi tới được những nơi chốn như thế này.

Thầy biết dù đang ở đâu con cũng theo dõi chuyến đi gần như mỗi ngày và ngày nào thầy cũng nhận được năng lượng yểm trợ của các con gởi tới. Chuyến đi này giống như một mũi thuốc bổ chích vào cơ thể đất nước, chất thuốc từ từ thấm vào mọi ngỏ ngách của cơ thể, mình có thể cảm nhận được hiệu lực nuôi dưỡng và chuyển hóa của chất thuốc.

Trong tuần nữa trung tâm Bích Nham ở New York sẽ bắt đầu hoạt động, thầy nghĩ là đạo tràng này sẽ đem lại rất nhiều hạnh phúc cho chúng ta và cho nhiều thiền sinh các tiểu bang miền Đông Bắc. Đạo tràng sẽ rất đẹp và rất ấm cúng, đây là một tin mừng cho tất cả chúng ta.

Chúng ta giống như một đàn gà con vừa mới mổ phá được vỏ trứng để thoát ra ngoài, có nhiều không khí và ánh sáng. Chúng ta đang chiêm chiếp gọi đàn và biết rằng không ai trong chúng ta còn muốn chun trở lại trong chiếc vỏ trứng. Có rất nhiều con gà con còn thơ dại, nhưng tất cả đều lớn lên rất mau. Ở đâu chúng ta cũng đang chiêm chiếp gọi đàn và chúng ta biết là chúng ta đang có nhau, đang có mặt khắp nơi và mỗi chúng ta đại diện cho tất cả mọi chúng ta, bởi vì chúng ta không phải là một thực tại riêng lẻ mà là một tăng thân. Thầy biết bất cứ cái gì con làm sáng nay cũng là để hồi hướng cho tăng thân, làm hạnh phúc cho tăng thân, và thầy có niềm tin nơi tất cả các con. Thầy đang đi với chân của tất cả các con và thở bằng phổi của tất cả các con, và thầy cũng biết là con đang đi cho thầy và đang thở cho thầy.

Giây phút hiện tại rất mầu nhiệm! Con đừng bỏ qua rất uổng. Thầy gởi tới tất cả các con niềm tin cậy và thương yêu của thầy.

Nhất Hạnh

Tái bút:  Sáng nay thầy đi Ninh Bình. Hy vọng có thì giờ đi thăm cố đô Hoa Lư và chùa Bích Động! Thầy sẽ ngắm cho các con.

Bảo tháp tình huynh đệ

Trong quá trình tổ chức ba Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại Việt Nam đầu năm 2007, các vị tôn túc cùng chư vị cư sĩ đã tới với nhau bằng trái tim thuần khiết để cùng kiến lập Trai Đàn cũng như để cầu nguyện giải trừ oan khổ cho mọi tầng lớp đồng bào tử vong trong cuộc chiến, không phân biệt Nam, Bắc, tôn giáo và khuynh hướng chính trị. Trong quá trình kiến lập trai đàn và cầu nguyện cho chư hương linh, sự chân thành của mọi giới Phật tử đã xây đắp lên một tình huynh đệ rất đẹp. Thầy Làng Mai nói đó là một bảo tháp của Tình Huynh Đệ, tuy không hình tướng, nhưng sẽ đứng mãi với thời gian. Xin đọc lá thư Thầy Làng Mai gửi cho Thượng tọa Lệ Trang, sám chủ Đại Trai Đàn Chẩn Tế Bình Đẳng Giải Oan tại chùa Vĩnh Nghiêm.

 

Mai Thôn, 18.07.07.
Kính gửi Thượng tọa Lệ Trang.

Các Đại Trai đàn Chẩn tế Bình đẳng Giải oan được tổ chức tại quê hương đầu năm nay đã làm ấm lòng bao nhiêu đồng bào và giúp cho không biết bao nhiêu người bớt khổ. Tuy trở ngại khá nhiều, khó khăn cũng không ít, nhất là ở miền Trung và miền Bắc, nhưng tình huynh đệ đã tạo ra được phép lạ giúp chúng ta vượt thoát những trở ngại và khó khăn kia, trong đó kể cả những kỳ thị, lo lắng, thờ ơ, sợ hãi và nghi ngờ. Trong khi thiết lập trai đàn, anh em chúng ta cũng đã xây lên được một Bảo tháp của Tình huynh đệ, một bảo tháp tuy không có hình tướng, nhưng rất hiện thực và không có một ai có khả năng phá đổ. Chúng ta, từ giới xuất gia cho đến giới tại gia, đã tìm tới với nhau để kiến lập các trai đàn với một trái tim thuần khiết, một tình thương không phân biệt không kỳ thị, không hề vướng một chút lợi hoặc một chút danh. Chúng ta ai cũng chỉ nghĩ đến chuyện đóng góp mà không ai nghĩ đến chuyện được đền đáp. Chúng ta đã đến với nhau để cùng chú nguyện, cùng hộ niệm, cùng khóc thương, để giải tỏa niềm đau, nhờ đó mà những oan khổ lâu nay của những người đã chết và cả những người còn sống đã có cơ hội giải trừ và tiêu tán. Hiệu quả trị liệu được trông thấy rõ ràng, làm cảm động cả trời đất, những cơn mưa trái mùa đã đổ xuống sau mỗi đại trai đàn làm mát dịu biết bao tấm lòng. Chư vị tôn đức trong ban chứng minh và các ban kinh sư đã làm việc hết lòng mà các giới Phật tử tại gia cũng đã đem hết khả năng và tâm thành để góp sức kiến đàn và cầu nguyện. Hình ảnh ấy, tình huynh đệ ấy, tôi thấy không có gì đẹp hơn. Trong dịp kiến lập các đại trai đàn này, tôi thấy lại được tình huynh đệ của năm 1963, khi Phật tử Việt Nam tới với nhau với niềm thương cảm và một trái tim thuần khiết, vô úy và thánh thiện. Điều này làm tôi giữ được niềm tin nơi khả năng của Phật tử Việt Nam trong cuộc vận động hiện đại hóa đạo Bụt để nền đạo lý dân tộc có đủ khả năng giúp người đương thời chuyển hóa được những khó khăn và khổ đau mới của họ. Tôi xin cám ơn Thượng tọa đã gửi qua Mai thôn chiếc bình Tịnh thủy đã được sử dụng ở Đại Trai Đàn Vĩnh Nghiêm. Với lá thư này, đạo tràng Mai Thôn kính thỉnh Thượng tọa qua Mai thôn một vài tuần thăm viếng và nếu có thể, dạy dỗ thêm cho các huynh đệ bên này về lễ nhạc Phật giáo. Sự có mặt của Thượng tọa sẽ đem lại nhiều cảm hứng và niềm vui cho tứ chúng bên này.

Kính thư,
Nhất Hạnh

Ngồi giữa gió thu

 Tu viện Bích Nham, ngày 12 tháng 10 năm 2007
Thân gửi các con của Thầy ở khắp nơi,

Bích Nham vào mùa Thu rất đẹp. Rừng núi điểm tô bằng lá thu đủ cả mọi sắc màu. Ngày hôm nay, bắt đầu vào 11giờ sáng, thiền sinh khắp nơi sẽ bắt đầu có mặt cho một khóa tu với chủ đề là Ngồi Giữa Gió Thu. Số người muốn ghi tên rất đông nhưng tu viện không thể tiếp nhận được hết, phải từ chối hàng trăm người. Các thầy, các sư cô và các Phật tử cư sĩ trong ban tổ chức cảm thấy lòng áy náy, nhưng không biết làm sao. Đây là khóa tu lớn đầu tiên của Bích Nham. Ai cũng muốn đến tu tập với tăng thân, đồng thời “coi mặt” tu viện mới.

Trưa hôm 9 tháng 10 năm 2007, tạp chí Time Magazine có đến phỏng vấn Thầy về những biến cố ở Miến Điện và về vấn đề hâm nóng trái đất. Buổi phỏng vấn truyền hình sẽ được đưa lên trực tuyến. Về Miến Điện, Thầy có nói là các vị xuất gia bên ấy đã can đảm đứng dậy đưa đường chỉ lối cho toàn dân về vấn đề nhân quyền và dân chủ. Các vị đã tỏ ra xứng đáng là những người lãnh đạo tâm linh của đất nước. Đất nước và dân tộc không thể không có một chiều hướng tâm linh (spiritual dimension). Đời người cũng không thể thiếu vắng một chiều hướng tâm linh. Thiếu một con đường tâm linh, ta sẽ không có khả năng đối diện với khổ đau, chuyển hóa khổ đau và hiến tặng được gì cho cuộc đời. Người không có đường đi là người đi trong bóng tối. Có đường đi rồi, ta sẽ không còn lo sợ. Các thầy ở Miến Điện đã đưa đường chỉ lối cho đất nước, cho dân tộc của họ. Tuy họ đang bị đàn áp, tù đày hoặc giết chóc, nhưng tâm của họ rất an, vì họ đã làm được việc họ phải làm: cung cấp cho đất nước và dân tộc họ vai trò lãnh đạo tâm linh (spiritual leadership). Các vị đã làm xong nhiệm vụ của họ. Các tầng lớp dân chúng trong nước mỗi khi nghĩ đến các vị ấy là thấy lòng mình xúc động: chính năng lượng của tình thương và của niềm tin ấy sẽ là động lực nuôi dưỡng hành động của họ để mang lại nhân quyền và dân chủ cho đất nước họ. Thế giới đang yểm trợ Miến Điện, như thế giới đã từng yểm trợ cuộc tranh đấu của Phật tử và đồng bào Việt Nam trong những năm sáu mươi trong cuộc vận động tranh đấu cho dân quyền và tự do dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm. Không phải chỉ một Phật tử đứng lên mà toàn thể các Phật tử cùng đứng lên một lượt. Bây giờ ở Miến Điện cũng thế. Không phải chỉ một thầy đứng lên mà tất cả các thầy đều đứng lên. Đây mới thực sự là lãnh đạo tâm linh.

Thầy cũng đã nói thêm với tuần báo Time: Chúng tôi ở trên thế giới cũng đang trông chờ các nhà lãnh đạo tâm linh ở đất nước Hoa Kỳ đứng dậy để cung cấp cho dân chúng Hoa Kỳ sự lãnh đạo tâm linh ấy để tang tóc và đau thương có thể được chấm dứt sớm tại đất nước Iraq. Các vị nên cùng đứng lên một lượt với một tiếng nói rất rõ ràng để giúp cho dân chúng tỉnh thức và thấy được con đường đi. Cái thấy của dân đã tỏ, tâm ý của dân đã quyết thì chính quyền không thể không làm theo. Cuộc chiến ở Việt Nam đã được chấm dứt cũng nhờ sự thức tỉnh của toàn dân Hoa Kỳ lúc ấy.

Ngày 6 tháng 10 năm 2007 vừa qua, trong khi hướng dẫn một ngày quán niệm cho 1.800 nhà tâm lý trị liệu tại trường Đại Học California (UCLA) ở Los Angeles, các thầy và các sư cô Lộc Uyển và Làng Mai đã đắp y sau giờ pháp thoại, trì tụng bài “May The Day Be Well” và xướng danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm (Namovalokitesvaraya) để gửi năng lượng cho các thầy và các Phật tử Miến Điện. Ông Thống đốc tiểu bang California cùng phu nhân cũng đã tới nghe Thầy giảng thuyết và tham dự trọn ngày chánh niệm hôm ấy. Các thầy và các sư cô trước khi tụng kinh đã nói rằng tăng thân Làng Mai và Lộc Uyển muốn tỏ tình liên đới với các đồng đạo xuất gia và tại gia của họ tại Miến Điện. Sau đó, một bản nghị quyết hai điểm đã được đọc lên. Điểm thứ nhất là đề nghị Hội Đồng Liên Hiệp Quốc cấp tốc gửi một phái đoàn điều tra (U.N. Fact Finding Delegation) sang Miến Điện, một phái đoàn đại diện nhiều nước, như phái đoàn mà Liên Hiệp Quốc đã gửi về Việt Nam vào tháng 9 năm 1963. Điểm thứ hai là xin Hội Đồng Quốc Tế Thế Vận Hội vận động với Trung Quốc để Trung Quốc có thể làm áp lực trên các tướng lĩnh ở Miến Điện trong chiều hướng dân chủ hóa đất nước. Tất cả mọi thành phần tham dự trong ba ngày hội nghị Tâm lý Trị liệu tại trường UCLA trong giờ phút ấy đã đứng dậy để đồng lòng yểm trợ bản nghị quyết này, trong đó có ngài Thống Đốc Tiểu Bang California. Giới báo chí đã có mặt trong ngày sinh hoạt hôm ấy. Hội trường đã im lặng tuyệt đối trong giờ phút ấy, làm cho năng lượng tập thể của đại chúng trở nên rất hùng hậu.

Về vấn đề hâm nóng trái đất, Thầy đã kể cho tạp chí Times câu chuyện cặp vợ chồng trẻ ăn thịt đứa con trai còn bé của họ, câu chuyện mà đức Thế Tôn đã kể lại trong Kinh Tử Nhục. Cặp vợ chồng trẻ này trên đường vượt biên tỵ nạn với đứa bé trai nhỏ tuổi đã phải đi ngang qua một sa mạc. Do thiếu kiến thức địa lý, họ đã lâm vào trường hợp hết lương thực khi mới vượt được nửa đường qua sa mạc. Họ biết là cả ba sẽ chết trong sa mạc, không còn hy vọng gì qua tới nước xin tỵ nạn. Cuối cùng họ quyết giết đứa con trai, mỗi ngày mỗi người ăn một miếng thịt của đứa con để có sức tiếp tục đi. Phần còn lại họ vác trên vai để phơi khô. Mỗi lần ăn xong một miếng thịt con, hai người nhìn nhau và hỏi nhau: đứa con thân yêu của chúng ta bây giờ ở đâu? Họ chảy nước mắt, đấm ngực và than khóc. Nhưng rồi cuối cùng họ ra khỏi sa mạc và được chấp nhận làm dân tỵ nạn ở đất nước mới. Sau khi kể câu chuyện thương tâm này, đức Thế Tôn nhìn các thầy và hỏi: Quí vị có nghĩ rằng cặp vợ chồng kia cảm thấy hạnh phúc khi ăn thịt đứa con mình hay không? Các thầy đáp: Bạch đức Thế Tôn, họ cảm thấy rất khổ đau khi ăn thịt con. Bụt dạy: Này liệt vị, chúng ta phải tập ăn như thế nào để có thể gìn giữ được chất liệu từ bi trong trái tim chúng ta. Ta phải ăn trong chánh niệm. Nếu không, ta có thể đang ăn thịt của đứa con của chính mình.

Tổ chức UNESCO đã từng báo cáo rằng mỗi ngày có khoảng 40.000 trẻ em chết vì thiếu ăn hoặc thiếu dinh dưỡng. Trong khi đó thì bắp và lúa trồng ra ở Tây phương phần lớn là để nuôi bò nuôi lợn nuôi gà hoặc để làm rượu. Trên 80% số bắp và trên 95% số lúa mạch được sản xuất tại Hoa Kỳ là để nuôi súc vật để làm thịt. Súc vật ta nuôi để ăn thịt trên thế giới tiêu thụ số lượng thực phẩm tương đương với số thực phẩm để dành nuôi gần chín tỷ người (8.7 billion), nghĩa là nhiều hơn dân số thế giới.

Ăn thịt và uống rượu với ý thức ấy, ta sẽ thấy ta đang ăn thịt đứa con ruột của chúng ta. Để nuôi súc vật làm thịt ăn, loài người chúng ta đang sử dụng tới 70% diện tích đất nông nghiệp và 30% tổng diện tích của trái đất. Ngay ở Châu Mỹ La Tinh, 70% diện tích của các khu rừng đã phá là để làm đồng cỏ cho bò ăn. Bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 29 tháng 11 năm 2006 cho biết rằng nuôi súc vật để ăn thịt tạo ra nhiều chất khí gây nên hiệu ứng nhà kính nhiều hơn những chất khí do tất cả xe cộ trên trái đất nhả ra( ).

Ông Henning Steinfeld, một viên chức cao cấp của Tổ Chức Nông Lương Quốc Tế (FAO) cho biết là kỹ nghệ nuôi súc vật để bán thịt là một trong những yếu tố quan trọng nhất đưa tới cuộc khủng hoảng sinh môi hiện đại (“the meat industry is one of the most significant contributors to today’s most serious enviromental problems”). Gà, lợn và bò ở các trại chăn nuôi lớn nhả ra những khối lượng khí mê-tan (methane – CH4) vĩ đại, từ sự tiêu hóa và từ phân chúng thải ra. Các nhà khoa học cho biết là khí mê-tan gây hiệu ứng nhà kính hai mươi ba lần nhiều hơn khí CO2 (khí các-bon-níc). Cơ quan Bảo Hộ Môi Trường cho biết là chăn nuôi làm tiết ra khí mê-tan nhiều nhất ở Hoa Kỳ. Ngoài khí mê-tan, lại còn khí đinitơ-oxít (Nitrous Oxide – N2O) mà tiềm năng gây ra hiệu ứng nhà kính còn lớn hơn chất khí CO2 tới 300 lần. Mà khí N2O, cũng theo bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc, là do kỹ nghệ chăn nuôi gây ra.

Nuôi bò, nuôi lợn, nuôi gà, chế biến thực phẩm từ sữa và trứng chịu trách nhiệm chế tác ra khoảng 65% tổng số khối lượng chất khí N2O trên toàn thế giới. Ngành chăn nuôi ở Mỹ thải ra một khối lượng khổng lồ phân thú vật, nhiều gấp 130 lần số lượng phân người trên thế giới, nghĩa là mỗi giây thú vật thải ra tới 97.000 pound phân. Các thứ phân này chảy ra sông hồ làm ô nhiễm nước uống tạo ra không biết bao nhiêu bệnh tật cho mọi loài. Như ta đã biết phần lớn khí N2O do phân chăn nuôi mà phát xuất. Ngành chăn nuôi đã tàn phá hàng trăm triệu mẫu rừng ở khắp nơi trên thế giới. Phá rừng là để trồng bắp, trồng lúa nuôi súc vật và để có đồng cỏ cho bò gặm. Khi rừng bị phá, những khối lượng khí CO2 khổng lồ chứa trong cây cối được nhả ra không trung. Nuôi súc vật để bán thịt cũng làm hao hụt nước của thế giới. Chỉ cần 25 gallon nước là đủ tưới và sản xuất 1kg lúa. Trong khi đó muốn chế tác 1kg thịt thì phải dùng tới 2.500 gallon nước. Đúng như lời đức Thế Tôn dạy, chúng ta đang ăn thịt con cháu chúng ta, ăn thịt cha mẹ ta, ăn thịt cả hành tinh của chúng ta. Kinh Tử Nhục cần được đem ra cho cả loài người học hỏi và thực tập!

Tổ chức Nông Lương Quốc Tế (FAO) khuyên ta nên hành động gấp (Urgent action is required to remedy the situation), ở cả mức độ cá nhân và cộng đồng. Nghĩa là phải giảm thiểu ít nhất là 50% công nghiệp sản xuất thịt. Và như vậy nhân loại phải bỏ ăn thịt bớt 50%.  Bản báo cáo của Liên Hiệp Quốc công bố ngày 29 tháng 11 năm 2006 cho biết rằng dù có giảm bớt 50% kỹ nghệ chăn nuôi thì ta cũng vẫn phải sử dụng những kỹ thuật mới để giúp cho phần kỹ nghệ còn lại ít gây ô nhiễm môi trường hơn, như chọn lựa thức ăn cho súc vật như thế nào để các thức ăn ấy không bị lên men nhiều trong đường tiêu hóa của súc vật. Chính sự lên men này tạo ra nhiều chất khí mê-tan nhất.

Phật tử chúng ta từ trên 2000 năm nay đã biết ăn chay. Chúng ta biết ăn chay là để nuôi dưỡng từ bi, từ bi đối với các loài động vật. Bây giờ ta biết thêm: ăn chay cũng là để bảo vệ trái đất, ngăn ngừa không cho hiệu ứng nhà kính gây nên thiệt hại nặng nề; trong tương lai không xa, khi hiệu ứng nhà kính trở nên trầm trọng, mọi loài sẽ chịu thiệt hại; hàng trăm triệu người sẽ chết, nước biển sẽ dâng lên tràn ngập hàng ngàn thành phố và đất đai canh tác. Nhiều loại bệnh tật hiểm nghèo sẽ phát sinh và tất cả mọi loài đều sẽ phải gánh chịu.

Cả hai giới xuất gia và tại gia chúng ta đã thực tập ăn chay. Tuy số lượng các vị Phật tử cư sĩ ăn chay trường như giới xuất gia chưa nhiều bằng giới xuất gia nhưng ai cũng đã từng thực tập ăn chay hoặc 4 ngày/tháng (tứ trai) hoặc 10 ngày/tháng (thập trai). Thầy nghĩ rằng để cứu được hành tinh, bỏ ăn thịt là một hành động không khó khăn gì mấy. Giới tại gia nên dũng mãnh phát tâm ăn chay trường, ít nhất cũng ăn được 15 ngày trong mỗi tháng, đó là thập ngũ trai, theo lời khuyến cáo của Liên Hiệp Quốc. Làm được như thế, ta sẽ thấy khoẻ trong người, ta sẽ có an vui và hạnh phúc ngay từ giờ phút phát nguyện. Trong các khóa tu năm nay tổ chức tại Hoa Kỳ, rất nhiều Phật tử Hoa Kỳ đã phát nguyện ngưng ăn thịt hoặc bớt ăn thịt 50%, đó là nhờ họ tỉnh thức được sau khi nghe được bài giảng về hiệu ứng nhà kính. Chúng ta hãy thương lấy đất Mẹ, thương lấy muôn loài, trong đó có con cháu chúng ta. Ta chỉ cần ăn chay là cứu được trái đất. Ăn chay ở đây cũng có nghĩa là không tiêu thụ những thực phẩm chế biến từ trứng và sữa bởi vì hai loại ấy là sản phẩm của chăn nuôi. Nếu ta ngừng tiêu thụ thì họ sẽ ngừng sản xuất. Chỉ có một sự tỉnh thức tập thể (collective awakening) mới tạo ra đủ ý chí hành động.

Tháng chạp 2007 này, tu viện Lộc Uyển sẽ có đủ 100% điện lực chế tác từ ánh sáng mặt trời sử dụng cho tu viện. Các chùa thuộc Làng Mai ở Châu Âu và Châu Mỹ của chúng ta cũng đã thực tập mỗi tuần 1 ngày không sử dụng xe hơi và hàng ngàn thân hữu của chúng ta cũng đang thực tập theo. Chúng ta cũng đã bắt đầu sử dụng xe hơi bớt lại, sử dụng xe điện (electric car) và xe chạy bằng dầu thực vật. Những loại này có thể giúp ta giảm bớt 50% số lượng khí CO2 . Mua một chiếc xe nửa xăng nửa điện Prius Toyota, ta giảm bớt được một tấn khí CO2 mỗi năm, nhưng ta vẫn còn phải thải ra 50% khí ấy. Viện Đại Học Chicago cho biết: mỗi người ăn chay có thể ngăn ngừa khoảng 1.5 tấn khí CO2 không cho bốc lên khí quyển nhiều hơn một người ăn thịt.

Các con thấy không? Chỉ cần ăn chay thôi là đủ cứu được trái đất. Mà ai trong chúng ta lại không có kinh nghiệm rằng ăn chay cũng rất ngon. Chỉ có những người chỉ quen ăn thịt mới không thấy được sự thực ấy. Chiều nay khi khóa tu khai mạc, mọi người sẽ được báo tin là trong suốt khóa tu chúng ta sẽ không dùng các thực phẩm làm bằng sữa và trứng. Và tất cả các khóa tu sau này do chúng ta tổ chức đều sẽ như thế. Cố nhiên là các trung tâm tu học của chúng ta ở Á Châu, Âu Châu và Mỹ Châu cũng đều thực tập như thế. Thầy tin chắc thiền sinh sẽ hiểu và sẽ yểm trợ hết lòng. Để cứu đất Mẹ và muôn loài, sự thực tập của chúng ta hiện nay là giúp cho mọi người ý thức về hiểm họa trái đất hâm nóng. Ta biết nếu không có một sự bừng tỉnh tập thể thì trái đất và mọi loài không có cơ hội được giải cứu và cách sống hàng ngày của chúng ta phải chứng minh rằng chúng ta đã tỉnh thức.

Hôm 2 tháng 10 năm 2007, tại trường Đại Học San Diego (USD), Thầy có nói về đề tài lo lắng, sợ hãi và tuyệt vọng liên hệ tới hiểm họa trái đất bị hâm nóng. Số người vì lo sợ và tuyệt vọng mà sinh bệnh càng ngày càng nhiều. Họ thấy nếu con người cứ tiếp tục sống trong tham vọng, hận thù và mê ngủ như hiện nay thì trái đất và muôn loài không thể nào có được một cơ hội thóat khỏi hiểm nguy. Và sẽ có những người trong chúng ta chết vì tâm bệnh trước khi những hiểm họa kia đi tới. Trong buổi giảng, Thầy đã đưa ra phương pháp thực tập mà đức Thế Tôn chỉ dạy: nhìn nhận và chấp nhận sự thật mà đừng trốn tránh nó.

Các con biết là đức Thế Tôn từng dạy ta thực tập nhìn thẳng vào những hạt giống sợ hãi trong ta mà đừng tìm cách che phủ hoặc chạy trốn chúng: Tôi thế nào cũng phải già, phải chết, phải bệnh, tôi không thể nào tránh được cái già, cái chết, cái bệnh. Những gì tôi trân quý hôm nay, những người tôi trân quý hôm nay một ngày mai tôi sẽ phải buông bỏ khi thân thể này tàn hoại, tôi không mang theo được gì hết, ngoài thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp của tôi. Đó là gia tài duy nhất mà tôi có thể mang theo. Thực tập chấp nhận được như thế, mình sẽ có bình an, mình sẽ có khả năng sống lành mạnh và từ bi, không còn gây đau khổ cho mình và cho người khác.

Những người từng bị ung thư hay sida khi được bác sỹ cho biết là mình có các bệnh ấy và chỉ còn có 3 tháng hay nửa năm để sống, thường bắt đầu bằng thái độ phản kháng, phẫn nộ, phủ nhận, tuyệt vọng, không muốn chấp nhận sự thật. Nhưng một khi họ đã chấp nhận được sự thật rồi thì họ bắt đầu có bình an. Có được bình an, họ sẽ có cơ hội tập sống ‘sâu sắc’ từng phút giây của đời sống hàng ngày. Do đó họ có cơ hội sống lâu, có người sống thêm cả 15 năm. Như sư thầy Đàm Nguyện ở Hà Nội. Năm ấy, sư thầy qua Làng Mai với ý muốn được sống với Thầy và tăng thân vài tháng rồi sau đó sẽ về Hà Nội để chết. Vì bác sĩ bảo sư thầy chỉ sống được chừng 3-4 tháng nữa. Khi qua tới Làng Mai, các sư cô đề nghị sư thầy đi bác sĩ, sư thầy không chịu đi. Sư thầy nói không cần. Sư thầy đã chấp nhận cái chết của mình và đã hết lòng sống với tăng thân trong ba tháng từng giây, từng phút. Khi thị thực gần hết hạn, sư thầy chào tăng thân ra về. Một sư chị đề nghị sư thầy đi bác sỹ “khám chơi” cho biết. Sư thầy chiều lòng. Bác sỹ nói những di căn ung thư của sư thầy trong toàn thân đã rút về một nơi và sư thầy hiện đang rất khỏe. Và sư thầy đã về Hà Nội trong niềm vui. Hiện sư thầy vẫn còn sống ở Hà Nội và từ ấy đến nay đã là 14 năm.

Đức Thế Tôn dạy vạn pháp vô thường, có sinh thì có diệt. Nền văn minh hiện tại của chúng ta cũng thế. Trong lịch sử của Trái Đất, nhiều nền văn minh đã từng bị tiêu diệt. Nền văn minh hiện tại của chúng ta nếu có bị tiêu diệt thì đó cũng là theo luật vô thường. Nếu loài người cứ tiếp tục sống u mê và với lòng tham vô đáy như hiện nay thì sự tiêu diệt của nền văn minh này không còn xa nữa. Ta phải chấp nhận sự thật ấy, như là chấp nhận cái chết của chính chúng ta. Chấp nhận được rồi ta sẽ không còn bị đối kháng, phẫn nộ, phủ nhận và tuyệt vọng nữa. Ta sẽ có bình an. Có bình an rồi ta mới biết cách sống như thế nào để cho trái đất có một tương lai, ta mới tới được với nhau trong tình huynh đệ và sử dụng được kỹ thuật khoa học hiện đại mà ta đang có để cứu được hành tinh xanh yêu dấu. Còn nếu không thì ta sẽ bị tâm bệnh mà chết trước khi nền văn minh chấm dứt.

Mẹ ta, Trái Đất, hành tinh xanh, đã từng bị khốn khổ nhiều lần, đã từng khổ đau vì thấy đàn con dại dột. Chúng ta tàn phá đất Mẹ như một loại vi trùng tàn phá một cơ thể con người, vì đất Mẹ cũng là một cơ thể. Nhưng có những loài vi khuẩn rất thân hữu và có ích cho cơ thể con người. Hàng tỷ con như thế đang có mặt trong ta, nhất là trong hệ thống tiêu hóa; chúng giúp bảo vệ cơ thể và chế tác những sinh tố mà ta cần đến. Loài người có thể là những sinh vật có khả năng bảo vệ cơ thể đất Mẹ như thế, nếu loài người tỉnh thức, biết sống có trách nhiệm và từ bi. Đạo Phật ra đời là để ta học sống có trách nhiệm và từ bi. Ta phải thấy được tính cách tương tức, đồng sinh cộng tử giữa ta với đất Mẹ.

Nhưng đất Mẹ đã từng được tái sinh nhiều lần. Sau trận hồng thủy do hiện tượng hâm nóng trái đất gây ra, có thể chỉ còn một phần rất nhỏ nhân loại sống sót. Trái đất sẽ cần trên 1 triệu năm để tái sinh và khoác lên một chiếc áo màu xanh lành lặn tươi đẹp khác, và một nền văn minh mới của loài người sẽ được bắt đầu. Nền văn minh ấy là hậu thân của nền văn minh chúng ta. Đối với con người, 1 triệu năm là lâu lắm, nhưng đối với trái đất, đối với thời gian địa chất (geological time), 1 triệu năm không có nghĩa gì; đó chỉ là một thời gian rất ngắn. Tất cả sinh diệt chỉ là bề mặt. Bất sinh bất diệt mới thật là bản chất của vạn pháp. Đây là giáo lý Trung Đạo của Bụt. Nhưng thơ đã dài, Thầy không muốn nói thêm về giáo lý này ở đây. Khóa tu sắp bắt đầu. Trong nửa giờ nữa. Thầy sẽ ra hướng dẫn với tăng thân. Thầy chúc các con an lành và thực tập giỏi. Hẹn sẽ viết tiếp cho các con trong thư sau.

Thương và tin cậy

Thầy

(Để đọc bản tiếng Anh của lá thư, xin bấm vào đây: http://plumvillage.org/letters-from-thay/sitting-in-the-autumn-breeze)

Giá trị đức dục

Ngày 18.07.2008
Thân gửi các con của Thầy ở Từ Hiếu và Bát Nhã.

Khóa tu mùa Hè ở Mai Thôn đang tiếp diễn và mỗi ngày tu cũng vui như một ngày hội. Thiếu nhi và thanh niên nam nữ tới rất đông, đủ các quốc tịch. Năm nay người Tây Ban Nha tới đông lắm, ở xóm  Thượng có cả trăm người. Thầy phải viết thư pháp tiếng Tây Ban Nha cho họ. Những buổi thiền hành lên đồi xóm Mới rất đẹp không khác gì trong cõi tịnh độ. Những buổi thiền hành đi xuống Sơn Hạ từ xóm Thượng cũng hoành tráng không kém. Thiền sinh rất hạnh phúc được ăn cơm pique –nique ở Sơn Hạ. Mỗi ngày quán niệm tại xóm Mới, thiền sinh xóm Thượng phải sử dụng tới 9 chiếc xe bus. Đó là chưa kể những chiếc bus của xóm Hạ. Năm nay trên pháp tọa thường có  một bé thiếu nhi lên ngồi với Thầy để thay thế cho bình hoa! Đẹp lắm. Các em ngồi rất yên và rất tươi. Lều cắm san sát ở các Xóm. Tuần thứ hai này xóm Thượng đông nhất! Có những gia đình tới tu một tuần thích quá thành xin ở thêm tuần thứ hai, thứ ba! Họ chỉ được phép ở lại nếu chịu cắm lều. Mùa hè này, chúng ta bắt đầu thành lập các đoàn Thanh Niên Phật Tử cho một xã hội lành mạnh và có tình thương (Young Buddhists For a Healthy and Compasionate Society). Các sư em trẻ như Pháp Linh và Hiến Nghiêm đang điều động. Đã có website cho tổ chức này, để tiện liên lạc và yểm trợ cho sự thành lập các đoàn tại mỗi quốc gia.

Trước khi Làng mở cửa cho khóa tu mùa Hè mình đã có một khóa tu cho người trẻ của các nước Âu Mỹ. Sau mười ngày tu tập miên mật, tất cả đều được chuyển hóa, có người xin ở lại cho khóa tu mùa hè. Viện Phật học Ứng dụng châu Âu đã cấp phát chứng chỉ cho mọi người tham dự. Viện cũng sẽ cấp phát chứng chỉ cho các thiền sinh về tu học trong khóa tu mùa Hè. Những chứng chỉ này được các trường trung học và đại học đánh giá cao, vì giá trị đức dục của nó. Viện cũng sẽ cấp phát chứng chỉ này cho những vị tu tập miên mật trong ba tháng an cư ở Từ Hiếu và Bát Nhã, căn cứ vào báo cáo của Hội đồng Giáo thọ địa phương.

Thầy và các anh chị lớn đang chuẩn bị để xây dựng Tu viện Phương Bối tại ba miền Nam, Trung, Bắc, có sự cho phép của chính quyền trung ương. Nếu chúng ta giữ vững nền nếp tu tập thì không có lý do gì mà những dự án ấy không thành tựu. Nghe các anh chị nói các con đang tu học nghiêm chỉnh và hết lòng, tại Từ Hiếu và Bát Nhã, Thầy rất vui lòng. Thầy có niềm tin nơi các con. Không có khó khăn nào mà chúng ta không vượt thắng, nếu ta có niềm tin và ý chí. Thầy đang đi những bước chân vững chãi cho các con, và Thầy tin rằng các con cũng đang đi những bước chân vững chãi cho Thầy.

Thầy sẽ viết tiếp cho các con.

Thầy
Nhất Hạnh

Tình huynh đệ là một cái gì có thật

Mai Thôn 3.11.08
Thân gửi các con của thầy ở tu viện Bát Nhã

Làng Mai hiện đang có khóa tu cho những người nói tiếng Pháp. Sáng nay thầy đã nói pháp thoại tại thiền đường Trăng Rằm ở Xóm Mới. Trời thu tuy có mưa nhưng vẫn đẹp. Thiền sinh sáng nay cũng đã được tham dự lễ Giỗ Tổ Tánh Thiên Nhất Định, cũng được tổ chức tại thiền đường.

Thầy cảm ơn các con đã viết thư cho thầy. Thầy rất hạnh phúc khi thấy trong một hoàn cảnh rất khó khăn các con vẫn kiên trì tu học miên mật, anh chị em biết tới gần với nhau hơn, thương yêu nhau như con một nhà và tình huynh đệ được nuôi lớn mỗi ngày.

Mặc dù có những chướng ngại, những thách thức, những khó khăn… các con vẫn không khởi ra tâm niệm trách móc, hận thù, không nói một lời nặng nề với bất cứ ai, không có một hành động nào chứng tỏ mình có hận thù và bạo động.

Đó là một thành quả lớn của sự tu học, dù đa số các con vẫn còn rất trẻ. Thầy biết làm được như thế không phải là dễ! Nếu không biết thực tập hơi thở và bước chân chánh niệm, nếu không biết nhận diện và ôm ấp những cảm thọ và cảm xúc của  mình thì không thể nào làm được như thế. Đây đã là một thành công lớn của thầy trò mình rồi.

Giả dụ ngày mai các con không còn chỗ ở, giả dụ ngày mai thầy trò mình có bị tản mát mỗi người một ngả, thì Bát Nhã cũng đã là một thành công của chúng ta, và lịch sử Phật giáo Việt Nam sẽ chắc chắn ghi lại trang sử đẹp đẽ này. Thầy là nhà viết sử, thầy biết chuyện đó. Cũng như trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Trường TNPSXH đã trở nên một huyền thoại, dù chỉ tồn tại trong mười một năm. Sự tu học và thực tập của mình chứng tỏ tình huynh đệ là một cái gì có thật, chứ không phải chỉ là chuyện đầu môi chót lưỡi.

Nhưng thầy không nghĩ là tình trạng sẽ xảy ra như thế đâu. Một đất nước như đất nước Việt Nam, một dân tộc như dân tộc Việt Nam, một truyền thống như truyền thống Phật giáo Việt Nam… sẽ không bao giờ để xảy ra một chuyện như thế.

Thầy thấy là hiện giờ đồng bào và Phật tử trong nước cũng như ngoài nước đều rất thương mình, Phật tử thế giới cũng rất thương mình. Thầy trò  mình đang được che chở và yểm trợ; nếu chúng ta giữ vững được lập trường không bạo động, không hận thù, không mưu mô, nếu chúng ta tiếp tục tu học cho tinh chuyên và miên mật, nếu chúng ta tiếp tục nuôi lớn tình huynh đệ… thì chúng ta không có gì cần phải sợ hãi.

Thầy biết có rất nhiều bậc quý nhân đang theo dõi và tìm cách hộ trì cho chúng ta, chúng ta phải giúp họ bằng cách tu  học cho tinh chuyên, cho thật lòng và hoàn toàn bất bạo động. Các sư anh và sư chị của các con tuy có người chưa đến tuổi 30 nhưng rất vững vàng về phương diện đó, và điều này làm thầy rất an lòng.

Các sư bé viết thư cho thầy hay lắm! Thầy rất vui khi nhận được thư của các con. Khi các con tu học có hạnh phúc như thế thì các con nuôi dưỡng thầy rất nhiều. Thầy sẽ sống lâu với các con!

Ôm tất cả vào lòng

Thầy
Nhất Hạnh


Con đường huyền thoại

Thất Ngồi Yên, 05.12.08

Hôm nay có nắng ở xóm Thượng. Thầy đi thiền hành xuống chùa Sơn Hạ qua con đường Tùng. Từ thất Ngồi Yên tới đường Tùng, thầy đi qua những vùng có thảm lá sồi bao phủ, nhất là đoạn đường đi qua thất Phù Vân của thầy Giác Thanh. Thảm lá sồi dày lắm, có nhiều chiếc lá còn giữ được màu tươi, màu y của các vị khất sĩ Nam Tông. Cây trút lá làm cho đất thêm màu mỡ, đất và cây nuôi nhau, điều này thấy rất rõ. Thầy đi chậm để mỗi bước chân có thể tiếp xúc được với bản môn, nghĩa là với thời gian vô cùng và không gian vô biên. Đi cho mình mà cũng là đi cho cha mẹ, cho Thầy tổ, cho Bụt, cho các con. Thầy cảm thấy không có sự ngăn cách nào giữa mình với cha mẹ, Thầy tổ, Bụt và các con. Tất cả đều có mặt trong những bước thiền hành. Bài kệ “để Bụt thở, để Bụt đi” hay lắm, càng thực tập càng thấy hay, cho nên thầy rất thường trở về với bài ấy. Bài ấy cũng có thể được thực tập trong những tư thế khác như “để Bụt thở, để Bụt ngồi” hay “để Bụt thở, để Bụt làm”, hoặc “để Bụt thở, để Bụt chải răng”. Sự thực tập này giống y như là sự thực tập niệm Bụt, Bụt đây không chỉ là một danh hiệu mà là cả một con người thật, đang thở, đang đi, đang rửa bát, đang lau nhà…

Thầy nhớ trong chuyến đi Ấn Độ vừa rồi, thầy đã thực tập “đây là Ấn Độ, Ấn Độ là đây”, thay vì “đây là Tịnh Độ”… Hôm đi thiền hành tại đại lộ Rajpath ở thủ đô New Delhi, thầy đã thực tập theo bài ấy và cũng thực tập đi cho cha mẹ, cho Thầy tổ, cho các con. Thầy thực tập “Bụt đang tản bộ, Bụt đang rong chơi, Bụt đang hạnh phúc, Bụt đang thảnh thơi, mình đang tản bộ, mình đang rong chơi …”. Rồi “Cha đang tản bộ, cha đang rong chơi…”. Khi thực tập cho các con, thầy cũng mời các con đi bằng chân của thầy, “Con đang tản bộ, con đang rong chơi …”. Các con đã có mặt với thầy trong suốt chuyến đi Ấn Độ ấy.

Các con là những người xuất sĩ, các con cũng là những người cư sĩ. Xuất là đi ra, không phải để làm quan, mà để gia nhập vào Tăng đoàn những người xuất gia. Tăng thân cần mình đi đâu thì mình đi đến đó, mình không có một trú xứ duy nhất. Cư là ở lại, cư sĩ cũng có nghĩa là xử sĩ, các con chưa xuất gia (tiếng Anh là going forth) vì đang có bổn phận với gia đình với cha mẹ, nhưng vẫn có cơ hội để tham dự vào những sinh hoạt tu tập; có mặt các con thì mới có được tứ chúng (the fourfold community, the fourfold Sangha). Các chúng xuất sĩ và cư sĩ nương vào nhau, yểm trợ cho nhau, tu tập chuyển hóa và độ đời. Tăng thân là một đoàn thể đẹp, có đủ bốn chúng nam xuất gia, nữ xuất gia, nam tại gia, nữ tại gia. “Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui, tu tập giải thoát, làm an lạc cuộc đời”. Nhà tranh đấu cho Nhân quyền Martin Luther King rất ao ước xây dựng một đoàn thể đẹp như thế, một đoàn thể sống có hạnh phúc, có tình huynh đệ và có khả năng tranh đấu cho đời. Ông gọi tên đoàn thể ấy là “The Beloved Community”, mình tạm dịch là “Tăng thân yêu quý”. Rất tiếc là ông đã bị ám sát năm 39 tuổi tại Memphis, cho nên giấc mơ đẹp ấy chưa thực hiện được. Thầy trò mình may mắn hơn. Thầy trò mình đã xây dựng được Tăng thân khắp chốn, để rồi nơi nào cũng trở thành quê hương (Tăng thân khắp chốn, quê hương nơi này). Mình đã tiếp nối được chí nguyện của Martin Luther King và công phu tu tập hằng ngày của mình là để chế tác tình huynh đệ, niềm vui sống và khả năng giúp người độ đời. Đó là những thực hiện và tiếp nối cụ thể cho giấc mơ ấy.

Thầy nhớ lần cuối thầy gặp mục sư King tại Thụy Sĩ, trong một hội nghị do Hội đồng Thế giới của các Giáo hội (World Council of Churches) tổ chức, lấy tên là Pacem in Terris (Hòa bình trên Trái đất). Mục sư ở với các vị phụ tá trên lầu thứ 11 của một khách sạn lớn trong đó hội nghị đang xảy ra. Thầy ở tầng trệt và chỉ có một vị phụ tá cư sĩ. Đó là năm 1968. Mục sư đã mời thầy lên ăn sáng để đàm đạo; vì bận họp báo nên thầy lên trễ nửa giờ. Ông đã giữ thức ăn sáng cho nóng. Trong buổi gặp gỡ này thầy đã có dịp nói với ông là: các bạn ở Việt Nam rất yểm trợ ông và xem ông như một vị Bồ tát sống. Ông rất hoan hỉ khi nghe như thế và sau này mỗi khi nghĩ tới buổi họp mặt ấy, Thầy thấy rất hài lòng vì đã nói được với ông câu ấy, bởi vì chỉ mấy tháng sau ông đã bị ám sát.

Con đường Tùng đưa thầy xuống chùa Sơn Hạ là một trong những con đường thiền hành đẹp nhất ở Làng. Các con đã từng đi với thầy trên con đường ấy chưa? Thông được trồng thành rừng, thành hàng, đứng thẳng bên nhau như một Tăng thân, quanh năm xanh tốt. Có thể có tới 8.000 cây Thông trong khu rừng ấy. Vào mùa khô ráo, thầy hay dừng lại giữa đường Tùng, ngồi xuống trên thảm lá thông. Nếu có thị giả đi theo thì thầy trò cùng uống trà trước khi đứng dậy đi tiếp. Cái thất ở chùa Sơn Hạ, nơi Thầy hay đốt lửa trong lò sưởi để tiếp các vị Tôn túc về dự Đại Giới Đàn trong các khóa tu Kiết Đông, ngày xưa là nhà ở của gia đình tá điền. Bề ngoài ngó xấu xí nhưng bên trong đã được sửa sang lại rất xinh xắn và có đầy đủ tiện nghi, nhất là có lò sưởi đốt bằng củi nơi phòng khách. Phía trên lò sưởi có bức thư pháp “bois ton thé” nghĩa là “Uống trà đi con”, hoặc là “Uống trà đi thầy”. Đã có những ngày tuyết lạnh, thầy trò mình, đôi khi có tới hai ba chục người, quây quần bên lò sưởi ấy uống trà và kể chuyện bốn phương tám hướng cho nhau nghe, bởi vì mỗi người đã từ một phương trời đi tới. “Chúng ta là chim, bốn phương bay về đây…”

Cái thất ở Sơn Hạ ấy, Thầy định đặt cho nó một cái tên, bề ngoài có thể không chải chuốt, nhưng bề trong lại rất hay. Đó là cái tên “Thất Da Cóc”. Đúng rồi da của con cóc, peau de grenouille, hay là frog skin. Da cóc thì xù xì ngó không đẹp mấy, nhưng bên trong có thể là rất đẹp. Chú Dũng, ba của thầy Pháp Đôn, lần đầu được thầy đưa vào thất đã khen: “Ngoài da cóc, trong ngọc vàng”. Các con có biết câu ấy không? Đó là vế đầu của câu đố: Ngoài da cóc, trong ngọc vàng, đi ngoài đàng, thơm lừng lựng. Đó là trái gì? Đó là trái mít chín. Bên ngoài thì da mít xù xì như da con cóc. Nhưng bên trong có những múi mít chín vàng rực thơm lừng, đó là ngọc là vàng, và khi đi qua một quãng đường có một trái mít chín thì mình nghe “thơm lừng lựng”. Câu đó có thể đã xuất phát từ miền Huế, tại vì có ba chữ “thơm lừng lựng”.

Vậy thì cái thất của thầy ở Sơn Hạ, ngoài thì là da cóc, trong thì là ngọc vàng, đó là công phu của anh Hiếu, anh ruột của thầy Pháp Quán. Anh đã để ra mấy tuần lễ để trang điểm lại cho ngôi nhà, vốn là nhà của một vị tá điền nghèo khổ. Thầy đã bắt đầu ưa cái tên thất Da Cóc rồi đó, các con có thấy buồn cười chưa. Chuyện đời xưa: một chàng trai đi trên bờ ruộng thấy một con cóc liền bước qua. Vừa mới bước qua thì nghe sau lưng có tiếng đằng hắng rất thanh tao của một thiếu nữ. Chàng quay lại nhìn và ngạc nhiên thấy trước mặt mình một nàng công chúa diễm lệ. Cố nhiên là chàng trai đã cùng cô công chúa ân cần trò chuyện và sau hết, mời cô công chúa về nhà mình để giới thiệu với bố mẹ, và chàng đã không quên nhặt chiếc vỏ da cóc bỏ vào túi và đêm ấy đã xé nát cái da cóc đó, để nàng công chúa đẹp tuyệt trần kia không chui lại được vào cái vỏ da cóc xù xì kia nữa.

Thầy có cảm tưởng thầy cũng may mắn như chàng trai kia và trên bước đường thầy đi, Thầy đã từng gặp bao nhiêu con cóc xù xì. Nhưng tất cả những con cóc ấy sau khi trút bỏ ra được cái vỏ da cóc của mình đã trở nên những vị Hoàng tử tuấn tú, những cô Công chúa đẹp tuyệt trần. Mỗi khi trái tim Bồ đề của mình biểu hiện thì mình trở nên đẹp như một nàng Công chúa hay một vị Hoàng tử. Và khi Tăng thân của mình leo đồi thế kỷ thì cảnh tượng mầu nhiệm vô cùng.

Có những con đường thiền hành thân thương đã đi vào giấc ngủ của Thầy. Ở Tổ đình Từ Hiếu những con đường Thầy đã đi thời còn làm Sadi, và đã trở thành những con đường của huyền thoại, lâu lâu lại có mặt trong những giấc mơ tìm về tới quê nhà. Các con của Thầy ở Bát Nhã cũng đã tạo dựng được những con đường thân thương như thế và sỏi đá trên đường đã trở nên quen biết dưới những bước chân chánh niệm của các vị Hoàng tử, của các nàng Công chúa. Phương Bối ngày xưa cũng đã có những con đường như thế, Phương Vân am cũng đã có những con đường như thế, Lộc Uyển cũng đã có những con đường như thế, và hiện giờ tại Bích Nham, các con của thầy cũng đã dùng bước chân chánh niệm vạch ra những con đường như thế. Những con đường thiền hành ngày xưa tại Thanh Sơn và Rừng Phong cũng mầu nhiệm không kém, chúng đã đi cả vào thi ca. “Cùng nhau ta sẽ đi, sẽ đi thăm Thanh Sơn, leo đỉnh trời bao la. Ta sẽ qua nhà trà, sẽ đi quanh bờ hồ, sẽ đi lên Phật đường…” Tịnh độ chúng ta chắc chắn là có những con đường như thế mà ai đi xa cũng nhớ. Các con có nhớ con đường thiền hành bờ suối đi ngang qua rừng trúc ở nội viện Phương Khê?

Chiều hôm nay, lúc năm giờ chiều ngồi thiền ở thiền đường Nước Tĩnh, Thầy đã mời đức Thế Tôn thở bằng hai lá phổi của thầy. Thầy nói: đây là phổi của con, nhưng cũng là phổi của Ngài. Xin Ngài thở cho khỏe, phổi còn tốt lắm không sao đâu; và đức Thế Tôn thở rất hạnh phúc, hai thầy trò đã thở rất hạnh phúc.

Chùa Sơn Hạ được bao bọc bởi những khu rừng mà phần lớn là rừng thông. Sơn Hạ có suối và có hồ. “Sơn hạ hữu tuyền, trạc chi tắc dũ” là một câu văn trích trong bài tựa của kinh Thủy Sám, có nghĩa là “Dưới chân núi có dòng suối, lấy nước suối ấy mà rửa thì vết thương sẽ lành”. Chùa Sơn Hạ là chùa dưới chân núi. Có một cây cầu bắc qua suối, đầu cầu có tảng đá trên đó có khắc dòng chữ “Sơn hạ hữu tuyền…” bằng chữ Hán. Núi đây là núi Thệ Nhật, trên đó có chùa Pháp Vân, tức là xóm Thượng – Làng Mai. Thầy Nguyện Hải là trú trì chùa Pháp Vân, nhưng vì thầy đang đi dạy ở Việt Nam nên thầy Pháp Đôn hiện thời thay thế. Còn chùa Sơn Hạ thì do thầy Pháp Sơn làm trú trì; thầy là người Tây Ban Nha, thầy cũng có quốc tịch Anh và ngoài tiếng Tây Ban Nha, thầy còn nói tiếng Anh, tiếng Đức  và tiếng Pháp rất giỏi. Thiền sinh rất thích cảnh trí chùa Sơn Hạ. Mùa Đông này có 18 vị cư sĩ đang an cư với các thầy và các sư chú ở đấy.

Năm ngoái, trong mùa Kiết Đông an cư, có một lần thầy đóng vai người hướng dẫn viên đưa một cặp du khách đi từ Sơn Hạ lên chùa Pháp Vân, theo con đường Tùng. Cặp du khách này đâu phải ai xa lạ, đó là giáo sư Hoàng Khôi – Chân Đạo Hành và phu nhân Chân Tuệ Hương, cả hai đều là đệ tử giỏi của Thầy. Mùa đông năm ngoái, hai vị đã từ Sydney tới tham dự an cư Kiết Đông ở Làng Mai và cư trú ở xóm Thượng. Hai vị cư sĩ này đều đã là giáo thọ, đã từng phiên tả và biên tập nhiều sách của thầy bằng tiếng Việt; những cuốn sách như: Hạnh Phúc Mộng và Thực, Truyền sống sinh động của thiền tập v.v… đều là do các vị này thực hiện.

Sau khi mời các vị uống trà ở thất Da Cóc – Sơn Hạ, thầy đưa các vị lên xóm Thượng theo con đường Tùng. Thầy nói: các vị hãy tưởng tượng mình mới tới Pháp Vân lần đầu và tôi là người sẽ đưa quý vị lên gặp vị Thiền sư trên am lá, thất Ngồi Yên, ở mé rừng phía Đông núi Thệ Nhật, gần chùa Pháp Vân. Và nếu biết đi từng bước lên núi với chánh niệm thì quý vị sẽ có cơ hội được gặp vị thầy ấy nhiều hơn, bởi vì thầy thường hay đi thiền hành một mình vào núi, có khi đi hái rau rừng, có khi đi hái thuốc (Sư thê dược khứ) và có khi thầy ngồi cả ngày trong rừng, không ai biết thầy ngồi đâu, kể cả vị sa di thị giả…

Hôm ấy trời mưa mới tạnh, tuy nắng lên rất đẹp nhưng cành lá còn mang những giọt nước mưa đọng long lanh như những hạt ngọc, phản chiếu mầu nhiệm ánh nắng ban mai. Thầy đã dừng lại đưa cánh tay ra hứng lấy một giọt nước từ trên lá Thông và giọt nước đang long lanh như một viên ngọc đã được chuyền xuống ngón tay thầy nguyên vẹn. Thầy bảo giáo sư Chân Đạo Hành đưa bàn tay ra để nhận lấy viên ngọc và trút viên ngọc ấy xuống bàn tay của ông. Bàn tay để trong túi áo nên còn khô và ấm lắm cho nên viên ngọc gieo xuống vẫn lăn tròn nguyên vẹn. Thầy cũng “hái” cho cô Chân Tuệ Hương một viên ngọc như thế. Đất trời thật mầu nhiệm, mỗi phút giây là một viên ngọc quý, tóm thu đất nước trời mây và chỉ cần một hơi thở nhẹ có ý thức, thì hết bao nhiêu phép lạ hiển bày.

Đi thiền hành là như thế, mỗi bước chân là khám phá, mỗi bước chân là niềm vui, mỗi bước chân là nuôi dưỡng và trị liệu. Đến một khúc lên dốc, thầy dừng lại, chỉ lên một góc núi và nói với hai vị: đi một đoạn đường nữa, quý vị sẽ thấy thất Ngồi Yên hiện ra. Có thể là thầy đang ngồi trên ấy. Và khi thất Ngồi Yên hiện ra, thầy cũng dừng lại chỉ cho hai người thấy, và mời hai vị thở và mỉm cười. Thật ra hai vị đã từng thấy thất Ngồi Yên nhiều lần rồi, và cũng đã từng uống trà với thầy trong thất ấy, nhưng lúc này đây các vị đang dùng một cặp mắt mới để nhìn và để khám phá một cái gì mới. Cả ba người như đang sống trong một huyền thoại là họ đang đi tìm vị Thiền sư trên núi, mà không biết có cơ duyên được gặp hay không. Thiền sinh về xóm Thượng đã có hàng vạn người, tới từ bao nhiêu nước, nhưng có mấy ai đã được ông Đạo tiếp ở thất Ngồi Yên? Cũng như mấy ai đã được ông Đạo tiếp ở thất Lắng Nghe ở Tổ đình Từ Hiếu?

Năm ngoái trong mùa an cư Kiết Đông, sư chú Pháp Tri đã làm thị giả cho thầy ở thất Ngồi Yên với sự hướng dẫn của thầy Mãn Tuệ. Sư chú đi học lớp uy nghi về, không thấy thầy đâu, đang chuẩn bị vào núi để tìm. Ngay lúc ấy, thầy với hai vị khách cũng vừa tới; thầy vẫn đóng vai người hướng dẫn khách hành hương, hỏi sư chú: “Thầy có ở nhà không hả sư chú?” Sư chú bỡ ngỡ, chưa biết trả lời làm sao thì thầy hỏi tiếp: “hay là thầy đang bận hái thuốc trong núi chưa về?” Bây giờ thì sư chú đã hiểu, sư chú trả lời: “Thưa quý vị, thầy con vào núi chắc cũng sắp về tới, xin mời các vị vào Thất dùng trà trong khi đợi thầy”. Ở chùa Việt Nam, Los Angeles, có treo một bức thư pháp của thầy tặng Hòa thượng Mãn Giác, bản dịch một bài thơ của thi sĩ Giã Đảo đời Đường: Bên cội Tùng, chú bảo: thầy vừa đi hái thuốc, chỉ nội núi này thôi, mây mù không thấy được. Thật ra là vị thị giả dư biết thầy mình đang ngồi ở mé núi nào, nhưng vì không muốn thầy mình bị quấy rầy bởi ông khách nên trả lời như thế để mình khỏi đi tìm thầy, và để cho thầy được ngồi yên, thế thôi. Thệ Nhật Sơn thỉnh thoảng cũng có sương mù bao phủ, nhưng sương mù không nhiều bằng ở tu viện Kim Sơn miền Bắc California.

Con đường Tùng của thầy đã đi vào huyền thoại, các con thấy chưa? Nhưng con đường nào mà thầy trò mình đã đi lại không đi vào huyền thoại? Như con đường thiền hành xuống suối ở Bát Nhã đó. Thầy trò chúng ta đã đi trên con đường ấy nhiều lần với những bước chân như thế, các con nhớ không? Con đường lên núi Vạn Thạch Liên ở Lộc Uyển, thầy trò mình đã leo lên biết bao nhiêu lần? Và đã bao nhiêu lần thầy trò mình từng ngồi trên những tảng đá trên đỉnh núi nhìn xuống thung lũng Escondido sương mù phủ kín? Con đường mà thầy trò chúng ta đi khởi sự từ sân Phật đường Từ Hiếu, xuống hồ Bán Nguyệt, quanh hồ Sao Mai, vượt cổng tam quan, lên đồi Dương Xuân hay đi về Lăng Viện, con đường ấy đã đi vào huyền thoại, đã đi vào những giấc mơ của thầy trong gần bốn mươi năm xa cách quê hương. Những con đường thiền hành ở xóm Hạ và xóm Mới cũng đã mang dấu chân của thầy trò chúng ta cả mấy chục năm nay và mỗi khi đi xa, thầy trò mình đều rất nhớ. Chúng ta đã từng đem dấu chân của Bụt in xuống trên những con đường thiền hành ở công viên Estes trên dãy Rocky Mountains, ở khuôn viên trường đại học Stonehill, trường đại học UC Santa Barbara, ở công viên Mc Arthur tại Los Angeles, trên những đại lộ của các thành phố lớn như Frankfurt, Rome, Amsterdam, Paris, New York, New Delhi, Hà Nội, v..v… Thầy nhớ hôm đi thiền hành bên hồ Hoàn Kiếm, là một Tăng thân xuất gia và tại gia tới từ 41 quốc gia, chúng ta đã bước những bước chân an lạc thảnh thơi bên bờ hồ, qua cầu Thê Húc, vào đền Ngọc Sơn… Dân chúng thủ đô đã ngạc nhiên thấy đoàn người đi một cách thảnh thơi như những người vô sự, trong khung cảnh của một thành phố rộn ràng mà ai nấy đều có vẻ bận rộn, gấp gáp. Thấy một đoàn người đi như thế, có người bảo là đã tìm ra lại được gốc gác văn hóa và quê hương đích thực của chính mình.

Chúng ta cũng đã được đi như thế ở Trung Hậu, Đồng Đắc, Bằng A, Sóc Sơn, Văn Miếu, Hoa Lư, Phát Diệm, Diệu Đế, Thuyền Tôn, Linh Mụ, Linh Ứng, Tam Thai, Chúc Thánh, Mỹ Sơn, Cam Ranh, Thập Tháp, Nguyên Thiều, Giác Viên, Giác Lâm, Ấn Quang, Hoằng Pháp, Pháp Vân… Ở đâu đối với chúng ta cũng là thánh địa; chỉ cần biết dừng lại, chỉ cần có ý thức thì mảnh đất nào cũng là quê hương.

Chỉ còn mấy tuần lễ nữa là hết năm 2008, ngồi viết thư cuối năm cho các con, thầy cảm thấy ấm áp như đang ngồi chơi với tất cả các con. Năm nay xóm Mới sẽ tổ chức lễ Giáng Sinh, xóm Hạ tết Dương lịch và xóm Thượng tết Kỷ Sửu. Năm nay trong Đại Giới Đàn Mùa Sen Mới sẽ có khoảng 27 vị được truyền đăng trong đó có thầy Pháp Hữu. Bé Huỳnh Thế Nhiệm đã tới Làng lần đầu năm 7 tuổi và sau đó đã trở lại nhiều lần. Nhiệm đã được xuất gia năm 12 tuổi và vào tháng Giêng năm 2009, Nhiệm sẽ được truyền đăng làm giáo thọ. Đó là thầy Chân Pháp Hữu. Trong khóa an cư Kiết Đông này, Pháp Hữu làm y chỉ sư cho bảy vị thiền sinh Tây phương. Họ hạnh phúc lắm với một vị y chỉ sư trẻ như thế. Các baby monks của thầy bây giờ lớn hết rồi, bên cạnh đó là Pháp Chiếu, Mật Nghiêm, Đàn Nghiêm và Mẫn Nghiêm cũng đang làm y chỉ sư cho các thiền sinh. Mẫn Nghiêm đã được truyền đăng năm ngoái trong Đại Giới Đàn Thanh Lương Địa để trở thành vị giáo thọ trẻ nhất của Làng Mai. Sư cô Mẫn Nghiêm gặp thầy lần đầu hồi còn 5 tuổi; 12 tuổi qua Làng xin xuất gia. Hạ Thoại Mỹ Quyên là tên đời, năm 16 tuổi cô đã đọc “Nói với tuổi hai mươi” của thầy và lòng dặn lòng sẽ viết một cuốn sách tặng thầy năm thầy 80 tuổi, với đề sách là “Nói với tuổi tám mươi”. Và đến năm tròn 20 tuổi, Quyên đã viết được cuốn sách ấy, 300 trang, hiện giờ thầy còn giữ ở nội viện Phương Khê. Chỉ một mình thầy được đọc thôi, Mẫn Nghiêm đã dặn như thế.

Pháp Hữu cũng sẽ là một vị giáo thọ rất trẻ. Mười năm ở với thầy, thầy trò chưa bao giờ giận nhau, truyền thông giữa hai người rất tốt. Pháp Hữu đã là một trong những vị thị giả giỏi nhất, ý tứ nhất, không thua gì sư anh Pháp Niệm, rất chu đáo, biết thầy cần gì, không cần phải đợi thầy nói lên. Có lần thầy nói với Pháp Hữu: “Ngày xưa thầy Anan làm thị giả cho Bụt cũng chỉ giỏi như con đang làm thị giả cho thầy bây giờ là cùng”. Nhiệm khiêm cung trả lời: “Nhưng con đâu có trí nhớ siêu việt như thầy Anan?” Thầy cười: “Con không cần trí nhớ của thầy Anan tại vì con đã có một chiếc iPod, để trong túi kinh của thầy”. Và hai thầy trò nhìn nhau cười rất tâm đắc.

Viết tới đây thầy bỗng nghĩ đến tuyết, tuyết đang rơi ở Waldbröl nơi Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu. Tuần trước, sư cô Song Nghiêm điện thoại qua, nói tuyết đã rơi và đã cao lên tới 10 phân, cảnh tượng ở Waldbröl đang đẹp diệu kỳ và mời thầy sang bên ấy để chơi với các con của thầy. Thì thầy đang ở bên ấy, các con không thấy hay sao? Thầy cũng đang ở Bích Nham, Lộc Uyển, Cây Phong, Sen Búp, Mộc Lan, Bát Nhã, Từ Hiếu, Hohenau, Suối Thương và nhiều nơi nữa! Phải thấy thầy nơi mình đang ngồi, đang đứng. Các sư em ở Bát Nhã có nhớ bài thi đố của sư anh Pháp Lâm không? Thầy không phải đang ở Ấn Độ mà thôi đâu. Đã nghe Thiền sư Vô Ngôn Thông nói: “Đây là Ấn Độ, Ấn Độ là đây” (Tây thiên thử độ, thử độ tây thiên) chưa? Thầy nhớ tới chiếc võng treo ở rừng cây phía sau Học viện. Trước khi qua, thầy đã viết thư cho các con của thầy ở bên Đức. Thầy nói có vị nào có võng mang tới cho thầy mượn. Thầy sẽ treo võng ngoài vườn và sẽ ngồi võng chơi với các con, ăn mừng Trung Tâm mới. Không biết vị nào đã chuyền lá thư ấy đi và hôm thầy tới, 14.09.08, thì các vị thị giả báo cáo là có tất cả 149 cái võng đã được mang tới. Mùa hè tới thầy trò mình sẽ tha hồ thực tập thiền võng ở bên ấy.

Viết thư cho các con của thầy, viết mấy cho đủ, thầy tạm dừng ở đây. Thầy sẽ gặp lại các con trước giờ giao thừa năm Kỷ Sửu trong buổi bình thơ cuối năm. Thầy chúc tất cả các con của thầy thật hạnh phúc và chế tác được rất nhiều tình huynh đệ.


Áo vách đá, áo vách núi, và áo núi lam

Viện Vô Ưu, Walbröl, 06.05.09.
Thân gởi các con của thầy ở Bát Nhã, và ở khắp nơi.

Hồi hôm ngủ ở đây, thầy đã nằm mơ thấy mình đang leo núi với Bụt, và với bé Hải Triều Âm. Lúc đó khoảng hai giờ khuya bên này, tức là vào khoảng tám giờ sáng ở Việt Nam.

Trong giấc mơ, thầy thấy Bụt còn trẻ lắm, khoảng 60 tuổi, còn thầy thì độ 50 tuổi và bé Hải Triều Âm thì 10 tuổi. Bụt không đầy đặn, phúc hậu như thầy Lệ Trang, mà hơi ốm ốm cao cao như thầy Pháp Hộ. Bụt leo núi thoăn thoắt; thầy đi theo sát Ngài, thầy leo cũng khá giỏi, còn bé Hải Triều Âm thì khỏi nói. Bụt và thầy không cần đợi nó. Tuy làm thị giả nhưng bé Hải Triều Âm chẳng mang theo trà nước gì cả, chỉ mang theo một chiếc túi kinh màu nâu, trong đó không biết có chứa gì không. Bụt không mang bát, thầy không mang bát, và bé Hải Triều Âm cũng chẳng mang theo bát của nó. Thầy và bé Hải Triều Âm đang đóng vai làm thị giả cho Bụt thay thầy A Nan. Nhưng thầy và bé Hải Triều Âm làm sao làm khéo như  thầy A Nan, tại vì hai thầy trò đâu có giúp được gì cho Bụt, kể cả việc mang y và bát cho Ngài.

Núi mà Bụt, thầy và bé Hải Triều Âm đang leo hơi giống núi Thứu, nhưng không phải là núi Thứu. Ở đây, ngoài những vách đá màu lam, còn có những vách đá sừng sững màu nâu, khó leo hơn ở núi Thứu nhiều. Leo hết tầng này đến tầng khác, những tầng núi liên tiếp hiện ra trông hùng vĩ vô cùng. Thầy không thấy mệt mà chắc bé Hải Triều Âm cũng không biết mệt. Được leo núi với Bụt là một diễm phúc lớn, làm sao thấy mệt cho được hở các con?

Trong cuộc đời thật, bé Hải Triều Âm, tức là thằng Tý trong sách Tý, chiếc lá ổi non và trong sách Tý, cây tre triệu đốt, năm nay đã suýt soát 40 tuổi, đã đậu bằng tiến sĩ luật, đã lập gia đình. Trong giấc mơ, bé Hải Triều Âm chỉ có 10 tuổi, vẫn thơ ngây chăm chú như những ngày còn sống ở cư xá Hồ Đào, Xóm Hạ, Làng Mai trong những năm đầu Làng mới mở cửa. Nó mặc một chiếc áo nhật bình màu khói hương, và đeo một chiếc túi vải màu nâu. Thầy mặc áo tràng màu nâu. Và điều lạ nhất là Bụt cũng mặc áo tràng màu nâu, chứ không khoác áo Tăng già lê theo kiểu Nam Tông. Xem bộ Bụt cũng ưa mặc áo tràng màu nâu, màu áo của giới xuất gia ở Việt Nam. Hoặc giả là Bụt muốn “đồng sự” với thầy và bé Hải Triều Âm nên đã mặc áo tràng để cùng leo núi cho vui? Sự thực là tại Làng Mai, có nhiều thầy gốc Thái Lan, Nhật Bản, Đại Hàn, Nam Dương, Sri Lanka, Lào, Campuchia… sau một thời gian sống chung với các thầy ở Tăng xá Xóm Thượng Làng Mai cũng đã cất y Tăng già lê của họ để mặc áo tràng nâu với các thầy mình cho vui, và chỉ khoác y của đất nước mình trở lại vào những dịp tụng giới và truyền giới như thầy Pittaya, thầy Sariputta, thầy Đạo Trị, thầy Ananda, sư chú Học Hiền… chẳng hạn.

Trong giấc mơ, có một lúc nào đó, Bụt dừng lại ngồi chơi ở bên một dòng suối từ vách núi chảy ra. Thầy và bé Hải Triều Âm cũng được ngồi hầu bên Ngài. Bé Hải Triều Âm tự nhiên lắm. Nó chắp tay nhìn lên Bụt, và hỏi chuyện với Bụt. Nó nói: “Bạch Đức Thế Tôn, thầy con nói, màu nâu của chiếc áo tràng mà các thầy và các sư cô ở Việt Nam thường mặc, tượng trưng cho nếp sống giản dị của người xuất gia, và cũng nói lên được sức mạnh của năng lượng bồ đề tâm của người xuất gia. Con cũng thương cái màu nâu đạm bạc ấy lắm. Nhưng tại sao mình lại gọi chiếc áo nâu đó là áo tràng? Áo tràng là áo gì, bạch Đức Thế Tôn?”

Bụt đưa mắt nhìn ra những dãy núi cheo leo rồi nhìn lại bé Hải Triều Âm bằng một cái nhìn rất dễ thương, Ngài nói: “Con có thể gọi chiếc áo tràng ấy là áo vách núi, áo núi đá, hoặc áo vách núi đá”.

Giấc mơ của thầy chấm dứt đột ngột sau câu nói của Bụt. Thức dậy, thầy tiếc ngẩn ngơ, tại vì giấc mơ đẹp quá. Thầy nằm thở, và cố ghi nhớ lại những chi tiết của giấc mơ. Câu nói của Bụt vừa được ghi lại ở trên, thầy chỉ bảo đảm là đúng khoảng 70% mà thôi. Hình như Bụt chỉ dùng một cái tên thôi, hoặc đó là áo vách núi, hoặc là áo núi đá, hoặc là áo vách núi đá. Nhưng có một điều chắc chắn là tên áo chỉ có hai chữ, hoặc là núi đá, hay đá núi, hoặc vách núi, hoặc vách đá, chứ không thể là vách núi đá, cái tên ba chữ quá dài. Thầy ghi lại tất cả cho chắc ăn, đứng về phương diện ý, chứ không phải Bụt đã dùng từng chữ rành rọt như thế.

Bé Hải Triều Âm là một chú tiểu mặc áo nhật bình màu lam, nghĩa là màu khói hương hay khói sương. Đó là màu núi đá trên núi Linh Thứu. Màu lam này không hẳn là màu xanh. Nó chỉ là màu khói sương, nó là màu áo nhật bình mà cũng là màu áo Gia đình Phật tử. Nó cũng đại diện cho sự thanh khiết nhẹ nhàng của khói hương, sương lam, và hùng khí của núi rừng. Núi Lam là vùng đất thiêng nơi vị anh hùng áo vải Lê Lợi chuẩn bị cuộc đánh đuổi quân Minh xâm lược. “Vầng ô lên, sương tan mờ trong mây núi”. Cho nên màu lam cũng là mầu của hùng lực. Chiếc áo tràng màu nâu mà các vị xuất gia Việt Nam đã sử dụng từ hai ngàn năm nay cũng đại diện cho nếp sống lành mạnh và đạm bạc của người dân quê Việt Nam. Dân quê Việt Nam ưa mặc màu nâu. Các cô thôn nữ Việt Nam ngày xưa và cả bây giờ mặc áo dài màu nâu non rất đẹp. Màu nâu thầm lặng đơn sơ và có nhiều hùng lực. Cho nên thầy đã từng nói với bé Hải Triều Âm là các vị xuất gia trẻ đệ tử của thầy nên giữ lấy màu nâu ấy của truyền thống Phật giáo Việt Nam, và chỉ nên đắp y vàng trong những lễ truyền giới và tụng giới. Bé Hải Triều Âm đã nhớ điều đó, và đã thỏ thẻ bạch lên Đức Thế Tôn trong chuyến leo núi hôm qua. Giờ này, ngồi viết thư cho các con, nhớ tới hình ảnh của Đức Thế Tôn trong chiếc áo tràng màu nâu, thầy cảm thấy rất vui. Đức Thế Tôn “đồng sự” với mình đó. Thầy tính đề nghị với các con là từ nay, mình gọi áo nhật bình màu lam là áo núi lam, và gọi chiếc áo tràng màu nâu là áo vách núi. Ở các tu viện Lộc Uyển và Bích Nham có những vách núi rất cheo leo mà các thầy các sư cô mình hay ưa trèo lên. Vách đá cheo leo là một cụm từ rất thiền. Nó tượng trưng cho một con đường khó đi, nhưng leo tới được thì hạnh phúc vô cùng. Con đường xuất gia cũng là một con đường khó đi, nhưng rất đẹp. Chúng ta đều đang được leo núi với Đức Thế Tôn. Thi sĩ Nguyễn Công Trứ cũng đã có khi muốn bỏ tất cả để được đi leo núi. Ông có nói tới một cây thông đứng vững chãi trên sườn núi cheo leo, độc lập không bị hệ lụy vào bất cứ vào một tình huống nào. Đó đích thực là hình ảnh của một người xuất gia. Ông viết:

“Kiếp sau xin chớ làm người

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo

Giữa vùng vách đá cheo leo                                                                                                       

Ai mà chịu rét thì trèo với thông”.                                                                                                                                                   

Thầy trò mình tuy rất ưa leo lên các vùng vách đá, nhưng thầy trò mình vẫn muốn kiếp sau cứ được làm người như thường. Bài sám Quy mạng của chúng ta trong sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 có câu:

“Kiếp sau xin được làm người 

Sinh ra gặp pháp, sống đời chân tu 

Dắt dìu, nhờ bậc minh sư

Nương vào chánh tín, hạnh từ xuất gia”.

Thầy rất hạnh phúc mỗi khi nhớ tới là thầy trò chúng ta trong giờ phút hiện tại đang được cùng nhau leo lên ngọn đồi thế kỷ thứ hai mươi mốt. Chúng ta đã leo gần được mười năm rồi (năm nay đã là năm 2009). Năm 2050, chúng ta sẽ đứng trên đỉnh đồi và chắc chắc là khi nhìn xuống sẽ thấy đẹp lắm, không thua gì đứng trên núi Thứu. Thầy Giác Thanh đệ nhất trụ trì tu viện Lộc Uyển trước giờ thị tịch đã được thầy trao một bài kệ (1), và sau khi thị tịch còn được thầy trao thêm một câu đối. Câu đối như sau:

“Một lá ngô đồng rơi, người vẫn cùng ta leo đồi thế kỷ                                                    

Ngàn hoa thủy tiên hé, đất cứ theo trời hát khúc vô sinh”.

Hai câu này đã được khắc trên tháp kỷ niệm của thầy Giác Thanh tại một vách đá cheo leo trên tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ.

Trong truyền thống Thiền, có một tác phẩm rất nổi tiếng bình giảng về các công án Thiền, đó là sách Bích Nham Lục. Nham là vách đá. Bích là màu xanh lam. Núi Yên Tử nơi Trúc Lâm Đại Sư Trần Nhân Tông tu học và hành đạo cũng là một vùng đất thiêng, đầy sương khói màu lam. Màu áo của chúng ta có truyền thống lâu đời, các con nhớ giữ cho được hai màu áo ấy, màu lam và màu nâu.

Ở Bát Nhã không có vách núi cheo leo nhưng thầy trò mình cũng đã leo đồi xuống suối nhiều lần, và lần nào cũng có rất nhiều hạnh phúc. Con đường xuất gia không phải là một xa lộ êm ái mà là một con đường cheo leo. Các con đã leo núi rất giỏi. Bé Hải Triều Âm đã leo núi rất giỏi, vì có Bụt cùng leo. Thầy cũng vậy. Cho nên thầy trò ta đều đang có nhiều hạnh phúc, dù vẫn còn gặp những khó khăn. Các con là những người xuất gia hay tại gia đã từng lên tu tập ở Bát Nhã hay các đạo tràng khác như Từ Hiếu, Bích Nham, Lộc Uyển, Đình Quán, Trúc Lâm, Diệu Trạm… tất cả các con đều là bé Hải Triều Âm của thầy, vẫn còn giữ được tâm hồn vô tư trong sáng của người trẻ tuổi có chí nguyện độ đời. Dù chưa phải là người xuất gia, các con cũng có thể sử dụng hai màu áo ấy. Cái cách chúng ta đi, đứng, nằm, ngồi trong chánh niệm, tu tập trong niềm vui, và chế tác tình huynh đệ hàng ngày đủ để làm cho mọi người trong xã hội nhận ra được chúng ta là ai.

Chúng ta là sự nối tiếp của Bụt và chư Tổ sư, trong đó có Trúc Lâm Đại Sĩ, Thiền sư Lâm Tế, Thiền sư Liễu Quán và Thiền sư Nhất Định. Chúng ta đi như một dòng sông, và chúng ta cũng đồng thời đang leo đồi thế kỷ với rất nhiều niềm vui.

Thầy đang ở tại Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu trong một chương trình hướng dẫn tu tập cho thiền sinh người Đức. Mấy hôm nay, người trẻ Đức tới tu tập đông lắm. Ngày thứ sáu, 08.05.09 tới đây, Tăng đoàn áo đá vách núi đã được ông Thị trưởng thành phố mời tới tòa thị chính để chào mừng, vì đây là lần đầu tiên có những ngày quán niệm được tổ chức tại thành phố xinh đẹp này. Các thị giả của thầy, thầy Pháp Hy và thầy Pháp Hữu sẽ kể chuyện cho các con nghe về những sinh hoạt đang diễn ra tại miền trái tim của Châu Âu.

Hẹn các con ở thư sau.
Thầy của các con,

Nhất Hạnh

___________________________________________________

(1) Trượng phu tiếng đã biết

Việc cần làm đã làm

Tháp vừa dựng sườn núi

Tiếng cười trẻ đã vang.

Tiếp nối sự nghiệp chư Tổ

Nhật Tụng Thiền Môn 2000_
_nhattungthienmon-2010-phuongnam-2009__
chantingfromtheheart__ chantsducoeur-france-2009

Phương khê, 20.05.2009
Thân gởi các con của thầy ở Từ Hiếu, và khắp nơi,

Các con hãy cùng thầy hình dung cái không khí vui tươi của Tổ đình Từ Hiếu vào ngày rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức là ngày 16.02.1897, cách đây 112 năm. Hồi đó, Sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ đang làm trú trì chùa Từ Hiếu và Ngài đã làm trú trì được 50 năm rồi! Chùa mới được trùng tu trở lại trước đó hai năm, có lầu chuông, lầu trống và tiền đường mới. Hôm ấy, rằm tháng Giêng Đinh Dậu (1897) vừa mới ăn Tết xong, đại chúng làm lễ khởi sự khắc bản sách Thiền Môn Nhật Tụng! Các nghệ sĩ khắc bản làm việc rất vui. Sách Thiền Môn Nhật Tụng có 126  trang, và phải khắc tới 68 bản gỗ. Khắc xong sách Thiền Môn Nhật Tụng, chùa lại còn khắc kinh Báo Phụ Mẫu Ân nữa. Đây là công tác văn hóa của Tổ đình để phục vụ cho hành giả trong tỉnh Thừa Thiên và các tỉnh lân cận.

Hồi ấy chưa có chùa nào có Đại Tạng Kinh, cả ở trong cung vua cũng không có, kinh sách rất hiếm, và sách Thiền Môn Nhật Tụng lại là sách cần thiết nhất cho các chùa. Sư tổ Hải Thiệu-Cương Kỷ hồi đó đã  87 tuổi. Sư tổ có một thị giả trẻ tuổi tên là điệu Kỉnh, 14 tuổi, mà Sư tổ rất thương yêu và tin cậy. Chú Nguyễn Hữu Kỉnh được vào chùa làm điệu năm 11 tuổi và chú đã theo hầu Sư tổ những lúc Sư tổ đi giám sát các nghệ nhân đang khắc bản sách Thiền Môn Nhật Tụng. Chú điệu ấy chính là Sư Ông của các con và là Thầy bổn sư của thầy. Chú chính là Sư tổ Thanh Quý Chân Thật của chúng ta sau này.

Hơn một năm sau đó, Sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ viên tịch, và tổ Thanh Thái Huệ Minh, đệ tử của Sư tổ, lúc ấy đang làm tri sự Tổ đình Từ Hiếu, đã có ý cho điệu Kỉnh được thế độ làm sa di ngay trước linh sàng của Sư tổ Hải Thiệu, để chú Kỉnh được làm vị đệ tử cuối của Sư tổ với pháp danh là Thanh Quý và pháp tự là Chân Thật. Đó là ngày 2 tháng 3 năm Mậu Tuất  ( 23.03.1898). Thanh Quý có nghĩa là người đệ tử cuối cùng mang chữ Thanh; và pháp hiệu Chân Thật nói lên được tính tình và bản chất của sư chú Thanh Quý. Ai trong sơn môn sau này cũng công nhận là Sư tổ Thanh Quý là một vị cao tăng mà đức độ chân thật khó có người bì kịp. Sư Ông của các con, sa di Thanh Quý, hiệu Chân Thật có một người sư chị rất dịu hiền, pháp danh là Thanh Linh, pháp tự là Diên Trường, được thọ giới sa di ni trước Sư Ông của các con một năm (1898). Sư chị của Sư Ông các con tên là Nhàn, sinh năm 1863, là cháu ngoại của Tùng Thiện Vương, một nhà thơ nổi tiếng của triều Nguyễn. Chính Sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ đã làm lễ truyền giới sa di ni cho sư chị, và Sư Ông của các con đã có mặt trong lễ truyền giới ấy. Ni sư Diên Trường sau này đã thành lập các chùa Phổ Quang và Trúc Lâm làm cơ sở tu học cho ni giới. Các ni viện đầu tiên ở Huế là do ni sư Diên Trường thành lập. Năm 1924 (Giáp Tý) trong Đại Giới Đàn tại chùa Từ Hiếu do tổ Thanh Thái Huệ Minh tổ chức, Ni sư Diên Trường đã đứng ra làm y chỉ sư cho các giới tử thọ giới sa di ni và tỳ kheo ni. Thầy rất mừng khi biết ở ni viện Diệu Trạm các con đã thiết lập bàn thờ để thờ Ni sư Diên Trường. Các ni viện khác có gốc rễ từ Tổ đình Từ Hiếu khắp nơi cũng nên làm như thế, bởi Ni sư Diên Trường là vị Ni tổ của tất cả các sư cô thuộc môn phái Từ Hiếu.

Bây giờ thầy xin trở về với sách Thiền Môn Nhật Tụng. Sách Thiền Môn Nhật Tụng của Tổ đình Từ Hiếu có một bài tựa viết chung cho hai sách Thiền Môn Nhật Tụng và Kinh Báo Ân. Bài tựa này được viết ngày rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu, tức là ngày 16.02.1897. Bài tựa nói đến gốc gác của chùa Từ Hiếu, am An Dưỡng do Tổ sư Nhất Định dựng lên, và công lao của Sư tổ Hải Thiệu Cương Kỷ trong buổi đầu tạo dựng Tổ đình Từ Hiếu (1848) và gần 50 năm sau, khi đại trùng tu lại Tổ đình (1895) cũng như trong việc chủ trương khắc bản in kinh. Hồi còn tập sự xuất gia tại Tổ đình, thầy đã có cơ hội được phụ tá các sư chú lớn in kinh Thiền Môn Nhật Tụng. Các sư anh đã tổ chức in kinh tại lầu trống của Tổ đình và thầy đã học được cách in kinh với mực tàu và giấy bản. Thầy đã sử dụng một chiếc lá mít hái ở vườn chùa để xoa lên lưng giấy cho mực được in vào đầy đủ trên trang giấy. Có được một bản sách Thiền Môn Nhật Tụng cho riêng mình để học hỏi, thầy rất hạnh phúc. Thầy học thuộc lòng hai buổi công phu rất nhanh. Chú Lăng Nghiêm, chú Đại Bi và mười bài chú khác thầy cũng đã học thuộc lòng trong vòng hai tuần lễ.

Năm 2007, trong chuyến về Việt Nam, thầy đã có dịp chỉ cho một số các thầy, các sư cô Làng Mai tháp tùng phái đoàn được thấy các bản gỗ của sách Thiền Môn Nhật Tụng này và nhờ thầy Từ Hòa in thử một trang cho mọi người cùng thấy. Nếu có dịp các con cũng nên học cách in như thầy đã từng in năm ấy. Ngoài các kinh Thiền Môn Nhật Tụng và Báo Ân còn có kinh Đại Hạnh Phổ Hiền, bản khắc rất đẹp, các con nhớ in thử cho biết.

Tuy là công việc khắc bản Thiền Môn Nhật Tụng được bắt đầu vào ngày rằm tháng Giêng năm Đinh Dậu (16.02.1897) nhưng chắc chắn trước đó nhiều tháng, bản chính của sách trong đó có bài tựa đã được chuẩn bị viết  xuống đầy đủ rồi, nét chữ viết rất đầy đặn và đẹp. Mỗi trang có bảy dòng, mỗi dòng có mười bảy chữ. Nghi thức cuối cùng trong sách là Nghi thức lạy Báo ân gồm có 27 lạy, trong đó có danh hiệu các tổ Lâm Tế Nghĩa Huyền, Minh Hoằng Tử Dung, Hoán Bích Nguyên Thiều và Thật Diệu Liễu Quán.

Đúng 100 năm sau ngày khởi sự khắc bản sách Thiền Môn Nhật Tụng tại Tổ đình Từ Hiếu thì sách Nhật Tụng Thiền Môn 2000 được ấn hành tại Âu Châu và Mỹ Châu, hoàn toàn bằng quốc văn. Sự kiện này được xảy ra năm 1997 và cũng vào mùa Xuân. Sách Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000 cũng đã được chuẩn bị trong suốt 15 năm trước khi được ra đời. Thầy trò chúng ta ở Đạo Tràng Mai Thôn đã làm việc trong từng ấy năm tháng để hôm nay sách được cống hiến cho các hành giả khắp nơi, không những bằng tiếng Việt Nam mà còn bằng nhiều thứ tiếng khác nữa. Sách Thiền Môn Nhật Tụng của chúng ta hiện giờ rất giàu có, ấn bản nào cũng dày trên ba trăm trang, với rất nhiều kinh văn, nghi thức, thi kệ, sám văn và hồi hướng. Tháng 4 năm 2009 vừa qua, chúng ta mới cho ra đời bản tiếng Pháp của sách Nhật Tụng Thiền Môn, với tựa đề là Chants du Coeur, do nhà xuất bản Sully ấn hành, 318 trang. Trước đó sách cũng đã được ấn hành bằng tiếng Anh, tiếng Đức và tiếng Ý.

Thầy trò chúng ta có cơ hội nối tiếp sự nghiệp chư Tổ một cách thiết thực và nhờ đó, thầy trò chúng ta đang có rất nhiều hạnh phúc. Hiện thời, ở quê hương, chúng ta có hai ấn bản đều mang tên Nhật Tụng Thiền Môn năm 2010. Ước muốn của chúng ta là cứ mỗi mười năm thì sách Thiền Môn Nhật Tụng lại được tu chỉnh một lần để nội dung sách được tiếp tục giàu có hơn, sáng đẹp hơn và phục vụ hữu hiệu hơn cho hành giả khắp chốn. Ấn bản Miền Nam của sách vừa được Phương Nam Book ấn hành, hình thức rất đẹp và rất trẻ. Ấn bản này có mang thêm bài tựa của Thượng tọa Lệ Trang, một vị thầy rất có uy tín và thẩm quyền trong lĩnh vực nghi lễ…

Thầy biết các con của thầy ở Từ Hiếu và Diệu Trạm vừa được đi gặt lúa xong và đang chuẩn bị cho Mùa An Cư Kiết Hạ. Thầy được biết là các vị tôn túc ở Huế đã đáp lời mời của Tổ đình đến dự Lễ Trai Đàn Chẩn Tế rất đông, và các con đang được liệt vị thương tưởng và đùm bọc hết lòng. Đây là một phước đức lớn, đây là ân huệ của chư Tổ. Các con phải bày tỏ lòng biết ơn bằng cách tu học cho tinh tiến, ngày nào cũng chế tác và nuôi dưỡng tình huynh đệ. Thực tập chánh niệm, mỗi bước chân các con đi cho thầy, cho Sư Ông, cho chư Tổ, và với mỗi bước chân như thế, các con có thể tiếp nhận được năng lượng của chư Tổ, dù là trước sân chánh điện, trên con đường lên thiền đường Trăng Rằm, bên hồ Sao Mai, trước đồi Dương Xuân hay trên Lăng Viện. Chư Tổ đã từng bước đi trên những lối đi ấy, Sư Ông đã từng bước đi trên những lối đi ấy, và thầy cũng đã từng bước đi trên những lối đi ấy. Đi như thế thì mỗi bước chân là phép lạ, mỗi bước chân là thảnh thơi, mỗi bước chân là trị liệu, mỗi bước chân là hạnh phúc. Chúng ta đi cho cha mẹ, cho tổ tiên, cho dòng họ, cho quê hương, cho đất nước, cho nhân loại. Hạnh phúc là cái gì có thật trong giây phút hiện tại. Chúng ta được may mắn làm con cháu của chư Tổ, chúng ta nguyện sống xứng đáng để có thể tiếp tục được sự nghiệp của các Ngài.

Thầy gửi tới các con niềm tin cậy và thương yêu của thầy.
Thầy của các con,

Nhất Hạnh

_____________________________
T.B: Thầy gửi theo đây bài kệ tán dương Ni sư Diên Trường, nguyên tác chữ Hán của Thiền sư Viên Thành, bản dịch của thầy.
Hình ảnh kèm theo: tổ Nhất Định, tổ Cương Kỷ, tổ Tâm Tịnh, tổ Huệ Minh, Chanting from the Heart, Nhật Tụng Thiền Môn 2000, Nhật Tụng Thiền Môn 2010 ấn bản Miền Bắc, Nhật Tụng Thiền Môn 2010 ấn bản Miền Nam, Chants du Coeur.

Có bài thơ tán dương Ni sư Diên Trường do Sư tổ Viên Thành tặng (VNPGSL, trg 153 – 154)

Thiện tai nữ đạo sư                
Giải thoát nhân trung kiệt     
Thịnh Niên xã thế vinh            
Phỏng đạo ngộ thiền duyệt    
Bát kính thị căn trì                  
Trường trai thủ tố tiết            
Uẩn giới phù vân không      
Phiền não hải thủy kiệt       
Giác mộng cảnh thừ chung   
Độ mê tạo bảo phiệt               
Công đức mãn chiên lâm          
Thanh lương đẳng tuệ nguyệt   
An ổn tọa bồ đoàn                     
Liễu chứng vô sinh quyết          
Sơn sắc thanh tịnh thân             
Khê thanh quảng trường thiệt  
Tích lai bản bất sinh                 
Kim khứ hà tằng diệt                 
Siêu nhiên bỉ ngạn đăng            
Liên đài diệu hương khiết
Lành thay nữ đạo sư
Bậc Giải thoát hào kiệt
Bỏ vinh hoa cuộc đời
Tìm vui nơi thiền duyệt
Pháp bát kỉnh hành trì
Nếp trường trai tinh khiết
Uẩn, giới như mây bay
Biển não phiền khô kiệt
Chuông khua tỉnh thức đời
Bè từ độ oan kết.
Công đức như rừng trầm
Mát như vầng tuệ nguyệt
An nhiên bồ đoàn ngồi
Chứng quả vô sinh diệt
Lời kia là suối reo
Thân kia là núi biếc
Xưa chưa hề có sinh
Nay cũng chưa từng diệt
Bờ bên kia bước lên
Đài sen hương diệu khiết