Con đã có đường đi

Nhìn lại để thương

Đã hai mươi mấy năm trôi qua, cứ ngỡ như tiếng thở phào nhẹ nhõm của ba mẹ ngày nào đã đi vào quá khứ, nhưng không ngờ nó vẫn còn mãi đó với thời gian. Chỉ cần trở về tiếp xúc là mọi chuyện cứ sống lại như mới xảy ra hôm nào.

Hồi đó quê tôi còn nghèo lắm, nhà nào cũng phải trộn thêm khoai sắn vào nồi cơm mới đủ no. Kinh tế nghèo nên nhận thức cũng còn lạc hậu. Tư tưởng trọng nam kinh nữ vẫn âm thầm len lỏi trong cuộc sống của người dân quê tôi. Dạo ấy nhà nào chưa hoặc không có con trai thì phiền muộn lắm bởi không ai mà không nói rằng: gia đình đó bạc phước nên mới không có con trai để nối dõi tông đường. Bao nhiêu tội lỗi cũng đều do người phụ nữ hết vì họ là người trực tiếp sinh ra những con người mà không phải là những người đàn ông. Người nào trong xóm cũng nghĩ như thế nên ba tôi cũng không ngoại lệ. Sinh con khó nhọc thiệt đó nhưng ba tôi chưa bao giờ cảm thấy hài lòng và hạnh phúc về sự ra đời của hai chị tôi. Hạnh phúc sao nổi khi xung quanh ai cũng nhìn ba bằng ánh mắt đầy khinh bỉ: đồ bạc phước không có con trai để thừa tự. Bao buồn phiền mà làng xóm đem lại, ba tôi đều trút hết lên đầu mẹ tôi mỗi lần ông về đến nhà. Thương nhất vẫn là hai chị của tôi. Bởi đeo mang một tư tưởng tụt hậu như thế nên mỗi lần có đồ ăn ngon ba đều cho con trai nhà cô bác chứ không cho hai đứa con gái của mình bởi xung quanh ai ai cũng nghĩ và nói rằng:con gái là con người ta chứ không phải con mình vì thế nào nó cũng đi lấy chồng.

Chọn Một Con Đường

Không trực tiếp sống những tháng ngày đó nhưng tôi luôn tin rằng ngày tôi chào đời, ba tôi nhẹ nhõm lắm. Bởi nó không đơn thuần là chuyện chồng lo lắng cho vợ lúc sinh nở mà còn cả chuyện danh dự của ông trước mọi người. Ông có thể chứng tỏ với mọi người rằng ông không bạc phước, rằng ông cũng có thể có con trai như bao người khác. Từ đây ông không phải cúi đầu e thẹn trước hàng xóm mỗi lần họ nhắc đến chuyện sinh con trai, con gái nữa. Nhưng, hơn ai hết người hạnh phúc nhất vẫn là mẹ của tôi, nạn nhân vô tội. Ai có thể cảm nhận được niềm hạnh phúc khi bồng trên tay đứa con trai mà bao đêm mẹ hằng mong ước và chờ đợi. Rằng đứa con này sẽ một phần nào làm nhẹ đi gánh nặng mà xã hội và chính chồng mình đã đặt lên đôi vai nhỏ bé của mình. Những ánh mắt đổ lỗi và kỳ thị không còn hướng về phía bà nữa. Và từ nay gia đình sẽ có cơ hội ấm cúng hơn khi mà vợ chồng không còn cự nhau về chuyện nối dõi tông đường. Dù chưa một lần nói ra nhưng tôi luôn có cảm giác rằng mẹ tôi đã hạnh phúc thật nhiều khi sinh ra tôi. Tôi như sống lại những tháng ngày mà mẹ đã đi qua. Dù chỉ nghe kể lại thôi nhưng tôi cũng bực mình đến nỗi có lúc muốn đánh tay đôi với ba mỗi lần nghe kể những thái độ mà ba đã đối xử tệ với mẹ thời gian đó. Đó là những cảm xúc lúc tôi còn nhỏ.

Lớn lên trong vòng tay yêu thương của ba mẹ với thêm ba em trai nữa lần lượt ra đời sau đó, tôi đóng vai người anh lớn trong nhà, tất nhiên còn có hai chị gái của tôi nữa. Cuộc sống tưởng chừng như sẽ êm đềm hơn khi mà có tới tứ quý của ba mẹ theo nhau chào đời. Cứ nghĩ ba rồi sẽ thay đổi nhiều lắm, sẽ bớt áp lực lên mẹ tôi. Nhưng sự đời không bao giờ như chúng ta hằng mơ ước. Nếp sống thiếu chất liệu tâm linh của gia đình nào rồi cũng đưa đến những vui buồn lẫn lộn, chưa nói đến khổ đau nhiều hơn hạnh phúc có lúc làm cho chúng ta mệt mỏi và chán chường tột độ. Bản thân tôi chứng kiến nhiều lần nước mắt của mẹ lăn dài trên đôi má gầy guộc với đôi mắt sưng cùng với vài nếp nhăn ẩn chứa niềm lo lắng cho đàn con nhỏ. Tôi đã nhiều lần tự nhủ mình sẽ phải làm gì đó để cho cuộc sống gia đình thêm hạnh phúc, mình không thể cam chịu như thế mãi được. Ý chí thay đổi hoàn cảnh gia đình đã thôi thúc tôi tìm đến đạo Phật với một niềm tin rằng mọi thứ rồi sẽ ổn. Có những lúc tuyệt vọng tôi chỉ biết niệm danh hiệu Phật để cho niềm đau khổ vơi đi chút nào. Nhưng sâu thẳm niềm khắc khoải và khát vọng tìm ra đường hướng thực tập luôn thúc tôi tìm đến một nếp sống thực tiễn hơn là chuyện hứa hẹn. Và tôi đã chọn con đường sống chánh niệm của người xuất gia để từ từ giải quyết những nút thắt trong lòng.

Bước Tới Thảnh Thơi

Ngày tôi đi xuất gia, tôi mời ba mẹ ngồi lên ghế để tôi lạy mỗi người ba lạy trước khi rời nhà. Ba tôi buồn lắm bởi bao kỳ vọng vào đứa con trai trưởng của ba đều tan vỡ, nhưng ý tôi đã quyết và tôi xác định được sứ mạng của mình. Bởi lúc đó tôi đã thấy được rằng tiền tài và lợi danh không đóng vai trò then chốt trong việc đem lại hạnh phúc cho gia đình nên tôi phải ra đi để đem lại cho gia đình thêm một khía cạnh nữa của hạnh phúc thực sự. Đó là nếp sống tâm linh song hành cùng cuộc sống vật chất. Chuyện đi tu của tôi không làm cho mẹ tôi quá ngạc nhiên bởi mẹ vẫn hay được tôi báo trước nhiều lần về quyết định đó. Hay chính xác hơn, những niềm đau nỗi khổ của mẹ đã đi qua, một phần đã tạo động lực cho tôi có một bước ngoặc, lập một sứ mạng khác của đời mình mà không phải xuôi dòng thế tục: thi vào đại học, ra làm việc, và…chăm mấy đứa nhỏ!

Đi tu là xách gói đi thôi chứ tôi không biết chính xác ai sẽ là thầy của mình và cuộc đời tu hành của mình sẽ ra sao. Lúc đó tôi chỉ nghĩ đi tu mới giải quyết được những khao khát của mình, mới giúp mình thực hiện được sứ mạng lớn lao hơn mà mình đã xác định. May mắn thay tôi được trở thành đệ tử của Thầy, làm con của Tăng thân. Tôi như được đổi đời, từ con trai của một gia đình nhỏ trở thành con của mọi nhà, được thương yêu, được học hành và đặc biệt nhất là được rèn luyện để thực sự sống và trị liệu; giúp gia đình huyết thống cũng như cùng Tăng thân giúp những người còn đau khổ.

Cuộc sống không bao giờ trải đầy hoa hồng dù đó là con đường xuất gia nhưng tôi không ngại bởi pháp Bụt do Thầy trao truyền lại luôn đưa tới con đường giải thoát tốt đẹp nhất và ít ngờ tới nhất. Tôi có niềm tin rằng cuộc sống sẽ dạy cho tôi biết khổ đau để rồi biết đồng cảm và yêu thương con người nhiều hơn và hun đúc cho mình cái thấy: mình có trong tất cả và tất cả có trong mình.

Sống và tu tập trong Tăng thân giúp tôi nhận ra rằng cuộc sống đem tới cho mình nhiều thứ nhưng cũng lấy đi biết bao điều. Khi chợt tỉnh ra thì mình đã chậm trễ rồi. Tiếc nuối chỉ làm mình thêm đau khổ nên tôi tự nhủ mình phải sống với hiện tại nhiều hơn để khi cái gì đó nữa phải rời xa thì mình sẽ không còn hối tiếc. Sự mất mát ai cũng ngại phải đối mặt nhưng nó luôn âm thầm nhắc chúng ta về sự vô thường của cuộc sống. Bây giờ hoặc không bao giờ là cả một thông điệp lớn mà cuộc sống dạy cho chúng ta.

Có khoảng thời gian, hầu như ngày nào tôi cũng xuống bếp để nấu ăn. Nhưng từ nhỏ tới lớn tôi chưa bao giờ nấu ăn liên tục và kéo dài như thế nên nhiều lúc cơ thể rất mệt mỏi vì phải đứng cạnh bếp ga nhiều giờ. Nhiều lúc mệt nhoài tôi chẳng muốn ăn uống gì nữa, nấu ăn xong là chỉ muốn thoát khỏi cái bếp càng sớm càng tốt. Những lúc như thế, chợt nhớ đến mẹ, lòng tôi tràn đầy niềm thương cảm bởi như nhiều người phụ nữ khác mẹ tôi cũng mấy mươi năm quần quật bên bếp củi từ ngày này qua tháng nọ mà không hề kêu ca gì. Có khi nghĩ đến những vị xuất sĩ nữ tôi thầm mừng cho họ bởi cuộc sống xuất gia đã đem lại cho họ nhiều không gian và thời gian thênh thang để họ có thể làm chính họ. Mẹ tôi không có cái diễm phước đó nên hôm nay tôi nguyện sống một đời thảnh thơi, không buộc ràng cho mẹ.

Con Đã Có Đường Đi

Xuất gia được hai năm thì nghe tin mẹ bị bệnh, tôi và người em trai kế, cũng đã xuất gia, được Tăng thân cho về thăm nhà. Vốn liếng tu học chăm chỉ trong hai năm đã giúp tôi có mặt với gia đình, giúp ba mẹ tập sống với nếp sống tâm linh nhiều hơn. Cả nhà tập ăn chay trường. Ba nghỉ nghề đánh bắt cá dưới biển để chuyển qua nghề khác hiền thiện hơn. Hằng ngày ba mẹ tôi đều tập ngồi thiền tụng kinh chung với nhau. Kể từ ngày anh em tôi đi tu, tự nhiên ba mẹ ý thức tu nhiều hơn bởi nói gì và làm gì ba mẹ cũng đều nghĩ cho chúng tôi. Tôi nghe ba thường nói: nhà mình có hai đứa con đi tu nên sống làm sao cho đúng với gia đình có người đi tu. Chỉ có suy nghĩ đó thôi mà ba tôi đã ầm thầm tu sửa nhiều hơn; biết chăm sóc cơn giận nhiều hơn và không nói những câu làm tổn thương người thân nữa, nhất là mẹ tôi. Bây giờ gia đình không còn ở chung như xưa nữa nhưng ai cũng cảm thấy gần nhau hơn bởi cả nhà cùng đi chung trên một con đường tâm linh.

Ngồi nhìn lại quá khứ gia đình, tôi biết ơn và quý đời sống xuất sĩ thật nhiều bởi nếu ngày trước tôi không quyết định đi tu thì không biết giờ đây gia đình của tôi đã như thế nào rồi. Và lý tưởng của người tu đâu chỉ có đem lại hạnh phúc cho bản thân và gia đình huyết thống thôi, còn biết bao gia đình vẫn đang ngóng chờ những người con có trái tim thương yêu lớn, có tu có học, đi vào cuộc đời để tiếp tục sự nghiệp của Bụt. Dẫu biết rằng mọi thứ đều mới bắt đầu nhưng tôi luôn có niềm tin nơi con đường của Bụt, của Thầy và Tăng thân đã và đang đi. Tôi tin rằng:“Đã có đường đi rồi con không còn lo sợ”.

Trung tâm Làng Mai Quốc Tế Thái Lan

Vườn Ươm Trời Phương Ngoại

Tu viện Làng Mai Quốc Tế Thái Lan đang bước vào tuổi lên ba, được Sư Ông thương, đặt nơi đây một Vườn Ươm có cốc tre Nhìn Xa và thiền đường mái lá Trời Phương Ngoại. Đây là nơi đang có hơn 160 quý thầy, quý sư cô chung sống tu học giữa hai xóm Trời Quang và Trăng Tỏ. Mỗi ngày ở đây, đại chúng đang được Sư Bá, quý sư cha, sư mẹ nuôi dưỡng, cùng quý sư anh, sư chị, sư em đang ươm mầm và nuôi lớn sự vững chãi. Nơi đây các sư em như những chồi non bồ đề nhỏ nhất, đông nhất và nhiều người trẻ nhất đang tiếp nhận nguồn năng lượng bình an từ Sư Ông để nuôi lớn hạt giống hiểu thương trong mình và hiến tặng hạnh phúc cho đời mỗi sớm mai. Cánh Đại Bàng đã cất cánh tung bay trên Bầu Trời Phương Ngoại. Làng Mai Quốc Tế Thái Lan là mạch chảy tiếp nối của tăng thân từ Việt Nam ra Châu Á và đi khắp nơi.

Năm 2007, trong chuyến hoằng pháp về Việt Nam, Sư Ông đã cùng 80 vị xuất sĩ đặt chân đến Thái Lan dự lễ VESAK thế giới. Sư Ông và tăng đoàn đã tiếp tục gieo xuống mảnh đất này những bước chân thảnh thơi, hơi thở chánh niệm nhiệm mầu. Hai năm sau, khi nhân duyên hội tụ đầy đủ, vào ngày 9.9.2009, sư cô Linh Nghiêm – người Thái Lan đang tu học từ Làng Mai Pháp Quốc – được Sư Ông và tăng thân cử về Thái Lan cùng với năm thầy và năm sư cô khác từ Việt Nam sang để xây dựng trung tâm tu học mới trước nhu cầu khao khát lớn của những cư sĩ Thái Lan muốn được thực tập pháp môn của Làng Mai ngay trên đất Thái, một đất nước có truyền thống Phật Giáo Theravada lâu đời. Mười vị xuất sĩ đầu tiên ấy là các thầy Pháp Toàn, Pháp Toại, Pháp Tánh, Pháp Anh, Pháp Xứ và các sư cô Hạnh Nghĩa, Tịnh Chánh, Dung Nghiêm, Cẩm Nghiêm và Đài Nghiêm.

Luộng Pi Niramisa

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống Phật giáo tại Bangkok – Thái Lan, sư cô Linh Nghiêm lúc còn là em bé bảy tuổi, trong lễ đám tang của bà nội, lần đầu tiên được nhìn thấy hình ảnh của những nữ tu sĩ Phật giáo Trung Hoa (ở Thái Lan người nữ xuất gia rất hiếm), em bé ấy thấy lòng mình chấn động mạnh trước vẻ đẹp hiền từ trong sáng, được gieo vào lòng giọt thanh lương cam lộ. Lên 16 tuổi, cô bé đam mê về sách tâm lý học, triết học và may mắn được tặng cuốn sách “Phép Lạ Của Sự Tỉnh Thức” của Sư Ông. Nào ngờ cuốn sách ấy đã có công năng chỉ dẫn cô bé suốt con đường sống với lý tưởng của mình.

Tốt nghiệp ngành Y Tá, cô bắt đầu phụng sự cho người nghèo, người đói, người tha phương tỵ nạn, trẻ em Lào, Campuchia, Việt Nam. Bốn năm sau, cô sang Mỹ theo học thạc sĩ chuyên ngành giáo dục mầm non và tiếp tục phụng sự cho trẻ em trong bảy năm sau đó. Năm 1993, lần đầu tiên cô được gặp Sư Ông tại Đức và năm1994, cô đến được với Làng Mai. Ba năm sau, ngày 4.2.1998 thì cô chính thức được làm con gái của Sư Ông Làng Mai với pháp tự là Chân Linh Nghiêm trong gia đình xuất sĩ Cây Táo cùng tám vị trẻ tuổi khác.

Năm 2001, sau năm năm tu học tại Làng Mai, sư cô Linh Nghiêm lần đầu tiên được về thăm gia đình tại Thái. Hành trang mang về thăm nhà ngoài Y, Bát là cả tấm lòng mong muốn hiến tặng bước chân, hơi thở chánh niệm cho ba mẹ, anh chị em, bạn bè và người Thái thân thương. Chí đã dựng thì nguyện sẽ đạt, sư cô gặp được những người bạn cư sĩ Thái đã từng đến thực tập và yêu thích pháp môn Làng Mai, những người muốn đem pháp môn của Làng đến với nước Thái. Vì vậy mà từ đó, năm nào họ cũng tổ chức những khóa tu học theo pháp môn Làng tại Thái cho đến ngày…

Hội ngộ của 11 vị khai sáng của Làng Mai Quốc Tế Thái Lan

Ngày 9.9.2009, sư cô Linh Nghiêm được Sư Ông và tăng đoàn cử về Thái Lan từ Pháp, cùng với mười sư em đến từ Bát Nhã để bắt đầu “khai sơn lập địa” trên đất Thái. Chân bước đi mà lòng ngậm ngùi, đó là tâm trạng của quý thầy, quý sư cô từ Việt Nam trong giai đoạn này. Họ vừa thương mấy trăm anh chị em mình bên nhà không biết có được cùng tu chung với nhau không, vừa thương mình chân ước chân ráo trên đất khách quê người, tuổi tu còn nhỏ mà tuổi đời chẳng cao.

Ba tháng đầu, có biết bao nhiêu là kỷ niệm vui buồn giữa sư chị người Thái chưa thông thạo tiếng Việt và các sư em người Việt chưa thông thạo tiếng Thái. Nhập gia tùy tục, mười một sư chị sư em mỗi ngày cùng dắt nhau đi đảnh lễ chư vị tôn túc truyền thống Thái khắp nơi, đảnh lễ Ngài Tăng Thống, tổ chức khóa tu cho cư sĩ, mở ngày quán niệm, cho pháp thoại… Khi trở về xóm, tuy ít người, nhưng thời khóa tu học miên mật mỗi ngày như: ngồi thiền tụng kinh, thiền hành, ăn cơm, nghe pháp thoại, học tiếng Anh, tiếng Thái và chấp tác đều đặn. Những ngày quán niệm thứ năm, chủ nhật hằng tuần cho hai xóm, lúc này gọi là Xóm Do Me (quý thầy) và Xóm Pun Lư (quý sư cô) là cơ hội cho mười một chị em cùng tu, cùng học, cùng ăn, cùng chơi, cùng hiểu, cùng thương nhau.

Nhờ năng lượng tu học tinh chuyên, nhờ giữ vững được hơi thở, bước chân qua những cơn sóng, nhờ tình thương và tâm Bồ Đề mà anh chị em đã ôm ấp được những khổ đau cũ của Bát Nhã, những thách thức ban đầu cho tu viện mới, mặc dù thỉnh thoảng hoặc đêm đêm, đâu đó còn có tiếng nấc vang lên, còn những giọt ngắn giọt dài. Thương và trân quý các sư em, sư chị Linh Nghiêm cùng nhiều cư sĩ Thái Lan đã đưa quý thầy, quý sư cô đi du lịch khắp nơi trên đất Thái trong mỗi chuyến đi ra.

Một sư cô đã chia sẻ: “Mười mấy người đi đâu cũng dắt nhau cùng đi, làm gì cũng cùng làm, ăn cùng ăn, bệnh cùng bệnh, khóc cùng khóc, cười cùng cười, giống nhà con đông mà ba mẹ đi vắng, tự thương nhau, tự nuôi nhau, nếu có lỡ làm nhau đau thì biết được liền, làm mới liền, chuyển hóa liền. Cho nên dù lúc đó thử thách nhiều nhưng tình thương cũng nhiều, ấn tượng lắm.”

Tăng Xá.jpg

Các Vị Cấp Cô Độc – Những người bạn tâm giao

Trời còn để có hôm nay…

(Truyện Kiều)

Những gì diễn ra trên đất Thái như là phép nhiệm màu, ắt phải đã do chư Tổ sắp đặt, chư Bụt dang cánh tay từ bi nâng đỡ. Thế mới biết chỉ có tu thôi, chỉ cần tu thôi thì sẽ còn nhau mãi mãi, sẽ gặp lại nhau. Bác Pun Lư, là tiếng gọi thân mật mà quý sư cô gọi vị Cấp Cô Độc Thái Lan giàu lòng từ bi, đã dang tay đón nhận hơn một trăm sư cô đến vườn nhà bác chung sống và tu học trong lúc tăng thân chưa hề có được mảnh nào để “cắm dùi”. Ngoài chỗ ở, bác đã cúng dường toàn bộ trái cây ngọt lành từ mảnh vườn 13 hécta, nào là xoài, dừa, nhãn, me… cho đại chúng. Như một cơ duyên tiền định, trước đó một năm, tự dưng bác bỏ ra một khoảng tiền lớn để tu sửa lại các gian nhà trong khu vườn của gia đình từ 30 năm nay vốn ít được ngó ngàng tới, mà cũng chẳng biết tu sửa để làm gì vì nhà chính của bác ở Bangkok, thỉnh thoảng bác mới xuống Pakchong này.

Xóm Do Me là nơi có căn nhà nghỉ dưỡng của gia đình sư cô Linh Nghiêm, được sử dụng để quý thầy, quý sư chú đến ở và tu học. Tuy không lớn bằng xóm Pun Lư nhưng cũng đủ không gian để quý thầy đi thiền hành, chơi thể thao, v.v…

Hai xóm cách nhau bởi con đường thiền hành dài chừng 3km rất đẹp, đi ngang qua những bãi mía xanh um.

Thêm vào đó, sẽ không thành công nếu không đủ bốn chúng cùng tu học nhưng may mắn thay, Tăng Thân Làng Mai Quốc Tế Thái Lan đã có được những vị cư sĩ nam nữ và 14 vị Tiếp Hiện rất giỏi, ham tu, hết lòng phụng sự Tam Bảo, chăm sóc quý thầy, quý sư cô, giúp đại chúng xuất sĩ hòa nhập được với truyền thồng văn hóa Thái Lan và người dân Thái. Trong tăng thân đã bắt đầu được xuất hiện những bài hát, vũ điệu, những lễ hội mới rất Thái như điệu múa Lòi Cà Thòng, Lễ Tạ ơn nước, Tết Thái… cùng với truyền thống văn hóa Việt.

Dang cánh tay từ bi cứu độ

Khi sự kiện Bát Nhã đi đến hồi bi kịch, tuy cha già ở xa nhưng may thay anh chị em gần kề, mười một vị ấy nay có cơ hội đón anh chị em mình đến Thái. Lúc đó dù chưa có gì, chưa biết phải làm sao, chỉ biết đi tới, cứ giữ cho hơi thở yên, chỉ mong còn tu chung với nhau được ngày nào quý ngày đó, dù ngày mai chưa biết sẽ ra sao.

Nhóm Cam (tức là từ Campuchia), tên gọi thân thương đại chúng dành cho hơn mười quý sư cô lưu lạc cuối cùng của Bát Nhã được sư mẹ Chơn Đệ và sư mẹ Hạnh Liên ôm ấp, rồi cũng về hội tụ ở Thái vào tháng 10/2010. Vậy mà trên chặng đường các sư con lưu lạc, Sư Ông vẫn cho ra đời mười sáu sư em cây Sen Xanh giữa lòng Pakchong Thái Lan với thế hệ mới, mở đầu cho những Bầu Trời với Ánh Trăng, khép lại Pháp và Nghiêm.

Sư Ông về- Sư Ông tiếp tục sinh sư em

Ban đầu, thiền đường là căn phòng nhỏ, nhà mẹ sư cô Linh Nghiêm. Khi quý thầy, quý sư chú qua đông thì một thiền đường nhỏ đã được dựng lên nhanh từ những chiếc chõng tre lều bạt. Đêm sương ngày nắng, quý thầy quý sư chú đều ngồi thiền tụng kinh hay buông thư cũng tại chỗ ấy. Thiền đường này có cái tên rất vui là Hội Ngàn Đinh (thay vì Hội Ngàn Sao như ở Xóm Hạ), do khi ngồi xuống rất dễ bị mấy cây đinh nổi lên trên thân tre móc rách áo quần. Thương tình, Bụt Tổ cho xây thiền đường ván gỗ Tình Huynh Đệ để đại chúng cả trăm vị được vào mùa An cư năm 2010, đồng thời cũng có thêm mấy gian nhà tranh vách cói để tránh nắng mưa, tiếp tục để cho quý thầy tu học.

Tháng 10 năm 2010, được tin Sư Ông về Thái Lan thăm các sư con, những sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị lớn từ Pháp, Mỹ, Đức… khắp nơi về thăm các sư em, và sẽ mở những khóa tu cho cả trăm người đến tham dự. Mọi người nhìn nhau: Chỗ đâu mà ngồi, mà tu nhỉ? Cái khó lại ló cái khôn. Thiền đường Trời Phương Ngoại nền đất, cột cây, vách liếp, mái lá ra đời rộng hơn, đẹp hơn để đón Sư Ông về, đủ sức chứa cho 500 người. Bất cứ ai đến nhìn cũng thấy thương mà hạnh phúc. Đó mới đúng là đời sống đơn giản đầy thiền vị của những người con Bụt.

Sư Ông về Cốc Nhìn Xa, ngồi chơi với các sư con, rồi Sư Ông lại cho ra đời các sư em Trời với Trăng. Anh chị chưa kịp lớn, chưa hết những xao xuyến nhớ quê hương, mà sư em thì cứ tiếp tục ra đời. Từ khắp ba miền đất nước, các tăng thân cư sĩ như Về Nguồn, Xuân Phong, Mây Thong Dong, Hiểu Và Thương, Thiện Tài Đồng Tử… các bạn trẻ tiếp tục náo nức xin tập sự xuất gia, các thầy cô trẻ tiếp tục… bồng em.

Sư Ông cho ra đời các sư em Trúc Vàng giữa khóa tu Xuất Sĩ ngày 17.10.2010 với 10 Trăng và 3 Trời. Cuối tháng 3/2011 Sư Ông lại về thăm Thái Lan, Sư Ông tiếp tục cho ra đời 13 sư em Trúc Xanh, rồi lại 13 Trúc Tím. Sắp sửa Sư Ông cho ra đời các sư em Cúc Đại Đóa tháng 1/2012. Phần lớn các sư em tương lai sẽ được “lọt lòng” tại Thái Lan, không có Sư Ông nhưng các em may mắn sẽ được Sư Bá đón chào trong ngày ra đời. Nhiều Sư em còn nhỏ mới tu, xa Sư Ông, xa quê, xa gia đình, tập khí còn nhiều, cứ phải gõ cửa nương tựa Sư Bá, sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị hoài hoài. Sư Ông đã cho ra đời ở đây nào là Trời Độ Lượng, Trăng Thanh Lương, Trời Tinh Khôi, Trăng Tuổi Thơ, Trăng Huyền Không,Trăng Xóm Mới, Trời Bao Dung, Trăng Đầu Non, Trời Thảnh Thơi, Trăng Tùng Hạc, Trăng Yên Tử, Trăng Đoàn Tụ…

Đất Mới

Con đông nhưng may mắn có nơi tạm trú an ổn, thấy mình phước báu còn tràn trề nhờ ơn đức của Sư Ông. Tuy vậy Làng Mai Quốc Tế Thái Lan vẫn để tâm tìm đất xây Tu viện mới. Quả là một thử thách không nhỏ, nhưng nhờ đại chúng hết lòng tu tập nên tuy có khó khăn trong ngoài, đại chúng Thái Lan đã được chư Tổ phù hộ, cuối cùng cũng mua được mảnh đất mới đẹp, nằm trên vùng đất rộng, có tầm nhìn phóng xa thấy cả rặng núi Khảo Dài trước mặt. Mảnh đất gác lưng bên ngọn đồi nhỏ đón sương, đón gió của vùng núi cao, rất chi là hợp với… tu thiền. Sư Ông về và buổi lễ Sái Tịnh cho Đất Mới được diễn ra, chính thức đặt tên mới là: Làng Mai Quốc Tế Thái Lan.

Cùng tu cùng chơi

Đại chúng Thái Lan đều đặn tổ chức những khóa tu cho người trẻ, khóa tu gia đình, khóa tu trẻ em, ngày quán niệm mỗi tháng tại Bangkok, chương trình Wake Up, cứu trợ lũ lụt cho nước Thái… Đây là cơ hội để anh chị em được ra ngoài để thực hiện lý tưởng phụng sự độ đời, con đường mà Bụt Tổ và Sư Ông đã và đang đi. Những sinh hoạt thời khóa hằng ngày của đại chúng vẫn đều đặn, ngày Sadi được tổ chức hằng năm vào tháng 12, cũng như các lớp học Phật Pháp Căn Bản mở ra thường xuyên, lớp tiếng Thái, tiếng Anh hay là những chuyến đi chơi, đi biển toàn chúng để đại chúng được thay đổi không khí…

Những con chim nhỏ vẫn hát ca, tập thỉnh chuông mõ, hô canh, dâng hương đều đặn dưới những gốc dừa, gốc me, hồ súng, để luôn được nuôi dưỡng và chóng trưởng thành. Em bé Thái Lan chưa đầy ba tuổi, mỗi ngày vẫn đang từng bước đứng lên, bước đi trên đôi chân nhỏ bé của mình, được Sư Ông nắm tay, được các sư anh, sư chị, sư em từ khắp nơi: Hong Kong, Việt Nam, Đức, Mỹ, Úc, Pháp… cùng nắm tay hát ca và dạo bước rong chơi Trời Phương Ngoại.

Đại Chúng Thái Lan

Trời Quang- Trăng Tỏ

Làng Mai Quốc Tế Thái Lan (Thai Plum Village International Practice Center)

PO Box 23

Pak Chong District

Nakhon Ratchasima 30130, Thailand

Địa chỉ email: visitus@thaiplumvillage.org

Liên lạc với Học Viện AIAB

Chùa Trúc Lâm (Chu Lam Ching Yun)_quý Thầy

House No 41, Ngnong Ping Village, Lantau Island, Hong Kong

Điện thoại: +(852) 2985_5033

 

Chùa Liên Trì (Lotus Pond Temple)_quý Sư cô

Ngnong Ping Village, Lantau Island, Hong Kong

Điện thoại: +(852) 2985_5281

+(852 3012_9832

 

Emai: aiab@pvfhk.org

Trang nhà: www.pvfhk.org

Viện Phật học ứng dụng Châu Á (AIAB)

Viện Phật Học Ứng Dụng là một trong những ước mơ của Thầy, Thầy đã bắt tay xây dựng từ lâu lắm rồi và cuối cùng nó cũng đã trở thành hiện thực. Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu (EIAB), trung tâm tại Đức đã đi vào hoạt động vài năm trước đã đánh một dấu mốc quan trọng trong việc xây dựng đạo đức con người trên Thế giới ngày nay. Vài năm sau, với sự yểm trợ của nhiều người và đầy đủ duyên lành, Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á (AIAB) được ra đời, trung tâm ở tại Hong Kong. Sự ra đời của hai trung tâm này cũng là sự chuyển mình của Làng Mai sau 30 năm hoạt động, mong muốn mang những lời dạy của Bụt được ứng dụng vào đời sống, đem lại bình an và hạnh phúc cho mọi người.

Tháng 5 năm nay (2011), Tăng Thân Hong Kong lại một lần nữa may mắn đón chào Thầy và Tăng Thân sau chuyến hoằng pháp tại Thailand và Taiwan. Tháng 11 năm trước Thầy và Tăng Thân cũng đã có chuyến hoằng pháp lớn tại đây sau các nước Đông Nam Á. Năm nay Thầy đến Hong Kong không tổ chức sự kiện gì như năm ngoái, nhưng sự có mặt của Thầy đã đặt nền tảng cho sự ra đời của Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á (AIAB). Tại ngôi Chánh Điện Chùa Liên Trì, ở đảo Lantau xinh đẹp này, ngày 1 tháng 5 năm 2011 Thầy đã giảng bài Pháp Thoại đầu tiên, bắt đầu cho sự hoạt động của AIAB. Sau bài pháp thoại là buổi lễ cúng dường Tu viện dựa trên chuyện Vua Tần-Bà-Sa-La cúng dường Tu Viện Trúc Lâm cho Tăng đoàn của Bụt ngày xưa, các vị Thí chủ cúng dường Chùa đã rưới nước rửa tay cho Thầy để công bố sự hoạt động củaTăng thân Làng Mai tại đây được bắt đầu trước sự chứng kiến và niềm hân hoan của tứ chúng. Đến nay cũng gần 8 tháng trôi qua, chương trình tu học được tiếp tục duy trì từ ngày ấy. Mỗi ngày lại có thêm nhiều người biết đến và thực tập hơn và đã xây dựng được một Tăng Thân cư sĩ thực tập vững chãi, yểm trợ cho chúng xuất sĩ trong những hoạt động dưới sự hướng dẫn của Thầy Pháp Khâm và Đại chúng ở đây.

Hong Kong là một nước nhỏ có diện tích 2,916 km2 với số dân tương đối đông khoảng 8 triệu người, được xem là một trong những nước có nền văn minh tiên tiến và hiện đại nhất Châu Á. Với những tòa nhà cao chọc trời nằm san sát nhau, ấy vậy mà 75% diện tích là thiên nhiên được bảo vệ. Trung Tâm Tự Tại, tên của trung tâm Làng Mai tại Hong Kong nằm tại Tsim Sha Tsui ở trung tâm Kowloon. Gần ba năm trước, chúng tôi sang đây để bắt đầu thành lập chúng xuất sĩ với năm thầy để xây dựng chúng ở Hong Kong. Trung Tâm Tự Tại nằm tại trung tâm thành phố , nghe thật là hoành tráng nhưng thực ra nó chỉ là căn hộ nhỏ, nằm ở tầng một của một tòa nhà (Building) mười bốn tầng, có không gian làm Thiền Đường đủ chỗ cho khoảng ba mươi người ngồi, dài theo phía sau là nơi làm việc, phòng ăn và chỗ sinh hoạt của quý thầy. Hằng ngày quý thầy thực tập theo thời khóa của một Tu viện, giờ thiền hành chúng tôi đi ngoài công viên, đi dọc theo Cảng Victoria, nơi mà khách du lịch thường xuyên lui tới thăm viếng. Được sự nâng đỡ của quý vị cư sĩ nên những hoạt động khóa tu và sinh hoạt được duy trì thường xuyên nên từ từ được nhiều người biết đến và tìm về với Tăng thân, mặc dù chỉ là một trung tâm nhỏ nhưng những hoạt động trong gần ba năm qua cho thấy sự có mặt của trung tâm và pháp môn thực tập ở đây đã giúp ích và mang lại hạnh phúc, sự bình an cho nhiều người, đặc biệt là cho những người có đời sống khá nhanh, có quá nhiều lo toan và căng thẳng như ở Hong Kong. Sau thời gian gần hai năm sinh hoạt, nhân duyên đầy đủ, Thầy và Tăng Thân có chuyến hoằng pháp tại đây, chúng ta đã có một trung tâm sinh hoạt mới do quý vị Thí Chủ có lòng hảo tâm cúng dường.

Chỗ tôi đang ngồi viết đây là một khu nhà tên là Trúc Lâm Tịnh Uyển, đây là nơi sinh hoạt thường trú của quý thầy, có khuôn viên nội viện với hàng cây và hoa, ngôi nhà có một lầu, phía trên là Thiền đường và dãy phòng sinh hoạt, phía dưới là phòng học, thư viện và nhà ăn. Hầu hết các lớp học của chương trình Học viện đều diễn ra ở đây. Nhìn sang hướng trước mặt là tượng Bụt lớn của chùa Bảo Liên, đây là nơi mà nhiều khách du lịch đến viếng thăm mỗi ngày. Phía bên kia là Chùa Liên Trì, nơi sinh hoạt của quý sư cô, khuôn viên chùa rộng hơn Trúc Lâm, có bãi cỏ xanh phía trước cốc của Thầy, được làm bằng gỗ rất đẹp, có nhà ăn chứa khoảng bảy mươi người, có chánh điện trang nghiêm, đây cũng là nơi quý thầy quý sư cô chia sẻ pháp thoại vào mỗi chủ nhật hàng tuần. Hai xóm cách nhau khoảng 50m, bao quanh vùng này là những dãy núi và biển, có thể đi bộ và uống trà ngắm cảnh trong những ngày làm biếng.

Hiện tại xóm quý sư cô có chín người và một vị tập sự, xóm quý thầy chỉ có sáu người, vì nhân duyên chưa đầy đủ nên chỉ mới có hai người sang, hi vọng trong thời gian tới sẽ đón chào thêm quý thầy, quý sư cô từ nơi khác sang để yểm trợ. Thời khóa sinh hoạt của hai xóm được sắp xếp thực tập chung như ngồi thiền buổi sáng, thiền hành, các lớp học…nên có nhiều cơ hội để thực tập, làm việc và nuôi dưỡng tình huynh đệ. Với chương trình đào tạo theo Phật Học Viện nên các lớp học cho chúng xuất sĩ được bắt đầu từ các Kinh căn bản theo trình tự với sự hướng dẫn của quý thầy và quý sư cô Giáo thọ qua các băng giảng của Thầy. Mỗi sáng trong tuần đều có các lớp học ngôn ngữ, tiếng Anh, tiếng Việt và tiếng Quảng Đông, sau đó là các lớp học nội điển hoặc các lớp khác như Giới luật, văn hóa địa phương, sức khỏe, nghi lễ… mà đặc biệt là lớp học Toastmaster – Cách chia sẽ trước công chúng. Các lớp học đã tạo hứng thú cho sự thực tập và nuôi dưỡng các anh chị em, buổi chiều thì chấp tác riêng mỗi xóm. Ngày thứ Năm và Chủ nhật có quán niệm chung. Riêng ngày Chủ nhật có cư sĩ lên tham dự và có chương trình đặc biệt riêng cho mỗi Chủ nhật trong tháng. Chủ nhật đầu tiên trong tháng có ưu tiên cho thiền sinh người Việt và đặc biệt là có chương trình cho trẻ em,. Chủ Nhật của tuần thứ hai đặc biệt cho nhóm người trẻ và xây dựng nhóm Wake up ở Hong Kong. Chủ nhật tuần thứ ba cho nhóm Tăng Thân cư sĩ xây dựng Tăng Thân và tụng 14 giới Tiếp Hiện và Chủ Nhật cuối tháng là sinh hoạt chung, có Be-in hoặc tổ chức Thiền trà. Ngoài những ngày sinh hoạt bình thường tại đây, còn có những khóa tu định kì ba tháng một lần. Vì nhu yếu thực tập của mọi người nên đại chúng ở đây duy trì những sinh hoạt thực tập tối thứ Sáu và các Ngày Quán niệm cho những nơi như: Học Viện Giáo Dục (HKIED), các trung tâm thực tập, Trường học hoặc Bệnh viện. Đó là những thời khóa và sinh hoạt trong chúng.

Được sự yểm trợ của những vị Thí chủ nên chỗ ăn chỗ ở của các vị thiền sinh đến tham dự khóa tu tại chùa được quan tâm và mở rộng. Hiện nay có chỗ ở cho khoảng sáu mươi người, đó cũng là sự quan tâm nỗ lực lớn để yểm trợ cho sự thực tập được thuận hơn, mang lại hạnh phúc cho nhiều người.

Sau Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Âu và hiện nay là Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á đã và đang đi vào hoạt động. Mặc dù vậy, nhìn lại vẫn còn thiếu nhân lực và đang cần thêm quý thầy quý sư cô hướng dẫn. Nhưng hiện chưa đủ người nên các anh chị em ở đây phải tự đứng lên để từ từ từng bước làm vững chãi, xây dựng cho Viện Phật Học Ứng Dụng Châu Á được mở rộng, thực tập để chuyển hóa nội tâm và hướng dẫn cho mọi người tiếp tục theo con đường chư Bụt chư Tổ đã đi. Ước mơ của Thầy đã và đang trở thành hiện thực là xây dựng Đạo Đức Toàn Cầu. Chúng ta cũng tiếp tục công việc của Thầy, bàn tay tiếp nối bàn tay, từ Âu sang Á và khắp mọi nơi. Ba mươi năm Làng Mai, một thành quả lớn lao mà Thầy cùng Tăng Thân đã xây dựng, mang lại ánh sang cho nhân loại, chúng ta sẽ tiếp tục đi hoài và đi mãi.

Chân Pháp Chứng
Tháng 12.2011

 

Sức mạnh của lòng từ bi

          Đại-đế Nã-Phá-Luân của nước Pháp, người từng làm rung chuyển đất trời, sụp đổ lâu đài, thành quách mỗi khi đoàn chiến mã của ông băng qua, nhưng ở lúc cuối đời, đã để lại câu nói:

          “Có hai sức mạnh trên thế giới. Đó là sức mạnh của thanh gươm và sức mạnh của tấm lòng. Nhưng chung cuộc, bao giờ tấm lòng cũng đánh bại thanh gươm.”

          Hai hình ảnh tương phản đó, là sự hủy diệt và hàn gắn, sự tàn ác và lòng từ-bi.

          Sức mạnh của tấm lòng chính là lòng từ-bi. Với sức mạnh này, thanh gươm sẽ bị tấm lòng bẻ gẫy!

          Nhân gian đời-thường, sau bao kinh nghiệm chìm nổi, thịnh suy, cuối cùng cũng phải nhận rằng, những gì tưởng là tột đỉnh của lẽ sống, thực ra chỉ là vô thường mà những vết thương trầm thống đó, chỉ có lòng từ bi mới chuyển hóa và trị liệu được. 

          Lòng từ bi theo lời Phật dạy, chẳng phải chỉ đối với người sống mà còn với kẻ chết. Những oan hồn uổng tử vất vưởng ba nẻo sáu đường biết trông cậy vào đâu để mong giải thoát và tìm đường tái sinh kiếp khác! Nhờ lòng hiếu thảo của Đại hiếu Mục Kiền Liên muốn báo hiếu cứu mẹ thoát khỏi địa ngục mà Đức Phật đã dạy Kinh Vu Lan bồn, cách tứ sự cúng dường cùng việc thí thực cô hồn trong rằm tháng bẩy. Bao hồn oan lang thang đói khát đã nương sức từ bi, trông chờ ngày tháng đó mà có bát cháo no lòng; và quan trọng hơn cả là nhờ công đức hồi hướng chí thành của người cúng thí mà có cơ may gặp duyên lành được giải thoát. 

          Đây là hình thức chung cho đại chúng, mỗi năm mới cúng một lần. Nhưng vì biết được sự khát khao trông đợi của biết bao oan hồn uổng tử, tuy khuất mày khuất mặt nhưng đau đớn luôn phảng phất, mênh mang trời đất nên có nhiều tự viện vẫn thành tâm thí thực mỗi ngày, hoặc mỗi tuần. 

          Tôi thấy được điều này ở chùa Phật Tổ.

          Hàng tuần, chúng tôi có hai ngày tu niệm Phật thường xuyên là thứ bẩy và chủ nhật. Những Phật tử ở xa, đến từ chiều thứ sáu, nghỉ đêm tại chùa cho đến hoàn mãn lúc 5 giờ chiều chủ nhật. Sau khi hoàn mãn, quý thầy cô trong chùa thường sắp một bàn dài, trước cửa chánh điện, bầy trái cây, bánh kẹo, chè, cháo, để cúng cô hồn. Những Phật tử dự khóa tu đều hoan hỷ ở lại góp lời trì tụng. Mỗi chiều chủ nhật, cư dân địa phương quanh chùa lại nghe tiếng trống của thầy Thường Giới, quyện cùng tiếng khánh, tiếng mõ của các sư-cô, thiết tha mời gọi bao oan hồn gần xa hãy mau về thọ tài hưởng thực, thính pháp văn kinh:

          “Thần chú gia trì cam lồ thủy

          Phổ thí hà sa chúng cô hồn

          Nguyện giai bảo mãn xả xan tham

          Tốc thoát U Minh sanh Tịnh Độ

          Quy y Tam Bảo phát Bồ Đề

          Cứu cánh đắc thành Vô Thượng Đạo

          Công đức vô biên tận vị lai

          Nhứt thiết cô hồn đồng pháp thực”

          Mỗi lần tới đoạn này, chúng tôi đều vừa cất tiếng tụng, vừa nhìn nhau vì cùng nhận được như có sự giao cảm nhiệm mầu:

          “Oai linh thần chú phi thường, nước mát biến thành nước cam lộ, cúng thí vô số chúng cô hồn, cầu cho no ấm hết xan tham, thoát khỏi U minh về Cõi Tịnh, quy y Tam Bảo rõ Đạo Mầu, rốt ráo trọn nên bậc Vô Thượng, công đức không lường ở vị lai, tất cả cô hồn đồng Pháp-thực” 

          Những ai từng dự lễ cúng cô hồn, dù phẩm vật dâng cúng đơn sơ tới đâu nhưng với lời trì tụng chí thành giữa làn khói hương nghi ngút đều cảm thấy ít nhiều bâng khuâng của sự giao cảm âm dương cách biệt. 

          Tình cờ, tôi vừa đọc được một bài viết rõ nét về sự chiêu cảm nhiệm mầu này, cho chúng ta niềm tin mạnh mẽ hơn về một thế giới vô hình, tuy khoa học không chứng minh được nhưng cũng không thể phủ nhận được.

          Bài viết về dịp mới đây, tăng thân Làng Mai sang thăm viếng Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu (VPHUDAU), danh xưng tiếng Anh là European Institude of Applied Buddism (EIAB), tại thành phố Waldbroel, Đức Quốc.

          Tòa nhà này đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử thịnh suy của nước Đức. Theo bài viết, năm 1895, tòa nhà hoành tráng, mênh mông này từng là bệnh viện chính của thành phố, với nhiều phân khoa, trong đó có sản khoa mà nhiều nhân vật tiếng tăm đã từng chào đời tại đây. Nhưng sau đó, bệnh viện này lại trở thành bệnh viện tâm thần và trung tâm nuôi giữ trẻ khuyết tật. Đến năm 1938, chính phủ Đức đương thời muốn trưng dụng làm Hàn Lâm Viện Quân Sự cho quân đội Đức nên đã ra lệnh di chuyển toàn bộ hơn 700 trẻ khuyết tật và những người tâm thần đi đâu, biệt tích!

          Sau đó, tòa nhà được sửa sang nguy nga tráng lệ cho một Hàn Lâm Viện bề thế, nhưng quân đội chưa được xử dụng ngày nào thì Hitler thua trận! Ngôi nhà đương nhiên thuộc về Bộ Quốc Phòng, nhưng chỉ thỉnh thoảng dùng làm nơi tổ chức những khóa huấn luyện ngắn hạn cho các sỹ quan. Khi bức tường ngăn cách Đông và Tây Bá Linh sụp đổ thì một lần nữa, số mệnh tòa nhà nổi trôi theo lịch sử, bị bỏ trống lâu năm, rồi cuối cùng, được giao cho Phòng Bất Động Sản của quân đội để bán cho tư nhân. 

          Với sự nhiệm mầu gần như KHÔNG THỂ NGHĨ BÀN, ngôi nhà đã được gợi ý thành Viện Phật Học Âu Châu dưới sự lãnh đạo tinh thần của Sư Ông Làng Mai, tức Thiền sư Trừng Quang Nhất Hạnh, thuộc thế hệ thứ 42 của Tông Lâm Tế và thế hệ thứ 8 của phái Liễu Quán.

          Những tiến trình sau sự gợi ý này đã tiến nhanh ngoài dự tưởng của những người trong cuộc trên cả hai phương diện, tinh thần và vật chất. Những thương lượng khởi đầu: “Thôi, chúng tôi làm gì có tiền như thế mà mua nổi!”, tòa nhà đã GẦN NHƯ TẶNG KHÔNG, để với thời gian kỷ lục, nay đã thoát xác, thành Viện Phật Học Ứng Dụng Âu Châu. 

          Mới đây, sáng ngày 14 tháng 11 năm 2008, khi thiền hành trong công viên, Sư Ông chợt thấy trên vườn hoa dẫn vào cổng trước, một phiến đá rất đẹp, trên đó có gắn một miếng đá nhỏ hơn, hình chữ nhật, ghi chi chít tiếng Đức. Sư Ông đã bảo sư-chú Pháp Chu người Đức, dịch cho Sư Ông nghe. Phiến đá ghi:

          “Để tưởng niệm những người trong bệnh viện cũ này tại Waldbroel, mà trong thời gian (Đức) Quốc Xã, bị xem như là không đáng sống và bị lấy mất nhân cách và mạng sống của họ qua cách ép buộc kết liễu đời mình và bị ép lấy mất khả năng sinh con.”   

          Bên dưới có một tấm bia khác, ghi thêm chi tiết về con số 700 bệnh nhân tâm thần và khuyết tật đã bị chở đi biệt tích, ngày 14 tháng 11 năm 1938.

          Với hai tấm bia ghi lại thảm kịch này, người sau hiểu rằng hơn 700 nạn nhân thời đó đã bị bức tử!            

          Sư Ông Làng Mai và tăng đoàn đều giật mình sửng sốt vì từ khi tiến hành thủ tục nhận tòa nhà này, dù đã đến đây mấy lần nhưng chưa hề nhìn thấy phiến đá, cũng chưa nghe ai nói về sự kiện này. Vậy mà, điều gì đã chờ đợi đến đúng ngày 14 tháng 11 năm 2008, để bước chân thiền hành của vị thiền-sư dừng lại trước phiến đá, ghi nhận được dấu mốc đúng 70 năm sau thảm kịch!

          Nhận ra sự trùng hợp kỳ diệu này, chính vị thiền-sư từng thản nhiên trước mọi sự, cũng phải rùng mình! 

          Thầy Pháp Ấn, vị đệ tử lớn của Sư Ông và cũng là người sẽ chịu trách nhiệm điều hành Phật Học Viện Âu Châu trong giai đoạn đầu đã từng kể rằng, tuần lễ mới về, thầy thường nằm mộng thấy nhiều trẻ em khuyết tật khóc than, cầu cứu. Sáng ra, thầy có kể cho mọi người nghe thì các sư cô đã lập đàn, cúng cháo, bánh kẹo; thì một vài đêm sau đó, có sư cô đã nằm mộng thấy nhiều em bé chạy nhảy, vui đùa, cùng nhau ăn bánh kẹo thỏa thích. Các Thầy Cô nghĩ rằng, có lẽ chỉ vì thành tâm mà có biểu hiện trong những giấc mơ thế thôi.

          Nhưng, sau sự khám phá bất ngờ về tấm bia đá ghi chứng tích thảm kịch này thì những dữ kiện đã kết hợp lại với nhau, không gì là tình cờ nữa! Những oan hồn từ thế giới vô hình đang cố gắng truyền đạt nỗi thống khổ của họ tới những ai mà họ tin là có thể bám víu, có thể tin tưởng sẽ cứu vớt họ được.

Thảm kịch xảy ra đã bẩy mươi năm. Suốt thời gian đằng đẵng đó, nỗi oan khổ của hơn bẩy trăm oan hồn, hẳn vẫn kêu khóc tức tưởi ngày đêm,  nhưng vô vàn bi phẫn đó vẫn còn nguyên vẹn! Bẩy mươi năm, bao nhiêu ngàn vạn bước chân đã đi ngang, nhưng có lẽ không một tấm lòng nào đủ từ bi khiến bước chân dừng lại! Hoặc có dừng lại, nhưng không đủ năng lượng mẫn ái để cứu giúp!            

Vậy thì, đây hẳn là thông điệp kỳ diệu của Chư Phật, Chư Bồ Tát, Chư Thiên, Chư Tiên đã sắp đặt để tòa nhà giam hãm bao oan khiên thống khổ này, nay được trở thành Linh Địa, nơi sẽ hướng dẫn và dìu dắt chúng sanh chuyển hóa và trị liệu thương tích cho nhau, để cùng lên đường giải thoát, giác ngộ.

          Sự khám phá trùng hợp, bất ngờ này không những làm sững sờ dân chúng nước Đức mà còn khiến nhiều kẻ vô thần phải hoảng sợ, nghĩ lại về nghiệp báo oan gia, khi vay trả chưa xong thì nợ nần vẫn còn đó. 

          Lời khấn nguyện với các hương linh tại Waldbroel mà Sư Ông Làng Mai đã soạn để các sư cô cúng tụng mỗi chiều, thể hiện lòng Đại Từ Đại Bi mà Đức Thế Tôn đã truyền dạy ngài Mục Kiền Liên khi xưa:

 Lời khấn nguyện  với Hương Linh  tại Waldbroel

(Trụ sở Viện Phật Học Ứng Dụng)

Xin hương linh quý vị và các cháu lắng nghe và chứng giám. Bảy mươi năm về trước, người ta đã đối xử rất tệ hại với liệt vị. Họ chích thuốc cho quý vị chết hoặc cho quý vị mất đi khả năng sinh sản con cái. Nỗi khổ niềm đau rất lớn ấy ít ai thấy được.

Ngày nay Tăng thân đã tới, Tăng thân đã nghe và đã hiểu tất cả những khổ đau tủi nhục và uất ức ấy. Tăng thân đã đi thiền hành, đã ngồi thiền, đã thở trong chánh niệm, đã trì chú, tụng kinh, thí thực, để cầu ơn trên chư Bụt, chư vị Bồ tát, chư vị Tổ sư để quý Ngài hồi hướng công đức vĩ đại của quý ngài cho liệt vị và các cháu, để quý vị và các cháu có cơ hội chuyển hóa, tái sinh ra dưới những hình thức mới. Những người đã làm khổ quý vị, họ cũng đã gánh chịu nghiệp quả khổ đau, xin quý vị mở lòng từ bi mà tha thứ cho họ để họ cũng có cơ hội giải thoát và chuyển hóa. Xin hộ trì cho Tăng thân và cho các thế hệ hành giả kế tiếp, để họ có thể biến nơi này thành một cơ sở thực tập chuyển hóa và trị liệu, không những cho thành phố Waldbroel mà cho cả nước Đức và cả toàn thế giới.

          Lương tâm nhân loại ơi!

          Với những huyền bí và mầu nhiệm của sự việc vừa bất ngờ chứng nghiệm và giao cảm, trước sự chứng kiến khách quan và đông đảo của mọi thành phần, chúng ta thử tưởng tượng xem, nếu tòa nhà này, qua sự mua bán bình thường, lại trở thành những địa điểm cung ứng thú vui dục lạc đời-thường, thì bao oan hồn uổng tử kia biết bám víu vào đâu mà mong ngày giải thoát!             

                   ÁN TAM ĐÀ RA DÀ ĐÀ TA BÀ HA

         (Độc-Cư-Am, chớm Đông 2008)                        

Vương Quốc Của Giây Phút Hiện Tại

vương quốc của giây phút hiện tại đón mừng bạn–  Chú ơi! Sao mỗi lần được ngồi chơi với chú là trong cháu luôn cảm thấy được sự bình an và hạnh phúc. Lần nào cháu cũng cảm nhận được như vậy hết dù có khi chúng ta không có nói chuyện với nhau nhiều.

Chú bé mở đôi mắt to tròn nhìn sư chú và hỏi.

Nghe chú bé hỏi sư chú nhớ lại cái ngày đầu tiên làm quen với chú bé. Ngày đó cũng cách đây nhiều năm rồi. Lúc đó chú bé còn nhỏ lắm. Chú bé khi đó khoảng ba hay bốn tuổi. Chú bé vừa đi vừa khóc. Tiếng khóc ấm ức, nức nở. Sư chú nghe tiếng chú bé khóc. Sư chú muốn an ủi chú bé. Sư chú muốn vỗ về chú bé. Sư chú tiến lại gần chú bé và ôm chú bé vào lòng. Sư chú chưa nói gì hết. Chú bé từ từ thôi không khóc.

Sư chú đứng lên nhẹ nhàng nắm đôi tay bé nhỏ của chú bé. Sư chú bước từng bước chậm rãi, khoan thai. Chú bé đi bên cạnh sư chú và im lặng. Chú bé không còn thút thít nữa. Chú bé đã ngưng khóc hoàn toàn. Đó là ngày đầu tiên chú bé quen sư chú. Sư chú là một người lạ nhưng với chú bé, sư chú là một người gần gũi. Chú bé không hiểu vì sao lại có cảm giác thân thương và gần gũi với sư chú như vậy. Chú bé thấy sự có mặt của sư chú dành cho chú bé thật tròn đầy. Chú bé thấy lòng mình ấm lại. Chú bé thấy ngay giây phút đó mình chẳng cần làm gì cả và cũng chẳng thấy nỗi buồn nào có thể xâm chiếm và chế ngự. Chú bé cũng cảm thấy mình bình an và tròn đầy.

Sau những giây phút ngắn ngủi nhớ lại lần gặp đầu tiên của sư chú với chú bé, sư chú nhìn chú bé với ánh mắt yêu thương và trìu mến rồi trả lời: Cháu có biết vì sao điều đó lại xảy ra không? Điều đó xảy ra vì chú là người đến từ một vương quốc khác.

Chú bé nghe sư chú nói sư chú là một người đến từ một vương quốc khác thì rất ngạc nhiên. Mắt chú bé vốn đã to và tròn rồi, bây giờ nghe sư chú nói như vậy đôi mắt ấy mở to hơn và tròn hơn.

Chú bé đã quen sư chú nhiều năm nhưng nó chưa hề biết đến bí mật này. Nó không hề biết sư chú là người đến từ một xứ sở khác. Rồi như nhận ra một điều gì đó chú bé hỏi sư chú: Chú ơi! Có phải những người ở vương quốc của chú ai cũng nhẹ nhàng, bình an và hạnh phúc như chú không? Có phải ở đó tất cả mọi người đều luôn có nụ cười trên môi như chú không? Và mỗi lần có ai đó khổ đau được ngồi gần bên người của vương quốc của chú thì cũng đều có được cảm giác như cháu đang ngồi cạnh chú, một cảm giác thật bình an, thật hạnh phúc?

Sư chú mỉm cười và khẽ gật đầu. Sư chú nói với chú bé: Giống như những lời cháu nói. Người nơi xứ sở của chú ai cũng có có năng lượng của sự bình an, hạnh phúc. Ai cũng mang trong mình năng lượng của sự có mặt, năng lượng của sự thương yêu. Thế cháu có muốn nghe chú kể về xứ sở của chú không? Sư chú hỏi chú bé.

– Dạ muốn. Chú bé trả lời sư chú.

Xứ sở của chú rất mầu nhiệm cháu à. Bất cứ nơi nào người của chú có mặt thì cả vương quốc đều đi theo người đó. Giống như bây giờ chú đang ở đây với cháu thì vương quốc ấy cũng đang có mặt ngay bây giờ và ở đây với chú.

Thật là lạ. Cháu không thấy vương quốc ấy nhưng cháu tin chú bởi vì ngay bây giờ và ở đây cháu thấy mình rất bình an và hạnh phúc. Cháu thấy mình bình an và hạnh phúc khi đang được ở cạnh chú.

Ở vương quốc của chú cũng giống nơi đây lắm. Vương quốc của chú cũng có những hàng cây xanh, cũng có những dòng suối róc rách, có mây trắng nhẹ bây trên bầu trời, có chim hót vào mỗi bình minh, và có cả những cậu bé, chú bé thơ ngây như cháu đây.

– Vương quốc của chú có tất cả những gì mà nơi đây có. Nhưng những người ở vương quốc của chú khác rất nhiều những người ở nơi đây. Những người ở vương quốc của chú ai cũng biết tận hưởng cuộc sống. Ai cũng biết trân quí những gì mình đang có.

Những người ở vương quốc của chú ai cũng biết cách đi thảnh thơi, ai cũng biết cách hiến tặng sự có mặt, sự thương yêu cho từng bông hoa, ngọn cỏ.

Vương quốc của chú đẹp quá! Người trong vương quốc của chú ai cũng dễ thương hết, dễ thương như chú vậy. Chú ơi! Chú có thể nói cho cháu biết tên của vương quốc đó được không?

Người trong vương quốc của chú ai cũng biết rằng mỗi giây phút là sự sống tròn đầy. Ai cũng thấy rằng ngay giây phút này, ở đây tất cả những gì mình cần tìm kiếm đã có sẵn hết rồi. Vì biết như vậy nên không có ai có nhu cầu rong ruổi, tìm cầu bất cứ một thứ gì cả. Vì không rong ruổi tìm cầu nên ai cũng thảnh thơi. Vì thảnh thơi nên cái mà mọi người hiến tặng cho nhau chính là hạnh phúc và yêu thương.

– Trong vương quốc của chú ai cũng có khả năng an trú được trong hiện tại, sống trọn vẹn với cái đang là, nên tên của…

– Chú khoan nói đã. Chú cho cháu đoán đi. Có phải tên vương quốc của chú là… là… là vương quốc của giây phút hiện tại không?

–  Đúng rồi! Cháu đã nói đúng, tên vương quốc ấy là vương quốc của giây phút hiện tại. Vương quốc của giây phút hiện tại không có thời gian và không gian. Vì vậy cháu có thể gặp chú bất cứ lúc nào mà cháu muốn.

Bất cứ giây phút nào mà cháu có thể an trú được trong giây phút hiện tại. Khám phá ra những điều mầu nhiệm trong cháu và xung quanh cháu. Bất cứ giây phút nào mà cháu cảm thấy tròn đầy, bình an, yêu thương và thảnh thơi thì cháu biết rằng cháu đã vào được vương quốc của giây phút hiện tại. Cháu biết rằng ngay giây phút ấy cháu đang gặp chú, và tất cả những người trong vương quốc của chú. Cánh cửa của vương quốc giây phút hiện tại luôn mở ra cho cháu, luôn chào đón cháu như là một người bạn cũ xa quê đang trở về.

Chú nói chào đón cháu như một người bạn cũ xa quê trở về?

– Đúng vậy, rồi từ từ cháu sẽ hiểu ra điều này.

Cháu cảm ơn chú đã kể cho cháu nghe nghe về vương quốc của chú. Vương quốc của giây phút hiện tại.

Sư chú nhìn chú bé mỉm cười thương yêu rồi sư chú nắm tay chú bé, cúi người xuống nói nhỏ vào tai chú bé: “Chú chim họa mi đang mời hai chú cháu mình vào vương quốc của giây phút hiện tại kìa. Cháu có nghe không?“