Nghi thức hôn lễ

1. Thiền Hành (30 phút, sau khi được hướng dẫn)

2. Thiền Tọa (12 phút, sau khi được hướng dẫn)

3. Dâng Hương
Đại chúng đứng chắp tay trước bàn thờ. Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Hương đốt khói trầm xông ngát
Kết thành một đóa tường vân
Đệ tử đem lòng thành kính
Cúng dường chư Bụt mười phương
Giới luật chuyên trì nghiêm mật
Công phu thiền định tinh cần
Tuệ giác hiện dần quả báu
Dâng thành một nén tâm hương.
Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

4. Tán Dương
Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, đại chúng chắp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.

Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

5. Lạy Bụt

Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và đại chúng lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Manjusri (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Samantabhadra (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Avalokiteśvara (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Ksitigarbha (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Mahākassapa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Sāriputta (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Maha Moggallāna (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư  Upāli (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo Ānanda (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Gotamī (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

6. Trì Tụng
Đại chúng an tọa trên tọa cụ thành hai hàng đối diện nhau. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Vị chủ lễ xướng kệ khai kinh và Tâm Kinh:

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)
Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

TÂM KINH TUỆ GIÁC QUA BỜ

Avalokita
Khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng
Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;
Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn. (C)

“Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ

Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)

7. Khai Thị
Hôm nay đại chúng tập họp để hộ niệm cho lễ thành hôn của các Phật tử … và … Xin mọi người giữ chánh niệm và theo dõi hơi thở khi nghe tiếng chuông gia trì. (Ba tiếng chuông)

8. Lạy Báo Ân
Các Phật tử … và … đứng dậy, ra đứng chắp tay trình diện trước Tam Bảo. Nghe lời xướng và tiếng chuông thì lạy xuống một lạy:

Phật tử mang ơn cha mẹ sinh thành, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.(C)
Phật tử mang ơn sư trưởng giáo huấn, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.(C)
Phật tử mang ơn bằng hữu và các bậc thiện tri thức đã tác thành cho, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương.(C)
Phật tử mang ơn mọi loài chúng sanh, cây cỏ và đất đá, cúi đầu kính lễ Tam Bảo thường trụ trong mười phương. (CC)

9. Khai Thị

Xin đại chúng lắng lòng nghe. Đây là lúc các Phật tử … và … phát nguyện sống cuộc sống lứa đôi theo giáo pháp của Bụt. Người Phật tử thấy mình không phải là những cá nhân biệt lập với tổ tiên và dòng họ, mà thấy mình là một sự tiếp nối, đại diện cho tất cả những thế hệ đi trước. Tất cả những hành động và phong độ sinh hoạt của mình trong hàng ngày không phải chỉ để nhằm đến mục đích thỏa mãn những nhu yếu tinh thần và thể chất cho cá nhân mình, mà cũng còn là để thực hiện ước vọng của dân tộc, của giống nòi và của dòng họ, và cũng là để chuẩn bị cho những thế hệ con cháu kế tiếp. Mục đích của cuộc sống lứa đôi là để làm cho tiếp nối dòng sinh mạng của tổ tiên nơi những thế hệ con cháu sau này. Đây là nhiệm vụ chính của mình và cũng là điều mà các đương sự phải tâm niệm mỗi ngày trong từng giây phút.

Quý vị Phật tử ! Quý vị hãy theo thầy đọc lên năm lời phát nguyện sau đây, và sau mỗi lời nguyện thì theo tiếng chuông lạy trước Tam Bảo một lạy:

Điều phát nguyện thứ nhất: Chúng con nguyện sống đời sống hàng ngày sao cho xứng đáng với đạo đức của tổ tiên và nòi giống chúng con. (C)
Điều phát nguyện thứ hai: Chúng con nguyện sống đời sống hàng ngày sao cho xứng đáng với kỳ vọng mà tổ tiên và giống nòi đặt nơi mỗi chúng con. (C)
Điều phát nguyện thứ ba: Chúng con nguyện nương vào nhau, xây dựng cho nhau bằng tình thương, sự tin cậy, sự hiểu biết và lòng kiên nhẫn. (C)
Điều phát nguyện thứ tư: Chúng con nguyện thường tự nhắc nhở rằng sự trách móc, sự hờn giận và lý luận chỉ làm hao tổn hòa khí và không giải quyết được gì. Chúng con biết chỉ có sự hiểu biết và lòng tin cậy mới bồi đắp được hạnh phúc và sự an lạc. (C)
Điều phát nguyện thứ năm: Chúng con nguyện trong đời sống hàng ngày dồn hết tâm lực và phương tiện để xây dựng cho thế hệ con cháu của chúng con trong tương lai. (C)

10. Huấn Giáo
Các Phật tử! Trước sự chứng minh của Tam Bảo và đại chúng, quý vị đã được phối hợp thành vợ thành chồng trong năm điều phát nguyện.
Những lời phát nguyện này quý vị phải đem ra cùng nhau đọc tụng vào ngày trăng tròn mỗi tháng trước bàn thờ Tam Bảo. Tam Bảo sẽ gia hộ cho các Phật tử có đủ sáng suốt, có đủ hiểu biết và thương yêu để xây dựng và bảo vệ hạnh phúc gia đình, làm nền tảng cho sự tiếp nối công trình của tiền nhân và sự xây dựng cho những thế hệ hậu lai. Xin đại chúng chắp tay niệm Bụt theo phương pháp trì danh nhất tâm bất loạn để hộ niệm cho cuộc phối hợp này được thành tựu đẹp đẽ và bền vững.

11. Trì Tụng (mỗi danh hiệu ba lần)
Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

12. Lạy Nhau
Bây giờ đây là lúc hai người mới cưới quay mặt lại với nhau và lạy nhau hai lạy để biểu lộ niềm cung kính đối với nhau. Trong truyền thống nước ta, vợ chồng phải biết kính trọng nhau như những người khách quý (tương kính như tân). Tình yêu và sự cam kết của quý vị được xây dựng trên nền tảng của sự tương kính đó.

13. Trao Nhẫn Và Nói Lời Ước Nguyện
Bây giờ đến lúc hai người mới cưới quỳ lên, trao nhẫn cho nhau và nói với nhau lời nguyện ước, trước sự chứng giám của Tam Bảo.

14. Huấn Giáo Và Chúc Tụng Của Bậc Phụ Huynh
(một vị phụ huynh đại diện ban lời huấn giáo và chúc tụng)

15. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

15. Hồi Hướng

Phát nguyện pháp thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Nghi thức hộ niệm cầu an

1. Thiền Hành – 30 phút, sau khi được hướng dẫn

2. Thiền Tọa – 12 phút, sau khi được hướng dẫn

3. Dâng Hương
Đại chúng đứng chắp tay trước bàn thờ. Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Nguyện khói hương thơm này
Cung thỉnh được Thế Tôn
Có mặt với chúng con
Nơi đạo tràng ở đây
Trong giây phút hiện tại.

Nguyện khói hương thơm này
Tỏa ngát cả mười phương
Thanh tịnh chốn đạo tràng
Giúp chúng con duy trì
Chánh kiến chánh tư duy.

Nguyện khói hương thơm này
Bảo hộ cho chúng con
Vững chãi và thảnh thơi
Hiểu nhau và thương nhau
Bây giờ và mãi mãi.

Hương Giới, Định và Tuệ
Là tâm hương nhiệm mầu
Chúng con kính dâng lên
Chư Bụt và Bồ Tát
Trong thế giới mười phương
Nguyện mọi loài chúng sanh
Thấy được ánh đạo vàng
Ly khai nẻo sanh tử
Hướng về nẻo bồ đề
Giải thoát mọi khổ đau
Thường trú trong an lạc.

Nam mô Đức Bồ Tát Cúng Dường Hương. (C)

4. Tán Dương
Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, đại chúng chắp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.

Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

5. Lạy Bụt
Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và đại chúng lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

6. Khai Kinh
Đại chúng an tọa trên tọa cụ thành hai hàng đối diện nhau. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Vị chủ lễ xướng kệ khai kinh

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

7. Trì Tụng – đồng tụng

Nam mô Bụt, Bồ Tát và Thánh Tăng trên hội Pháp Hoa. (ba lần) (C)

Kinh Sức Mạnh Quan Âm (C)

“Thế Tôn muôn vẻ đẹp
Con xin hỏi lại Người
Bồ Tát kia vì sao
Tên là Quan Thế Âm?”

Bậc diệu tướng từ tôn
Trả lời Vô Tận Ý:

“Vì hạnh nguyện Quan Âm
Đáp ứng được muôn nơi.
“Lời thề rộng như biển
Vô lượng kiếp qua rồi
Đã theo ngàn muôn Bụt
Phát nguyện lớn thanh tịnh.

“Ai nghe danh, thấy hình
Mà tâm sanh chánh niệm
Thì thoát khổ mọi cõi
Đây nói sơ lược thôi.

“Nếu có ai ác ý
Xô vào hầm lửa lớn
Niệm sức mạnh Quan Âm
Hầm lửa biến hồ sen.

“Đang trôi giạt đại dương
Gặp nạn Rồng, Quỷ, Cá
Niệm sức mạnh Quan Âm
Sóng gió không nhận chìm.

“Đứng chóp núi Tu Di
Bị người ta xô ngã
Niệm sức mạnh Quan Âm
Như mặt trời trên không.

“Bị người dữ đuổi chạy
Rơi xuống núi Kim Cương
Niệm sức mạnh Quan Âm
Không hao một mảy lông.

“Bị oán tặc vây hãm
Cầm đao thương sát hại
Niệm sức mạnh Quan Âm
Oán tặc thấy thưong tình.

“Bị khổ nạn vua quan
Sắp sửa bị gia hình
Niệm sức mạnh Quan Âm
Đao kiếm gãy từng khúc.

“Nơi tù ngục xiềng xích
Chân tay bị gông cùm
Niệm sức mạnh Quan Âm
Được tháo gỡ tự do.

“Gặp thuốc độc, trù, ếm
Nguy hại đến thân mình
Niệm sức mạnh Quan Âm
Người gây lại gánh chịu.

“Gặp La Sát hung dữ
Rồng độc và quỷ ác
Niệm sức mạnh Quan Âm
Hết dám làm hại ta.

“Gặp ác thú vây quanh
Nanh vuốt thật hãi hùng
Niệm sức mạnh Quan Âm
Đều vội vàng bỏ chạy.

“Rắn độc và bò cạp
Lửa khói un hơi độc
Niệm sức mạnh Quan Âm
Theo tiếng tự lui về.

“Sấm sét, mây, điện, chớp
Mưa đá tuôn xối xả
Niệm sức mạnh Quan Âm
Đều kịp thời tiêu tán.

“Chúng sanh bị khốn ách
Vô lượng khổ bức thân
Trí lực mầu Quan Âm
Cứu đời muôn vạn cách.

“Trí phương tiện quảng đại
Đầy đủ sức thần thông
Mười phương trong các cõi
Không đâu không hiện thân.

“Những nẻo về xấu ác
Địa ngục, quỷ, súc sinh
Khổ sinh, lão, bệnh, tử
Cũng từ từ dứt sạch.

“Quán Chân, quán Thanh Tịnh
Quán Trí Tuệ rộng lớn
Quán Bi và quán Từ
Thường nguyện, thường chiêm ngưỡng.

“Quán Vô Cấu, Thanh Tịnh
Mặt trời Tuệ phá ám
Điều phục nạn, gió, lửa
Chiếu sáng khắp thế gian.

“Tâm Bi như sấm động
Lòng Từ như mây hiền
Pháp cam lộ mưa xuống
Dập trừ lửa phiền não.

“Nơi án tòa kiện tụng
Chốn quân sự hãi hùng
Niệm sức mạnh Quan Âm
Oán thù đều tiêu tán.

“Tiếng Nhiệm, tiếng Quan Âm
Tiếng Phạm, tiếng Hải Triều
Tiếng Vượt Thoát Tiếng Đời
Hãy thường nên quán niệm.

“Từng niệm không nghi ngờ
Trong ách nạn khổ chết.
Quan Âm là tịnh thánh
Là nơi cần nương tựa.

“Đầy đủ mọi công đức
Mắt thương nhìn thế gian
Biển Phước chứa vô cùng
Nên ta cần đảnh lễ.”
Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm. (ba lần) (CC)

8. Khai Thị

Đại chúng tập họp hôm nay để đọc kinh niệm Bụt hộ niệm và cầu an cho (ông, bà) có thân nhân, con cháu và thân hữu của (ông, bà) tham dự trong việc hộ niệm.

Xin đại chúng lắng nghe: một tâm niệm an lành được phát khởi có thể soi sáng cho cả thế giới ta bà. Chúng ta đã tập họp hôm nay để thắp sáng tâm niệm an lành trong mỗi chúng ta, bằng thiền tọa, thiền hành, tụng kinh và niệm Bụt để thiết lập cảm ứng và tiếp nhận chất liệu đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, vô uý làm động lực chuyển hóa tình trạng và đem lại an lành cho sự sống. Sự an lạc của thế giới tùy thuộc vào sự an lạc của chúng ta trong giờ phút này. Xin đại chúng nhất tâm niệm danh hiệu của Bụt và các vị Bồ Tát.

9. Niệm Bụt
(đồng tụng, mỗi danh hiệu ba lần)

Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni  (C)
Nam mô Bụt Dược Sư Lưu Ly (C)
Nam mô Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nam mô Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nam mô Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nam mô Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

10. Trì Tụng

Trí tuệ bừng lên đóa biện tài
Đứng yên trên sóng sạch trần ai
Cam lộ chữa lành cơn khổ bệnh
Hào quang quét sạnh buổi nguy tai
Liễu biếc phất bày muôn thế giới
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay.

Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm. (ba lần) (C)

Có câu chân ngôn mầu nhiệm xin đại chúng đồng tâm trì tụng:

Cúi đầu quy y Tô Tất Đế
Thành tâm đảnh lễ Thất Câu Chi
Chúng con xưng tán Đại Chuẩn Đề
Xin nguyện xót thương và gia hộ

Nam mô tát đa nẩm, tam miệu tam bồ đề, câu chi nẩm, đát điệt tha. Án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha. (ba lần) (C)

Nguyện ngày an lành đêm an lành
Đêm ngày sáu thời đều an lành
An lành trong mỗi giây mỗi phút
Cầu ơn Tam Bảo luôn che chở
Bốn loài sinh lên đất Tịnh
Ba cõi thác hóa tòa Sen
Hằng sa ngạ quỷ chứng Tam hiền
Vạn loại hữu tình lên Thập Địa.

Nam mô Bồ Tát Siêu Thập Địa. (ba lần) (C)

11. Hướng Về Kính Lạy

Hướng về kính lạy đức Như Lai
Hải đăng chiếu soi biển trần khổ
Xin đức Từ Bi xót thương nhiếp thọ
Chúng con hôm nay khẩn thiết nguyện quay về. (C)

Đệ tử chúng con
Bốn ơn mang nặng
Chưa dịp báo đền
Nhìn ra ba cõi bốn bên
Thấy muôn loài còn chìm trong khổ nạn
Bỗng giật mình kinh hãi
Biết rằng dù đã quay đầu nhìn lại
Vẫn thấy rằng bến Giác còn xa
May thay trong cõi Ta Bà
Đâu cũng có cánh tay đức Từ Bi cứu độ. (C)

Nay chúng con một lòng quay về nương tựa
Nguyền xin làm đệ tử đức Như Lai
Hợp nhất thân tâm
Quỳ dưới Phật đài
Buông hết trần tâm
Một lòng quy kính
Xin tiếp nhận diệu pháp
Tinh chuyên tu tập mỗi ngày
Nuôi giới định lớn lên
Quả Bồ Đề một mai thành tựu
Chúng con cầu hồng ân đêm ngày che chở
Cúi xin Bụt, Pháp và Tăng xót thương. (C)

Chúng con biết rõ
Tự thân nghiệp chướng còn nặng
Phúc đức còn mong manh
Tri giác vẫn thường hay sai lầm
Tuệ căn vẫn còn chưa vững chãi
Tâm nhiễm ô còn dễ phát khởi
Văn tư tu chưa thật sự vững bền
Giờ phút này ngưỡng vọng đài sen
Năm vóc cùng gieo xuống
Mong lượng Từ mở rộng

Chúng con xin trải hết lòng ra.(C)
Đệ tử chúng con
Từ muôn kiếp xa xưa
Vì không nhận diện được bản tâm thanh tịnh
Nên đã chạy theo trần cảnh
Ba nghiệp nhiễm ô
Đắm trong tham ái mê mờ
Ghét ghen hờn giận
Nay nhờ chuông đại hồng
khua vang tỉnh mộng
Quyết một lòng làm mới thân tâm
Bao nhiêu tội ác lỡ lầm
Nguyền xin hoàn toàn gột sạch.

Chúng con giờ phút này đây
Lập nguyện sâu dày
Xa lìa tập khí cũ
Suốt đời về nương tựa tăng thân
Xin Bụt đưa cánh tay ân cần
Từ bi nâng đỡ.
Nguyện trong khi thiền tập
Nguyện những lúc pháp đàm
Lúc đứng, khi đi
Nấu cơm, rửa bát
Nằm, ngồi, làm việc
Giặt áo, kinh hành
Trì niệm hồng danh
Thắp hương, lạy Bụt
Mỗi bước chân sẽ đem về an lạc
Mỗi nụ cười sẽ tỏa chiếu thảnh thơi
Sống chánh niệm trong mỗi phút giây
Là chỉ dạy cho người
Thấy con đường thoát khổ.
Nguyện thấy được Tịnh Độ
Dưới mỗi bước chân mình
Nguyện tiếp xúc Bản môn
Trong mỗi khi hành xử
Bước trên thật địa
Thở giữa chân không
Thắp lên trí sáng diệu tâm
Màn vô minh quét sạch.
Thân tâm tịnh lạc
Tư thái thong dong
Đến phút lâm chung
Lòng không luyến tiếc
Thân không đau nhức
Ý không hôn mê
Chánh niệm rõ ràng
Tĩnh lặng sáu căn
Buông bỏ báo thân
Như vào thiền định.
Nếu cần thọ sinh kiếp khác
Sẽ lại làm đệ tử đức Như Lai
Tiếp theo sự nghiệp cứu đời
Đưa mọi loài về bến Giác
Thành tựu ba thân, bốn trí
Sử dụng năm mắt, sáu thần thông
Hóa hiện ngàn vạn ứng thân
Có mặt một lần trong ba cõi
Ra vào tự tại
Hóa độ mọi loài
Không bỏ một ai
Tất cả đều đưa lên bờ không thối chuyển. (C)
Thế giới vô tận
Chúng sanh vô tận
Nghiệp và phiền não
Đều cũng vô tận
Nguyện con cũng thế
Sẽ là vô tận.
Con nay xin lạy Bụt phát nguyện
Tu trì công đức
Chia sẻ với muôn loài hữu tình
Để báo được trọn vẹn bốn ơn
Và giáo hóa khắp nơi trong ba cõi
Xin nguyện cùng tất cả mọi loài chúng sanh
Hoàn thành tuệ giác lớn. (CC)

12. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng, dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,
thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,
nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,
xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

13. Hồi Hướng

Cầu an pháp thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Nghi thức sám hối

 

1. Thiền Hành (30 phút, sau khi được hướng dẫn)

2. Thiền Tọa (12 phút, sau khi được hướng dẫn)

3. Dâng Hương
Đại chúng đứng chắp tay trước bàn thờ. Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Xin cho khói trầm thơm
Kết thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Bụt
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các thánh hiền tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rỡ
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức.

Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

4. Tán Dương
Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, đại chúng chắp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.
Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

5. Lạy Bụt
Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và đại chúng lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Ma Ha Ca Diếp (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Xá Lợi Phất (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Ma Ha Mục Kiền Liên (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư Ưu Ba Ly (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Kiều Đàm Di (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

6. Trì Tụng
Đại chúng an tọa trên tọa cụ thành hai hàng đối diện nhau. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Vị chủ lễ xướng kệ khai kinh:

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi. (C)

Kinh Tinh Yếu Bát Nhã Ba La Mật Đa (C)

Bồ Tát Quán Tự Tại
Khi quán chiếu thâm sâu
Bát Nhã Ba La Mật
Tức diệu pháp Trí Độ
Bỗng soi thấy năm uẩn
Đều không có tự tánh.
Thực chứng điều ấy xong
Ngài vượt thoát tất cả
Mọi khổ đau ách nạn. (C)

“Nghe đây, Xá Lợi Tử :
Sắc chẳng khác gì không
Không chẳng khác gì sắc
Sắc chính thực là không
Không chính thực là sắc
Còn lại bốn uẩn kia
Cũng đều như vậy cả. (C)

Xá Lợi Tử, nghe đây :
Thể mọi pháp đều không
Không sanh cũng không diệt
Không nhơ cũng không sạch
Không thêm cũng không bớt.
Cho nên trong tánh không
Không có sắc, thọ, tưởng
Cũng không có hành thức
Không có nhãn, nhĩ, tỷ
Thiệt, thân, ý – sáu căn
Không có sắc, thanh, hương
Vị, xúc, pháp – sáu trần
Không có mười tám giới
Từ nhãn đến ý thức
Không hề có vô minh
Không có hết vô minh
Cho đến không lão tử
Cũng không hết lão tử
Không khổ, tập, diệt, đạo
Không trí cũng không đắc. (C)

Vì không có sở đắc
Nên khi vị Bồ Tát
Nương diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Thì tâm không chướng ngại
Vì tâm không chướng ngại
Nên không có sợ hãi
Xa lìa mọi mộng tưởng
Xa lìa mọi điên đảo

Đạt Niết Bàn tuyệt đối. (C)
Chư Bụt trong ba đời
Y diệu pháp Trí Độ
Bát Nhã Ba La Mật
Nên đắc vô thượng giác.
Vậy nên phải biết rằng
Bát Nhã Ba La Mật
Là linh chú đại thần
Là linh chú đại minh
Là linh chú vô thượng
Là linh chú tuyệt đỉnh
Là chân lý bất vọng
Có năng lực tiêu trừ
Tất cả mọi khổ nạn
Cho nên tôi muốn thuyết
Câu thần chú trí độ
Bát Nhã Ba La Mật”.
Nói xong đức Bồ Tát
Liền đọc thần chú rằng:
Gate
Gate
Paragate
Parasamgate
Bodhi
Svaha.2 (ba lần) (CC)

7. Sám Nguyện

Trang nghiêm đài sen ngự tọa
Đại hùng từ phụ Thích Ca
Đệ tử lắng lòng thanh tịnh
Bàn tay chắp thành liên hoa
Cung kính hướng về Điều ngự
Dâng lời sám nguyện thiết tha.(C)

Đệ tử phước duyên thiếu kém
Sống trong thất niệm lâu dài
Không được sớm gặp chánh pháp
Bao nhiêu phiền lụy đã gây
Bao nhiêu lỡ lầm vụng dại
Vô minh che lấp tháng ngày
Vườn tâm gieo hạt giống xấu
Tham, sân, tự ái dẫy đầy
Những nghiệp sát, đạo, dâm,vọng
Gây nên từ trước đến nay
Những điều đã làm, đã nói
Thường gây đổ vỡ hàng ngày.
Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng
Nguyện xin sám hối từ đây.(C)

Đệ tử thấy mình nông nổi
Con đường chánh niệm lãng xao
Chất chứa vô minh phiền não
Tạo nên bao nỗi hận sầu;
Có lúc tâm tư buồn chán
Mang đầy dằn vặt lo âu,
Vì không hiểu được kẻ khác
Cho nên hờn giận, oán cừu;
Lý luận xong rồi trách móc
Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau
Chia cách hố kia càng rộng
Có ngày không nói với nhau
Cũng không muốn nhìn thấy mặt
Gây nên nội kết dài lâu;
Nay con hướng về Tam Bảo
Ăn năn khẩn thiết cúi đầu. (C)

Đệ tử biết trong tâm thức
Bao nhiêu hạt tốt lấp vùi:
Hạt giống thương yêu, hiểu biết
Và bao hạt giống an vui.
Nhưng vì chưa biết tưới tẩm
Hạt lành không mọc tốt tươi
Cứ để khổ đau tràn lấp
Làm cho đen tối cuộc đời
Quen lối bỏ hình bắt bóng
Đuổi theo hạnh phúc xa vời
Tâm cứ bận về quá khứ
Hoặc lo rong ruổi tương lai
Quanh quẩn trong vòng buồn giận
Xem thường bảo vật trong tay
Dày đạp lên trên hạnh phúc
Tháng năm sầu khổ miệt mài;
Giờ đây trầm xông bảo điện
Con nguyền sám hối đổi thay. (C)

Đệ tử tâm thành quy ngưỡng
Hướng về chư Bụt mười phương
Cùng với các vị Bồ Tát
Thanh văn, Duyên giác,thánh hiền
Chí thành cầu xin sám hối
Bao nhiêu lầm lỡ triền miên
Xin lấy cam lồ tịnh thủy
Tưới lên dập tắt não phiền
Xin lấy con thuyền chánh pháp
Đưa con vượt nẻo oan khiên
Xin nguyện sống đời tỉnh thức
Học theo đạo lý chân truyền
Thực tập nụ cười hơi thở
Sống đời chánh niệm tinh chuyên. (C)

Đệ tử xin nguyền trở lại
Sống trong hiện tại nhiệm mầu
Vườn tâm ươm hạt giống tốt
Vun trồng hiểu biết, thương yêu.
Xin nguyện học phép quán chiếu
Tập nhìn tập hiểu thật sâu
Thấy được tự tánh các pháp
Thoát ngoài sinh tử trần lao
Nguyện học nói lời ái ngữ
Thương yêu, chăm sóc sớm chiều
Đem nguồn vui tới mọi nẻo
Giúp người vơi nỗi sầu đau
Đền đáp công ơn cha mẹ
Ơn thầy nghĩa bạn dày sâu.
Tín thành tâm hương một nén
Đài sen con nguyện hồi đầu
Nguyện đức từ bi che chở
Trên con đường đạo nhiệm mầu
Nguyện xin chuyên cần tu tập
Vuông tròn đạo quả về sau. (CC)

 

8. Lạy Sám Hối

Nhất tâm kính lễ đức Bụt Tỳ Bà Thi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thi Khí (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Tỳ Xá Phù (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Câu Lưu Tôn (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Câu Na Hàm Mâu Ni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Ca Diếp (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bụt Thích Ca Văn (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Phổ Hiền (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Quan Thế Âm (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Địa Tạng Vương (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Ma Ha Ca Diếp (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Xá Lợi Phất (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Ma Ha Mục Kiền Liên (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư Ưu Ba Ly (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo A Nan Đà (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Kiều Đàm Di. (CC)

9. Trì Chú Diệt Tội (ba lần)

Ly bà ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ni ha ra đế, tỳ lê nễ đế, ma ha già đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha. (C)

10. Kệ Sám Hối

Con đã gây ra bao lầm lỡ
Khi nói, khi làm, khi tư duy
Đam mê, hờn giận và ngu si
Nay con cúi đầu xin sám hối
Một lòng con cầu Bụt chứng tri
Bắt đầu hôm nay nguyền làm mới
Nguyền sống đêm ngày trong chánh niệm
Nguyền không lặp lại lỗi lầm xưa.

Nam mô Bồ Tát Cầu Sám Hối.(ba lần) (C)

Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm
Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm
Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm
Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong. (C)

11. Tùy Hỷ Hồi Hướng

Các đức Thế Tôn
Thường trú trên đời
Xin thương xót con:
Vì ngay trong kiếp này
Và những kiếp xa xưa
Từ đời vô thỉ
Con đã từng lầm lẫn
Đã gây khổ đau
Cho chính bản thân
Và cho kẻ khác.
Tự mình gây ra lầm lỗi
Hoặc xúi người khác
Làm nên lầm lỗi
Hoặc tán đồng theo
Giết hại, trộm cắp
Dối trá, tà dâm
Với những tà nghiệp khác
Trong mười nghiệp bất thiện
Hoặc có che dấu
Hoặc không che dấu
Những tội lỗi ấy
Đưa về địa ngục
Ngạ quỷ, súc sinh
Làm cho kiếp sau
Sinh nơi biên địa
Sáu căn khiếm khuyết
Không có điều kiện
Lớn lên thành người
Những tội chướng ấy
Hôm nay con nguyền nhất tâm
Cầu xin sám hối.
Xin chư Bụt Thế Tôn
Chứng biết cho con
Thương tưởng đến con
Con phủ phục trước mặt các ngài
Phát lời nguyện rằng:
Nếu trong vô lượng kiếp xa xưa,
Cũng như trong đời này
Nếu con đã từng bố thí
Dù chỉ một nắm cơm
Hoặc một manh áo,
Nếu con đã từng nói lời ái ngữ
Dù chỉ một vài câu,
Nếu con đã từng biết nhìn với con mắt từ bi
Dù chỉ trong chốc lát,
Nếu con đã từng có cử chỉ an ủi vỗ về
Dù chỉ một vài lần,
Nếu con đã từng lắng nghe diệu pháp
Dù chỉ một buổi,
Nếu con đã từng cúng dường trai tăng
Dù chỉ một lần,
Nếu con đã từng cứu mạng chúng sanh
Dù chỉ là vài con sâu con kiến,
Nếu con đã từng tụng đọc kinh văn
Dù chỉ một vài câu,
Nếu con đã từng xuất gia
Dù chỉ trong một kiếp,
Nếu con đã từng nâng đỡ kẻ khác trên đường tu học
Dù chỉ giúp được vài người,
Nếu con đã từng tu tập tịnh giới
Dù chưa được hoàn toàn thanh tịnh,
Tất cả những công đức ấy
Đều là những thiện căn con đã gieo trồng
Hôm nay xin gồm thâu tất cả lại
Kính dâng lên chư Bụt
Như một tràng hoa ngát hương
Và xin hồi hướng tất cả các công đức ấy
Về quả vị Bồ Đề. (C)

Con xin mở lòng rộng lớn
Hướng về Vô Thượng Chánh Giác,
Nguyện đạt tới hiểu biết lớn
Nguyện thành tựu thương yêu sâu
Nguyện tu tập chuyên cần
Chuyển hóa khổ đau
Cho con và cho tất cả mọi loài
Tất cả mọi động tác của thân miệng ý
Đều xin hướng về
Làm hạnh phúc cho mọi người mọi loài.
Đó là ước mong sâu sắc nhất của con
Ngoài tâm Bồ Đề
Ngoài khao khát hiểu biết lớn
Ngoài nguyện ước thương yêu sâu
Con không còn ước mong nào nữa cả. (C)

Chư Bụt trong mười phương và ba đời
Đều đã từng hồi hướng như thế
Hôm nay con cũng xin hồi hướng như thế.
Bao nhiêu lầm lỗi đều xin sám hối
Bao nhiêu công đức đều xin tùy hỉ
Biển công đức vô lượng
Cũng là núi trí tuệ cao vòi vọi
Chư Bụt và thầy tổ
Là ánh sáng soi chiếu cho con
Trong giờ phút trang nghiêm
Xin đem thân mạng này
Quay về và đảnh lễ. (CC)

12. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng,
dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,
thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,
nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,
xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

13. Hồi Hướng

Trì tụng kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

Nghi thức công phu tại gia

 

1. Thiền Tọa (12 phút)

2. Dâng Hương

Mọi người đứng chắp tay trước bàn thờ. Vị chủ lễ nâng hương lên và xướng kệ Dâng Hương sau ba tiếng chuông bắt đầu, trong khi mọi người quán tưởng theo lời kệ:

Xin cho khói trầm thơm
Kết thành mây năm sắc
Dâng lên khắp mười phương
Cúng dường vô lượng Bụt
Vô lượng chư Bồ Tát
Cùng các thánh hiền tăng
Nơi pháp giới dung thông
Kết đài sen rực rỡ
Nguyện làm kẻ đồng hành
Trên con đường giác ngộ
Xin mọi loài chúng sanh
Từ bỏ cõi lãng quên
Theo đường giới định tuệ
Quay về trong tỉnh thức.
Chúng con kính dâng hương lên Bụt và chư vị Bồ Tát. (C)

3. Tán Dương

Hương đã cắm vào bình, vị chủ lễ xướng, mọi người chắp tay quán tưởng theo:

Xinh tốt như hoa sen
Rạng ngời như Bắc Đẩu
Xin quay về nương náu
Bậc thầy của nhân, thiên.
Sen quý nở đài giác ngộ
Hào quang chiếu rạng mười phương
Trí tuệ vượt tầm pháp giới
Từ bi thấm nhuận non sông
Vừa thấy dung nhan Điều ngự
Trăm ngàn phiền não sạch không
Hướng về tán dương công đức
Tinh chuyên đạo nghiệp vun trồng.

Nam mô đức Bổn SưBụt Thích Ca Mâu Ni. (C)

4. Lạy Bụt

Vị chủ lễ xướng các danh hiệu sau đây, và mọi người lạy xuống một lạy theo tiếng chuông gia trì sau mỗi danh hiệu:

Nhất tâm kính lễ Bụt, Pháp và Tăng thường trụ trong mười phương (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bổn Sư Bụt Shakyamuni (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Trí Manjusri (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Hạnh Samantabhadra (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Bi Avalokiteśvara (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Đại Nguyện Ksitigarbha (C)
Nhất tâm kính lễ đức Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Thượng Thủ Mahākassapa (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Trí Trưởng Lão Sāriputta (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Đại Hiếu Maha Moggallāna (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Luật Sư  Upāli (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Khải Giáo Ānanda (C)
Nhất tâm kính lễ Tôn Giả Ni Trưởng Gotamī (C)
Nhất tâm kính lễ liệt vị Tổ Sư qua các thời đại từ Thiên Trúc đến Việt Nam. (CC)

5. Trì Tụng

Mọi người ngồi xuống trên tọa cụ thành hai hàng đối diện nhau. Duy Na và Duyệt Chúng khai chuông mõ. Vị chủ lễ xướng kệ khai kinh:

Nam mô đức Bổn SưBụt Thích Ca Mâu Ni (ba lần) (C)

Pháp Bụt cao siêu mầu nhiệm
Cơ duyên may được thọ trì
Xin nguyện đi vào biển tuệ
Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.(C)

TÂM KINH TUỆ GIÁC QUA BỜ

Avalokita
Khi quán chiếu sâu sắc
Với tuệ giác qua bờ,
Bỗng khám phá ra rằng:
Năm uẩn đều trống rỗng.
Giác ngộ được điều đó,
Bồ-tát vượt ra được
Mọi khổ đau ách nạn.(C)

“Này Śāriputra,
Hình hài này là không,
Không là hình hài này;
Hình hài chẳng khác không,
Không chẳng khác hình hài.
Điều này cũng đúng với
Cảm thọ và tri giác,
Tâm hành và nhận thức. (C)

“Này Śāriputra,
Mọi hiện tượng đều không,
Không sinh cũng không diệt,
Không có cũng không không,
Không dơ cũng không sạch,
Không thêm cũng không bớt. (C)

“Cho nên trong cái không,
Năm uẩn đều không thể
Tự riêng mình có mặt.
Mười tám loại hiện tượng
Là sáu căn, sáu trần
Và sáu thức cũng thế;
Mười hai khoen nhân duyên
Và sự chấm dứt chúng
Cũng đều là như thế;

Khổ, tập, diệt và đạo
Tuệ giác và chứng đắc
Cũng đều là như thế. (C)

“Khi một vị bồ-tát
Nương tuệ giác qua bờ
Không thấy có sở đắc
Nên tâm hết chướng ngại.
Vì tâm hết chướng ngại
Nên không còn sợ hãi,
Đập tan mọi vọng tưởng,
Đạt niết-bàn tuyệt hảo. (C)

Chư Bụt trong ba đời
Nương tuệ giác qua bờ
Đều có thể thành tựu
Quả chánh giác toàn vẹn. (C)

“Vậy nên phải biết rằng
Phép tuệ giác qua bờ
Là một linh chú lớn,
Là linh chú sáng nhất,
Là linh chú cao tột,
Không có linh chú nào
Có thể so sánh được.

Là tuệ giác chân thực
Có khả năng diệt trừ

        Tất cả mọi khổ nạn. (C)

Vậy ta hãy tuyên thuyết
Câu linh chú qua bờ:
“Gate, gate,
pāragate,
pārasamgate,
bodhi, svaha!” (CC)

 

6. Quy Nguyện

Trầm hương xông ngát điện
Sen nở Bụt hiện thân
Pháp giới thành thanh tịnh
Chúng sanh lắng nghiệp trần. (C)

Đệ tử tâm thành
Hướng về Tam Bảo
Bụt là thầy chỉ đạo
Bậc tỉnh thức vẹn toàn
Tướng tốt đoan trang
Trí và bi viên mãn. (C)

Pháp là con đường sáng
Dẫn người thoát cõi mê
Đưa con trở về
Sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Tăng là đoàn thể đẹp
Cùng đi trên đường vui
Tu tập giải thoát
Làm an lạc cuộc đời. (C)

Đệ tử nương nhờ Tam Bảo
Trên con đường học đạo
Biết Tam Bảo của tự tâm
Nguyện xin chuyên cần
Làm sáng lòng ba viên ngọc quý.(C)

Nguyện theo hơi thở
Nở nụ cười tươi
Nguyện học nhìn cuộc đời
Bằng con mắt quán chiếu
Nguyện xin tìm hiểu
Nỗi khổ của mọi loài
Tập từ bi
Hành hỷ xả
Sáng cho người thêm niềm vui
Chiều giúp người bớt khổ
Đệ tử nguyện sống cuộc đời thiểu dục
Nếp sống lành mạnh an hòa
Cho thân thể kiện khương
Nguyện rũ bỏ âu lo
Học tha thứ bao dung
Cho tâm tư nhẹ nhõm
Đệ tử xin nguyện ơn sâu đền báo
Ơn cha mẹ ơn thầy
Ơn bè bạn chúng sanh
Nguyện tu học tinh chuyên
Cho cây bi trí nở hoa
Mong một ngày kia
Có khả năng cứu độ mọi loài
Vượt ra ngoài cõi khổ. (C)

Xin nguyện Bụt, Pháp, Tăng chứng minh
Gia hộ cho đệ tử chúng con
Viên thành đại nguyện. (CC)

7. Niệm Bụt (mỗi danh hiệu ba lần)

Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Trí Văn Thù Sư Lợi (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Hạnh Phổ Hiền (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Bi Quan Thế Âm (C)
Nam mô đức Bồ Tát Đại Nguyện Địa Tạng Vương. (CC)

8. Quán Nguyện

(một người đọc hoặc bốn người thay phiên nhau đọc, mỗi người một đoạn)

Lạy đức Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi. (C)

Lạy đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh Ngài, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới. (C)

Lạy đức Bồ Tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ Tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống. Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự. Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập, thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài. (C)

Lạy đức Bồ Tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người. Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể trở thành trung kiên và không kỳ thị như Đất, và cũng được như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con. (CC)

9. Quay Về Nương Tựa

Con về nương tựa Bụt, người đưa đường chỉ lối cho con trong cuộc đời.
Con về nương tựa Pháp, con đường của tình thương và sự hiểu biết.
Con về nương tựa Tăng, đoàn thể của những người nguyện sống cuộc đời tỉnh thức. (C)

Đã về nương tựa Bụt, con đang có hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.
Đã về nương tựa Pháp, con đang được học hỏi và tu tập các pháp môn chuyển hóa.
Đã về nương tựa Tăng, con đang được tăng thân soi sáng,
dìu dắt và nâng đỡ trên con đường thực tập. (C)

Về nương Bụt trong con, xin nguyện cho mọi người,
thể nhận được giác tính, sớm mở lòng Bồ Đề.
Về nương Pháp trong con, xin nguyện cho mọi người,
nắm vững các pháp môn, cùng lên đường chuyển hóa.
Về nương Tăng trong con, xin nguyện cho mọi người,
xây dựng nên bốn chúng, nhiếp hóa được muôn loài. (CC)

10. Hồi Hướng

Trì tụng kinh thâm diệu
Tạo công đức vô biên
Đệ tử xin hồi hướng
Cho chúng sinh mọi miền. (C)

Pháp môn xin nguyện học
Ân nghĩa xin nguyện đền
Phiền não xin nguyện đoạn
Quả Bụt xin chứng nên. (CCC)

 

 

________________________

Chú ý: Các Kinh sau đây có thể được lần lượt tụng đọc để thay thế Tâm Kinh thay vì ngày nào cũng tụng đọc Tâm Kinh: Kinh Thương Yêu (Thứ Hai), Kinh Người Áo Trắng (Thứ Ba), Kinh Phước Đức (Thứ Tư), Kinh Diệt Trừ phiền Giận (Thứ Năm), Kinh Tám Điều Giác Ngộ (Thứ Sáu), Kinh Soi Gương (Thứ Bảy), Kinh Người Biết Sống Một Mình (Chủ Nhật). Hành giả có thể thỉnh thoảng thay thế các kinh trên bằng các kinh khác như Kinh A Di Đà, Kinh Người Bắt Rắn, Kinh Tuổi Trẻ Và Hạnh Phúc, Kinh Hải Đảo Tự Thân, Kinh Người Biết Sống Một Mình, v.v…, tùy theo nhu yếu thực tập của mình và của gia đình mình.

Lời chỉ dẫn

Đây là những nghi thức tụng niệm thuần bằng quốc ngữ với văn pháp Việt ngữ. Nghi thức nào cũng bắt đầu bằng thiền hành và thiền tọa để giúp ta thực hiện được sự tĩnh tâm và an lạc trước khi tụng kinh và niệm Bụt. Mục thiền hành chỉ nên giảm bớt khi bên ngoài có mưa gió hoặc không có địa điểm thuận lợi.

Sử Dụng Chuông Mõ
Đây là nghi thức khai chuông mõ đơn giản nhất. Ba tiếng chuông đầu được thỉnh cách xa nhau đủ để mọi người có thì giờ thở ba hơi (vào, ra) sau mỗi tiếng chuông. Ký hiệu | chỉ cho việc thức chuông (thức có khi gọi là nhắp, có nghĩa là đặt dùi chuông vào vành chuông và dí mạnh vào để báo hiệu rằng sẽ có một tiếng chuông vọng lên, nhằm chuẩn bị cho mọi người phát khởi chánh niệm). Khi nghe chuông, lập tức trở về với hơi thở và thở thật êm dịu theo bài kệ “Thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười”.

Ký hiệu C chỉ cho chuông, ký hiệu M chỉ cho mõ. Ký hiệu m chỉ cho tiếng mõ nhỏ.

| C C C | m m m mm m m C M C M C M M MM M |

Sau tiếng nhắp | là Duy na bắt đầu xướng để tụng. Tiếng mõ thứ nhất đi với tiếng kinh thứ hai, tiếng mõ thứ hai đi với tiếng kinh thứ tư, và từ đó cứ mỗi tiếng kinh là một tiếng mõ. Đầu câu cuối của bài kinh thì có tiếng chuông. Tiếng kinh áp chót được đặt giữa hai tiếng mõ, và tiếng kinh chót đi với tiếng mõ chót. Ví dụ:

Phép Bụt cao siêu mầu nhiệm
m m m m m

Cơ duyên may được thọ trì
m m m m m m m

Xin nguyện đi vào biển tuệ
m m m m m m m

Tinh thông giáo nghĩa huyền vi.
C m m m m mm m C

Khi trì tụng Tâm Kinh và các bài đà la ni (chú), tiếng mõ nên thỉnh mau hơn, dồn dập hơn, trong khi giọng tụng chỉ nên theo một nhịp trầm. Các bài tụng khác như khai kinh, quy nguyện, hồi hướng v.v… đều nên tụng chậm rãi, vừa trầm vừa bổng để có đủ nhạc tính.

Các câu xướng và tán như dâng hương, tán dương hay lễ Bụt đều có thể đi theo với lễ nhạc cổ truyền. Các bạn nào chưa quen, xin thỉnh một cuộn băng để nghe mà học.

Các Buổi Công Phu ở Chùa
Cùng với sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này, Lá Bối đã cống hiến sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000 để sử dụng tại các chùa. Sách này có tới mười bốn buổi công phu khác nhau. Ngoài ra, sách còn có nghi Chúc Tán Rằm và Mồng Một, nghi Chúc Tán Tổ Sư, nghi Cúng Ngọ, nghi Thọ Trai, nghi Truyền Giới Sa Di, nghi Tụng Giới Sa Di, một phần phụ lục có Kệ Tán, Thi Kệ Nhật Dụng, và những chỉ dẫn về sự thực tập ba cái lạy.

Nghi Thức Công Phu Tại Gia
Nghi thức này có thể được sử dụng hàng ngày tại gia đình, vào buổi khuya trước khi đi ngủ, hoặc buổi sáng khi thức dậy. Ít nhất người tu tại gia cũng nên sử dụng nghi thức này mỗi tuần một lần vào thứ bảy hay chủ nhật. Nghi thức này không bắt đầu bằng thiền hành; nhưng nếu ta có thể bắt đầu nghi thức bằng ba mươi phút thiền hành thì rất quý. Đã có nhiều gia đình biết thực tập thiền hành chung mỗi ngày, và rất được an lạc nhờ pháp môn này. Ít nhất mỗi tuần gia đình bạn nên thực tập thiền hành chung một lần, vào dịp cuối tuần. Nếu chưa biết cách thiền hành, xin đọc cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ.

Khi nào muốn rút ngắn bớt nghi thức, ta có thể không tụng Tâm Kinh. Bài tụng Quay Về Nương Tựa cũng là một bài lễ nhạc có thể hát được.

Nghi Thức Sám Hối
Nghi thức sám hối có thể trì tụng mỗi tháng một lần. Bài Sám Nguyện là một tấm gương để chúng ta tự soi, và kết quả của sự tự soi này là ta thấy được những vụng về do nếp sống thiếu chánh niệm hàng ngày của ta tạo ra, do đó ta có thể chuyển đổi cách nhìn và cách tiếp xử của ta trong đời sống hàng ngày để phẩm chất an lạc và hạnh phúc được nâng cao.

Nghi Thức Chúc Tán
Nghi thức chúc tán được thực tập mỗi tháng hai lần vào các ngày rằm và mồng một trong giờ công phu sáng và vào sáng mồng một Tết. Bắt đầu nghi thức, vị chủ lễ xướng bài dâng hương hoặc cử bài ấy lên để đại chúng cùng hòa theo trong điệu tán truyền thống của thiền môn. Rồi vị chủ lễ quỳ xuống trước Tam Bảo thay đại chúng xướng bài chúc tán theo điệu xướng truyền thống. Tiếp theo là công phu hàng ngày của thiền môn.

Sau mục Quán Nguyện, tất cả mọi người đứng dậy lạy thù ân. Đây là một phần đặc biệt của nghi thức chúc tán. Chúng ta lạy để biểu lộ niềm biết ơn của chúng ta với Bụt, Tổ, cha mẹ, Thầy, bạn và mọi loài. Nghi thức này đem lại cho ta nhiều niềm vui và tưới tẩm được những hạt giống ân nghĩa và thương yêu trong ta.

Nghi Thức Chúc Tán Tổ Sư
Nghi Thức Chúc Tán này được sử dụng trong những ngày kỵ giỗ các vị tổ sư khai sáng môn phái, hoặc các vị tổ sư khai sơn và thừa kế truyền đăng của đạo tràng mình đang cư trú và hành đạo.
Mỗi đạo tràng nên đưa vào nghi thức pháp hiệu của các vị tổ sư liên hệ trực tiếp đến công trình khai sơn và hoằng hóa tại chùa mình.

Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh
Nghi thức này được sử dụng trong các dịp xuống tóc, thiết lập bàn thờ, đàn tràng, cúng nhà mới, cúng đất đai, khai trương cửa hàng, văn phòng, v.v… Ý nghĩa của nghi thức là nương vào tâm đại bi của Bồ Tát Quan Thế Âm để làm lưu xuất nước tịnh cam lộ mà rảy lên và làm cho thanh tịnh, tươi mát, sống dậy và trị liệu tất cả những gì được nước cam lộ rưới xuống. Một bát nước trong và một nhành liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.

Nghi Thức Tẩy Tịnh và Nhập Liệm
Nghi thức này được sử dụng để rưới nước cam lộ lên nhục thân người quá cố và trên quan tài để đem lại sự tươi mát và thanh tịnh. Xin xem những lời chỉ dẫn trong Nghi Thức Gia Trì Nước Tịnh. Một bát nước trong và một nhành dương liễu cần được chuẩn bị trước khi hành lễ. Nước trong tượng trưng cho định lực, nhành liễu linh động tượng trưng cho trí tuệ.

Nghi Thức Thành Phục (Thọ Tang)
Nghi thức này được sử dụng để những phần tử trong tang gia tiếp nhận tang phục.

Nghi Thức Thọ Trai
Nghi thức này thường được sử dụng trong mùa an cư vào giờ ngọ trai tại các thiền viện và tại các chùa, nhưng các vị đã thọ Năm Giới và Giới Tiếp Hiện Tại Gia cũng được thực tập trong các khóa thiền tập hoặc trong các ngày hành trì Bát Quan Trai Giới.

Nghi Thức Ăn Cơm Yên Lặng
Nghi thức này có thể được thực tập tại tư gia trong những ngày quán niệm, có hay không có sự tham dự của các bạn trong tăng thân. Mỗi tuần ít nhất nên thực tập nghi thức này một lần vào dịp cuối tuần với những người sống chung với mình.

Nghi Thức Cúng Thất
Theo tín ngưỡng Thân Trung Ấm, người quá cố có thể vãng sinh hoặc đi đầu thai ngay sau khi qua đời, hoặc có thể trải qua thời gian từ một tuần lễ đến tối đa là bảy tuần lễ trước khi đi tái sinh hoặc vãng sinh. Trong thời gian này Thân Trung Ấm trải qua bảy lần chuyển hóa. Sự thực tập chánh niệm, trì tụng kinh điển, trai tăng, bố thí, tạo tác công đức của thân nhân và bạn bè người quá cố có thể làm phát sinh ra rất nhiều năng lượng hộ niệm và yểm trợ cho sự chuyển hóa ấy một cách tích cực. Vì vậy mỗi bảy ngày lại có một lần trì tụng, cầu nguyện, phóng sanh và cúng dường gọi là cúng thất. Lần cúng thất cuối cùng gọi là Chung Thất, được tổ chức long trọng hơn cả. Nghi thức Cúng Thất có thể được bổ túc bằng một trong những kinh điển chọn ở phần kinh văn, như Kinh Thương Yêu, Kinh Phước Đức, Kinh A Nậu La Độ, Kinh Tám Điều Giác Ngộ Của Các Bậc Đại Nhân, Kinh Kim Cương, Kinh Người Áo Trắng, v.v… Trì tụng các kinh này rất bổ ích cho người quá cố và cho những người trì tụng.

Nghi Thức Cúng Ngọ
Nghi thức này được sử dụng tại thiền viện để dâng cơm cúng Bụt vào giờ trưa trước khi khai bảng báo giờ ngọ trai của đại chúng. Tại tư gia, vào những ngày rằm hay mồng một hoặc vào những dịp đặc biệt như Nguyên Đán, Trung Nguyên, Cúng Nhà Mới, v.v… ta cũng có thể sử dụng nghi thức này để cúng dường.

Nghi Thức Thí Thực
Nghi thức này là để thí thực cho các giới cô hồn, được sử dụng tại các chùa trong buổi công phu chiều. Trên bàn thờ cô hồn có cháo, gạo, muối và nước trong. Tại tư gia vào chiều ngày rằm tháng bảy, ta cũng có thể tổ chức cúng cô hồn và sử dụng nghi thức này. Trong nghi thức có bài kệ kinh Hoa Nghiêm rất nổi tiếng: “Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tánh, nhất thiết duy tâm tạo” và rất nhiều bài chân ngôn. Nghi thức này có mầu sắc Mật Tông. Cần có nhiều định lực và tụng không vấp váp thì sự trì tụng và cúng dường mới thành công. Nên tụng thong thả để đừng vấp váp.

Các Nghi Thức Tụng Giới
Nghi thức tụng giới cho thiếu nhi gồm có ba phép Quay Về Nương Tựa và Hai Lời Hứa, có thể được cử hành riêng hoặc với Nghi Thức Tụng Năm Giới. Thiếu nhi từ mười tuổi trở lên, nếu muốn, có thể ở lại để tham dự lễ tụng Năm Giới. Riêng về Nghi Thức Tụng Giới Tiếp Hiện thì các em không nên tham dự, vì nghi thức khá dài. Ta có thể tổ chức tụng Giới Tiếp Hiện vào một ngày giờ khác để các buổi tụng giới đừng kéo ra dài quá. Ví dụ tuần này tụng Năm Giới thì tuần sau tụng Giới Tiếp Hiện. Nghi thức Tụng Năm Giới cần được một vị có đạo đức hướng dẫn làm chủ lễ. Vị này có thể là một vị đang hành trì Giới Lớn, Giới Sa Di, Giới Bồ Tát hoặc Giới Tiếp Hiện. Nếu không có một trong những vị nói trên thì vị chủ lễ phải là một người đang hành trì Năm Giới và có giới thể thanh tịnh. Các nghi thức tụng giới của người xuất gia không được in trong sách này. Các thiền viện và tăng thân xuất gia nếu muốn có nghi thức ấy xin viết thư về Làng Mai, chúng tôi sẽ vui lòng kính gởi. Tất cả các nghi thức đều có phần thực tập Yết Ma theo truyền thống để hợp thức hóa lễ tụng giới.

Nghi Thức Truyền Thọ Năm Giới
Người chủ lễ nghi thức này là một người có đạo đức được đại chúng kính nể, đang hành trì Giới Khất Sĩ, Giới Nữ Khất Sĩ, Giới Bồ Tát Xuất Gia hay Giới Tiếp Hiện Xuất Gia đã được truyền đăng làm Giáo Thọ hoặc đã được đặc biệt cho phép trao truyền Năm Giới.

Nghi Thức Truyền Thọ Giới Tiếp Hiện
Thầy truyền giới Tiếp Hiện hướng dẫn nghi thức này ít nhất phải là một vị Giáo Thọ trong giáo đoàn Tiếp Hiện, được phụ tá ít nhất là bởi ba thành viên Tiếp Hiện thuộc chúng Chủ Trì dòng Tiếp Hiện. Các thành viên của chúng Đồng Sự dòng Tiếp Hiện và các bạn hữu đều được mời tham dự để hộ niệm.

Thi Kệ Nhật Dụng
Đây là những bài thi kệ cần được học thuộc lòng để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày. Gốc rễ của các bài thi kệ nhật dụng này có thể tìm thấy trong nhiều kinh điển, nhất là kinh Hoa Nghiêm. Trong thiền môn, ta có tập Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu của thiền sư Độc Thể, gồm có những bài thi kệ để thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày dành cho các giới xuất gia. Những bài thi kệ mà bạn thấy trong phần này của nghi thức đều bằng quốc ngữ, dễ nhớ, dễ tập, có thể áp dụng cho cả hai giới xuất gia và tại gia.

Kệ Chuông
Trong phần này có nhiều bài kệ thỉnh chuông, nghe chuông và ngồi thiền. Các bài kệ ngồi thiền này được xướng hoặc tán theo điệu truyền thống (điệu Nhất Canh Dĩ Đáo, Ngũ Canh Dĩ Đáo và Lôi Cổ Tùng Xao) đi theo ba hồi chuông bảo chúng. Các bài kệ này được xướng hoặc tán khoảng mười phút sau tiếng chuông báo hiệu giờ thiền tọa đã thỉnh, lúc ấy mọi người đã có mặt và đã ngồi sẵn ở thiền đường. Đại chúng đáp ứng lại lời niệm Bụt ba lần trước khi đi vào thiền tập.

Phần Kinh Văn
Những kinh văn được in ở phần sau của Nghi Thức đã được trích dịch trong hai Tạng Hán và Pali. Người dịch là thiền sư Nhất Hạnh. Đó là những kinh tiêu biểu cho giáo lý đạo Bụt, hiệu quả của sự tụng đọc không thể đo lường được. Ta có thể đọc một trong những kinh này trong Nghi Thức Công Phu Hàng Ngày, sau khi tụng Tâm Kinh Bát Nhã. Người đọc có thể là vị Duy Na, vị Duyệt Chúng, hay bất cứ người nào có mặt trong buổi tụng kinh có giọng đọc rõ ràng, trong sáng, có thể diễn tả được ý kinh. Tuy những kinh này có thể trì tụng theo tiếng mõ, nhưng thỉnh thoảng cũng nên để một người đọc thôi, đọc tự nhiên không theo tiếng mõ, trong khi mọi người ngồi ngay ngắn lắng nghe lời Bụt. Như thế ta chú tâm được hoàn toàn vào nghĩa lý của lời kinh. Những lời quán nguyện về các đức Bồ Tát Quan Âm, Văn Thù, Phổ Hiền và Địa Tạng cũng có thể đọc theo cách này.

Vào những dịp đặc biệt như đầu năm, ta có thể chọn Kinh Phước Đức; khi phóng sanh và làm việc phước thiện, chúng ta chọn Kinh Thương Yêu; cầu siêu độ ta có thể chọn Kinh A Nậu La Độ, Kinh Giáo Hóa Người Bệnh hay Kinh Trung Đạo Nhân Duyên… Thật ra kinh nào tụng trong dịp nào cũng có lợi lạc cả. Những kinh này nên được thỉnh thoảng đem ra học hỏi và đàm luận, nếu có thể thì với sự có mặt của một vị giáo thọ, bởi vì nghĩa lý của các kinh ấy rất thâm diệu tuy lời kinh rất đơn giản. Các kinh này đều rất thiết thực cho sự học hỏi và tu tập hàng ngày của chúng ta.

Phần Phụ Lục
Bài Sám Quy Mạng là do thiền sư Liễu Nhiên, núi Di Sơn, sáng tác, được trích từ sách Thiền Môn Nhật Tụng, phần công phu sáng. Nguyên văn chữ Hán, do thiền sư Nhất Hạnh dịch năm 1956.

Các bài Thi Kệ Nhật Dụng có hiệu lực giúp ta sống đời sống hàng ngày trong chánh niệm. Giới cư sĩ bây giờ cũng có thể thực tập chánh niệm trong đời sống hàng ngày như người xuất gia, vì vậy các bài thi kệ đã được in vào Nghi Thức.

Các bài Kệ Chuông, Thiên Long Hộ Pháp và Kệ Vô Thường cần được sử dụng trong các buổi công phu tại chùa. Một số trong các bài ấy cũng có thể được sử dụng trong các buổi công phu tại gia nữa.

Nghi Thức Ăn Cơm Im Lặng cũng có thể được áp dụng ít ra là vài lần trong tuần, trong nếp sống tại gia. Thực tập nghi thức này, ta có thể thiết lập được sự an tĩnh và sự hòa đồng trong gia đình, do đó nếp sống tỉnh thức được thực hiện dần dần trong đời sống hàng ngày.

Bài Phòng Hộ Chuyển Hóa (Đệ tử chúng con từ vô thỉ) in ở phần phụ lục vốn đã được thiền sư Nhất Hạnh biên tập từ năm 1951, in ở sách Gia Đình Tin Phật năm 1952 và tái bản năm 1953 với đầu đề là Phát Nguyện Tu Trì. Văn bản được in trong sách này đã được chính tác giả nhuận sắc vào năm 1993.

Tóm lại cuốn Nghi Thức Tụng Niệm này sẽ tác động trực tiếp đến đời sống gia đình một cách tốt đẹp. Giới trẻ sẽ thấy lời kinh gần gũi, dễ hiểu, có thể đem áp dụng vào đời sống. Thực tập tụng niệm theo nghi thức này một thời gian, giới trẻ sẽ tiếp nhận nhiều hạt giống tốt của Phật pháp làm vốn liếng tâm linh cho hiện tại và tương lai.

Về Danh Từ Bụt
Đạo Bụt truyền qua nước ta từ thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây Lịch. Chúng ta đã gọi Buddha là Bụt ngay từ đầu. Trong văn học dân gian (ca dao, tục ngữ, truyện cổ tích) cho tới ngày nay ta vẫn tiếp tục gọi Buddha là Bụt. Trong thiền môn và trong giới học giả, chúng ta đã tiếp tục gọi Buddha là Bụt cho tới thế kỷ thứ 15, khi nước ta bị quân nhà Minh xâm chiếm. Tướng nhà Minh là Trương Phụ cho thu lượm hết các trước tác cũ mới của Đại Việt và chở về Kim Lăng. Hai nhà cán bộ văn hóa của nhà Minh là Hạ Thanh và Hạ Thì được chỉ thị thi hành triệt để chính sách này tại Đại Việt. Thư tịch đạo Bụt của nước Minh được chở sang cho người Đại Việt sử dụng. Chúng ta đã bắt đầu theo người Minh gọi Buddha là Phật từ lúc ấy.

Các tác phẩm chữ Nôm của vua Trần Nhân Tông (như Cư Trần Lạc Đạo Phú, Đắc Thú Lâm Tuyền Thành Đạo Ca …) và của thiền sư Huyền Quang (Vịnh Hoa Yên Tự Phú), những tác phẩm tiêu biểu cho nền văn chương bác học của ta ở thế kỷ 14, vẫn còn gọi Buddha là Bụt.

Vậy học sử dụng trở lại danh từ Bụt không phải là một hành động lập dị mà chỉ là một hành động trở về với truyền thống văn hóa của dân tộc.

Về Phương Pháp Tụng Kinh, Niệm Bụt Và Đi Kinh Hành
Niệm Bụt, dù là Bụt Thích Ca hay Bụt A Di Đà, bồ tát Quán Âm hay bồ tát Địa Tạng, ta không nên chỉ niệm bằng miệng mà không niệm bằng Tâm. Nếu chỉ niệm bằng miệng, ta sẽ mau chóng trở thành một cái máy niệm, chỉ phát được âm thanh mà không phát ra được năng lượng chánh niệm. Niệm bằng Tâm, ta sẽ tiếp nhận được năng lượng của Bụt vốn có sẵn trong ta dưới hình thức hạt giống Phật tính và chánh niệm; năng lượng ấy cũng có mặt trong vũ trụ. Và chỉ khi nào năng lượng trong tâm ta phát sinh thì ta mới tiếp xúc được với năng lượng trong vũ trụ. Trong khi niệm Bụt, ta không thoát ra ngoài khung cảnh bây giờ và ở đây, trái lại, ta thực sự có mặt. Với năng lượng Bụt trong tâm ta, những gì ta đang thấy và đang nghe đều là những gì Bụt đang thấy và đang nghe đồng thời. Vì thế, niệm giúp cho ta an trú trong định, và định làm biểu hiện cõi Bụt trong khung cảnh hiện tiền. Ta sẽ tiếp xúc được với thế giới của bản môn và của tịnh độ ngay trong khi niệm Bụt, và ta có an lạc và vững chãi cũng ngay trong khi niệm Bụt. Niệm Bụt ở đây không còn là một lời cầu khẩn hay kêu gọi mà là một sự thực tập làm cho Bụt và thế giới của Bụt có mặt trong ta và quanh ta ngay trong giờ phút thực tập.

Khi thực tập kinh hành, nên chú tâm tới sự xúc chạm giữa bàn chân và sàn chánh điện, đi từng bước an lạc và thảnh thơi như bước trong Tịnh độ không khác, mỗi bước đi đều có giá trị nuôi dưỡng và trị liệu, mỗi bước đi đều đem lại thêm chất liệu chánh niệm, vững chãi và thảnh thơi vào cơ thể và vào tâm thức. Bước đi như in xuống dấu vết niềm an lạc của mình trên mặt đất.

Thay Đổi Kinh Văn, Sám Nguyện Và Kệ Tán
Phần lớn các nghi thức đều có phần trì tụng kinh văn, và Tâm Kinh Bát Nhã thường được đưa ra làm Kinh văn trì tụng. Tuy nhiên hành giả có thể chọn một kinh văn thích hợp trong số các kinh văn có mặt trong sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn này để thay thế cho Tâm Kinh, và thay thế những bài Sám nguyện và Kệ Tán trong nghi thức bằng những bài Sám Nguyện và Kệ Tán thích hợp mà mình ưa thích. Những bài này có thể tìm trong phần Phụ Lục.

Mục lục

Lời Tựa
Lời Chỉ Dẫn

Nghi Thức

 

Kinh Văn

 

Phụ Lục

Phật đường

Nếu tâm tư bạn đang xôn xao, xin mời bạn vào Phật đường để nghe kinh. Bạn có thể tụng kinh chung với quý thầy cô và với đại chúng. Những bài kinh như Hướng Về Kính Lạy, Mười Nguyện Phổ Hiền hoặc Quy Nguyện… nghe tới đâu thì bạn hiểu tới đó. Lời kinh thấm vào cơ thể và tâm hồn bạn, đem tới cho bạn niềm an ủi, lắng dịu, giúp cho bạn thấy được tâm bạn và hoàn cảnh của bạn một cách rõ ràng, và bạn có thể tìm được hướng đi hoặc cách hành xử cần thiết để giải quyết những thắc mắc, khó khăn của bạn. Những bài nhạc kinh như Bốn Phép Tùy Niệm, Chắp Tay Búp Sen, Mười Nguyện Phổ Hiền, Hướng Về Kính Lạy .v.v.. chắc chắn sẽ tưới tẩm được những hạt giống tốt có sẵn trong tâm bạn, và sau mười phút nghe kinh hoặc nghe những lời kinh nhạc, bạn sẽ cảm thấy khỏe ra, thân và tâm thư giãn và bạn có thể mỉm cười được. Tại Phật đường bạn cũng có thể nghe nhạc kinh. Những bài kinh tụng như Mười Nguyện Phổ Hiền, Bốn Phép Tùy Niệm, Hướng Về Kính Lạy, Quy Nguyện, Tâm Kinh Bát Nhã, Sám Nguyện, Quay Về Nương Tựa… đều đã được phổ nhạc. Và nghe xong một bài nhạc kinh bạn có thể cảm thấy thư giãn và an lạc rất nhiều.

Lên Thiền đường hay Phật đường bạn nên mặc áo tràng hoặc áo dài. Bạn có thể đem theo một ít hương trầm để đốt lên cúng dường Tam Bảo và một chiếc tọa cụ với một tấm ni sư đàn. Tọa cụ là gối ngồi để ngồi thiền, và ni sư đàn là một tấm vải màu nâu trải xuống trước khi lễ lạy để khi lạy xuống bạn chắc chắn sẽ không phải hít bụi. Tấm ni sư đàn lớn vào khoảng 60cm x 60cm, có thể được may từ nhiều mảnh vụn kết lại với nhau, nhưng luôn rất sạch. Nếu chưa có tấm ni sư đàn thì bạn đem theo một chiếc khăn lau mặt để tạm thời thay thế, trước khi lễ lạy thì hãy trải xuống trước mặt. Tại Phật đường bạn sẽ được  hướng dẫn lễ lạy và sám hối. Có những pháp lạy gọi là địa xúc (tiếp xúc với đất) đem tới lợi lạc rất mau chóng. Qúy thầy, quý sư cô có thể dâng hương và xướng lên danh hiệu của chư Bụt, chư vị Bồ Tát hay chư vị Tổ Sư để bạn lễ lạy. Phép lễ lạy ở đây là bạn duy trì tư thế phủ phục trong thời gian ba hơi thở vào và ba hơi thở ra. Tiếng chuông nhấp sẽ giúp cho bạn biết lúc nào thì có thể đứng dậy để nghe danh hiệu kế tiếp trước khi lạy xuống. Xin mời bạn thử thực tập Ba Lạy và Năm Lạy, pháp môn đặc biệt của Làng Mai. Thực tập Ba Lạy và Năm Lạy, bạn tiếp xúc sâu sắc được với tổ tiên huyết thống, tổ tiên tâm linh và buông bỏ được cảm tưởng cô đơn, lo lắng và hờn tủi, buông bỏ được hiềm hận và tiếc nuối. Bạn nên thực tập Sám Pháp Địa Xúc: sám pháp này phải được thực tập vài tuần mới xong, mỗi lần thực tập chỉ cần độ tám phút. Sám pháp này rất hữu hiệu: thực tập xong bạn sẽ thấy nhẹ nhàng, thư thái, sáng suốt và có nhiều tình thương. Sẽ có một thầy hoặc một sư cô hướng dẫn cho bạn thực tập, bạn có thể thực tập hai lần tám phút hoặc ba lần tám phút cũng được, tùy theo thời gian bạn có.

Một ngày trong đời của một Thiền tăng Cơ Đốc

Thầy Pháp Đệ xuất gia tại Làng Mai năm 2003. Trước đó, thầy đã từng là một linh mục Công giáo. 13 năm gắn bó với tăng thân, thầy đã sống thật trọn vẹn, thật đẹp, luôn hiến tặng sự có mặt tươi mát và nụ cười hồn hậu của mình. Thầy ra đi trong vòng tay thương yêu của tăng thân vào ngày mùng 4 tháng 8 năm 2016, ở tuổi 81, sau một thời gian lâm bệnh nặng. Để tưởng nhớ đến thầy, BBT xin chia sẻ một bài viết của thầy có tựa đề “một ngày trong đời của một Thin tăng Cơ Đốc”. Thầy đã viết bài này nhân ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm – ngày 8.12.2007. Bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh: http://www.mindfulnessbell.org/archive/2015/02/a-day-in-the-life-of-a-catholic-zen-monk-in-plum-village

 

Sáng nay, tôi thức dậy và mỉm cười: “Hăm bốn giờ tinh khôi, Xin nguyện sống trọn vẹn, Mắt thương nhìn cuộc đời.” Tôi thắp nến và hương trước bức ảnh gia đình gồm có cha mẹ và các anh chị em tôi, và khấn thầm: “Xin thắp nén hương này – cúng dường lên cha mẹ, và Tổ tiên nhiu đời. Nguyện khói trầm tỏa dâng – chút lòng con thành kính. Nguyện làm kẻ đồng hành – của các bậc hin thánh, và đức mẹ Mary – là Đức Mẹ Từ Bi, nhân ngày Mẹ Vô Nhiễm.”

Nhờ Thầy, nhờ sự thực tập thờ cúng Tổ tiên của văn hóa Việt mà con người Công giáo này giờ đây đã nối lại được mối liên hệ với Tổ tiên của mình, và được nuôi dưỡng bởi lòng thành kính biết ơn đối với cha mẹ và các Tổ tiên khác – một thực tập mà các giám mục và linh mục lầm đường đã tìm cách ngăn chặn ở Việt Nam. Khi tôi thắp nến và dâng hương trước ảnh Tổ tiên tôi, tôi biết các vị không thật sự nằm trong bức ảnh. Tôi biết các vị đang có mặt trong tôi. Tôi biết bàn thờ Tổ tiên đích thực chính là thân tâm tôi, nơi mà tôi vinh danh các vị qua cách sống hằng ngày, cụ thể là qua Giới thứ Năm: tiêu thụ có chánh niệm. Mối liên hệ sống này với Tổ tiên giúp tôi buông bỏ ngã chấp, buông bỏ ý niệm mình là một cá thể riêng biệt và đặc biệt.

Chỉ có các vị Thin tăng dừng lại

4 giờ 45 sáng, tôi lặng lẽ pha trà, không làm động giấc ngủ người bạn đồng liêu. Trong khi uống trà, tôi hồi tưởng lại với lòng biết ơn rằng chính mẹ tôi là người đầu tiên đã dạy tôi sùng kính đức Mẹ Mary. Thời niên thiếu, tôi đã cầu nguyện Mẹ Mary đủ thứ chuyện – kể cả phù hộ cho đội bóng rổ của mình thắng trận. Kế đó, ngày của chúng tôi bắt đầu bằng thiền tọa (Giờ Thiêng) vào lúc 5 giờ 30 sáng.

Bảy giờ sáng, nhà thờ cổ hàng trăm năm gần đây đổ hồi chuông cầu Kinh Đức Bà (Angelus), gọi chúng tôi dừng lại và nhớ lời Mẹ Mary nói “Xin phó mặc” với Thiên Thần, và trở thành mẹ của Jesus. Ngày xưa, ai ai cũng dừng lại khi nghe chuông nhà thờ đổ và niệm ba lần kinh Lạy Mẹ Maria. Ngày nay, chỉ có các Thiền tăng dừng lại. Tôi yêu tiếng chuông và tôi niệm một lần kinh Lạy Mẹ. Nghe hồi chuông cầu Kinh Đức Bà cũng giống như nghe tiếng gọi của đức Ki-tô, gọi tôi quay về với chân tâm và mời tôi làm như Mẹ Mary: mang năng lượng Chúa Thánh Thần, sản sinh ra đức Ki-tô trong cuộc đời mình, trong thân và tâm mình. Riêng với cuộc đời tôi, tôi biết nếu tôi không làm như vậy thì tôi sẽ để phí đi những gì Mẹ Mary đã làm.

Trong khi hồi chuông cầu Kinh Đức Bà tiếp tục đổ, tôi nhớ lại câu chuyện Phúc Âm về bà mẹ trẻ mới mang thai Mary “chuẩn bị và đi hối hả” (bà chưa được học đi thiền hành chậm) đến nhà chị họ mình, Elizabeth, người chào bà với câu nói “ân phước thay cô, giữa mọi người nữ” (Luke 1:39 & 42). Hồi chuông cầu Kinh Đức Bà làm tôi thức tỉnh, nhận ra rằng cũng như Mary, các anh chị em tôi đều mang “tâm thức của đức Ki-tô” ngay bây giờ và ở đây. Cũng như Elizabeth, tôi nói với các huynh đệ mình “Ân phước thay anh, chị! Chúng ta thật may mắn!” Điểm tâm lúc 7 giờ 30 sáng. Chúng tôi ngồi quây quần dưới đất, trên tọa cụ – hai mươi thầy và sáu vị cư sĩ, cùng nhau bẻ bánh mì. Tôi được vây quanh bởi các “companions.” Tôi nhớ chữ “companion” được ghép từ từ com (cùng nhau) và pan (bánh mì), nghĩa là: cùng nhau bẻ bánh mì. Tôi nhớ Jesus bẻ bánh mì với các đệ tử của mình. Sáng nay, tôi thấy thân mẫu của thầy trụ trì ngồi ăn chung với chúng tôi – như bà Mary đã ngồi ăn với chúa Jesus và các “companions” của ngài. Tôi nhìn hai vị Tri nhật chuẩn bị bữa ăn trong ngày với lòng biết ơn, một người New Zealand và một người Việt Nam, họ nấu ăn chung dù không hiểu nhiều ngôn ngữ của nhau. Đây là bữa ăn huynh đệ ngày Thứ Năm Tuần Thánh và Lễ Hạ Trần (giác ngộ) trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây.

Đi với Mẹ Mary

Chúng tôi học từ 9 giờ 15 sáng đến lúc tập họp để đi thiền hành lúc 11 giờ trưa. Tôi thường mời cha mẹ tôi đi cùng. Mà làm sao cha mẹ tôi không đi cùng cho được, khi hai người đang ở trong tôi. Cha tôi đang học đi chậm hơn, để ý đến những bông hoa và cảnh vật chung quanh, thay vì để ý đến chỗ cần đến và công việc đang chờ trước mặt.

Hôm nay, tôi cũng mời Mẹ Mary đi cùng. Dầu gì đi nữa, bà cũng là Tổ tiên tâm linh của tôi và tôi cũng thọ nhận DNA tinh thần của bà – tâm thức Ki-tô trong tôi. Cầm tay tôi hôm nay, Mẹ Mary không còn đi “hối hả” nữa. Chất thánh nữ của Mary có mặt rất rõ trong tôi, nơi Thiền Viện Phật giáo này. (Người Phật tử nhận diện Mẹ Mary như đức Quan Thế Âm, Avalokita.) Nhiều người trong chúng ta có thể tiếp xúc với DNA tinh thần của Mẹ Mary qua thực tập thiền lạy, khi chúng ta áp người sát đất và quán tưởng về năng lượng trị liệu của Đất Mẹ trong mỗi chúng ta, và trong tăng thân. Chúng ta niệm Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm và gởi năng lượng trị liệu của Ngài đến mọi người. Lời tụng niệm này thường làm người nghe ứa những giọt nước mắt sung sướng và biết ơn. Với tôi, lời tụng niệm này làm phát khởi trong tôi cùng một năng lượng gặp được ở các thánh đường Lourdes và Fatima, năng lượng mà đã có lần tưởng chừng đã mất trong tôi.

Bây giờ là bốn giờ chiều, giờ tôi đi chấp tác trong ngày: dọn thiền đường trước khi đại chúng vào ngồi thiền và tụng kinh buổi chiều. Bốn mươi năm trước, khi tôi là linh mục, các tín hữu dọn dẹp nhà thờ sau khi tôi làm Thánh lễ. Giờ thì đến lượt tôi. Tôi đang học hạnh khiêm hạ – như Mẹ Mary. Hồi xưa người ta gọi tôi là Cha Adrian, bây giờ tôi được gọi là Pháp Đệ, người Em trong Đạo.

Năm năm trước, Thầy bảo tôi rằng, muốn xuất gia tôi phải xả bỏ hết giấy tờ chứng khoán, tài sản, tài khoản, xe cộ, và Thầy dạy: “Chú phải học hạnh khiêm hạ.” Không ngờ, thực tập này đến hôm nay vẫn chưa khó. Pháp Đệ đang sống an lạc.

Hào quang của Ngài

Sáu giờ chiều. Tối nay, vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, tôi hân hoan khi sư em Pháp Siêu hướng dẫn chúng tôi tụng bài Tán thán đức Bồ tát Đại Bi, Mary.

Đây là lời bài tán:

Trí tuệ bừng lên đóa biện tài
Đứng yên trên sóng sạch trần ai
Cam lộ chữa lành cơn khổ bệnh
Hào quang quét sạch buổi nguy tai
Liễu biếc phất bày muôn thế giới
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay.
Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm
Vinh danh Mary, Đức Mẹ Từ Bi

Chín giờ tối, tôi ý thức rằng mình đã đi một đoạn đường dài và đã buông bỏ một số ý niệm thần học về Tội Tổ Tông và về gương Giáng Sinh/Cứu Chuộc. “Chúng ta đã bước vào một thế giới suy đồi và tội lỗi – đó là điu chắc chắn, không cần phải bàn. Nhưng chúng ta không bước vào như những ung nhọt trên thịt da hiện hữu, hay như những tạo vật tội lỗi của Thượng Đế(Matthew Fox.) Bây giờ, tôi có thể thấy giáo lý Thụ Thai Vô Nhiễm (Mary thụ thai mà không có tội tổ tông) là một nỗ lực giúp chúng ta thức tỉnh trước sự tráng lệ huy hoàng của Mary. Bây giờ, tôi hiểu món quà của đức Phật về pháp tu thiền và tu giới đã giúp kẻ Ki-tô hữu này sống theo gương mẹ Mary và giáo lý Jesus như thế nào. Chúng ta có thể là những người thường, nhưng cũng như Mary, chúng ta đều là những “Khởi đầu Vô Nhiễm.” Đó là Tin Mừng!

Hồi chuông Cầu Kinh Đức Mẹ liên hồi mời chúng ta thức tỉnh trước Tin Mừng này!

8 tháng 12. 2007 – Ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm

Học làm tri kỷ (phần II)

Chữa lành quá khứ và chăm sóc tương lai

Sự thực tập theo dõi hơi thở và thư giãn toàn thân sẽ giúp chúng ta chăm sóc giây phút hiện tại để không gây thêm căng thẳng hoặc chấn thương nào cho bản thân mình trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta làm được điều này là chúng ta đang thực sự chữa lành quá khứ. Một mặt thì quá khứ đã đi qua nhưng mặt khác, quá khứ vẫn còn trong giây phút hiện tại. Những gì bạn đang trải qua hôm nay phần lớn là thông qua lăng kính của quá khứ. Vì vậy, bạn có thể chữa lành quá khứ bằng cách thực tập trải nghiệm những giây phút hiện tại một cách bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn. Một khi tâm của bạn có khả năng sống trong hiện tại nhiều hơn, bạn có thể tiếp xúc với những gì xảy ra như nó đang là thay vì nhìn nó qua lăng kính mặc cảm, kỳ thị, tủi hờn. Ngày xưa, có những câu nói, hành động hoặc những giấc mơ có thể làm cho tôi tức giận, sợ hãi hoặc tuyệt vọng. Bây giờ chúng không còn có những tác động mạnh như vậy đối với tôi. Tôi mỉm cười và quay về với hơi thở một cách an nhiên hơn. Thỉnh thoảng tôi chỉ nhận ra lời nói và cử chỉ của người nào đó không dễ thương đối với tôi sau khi sự việc đã xảy ra, và tôi có thể nghĩ rằng: “Sao mình khờ quá vậy? Mình đã có thể đối đáp lại như thế này như thế kia, v.v…” Nhưng rồi tôi liền mỉm cười và cảm thấy hạnh phúc với cái khờ của mình.

Khi chữa lành quá khứ là bạn cũng đang chăm sóc tương lai. Khi một người nhìn về tương lai của mình và thấy nó có vẻ buồn thảm đó là bởi vì hiện tại của người đó buồn thảm, và quá khứ của người đó cũng buồn thảm thê lương. Bạn chỉ có thể hình dung những gì sẽ xảy ra trong tương lai qua lăng kính của những kinh nghiệm trong hiện tại và quá khứ. Vì vậy, nếu bạn có thể trải nghiệm thời điểm này hoàn toàn mới với sự điềm tĩnh và ổn định – ý thức được rằng đây là thời điểm hiện tại, không phải sự lạm dụng, không phải sự tổn thương, không phải những lời nói nào đó trong quá khứ  – thì bạn cũng đang chăm sóc tương lai, bạn có sự lạc quan, niềm tin và hy vọng vào tương lai.

Những sự thực tập chánh niệm cơ bản có khả năng chữa lành quá khứ, hiện tại và tương lai. Những kiến thức tôi thu nhặt được trong 24 năm từ các trường học đã không hàn gắn những vết thương của tôi thời thơ ấu và cũng không ngăn cản được nỗi khổ đau trong bản thân khi tôi thành người lớn. Nhưng với chánh niệm, kiến thức có thể được suy xét, ứng dụng và thí nghiệm trong chính cuộc sống của mình, để trở thành tuệ giác, một sự hiểu biết sâu sắc và nó có thể giải thoát chúng ta.

Có thể bao nhiêu năm nay bạn đã nghĩ đến một người hoặc một tình huống nào đó theo một mô hình đã cũ. Nhưng nếu bạn biết cách tiếp xúc thời điểm hiện tại một cách mới mẻ hơn, bạn sẽ thấy hơi thở vào này không giống như hơi thở vào trước đó, bước đi này không tương tự như bước đi trước, tất cả mọi thứ trở nên linh hoạt và sống động. Và như thế, bạn cũng tiếp xúc được với cuộc sống mới mẻ và tươi sáng của bạn. Khi bạn có một cái nhìn sâu sắc hơn về tình trạng hoặc về một người từ một góc độ mới, bỗng nhiên bạn sẽ thấy nó khác trước và điều này sẽ giải thoát bạn khỏi mô hình nhận thức cũ. Mẹ của bạn vẫn nói những điều tương tự như bà đã nói trong bao nhiêu năm qua, nhưng đây là lần đầu tiên bạn thực sự lắng nghe và thấu hiểu những thông điệp của bà. Đây cũng là lần đầu tiên bạn nhìn thấy tình cảnh của mình rõ ràng và sâu sắc hơn và bạn không còn buồn phiền, tức giận hoặc khổ đau vì những điều bất hạnh của mình trong quá khứ.

Cái thấy (insight) là cái nhìn rõ ràng (sight) về một cái gì đó nằm trong bóng tối bấy lâu nay. Cũng tương tự như vậy giác ngộ (enlightenment) là  mang ánh sáng và sự nhẹ nhàng (light) vào một cái gì đó có tính cách tối tăm hoặc nặng nề u uất bấy lâu nay. Khi có ánh sáng chiếu rọi vào sự vật, nó trông rõ ràng hơn mới mẻ hơn và đó là một bước đột phá (breakthrough). Vì vậy, giác ngộ cũng có thể xảy ra dần dần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Không phải chỉ chư Bụt và các vị Thánh mới có được giác ngộ hoàn toàn. Chính Bụt vẫn thực hành thiền tọa nhiều lần trong ngày để tiếp tục nuôi dưỡng chánh niệm và tuệ giác của mình. Bụt vẫn thiền hành và ăn trong chánh niệm, dù một mình hoặc với các thầy. Bụt tiếp tục rọi ánh sáng lên mỗi cử động của thân và tâm.

Bạn cũng có khả năng mang ánh sáng ý thức vào mọi tình huống trong cuộc sống của mình để soi sáng các tri giác và cảm xúc của bạn, để dần dần chuyển hóa và giảm thiểu gánh nặng quá khứ. Thời điểm duy nhất để thực hiện điều đó cho có hiệu quả là giây phút hiện tại. Mặc dù thời điểm hiện tại có thể bị lu mờ vì nhiều nỗi buồn và khổ đau nhưng nếu bạn an trú được trong thời điểm này, bạn sẽ thấy có một số điều kiện tích cực khác. Bầu trời ở New Delhi đôi lúc trong xanh nhưng không phải nó luôn luôn trong và xanh như vậy. Khí hậu tuy rất nóng, nhưng thỉnh thoảng cũng có những làn gió mát thổi qua. Các bạn cũng thế, các bạn có thể đang có sự hiểu lầm nhau, nhưng trong sâu thẳm của lòng mình vẫn còn nhiều ân tình với nhau.

Giây phút hiện tại luôn luôn có những điều kiện tốt đẹp có thể làm bạn vui và thanh thản. Khi bạn gặp một cái gì đó rất tiêu cực, bạn thường có xu hướng chỉ nhìn vào những khía cạnh tiêu cực đó. Nhưng nếu bạn đánh mất mình trong một khía cạnh nào đó của quá khứ hay của thời điểm hiện tại, bạn sẽ không thể nhìn thấy toàn diện hình ảnh của sự kiện. Bạn sẽ ném vào sọt rác tất cả các năm tháng bạn đã cùng người đó đi qua cuộc đời và bạn muốn nói hoặc làm một điều gì thật tàn nhẫn với chính mình và người kia. Tuy nhiên, nếu bạn biết thực tập để mang ánh sáng chánh niệm vào cuộc sống hàng ngày những lúc bạn không quá tức giận hay tuyệt vọng, bạn có thể sử dụng ánh sáng đó để chiếu rọi vào một tình huống khó khăn và bạn sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về sự vật. Điều này sẽ giúp bạn dừng lại, không còn muốn phát biểu những lời nói cay đắng cộc cằn hoặc làm những quyết định khắc nghiệt mà bạn sẽ hối tiếc sau này.

Tiêu thụ của các giác quan

Một khía cạnh khác của cơ thể cần được ý thức là các cơ quan trong thân. Thông thường thì chúng ta dễ có ý thức về các cơ quan bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, da; nhưng điều quan trọng là chúng ta phải biết chăm sóc các giác quan vì chất lượng của cuộc sống chúng ta phụ thuộc vào cách thức chúng ta tiêu thụ. Nếu bạn tiêu thụ các hình ảnh mang nhiều khát vọng và bạo lực, bạn sẽ có những ý nghĩ tràn đầy tham ái và bạo động.

Ví dụ, bạn đang cảm thấy đầy đủ và vui vẻ trong một khoảnh khắc nào đó, nhưng khi nhìn thấy một chiếc xe mới, một ngôi nhà mới hoặc thậm chí một Ipad mới là đột nhiên bạn cảm thấy bồn chồn, bất mãn vì cuộc sống không còn hoàn mỹ nữa. Bạn cảm thấy bạn cần phải có những thứ kia mới được hạnh phúc. Những hình ảnh bạn tiêu thụ từ máy truyền hình, trên internet, trên các bảng quảng cáo sẽ rất nhanh chóng ảnh hưởng đến tư duy, nhận thức, cảm thọ của bạn và do đó có tác động mạnh vào cuộc sống của bạn. Những âm thanh như âm nhạc và các cuộc đàm luận cũng có thể ảnh hưởng đến bạn. Khi buồn, bạn muốn nghe nhạc buồn và điều này làm bạn cảm thấy buồn hơn. Khi tức giận, bạn muốn nghe nhạc kích động và bạn bị kích thích và giận dữ hơn. Bạn tiếp tục tiêu thụ những thực phẩm độc hại và cảm thấy hình hài mình ngày càng nặng nề và tâm hồn mình ngày càng tối tăm. Cách bạn va chạm, tiếp xúc với cơ thể của bạn hoặc của người khác cũng là một loại tiêu thụ. Nó có thể mang lại an lạc, sự tôn trọng, sự an toàn, tình thương và hiểu biết cho bản thân và cho người khác; hoặc nó có thể tưới tẩm hạt giống của sự thiếu tôn trọng, sự lo sợ, sự đòi hỏi và thèm khát. Cách bạn tiêu thụ với tâm trí của bạn thông qua những suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của bạn sẽ được lặp lại nhiều lần cho đến khi chúng trở thành hiện thực qua lời nói và hành động.

Thông điệp của nước

Chánh niệm về cơ thể (awareness of the body in the body) cũng bao gồm chánh niệm về các yếu tố tạo nên cơ thể như đất, nước, gió và lửa. Tại Vasant Valley School ở New Delhi, tôi có hỏi các em về tỷ lệ nước trong cơ thể chúng ta. Các em lập tức trả lời là 70%; có một số cho rằng ít hơn 70% hoặc là 71,5%. Tôi nói: “Hay lắm, tỷ lệ nước trong cơ thể  là từ 65% đến 70%.”

Masaru Emoto, một nhà khoa học Nhật đã thực hiện một cuộc thí nghiệm mang tên là Thông điệp của nước (Message of the Water). Ông cho nước vào trong nhiều đĩa Petri (đĩa dùng trong phòng thí nghiệm) và ông chia các đĩa đựng nước này thành hai nhóm. Ông nói với các đĩa nước trong nhóm thứ nhất những lời dễ thương như: “Cám ơn bạn”, “Tôi yêu bạn,” hoặc “Bạn đẹp lắm.” Đối với các đĩa nước trong nhóm thứ hai, ông nói những lời tiêu cực như: “Mày thật ngu ngốc,” hoặc “Mày xấu xí quá.” Một số người trong chúng ta vẫn thường nói với mình những lời tiêu cực như vậy. Khi bạn đánh rơi một cái gì đó hoặc làm điều gì đó không vừa ý, bạn sẽ thốt lên: “Tôi thật quá vụng về!” “Tôi ngu quá!” Thậm chí có người còn nói với chính mình: “Tôi ghét cái thân xác này. Thà chết đi còn hơn!”

Sau khi gửi nhiều thông điệp khác nhau vào nước, nhà khoa học Masaru Emoto đặt tất các đĩa Petri vào máy đông lạnh và sau đó ông đã dùng kính hiển vi để quan sát các tinh thể của nước (crystals). Kết quả là nước trong các đĩa nhận được lời nói yêu thương đã hình thành các tinh thể tuyệt đẹp. Các bạn có thể xem hình các tinh thể này trong cuốn Thông điệp của nước của tác giả (hoặc vào Google: masaru emoto water). Ngược lại, các đĩa nước đã nhận thông điệp tiêu cực không hình thành được tinh thể hoặc chỉ có những tinh thể vỡ vụn. Tôi đã nói về cuộc thí nghiệm này cho các em nghe và sau đó tôi hỏi: “Trong cơ thể các em có đến 70 % nước, vậy hàng ngày các em nên gửi loại thông điệp nào đến cho lượng nước trong cơ thể các em?” Tất cả các em đều đưa tay đồng ý sẽ nhắn gửi các thông điệp tích cực đến cho nước trong cơ thể. Một em nói: “Em sẽ nói với cơ thể em: Tôi rất yêu bạn! Nếu không có bạn, tôi sẽ không có sự sống này. Bạn vô cùng quan trọng đối với tôi.” Một em 8 tuổi nói: “You are stupendous!” (Bạn thật tuyệt diệu!).

Là người lớn, chúng ta có thể thực tập phát biểu những lời dịu dàng thân ái với chính mình hàng ngày; và như thế chúng ta có thể dạy dỗ và khuyến khích con em và học sinh của mình đối xử như vậy với bản thân của họ, để họ sống hạnh phúc hơn và tránh gây những thương tích bệnh tật cho thân tâm về sau.

Cười đi em!

Mỉm cười cũng là một sự thực tập tuyệt diệu. Chú Shantum, một giáo thọ cư sĩ trong truyền thống Làng Mai, đã có lần nhận xét: “Người Ấn độ rất dễ cười.” Xứ Ấn độ có nhiều vấn đề khó khăn nhưng người Ấn độ thì luôn luôn nói: “Không có vấn đề! Không có vấn đề!” (No problem!). Thái độ này thật tuyệt vời. Không phải là bạn phủ nhận vấn đề, nhưng bạn cho phép tâm trí mình có cái nhìn bao quát hơn, thấy nhiều điều kiện tích cực khác và không bị kẹt vào một điều duy nhất nào. Nụ cười là một loại thuốc giải độc (antidote) tuyệt vời khi chúng ta có nhiều vấn đề cần giải quyết.

Nhiều người hỏi tôi: “Sao sư cô cười hoài vậy? Có phải sư cô lúc nào cũng hạnh phúc không?” Tôi trả lời: “Tôi mỉm cười đôi khi vì tôi hạnh phúc, nhưng phần lớn là tôi mỉm cười với những ý nghĩ của tôi vì chúng thường hay quanh co, sai lệch, méo mó, lạ lẫm và kỳ cục, v.v… Thay vì cảm thấy xấu hổ hoặc bị đắm chìm và đồng hóa với những tư duy ấy, tôi chỉ đơn giản mỉm cười với chúng.” Thông thường thì khi có cơn giận phát sinh, bạn nhanh chóng trở nên giận dữ. Khi một cảm xúc mạnh mẽ phát sinh gồm cả hạnh phúc, bạn trở thành cảm xúc đó và bạn đánh mất chính mình. Nhưng nếu bạn biết thực tập để mỉm cười và đem tâm neo vào cơ thể và hơi thở, bạn có thể trải nghiệm một cách trọn vẹn cảm xúc đó với ý thức, sự vững chãi và bình an. Đây là một nụ cười thanh thản, không sợ hãi, một món quà tuyệt vời cho chính mình và cho cuộc đời.

 

Bài có liên quan: Học làm tri kỷ (phần I)

 

Học làm tri kỷ (phần I)

Phật giáo là khi đi, khi đứng, khi ngồi

Khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, một hôm tôi đột nhiên có ước muốn kỳ lạ là giữ im lặng và tuyệt đối không nói chuyện với bất cứ người nào trong khoảng một tháng. Tôi cũng muốn được bước những bước chân thật chậm trong khuôn viên của trường. Tôi nói điều này với người bạn thân nhất của tôi là Jennifer. Cô ấy đã bật cười và chọc ghẹo tôi: “Nếu bạn không nói chuyện một tháng thì ai sẽ đi trực và chăm sóc bệnh nhân của bạn? Ai sẽ làm bản báo cáo về tình trạng của họ mỗi ngày?”. Đi bộ chậm rãi trong khuôn viên đại học quả là một điều khó khăn và có vẻ kỳ cục bởi vì tất cả mọi người xung quanh tôi đang hối hả đi nhanh. Tôi không biết điều mong ước này đến từ lúc nào nhưng tôi nhận ra rằng nó đã ăn sâu vào tâm trí tôi. Thông thường thay vì đi thang máy, tôi thích dùng cầu thang và tôi đi một cách lặng lẽ chậm rãi. Các bác sĩ hoặc y tá đang hối hả lên xuống cầu thang nhiều khi giật mình khi bất ngờ thấy tôi. Cho đến khi trở thành một sư cô Làng Mai, tôi mới khám phá ra rằng những điều tôi ước mơ khi còn là sinh viên y khoa chính là thiền hành và im lặng hùng tráng, và từ đó tôi có dịp thực tập thường xuyên mỗi ngày. Tôi đã thực sự về nhà!

Khi thấy những người trẻ đến trung tâm thiền tập của chúng tôi, thay vì đến những nơi vui chơi thú vị khác, tôi tin tưởng rằng có một cái gì đó sâu thẳm bên trong các bạn, khiến các bạn muốn khám phá và tìm kiếm một phương cách nào đó để có thể tiếp xúc với cuộc sống của mình một cách có ý nghĩa. Các bạn có nhu yếu muốn hiểu lý do tại sao các bạn đến trường và tại sao các bạn làm những điều đang làm. Tôi tin rằng sự giáo dục không phải chỉ để thu thập những kiến thức, tiêu chuẩn và lý thuyết; bởi vì nếu như thế thì Google là một thực thể trí thức nhất. Giáo dục phải có công năng mang đến hiểu biết sâu sắc và thực tiễn hơn về con người và tâm trí của chúng ta.

Thực tập chánh niệm là phương thức đã giúp tôi hiểu biết, chuyển hóa và trị liệu bản thân. Thực tập chánh niệm là một sự thực tập cơ bản, và khi chỉ nghe qua hoặc tìm hiểu về chánh niệm qua sách báo hay ngôn từ, các bạn có thể nghĩ rằng nó quá đơn giản và rất dễ thực hiện. Có lẽ các bạn tự hỏi không biết có phương pháp nào khác phức tạp hơn, tinh vi và hấp dẫn hơn? Nhưng chính sự thực tập đơn giản này đã giúp tôi tìm hiểu được bản thân mình, chăm sóc tốt hơn cho bản thân để có thể phục vụ và giúp đỡ người khác một cách sâu sắc, hiệu quả hơn so với lúc tôi còn là một bác sĩ y khoa.

Cách đây không lâu, có một thanh niên đến thăm Tu viện Bích Nham vào một ngày “làm biếng” của chúng tôi. Anh ấy nói với tôi: “Sư cô có thể giúp tôi làm quen với tu viện?”. Tôi vừa mới đi bộ hơn hai tiếng rưỡi về nên cũng khá mệt và đói, nhưng tôi cũng vui lòng dẫn anh đi xem tu viện. Nhưng chỉ đi được một vài bước, anh ta hỏi: “Phật giáo là gì? Tôi muốn biết thêm về Phật giáo”. Tôi bắt đầu nói về thiền hành: “Tôi có thể tận hưởng những giây phút hiện tại khi đi từng bước chậm rãi và ý thức được hơi thở, bước chân…Tôi được nuôi dưỡng bằng sự tiếp xúc với cơ thể và thiên nhiên…”. Trong khi tôi nói, anh ta ngắt lời tôi một vài lần với những câu hỏi về các chủ đề khác. Tôi trả lời anh ta, và sau đó tôi trở lại vấn đề thiền hành. Cho đến một lúc, hầu như đã mất kiên nhẫn, anh ấy nói: “Chúng ta có thể bỏ qua tất cả những điều đó không? Tôi chỉ muốn biết về Phật giáo!” (Can we skip all of that? I just want to know about Buddhism).

Tôi trả lời: “Đây chính là Phật giáo! Khi bạn đi bộ và bạn có ý thức rằng bạn đang đi bộ, đó là Phật giáo. Khi bạn ngồi và bạn có ý thức rằng bạn đang ngồi, đó là Phật giáo. Khi bạn nằm xuống và bạn có ý thức về cơ thể của bạn và những gì phát sinh trong tâm trí của bạn trong thời điểm đó, đó là Phật giáo”. “Phật giáo là trong mọi hành động của cuộc sống hàng ngày, trong mỗi chuyển động của cơ thể và tâm trí, là khi chúng ta có đủ chánh niệm để ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút đó”. Anh ta im lặng một lúc rồi lại nêu lên một vài câu hỏi khác về lý thuyết. Cuối cùng tôi đã nói với anh ta một cách nhẹ nhàng nhưng rõ ràng: “Có lẽ anh chưa sẵn sàng để tiếp nhận những gì chúng tôi muốn truyền đạt cho anh. Xin hẹn một dịp khác”. Anh ta rời khỏi tu viện ngay sau đó.

Trong thời của Bụt, nhiều người đến thăm Bụt và đặt đủ loại câu hỏi. Khi có câu hỏi thiên về lý thuyết hoặc triết học, Bụt giữ im lặng, không trả lời. Là một giáo chức, nếu bạn chỉ dạy kiến thức thôi thì không đủ vì trong thời đại này, mọi người có thể lên mạng để học hỏi về kiến thức. Một giáo chức có thể trao truyền toàn bộ con người của mình như cách di chuyển, cách đứng, cách đi, cách nói chuyện, cách lắng nghe và cách sống của mình. Đó là những gì bạn có thể trao truyền và những gì người khác sẽ tiếp nhận; và những điều này có thể sẽ đem đến cho họ hạnh phúc hoặc khổ đau. Người xuất sĩ chia sẻ Phật pháp từ kinh nghiệm trực tiếp và thực tiễn của mình. Vì thế khi người thanh niên đề nghị tôi bỏ qua tất cả sự thực tập để chỉ nói về Phật giáo, thì tôi cảm thấy mình không có gì để trao truyền cho anh ta.

Ý thức về thân trong thân

Bụt dạy Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm là nền tảng của thực tập về sự tỉnh thức và giác ngộ; nó bao gồm sự quán chiếu cơ thể (thân), quán chiếu cảm xúc (thọ), quán chiếu tâm (tâm), và quán chiếu các đối tượng của tâm (pháp). Nếu lĩnh vực đầu tiên là cơ thể được thực tập chuyên cần và liên tục, nó sẽ bao gồm các lãnh vực thứ hai, thứ ba và thứ tư là thọ, tâm và các đối tượng của tâm. Tất cả bốn lãnh vực quán niệm đều tương tức với nhau; chúng có trong nhau, phản ánh và tăng cường cho nhau.

Lĩnh vực quán niệm đầu tiên là ý thức về cơ thể của chính mình (awareness of the body in the body), được chia ra thành hai phần. Một là ý thức về hơi thở, được diễn tả trong hai bài thực tập đầu tiên trong số 16 bài tập của kinh Quán niệm hơi thở:

1. Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

2. Thở vào, tôi theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối.

Thở ra, tôi theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối.

Phần thứ hai là ý thức sáng tỏ về phần còn lại của cơ thể được diễn tả trong bài tập thứ ba và thứ tư của kinh Quán niệm hơi thở:

1. Thở vào, tôi ý thức toàn thân.

Thở ra, tôi ý thức toàn thân.

2. Thở vào, tôi buông thư và làm lắng dịu toàn thân.

Thở ra, tôi buông thư và làm lắng dịu toàn thân.

Bốn bài tập này ảnh hưởng thế nào trên cuộc sống phức tạp và bận rộn của bạn? Trong trường y, tôi đã học rất kỹ về sinh lý học của hệ hô hấp cũng như dùng xác chết để mổ xẻ và phân tách hệ hô hấp (dissect on cadavers). Tuy nhiên tôi chưa bao giờ áp dụng những kiến thức đó vào cuộc sống của riêng tôi. Cho đến khi trở thành một người tu, tôi mới học được cách ý thức hơi thở vào, hơi thở ra và nhận ra rằng tôi vẫn còn sống và đang thở. Chỉ khi trở thành một người thực tập tôi mới ngạc nhiên thấy mình có thể tiếp xúc sâu sắc với hình hài của mình. Tôi học thể hiện tình yêu và lòng biết ơn đối với hình hài của mình bằng cách giảm thiểu những căng thẳng và những cơn đau qua sự thực tập hơi thở chánh niệm và thiền buông thư.

Học làm tri kỷ

Hai bài tập đầu tiên trong kinh Quán niệm hơi thở là để nuôi dưỡng và duy trì chánh niệm bằng cách đơn giản là biết hơi thở vào là hơi thở vào, và biết hơi thở ra là hơi thở ra. Cũng thế, khi có sự lo âu, ghen ghét hoặc phiền não chúng ta cũng đơn thuần nhận biết đó là lo âu, ghen ghét hoặc phiền não. Nhận diện đơn thuần cũng có nghĩa là thấy sự vật như nó đang là, mà không nắm bắt hay chối từ hay xua đuổi nó. Với cùng một năng lượng chánh niệm được sử dụng để nhận biết những hơi thở vào và hơi thở ra, chúng ta sẽ nhận diện các cảm xúc, ý nghĩ và tri giác (perceptions) khi chúng phát sinh. Thông thường thì chúng ta không ý thức được các cảm xúc và ý nghĩ của chúng ta.

Ví dụ, bạn làm việc trên máy tính và mải mê với những gì trên màn hình đến năm giờ hoặc tám giờ đồng hồ. Sau đó khi bạn tiếp xúc với ai đó tại nơi làm việc hoặc ở nhà, bạn bỗng thấy mình có phản ứng mạnh đối với lời nói hoặc hành vi của người đó và bạn ngạc nhiên về sự khắc nghiệt của chính mình. Lý do là vì bạn đã thản nhiên làm việc suốt ngày trên máy tính và bạn không ý thức được những gì đã âm thầm xảy ra trong bản thân. Trên thực tế, khi bạn lặng lẽ làm một việc gì đó, tâm trí của bạn cũng đang tiếp tục làm công việc riêng của nó. Tàng thức của bạn tiếp tục lặp lại những lời nói mà bạn đã nghe hôm qua, những điều mà bạn đã nhìn thấy hoặc nghĩ đến một tuần trước đây hoặc nhiều năm về trước. Nó cũng giống như một đại dương bao la và bạn chỉ nhìn thấy một vài ngọn sóng trên mặt biển, nhưng bạn không thấy được những gì đang xảy ra một ngàn dặm dưới đáy biển.

Tương tự như vậy, khi bạn đang làm việc hoặc bận tâm với những đối tượng bên ngoài, chiều sâu tâm thức của bạn vẫn tiếp tục làm việc và xử lý các ký ức. Có những cảm xúc và tri giác chúng ta không nhận biết nhưng cuối cùng chúng cũng sẽ biểu hiện như những đợt sóng thần, và chúng kích hoạt khiến chúng ta nói hoặc làm những điều mà ngay cả chúng ta cũng phải ngạc nhiên. Khi bạn đã quá thông thạo về một công việc nào đó chẳng hạn như lái xe hoặc làm việc với máy tính, bạn có thể làm một cách tự động, và vì thế tâm của bạn có thể đang rảnh rỗi để rong chơi những nơi nguy hiểm mà bạn không hề có ý thức. Vì thế nên bạn có thể luyện tập theo dõi hơi thở trong khi bạn đang đọc sách, viết email, hay các làm công việc khác của bạn, để tâm của bạn neo vào giây phút hiện tại thay vì rong ruổi về quá khứ hoặc tương lai. Bạn sẽ có khả năng hiểu biết và làm chủ bản thân mình một cách sâu sắc. Đó chính là học làm tri kỷ của chính mình, vì trong từ “tri kỷ,” tri có nghĩa là “nhớ, biết, làm chủ” và kỷ có nghĩa là “chính mình”. Học làm tri kỷ của chính mình là một thách thức lớn nhất và xứng đáng nhất.

Có nhiều người thực tập chánh niệm bằng cách cài vào máy tính một chương trình có thể phát ra một tiếng chuông mỗi 15 phút để họ dừng lại, theo dõi hơi thở và tiếp xúc với hình hài của họ. “Thở vào, tôi ý thức rằng tôi đang có một hình hài. Thở ra, tôi mỉm cười với hình hài của tôi”. Ngoài ra còn có một chương trình có thể làm máy tính đình chỉ mọi hoạt động theo đúng lịch trình đã định, và bạn không thể làm bất cứ điều gì ngoại trừ thở và thư giãn thân tâm. Có lẽ bạn cảm thấy bực bội vì bị bắt buộc phải dừng lại trong khi làm việc, nhưng bạn có thể mỉm cười vì bạn đang có dịp để yêu thương và tỏ lòng biết ơn đối với chính mình. Trong lớp học hoặc trong những buổi họp, thay vì vẽ nguệch ngoạc lên giấy, nghĩ đến những chuyện không đâu hoặc có những chống đối phản ứng trong đầu của mình, bạn có thể đem tâm trở về với hơi thở. Khi thở vào, bạn nhẹ nhàng nâng bàn tay mình lên để báo hiệu đó là một hơi thở vào, và khi thở ra, bạn nhẹ nhàng đặt tay lên đùi của bạn. Nhưng chẳng bao lâu, khi bạn bận rộn với tư duy và lời nói của mìn, bạn quên đi hơi thở và cơ thể của bạn. Khi chợt nhận ra điều đó, bạn chỉ cần đơn giản bắt đầu theo dõi hơi thở trở lại.

Cứ như thế bạn kiên nhẫn thực tập để tâm của bạn trở về an trú trong hơi thở và hình hài của mình. Bạn sẽ khám phá ra rằng sự có mặt và lắng nghe của bạn sâu sắc hơn và có hiệu quả hơn. Khi tâm có thể nương vào hơi thở, tâm sẽ ý thức được những gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài cơ thể. Nó giống như một luồng ánh sáng chiếu vào đối tượng trực tiếp bên dưới nó, và nó cũng tỏa sáng cả căn phòng và tất cả các đối tượng trong căn phòng đó. Cũng vậy, ánh sáng của chánh niệm rọi vào hơi thở làm tâm có mặt trong hiện tại và có thể ý thức tất cả mọi sự việc khác đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Điều này cho phép chúng ta khỏi mất nhiều thời gian và nỗ lực để làm lại hoặc học lại những điều chúng ta đã làm, đã học trước đó.

Thông thường thì tâm và cơ thể bị tách rời bởi sự thất niệm hay quên lãng của chúng ta. Từ “schism” (ly gián) trong schizophrenia (bệnh tâm thần phân liệt) hoặc schizoid disorder (rối loạn phân lập) có nghĩa là tâm đang bị chia cắt hoặc ly gián và nó không còn khả năng phân biệt thực tế với ảo giác hoặc ảo tưởng. Sống trong thời hiện đại này, có lẽ chúng ta ai cũng có ít nhiều phân hóa đó trong tâm. Tâm chúng ta thường ra khỏi cơ thể và phóng đi ngàn hướng chứ không an trú một chỗ. Vì thế, chúng ta phải thường xuyên gọi nó trở về với hơi thở. Bạn có thể nhẹ nhàng gọi tâm của bạn trở về với than: “Tâm ơi! Trở lại! Hãy trở lại đây” hoặc “Tôi có mặt đây! Tôi có mặt đây.”

Bài tập thứ ba và thứ tư trong kinh Quán niệm hơi thở là để tăng cường chánh niệm về cơ thể của chúng ta. “Thở vào, tôi ý thức cơ thể của tôi. Thở ra, tôi ý thức cơ thể của tôi”. Bạn cũng có thể nói: “Thở vào, tôi ý thức rằng tôi có một cơ thể. Thở ra, tôi ý thức rằng tôi có một cơ thể.” Những câu nói này có công năng thức tỉnh bạn. Bạn có thể sống ngày này qua ngày khác mà không hề chú ý đến một sự thật đơn giản và tuyệt vời là mình đang có một hình hài! Có thể bạn chỉ biết sử dụng và lạm dụng cơ thể của mình cho đến khi nó trở thành suy nhược và bệnh hoạn để rồi sau đó bạn tức giận, thất vọng và sợ hãi. Đến khi đó bạn mới hối tiếc và ao ước làm sao có được một cơ thể khỏe mạnh như trước. Ý thức về cơ thể giúp bạn khám phá ra rằng bạn không cần phải lang thang suốt cuộc đời tìm kiếm tình yêu. Tình yêu đang có trong cơ thể của bạn. Cơ thể của bạn là người yêu chân thành thủy chung nhất của bạn, luôn tha thứ cho những vụng về bạc đãi của bạn, và luôn cố gắng phục hồi để bạn có thể khỏe mạnh, xinh tươi. Lòng biết ơn và sự thương mến, ân cần sẽ làm cho sức sống trong bạn tràn dâng khi bạn trở về với hình hài của mình.

Có những khía cạnh khác nhau để ý thức về cơ thể. Trước hết, hơi thở thuộc về lĩnh vực của cơ thể, và chúng ta cũng tập ý thức về bốn hành động cơ bản của cơ thể gồm đi, đứng, nằm và ngồi. Khi ngồi xuống, bạn có thể cảm nhận rằng mình đang ngồi xuống: “Ngồi xuống, tôi biết tôi đang ngồi xuống” hoặc “tôi ý thức được quá trình chuyển đổi từ đứng sang ngồi”. Sau đó khi đứng lên, bạn có thể nói: “Đứng lên, tôi biết tôi đang đứng lên” hoặc bạn chỉ đơn giản ý thức rằng cơ thể bạn đang chuyển từ thế ngồi sang thế đứng. Như thế chúng ta có thể thực tập ý thức mọi sự chuyển động của cơ thể, như mặc quần áo, mang giày dép, cúi mình xuống, vươn mình lên, co giãn tay chân, đại tiểu tiện, v.v.

Thông thường chúng ta không ý thức được tư thế của cơ thể và sự chuyển đổi liên tục do cơ thể tạo ra. Khi bạn cần phải đứng lên, bạn chỉ đứng lên; khi bạn cần đi bộ, bạn chỉ đi bộ. Bạn có thể đi từ đầu đến cuối bãi đậu xe hoặc khuôn viên trường mà không hề biết rằng bạn đã di chuyển như thế. Tâm của bạn có thể đưa ra một quyết định và thực hiện nó một cách tự động và sau đó bạn ngạc nhiên vì những cảm xúc, nhận thức, và phản ứng mà bạn có. Bạn không thể kiểm soát lời nói và hành động của cơ thể bởi vì bạn thiếu sự ý thức về những hoạt động trong từng giây phút của cơ thể cũng như của tâm bạn. Một trong những sự thực tập rất hữu hiệu là ý thức hơn về bốn tư thế của cơ thể.

Ví dụ, vì đi bộ là một hành động mà bạn làm liên tục cả ngày nên bạn có thể thực tập thiền hành bất cứ nơi nào để cho tâm của bạn có thể an trú trong cơ thể. Ý thức hơi thở vào, bạn bước một vài bước trong chánh niệm; ý thức hơi thở ra, bạn bước thêm một vài bước trong chánh niệm. Hơi thở của bạn dài hay ngắn và bạn bước bao nhiêu bước trong mỗi hơi thở là điều không quan trọng. Điều quan trọng là bạn thực sự ý thức được hơi thở và các bước chân trong khi chúng đang diễn ra.

Giận 69 giây hay một đời

Chúng ta biết rằng nửa chu kỳ (half life) của một hormone cảm xúc chỉ dài khoảng 69 giây. Nhưng tại sao chúng ta không tức giận khoảng 69 giây mà lại giận suốt ngày đó? Hoặc có nhiều người giận năm này qua năm khác và đôi lúc họ giận suốt cả đời của họ? Điều gì làm cho cơn giận tồn tại lâu dài như vậy? Đó là vì những ý nghĩ của chúng ta cứ tiếp tục nuôi dưỡng cơn giận, như dầu được tiếp tục đổ vào đống lửa.

Ví dụ, một người nào đó đã nói một câu làm chúng ta giận. Họ chỉ nói một lần đó thôi, nhưng chúng ta nhớ đến và lặp đi lặp lại câu nói đó cho chính mình nghe hàng trăm hàng ngàn lần nữa. Người ta có thể làm tổn thương chúng ta chỉ một lần hoặc đôi lần trong quá khứ, nhưng chúng ta gây tổn thương cho chính mình năm này qua năm khác bằng cách ôn đi ôn lại những hình ảnh, âm thanh, những xúc chạm và những tư duy cũ. Khi tình huống khổ đau ngày xưa diễn lại trong tâm trí, lượng kích thích tố (adrenaline and emotion hormones) sẽ được tiết ra và gây nên phản ứng căng thẳng sinh lý (stress response) trong cơ thể chúng ta. Khi chúng ta nhớ lại một tình cảnh nào đó, những chi tiết về tình cảnh này sẽ được mã hóa vào bộ nhớ ngắn hạn và dài hạn.

Con đường thần kinh dùng cho kinh nghiệm đau buồn này lâu ngày sẽ trở thành một xa lộ lớn trong bộ não chúng ta. Bất cứ một cái gì đó mà chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm hoặc cảm nhận mà tương tự như những gì chúng ta đã có kinh nghiệm trước đây sẽ kích hoạt con đường thần kinh này ngay lập tức và có thể gây nên những trường hợp đặc biệt như Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Post Traumatic Stress Disorder – PTSD). Một cựu chiến binh với bệnh Rối loạn căng thẳng sau chấn thương này có thể chỉ nghe thấy một âm thanh lớn là ngay lập tức tâm trí của ông ta liên tưởng đến bom đạn, đến cảnh chiến trường và ông chui xuống gầm giường, trốn trong tủ quần áo hoặc mang súng ra để sẵn sàng chiến đấu, chạy trốn hoặc co rúm lại (fight, flight or freeze response). Đây là một ví dụ cực đoan, nhưng nhiều người trong chúng ta hàng ngày có thể đi qua những trạng thái vi tế  hơn của Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), nhưng chúng ta không ý thức được những triệu chứng này.

Khi có chánh niệm về hơi thở và cơ thể, chúng ta có thể phát hiện sớm hơn những con sóng cảm xúc. Bạn thực tập thở vào và thở ra với những cảm xúc này và ôm ấp chúng với năng lượng chánh niệm để làm tĩnh lặng thân và tâm của mình. Tôi thường thực tập ngồi lại và thở với bất cứ điều gì tôi đang cảm nhận; và ngay cả khi tôi đang khóc tôi vẫn mỉm cười và thở với nó để tránh gây thêm thương tích cho tâm trí tôi. Như thế, tuy chúng ta vẫn phải đi qua khó khăn nhưng chúng ta không gây thêm khổ đau cho thân tâm. Những điều bất như ý hoặc sự bất hạnh có thể xảy ra nhưng chúng ta có khổ đau hay không là tùy thuộc vào chúng ta. Những khổ đau trong thời thơ ấu vẫn còn đó khi chúng ta lớn lên và những khó khăn mà chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình và xã hội cũng không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, chúng ta có cần phải khổ đau vì chúng hay không? Chúng ta có cần khắc sâu kinh nghiệm đó vào thân và tâm mình hay không? Chúng ta có cần sống lại những giây phút khổ đau đó nhiều lần để chúng trở thành những căn bệnh tâm lý và sinh lý trong bản thân hay không? Đau khổ hay không là tùy chúng ta lựa chọn. Ví dụ khi có một điều căng thẳng nào đó xảy ra, bạn có thể phản ứng bằng cách trở về với hơi thở và bước chân của bạn. Sau đó nếu có thể, bạn sẽ nằm xuống và tiếp tục theo dõi hơi thở và thư giãn cơ thể của mình. Nếu đang trong tư thế ngồi hoặc đứng hoặc đi, bạn có thể ý thức cơ thể của bạn để thư giãn nó; dùng tia chánh niệm để lướt qua cơ thể và thư giãn những bộ phận nào đang có sự căng thẳng. Bằng cách đó bạn sẽ không tạo thêm nhiều chấn thương và khổ đau cho bản thân ngay bây giờ và trong tương lai.

 

Học làm tri kỷ – phần II