Kinh Phật Bảo

Người đi thuyền biết cách điều phục con nước, người tu lấy tinh tấn làm cầu để bước sang, con người lấy chủng tánh để nối kết, nếu muốn độ người phải có sức kiện hùng.

 

Thuật Phật Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ nhị thập nhị

述佛品法句經第二十二

Kinh Phật Bảo

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 22

 

Phẩm này có 21 bài kệ, có mục đích xưng tán đức Thế Tôn bằng cách nói ra được những gì mà Bụt đã có thể thực hiện như một con người. Trước hết, Bụt là người đã đạt được chiến thắng, một thứ chiến thắng oanh liệt nhất: đó là chiến thắng bản thân, chiến thắng phiền não, đạt tới tự do lớn. Bụt là người đã xé toang được màn lưới ái ân, màn lưới vô minh phiền não, là người mà trí tuệ và từ bi không còn có thể đo lường được. Bụt vốn là một con người, nhờ tu tập mà đạt tới vô sinh. Cho nên, là con người ta có thể đi theo Bụt, nương tựa nơi Bụt, nơi giáo pháp và nơi tăng đoàn của người. Bài kệ thứ 21 xưng tán Tam Bảo: Hạnh phúc thay, có Bụt ra đời! Hạnh phúc thay, có chánh pháp đó cho chúng ta tu tập! Hạnh phúc thay, có tăng đoàn đó để hướng dẫn, bảo hộ và soi sáng cho ta trên đường tu học!

 

Bài kệ 1

Kỷ thắng bất thọ ác                        己  勝  不  受  惡

Nhất thiết thắng thế gian                 一  切  勝  世  間

Duệ trí khuếch vô cường                 叡  智  廓  無  彊

Khai mông lệnh nhập đạo                開  曚  令  入  道

 

Đã chiến thắng phiền não, để phiền não không còn làm gì được người, sự chiến thắng này vượt lên tất cả các thứ chiến thắng khác trong thế gian. Trí tuệ thông duệ hoàn toàn không còn có biên cương, Bụt đã mở lối để cho những kẻ u mê có thể đi vào được con đường đạo.

 

Bài kệ 2

Quyết võng vô quái ngại                 決  網  無  罣  礙

Ái tận vô sở tích                           愛  盡  無  所  積

Phật ý thâm vô cực                        佛  意  深  無  極

Vị tiễn tích lệnh tiễn                        未  踐  迹  令  踐

 

Xé toang màn lưới, không còn chướng ngại, ân ái đã tận diệt, không còn sót lại gì, tâm ý của Bụt thâm sâu không cùng, chẳng có thể tìm được dấu tích.

 

 

Bài kệ 3

Dũng kiện lập nhất tâm                    勇  健  立  一  心

Xuất gia nhật dạ diệt                       出  家  日  夜  滅

Căn đoạn vô dục ý                          根  斷  無  欲  意

Học chánh niệm thanh minh              學  正  念  清  明

 

Dũng kiện một lòng, xuất gia đêm ngày qua, quyết đoạn trừ gốc rễ của mọi dục ý, thực tập chánh niệm trong sáng.

 

Bài kệ 4

Kiến đế tịnh vô uế                         見  諦  淨  無  穢

Dĩ độ ngũ đạo uyên                        已  度  五  道  淵

Phật xuất chiếu thế gian                  佛  出  照  世  間

Vi trừ chúng ưu khổ                        為  除  眾  憂  苦

 

Thấy chân lý, đạt thanh tịnh, vô uế, vượt qua năm dòng sông phiền não (tham, sân, si, mạn, nghi kiến). Bụt xuất hiện, chiếu sáng thế gian để giúp trừ diệt mọi ưu khổ của cuộc đời.

 

Bài kệ 5

Đắc sanh nhân đạo nan                 得  生  人  道  難

Sanh thọ diệc nan đắc                    生  壽  亦  難  得

Thế gian hữu Phật nan                  世  間  有  佛  難

Phật Pháp nan đắc văn                  佛  法  難  得  聞

 

Được sinh làm người là dịp hiếm có. Sinh ra và sống lâu cũng hiếm. Sự kiện có một vị Bụt ra đời trên thế gian là chuyện rất hiếm. Được có cơ hội học hỏi pháp Bụt cũng là một dịp rất hiếm.

 

Bài kệ 6

Ngã ký vô quy bảo                         我  既  無  歸  保

Diệc độc vô bạn lữ                        亦  獨  無  伴  侶

Tích nhất hành  đắc Phật                積  一  行  得  佛

Tự nhiên thông thánh đạo               自  然  通  聖  道

 

Ta vốn không có thầy dạy, cũng không được bạn ta chỉ dẫn, chỉ một mình tu tập mà thành công, tự nhiên mà thông đạt được con đường thánh đạo.

 

Bài kệ 7

Thuyền sư năng độ thủy                 船  師  能  渡  水

Tinh tấn vi kiều lương                     精  進  為  橋  梁

Nhân dĩ chủng tính hệ                   人  以  種  姓  繫

Độ giả vi kiện hùng                        度  者  為  健  雄

 

Người đi thuyền biết cách điều phục con nước, người tu lấy tinh tấn làm cầu để bước sang, con người lấy chủng tánh để nối kết, nếu muốn độ người phải có sức kiện hùng.

 

Bài kệ 8

Hoại ác độ Phật                              壞  惡  度  為  佛

Chỉ địa vi Phạm chí                         止  地  為  梵  志

Trừ cận vi học Pháp                       除  饉  為  學  法

Đoạn chủng vi đệ tử                        斷  種  為  弟  子

 

Chỉ có một vị Bụt mới phá hủy được ác đạo và bước qua bờ bên kia. Chỉ có một bậc Phạm chí mới dừng lại được sự tái sinh vào các cõi luân hồi. Chỉ có những pháp môn tu học mới trừ diệt được những cơn đói kém tâm linh. Chỉ có người đệ tử giỏi mới có khả năng đoạn trừ được những hạt giống xấu trong tâm điền.

 

Bài kệ 9

Quán hành nhẫn đệ nhất                 觀  行  忍  第  一

Phật thuyết nê hoàn tối                    佛  說  泥  洹  最

Xả tội tác sa môn                            捨  罪  作  沙  門

Vô nhiêu hại ư bỉ                             無  嬈  害  於  彼

 

Quán sát cho kỹ thì trong các hạnh, nhẫn nhục là hạnh đầu. Bụt dạy Niết Bàn là cái tối thắng (trong tất cả các cái mà ta có thể tìm cầu). Đã là một vị sa môn thì phải buông bỏ mọi tội chướng, không làm hại kẻ khác.

 

Bài kệ 10

Bất nhiêu diệc bất não                    不  嬈  亦  不  惱

Như giới nhất thiết trì                      如  戒  一  切  持

Thiểu thực xả thân tham                 少  食  捨  身  貪

Hữu hành u ẩn xứ                           有  行  幽  隱  處

Ý đế dĩ hữu hiệt                             意  諦  以  有  黠

Thị năng phụng Phật giáo              是  能  奉  佛  教

 

Không nhiễu hại, không làm phiền kẻ khác, mỗi hành động đều phù hợp với giới luật, ăn uống có tiết độ, buông bỏ tham dục bản thân, biết sống nơi yên tĩnh, tâm ý vững chãi hướng về chứng đắc chân lý, như vậy mới thực sự là làm theo lời Bụt dạy.

 

Bài kệ 11

Chư ác mạc tác                               諸  惡  莫  作

Chư thiện phụng hành                       諸  善  奉  行

Tự tịnh kỳ ý                                     自  淨  其  意

Thị  chư Phật giáo                            是  諸  佛  教

 

Đừng làm các điều ác, vâng làm các điều lành, thanh lọc tâm ý mình, đó là lời chư Bụt dạy.

 

Bài kệ 12

Phật vi tôn quý                               佛  為  尊  貴

Đoạn lậu vô dâm                            斷  漏  無  婬

Chư thích trung hùng                      諸  釋  中  雄

Nhất quần tùng tâm                        一  群  從  心

 

Bụt là bậc tôn quý, đã đoạn trừ mọi lậu hoặc và không còn phóng đãng, đó là bậc anh hùng trong dòng họ Thích, tất cả quần chúng đều hết lòng đi theo Ngài.

 

Bài kệ 13

Khoái tai phước báo                      快  哉  福  報

Sở nguyện giai thành                       所  願  皆  成

Mẫn ư thượng tịch                          敏  於  上  寂

Tự trí nê hoàn                                 自  致  泥  洹

 

Hạnh phúc thay, phúc báo và sở nguyện đều đã thành tựu, đến được nơi vắng lặng cao nhất, tự mình đi tới Niết Bàn.

 

Bài kệ 14

Hoặc đa tự quy                               或  多  自  歸

Sơn xuyên thọ thần                          山  川  樹  神

Miếu lập đồ tượng                           廟  立  圖  像

Tế tự cầu phước                             祭  祠  求  福

 

Có những người đi tìm chỗ nương tựa nơi núi, sông, thần cây, miếu vũ, tượng thần, tế tự, cầu phước.

 

Bài kệ 15

Tự quy như thị                                自  歸  如  是

Phi cát phi thượng                           非  吉  非  上

Bỉ bất năng lai                                 彼  不  能  來

Độ ngã chúng khổ                           度  我  眾  苦

 

Những chỗ nương tựa như thế không phải là những chỗ nương tựa tốt lành, siêu việt, bởi vì những cái ấy không thể che chở ta và giúp cho người ta bớt khổ.

 

 

Bài kệ 16

Như hữu tự quy                                如  有  自  歸

Phật Pháp thánh chúng                     佛  法  聖  眾

Đạo đức Tứ đế                                道  德  四  諦

Tất kiến chánh tuệ                            必  見  正  慧

 

Nếu biết trở về nương tựa nơi Phật, Pháp và thánh chúng, nơi con đường Tứ đế đạo đức thì có thể đạt được ân huệ chân chính.

 

Bài kệ 17

Sanh tử cực khổ                              生  死  極  苦

Tùng đế đắc độ                               從  諦  得  度

Độ thế bát đạo                                度  世  八  道

Tư trừ chúng khổ                             斯  除  眾  苦

 

Cái khổ sinh tử là cái khổ lớn nhất. Nhờ tuệ giác về Tứ diệu đế mà đi đến được giải thoát. Con đường Bát chánh có khả năng độ đời, trừ diệt mọi khổ đau.

 

Bài kệ 18

Tự quy tam tôn                               自  歸  三  尊

Tối cát tối thượng                           最  吉  最  上

Duy độc hữu thị                             唯  獨  有  是

Độ nhất thiết khổ                            度  一  切  苦

 

Quy y Tam bảo là lành nhất, cao nhất, chỉ có con đường ấy mới giúp ta vượt qua được tất cả khổ đau.

 

Bài kệ 19

Sĩ như trung chánh                         士  如  中  正

Chí đạo bất xan                              志  道  不  慳

Lợi tai tư nhân                                利  哉  斯  人

Tự quy Phật giả                              自  歸  佛  者

 

Bậc nhân sĩ cũng như giới trung lưu, nên hết lòng đi theo chánh đạo, đừng chỉ lo bo bo giữ gìn tiền của. Những người như thế quy y theo Phật sẽ có nhiều lợi lạc.

 

Bài kệ 20

Minh nhân nan trị                              明  人  難  值

Diệc bất bỉ hữu                                亦  不  比  有

Kỳ sở sanh xứ                                 其  所  生  處

Tộc thân mông khánh                       族  親  蒙  慶

 

Rất ít có dịp gặp được bậc minh triết, cũng rất hiếm có những địa phương có thể sản sinh ra một bậc minh triết. Khi có một người như thế ra đời thì tất cả các thân tộc đều vui sướng ăn mừng.

 

Bài k 21

Chư Phật hưng khoái                    諸  佛  興  快

Thuyết kinh đạo khoái                  說  經  道  快

Chúng tụ hòa khoái                      眾  聚  和  快

Hòa tắc thường an                       和  則  常  安

 

Hạnh phúc thay có chư Phật ra đời, hạnh phúc thay được nghe kinh pháp, hạnh phúc thay chúng tăng đang sống hòa hợp. Có sự hòa hợp thì sẽ mãi mãi có niềm an vui.

Kinh Thoát Tục

Như những con nhạn khôn ngoan giúp cả bày nhạn vượt lưới bay cao; cũng như thế, có những bậc cao minh có tu, có học, có trí tuệ cao vời, có khả năng dẫn dắt người đời người đời vượt thoát lưới tà.

 

Thế Tục Phẩm Pháp Cú Kinh đệ nhị thập nhất

世俗品法句經第二十一

Kinh Thoát Tục

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 21

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Thế tục đây là cuộc đời tục lụy (loka). Bài kệ thứ 4 đưa ra những hình ảnh về thế giới tục lụy: mọi hiện tượng đều mong manh như những chùm bọt nổi trên mặt nước, như những cơn mộng huyễn, như những hóa thành (maricika), và tâm ý ta thì lại như một con ngựa hoang chưa được điều phục. Bài thứ 8 đưa ra hình ảnh rất đẹp của những con nhạn khôn ngoan giúp cả bầy nhạn vượt lưới bay cao; cũng như thế, có những bậc cao minh có tu, có học, có trí tuệ cao vời, có khả năng dẫn dắt người đời vượt khỏi lưới tà. Đó là những người có mắt tuệ, phải hết lòng yểm trợ cho những nhóm người như thế. Ba bài kệ đầu nói tới sự cần thiết của con đường chánh đạo: phải giữ vững hướng đi, đừng bao giờ bỏ con đường lớn và bằng phẳng ấy để đi vào một lối nhỏ gập ghềnh. Trục xe đời sẽ gãy, vì thế mà mình không có cơ hội vượt thoát cõi sinh tử.

 

Bài kệ 1

Như xa hành đạo                            如  車  行  道

Xả bình đại đồ                               捨  平  大  途

Tùng tà kính bại                             從  邪  徑  敗

Sanh chiết trục ưu                         生  折  軸  憂

 

Một chiếc xe bỏ con đường lớn và bằng phẳng để đi vào một đường hẻm gập ghềnh ắt phải chịu cái khổ làm gãy trục xe.

 

Bài kệ 2

Ly Pháp như thị                             離  法  如  是

Tùng phi pháp tăng                      從  非  法  增

Ngu thủ chí tử                               愚  守  至  死

Diệc hữu chiết hoạn                      亦  有  折  患

 

Rời bỏ con đường chánh pháp cũng thế: những gì trái với đạo lý càng ngày càng lớn mạnh sẽ đưa người ngu phu tới chỗ chết. Đó là một thứ tai nạn gãy trục xe đời.

 

Bài kệ 3

Thuận hành chánh đạo                  順  行  正  道

Vật tùy tà nghiệp                          勿  隨  邪  業

Hành trụ ngọa an                          行  住  臥  安

Thế thế vô hoạn                            世  世  無  患

 

Vậy nên ta phải tiếp tục hành trì theo chánh đạo, đừng theo đuổi những công việc có tính cách trái với chánh pháp. Có như thế thì trong bốn tư thế đi, đứng, nằm và ngồi ta sẽ có sự an ổn và tai nạn sẽ không xảy tới, trong đời này cũng như trong các đời sau.

 

Bài kệ 4

Vạn vật như phao                           萬  物  如  泡

Ý như dã mã                                 意  如  野  馬

Cư thế nhược huyễn                      居  世  若  幻

Nại hà lạc thử                                奈  何  樂  此

 

Những gì xảy ra trong cuộc đời đều mong manh như chùm bọt nổi trên mặt nước, trong khi ấy thì tâm ý của ta lại như một con ngựa hoang. Ở đời cái gì cũng (vô thường) như mộng huyễn, tại sao ta lại đi tìm lạc thú trong những gì mong manh ấy?

 

Bài kệ 5

Nhược năng đoạn thử                     若  能  斷  此

Phạt kỳ thụ căn                              伐  其  樹  根

Nhật dạ như thị                              日  夜  如  是

Tất chí vu định                               必  至  于  定

 

Nếu chặt đứt được gốc rễ của tham dục thì ngày cũng như đêm sẽ thành tựu được chánh định.

 

Bài kệ 6

Nhất thí như tín                             一  施  如  信

Như lạc chi nhân                            如  樂  之  人

Hoặc tùng não ý                            或  從  惱  意

Dĩ phạn thực chúng                        以  飯  食  眾

Thử bối nhật dạ                             此  輩  日  夜

Bất đắc định ý                                不  得  定  意

 

Dù đang thực tập bố thí, dù đang cung cấp thức ăn cho người, dù có tin rằng làm như thế là đang đem lại hạnh phúc cho người; nhưng nếu trong khi đang làm những công việc ấy mà tâm ý mình còn mang nặng những phiền não thì những hành động ấy cũng chưa đem lại được cho mình chánh định, ngày cũng như đêm.

 

Bài kệ 7

Thế tục vô nhãn                             世  俗  無  眼

Mạc kiến đạo chân                        莫  見  道  真

Như thiểu kiến minh                     如  少  見  明

Đương dưỡng thiện ý                    當  養  善  意

 

Trong cuộc đời, người có con mắt tuệ rất hiếm, cho nên ít ai thấy được cái chân thật của đạo lý. Vì vậy nếu có được một nhóm người còn sáng suốt thì phải giúp nuôi dưỡng thiện ý của nhóm người này.

 

Bài kệ 8

Như nhạn tướng  quần                      如  鴈  將  群

Tị la cao tường                                避  羅  高  翔

Minh nhân đạo thế                            明  人  導  世

Độ thoát tà chúng                            度  脫  邪  眾

 

Như những con nhạn khôn ngoan giúp cả bầy nhạn vượt lưới bay cao, những con người cao minh phải dẫn dắt người đời vượt thoát lưới tà.

 

Bài kệ 9

Thế giai hữu tử                               世  皆  有  死

Tam giới vô an                               三  界  無  安

Chư thiên tuy lạc                            諸  天  雖  樂

Phước tận diệc tang                       福  盡  亦  喪

 

Ai rồi cũng phải chết. Cả ba cõi đều không an ổn. Chư thiên tuy đang hưởng lạc thú ở các cõi trời, nhưng khi phước báo đã hết cũng phải đọa lạc trở lại.

 

Bài kệ 10

Quán chư thế gian                         觀  諸  世  間

Vô sanh bất chung                         無  生  不  終

Dục ly sanh tử                               欲  離  生  死

Đương hành đạo chân                    當  行  道  真

 

Phải quán sát thế gian: hễ có sinh là có tử. Muốn lìa bỏ sinh tử, phải hành trì chánh đạo.

 

Bài kệ 11

Si phú thiên hạ                              癡  覆  天  下

Tham lệnh bất kiến                         貪  令  不  見

Tà nghi khước đạo                         邪  疑  却  道

Khổ ngu tùng thị                             苦  愚  從  是

 

Vô minh bao phủ thế gian, lòng tham che lấp không cho người ta thấy được sự thực, tà kiến khiến cho người ta xa lìa con đường chính, do đó mà khổ đau cứ tiếp tục trong u mê.

 

Bài kệ 12

Nhất pháp thoát quá                        一  法  脫  過

Vị vọng ngữ nhân                            謂  妄  語  人

Bất miễn hậu thế                            不  免  後  世

Mĩ ác bất cánh                               靡  惡  不  更

 

Còn một cái tệ hại lớn nữa của thế gian: đó là sự nói dối. Người đã lỡ nói dối một lần rồi thì cứ tiếp tục nói dối mãi, và cứ lặp lại mãi những lỗi lầm mà mình đã phạm.

 

Bài kệ 13

Tuy đa tích trân bảo                       雖  多  積  珍  寶

Tung cao chí vu thiên                     嵩  高  至  于  天

Như thị mãn thế gian                      如  是  滿  世  間

Bất như kiến đạo tích                     不  如  見  道  迹

 

Dù có chất chứa châu báu cao đến tận trời, tràn ngập cả thế gian thì cũng không bằng thấy được con đường đạo.

 

Bài kệ 14

Bất thiện tượng như thiện                   不  善  像  如  善

Ái như tự vô ái                                   愛  如  似  無  愛

Dĩ khổ vi lạc tượng                            以  苦  為  樂  像

Cuồng phu vi sở yếm                        狂  夫  為  所  厭

 

Cái bất thiện mà nói là cái thiện, cái tham ái mà nói không phải là cái tham ái, cái khổ mà nói là cái vui, kẻ ngu phu dại dột bị hại vì những nhận thức đảo ngược như thế.

Kinh Thương Thân

Thân mình chưa có lợi lạc, làm sao làm lợi lạc cho người; tâm điều phục, thân ngay vững, thì nguyện nào không thành?

 

Ái  Thân Phẩm  Pháp Cú Kinh đệ nhị thập

愛身品法句經第二十

Kinh Thương Thân

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 20

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Thân đây không có nghĩa là hình hài, mà là bản thân (atta). Kinh này dạy phải lo cho tự thân trước khi có thể giúp đời. Lo cho tự thân là phải tìm ra con đường chánh, phải biết trì giới, học hỏi chánh pháp, đừng lo lắng, thực tập để chuyển hóa những tập khí xấu nơi mình. Hành động xấu nghiền nát ta như kim cương cà một viên ngọc, không trì giới sẽ như cỏ dại leo đầy.

 

Bài kệ 1

Tự ái thân giả                                 自  愛  身  者

Thận hộ sở thủ                               慎  護  所  守

Hy vọng dục giải                             悕  望  欲  解

Học chánh bất mị                            學  正  不  寐

 

Thương thân thì phải cẩn thận bảo hộ cho thân biết mong cầu giải thoát, biết thực tập theo con đường chính giữ cho đừng bị hôn trầm.

 

Bài kệ 2

Vi thân đệ nhất                              為  身  第  一

Thường tự miễn học                     常  自  勉  學

Lợi nãi hối nhân                            利  乃  誨  人

Bất quyền tắc trí                         不  惓  則  智

 

Lo cho thân thì trước hết phải gắng sức thực tập, lúc đó dạy người mới có lợi lạc, thực tập không mỏi mệt mới đạt tới trí tuệ.

 

Bài kệ 3

Học tiên tự chánh                         學  先  自  正

Nhiên hậu chánh  nhân                   然  後  正  人

Điều thân nhập tuệ                        調  身  入  慧

Tất thiên vi thượng                        必  遷  為  上

 

Phải tự sửa mình trước khi dạy người, điều phục được thân và phát khởi tuệ giác là việc phải làm trước.

 

Bài kệ 4

Thân bất năng lợi                           身  不  能  利

An năng lợi nhân                            安  能  利  人

Tâm điều thể chánh                       心  調  體  正

Hà nguyện bất chí                         何  願  不  至

 

Thân mình chưa có lợi lạc, làm sao làm lợi lạc cho người; tâm điều phục, thân ngay vững, thì nguyện nào không thành?

 

Bài kệ 5

Bổn ngã sở tạo                                本  我  所  造

Hậu ngã tự thọ                                 後  我  自  受

Vi ác tự cánh                                   為  惡  自  更

Như cương toản châu                       如  剛  鑽  珠

 

Cái gì ta tự tạo ra, sau này ta phải thọ báo, cái ác nghiền nát ta ra như kim cương cà ngọc.

Bài kệ 6

Nhân bất trì giới                             人  不  持  戒

Tư mạn như đằng                           滋  蔓  如  藤

Sính tình cực dục                           逞  情  極  欲

Ác hành nhật tăng                           惡  行  日  增

 

Người không trì giới thì để cho cái dục cái tình làm cho hành vi xấu ác càng ngày càng lớn mạnh, cũng giống cỏ hoang mọc đầy như giây leo.

 

Bài kệ 7

Ác hành nguy thân                          惡  行  危  身

Ngu dĩ vi dị                                    愚  以  為  易

Thiện tối an thân                            善  最  安  身

Ngu dĩ vi nan                                 愚  以  為  難

 

Hành động xấu làm nguy hoại thân, người ngu cho là việc dễ làm; hành động tốt lành làm thân an ổn, người ngu cho là việc khó làm.

 

Bài kệ 8

Như chân nhân giáo                        如  真  人  教

Dĩ đạo pháp thân                            以  道  法  身

Ngu giả tật chi                                愚  者  疾  之

Kiến nhi vi ác                                  見  而  為  惡

 

Như bậc chân nhân dạy, phải lấy đạo làm phép tắc cho thân, dù kẻ ngu ganh t, thấy mình thì ghét.

 

Bài kệ 9

Hành ác đắc ác                               行  惡  得  惡

Như chủng khổ chủng                       如  種  苦  種

Ác tự thọ tội                                    惡  自  受  罪

Thiện tự thọ phước                          善  自  受  福

 

Làm ác thì gặt hái ác, như gieo giống đắng, gieo giống ác thì gặt hái tội; gieo giống thiện gặt hái phúc.

 

Bài kệ 10

Diệc các tu thục                              亦  各  須  熟

Bỉ bất tự đại                                    彼  不  自  代

Tập thiện đắc thiện                          習  善  得  善

Diệc như chủng điềm                       亦  如  種  甜

 

Mỗi người phải biết hành động cho chín chắn, thì kẻ kia không trừng phạt được mình. Làm lành được lành, cũng như gieo hạt giống ngọt thì được quả ngọt.

 

Bài kệ 11

Tự lợi lợi nhân                               自  利  利  人

Ích nhi bất phí                                益  而  不  費

Dục tri lợi thân                               欲  知  利  身

Giới văn vi tối                                 戒  聞  為  最

 

Tự lợi hay lợi người đều có lợi ích cho mình mà không mất đi đâu cả. Muốn thực sự làm lợi cho mình, trì giới và học hỏi là quý nhất.

 

Bài kệ 12

Như hữu tự ưu                               如  有  自  憂

Dục sanh thiên thượng                    欲  生  天  上

Kính lạc văn Pháp                           敬  樂  聞  法

Đương niệm Phật giáo                    當  念  佛  教

 

Nếu biết thương mình, muốn sinh về cõi trời, thì phải kính yêu và ham thích học hỏi Phật pháp và phải nhớ lời Bụt dạy.

 

Bài kệ 13

Phàm dụng tất dự lự                       凡  用  必  豫  慮

Vật dĩ tổn sở vụ                            勿  以  損  所  務

Như thị ý nhật tu                             如  是  意  日  修

Sự vụ bất thất thời                         事  務  不  失  時

 

Đừng để cho sự lo toan thái quá làm hại tới công việc đang làm. Mỗi ngày nếu để tâm ý tu học thì công việc sẽ không làm mất thì giờ của mình.

 

Bài kệ 14

Phu trì sự chi sĩ                             夫  治  事  之  士

Năng chí chung thành lợi                能  至  終  成  利

Chân kiến thân ưng hành               真  見  身  應  行

Như thị đắc sở dục                        如  是  得  所  欲

 

Nếu gặp bậc minh vương thì hãy đem hết lòng phụng sự. Thấy rõ được công việc mới nên bắt tay vào, như vậy mới được mãn ý.

Kinh Tuổi Già

Lão Hao Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập cửu

老耗品法句經第十九

Kinh Tuổi Già

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 19

 

Phẩm này có 14 bài kệ. Lão là già, Hao là hư hao, giảm bớt, Jara là cái già. Kinh này nhắc nhở ta nhớ hình hài là vô thường, mạng sống đang từ từ giảm bớt, đừng đi tìm cái lâu dài trong ấy, phải sớm tìm cách vượt khỏi sinh tử. Tuổi già như một cỗ xe đã cũ, như lá mùa thu, nếu không tu tập từ bây giờ đến khi khí lực không còn thì khó mà tu tập thành công.

 

Bài kệ 1

Hà hỉ hà tiếu                                  何  喜  何  笑

Mạng thường sí nhiên                    命  常  熾  然

Thâm tệ u minh                              深  弊  幽  冥

Như bất cầu đĩnh                           如  不  求  錠

 

Vui gì cười gì khi thế giới và mạng sống đang cứ tiếp tục bị bốc cháy? Trong cõi thâm sâu u tối sao không đi tìm sự an định?

 

Bài kệ 2

Kiến thân hình phạm                      見  身  形  範

Ỷ dĩ vi an                                     倚  以  為  安

Đa tưởng trí bệnh                          多  想  致  病

Khởi tri phi chân                            豈  知  非  真

 

Hãy nhìn lại hình hài này thì biết: ta cứ tưởng là có sự an ổn lâu dài trong ấy, nhưng thật ra nó có rất nhiều vấn đề. Há ta không biết rằng nó chỉ là một cái gì tạm bợ, không chắc thật?

 

Bài kệ 3

Lão tắc sắc suy                                老  則  色  衰

Bệnh vô quang trạch                         病  無  光  澤

Bì hoãn cơ súc                                 皮  緩  肌  縮

Tử mạng cận xúc                              死  命  近  促

 

Một khi cái già đã đến thì sắc diện suy thoái, cơ thể đầy dẫy bệnh tật, không còn mượt mà, da nhăn, bắp thịt rút lại, cái chết cận kề.

 

Bài kệ 4

Thân tử thần đồ                            身  死  神  徒

Như ngự khí xa                             如  御  棄  車

Nhục tiêu cốt tán                          肉  消  骨  散

Thân hà khả hỗ                             身  何  可  怙

 

Khi thân xác tan rã thì thần thức bỏ đi, như con ngựa bỏ chiếc xe. Thịt tiêu, xương tán, thân hình khô héo.

 

Bài kệ 5

Thân vi như thành                            身  為  如  城

Cốt cán nhục đồ                              骨  幹  肉  塗

Sanh chí lão tử                                生  至  老  死

Đãn tạng khuể mạn                          但  藏  恚  慢

 

Thân hình ta cũng như một bức thành, phần cốt cán là xương thịt cũng chỉ như bùn đất trét lên. Từ khi sinh ra cho đến lúc chết đi cứ chất chứa những sân nhuế và kiêu mạn.

 

Bài kệ 6

Lão tắc hình biến                            老  則  形  變

Dụ như cố xa                                  喻  如  故  車

Pháp năng trừ khổ                          法  能  除  苦

Nghi dĩ lực học                        宜  以  仂  學

 

Tuổi già thì hình hài biến đổi, như một cỗ xe đã cũ. Chỉ có giáo pháp mới có khả năng diệt trừ khổ não, cho nên ta cần phải nỗ lực tu học.

 

Bài kệ 7

Nhân chi vô văn                              人  之  無  聞

Lão nhược đặc ngưu                      老  若  特  牛

Đãn trường cơ phì                         但  長  肌  肥

Vô hữu phước tuệ                          無  有  福  慧

 

Người mà không học hỏi thì đến khi lớn tuổi cũng như một con bò đực; cơ bắp thì lớn mà phước tuệ thì không.

 

Bài kệ 8

Sanh tử vô liêu                               生  死  無  聊

Vãng lai gian nan                            往  來  艱  難

Ý y tham thân                                意  猗  貪  身

Sanh khổ vô đoan                          生  苦  無  端

 

Vấn đề sinh tử không lo liệu thì sẽ phải gian nan qua lại trong cõi sinh tử. Tâm ý cứ tham trước vào hình hài thì cái khổ sinh tử không có cơ hội nào được chấm dứt.

 

Bài kệ 9

Tuệ dĩ kiến khổ                               慧  以  見  苦

Thị cố khí thân                               是  故  棄  身

Diệt ý đoạn hành                            滅  意  斷  行

Ái tận vô sanh                                愛  盡  無  生

 

Đạt được tuệ giác, thấy được bản chất khổ đau, mới buông bỏ được ý niệm hình hài này (là ta), thanh lọc được tâm ý, chuyển hóa được tâm hành mới chấm dứt được ái nhiễm và đạt tới vô sinh.

 

Bài kệ 10

Bất tu phạm hạnh                          不  修  梵  行

Hựu bất phú tài                             又  不  富  財

Lão như bạch lộ                           老  如  白  鷺

Thủ tý không trì                             守  伺  空  池

 

Không tu phạm hạnh, cũng không phải là kẻ giàu có, nhiều tiền nhiều của, thì đến khi già cũng như con hạc trắng chỉ biết bám lấy cái hồ không nước không cá.

 

Bài kệ 11

Ký bất thủ giới                               又  不  積  財

Hựu bất tích tài                             又  不  積  財

Lão luy khí kiệt                             老  羸  氣  竭

Tư cố hà đãi                                  思  故  何  逮

 

Đã không trì giới, lại không giàu có, thì khi tuổi già tới, khí lực khô kiệt, làm gì mà giữ được sự khương kiện?

 

Bài kệ 12

Lão như thu diệp                           老  如  秋  葉

Hà uế giám lục                             何  穢  鑑  錄

Mạng tật thoát chí                         命  疾  脫  至

Diệc dụng hậu hối                          亦  用  後  悔

 

Tuổi già cũng như là mùa Thu, làm sao giữ được sắc tươi xanh? Bệnh tật nhiều và giờ đi sắp tới, hối tiếc làm sao cho kịp?

 

Bài kệ 13

Mạng dục nhật dạ tận                      命  欲  日  夜  盡

Cập thời khả cần lực                       及  時  可  懃  力

Thế gian đế phi thường                    世  間  諦  非  常

Mạc hoặc đọa minh trung                 莫  惑  墮  冥  中

 

Đời sống theo đêm ngày tàn lụi, hãy nỗ lực kịp thời, phải thấy sự thực cuộc đời là vô thường, đừng để cái mê hoặc đưa mình vào trong cõi tối tăm.

 

Bài kệ 14

Đương học nhiên ý đăng                 當  學  燃  意  燈

Tự luyện cầu trí tuệ                       自  練  求  智  慧

Ly cấu vật nhiễm ô                          離  垢  勿  染  污

Chấp chúc quán đạo địa                執  燭  觀  道  地

 

Phải học cách thắp sáng ngọn đèn tâm lên, tự luyện tập để tìm cầu trí tuệ, lìa bỏ cấu uế, đừng để bị nhiễm ô. Hãy cầm đuốc lên mà soi lấy đường đi.

Kinh Bất Hại

Ai cũng sợ chết, không ai không sợ đau đớn do vũ khí gây ra. Hãy quán sát để thấy người ta ai cũng có cái sợ như mình, để ngừng lại sự bất hại và buông bỏ ý tưởng trừng phạt.

 

Đao Trượng Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập bát

刀杖品法句經第十八

Kinh Bất Hại

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 18

 

Phẩm này có 12 bài kệ. Đao trượng là vũ khí, là bạo lực, tiếng Pali là danda. Kinh này nói về sự thực tập bất bạo động, bất hại (ahimsa). Ba bài kệ đầu nói về tâm lý bất hại: Thấy được cái khổ của người khác thì mình có thể buông bỏ được ý muốn trừng phạt. Ba bài kệ kế tiếp nói về lời nói bất hại. Những bài sau nói về hành động bất hại. Các bài thứ 9 và 10 cho ta biết muốn nuôi dưỡng tâm từ bi và thực tập bất hại, thì phải có tâm tàm quý, biết hổ thẹn, phải có đức tin, phải hành trì giới luật, thiền tập và tinh cần. Bài 12 kết luận: Thực tập bất hại sẽ không có kẻ thù.

 

Bài kệ 1

Nhất thiết giai cụ tử                       一  切  皆  懼  死

Mạc bất úy trượng thống               莫  不  畏  杖  痛

Thứ kỷ khả vi thí                            恕  己  可  為  譬

Vật sát vật hành trượng                 勿  殺  勿  行  杖

 

Ai cũng sợ chết, không ai không sợ cái đau đớn do vũ khí gây ra. Hãy quán sát để thấy người ta ai cũng có cái sợ như mình, để có thể ngừng lại sự sát hại và buông bỏ ý tưởng trừng phạt.

 

Bài kệ 2

Năng thường an quần sanh                能  常  安  群  生

Bất gia chư sở độc                           不  加  諸  楚  毒

Hiện thế bất phùng hại                       現  世  不  逢  害

Hậu thế trường an ẩn                        後  世  長  安  隱

 

Hãy luôn luôn có ý muốn đem tới sự an lành cho quần sinh, mà đừng đem tới thêm cho họ những tổn hại của bạo động. Để cho trong hiện tại không ai bị tàn hại và để cho sau này ai cũng được sống an ổn lâu dài.

 

Bài kệ 3

Bất đương thô ngôn                       不  當  麤  言

Ngôn đương úy báo                       言  當  畏  報

Ác vãng họa lai                              惡  往  禍  來

Đao trượng quy khu                      刀  杖  歸  軀

 

Đừng nói lời thô ác với ai. Khi nói phải thấy được hậu quả của lời nói mình. Lời nói ác nào được phát ra cũng sẽ đem tai họa tới, và gươm giáo sẽ trở về hủy hoại chính thân thể mình.

 

Bài kệ 4

Xuất ngôn dĩ thiện                           出  言  以  善

Như khấu chung khánh                     如  叩  鐘  磬

Thân vô luận nghị                            身  無  論  議

Độ thế tắc dị                                   度  世  則  易

 

Khi nói chỉ nên sử dụng những lời lành. Như một cái chuông câm, nên chấm dứt mọi tranh luận. Như thế ta sẽ độ đời dễ dàng hơn.

 

Bài kệ 5

Âu trượng lương thiện                      歐  杖  良  善

Vọng sàm vô tội                               妄  讒  無  罪

Kỳ ương thập bội                             其  殃  十  倍

Tai tấn vô xá                                    災  迅  無  赦

Sát hại người hiền lương, dèm pha kẻ vô tội, tai ương sẽ trở về với mình mười lần lớn hơn, và khi quả báo về tới, không có cách gì tránh thoát hay giải cứu.

 

Bài kệ 6

Sanh thọ khốc thống                      生  受  酷  痛

Hình thể hủy chiết                          形  體  毀  折

Tự nhiên não bệnh                         自  然  惱  病

Thất ý hoảng hốt                            失  意  恍  惚

Nhân sở vu cữu                             人  所  誣  咎

Hoặc huyền quan ách                     或  縣  官  厄

Tài sản háo tận                               財  產  耗  盡

Thân thích ly biệt                            親  戚  離  別

Xá trạch sở hữu                              舍  宅  所  有

Tai hỏa phần thiêu                          災  火  焚  燒

Tử nhập địa ngục                           死  入  地  獄

Như thị vi thập                                如  是  為  十

 

Người hành xử bạo động thì kiếp sau khi sinh ra sẽ gánh chịu mười thứ hoạn nạn: đau nhức dữ dội, hình hài tật nguyền, đột nhiên mà bị khổ bệnh, quên lãng, hoảng hốt, bị người ta vu cáo oan ức, bị giam cầm tù đày, tài sản tiêu tán, nhà cửa và gia sản tan nát, thân thích biệt ly, đi tiêu chảy và khi chết thì đi vào địa ngục.

 

Bài kệ 7

Tuy khỏa tiễn phát                           雖  倮  剪  髮

Trường phục thảo y                         長  服  草  衣

Mộc dục cứ thạch                           沐  浴  踞  石

Nại si kết hà                                    奈  癡  結  何

 

Dù có bện tóc, dù chỉ mặc áo cỏ suốt ngày, dù có ngồi xẩm trên tảng đá, hoặc đi tắm gội mỗi ngày (dưới sông Hằng) cũng không thể nào diệt trừ được những khối si mê của mình.

 

Bài kệ 8

Bất phạt sát thiêu                           不  伐  殺  燒

Diệc bất cầu thắng                         亦  不  求  勝    

Nhân ái thiên hạ                             人  愛  天  下

Sở thích vô oán                              所  適  無  怨

 

Không trừng phạt, không giết hại, không đốt cháy, cũng không mong cầu vượt thắng kẻ khác, biết thương yêu mọi người thì sẽ cảm thấy thoải mái không còn oán hận.

 

Bài kệ 9

Thế đảng hữu nhân                        世  黨  有  人

Năng tri tàm quý                            能  知  慚  愧

Thị danh dụ tấn                             是  名  誘  進

Như sách lương mã                       如  策  良  馬

 

Trên đời có những người biết tàm biết quý: những người ấy có cơ hội được khuyên bảo và sách tấn dễ dàng, giống như con ngựa giỏi khi có cây roi chạm nhẹ vào.

 

Bài kệ 10

Như sách thiện mã                         如  策  善  馬

Tiến đạo năng viễn                       進  道  能  遠

Nhân hữu tín giới                           人  有  信  戒

Định ý tinh tấn                               定  意  精  進

Thọ đạo tuệ thành                         受  道  慧  成

Tiện diệt chúng khổ                       便  滅  眾  苦

 

Như chạm nhẹ cây roi vào con ngựa giỏi có thể làm cho nó đi tới, đi xa. Kẻ nào có tín, có giới, có định, có tinh cần, thì sẽ học tập và thành tựu tuệ giác dễ dàng, sẽ có khả năng diệt trừ được mọi khổ não.

 

Bài kệ 11

Tự nghiêm dĩ  tu pháp                    自  嚴  以  修  法

Diệt tổn thọ tịnh hạnh                     滅  損  受  淨  行

Trượng bất gia quần sanh              杖  不  加  群  生

Thị  sa môn đạo nhân                     是  沙  門  道  人

 

Lấy sự thực tập để làm đẹp cho chính mình, không làm tổn hại đến sinh mạng của ai, sống đời tịnh hạnh, không hành xử bạo động đối với các loài chúng sinh, đó đích thực là bậc sa môn đạo nhân.

 

Bài kệ 12

Vô hại ư thiên hạ                              無  害  於  天  下

Chung thân bất ngộ hại                     終  身  不  遇  害

Thường từ ư nhất thiết                     常  慈  於  一  切

Thục năng dữ vi oán                         孰  能  與  為  怨

 

Thường biết thực tập phép bất hại, thì suốt đời mình sẽ không bị hại. Nếu cứ tiếp tục hành xử với lòng từ bi đối với tất cả, thì không còn có ai sẽ là kẻ thù của mình.

Kinh Quả Báo

Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

 

Ác Hành Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập thất

惡行品法句經第十七

Kinh Quả Báo

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 17

 

Phẩm này có 22 bài kệ. Ác hành (pāpa) là hành động xấu ác.

 

Bài kệ 1

Kiến thiện bất tùng                         見  善  不  從

Phản tùy ác tâm                             反  隨  惡  心

Cầu phước bất chánh                    求  福  不  正

Phản lạc tà dâm                             反  樂  邪  婬

 

Thấy cái lành không đi theo, lại để tâm đi theo cái ác, đi tìm hạnh phúc một cách sai lạc thì đã không có hạnh phúc mà lại còn bị lạc vào chuyện tà dâm.

 

Bài kệ 2

Phàm nhân vi ác                            凡  人  為  惡

Bất năng tự giác                            不  能  自  覺

Ngu si khoái ý                                愚  癡  快  意

Lệnh hậu uất độc                           令  後  欝  毒

 

Thường thường, người làm điều sai trái thì không có khả năng tự giác, kẻ ngu si cứ tiếp tục chạy theo khoái lạc, sau này sẽ hứng chịu sự dồn chứa của những cái độc hại.

 

Bài kệ 3

Hung nhân hành ngược                   凶  人  行  虐

Trầm tiệm sác sác                          沈  漸  數  數

Khoái dục vi nhân                           快  欲  為  人

Tội báo tự nhiên                             罪  報  自  然

 

Kẻ hung ác cứ tiếp tục làm điều bạo ngược và có thích thú trong khi làm như thế thì tội báo sẽ tự nhiên tới.

 

Bài kệ 4

Cát nhân hành đức                        吉  人  行  德

Tướng tùy tích tăng                       相  隨  積  增

Cam tâm vi chi                               甘  心  為  之

Phước ưng tự nhiên                       福  應  自  然

 

Người hiền làm chuyện phúc đức, càng ngày càng tích lũy thêm điều lành, có niềm vui khi làm như thế thì phúc đức sẽ tự nhiên tới.

 

Bài kệ 5

Yêu nghiệt kiến phước                    妖  孽  見  福

Kỳ ác vị thục                                 其  惡  未  熟

Chí kỳ ác thục                                至  其  惡  熟

Tự thọ tội ngược                             自  受  罪  虐

 

Mình làm việc yêu nghiệt mà tưởng là đang có phúc, trong khi các quả báo xấu của hành động ác kia chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình mới nhận chịu tội báo.

 

Bài kệ 6

Trinh tường kiến họa                     貞  祥  見  禍

Kỳ thiện vị thục                              其  善  未  熟

Chí kỳ thiện thục                            至  其  善  熟

Tất thọ kỳ phước                            必  受  其  福

 

Làm việc lành mà vẫn thấy phải chịu đựng hoàn cảnh khó khăn, đó là kết quả việc lành chưa chín. Khi nó chín rồi thì mình sẽ được hưởng cái phúc báo của việc làm ấy đem lại.

Bài kệ 7

Kích nhân đắc kích                          擊  人  得  擊

Hành oán đắc oán                           行  怨  得  怨

Mạ nhân đắc mạ                             罵  人  得  罵

Thí nộ đắc nộ                                  施  怒  得  怒

 

Đánh người thì bị người đánh, gây oán thì chịu oán, mắng chửi người thì bị người mắng chửi lại, giận người thì bị người giận lại.

 

Bài kệ 8

Thế nhân vô văn                            世  人  無  聞

Bất tri chánh pháp                         不  知  正  法

Sanh thử thọ thiểu                         生  此  壽  少

Hà nghi vi ác                                  何  宜  為  惡

 

Người đời vì không học hỏi cho nên không biết chánh pháp. Phải biết rằng mạng sống trong đời ngắn ngủi, tại sao mình lại đi làm chuyện ác độc?

 

Bài kệ 9

Mạc khinh tiểu ác                           莫  輕  小  惡

Dĩ vi vô ương                               以  為  無  殃

Thủy đế tuy vi                                水  渧  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm tội sung mãn                        凡  罪  充  滿

Tùng tiểu tích thành                       從  小  積  成

 

Đừng xem thường những cái ác nhỏ, cho chúng là không nguy hiểm. Nước nhỏ giọt tuy ít nhưng dần dần bình lớn cũng đầy tràn. Thói thường cái ác mà đầy tràn là do những cái ác nhỏ hàng ngày tích tụ mà thành.

 

Bài kệ 10

Mạc khinh tiểu thiện                      莫  輕  小  善

Dĩ vi vô phước                              以  為  無  福

Thủy tích tuy vi                              水  滴  雖  微

Tiệm doanh đại khí                        漸  盈  大  器

Phàm phước sung mãn                  凡  福  充  滿

Tùng tiêm tiêm tích                        從  纖  纖  積

 

Đừng xem thường cái thiện nhỏ, cho nó là không phải phước đức. Nước giọt tuy ít nhưng lâu cũng đầy bình lớn, nếu phước đức sung mãn là do tích lũy từng chút lâu ngày.

 

 

Bài kệ 11

Phu sĩ vi hành                                 夫  士  為  行

Hảo chi dữ ác                                 好  之  與  惡

Các tự vi thân                                 各  自  為  身

Chung bất bại vong                          終  不  敗  亡

 

Những kẻ phàm phu ưa làm việc ác, phải biết hành động ác nào cũng trở về tự thân, không có cái nào rơi mất.

 

Bài kệ 12

Hảo thủ chi sĩ                                  好  取  之  士

Tự dĩ vi khả                                    自  以  為  可

Một thủ bỉ giả                                  沒  取  彼  者

Nhân diệc một chi                           人  亦  沒  之

 

Những bậc hảo nhân tự mình làm hết khả năng của mình, không mưu toan chiếm đoạt của kẻ khác thì kẻ khác cũng sẽ không mưu toan chiếm đoạt của mình.

 

Bài kệ 13

Ác bất tức thời                                惡  不  即  時

Như cấu ngưu nhũ                           如  搆  牛  乳

Tội tại ấm từ                                   罪  在  陰  祠

Như hôi phúc hỏa                            如  灰  覆  火

 

Kết quả của cái ác không đến tức thời như sữa không đóng thành tô ngay được. Tội ác nằm âm ỉ như lửa nằm trong bếp tro.

 

Bài kệ 14

Hí tiếu vi ác                                    戲  笑  為  惡

Dĩ tác thân hành                            以  作  身  行

Hiệu khấp thọ báo                          號  泣  受  報

Tùy hành tội chí                            隨  行  罪  至

 

Vui giỡn trong khi làm ác, tự mình tạo tác, sau này sẽ phải khóc than mà nhận chịu quả báo của cái tội đi theo cái hành động ác của mình.

 

Bài kệ 15

Tác ác bất phú                                作  惡  不  覆

Như binh sở tiệt                              如  兵  所  截

Khiên vãng nãi tri                            牽  往  乃  知

Dĩ đọa ác hành                               已  墮  惡  行

Hậu thọ khổ  báo                            後  受  苦  報

Như tiền sở tập                              如  前  所  習

Làm ác không che giấu cũng như một toán quân sau khi bị chận đánh và áp giải làm tù binh mới biết là mình bị thua. Những hành động tàn ác thế nào cũng đưa tới quả báo khổ đau sau này.

 

Bài kệ 16

Như độc ma sang                           如  毒  摩  瘡

Thuyền nhập hồi phúc                   船  入  洄  澓

Ác hành lưu diễn                            惡  行  流  衍

Mĩ bất thương khắc                        靡  不  傷  尅

 

Như vết thương bị chất độc thấm vào, như chiếc thuyền đang đi vào vùng biển nguy hiểm, hành động độc ác cứ tiếp tục lưu diễn, không nơi nào là không tạo ra xung khắc và đau thương.

 

Bài kệ 17

Gia ác vu võng nhân                        加  惡  誣  罔  人

Thanh bạch do bất ô                       清  白  猶  不  污

Ngu ương phản tự cập                    愚  殃  反  自  及

Như trần nghịch phong bộn              如  塵  逆  風  坌

 

Người ác vu cáo muốn làm hại người thanh bạch và không ô nhiễm thì tai ương sẽ trở lại hại mình, như tung bụi vào người khác khi ngược gió.

 

Bài kệ 18

Quá thất phạm phi ác                    過  失  犯  非  惡

Năng truy hối vi thiện                    能  追  悔  為  善  

Thị minh chiếu thế gian                  是  明  照  世  間

Như nhật vô vân ê                         如  日  無  雲  曀

 

Người nào trong quá khứ đã lỡ có lỗi lầm, đã lỡ làm những điều không phải, mà bây giờ có khả năng hối hận bỏ ác làm lành, thì cũng như một mặt trời vượt ra khỏi các đám mây, chiếu sáng được cho thế gian.

 

Bài kệ 19

Phu sĩ sở dĩ hành                            夫  士  所  以  行

Nhiên hậu thân tự kiến                     然  後  身  自  見

Vi thiện tắc đắc thiện                       為  善  則  得  善

Vi ác tắc đắc ác                              為  惡  則  得  惡

 

Nhìn vào hành động của mình, mình có thể tự thấy được sự thực: làm thiện thì được thiện, làm ác thì gặp ác.

Bài kệ 20

Hữu thức đọa bào thai                 有  識  墮  胞  胎

Ác giả nhập địa ngục                     惡  者  入  地  獄

Hành thiện thượng thăng thiên        行  善  上  昇  天

Vô vi đắc nê hoàn                        無  為  得  泥  洹

 

Thần thức đi luân hồi, kẻ ác vào địa ngục, người hiền sinh lên cõi trời. Thực tập đi vào được trạng thái vô vi thì chứng đắc Niết bàn.

 

Bài kệ 21

Phi không phi hải trung                    非  空  非  海  中

Phi ẩn sơn thạch gian                     非  隱  山  石  間   

Mạc năng ư thử xứ                        莫  能  於  此  處

Tị miễn túc ác ương                       避  免  宿  惡  殃

 

Không phải ở trên trời cao, không phải ở dưới biển sâu, không phải ở trong hốc núi đá mà có thể tránh được nghiệp báo tai ương mình đã tạo ra.

 

Bài kệ 22

Chúng sanh hữu khổ não                    眾  生  有  苦  惱

Bất đắc miễn lão tử                           不  得  免  老  死

Duy hữu nhân trí giả                          唯  有  仁  智  者

Bất niệm nhân phi ác                         不  念  人  非  惡

 

Chúng sinh có khổ não chưa thoát ra khỏi cái già cái chết, chỉ có bậc nhân trí mới vượt thoát được ý niệm về thiện ác.

Kinh Vượt Thắng

Chiến thắng được hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự chiến thắng được mình.
Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất.

 

Kinh Vượt Thắng

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 16

 

Phẩm này có 17 bài kệ. Thuật thiên là nói về con số ngàn. Tiếng Pali, sahassa là ngàn, là số nhiều. Đứng về phương diện phẩm chất thì không cần nói tới số lượng. Con số trăm, con số ngàn không có giá trị nếu không có chất liệu nội dung. Bài kệ thứ nhất nói dù có tụng đọc cả ngàn lời kinh, nhưng nếu các lời kinh ấy không chuyên chở được chánh pháp, cũng không bằng chỉ đọc một lời kinh thôi. Bài thứ 3 nói một câu Pháp cú tuy ít, nhưng nếu đem ra thực tập thì cũng có thể đắc đạo.

Bài thứ 4 là một bài kệ nổi tiếng nhất về chuyện thắng bại: chiến thắng được hàng ngàn quân địch cũng không bằng tự mình chiến thắng được mình. Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất. Bài thứ 16 nói sống một trăm tuổi thọ mà không nếm được vị cam lộ của đạo pháp, thì không bằng sống một ngày mà nếm được cam lộ. Làng Mai có câu: Chẳng biết rong chơi miền Tịnh độ, làm người một kiếp cũng như không, nói về cái hạnh phúc của sự thực tập thiền đi, cũng lấy từ ý ấy.

Các bài 4, 5 và 6 đều nói tới chủ đề tự vượt thắng mình để trở thành một vị anh hùng đích thực. Vì vậy, kinh này được đặt tên là kinh Vượt thắng. Vượt thắng chính mình.

 

Bài kệ 1

Tuy tụng thiên ngôn                        雖  誦  千  言

Cú nghĩa bất chánh                        句  義  不  正

Bất như nhất yếu                            不  如  一  要

Văn khả diệt ý                                聞  可  滅  意

 

Dầu có tụng đọc ngàn đời, nhưng nếu câu văn và nghĩa lý không phải là chánh đạo, thì không bằng chỉ tụng một lời mà khi nghe có cơ hội làm tĩnh lặng được tâm ý.

 

Bài kệ 2

Tuy tụng thiên ngôn                        雖  誦  千  言

Bất nghĩa hà ích                            不  義  何  益

Bất như nhất nghĩa                        不  如  一  義

Văn hành khả độ                            聞  行  可  度

 

Dù có tụng đọc ngàn lời, nhưng nếu nghĩa lý không có thì không bằng chỉ tụng đọc một lời mà có ý nghĩa (thâm sâu) để khi nghe thì có thể đem ra thực hành và vượt qua được đau khổ.

 

Bài k 3

Tuy đa tụng kinh                             雖  多  誦  經

Bất giải hà ích                               不  解  何  益

Giải nhất pháp cú                           解  一  法  句

Hành khả đắc đạo                          行  可  得  道

 

Dù có tụng đọc nhiều kinh mà không hiểu được thì cũng vô ích, không bằng chỉ đọc và hiểu được một câu Pháp cú, vì nếu đem ra thực hành thì có thể đắc đạo.

 

Bài kệ 4

Thiên thiên vi địch                         千  千  為  敵

Nhất phu thắng chi                        一  夫  勝  之

Vị nhược tự thắng                         未  若  自  勝

Vi chiến trung thượng                    為  戰  中  上

 

Chiến thắng được hàng ngàn quân địch thì cũng không bằng tự mình chiến thắng được chính mình. Tự thắng là chiến công oanh liệt nhất.

 

Bài kệ 5

Tự thắng tối hiền                            自  勝  最  賢

Cố viết nhân hùng                          故  曰  人  雄

Hộ ý điều thân                               護  意  調  身

Tự tổn chí chung                            自  損  至  終

Tự thắng được mình thì gọi là bậc hiền giả tối thượng. Đó là người anh hùng trong nhân gian, có khả năng điều phục và bảo hộ thân tâm, đạt tới mục tiêu cuối cùng.

 

Bài kệ 6

Tuy viết tôn thiên                            雖   曰   尊  天

Thần ma Phạm Thích                    神  魔  梵  釋

Giai mạc năng thắng                      皆  莫  能  勝

Tự thắng chi nhân                          自  勝  之  人

 

Thắng được các vị thiên giả, tôn thần, quỷ vương, Đế thích cũng không bằng tự thắng được mình.

 

Bài kệ 7

Nguyệt thiên phản từ                    月  千  反  祠

Chung thân bất xuyết                    終  身  不  輟

Bất như tu du                               不  如  須  臾

Nhất tâm niệm Pháp                     一  心  念  法

 

Nghìn tháng cầu đạo, suốt cả một đời không ngừng nghỉ, cũng không bằng trong một khoảnh khắc đem hết lòng thực tập niệm Pháp.

 

Bài kệ 8

Nhất niệm đạo phước                    一  念  道  福

Thắng bỉ chung thân                      勝  彼  終  身

Tuy chung bách tuế                        雖  終  百  歲

Phụng sự hỏa từ                          奉  事  火  祠

 

Chỉ thực tập phát khởi một niệm cung kính cúng dường bậc có phước đức thì công đức còn nhiều hơn suốt đời thờ phụng thần lửa.

 

Bài kệ 9

Bất như tu du                                 不  如  須  臾

Cung dưỡng tam tôn                       供  養  三  尊

Nhất cung dưỡng phước                 一  供  養  福

Thắng bỉ bách niên                          勝  彼  百  年

 

Cúng dường trong một khoảnh khắc cho Tam Bảo còn có phúc đức nhiều hơn tế  lễ cầu phước trong suốt cả một trăm năm.

 

Bài kệ 10

Tế thần dĩ cầu phước                     祭  神  以  求  福

Tùng hậu quán kỳ báo                    從  後  觀  其  報

Tứ phân vị vọng nhất                      四  分  未  望  一

Bất như lễ hiền giả                         不  如  禮  賢  者

 

Tế thần để cầu phước, cứ quan sát mà thấy thì phúc báo tới sau đó cũng chưa được bằng một phần tư của người cung kính bậc hiền nhân.

 

Bài kệ 11

Năng thiện hành lễ tiết                     能  善  行  禮  節

Thường kính trưởng lão giả             常  敬  長  老  者

Tứ phước tự nhiên tăng                  四  福  自  然  增

Sắc lực thọ nhi an                           色  力  壽  而  安

 

Nếu biết tổ chức lễ lược theo đường hướng thiện lành, nếu biết thường cung kính các bậc trưởng lão (trong đạo) thì bốn thứ phước đức sẽ tự nhiên tăng trưởng. Sắc đẹp và sức khỏe, cũng như tuổi thọ cũng tăng lên.

 

Bài kệ 12

Nhược nhân thọ bách  tuế             若  人  壽  百  歲

Viễn chánh bất trì giới                   遠  正  不  持  戒

Bất như sanh nhất nhật                 不  如  生  一  日

Thủ giới chánh ý thiền                   守  戒  正  意  禪

Sống một trăm tuổi thọ mà xa lìa con đường chính, không biết giữ giới, thì không bằng sống một ngày mà biết trì giới và thực tập đưa tâm ý vào thiền định.

 

Bài kệ 13

Nhược nhân thọ bách tuế             若  人  壽  百  歲

Tà ngụy vô hữu trí                        邪  偽  無  有  智

Bất như sanh nhất nhật                 不  如  生  一  日

Nhất tâm học chánh trí                 一  心  學  正  智

 

Sống một trăm tuổi thọ mà nếp sống tà ngụy, không có trí tuệ thì không bằng sống một ngày mà hết lòng tu học theo chánh trí.

 

Bài kệ 14

Nhược nhân thọ bách tuế               若  人  壽  百  歲

Giải đãi bất tinh tấn                       懈  怠  不  精  進

Bất như sanh nhất nhật                  不  如  生  一  日

Miễn lực hành tinh tấn                    勉  力  行  精  進

 

Sống một trăm tuổi thọ mà giãi đãi không tinh tiến thì không bằng sống một ngày mà nỗ lực tu hành tinh tiến.

 

Bài kệ 15

Nhược nhân thọ bách tuế                若  人  壽  百  歲

Bất tri thành bại sự                         不  知  成  敗  事

Bất như sanh nhất nhật                   不  如  生  一  日

Kiến vi tri sở kị                               見  微  知  所  忌

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không hiểu được chuyện thành bại thì không bằng sống một ngày mà thấy được cái vi diệu của chánh pháp và thấy được nguyện vọng của mình.

 

Bài kệ 16

Nhược nhân thọ bách tuế                若  人  壽  百  歲

Bất kiến cam lồ đạo                        不  見  甘  露  道

Bất như sanh nhất nhật                    不  如  生  一  日

Phục hành cam lộ vị                        服  行  甘  露  味

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không thấy được đạo Cam Lộ thì không bằng sống một ngày mà nếm được vị Cam Lộ.

 

Bài kệ 17

Nhược nhân thọ bách tuế                 若  人  壽  百  歲

Bất tri đại đạo nghĩa                       不  知  大  道  義

Bất như sanh nhất nhật                   不  如  生  一  日

Học thôi Phật pháp yếu                   學  推  佛  法  要

 

Sống một trăm tuổi thọ mà không biết nghĩa lý của đạo lớn thì không bằng sống một ngày mà thực tập và tư duy theo giáo pháp tinh yếu của Bụt.

Kinh Vị La Hán

Tâm ý đã thanh tịnh, chánh niệm đã đạt, không còn vướng vào một tham dục nào nữa, vị A La Hán qua được vượt sâu u mê như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ.

 

Kinh Vị La Hán

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 15

 

Phẩm này có 11 bài tụng. La Hán là bậc đã được giải thoát ra khỏi mọi hệ lụy, đáng được mọi người tôn kính. Tiếng Pali là arahanta. Bài kệ thứ tư tả vị La Hán như con chim trở về hư không, cao bay vô ngại. Bài thứ 7 nói vị La Hán bình tĩnh như đất, bất động như núi. Bài thứ 2 ví vị La Hán như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ. Bài thứ 10 nói nơi đâu có một vị A La Hán thì nơi ấy trở nên mát mẻ linh thiêng. Bài thứ nhất định nghĩa vị A La Hán là người đã lìa bỏ mọi ưu tư hoạn nạn, thoát ra ngoài mọi hệ lụy, tháo tung được mọi sợi dây ràng buộc, đạt tới sự mát mẻ (Niết bàn), không còn bị các cơn sốt phiền não thiêu đốt.

 

Bài kệ 1

Khứ ly ưu hoạn                              去  離  憂  患

Thoát ư nhất thiết                           脫  於  一  切

Phược kết dĩ giải                            縛  結  已  解

Lãnh nhi vô noãn                            冷  而  無  煖

 

Lìa bỏ mọi ưu tư hoạn nạn, thoát ra ngoài mọi hệ lụy, tất cả các sợi dây ràng buộc đều đã được tháo tung, mát mẻ, không còn bị một cơn sốt não phiền nào đốt cháy nữa.

 

Bài kệ 2

Tâm tịnh đắc niệm                          心  淨  得  念

Vô sở tham lạc                                無  所  貪  樂

Dĩ độ si uyên                                   已  度  癡  淵

Như nhạn khí trì                               如  鴈  棄  池

 

Tâm ý đã thanh tịnh, chánh niệm đã đạt, không còn vướng vào một tham dục nào nữa, vị A la hán đã qua được vực sâu u mê như con thiên nga đã rời bỏ chiếc hồ.

 

Bài kệ 3

Lượng phước nhi thực                      量  腹  而  食

Vô sở tạng tích                                無  所  藏  積

Tâm không vô tưởng                        心  空  無  想

Độ chúng hành địa                           度  眾  行  地

 

Ăn uống chừng mực, không chất chứa của cải, tâm ý rỗng rang không còn vọng tưởng, vượt qua được mọi hnh và mọi địa.

 

Bài kệ 4

Như không trung điểu                    如  空  中  鳥

Viễn thệ vô ngại                             遠  逝  無  礙

Thế gian tập tận                             世  間  習  盡

Bất phục ngưỡng thực                   不  復  仰  食

 

Như con chim bay về hư không, cao bay vô ngại, các tập khí thế gian đã chấm dứt, không còn lo lắng về chuyện ăn uống.

 

Bài kệ 5

Hư tâm vô hoạn                             虛  心  無  患

Dĩ đáo thoát xứ                              已  到  脫  處

Thí như phi điểu                             譬  如  飛  鳥

Tạm hạ triếp thệ                             暫  下  輒  逝

 

Tâm ý thảnh thơi, không còn hoạn nạn, đã tới được chốn giải thoát như con chim bay tạm thời đáp xuống mà đi.

Bài kệ 6

Chế căn tùng chỉ                            制  根  從  止

Như mã điều ngự                           如  馬  調  御

Xả kiêu mạn tập                             捨  憍  慢  習

Vi thiên sở kính                              為  天  所  敬

 

Điều phục các căn, làm cho an tĩnh như con ngựa hay, buông bỏ được mọi tập khí kiêu mạn, cả chư thiên cũng phải kính ngưỡng.

 

Bài kệ 7

Bất nộ như địa                                不  怒  如  地

Bất động như sơn                           不  動  如  山

Chân nhân vô cấu                            真  人  無  垢

Sanh tử thế tuyệt                            生  死  世  絕

 

Không giận, bình tĩnh như đất, bất động như núi, đã là vị chân nhân thì không còn bị cấu nhiễm, vì sinh tử và thời gian đã chấm dứt.

 

Bài kệ 8

Tâm dĩ hưu tức                               心  已  休  息

Ngôn hành diệc chánh                      言  行  亦  正

Tùng chánh giải thoát                      從  正  解  脫

Tịch nhiên quy diệt                          寂  然  歸  滅

 

Tâm tư ngưng nghỉ, ngôn và hành cũng thế, đi theo con đường chánh đạo, đã được giải thoát, yên lặng và trở về Niết Bàn.

 

Bài kệ 9

Khí dục vô khán                              棄  欲  無  着

Khuyết tam giới chướng                 缺  三  界  障

Vọng ý dĩ tuyệt                               望  意  已  絕

Thị vị thượng nhân                          是  謂  上  人

 

Buông bỏ tham dục, không còn dính mắc, vượt mọi chướng ngại ba cõi, vọng tâm đã hết, đó là một bậc thượng nhân.

 

Bài kệ 10

Tại tụ nhược dã                              在  聚  若  野

Bình địa cao ngạn                           平  地  高  岸

Ưng chân sở quá                            應  真  所  過

Mạc bất mông hữu                         莫  不  蒙  祐

 

Nơi đồng quê hay ở chốn xóm làng, dưới bình nguyên hay trên cao nguyên, địa phương nào có các vị ấy đi tới đều trở nên linh thiêng.

 

Bài kệ 11

Bỉ lạc không nhàn                           彼  樂  空  閑

Chúng nhân bất năng                    眾  人  不  能

Khoái tai vô vọng                           快  哉  無  望

Vô sở dục cầu                              無  所  欲  求

 

Ưa những nơi nhàn vắng, ít người lui tới, hạnh phúc thay khi đã đạt tới trình độ không còn vọng động, không còn mong cầu.

Kinh Bậc Minh Triết

Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điểu phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

 

Minh Triết Phẩm Pháp Cú Kinh đệ thập tứ

明哲品法句經第十四

Kinh Bậc Minh Triết

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 14

 

Phẩm này có 17 bài kệ, bài kệ nào cũng như một tiếng chuông trong, một viên bảo châu sáng ngời. Bậc minh triết là bậc hiền giả, có tuệ giác và tình thương. Tiếng Pali là pandita. Bài kệ thứ 6 nói đến bậc minh triết như một vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian. Bài kệ thứ 7 so sánh bậc minh triết với người bắn cung, biết điều phục góc độ để bắn cho trúng đích, với người đi biển biết điều phục các con sóng để thuyền đi tới và người thợ mộc điều phục được các khúc gỗ: bậc minh triết điều phục được tự thân. Bài thứ 8 ví bậc minh triết với một tảng đá lớn không bị các cơn gió thổi làm lay động. Bài kệ thứ 9 ví bậc minh triết với một mặt hồ tĩnh lặng. Toàn là những hình ảnh rất đẹp.

 

Bài kệ 1

Thâm quán thiện ác                       深  觀  善  惡

Tâm tri úy kị                                 心  知  畏  忌

Úy nhi bất phạm                            畏  而  不  犯

Chung cát vô ưu                            終  吉  無  憂

 

Nhìn sâu vào bản chất thiện ác, tâm mình biết sợ hãi. Nhờ sợ hãi mà mình không phạm lỗi, cuối cùng được an lành, không lo lắng ưu phiền.

 

Bài kệ 2

Cố thế hữu phước                          故  世  有  福

Niệm tư thiệu hành                        念  思  紹  行

Thiện trí kỳ nguyện                        善  致  其  願

Phước lộc chuyển thắng                福  祿  轉  勝

 

Cho nên những người có phước trên đời biết thực tập chánh niệm và chánh tư duy, tiếp tục hành trì để khéo thành tựu được ý nguyện của mình.

 

Bài kệ 3

Tín thiện tác phước                        信  善  作  福

Tích  hành bất yếm                         積  行  不  厭

Tín tri âm đức                                信  知  陰  德

Cửu nhi tất chương                        久  而  必  彰

 

Tin vào điều lành và tạo tác phước đức, tiếp tục đi tới không chịu bỏ cuộc, niềm tin ấy dựa vào âm đức, lâu dài và sáng tỏ.

 

Bài kệ 4

Thường tị vô nghĩa                        常  避  無  義

Bất thân ngu nhân                         不  親  愚  人

Tư tùng hiền hữu                           思  從  賢  友

Áp phụ thượng sĩ                           押  附  上  士

 

Thường tránh những nghị luận vô bổ, không thân cận với kẻ ngu phu, tâm tư hướng về bạn hiền, đi theo cận kề các bậc thượng sĩ.

 

Bài kệ 5

Hỉ Pháp ngọa an                            喜  法  臥  安

Tâm duyệt ý thanh                         心  悅  意  清

Thánh nhân diễn Pháp                    聖  人  演  法

Tuệ thường lạc hành                       慧  常  樂  行

 

Yêu thích chánh pháp thì đêm ngủ rất yên, tâm vui ý trong. Thường nghe các bậc thánh nhân giảng bày chánh pháp thì sẽ có tuệ giác và luôn luôn bước đi trong hạnh phúc.

 

Bài kệ 6

Nhân nhân trí giả                           仁  人  智  者

Trai giới phụng đạo                        齋  戒  奉  道

Như tinh trung nguyệt                     如  星  中  月

Chiếu minh thế gian                       照  明  世  間

 

Là bậc hiền trí biết trai giới phụng đạo thì cũng như vầng trăng hiện giữa các vì sao, chiếu sáng cả thế gian.

 

Bài kệ 7

Cung công điều giác                       弓  工  調  角

Thủy nhân điều thuyền                    水  人  調  船

Tài tượng điều mộc                        材  匠  調  木

Trí giả điều thân                             智  者  調  身

 

Người bắn cung điều phục góc độ, người đi biển điều phục sóng thuyền, người thợ mộc điều phục gỗ, kẻ trí giả điều phục tự thân.

 

Bài kệ 8

Thí như hậu thạch                          譬  如  厚  石

Phong bất năng di                          風  不  能  移

Trí giả ý trọng                                智  者  意  重

Hủy dự bất khuynh                          毀  譽  不  傾

 

Như tảng đá lớn gió không thể dời, kẻ có trí tâm ý vững vàng không bị lời khen chê  khuynh đảo.

 

Bài kệ 9

Thí như thâm uyên                       譬  如  深  淵

Trừng tĩnh thanh minh                    澄  靜  清  明

Tuệ nhân văn đạo                          慧  人  聞  道

Tâm tịnh hoan nhiên                       心  淨  歡  然

 

Cũng như đầm sâu lắng tnh trong sáng, kẻ tuệ nhân nhờ học đạo mà tâm ý thanh tịnh và hoan lạc.

 

Bài kệ 10

Đại nhân thể vô dục                         大  人  體  無  欲

Tại sở chiếu nhiên minh                    在  所  照  然  明

Tuy hoặc tao khổ lạc                        雖  或  遭  苦  樂

Bất cao hiện kỳ trí                           不  高  現  其  智

 

Các bậc đại nhân bản lĩnh vốn là vô dục, ở đâu cũng chiếu sáng ngời, dù có gặp khổ vui, tâm các vị cũng không lên không xuống.

 

Bài kệ 11

Đại hiền vô thế sự                             大  賢  無  世  事

Bất nguyện tử tài quốc                      不  願  子  財  國

Thường thủ giới tuệ đạo                    常  守  戒  慧  道

Bất tham tà phú quý                         不  貪  邪  富  貴

 

Bậc đại hiền nhân không màng thế sự, không mong cầu con trai, tài sản, vương quốc, chỉ giữ giới tu đạo và đi theo con đường tuệ giác, không ham phú quý thế gian.

 

Bài kệ 12

Trí nhân tri động dao                        智  人  知  動  搖

Thí như sa trung thọ                         譬  如  沙  中  樹

Bằng hữu chí vị cường                     朋  友  志  未  強

Tùy sắc nhiễm kỳ tố                         隨  色  染  其  素

 

Kẻ trí nhân biết cách hành xử, như cây đứng trong bãi cát, đối với các bằng hữu mà ý chí chưa vững mạnh thì tùy theo từng người mà giúp ảnh hưởng họ.

 

Bài kệ 13

Thế giai một uyên                             世  皆  沒  淵

Tiên khắc độ ngạn                            鮮  尅  度  岸

Như hoặc hữu nhân                          如  或  有  人

Dục độ tất bôn                                 欲  度  必  奔

 

Người đời đa số đều tự đánh mất mình trong cơn lũ tham dục, ít ai qua được bờ bên kia, chỉ quanh quẩn ở bờ bên này.

 

Bài kệ 14

Thành tham đạo giả                      誠  貪  道  者

Lãm thọ chánh giáo                       覽  受  正  教

Thử cận bỉ ngạn                           此  近  彼  岸

Thoát tử vi thượng                         脫  死  為  上

 

Những kẻ thành tâm ưa thích đạo lý tiếp thu được chánh giáo sẽ tới gần được bờ bên kia, xem cái liễu sinh thoát tử là mục đích cao nhất.

 

Bài kệ 15

Đoạn ngũ uẩn Pháp                       斷  五  陰  法

Tĩnh tư trí tuệ                               靜  思  智  慧

Bất phản nhập uyên                       不  反  入  淵

Khí y kỳ minh                                 棄  猗  其  明

 

Đoạn trừ năm thủ uẩn, thiền tập để đạt tới tuệ giác, không trở vào lại dòng lũ lụt thì buông bỏ sự bám víu và đạt tới minh triết.

 

Bài kệ 16

Ức chế tình dục                               抑  制  情  欲

Tuyệt lạc vô vi                                 絕  樂  無  為

Năng tự chửng tế                            能  自  拯  濟

Sử ý vi tuệ                                      使  意  為  慧

 

Chế ngự tình dục, dứt bỏ đam mê, học theo vô vi, có khả năng tự độ, sử dụng tâm ý để đạt tới tuệ giác.

 

Bài kệ 17

Học thủ chánh trí                             學  取  正  智

Ý duy chánh đạo                             意  惟  正  道

Nhất tâm thọ đế                              一  心  受  諦

Bất khởi vi lạc                                 不  起  為  樂

Lậu tận tập trừ                                漏  盡  習  除

Thị đắc độ thế                                 是  得  度  世

 

Tu tập để đạt tới chánh trí, tâm ý chỉ nương vào chánh đạo, một lòng tìm cầu chân lý, không đi tìm dục lạc thì đạt tới lậu tận, diệt trừ được tập khí và vượt được thời gian.

Kinh Người Ngu Muội

Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.
Có cơ hội gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc là biết được thức ăn ngon hay dở.

 

Ngu Ám Phẩm Pháp Cú Kinh đệ  thập tam

愚闇品法句經第十三

Kinh Người Ngu Muội

Dịch từ kinh Pháp Cú trong Hán tạng

Kinh thứ 13

 

Phẩm này có 21 bài kệ. Ngu ám đây là chỉ cho những kẻ si mê, ngu phu. Tiếng Pali là bala. Mỗi bài kệ trong phẩm này là một tiếng chuông chánh niệm cho người tại gia và cho cả người xuất gia. Bài kệ đầu nói về đêm sinh tử, một đêm kéo dài bất tận, bởi vì trong đêm dài ấy ánh sáng không chịu về. Ánh sáng đây là ánh sáng trí tuệ, hiểu biết, giác ngộ. Ánh sáng chưa chịu về thì đêm còn kéo dài mãi mãi. Mình phải tự hỏi mình có đang chìm đắm trong cái đêm sinh tử ấy không? Nếu chung quanh mình toàn là những người ngủ mê, chỉ biết bôn ba bận rộn về con cái và tài sản, về những tiện nghi vật chất và tình cảm hàng ngày, thì mình biết họ là những người đang đi trong trong đêm. Mình thử hỏi: mình có phải là một trong những người ấy không? Bài kệ thứ 6 cho ta biết: Nếu ta biết được ta là một trong những người đang mê ngủ thì đó là ta đã tỉnh dậy. Biển khổ tuy mênh mông, nhưng quay đầu lại thì thấy được bến bờ ngay. Bài kệ thứ 8 khuyên ta nên tìm cách gần gũi người có trí tuệ để có cơ hội thức tỉnh và nếm được hương vị của giác ngộ. Các bài kệ 17, 18, 19, 20 và 21 là đặc biệt để dành cho người xuất gia. Bài thứ 19 khuyên người xuất gia đừng đóng vai trò của một người sa môn tại gia nữa. Sa môn tại gia là một người chỉ có hình tướng xuất gia mà không có nội dung xuất gia.

 

Bài kệ 1

Bất mị dạ trường                           不  寐  夜  長

Bì quyền đạo trường                      疲  惓  道  長

Ngu sanh tử trường                        愚  生  死  長

Mạc tri chánh pháp                         莫  知  正  法

 

Kẻ mất ngủ thấy đêm dài. Kẻ lữ hành mệt nhọc thấy đường xa hun hút. Đối với kẻ ngu muội, đêm sinh tử là dài nhất cũng bởi vì kẻ ấy không biết đến chánh pháp.

 

Bài kệ 2

Si ý thường minh                           癡  意  常  冥

Thệ như lưu xuyên                         逝  如  流  川

Tại nhất hành cường                      在  一  行  彊

Độc nhi vô ngẫu                             獨  而  無  偶

 

Tâm ý kẻ si mê mãi mãi mờ ám, trôi hoài như nước sông. Vì vậy, thà rằng mình đi một mình, đừng đi với những kẻ ngu muội.

 

Bài kệ 3

Ngu nhân khán số                           愚  人  着  數

Ưu thích cửu  trường                      憂  慼  久  長

Dữ ngu cư khổ                                與  愚  居  苦

Ư ngã do oán                                  於  我  猶  怨

 

Người ngu muội kẹt vào những con số, niềm lo lắng kéo dài, chung đụng với người ngu là khó, lại còn gây ra thêm oán hận.

 

Bài kệ 4

Hữu tử hữu tài                                有  子  有  財

Ngu duy cấp cấp                           愚  惟  汲  汲

Ngã thả phi ngã                              我  且  非  我

Hà ưu tử tài                                    何  憂  子  財

 

Người ngu muội cứ bôn ba bận rộn (về con cái và tài sản). "Đây là con trai của tôi. Đây là tài sản của tôi." Cái thân này chưa chắc là của ta, huống nữa là con cái và tài sản.

 

Bài kệ 5

Thử đương chỉ thử                        暑  當  止  此

Hàn đương chỉ thử                        寒  當  止  此

Ngu đa vụ lự                                  愚  多  務  慮

Mạc tri lai biến                               莫  知  來  變

 

Nóng quá, làm sao cho hết nóng. Lạnh quá, làm sao cho hết lạnh. Kẻ ngu phu lo từ chuyện này tới chuyện khác, không biết cái gì sẽ xảy ra trong tương lai.

 

Bài kệ 6

Ngu mông ngu cực                          愚  曚  愚  極

Tự vị ngã trí                                    自  謂  我  智

Ngu nhi thắng trí                              愚  而  勝  智

Thị vị cực ngu                                  是  謂  極  愚

 

Kẻ ngu mà cho mình là kẻ trí, đó là ngu tới mức cùng cực. Kẻ ngu mà biết là mình ngu thì đó đã là kẻ trí rồi.

 

Bài kệ 7

Ngoan ám cận trí                           頑  闇  近  智

Như biều châm vị                           如  瓢  斟  味

Tuy cửu hiệp tập                            雖  久  狎  習

Do bất tri Pháp                              猶  不  知  法

 

Kẻ ngoan cố dù ở gần kẻ trí thì cũng như cái thìa múc canh, múc hoài hoài mà cái thìa không biết canh là ngon hay dở.

 

Bài kệ 8

Khai đạt cận trí                               開  達  近  智

Như thiệt thường vị                         如  舌  嘗  味

Tuy tu du tập                                  雖  須  臾  習

Tức giải đạo yếu                             即  解  道  要

 

Có cơ hội mà gần được người trí thì cũng như cái lưỡi nếm được thức ăn, chỉ trong khoảnh khắc mà biết được thức ăn ngon hay dở.

 

Bài kệ 9

Ngu nhân thí hành                          愚  人  施  行

Vi thân chiêu hoạn                          為  身  招  患

Khoái tâm tác ác                             快  心  作  惡

Tự trí trọng ương                            自  致  重  殃

 

Hành động của kẻ ngu muội đem lại tai hoạn cho bản thân mình, vì ưa làm việc ác cho nên tự đưa mình đến tai ương.

 

Bài kệ 10

Hành vi  bất thiện                           行  為  不  善

Thoái kiến hối lẫn                           退  見  悔  悋

Trí thế lưu diện                               致  涕  流  面

Báo do túc tập                               報  由  宿  習

 

Làm xong một cái gì bất thiện, nhìn lại thấy hối hận rồi thì khóc thương đầm đìa nước mắt, quả báo đến từ thói quen lâu đời dồn lại.

 

Bài kệ 11

Hành vi đức thiện                           行  為  德  善

Tiến đổ hoan hỉ                              進  覩  歡  喜

Ưng lai thọ phước                          應  來  受  福

Hỉ tiếu duyệt tập                             喜  笑  悅  習

 

Làm được một điều gì hiền thiện, nhìn lại thấy hoan hỉ, biết rằng mình sẽ tiếp nhận phước đức, niềm vui và nụ cười sẽ đến với mình.

 

Bài kệ 12

Quá tội vị thục                                過  罪  未  熟

Ngu dĩ điềm đàm                           愚  以  恬  惔

Chí kỳ thục xứ                                至  其  熟  處

Tự thọ đại tội                                自  受  大  罪

 

Lỗi lầm làm trong quá khứ chưa đến lúc chín, kẻ ngu muội vì thế cứ việc nhởn nhơ, nhưng khi nghiệp quả đã chín muồi thì sẽ tự mình nhận chịu tội báo lớn.

 

Bài kệ 13

Ngu sở vọng xứ                              愚  所  望  處

Bất vị thích khổ                              不  謂  適  苦

Lâm đọa ách địa                             臨  墮  厄  地

Nãi tri bất thiện                               乃  知  不  善

 

Chỗ sai lầm của người ngu là không nhận diện được cái khổ là cái khổ, khi nào rơi vào tình trạng nguy ngập thì mới biết là mình đã làm sai.

 

Bài kệ 14

Ngu xuẩn tác ác                             愚  憃  作  惡

Bất năng tự giải                             不  能  自  解

Ương truy tự phần                         殃  追  自  焚

Tội thành sí nhiên                           罪  成  熾  燃

 

Ngu xuẩn làm ác, không có khả năng tự biết, tai ương do đó đi theo đốt cháy chính mình, tội báo cháy bùng.

 

Bài kệ 15

Ngu hảo mỹ thực                           愚  好  美  食

Nguyệt nguyệt tư thậm                   月  月  滋  甚

Ư thập lục phần                             於  十  六  分

Vị nhất tư Pháp                              未  一  思  法

 

Người ngu chỉ biết lo ăn ngon, chỉ biết hưởng thụ, càng ngày càng đi sâu vào lầm lỗi, trong mười sáu phần hạnh phúc đích thực, người ngu không hưởng được đến một phần.

 

Bài kệ 16

Ngu sanh niệm lự                           愚  生  念  慮

Chí chung vô lợi                             至  終  無  利

Tự chiêu đao trượng                      自  招  刀  杖

Báo hữu ấn chương                       報  有  印  章

 

Cái ngu sinh ra cái lo lắng, cuối cùng chẳng có lợi lạc gì, và người ngu tự chuốc lấy đao trượng (hình phạt) của báo ứng, có chứng cớ rõ ràng không thể chối cãi.

 

Bài kệ 17

Quán xứ tri kỳ ngu                           觀  處  知  其  愚

Bất thí nhi quảng cầu                       不  施  而  廣  求

Sở đọa vô đạo trí                            所  墮  無  道  智

Vãng vãng hữu ác hành                   往  往  有  惡  行

 

Quán sát ngay tại chỗ và nhận diện ra sự có mặt của kẻ ngu mê: đó là những người không tu tập mà chỉ biết đòi hỏi, những kẻ ấy sẽ đọa lạc vào chỗ vô đạo và thường thường làm những điều xấu ác.

 

Bài kệ 18

Viễn đạo cận dục giả                      遠  道  近  欲  者

Vi thực tại học danh                        為  食  在  學  名

Tham y gia cư cố                           貪  猗  家  居  故

Đa thủ cúng dị tính                          多  取  供  異  姓

 

Xa đạo, gần kẻ nhiều tham dục, mang tên là người tu mà chỉ nghĩ tới chuyện ăn, cứ la cà nơi nhà người cư sĩ để mong cầu sự cúng dường càng nhiều càng tốt.

 

Bài kệ 19

Học mạc đọa nhị vọng                     學  莫  墮  二  望

Mạc tác gia sa môn                        莫  作  家  沙  門

Tham gia vi Thánh giáo                  貪  家  違  聖  教

Vi hậu tự quỹ phạp                         為  後  自  匱  乏

Tu thì đừng để tự rơi vào ba cái sai lầm. Đừng đóng vai trò vị sa môn tại gia, la cà nhà cư sĩ là sai với lời Bụt dạy, sau này sẽ cảm thấy thiệt thòi.

 

Bài kệ 20

Thử hành dữ ngu đồng                   此  行  與  愚  同

Đãn lệnh dục mạn tăng                 但  令  欲  慢  增

Lợi cầu chi nguyện dị                     利  求  之  願  異

Cầu đạo ý diệc dị                         求  道  意  亦  異

 

Hành xử như trên thì thấy chẳng khác gì cách hành xử của kẻ ngu phu, chỉ làm cho dục vọng và kiêu mạn tăng trưởng. Cái ước nguyện chỉ là cái tài lợi, không phải là tâm ý cầu đạo thành khẩn.

 

Bài kệ 21

Thị dĩ hữu thức giả                         是  以  有  識  者

Xuất vi Phật đệ tử                           出  為  佛  弟  子

Khí ái xả thế tập                             棄  愛  捨  世  習

Chung bất đọa sanh tử                   終  不  墮  生  死

 

Cho nên đã là bậc thức giả, là người xuất gia đệ tử Bụt thì phải buông bỏ ái dục và những tập khí ngoài đời, cuối cùng mới khỏi đọa vào sinh tử.