Đuốc thơ còn cháy trên trang sử người

đêm này dù đã về ngôi

hồn thơ vẫn thấy luân hồi thế gian

bút hoa ngàn kiếp không tàn

đuốc thơ còn cháy trên trang sử người

có không mù mịt biển khơi

nẻo về đã rạng chân trời thênh thang

tỉnh say vẫn một cung đàn

lửa anh hào đốt cháy tan đêm sầu

 thơ lên bay vút bồ câu

triều âm chấn động phương nào chẳng nghe?

giấc mơ hồ điệp đi về

biển đông sóng vỗ, kình nghê vẫn còn.

Bài thơ này Thầy viết để tưởng nhớ Vũ Hoàng Chương. Vũ Hoàng Chương là một người đã đem cả thân mạng và sự sống của mình mà tham dự vào cuộc đấu tranh bất bạo động để tranh thủ hòa bình và chống độc tài từ 1963 cho đến 1977. Ông đã từng bị tù tội nhiều lần trong thời gian đó. Đọc tác phẩm Bút nở hoa Đàm của ông, ta thấy được điều này. Ông đã tranh đấu bằng thơ của ông và biến cố lớn nào của cuộc tranh đấu cũng đều được đánh dấu bằng một bài thơ. Ông thật có tinh thần vô úy và phong độ anh hào. Trong bài Bút nở hoa Đàm, ông viết:

ai sẽ là ngươi trong tương lai

một sớm một chiều

vươn tay hái cành hoa thương yêu

làm bút viết?

Đọc tới những câu đó, thầy Nhất Hạnh nói với chúng tôi rằng: “Chính Vũ Hoàng Chương là người đã hái được cành hoa từ bi làm bút viết. Chính ông là người thi sĩ xứng đáng nhất của lịch sử tranh đấu bất bạo động cho hòa bình tại Việt Nam.”

Chỉ một hôm sau khi được chính quyền phóng thích thì thi sĩ mất. Ngày anh về, chị Vũ Hoàng Chương nấu được một nồi bún cho chồng nhưng anh chỉ lùa được vài cọng bún. Chị thuật lại rằng đầu năm 1976, ngày mà cán bộ và công an đến bắt, có tới năm sáu xe và một lực lượng vũ trang hùng hậu đến vây quanh nhà. Biết trước cơ sự, anh Vũ Hoàng Chương bảo chị yên lặng. Rồi anh ngồi lên trong tư thế kiết già trong khi cán bộ và công an làm ầm ĩ, đập cửa, lục soát không sót một ngõ ngách nào và quăng bừa bãi tất cả đồ đạc kéo từ các tủ ra. Suốt thời gian họ lục soát, anh vẫn ngồi bất động, không nói năng gì. Cuối cùng trước khi bắt anh, người chỉ huy tuyên đọc một bản cáo trạng. Vũ Hoàng Chương lắng nghe. Nghe xong anh chỉ khẽ nhún vai. Họ bắt anh từ đó và trong trại giam, sức khỏe của anh tàn lụi dần dần.

Có lẽ trong trại giam anh Vũ Hoàng Chương đã thiền tọa rất nhiều. Được tin anh mất, thầy Nhất Hạnh rất thương cảm. Thầy đã viết mấy dòng trên, trong đó có nhiều chữ đã lấy từ thơ của Vũ Hoàng Chương. Các bạn quen thuộc với thơ Vũ Hoàng Chương chắc nhận được tất cả những chữ đó.

Uyên nguyên

Himalaya là dãy i nào?

trong tôi có mt ngn ng phong đnh vươn cao tri mây khói

y đến cùng tôi i chân ng phong kng tên gi

ngi trên nhng tng đá xanh kng tui

lng nhìn thi gian xe tng si óng ánh dt thành bc la kng gian

sông Cửu Long chảy nơi đâu?

trong tôi có một trường giang cuồn cuộn, không biết đã bắt đầu nguồn tự chốn thâm sơn nào

ngày đêm nước bạc phăng phăng cuốn về nơi vô định

y cùng tôi tới thả thuyền trên dòng hung mãnh

để cùng tìm về chung đích của vũ trụ bao la.

Andromede là tên của đám mây sao nào?

trong tôi có một tinh hà chuyển vận âm thầm muôn triệu tinh cầu sáng chói

y cùng tôi bay, rách lưới không gian, đường mây mở lối

tiếng đập cánh của anh sẽ gây chấn động tới mỗi vì sao xa.

homo sapiens tên ging sinh vt nào?

trong tôi có mt chú tay trái vén màn đêm, tay phi cm mt ng hoa mt tri làm đuc

hai mt bé là hai vì sao c bé bay cun cun như y trên khu rng g gng bão

y cùng tôi ti hi tìm chi đang đi đâu?

đâu là uyên nguyên? đâu là quy xứ?

            đường về có những ngã nào?

ô hay, bé chỉ mỉm cười

bông hoa trên tay bé

bỗng trở thành một mặt trời đỏ chói

ri bé một mình đi tới giữa những vì sao.

Cảnh giới của nội tâm và cảnh giới của vũ trụ có thể chỉ là một. Bài thơ này là một trong những bài Thầy làm trong thời gian an cư tại Phương Vân am.

Lưu chuyển

gió lặng trưa nay

bốn cây trắc bá một hàng

bức tường gội nước thời gian loang lổ mỏi mòn

chìm lắng bơ vơ hồn gạch đá

trời xanh trời xanh ơi bình lặng

i tới hôm nay thăm dò tuổi gạch

nhng tảng đá chồng lên nhau

kiên nhẫn tháng này năm nọ

đợi chờ, thương biết mấy

thịt da tôi trên nẻo đường sa mạc ghé qua mau

để lại chút ấm lòng bàn tay, phập phồng trái tim nhịp thở

bóng xưa xa hút rồi

các ngươi còn ở đây chờ đợi

y có phải ngày xưa ta đã qua đây

trong một chu kỳ nào

để hôm nay dừng bước chân ngẩn ngơ, bâng khuâng tìm dấu chân kiếp trước

khoảng không giữa lòng bàn tay tôi

khi năm uẩn được trả về

ngày mai còn có những nguyên tử nào quần tụ?

ai chết bên bức tường vôi gạch giữa trưa hè trong lúc trời lặng yên mỉm nụ cười xanh biếc?

gạch đá ơi ai đi qua

và ai còn ở lại

tôi muốn chở người đi cùng trong tốc độ

nhưng tôi bỗng đã nghe rồi!

có kẻ từng đi tìm khứ lai

y chỉ cho tôi nơi nao là chỗ chân trời

để tôi có thể thấy cùng với các ngươi, tự kiếp xa xôi nào, lưu chuyển cùng trong tốc độ?

cho tôi thời gian gọi về cây khế cây chanh năm cũ

cùng với hôm nay hàng cây trắc bá

dừng chân nơi đây

cuộc hành trình kỳ lạ

tuy mầu trời xanh bình lặng muôn đời còn đó

nhưng mầu trời xanh bình lặng hôm nay ra đời.

Bài thơ tôi được nghe Thầy giảng cho anh Thomas Roep tại Phương Vân am cách đây chừng bốn năm. Thầy viết nó vào khoảng 1966. Thomas là giáo sư địa chất học tại Đại học Amsterdam. Anh có đọc sách thiền của Thầy và cũng có thực tập về thiền. Hôm đó ngồi uống trà trước sân Phương Vân am hai người nói chuyện về quan niệm thời gian qua mắt nhìn của nhà địa chất học. Ban đầu Thomas cho mọi người biết là vùng đồi núi này xưa kia vốn là biển cả. Nhiều người hết sức ngạc nhiên. Anh bảo mọi người đi theo anh vòng ra phía sau am. Rồi anh chỉ cho mọi người thấy những mẩu san hô nhỏ xíu hóa thạch trong những tảng đá dùng để xây am. Những tảng đá này là vật liệu xây cất địa phương. (Am Phương Vân cũng không phải mới xây. Am vốn là một ngôi nhà được xây cất trước đây chừng hai trăm năm, đã hư nát nhiều chỗ và được Thầy ra tay tu bổ lại với sự giúp đỡ của một anh con trai trong làng.) Sau đó mọi người ra ngồi uống nước phía trước am, gần giếng nước, bên cạnh gốc mận.

Tôi không nhớ hết những điều Thầy nói về bài thơ. Tuy vậy tôi cho rằng ý niệm về tốc độ rất quan trọng ở đây. Hình như Thầy có nói rằng gạch đá và da thịt không đi cùng một tốc độ, và vì vậy mỗi khi đi trọn một chu kỳ, con người lại gặp trở lại gạch đá, rồi có cảm tưởng rằng đây không phải là lần thứ nhất mình gặp chúng. Cảm tưởng này một lần kia tôi đã có, khi tôi đến thăm lâu đài Heisenberg. Hôm đó, lên tới lâu đài, tôi thấy cảnh tượng rất quen thuộc với tôi, từ góc thành cho đến mỗi tảng đá. Tôi nghĩ như kiếp trước tôi đã thấy lâu đài này rồi. Thầy nói có một bữa trưa nào đó trong khi đứng nhìn bức tường có những tảng đá chồng lên nhau, kiên nhẫn tháng này năm nọ bỗng nhiên Thầy thấy thoát ra khỏi hợp thể ngũ uẩn và bên cạnh bức tường kia, Thầy trông thấy xác thân ngũ uẩn của Thầy đang nằm chết, trong khi nhìn lên, Thầy lại thấy trời xanh đang mỉm một nụ cười xanh biếc. Cái cảm tưởng đầu tiên của Thầy là ước muốn được cùng gạch đá đi du hành chung một tốc độ. Nhưng sau đó, Thầy bỗng nhận ra rằng những ý niệm về khứ và lai (đến và đi) là những ý niệm mà các vật lưu chuyển (những vật còn trong vòng luân hồi sinh tử) tự tạo cho mình: thực sự thì từ hồi vô thỉ, cây khế, cây chanh, hàng cây trắc bá, tác giả bài thơ và những tảng đá chồng lên nhau đã cùng nằm trên một tốc độ như nhau. Cuộc hành trình kỳ lạ là một cuộc hành trình không có khởi thủy, không có nơi đến màu trời bình lặng kia đã có từ vô thỉ nhưng vì tác giả mới trông thấy nụ cười xanh biếc của nó hôm nay cho nên kể như mới được ra đời hôm nay.

Hình ảnh làm tôi suy nghĩ nhiều nhất là hình ảnh khoảng trống trong lòng bàn tay của tác giả. Cái khoảng không ấy chỉ lớn độ chừng năm sáu phân khối. Một ngàn năm sau, khi tác giả qua đời, có bao nhiêu nguyên tử sẽ đến quần tụ trong cái khoảng không đó, và trong số những nguyên tử ấy, có được mấy nguyên tử từng có liên hệ trực tiếp hoặc gián tiếp đến ngũ uẩn của ông? Tôi nghĩ có lẽ cái hình ảnh đó đã giúp cho ông thoát ra khỏi ngũ uẩn của ông và làm cho ông thấy được nụ cười xanh biếc.

Chị Kirsten Roep đã dịch bài này ra tiếng Hòa Lan như sau:

 

Vloed Der Gedaanteveransereing

Dit middaguur, een zachte wind

vier cyprerssen op een rij

een muur, door het water der tijden schoongespoeld, versleten

de ziel van de grote rots weggeeeebd, verstild, opgelost 

O blauwe lucht, onbewegelijke blauwe lucht!

Ik ben vandaag gekomen om te vragen

naar de hoge ouderdom der stenen

Ik zou willen weten hoeveel maanden, jaren,

zij gedulding, opeéngestapeld, wachten. 

Mijn vlees en bloed op reis door de woestijn

stoppen éen seconde hier

en laten uit de holte van m’n hand een vleug je warmte achter vibrerend in de maat van m’n hartslag.

Oude beelden reeds in de verte verdwenen

jullie wachten hier nog

zeg mij, is het waar dat ik eerder hier voorbijkwam

in een kringloop van vroegere tijden

om vandaag hier weer te stoppen, bevreemd, vervuld van vage herinneringen, bij het ontdekken van voetsporen van vroeger leven?

Waneer mijn lichaam tot aarde is teruggekeerd

blijven dan morgegn om elkaar bewegen

           wal atomen om elkaar bewegen

in de lege ruimte van de holte van mn hand?

Wie ligt nu begraven bij de oude, witgekalkte muur

          op deze midzomerdag, terwijl de onbewogen lucht

          diepblauw glimlacht?

Grote steen, zeg mij: wie is voorbijgegaan

en wie is nog hier?

Ik zou je mee willen dragen

          met m’n eigen snelheid

maar plotseling heb ik iets vernomen!

Is er iemand die het komenengaan al heft ervaren?

Wijs mij de plaats van de horizon dan aan

zodat ik samen met jullie, uit een ander ver keven, devloed

          der verandering met dezelfde snelheid kan volgen,

Laat mij zien dat de tijd appelbomen, citroenbomen

          uit de oudhied weer tevoorschijn roept

om vandaag met de cypressen hier

          even de wonderbaarlijke reis te onderbreken.

Ofschoon de stille blauwe lucht de sporen 

             van tienduizend levens blijft volgen,

wordt de stille blauwe lucht

             vandaag geboren.

Bờ bến lạ

buông bắt không gian, mầu chia ánh sáng

nệm trải dưới chân mây lung linh

ngõ vắng nhìn suốt linh hồn

mặt mũi tiền thân về hiện thế

cửa sổ thời gian bỏ ngỏ

để rèm nhớ thương bay

nắng và mầu xanh

ôi hằng hữu mùa xuân

trên Hy Mã Lạp Sơn

có cánh đồng hoang cỏ mượt

lấm tấm trời sao hoa vàng tím

người cắn trên ngón tay

cho tâm tư ngừng đọng

thuyền tôi vừa ghé vào bến lạ

im lặng dưới ánh đèn sao

tiếng nói trẻ thơ

thế giới nào quen thuộc? hãy lắng tai nghe

hồn cứ bay

ct cánh không chờ lệnh

v ì người phi hành kia

hai tay còn trói chặt

 

bỗng nghe gió thì thào

đại bàng vừa xòe đôi cánh rộng:

không gian là của Người!

đi đâu? một vì sao xa vẫy gọi

mênh mông, lạc lõng tinh cầu

vẫn thấy mây trời thân hữu.

y chiều, khói sóng:

đợi chờ, có mẹ có em

giờ trưa đói lòng:

phảng phất hương cau tiếng võng.

ng ghế mỏi,

giấc ngủ về

ngoài kia trăng cũng tựa đầu trên núi biếc

ngươi là ai? Buổi sáng tình cờ làm quen

giờ đây đã ngồi ngủ nghiêng đầu

suy tư kéo sợi tơ dài

con tằm tự giam mình trong chiếc kén

trời khuya lên cao

bên tai gió vẫn thì thào

chiếc bánh con, tách cà phê

tôi bàng hoàng:

trên mây, lao đao bước chân người chiêu đãi.

Bài này hình như cũng là được làm trên máy bay khi Thầy đang ngủ gà ngủ gật.

Sinh tử

sinh sinh, sinh tử sinh

tử sinh sinh tử sinh

tử sinh sinh, sinh tử

tử sinh tử, sinh sinh.

Bài thơ này gồm bốn câu mà chỉ có hai chữ sinh và tử. Chưa có bài dịch ra tiếng Việt. Thầy kể lại là bài thơ này được viết trong một buổi họp giữa các nhà tôn giáo về chuyện sống chung hòa bình. Hội nghị này được tổ chức năm 1974 tại Tích Lan. Trong suốt ba ngày đầu của hội nghị, Thầy không mở miệng phát biểu một lời nào, vì các đại biểu nói lý thuyết nhiều quá mà không chịu đề cập đến những vấn đề thực tế. Các nhà lãnh tụ tôn giáo, nhất là các “giáo sư thần học” phí rất nhiều thì giờ để nói về cái ngã của tôn giáo mình. Luôn ba ngày đêm ngồi nghe chán cả lỗ tai, Thầy ngồi làm thơ. Đây là một trong những bài thơ làm tại phòng hội nghị. Thầy có dịch bài thơ ra Anh văn chuyển cho hai đại biểu Thái Lan và Bỉ coi. Bản dịch đó đã mất. Tôi xin mạo muội dịch nghĩa bằng tiếng Việt như sau:

Từ bao nhiêu đời rồi, sinh tử đã phát sinh

sinh tử này kéo theo sự phát sinh của sinh tử khác

khi quan niệm về sinh tử phát sinh thì sinh tử cũng phát sinh

và khi quan niệm về sinh tử mất đi thì sự sống chân thực mới phát sinh ra được.

Các chữ sinh tử trong bài được phân phối như sau:

Từ bao nhiêu đời rồi (sinh sinh) sinh tử đã phát sinh (sinh tử sinh)

Sinh tử này (tử sinh) kéo theo sự phát sinh (sinh) của sinh tử khác (tử sinh)

Khi quan niệm về sinh tử phát sinh (tử sinh sinh) thì đó là sinh tử (sinh tử)

Và khi quan niệm về sinh tử mất (tử sinh tử) thì sự sống chân thực mới phát sinh ra được (sinh sinh).

Để tôi ráng làm lục bát xem, xin các bạn chớ cười:

tử sinh có tự bao đời

tử sinh lại cứ đón mời tử sinh

tử sinh do niệm tử sinh

niệm kia một dứt, vô sinh chứng liền.

Cẩn trọng

qua ngõ vắng

lá rụng đầy

i theo con đường nhỏ

đt hồng như môi son bé thơ

bỗng nhiên

tôi cẩn trọng

từng bước chân đi.

 

Những ai từng đọc Phép lạ của sự tỉnh thức của thầy Nhất Hạnh chắc đã biết về phép quán niệm trong khi bách bộ. Hồi ở Việt Nam, hay lúc đi ra ngoại quốc cũng thế, tôi thấy ngày nào Thầy cũng để ra ít nhất là một giờ để đi bách bộ và quán niệm. Tôi cũng thấy đi quán niệm là một phép thiền rất hay và rất dễ tập. Có những hôm công việc nhiều quá, Thầy đợi tới một giờ khuya mới khoác áo ra ngoài để đi quán niệm. Thầy viết trong phép là: “Tôi ưa đi bộ một mình trên những con đường quê hai bên có những bông lau vàng hay cỏ dại, và đặt từng bước chân ý thức trên đất, biết mình hiện tại đang đi trên hành tinh xanh kỳ diệu. Những lúc như thế, tôi thấy hiện hữu mầu nhiệm một cách lạ kỳ. Người ta thường nghĩ rằng đi trên mặt nước hay đi trên than hồng là thực hành phép lạ. Tôi nghĩ phép lạ không phải là đi trên mặt nước hay đi trên than hồng mà là đi trên mặt đất.” Cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức đã được Neige dịch ra Pháp văn và xuất bản lấy tên là Le Miracle, c’est de marcher sur terre cũng vì ý ấy.

Tôi học được phép quán niệm bách bộ hồi còn làm việc tại làng hoa tiêu Thảo Điền, một trong những làng thí nghiệm dẫn tới sự thành lập Trường Thanh niên Phụng sự Xã hội. Hôm đó đi thăm Thảo Điền trên con đường đê xuyên ngang ruộng lúa, Thầy dạy chúng tôi phép quán niệm này. Hôm ấy chúng tôi đi năm người, trong số đó có hai anh sinh viên trường thuốc. Một anh vốn là “lính mới” trong việc làm làng nên cái mặt anh ta hết sức nghiêm nghị lúc tập thở và tập đi thiền trông rất buồn cười.

Kirsten và Thomas bên này thì học phép đó trong công viên Alkmaar. Neige và Pierre trong vườn Luxembourg. Còn Joe thì nằm ngửa ngay trong văn phòng ở Sceaux để học bài học đầu về cách thở. Joe theo học thiền quán luôn ba năm với thầy Nhất Hạnh tại một lớp thiền tổ chức ở Centre Quaker International Paris. Sau này thầy Nhất Hạnh rút về quê thì Joe được trao cho trách nhiệm hướng dẫn lớp thiền cho những người mới. Một thiền sinh khác mà Thầy tin tưởng và đã từng được giao cho sự hướng dẫn lớp thiền là anh Philippe Heully. Phần lớn những người ngoại quốc theo học thiền với Thầy đều không phải là Phật tử.

Bài thơ trên tuy đơn giản nhưng mang dáng dấp của Thầy một cách rõ rệt.

Và đây là bản dịch Anh văn của Mobi Quỳnh Hoa:

through the deserted gate

flooded with fallen leaves

I follow the small path

earth as red as a child’ slips

suddenly

I am aware

of each step

I take

Trời bên ấy sáng chưa

Tặng Huệ Liên

trước ngõ dòng sông cuồn cuộn

y trắng nhẹ hồn thơ ấu

sau vườn hoa cải rực vàng

bướm lạc quê hương

vầng mộng chàng trao

mặt trời là mặt trời chung

hoa bưởi tóc em phải nào hương xa lạ

đôi tay nhỏ thay chàng khuya sớm

hồn trên nét bút

mầu pha khói sóng

thương những giờ chàng buông bút dạy con

vai gánh lấy trọn vẹn giang sơn

đòn gánh trĩu hai đầu văn hóa

đông tây tiếng gà bồn chồn tấc dạ

nghiêng gối hỏi thầm: trời bên ấy sáng chưa?

trọn một mùa đông

lửa hồng ấp ủ tin yêu

tiếng ngâm thơ vang qua trời tuyết

rau dưa nuôi lấy tương lai

a xuân hoa nở thắm đồi

mắt xanh vì trời xanh

hoa phượng lên rồi

nửa trời tình yêu hé mở.

Huệ Liên là nữ sĩ Helen Coutant, phu nhân của anh họa sĩ Võ Đình. Chị hiền dịu và đảm đang không thua những người đàn bà Á Đông hiền dịu đảm đang nhất. Chị nấu cơm Việt Nam rất khéo. Có lần chị đã viết bài phát biểu về thực phổ Việt Nam trong tập san Chuông Việt, cơ quan ngôn luận của sinh viên Việt Nam tại Chicago. Khi thấy bài chị đăng trên Chuông Việt, anh Võ Đình nói “hoảng”, bèn viết cho báo Chuông Việt nói: “Nhà tôi là ai mà dám lên tiếng về môn nấu ăn Việt Nam?” Tôi chắc anh Võ Đình la át chị ấy như thế cho đẹp, chứ trong thâm tâm, anh cũng tự hào về người vợ hiền thục của mình lắm lắm. Huệ Liên (Bông Sen Trí Tuệ, tên của họa sĩ đặt cho phu nhân) khuyến khích anh rất nhiều trong việc sáng tạo và biên soạn. Một trong những tác phẩm của chị là First Snow được chồng minh họa rất đẹp, do nhà xuất bản Knopt ấn hành. Chị đã dịch nhiều bài thơ của thầy Nhất Hạnh và nhà xuất bản Unicorn Press đã cho in một tập lấy tên là The Cry of Vietnam. Anh chị có hai cháu: Katherine Phượng Nam và Hannah Linh Giang. Bài Tri bên y sáng chưa tác giả viết tặng Huệ Liên hồi hai vợ chồng nghệ sĩ này còn cư trú tại Matamoras bên dòng sông Delaware. Lúc ấy trời đã lạnh, hoa cải đã nở sau vườn, trước mặt nhà nước sông Delaware chảy mạnh. Sau buổi cơm chiều có dưa giá chấm tương gừng, Thầy ngồi uống trà, anh Võ Đình ngâm bài Trưng giang của Huy Cận, Huệ Liên ngồi bên hai mắt sáng trưng. Chị là người được hấp thụ cả hai nền văn hóa, và thương nước Việt Nam không khác gì thương Tổ quốc chị: chị ước ao chờ đêm dài chiến tranh được chấm dứt phía trời Đông.

vai gánh ly trn vn giang sơn

đòn gánh trĩu hai đu văn hóa

Đông Tây tiếng bn chn tc d

nghiêng gi hi thm: tri bên y sáng chưa?

Chị có dịch bài thơ Tri bên y sáng chưa ra Anh văn như sau:

East and West

                                    for Hue Lien

 

swiftly

past the front gate

the river flows,

like childhood memories

the clouds float,

in the backyard

mustard flowers ablaze

where the lost butterflies

hover

within his arms a firmament,

beneath the sun

his and mine,

grapefruit blossoms in my hair

are no strange fragance,

for him

my small hands, night and day,

trace the soul of the calligrapher

who rests his pen

to teach the child.

ancestral rivers and mountains

on my shoulders

two cultures: east and west

bend the carrying pole down,

a rooster crows,

and over pillows the hear throbs

whispers: is it dawn yet, over there?

all winter long

the red fire smolders

where our faith is warmed,

he sings poems and his voice rings clear

in snowy sky,

to keep alive the future

meals of pickles and rice,

when spring comes back to hills

the sky is blue for eyes are blue

and far away phuong buds burst forth

among the coconuts:

half a world of love

has half-way opened.

Tôi mới gặp lại Huệ Liên cách đây mấy tuần sau hơn mười năm xa cách. Vẫn người phụ nữ hiền thục ấy, vẫn đôi mắt sáng trưng ấy, lúc nào cũng lắng nghe những thao thức của người dân Việt khổ đau. Tôi biết rất rõ tiếng gà vẫn bồn chồn trong lòng chị và chắc hẳn đã nhiều lần chị nghiêng gối hỏi thầm: “Trời bên ấy sáng chưa?”

Lanka

ngàn năm sóng biếc mơn chân đảo

rào rạt thâm sâu lòng đại dương

đàn trẻ chân không trên cát mịn

da thơm biển mặn. Gió căng buồm…

dừa cao rợp bóng nuôi hương đất

chuối mít xoài thơm vẫn ngọt ngon

mưa dội đèo cao nghe gió gọi

du chân của Phật vẫn chưa mòn

 

nắng lên rực rỡ ngày khai hội

trống nhịp bàn chân sóng nhạc tuôn

tay mềm, nghiêng dáng nâu thôn nữ

gợi ý tiền thân Phật xuống trần.

Sri Lanka là một hòn đảo xanh mướt, phì nhiêu, có rất nhiều chuối, mít, xoài và khóm, thơm. Thầy Nhất Hạnh đến đây để dự một hội nghị các tôn giáo về vấn đề sống chung hòa bình vào khoảng tháng Tư 1974. Thầy kể cho chúng tôi nghe là một hôm Thầy đi xuống bãi biển miền quê gặp mấy chục em bé quê, chân đi trên cát, không có áo, em nào em nấy chỉ mặc quần đùi, da sạm nắng, mắt đen láy và khỏe mạnh. Ở miền này trẻ em chưa bị nhiễm cái nếp sống văn minh của Coca-cola, phim cao bồi và khách du lịch. Cát trắng, dừa cao và biển xanh vẫn còn che chở cho các em. Biển thì thơm, da các em cũng thơm mùi biển, Thầy tới gần ôm các em trong hai tay, nhưng bởi vì ngôn ngữ bất đồng nên không nói với các em lời nào. Bỗng dưng Thầy chợt nhớ là giữa Thầy và các em có sẵn một ngôn ngữ chung có thể dùng được. Thầy bèn chắp tay đọc:

Namo Tassa Bhagavato Arahato Samma Sambuddhassa…

Tất cả các em đều chắp tay hướng về Thầy và đọc tiếp bài tam quy. Ở đây các em bé thuộc kinh tam quy bằng tiếng Pali cũng như các em bé ở Việt Nam thuộc bài Đệ tử kính lạy vậy. Cảnh tượng bãi biển lúc đó chắc là dễ thương lắm. Thầy đến Tích Lan nhằm mùa Phật đản nên đã được xem dân vũ mừng Phật đản. Dân Tích Lan tin rằng ngày xưa hồi tại thế, Phật Thích Ca có đến viếng Tích Lan tới ba lần. Các bộ sử Mahavamsa Dipavamsa cũng có nói như vậy. Theo các sách này thì chuyến viếng thăm thứ ba, vào năm 523, đức Phật có ghi dấu chân trên núi Sumanakuta và dấu chân ấy trải mấy nghìn năm vẫn còn rõ ràng trên núi đá.

Cao Phong

tin gọi đêm qua lòng đất ấm

châu khuya sữa ngọt bỗng tuôn trào

giờ phút nguy nga vừa chợt đến 

mặt trời ló dạng đỉnh non cao.

Cao Phong là tên một chú bé sinh vào lúc rạng đông một ngày năm 1974. Cha của chú bé có làm Phật sự với chúng tôi từ năm 1969 đến 1972. Trước ngày sinh chú bé, cha mẹ chú từng thỉnh cầu Thầy đặt cho nó một cái tên, một cái tên nói lên được kỳ vọng của cha mẹ nó vào tương lai của nó. Thầy nói ai biết đứa trẻ là con trai hay con gái mà đặt tên. Sáng hôm đó được tin một em bé trai ra đời, Thầy liền đặt cho nó tên Nguyễn Cao Phong và viết mấy câu thơ trên. Ước mong cho bé Cao Phong sau này được như hình ảnh mặt trời ló dạng trên đỉnh núi. Cao Phong là đỉnh núi cao.

Bướm lạc quê hương

lá tía tô

hương mùa thu mới chín

chim hót lá xanh

trời mây bình lặng

một buổi sáng hiền, chim câu xòe đôi cánh

hòa bình

trẻ thơ vươn tay ôm lấy

nụ cây mừng giọt nắng

hoe vàng sân cỏ rộng

mười năm

bướm lạc quê hương.

Ở Phương Vân am, tác giả trồng đủ các thứ rau thơm: húng, tía tô, kinh giới, ngò, quế, persil (mùi tây), céleri (cần tây), ciboulette (hành, hẹ)… cộng với các thứ rau tần ô, cải cay, cải ngọt, bí ngô… Vườn rau của Phương Vân am giống hệt một vườn rau của quê hương, nhất là khi hoa cải nở vàng và bươm bướm bay đầy vườn. Mỗi khi đi đâu xa hơi lâu là Thầy nhớ khu vườn. Ở xa, trời nóng, nâng cốc nước lọc trên tay giải khát Thầy cũng nhớ đến những luống rau thơm:

cốc nước lọc trên tay

nắng đã mấy hôm

ngoài trăm dặm

mấy luống rau thơm

đợi tôi về

tưới mát

Có một chú bé mười hai tuổi tên là Long và hai cô bé sáu tuổi và bảy tuổi là Minh Tâm và Thanh Thủy thường đến chơi và ở lại. Buổi sáng bốn ông cháu hay ra vườn. Thủy và Tâm chạy chơi trong nắng, còn Long thì giúp Sư ông nhổ cỏ, vun bón và tưới tẩm khu vườn. Thầy thường đặt bài hát mới cho chúng hát. Bài hát nào cũng có mặt của khu vườn: cây mướp, cây cà, con ốc, con sâu, trái bí, bông hồng.

Trong một bài hát Thầy viết riêng cho lũ “người lớn” của chúng tôi hát, có một bài mà trong đó có mặt nhiều thứ rau thơm:

đất mẹ cho em hương quế, tần ô,

tía tô, cây húng, cây ngò huyền diệu

mai đây xanh tươi núi đồi quê hương

mai đây lộc đời lên nhanh

ngt lời ca dao, toàn dân ca hát

ngọt lời ca dao, màu xanh đưa bước chân người…