Kinh Tuổi Già

Lão Hao Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập cửu

老耗品法句經第十九

Kinh Tuổi Già

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 19

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Lão là già, Hao là hư hao, giảm bớt, Jara là cái già. Kinh này nhắc nhở ta nhớ hình hài là vô thường, mạng sống đang từ từ giảm bớt, đừng đi tìm cái lâu dài trong ấy, phải sớm tìm cách vượt khỏi sinh tử. Tuổi già như một cỗ xe đã cũ, như lá mùa thu, nếu không tu tập từ bây giờ đến khi khí lực không còn thì khó mà tu tập thành công.

 

Bài kệ 1

Hà hỉ hà tiếu                                  何  喜  何  笑

Mạng thường sí nhiên                    命  常  熾  然

Thâm tệ u minh                              深  弊  幽  冥

Như bất cầu đĩnh                           如  不  求  錠

 

Vui gì cười gì khi thế giới và mạng sống đang cứ tiếp tục bị bốc cháy? Trong cõi thâm sâu u tối sao không đi tìm sự an định?

 

Bài kệ 2

Kiến thân hình phạm                      見  身  形  範

Ỷ dĩ vi an                                     倚  以  為  安

Đa tưởng trí bệnh                          多  想  致  病

Khởi tri phi chân                            豈  知  非  真

 

Hãy nhìn lại hình hài này thì biết: ta cứ tưởng là có sự an ổn lâu dài trong ấy, nhưng thật ra nó có rất nhiều vấn đề. Há ta không biết rằng nó chỉ là một cái gì tạm bợ, không chắc thật?

 

Bài kệ 3

Lão tắc sắc suy                                老  則  色  衰

Bệnh vô quang trạch                         病  無  光  澤

Bì hoãn cơ súc                                 皮  緩  肌  縮

Tử mạng cận xúc                              死  命  近  促

 

Một khi cái già đã đến thì sắc diện suy thoái, cơ thể đầy dẫy bệnh tật, không còn mượt mà, da nhăn, bắp thịt rút lại, cái chết cận kề.

 

Bài kệ 4

Thân tử thần đồ                            身  死  神  徒

Như ngự khí xa                             如  御  棄  車

Nhục tiêu cốt tán                          肉  消  骨  散

Thân hà khả hỗ                             身  何  可  怙

 

Khi thân xác tan rã thì thần thức bỏ đi, như con ngựa bỏ chiếc xe. Thịt tiêu, xương tán, thân hình khô héo.

 

Bài kệ 5

Thân vi như thành                            身  為  如  城

Cốt cán nhục đồ                              骨  幹  肉  塗

Sanh chí lão tử                                生  至  老  死

Đãn tạng khuể mạn                          但  藏  恚  慢

 

Thân hình ta cũng như một bức thành, phần cốt cán là xương thịt cũng chỉ như bùn đất trét lên. Từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi cứ chất chứa những sân nhuế và kiêu mạn.

 

Bài kệ 6

Lão tắc hình biến                            老  則  形  變

Dụ như cố xa                                  喻  如  故  車

Pháp năng trừ khổ                          法  能  除  苦

Nghi dĩ lực học                        宜  以  仂  學

 

Tuổi già thì hình hài biến đổi, như một cỗ xe đã cũ. Chỉ có giáo pháp mới có khả năng diệt trừ khổ não, cho nên ta cần phải nỗ lực tu học.

 

Bài kệ 7

Nhân chi vô văn                              人  之  無  聞

Lão nhược đặc ngưu                      老  若  特  牛

Đãn trường cơ phì                         但  長  肌  肥

Vô hữu phước tuệ                          無  有  福  慧

 

Người mà không học hỏi thì đến khi lớn tuổi cũng như một con bò đực; cơ bắp thì lớn mà phước tuệ thì không.

 

Bài kệ 8

Sanh tử vô liêu                               生  死  無  聊

Vãng lai gian nan                            往  來  艱  難

Ý y tham thân                                意  猗  貪  身

Sanh khổ vô đoan                          生  苦  無  端

 

Vấn đề sinh tử không lo liệu thì sẽ phải gian nan qua lại trong cõi sinh tử. Tâm ý cứ tham trước vào hình hài thì cái khổ sinh tử không có cơ hội nào được chấm dứt.

 

Bài kệ 9

Tuệ dĩ kiến khổ                               慧  以  見  苦

Thị cố khí thân                               是  故  棄  身

Diệt ý đoạn hành                            滅  意  斷  行

Ái tận vô sanh                                愛  盡  無  生

 

Đạt được tuệ giác, thấy được bản chất khổ đau, mới buông bỏ được ý niệm hình hài này (là ta), thanh lọc được tâm ý, chuyển hóa được tâm hành mới chấm dứt được ái nhiễm và đạt tới vô sinh.

 

Bài kệ 10

Bất tu phạm hạnh                          不  修  梵  行

Hựu bất phú tài                             又  不  富  財

Lão như bạch lộ                           老  如  白  鷺

Thủ tý không trì                             守  伺  空  池

 

Không tu phạm hạnh, cũng không phải là kẻ giàu có, nhiều tiền nhiều của, thì đến khi già cũng như con hạc trắng chỉ biết bám lấy cái hồ không nước không cá.

 

Bài kệ 11

Ký bất thủ giới                               又  不  積  財

Hựu bất tích tài                             又  不  積  財

Lão luy khí kiệt                             老  羸  氣  竭

Tư cố hà đãi                                  思  故  何  逮

 

Đã không trì giới, lại không giàu có, thì khi tuổi già tới, khí lực khô kiệt, làm gì mà giữ được sự khương kiện?

 

Bài kệ 12

Lão như thu diệp                           老  如  秋  葉

Hà uế giám lục                             何  穢  鑑  錄

Mạng tật thoát chí                         命  疾  脫  至

Diệc dụng hậu hối                          亦  用  後  悔

 

Tuổi già cũng như là mùa Thu, làm sao giữ được sắc tươi xanh? Bệnh tật nhiều và giờ đi sắp tới, hối tiếc làm sao cho kịp?

 

Bài kệ 13

Mạng dục nhật dạ tận                      命  欲  日  夜  盡

Cập thời khả cần lực                       及  時  可  懃  力

Thế gian đế phi thường                    世  間  諦  非  常

Mạc hoặc đọa minh trung                 莫  惑  墮  冥  中

 

Đời sống theo đêm ngày tàn lụi, hãy nỗ lực kịp thời, phải thấy sự thực cuộc đời là vô thường, đừng để cái mê hoặc đưa mình vào trong cõi tối tăm.

 

Bài kệ 14

Đương học nhiên ý đăng                 當  學  燃  意  燈

Tự luyện cầu trí tuệ                       自  練  求  智  慧

Ly cấu vật nhiễm ô                          離  垢  勿  染  污

Chấp chúc quán đạo địa                執  燭  觀  道  地

 

Phải học cách thắp sáng ngọn đèn tâm lên, tự luyện tập để tìm cầu trí tuệ, lìa bỏ cấu uế, đừng để bị nhiễm ô. Hãy cầm đuốc lên mà soi lấy đường đi.

Kinh Bất Hại

Ai cũng sợ chết, không ai không sợ đau đớn do vũ khí gây ra. Hãy quán sát để thấy người ta ai cũng có cái sợ như mình, để ngừng lại sự bất hại và buông bỏ ý tưởng trừng phạt.

 

Đao Trượng Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập bát

刀杖品法句經第十八

Kinh Bất Hại

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 18

 

Phẩm này có 12 bài kệ. Đao trượng là vũ khí, là bạo lực, tiếng Pali là danda. Kinh này nói về sự thực tập bất bạo động, bất hại (ahimsa). Ba bài kệ đầu nói về tâm lý bất hại: Thấy được cái khổ của người khác thì mình có thể buông bỏ được ý muốn trừng phạt. Ba bài kệ kế tiếp nói về lời nói bất hại. Những bài sau nói về hành động bất hại. Các bài thứ 9 và 10 cho ta biết muốn nuôi dưỡng tâm từ bi và thực tập bất hại, thì phải có tâm tàm quý, biết hổ thẹn, phải có đức tin, phải hành trì giới luật, thiền tập và tinh cần. Bài 12 kết luận: Thực tập bất hại sẽ không có kẻ thù.

 

Bài kệ 1

Nhất thiết giai cụ tử                       一  切  皆  懼  死

Mạc bất úy trượng thống               莫  不  畏  杖  痛

Thứ kỷ khả vi thí                            恕  己  可  為  譬

Vật sát vật hành trượng                 勿  殺  勿  行  杖

 

Ai cũng sợ chết, không ai không sợ cái đau đớn do vũ khí gây ra. Hãy quán sát để thấy người ta ai cũng có cái sợ như mình, để có thể ngừng lại sự sát hại và buông bỏ ý tưởng trừng phạt.

 

Bài kệ 2

Năng thường an quần sanh                能  常  安  群  生

Bất gia chư sở độc                           不  加  諸  楚  毒

Hiện thế bất phùng hại                       現  世  不  逢  害

Hậu thế trường an ẩn                        後  世  長  安  隱

 

Hãy luôn luôn có ý muốn đem tới sự an lành cho quần sinh, mà đừng đem tới thêm cho họ những tổn hại của bạo động. Để cho trong hiện tại không ai bị tàn hại và để cho sau này ai cũng được sống an ổn lâu dài.

 

Bài kệ 3

Bất đương thô ngôn                       不  當  麤  言

Ngôn đương úy báo                       言  當  畏  報

Ác vãng họa lai                              惡  往  禍  來

Đao trượng quy khu                      刀  杖  歸  軀

 

Đừng nói lời thô ác với ai. Khi nói phải thấy được hậu quả của lời nói mình. Lời nói ác nào được phát ra cũng sẽ đem tai họa tới, và gươm giáo sẽ trở về hủy hoại chính thân thể mình.

 

Bài kệ 4

Xuất ngôn dĩ thiện                           出  言  以  善

Như khấu chung khánh                     如  叩  鐘  磬

Thân vô luận nghị                            身  無  論  議

Độ thế tắc dị                                   度  世  則  易

 

Khi nói chỉ nên sử dụng những lời lành. Như một cái chuông câm, nên chấm dứt mọi tranh luận. Như thế ta sẽ độ đời dễ dàng hơn.

 

Bài kệ 5

Âu trượng lương thiện                      歐  杖  良  善

Vọng sàm vô tội                               妄  讒  無  罪

Kỳ ương thập bội                             其  殃  十  倍

Tai tấn vô xá                                    災  迅  無  赦

Sát hại người hiền lương, dèm pha kẻ vô tội, tai ương sẽ trở về với mình mười lần lớn hơn, và khi quả báo về tới, không có cách gì tránh thoát hay giải cứu.

 

Bài kệ 6

Sanh thọ khốc thống                      生  受  酷  痛

Hình thể hủy chiết                          形  體  毀  折

Tự nhiên não bệnh                         自  然  惱  病

Thất ý hoảng hốt                            失  意  恍  惚

Nhân sở vu cữu                             人  所  誣  咎

Hoặc huyền quan ách                     或  縣  官  厄

Tài sản háo tận                               財  產  耗  盡

Thân thích ly biệt                            親  戚  離  別

Xá trạch sở hữu                              舍  宅  所  有

Tai hỏa phần thiêu                          災  火  焚  燒

Tử nhập địa ngục                           死  入  地  獄

Như thị vi thập                                如  是  為  十

 

Người hành xử bạo động thì kiếp sau khi sinh ra sẽ gánh chịu mười thứ hoạn nạn: đau nhức dữ dội, hình hài tật nguyền, đột nhiên mà bị khổ bệnh, quên lãng, hoảng hốt, bị người ta vu cáo oan ức, bị giam cầm tù đày, tài sản tiêu tán, nhà cửa và gia sản tan nát, thân thích biệt ly, đi tiêu chảy và khi chết thì đi vào địa ngục.

 

Bài kệ 7

Tuy khỏa tiễn phát                           雖  倮  剪  髮

Trường phục thảo y                         長  服  草  衣

Mộc dục cứ thạch                           沐  浴  踞  石

Nại si kết hà                                    奈  癡  結  何

 

Dù có bện tóc, dù chỉ mặc áo cỏ suốt ngày, dù có ngồi xẩm trên tảng đá, hoặc đi tắm gội mỗi ngày (dưới sông Hằng) cũng không thể nào diệt trừ được những khối si mê của mình.

 

Bài kệ 8

Bất phạt sát thiêu                           不  伐  殺  燒

Diệc bất cầu thắng                         亦  不  求  勝    

Nhân ái thiên hạ                             人  愛  天  下

Sở thích vô oán                              所  適  無  怨

 

Không trừng phạt, không giết hại, không đốt cháy, cũng không mong cầu vượt thắng kẻ khác, biết thương yêu mọi người thì sẽ cảm thấy thoải mái không còn oán hận.

 

Bài kệ 9

Thế đảng hữu nhân                        世  黨  有  人

Năng tri tàm quý                            能  知  慚  愧

Thị danh dụ tấn                             是  名  誘  進

Như sách lương mã                       如  策  良  馬

 

Trên đời có những người biết tàm biết quý: những người ấy có cơ hội được khuyên bảo và sách tấn dễ dàng, giống như con ngựa giỏi khi có cây roi chạm nhẹ vào.

 

Bài kệ 10

Như sách thiện mã                         如  策  善  馬

Tiến đạo năng viễn                       進  道  能  遠

Nhân hữu tín giới                           人  有  信  戒

Định ý tinh tấn                               定  意  精  進

Thọ đạo tuệ thành                         受  道  慧  成

Tiện diệt chúng khổ                       便  滅  眾  苦

 

Như chạm nhẹ cây roi vào con ngựa giỏi có thể làm cho nó đi tới, đi xa. Kẻ nào có tín, có giới, có định, có tinh cần, thì sẽ học tập và thành tựu tuệ giác dễ dàng, sẽ có khả năng diệt trừ được mọi khổ não.

 

Bài kệ 11

Tự nghiêm dĩ  tu pháp                    自  嚴  以  修  法

Diệt tổn thọ tịnh hạnh                     滅  損  受  淨  行

Trượng bất gia quần sanh              杖  不  加  群  生

Thị  sa môn đạo nhân                     是  沙  門  道  人

 

Lấy sự thực tập để làm đẹp cho chính mình, không làm tổn hại đến sinh mạng của ai, sống đời tịnh hạnh, không hành xử bạo động đối với các loài chúng sinh, đó đích thực là bậc sa môn đạo nhân.

 

Bài kệ 12

Vô hại ư thiên hạ                              無  害  於  天  下

Chung thân bất ngộ hại                     終  身  不  遇  害

Thường từ ư nhất thiết                     常  慈  於  一  切

Thục năng dữ vi oán                         孰  能  與  為  怨

 

Thường biết thực tập phép bất hại, thì suốt đời mình sẽ không bị hại. Nếu cứ tiếp tục hành xử với lòng từ bi đối với tất cả, thì không còn có ai sẽ là kẻ thù của mình.

Kinh Quả Báo

Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

 

Ác Hành Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập thất

惡行品法句經第十七

Kinh Quả Báo

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 17

 

Phẩm này có 22 bài kệ. Ác hành (pāpa) là hành động xấu ác.

 

Bài kệ 1

Kiến thiện bất tùng                         見  善  不  從

Phản tùy ác tâm                             反  隨  惡  心

Cầu phước bất chánh                    求  福  不  正

Phản lạc tà dâm                             反  樂  邪  婬

 

Thấy cái lành không đi theo, lại để tâm đi theo cái ác, đi tìm hạnh phúc một cách sai lạc thì đã không có hạnh phúc mà lại còn bị lạc vào chuyện tà dâm.

 

Bài kệ 2

Phàm nhân vi ác                            凡  人  為  惡

Bất năng tự giác                            不  能  自  覺

Ngu si khoái ý                                愚  癡  快  意

Lệnh hậu uất độc                           令  後  欝  毒

 

Thường thường, người làm điều sai trái thì không có khả năng tự giác, kẻ ngu si cứ tiếp tục chạy theo khoái lạc, sau này sẽ hứng chịu sự dồn chứa của những cái độc hại.

 

Bài kệ 3

Hung nhân hành ngược                   凶  人  行  虐

Trầm tiệm sác sác                          沈  漸  數  數

Khoái dục vi nhân                           快  欲  為  人

Tội báo tự nhiên                             罪  報  自  然

 

Kẻ hung ác cứ tiếp tục làm điều bạo ngược và có thích thú trong khi làm như thế thì tội báo sẽ tự nhiên tới.

 

Bài kệ 4

Cát nhân hành đức                        吉  人  行  德

Tướng tùy tích tăng                       相  隨  積  增

Cam tâm vi chi                               甘  心  為  之

Phước ưng tự nhiên                       福  應  自  然

 

Người hiền làm chuyện phúc đức, càng ngày càng tích lũy thêm điều lành, có niềm vui khi làm như thế thì phúc đức sẽ tự nhiên tới.

 

Bài kệ 5

Yêu nghiệt kiến phước                    妖  孽  見  福

Kỳ ác vị thục                                 其  惡  未  熟

Chí kỳ ác thục                                至  其  惡  熟

Tự thọ tội ngược                             自  受  罪  虐

 

Mình làm việc yêu nghiệt mà tưởng là đang có phúc, trong khi các quả báo xấu của hành động ác kia chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình mới nhận chịu tội báo.

 

Bài kệ 6

Trinh tường kiến họa                     貞  祥  見  禍

Kỳ thiện vị thục                              其  善  未  熟

Chí kỳ thiện thục                            至  其  善  熟

Tất thọ kỳ phước                            必  受  其  福

 

Làm việc lành mà vẫn thấy phải chịu đựng hoàn cảnh khó khăn, đó là kết quả việc lành chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình sẽ được hưởng cái phúc báo của việc làm ấy đem lại.

Bài kệ 7

Kích nhân đắc kích                          擊  人  得  擊

Hành oán đắc oán                           行  怨  得  怨

Mạ nhân đắc mạ                             罵  人  得  罵

Thí nộ đắc nộ                                  施  怒  得  怒

 

Đánh người thì bị người đánh, gây oán thì chịu oán, mắng chửi người thì bị người mắng chửi lại, giận người thì bị người giận lại.

 

Bài kệ 8

Thế nhân vô văn                            世  人  無  聞

Bất tri chánh pháp                         不  知  正  法

Sanh thử thọ thiểu                         生  此  壽  少

Hà nghi vi ác                                  何  宜  為  惡

 

Người đời vì không học hỏi cho nên không biết chánh pháp. Phải biết rằng mạng sống trong đời ngắn ngủi, tại sao mình lại đi làm chuyện ác độc?

 

Bài kệ 9

Mạc khinh tiểu ác                           莫  輕  小  惡

Dĩ vi vô ương                               以  為  無  殃

Thủy đế tuy vi                                水  渧  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm tội sung mãn                        凡  罪  充  滿

Tùng tiểu tích thành                       從  小  積  成

 

Đừng xem thường những cái ác nhỏ, cho chúng là không nguy hiểm. Nước nhỏ giọt tuy ít nhưng dần dần bình lớn cũng đầy tràn. Thói thường cái ác mà đầy tràn là do những cái ác nhỏ hàng ngày tích tụ mà thành.

 

Bài kệ 10

Mạc khinh tiểu thiện                      莫  輕  小  善

Dĩ vi vô phước                              以  為  無  福

Thủy tích tuy vi                              水  滴  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm phước sung mãn                  凡  福  充  滿

Tùng tiêm tiêm tích                        從  纖  纖  積

 

Đừng xem thường cái thiện nhỏ, cho nó là không phải phước đức. Nước giọt tuy ít nhưng lâu cũng đầy bình lớn, nếu phước đức sung mãn là do tích lũy từng chút lâu ngày.

 

 

Bài kệ 11

Phu sĩ vi hành                                 夫  士  為  行

Hảo chi dữ ác                                 好  之  與  惡

Các tự vi thân                                 各  自  為  身

Chung bất bại vong                          終  不  敗  亡

 

Những kẻ phàm phu ưa làm việc ác, phải biết hành động ác nào cũng trở về tự thân, không có cái nào rơi mất.

 

Bài kệ 12

Hảo thủ chi sĩ                                  好  取  之  士

Tự dĩ vi khả                                    自  以  為  可

Một thủ bỉ giả                                  沒  取  彼  者

Nhân diệc một chi                           人  亦  沒  之

 

Những bậc hảo nhân tự mình làm hết khả năng của mình, không mưu toan chiếm đoạt của kẻ khác thì kẻ khác cũng sẽ không mưu toan chiếm đoạt của mình.

 

Bài kệ 13

Ác bất tức thời                                惡  不  即  時

Như cấu ngưu nhũ                           如  搆  牛  乳

Tội tại ấm từ                                   罪  在  陰  祠

Như hôi phúc hỏa                            如  灰  覆  火

 

Kết quả của cái ác không đến tức thời như sữa không đóng thành tô ngay được. Tội ác nằm âm ỉ như lửa nằm trong bếp tro.

 

Bài kệ 14

Hí tiếu vi ác                                    戲  笑  為  惡

Dĩ tác thân hành                            以  作  身  行

Hiệu khấp thọ báo                          號  泣  受  報

Tùy hành tội chí                            隨  行  罪  至

 

Vui giỡn trong khi làm ác, tự mình tạo tác, sau này sẽ phải khóc than mà nhận chịu quả báo của cái tội đi theo cái hành động ác của mình.

 

Bài kệ 15

Tác ác bất phú                                作  惡  不  覆

Như binh sở tiệt                              如  兵  所  截

Khiên vãng nãi tri                            牽  往  乃  知

Dĩ đọa ác hành                               已  墮  惡  行

Hậu thọ khổ  báo                            後  受  苦  報

Như tiền sở tập                              如  前  所  習

Làm ác không che giấu cũng như một toán quân sau khi bị chận đánh và áp giải làm tù binh mới biết là mình bị thua. Những hành động tàn ác thế nào cũng đưa tới quả báo khổ đau sau này.

 

Bài kệ 16

Như độc ma sang                           如  毒  摩  瘡

Thuyền nhập hồi phúc                   船  入  洄  澓

Ác hành lưu diễn                            惡  行  流  衍

Mĩ bất thương khắc                        靡  不  傷  尅

 

Như vết thương bị chất độc thấm vào, như chiếc thuyền đang đi vào vùng biển nguy hiểm, hành động độc ác cứ tiếp tục lưu diễn, không nơi nào là không tạo ra xung khắc và đau thương.

 

Bài kệ 17

Gia ác vu võng nhân                        加  惡  誣  罔  人

Thanh bạch do bất ô                       清  白  猶  不  污

Ngu ương phản tự cập                    愚  殃  反  自  及

Như trần nghịch phong bộn              如  塵  逆  風  坌

 

Người ác vu cáo muốn làm hại người thanh bạch và không ô nhiễm thì tai ương sẽ trở lại hại mình, như tung bụi vào người khác khi ngược gió.

 

Bài kệ 18

Quá thất phạm phi ác                    過  失  犯  非  惡

Năng truy hối vi thiện                    能  追  悔  為  善  

Thị minh chiếu thế gian                  是  明  照  世  間

Như nhật vô vân ê                         如  日  無  雲  曀

 

Người nào trong quá khứ đã lỡ có lỗi lầm, đã lỡ làm những điều không phải, mà bây giờ có khả năng hối hận bỏ ác làm lành, thì cũng như một mặt trời vượt ra khỏi các đám mây, chiếu sáng được cho thế gian.

 

Bài kệ 19

Phu sĩ sở dĩ hành                            夫  士  所  以  行

Nhiên hậu thân tự kiến                     然  後  身  自  見

Vi thiện tắc đắc thiện                       為  善  則  得  善

Vi ác tắc đắc ác                              為  惡  則  得  惡

 

Nhìn vào hành động của mình, mình có thể tự thấy được sự thực: làm thiện thì được thiện, làm ác thì gặp ác.

Bài kệ 20

Hữu thức đọa bào thai                 有  識  墮  胞  胎

Ác giả nhập địa ngục                     惡  者  入  地  獄

Hành thiện thượng thăng thiên        行  善  上  昇  天

Vô vi đắc nê hoàn                        無  為  得  泥  洹

 

Thần thức đi luân hồi, kẻ ác vào địa ngục, người hiền sinh lên cõi trời. Thực tập đi vào được trạng thái vô vi thì chứng đắc Niết bàn.

 

Bài kệ 21

Phi không phi hải trung                    非  空  非  海  中

Phi ẩn sơn thạch gian                     非  隱  山  石  間   

Mạc năng ư thử xứ                        莫  能  於  此  處

Tị miễn túc ác ương                       避  免  宿  惡  殃

 

Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

 

Bài kệ 22

Chúng sanh hữu khổ não                    眾  生  有  苦  惱

Bất đắc miễn lão tử                           不  得  免  老  死

Duy hữu nhân trí giả                          唯  有  仁  智  者

Bất niệm nhân phi ác                         不  念  人  非  惡

 

Chúng sinh có khổ não chưa thoát ra khỏi cái già cái chết, chỉ có bậc nhân trí mới vượt thoát được ý niệm về thiện ác.

Kinh Vượt Thắng

Chiến thắng được hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự chiến thắng được mình.
Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất.

 

Kinh Vượt Thắng

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 16

 

Phẩm này có 17 bài kệ. Thuật thiên là nói về con số ngàn. Tiếng Pali, sahassa là ngàn, là số nhiều. Đứng về phương diện phẩm chất thì không cần nói tới số lượng. Con số trăm, con số ngàn không có giá trị nếu không có chất liệu nội dung. Bài kệ thứ nhất nói dù có tụng đọc cả ngàn lời kinh, nhưng nếu các lời kinh ấy không chuyên chở được chánh pháp, cũng không bằng chỉ đọc một lời kinh thôi. Bài thứ 3 nói một câu Pháp cú tuy ít, nhưng nếu đem ra thực tập thì cũng có thể đắc đạo.

Bài thứ 4 là một bài kệ nổi tiếng nhất về chuyện thắng bại: chiến thắng được hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự mình chiến thắng được mình. Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất. Bài thứ 16 nói sống một trăm tuổi thọ mà không nếm được vị cam lộ của đạo pháp, thì không bằng sống một ngày mà nếm được cam lộ. Làng Mai có câu: Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ, làm người một kiếp cũng như không, nói về cái hạnh phúc của sự thực tập thiền đi, cũng lấy từ ý ấy.

Các bài 4, 5 và 6 đều nói tới chủ đề tự vượt thắng mình để trở thành một vị anh hùng đích thực. Vì vậy, kinh này được đặt tên là kinh Vượt thắng. Vượt thắng chính mình.

 

Bài kệ 1

Tuy tụng thiên ngôn                        雖  誦  千  言

Cú nghĩa bất chánh                        句  義  不  正

Bất như nhất yếu                            不  如  一  要

Văn khả diệt ý                                聞  可  滅  意

 

Dầu có tụng đọc ngàn đời, nhưng nếu câu văn và nghĩa lý không phải là chánh đạo, thì không bằng chỉ tụng một lời mà khi nghe có cơ hội làm tĩnh lặng được tâm ý.

 

Bài kệ 2

Tuy tụng thiên ngôn                        雖  誦  千  言

Bất nghĩa hà ích                            不  義  何  益

Bất như nhất nghĩa                        不  如  一  義

Văn hành khả độ                            聞  行  可  度

 

Dù có tụng đọc ngàn lời, nhưng nếu nghĩa lý không có thì không bằng chỉ tụng đọc một lời mà có ý nghĩa (thâm sâu) để khi nghe thì có thể đem ra thực hành và vượt qua được đau khổ.

 

Bài k 3

Tuy đa tụng kinh                             雖  多  誦  經

Bất giải hà ích                               不  解  何  益

Giải nhất pháp cú                           解  一  法  句

Hành khả đắc đạo                          行  可  得  道

 

Dù có tụng đọc nhiều kinh mà không hiểu được thì cũng vô ích, không bằng chỉ đọc và hiểu được một câu Pháp cú, vì nếu đem ra thực hành thì có thể đắc đạo.

 

Bài kệ 4

Thiên thiên vi địch                         千  千  為  敵

Nhất phu thắng chi                        一  夫  勝  之

Vị nhược tự thắng                         未  若  自  勝

Vi chiến trung thượng                    為  戰  中  上

 

Chiến thắng được hàng ngàn quân địch thì cũng không bằng tự mình chiến thắng được chính mình. Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất.

 

Bài kệ 5

Tự thắng tối hiền                            自  勝  最  賢

Cố viết nhân hùng                          故  曰  人  雄

Hộ ý điều thân                               護  意  調  身

Tự tổn chí chung                            自  損  至  終

Tự thắng được mình thì gọi là bậc hiền giả tối thượng. Đó là người anh hùng trong nhân gian, có khả năng điều phục và bảo hộ thân tâm, đạt tới mục tiêu cuối cùng.

 

Bài kệ 6

Tuy viết tôn thiên                            雖   曰   尊  天

Thần ma Phạm Thích                    神  魔  梵  釋

Giai mạc năng thắng                      皆  莫  能  勝

Tự thắng chi nhân                          自  勝  之  人

 

Thắng được các vị thiên giả, tôn thần, quỷ vương, Đế thích cũng không bằng tự thắng được mình.

 

Bài kệ 7

Nguyệt thiên phản từ                    月  千  反  祠

Chung thân bất xuyết                    終  身  不  輟

Bất như tu du                               不  如  須  臾

Nhất tâm niệm Pháp                     一  心  念  法

 

Nghìn tháng cầu đạo, suốt cả một đời không ngừng nghỉ, cũng không bằng trong một khoảnh khắc đem hết lòng thực tập niệm Pháp.

 

Bài kệ 8

Nhất niệm đạo phước                    一  念  道  福

Thắng bỉ chung thân                      勝  彼  終  身

Tuy chung bách tuế                        雖  終  百  歲

Phụng sự hỏa từ                          奉  事  火  祠

 

Chỉ thực tập phát khởi một niệm cung kính cúng dường bậc có phước đức thì công đức còn nhiều hơn suốt đời thờ phụng thần lửa.

 

Bài kệ 9

Bất như tu du                                 不  如  須  臾

Cung dưỡng tam tôn                       供  養  三  尊

Nhất cung dưỡng phước                 一  供  養  福

Thắng bỉ bách niên                          勝  彼  百  年

 

Cúng dường trong một khoảnh khắc cho Tam Bảo còn có phúc đức nhiều hơn tế  lễ cầu phước trong suốt cả một trăm năm.

 

Bài kệ 10

Tế thần dĩ cầu phước                     祭  神  以  求  福

Tùng hậu quán kỳ báo                    從  後  觀  其  報

Tứ phân vị vọng nhất                      四  分  未  望  一

Bất như lễ hiền giả                         不  如  禮  賢  者

 

Tế thần để cầu phước, cứ quan sát mà thấy thì phúc báo tới sau đó cũng chưa được bằng một phần tư của người cung kính bậc hiền nhân.

 

Bài kệ 11

Năng thiện hành lễ tiết                     能  善  行  禮  節

Thường kính trưởng lão giả             常  敬  長  老  者

Tứ phước tự nhiên tăng                  四  福  自  然  增

Sắc lực thọ nhi an                           色  力  壽  而  安

 

Nếu biết tổ chức lễ lược theo đường hướng thiện lành, nếu biết thường cung kính các bậc trưởng lão (trong đạo) thì bốn thứ phước đức sẽ tự nhiên tăng trưởng. Sắc đẹp và sức khỏe, cũng như tuổi thọ cũng tăng lên.

 

Bài kệ 12

Nhược nhân thọ bách  tuế             若  人  壽  百  歲

Viễn chánh bất trì giới                   遠  正  不  持  戒

Bất như sanh nhất nhật                 不  如  生  一  日

Thủ giới chánh ý thiền                   守  戒  正  意  禪

Sống một trăm tuổi thọ mà xa lìa con đường chính, không biết giữ giới, thì không bằng sống một ngày mà biết trì giới và thực tập đưa tâm ý vào thiền định.

 

Bài kệ 13

Nhược nhân thọ bách tuế             若  人  壽  百  歲

Tà ngụy vô hữu trí                        邪  偽  無  有  智

Bất như sanh nhất nhật                 不  如  生  一  日

Nhất tâm học chánh trí                 一  心  學  正  智

 

Sống một trăm tuổi thọ mà nếp sống tà ngụy, không có trí tuệ thì không bằng sống một ngày mà hết lòng tu học theo chánh trí.

 

Bài kệ 14

Nhược nhân thọ bách tuế               若  人  壽  百  歲

Giải đãi bất tinh tấn                       懈  怠  不  精  進

Bất như sanh nhất nhật                  不  如  生  一  日

Miễn lực hành tinh tấn                    勉  力  行  精  進

 

Sống một trăm tuổi thọ mà giãi đãi không tinh tiến thì không bằng sống một ngày mà nỗ lực tu hành tinh tiến.

 

Bài kệ 15

Nhược nhân thọ bách tuế                若  人  壽  百  歲

Bất tri thành bại sự                         不  知  成  敗  事

Bất như sanh nhất nhật                   不  如  生  一  日

Kiến vi tri sở kị                               見  微  知  所  忌

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không hiểu được chuyện thành bại thì không bằng sống một ngày mà thấy được cái vi diệu của chánh pháp và thấy được nguyện vọng của mình.

 

Bài kệ 16

Nhược nhân thọ bách tuế                若  人  壽  百  歲

Bất kiến cam lồ đạo                        不  見  甘  露  道

Bất như sanh nhất nhật                    不  如  生  一  日

Phục hành cam lộ vị                        服  行  甘  露  味

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không thấy được đạo Cam Lộ thì không bằng sống một ngày mà nếm được vị Cam Lộ.

 

Bài kệ 17

Nhược nhân thọ bách tuế                 若  人  壽  百  歲

Bất tri đại đạo nghĩa                       不  知  大  道  義

Bất như sanh nhất nhật                   不  如  生  一  日

Học thôi Phật pháp yếu                   學  推  佛  法  要

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không biết nghĩa lý của đạo lớn thì không bằng sống một ngày mà thực tập và tư duy theo giáo pháp tinh yếu của Bụt.

Kinh Vị La Hán

Tâm ý đã thanh tịnh, chánh niệm đã đạt, không còn vướng vào một tham dục nào nữa, vị A La Hán qua được vượt sâu u mê như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ.

 

Kinh Vị La Hán

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 15

 

Phẩm này có 11 bài tụng. La Hán là bậc đã được giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy, đáng được mọi người tôn kính. Tiếng Pali là arahanta. Bài kệ thứ tư tả vị La Hán như con chim trở về hư không, cao bay vô ngại. Bài thứ 7 nói vị La Hán bình tĩnh như đất, bất động như núi. Bài thứ 2 ví vị La Hán như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ. Bài thứ 10 nói nơi đâu có một vị A La Hán thì nơi ấy trở nên mát mẻ linh thiêng. Bài thứ nhất định nghĩa vị A La Hán là người đã lìa bỏ mọi ưu tư hoạn nạn, thoát ra ngoài mọi hệ lụy, tháo tung được mọi sợi dây ràng buộc, đạt tới sự mát mẻ (Niết bàn), không còn bị các cơn sốt phiền não thiêu đốt.

 

Bài kệ 1

Khứ ly ưu hoạn                              去  離  憂  患

Thoát ư nhất thiết                           脫  於  一  切

Phược kết dĩ giải                            縛  結  已  解

Lãnh nhi vô noãn                            冷  而  無  煖

 

Lìa bỏ mọi ưu tư hoạn nạn, thoát ra ngoài mọi hệ lụy, tất cả các sợi dây ràng buộc đều đã được tháo tung, mát mẻ, không còn bị một cơn sốt não phiền nào đốt cháy nữa.

 

Bài kệ 2

Tâm tịnh đắc niệm                          心  淨  得  念

Vô sở tham lạc                                無  所  貪  樂

Dĩ độ si uyên                                   已  度  癡  淵

Như nhạn khí trì                               如  鴈  棄  池

 

Tâm ý đã thanh tịnh, chánh niệm đã đạt, không còn vướng vào một tham dục nào nữa, vị A la hán đã qua được vực sâu u mê như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ.

 

Bài kệ 3

Lượng phước nhi thực                      量  腹  而  食

Vô sở tạng tích                                無  所  藏  積

Tâm không vô tưởng                        心  空  無  想

Độ chúng hành địa                           度  眾  行  地

 

Ăn uống chừng mực, không chất chứa của cải, tâm ý rỗng rang không còn vọng tưởng, vượt qua được mọi hnh và mọi địa.

 

Bài kệ 4

Như không trung điểu                    如  空  中  鳥

Viễn thệ vô ngại                             遠  逝  無  礙

Thế gian tập tận                             世  間  習  盡

Bất phục ngưỡng thực                   不  復  仰  食

 

Như con chim bay về hư không, cao bay vô ngại, các tập khí thế gian đã chấm dứt, không còn lo lắng về chuyện ăn uống.

 

Bài kệ 5

Hư tâm vô hoạn                             虛  心  無  患

Dĩ đáo thoát xứ                              已  到  脫  處

Thí như phi điểu                             譬  如  飛  鳥

Tạm hạ triếp thệ                             暫  下  輒  逝

 

Tâm ý thảnh thơi, không còn hoạn nạn, đã tới được chốn giải thoát như con chim bay tạm thời đáp xuống mà đi.

Bài kệ 6

Chế căn tùng chỉ                            制  根  從  止

Như mã điều ngự                           如  馬  調  御

Xả kiêu mạn tập                             捨  憍  慢  習

Vi thiên sở kính                              為  天  所  敬

 

Điều phục các căn, làm cho an tĩnh như con ngựa hay, buông bỏ được mọi tập khí kiêu mạn, cả chư thiên cũng phải kính ngưỡng.

 

Bài kệ 7

Bất nộ như địa                                不  怒  如  地

Bất động như sơn                           不  動  如  山

Chân nhân vô cấu                            真  人  無  垢

Sanh tử thế tuyệt                            生  死  世  絕

 

Không giận, bình tĩnh như đất, bất động như núi, đã là vị chân nhân thì không còn bị cấu nhiễm, vì sinh tử và thời gian đã chấm dứt.

 

Bài kệ 8

Tâm dĩ hưu tức                               心  已  休  息

Ngôn hành diệc chánh                      言  行  亦  正

Tùng chánh giải thoát                      從  正  解  脫

Tịch nhiên quy diệt                          寂  然  歸  滅

 

Tâm tư ngưng nghỉ, ngôn và hành cũng thế, đi theo con đường chánh đạo, đã được giải thoát, yên lặng và trở về Niết Bàn.

 

Bài kệ 9

Khí dục vô khán                              棄  欲  無  着

Khuyết tam giới chướng                 缺  三  界  障

Vọng ý dĩ tuyệt                               望  意  已  絕

Thị vị thượng nhân                          是  謂  上  人

 

Buông bỏ tham dục, không còn dính mắc, vượt mọi chướng ngại ba cõi, vọng tâm đã hết, đó là một bậc thượng nhân.

 

Bài kệ 10

Tại tụ nhược dã                              在  聚  若  野

Bình địa cao ngạn                           平  地  高  岸

Ưng chân sở quá                            應  真  所  過

Mạc bất mông hữu                         莫  不  蒙  祐

 

Nơi đồng quê hay ở chốn xóm làng, dưới bình nguyên hay trên cao nguyên, địa phương nào có các vị ấy đi tới đều trở nên linh thiêng.

 

Bài kệ 11

Bỉ lạc không nhàn                           彼  樂  空  閑

Chúng nhân bất năng                    眾  人  不  能

Khoái tai vô vọng                           快  哉  無  望

Vô sở dục cầu                              無  所  欲  求

 

Ưa những nơi nhàn vắng, ít người lui tới, hạnh phúc thay khi đã đạt tới trình độ không còn vọng động, không còn mong cầu.

Kinh Bậc Minh Triết

Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điểu phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

 

Minh Triết Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập tứ

明哲品法句經第十四

Kinh Bậc Minh Triết

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 14

 

Phẩm này có 17 bài kệ, bài kệ nào cũng như một tiếng chuông trong, một viên bảo châu sáng ngời. Bậc minh triết là bậc hiền giả, có tuệ giác và tình thương. Tiếng Pali là pandita. Bài kệ thứ 6 nói đến bậc minh triết như một vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian. Bài kệ thứ 7 so sánh bậc minh triết với người bắn cung, biết điều phục góc độ để bắn cho trúng đích, với người đi biển biết điều phục các con sóng để thuyền đi tới và người thợ mộc điều phục được các khúc gỗ: bậc minh triết điều phục được tự thân. Bài thứ 8 ví bậc minh triết với một tảng đá lớn không bị các cơn gió thổi làm lay động. Bài kệ thứ 9 ví bậc minh triết với một mặt hồ tĩnh lặng. Toàn là những hình ảnh rất đẹp.

 

Bài kệ 1

Thâm quán thiện ác                       深  觀  善  惡

Tâm tri úy kị                                 心  知  畏  忌

Úy nhi bất phạm                            畏  而  不  犯

Chung cát vô ưu                            終  吉  無  憂

 

Nhìn sâu vào bản chất thiện ác, tâm mình biết sợ hãi. Nhờ sợ hãi mà mình không phạm lỗi, cuối cùng được an lành, không lo lắng ưu phiền.

 

Bài kệ 2

Cố thế hữu phước                          故  世  有  福

Niệm tư thiệu hành                        念  思  紹  行

Thiện trí kỳ nguyện                        善  致  其  願

Phước lộc chuyển thắng                福  祿  轉  勝

 

Cho nên những người có phước trên đời biết thực tập chánh niệm và chánh tư duy, tiếp tục hành trì để khéo thành tựu được ý nguyện của mình.

 

Bài kệ 3

Tín thiện tác phước                        信  善  作  福

Tích  hành bất yếm                         積  行  不  厭

Tín tri âm đức                                信  知  陰  德

Cửu nhi tất chương                        久  而  必  彰

 

Tin vào điều lành và tạo tác phước đức, tiếp tục đi tới không chịu bỏ cuộc, niềm tin ấy dựa vào âm đức, lâu dài và sáng tỏ.

 

Bài kệ 4

Thường tị vô nghĩa                        常  避  無  義

Bất thân ngu nhân                         不  親  愚  人

Tư tùng hiền hữu                           思  從  賢  友

Áp phụ thượng sĩ                           押  附  上  士

 

Thường tránh những nghị luận vô bổ, không thân cận với kẻ ngu phu, tâm tư hướng về bạn hiền, đi theo cận kề các bậc thượng sĩ.

 

Bài kệ 5

Hỉ Pháp ngọa an                            喜  法  臥  安

Tâm duyệt ý thanh                         心  悅  意  清

Thánh nhân diễn Pháp                    聖  人  演  法

Tuệ thường lạc hành                       慧  常  樂  行

 

Yêu thích chánh pháp thì đêm ngủ rất yên, tâm vui ý trong. Thường nghe các bậc thánh nhân giảng bày chánh pháp thì sẽ có tuệ giác và luôn luôn bước đi trong hạnh phúc.

 

Bài kệ 6

Nhân nhân trí giả                           仁  人  智  者

Trai giới phụng đạo                        齋  戒  奉  道

Như tinh trung nguyệt                     如  星  中  月

Chiếu minh thế gian                       照  明  世  間

 

Là bậc hiền trí biết trai giới phụng đạo thì cũng như vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian.

 

Bài kệ 7

Cung công điều giác                       弓  工  調  角

Thủy nhân điều thuyền                    水  人  調  船

Tài tượng điều mộc                        材  匠  調  木

Trí giả điều thân                             智  者  調  身

 

Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điều phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

 

Bài kệ 8

Thí như hậu thạch                          譬  如  厚  石

Phong bất năng di                          風  不  能  移

Trí giả ý trọng                                智  者  意  重

Hủy dự bất khuynh                          毀  譽  不  傾

 

Như tảng đá lớn gió không thể dời, kẻ có trí tâm ý vững vàng không bị lời khen chê  khuynh đảo.

 

Bài kệ 9

Thí như thâm uyên                       譬  如  深  淵

Trừng tĩnh thanh minh                    澄  靜  清  明

Tuệ nhân văn đạo                          慧  人  聞  道

Tâm tịnh hoan nhiên                       心  淨  歡  然

 

Cũng như đầm sâu lắng tnh trong sáng, kẻ tuệ nhân nhờ học đạo mà tâm ý thanh tịnh và hoan lạc.

 

Bài kệ 10

Đại nhân thể vô dục                         大  人  體  無  欲

Tại sở chiếu nhiên minh                    在  所  照  然  明

Tuy hoặc tao khổ lạc                        雖  或  遭  苦  樂

Bất cao hiện kỳ trí                           不  高  現  其  智

 

Các bậc đại nhân bản lĩnh vốn là vô dục, ở đâu cũng chiếu sáng ngời, dù có gặp khổ vui, tâm các vị cũng không lên không xuống.

 

Bài kệ 11

Đại hiền vô thế sự                             大  賢  無  世  事

Bất nguyện tử tài quốc                      不  願  子  財  國

Thường thủ giới tuệ đạo                    常  守  戒  慧  道

Bất tham tà phú quý                         不  貪  邪  富  貴

 

Bậc đại hiền nhân không màng thế sự, không mong cầu con trai, tài sản, vương quốc, chỉ giữ giới tu đạo và đi theo con đường tuệ giác, không ham phú quý thế gian.

 

Bài kệ 12

Trí nhân tri động dao                        智  人  知  動  搖

Thí như sa trung thọ                         譬  如  沙  中  樹

Bằng hữu chí vị cường                     朋  友  志  未  強

Tùy sắc nhiễm kỳ tố                         隨  色  染  其  素

 

Kẻ trí nhân biết cách hành xử, như cây đứng trong bãi cát, đối với các bằng hữu mà ý chí chưa vững mạnh thì tùy theo từng người mà giúp ảnh hưởng họ.

 

Bài kệ 13

Thế giai một uyên                             世  皆  沒  淵

Tiên khắc độ ngạn                            鮮  尅  度  岸

Như hoặc hữu nhân                          如  或  有  人

Dục độ tất bôn                                 欲  度  必  奔

 

Người đời đa số đều tự đánh mất mình trong cơn lũ tham dục, ít ai qua được bờ bên kia, chỉ quanh quẩn ở bờ bên này.

 

Bài kệ 14

Thành tham đạo giả                      誠  貪  道  者

Lãm thọ chánh giáo                       覽  受  正  教

Thử cận bỉ ngạn                           此  近  彼  岸

Thoát tử vi thượng                         脫  死  為  上

 

Những kẻ thành tâm ưa thích đạo lý tiếp thu được chánh giáo sẽ tới gần được bờ bên kia, xem cái liễu sinh thoát tử là mục đích cao nhất.

 

Bài kệ 15

Đoạn ngũ uẩn Pháp                       斷  五  陰  法

Tĩnh tư trí tuệ                               靜  思  智  慧

Bất phản nhập uyên                       不  反  入  淵

Khí y kỳ minh                                 棄  猗  其  明

 

Đoạn trừ năm thủ uẩn, thiền tập để đạt tới tuệ giác, không trở vào lại dòng lũ lụt thì buông bỏ sự bám víu và đạt tới minh triết.

 

Bài kệ 16

Ức chế tình dục                               抑  制  情  欲

Tuyệt lạc vô vi                                 絕  樂  無  為

Năng tự chửng tế                            能  自  拯  濟

Sử ý vi tuệ                                      使  意  為  慧

 

Chế ngự tình dục, dứt bỏ đam mê, học theo vô vi, có khả năng tự độ, sử dụng tâm ý để đạt tới tuệ giác.

 

Bài kệ 17

Học thủ chánh trí                             學  取  正  智

Ý duy chánh đạo                             意  惟  正  道

Nhất tâm thọ đế                              一  心  受  諦

Bất khởi vi lạc                                 不  起  為  樂

Lậu tận tập trừ                                漏  盡  習  除

Thị đắc độ thế                                 是  得  度  世

 

Tu tập để đạt tới chánh trí, tâm ý chỉ nương vào chánh đạo, một lòng tìm cầu chân lý, không đi tìm dục lạc thì đạt tới lậu tận, diệt trừ được tập khí và vượt được thời gian.

Kinh Người Ngu Muội

Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.
Có cơ hội gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc là biết được thức ăn ngon hay dở.

 

Ngu Ám Phẩm Pháp Cú Kinh đệ  thập tam

愚闇品法句經第十三

Kinh Người Ngu Muội

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 13

 

Phẩm này có 21 bài kệ. Ngu ám đây là chỉ cho những kẻ si mê, ngu phu. Tiếng Pali là bala. Mỗi bài kệ trong phẩm này là một tiếng chuông chánh niệm cho người tại gia và cho cả người xuất gia. Bài kệ đầu nói về đêm sinh tử, một đêm kéo dài bất tận, bởi vì trong đêm dài ấy ánh sáng không chịu về. Ánh sáng đây là ánh sáng trí tuệ, hiểu biết, giác ngộ. Ánh sáng chưa chịu về thì đêm còn kéo dài mãi mãi. Mình phải tự hỏi mình có đang chìm đắm trong cái đêm sinh tử ấy không? Nếu chung quanh mình toàn là những người ngủ mê, chỉ biết bôn ba bận rộn về con cái và tài sản, về những tiện nghi vật chất và tình cảm hàng ngày, thì mình biết họ là những người đang đi trong trong đêm. Mình thử hỏi: mình có phải là một trong những người ấy không? Bài kệ thứ 6 cho ta biết: Nếu ta biết được ta là một trong những người đang mê ngủ thì đó là ta đã tỉnh dậy. Biển khổ tuy mênh mông, nhưng quay đầu lại thì thấy được bến bờ ngay. Bài kệ thứ 8 khuyên ta nên tìm cách gần gũi người có trí tuệ để có cơ hội thức tỉnh và nếm được hương vị của giác ngộ. Các bài kệ 17, 18, 19, 20 và 21 là đặc biệt để dành cho người xuất gia. Bài thứ 19 khuyên người xuất gia đừng đóng vai trò của một người sa môn tại gia nữa. Sa môn tại gia là một người chỉ có hình tướng xuất gia mà không có nội dung xuất gia.

 

Bài kệ 1

Bất mị dạ trường                           不  寐  夜  長

Bì quyền đạo trường                      疲  惓  道  長

Ngu sanh tử trường                        愚  生  死  長

Mạc tri chánh pháp                         莫  知  正  法

 

Kẻ mất ngủ thấy đêm dài. Kẻ lữ hành mệt nhọc thấy đường xa hun hút. Đối với kẻ ngu muội, đêm sinh tử là dài nhất cũng bởi vì kẻ ấy không biết đến chánh pháp.

 

Bài kệ 2

Si ý thường minh                           癡  意  常  冥

Thệ như lưu xuyên                         逝  如  流  川

Tại nhất hành cường                      在  一  行  彊

Độc nhi vô ngẫu                             獨  而  無  偶

 

Tâm ý kẻ si mê mãi mãi mờ ám, trôi hoài như nước sông. Vì vậy, thà rằng mình đi một mình, đừng đi với những kẻ ngu muội.

 

Bài kệ 3

Ngu nhân khán số                           愚  人  着  數

Ưu thích cửu  trường                      憂  慼  久  長

Dữ ngu cư khổ                                與  愚  居  苦

Ư ngã do oán                                  於  我  猶  怨

 

Người ngu muội kẹt vào những con số, niềm lo lắng kéo dài, chung đụng với người ngu là khó, lại còn gây ra thêm oán hận.

 

Bài kệ 4

Hữu tử hữu tài                                有  子  有  財

Ngu duy cấp cấp                           愚  惟  汲  汲

Ngã thả phi ngã                              我  且  非  我

Hà ưu tử tài                                    何  憂  子  財

 

Người ngu muội cứ bôn ba bận rộn (về con cái và tài sản). "Đây là con trai của tôi. Đây là tài sản của tôi." Cái thân này chưa chắc là của ta, huống nữa là con cái và tài sản.

 

Bài kệ 5

Thử đương chỉ thử                        暑  當  止  此

Hàn đương chỉ thử                        寒  當  止  此

Ngu đa vụ lự                                  愚  多  務  慮

Mạc tri lai biến                               莫  知  來  變

 

Nóng quá, làm sao cho hết nóng. Lạnh quá, làm sao cho hết lạnh. Kẻ ngu phu lo từ chuyện này tới chuyện khác, không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

 

Bài kệ 6

Ngu mông ngu cực                          愚  曚  愚  極

Tự vị ngã trí                                    自  謂  我  智

Ngu nhi thắng trí                              愚  而  勝  智

Thị vị cực ngu                                  是  謂  極  愚

 

Kẻ ngu mà cho mình là kẻ trí, đó là ngu tới mức cùng cực. Kẻ ngu mà biết là mình ngu thì đó đã là kẻ trí rồi.

 

Bài kệ 7

Ngoan ám cận trí                           頑  闇  近  智

Như biều châm vị                           如  瓢  斟  味

Tuy cửu hiệp tập                            雖  久  狎  習

Do bất tri Pháp                              猶  不  知  法

 

Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.

 

Bài kệ 8

Khai đạt cận trí                               開  達  近  智

Như thiệt thường vị                         如  舌  嘗  味

Tuy tu du tập                                  雖  須  臾  習

Tức giải đạo yếu                             即  解  道  要

 

Có cơ hội mà gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc mà biết được thức ăn ngon hay dở.

 

Bài kệ 9

Ngu nhân thí hành                          愚  人  施  行

Vi thân chiêu hoạn                          為  身  招  患

Khoái tâm tác ác                             快  心  作  惡

Tự trí trọng ương                            自  致  重  殃

 

Hành động của kẻ ngu muội đem lại tai hoạn cho bản thân mình, vì ưa làm việc ác cho nên tự đưa mình đến tai ương.

 

Bài kệ 10

Hành vi  bất thiện                           行  為  不  善

Thoái kiến hối lẫn                           退  見  悔  悋

Trí thế lưu diện                               致  涕  流  面

Báo do túc tập                               報  由  宿  習

 

Làm xong một cái gì bất thiện, nhìn lại thấy hối hận rồi thì khóc thương đầm đìa nước mắt, quả báo đến từ thói quen lâu đời dồn lại.

 

Bài kệ 11

Hành vi đức thiện                           行  為  德  善

Tiến đổ hoan hỉ                              進  覩  歡  喜

Ưng lai thọ phước                          應  來  受  福

Hỉ tiếu duyệt tập                             喜  笑  悅  習

 

Làm được một điều gì hiền thiện, nhìn lại thấy hoan hỉ, biết rằng mình sẽ tiếp nhận phước đức, niềm vui và nụ cười sẽ đến với mình.

 

Bài kệ 12

Quá tội vị thục                                過  罪  未  熟

Ngu dĩ điềm đàm                           愚  以  恬  惔

Chí kỳ thục xứ                                至  其  熟  處

Tự thọ đại tội                                自  受  大  罪

 

Lỗi lầm làm trong quá khứ chưa đến lúc chín, kẻ ngu muội vì thế cứ việc nhởn nhơ, nhưng khi nghiệp quả đã chín muồi thì sẽ tự mình nhận chịu tội báo lớn.

 

Bài kệ 13

Ngu sở vọng xứ                              愚  所  望  處

Bất vị thích khổ                              不  謂  適  苦

Lâm đọa ách địa                             臨  墮  厄  地

Nãi tri bất thiện                               乃  知  不  善

 

Chỗ sai lầm của người ngu là không nhận diện được cái khổ là cái khổ, khi nào rơi vào tình trạng nguy ngập thì mới biết là mình đã làm sai.

 

Bài kệ 14

Ngu xuẩn tác ác                             愚  憃  作  惡

Bất năng tự giải                             不  能  自  解

Ương truy tự phần                         殃  追  自  焚

Tội thành sí nhiên                           罪  成  熾  燃

 

Ngu xuẩn làm ác, không có khả năng tự biết, tai ương do đó đi theo đốt cháy chính mình, tội báo cháy bùng.

 

Bài kệ 15

Ngu hảo mỹ thực                           愚  好  美  食

Nguyệt nguyệt tư thậm                   月  月  滋  甚

Ư thập lục phần                             於  十  六  分

Vị nhất tư Pháp                              未  一  思  法

 

Người ngu chỉ biết lo ăn ngon, chỉ biết hưởng thụ, càng ngày càng đi sâu vào lầm lỗi, trong mười sáu phần hạnh phúc đích thực, người ngu không hưởng được đến một phần.

 

Bài kệ 16

Ngu sanh niệm lự                           愚  生  念  慮

Chí chung vô lợi                             至  終  無  利

Tự chiêu đao trượng                      自  招  刀  杖

Báo hữu ấn chương                       報  有  印  章

 

Cái ngu sinh ra cái lo lắng, cuối cùng chẳng có lợi lạc gì, và người ngu tự chuốc lấy đao trượng (hình phạt) của báo ứng, có chứng cớ rõ ràng không thể chối cãi.

 

Bài kệ 17

Quán xứ tri kỳ ngu                           觀  處  知  其  愚

Bất thí nhi quảng cầu                       不  施  而  廣  求

Sở đọa vô đạo trí                            所  墮  無  道  智

Vãng vãng hữu ác hành                   往  往  有  惡  行

 

Quán sát ngay tại chỗ và nhận diện ra sự có mặt của kẻ ngu mê: đó là những người không tu tập mà chỉ biết đòi hỏi, những kẻ ấy sẽ đọa lạc vào chỗ vô đạo và thường thường làm những điều xấu ác.

 

Bài kệ 18

Viễn đạo cận dục giả                      遠  道  近  欲  者

Vi thực tại học danh                        為  食  在  學  名

Tham y gia cư cố                           貪  猗  家  居  故

Đa thủ cúng dị tính                          多  取  供  異  姓

 

Xa đạo, gần kẻ nhiều tham dục, mang tên là người tu mà chỉ nghĩ tới chuyện ăn, cứ la cà nơi nhà người cư sĩ để mong cầu sự cúng dường càng nhiều càng tốt.

 

Bài kệ 19

Học mạc đọa nhị vọng                     學  莫  墮  二  望

Mạc tác gia sa môn                        莫  作  家  沙  門

Tham gia vi Thánh giáo                  貪  家  違  聖  教

Vi hậu tự quỹ phạp                         為  後  自  匱  乏

Tu thì đừng để tự rơi vào ba cái sai lầm. Đừng đóng vai trò vị sa môn tại gia, la cà nhà cư sĩ là sai với lời Bụt dạy, sau này sẽ cảm thấy thiệt thòi.

 

Bài kệ 20

Thử hành dữ ngu đồng                   此  行  與  愚  同

Đãn lệnh dục mạn tăng                 但  令  欲  慢  增

Lợi cầu chi nguyện dị                     利  求  之  願  異

Cầu đạo ý diệc dị                         求  道  意  亦  異

 

Hành xử như trên thì thấy chẳng khác gì cách hành xử của kẻ ngu phu, chỉ làm cho dục vọng và kiêu mạn tăng trưởng. Cái ước nguyện chỉ là cái tài lợi, không phải là tâm ý cầu đạo thành khẩn.

 

Bài kệ 21

Thị dĩ hữu thức giả                         是  以  有  識  者

Xuất vi Phật đệ tử                           出  為  佛  弟  子

Khí ái xả thế tập                             棄  愛  捨  世  習

Chung bất đọa sanh tử                   終  不  墮  生  死

 

Cho nên đã là bậc thức giả, là người xuất gia đệ tử Bụt thì phải buông bỏ ái dục và những tập khí ngoài đời, cuối cùng mới khỏi đọa vào sinh tử.

Kinh Hoa Hương

Hương thơm của hoa tuy là vi diệu, nhưng chưa chân thật bằng hương thơm của giới hạnh.

 

Hoa Hương Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập nhị

華香品法句經第十二

Kinh Hoa Hương

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 12

Phẩm này có 16 bài kệ. Có hoa lại còn có hương. Hoa mà không hương thì chưa phải là cái mà ta mong ước. Hương là hương đức hạnh, hương tuệ giác; gần người hiền, ta được thưởng thức và được thấm nhuần. Bài kệ thứ 8 và thứ 9 nhấn mạnh về điểm ấy.

Hoa cũng có hoa thật và hoa giả. Những tràng hoa giả là những tràng hoa cạm bẫy của dục lạc do ma vương hóa hiện để đánh lừa ta, như những con mồi hấp dẫn trong ấy có giấu một lưỡi câu. Hoa thật là những đóa hoa có hương thơm đức hạnh. Bài kệ thứ 4 và thứ 5 cho ta thấy tuy hình hài kia xinh đẹp như một bông hoa, nhưng nó vô thường như bọt nước, ta phải tìm cầu một cái gì có giá trị cao khiết hơn, đó là đóa hoa giác ngộ, đóa hoa giải thoát sinh tử.

Bài kệ thứ 7 nói về phong thái cần có của một vị xuất gia: Vị Sa Môn đi vào xóm làng để khất thực phải như một con ong đi thăm hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của hoa mà không làm hại đến sắc hương của hoa, không nên la cà, lợi dụng, khai thác, vướng mắc. Bài kệ này đã được đưa vào Giới kinh để các vị xuất gia đọc tụng mỗi tháng hai lần.

Bài kệ thứ hai nói rằng ai trong chúng ta nếu hết lòng tu học thì cũng có khả năng tuyển chọn Pháp cú, giảng giải Pháp cú và hái được những đóa hoa đức hạnh. Ta không cần phải đợi đến khi chứng đắc mới làm được điều này. Một người đang tu học (sekha, hữu học) nếu có tâm tu học là đã có khả năng làm việc này, chứ không phải chỉ khi tu học thành công và chứng đắc rồi (asekha, vô học) mới có thể làm được. Hai bài kệ 15 và 16 khuyên ta nên tu học tinh chuyên để trở thành những đóa sen tinh khiết hiến tặng cái đẹp và hương thơm đức hạnh cho cuộc đời đầy dẫy khổ đau hệ lụy. Sự có mặt của những người Phật tử chân chính trong cuộc đời là sự có mặt của hoa sen giữa chốn bùn lầy nước đọng. Đây chính là sứ mạng của người con Bụt.

 

Bài kệ 1

Thục năng trạch địa                       孰  能  擇  地

Xả giám thủ thiên                           捨  鑑  取 天

Thùy thuyết pháp cú                      誰  說  法  句

Như trạch thiện hoa                      如  擇  善  華

 

Ai là người tuyển chọn được các cõi, bỏ các vùng địa ngục mà chỉ giữ lại các tầng trời? Ai là người có thể tuyển chọn được Pháp Cú như một kẻ chuyên nghiệp có tài chọn hoa và kết thành tràng hoa?

 

Bài kệ 2

Học giả trạch địa               學  者  擇  地  

Xả giám thủ thiên              捨  鑑  取  天

Thiện thuyết pháp cú         善  說  法  句

Năng thái đức hoa             能  採  德  華

 

Một người đang thực tập tu học có thể hiểu thấu được các cõi, chọn lựa, giám sát được cả các tầng trời, có thể nói Pháp Cú, có thể hái được những đóa hoa đức hạnh.

 

Bài kệ 3

Tri thế khôi dụ                  知  世  坏  喻

Huyễn pháp hốt hữu         幻  法  忽  有

Đoạn ma hoa phu             斷  魔  華  敷

Bất đổ sanh tử                不  覩  生  死

 

Biết rằng cuộc đời cũng như đồ gốm chưa nung và các pháp đều như huyễn không thật có, thì có thể phá tan được tràng hoa mà ma vương đã phô diễn ra và chấm dứt được sinh tử.

 

Bài kệ 4

Kiến thân như mạt                 見  身  如  沫

Huyễn pháp tự nhiên              幻  法  自  然

Đoạn ma hoa phu                  斷  魔  華  敷

Bất đổ sanh tử                     不  覩  生  死

 

Thấy hình hài này như bọt nước, thấy thực chất các pháp là huyễn hóa thì có thể phá tan được tràng hoa của ma vương đã phô bày và chấm dứt được sinh tử.

 

Bài kệ 5

Thân bệnh tắc nuy          身  病  則  萎

Nhược hoa linh lạc          若  華  零  落

Sanh mạng lai chí           死  命  來  至

Như thủy thoan sậu         如  水  湍  驟

 

Thân mà bị bệnh thì héo úa cũng giống như bông hoa rơi rụng. Cái chết đến như một cơn lũ kéo phăng tất cả đi rất nhanh.

 

Bài kệ 6

Tham dục vô yểm              貪  欲  無  厭

Tiêu tán nhân niệm             消  散  人  念

Tà trí chi tài                       邪  致  之  財

Vi tự xâm khi                     為  自  侵  欺

 

Cứ để tham dục lôi cuốn, không biết nhàm chán thì tâm ý con người sẽ bị tán loạn, đưa đến bao nhiêu tà niệm để cho tự thân mình bị lừa gạt và xâm chiếm.

 

Bài kệ 7

Như phong tập hoa                   如  蜂  集  華

Bất nhiêu sắc hương                 不  嬈  色  香

Đản thủ muội khứ                      但  取  昧  去

Nhân nhập tụ nhiên                     仁  入  聚  然

Bất vụ quan bỉ                           不  務  觀  彼

Tác dữ bất tác                           作  與  不  作

Thường tự tỉnh thân                    常  自  省  身

Tri chánh bất chánh                     知  正  不  正

 

Như những con ong đi thăm hoa, không làm nhiễu hại đến sắc hương của bông hoa, chỉ lấy chút vị ngọt của nhị hoa. Vị khất sĩ nhân từ vào xóm làng cũng thế, không mãi nhìn kẻ khác, biết cái gì cần làm và cái gì không cần làm, biết tự tỉnh, biết cái gì là chính, cái gì là bất chính.

 

Bài kệ 8
Như khả ý hoa                               如  可  意  華

Sắc hảo vô hương                          色  好  無  香

Công ngữ như thị                           工  語  如  是

Bất hành vô đắc                             不  行  無  得

 

Như một đóa hoa ưng ý, có sắc mà không hương, nói lý thuyết suông cũng như thế, không thực tập thì làm gì có chứng đắc?

 

Bài kệ 9

Như khả ý hoa                      如  可  意  華

Sắc mỹ thả hương                色  美  且  香

Công ngữ hữu hành              工  語  有  行

Tất đắc kỳ phước                 必  得  其  福

 

Như một đóa hoa ưng ý, có sắc đẹp mà cũng có hương thơm, có nói có làm thì chắc chắn sẽ đạt được phước đức.

 

Bài kệ 10

Đa tác bảo hoa                     多  作  寶  花

Kết bộ diêu ỷ                        結  步  搖  綺

Quảng tích đức giả               廣  積  德  者

Sở sanh chuyển hảo              所  生  轉  好

 

Biết trồng nhiều loại hoa quý kết thành những tràng hoa đẹp, những ai biết chất chứa phước đức, sẽ chuyển sinh được trong những đời sống tốt đẹp.

 

Bài kệ 11

Kỳ thảo phương hoa                   奇  草  芳  花

Bất nghịch phong huân                不  逆  風  熏

Cận đạo phu khai                        近  道  敷  開

Đức nhân bức hương                   德  人  逼  香

 

Những kỳ hoa dị thảo thơm tho, khi đứng không ngược chiều gió thì mình được hưởng hương thơm, gần gũi với các bậc có đạo đức, thì ta được hưởng lây hương thơm đức hạnh của các vị ấy.

 

Bài kệ 12

Chiên đàn đa hương                旃  檀  多  香

Thanh liên phương hoa            青  蓮  芳  花

Tuy nhựt thị chân                     雖  曰  是  真

Bất như giới hương                 不  如  戒  香

 

Hương thơm chiên đàn, hương thơm sen xanh, tuy là có thật cũng chẳng sánh được với hương thơm giới hạnh.

 

Bài kệ 13

Hoa hương khí vi                華  香  氣  微

Bất khả vị chân                   不  可  謂  真

Trì giới chi hương               持  戒  之  香

Đáo thiên thù thắng             到  天  殊  勝

 

Hương thơm của hoa tuy là vi diệu, nhưng chưa chân thật bằng hương thơm của giới hạnh.

 

Bài kệ 14
Giới cụ thành tựu                           戒  具  成  就

Hành vô phóng dật                        行  無  放  逸

Định ý độ thoát                              定  意  度  脫

Trường ly ma đạo                           長  離  魔  道

 

Thành tựu giới hạnh một cách đầy đủ, tu tập không buông lung, tâm ý để hết vào thiền định thì có thể độ thoát được bản thân và viễn ly được ma đạo.

 

Bài kệ 15

Như tác điền câu                如  作  田  溝

Cận vu đại đạo                   近  于  大  道

Trung sanh liên hoa            中  生  蓮  華

Hương khiết khả ý              香  潔  可  意

 

Như ngồi bên một cái hố gần sát đại lộ, trong ấy mọc lên mấy đóa sen xinh đẹp, ta được mãn ý thưởng thức hương thơm tinh khiết của các đóa sen.

 

Bài kệ 16

Hữu sanh tử nhiên                   有  生  死  然

Phàm phu xứ biên                    凡  夫  處  邊

Tuệ giả lạc xuất                        慧  者  樂  出

Vi phật đệ tử                            為  佛  弟  子

 

Ngay trong cõi sinh tử, giữa đám phàm phu có các bậc tuệ giác xuất hiện, tạo ra được niềm vui cho sự sống. Làm được như thế là xứng đáng với danh hiệu Phật tử.

Kinh Điều Phục Tâm Ý

Như con rùa bảo hộ sáu vóc của nó, ta phải phòng hộ tâm ý ta như phòng hộ thành quách của mình.

 

Tâm Ý Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập nhất

心意品法句經第十一

Kinh Điều Phục Tâm Ý

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 11

Phẩm này có 12 bài kệ. Biết tâm ý là đầu mối của ngôn ngữ và hành động cho nên phải học cách điều phục tâm ý. Vì thế, phẩm này bổ sung cho phẩm Song Yếu (phẩm thứ 9). Bốn bài kệ đầu nói về ý như một cái gì khó nắm bắt. Nếu có chánh niệm (tuệ giác) thì mình mới có thể điều phục được ý, và làm cho tâm trở nên sáng chói. Bài kệ đầu đã có ý xiển dương giáo lý tâm tính bản tịnh. Bài thứ 6 nói về sự thực tập chánh niệm để điều phục tâm ý và giúp cho tâm ý không bị kẹt vào cái nhìn lưỡng nguyên (thiện ác, có không, sinh diệt, một nhiều,…). Bài kệ thứ 12 đưa ra hình ảnh con rùa giấu đi sáu vóc của nó để đừng bị tấn công, cũng như hành giả sử dụng chánh niệm để bảo hộ sáu căn, sáu thức, không để cho những thế lực ma quái làm hại. Hai bài số 7 và 8 không có trong bản Pali. Hai chữ kiến pháp của bài số 8 có thể dịch hoặc là ‘‘thấy được chánh pháp’’, hoặc ‘‘thấy được chân tướng các pháp’’.

 

Bài kệ 1

Ý sử tác cẩu                                  意  使  作  狗

Nan hộ nan cấm                             難  護  難  禁

Tuệ chánh kỳ bổn                        慧  正  其  本

Kỳ minh nãi đại                              其  明  乃  大

 

Ý thức lăng xăng như một con vượn, khó kiểm soát. Có tuệ giác thì chuyển hóa được nó tận gốc rễ, khi ấy nó sẽ sáng chói ra một cách vĩ đại.

 

Bài k 2

Khinh táo nan trì                            輕  躁  難  持

Duy dục thị tùng                            唯  欲  是  從

Chế ý vi thiện                                 制  意  為  善

Tự điều tắc ninh                             自  調  則  寧

 

Ý bồn chồn, khó mà nắm bắt, (chỉ có thể đi theo quán sát nó). Nếu chế ngự được ý, tự điều phục được tâm mình thì sẽ có bình an.

 

Bài kệ 3

Ý vi nan kiến                                   意  微  難  見

Tùy dục nhi hành                           隨  欲  而  行

Tuệ thường tự hộ                        慧  常  自  護

Năng thủ tức an                             能  守  即  安

 

Ý vi tế khó thấy, thường đi theo tham dục. Người có tuệ giác nhờ biết tự bảo hộ bản thân thường xuyên cho nên có thể chế ngự và đạt tới an lạc.

 

Bài kệ 4

Độc hành viễn thệ                          獨  行  遠  逝

Phúc tạng vô hình                          覆  藏  無  形

Tổn ý cận đạo                                 損  意  近  道

Ma hệ nãi giải                                 魔  繫  乃  解

 

Ý đi một mình, có thể đi rất xa, che dấu vô hình. Khép nó đi được vào con đường đạo thì mới thoát được những ràng buộc của ma quân.

 

Bài kệ 5

Tâm vô trụ tức                                心  無  住  息

Diệc bất tri Pháp                             亦  不  知  法

Mê ư thế sự                                     迷  於  世  事

Vô hữu chánh trí                            無  有  正  智

 

Nếu tâm không biết an trú, không biết dừng lại, cũng không am tường chân tướng của các pháp thì sẽ bị thế sự mê hoặc, không có được chánh trí.

 

Bài kệ 6

Niệm vô thích chỉ                           念  無  適  止

Bất tuyệt vô biên                          不  絕  無  邊

Phước năng át ác                           福  能  遏  惡

Giác giả vi hiền                               覺  者  為  賢

 

Nếu biết thực tập chánh niệm để dừng tâm lại, giữ cho nó không bị kẹt vào hai thái cực, thì phước đức sẽ có khả năng ngăn chặn được cái ác và giác ngộ thành bậc hiền giả.

 

Bài kệ 7

Phật thuyết tâm Pháp                    佛  說  心  法

Tuy vi phi chân                              雖  微  非  真

Đương giác dật ý                            當  覺  逸  意

Mạc tùy phóng tâm                        莫  隨  放  心

 

Bụt dạy, tâm ý tuy mầu nhiệm vi tế, nhưng không có gì chắc thật. Ta phải ý thức về cái bôn ba của nó, đừng để cho nó phóng túng.

Bài kệ 8

Kiến Pháp tối an                          見  法  最  安

Sở nguyện đắc thành                     所  願  得  成

Tuệ hộ vi ý                                   慧  護  微  意

Đoạn khổ nhân duyên                   斷  苦  因  緣

 

Thấy được chân tướng các pháp thì đạt tới an ổn tối thượng, thành đạt được sở nguyện. Người có trí tuệ biết hộ trì tâm ý vi tế của mình và chấm dứt các điều kiện đưa tới khổ đau.

 

Bài kệ 9

Hữu thân bất cửu                          有  身  不  久

Giai đương quy thổ                        皆  當  歸  土

Hình hoại thần khứ                       形  壞  神  去

Ký trụ hà tham                               寄  住  何  貪

 

Thân này không tồn tại lâu dài, sẽ trở lại thành đất. Khi hình hài hủy hoại thì thần thức phải đi, đó là chuyện phó thác, gửi gắm tạm thời, đừng có tham đắm.

 

Bài kệ 10

Tâm dự tạo xứ                                心  豫  造  處

Vãng lai vô đoan                            往  來  無  端

Niệm đa tà tích                            念  多  邪  僻

Tự vi chiêu ác                                 自  為  招  惡

 

Tâm tạo ra xứ sở, tới lui không đầu mối, cái liên tưởng thường đưa ta đi về hướng tà quấy để rồi tự mình chiêu lấy nghiệp quả ác.

 

Bài kệ 11

Thị ý tự tạo                                     是  意  自  造

Phi phụ mẫu vi                               非  父  母  為

Khả miễn hướng chánh                 可  勉  向  正

Vi phước vật hồi                            為  福  勿  回

 

Tất cả đều do tâm ý mình tự tạo tác ra, cha mẹ không làm gì để giúp mình được. Phải cố gắng hướng về nẻo chính, để làm việc phước đức, đừng đi ngược lại.

 

Bài kệ 12

Tạng lục như quy                           藏  六  如  龜

Phòng ý như thành                        防  意  如  城

Tuệ dữ ma chiến                             慧  與  魔  戰

Thắng tắc vô hoạn                         勝  則  無  患

 

Như con rùa bảo hộ sáu vóc của nó, ta phải phòng hộ tâm ý ta như phòng hộ thành quách của mình. Chỉ có tuệ giác mới có khả năng chiến thắng ma quân và sau chiến thắng đó sẽ không còn hoạn nạn nữa.

Kinh Tinh Chuyên

Thực tập không buông lung nghĩa là tự kiềm chế và điều phục được tâm mình. Kẻ có trí tuệ thì có khả năng làm cho định tâm chiếu sáng Và do đó không bao giờ còn trở lại vào vực sâu đen tối.

 

Phóng Dật  Phẩm Pháp Cú Kinh đệ  thập

放逸品法句經第十

Kinh Tinh Chuyên

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

 

Kinh thứ 10

Phẩm này có 20 bài kệ. Phóng dật là buông lung, là thiếu sự siêng năng, cần mẫn. Bài kệ thứ 12 dạy rằng muốn chế ngự được sự buông lung thì thực tập giới luật và uy nghi là cách hay nhất. Bài thứ 4 dạy rằng phải thường xuyên phát khởi năng lượng chánh niệm để có thể nhận diện tập khí. Đây là căn bản cho phép hành trì chánh tinh tấn. Tâm hành tiêu cực chưa sinh thì đừng cho phát sinh. Tâm hành tiêu cực đã phát sinh thì giúp nó trở về trạng thái tiềm ẩn (chủng tử) để nó không có cơ hội tăng trưởng. Tâm hành tích cực chưa phát sinh thì thực tập như lý tác ý để giúp chúng phát sinh. Tâm hành tích cực đã phát sinh thì duy trì chúng để chúng lớn mạnh. Điều phục được tâm ý mình là do năng lượng chánh niệm. Chánh niệm giúp ta hộ trì được sáu căn, như bài kệ thứ 6 nhắc nhở. Bài thứ 17 có hình ảnh rất đẹp: Xuất gia từ khi còn trẻ mà tu tập theo giáo pháp của Bụt một cách đầy đủ thì sẽ chiếu sáng được cho thế gian như một vầng trăng trong một bầu trời không mây. Bài này tương đương với bài kệ số 382 trong kinh Pháp Cú tiếng Pali, phẩm Bí Sô (Bhikkhu Vagga). Bài kệ 18 bày tỏ thái độ từ bi đối với những người đã có lỡ lầm phạm giới: Trước kia từng có lỗi lầm nhưng bây giờ đã chỉnh đốn lại, không còn phạm giới, thì cũng có thể chiếu sáng được cho thế gian như một mặt trăng trong bầu trời không mây. Bài này cũng có mặt trong phẩm Thế Tục (Loka Vagga) trong văn bản Pali. Đó là bài kệ số 172.

 

Bài kệ 1

Giới vi cam lồ đạo                          戒  為  甘  露  道

Phóng dật vi tử kính                      放  逸  為  死  徑

Bất tham tắc bất tử                         不  貪  則  不  死

Thất đạo vi tự tang                        失  道  為  自  喪

 

Giới là con đường đi tới bất tử (cam lồ đạo). Phóng dật (buông lung) là con đường đi vào nẻo chết. Không tham đắm thì không sa vào cái chết. Đánh mất hướng đi của mình thì làm hư hỏng cuộc đời mình.

 

Bài kệ 2

Tuệ trí thủ đạo thắng                     慧  智  守  道  勝

Chung bất vi phóng dật                 終  不  為  放  逸

Bất tham trí hoan hỉ                       不  貪  致  歡  喜

Tùng thị đắc đạo lạc                       從  是  得  道  樂

 

Kẻ có trí tuệ nhờ giữ cho được sự thực tập cho nên vượt thắng được tất cả, đó là do không để cho sự buông lung lôi kéo. Con đường không tham dục đưa tới niềm vui và hạnh phúc của sự tu tập.

 

Bài kệ 3

Thường đương duy niệm đạo         常  當  惟  念  道

Tự cường thủ chánh hạnh                自  強  守  正  行

Kiện giả đắc độ thế                         健  者  得  度  世  

Cát tường vô hữu thượng                吉  祥  無  有  上

 

Phải thường xuyên nhớ tới con đường (bát chánh) đạo, dũng mãnh nắm giữ sự hành trì chân chính. Người có sức mạnh của sự thực tập tâm linh có khả năng vượt thoát thời gian và đạt tới sự an lành cao nhất.

 

Bài kệ 4

Chánh niệm thường hưng khởi         正  念  常  興  起

Hành tịnh ác dịch diệt                     行  淨  惡  易  滅

Tự chế dĩ pháp thọ                         自  制  以  法  壽

Bất phạm thiện danh tăng                不  犯  善  名  增

 

Phải nhớ thường xuyên phát khởi năng lượng chánh niệm. Nhờ đời sống phạm hạnh mà các tập khí tiêu cực dễ được chuyển hóa. Biết tiết chế bản thân cho nên sự thực tập giáo pháp của mình được tồn tại lâu dài. Nhờ không vi phạm giới luật cho nên các pháp lành cứ tiếp tục được lớn mạnh.

 

Bài kệ 5

Phát hạnh bất phóng dật               發  行  不  放  逸

Ước dĩ tự điều tâm                       約  以  自  調  心

Tuệ năng tác định minh                 慧  能  作  定  明

Bất phản minh uyên trung             不  返  冥  淵  中

 

Thực tập không buông lung nghĩa là tự kiềm chế được mình, tự điều phục được tâm mình. Kẻ có trí tuệ thì có khả năng làm cho định tâm chiếu sáng và do đó không bao giờ còn bị rơi trở lại vào vực sâu đen tối.

 

Bài kệ 6

Ngu nhân ý nan giải                      愚  人  意  難  解

Tham loạn hảo tranh tụng             貪  亂  好  諍  訟

Thượng trí thường trọng thận       上  智  常  重  慎

Hộ tư vi bảo tôn                          護  斯  為  寶  尊

 

Kẻ u mê vì tâm trí không có khả năng lý giải được sự việc cho nên cứ để cho lòng tham của mình đưa tới chỗ thác loạn, ưa tranh cãi với kẻ khác. Những bậc có trí tuệ thì luôn luôn thận trọng, biết hộ trì các căn cho nên bảo trì được những gì quý giá và đáng tôn trọng.

 

Bài kệ 7

Mạc tham mạc hảo tránh              莫  貪  莫  好  諍

Diệc mạc thị dục lạc                      亦  莫  嗜  欲  樂

Tư tâm bất phóng dật                    思  心  不  放  逸

Khả dĩ hoạch đại an                       可  以  獲  大  安

 

Đừng tham lam, đừng ưa tranh cãi, cũng đừng để cho thị dục kéo mình đi. Phải biết quán chiếu tâm tư mình, đừng để phóng dật, như thế mới đạt được cái an ổn lớn.

 

Bài k 8

Phóng dật như tự cấm                    放  逸  如  自  禁

Năng khước chi vi hiền                    能  却  之  為  賢

Dĩ thăng trí tuệ các                         已  昇  智  慧  閣

Khứ nguy vi tức an                         去  危  為  即  安

 

Ai chế ngự được thói phóng dật thì có khả năng trở thành bậc hiền nhân. Đã leo lên được lầu tuệ giác rồi là thoát được mọi tai nạn và đạt được sự an ổn.

 

Bài kệ 9

Minh trí quán ư ngu                       明  智  觀  於  愚

Thí như sơn dữ địa                        譬  如  山  與  地

Cư loạn nhi thân chánh                   居  亂  而  身  正

Bỉ vi độc giác ngộ                           彼  為  獨  覺  悟

Thị lực quá sư tử                            是  力  過  師  子

Khí ác vi đại trí                               棄  惡  為  大  智

 

Quan sát kẻ trí với người ngu, ta thấy có sự cách biệt lớn như núi cao và đồng bằng. Trong hoàn cảnh tao loạn, người trí vẫn giữ được mình trên con đường chánh đạo. Đó là sự có mặt của sức mạnh giác ngộ còn lại trong nhân gian. Sức mạnh ấy còn lớn hơn sức mạnh của con sư tử. Nhờ buông bỏ được những hệ lụy cho nên người ấy trở nên bậc đại trí.

 

Bài kệ 10

Thụy miên trọng nhược sơn             睡  眠  重  若  山

Si minh vi sở tệ                               癡  冥  為  所  弊

An ngọa bất kế khổ                         安  臥  不  計  苦

Thị dĩ  thường thụ thai                     是  以  常  受  胎

 

Những kẻ ngủ li bì suốt ngày, thân tâm nặng nề như trái núi, bị si mê che lấp tâm trí, không thấy được những khổ đau của cuộc đời, những kẻ ấy thế nào cũng sẽ phải gánh chịu luân hồi trong nhiều kiếp.

 

Bài kệ 11

Bất vi thời tự tứ                              不  為  時  自  恣

Năng chế lậu đắc tận                      能  制  漏  得  盡

Tự tứ ma đắc tiện                           自  恣  魔  得  便

Như sư tử bác lộc                           如  師  子  搏  鹿

 

Buông lung không kể gì đến thì giờ đang thấm thoát đi qua, không có khả năng chế ngự bản thân và chấm dứt lậu hoặc thì sẽ trở thành con mồi của ma quân, cũng như con nai làm mồi cho con sư tử.

 

Bài kệ 12

Năng bất tự tứ giả                       能  不  自  恣  者

Thị vi giới Tỳ-kheo                         是  為  戒  比  丘

Bỉ tư chánh tịnh giả                        彼  思  正  淨  者

Thường đương tự hộ tâm              常  當  自  護  心

 

Người có khả năng chế ngự được phóng dật là vị tỳ khưu đang thực tập giới luật tinh chuyên. Đó là người biết thực tập chánh tư duy và biết tự bảo hộ cho tâm ý của mình.

 

Bài kệ 13

Tỳ-kheo cẩn thận lạc                     比  丘  謹  慎  樂

Phóng dật đa ưu khiên                  放  逸  多  憂  愆  

Biến tránh tiểu trí đại                     變  諍  小  致  大

Tích ác nhập hỏa diệm                  積  惡  入  火  焰

 

Vị tỳ khưu đề cao cảnh giác về các đối tượng dục lạc, biết rằng phóng dật đưa tới nhiều lo lắng và khổ nạn. Cái tệ nạn nhỏ có thể trở thành cái tệ nạn lớn; cứ chất chứa mãi những cái hệ lụy nhỏ thì sẽ có cái hệ lụy lớn, rốt cuộc là sa vào hầm lửa cháy.

 

Bài kệ 14

Thủ giới phước trí thiện                 守  戒  福  致  善

Phạm giới hữu cụ tâm                   犯  戒  有  懼  心

Năng đoạn tam giới lậu                 能  斷  三  界  漏

Thử nãi cận nê hoàn                     此  乃  近  泥  洹

 

Hành trì giới luật nghiêm chỉnh đưa tới chốn an lành. Phạm giới làm phát sinh tâm sợ hãi. Có khả năng đoạn trừ những phiền não và lậu hoặc trong ba cõi thì mới có thể tiếp cận được Niết Bàn.

 

Bài kệ 15

Nhược tiền phóng dật                    若  前  放  逸

Hậu năng tự cấm                           後  能  自  禁

Thị chiếu thế gian                          是  炤  世  間

Niệm định kỳ nghi                          念  定  其  宜

 

Nếu trước đây có phóng dật mà sau đó lại có thể tiết chế được mình thì cũng sẽ có được đủ chánh niệm và chánh định để soi sáng cho thế gian.

 

Bài kệ 16

Quá thất vi ác                                 過  失  為  惡

Truy phúc dĩ thiện                           追  覆  以  善

Thị chiếu thế gian                           是  炤  世  間

Niệm thiện kỳ nghi                          念  善  其  宜

 

Nếu trước đây có vi phạm, có lỗi lầm mà bây giờ biết trở về với con đường thánh thiện thì cũng sẽ có được đủ chánh niệm và chánh định để soi sáng cho thế gian.

 

Bài kệ 17

Thiểu trang xả gia                        少  莊  捨  家

Thịnh tu Phật giáo                          盛  修  佛  教

Thị chiếu thế gian                           是  炤  世  間

Như nguyệt vân tiêu                        如  月  雲  消

 

Xuất gia từ khi còn trẻ tuổi mà tu tập theo giáo pháp của Bụt một cách đầy đủ thì sẽ chiếu sáng được cho thế gian như một vầng trăng trong bầu trời không mây.

 

Bài kệ 18

Nhân tiền vi ác                              人  前  為  惡

Hậu chỉ bất phạm                          後  止  不  犯

Thị chiếu thế gian                          是  炤  世  間

Như nguyệt vân tiêu                      如  月  雲  消

 

Trước kia đã từng có lỗi lầm nhưng bây giờ đã chỉnh đốn lại, không còn phạm giới thì cũng chiếu sáng được cho thế gian như một mặt trăng trong bầu trời không mây (nguyệt vân tiêu).

 

Bài kệ 19

Sanh bất thí não                             生  不  施  惱

Tử nhi bất thích                              死  而  不  慼

Thị kiến đạo hãn                             是  見  道  悍

Ưng trung vật ưu                           應  中  勿  憂

 

Khi sống không gây đau khổ não phiền cho ai thì đến khi chết cũng sẽ không lo buồn hổ thẹn. Biết mình đã đi vào được con đường chính cho nên không còn lo ngại gì nữa.

 

Bài kệ 20

Đoạn trọc hắc pháp                      斷  濁  黑  法

Học duy thanh bạch                      學  惟  清  白

Độ uyên bất phản                         度  淵  不  反

Khí y hành chỉ                              棄  猗  行  止

Bất phục nhiễm lạc                       不  復  染  樂

Dục đoạn vô ưu                           欲  斷  無  憂

 

Đoạn trừ những gì đen tối uế trược, chỉ học theo những gì thanh bạch, làm như thế thì có thể vượt qua được hố thẳm một cách vĩnh viễn. Khi làm cũng như khi nghỉ, buông bỏ được mọi vướng bận ỷ lại, không còn vướng víu vào vòng ái nhiễm. Bởi vì một khi ái dục đã được đoạn trừ thì hành giả sẽ không còn phải bận tâm lo lắng gì nữa.