Một ngày trong đời của một Thiền tăng Cơ Đốc

Thầy Pháp Đệ xuất gia tại Làng Mai năm 2003. Trước đó, thầy đã từng là một linh mục Công giáo. 13 năm gắn bó với tăng thân, thầy đã sống thật trọn vẹn, thật đẹp, luôn hiến tặng sự có mặt tươi mát và nụ cười hồn hậu của mình. Thầy ra đi trong vòng tay thương yêu của tăng thân vào ngày mùng 4 tháng 8 năm 2016, ở tuổi 81, sau một thời gian lâm bệnh nặng. Để tưởng nhớ đến thầy, BBT xin chia sẻ một bài viết của thầy có tựa đề “một ngày trong đời của một Thin tăng Cơ Đốc”. Thầy đã viết bài này nhân ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm – ngày 8.12.2007. Bài được chuyển ngữ từ tiếng Anh: http://www.mindfulnessbell.org/archive/2015/02/a-day-in-the-life-of-a-catholic-zen-monk-in-plum-village

 

Sáng nay, tôi thức dậy và mỉm cười: “Hăm bốn giờ tinh khôi, Xin nguyện sống trọn vẹn, Mắt thương nhìn cuộc đời.” Tôi thắp nến và hương trước bức ảnh gia đình gồm có cha mẹ và các anh chị em tôi, và khấn thầm: “Xin thắp nén hương này – cúng dường lên cha mẹ, và Tổ tiên nhiu đời. Nguyện khói trầm tỏa dâng – chút lòng con thành kính. Nguyện làm kẻ đồng hành – của các bậc hin thánh, và đức mẹ Mary – là Đức Mẹ Từ Bi, nhân ngày Mẹ Vô Nhiễm.”

Nhờ Thầy, nhờ sự thực tập thờ cúng Tổ tiên của văn hóa Việt mà con người Công giáo này giờ đây đã nối lại được mối liên hệ với Tổ tiên của mình, và được nuôi dưỡng bởi lòng thành kính biết ơn đối với cha mẹ và các Tổ tiên khác – một thực tập mà các giám mục và linh mục lầm đường đã tìm cách ngăn chặn ở Việt Nam. Khi tôi thắp nến và dâng hương trước ảnh Tổ tiên tôi, tôi biết các vị không thật sự nằm trong bức ảnh. Tôi biết các vị đang có mặt trong tôi. Tôi biết bàn thờ Tổ tiên đích thực chính là thân tâm tôi, nơi mà tôi vinh danh các vị qua cách sống hằng ngày, cụ thể là qua Giới thứ Năm: tiêu thụ có chánh niệm. Mối liên hệ sống này với Tổ tiên giúp tôi buông bỏ ngã chấp, buông bỏ ý niệm mình là một cá thể riêng biệt và đặc biệt.

Chỉ có các vị Thin tăng dừng lại

4 giờ 45 sáng, tôi lặng lẽ pha trà, không làm động giấc ngủ người bạn đồng liêu. Trong khi uống trà, tôi hồi tưởng lại với lòng biết ơn rằng chính mẹ tôi là người đầu tiên đã dạy tôi sùng kính đức Mẹ Mary. Thời niên thiếu, tôi đã cầu nguyện Mẹ Mary đủ thứ chuyện – kể cả phù hộ cho đội bóng rổ của mình thắng trận. Kế đó, ngày của chúng tôi bắt đầu bằng thiền tọa (Giờ Thiêng) vào lúc 5 giờ 30 sáng.

Bảy giờ sáng, nhà thờ cổ hàng trăm năm gần đây đổ hồi chuông cầu Kinh Đức Bà (Angelus), gọi chúng tôi dừng lại và nhớ lời Mẹ Mary nói “Xin phó mặc” với Thiên Thần, và trở thành mẹ của Jesus. Ngày xưa, ai ai cũng dừng lại khi nghe chuông nhà thờ đổ và niệm ba lần kinh Lạy Mẹ Maria. Ngày nay, chỉ có các Thiền tăng dừng lại. Tôi yêu tiếng chuông và tôi niệm một lần kinh Lạy Mẹ. Nghe hồi chuông cầu Kinh Đức Bà cũng giống như nghe tiếng gọi của đức Ki-tô, gọi tôi quay về với chân tâm và mời tôi làm như Mẹ Mary: mang năng lượng Chúa Thánh Thần, sản sinh ra đức Ki-tô trong cuộc đời mình, trong thân và tâm mình. Riêng với cuộc đời tôi, tôi biết nếu tôi không làm như vậy thì tôi sẽ để phí đi những gì Mẹ Mary đã làm.

Trong khi hồi chuông cầu Kinh Đức Bà tiếp tục đổ, tôi nhớ lại câu chuyện Phúc Âm về bà mẹ trẻ mới mang thai Mary “chuẩn bị và đi hối hả” (bà chưa được học đi thiền hành chậm) đến nhà chị họ mình, Elizabeth, người chào bà với câu nói “ân phước thay cô, giữa mọi người nữ” (Luke 1:39 & 42). Hồi chuông cầu Kinh Đức Bà làm tôi thức tỉnh, nhận ra rằng cũng như Mary, các anh chị em tôi đều mang “tâm thức của đức Ki-tô” ngay bây giờ và ở đây. Cũng như Elizabeth, tôi nói với các huynh đệ mình “Ân phước thay anh, chị! Chúng ta thật may mắn!” Điểm tâm lúc 7 giờ 30 sáng. Chúng tôi ngồi quây quần dưới đất, trên tọa cụ – hai mươi thầy và sáu vị cư sĩ, cùng nhau bẻ bánh mì. Tôi được vây quanh bởi các “companions.” Tôi nhớ chữ “companion” được ghép từ từ com (cùng nhau) và pan (bánh mì), nghĩa là: cùng nhau bẻ bánh mì. Tôi nhớ Jesus bẻ bánh mì với các đệ tử của mình. Sáng nay, tôi thấy thân mẫu của thầy trụ trì ngồi ăn chung với chúng tôi – như bà Mary đã ngồi ăn với chúa Jesus và các “companions” của ngài. Tôi nhìn hai vị Tri nhật chuẩn bị bữa ăn trong ngày với lòng biết ơn, một người New Zealand và một người Việt Nam, họ nấu ăn chung dù không hiểu nhiều ngôn ngữ của nhau. Đây là bữa ăn huynh đệ ngày Thứ Năm Tuần Thánh và Lễ Hạ Trần (giác ngộ) trong giây phút hiện tại, bây giờ và ở đây.

Đi với Mẹ Mary

Chúng tôi học từ 9 giờ 15 sáng đến lúc tập họp để đi thiền hành lúc 11 giờ trưa. Tôi thường mời cha mẹ tôi đi cùng. Mà làm sao cha mẹ tôi không đi cùng cho được, khi hai người đang ở trong tôi. Cha tôi đang học đi chậm hơn, để ý đến những bông hoa và cảnh vật chung quanh, thay vì để ý đến chỗ cần đến và công việc đang chờ trước mặt.

Hôm nay, tôi cũng mời Mẹ Mary đi cùng. Dầu gì đi nữa, bà cũng là Tổ tiên tâm linh của tôi và tôi cũng thọ nhận DNA tinh thần của bà – tâm thức Ki-tô trong tôi. Cầm tay tôi hôm nay, Mẹ Mary không còn đi “hối hả” nữa. Chất thánh nữ của Mary có mặt rất rõ trong tôi, nơi Thiền Viện Phật giáo này. (Người Phật tử nhận diện Mẹ Mary như đức Quan Thế Âm, Avalokita.) Nhiều người trong chúng ta có thể tiếp xúc với DNA tinh thần của Mẹ Mary qua thực tập thiền lạy, khi chúng ta áp người sát đất và quán tưởng về năng lượng trị liệu của Đất Mẹ trong mỗi chúng ta, và trong tăng thân. Chúng ta niệm Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm và gởi năng lượng trị liệu của Ngài đến mọi người. Lời tụng niệm này thường làm người nghe ứa những giọt nước mắt sung sướng và biết ơn. Với tôi, lời tụng niệm này làm phát khởi trong tôi cùng một năng lượng gặp được ở các thánh đường Lourdes và Fatima, năng lượng mà đã có lần tưởng chừng đã mất trong tôi.

Bây giờ là bốn giờ chiều, giờ tôi đi chấp tác trong ngày: dọn thiền đường trước khi đại chúng vào ngồi thiền và tụng kinh buổi chiều. Bốn mươi năm trước, khi tôi là linh mục, các tín hữu dọn dẹp nhà thờ sau khi tôi làm Thánh lễ. Giờ thì đến lượt tôi. Tôi đang học hạnh khiêm hạ – như Mẹ Mary. Hồi xưa người ta gọi tôi là Cha Adrian, bây giờ tôi được gọi là Pháp Đệ, người Em trong Đạo.

Năm năm trước, Thầy bảo tôi rằng, muốn xuất gia tôi phải xả bỏ hết giấy tờ chứng khoán, tài sản, tài khoản, xe cộ, và Thầy dạy: “Chú phải học hạnh khiêm hạ.” Không ngờ, thực tập này đến hôm nay vẫn chưa khó. Pháp Đệ đang sống an lạc.

Hào quang của Ngài

Sáu giờ chiều. Tối nay, vào ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, tôi hân hoan khi sư em Pháp Siêu hướng dẫn chúng tôi tụng bài Tán thán đức Bồ tát Đại Bi, Mary.

Đây là lời bài tán:

Trí tuệ bừng lên đóa biện tài
Đứng yên trên sóng sạch trần ai
Cam lộ chữa lành cơn khổ bệnh
Hào quang quét sạch buổi nguy tai
Liễu biếc phất bày muôn thế giới
Sen hồng nở hé vạn lâu đài
Cúi đầu ca ngợi dâng hương thỉnh
Xin nguyện từ bi ứng hiện ngay.
Nam mô Bồ Tát Quan Thế Âm
Vinh danh Mary, Đức Mẹ Từ Bi

Chín giờ tối, tôi ý thức rằng mình đã đi một đoạn đường dài và đã buông bỏ một số ý niệm thần học về Tội Tổ Tông và về gương Giáng Sinh/Cứu Chuộc. “Chúng ta đã bước vào một thế giới suy đồi và tội lỗi – đó là điu chắc chắn, không cần phải bàn. Nhưng chúng ta không bước vào như những ung nhọt trên thịt da hiện hữu, hay như những tạo vật tội lỗi của Thượng Đế(Matthew Fox.) Bây giờ, tôi có thể thấy giáo lý Thụ Thai Vô Nhiễm (Mary thụ thai mà không có tội tổ tông) là một nỗ lực giúp chúng ta thức tỉnh trước sự tráng lệ huy hoàng của Mary. Bây giờ, tôi hiểu món quà của đức Phật về pháp tu thiền và tu giới đã giúp kẻ Ki-tô hữu này sống theo gương mẹ Mary và giáo lý Jesus như thế nào. Chúng ta có thể là những người thường, nhưng cũng như Mary, chúng ta đều là những “Khởi đầu Vô Nhiễm.” Đó là Tin Mừng!

Hồi chuông Cầu Kinh Đức Mẹ liên hồi mời chúng ta thức tỉnh trước Tin Mừng này!

8 tháng 12. 2007 – Ngày Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm

Học làm tri kỷ (phần II)

Chữa lành quá khứ và chăm sóc tương lai

Sự thực tập theo dõi hơi thở và thư giãn toàn thân sẽ giúp chúng ta chăm sóc giây phút hiện tại để không gây thêm căng thẳng hoặc chấn thương nào cho bản thân mình trong giây phút hiện tại. Nếu chúng ta làm được điều này là chúng ta đang thực sự chữa lành quá khứ. Một mặt thì quá khứ đã đi qua nhưng mặt khác, quá khứ vẫn còn trong giây phút hiện tại. Những gì bạn đang trải qua hôm nay phần lớn là thông qua lăng kính của quá khứ. Vì vậy, bạn có thể chữa lành quá khứ bằng cách thực tập trải nghiệm những giây phút hiện tại một cách bình tĩnh và nhẹ nhàng hơn. Một khi tâm của bạn có khả năng sống trong hiện tại nhiều hơn, bạn có thể tiếp xúc với những gì xảy ra như nó đang là thay vì nhìn nó qua lăng kính mặc cảm, kỳ thị, tủi hờn. Ngày xưa, có những câu nói, hành động hoặc những giấc mơ có thể làm cho tôi tức giận, sợ hãi hoặc tuyệt vọng. Bây giờ chúng không còn có những tác động mạnh như vậy đối với tôi. Tôi mỉm cười và quay về với hơi thở một cách an nhiên hơn. Thỉnh thoảng tôi chỉ nhận ra lời nói và cử chỉ của người nào đó không dễ thương đối với tôi sau khi sự việc đã xảy ra, và tôi có thể nghĩ rằng: “Sao mình khờ quá vậy? Mình đã có thể đối đáp lại như thế này như thế kia, v.v…” Nhưng rồi tôi liền mỉm cười và cảm thấy hạnh phúc với cái khờ của mình.

Khi chữa lành quá khứ là bạn cũng đang chăm sóc tương lai. Khi một người nhìn về tương lai của mình và thấy nó có vẻ buồn thảm đó là bởi vì hiện tại của người đó buồn thảm, và quá khứ của người đó cũng buồn thảm thê lương. Bạn chỉ có thể hình dung những gì sẽ xảy ra trong tương lai qua lăng kính của những kinh nghiệm trong hiện tại và quá khứ. Vì vậy, nếu bạn có thể trải nghiệm thời điểm này hoàn toàn mới với sự điềm tĩnh và ổn định – ý thức được rằng đây là thời điểm hiện tại, không phải sự lạm dụng, không phải sự tổn thương, không phải những lời nói nào đó trong quá khứ  – thì bạn cũng đang chăm sóc tương lai, bạn có sự lạc quan, niềm tin và hy vọng vào tương lai.

Những sự thực tập chánh niệm cơ bản có khả năng chữa lành quá khứ, hiện tại và tương lai. Những kiến thức tôi thu nhặt được trong 24 năm từ các trường học đã không hàn gắn những vết thương của tôi thời thơ ấu và cũng không ngăn cản được nỗi khổ đau trong bản thân khi tôi thành người lớn. Nhưng với chánh niệm, kiến thức có thể được suy xét, ứng dụng và thí nghiệm trong chính cuộc sống của mình, để trở thành tuệ giác, một sự hiểu biết sâu sắc và nó có thể giải thoát chúng ta.

Có thể bao nhiêu năm nay bạn đã nghĩ đến một người hoặc một tình huống nào đó theo một mô hình đã cũ. Nhưng nếu bạn biết cách tiếp xúc thời điểm hiện tại một cách mới mẻ hơn, bạn sẽ thấy hơi thở vào này không giống như hơi thở vào trước đó, bước đi này không tương tự như bước đi trước, tất cả mọi thứ trở nên linh hoạt và sống động. Và như thế, bạn cũng tiếp xúc được với cuộc sống mới mẻ và tươi sáng của bạn. Khi bạn có một cái nhìn sâu sắc hơn về tình trạng hoặc về một người từ một góc độ mới, bỗng nhiên bạn sẽ thấy nó khác trước và điều này sẽ giải thoát bạn khỏi mô hình nhận thức cũ. Mẹ của bạn vẫn nói những điều tương tự như bà đã nói trong bao nhiêu năm qua, nhưng đây là lần đầu tiên bạn thực sự lắng nghe và thấu hiểu những thông điệp của bà. Đây cũng là lần đầu tiên bạn nhìn thấy tình cảnh của mình rõ ràng và sâu sắc hơn và bạn không còn buồn phiền, tức giận hoặc khổ đau vì những điều bất hạnh của mình trong quá khứ.

Cái thấy (insight) là cái nhìn rõ ràng (sight) về một cái gì đó nằm trong bóng tối bấy lâu nay. Cũng tương tự như vậy giác ngộ (enlightenment) là  mang ánh sáng và sự nhẹ nhàng (light) vào một cái gì đó có tính cách tối tăm hoặc nặng nề u uất bấy lâu nay. Khi có ánh sáng chiếu rọi vào sự vật, nó trông rõ ràng hơn mới mẻ hơn và đó là một bước đột phá (breakthrough). Vì vậy, giác ngộ cũng có thể xảy ra dần dần trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. Không phải chỉ chư Bụt và các vị Thánh mới có được giác ngộ hoàn toàn. Chính Bụt vẫn thực hành thiền tọa nhiều lần trong ngày để tiếp tục nuôi dưỡng chánh niệm và tuệ giác của mình. Bụt vẫn thiền hành và ăn trong chánh niệm, dù một mình hoặc với các thầy. Bụt tiếp tục rọi ánh sáng lên mỗi cử động của thân và tâm.

Bạn cũng có khả năng mang ánh sáng ý thức vào mọi tình huống trong cuộc sống của mình để soi sáng các tri giác và cảm xúc của bạn, để dần dần chuyển hóa và giảm thiểu gánh nặng quá khứ. Thời điểm duy nhất để thực hiện điều đó cho có hiệu quả là giây phút hiện tại. Mặc dù thời điểm hiện tại có thể bị lu mờ vì nhiều nỗi buồn và khổ đau nhưng nếu bạn an trú được trong thời điểm này, bạn sẽ thấy có một số điều kiện tích cực khác. Bầu trời ở New Delhi đôi lúc trong xanh nhưng không phải nó luôn luôn trong và xanh như vậy. Khí hậu tuy rất nóng, nhưng thỉnh thoảng cũng có những làn gió mát thổi qua. Các bạn cũng thế, các bạn có thể đang có sự hiểu lầm nhau, nhưng trong sâu thẳm của lòng mình vẫn còn nhiều ân tình với nhau.

Giây phút hiện tại luôn luôn có những điều kiện tốt đẹp có thể làm bạn vui và thanh thản. Khi bạn gặp một cái gì đó rất tiêu cực, bạn thường có xu hướng chỉ nhìn vào những khía cạnh tiêu cực đó. Nhưng nếu bạn đánh mất mình trong một khía cạnh nào đó của quá khứ hay của thời điểm hiện tại, bạn sẽ không thể nhìn thấy toàn diện hình ảnh của sự kiện. Bạn sẽ ném vào sọt rác tất cả các năm tháng bạn đã cùng người đó đi qua cuộc đời và bạn muốn nói hoặc làm một điều gì thật tàn nhẫn với chính mình và người kia. Tuy nhiên, nếu bạn biết thực tập để mang ánh sáng chánh niệm vào cuộc sống hàng ngày những lúc bạn không quá tức giận hay tuyệt vọng, bạn có thể sử dụng ánh sáng đó để chiếu rọi vào một tình huống khó khăn và bạn sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về sự vật. Điều này sẽ giúp bạn dừng lại, không còn muốn phát biểu những lời nói cay đắng cộc cằn hoặc làm những quyết định khắc nghiệt mà bạn sẽ hối tiếc sau này.

Tiêu thụ của các giác quan

Một khía cạnh khác của cơ thể cần được ý thức là các cơ quan trong thân. Thông thường thì chúng ta dễ có ý thức về các cơ quan bên ngoài như mắt, tai, mũi, lưỡi, da; nhưng điều quan trọng là chúng ta phải biết chăm sóc các giác quan vì chất lượng của cuộc sống chúng ta phụ thuộc vào cách thức chúng ta tiêu thụ. Nếu bạn tiêu thụ các hình ảnh mang nhiều khát vọng và bạo lực, bạn sẽ có những ý nghĩ tràn đầy tham ái và bạo động.

Ví dụ, bạn đang cảm thấy đầy đủ và vui vẻ trong một khoảnh khắc nào đó, nhưng khi nhìn thấy một chiếc xe mới, một ngôi nhà mới hoặc thậm chí một Ipad mới là đột nhiên bạn cảm thấy bồn chồn, bất mãn vì cuộc sống không còn hoàn mỹ nữa. Bạn cảm thấy bạn cần phải có những thứ kia mới được hạnh phúc. Những hình ảnh bạn tiêu thụ từ máy truyền hình, trên internet, trên các bảng quảng cáo sẽ rất nhanh chóng ảnh hưởng đến tư duy, nhận thức, cảm thọ của bạn và do đó có tác động mạnh vào cuộc sống của bạn. Những âm thanh như âm nhạc và các cuộc đàm luận cũng có thể ảnh hưởng đến bạn. Khi buồn, bạn muốn nghe nhạc buồn và điều này làm bạn cảm thấy buồn hơn. Khi tức giận, bạn muốn nghe nhạc kích động và bạn bị kích thích và giận dữ hơn. Bạn tiếp tục tiêu thụ những thực phẩm độc hại và cảm thấy hình hài mình ngày càng nặng nề và tâm hồn mình ngày càng tối tăm. Cách bạn va chạm, tiếp xúc với cơ thể của bạn hoặc của người khác cũng là một loại tiêu thụ. Nó có thể mang lại an lạc, sự tôn trọng, sự an toàn, tình thương và hiểu biết cho bản thân và cho người khác; hoặc nó có thể tưới tẩm hạt giống của sự thiếu tôn trọng, sự lo sợ, sự đòi hỏi và thèm khát. Cách bạn tiêu thụ với tâm trí của bạn thông qua những suy nghĩ, cảm xúc và nhận thức của bạn sẽ được lặp lại nhiều lần cho đến khi chúng trở thành hiện thực qua lời nói và hành động.

Thông điệp của nước

Chánh niệm về cơ thể (awareness of the body in the body) cũng bao gồm chánh niệm về các yếu tố tạo nên cơ thể như đất, nước, gió và lửa. Tại Vasant Valley School ở New Delhi, tôi có hỏi các em về tỷ lệ nước trong cơ thể chúng ta. Các em lập tức trả lời là 70%; có một số cho rằng ít hơn 70% hoặc là 71,5%. Tôi nói: “Hay lắm, tỷ lệ nước trong cơ thể  là từ 65% đến 70%.”

Masaru Emoto, một nhà khoa học Nhật đã thực hiện một cuộc thí nghiệm mang tên là Thông điệp của nước (Message of the Water). Ông cho nước vào trong nhiều đĩa Petri (đĩa dùng trong phòng thí nghiệm) và ông chia các đĩa đựng nước này thành hai nhóm. Ông nói với các đĩa nước trong nhóm thứ nhất những lời dễ thương như: “Cám ơn bạn”, “Tôi yêu bạn,” hoặc “Bạn đẹp lắm.” Đối với các đĩa nước trong nhóm thứ hai, ông nói những lời tiêu cực như: “Mày thật ngu ngốc,” hoặc “Mày xấu xí quá.” Một số người trong chúng ta vẫn thường nói với mình những lời tiêu cực như vậy. Khi bạn đánh rơi một cái gì đó hoặc làm điều gì đó không vừa ý, bạn sẽ thốt lên: “Tôi thật quá vụng về!” “Tôi ngu quá!” Thậm chí có người còn nói với chính mình: “Tôi ghét cái thân xác này. Thà chết đi còn hơn!”

Sau khi gửi nhiều thông điệp khác nhau vào nước, nhà khoa học Masaru Emoto đặt tất các đĩa Petri vào máy đông lạnh và sau đó ông đã dùng kính hiển vi để quan sát các tinh thể của nước (crystals). Kết quả là nước trong các đĩa nhận được lời nói yêu thương đã hình thành các tinh thể tuyệt đẹp. Các bạn có thể xem hình các tinh thể này trong cuốn Thông điệp của nước của tác giả (hoặc vào Google: masaru emoto water). Ngược lại, các đĩa nước đã nhận thông điệp tiêu cực không hình thành được tinh thể hoặc chỉ có những tinh thể vỡ vụn. Tôi đã nói về cuộc thí nghiệm này cho các em nghe và sau đó tôi hỏi: “Trong cơ thể các em có đến 70 % nước, vậy hàng ngày các em nên gửi loại thông điệp nào đến cho lượng nước trong cơ thể các em?” Tất cả các em đều đưa tay đồng ý sẽ nhắn gửi các thông điệp tích cực đến cho nước trong cơ thể. Một em nói: “Em sẽ nói với cơ thể em: Tôi rất yêu bạn! Nếu không có bạn, tôi sẽ không có sự sống này. Bạn vô cùng quan trọng đối với tôi.” Một em 8 tuổi nói: “You are stupendous!” (Bạn thật tuyệt diệu!).

Là người lớn, chúng ta có thể thực tập phát biểu những lời dịu dàng thân ái với chính mình hàng ngày; và như thế chúng ta có thể dạy dỗ và khuyến khích con em và học sinh của mình đối xử như vậy với bản thân của họ, để họ sống hạnh phúc hơn và tránh gây những thương tích bệnh tật cho thân tâm về sau.

Cười đi em!

Mỉm cười cũng là một sự thực tập tuyệt diệu. Chú Shantum, một giáo thọ cư sĩ trong truyền thống Làng Mai, đã có lần nhận xét: “Người Ấn độ rất dễ cười.” Xứ Ấn độ có nhiều vấn đề khó khăn nhưng người Ấn độ thì luôn luôn nói: “Không có vấn đề! Không có vấn đề!” (No problem!). Thái độ này thật tuyệt vời. Không phải là bạn phủ nhận vấn đề, nhưng bạn cho phép tâm trí mình có cái nhìn bao quát hơn, thấy nhiều điều kiện tích cực khác và không bị kẹt vào một điều duy nhất nào. Nụ cười là một loại thuốc giải độc (antidote) tuyệt vời khi chúng ta có nhiều vấn đề cần giải quyết.

Nhiều người hỏi tôi: “Sao sư cô cười hoài vậy? Có phải sư cô lúc nào cũng hạnh phúc không?” Tôi trả lời: “Tôi mỉm cười đôi khi vì tôi hạnh phúc, nhưng phần lớn là tôi mỉm cười với những ý nghĩ của tôi vì chúng thường hay quanh co, sai lệch, méo mó, lạ lẫm và kỳ cục, v.v… Thay vì cảm thấy xấu hổ hoặc bị đắm chìm và đồng hóa với những tư duy ấy, tôi chỉ đơn giản mỉm cười với chúng.” Thông thường thì khi có cơn giận phát sinh, bạn nhanh chóng trở nên giận dữ. Khi một cảm xúc mạnh mẽ phát sinh gồm cả hạnh phúc, bạn trở thành cảm xúc đó và bạn đánh mất chính mình. Nhưng nếu bạn biết thực tập để mỉm cười và đem tâm neo vào cơ thể và hơi thở, bạn có thể trải nghiệm một cách trọn vẹn cảm xúc đó với ý thức, sự vững chãi và bình an. Đây là một nụ cười thanh thản, không sợ hãi, một món quà tuyệt vời cho chính mình và cho cuộc đời.

 

Bài có liên quan: Học làm tri kỷ (phần I)

 

Học làm tri kỷ (phần I)

Phật giáo là khi đi, khi đứng, khi ngồi

Khi còn là sinh viên y khoa năm thứ ba, một hôm tôi đột nhiên có ước muốn kỳ lạ là giữ im lặng và tuyệt đối không nói chuyện với bất cứ người nào trong khoảng một tháng. Tôi cũng muốn được bước những bước chân thật chậm trong khuôn viên của trường. Tôi nói điều này với người bạn thân nhất của tôi là Jennifer. Cô ấy đã bật cười và chọc ghẹo tôi: “Nếu bạn không nói chuyện một tháng thì ai sẽ đi trực và chăm sóc bệnh nhân của bạn? Ai sẽ làm bản báo cáo về tình trạng của họ mỗi ngày?”. Đi bộ chậm rãi trong khuôn viên đại học quả là một điều khó khăn và có vẻ kỳ cục bởi vì tất cả mọi người xung quanh tôi đang hối hả đi nhanh. Tôi không biết điều mong ước này đến từ lúc nào nhưng tôi nhận ra rằng nó đã ăn sâu vào tâm trí tôi. Thông thường thay vì đi thang máy, tôi thích dùng cầu thang và tôi đi một cách lặng lẽ chậm rãi. Các bác sĩ hoặc y tá đang hối hả lên xuống cầu thang nhiều khi giật mình khi bất ngờ thấy tôi. Cho đến khi trở thành một sư cô Làng Mai, tôi mới khám phá ra rằng những điều tôi ước mơ khi còn là sinh viên y khoa chính là thiền hành và im lặng hùng tráng, và từ đó tôi có dịp thực tập thường xuyên mỗi ngày. Tôi đã thực sự về nhà!

Khi thấy những người trẻ đến trung tâm thiền tập của chúng tôi, thay vì đến những nơi vui chơi thú vị khác, tôi tin tưởng rằng có một cái gì đó sâu thẳm bên trong các bạn, khiến các bạn muốn khám phá và tìm kiếm một phương cách nào đó để có thể tiếp xúc với cuộc sống của mình một cách có ý nghĩa. Các bạn có nhu yếu muốn hiểu lý do tại sao các bạn đến trường và tại sao các bạn làm những điều đang làm. Tôi tin rằng sự giáo dục không phải chỉ để thu thập những kiến thức, tiêu chuẩn và lý thuyết; bởi vì nếu như thế thì Google là một thực thể trí thức nhất. Giáo dục phải có công năng mang đến hiểu biết sâu sắc và thực tiễn hơn về con người và tâm trí của chúng ta.

Thực tập chánh niệm là phương thức đã giúp tôi hiểu biết, chuyển hóa và trị liệu bản thân. Thực tập chánh niệm là một sự thực tập cơ bản, và khi chỉ nghe qua hoặc tìm hiểu về chánh niệm qua sách báo hay ngôn từ, các bạn có thể nghĩ rằng nó quá đơn giản và rất dễ thực hiện. Có lẽ các bạn tự hỏi không biết có phương pháp nào khác phức tạp hơn, tinh vi và hấp dẫn hơn? Nhưng chính sự thực tập đơn giản này đã giúp tôi tìm hiểu được bản thân mình, chăm sóc tốt hơn cho bản thân để có thể phục vụ và giúp đỡ người khác một cách sâu sắc, hiệu quả hơn so với lúc tôi còn là một bác sĩ y khoa.

Cách đây không lâu, có một thanh niên đến thăm Tu viện Bích Nham vào một ngày “làm biếng” của chúng tôi. Anh ấy nói với tôi: “Sư cô có thể giúp tôi làm quen với tu viện?”. Tôi vừa mới đi bộ hơn hai tiếng rưỡi về nên cũng khá mệt và đói, nhưng tôi cũng vui lòng dẫn anh đi xem tu viện. Nhưng chỉ đi được một vài bước, anh ta hỏi: “Phật giáo là gì? Tôi muốn biết thêm về Phật giáo”. Tôi bắt đầu nói về thiền hành: “Tôi có thể tận hưởng những giây phút hiện tại khi đi từng bước chậm rãi và ý thức được hơi thở, bước chân…Tôi được nuôi dưỡng bằng sự tiếp xúc với cơ thể và thiên nhiên…”. Trong khi tôi nói, anh ta ngắt lời tôi một vài lần với những câu hỏi về các chủ đề khác. Tôi trả lời anh ta, và sau đó tôi trở lại vấn đề thiền hành. Cho đến một lúc, hầu như đã mất kiên nhẫn, anh ấy nói: “Chúng ta có thể bỏ qua tất cả những điều đó không? Tôi chỉ muốn biết về Phật giáo!” (Can we skip all of that? I just want to know about Buddhism).

Tôi trả lời: “Đây chính là Phật giáo! Khi bạn đi bộ và bạn có ý thức rằng bạn đang đi bộ, đó là Phật giáo. Khi bạn ngồi và bạn có ý thức rằng bạn đang ngồi, đó là Phật giáo. Khi bạn nằm xuống và bạn có ý thức về cơ thể của bạn và những gì phát sinh trong tâm trí của bạn trong thời điểm đó, đó là Phật giáo”. “Phật giáo là trong mọi hành động của cuộc sống hàng ngày, trong mỗi chuyển động của cơ thể và tâm trí, là khi chúng ta có đủ chánh niệm để ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút đó”. Anh ta im lặng một lúc rồi lại nêu lên một vài câu hỏi khác về lý thuyết. Cuối cùng tôi đã nói với anh ta một cách nhẹ nhàng nhưng rõ ràng: “Có lẽ anh chưa sẵn sàng để tiếp nhận những gì chúng tôi muốn truyền đạt cho anh. Xin hẹn một dịp khác”. Anh ta rời khỏi tu viện ngay sau đó.

Trong thời của Bụt, nhiều người đến thăm Bụt và đặt đủ loại câu hỏi. Khi có câu hỏi thiên về lý thuyết hoặc triết học, Bụt giữ im lặng, không trả lời. Là một giáo chức, nếu bạn chỉ dạy kiến thức thôi thì không đủ vì trong thời đại này, mọi người có thể lên mạng để học hỏi về kiến thức. Một giáo chức có thể trao truyền toàn bộ con người của mình như cách di chuyển, cách đứng, cách đi, cách nói chuyện, cách lắng nghe và cách sống của mình. Đó là những gì bạn có thể trao truyền và những gì người khác sẽ tiếp nhận; và những điều này có thể sẽ đem đến cho họ hạnh phúc hoặc khổ đau. Người xuất sĩ chia sẻ Phật pháp từ kinh nghiệm trực tiếp và thực tiễn của mình. Vì thế khi người thanh niên đề nghị tôi bỏ qua tất cả sự thực tập để chỉ nói về Phật giáo, thì tôi cảm thấy mình không có gì để trao truyền cho anh ta.

Ý thức về thân trong thân

Bụt dạy Bốn Lĩnh Vực Quán Niệm là nền tảng của thực tập về sự tỉnh thức và giác ngộ; nó bao gồm sự quán chiếu cơ thể (thân), quán chiếu cảm xúc (thọ), quán chiếu tâm (tâm), và quán chiếu các đối tượng của tâm (pháp). Nếu lĩnh vực đầu tiên là cơ thể được thực tập chuyên cần và liên tục, nó sẽ bao gồm các lãnh vực thứ hai, thứ ba và thứ tư là thọ, tâm và các đối tượng của tâm. Tất cả bốn lãnh vực quán niệm đều tương tức với nhau; chúng có trong nhau, phản ánh và tăng cường cho nhau.

Lĩnh vực quán niệm đầu tiên là ý thức về cơ thể của chính mình (awareness of the body in the body), được chia ra thành hai phần. Một là ý thức về hơi thở, được diễn tả trong hai bài thực tập đầu tiên trong số 16 bài tập của kinh Quán niệm hơi thở:

1. Thở vào, tôi biết tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi biết tôi đang thở ra.

2. Thở vào, tôi theo dõi hơi thở vào từ đầu đến cuối.

Thở ra, tôi theo dõi hơi thở ra từ đầu đến cuối.

Phần thứ hai là ý thức sáng tỏ về phần còn lại của cơ thể được diễn tả trong bài tập thứ ba và thứ tư của kinh Quán niệm hơi thở:

1. Thở vào, tôi ý thức toàn thân.

Thở ra, tôi ý thức toàn thân.

2. Thở vào, tôi buông thư và làm lắng dịu toàn thân.

Thở ra, tôi buông thư và làm lắng dịu toàn thân.

Bốn bài tập này ảnh hưởng thế nào trên cuộc sống phức tạp và bận rộn của bạn? Trong trường y, tôi đã học rất kỹ về sinh lý học của hệ hô hấp cũng như dùng xác chết để mổ xẻ và phân tách hệ hô hấp (dissect on cadavers). Tuy nhiên tôi chưa bao giờ áp dụng những kiến thức đó vào cuộc sống của riêng tôi. Cho đến khi trở thành một người tu, tôi mới học được cách ý thức hơi thở vào, hơi thở ra và nhận ra rằng tôi vẫn còn sống và đang thở. Chỉ khi trở thành một người thực tập tôi mới ngạc nhiên thấy mình có thể tiếp xúc sâu sắc với hình hài của mình. Tôi học thể hiện tình yêu và lòng biết ơn đối với hình hài của mình bằng cách giảm thiểu những căng thẳng và những cơn đau qua sự thực tập hơi thở chánh niệm và thiền buông thư.

Học làm tri kỷ

Hai bài tập đầu tiên trong kinh Quán niệm hơi thở là để nuôi dưỡng và duy trì chánh niệm bằng cách đơn giản là biết hơi thở vào là hơi thở vào, và biết hơi thở ra là hơi thở ra. Cũng thế, khi có sự lo âu, ghen ghét hoặc phiền não chúng ta cũng đơn thuần nhận biết đó là lo âu, ghen ghét hoặc phiền não. Nhận diện đơn thuần cũng có nghĩa là thấy sự vật như nó đang là, mà không nắm bắt hay chối từ hay xua đuổi nó. Với cùng một năng lượng chánh niệm được sử dụng để nhận biết những hơi thở vào và hơi thở ra, chúng ta sẽ nhận diện các cảm xúc, ý nghĩ và tri giác (perceptions) khi chúng phát sinh. Thông thường thì chúng ta không ý thức được các cảm xúc và ý nghĩ của chúng ta.

Ví dụ, bạn làm việc trên máy tính và mải mê với những gì trên màn hình đến năm giờ hoặc tám giờ đồng hồ. Sau đó khi bạn tiếp xúc với ai đó tại nơi làm việc hoặc ở nhà, bạn bỗng thấy mình có phản ứng mạnh đối với lời nói hoặc hành vi của người đó và bạn ngạc nhiên về sự khắc nghiệt của chính mình. Lý do là vì bạn đã thản nhiên làm việc suốt ngày trên máy tính và bạn không ý thức được những gì đã âm thầm xảy ra trong bản thân. Trên thực tế, khi bạn lặng lẽ làm một việc gì đó, tâm trí của bạn cũng đang tiếp tục làm công việc riêng của nó. Tàng thức của bạn tiếp tục lặp lại những lời nói mà bạn đã nghe hôm qua, những điều mà bạn đã nhìn thấy hoặc nghĩ đến một tuần trước đây hoặc nhiều năm về trước. Nó cũng giống như một đại dương bao la và bạn chỉ nhìn thấy một vài ngọn sóng trên mặt biển, nhưng bạn không thấy được những gì đang xảy ra một ngàn dặm dưới đáy biển.

Tương tự như vậy, khi bạn đang làm việc hoặc bận tâm với những đối tượng bên ngoài, chiều sâu tâm thức của bạn vẫn tiếp tục làm việc và xử lý các ký ức. Có những cảm xúc và tri giác chúng ta không nhận biết nhưng cuối cùng chúng cũng sẽ biểu hiện như những đợt sóng thần, và chúng kích hoạt khiến chúng ta nói hoặc làm những điều mà ngay cả chúng ta cũng phải ngạc nhiên. Khi bạn đã quá thông thạo về một công việc nào đó chẳng hạn như lái xe hoặc làm việc với máy tính, bạn có thể làm một cách tự động, và vì thế tâm của bạn có thể đang rảnh rỗi để rong chơi những nơi nguy hiểm mà bạn không hề có ý thức. Vì thế nên bạn có thể luyện tập theo dõi hơi thở trong khi bạn đang đọc sách, viết email, hay các làm công việc khác của bạn, để tâm của bạn neo vào giây phút hiện tại thay vì rong ruổi về quá khứ hoặc tương lai. Bạn sẽ có khả năng hiểu biết và làm chủ bản thân mình một cách sâu sắc. Đó chính là học làm tri kỷ của chính mình, vì trong từ “tri kỷ,” tri có nghĩa là “nhớ, biết, làm chủ” và kỷ có nghĩa là “chính mình”. Học làm tri kỷ của chính mình là một thách thức lớn nhất và xứng đáng nhất.

Có nhiều người thực tập chánh niệm bằng cách cài vào máy tính một chương trình có thể phát ra một tiếng chuông mỗi 15 phút để họ dừng lại, theo dõi hơi thở và tiếp xúc với hình hài của họ. “Thở vào, tôi ý thức rằng tôi đang có một hình hài. Thở ra, tôi mỉm cười với hình hài của tôi”. Ngoài ra còn có một chương trình có thể làm máy tính đình chỉ mọi hoạt động theo đúng lịch trình đã định, và bạn không thể làm bất cứ điều gì ngoại trừ thở và thư giãn thân tâm. Có lẽ bạn cảm thấy bực bội vì bị bắt buộc phải dừng lại trong khi làm việc, nhưng bạn có thể mỉm cười vì bạn đang có dịp để yêu thương và tỏ lòng biết ơn đối với chính mình. Trong lớp học hoặc trong những buổi họp, thay vì vẽ nguệch ngoạc lên giấy, nghĩ đến những chuyện không đâu hoặc có những chống đối phản ứng trong đầu của mình, bạn có thể đem tâm trở về với hơi thở. Khi thở vào, bạn nhẹ nhàng nâng bàn tay mình lên để báo hiệu đó là một hơi thở vào, và khi thở ra, bạn nhẹ nhàng đặt tay lên đùi của bạn. Nhưng chẳng bao lâu, khi bạn bận rộn với tư duy và lời nói của mìn, bạn quên đi hơi thở và cơ thể của bạn. Khi chợt nhận ra điều đó, bạn chỉ cần đơn giản bắt đầu theo dõi hơi thở trở lại.

Cứ như thế bạn kiên nhẫn thực tập để tâm của bạn trở về an trú trong hơi thở và hình hài của mình. Bạn sẽ khám phá ra rằng sự có mặt và lắng nghe của bạn sâu sắc hơn và có hiệu quả hơn. Khi tâm có thể nương vào hơi thở, tâm sẽ ý thức được những gì đang xảy ra bên trong và bên ngoài cơ thể. Nó giống như một luồng ánh sáng chiếu vào đối tượng trực tiếp bên dưới nó, và nó cũng tỏa sáng cả căn phòng và tất cả các đối tượng trong căn phòng đó. Cũng vậy, ánh sáng của chánh niệm rọi vào hơi thở làm tâm có mặt trong hiện tại và có thể ý thức tất cả mọi sự việc khác đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Điều này cho phép chúng ta khỏi mất nhiều thời gian và nỗ lực để làm lại hoặc học lại những điều chúng ta đã làm, đã học trước đó.

Thông thường thì tâm và cơ thể bị tách rời bởi sự thất niệm hay quên lãng của chúng ta. Từ “schism” (ly gián) trong schizophrenia (bệnh tâm thần phân liệt) hoặc schizoid disorder (rối loạn phân lập) có nghĩa là tâm đang bị chia cắt hoặc ly gián và nó không còn khả năng phân biệt thực tế với ảo giác hoặc ảo tưởng. Sống trong thời hiện đại này, có lẽ chúng ta ai cũng có ít nhiều phân hóa đó trong tâm. Tâm chúng ta thường ra khỏi cơ thể và phóng đi ngàn hướng chứ không an trú một chỗ. Vì thế, chúng ta phải thường xuyên gọi nó trở về với hơi thở. Bạn có thể nhẹ nhàng gọi tâm của bạn trở về với than: “Tâm ơi! Trở lại! Hãy trở lại đây” hoặc “Tôi có mặt đây! Tôi có mặt đây.”

Bài tập thứ ba và thứ tư trong kinh Quán niệm hơi thở là để tăng cường chánh niệm về cơ thể của chúng ta. “Thở vào, tôi ý thức cơ thể của tôi. Thở ra, tôi ý thức cơ thể của tôi”. Bạn cũng có thể nói: “Thở vào, tôi ý thức rằng tôi có một cơ thể. Thở ra, tôi ý thức rằng tôi có một cơ thể.” Những câu nói này có công năng thức tỉnh bạn. Bạn có thể sống ngày này qua ngày khác mà không hề chú ý đến một sự thật đơn giản và tuyệt vời là mình đang có một hình hài! Có thể bạn chỉ biết sử dụng và lạm dụng cơ thể của mình cho đến khi nó trở thành suy nhược và bệnh hoạn để rồi sau đó bạn tức giận, thất vọng và sợ hãi. Đến khi đó bạn mới hối tiếc và ao ước làm sao có được một cơ thể khỏe mạnh như trước. Ý thức về cơ thể giúp bạn khám phá ra rằng bạn không cần phải lang thang suốt cuộc đời tìm kiếm tình yêu. Tình yêu đang có trong cơ thể của bạn. Cơ thể của bạn là người yêu chân thành thủy chung nhất của bạn, luôn tha thứ cho những vụng về bạc đãi của bạn, và luôn cố gắng phục hồi để bạn có thể khỏe mạnh, xinh tươi. Lòng biết ơn và sự thương mến, ân cần sẽ làm cho sức sống trong bạn tràn dâng khi bạn trở về với hình hài của mình.

Có những khía cạnh khác nhau để ý thức về cơ thể. Trước hết, hơi thở thuộc về lĩnh vực của cơ thể, và chúng ta cũng tập ý thức về bốn hành động cơ bản của cơ thể gồm đi, đứng, nằm và ngồi. Khi ngồi xuống, bạn có thể cảm nhận rằng mình đang ngồi xuống: “Ngồi xuống, tôi biết tôi đang ngồi xuống” hoặc “tôi ý thức được quá trình chuyển đổi từ đứng sang ngồi”. Sau đó khi đứng lên, bạn có thể nói: “Đứng lên, tôi biết tôi đang đứng lên” hoặc bạn chỉ đơn giản ý thức rằng cơ thể bạn đang chuyển từ thế ngồi sang thế đứng. Như thế chúng ta có thể thực tập ý thức mọi sự chuyển động của cơ thể, như mặc quần áo, mang giày dép, cúi mình xuống, vươn mình lên, co giãn tay chân, đại tiểu tiện, v.v.

Thông thường chúng ta không ý thức được tư thế của cơ thể và sự chuyển đổi liên tục do cơ thể tạo ra. Khi bạn cần phải đứng lên, bạn chỉ đứng lên; khi bạn cần đi bộ, bạn chỉ đi bộ. Bạn có thể đi từ đầu đến cuối bãi đậu xe hoặc khuôn viên trường mà không hề biết rằng bạn đã di chuyển như thế. Tâm của bạn có thể đưa ra một quyết định và thực hiện nó một cách tự động và sau đó bạn ngạc nhiên vì những cảm xúc, nhận thức, và phản ứng mà bạn có. Bạn không thể kiểm soát lời nói và hành động của cơ thể bởi vì bạn thiếu sự ý thức về những hoạt động trong từng giây phút của cơ thể cũng như của tâm bạn. Một trong những sự thực tập rất hữu hiệu là ý thức hơn về bốn tư thế của cơ thể.

Ví dụ, vì đi bộ là một hành động mà bạn làm liên tục cả ngày nên bạn có thể thực tập thiền hành bất cứ nơi nào để cho tâm của bạn có thể an trú trong cơ thể. Ý thức hơi thở vào, bạn bước một vài bước trong chánh niệm; ý thức hơi thở ra, bạn bước thêm một vài bước trong chánh niệm. Hơi thở của bạn dài hay ngắn và bạn bước bao nhiêu bước trong mỗi hơi thở là điều không quan trọng. Điều quan trọng là bạn thực sự ý thức được hơi thở và các bước chân trong khi chúng đang diễn ra.

Giận 69 giây hay một đời

Chúng ta biết rằng nửa chu kỳ (half life) của một hormone cảm xúc chỉ dài khoảng 69 giây. Nhưng tại sao chúng ta không tức giận khoảng 69 giây mà lại giận suốt ngày đó? Hoặc có nhiều người giận năm này qua năm khác và đôi lúc họ giận suốt cả đời của họ? Điều gì làm cho cơn giận tồn tại lâu dài như vậy? Đó là vì những ý nghĩ của chúng ta cứ tiếp tục nuôi dưỡng cơn giận, như dầu được tiếp tục đổ vào đống lửa.

Ví dụ, một người nào đó đã nói một câu làm chúng ta giận. Họ chỉ nói một lần đó thôi, nhưng chúng ta nhớ đến và lặp đi lặp lại câu nói đó cho chính mình nghe hàng trăm hàng ngàn lần nữa. Người ta có thể làm tổn thương chúng ta chỉ một lần hoặc đôi lần trong quá khứ, nhưng chúng ta gây tổn thương cho chính mình năm này qua năm khác bằng cách ôn đi ôn lại những hình ảnh, âm thanh, những xúc chạm và những tư duy cũ. Khi tình huống khổ đau ngày xưa diễn lại trong tâm trí, lượng kích thích tố (adrenaline and emotion hormones) sẽ được tiết ra và gây nên phản ứng căng thẳng sinh lý (stress response) trong cơ thể chúng ta. Khi chúng ta nhớ lại một tình cảnh nào đó, những chi tiết về tình cảnh này sẽ được mã hóa vào bộ nhớ ngắn hạn và dài hạn.

Con đường thần kinh dùng cho kinh nghiệm đau buồn này lâu ngày sẽ trở thành một xa lộ lớn trong bộ não chúng ta. Bất cứ một cái gì đó mà chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm hoặc cảm nhận mà tương tự như những gì chúng ta đã có kinh nghiệm trước đây sẽ kích hoạt con đường thần kinh này ngay lập tức và có thể gây nên những trường hợp đặc biệt như Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (Post Traumatic Stress Disorder – PTSD). Một cựu chiến binh với bệnh Rối loạn căng thẳng sau chấn thương này có thể chỉ nghe thấy một âm thanh lớn là ngay lập tức tâm trí của ông ta liên tưởng đến bom đạn, đến cảnh chiến trường và ông chui xuống gầm giường, trốn trong tủ quần áo hoặc mang súng ra để sẵn sàng chiến đấu, chạy trốn hoặc co rúm lại (fight, flight or freeze response). Đây là một ví dụ cực đoan, nhưng nhiều người trong chúng ta hàng ngày có thể đi qua những trạng thái vi tế  hơn của Rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), nhưng chúng ta không ý thức được những triệu chứng này.

Khi có chánh niệm về hơi thở và cơ thể, chúng ta có thể phát hiện sớm hơn những con sóng cảm xúc. Bạn thực tập thở vào và thở ra với những cảm xúc này và ôm ấp chúng với năng lượng chánh niệm để làm tĩnh lặng thân và tâm của mình. Tôi thường thực tập ngồi lại và thở với bất cứ điều gì tôi đang cảm nhận; và ngay cả khi tôi đang khóc tôi vẫn mỉm cười và thở với nó để tránh gây thêm thương tích cho tâm trí tôi. Như thế, tuy chúng ta vẫn phải đi qua khó khăn nhưng chúng ta không gây thêm khổ đau cho thân tâm. Những điều bất như ý hoặc sự bất hạnh có thể xảy ra nhưng chúng ta có khổ đau hay không là tùy thuộc vào chúng ta. Những khổ đau trong thời thơ ấu vẫn còn đó khi chúng ta lớn lên và những khó khăn mà chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hàng ngày trong gia đình và xã hội cũng không thể tránh khỏi.

Tuy nhiên, chúng ta có cần phải khổ đau vì chúng hay không? Chúng ta có cần khắc sâu kinh nghiệm đó vào thân và tâm mình hay không? Chúng ta có cần sống lại những giây phút khổ đau đó nhiều lần để chúng trở thành những căn bệnh tâm lý và sinh lý trong bản thân hay không? Đau khổ hay không là tùy chúng ta lựa chọn. Ví dụ khi có một điều căng thẳng nào đó xảy ra, bạn có thể phản ứng bằng cách trở về với hơi thở và bước chân của bạn. Sau đó nếu có thể, bạn sẽ nằm xuống và tiếp tục theo dõi hơi thở và thư giãn cơ thể của mình. Nếu đang trong tư thế ngồi hoặc đứng hoặc đi, bạn có thể ý thức cơ thể của bạn để thư giãn nó; dùng tia chánh niệm để lướt qua cơ thể và thư giãn những bộ phận nào đang có sự căng thẳng. Bằng cách đó bạn sẽ không tạo thêm nhiều chấn thương và khổ đau cho bản thân ngay bây giờ và trong tương lai.

 

Học làm tri kỷ – phần II

Sống chung hòa hợp

Bụt đã tu khổ hạnh một thời gian trước khi thành đạo. Ngài đã theo học với nhiều vị thầy nhưng cuối cùng đã bỏ họ và trở lại sống một mình, lang thang tìm kiếm một cái gì đó vì thấy tâm mình vẫn bất an và không thoả mãn với những gì đã học hỏi được từ những vị thầy kia. Khi Bụt đã đạt được giác ngộ, ngài liền đi tìm năm người bạn đồng tu khổ hạnh trước đây và lập thành một Tăng thân. Các vị này trở thành năm đệ tử đầu tiên của Bụt, và từ đó Tăng thân của Bụt lớn mạnh rất nhanh. Trong vòng 5 năm đã có hơn một ngàn chư tăng trong cộng đồng của Bụt, phần lớn gồm những người trẻ từ nhiều đẳng cấp khác nhau, đến sống chung và cùng nhau tu tập. Trong thời gian mười hai năm đầu, các vị tu sĩ này không có điều lệ hay quy tắc gì vì tâm họ rất thành khẩn, trong sáng, họ chỉ mong thực tập để đạt được bình an và tự do thực sự. Khi người đến gia nhập càng ngày càng đông, Tăng đoàn đã cần đến quy tắc, luật lệ và những quy tắc luật lệ này được ghi chép vào trong bộ Giới luật (Vinaya).

Thân hoà đồng trú

Trong kỳ tu học mùa xuân này, các thầy các sư cô sẽ trình bày giáo lý Lục Hoà, cũng được gọi là Sáu sự hòa hợp mà Bụt đã nói với Tăng thân xuất sĩ về vấn đề làm sao để duy trì sự hòa hợp khi sống chung và tu học với nhau. Sáu sự hòa hợp đề cập về cả ba mặt thân, khẩu và ý. Hôm nay con chỉ xin nói về sự hòa hợp đầu tiên trong Sáu sự hòa hợp – hòa hợp của thân; hòa hợp khi nhiều người đến với nhau và thân họ quy tụ lại sống chung một nơi.

Con xin kể lại một câu chuyện khi con vừa mới được xuất gia. Con có một người bạn tên Dạ Thảo rất tốt và thân thiết với con từ khi con học lớp năm tại Việt Nam. Bạn đã qua sống ở Paris nhiều năm, và đã đến thăm con ngay sau lễ xuất gia của con tại Làng Mai. Dạ Thảo mang theo hai mươi bảy chiếc bánh bao rất đặc biệt, bên trong có nhân khoai môn và sầu riêng để tặng con. Hai mươi bảy chiếc bánh đó bỗng nhiên trở thành một gánh nặng và gây khủng hoảng cho con. Con sẽ làm gì với những chiếc bánh này? Ý nghĩ đầu tiên của con là giữ riêng cho con năm cái! Nếu con sống ở ngoài tu viện, đây không phải là một vấn đề bởi vì con có thể mua 50 hay 100 chiếc bánh đó một cách dễ dàng, nhưng bây giờ con là một sư cô mới nhập chúng và sống tại một vùng quê miền nam nước Pháp, nơi mà số lượng bò còn đông hơn người, thì tìm đâu ra bánh bao Việt Nam để mua? Suốt một giờ sau đó con cứ đắn đo, suy tính không biết xử lý mấy chiếc bánh này ra sao. Con biết con phải thực tập chia sẻ và cúng dường cho Tăng thân tất cả những gì mình có. Thân thể mình còn không phải là của riêng mình, nói chi đến mấy cái bánh! Nhưng đối với con, đi đến quyết định dứt khoát vẫn thật là khó khăn. Gần một giờ sau đó, con vẫn chưa ăn cái bánh nào cả. Tối đó, trong một buổi ngồi chơi với các sư cô, con mang tất cả bánh đến và con nói: “Thưa quý sư cô, bạn của con đã mang món quà này đến mừng con trong lễ xuất gia và con xin cúng dường quí sư cô.” Con im lặng ngồi chờ phần bánh của con. Đó là bước khởi đầu của con trong cuộc hành trình thực tập sống với mọi người và chia sẻ mọi sự việc để nuôi dưỡng hòa hợp trong Tăng thân.

Khi chúng ta sinh ra, nếu may mắn có mẹ có cha, và có thể có anh chị em. Chúng ta đã biết thế nào là sống chung trong một gia đình, trong một cộng đồng nhỏ. Một số trong chúng ta, như các thầy và các sư cô, lại có ước nguyện được sống theo lý tưởng của Bụt là có một cộng đồng rộng lớn hơn. Nhưng sống trong cộng đồng là thế nào?

Cid Corman, một thi sĩ trong thế kỷ 20, đã viết trong bài thơ Học sống:

Học sống với chính mình

Phần lớn không bao giờ làm điều này

Rồi học sống với những người khác

Càng ít người chịu làm

Và nếu bạn sống đủ lâu

Học để sống với mọi loài khác.

Mỗi người chúng ta là một cộng đồng, một Tăng thân. Theo đạo Bụt, chúng ta được cấu tạo bằng năm uẩn (skandhas), năm thành phần họp lại với nhau – thân, thọ, tưởng, hành và thức. Thân là cái chúng ta dễ thấy và dễ cảm nhận nhất. Các cảm thọ cũng là những thành phần của cộng đồng trong ta, gồm lạc thọ, khổ thọ, trung thọ và cảm thọ hỗn hợp. Tưởng cũng vậy: tốt, xấu, dễ chịu, tôi thích cái này, tôi không thích cái kia… Tâm hành thì gồm: thương yêu, tha thứ, bao dung, ghen ghét và giận dữ… Cảm thọ và tri giác thật ra chỉ là hai phần của tâm hành, và tâm hành lại là một phần của tàng thức, và tàng thức là nền tảng để chứa đựng tất cả. Tàng thức là nền tảng mà những biểu hiện tâm thức và vật chất phát khởi, nhưng khả năng nhận thức của chúng ta về những gì đang xảy ra trong tàng thức rất giới hạn. Học sống hòa hợp trong cộng đồng cũng có thể được hiểu là học sống hòa hợp với chính năm uẩn của mình.

Làm người tri kỷ của chính mình

Khi có một người hiểu mình, thấu rõ tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của mình thì người đó được gọi là “soul mate” hay “kindred spirit” trong tiếng Anh. Trong tiếng Việt con thấy có hai từ rất hay và rất nhiều ý nghĩa. Chúng ta gọi người đó là tri kỷ hay tri âm. Khi dùng tiếng Anh là soul mate hay kindred spirit, ta thường nghĩ đó là một người nào khác ở ngoài mình. Nhưng trong tiếng Hán-Việt, tri có nghĩa là hiểu, biết, nhớ, làm chủ; kỷ là chính mình. Vậy thì tri kỷ có nghĩa là hiểu mình, biết mình, nhớ đến mình và làm chủ được mình. Chúng ta đang nói đến một người biết mình nhiều đến nỗi người đó có thể hiểu mình, nhớ đến mình, và làm chủ được mình. Người này là ai nếu không phải là chính chúng ta? Nếu chúng ta không làm được cho chính mình thì ai làm được cho mình?

Nói một cách khác, ta có từ tri âm. Tri là để biết, để hiểu, để nhớ, để làm chủ. Âm là âm thanh; để biết các âm thanh, để biết tiếng nói của chính mình. Bạn có biết âm thanh của bạn? Bạn có biết giọng nói của bạn? Bạn có biết nguyện vọng của bạn? Bạn có biết nỗi buồn của bạn? Sự tức giận của bạn? Sự bồn chồn bất an của bạn? Bạn có biết đến và hiểu rõ những điều đó không? Bởi vì nếu chúng ta dành cả một đời để tìm kiếm một người nào đó có thể biết tiếng nói và âm thanh của chúng ta, để hiểu chúng ta, thì chúng ta sẽ thất vọng. Bởi vì có thể là những người đó cũng như chúng ta, không phải là “tri âm” và “tri kỷ” của chính họ. Điều này cũng giống như người mù dẫn đường cho người mù. Hai người cô đơn đến với nhau thì sẽ cảm thấy cô đơn hơn cả trăm ngàn lần.

Thiền sư Trí Bảo ở thế kỷ thứ 12 đã nói: “Tri thức mãn thiên hạ, tri âm năng kỷ nhân?” (Quen biết đầy thiên hạ, tri âm được mấy người?). Bao nhiêu người trong số đó là tri âm hay tri kỷ của mình? Đó là thế kỷ thứ 12, và thời đại bây giờ, với kỹ thuật tân tiến, chúng ta càng thật sự quen biết bạn bè khắp thế giới. Chúng ta có thể dùng fax, gởi e-mail, gọi điện thoại. Thật là dễ dàng để liên lạc với người khác, nhưng trong tâm ta vẫn bồn chồn bất an, luôn muốn liên lạc với một người nào đó hiểu, biết mình. Chúng ta có thể biết nhiều người trên toàn cầu, nhưng có lẽ chúng ta vẫn cảm thấy hoàn toàn cô độc. Chúng ta tự hỏi ai là người biết mình. Người luôn ở trước mặt mình, người thức dậy với mình – người đó có thật sự hiểu biết mình không? Chúng ta có dám đặt câu hỏi này không? Chúng ta có nơm nớp sợ câu trả lời không?

Trong sự tu tập, chúng ta học cách trở thành người tri âm, tri kỷ của chính mình. Mỗi ngày, chúng ta thực tập thiền hành. Các bạn có tiếp xúc được với những bước chân của mình không? Các bạn có thưởng thức những bước chân của mình? Các bạn có cười với hoa không? Các bạn có ý thức được hơi thở không? Với ý thức sáng tỏ đó chúng ta đang tiếp xúc với thân ta, ta biết âm thanh của cơ thể mình, của hơi thở mình, ta thở ra sao, ta đi ra sao. Và như vậy mình đang là “tri kỷ” của mình. Bất kỳ chúng ta đang làm gì – ta đứng, ta đi, ta ngồi, ta nằm, ta nói, ta im lặng, hay ta đang ăn – bất kỳ đang làm gì, nếu tâm biết đến thân, có ý thức về những cảm thọ, tri giác, tâm hành, và tâm thức, thì khi đó chúng ta là tri âm, tri kỷ của mình. Đây là những điều chúng ta có thể học hỏi và trau dồi trong đời sống hàng ngày với sự thực tập chánh niệm. Khi biết rằng sự bồn chồn, trạo cử và những khao khát được có người hiểu mình vẫn còn trong tâm, chúng ta có thể trở về để thực hiện các khao khát đó. Những điều mình làm bên ngoài, dù thành công hay không có thể cũng không thành vấn đề; vì trước hết chúng ta phải hiểu rõ bản thân và thiết lập một liên hệ sâu sắc với chính mình.

Bạn nghĩ vậy hả?

Hãy hình dung tất cả năm uẩn như một làn sóng. Cảm thọ và tri giác được cấu tạo như những làn sóng. Khi mình ý thức được một cơn đau trong cơ thể, cơn đau đó đã bắt đầu trước đó rất lâu chứ không phải ở thời điểm khi mình có ý thức về nó. Cái đau có thể bắt nguồn từ một vết thương rất nhỏ hay chỉ từ một tư thế bất bình thường nào đó khi mình đứng, mình ngồi, và lâu dần nó trở thành cơn đau khi mình nhận biết. Những bướu ung thư cũng vậy; khi bướu được chẩn đoán thì thật ra nó đã có mặt trong cơ thể mình từ một năm, năm năm, hay mười năm rồi.

Cảm thọ cũng như vậy. Khi mình thấy mình giận, trầm cảm, mình ganh tỵ hoặc có những cảm xúc mạnh khác thì những cảm thọ này đã bắt đầu một thời gian dài trước đó. Nó có thể sơ khởi từ một ý nghĩ, một tâm trạng, ngay từ một mùi vị, một cái nhìn; tâm mình đã đem phối hợp và so sánh nó với nhiều dữ kiện khác. Nó dẫn mình về quá khứ, nó âm thầm tự phát triển mà mình không hay biết, và một thời gian sau, khi mình cảm nhận được thì cảm thọ đó đã trở thành một nỗi nhớ nhà, một nỗi buồn hoặc một cơn giận.

Khi chúng ta học lắng nghe âm thanh của chính mình và học nhận diện những tâm hành của chính mình, ta thấy nhiều cơn sóng đang lặng lẽ tiến hành trong tàng thức cho đến khi chúng đủ năng lượng để trồi lên bề mặt ý thức. Khi chúng ta mất liên lạc với chính mình, chúng ta sẽ không nhận ra điều này. Con nhớ khi con còn làm việc trong nhà thương, một đêm đang trực ở khu bệnh tâm thần thì có cô y tá gọi khẩn cấp và nói: “Có bệnh nhân đang bị nghẽn hệ thống tiêu hóa.” Bệnh nhân này bụng bị căng phồng thật lớn và không đi đại tiện đã nhiều ngày. Bệnh nhân liền được rọi X-ray, con thấy trong bụng bệnh nhân chứa toàn chất hơi (gas) và phân trong đó. Nếu không có kinh nghiệm, chúng ta có thể nghĩ ruột bị xoắn và có lẽ đã phải dùng phẫu thuật. Nhưng sau một hồi tìm hiểu, con thấy rằng các bệnh nhân có bệnh tâm thần thường không tiếp xúc được với bản thân, không ý thức được những cảm giác từ cơ thể, cho nên họ không cảm được nhu cầu phải dùng phòng vệ sinh! Mọi thứ họ ăn vào đều nằm trong đó và phồng lớn lên làm bụng căng cứng nhưng họ vẫn không cảm thấy gì cả.

Chuyện con vừa kể là một trường hợp khá đặc biệt, nhưng chính chúng ta đôi khi cũng có kinh nghiệm này; như khi chúng ta ngồi trước máy vi tính liên tục bốn hoặc tám giờ đồng hồ mà không đứng lên để vào phòng vệ sinh. Chúng ta đã quên mất thân mình, vì tâm trí chúng ta hoàn toàn tập trung vào những dữ kiện trên màn ảnh máy vi tính (computer). Chúng ta luôn luôn chú ý vào những đối tượng bên ngoài. Đây là một khả năng bẩm sinh để sống còn; như tổ tiên ta thời xa xưa sống trong những vùng hoang sơ có nhiều thú dữ, họ phải luôn nhìn ra bên ngoài, tập trung tất cả ý thức vào đối tượng bên ngoài. Khi có con hổ hay con rắn đến gần thì họ phải biết ngay tức khắc để chạy, để tự bảo vệ. Chúng ta đã có cái lập trình bẩm sinh về những hành động để tự vệ này trong tâm thức. Nhưng loài người chúng ta cũng đã phát triển thêm khả năng ý thức được chính mình (self-awareness), biết cơ thể, biết những cảm nhận và ý nghĩ của mình trước khi cần phản ứng và hành động.

Thực tập chánh niệm, có ý thức về năm uẩn là để chăm sóc và làm lớn mạnh khả năng này. Chúng ta đã thấy mọi hiện tượng đều hình thành như những làn sóng và đã bắt đầu trước đó rất lâu. Nhận thức của chúng ta về một người nào đó; chẳng hạn như người đó có đáng tín nhiệm hay không, v.v… không phải bỗng nhiên mà có.  Nó có thể đến từ cha mẹ hay từ môi trường, xã hội. Chúng ta đã từng có những kinh nghiệm về người này và chúng đã tạo thành một quan niệm, một thành kiến nào đó; nên khi người này nói hay làm điều gì đó, ta luôn đánh giá hay nhận thức họ dựa trên những quan niệm và thành kiến đã có sẵn. Khi hiểu được như thế, chúng ta sẽ biết khiêm nhường và thận trọng hơn, không vội kết luận hay xác định những nhận thức mình vừa có là đúng hay tuyệt đối.

Vào tháng 9 năm ngoái con có thỉnh Thầy viết cho con một câu thư pháp ngắn: “You think so?” (Bạn nghĩ vậy hả?). Đây là một cách thực tập rất tuyệt diệu, và con đặt nó lên bàn học của con. Đây là một câu hỏi chúng ta có thể tự hỏi mình khi mình có một cảm thọ, khi mình có một nhận thức hoặc khi mình bị quá kích thích vì một chuyện gì đó. Chúng ta có thể chấp nhận ngay những cảm thọ, những tri giác đó hoặc chúng ta có thể tự hỏi mình: “Bạn nghĩ vậy hả? Thật vậy sao?”; và câu hỏi này sẽ giúp làm vấn đề sáng tỏ ra nhiều hơn. Thầy còn nói rằng nếu chúng ta trả lời: “Vâng, tôi nghĩ thế” thì Thầy lại hỏi: “Bạn có chắc không?” (Are you sure?). Nếu chúng ta trả lời: “Dĩ nhiên là chắc” thì Thầy lại nói: “Xem lại đi!” (Check again!). Như khi chúng ta thấy một làn sóng vỗ vào bờ chúng ta có thể nghĩ đó là một con sóng hoàn toàn độc lập. Bạn nghĩ vậy hả? Xem lại đi! Tuy nó không phải là một với làn sóng mà chúng ta vừa thấy từ ngoài khơi, nhưng nó cũng không phải là khác.

Các vị xuất sĩ cùng sống chung trong một Tăng thân hai mươi bốn giờ một ngày. Khi sống trong Tăng thân, trước hết chúng ta phải học cách sống với năm uẩn của mình. Sự hòa hợp trong bản thân của mỗi cá nhân sẽ đóng góp vào sự hòa hợp của cộng đồng. Trong gia đình chúng ta cũng thế. Làm cha mẹ, chúng ta có thể quên đi bản thân mình để làm bất cứ chuyện gì có thể làm để lo cho con mình. Nhưng chúng ta lại không biết chăm sóc những cơn đau trong thân thể cũng như những tâm tư, tình cảm của chính mình. Nếu vậy thì ta có gì để trao truyền cho con cháu chúng ta? Ta dạy dỗ con em mình những gì? Các cháu thừa hưởng được gì?

Chấm dứt cơn giận

Ngài Xá Lợi Phất, một đệ tử lớn của Bụt, có dạy một kinh gọi là Năm phương pháp diệt trừ phiền giận. Kinh này trình bày năm trường hợp. Con xin đi vào trường hợp thứ năm, nói về trường hợp một người mà hành động của thân, của lời nói, và của tư duy đều dễ thương. Nếu mình nhỡ sinh tâm phiền giận hay ganh tị với người đó, thì mình cần phải làm gì để diệt trừ cơn phiền giận ấy đi?

Trong giáo lý của Bụt, khi nói về nghiệp hay hành động, chúng ta luôn nói đến ba khía cạnh: thân, khẩu và ý. Trước khi đề cập đến sự phiền giận, con xin nói về những yếu tố tích cực trong ba khía cạnh của nghiệp.

Chúng ta có thể tự hỏi: Ai là người có thể tích cực và dễ thương trong cả ba khía cạnh, thân, khẩu và ý? Chúng ta có thể sắp xếp lại đời sống chúng ta một cách nào đó để cho ba nghiệp có thể biểu lộ theo chiều hướng tích cực. Ví dụ như giờ phút này, khi chúng ta nghe pháp thoại, chúng ta đang ngồi rất đẹp, lưng thẳng, thân buông thư và thoải mái. Nói về khẩu nghiệp thì quý vị bây giờ đang im lặng không cần nói, nhưng về phần con thì con đang cố gắng để nói lời ái ngữ, chân thành, không nói những lời có nhiều cảm xúc hoặc nhiều tranh cãi. Trong tâm ý chúng ta, chúng ta đang muốn học hỏi điều gì đó có lợi cho bản thân và để có thể giúp đỡ người khác. Vì thế, đối với tất cả chúng ta trong giờ phút này, ba nghiệp, hay ba hành động đều tốt cả.

Khi đi thiền hành chúng ta cũng tạo một cơ hội để biểu lộ những điều đẹp, lành, và thật nhất của ba nghiệp thân, khẩu và ý. Và cũng thế, ba nghiệp sẽ thanh tịnh khi chúng ta ngồi thành vòng tròn để tham dự pháp đàm. Khi chúng ta chia sẻ với một tinh thần tốt đẹp như vậy, có phải chúng ta đang tập làm tri âm, tri kỷ của nhau không? Khi một người nói, tất cả những người khác đều mở lòng và im lặng lắng nghe. Mọi người đều theo dõi hơi thở của mình, nhận diện những cảm thọ và tri giác đang nổi lên. Đó là lúc chúng ta thực tập thật sự lắng nghe tâm tư của người đang nói.

Chúng ta học làm tri âm và tri kỷ của nhau bằng cách lắng nghe nhau, bằng cách thiết lập một môi trường trong đó mọi người có thể biểu lộ cái đẹp nhất của mình. Nếu chúng ta chỉ sống một đời sống lúc nào cũng bận rộn, lúc nào cũng có cảm giác căng thẳng, các phản ứng của thân sẽ sớm trở thành thô bạo, không được dễ thương. Khi chúng ta vội vã, cơ thể trở nên rất kích động, thô thiển. Lời nói sớm bị áp lực, trở nên lớn tiếng và nhanh. Tâm ta bắt đầu than phiền, so sánh và tức giận. Nếu chúng ta sống như vậy ngày này qua ngày khác, chúng ta sẽ đánh mất sự kính trọng dành cho bản thân chúng ta và cho người kia, không kể trước đó mình đã kính trọng và quý mến người ấy như thế nào. Mối liên hệ giữa ta và người đó bắt đầu xuống dốc.

Nhiều người chúng ta không dám trở về với chính mình vì nghĩ rằng bản thân mình rất lộn xộn, rác rến bừa bãi. Thật là đáng sợ khi trở về một ngôi nhà đã bị bỏ hoang và giăng đầy mạng nhện; cũng thật đáng sợ khi phải trở về với một người có những đặc điểm như thế. Nhiều người chúng ta đôi lúc cố tình ở lại lâu hơn trong sở làm, tìm một việc gì khác để làm, hoặc ngồi đọc báo thay vì nhìn vào người kia. Thuở ban đầu rất đẹp, nhưng bây giờ mình không còn cảm thấy được nuôi dưỡng khi ở bên cạnh nhau. Vì thế cho nên điều quan trọng là chúng ta phải chế tác ra một môi trường trong đó chúng ta có thể biểu lộ và có thể sống cái đẹp, cái lành và cái thật của mình trong cuộc sống hàng ngày. Nếu điều này không quan trọng thì điều gì mới là quan trọng?

Bài kinh cũng cho ta một trường hợp khác: Một người có những lời nói tiêu cực nhưng hành động của thân dễ thương và tâm của người đó cũng dễ thương. Ngài Xá Lợi Phất dùng hình ảnh một cái hồ có cỏ và rong rêu che lấp mặt nước. Một người sắp chết khát đến bên hồ này. Người này có hai điều để chọn, một là chịu chết khát, hai là nhảy vào hồ. Anh ta rẽ cỏ và rong rêu sang hai bên để uống nước hồ, tắm gội và ngâm mình thoả thích. Cũng vậy, nếu chúng ta nổi giận với một người có những lời nói không dễ thương nhưng có hành động và ý nghĩ dễ thương thì chúng ta sẽ cần làm gì? Chúng ta nên tập nhìn vào những điểm tích cực của người đó, tập tha thứ, tập tìm hiểu người đó và tập lắng nghe tiếng nói của người đó. Sao người đó nói năng một cách giận dữ và hay phê phán chỉ trích như vậy? Chúng ta thực tập để hiểu rằng đó là kết quả của những đợt sóng ngầm. Nhiều nguyên do và điều kiện đã làm người này nói năng như vậy; có thể chính chúng ta cũng đã góp phần vào những nguyên do và điều kiện này. Chúng ta cần nhớ lại những điều tích cực mà người này đã làm, và những ý định tốt mà người này đã có.

Chúng ta có thể đặt câu hỏi, Tôi hiểu âm thanh, lời nói của anh chưa? Tôi săn sóc em như thế đã đủ chưa? Bạn đang thật sự cần tôi giúp gì? Nếu chúng ta cứ than phiền, cứ chê trách, nếu chúng ta chỉ thấy cỏ rác và rong rêu trên mặt hồ rồi bỏ đi nơi khác, chính ta sẽ là người khổ đau, chết khát. Nếu chúng ta khôn ngoan biết cách gạt bỏ rong rêu và cỏ rác ra, chúng ta sẽ thấy nước hồ này uống được và nó sẽ giải trừ ngay cơn khát cho ta. Với sự thực tập chánh niệm, chúng ta có thể cân nhắc những điều tích cực của chính mình và của người kia, và thấy được những làn sóng trong chiều sâu tâm thức của nhau.

Chọn hòa bình

Trong tiếng Việt có một từ mà con rất cảm kích, đó là từ trượng phu. Từ này rất khó giải thích nhưng đại khái nó có nghĩa là một người hào hùng, có thể hiểu, có thể tha thứ, và có sự công bằng chính trực, người không có tính hờn mát hoặc trả thù vặt. Khi con nghĩ về sư chị Thệ Nghiêm, con thường liên tưởng đến từ trượng phu. Những đức tính này rất cần thiết trong đời sống cộng đồng. Chúng ta học cách hiểu bản thân và học quan sát người khác để biết đến một cơ thể ngoài cơ thể mình (ý thức thân trong thân, và ý thức thân ngoài thân). Với những hiểu biết đó, chúng ta có thể can đảm buông bỏ những ác cảm và những điều nhỏ nhặt, và thậm chí có thể buông bỏ luôn cả những điều bất hoà rất lớn. Chúng ta trên hết phải biết yêu chuộng sự hòa hợp.

Có lần Thầy đã nói rằng: “Nếu Thầy phải chọn giữa Đạo Bụt và hòa bình, Thầy chọn hòa bình” (If I have to choose between Buddhism and peace, then I choose peace). Những lời giảng dạy trong đạo Bụt đều nhắm tới hòa bình và hòa hợp, nhưng dưới danh nghĩa tôn giáo, nhiều người đã cổ võ chiến tranh. Nếu chúng ta phải chọn giữa đạo Bụt và hòa bình thì có nghĩa là chúng ta đã đi lạc ra khỏi đường đạo và đang bị kẹt giữa các ý thức hệ và giáo điều (ideology and dogma). Chúng ta phải luôn luôn chọn hòa hợp và hòa bình. Đó là sự thực tập của chúng ta khi sống trong một cộng đồng. Nếu con phải chọn giữa cái thắng trong một cuộc tranh luận hoặc có sự hòa hợp giữa hai bên, con sẽ tập ngồi yên cho đến khi con có thể chọn sự hòa hợp. Hòa hợp sẽ nuôi dưỡng con và giúp con tiến xa hơn trên con đường dẫn đến giải thoát. “Dục an tất an” nếu muốn bình an thì có bình an. Cái ý muốn có được sự bình an, hòa hợp là một loại chánh kiến, chánh tư duy vô cùng quan trọng. Nhưng ý muốn một mình chưa đủ. Chúng ta phải có khả năng vun trồng bình an và hòa hợp. Những pháp môn chánh niệm như thiền đi, thiền thở, thiền ngồi, thiền buông thư đều có công năng vun trồng khả năng này trong chúng ta.

Trong gia đình cũng vậy. Nhiều người chúng ta không thể nhìn mặt nhau nữa vì chúng ta còn giữ nhiều ác cảm trong tâm. Nhưng nếu chúng ta thấy rằng những điều này đang từ từ giết chết chúng ta, không nuôi dưỡng ta và những người thân của ta; khi đó chúng ta sẽ học làm người trượng phu – để hiểu người, để tha thứ và để trở thành một người rộng lượng, can đảm. Chúng ta có thể thực tập để tha thứ cho những khổ đau của chính mình, sự ghen tuông, đố kỵ, hờn giận, những điều tầm thường nhỏ nhặt của riêng mình, để có thể tha thứ những thiếu sót, vụng về đó của người khác.

Nếu chúng ta không biết lắng nghe âm thanh của mình, không biết tha thứ cho mình và trở thành một trượng phu cho chính mình thì không cách gì chúng ta có thể làm điều này cho người khác. Những sự phục vụ của chúng ta không thể nào tồn tại lâu dài nếu chúng ta không biết chăm sóc, thương yêu chính mình trước. Nếu có người nào đó có nhiều tài năng, hoặc có lời nói ái ngữ dễ thương, với cử chỉ và hành động nhã nhặn ôn hòa và có những tư tưởng tốt đẹp hữu ích, đôi khi chúng ta lại tỏ ra ganh tỵ, giận dữ, muốn loại trừ người đó. Một Thiền sư đã nói: “Thế phi dũng liệt trượng phu, giải thoát hán hà năng kham thử” (Nếu sống trên đời mà không can đảm, không trượng phu, thì đừng nói đến chuyện giải thoát và tự do; làm sao ông kham nổi chuyện đó?). Chúng ta không kham nổi nếu chúng ta không thực tập để xử lý những vụng về và khổ đau của mình. Phải biết chăm sóc và tha thứ cho mình; nếu không, chúng ta sẽ không có khả năng tha thứ và bao dung cho người khác.

Có những người trong chúng ta rất siêng nghe pháp thoại, nhưng chưa thực tập lắng nghe tiếng chuông, chưa thực tập thiền hành trong đời sống hàng ngày. Vì vậy cho nên  khi một cơn giận hay một nỗi buồn phiền nổi dậy trong tâm, nó có thể nhanh chóng tràn ngập tâm tư mình và xô ngã mình. Sự thực tập hàng ngày rất quan trọng vì chúng sẽ giúp chúng ta tạo lập và khai triển những đường thần kinh mới (new neural pathways). Trên phương diện sinh lý, chúng ta sẽ học cách đối phó với sự việc một cách thích nghi với hoàn cảnh hiện tại, thay vì lúc nào cũng phản ứng, phản xạ theo cái “xa lộ” thường dùng. Dần dần, chúng ta sẽ phát triển được một con đường khác. Thay vì giận dữ, nói năng gay gắt, đối xử thô bạo với chính ta hoặc với người khác, chúng ta nhận diện giây phút căng thẳng đó, chúng ta theo dõi hơi thở, nhìn xuống, và ngồi thật yên. Chúng ta thực hành như vậy một lần, hai lần, ba lần và từ từ chúng ta có một con đường thần kinh mới trong não bộ. Lâu dần, nó trở thành một xa lộ – xa lộ của sự bình an và hòa hợp. Con đường cũ nếu mình ít dùng đến, nó sẽ phai mờ dần theo thời gian.

Sự tiếp nối của một nụ hoa

 

Sư cô Đẳng Nghiêm hiện đang tu tập tại Tu viện Lộc Uyển, Mỹ. Trước khi xuất gia, sư cô đã tốt nghiệp Y khoa tại UC San Francisco, Mỹ. Dưới đây là trích đoạn chia sẻ từ cuốn sách “Áo vách núi” – tuyển tập những hoa trái tu tập của sư cô trong 18 năm qua.

 

Có lần Bụt ngồi trước thính chúng và nâng lên một cành hoa. Tất cả các thầy, các sư cô đều nhìn và cảm thấy ngạc nhiên, không hiểu Bụt có ẩn ý gì. Chỉ có ngài Ca Diếp mỉm cười, và ngài trở thành vị tổ đầu tiên của tông phái Thiền. Khi con nâng lên cành hoa này, có nhiều cô và các em mỉm cười, thành ra con thấy có nhiều thiền sư đang ngồi ở đây!

Khi đại chúng nhìn bông hoa này, đại chúng có những ý nghĩ gì? Xin cho con vài thí dụ.

“Màu vàng.”

“Mùi thơm đi rất xa.”

“Có một hoa tươi và một hoa đã héo.”

“Vô thường.”

“Hạnh phúc.”

“Hoa đẹp…”

Đại chúng có biết không? Trong hoa này, mỗi một cái cánh là một hoa riêng biệt. Hoa này thuộc vào bộ hoa Cúc (gia đình Asteraceae hoặc Composite). “Com” trong chữ “composite” nghĩa là đến với nhau, chung với nhau. Một bông hoa được định nghĩa là có nhụy  riêng của nó (nhụy đực, nhụy cái, hoặc có cả nhụy đực và nhụy cái), và vì thế nó có thể thụ phấn, được thụ phấn, hay tự thụ phấn. Trong gia đình Asteraceae, mỗi một cánh hoa đều có nhụy riêng của nó. Thế thì đây không phải là một bông hoa, mà là rất nhiều bông hoa được hợp lại với nhau, gọi là tổng hợp, thể hợp để tạo nên một đoá hoa. Cũng vì tất cả những hoa nhỏ đến chung với nhau để tạo thành một đoá hoa, khả năng thụ phấn và sự hữu hiệu của nó rất cao. Chúng ta hãy tưởng tượng nếu chúng tách riêng cái cơ hội để chúng làm được điều đó sẽ rất khó, nhưng chung lại với nhau thì chúng trở thành một loài hoa, phổ biến mạnh mẽ, có khả năng sống còn và phát triển ở nhiều nơi trên thế giới ở những khí hậu khác nhau. Có rất nhiều loài cỏ dại, hoa và rau quả thuộc vào bộ hoa Cúc, ví dụ như bồ công anh, thược dược, cúc daisy, xà lách, atiso, v.v… Đến thăm Lộc Uyển, chúng ta thấy mọc khắp nơi rất nhiều loài cây xô thơm, cây cỏ và hoa dại khác cũng thuộc vào gia đình này.

Mùa này nhiều loài hoa đã bắt đầu tàn. Nhìn những cánh hoa rũ xuống, chúng ta có thể thấy vô số nhụy đực bên trong. Mỗi cánh hoa tự nó đã là một bông hoa, và một bông hoa có rất nhiều bông hoa trong nó. Chúng ta đã được học giáo lý Hoa Nghiêm, cái một chứa đựng cái tất cả. Vậy thì đây là một ví dụ thực tiễn mà chúng ta có thể thấy và sờ mó được. Một bông hoa có rất nhiều bông hoa trong nó. Trong chính nó, nó đã đầy đủ và cùng một lúc chứa đựng tất cả những cái kia. Khi thành lập một tăng thân, như tăng thân Xóm Dừa, tăng thân Lộc Uyển, tăng thân Làng Mai, chúng ta cũng đến với nhau trong tinh thần này. Mỗi một chúng ta là hoa, và chúng ta làm nên một đoá hoa tăng thân. Đoá hoa này có cơ hội được biểu hiện một cách đẹp đẽ, có màu sắc linh động, mùi hương lan rộng, và làm đẹp cho đời.

Sống trong tăng thân hoặc sinh hoạt với một tăng thân, mỗi người thực sự đang học làm một cánh hoa của một đoá hoa. Tuy mình trong tự thân là một nụ hoa, nhưng mình học sống hoà hợp, làm một thành viên, để đoá hoa biểu hiện một cách đẹp đẽ. Nhìn vào hoa này, chúng ta có thấy cánh hoa nào quan trọng hơn cánh hoa nào không? Không có cánh hoa nào nổi bật cả. Chính vì nó không nổi bật, chính vì nó hoà chung vào, nó mới làm nên một đóa hoa đẹp. Đây là sự thực tập, mà mình gọi là vô thường, vô ngã.  Trong thiên nhiên và trong con người mình có tuệ giác này, nhưng mình phải học sống và tập sống tuệ giác này trong đời sống hàng ngày. Những năm đầu tiên khi con mới về Làng, có những cái bức xúc, khó chịu đi lên trong con khi con bị chỉnh bởi một sư cô hay một sư chị, hoặc khi con bị một sư em đối xử không dễ thương. Những ý nghĩ phân biệt đi lên như: “Mấy người này học dở hơn mình mà dạy mình, ăn hiếp mình… Có tu giỏi đâu mà la mình!” Rồi con lại nghĩ hồi đó mình sống bên ngoài có tự do, muốn lái xe, mua vé máy bay đi đâu thì đi, tự nhiên bây giờ mình phải là người ở lại, nhìn người ta đi. Đi tu là lần đầu tiên con làm người ở lại. Trước đó, con luôn là người ra đi. Muốn đi đây đi đó thì khoác ba lô lên vai và đi. Trong liên hệ tình cảm cũng vậy, hết hạnh phúc thì mình ra đi. Con đã cho sự ra đi đó là một sự tự do, mình làm chủ con người của mình, làm chủ cuộc đời của mình. Về Làng tu học, con mới thấy rõ rằng đó không phải là mình làm chủ mình. Mình giận mình đi, thì cái gì thật sự dẫn mình đi? Chính cái giận dẫn mình đi. Sự tự do của người tu không phải ở chỗ muốn lên xe đi lúc nào là đi. Sự tự do của người tu là học làm một nụ hoa trong tự thân nhưng cùng lúc là một phần của một đoá hoa. Giận cũng ở đó để thở thôi. Trong buổi pháp đàm gần đây, thầy Pháp Hội chia sẻ có những lần thầy giận, thầy nghĩ đến chuyện bỏ đi, nhưng đi đến vườn rau thì lại quay trở lại. “Giận thì chỉ đi tới vườn rau là cùng!” thầy nói và cười thật tươi. Chính sự quay trở lại, ngồi yên, nhìn được mình và hoà giải được với người kia chính là học làm một nụ hoa. Sự thực tập này làm cho mình trở nên toàn vẹn hơn, đẹp hơn, tự do hơn. Khi mình nổi tiếng hay tài năng, chính lúc đó mình có cảm tưởng mình như là một cái trứng chọi đá. Mình nghĩ mình tự lập, nhưng thực sự trong chiều sâu tâm thức, mình biết mình bất lực, không có khả năng điều khiển được những cơn giận hay chuyển hoá được những khổ đau của mình. Mình tự hào nhưng bất lực, và cái mâu thuẫn đó trong con người của mình làm cho mình bất an, đau khổ. Cái tự hào, tự tôn thường đi đôi với cái mặc cảm tự ti. Mình cảm thấy phải luôn luôn chứng minh là mình hơn người. Sống trong tăng thân, khi những ý nghĩ phân biệt, tự hào trong con nảy lên, cái thực sự giúp con không bị cuốn đi là quay về với hơi thở, đi thiền hành, ngồi yên, thấy được những suy nghĩ đó và mỉm cười. Rồi cơn bão cũng qua. Một lần như vậy là một lần nếm được sự làm chủ chính mình.

Trong gia đình, chúng ta cũng cần học làm những cánh hoa. Nhiều bậc cha mẹ quen cách từ trên nói xuống: “Con phải làm như thế này. Con phải làm như thế kia…” Có thể điều này hữu hiệu khi con còn nhỏ và cần mình cho ăn, cho mặc, cho nơi ấm êm để ngủ.  Nhưng nhiều người trẻ, một khi có khả năng tự suy nghĩ và bắt đầu làm ra tiền, không còn tiếp nhận được cách nói từ trên xuống của cha mẹ. Điều này đưa đến sự mâu thuẫn và đổ vỡ trong nhiều gia đình. Cha mẹ và các con không truyền thông được với nhau. Gia đình không còn là mái ấm để người trẻ muốn quay về. Nếu chúng ta học làm những cánh hoa, không lớn hơn mà cũng không nhỏ hơn, nương vào nhau, dùng tâm ban đầu để thấy nhau luôn luôn mới thì chúng ta sẽ lớn lên được với nhau. Cha mẹ sẽ được lớn lên (chứ không phải chỉ già đi) và làm bạn đồng hành với các con của mình. Mỗi ngày các con của mình học được rất nhiều điều và có những cái thấy rất sâu sắc mà chúng có thể chia sẻ với mình. Mình có mặt để lắng nghe những khổ đau, những vui buồn của con mình. Mình thử nghe nhạc với con và thỉnh thoảng đi những sinh hoạt với con. Các con sẽ không bao giờ thấy mình già, lỗi thời, mà chúng thấy mình rất trẻ, rất chịu chơi. Mỗi thành viên thực tập làm một cánh hoa để làm nên một đoá hoa đẹp cho gia đình. Các thầy các sư cô trong gia đình xuất gia của Làng Mai cũng thực tập như vậy. Có những sư anh, sư chị, sư em của con rất giỏi, có nhiều tài năng, nhưng họ không phải là những người lãnh đạo. Mọi người đều chung sức tu tập, làm việc, và cùng đi đến những quyết định chung. Không có một cá nhân nào đứng ra làm người lãnh đạo.

 

Có vài lần cảnh sát đến Tu viện Lộc Uyển, bước vào nhà ăn của xóm Trong Sáng trong khi đại chúng đang cùng ngồi ăn trưa với nhau, họ hỏi: “Who’s in charge here?” (Ai là người lãnh đạo ở đây?). Các thầy các sư cô ngồi yên, không ai nói gì. Họ rất ngạc nhiên khi thấy một phòng đầy người nhưng không có ai là người lãnh đạo. Vài giây sau, một thầy một sư cô nào đó vì thấy tội nghiệp nên tự giác đứng lên và đến tiếp chuyện với họ. Mình tập nương vào nhau, học có những cái nhìn cái thấy sáng tỏ về chính mình và về nhau để cùng tạo dựng một cái gì luôn luôn mới và đẹp. Nếu nó không còn đẹp nữa thì mình có thể làm mới lại. Trong tất cả các mối liên hệ, nếu mình học làm những cánh hoa thì mình sẽ hạnh phúc và bền vững hơn nhiều. Những khi mình nghĩ mình là một bông hoa tuyệt vời, mình có thể tự đứng một mình được, mình có thể nổi trội hơn tất cả những đoá hoa khác, thì mình thở với ý nghĩ đó, mỉm cười với nó, và tuy nó dễ thương mình cũng thở ra cho nó bay đi. Thở cho nó bay tít mù. Nếu nó trở lại thì mình cứ thở với nó, nhưng mình không hành động, tuân thủ theo nó. Dần dần mình sẽ thấy được cái đẹp được sống trong tăng thân, được tu học với tăng thân, được chuyển hoá và trị liệu. Mình cũng thấy được sự vô thường của đoá hoa. Cái gì đẹp cũng sẽ qua, nhất là trong hình sắc, nhưng nó không mất. Mình có được giây phút thiên thu vì mình sống sâu sắc và chan hoà với nhau.

Một điều thú vị nữa là khi quán sát các cành cây, chúng ta thấy được có một sự lặp lại trong cái mô hình (repeating patterns) của thân cây và cành cây. Trong sinh vật học (biology), sự lặp lại này được gọi là Fractal. Ví dụ như trong nhành cây này, mình thấy nó bắt đầu từ một thân chung, rồi nó chia ra, chẻ ra làm 3 nhánh. Mỗi một nhánh sau đó chính nó lại chẻ ra làm 3, rồi mỗi một nhánh nhỏ này lại chẻ ra làm 3, và cứ tiếp tục như vậy. Khi mình bẻ ở mỗi đoạn như vậy, thì mình thấy đoạn này là sự lặp lại của đoạn kia. Bụt cũng đã dạy về điều này trong giáo lý “Tam luân không tịch”. Trong sự trao truyền, người trao truyền, người tiếp nhận sự trao truyền, và vật được trao truyền là một, không hề sai khác. “Tam luân không tịch” nghĩa là như vậy. Ví dụ khi nói về cha mẹ và con cái, mình thường nghĩ rằng: “Cha khác với con, mẹ khác với con. Chồng khác với vợ. Họ là những người khác nhau.” Nhưng từ hơn 2500 năm về trước, Bụt đã dạy rằng ba sự trao truyền này đều trống rỗng. Không có tu học thì khi nhìn vào người con hoặc một người trong tăng thân của mình, mình sẽ thấy người đó khác mình. Cơ thể của người đó, những tư duy và cảm thọ của người đó là khác mình. Người con, người cha, mẹ, anh chị em, bạn đồng tu, hoặc người hôn phối của mình là khác mình. Nhưng khi có sự tu học và có sự nhìn lại, mình sẽ thấy được mình trong họ và họ trong mình. Thiên nhiên dạy chúng ta tất cả những bài học này, rằng sự trao truyền được lặp lại, chính nó được tiếp nối. Khoa học chứng minh được điều này. Khi tinh trùng của người cha nhập vào trứng của người mẹ, thì tinh trùng đóng góp 23 nhiễm sắc thể của người cha và trứng đóng góp 23 nhiễm sắc thể của người mẹ. 23 nhiễm sắc thể từ người cha chứa đựng tất cả các thông tin di truyền của người cha dưới dạng gen. 23 nhiễm sắc thể từ người mẹ chứa đựng tất cả thông tin di truyền của người mẹ. Không phải chỉ màu mắt, màu tóc, hình dáng của thân thể, mà những bệnh di truyền như bệnh huyết áp cao, bệnh tiểu đường, nhiều loại bệnh ung thư cũng được trao truyền. Những cá tính, lề thói tư duy và tập khí cũng được trao truyền. Tất cả những gì trong chúng ta đều là kết quả của sự trao truyền từ tổ tiên và sự trao truyền này có sự lặp lại.

Trong y khoa có một bệnh gọi là Huntington’s Chorea. “Chorea” là từ chữ choreography, nghĩa là điệu múa. Người có bệnh này thì hai cánh tay luôn di động như đang múa, và người đó không thể nào làm chủ, dừng lại hai cánh tay của mình. Những nhà di truyền học nhìn vào cấu trúc gen và khám phá rằng có sự lặp lại trong ba chuỗi phân tử DNA (CAG). Ví dụ như bộ mã CAG trong người cha được lặp lại 30 lần, thì người cha dù mang mầm bệnh nhưng không biểu hiện bệnh này. Nhưng nếu người con sinh ra và lớn lên với những điều kiện nội tại và ngoại tại nào đó mà CAG được lặp lại hơn 36 lần (nếu ít hơn 30 lần thì không bệnh, nhưng hơn 36 lần là mang bệnh) thì người con sẽ biểu hiện bệnh Huntington’s Chorea. Nhìn người cha không thấy cái bệnh, nhưng nếu nhìn vào tận nguồn, mình thấy người cha mang mầm của căn bệnh và đã trao truyền cho con của mình.

Có những sự lặp lại đưa đến sự sống. Chúng cần thiết và xảy ra thường xuyên trong thiên nhiên và trong con người. Ví dụ như sự lặp lại trong các loài cây cỏ – nếu không có cây cỏ, chúng ta không thể sống được. Nếu không có sự lặp lại của các gen chúng ta cũng sẽ không có sự sống. Ý thức điều này trong khi tu học giúp chúng ta sáng suốt chọn lựa và làm chủ những gì mình nên lặp lại. Có những cái rất đẹp mà tổ tiên, cha mẹ đã trao truyền cho mình, và mình có thể tiếp tục nuôi dưỡng và phát triển. Trong sinh hoạt tăng thân với nhau cũng có những sự trao truyền rất đẹp từ chánh pháp mà mình có thể học hỏi, đem vào con người của mình và sống được. Đối với riêng con, sống với Tăng thân không những con học được từ Sư Ông, mà con cũng học được rất nhiều từ các thầy, các sư cô, các sư anh, sư chị, sư em của con. Giống như con vịt con đi sau lưng con vịt mẹ, nó bắt chước cách đi của mẹ nó. Mình cũng vậy, có những cái đẹp từ bên trong đã được ghi mã trong mỗi tế bào của mình. Cũng có những sự trao truyền đến từ bên ngoài mà mình nhận được từ những hình ảnh đẹp, âm thanh hay, mùi hương, pháp vị và chúng cũng trở thành con người của mình.

Cũng có những sự trao truyền và lặp lại đem đến bệnh hoạn và khổ đau, nhưng cái may mắn là con người không phải tuân theo hoàn toàn thuyết định mệnh. Theo thuyết định mệnh, trao truyền như thế nào thì sự tuân theo và sự lặp lại phải y như thế đấy, như trong sự lặp lại của thân cây và các cành cây. Con người có khả năng chọn lựa, chuyển hoá và trị liệu. Con người có thể hướng năng lượng của mình. Ví dụ như khi đi tu, người tu có cơ hội thay đổi được thân và tâm của mình như trong câu: Phát túc siêu phương, tâm hình dị tục. Mình học ăn, nói, đi, đứng, nằm, ngồi có chánh niệm, có uy nghi, nên phong cách của thân mình sẽ thay đổi. Mình học tư duy và nhìn vào các hiện tượng của tâm khác thường lệ, nên thái độ và những tâm hành của tâm mình cũng thay đổi. Nếu chúng ta có nhiều kiến thức, ngay cả kiến thức Phật học, nhưng không áp dụng được, thì thân tâm của chúng ta vẫn phản ứng và hành xử theo lề thói trước kia. Nhưng nếu chúng ta tu tập và nhìn sâu, chúng ta sẽ khám phá và chế biến được những áp dụng thực tiễn.

 

Có cơ hội được tu học, chúng ta phải tu học như thế nào để có một cái nhìn luôn luôn mới, một cái tâm luôn luôn mới. Những cái bình thường trong cuộc sống hàng ngày, mình thấy hoài nhưng không bao giờ nghĩ nó phản ánh được con người của mình. Sự tu học cho mình cái thấy mới, giúp cho mình làm được công việc khám phá ra chính mình và chuyển hoá được chính mình. Nếu mình tu mà không có tâm ban đầu thì mình sẽ không đi sâu được vào sự tu học, nếu không đi sâu được vào sự tu học thì sự chuyển hoá và trị liệu sẽ bị trì trệ và ngừng lại. Mình bị rơi vào ngõ cụt. Chính sự tinh tấn, sự khám phá, tò mò, thích thú của mình sẽ đưa mình đến sự chuyển hoá và trị liệu. Sự chuyển hoá và trị liệu sẽ làm cho mình càng thích thú, tò mò, đi sâu vào sự tu học, và nuôi dưỡng tâm ban đầu của mình. Những yếu tố này hỗ tương nhau. Bất cứ một giây phút nào mình cảm thấy mình không còn cái tâm ban đầu, mình vắng đi bước chân chánh niệm, hơi thở chánh niệm, hoặc mình chưa đi sâu vào nó, mình phải bắt đầu lại. Càng tu lâu năm mà không có thói quen tu tập thì càng khó để tu. Người mới vào đạo khám phá được một cái gì đó và áp dụng được thì dễ đi tới. Nhưng nếu người tu có tập khí không tu thì rất nguy hiểm. Mình có kho tàng giáo lý và có thể nói thao thao bất tuyệt, nhưng mình không thật sự cảm được và sống được nó. Một khi đã lập nên một tập khí nào đó thì rất khó để thay đổi. Nhưng nếu mình có sự dõng mãnh thì mình bắt đầu lại từ những bước căn bản nhất.

Chánh niệm không phải là một loại tập khí mà một khi mình bắt đầu làm được, là mình luôn làm được và có được. Một tập khí có thể tự động lặp lại (it operates on autopilot), như trong khi lái xe mình có thể nghĩ về trăm ngàn chuyện khác. Chánh niệm, ngược lại đòi hỏi sự có mặt thực sự của tâm. Chỉ trong tích tắc tâm mình không có mặt trong giây phút hiện tại là mình không thực sự thấy, nghe, tiếp xúc sự vật sâu sắc. Chánh niệm vì vậy sống động và thú vị trong chính nó. Để có thể ý thức về hơi thở và bước chân, tâm phải trở về và có mặt. Những sự thực tập căn bản này rèn luyện cho chúng ta khả năng quay về để tiếp xúc được với cuộc đời của mình, và mỗi giây phút như vậy sẽ không quá ngắn ngủi, đơn điệu, mà nó có thể rất thú vị, mới, và sâu sắc.

Hầu hết trong các bài pháp thoại, Thầy đều nói về hơi thở chánh niệm. Có thể chúng ta thắc mắc không hiểu tại sao Thầy luôn nói về hơi thở. “Ai mà không thở?” chúng ta thầm nghĩ. Con cũng đã từng nghĩ, chắc chỉ có Thầy của mình mới có một cái đam mê, thích thú đặc biệt về hơi thở. Khi con bắt đầu đọc thêm kinh điển, con khám phá rằng Bụt nói rất nhiều lần về hơi thở chánh niệm trong mỗi bộ kinh. Ví dụ như trong Tương ưng bộ, có ít nhất 14 kinh Bụt nói về sự thực tập hơi thở, áp dụng trong các trường hợp khác nhau. Con chợt nhận ra rằng không phải chỉ Thầy mình, mà Bụt cũng đã từng làm như vậy. Bụt nói rất nhiều về tầm quan trọng của hơi thở chánh niệm và lặp đi lặp lại 16 bài tập căn bản như trong kinh Quán niệm hơi thở. Tại sao Bụt muốn có sự lặp lại? Tại sao Bụt phải nhấn mạnh như vậy trong rất nhiều trường hợp khác nhau? Và bây giờ chính Thầy mình cũng vậy, một người tu hơn sáu mươi năm với nhiều tuệ giác cao siêu mầu nhiệm, thì tại sao Thầy mình chỉ thường nói về hơi thở? Mình thấy nó quá căn bản và bình thường. Có những lúc vừa bắt đầu nghe chữ “hơi thở” là tự nhiên mình đóng lại. Biết rồi! Nghe rồi! Đó là cái tâm lý. Chính đó cũng là cách mình sống trong đời sống hàng ngày. Thấy cái này: “Bông hoa, biết rồi.” Đóng lại. Thấy cái này: “Cành khô, biết rồi.” Đóng lại. Mình không thấy gì hơn nữa hết. Nghe danh từ “hơi thở” là “biết rồi.” Đóng lại.

Những nhà khoa học não bộ có đề cập đến vấn đề này. Vỏ não chứa đựng tất cả những hình ảnh và tin tức chúng ta đã thấy trong cuộc đời của chúng ta (chắc chắn cũng chứa đựng tất cả những hình ảnh và tin tức mà cha mẹ, ông bà tổ tiên của chúng ta đã chứng kiến, trải nghiệm qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý). Khi mình nhìn một vật gì hoặc xúc chạm nó, thì tin tức đó được đưa vào trong mắt của mình hoặc được đưa vào thần kinh cảm giác, đến trung tâm não và đi lên vỏ não. Vỏ não có một chiều dày với sáu lớp. Tin tức đang đi lên từ lớp phía dưới (hướng lên lớp phía trên cùng), thì cùng lúc đó, từ lớp trên cùng vỏ não cũng gởi xuống tín hiệu: “Biết rồi! thấy rồi! xúc chạm trước kia rồi! Nó là cành cây khô.” Hai tín hiệu này gặp nhau ở giữa vỏ não (lớp thứ 3 hoặc thứ 4) và kết luận “cành cây khô.” Nó ngưng lại tại đây và không vận hành thêm nữa. Chúng ta thường xuyên sống trong trạng thái này. “Biết rồi! ông chồng của tôi.” “Biết rồi! đứa con gái của tôi.” “Biết rồi! nó sắp xin tiền nữa.” “Biết rồi! sắp nói về đi thiền hành.” “Biết rồi! đi thiền hành.”

 

Não bộ chứa đựng tất cả những tin tức từng thâu thập, từng trải nghiệm trong quá khứ và chúng trở thành những biểu tượng cứng ngắc mà các nhà khoa học gọi là invariant representations. Duy Biểu học cũng có danh từ đới chất cảnh, nghĩa là chúng ta không thật sự tiếp xúc được với sự vật như chính nó, mà chúng ta chỉ tiếp xúc sự vật qua những tri giác, những định kiến có sẵn. Tin tức phải đi qua con đường trung gian của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và của các dây thần kinh cảm giác của hệ thần kinh ngoại biên. Những định kiến và những biểu tượng cứng ngắc lại luôn được gởi xuống từ hệ thần kinh trung ương để suy luận, tiên đoán những tin tức đang xảy ra, rồi cũng từ đó làm nên những kết luận và chủ động các phản ứng. Nếu chúng ta sống trong thất niệm và để cho sự điều khiển từ trên xuống này làm chủ cuộc sống hàng ngày của chúng ta, thì chúng ta có thể sống rất hời hợt và máy móc. Vừa thoáng thấy hoặc nghe một cái gì thì vỏ não đã kết luận “biết rồi” trong tích tắc và nó ngưng lại tại đó. Vì “biết rồi” nên mình lại tìm một đối tượng khác để tiêu khiến. Mình muốn cái này, rồi muốn cái kia. Mình nghĩ về cái này, rồi lại nghĩ đến cái kia. Tâm mình không có khả năng an trú một nơi. Có thể mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc nhưng mình không cảm thấy hạnh phúc vì mình “biết rồi,” “hết rồi,” nên mình không tiếp xúc với nó hơn được nữa. Hoặc có thể mình có cơ hội tiếp thu giáo lý nhưng mình không nếm được pháp lạc từ sự tu học. Mình không tiếp xúc được với hơi thở, với sự ngồi yên, mình không nếm được bình an trong khi đi thiền hành là vì mình chỉ sống với những cái biểu tượng cứng ngắc trong đầu mà thôi. “Các vị biết hết về thiền hành rồi, khỏi cần giải thích.” Đóng lại. Rồi mình đi thiền hành nhưng thật ra mình đi những bước chân máy móc.

Khoa học gia cũng làm những thí nghiệm như “the odd-ball experiment.” Ball là trái banh. Odd là cái gì kỳ quặc, lạ lùng. Experiment là thí nghiệm. Họ làm thí nghiệm về trái banh kỳ lạ, kỳ quặc. Trong thí nghiệm này, người ta chiếu lên (flash) những hình ảnh, ví dụ như một cành cây khô, một bông hoa, một con chó, v.v… Mình nhìn những hình ảnh này, thì mình nghĩ “biết rồi, biết rồi, biết rồi…” Chỉ bấy nhiêu đó thôi. Chỉ cần một tích tắc thì mình đã thấy và kết luận nó là cái gì. Nhưng nếu họ cho hiện lên trên màn ảnh một cái gì rất quái lạ mà mình chưa từng thấy trước đây và mình không thể đoán được, thì mình nghiêng đầu, nhìn ngang rồi nhìn dọc, nhìn đủ cách để tìm hiểu nó. Sau khi nhìn cái vật lạ kỳ này, những người đó báo cáo rằng họ cảm thấy thời gian nó được chiếu lên trên màn ảnh (thời gian trong cảm nhận chủ quan) dài hơn so với thời gian những hình ảnh quen thuộc được chiếu trên màn ảnh. Sự thật là trong thí nghiệm này, thời gian mà họ chiếu lên trên màn ảnh những gì quen thuộc cũng như những gì lạ lùng đều dài như nhau. Nhưng vì vỏ não không thể ráp cái hình ảnh lạ kỳ vào một phạm trù sẵn có nên nó phải bắt đầu tìm tòi, và vì vậy thời gian trong cảm nhận chủ quan có vẻ dài hơn. Có khi chúng ta cảm thấy cuộc đời mình đi qua rất nhanh. Thấm thoát, mười năm trôi qua. Thấm thoát, tóc điểm bạc. Thấm thoát, có cháu nội,  cháu ngoại. Thấm thoát, nằm thoi thóp chờ chết. Mình tự hỏi: “Sao nhanh quá vậy?” Chính vì mình chỉ sống với những hình ảnh đã được hằn sâu trên vỏ não. Chính vì mình nhìn cái gì cũng với con mắt “biết rồi” nên thời gian trôi đi trong lãng quên.

Thiền là dừng lại để tiếp xúc với sự sống và thật sự sống. Cũng cành cây khô này, nhưng nếu mình nhìn nó chăm chú, nhìn khúc này, rồi từ từ nhìn lên khúc trên, mình có cơ hội khám phá những mô hình, những đốm màu, và xúc chạm được với kết cấu mịn, thô của nó. Đi sâu vào như vậy thì mình chưa từng thấy nó trước kia. Nếu mình cũng nhìn người bạn đời hoặc đứa con, người chị, người bạn với con mắt ban đầu, thì mình sẽ ngộ ra rằng mình chưa bao giờ từng thấy họ. Mình sẽ tự hỏi: “Người là ai? Là ai mà có mặt trong cuộc đời của tôi? Là ai mà chịu thương chịu khó với tôi? Tôi có thật sự biết người không?” Mình sẽ không bao giờ cảm thấy nhàm chán và cái thời gian mình cảm nhận được sẽ sâu thẳm. Giây phút thiên thu là đây. Có những giây phút mình không hề có ý định sẽ ghi nhớ, nhưng vì mình đã thực sự có mặt nên nó có ý nghĩa sâu sắc. Mười năm sau nó vẫn nguyên vẹn trong tâm thức mình, hiển hiện rõ rệt. Có những kỷ niệm rất đẹp và sống mãi. Có những kỷ niệm đau thương cũng sống mãi. Lúc đó nó là một cái trải nghiệm với trái banh kỳ quặc (an odd-ball experience). Mình sống với tất cả các giác quan của mình, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và thời gian đó trở thành bất tận, infinite. Cái này mình có thể làm được với sự tu tập. Nó là một sự rèn luyện. Nếu mình tin rằng “Sư Ông Làng Mai chỉ dạy về hơi thở. Biết rồi!” thì mình mất đi một cơ hội.

 

Là người mới tu, mỗi ngày con nuôi dưỡng ý thức rằng mình may mắn được thức dậy với 10 tiếng chuông thức chúng. Con từ từ ngồi dậy và bắt đầu xoa đầu. Xoa đầu để máu huyết được lưu thông. Xoa đầu cũng để tự nhắc mình là người tu. Là cư sĩ mình cũng có thể xoa đầu để nhớ rằng được sinh ra làm người, được gặp Phật Pháp, và được tu học là một diễm phúc lớn. Xoa đầu không phải để “biết rồi! tôi là người tu,” mà để cảm nhận sâu sắc “giây phút này con được làm người tu.” Đem mình về với ý thức sáng tỏ đó có công năng làm cho mình rất hạnh phúc ngay giây phút mình vừa thức dậy. “Thức dậy miệng mỉm cười” và xoa đầu liền. Có lý do để mỉm cười liền. Không những 24 giờ là tinh khôi, mà mình cũng tinh khôi. Làm người tu là mình mới liền và có hạnh phúc liền. Khi xoa đầu như vậy, con nguyện thực tập quay về với hơi thở, với nụ cười, và với bước chân sâu sắc hơn, miên mật hơn trong ngày hôm nay. Con cũng cầu xin Tam Bảo giúp cho con được làm người tu chân chính. Mỗi ngày con thực sự chỉ cố gắng làm có 3 chuyện thôi: Quay về với hơi thở, quay về với nụ cười, quay về với bước chân cho thường xuyên hơn và sâu sắc hơn. Chỉ cần làm ba điều này thôi, không cần phải làm hơn nữa. Sau khi con tu được vài năm, có một vị hỏi: “Vậy thì em ý thức hơi thở được bao nhiêu phần trăm?” Khi mới đi tu thì con không có phần trăm chánh niệm nào hết. Có khi cả ngày con hoàn toàn không nhớ quay về với hơi thở, dù chỉ một lần. Con cũng không nhớ đến bước chân, mà nếu có nhớ thì chỉ trong chốc lát rồi lại quên bẵng. Nhưng sau 3 năm thì chắc con theo dõi được 50% của hơi thở. Con đã chọn con số 50% vì thấy nó cũng trung bình và khiêm tốn. Nhưng sau đó tự nhìn lại thì con thấy chắc chắn con không theo dõi được 50% của hơi thở, vì 50% có nghĩa là mỗi 10 hơi thở, con phải có ý thức được 5 hơi thở. Con đã chưa thật sự làm được như vậy. Từ đó mỗi sáng khi thức dậy, con phát nguyện thực tập để có ý thức về hơi thở của mình thường xuyên hơn. Hơi thở là sự sống. Nếu mình không thở được, và não bộ không nhận được dưỡng khí trong vòng 2 phút, thì những tế bào não sẽ bị tổn thương hoặc chết đi, và sau đó dù mình có tiếp trợ bao nhiêu dưỡng khí đi nữa, thì những tế bào này cũng không hồi phục lại được (irreversible damage). Hơi thở nối liền với sự sống một cách rất mật thiết (intimate connection). Nhưng ai có ý thức về điều này trong đời sống hàng ngày? Ai quay về để hưởng được cái ý thức sáng tỏ là mình đang còn sống? Ai nương vào hơi thở để có mặt cho thân của mình, để có mặt cho những cảm thọ vui, buồn mình đang có và để điều phục nó? Ai làm được và làm được bao nhiêu? Mình phải tự hỏi mình những câu hỏi này mỗi ngày, vì đó là nhiệm vụ của người tu học.

Làm sao để chúng ta có thể nương vào hơi thở và tiếp tục thích thú với nó? Nếu mình thực sự quay về với hơi thở, mình sẽ không bao giờ nhàm chán. Mình sẽ không bao giờ dám nói: “Tôi biết rồi.” Mình nói: “Tôi biết rồi,” hoặc “Ôi! Cứ nói đi nói lại hoài,” hoặc “hơi thở chánh niệm chẳng giúp gì hết…” Chỉ vì mình chưa đi sâu vào sự thực tập, chưa tiếp xúc được với nó, chưa nếm được nó. Nếu mình có cái tâm mong muốn tiếp xúc được và khám phá ra được sự mầu nhiệm của hơi thở, và mỗi ngày mình phát nguyện, hết lòng quay về với hơi thở, thì mình sẽ không bao giờ nhàm chán và bỏ bê sự tu tập (take it for granted). Chính trong hơi thở, mình thấy được cái tâm đa dạng của mình. Khi mình vui, mình thở như thế nào? Khi mình buồn, mình thở như thế nào? Nhiều người trong chúng ta chỉ thở đến phần trên của buồng phổi mà không thở bụng. Có khi mình chỉ hít vào thở ra từ phần mũi hoặc phần cổ thôi. Đó là cách thở của những người có nhiều khổ đau trong quá khứ mà chưa giải toả được hoặc của những người đang có nhiều bất an. Khi bệnh hoặc đau nhức và khi sắp chết, cách thở của mình cũng thay đổi. Tâm khó nắm bắt, vì nó không có hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, và sự xúc chạm. Khi tâm ý của mình bàng bạc suy nghĩ miên man, mình cũng không ý thức và tự chủ được. Trong khi đó mình có thể tiếp xúc được với hơi thở với tất cả sáu giác quan của mình. Khi trời lạnh, mình thở ra và có thể thấy được hơi thở. Mình nghe được hơi thở. Mình ngửi được hơi thở không? Hy vọng không nhiều lắm! Nhưng mà cái gì cũng có mùi hương của nó. Mình cảm được hơi thở vào ra và cảm được nhiệt độ của nó. Khi nhìn vào cách mình đang thở, mình có thể biết được trạng thái của tâm mình. Có thể người khác nghĩ mình đang có bình an, hoặc chính mình cho rằng mình đang có bình an, nhưng nếu mình nhìn vào hơi thở và thấy nó đang dồn dập, hổn hển, thì mình phải biết cái tâm của chính mình qua hơi thở. Dùng hơi thở để nhận diện tâm. Dùng hơi thở để điều phục tâm. Tâm của mình đang rong ruổi hoặc buồn khổ, lo lắng, nếu mình bảo tâm dừng lại, đừng lo lắng nữa, thì nó càng suy nghĩ rối lên. Mình nằm xuống nhưng cứ thao thức mãi, một tiếng đồng hồ sau mới sực nhớ mình nằm xuống để ngủ mà! Rất nhiều khi chúng ta nằm xuống để…nghĩ ngợi chứ không phải để nghỉ ngơi. Tâm luôn luôn cần đối tượng. Những khái niệm, tư duy, lo lắng là những cái do chính tâm tạo tác rồi lại theo đuổi, như con chó chạy vòng tròn theo cái đuôi của nó. Nó tạo ra rồi chạy theo nó vòng vòng. Khổ đau làm cho mình lênh đênh chìm nổi cả cuộc đời, nhưng điều kỳ lạ là tại sao mình không sinh tâm nhàm chán nó? Mình cứ ôm nó khư khư như ôm một người tình tuyệt vời nhất? Có những đối tượng làm tâm cứ luẩn quẩn, vung vãi thêm khổ đau. Nhưng cũng có những đối tượng như hơi thở, bước chân, nụ hoa, có công năng đem tâm về với sự sống đang thực sự diễn bày, và tâm có thể yên lại.

 

Con người của xã hội văn minh tạo ra nhiều đối tượng căng thẳng cho chính mình. Ví dụ như khi điện thoại reng, chúng ta thường giật mình, nín thở, nhịp tim tăng lên đến hơn 90, 100 nhịp trong một phút, và các cơ co rúm lại (tense up). Đó là phản ứng của cơ thể trong những trường hợp căng thẳng (fight-flight-freeze response). Con người của thời đồ đá sống giữa thú rừng, nên phản ứng này giúp cho họ có thể sẵn sàng đánh lại, bỏ chạy, hoặc giả chết khi mạng sống của họ bị đe doạ. Chúng ta thời nay đâu có phải đối diện với những hiểm nguy đó, vậy mà phản ứng căng thẳng này lại xảy ra mấy trăm lần thường xuyên hơn. Nhận diện được giây phút mình nín thở, tim đập mạnh và các cơ co cứng như vậy, chúng ta sẽ thấy được mỗi khi điện thoại reng, thân tâm mình phải đi qua một trạng thái rất căng thẳng. Chúng ta đi qua trạng thái này bao nhiêu lần một ngày, bao nhiêu lần một tuần, và bao nhiêu lần trong đời chúng ta? Mỗi lần như vậy, các tuyến nội tiết thả vào trong máu một số lượng nhỏ của những hoá chất gọi là “stress hormones” gây ảnh hưởng đến não bộ, tim, phổi, và các cơ, làm cho mình sẵn sàng đánh lại, hoặc chạy, hoặc cứng ngắc người lại. Sự căng thẳng đó dồn chứa trong thân tâm mình. Lâu ngày nó sẽ đưa đến những triệu chứng như đau đầu, đau lưng kinh niên, hệ tiêu hoá bị bất thường, rồi những bệnh ung thư, những bệnh tâm thần như bệnh lo âu, bệnh trầm cảm, dễ nổi giận, dễ cau có, chán nản với cuộc đời… Y học cho biết rằng hơn 90% của các bệnh thân và tâm là kết quả của cách sống của mình. Những bệnh di truyền có đó, nhưng chúng chỉ là thiểu số. Ngay cả những bệnh di truyền cũng cần môi trường căng thẳng tưới tẩm để chúng biểu hiện. Yếu tố di truyền (nature) chỉ là một phần, và yếu tố môi trường (nurture) sẽ ảnh hưởng sự biểu hiện hay không biểu hiện của căn bệnh. Người biết tu, thực sự áp dụng những giáo lý mình học được, chỉ làm những chuyện như: “Tôi biết là hơi thở của tôi đang bình an hay dồn dập, cơ thể của tôi đang thoải mái hay đang co quắp. Tôi biết là trong giây phút này tôi đang giận hay không giận, lo hay không lo, ganh tị hay không ganh tị…” Những ý thức này rất đơn giản nhưng chính là nền tảng của hạnh phúc hay khổ đau của mình. Nếu mình không có mặt được cho cái gì đang xảy ra cho thân và tâm, không tiếp xúc được và không ý thức được về nó, thì nó sẽ làm chủ mình, dẫn dắt mình, khiến mình nghĩ, nói và làm những điều đưa đến sự đổ vỡ, bệnh hoạn như một khu vườn không được chăm sóc thì cỏ sẽ lan tràn và trở nên điêu tàn.

Con xin kết thúc buổi chia sẻ ngày hôm nay với một mẩu chuyện về Thầy. Một hôm con đi với một sư chị đem thức ăn qua Sơn Cốc để cúng dường Thầy. Sau bữa ăn, Thầy chẻ một trái táo ra làm những miếng nhỏ, rồi cầm lên một miếng táo và bắt đầu gọt vỏ thì nó rớt xuống dưới đất. Thầy cúi xuống, nhặt lên miếng táo, và để qua một bên. Thầy lấy một miếng táo khác còn trên dĩa, gọt và đưa cho sư chị của con, rồi Thầy gọt một miếng táo nữa và đưa cho con. Sau đó Thầy lấy miếng táo đã bị rớt, gọt đi phần bị dính đất và ăn một cách ngon lành. Con thấy rất rõ Thầy sống điều đó. Thầy tu học để đẽo gọt những cái bụi bặm, những cái không hay của chính mình để có thể cho các con của mình, xuất sĩ cũng như cư sĩ, miếng táo sạch, đẹp, và ngon. Là người lớn hay người nhỏ, chúng ta không cần phải toàn hảo. Nhưng nếu chúng ta chăm sóc được thân và tâm của chúng ta trong đời sống hàng ngày, thì chính chúng ta đang đẽo gọt những bụi bặm đã được trao truyền. Khi chưa biết tu tập thì mình tưới tẩm, làm cho nó lớn hơn và vung vãi chung quanh. Một khi thấy được hướng đi thì mình đầu tư vào sự gột rửa nó, để cái gì đẹp mình mới trao truyền, được lặp lại, được tiếp nối. Những gì không đẹp, không hay trong ý nghĩ, lời nói và hành động, mình gột rửa để nó không bị tiếp tục tiếp nối trong con, cháu, những người bạn của mình. Đây là thành tựu lớn của sự tu học.

 

 

Ngọn nến mỉm cười – phần I

(Trích từ tác phẩm “Áo Vách Núi” của sư cô Chân Đẳng Nghiêm)

Thắp sáng ngọn nến

Tôi vừa thắp lên một ngọn nến và ngồi im lặng trong vài phút để nhìn nó. Khi nào rảnh rỗi, các bạn cũng có thể làm như vậy để quan sát và học hỏi nhiều điều về một ngọn nến. Trước hết, khi vừa được thắp sáng, ngọn lửa ở đầu bấc bùng cháy rất mạnh và chúng ta thấy cây nến có một ngọn lửa lớn. Nhưng chỉ sau đó vài giây, ngọn lửa nhỏ lại và trông yếu hơn, không còn sáng rực như lúc đầu. Nhưng rồi sau một thời gian ngắn, khi sáp bắt đầu tan chảy, ngọn lửa lại dần dần cháy mạnh hơn, cao hơn. Tuy nhiên, đôi khi vì sáp của nến không kịp tan nên ngọn lửa cứ nhỏ dần, nhỏ dần như sắp tắt. Trong trường hợp này tôi thường đốt một cây nhang để lửa từ cây nhang làm chảy sáp và khi ngọn lửa của nến cháy mạnh hơn, nó có thể tự nó làm tan chảy sáp để tiếp tục duy trì ngọn nến.

Sự tu tập của chúng ta cũng có thể xảy ra tương tự như vậy. Khi chúng ta mới bắt đầu thực tập – cũng như khi bắt đầu yêu – ngọn lửa trong tâm tỏa sáng rực rỡ và mạnh mẽ, nhưng như bạn thừa biết, theo thời gian nó sẽ yếu dần và tắt lịm. Nếu không có sáp, hoặc sáp không tan kịp, không có chất liệu nuôi dưỡng dây bấc thì tình yêu đó, sự trân quý và niềm đam mê đó sẽ chết. Vậy làm sao để ngọn lửa của thuở ban đầu tiếp tục cháy mãi? Chúng ta cần nhớ rằng tuy đã có sáp nhưng phải có thời gian để sáp tan chảy và nuôi ngọn lửa.

Nhiều người trong chúng ta vẫn thường nói: “Tôi đã gặp Sư Ông 20 năm trước đây.” Nhưng dù đã thực tập 15 năm, 10 năm hoặc 5 năm, chúng ta cũng cần phải ngồi xuống và tự hỏi mình: Trong 20 năm hoặc 5 năm vừa qua, tôi đã thật sự tu luyện thân tâm tôi được bao nhiêu? Ngọn lửa bùng cháy một thời gian rồi sau đó yếu dần và tắt ngúm? Hay là ngọn lửa vẫn được duy trì, vẫn còn cháy âm ỉ và đều đặn ngày này qua ngày khác? Hai trường hợp này khác nhau rất xa, phải không bạn?

Tôi thường nghe nhiều người nói: “Tôi biết rồi, nghe rồi về hơi thở chánh niệm, nhưng…” Khi nghe người ta nói như thế, chúng ta biết rằng họ đã không duy trì sự thực tập một cách bền bỉ sâu sắc. Họ đã không giữ cho ngọn lửa cháy liên tục và ổn định trong cuộc sống hàng ngày của họ. Họ chỉ cố gắng trong giây lát, hoặc trong một thời gian ngắn, sau đó họ bỏ dở, và theo đuổi những cái khác. Đôi khi họ tham dự một khóa tu, thắp sáng ngọn lửa lên một lần nữa nhưng rồi lại thờ ơ để cho nó tắt thêm một lần nữa. Vì vậy, chúng ta hãy thường xuyên nhìn lại chính mình và tự hỏi: “Tôi đã thực tập đến đâu? Có phải ngọn lửa vẫn còn, dây bấc vẫn còn và sáp đang tiếp tục tan chảy?”

Hôm nay tôi xin chia sẻ với các bạn về chủ đề “về nhà,” về với niềm vui chân thật và chốn thiêng liêng. Cách đây ba ngày, tại Tu viện Bích Nham vào một ngày tuyết rơi, tôi bị bệnh phải nằm trên giường và tôi đã làm bài thơ này:

Tôi Vẫn Còn Đây

Tôi đã viết bài thơ hay nhất

trong giấc ngủ của tôi

tôi biết điều đó vì tôi đã nói với mình như vậy.

Tôi đã viết bài hát hay nhất

trong giấc mơ của tôi

tôi cố gắng ghi nhớ, nhưng đã quên mất lời lúc tôi vừa thức dậy.

Vì thế, tôi cố gắng sống cuộc đời bình thường của tôi

qua từng hơi thở dễ chịu hoặc ì ạch,

dù niềm đau và nỗi lo đôi khi không dừng lại,

trong mỗi tiếp xúc như thể đó là lần cuối,

ôm trọn nước mắt lẫn tiếng cười…

Và tôi đã tiếp xúc

với tình yêu tuyệt vĩ

khi tôi tỉnh thức.

Bạn thấy gì? Nghe gì?

Hôm qua trong một buổi trao đổi, có một câu hỏi được nêu lên: “Trong khi tu học, quý thầy quý sư cô có nghe, có thấy được những gì khác thường không?” Bạn biết không, trong ngành tâm thần học, nếu bạn nghe một cái gì đó mà những người khác không nghe, đó là tiếng động ảo giác (auditory hallucination). Nếu bạn nhìn thấy một cái gì đó mà những người khác không thấy, cái đó gọi là hình ảnh ảo giác (visual hallucination). Vì vậy, trên thực tế, chúng ta không tu học để nhìn và nghe những điều không có thật và đã do những hiện tượng huyền bí, siêu nhiên hay thực tế ảo đem lại (transcendental, supranormal phenomena or virtual reality). Chúng ta không tìm kiếm những điều đó bởi vì chúng phát xuất từ tâm khi tâm bị kích thích quá độ. Não bộ tiết ra quá nhiều chất dẫn truyền thần kinh (neurotransmitters), làm cho chúng ta thấy và nghe những điều không có thực. Chúng ta không thực tập để có những trạng thái của tâm như vậy mà chúng ta thực tập để thấy sự vật như chúng đang là, để nghe những tiếng động hoặc lời nói như chúng đang là. Điều này trong kinh gọi là “Như thị” (suchness). Như thị có nghĩa là “đang là” (as it is).

Khi nhìn vào một cái gì đó, thông thường chúng ta không thấy được như nó đang là. Khi bạn nhìn vào một bình hoa, bạn thấy gì? Ngay lập tức bạn chỉ thấy một thể loại (category) của hoa, bạn thấy và biết đây là hoa hồng, hoặc đây là hoa lan. Nhưng bạn không thấy một bông hoa nào rõ ràng như nó đang là, đang như thị, đang biểu hiện nhiệm mầu trong giây phút bạn nhìn. Bởi vì não chúng ta đã được lập trình (programmed), đã ghi rõ để biết: Đây là hoa, đây là lá, đây là tiếng chuông, đây là vợ, đây là con, đây là bạn, đây là một danh mục, v.v… Nhưng tất cả các thứ đó chỉ là những thể loại, và khoa học gọi chúng là những thể loại bất biến (invariable categories). Bất biến bởi vì nó cố định, đã được lập trình trong não và chúng ta chỉ nhìn thấy những thể loại không có sự sống.

Trong khi thực tập, chúng ta phải biết cách làm sao cho tâm dừng lại và tĩnh lặng, để khi bạn mở mắt và nhìn một bông hoa hoặc một hiện tượng, bạn có thể thấy nó như đang là trong giây phút đó. Bạn không nhìn nó với tri giác hoặc kinh nghiệm của quá khứ vì trước đây bạn đã thấy nó, đã biết đến, đã từng trải nghiệm với nó. Khi nhìn một người đàn ông, bạn có thể liên tưởng đến một người hay một sự kiện nào đó trong quá khứ và bạn thầm nghĩ: “Người đàn ông này trông giống như người đàn ông đã đi qua trong đời tôi – người đã mang lại cho tôi nhiều hạnh phúc (hoặc khổ đau cùng cực).” Khi bạn nghe một câu nói nào đó, bạn nghe nó trong thời điểm này hay nghe từ quá khứ? Có phải câu nói bạn vừa nghe đã nhắc nhở bạn về một cái gì đó đẹp đẽ, khổ đau hoặc hạnh phúc?

Chúng ta đang tìm kiếm gì đây? Chúng ta muốn thấy những điều phi thường, muốn nghe những chuyện phi thường? Hay là chúng ta muốn trải nghiệm những tình huống phi thường? Bạn cho rằng những điều này đang ở đâu? Nếu bạn cứ tiếp tục tưởng tượng và tìm kiếm như vậy, trọn đời bạn cũng không thể tìm thấy chúng. Những điều mà bạn tìm kiếm, thực ra nó đang có sẵn ở đây, ngay trong cơ thể và xung quanh bạn. Nhưng bạn không nghe và thấy chúng bởi vì bạn không nghe và thấy như chúng đang là mà chỉ nghe và thấy cái thể loại bất biến của chúng. Đó là lý do tại sao chúng ta không tiếp xúc được với niềm vui và sự thiêng liêng của sự sống.

Trong cuộc sống hàng ngày, bạn có thể thực tập để trở về với hơi thở vì đó là một điều cơ bản nhưng mầu nhiệm. Bạn bắt đầu thở khi vừa mới lọt lòng mẹ; và nếu khi đó bạn không khóc, người y tá hoặc bác sĩ sẽ đánh vào mông để làm bạn khóc vì đó là hơi thở vào đầu tiên trong đời sống của bạn. Từ đó đến nay, bạn đã thở vào thở ra biết bao nhiêu lần nhưng không hề có ý thức và xem đó là chuyện bình thường, không cần để ý đến. Nhưng bạn có bao giờ bị bệnh và cảm thấy không còn hít thở được dễ dàng, ngực bạn quá nặng hoặc cổ họng quá hẹp và bạn đang thở nặng nề, đứt đoạn và bạn phải khó nhọc lắm mới hít được một ít không khí vào buồng phổi? Trong giây phút đó, bạn có còn tìm kiếm những gì phi thường và siêu phàm? Hay là bạn chỉ muốn được thở dễ dàng, bình thường như trước?

Nhưng chính những điều bình thường mà trước đây bạn không quan tâm vì xem chúng quá tầm thường sẽ trở thành những niềm vui sâu sắc và sự linh thiêng (sacredness) khi bạn biết ý thức, khi bạn có chánh niệm và lòng biết ơn. Nhiều hiện tượng có thể không mang một ý nghĩa nào cả khi bạn không có mặt ở đó. Nhưng khi bạn hết lòng để ý đến chúng, khi tâm của bạn tĩnh lặng, và bạn trải nghiệm điều gì đó như nó đang là, thì đây là tất cả những điều bạn đang mong ước và nó rất thiêng liêng. Nhưng bạn vẫn muốn một cái gì đó phi thường và nhanh chóng hơn, phải không? Tuy nhiên, với kinh nghiệm của tôi, chính trong những điều bình thường giản dị hàng ngày, từ thời điểm này đến thời điểm khác, từ hơi thở này qua hơi thở khác mà tôi tiếp xúc được với niềm vui, sự thiêng liêng và ý nghĩa của sự sống.

Mẹ đau trong tôi

Khi mẹ tôi chỉ vào khoảng 34 tuổi, mẹ tôi đã có rất nhiều cơn đau nhức trong cơ thể. Lúc đó, tôi chỉ mới 10 tuổi và em trai của tôi 7 tuổi. Mẹ bảo chúng tôi bước dẫm lên cơ thể mẹ để làm dịu những cơn đau nhức, và cả hai chị em chúng tôi đã bước lên thân mẹ trong khi bà đang nằm xuống. Chúng tôi thản nhiên “đi” trên lưng mẹ, vừa bước tới bước lui vừa nhún nhún vừa nói chuyện. Tôi không có ý thức gì về mẹ và cơn đau của mẹ đang ở ngay dưới chân tôi. Đôi khi tôi lại muốn đi cho nhanh, bước cho mạnh để mẹ hết đau và tôi có thể chạy ra sân chơi. Nhưng nhiều năm sau, khi tôi ở tuổi 30, tôi bắt đầu phát hiện nhiều sự đau nhức, ray rứt trong các khớp trong các cơ bắp, tôi cảm thấy rất bực bội, khó chịu.

Sau khi tôi xuất gia, một hôm tôi đang ngồi thiền thì một cái thấy đã đến với tôi. Cái “thấy” (tuệ giác, insight) có nghĩa là một cái nhìn có thể mang ánh sáng rọi vào một cái gì đó quá bình thường, một cái gì đó đã làm bạn tổn thương, những kinh nghiệm bạn đã đi qua trong nhiều năm nhưng bạn chỉ nhìn thấy chúng từ một góc độ, một khía cạnh bất di bất dịch. Nhưng với cái thấy từ một khoảng tĩnh lặng của tâm, bất chợt mọi thứ trở nên mới mẻ như bạn chưa hề trông thấy chúng, như bạn vừa tiếp xúc với chúng lần đầu. Cái thấy này có công năng cởi trói những thù hận, hiểu lầm, trách móc; đưa bạn đến một bước ngoặc mới trong cuộc đời, có nhiều tha thứ hơn, nhiều tự do hơn. Nhưng bạn phải thực tập có ý thức về những gì bạn đang làm, đang nói, đang tư duy, về những điều rất bình dị mỗi ngày để cái thấy sáng đó có thể bùng cháy.

Như vậy, ngày hôm đó khi đang ngồi một mình, tôi nhận ra tôi đang trải qua cơn đau của mẹ tôi, người mẹ đã qua đời khi tôi vừa 12 tuổi. Hơn 20 năm đã trôi qua, nhưng bây giờ tôi đang trải nghiệm chính những cơn đau của mẹ ngay trong các khớp xương, cơ bắp, và hình hài của tôi. Ngay trong giây phút đó, tôi cảm thấy một sự kết nối thân tình và sâu xa mà tôi chưa bao giờ cảm nhận với mẹ tôi, ngay cả khi mẹ còn sống. Mẹ tôi không bao giờ có thời gian để ở nhà với chúng tôi. Mẹ phải đi làm suốt ngày, năm này qua năm khác cho đến khi mẹ chết. Vì vậy, tôi không bao giờ được hưởng những giờ phút thương yêu gần gũi bên mẹ. Nhưng giờ đây, cơ thể của mẹ đang sống lại trong cơ thể tôi, nên tôi cảm thấy rất thân thương, rất gần, rất ấm áp; sự hiện hữu của mẹ đã trở thành linh thiêng đối với tôi. Tôi thấy sự đau đớn nhức mỏi trong tôi bỗng nhiên trở thành những cảm giác gần gũi, linh thiêng chứ không còn là một gánh nặng như trước. Sự đau đớn đã trở thành một nhịp cầu vô hình kết nối giữa mẹ và tôi, và tôi học hiểu và thương mẹ tôi ngay trong hình hài của chính mình. Bạn cũng sẽ tìm thấy niềm vui và sự  thiêng liêng từ trong những điều bình thường giản dị khi bạn có mặt thực sự trong thời điểm đó để tiếp xúc với chúng. Bạn cũng có thể tìm được niềm vui và sự linh thiêng trong những khổ đau mất mát mà bạn đi qua.

Nửa đời ve sầu

Có người đi qua khu rừng thấy ve sầu đang lăn lộn trên mặt đất khóc than thống thiết. Người qua đường hỏi:

     –Này chú ve sầu, tại sao chú khóc than thảm thiết như vậy?

Ve sầu vừa khóc vừa trả lời:

     –Vợ của tôi vừa mất! Trời ơi! Từ nay tôi phải sống một mình và không biết phải làm gì với nửa đời còn lại của tôi!

Người khách qua đường nghe thế rất thông cảm với nỗi khổ của ve sầu nhưng đồng thời anh ta cũng buồn cười vì anh biết đời sống của một con ve sầu chỉ dài 24 giờ đồng hồ, và nửa đời còn lại là khoảng 12 tiếng thôi.

Trở về với Đất Mẹ

Trước khi ngủ tôi thường theo dõi hơi thở, đặt bàn tay trái lên chỗ trái tim, tay phải lên vùng lá gan và tiếp tục thở để thân tâm được lắng dịu. Tôi nằm thở như thế và quán chiếu mình đang nằm trong vòng tay của Đất Mẹ. Thầy của chúng tôi có dạy rằng trái đất chính là Bồ Tát Thanh Lương Đại Địa chứ không phải chỉ là một vật thể hay một môi trường nơi chúng ta sinh sống, và trái đất là một vị Bồ Tát xinh đẹp nhất trong tất cả các vị Bồ Tát. Mỗi khi nằm xuống, chúng ta có thể quán tưởng là chúng ta đang nằm trong vòng tay chở che của Bồ Tát Thanh lương Đại địa. Chúng ta có thể buông xuống tất cả những đau nhức, mệt mỏi, băn khoăn, trắc trở của thân tâm để Đất Mẹ ôm ấp cho chúng ta, và chúng ta sẽ nhẹ nhàng đi vào giấc ngủ. Trong những giấc ngủ như vậy chúng ta có được sự nghỉ ngơi và trị liệu. Có những khi nằm quán tưởng như vậy thì hình ảnh con ve sầu hiện lên và tôi thấy tôi là con ve sầu màu nâu bé tí chỉ còn 12 tiếng để sống mà cứ sầu khổ lo lắng không biết ngày mai sẽ ra sao, ăn gì, mặc gì, vui hay buồn, sẽ sống với ai, nói chuyện với ai… tôi nhoẻn miệng cười với chính mình trong màn đêm! Khi tôi biết nhìn lại và cảm nhận được thân phận mình nhỏ nhoi như ve sầu nằm trong rừng sâu, tôi thấy mình không có gì quan trọng lắm, rất nhỏ bé so với đất trời cao rộng kia. Nếu con người chúng ta sớm ý thức được rằng mình nhỏ bé và cuộc đời ngắn ngủi, chúng ta sẽ thức tỉnh, bớt khóc than và học sống với cuộc đời còn lại cho có ý nghĩa. Đời sống loài ve sầu vỏn vẹn một ngày, đời người chúng ta được bao nhiêu năm? – nhiều lắm là 100 năm. Nhưng nếu đem so sánh với đời sống của các cây tùng hoặc các cổ thụ sequoia hai hoặc ba ngàn năm, mặt trăng, mặt trời hoặc các vì sao; thì 100 năm chỉ là một chớp mắt, và chúng ta bé nhỏ mong manh hơn cả con ve sầu. Vậy chúng ta thật sự phải làm gì để sống cho có đủ ý nghĩa trong khoảng thời gian ngắn ngủi này?

Hơi thở là cảm xúc của tâm

Kinh Tứ Niệm Xứ dạy về bốn lãnh vực quán niệm là thân, thọ, tâm và đối tượng của tâm. Tôi xin nói về lãnh vực đầu tiên là lãnh vực của thân mà Bụt dạy rất cặn kẽ trong kinh Thân Hành Niệm. Chữ Niệm 念 (Hán-Việt) gồm hai bộ. Ở trên là bộ Kim 今 (nghĩa là bây giờ); dưới là bộ Tâm 心 (nghĩa là trái tim hay cái tâm của mình). Chánh niệm có nghĩa là cái tâm đang ở ngay bây giờ, ngay trong giây phút hiện tại: Now Mind. Chữ niệm còn có nghĩa là nhớ đến, nghĩ đến, và chánh niệm còn có nghĩa là cái tâm đang nhớ đến, nghĩ đến giây phút hiện tại, đến cái gì đang xảy ra trong hiện tại. Thân Hành Niệm có nghĩa là tâm mình đang nhớ nghĩ về cái thân hành này trong giây phút hiện tại. Danh từ “thân hành” (body formation) được sử dụng vì thân được cấu tạo bởi rất nhiều yếu tố. Tôi chỉ xin nói về một vài yếu tố để chúng ta cùng thực tập với nhau. Khi một người không còn thở, nói năng, tương tác (interact) với thế giới bên ngoài thì khi đó chúng ta không gọi là thân nữa, mà gọi là một cái xác (corpse), một tử thi (cadaver). Thân khi còn sống phải có sự trao đổi với môi trường bên trong và bên ngoài. Hơi thở là một phần của thân. Chúng ta ai cũng thở nhưng ít khi chúng ta ý thức rằng mình đang thở và nhiều người chưa từng để ý đến hơi thở. Chúng ta có thể thực tập để nâng cao ý thức về hơi thở mà chúng ta đang còn có:

Thở vào, tôi ý thức rằng tôi đang thở vào.

Thở ra, tôi ý thức rằng tôi đang thở ra.

Đây là hơi thở vào, đây là hơi thở ra.

Vào… Ra…

Khi dạy về thân, Bụt nói về hơi thở trong rất nhiều kinh. Khi chúng ta giận, chúng ta thở khác, khi chúng ta buồn, chúng ta thở khác. Tôi nhớ hồi còn sống, mẹ tôi hay nổi giận khi nghe tôi thở dài: “Con sẽ làm cái nhà này mạt, nếu con cứ thở dài hoài!” Khi chúng ta lo âu, chúng ta cũng thở khác hẳn. Như vậy hơi thở là tiếng nói của tâm, là cảm xúc của tâm. Chúng ta không thể trực tiếp thấy được tâm bằng mắt, không nghe được bằng tai, không ngửi được bằng mũi, không nếm được bằng miệng, không xúc chạm được bằng cái thân của mình. Nhưng tâm có thể thấy được qua những sự biểu lộ của nó trên thân; ví dụ ta biết một người đang giận khi ta thấy bộ mặt của họ đỏ lên và tay họ nắm cứng lại. Nếu có chánh niệm chúng ta cũng có thể thấy được mình đang giận. Cơn giận của mình cũng có thể nghe được qua cơ thể khi hơi thở bỗng trở nên hổn hển, nặng nề và dồn dập, và khi giọng nói bình thường của mình bỗng nhiên trở nên lớn tiếng và có những lời gay gắt thô bạo; đó là tâm của mình được biểu hiện qua thân. Hơi thở là một biểu hiện rất vi tế, chúng ta chỉ cần nghe một vật gì bất thình lình rơi xuống là chúng ta nín thở ngay trong giây phút đó; tim đập nhanh hơn và hơi thở cũng nhanh hơn, ngắn và dồn dập hơn. Như vậy hơi thở là một phản ứng về sinh lý, một biểu hiện sinh lý của tâm. Nếu chúng ta để ý tìm hiểu và làm bạn với hơi thở của mình, chúng ta có thể thấy được tâm của mình.

Trước tiên là chúng ta học nhận diện đơn thuần (simple recognition). Ví dụ bạn đang ngồi bình yên, có ai đó nói một điều gì, bỗng bạn thấy hơi thở của bạn ngưng nín lại, rồi trở nên dồn dập hơn. Tại sao vậy? Tại vì có một cảm thọ, một tư duy đang đi lên mà bạn chưa biết tại sao và nó là cái gì, nhưng bạn có ý thức là đang có một sự thay đổi trong cách bạn thở (breathing pattern). Thấy được như vậy là vì trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta có sự tập luyện để ý thức rõ hơn những cách thở khác nhau của chính mình và sự liên hệ của hơi thở với những tâm hành đang đi lên cùng lúc. Bất cứ lúc nào và ở đâu, chúng ta đều có thể thực tập lắng nghe hơi thở vào và hơi thở ra của mình và cảm nhận sự phình lên xẹp xuống của ngực và bụng. Chúng ta phải làm quen với nó, để biết khi bình thường thì mình thở như thế nào, và khi mình không thở như vậy nữa thì biết là có một cái gì đó không bình thường đang xảy ra, và trong cảm thọ, trong tư duy hoặc nhận thức của mình đang có sự thay đổi. Hơi thở là cảm xúc của tâm và nếu chúng ta thực tập hơi thở chánh niệm thì chúng ta sẽ thấy được tâm một cách rõ ràng hơn.

Ngôi nhà đích thực

Tôi có những giấc mơ mà chúng thường hay lặp lại (recurrent dreams). Những giấc mơ này có nhiều hình thái khác nhau nhưng cùng có một điểm chung. Tôi mơ thấy mình đang ở đâu đó mà không biết ở đâu, nhưng bất chợt nhớ ra là mình phải đi về nhà. Tôi thường mơ thấy tôi đang ở Việt Nam, đến giờ phải lên máy bay đi về Mỹ, nhưng biết sắp trễ máy bay nên tôi quýnh lên, vơ lấy đồ đạc, và sợ rằng mình sẽ kẹt lại ở Việt Nam. Khi tôi nhìn sâu vào các giấc mơ như vậy thì tôi thấy rằng tuổi thơ bất ổn của tôi đã khiến cho tôi luôn cảm thấy lạc loài và có khuynh hướng muốn tìm về một nơi mình có thể gọi là “nhà” của mình. Đôi khi chúng ta đã tu tập rất lâu, và trong cuộc sống hàng ngày chúng ta biết ngôi nhà của mình là bây giờ và ở đây, nhưng tàng thức của chúng ta phải cần một thời gian rất lâu, rất nhiều năm để biết cái ngôi nhà đích thực ở đâu. Người Mỹ có câu ngạn ngữ: “Home is where the heart is” (Tim ở đâu thì nhà ở đó). Nhưng nếu rủi chúng ta thương một người và tim mình ở ngoài kia thì không lẽ “nhà” của mình cũng ở ngoài kia hay sao? Hoặc khi chúng ta muốn đạt cho được một bằng cấp hay cái gì đó, trái tim mình chỉ nhắm vào đối tượng đó thì có phải cái nhà mình ở ngoài đó hay không? Hàng ngày trong khi thức, tôi tập quay về với hơi thở và thân thể, và tôi khám phá ra được một điều là ngôi nhà đích thực có thể tìm thấy ngay trong hơi thở và hình hài của chính mình. Điều này Bụt và Thầy đã giảng dạy nhiều lần, nhưng sự thực tập chuyên cần của chính tôi mới có thể giúp tôi chứng nghiệm được nó từ trong chiều sâu của tâm thức. Khi thở vào, chúng ta đem tâm của mình theo sát hơi thở vào và tâm hoàn toàn an trú trong hơi thở vào đó. Khi thở ra, chúng ta đem tâm của mình theo sát hơi thở ra và tâm của mình hoàn toàn an trú trong hơi thở ra đó. Như thế, chúng ta có thể tiếp xúc với ngôi nhà đích thực của mình, dù chỉ với một hơi thở vào hay một hơi thở ra. Chỉ trong một hơi thở thôi, nhưng tâm chúng ta có thể ngưng lại hoàn toàn mọi suy nghĩ và cảm thọ và do đó, toàn thân có thể trở nên thư giãn, nhẹ nhàng và tĩnh lặng. Hơi thở chỉ kéo dài một vài giây nhưng ảnh hưởng sâu rộng. Cũng chỉ trong một hơi thở, chúng ta có thể thoát ra khỏi khái niệm về cái “tôi” và cái “hình hài của tôi” cao gần 1 mét 7 và nặng mấy chục ki-lô này.

Sự thực tập chánh niệm trong khi thức đã thấm nhuần và ảnh hưởng vào giấc mơ và từ từ thay đổi cách hành xử của tôi. Trong một giấc mơ, tôi thấy mình đang lái xe rất nhanh trên một con đường đông đảo xe cộ, tôi không biết mình đang đi đâu, nhưng bỗng nhiên tôi có niềm tin vững chắc rằng nếu tôi cứ đi thẳng thì tôi sẽ về đến nhà. Trong một giấc mơ khác, tôi đang cố gắng bắt kịp với một nhóm sư anh, sư chị, sư em của tôi giữa đám đông xa lạ, thì đột nhiên tôi hỏi mình: “Tôi có thật sự cần đến đó hay không?” Tất cả sự lo âu bồn chồn trong tôi tức thì tan biến. Ngay cả khung cảnh náo nhiệt xô bồ quanh tôi cũng tức thì tan biến. Vận tốc của mọi hoạt động bên trong cũng như bên ngoài đều chậm lại, và tôi cảm thấy dễ chịu, thư giãn, không còn nhu yếu đi tìm gì nữa. Trong giấc mơ gần đây nhất, tôi thấy mình đến một làng mạc vắng vẻ, ít cây cỏ và đất có màu hồng cam, hơi nhấp nhô. Tôi nhảy phóc lên một chiếc xe đạp và chạy nhanh về phía trước. Bất thình lình tôi thắng xe lại, một nửa bánh xe trước của tôi đang chìa ra trong khoảng không và trước mặt tôi là một vực thẳm khổng lồ và tối ngòm. Tôi tiếp tục bóp thắng xe, bình tĩnh lùi xe cho đến khi cả tôi và xe đã rời xa miệng hố. Bà ngoại của tôi liền hiện ra cạnh bên tôi, mỉm cười, và tôi khoe với Ngoại rằng cái thắng rất tốt đã đưa con ra khỏi hiểm nguy. Khi thức dậy, tôi để cho hình ảnh của giấc mơ hiện lên trên màn tâm của tôi thật rõ rệt để khắc ghi nó vào tâm thức của tôi. Tôi thấy rằng trên đường tu của tôi, tôi không cần phải chứng đạt bất cứ điều gì. Tuy khuynh hướng tìm kiếm, nắm bắt và mong cầu vẫn còn trong tôi, tôi hiểu rằng chỉ trong sự dừng lại tôi mới thật sự về với ngôi nhà đích thực của mình. Năng lượng chánh niệm có công năng giúp tôi dừng lại trong lúc thức cũng như trong lúc ngủ.

Trong sự thực tập hàng ngày, lúc ban đầu chúng ta chỉ cần nhận diện đơn thuần các hơi thở; ý thức đây là hơi thở đang vào, đây là hơi thở đang ra. Trong giai đoạn tiếp theo chúng ta đi sâu hơn, là theo dõi hơi thở từ đầu cho đến cuối mỗi hơi thở. Ở cuối hơi thở vào chúng ta nhận thấy nó ngưng lại một lúc (a pause), và mình an trú trong khoảng không (space) đó. Khi thở ra, chúng ta cũng đem tâm theo sát hơi thở ra, là một với nó, ở cuối hơi thở ra, ở khoảng không ngưng lại, mình hoàn toàn thư giãn và buông thư trong đó. Khoảng không này tuy ngắn ngủi nhưng mênh mông và chúng ta có thể an trú trong đó, không tiếc nuối quá khứ, không sợ sệt tương lai, không nắm bắt hiện tại. Khoảng không bao la này là sự sống đang thực sự xảy ra, chứ không phải những tư duy về quá khứ hay lo lắng về tương lai; đó chính là ngôi nhà đích thực của chúng ta. Trong cái hình hài năm uẩn này còn có cái đến, cái đi, cái sinh, cái tử; nhưng khi chúng ta an trú trong một hơi thở, chúng ta tiếp xúc được với cái không đến, không đi.

Quán thân trong thân

Khoảng tháng 6 năm 2011, tôi bị một loài bọ chét cắn. Con bọ chét này sống trên loài nai (deer tick), gây một bệnh rất nguy hiểm và khó chữa gọi là neurological lyme disease. Tôi chỉ nghĩ một cách đơn giản rằng tôi bị mất sức sau chuyến đi hoằng pháp tại Đông Nam Á và tôi bị cảm cúm nặng. Tôi bị những cơn đau đầu như búa bổ, tôi cảm thấy mệt lả và ngủ rất nhiều.

Lúc đó đầu óc của tôi không tỉnh táo lắm. Tôi có nghĩ đến bệnh Lyme vài lần, nhưng bệnh này rất hiếm, tôi cũng không đủ năng lượng và sự sáng suốt để tìm hiểu thêm. Vì thế tôi đã đợi cả hai tháng trước khi được chẩn bệnh, vi khuẩn đã xâm nhập vào máu, vào các khớp và lên não. Loại vi khuẩn này (bacteria borrelia burgdorferi) tiết ra độc tố làm cái màng bên ngoài (myelin sheath) của các dây thần kinh bị sưng lên và rách đi, gây nên cảm giác tê tê, đau đớn thường xuyên, nó cũng làm cho sự hoạt động dẫn truyền tin tức của các dây thần kinh bị ngưng trệ và bất bình thường. Một khi vào não, loại vi khuẩn này ảnh hưởng đến ký ức ngắn hạn và dài hạn của người bệnh; ví dụ tôi muốn làm chuyện gì đó nhưng chỉ vài phút sau là tôi đã quên mất. Khi nói chuyện và cần nhớ lại một dữ kiện nào đó thì tôi không thể nào nhớ lại được vì trong đầu lúc đó trống trơn. Các chức năng não bộ khác cũng bị xáo trộn, ví dụ như khi nói chuyện, tôi dùng chữ sai, phát âm không chuẩn, nói ấp úng, nói cà lăm hoặc nói lịu. Tôi đánh vần sai cả những chữ rất thông thường, và tôi cảm thấy mình phải cố gắng lắm để có thể viết được một câu văn lưu loát. May mắn thay tôi đã phát hiện những dấu hiệu khác lạ này kịp thời, tự chỉnh lại mỗi từ, mỗi câu, mỗi tư duy với tất cả sự kiên nhẫn và cảm thương cho chính tôi. Nếu 12 năm nay tôi không thực tập theo dõi hơi thở và ý thức về thân tâm tôi thì tình trạng của tôi bây giờ chắc chắn đã khác hẳn, tôi không thể nào chia sẻ những kinh nghiệm này với quý vị ngày hôm nay.

Một cô thiền sinh và cũng là một bác sĩ tâm lý trị liệu kể cho tôi nghe rằng cô cũng bị bệnh Lyme, nhưng vì lúc đó bệnh này chưa được hiểu rõ, nên cô đã không được chẩn đúng bệnh gần cả tám năm sau. Đến khi biết bị bệnh Lyme thì não bộ của cô ta đã bị ảnh hưởng trầm trọng đến nỗi cô không thể hành nghề bác sĩ hay chăm sóc gia đình của cô đúng mức. Cô nói: “Tâm tôi luôn ở trong trạng thái hoang mang và tán loạn… Tôi muốn làm một cái gì đó nhưng tôi đã quên ngay sau đó, không biết phải làm cái gì. Đầu tôi như một cái hộp trống không; tôi cố nhớ nhưng không có một dấu tích nào để tôi bám víu vào và đi ngược lại để nhớ được.” Có nhiều người bị bệnh này có khi lái xe về đến nhà nhưng cứ ngồi hàng giờ trên xe vì không biết chắc đó có phải là nhà của họ hay không.

Tôi thấy vấn đề mất trí nhớ này không phải chỉ riêng cho những người mắc bệnh Lyme mà chúng ta phần đông không sớm thì muộn, ai cũng sẽ đến thời kỳ mất dần trí nhớ. Chúng ta đến độ tuổi 30 hoặc 40 là đã bắt đầu thấy dấu hiệu đó rồi; khi lên đến trên 50, 60, 70, chúng ta sẽ thấy rất nhiều triệu chứng quên lãng này. Nhìn vào căn bệnh của chính mình, tôi nghiệm ra một điều là nếu trong giây phút hiện tại, khi một sự kiện xảy ra và nếu tâm chúng ta không có mặt ở đó thì não bộ chúng ta không ghi nhận dữ kiện đó vào ký ức ngắn hạn. Như vậy, khi chúng ta muốn nhớ lại một dữ kiện, vào ký ức ngắn hạn đễ tìm nhưng trong ký ức này không có dữ kiện nào được lưu trữ thì làm sao chúng ta nhớ? Trái lại, nếu trong giây phút đó mà tâm trí chúng ta có mặt thật sự thì não bộ sẽ ghi nhận những dữ kiện đang xảy ra trong và ngoài thân vào ký ức ngắn hạn. Khi có chánh niệm, chúng ta biết chúng ta đang làm gì, đang có động tác nào; ví dụ tôi đặt cuốn sách lên mặt bàn này, tôi biết tôi đang nâng tay lên và đặt sách xuống, cuốn sách có màu đỏ, mặt bàn rất bóng, có ly nước trong cạnh bên, v.v… não bộ tôi đồng thời ghi nhận những dữ kiện này và đưa vào ký ức. Sau này nếu tôi muốn tìm lại cuốn sách, tuy tôi có thể không nhớ đó là cuốn sách nào và tôi đã đặt nó ở đâu, nhưng những dữ kiện được ghi nhận vào ký ức ngắn hạn sẽ dần dần hiện lên như những dấu tích giúp tôi đi ngược lại thời gian và không gian để truy tầm chính những hành động và tư duy của thân tâm tôi.

Cho nên, điều quan trọng trong sự thực tập hàng ngày là làm thế nào để đem tâm trở về với giây phút hiện tại. Vì khi tâm đã ở trong giây phút hiện tại thì chúng ta làm cái gì là chúng ta biết cái đó. Mỗi mỗi cử động của chúng ta như đi, đứng, nằm, ngồi, ăn, uống, làm cái này, làm cái kia đều được ý thức, ghi nhận và đưa vào ký ức. Nếu được như vậy, chúng ta sẽ không bị mất trí nhớ quá dễ dàng như người mắc bệnh Lyme, hoặc với thời gian những tế bào não chết dần hoặc sinh bệnh. Không phải đợi đến già trên 60, 70 hoặc 80 chúng ta mới mắc bệnh lãng (dementia) mà bệnh này đã bắt đầu trong chúng ta hồi còn ở tuổi mười mấy, 20 hay 30. Chúng ta thường không có ý thức về những gì mình đang làm, nhưng lúc chúng ta còn trẻ, não bộ còn mạnh, trí thông minh còn sáng nên chúng ta có thể bù đắp và che đậy sự quên lãng rất dễ dàng. Nhưng càng lớn tuổi, não bộ cũng như chiếc xe dùng lâu ngày đã cũ và các tế bào mất dần nên sự bù đắp đó không còn hiệu nghiệm, sự quên lãng biểu hiện rõ ràng hơn, khiến ta không thể biết hoặc nhớ mình vừa nói điều gì, vừa làm cái gì. Ví dụ như nếu ta không thường xuyên vặn chặt con vít lại (a screw), thì nó lỏng dần, và một lúc nào đó nó rớt ra mà ta không hề hay biết. Vì vậy sự theo dõi hơi thở đem tâm về với giây phút hiện tại, biết được mình đang làm gì và ghi nhận nó là những sự thực tập giúp ích rất nhiều cho trí nhớ chúng ta.

Tôi vừa mới chia sẻ về hơi thở và cử động của thân mà chúng ta có thể tập luyện để neo tâm vào thân của mình và để chúng ta có thể tiếp xúc với ngôi nhà đích thực đang có trong mỗi người chúng ta. Bụt còn dạy một phần khác về thân mà chúng ta có thể quán niệm, nhớ nghĩ và an trú, đó là các cơ quan của thân. Khi thực tập chúng ta khám phá được những bộ phận của thân trong đó các tâm hành thường biểu hiện. Chúng ta có thể tự hỏi mình: “Tôi mang nỗi buồn của tôi trong phần nào của cơ thể?” Câu trả lời là cái đó còn tùy ở mỗi cá nhân. Có người mang nỗi buồn trong tim; khi buồn họ thấy ngực rất nặng. Có người mang cảm xúc trong phổi và khi buồn giận họ cảm thấy khó thở, tức ngực. Nhiều người trong chúng ta mang những lo âu sợ hãi trong đầu và những lúc lo âu như vậy đầu sẽ đau nhức, mệt mỏi và kém sáng suốt. Có người mang những tổn thương về tinh thần hay vật chất đã xảy ra trước đây trong những bộ phận trong phần bụng (abdominal organs) như đường ruột và sẽ sinh ra bệnh khó tiêu, loét bao tử hay ung thư. Có người mang đau buồn trong bàng quang của mình hoặc trong tử cung, nhất là khi họ đã từng bị lạm dụng tình dục, bị đánh đập, hoặc đã sử dụng thân thể của chính mình một cách thô bạo. Hoặc có người mang sự căng thẳng trong da và có những triệu chứng dị ứng ngoài da, v.v…

Chúng ta phải nhận biết được chúng ta mang những thương tích và những cái đau của mình ở đâu khi thấy trong người đau nhức, mệt mỏi và không còn năng lượng. Nếu chúng ta thực tập ý thức về thân và thấy khi buồn chúng ta đau ở chỗ này, khi giận chúng ta đau ở chỗ kia, hoặc khi lo lắng chúng ta lại thấy khó chịu ở chỗ nọ, v.v… thì chúng ta sẽ tập dừng lại và chăm sóc chúng tốt hơn. Ví dụ chúng ta thường mang đôi dép với chân bị nghiêng một bên thì một thời gian sau đôi dép sẽ mòn hẳn xuống về bên đó; tuy những phần kia của đôi dép còn tốt nhưng vì phía này quá nghiêng nên phải vứt bỏ cả đôi dép. Thân thể chúng ta cũng vậy, nếu chúng ta mang những khổ đau và thương tích ở trong trái tim hay đường ruột, chúng ta phải có ý thức để thở với nó, ôm ấp và chữa lành nó kịp thời.

Hiện giờ tôi đang bị đau gan vì uống nhiều thuốc trụ sinh để trị bệnh Lyme. Ban đêm, khi đang ngủ, thỉnh thoảng tôi bị đánh thức dậy vì cơn đau đi qua như một cơn gió, và đôi khi nó xoáy lên rất mạnh. Ngay trong những giây phút đó, thay vì sợ hãi hay lo lắng, tôi để bàn tay lên chỗ đau, tôi thở và nói: “Tôi có mặt cho em đây, tôi có mặt cho em đây. Cho tôi xin lỗi vì đã không chăm sóc cho em tốt hơn. Tôi đang cố gắng hết lòng để chăm sóc em đây. Xin giúp tôi chăm sóc em tốt hơn.” Hình như lần nào cũng vậy khi cơn đau được nhận diện và ôm ấp, nó từ từ dịu xuống. Trong những giây phút đó tôi chăm sóc lá gan thật sự vì nếu tôi lo sợ nghĩa là cơ thể tôi sẽ tiết thêm chất hormone và những phản ứng căng thẳng sẽ làm cho gan tôi đau hơn. Trường hợp khi đau tim cũng vậy; sự sợ hãi và lo lắng chỉ làm cho tim đau nhói hơn. Vì thế sự bình an và sự có mặt của mình, cùng với hơi thở ý thức và tình thương mà chúng ta gởi đến chỗ đau luôn có khả năng ôm ấp, xoa dịu và cùng lúc chữa lành cho nó. Đây là một liều thuốc còn quan trọng hơn cả những liều thuốc mà bác sĩ có thể cho. Chúng ta uống thuốc chỉ là một phần nhỏ nhưng chính chánh niệm và lòng thương tưởng là linh dược mà chúng ta có thể tự cho mình trong mỗi phút giây.

Những đóa hoa xuân

Bụt cũng có dạy quán thân với phương pháp Cửu tưởng quán, nghĩa là nhìn vào một xác chết đi qua chín giai đoạn. Trong xã hội đương thời chúng ta không thể thấy xác chết ngoài bãi tha ma mà chỉ thấy xác chết đã được trang điểm với son phấn, nằm ngay ngắn trong quan tài ở nhà quàn. Nhưng trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể thực tập quán tưởng những gì đang xảy ra trên cơ thể chúng ta. Ví dụ khi nhìn vào gương mà thấy những đường nhăn nằm ngang giữa trán thì chắc mình là những người hay lo lắng. Nếu chân mày hay chau và có hai đường dọc xuống thì có thể mình là những người…khó tánh! Chúng ta muốn sự vật xảy ra như thế này như thế kia, nhưng nếu nó không xảy ra như mình mong muốn thì mình chau cặp lông mày lại. Thầy của chúng tôi hay cười, từ lúc tôi bắt đầu trở thành người “mới lớn tuổi,” tôi thường để ý đến những người có đuôi mắt dài. Người Mỹ họ gọi đó là “crow’s feet” (chân quạ) nhưng tôi thích gọi nó là “con mắt cười.” Khi mình hay cười, mình có những vết nhăn ở đuôi mắt trông rất hiền. Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta có thể nhìn vào gương để thấy những gì hiển lộ ra trên mặt và chúng ta nên làm quen và mỉm cười với cái đó. Khi còn trẻ chúng ta không bao giờ ý thức rằng những gì ta có đều rất đẹp, rất trẻ; để khi mình bắt đầu có vết nhăn thì mình lại sợ – sợ dữ lắm. Rồi đến khi có bệnh hoặc có những vết đồi mồi hay tàn nhang trên mặt, mình lại càng sợ hơn nữa – và ngay ở tuổi của tôi, tôi cũng đã bắt đầu thấy có nhiều dấu hiệu rồi. Thành thử khi trẻ đẹp chúng ta không biết trân quý gìn giữ để khi tuổi trẻ đi qua chúng ta lại sợ; nhiều khi chưa già đã sợ, một ngày 24 tiếng chỉ có sợ và sợ.

Nhưng nếu chúng ta có mặt với những gì xảy ra, chúng ta có thể nhìn nó và tự nhủ: “Ồ, những vết nhăn, đồi mồi và tàn nhang này là dấu ấn của thời gian; chúng khắc ghi những kỷ niệm của cuộc đời mình.” Và chúng ta tập sống đời mình cho đẹp, với đức tính chân thật, lương thiện và bao dung để khi những dấu ấn thời gian biểu hiện, chúng ta có thể mỉm cười chấp nhận chúng. Tôi thấy Thầy của tôi và nhiều Ôn, nhiều cô chú tuy đã lớn tuổi nhưng rất đẹp. Tôi rất ngưỡng mộ vì Thầy tôi và những vị này đã có sự tu học, có sự quay về, làm lành với chính mình; vậy nên những dấu ấn thời gian không phải là sự khắc nghiệt, sự sợ hãi hằn sâu lên khuôn mặt và thân thể mà là ấn tượng của biết bao nụ cười, sự tha thứ cảm thông. Nếu chúng ta sống được như vậy thì dù tuổi lớn bao nhiêu đi nữa chúng ta vẫn cũng rất đẹp và rất trẻ.

Trong thời của Bụt có một vị thần to lớn, cao cả năm trượng. Vị thần này đã giác ngộ được khổ đau và vì muốn vượt ra khỏi cõi khổ đau, Ngài đã đi suốt ngày đêm với tốc độ ánh sáng mặt trời và đi như vậy suốt một trăm năm. Nhưng cuối cùng vị thần đã ngã gục chết giữa đường trong cõi khổ đau. Một hôm, vị thần đến gặp Bụt và hỏi: “Bạch đức Thế Tôn, con đã từng đi với vận tốc ánh sáng, đi cả ngày lẫn đêm, không ăn, không uống nhưng con vẫn không ra khỏi cõi khổ đau! Có cách nào thoát ra được?” Bụt đáp: “Ông sẽ không thoát ra được dù ông có đi nhanh bao nhiêu đi nữa. Nhưng nếu ông quay về với hình hài năm trượng của ông, ông sẽ vượt thoát sinh tử, ra khỏi khổ đau.

Những giờ phút của ngày hôm nay sẽ trở thành quá khứ. Với hình hài này, nếu chúng ta thực tập có mặt, chăm sóc và thương yêu thì chúng ta có thể tạo nên một quá khứ đẹp trong mỗi phút giây. Dù sống 20 năm, 40 năm hay 70, 80 năm, cuộc đời của chúng ta luôn toả sáng trọn vẹn. Chỉ cần một hơi thở ý thức là có thể dừng lại sự đến đi.

“Thịt da rữa mòn xác thân tàn úa

Lòng vẫn vui như những đóa hoa xuân

Sông núi rộng ngại gì thân nhỏ bé

Xin trở về với trời đất bao la.”*

(*Nguyên văn của câu thơ cuối là “xin trả về cho trời đất bao la.” Thầy Giác Thanh, vị trụ trì đầu tiên của Tu viện Lộc Uyển, đã dùng bài thơ này trong một bài Pháp thoại vài tháng trước khi Thầy viên tịch).

*  *  *

Cơ hội của một nụ hoa

Sư cô Đẳng Nghiêm hiện đang tu tập tại Tu viện Mộc Lan, Mỹ. Trước khi xuất gia, sư cô đã tốt nghiệp Y khoa tại UC San Francisco, Mỹ. Dưới đây là bài chia sẻ được trích từ cuốn sách "Áo vách núi" – tuyển tập những hoa trái tu tập của sư cô trong 16 năm qua. Bài viết về một bé gái 13 tuổi bị cha mẹ “bắt” lên tu viện Lộc Uyển tham dự khóa tu của người trẻ, sau đó em về Làng.

 

Sư cô có nhớ trước khi sư cô đi Trung Quốc với Sư Ông và tăng đoàn, sư cô đã dặn con rằng: “Con ở nhà ráng giúp cô bé này giùm sư cô. Đây là social work (công tác xã hội) đó con”. Thú thật thì con cũng ngán lắm. Nhìn em, đôi chân mày mỏng như hai chiếc lá, mắt liếc sắc như gai của Nettles, miệng chu lên khi nói, đôi giày cao mấy tấc, áo quần bó sát người, con thầm nghĩ: “Ái dà, cô bé này không dễ đâu! Em có nhiều vấn đề lắm!”.

Nhưng chính em đã đến với con và hỏi: “Can I talk to you?” (Em có thể nói chuyện với sư cô được không?). Trong buổi nói chuyện đầu tiên, em kể cho con nghe về những xung đột giữa em và bố của em, về những người trong băng đảng mà em đã bắt đầu quan hệ từ lúc em 9 tuổi, về nếp sống tự do, không kỷ luật mà em đeo đuổi. Trong cái sành đời của em, con thấy sự ngây thơ, khờ dại. Trong cái thù hận của em đối với bố, con cảm được cái đau của một đứa trẻ từng bị thất vọng và bị phản bội. Trong cái bất cần của em, con hiểu rằng em cần tình thương, sự vỗ về hơn ai hết. Trong em lại cũng có một cái gì đó rất thu hút, khiến tất cả mọi người từ già đến trẻ, từ quý sư cô đến quý thầy, đến các vị thiền sinh, ngay cả những vị thường ngày rất lặng lẽ, ai cũng đến với em, chơi với em, dạy em học tiếng Việt, tiếng Pháp, khuyên răn em. Con cũng ngạc nhiên khi nghe chính mình xung phong đến ngủ chung phòng với em mỗi tối, thay vì rút lui để được yên thân.

Từ giờ phút đó, cuộc phiêu lưu thám hiểm của chị em con bắt đầu. Đêm đầu tiên con vào phòng ở với em, em nói thao thao bất tuyệt như những chú chim trong bụi tre ở Xóm Mới lúc về chiều. Con chỉ biết ngẩn người ra nghe. Khi chuông vang báo hiệu giờ Im lặng hùng tráng, con chỉ tay ra hiệu, và em ngừng lại đủ để nín thở để khi hồi chuông vừa dứt thì em tiếp tục nói. Thường thì con thực tập giờ Im lặng hùng tráng rất nghiêm chỉnh, nhưng em thèm được có người lắng nghe em nói nên con không nỡ bắt em im lặng. Đến 11 giờ khuya rồi mà em vẫn nói một cách hăng say. Con năn nỉ em mấy lần: “Thôi mình đi ngủ nha em. Sư cô cần thức dậy sớm”. Cuối cùng thì em chịu nằm xuống, nhưng cứ trăn qua trở lại. Con nảy ra ý kiến làm thiền buông thư để giúp em đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Thở vào em biết em thở vào. Thở ra em biết em thở ra. Em buông thư những cơ bắp trên trán, trên mặt của em. Em mỉm cười… Em đã có một ngày thật vui, gặp nhiều người tốt, ai cũng lắng nghe em, vui cười với em… Em nuôi dưỡng tình thương trong em, để hiểu và tha thứ cho bố, cho mẹ… Sau hai ba câu nói thì em đã thở đều và đi vào giấc ngủ, nhưng con tiếp tục ru em bằng những ý nghĩ tốt đẹp. Suốt đêm đèn để sáng vì em sợ bóng tối. Mỗi khi có tiếng động, em ngồi chồm dậy: “What’s that? Who’s that?” (Cái gì đó? Ai đó?). Con lại trấn an em: “It’s OK, sister, đó chỉ là con mèo, con chuột đi ăn đêm, không sao đâu em”. Trong lúc ngủ em đập đầu vào tường thình thịch, hoặc đá con ngang hông. Con dùng 4, 5 cái gối chèn sát tường để bảo vệ cái đầu của em, nhưng vẫn không hiệu nghiệm, nên sau vài đêm thì con lấy luôn một tấm nệm chặn giữa em và bức tường. Con thường thức dậy mỗi khi em nói lớn, có vẻ sợ hãi hoặc giận dữ trong giấc ngủ. Cũng có những khi con thức dậy, thấy em đang nhìn con chằm chằm. Em hỏi: “Do you always smile in your sleep?” (sư cô lúc nào cũng mỉm cười trong khi ngủ hay sao?). Một đêm con nằm mơ thấy mình khóc, thì nghe tiếng em vỗ về: “It’s OK, sister”. Sáng dậy, em hãnh diện lắm, vì chính em là người đã an ủi con. Có một đêm con rất mệt, sư cô Đoan Nghiêm biết được, bảo em: “Con làm thiền buông thư cho sư cô Đẳng Nghiêm đi. Tối nào sư cô cũng làm cho con, thì bây giờ con cũng làm để chăm sóc cho sư cô”. Em rất do dự, ngượng nghịu, nhưng rồi cuối cùng em cũng bắt đầu:

Thở dzô, tui biết tui thở dzô. Thở dza, tui biết tui thở dza.

Thở dzô, tui biết tui đang đội cái nón màu xanh.

Thở dza, tui biết tui đang mặc áo tràng màu xanh.

Thở dzô, I’m gonna be Miss America (tui sẽ trở thành hoa hậu của nước Mỹ).

Thở dza, I’m gonna win (tui sẽ đoạt giải hoa hậu).

Em nói với giọng Bắc pha với giọng Nam và tiếng trẻ con, nghe thật dễ thương. Con cũng ráng “thở dzô, thở dza,” không dám cười lên vì sợ em phật lòng. Có lẽ đây là bài tập “thiền hướng dẫn” độc đáo nhất con từng nghe. Em khoe rằng em đang tập đọc tiếng Việt với sư cô Hỷ Nghiêm nên thấy bức thư pháp nào của Sư Ông em cũng đọc. Nhân tiện hai chị em đang chải răng, con chỉ vào cái bảng gỗ nhỏ với dòng chữ: “Bây giờ và ở đây,” bảo em đọc. Em đọc một cách trịnh trọng: “Bể dzồi, ở đây.” Con bật cười. Em kiên nhẫn giải thích: “There was a mirror here, but it’s broken, so they put up this sign” (Chỗ này trước kia có cái gương, nhưng nó bể rồi, nên họ để cái bảng này để mình biết). Sư cô có thấy lý luận của con nít dễ thương chưa?

Nhìn bề ngoài chắc ai cũng nghĩ rằng em cứng đầu, nhưng thật ra em nghe lời và chịu khó lắm. Em đi ngồi thiền hầu như mỗi sáng và mỗi chiều. Con thức dậy sớm, chuẩn bị phần con xong rồi, thì đánh thức em dậy. Những ngày đầu, con rắc nước, xoa đầu, xoa mặt, dựng em ngồi dậy, xoa lưng, xoa chân để giúp em tỉnh dậy. Em năn nỉ để em ngủ thêm nhưng con không cho nên cuối cùng em cũng lồm cồm đứng dậy. Nhưng khi em nghe quý sư cô nói về hungry ghosts (cô hồn – ma đói) thì em rất sợ, và sáng đó con vừa đứng dậy để chuẩn bị cho phần con thì em cũng lật đật đi theo. Em hỏi con và những sư cô khác rất nhiều về ma đói. Rồi một đêm tự nhiên em nói với con: “I think I am also a hungry ghost, or I am going to become one” (Em nghĩ rằng em cũng là một con ma đói, hay là em sẽ trở thành một con ma đói). “I don’t want to become a hungry ghost” (em không muốn trở thành một con ma đói). Con nói: “Hầu như tất cả chúng ta ai cũng là những con ma đói, có người đói ít, có người đói nhiều. Bố của em cũng là một con ma đói. Em có thể tu tập để giúp cho bố của em.” Em quát lên:“Never!” (Không bao giờ!). Mặt em đanh lại. Con biết những khổ đau trong em về bố vẫn chưa nguôi. Con tiếp tục: “Nếu em không giúp bố bây giờ, thì khi bố chết, em cũng sẽ phải đối diện với bố trong em.” Em lắc đầu: “I don’t want him to haunt me!” (Em không muốn ông ta ám ảnh em). Con thấy tội nghiệp em quá! Con nói: “Vậy thì em nên giúp bố. Hòa giải với người sống dễ hơn với người chết nhiều”.

Trong tháng đầu tiên ở Làng Mai, sắc mặt và thái độ của em hoàn toàn thay đổi mỗi khi tiếng “Bố” được nhắc đến. Khi nghe tin bố muốn qua Làng, em phản đối mạnh mẽ: “I’ll leave if he gets here. I’ll kill myself. You’ll see the ugliest side of me” (Em sẽ rời Làng nếu ông ta đến đây. Em sẽ tự tử. Sư cô sẽ thấy cái bộ mặt xấu xa nhất của em). Con nói: “Cái xấu xa nhất của em, sư cô cũng thương, và tất cả quý sư cô cũng sẽ thương. Mọi người sẽ bảo vệ cho em.” “No! No!” Em hét lên. Rồi một tối em nói chuyện với mẹ trên điện thoại, và mẹ nói rằng bố mẹ sẽ gởi em vào một trường kỷ luật bên nước Mexico. Khi em mới đến Làng, em khăng khăng nói rằng thà đi qua trường đó, hoặc ở với người bảo trợ, hoặc vào tù dành cho những người trẻ phạm pháp, chứ nhất định không chịu về ở với bố nữa. Nhưng những ngày ở Làng đã làm em thay đổi cái nhìn của em. Đêm đó khi con vào phòng, em ngồi trên giường, đầu gối co lên. Em cúi đầu lặng thinh, chỉ có nước mắt là không ngừng rơi. Nước mắt lăn xuống má em từng hạt lớn. Con chưa từng thấy em khóc như vậy. Con nhẹ nhàng leo lên giường ngồi sát bên em, thấm những giọt nước mắt với cuộn giấy toilet, hết xấp này đến xấp khác. Thỉnh thoảng con lại ấn giấy ngang mũi em để em hỉ mũi cho đỡ nghẹt. Con ôm em, chải tóc, em cũng không động đậy. Khi con mỏi chân, mỏi tay, chuyền em qua phía bên tay kia, em cũng không tự mình nhúc nhích. Con đặt em nằm xuống, em cũng vẫn lặng thinh. Chỉ có những giọt nước mắt cứ không ngừng rơi, em ngủ thiếp đi và sáng dậy, một giọt nước mắt vẫn còn đọng trên hàng mi của em.

Ở Làng em cũng đã học quay về với tổ tiên huyết thống của mình. Em nói em thấy ma trong phòng hai lần sau khi em thực tập thiền lạy. Em sợ lắm nhưng rồi em nghĩ có thể đó là bà nội của em. Con nói: “Nếu đó là bà nội của em thì không có gì phải sợ vì bà nội đã có sẵn trong mỗi tế bào của em. Sợ bà nội nghĩa là sợ chính mình sao? Chắc tổ tiên muốn em biết nhiều hơn về họ, có thể họ đang rất khổ, họ muốn em giúp họ được giải thoát qua sự tu tập và chuyển hoá của chính em.” Nghe vậy tuy vẫn còn sợ nhưng em không mất một buổi thiền lạy nào. Em cầu nguyện rằng nếu tổ tiên muốn dạy em điều gì thì đến với em qua những tuệ giác chứ xin đừng hiện ra làm em sợ lắm. Trong một buổi thiền lạy em đã nói: I’m sorry, ancestors, that I cannot help you liberate right now (con xin lỗi là con không giúp tổ tiên giải thoát được ngay bây giờ).

Ở Làng, em học nói lời ái ngữ. Thay vì nói: “I hate…” (em ghét), thì em nói: “It does not please me that…” (điều đó làm em không vui). Thay vì nói: “He pisses me off” (bố làm em nổi khùng) thì em nói: “He waters the seed of anger in me,” hoặc “He makes my seed of anger sprout into a tree” (bố làm cái hạt giống giận dữ của em nẩy mầm thành một cái cây). Con hỏi: “Còn cái hạt giống tỉnh thức của em có lớn hơn chưa?” Em cười tươi: “You make it sprout into a tree” (Quý sư cô đã làm hạt giống đó nẩy mầm thành cây rồi).

Em tập đi lên xuống cầu thang chậm và nhẹ hơn được phần nào. Thay vì vứt dép mỗi chiếc mỗi nơi, em xếp chúng lên kệ. Em tự động quét phòng và lau phòng. Quần áo thì em vẫn còn quăng bừa bãi trên giường, nhưng mỗi khi con xếp lại thì em ý thức được, và cảm ơn. Một hôm sư cô Đoan Nghiêm nói sẽ lên phòng thăm, em hốt hoảng nói: “Oh, no! Give us at least 10’ to clean up” (Ô, không, cho chúng con ít nhất 10 phút để dọn dẹp). Em chạy lên phòng, hai chị em xếp quần áo, bỏ vào bao ni lông những đồ không dùng, quăng rác, v.v… Em thì thật sự lo, con thì giả bộ lo. Hai chị em vừa làm vừa cười rất vui.

Khi con nghe tin bố em sẽ đến trong vòng hai ngày, con nói với em: “Sáng nay sư cô ngồi thiền, tự nhiên sư cô thấy bố em ở Xóm Mới, đang đứng ở chỗ rửa ly thì em từ từ đi đến. Em biết em đã làm gì không?” ‘‘What?’’ (làm gì?) Em hỏi với mắt mở tròn. Con cười: “Em đến ôm bố, trong vòng tay bố em trở thành một đứa trẻ khoảng chừng 4, 5 tuổi.” “Never!” (không bao giờ!) Em nói, nhưng giọng em không lớn và nặng như những tuần em vừa về Làng. “Oh, no, he’s coming for real? I have to leave!” (bố tới thật sao? Em phải đi thôi!) “Em nên tập thiền ôm với quý sư cô đi,” con vừa nói với em, vừa cười, bụng mừng thầm rằng ít nhất bây giờ em biết cái tin bố sẽ đến thật sự.

Con xúi em: “Em tập thiền ôm với sư mẹ Đoan Nghiêm đi. Triple dare!” (thách em đó). Hôm đó em canh sư cô đang đứng làm gì đó, và em nhào vô ôm đại. Sư cô thì đứng cứng ngắc, nhưng hai chị em con thì cười dòn. Con nói: “Em đang thực tập thiền ôm với những sư cô không thích thiền ôm, để ngày mai em ôm bố.” Em lập tức thả sư cô ra.

Cuối cùng thì cũng đến ngày bố em đến Làng, với em trai và vợ của chú. Hôm đó em tự động mặc bộ đồ nâu mà sư cô Trúc Nghiêm đã cho em mượn. Em chạy trốn trong phòng, nhưng sư cô Đoan Nghiêm gọi em xuống. Em chào chú và cô, nhưng không chịu đến gần bố, chỉ nhìn xuống đất. Sư cô Đoan Nghiêm nói với con: “Em vẫn không chịu ôm bố.” Riêng con thì quá mừng là em chịu đứng cùng phòng với bố. Lúc ăn tối, con ngồi đối diện với bố của em, và em chịu ngồi kế bên con. Em nhất định không ăn, và không nhìn lên, nhưng cũng không bỏ đi. Con ra hiệu em rót nước cho bố và cô chú, em đứng lên đi lấy nước lặng lẽ đặt ly nước cạnh bố. Em lại nghe lời đi tìm sư cô Liễu Nghiêm để nhờ sư cô chuẩn bị phòng để bố và chú có thể cùng ở lại Xóm Mới đêm đó, thay vì đi qua Xóm Thượng. Phải nói là con không những mừng thầm, mà là rất ngạc nhiên bởi những hành động dễ thương này của em. Trái tim em lớn quá!

Sư cô có nhớ buổi họp đầu tiên mình có với em và bố của em không? Sư cô đã nói về đức tính liêm khiết của ông nội của em, là một luật sư nổi tiếng từ Nam ra Bắc, nhưng nghèo vì ông không bao giờ chịu nhận tiền hối lộ. Nhờ đức của ông nội, mà bố và em hưởng được những phước lành. Con đã hỏi em rất nhiều câu hỏi, để giúp em có cơ hội nói ra trước bố những tri giác của em về những gì đã xảy ra giữa bố em và em. Bố em được dặn chỉ nên ngồi lắng nghe, dù bố có đồng ý hay không đồng ý với tri giác của em và những sự kiện em thuật lại. Bố em thực tập giỏi lắm, ngồi im lặng suốt hơn hai tiếng, chỉ thỉnh thoảng đổi tư thế ngồi mà thôi. Sau đó, bố em hứa sẽ không bao giờ uống rượu và hút thuốc nữa. Bố em sẽ làm tất cả những gì em muốn. Con mừng lắm, nhưng em thuật với con rằng bố đã từng hứa như thế bao nhiêu năm rồi, với mẹ trước khi cưới, rồi với em. Em đã mất niềm tin ở bố. Lúc em 2, 3 tuổi bố đã cõng em đi khắp nơi. Hai bố con đã thân với nhau lắm. Nhưng từ khi hai bố con không thể nhìn nhau được nữa, đôi khi một chai bia chính là lý do hai người có thể ngồi chung một phòng mà không phải nói những lời hằn học với nhau. Ngay hôm sau bữa họp đó, bố em bỏ đi suốt ngày với một thiền sinh nam khác. Em khóc, nói chắc bố đi ăn thịt rồi, vì bố không ăn chay nổi đâu. Sư cô có nhớ sư cô qua để nói chuyện với ông ta, nhưng đợi mãi không thấy về? Đến lúc về thì mặt đỏ gay, hơi thở nồng nặc mùi rượu. Con đến giáp mặt bố em ngay tức khắc, và bố em chịu trận, chỉ năn nỉ đừng để sư cô Chân Không biết. Con nói đùa: “Bây giờ thì mình có thể hiểu Bé đã nhận được hạt giống thiếu kỷ luật từ ai!”  bố em cười bẽn lẽn.

Sư cô dạy bố em nên vào ngồi thiền với đại chúng chiều đó. Nghe tin, em không muốn vào thiền đường, nhưng con nhắc em rằng quý sư cô đã nhờ em đọc dùm lời nguyện của Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương bằng tiếng Anh trong giờ tụng kinh nên em không thể không vào. Em chỉ dùng dằng một tí rồi nhờ con phát âm lại chữ Kshitigarbha (Đức Bồ Tát Địa Tạng Vương) dùm em. Con khuyến khích em: “Em đang giúp phá tan điạ ngục trong em và bố em như Đức Bồ Tát đó.” Em mỉm cười. Con đã ngồi giữa em và bố của em. Hơi thở của bố em ngắn và mệt nhọc. Mùi rượu vẫn nồng nặc. Bố em không quen ngồi dưới đất nên chuyển lên ghế, rồi lại ngồi bệt xuống, rồi lại dùng ghế. Còn hơi thở em thật nhẹ và đều. Mỗi khi bố cử động thì em cũng xoay đầu nhìn. Lúc đi kinh hành thì bố em đi trước, rồi đến con, rồi đến em. Pháp Bụt mầu nhiệm quá! Tăng thân của mình thật sự là nơi nương tựa, để bố em và em – ngỡ rằng không nhìn được mặt nhau – lại được đi chung với nhau những bước chân thật chậm, thật lành!

Ngày hôm sau bố của em cũng lại đi suốt ngày, khi về phòng lăn ra ngủ ngay tức khắc. Cũng lại gần đến giờ ngồi thiền. Em chạy đến thiền đường tìm con, vừa nói vừa khóc: “He’s done it again! I am so stupid to believe him. He’s done it right in the monastery, twice now. That’s it. That’s it. Now I can do anything I want. I can drink, I can smoke, and he cannot say anything to me. He’s blown it!” (Ông ta lại làm những điều đó! Em ngu quá nên mới tin ông ta. Ông ta làm điều đó ngay trong tu viện hai lần rồi. Vậy là xong. Vậy là xong. Bây giờ em có thể làm bất cứ điều gì em muốn. Em có thể uống rượu, hút thuốc, ông ta không thể nói gì với em được. Ông ta làm hỏng hết rồi!) Con ôm em thật chặt: “Bố cần sự giúp đỡ của em. Sự thật là bố không thể tự thay đổi. Hãy tội nghiệp cho bố mà giúp bố đi em. Nếu không, bố sẽ trở thành một ông già nghiện ngập, cô đơn vì các con đều bỏ bố, và rồi em cũng sẽ trở thành như bố, nghiện ngập, cô đơn, và tràn đầy những oán thù.” Em vẫn khóc, tuy nhiên dần dần em trở nên bình tĩnh hơn, nhưng em nhất quyết không chịu đi ngồi thiền. Con nhìn em: “Đây mới là lúc em cần ngồi thiền nhất. Em gọi bà nội và tổ tiên, xin họ giúp cho em có đủ kiên nhẫn và tuệ giác để giúp cho em, cho bố, và cũng là cho tổ tiên của em. Đây là một cơ hội tốt để tất cả có thể được giải thoát.” Nghe chữ giải thoát thì em lặng thinh, và chịu đi ngồi thiền. Sau đó em đồng ý đi qua Đức thăm cô chú với bố em. Trước khi đi, em thức trắng đêm để viết thơ cho từng sư cô. Không rành tiếng Việt, em đã dùng từ điển trong máy vi tính để viết tiếng Việt cho sư cô Cơ Nghiêm.

Từ Đức, em đã gọi điện về Làng báo tin em đã tới nơi và giọng em thật vui. Bây giờ thì em đã về ở với bố mẹ và ba đứa em nhỏ. Em cũng gọi thăm quý sư cô, xin lỗi rằng em bận học để theo kịp chương trình, nên chưa có dịp viết thư cho quý sư cô. Em báo tin rằng bố thực tập giỏi, không hút thuốc trong nhà hay trước mặt em nữa. Bố em cũng đã E-mail qua Làng hai lần, hứa rằng sẽ dẫn em và cả nhà đến Tu viện Lộc Uyển để cùng tu tập chung với nhau.

Ngày tới, em già dặn như một cô hai mươi tuổi trét dày son phấn, áo quần bó sát người. Ngày đi, em tươi mát và xinh xắn như một đóa hoa mới nở. Sự chuyển hóa như một phép mầu. Cuộc hành trình chỉ mới bắt đầu. Em là điển hình của vô số người trẻ sinh ra và lớn lên ở Mỹ hoặc các nước Tây phương, không biết gì về gốc rễ huyết thống, thiếu sự truyền thông với cha mẹ, đi tìm một chỗ tựa trong băng đảng, bị lạm dụng, chỉ thấy lối ra trong những cuộc vui và trong cái chết.

Đóa hoa mai vừa hé nở, rất mong manh. Cầu mong cho gia đình và em tiếp tục nương tựa tăng thân để cùng nhau chuyển hóa thì mới mong đóa hoa có đủ không khí trong lành mà cho hoa trái. Đóa hoa sẽ héo đi nếu lại tiếp tục đưa em ra gió bão cuộc đời. Con cầu mong Bụt, tổ tiên tâm linh, huyết thống hộ trì cho em và gia đình của em, để mọi người được tiếp tục chuyển hóa, sống hạnh phúc với nhau, và giúp cho bao nhiêu gia đình khác cùng quay về nương tựa nơi đất lành của tâm.

(Hình ảnh trong bài chỉ mang tính chất minh họa)

Tịnh Độ hiện tiền

Đây là những điều tôi đã được nghe khi Thầy đến thăm Trung Tâm Điện Ảnh Hollywood tại thành phố Los Angeles, tiểu bang California để báo tin về dự án thực hiện cuốn phim Đường Xưa Mây Trắng. Lúc đó cùng với Thầy có một số các thầy và các sư cô của Đạo Tràng Lộc Uyển và Mai Thôn, một số cận sự nam, cận sự nữ, kỹ nghệ gia B.K. Modi, và nhiều nhà sản xuất và phát hành phim ảnh của Hollywood và Tokyo. Hiện diện cũng có các tài tử nổi tiếng mà nhiều người biết đến như Sharon Stone, Goddie Hawn, Victoria Principle, Lawrence Fishburne, Robert Dawny Junior… Lúc bấy giờ, một nữ diễn viên điện ảnh, trong trang phục lộng lẫy, từ chỗ ngồi đứng lên, tiến về phía Thầy, cung kính cúi đầu và xin phép được tham vấn Thầy:

‘‘Kính bạch Thầy, chúng tôi là những người trong thế giới điện ảnh, may mắn đã trở nên rất thành công và được ngưỡng mộ trong xã hội. Thế nhưng có rất nhiều người trong chúng tôi lại cảm thấy cô đơn, lo lắng, sợ hãi, tuyệt vọng, và cố tìm khuây khỏa trong các chất kích thích, tình dục, và sự tiêu thụ vật chất. Chúng tôi có nghe nói về một cõi gọi là Tịnh Độ, nơi đó người ta sống rất hạnh phúc và bình an. Xin Thầy rộng lòng nói cho chúng tôi nghe về cõi ấy. Làm sao mà những người dân ở xứ đó có thể sống hạnh phúc và bình an như thế, và bằng cách nào chúng tôi có thể đi về cõi ấy?’’

Thầy mỉm cười, mời cô ngồi xuống, và sau đó nhẹ nhàng trả lời:

‘‘Quả thật là có một cõi như thế, gọi là cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Cõi ấy không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian. Nói theo danh từ Phật học thì cõi ấy nằm trong phương ngoại và kiếp ngoại. Bất cứ ai có mang hộ chiếu của Niệm, Định, Tuệ đều có thể đi vào cõi ấy.

‘‘Này các bạn, cõi ấy vì sao tên là Tịnh Độ Hiện Tiền? Bởi vì dân chúng trong cõi ấy có cơ hội học hỏi và thực tập sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Nơi cõi ấy có những hàng thông reo vi vút, những loài hoa đủ màu đủ sắc, có ánh trăng sao vằng vặc và biết bao nhiêu mầu nhiệm khác. Những người sống trong cõi ấy có khả năng tiếp xúc và tận hưởng những mầu nhiệm đó mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày. Họ biết giữ tâm không bận rộn và biết tự thiết lập thân tâm trong giờ phút hiện tại. Không những những mầu nhiệm như trăng sao, thông reo và hoa nở kia thuộc về Tịnh Độ, mà chính bản thân họ cũng thuộc về Tịnh Độ. Tịnh Độ có mặt cho họ hai mươi bốn giờ một ngày, và họ tập sống có mặt cho Tịnh Độ cũng hai mươi bốn giờ một ngày. Vì lý do đó cho nên cõi ấy được gọi là Tịnh Độ Hiện Tiền.

‘‘Này nữa các bạn, mỗi buổi sáng những người dân của cõi ấy thức dậy với nụ cười, ý thức rằng họ đang có hai mươi bốn giờ tinh khôi để tập sống trọn vẹn và nuôi dưỡng lòng thương đối với mọi người và mọi loài. Họ đi những bước chân đầu ngày thật thảnh thơi, ý thức đến những loài sống dưới chân họ để đi trong tình thương và tâm nguyện bảo vệ sự sống. Dân chúng nước ấy có thói quen suốt ngày lấy vạt áo hứng các bông hoa chánh niệm với mỗi động tác của thân, khẩu, ý. Dù đang đi thiền, ngồi thiền hay nấu ăn, rửa dọn, làm vườn, họ đều có an lạc. Người dân trong cõi ấy không cần ra khỏi cõi của mình mà có thể cúng dường chư Bụt ở vô số các cõi khác với các bông hoa chánh niệm mà họ hái được bằng ánh mắt và trái tim tươi sáng của mình.

‘‘Này nữa các bạn, ở cõi ấy, dân chúng biết lắng nghe mọi tiếng chuông, từ tiếng chuông đại hồng, chuông gia trì, chuông sinh hoạt, cho đến chuông đồng hồ, chuông điện thoại, chuông nhà thờ, để trở về với hơi thở vào ra. Trong hơi thở ý thức, tâm họ lắng đọng, và họ có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống đang được diễn bày. Dân chúng cõi ấy ý thức rằng sự có mặt đích thực của họ là tặng phẩm cao quý nhất mà họ có thể hiến dâng cho những người họ thương tưởng và biết ơn. Suốt ngày họ biết thực tập nâng cao phẩm chất của sự có mặt tươi mát và thương yêu của họ, dù là trong lúc họ đi chợ, làm việc, dùng phòng vệ sinh, hoặc ăn cơm, rửa bát. Này các bạn, người dân cõi ấy biết cách có mặt cho mình và cho người khác bằng những phép thực tập như thế.

‘‘Này nữa các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thường có nhiều loại chim như họa mi, se sẻ, và hoàng anh. Những con chim ấy, sáu buổi mỗi ngày, thường hót lên những âm thanh hòa nhã: giọng hót của chúng cũng là những tiếng chuông chánh niệm. Dân chúng trong cõi đó mỗi khi nghe được những tiếng hót líu lo và trong sáng như thế đều biết nhiếp tâm trở về với hơi thở và tiếp xúc được với Bụt, Pháp và Tăng đang có mặt trong tự thân và chung quanh họ.

‘‘Các bạn, đừng tưởng rằng các loài chim ấy đã được sinh ra trên căn bản nghiệp báo. Tại sao? Tại vì khi nhân duyên đầy đủ thì chúng biểu hiện. Được sống an ninh và bay lượn tự do, các loài chim ấy cũng thuộc về Tịnh Độ, và tiếng hót của chúng là những phương tiện quyền xảo đưa các bạn trở về với giây phút hiện tại. Vì có đủ chánh niệm và chánh định cho nên khi nghe tiếng chim hót hay nghe tiếng gió lay động các hàng cây, dân chúng cõi ấy đồng thời cũng nghe được pháp âm diễn bày những giáo lý như tứ diệu đế, bát chánh đạo, ngũ căn, ngũ lực, hiện pháp lạc trú, tương tức, vô thường, vô ngã, không, vô tướng, vô tác, vân vân…

‘‘Các bạn đường tưởng rằng những người dân nước ấy sống hạnh phúc như thế nhưng không biết khổ đau là gì. Đừng nghĩ như thế. Nếu không biết khổ đau là gì thì làm sao họ có thể vun trồng hiểu biết và thương yêu để làm nền tảng cho chân hạnh phúc của họ? Những người ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền cũng đã từng sống trong thế giới tiền tài danh vọng, từng cạnh tranh, gây thương tổn và khổ đau cho bản thân và cho bao nhiêu người khác. Nhưng từ khi tiếp xúc được với pháp môn niệm định và tuệ, họ thay đổi được cách sống và tìm ra được Tịnh Độ Hiện Tiền. Họ biết sống giản dị hơn và tiêu thụ ít lại. Ý thức được rằng môi trường tác động đến ba nghiệp thân khẩu ý và dẫn đến hạnh phúc hoặc khổ đau cho họ, dân chúng cõi ấy cùng nhau xây dựng những đoàn thể sống trong chánh niệm (communities of mindful living) với sự thực tập cụ thể của năm giới. Giới định và tuệ giúp họ THẤY được những gì đang xảy ra và BIẾT được những gì họ nên làm và không nên làm. Vì vậy nên họ được phòng hộ và không còn bị lôi kéo vào ba nẻo đường đen tối là địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh. Lại nữa, những người sống trong cõi ấy biết nương vào bước chân và hơi thở chánh niệm của mình và của những người chung quanh để duy trì cõi Tịnh Độ. Họ cũng biết nhận ra sự thất niệm của mình và của những người chung quanh để thức tỉnh và trở về với Tịnh Độ. Này các bạn, cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có tình huynh đệ và sự thực tập cụ thể như thế.

‘‘Này các bạn, dân chúng của cõi Tịnh Độ Hiện Tiền sống tuơi mát như những bông hoa, mỗi người là một bông hoa trong vườn hoa nhân loại. Xung quanh họ có biết bao nhiêu là loài hoa, muôn màu muôn sắc, có những bông hoa nở trên mặt đất, những bông hoa nở trên mặt nước và những bông hoa nở trên mặt người. Nụ cười và ánh mắt của những người dân cõi Tịnh Độ Hiện Tiền đích thực là những bông hoa. Lại nữa, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có những hồ sen nở hoa đủ màu. Sen trắng chiếu hào quang trắng, sen hồng chiếu hào quang hồng, sen vàng chiếu hào quang vàng, sen xanh chiếu hào quang xanh, sen nào cũng có hương thơm tinh khiết và vi diệu. Nhưng sen nào cũng mọc từ bùn lầy. Này các bạn, ta không thể trồng sen trên cẩm thạch mà phải trồng chúng trong bùn đất. Cũng như thế, an lạc, hạnh phúc và thảnh thơi là những bông hoa được nuôi dưỡng bằng chất liệu hiểu biết, chấp nhận và thương yêu. Có hiểu biết khổ đau thì mới có thể chấp nhận và thương yêu. Nếu không có khổ đau, nếu không tiếp xúc được với khổ đau thì làm sao hiểu được khổ đau của bản thân và của kẻ khác để chấp nhận và thương yêu? Này các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, ta có thể thấy sự có mặt của khổ đau. Nhưng những khổ đau ấy là phương tiện để học hỏi mà không phải là những chướng ngại của hạnh phúc. Không có bùn thì không có sen. Dân chúng ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thấy rõ được tính tương tức giữa sen và bùn nên họ không bao giờ có ý hướng chạy trốn khổ đau. Họ biết ôm lấy nỗi khổ niềm đau để học hỏi và chuyển hóa, vì vậy họ có khả năng chấp nhận, hiểu biết, thương yêu, và tạo được hạnh phúc cho bản thân và cho kẻ khác. Hạnh phúc ấy cũng là những bông hoa ta nhìn thấy trong ánh mắt và nụ cười của họ. Này các bạn, ở cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, vì dân chúng biết nhận diện, ôm ấp và học hỏi từ khổ đau cho nên họ có thể cùng nhau chế tác rất nhiều an lạc để trang nghiêm cho cõi họ.

‘‘Này các bạn, trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, mọi người cũng đều biết xử dụng khổ đau một cách có liều lượng, vừa đủ để chế tác hiểu biết và thương yêu. Họ không còn sợ hãi khổ đau, cũng không để cho khổ đau làm tràn ngập và tê liệt thân tâm họ. Này các bạn, cõi Tịnh Độ Hiện Tiền mầu nhiệm như thế ấy.

‘‘Này nữa các bạn, dân chúng của cõi ấy ai cũng mang theo trong tự thân năng lượng của các vị Bụt và Bồ Tát. Họ biết sống với con người thật của họ. Họ không chối bỏ hình hài năm uẩn của họ. Trái lại, những người sống trong cõi ấy biết bước đi trên thật địa, biết phóng hào quang với chính mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi thế đi, thế đứng, thế nằm, và thế ngồi trong chánh niệm của họ. Chánh niệm là ánh sáng vô lượng có thể chiếu soi được mọi nẻo đi về của tâm mà không hề bị ngăn cách. Vì vậy cho nên nói rằng mọi người trong cõi ấy đều mang theo trong họ năng lượng của các vị Bụt và Bồ Tát.

‘‘Lại nữa, các bạn, thọ mạng của những người dân trong cõi ấy là thọ mạng vô lượng, vì mỗi giây phút của sự sống hàng ngày của họ thực sự bao hàm được cả ba thời: quá khứ, hiện tại, và tương lai. Vì vậy nên họ có khả năng sống sâu sắc và sự sống ấy được tiếp nối một cách đẹp đẽ.

‘‘Các bạn, số người dân cõi ấy nhiều vô lượng, không thể đếm được bằng toán học. Một người biết thức tỉnh và biết sống trong Tịnh Độ Hiện Tiền luôn luôn có tác động lớn đến gia đình, bạn bè, và xã hội của họ. Niềm tin và hạnh phúc của họ mở đường cho các thế hệ trẻ đi lên. Lại nữa, dân chúng trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền ngay khi mới bước vào được cõi ấy đã mang theo tất cả tổ tiên huyết thống và tâm linh của họ đi theo. Họ phát triển được những hạt giống của tài năng, hiểu biết và thương yêu của tổ tiên họ. Họ cũng chuyển hóa được những hạt giống của bạo động, hận thù và khổ đau của tổ tiên họ. Cõi Tịnh Độ Hiện Tiền được xây dựng bằng những công đức tuyệt vời như thế.

‘‘Này các bạn, trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền, cảnh tượng đẹp đẽ nhất là cảnh tượng các vị thiện tri thức tìm tới với nhau và sống với nhau như những cọng đồng, để nâng đỡ, dìu dắt và soi sáng cho nhau trong quá trình học tập chuyển hoá khổ đau và chế tác an lạc. Những cọng đồng ấy được gọi là những tăng thân. Ai mới sinh về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền đều thường tìm tới nương tựa vào những tăng thân này để nuôi lớn trí tuệ, từ bi và khả năng sống an lạc. Đẹp thay cảnh tượng của một đoàn người với đủ các màu da, chủng tộc, tôn giáo, và tuổi tác, cùng đi thiền, cùng ngồi nghe pháp thoại, cùng pháp đàm, và cùng chia sẻ những bữa ăn trong im lặng! Tình huynh đệ là chất liệu nuôi dưỡng họ. Tình huynh đệ cho họ hướng đi và rất nhiều hạnh phúc, khiến cho không có ai còn muốn chạy theo danh lợi, tiền tài, quyền hành và sắc dục nữa. Đến với các tăng thân đó ai cũng sẽ nhận diện được sự có mặt của rất nhiều các bậc thượng thiện nhân.

‘‘Này các bạn, các bậc thượng thiện nhân và bằng hữu của họ có mặt trong các tăng thân thường tổ chức các ngày quán niệm và các khoá tu tập để giúp cho những người vừa bước sang cõi của họ tập nuôi dưỡng được hạnh phúc và niềm tin, để những vị này đạt được quả vị bất thối chuyển mà không rời bỏ cõi Tịnh Độ Hiện Tiền để trở về cõi Ta Bà có nhiều bận rộn, bất an và khốn đốn. Công việc giáo hoá này đem lại cho các thành phần của tăng thân rất nhiều niềm vui và chất liệu nuôi dưỡng trong đời sống hàng ngày.’’

Đến đây, vị nữ minh tinh màn bạc hỏi:

‘‘Bạch Thầy, giữa cõi Tịnh Độ Hiện Tiền an vui và cõi Ta Bà bận rộn, bất an và khốn đốn kia có liên hệ nào không?’’

Thầy nói:

‘‘Hai cõi tuy khác nhau, nhưng tương tức với nhau một cách mầu nhiệm, cũng như hoa sen với bùn lầy. Nếu không có bùn lầy thì không có hoa sen. Khi tâm ta có chánh niệm, hiểu biết và tình thương, khi ta biết an trú trong giây phút hiện tại thì cõi Tịnh Độ Hiện Tiền được biểu hiện. Mỗi hơi thở và bước chân của ta đều diễn ra trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Còn nếu tâm ta bị thất niệm lôi kéo, bắt đầu rong ruỗi trong quá khứ hoặc tương lai, và bị sự bận rộn, bất an và khốn đốn chi phối thì ta đánh mất cõi Tịnh Độ Hiện Tiền và ta trở lại cõi Ta Bà. Vì vậy cho nên ở đâu và lúc nào nếu ta thực tập được bước chân và hơi thở có ý thức thì ta có thể trở về với cõi Tịnh Độ Hiện Tiền ngay trong thời điểm đó.

‘‘Này các bạn, trong giờ phút này tôi đang chia sẻ với các bạn về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền thì ở khắp nơi trên thế giới cũng có vô lượng vô số các bậc thiện tri thức khác đang làm công việc chia sẻ về cõi Tịnh Độ Hiện Tiền với các thân hữu của họ, hoặc trong giới thương gia, hoặc trong giới chính trị gia, hoặc trong giới giáo chức, hoặc trong giới khoa học gia, hoặc trong giới phụ huynh, hoặc trong giới nông dân, hoặc trong giới sinh viên học sinh, hoặc trong giới tù nhân…Ở đâu và bất cứ vào thời nào cũng có những vị thiện tri thức có kinh nghiệm sống trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền; các vị này thấy thân hữu của họ đang trôi lăn trong cõi thất niệm, bất an và khốn đốn, nên luôn luôn tìm ra những pháp môn mới mẻ và những phương tiện quyền xảo để khai thị cho bằng hữu của họ con đường đi đến cõi Tịnh Độ Hiện Tiền.

‘‘Này các bạn, những ai đã từng khổ đau, bất an và khốn đốn do nếp sống thất niệm đưa đến, khi có dịp nghe các vị thiện tri thức kia khai thị đều có cơ duyên được khai ngộ và làm phát khởi được niềm tin nơi cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Niềm tin này không phải là một niềm tin mù quáng mà là một niềm tin dựa trên những kinh nghiệm trong quá khứ và trong hiện tại của mình, nghĩa là trên sự khai ngộ của chính mình. Lại nữa, này các bạn, quá trình khai thị và vãng sinh vào cõi Tịnh Độ Hiện Tiền có thể xảy ra rất mau chóng trong giây phút hiện tại, mà không cần trải qua một khó khăn nào. Những người đang sống trong cõi Ta Bà hay trong các cõi khác không cần phải đợi đến khi mạng chung mới sinh qua cõi Tịnh Độ Hiện Tiền. Nếu biết luyện tập chánh niệm thì chỉ với một hơi thở đến bảy hơi thở, với một bước chân đến bảy bước chân là họ đã có thể sinh về cõi Tịnh Độ với hình hài năm uẩn của họ. Vì vậy chúng ta nên biết rằng tu tập để thừa hưởng cõi Tịnh Độ Hiện Tiền là một phép tu tập thích hợp cho mọi căn cơ, và dù ở trong bất cứ truyền thống nào, ai cũng có thể tu tập và thành đạt được một cách dễ dàng.’’

Thầy đã nói xong. Vị nữ minh tinh màn bạc, các thầy, các sư cô, các vị cư sĩ cũng như các tài tử, các nhà sản xuất và phát hành phim ảnh của Hollywood và Tokyo sau khi nghe Thầy nói ai cũng phát lòng hoan hỷ, tin tưởng, và quyết tâm thực tập để được đi vào và sống trong cõi Tịnh Độ Hiện Tiền.

Bản tiếng Anh: In the Pure Land of the Present Moment

(A discourse by the Venerable Thich Nhat Hanh, as told by his disciple Sister Dang Nghiem.)

This is what I heard. Thich Nhat Hanh came to Hollywood to announce that one of his books would be made into a movie. At that time, Thay had with him a number of monastic disciples—monks and nuns from Deer Park Monastery and Plum Village—a number of lay disciples, and many movie stars, directors, and producers from Hollywood and Tokyo.

A movie star in her exquisite outfit stood up, bowed her head gracefully, and asked a question:

“Dear Thay, we belong to the entertainment world. We are fortunate to have become very successful and popular in society. However, many of us feel lonely, worried, fearful, and desolate. We try to find relief in drugs, sex, and consumption. We have heard of a place called the Pure Land, where people live happily and peacefully. Dear Thay, please be kind and tell us about that land. How can the people in that land live so happily and peacefully, and how can we get there?”

Thay smiled, invited her to sit down, and answered gently. This is what he said:

There is indeed a place like that, called the Pure Land of the Present Moment. That land is not limited in space or time. Speaking in Buddhist terminology, that land is outside of space and time. Speaking in terminology of quantum physics, it is nonlocal and nontemporal. Anyone who carries the passport of mindfulness, concentration, and insight can enter that land.

Dear friends, why is that place called the Pure Land of the Present Moment? It is because the people who live there have the opportunity to practice living happily right in the present moment. In that land, there are pine trees singing and flowers rich in colors and forms. The moon and the stars shine brightly, and there are myriads of other wonders, which the people who live there have the capacity to be in touch with and enjoy at every moment of their daily lives. They know how to keep their minds free and calm and to establish their bodies and minds in the present moment.

Not only wonders such as the moon and the stars, the pine trees, and the flowers belong to the Pure Land—the people themselves belong to the Pure Land. The Pure Land is always available to them, and they practice to be present for the Pure Land twenty-four hours a day. That is why it is called the Pure Land of the Present Moment.

The people who live there gather flowers of mindfulness with every action of mind, body, and speech. Whether they are doing walking meditation, sitting meditation, cooking, washing, or gardening, they enjoy peace and happiness.

Furthermore, dear friends, each morning the people in that land wake up smiling, aware that they have twenty-four brand new hours to practice living fully and cultivating compassion for all living beings. They take their first steps in mindfulness and freedom, aware of the living creatures underneath their feet, so that they may walk with love and the commitment to protect life. The people who live there gather flowers of mindfulness with every action of mind, body, and speech. Whether they are doing walking meditation, sitting meditation, cooking, washing, or gardening, they enjoy peace and happiness. The people there do not need to travel by air out of their land, and yet they can make offerings to the buddhas of countless other lands with the flowers of mindfulness they collect.

In the Pure Land of the Present Moment, dear friends, the people know how to listen to many different kinds of bells—the great temple bell, the meditation bell, the church bell, the clock chimes, and the telephone rings—in order to return to their in-breath and out-breath. With mindful breathing, they become calm, and they can be in touch with the wonders of life available in the present moment.

The people in that land are aware that their true presence is the most valuable gift they can offer to those they love and appreciate. All day long, they know how to raise the quality of their fresh and loving presence, whether they are shopping, working, using the toilet, washing, or eating. Dear friends, the people in that land know how to be present for themselves and for others.

What is more, dear friends, you can see in the Pure Land of the Present Moment different species of birds, such as blue jays, hummingbirds, sparrows, and orioles. These birds sing with harmonious, sweet sounds throughout six periods of the day, and their songs are also bells of mindfulness. When the people of this land hear these joyous and clear sounds, they know to come back to their breathing and to practice the mindfulness of Buddha, dharma, and sangha that is present within themselves and all around them.

Dear friends, do not think that the birds in the Pure Land of the Present Moment have been born as the result of past negative actions. Why? Because when the conditions are sufficient, they manifest. Safe from harm and free to soar, these birds also belong to the Pure Land, and their songs are skillful means to bring the hearers back to the present moment. Because the people of this land have right mindfulness and right concentration, whenever they hear the birds singing or the light breeze fluttering the leaves of the trees, they also hear teachings on different dharma doors, such as the four noble truths, the noble eightfold path, the five faculties, the five powers, interbeing, impermanence, nonself, signlessness, and aimlessness.

Dear friends, do not think that the people of the Pure Land of the Present Moment do not know what suffering is about. If they did not know about suffering, how could they cultivate understanding and love in order to build the foundation of their true happiness? Many among the people of the Pure Land have had the experience of living in the world of money and fame, competing ruthlessly and causing suffering to themselves and many others. However, since they came in contact with the practice of mindfulness, concentration, and insight, they have been able to change their lifestyle and find the Pure Land of the Present Moment. They know how to live more simply and to consume less. Aware that their environment affects their mind, body, and speech, leading them to either happiness or suffering, the people of that land come together to build communities of mindful living based on the five mindfulness trainings. Precepts, concentration, and insight help the people see what is happening and know what they should do and should not do. Therefore, they are no longer pulled into the three lower realms of hells, hungry ghosts, and animals.

Furthermore, the people of that land know how to take refuge in mindful walking and mindful breathing in order to remain in the Pure Land. They also know how to recognize their own unmindfulness and the unmindfulness of others around them in order to wake themselves up and to come back to the Pure Land. Dear friends, the Pure Land of the Present Moment has brotherhood, sisterhood, and concrete practices like that.

Dear friends, the people of the Pure Land of the Present Moment live with freshness like that of flowers, and each person is a flower in the garden of humanity. Surrounding them are innumerable species of flowers, variant in colors and textures and forms. There are flowers blooming on the ground, flowers on the surface of the water, and flowers on the faces of the people. The refreshing smiles and the compassionate eyes of the people in the Pure Land of the Present Moment are truly flowers. What is more, in the Pure Land of the Present Moment, there are lakes full of colorful lotus flowers. The white lotuses give out a halo of white light, the pink lotuses a halo of pink light, the yellow lotuses a halo of yellow light, and the blue lotuses a halo of blue light. The fragrance of the lotuses is subtle, wonderful, sweet, and pure. Yet every lotus has sprung from mud.

They know how to embrace their pain and suffering in order to learn from them and to transform them. Consequently, with the capacity to accept, understand, and love, they can generate great happiness for themselves and others.

Dear friends, we cannot plant lotuses on marble; we have to plant them in mud. Similarly, peace, joy, happiness, and freedom are flowers cultivated by understanding, acceptance, and love. Only when there is understanding of suffering can there be acceptance and love. If there were no suffering, then how could we understand our own suffering and the suffering of others in order to accept and truly love them? Dear friends, in the Pure Land of the Present Moment, we can see the presence of suffering. However, suffering is the skillful means for us to learn; it is not an obstacle to our happiness. The people of the Pure Land of the Present Moment see clearly the inter-being of the lotus and the mud. Thus, they never have the inclination to run away from suffering. They know how to embrace their pain and suffering in order to learn from them and to transform them. Consequently, with the capacity to accept, understand, and love, they can generate great happiness for themselves and others. That great happiness is also seen as flowers reflected in their eyes and their smiles. Dear friends, in the Pure Land of the Present Moment, it is because the people know how to recognize, embrace, and learn from their suffering that together they generate abundant peace and happiness to adorn their land.

Dear friends, in the Pure Land of the Present Moment, people know how to use the appropriate dosage of suffering—just enough to cultivate their understanding and love. Every person living there knows how to recognize and embrace suffering in order to learn from it and transform and heal himself/herself. The people are no longer afraid of suffering. On the other hand, they do not allow suffering to overwhelm them or to paralyze their bodies and minds. Dear friends, that is how wonderful the Pure Land of the Present Moment is.

Furthermore, dear friends, every person of that land carries in him or herself the energy of the buddhas and bodhisattvas. They know how to live with their true humanity. They do not reject their five aggregates. On the contrary, the people there know how to walk on the land of reality and to radiate light with each step, each breath, and each position of walking, standing, sitting, and lying down in mindfulness. Mindfulness is the infinite light that illuminates all the comings and goings of the mind, and its radiance never comes to an end. That is why every person of that land is said to carry in him or her self the energy of the buddhas and bodhisattvas.

What is more, the life span of the people of that land is limitless, because every minute of their daily life truly encompasses the three times: past, present, and future. They have the capacity to live life deeply, and that life is continued beautifully. The number of the people of that land is also limitless. It is not possible to calculate them, so great is their number. People who know how to wake up and to live in the Pure Land of the Present Moment always have a great impact on their family, friends, and society. Their faith and happiness open the upward path for the young generations to follow. Furthermore, the instant they enter the Pure Land of the Present Moment, they carry along with them all their blood and spiritual ancestors. They are able to develop the seeds of talents, understanding, and love of their ancestors and to transform their seeds of violence, hatred, and suffering. The Pure Land of the Present Moment is made of such extraordinary merits and virtues as these.

Brotherhood and sisterhood are the nutrients nourishing them.

Dear friends, in the Pure Land of the Present Moment, the most beautiful image is that of the many noble practitioners coming together in communities. These communities are called sanghas. Those who are newly born into the Pure Land of the Present Moment come to take refuge in these sanghas, so that they may further cultivate their insights, compassion, and capacity to live happily and peacefully. How beautiful is the image of a throng of people of different races, religions, nationalities, and ages meditating together, listening to dharma talks together, having dharma discussions together, and enjoying meals in silence together. Brotherhood and sisterhood are the nutrients nourishing them. Brotherhood and sisterhood show them the path and give them such great happiness that they no longer wish to pursue fame, money, power, and sex. Coming to these sanghas, everyone will recognize the presence of many noble practitioners.

At this point, the movie actress asked:

“Respected Thay, is there a relationship between the Pure Land of the Present Moment, which has much peace and happiness, and the world of samsara, which is full of busyness, anxiety, and affliction?”

Thay said:

Although the two worlds are different from each other, they inter-are, just as the lotus and the mud do. When our minds have awareness, understanding, and compassion, and when we know how to dwell in the present moment, then the Pure Land of the Present Moment manifests. On the other hand, if our minds are pulled by forgetfulness, straying into the past or the future and becoming dispersed by busyness, anxiety, and affliction, then we are back in the samsaric world. Therefore, if we practice mindful breathing and mindful walking, we can return to the Pure Land of the Present Moment in that very space and time. Dear friends, the Pure Land of the Present Moment is portable. Wherever you go, there the Pure Land is.

The process of awakening to the path and being born in the Pure Land of the Present Moment may take place right in the present moment, without having to pass through any difficulties.

Dear friends, while I am sharing with you the Pure Land of the Present Moment, innumerable noble practitioners all over the world are also sharing the Pure Land of the Present Moment with their friends—business people, politicians, educators, scientists, parents, farmers, students, prisoners. At any point in time and space, there are always noble practitioners who have direct experience in living in the Pure Land of the Present Moment. These practitioners see that their friends are drowning in the world of forgetfulness, anxiety, and affliction. Thus, they find new dharma practices and skillful means to show their friends the path to the Pure Land of the Present Moment.

Dear friends, those who have felt worried, anxious, fearful, and desolate from living in forgetfulness all have the capacity to awaken and to give rise to confidence in the Pure Land of the Present Moment. This faith is not blind; it is based on the direct experience of their own past and present, which means that it is based on their own enlightenment. The process of awakening to the path and being born in the Pure Land of the Present Moment may take place right in the present moment, without having to pass through any difficulties. If a person knows to practice mindfulness, then with only one to seven mindful breaths, only with one to seven mindful steps, she can already be born in the Pure Land with her own five aggregates. Therefore, practicing to enjoy the Pure Land of the Present Moment is appropriate for people of all different capacities and backgrounds. Everyone can practice and succeed easily.

…Thay had finished speaking. The movie actress, as well as all the monks, nuns, lay friends, movie stars, directors, and producers from Hollywood and Tokyo, all had faith in what Thay had shared. They joyously accepted it and made the commitment to practice in order to enter the Pure Land of the Present Moment.

Chết đẹp, sống đẹp

Sư cô Đẳng Nghiêm hiện đang tu tập tại Tu viện Mộc Lan, Mỹ. Trước khi xuất gia, sư cô đã tốt nghiệp Y khoa tại UC San Francisco, Mỹ. Dưới đây là bài chia sẻ của sư cô, được trích từ Lá thư Làng Mai năm 2005.

Hình ảnh con bồ nông đang hấp hối vẫn còn in đậm trong tâm thức tôi. Nó nằm thật yên, mắt nhắm lại, đôi cánh rũ xuống. Hơi thở vào dần dần trở nên cạn hơn và lồng ngực không còn căng lên nhiều như trước nữa. Hơi thở ra có vẻ dồn dập và ít hòa điệu hơn. Con bồ nông không hề để ý đến các thầy và các sư cô đang bao quanh nó. Thỉnh thoảng khi ai đó vuốt đầu hoặc vuốt lưng nó mới chậm rãi mở mắt ra, xòe đôi cánh hoặc đứng lên xê dịch vài bước rồi lại nằm xuống thật yên. Thầy thường dạy chúng tôi: “Khi một con vật bị thương tích, nó không màng đến chuyện ăn uống hay săn đuổi nữa. Nó tìm  nơi thật kín đáo và  nằm yên để được nghỉ ngơi và có cơ hội trị liệu vết thương. Con người không biết làm ăn sao mà đánh mất đi cái khả năng tự trị liệu này! Hễ cảm thấy đau nhức hoặc khó chịu thì lập tức tìm thuốc để chận cái cảm giác đó ngay”.

Những năm tháng học ngành y, tôi đã chứng kiến rất nhiều cảnh tượng những người bệnh và những người đang hấp hối. Có người thì gào thét, chửi rủa cho đến khi kiệt sức hoặc chìm vào cơn mê vì y tá phải chích thêm morphine cho họ. Có người thì luôn thấp thỏm, mắt hướng ra dãy hành lang xem có ai đến thăm họ không. Có người thì buông xuôi trong tuyệt vọng và trầm cảm (depression). Chỉ thỉnh thoảng tôi mới gặp một người vẫn có thể nở được nụ cười dù thân thể vô cùng đau nhức. Tôi còn nhớ một bà cụ người Mỹ chín mươi mấy tuổi mà tôi đã gặp ở San Francisco General Hospital. Bà vừa đi qua một ca mổ tim, tiên lượng (prgnosis) về sức khỏe của bà cũng không khả quan gì lắm. Vậy mà bà vẫn vui cười kể cho tôi nghe bao nhiêu điều mà bà yêu thích và biết ơn. Đêm đó tôi ngồi bên giường và hát cho bà nghe. Bà nói: “Thật tuyệt vời! Bà sẽ nhớ mãi trong suốt cuộc đời còn lại của bà!” (It’s wonderful! I’ll remember it for the rest of my life!”). Tôi cười với bà và với ý nghĩ tôi đang có, rằng chắc cuộc đời còn lại của bà sẽ không dài lắm.

Khi tôi chưa đi tu, những cảnh tượng đau khổ của người bệnh làm tôi đau lòng, nhưng tôi không nghĩ rằng  họ có sự chọn lựa nào khác. Nó là như vậy đó! Tôi được huấn luyện làm giảm cơn đau của người bệnh bằng rất nhiều loại thuốc analgesics khác nhau. Từ lúc đi tu, tôi để ý thấy Thầy của chúng tôi và có những chị em chịu đựng cái đau của họ một cách lặng lẽ và dũng mãnh. Những vị đó vẫn đi ngồi thiền và tham dự mọi sinh hoạt của tăng thân, để đóng góp cho tăng thân sự có mặt và sự thực tập của họ. Họ để dành năng lượng của họ bằng cách làm giảm lại và yên lại mọi hành động của thân, khẩu và ý. Chỉ có khi nào họ không thể ra ngoài với chúng thì họ mới ở trong phòng, nằm thật yên, theo dõi hơi thở, buông thư để toàn thân để được nghỉ ngơi và trị liệu. Nhớ lại hình ảnh của những người quằn quại, mất tự chủ trong cơn đau và sự hoảng sợ của những người chung quanh, tôi chợt nhận ra rằng tâm thức của người bệnh và người chăm sóc ảnh hưởng rất nhiều qua sự biểu hiện và cách quản lý của căn bệnh. Thân của người tu cũng đi qua sinh, lão, bệnh, tử như tất cả mọi sinh linh khác. Nếu những người xuất gia hay tại gia, chúng ta có thể áp dụng sự tu tập của mình như thế nào để có được sự vô úy (sự không sợ hãi, non-fear) trong khi đi qua những cơn đau và những giây phút cuối cùng của đời mình?

Thầy dạy chúng ta phối hợp hơi thở chánh niệm với phương pháp nhận diện đơn thuần để chăm sóc mọi trạng thái của thân và tâm. Thở vào mà biết rằng mình đang thở vào thì đó là chánh niệm về hơi thở vào. Thở ra mà biết rằng mình đang thở ra thì đó là chánh niệm về hơi thở ra. Khi chào đời, mỗi chúng ta đều cất lên tiếng khóc và đó cũng là hơi thở vào đầu tiên của hình hài này. Khi ra đi, chúng ta thở hơi thở ra cuối cùng của hình hài này. Nếu chúng ta chết ở nhà thương Mỹ, bác sĩ sẽ viết xuống bản báo cáo tên của chúng ta, giờ và ngày mà chúng ta đã “Expired” (Thở ra). Chính giữa “hơi thở Vào của Sinh và hơi thở Ra của Tử” này là vô vàn hơi thở vào ra khác. Mấy ai trong chúng ta nhìn nhận và trân quý những hơi thở này? Chánh niệm về hơi thở giúp chúng ta tiếp xúc được với sự sống đang diễn biến trong chúng ta. Rồi một lúc nào đó, chúng ta bỗng nhận ra rằng sinh diệt đang xảy ra trong mỗi hơi thở vào, ra.

Nếu không có hơi thở vào thì hơi thở ra không thể xảy ra. Nếu không có hơi thở ra thì hơi thở vào cũng không thể nào có được. Cứ như thế, chúng ta chứng kiến hơi thở và hình hài này đi qua sinh tử trùng trùng điệp điệp. Hơi thở chánh niệm có công năng làm an tịnh tâm của chúng ta. Tâm như chiếc thuyền trôi bập bềnh trên vô vàn ngọn sóng của tư duy, tưởng tượng, tính toán, lo âu, sợ hãi. Thân như đất liền trơ trọi không thuyền cập bến. Hơi thở chánh niệm là dây neo, đem tâm về với thân. Dù tâm vẫn tiếp tục tạo nên từng đợt sóng nhưng hễ có dây neo thì tâm không bị mất hút trong biển khơi. Thở vào và có ý thức rằng cơ thể của mình đang có sự nhẹ nhàng, vững chãi thì đó là dùng hơi thở chánh niệm để nhận diện đơn thuần trạng thái của thân. Thở ra và phát giác rằng có một cái cảm thọ nằng nặng đang hiện diện trong lồng ngực của mình thì đó là dùng hơi thở chánh niệm để nhận diện đơn thuần trạng thái của tâm. Mình chỉ nhận diện nó là nó, vậy thôi, không cần phải khen hay chê nó; không cần phải bám theo hay xua đuổi nó. Đó gọi là nhận diện đơn thuần. Đây là sự thực tập có mặt thật sự cho chính mình, như người mẹ trong đêm thâu lặng yên nghe con thở đều đều, nếu con cựa quậy hay khóc lên, mẹ tức thì nhận biết.

Tôi đi học ở trường đời hai mươi mấy năm, và tôi có bằng cử nhân (Bachelor of Science) về tâm lý học, nhưng tôi đã không thật sự biết cách chăm sóc thân và tâm tôi. Tôi cứ nghĩ nếu tôi thành công trên con đường học vấn và nếu tôi tìm được một người yêu lý tưởng thì cuộc đời tôi sẽ hạnh phúc, những gì thiếu thốn, mất mát trong quá khứ sẽ được đền bồi. Bây giờ tôi nhận ra rằng người yêu thủy chung của tôi chính là hình hài này. Hình hài này có mặt cho tôi trước khi tôi có ý thức về nó. Hình hài này vui với cái vui của tâm tôi, và khổ với cái đảo lộn của tâm tôi. Nhiều đêm tôi đã thức trắng để học bài. Bao nhiêu lần tôi sầu khổ, ăn uống không điều độ, mang độc tố vào tự thân. Mắt tôi có khi trở nên đờ đẫn, bụng tôi phình chướng, tay chân tôi bủn rủn nhưng thân tôi vẫn kiên nhẫn chịu đựng, âm thầm trị liệu những thương tích từ sự bạc đãi vô ý thức của tôi. Tôi cứ nghĩ mặc quần áo đẹp, đi ăn nhà hàng, thoa son, giữ eo là chăm sóc cái thân này. Từ khi đi tu, tôi tập đi, tập đứng, tập nằm, tập ngồi với sự nhẹ nhàng, thong dong. Tôi tập lắng nghe thân tôi. Khi tôi ăn thức ăn tươi, ít dầu mỡ và gia vị thì bộ phận tiêu hóa làm việc một cách dễ dàng và yên lặng. Thức ăn như cá giả, thịt giả, bánh hộp thật ngon thì bộ phận tiêu hóa phải làm việc cực nhọc để tống độc tố ra ngoài.

Khi mới vào tu tôi có nhiều cảm xúc rất mạnh, và theo thói quen ngoài đời, tôi thường dùng thức ăn để khỏa lấp những khổ đau trong lòng. Có một lần, vì ăn nhiều bánh kẹo nên tôi bụng tôi phình lên thật to, tôi nhìn xuống nó và thấy vô cùng ngao ngán. Tôi dơ nắm tay lên, định thụi cho nó một cái, nhưng bỗng dưng nắm tay tôi buông ra, hai cánh tay tôi chéo ngang trước ngực, tôi ôm tôi vào lòng, nước mắt đầm đìa. Thân tôi có tội tình gì? Có những đêm tôi giật mình thức dậy, cảm nhận cái đau buốt thoáng qua trong khớp xương của bàn tay hoặc ở một nơi khác trong thân thể. Tôi thở vào với sự nhận diện này, tôi thở ra để ôm ấp cái đau của thân. Thân này đã phải chịu đựng biết bao nhiêu điều, nghĩ như vậy tôi càng trân quý hơn về sức khỏe và cái khả năng tự trị liệu của thân tâm. Tôi tập nhìn những gì thân tôi thải ra, mỗi lần tôi chải răng, rửa mặt, đi tắm, đi cầu, đi tiểu. Thân tôi mong manh và đầy sự bất tịnh, có gì để phô trương và nắm bắt? Một tình thương chân thật đối với hình hài này chớm nở trong tôi:

Thân này của Như Lai

Là chiếc thuyền vượt biển

Xin giữ gìn cho đời

Và nuôi lớn chánh trí.

Mỗi đêm, trước khi nằm xuống, tôi xoa cái đầu người tu của tôi và dâng lời cảm tạ Bụt, Thầy và bao loài đã ban cho tôi một ngày với mọi điều kiện để tu tập. Tôi có ý thức rằng những tập khí tiêu cực của tôi, của mẹ cha và tổ tiên trong tôi vẫn còn rất mạnh, tuy tôi cố gắng tu tập hết lòng, nhưng tôi vẫn còn gây nên những lỗi lầm và vụng về trong cuộc sống hàng ngày. Tôi thành tâm sám hối với Tam Bảo và mỉm cười chấp nhận những yếu kém của mình. Tôi nằm xuống, theo dõi hơi thở vào, ra và nguyện cầu rằng: xin giúp cho con thực tập để con có ý thức về hơi thở cuối cùng trước khi con đi vào giấc ngủ và ý thức được hơi thở cuối cùng trước khi con lìa cõi đời này. Tôi mỉm cười và cảm thấy thật bình an: Tôi đang tập chết cho thật đẹp mỗi ngày. Cái chết đẹp giúp cho tôi sống đẹp.