Tình thầy trò

Còn nguyên sơ, còn trọn vẹn

Có những con đường mình tự trả

Mình thấy thích, mình làm thôi

Mình đâu có tính toán gì đâu.

 

 

Đàn voi của Thầy

Các sư em thương,

Chị vẫn nhớ những ngày đầu mới về Bát Nhã, mỗi khi có dịp ngồi chơi với các sư em, chị đều được yêu cầu kể chuyện ở Làng cho các sư em nghe. Mà đâu phải riêng chi mình chị, hễ có sư cô hay thầy nào từ Làng hay các trung tâm khác của Làng về thăm hay nhập chúng, các sư em cũng đều thích được nghe kể chuyện ở Làng. Một trong những chuyện các sư em thích nghe nhất và thậm chí nghe hoài không biết chán, đó là những câu chuyện về Thầy, hẳn rồi vì Thầy là Thầy của chúng ta mà. Bây giờ Làng mình có nhiều trung tâm và các sư em thì đông hơn ngày trước nhiều, dù ở cách xa nhau nhưng không vì vậy mà chị em mình mất đi cơ hội kể chuyện cho nhau nghe, các sư em có thấy vậy không?

Mấy năm nay, Làng mình có thêm các trung tâm ở Thái Lan, Mộc Lan, Bích Nham, Hồng Kông, Nhập Lưu, Học Viện Vô Ưu ở Đức, v.v.. Những trung tâm khác thì chị chưa đến, nhưng Học Viện Vô Ưu ở Đức và Thái Lan thì chị đã đến trong những khóa tu lớn, hay những lần đưa các sư em sang Thái dự lễ xuất gia, thọ giới. Lúc đó đại chúng ở Thái chưa dọn lên đất mới nhưng chị đã có mặt trong ngày đặt đá ở đất mới, khởi đầu cho công trình xây dựng trung tâm về mặt cơ sở hạ tầng. Và từ khi có các trung tâm mới, chị đã được nghe rất nhiều câu chuyện của các anh chị em mình. Câu chuyện nào cũng hay, cũng nuôi dưỡng chị. Dù chưa đến những nơi ấy, nhưng với đầu óc tưởng tượng khá phong phú, chị có thể hình dung được khung cảnh của các trung tâm ấy, mà sự thật thì chị đâu có giỏi tưởng tượng, bởi trung tâm nào cũng có hình và có cả phim nữa.

Được nghe những câu chuyện từ các anh chị em mình, chị thấy hạnh phúc lắm. Ở yên một chỗ, không tốn vé máy bay mà ai cũng biết được rất nhiều chuyện về các sinh hoạt của tăng thân khắp chốn, cảnh vật, thời tiết thay đổi bốn mùa v.v. Được nuôi dưỡng qua những câu chuyện của các anh chị em, chị thấy mình cũng nên mở lòng kể chuyện cho các sư em nghe. Phải rồi, có những câu chuyện đẹp đã nuôi dưỡng chị nhiều lắm các sư em, chị thấy mình không nên cất giữ cho riêng mình và chị muốn chia sẻ với các sư em của chị. Đang ở Làng nên chị sẽ kể về Làng cho các sư em nghe nhé! Chuyện ở Làng thì nhiều lắm, kể không bao giờ hết, viết không bao giờ cùng. Câu chuyện chị sắp kể ra đây đã đi qua ba mùa đông rồi, đó là mùa đông năm 2012, một trong những câu chuyện đẹp mà chị có trong những lúc ở bên Thầy, giây phút ấy giờ đã trở thành huyền thoại rồi, các sư em.

Các sư em đã nghe kể về các xóm ở Làng rồi phải không, để chị kể sơ một chút về lộ trình của ba xóm cho các sư em nghe trước khi bắt đầu câu chuyện nhé. Đường lên xóm Thượng từ xóm Hạ không xa lắm, đủ một vòng thể thao 45 phút đi bộ thong thả, đó chỉ là đi thôi. Muốn dừng lại lâu hơn để tiếp xúc với cảnh vật hai bên đường, ngắm trời mây thì chừng đó thời gian không đủ, nhất là đối với những người yêu thích thiên nhiên. Trước khi vào hẳn trong xóm phải đi qua rừng sồi và bên kia là vườn nho. Những cây sồi lâu năm nên thân và gốc cây to lắm. Rừng sồi còn có tên Đồi thỏ do các chị em tự đặt, vì nơi đây có nhiều thỏ. Những hang thỏ nằm dưới hoặc bên cạnh các gốc cây sồi. Những mùa thời tiết đẹp, ngày quán niệm ở xóm Thượng, các chị em thường rủ nhau đi sớm hơn, mang theo thức ăn và trà nước lên rừng sồi ngắm cảnh rồi ăn sáng, uống trà. Giờ đó những chú thỏ đã chịu chui ra khỏi hang để dạo chơi và ăn cỏ. Sóc thì dạn hơn, lúc nào cũng thể hiện tài nhảy phóc của mình, người ngồi dưới gốc cây, sóc nhảy trên cành, nai thì gặm cỏ trong các vườn nho cạnh mé rừng, hòa bình quá phải không các sư em. Cũng nơi rừng sồi này, vào tháng ba, hoa Thủy tiên biểu hiện vàng rực cả một vùng.

Vào những ngày quán niệm ở xóm Thượng hay xóm Hạ, quý thầy, quý sư cô và thiền sinh hai xóm có dịp đi bộ. Xóm Mới ở cách xa nên các chị em, ngoài đi bộ qua Sơn Cốc trong những ngày dành cho chúng xuất sĩ trong mùa An cư, phải đi xe qua hai xóm trong những ngày quán niệm. Và khi quán niệm ở xóm Mới thì hai xóm kia cũng phải đi xe. Sơn Hạ thuộc chúng xóm Thượng nên ngày quán niệm sinh hoạt chung tại xóm Thượng.

Các anh chị em ngoài những ngày quán niệm vẫn có những buổi đi bộ chơi trong những ngày làm biếng. Nhiều người thích khám phá những con đường mới hơn, xa hơn và mỗi lần khám phá ra con đường mới hay một đám hoa dại lạ, một lâu đài cổ kính, một hồ nước thiên nhiên v.v… vậy là truyền tin cho nhau biết và rủ nhau đi cùng. Chị không biết đây có phải là sở thích chung của nhiều người, ưa đi tìm những cái mới lạ. Đôi khi ưa thích đi tìm những cái mới lạ, chị đã thờ ơ và quên đi những cái rất bình thường, rất thật đang ở ngay bên cạnh mình. Và tình trạng ấy đã xảy ra cho chị đó các sư em.

Hôm ấy chị cùng Đàn Nghiêm và Tập Nghiêm lên cốc Thầy, cốc Ngồi Yên ở xóm Thượng. Lúc nào cũng vậy, trước khi bắt đầu một công việc gì, Thầy trò cũng có thì giờ uống trà trước khi làm. Hôm đó, trong lúc ngồi uống trà, Thầy nhìn ba chị em và hỏi: “Trên đường vào đây các con có thấy đàn voi của Thầy không?”. Câu hỏi hơi bất ngờ khiến ba chị em không hẹn mà đưa mắt nhìn nhau. Nụ cười thay cho câu trả lời là thượng sách của những lúc bí. Các sư em biết đó, kiểu hỏi của các thiền sư luôn mang tính chân đế mà học trò thì còn tục đế quá, hỏi làm sao mà lãnh hội được liền, nghĩ vậy nên chị tự than thầm: “Chúng con còn tục đế lắm Thầy ơi!”. Hiểu được tâm trạng của những đệ tử chưa thấm tương chao, Thầy mỉm cười một cách rộng lượng. Thầy trò ngồi yên uống trà. Nâng ly trà trong hai tay, sau khi nhấp một ngụm trà, Thầy nói tiếp: “Các con nhìn thấy đàn voi đó là mỗi khi đi qua đó Thầy sẽ nhớ tới các con. Lát nữa trên đường về các con nhớ nhìn cho kỹ, qua khỏi cái bảng Arrival và nhìn về phía bên trái, các con sẽ thấy có hơn năm chục con voi đứng ở bên đường chào đón các con”. Rồi Thầy cười và tiếp: “Chỉ có Thầy mới thấy được những con voi đó!”.

Có chuông sinh hoạt, Thầy đứng dậy và bảo: “Đi chơi với thầy các con!”. Câu này thì ba chị em lãnh hội được ngay liền. Dù biết kiểu “đi chơi” của Thầy rồi nhưng ba chị em không một ai lên tiếng, cứ bước theo Thầy ra hướng thiền đường. Vào những giờ này, nếu chị em nào lên làm thị giả Thầy đều được Thầy “mời” đi chơi, tức là đi ngồi thiền đó các sư em. Thầy biết các chị em không thích ngồi thiền chung ở xóm quý thầy khi không có chúng lớn ba xóm. Biết vậy, Thầy dành luôn những gối cạnh Thầy cho các chị em, điều này còn ngại hơn vì chị ý thức là mình đang ngồi trên cả quý thầy lớn tuổi hạ hơn mình. Vậy mà cũng phải ngồi đó các sư em, bởi cung kính không bằng nghe lời mà. Thầy thì vượt thoát, là an khi thở, lạc khi ngồi, một ngồi xuống dứt trầm luân, còn chị thì sau vài phút chơi với cảm thọ mới ý thức rằng mình đang được ngồi thiền có Thầy bên cạnh và với các sư anh, sư em của mình. Vậy đó mà đôi lúc chánh niệm trốn đi chơi, chị đã vật lộn với hạt giống ưa thích và chống cự, để mất thời gian trân quý Thầy và đại chúng lúc ấy. Tệ hơn nữa là bài học phá chấp theo tinh thần Bát Nhã mà Thầy đang gởi đến cho toàn chúng: “không trên không dưới, không trước không sau” ấy, chị nào thấu hiểu để “ngộ” liền.

Nhưng hôm đó, không biết Bụt có nghe câu gọi thầm của chị “Bụt ơi, cứu con!” không mà khi ra tới các bậc cấp dẫn lên thiền đường, Thầy dừng lại và quay ra hỏi ba chị em: “Sao thiền đường tối vậy con, sao không thấy ai trong đó hết vậy?”. Ba chị em ở xóm Hạ mà, Thầy hỏi vậy thôi chứ Thầy biết là ba chị em cũng giống Thầy, chẳng biết tại sao thiền đường vắng người. May quá, lúc ấy có một sư chú đi tới, Thầy hỏi sư chú đó thì biết là tối nay không có ngồi thiền mà sinh hoạt y chỉ sư, y chỉ đệ. Phải nói là chị mừng… hết lớn và chị biết hai sư em kia cũng vậy. Thầy nhìn ba chị em và nói: “Không có ngồi thiền” và Thầy cười rất tươi như đọc được những gì các chị em đang có. “Mình đi chơi các con, đi thăm đàn voi của thầy!”. Nói rồi Thầy đi về hướng cốc Ngồi Yên. Ba chị em nhìn Thầy rồi nhìn nhau, không biết màn kế tiếp là gì nhưng vẫn cứ đi theo Thầy. Chị nghĩ chắc có ai đó mới cúng dường Thầy bộ sưu tập voi đang để trong cốc, Thầy lúc nào cũng vậy, có cái gì vui cũng muốn chia sẻ cùng đệ tử. Thầy đi từ từ tới xe, mở cửa lên xe ngồi, thắt dây an toàn đàng hoàng. Ba chị em, trước khi lên xe còn đứng đưa mắt nhìn nhau trông như người ngớ ngẩn. Tới đây thì chị hết dám đoán mò nhưng vẫn không thôi thắc mắc. Ba chị em cũng ngồi vào xe, thắt dây an toàn và… hồi hộp, không biết Thầy đang đưa mình đi đâu. Thầy bảo Đàn Nghiêm lái xe ra hướng đầu đường.

Chị ngồi trong xe mà bao nhiêu câu hỏi khởi lên, bởi có bao giờ chị nghe ai nói có sở thú ở vùng này đâu. Qua bãi đậu xe cạnh vườn rau, Thầy bảo cho xe chạy chầm chậm và hỏi: “Sao, các con có thấy đàn voi của thầy không, có thấy gì không?”. Thầy hết nhìn sang Đàn Nghiêm lại quay ra sau nhìn hai chị em. “Nhìn đi, nhìn ra bên ngoài đi con! Sao, các con có thấy con voi nào không?”. Chịu. Ba chị em vẫn không thấy con voi nào của Thầy đâu cả. Vẫn con đường đó, một bên là rừng sồi già, một bên là vườn nho. Chị không biết các vị thiền sư ngày xưa hành xử như thế nào với những người đệ tử chậm tiến, nhưng chị biết kiểu độn căn cỡ chị mà gặp Tổ Lâm Tế thì chắc phải ăn vài hèo. Nhưng may cho chị, Thầy là Thầy, vì vậy không những Thầy không cho ăn hèo nào mà còn từ bi kiên nhẫn với học trò vô cùng. Cuối cùng Thầy chỉ vào từng gốc sồi và nói: “Đó, đàn voi của Thầy đó, các con coi cái gốc cây có giống như chân của con voi không. Nhiều chân voi lắm, cả một bầy voi đang đứng bên nhau đó con, nhìn đi, nhìn cho kỹ!”. Bụt ơi! Tới đây thì chị chỉ biết thở và cười để buông bỏ những nghi hoặc từ khi đặt chân vào cốc Thầy.

Các sư em thương! Lâu nay chị ưa thích đi khám phá những điều mới lạ: những con đường mới lạ, lâu đài mới lạ, một câu chuyện mới lạ, loài hoa dại mới lạ, khu rừng mới lạ… mà vô tình với những gì quen thuộc thân thương đang có mặt chung quanh mình. Từ khi được Thầy dạy nhìn kỹ, chị đã thấy đàn voi của Thầy một cách sâu sắc hơn. Và mỗi lần có dịp đi ngang qua rừng sồi, chị lại bắt gặp ánh mắt Thầy đang mỉm cười. Trong cuộc sống còn biết bao nhiêu điều chúng ta chưa nhìn thấy được, các sư em, có phải do chúng ta chưa thật sự nhìn kỹ? Nhìn kỹ mẹ, nhìn kỹ ba, nhìn kỹ anh chị em, nhìn kỹ những người đang có đó cho mình, nhìn kỹ một bàn tay, nhìn kỹ một đám mây, một nụ hoa… và nhìn kỹ lại mình, chúng ta sẽ khám phá ra nhiều cái hay, cái đẹp trong tự thân của mỗi loài. Nhìn cho kỹ, chúng ta sẽ thấy niềm biết ơn dâng tràn, sự trân quý dâng tràn và niềm thương cũng dâng tràn. Biết nhìn kỹ thì cuộc sống sẽ sâu sắc hơn, giây phút hiện tại rõ ràng và thật hơn. Nhìn kỹ để thấy thực tại mầu nhiệm đang có mặt đó cho mình.

Xe chạy ra đầu đường, Thầy bảo quay ngược xe trở lại. Lần này xe chạy chậm hơn, Thầy trò đang tiếp xúc với những gì đang thật có trong im lặng. Và kể từ giờ phút ấy, chị học nhìn cho kỹ, học tiếp xúc với mọi cảnh, mọi vật chung quanh bằng con mắt của Thầy, con mắt vô tướng hiện thật tướng.

Nhìn cho kỹ, đó là thông điệp chị đã nhận được từ Thầy hôm ấy, chị xin gởi tới cho các sư em của chị.

Thầy ơi!…

Hươu nai ưa đồng quê,

Chim chóc ưa trời mây…”

Con rất thích được Thầy gọi chúng con là những con hươu con về cánh đồng quê nội. Được Thầy đặt cho biệt danh “Hươu Con” con rất được nuôi dưỡng. Con thấy con là chú hươu con hạnh phúc được nằm trong vòng tay yêu thương của nội. Mỗi ngày chúng con luân phiên nhau đem cơm lên nhà nội và được dùng cơm chung với nội. Đó cũng là thời gian con được làm thị giả cho Thầy, được mang cơm cho Thầy, những ngày ấy đã để lại cho con nhiều kỷ niệm đẹp.

Thầy ơi! viết xuống những dòng này bao nhiêu kỷ niệm về Thầy sống lại trong con. Thầy đã từng dạy chúng con rằng: “có những giây phút nếu như mình biết sống cho trọn vẹn và trân quý thì giây phút đó sẽ trở thành bất diệt”. Con nuôi dưỡng những giây phút được sống gần Thầy. Và mỗi lần gọi hai tiếng “Thầy ơi!”, con lại thấy Thầy đang có mặt cho con ngay trong giây phút ấy. Tiếng gọi ấy cũng là bài học Thầy đã dạy con trong thời gian con làm thị giả.

Mỗi lần được ngồi bên Thầy con thật hạnh phúc, đôi khi Thầy trò không cần nói gì cả. Có khi Thầy kể chuyện cho chúng con nghe. Có một buổi chiều hai chị em con vào thư viện của Thầy để thỉnh Thầy ra dùng cơm. Thầy đang ngồi trên võng đọc sách, Thầy dạy hai chị em con ngồi xuống chơi với Thầy. Thầy dạy hai chị em con cách gọi “Thầy ơi!”. Con được bắt đầu trước. Thầy dạy con nói theo Thầy:

– “Thầy ơi…! ơi…!…ơi!”

Con chưa nói theo được. Con thưa:

– Thưa Thầy, khó quá con không nói được.

– Không khó mô, con cứ nói theo Thầy đi! Con nói được. Con đọc theo Thầy này: “Thầy ơi!…ơi!…ơi!”

Lần này con đọc theo:

– Thầy ơi!

– Không, chưa hay, chưa giống Thầy, dài hơn, nhẹ nhàng hơn nữa, con đọc lại đi! Phải đọc cho diễn đạt, cho hay như Thầy vậy đó.

– Thầy ơi…! ơi…!

– Con tập đọc theo Thầy nhiều lần. Con thầm nghĩ, con phải nói cho được để Thầy vui và đỡ mất sức phải chỉ cho mình nên con tiếp tục gọi:

– Thầy ơi…! ơi…! ơi…!

– Ơi … ơi… ơi! – Thầy đáp lại.

Con cảm nhận như có nguồn yên vui, hạnh phúc, trân quý, thương kính trào dâng, không thể nào nói được thành lời. Con thấy mình may mắn được làm đệ tử của Thầy và được Thầy chỉ dạy.

Đến phiên sư em con, sư em ngại ngùng không chịu nói, sư em thưa:

– Bạch Thầy, con không nói được.

Thầy dạy: – Con nói được, con cứ xem Thầy như Ba của con đi! Ở nhà con có nói như vậy với Ba con không?

– Dạ không, bạch Thầy!

– Vậy thì bây giờ con tập nói đi. Thầy ơi…! ơi…! ơi…!

– Bạch Thầy, con không nói được đâu.

– Bây giờ con không chịu nói, đợi đến khi Thầy thành nắm tro rồi mới chịu nói cho Thầy nghe thì muộn rồi!

Sư em đã cố gắng, nhưng hơi khó cho sư em. Sư em không làm được. Cuối cùng Thầy không ép sư em con nữa. Thầy cho sư em con mắc nợ, lần sau sẽ đọc.

Rồi Thầy dạy: “Khi nào các con có khó khăn, chỉ cần các con gọi thầy ơi thôi, là khó khăn đã nhẹ đi nhiều lắm rồi. Con sẽ có thầy bên cạnh, yểm trợ và giúp mình vượt qua khó khăn. Và cứ mỗi khi các con gọi thầy như vậy thì thầy sẽ âm thầm đáp lại “ơi!” liền cho các con”.

Ba Thầy trò ra phòng ăn. Trong bữa ăn, có thêm hai sư em con cùng ăn cơm nữa nên Thầy lại dạy chúng con tập gọi Thầy như lúc nãy. Sư chị, sư em nào gọi xong được Thầy thưởng cho một miếng đậu hủ, sư em chưa gọi được nhưng Thầy cũng thưởng cho sư em một miếng.

Thầy kính thương!

Chị em con mỗi người lớn lên với nhiều hoàn cảnh khác nhau! Chúng con thương Thầy, thương Tăng thân và có chung lý tưởng. Có những sư chị, sư em con đến với Thầy rất dễ dàng, nhưng cũng có những sư con của Thầy chỉ thích đứng từ xa nhìn Thầy, nghe Thầy nói pháp thoại mà không dám lại gần. Thầy đã giúp chúng con phá đi cái hàng rào ấy để chúng con có được tình Thầy trò rất đẹp. Sư em con vẫn đang tập gọi “Thầy ơi” mỗi ngày, chúng con thường kể lại chuyện này cho nhau nghe và chúng con nói với nhau rằng “Sư Phụ” của chúng mình dễ thương quá!

Mùa đông này con tu tập có hạnh phúc hơn rất nhiều. Con không biết tình thương của Mẹ là gì nhưng tình thương của Thầy đối với con ngọt ngào quá! Con thương Thầy nên cố gắng tu cho thật tốt. Khi con làm điều gì đó sai, con thật sự thấy có lỗi với Thầy. Con đã cố gắng làm bất cứ cái gì mình có thể để giúp chúng và giúp các sư chị sư em khi các chị em cần đến con. Và mỗi lần gọi “Thầy ơi”, con biết Thầy đang âm thầm đáp lại “Ơi!” cho con và Thầy đang mỉm cười.

Thầy gọi con về

Thầy gọi con về trong từng hơi thở
Thầy gọi con về trong mỗi bước chân.
Hòn sỏi nào
Hạt cát nào
Con đường nào
Không từng lưu dấu chân xưa…
Dẫu thầy trò ta
Chưa một lần gặp mặt
Nhưng tình Thầy có bao giờ ngăn cách
Mãi dạt dào sưởi ấm trái tim con.
Để sáng nay con bước đi giữa lòng đất Tổ
Ấm áp tình người, nghĩa đệ tình huynh.
Giờ phút này trời đất lặng thinh
Để hồn người rơi vào tĩnh mặc

Rảo bước rong chơi, lối cũ con về…

Con đã thấy hoa thông vàng rụng đầy trước ngõ,
Những cây mưng đang mùa thay lá,
Một nụ đào hồng còn sót lại giữa ngày xuân.
Con đã nghe tiếng chim ríu rít gọi bầy,

Và ngửi thấy hoa mộc hương thơm ngát.

Sáng nay đất trời dịu mát
Thầy gọi con về vững một niềm tin.
Nhà mình đây rồi, con còn đi đâu nữa!
Bụt Tổ trong con
Ba mẹ trong con
Thầy trong con
Huynh đệ trong con.
Vũ trụ cũng cùng góp mặt
Con là biểu hiện của sự sống nhiệm mầu,
Của mạch nguồn tiếp nối.
Trở về thôi!
Con trở về thôi.

Giấc mơ trưa

Ngày làm biếng, tôi muốn mình ngồi thật yên và viết một cái gì đó. Tôi leo lên một ngọn đồi nhỏ, lối đi là những khối đá nhọn hoắc. Mùa đông với những chiếc lá vàng rụng đầy. Có những chiếc lá vàng còn tươi, có những chiếc đã mục, chúng nằm chồng chất lên nhau, đẹp. Lên tới đỉnh đồi, tiếng cười của anh em từ những ngọn đồi khác vọng lên văng vẳng. Lòng tôi yên lạ, cảm giác nhẹ tênh, như ở nhà. Tôi muốn viết một cái gì đó, mà chưa biết viết gì cả. Đầu vừa rỗng vừa đầy. Ngồi trên đỉnh đồi, đồi ngập nắng, tôi nhìn thung lũng dưới chân núi Khao Yai trước mắt, lòng đã bắt đầu thênh thang. Nét bút bây giờ thoáng đãng, nhịp nhàng hơn.

Giấc mơ trưa

Tôi chợt nhớ ngày xưa khi còn bé, có những giấc mơ mình được chạy chơi thoải mái trên đồng cỏ. Những đồng cỏ xa tít, bao la. Gần đây, những buổi trưa đầy nắng, những giấc mơ na ná như vậy hiện về. Có khi tôi thấy mình đang trên một cuộc hành trình giữa một phố người đông đúc, xa lạ. Tình cờ gặp được biết bao nhiêu là người, những con người gần gũi, thân thương. Họ đưa tay vẫy chào như muốn mời tôi ghé thăm, tôi bắt gặp nụ cười đầm ấm, ánh mắt nhẹ nhàng, muốn nói điều gì sâu thăm thẳm. Chỉ đến đó thôi, tôi choàng tỉnh, nhìn ra cửa sổ, nắng chiều nghiêng nghiêng, tự nhiên mắt mình bỗng nhòe đi – vì thấy sự sống này mầu nhiệm quá!

Những giấc mơ như vậy cứ đến với tôi vào những buổi trưa yên ắng, khoảng thời gian mà chỉ có một vài tiếng chim, vài tiếng gió lay động hàng cây. Buổi trưa trong tôi tinh khôi, trong lắng. Tôi cũng có những câu hát về buổi trưa như thế:

“Trưa đong đưa giấc ngủ võng ru chợt tỉnh giấc ôi phượng thắm rụng đầy trên lối đi

Lòng nhẹ theo mây trắng thong dong đến thời thơ ấu vút cao cánh diều

Chốn thần tiên nào trong giấc mơ ai ngủ thoáng lên nhẹ lòng một lữ khách qua”.

Những giấc mơ trưa là được ngồi chung với Thầy, được cùng anh em đi chơi trên những con đường nhỏ. Những giấc mơ ngắn, đến rồi đi như hơi thở, là thông điệp mà chính từ tâm thức mình trao gửi. Tôi trở nên bình yên, nhưng mạnh dạn và cứng rắn hơn sau những buổi trưa đề huề như thế.

Thầy và thơ

Bỗng tôi nhớ đến những vần thơ về buổi trưa của Thầy:

“Trưa! Ôi những buổi trưa nắng vào tuyệt đối, trời cao xanh ngắt

Bâng khuâng nghe tiếng gọi tôi về

Tiềm thức dâng tràn những nét thăng trầm mấy kiếp…”

Hồi Thầy còn trẻ, buổi trưa làm Thầy buồn lắm, Thầy đã chuyển hóa “những nét thăng trầm mấy kiếp” đó bằng cách nào nhỉ? Tôi thấy mình thênh thang với buổi trưa, chắc là nhờ vào công trình chuyển hóa của Thầy.

Những bài thơ của Thầy là đỉnh cao, là kho tàng tuệ giác mà tôi có thể dành cả đời để khám phá. Những cái thấy của Thầy mãnh liệt, nhưng lại rất “thơ”:

“Nỗi vui của tôi thanh thoát như trời xuân, ấm áp cỏ hoa muôn lối

Niềm đau của tôi đọng thành nước mắt, ngập về bốn đại dương sâu.

Hãy nhớ gọi đúng tên tôi, cho tôi được nghe một lần tất cả, những tiếng tôi khóc tôi cười

Cho tôi thấy nỗi đau và niềm vui là một”.

Cuộc đời Thầy có nhiều niềm vui ngập tràn, lan tỏa, muôn cây cỏ cũng cảm nhận được hơi ấm ấy. Thầy cũng có những niềm đau rất lớn, bốn biển cũng đầy vơi. Nhưng dù hạnh phúc hay khổ đau, vi tế hay thô sơ, Thầy đã ôm tất cả vào lòng, như nâng niu em bé. Có những lần pháp thoại, Thầy đã chia sẻ về giấc mơ của Thầy, những giấc mơ về tình huynh đệ, điều mà Thầy đã nhận ra là quý giá nhất. Những hoài bão đó của Thầy đang được thực hiện khắp nơi, những dòng thơ với nội dung như thế sẽ được tiếp tục chào đời, tiếp tục bay cao.

Kho tình thương

Tôi nghĩ đến ba và mẹ tôi, chắc năm nay hai người cũng gần sáu mươi rồi. Năm ngoái ba tôi bị tai nạn, phải ở nhà, không đi được. Tôi thở cho ba, những hơi thở đều, ôm cả mây trời vào trong đó. Tôi cũng thở cho mẹ, cảm thông những nhọc nhằn người đã đi qua. Nhìn thung lũng, tôi ước mong cho hai người cũng có những giây phút được mở lòng đón nhận một không gian bao la như vậy. Tất bật nhiều rồi, ba mẹ cần có thời gian tận hưởng cuộc sống chứ! Tôi gửi cho ba mẹ những gì đẹp nhất!

Ba mẹ là người thế nào? Hai người là một kho tình thương của tôi, cũng sống giữa đời, đơn sơ, chân chất. Những xung đột và hàn gắn của ba mẹ cứ đến, cứ đi, chỉ những vết thương trong tôi ở lại. Nhưng khi nhìn thật kỹ, tôi thấy hai người mầu nhiệm biết bao! Vì sao nhỉ? Tôi tự hỏi rồi tự trả lời: “À! Vì họ là ba, là mẹ của mình!” Tôi nhìn lên bàn tay mình, thấy bàn tay mẹ đang viết, lòng tôi thảnh thơi hơn khi những con chữ được ra đời. Mỗi lúc tôi nhỏ nhen với ai đó là tôi đến xin lỗi liền, đó cũng là đức tính của ba tôi ngày xưa. Bây giờ ba khỏe lại, nhận ra những gì không tốt cho sức khỏe rồi từ bỏ chúng, cả nhà đều vui. Mẹ cũng bớt dần những đòi hỏi, tập trung dung hơn khi hành xử, tôi thấy mẹ đang tu cho cả nhà. Sáng nào thấy ba mẹ cùng thắp nhang lạy Bụt, khói hương làm vết thương quá khứ trong tôi tan thành từng mãnh, vụn dần. Những lời ba dặn khi đi đâu xa, kí ức tôi còn giữ. Tiếng mẹ tôi hát khi nấu ăn cho cả nhà, kí ức tôi còn giữ. Chúng đã trở thành bất hủ, thân quen.

Trải nghiệm từ chiếc lá

Viết được một lúc, tôi nhìn ra phía trước, nắng đã về ngập trời thung lũng. Sương tan dần, gió về làm những chiếc lá vàng đua nhau rơi, quanh co, thích mắt. Tôi cười và tự hỏi: “Chúng đã làm gì với cuộc đời của chúng? Liệu chúng có được đi vào một lịch sử thanh cao?” Những chiếc lá rơi xuống, tịch tĩnh. Nhìn kỹ một chiếc lá trong khoảng lặng, dừng lại những lao xao nghi vấn, chợt tôi thấy chiếc lá không còn đến từ cái nhận thức đơn thuần trong ý thức như tôi đã có từ xưa. Nó là cái gì đó không dựa vào những nhận định mà tôi thường nghĩ lúc trước. Bây giờ nó tóm thâu cả muôn trùng. Nhìn kĩ vào gân lá, tôi chẳng thể tìm ra điểm nào là nhỏ nhất, khoảng không giữa hai gân lá phải chăng là cả một vũ trụ bao la? Chiếc lá trong tôi lúc đó không vui không buồn, không vàng không xanh, hình như nó đang hát, hát cho tôi nghe:

“Ta vẫn còn đến đi thong dong
Có không còn mất chẳng băn khoăn
Bước chân con hãy về thanh thản

Không tròn không khuyết một vầng trăng”.

Một chiếc lá, một trải nghiệm, một niềm vui. Cuộc sống là một chuỗi những trải nghiệm, không có trải nghiệm nào của riêng tôi cả, tôi thấy Thầy có đó – rõ ràng – sinh động. Càng trải nghiệm, tôi thấy mình sao thật ngây ngô, nhưng mật thiết, niềm vui trở thành giản đơn và sâu lắng hơn.

Khu vườn hôm nay

Làng Mai Thái – Vườn Ươm đã dọn về đất mới gần hai năm rồi. Đất mới, bao nhiêu mặt trời đi ngủ, bao nhiêu con trăng qua đồi? Ngày ngày tôi đi học, những con chim sẻ kiếm ăn hai bên đường chẳng hề bay, chúng cũng xem tôi như người bạn. Những hòn đá bây giờ cũng không còn hoang vu, hôm nay chúng gọn gàng, có dáng, chúng đang thi hành một sứ mạng riêng. Chớ nghĩ nơi đây chỉ là những chói chang mùa hạ, có những tháng mưa về ngập cả núi đồi, có những mùa rất lạnh, rất trong. Tiếng tụng kinh mỗi buổi sáng, khói bếp lên cao trong những sớm chiều. Những khóa tu đều đặn đi qua trong năm. Trẻ em đến tu chung với ba mẹ, chúng chơi xích đu thoải mái dưới gốc me già. Nơi đây đã trở thành một ngôi làng chung. Có sư chú mới xuất gia học tiếng Anh, tiếng Thái thật nhanh, có sư chú ngày nào cũng về cuối cùng để dọn dẹp nhà bếp sạch sẽ, phải chăng đức hy sinh và tận tụy của sư chú đang lớn dần cùng cây cối nơi đây?

Thiền ca là trở về

Tôi thở, thấy những bình an chảy dài trong huyết quản. Tôi dừng bút, nhận ra mình đã hát tự khi nào. Mỗi khi hát, trời mây với tôi hòa làm một, mọi người với tôi hòa làm một. Nhớ tới những khóa tu Wake Up, thiền ca là pháp môn đi vào lòng người dễ nhất. Nhiều bạn trẻ đã khóc khi hát cùng quý thầy, quý sư cô. Thiền sinh chia sẻ hạnh phúc, trị liệu, tìm được lối thoát khổ đau sau khóa tu, quý thầy quý sư cô ai cũng vui theo. Tôi thấy sự mầu nhiệm của Thầy, của Tăng thân đang xua tan những mệt mỏi, những yếu kém của tôi trong khi làm việc. Nương vào năng lượng tập thể, tôi thấy mình có niềm tin thật nhiều. Cuộc sống như một bài hát, có lúc trầm lắng, có lúc vút cao. Tôi gửi tất cả những thanh âm đó đến Thầy. Nắm bàn tay mình thật chặt, mắt nhìn thẳng về thung lũng, niềm tin ngập tràn rằng Thầy sẽ khỏe lại. Lá vàng lại rơi, giấc mơ trưa là thật, Thầy và thơ đang về uyên nguyên trong nắng, ba mẹ cũng đang ngồi chơi thảnh thơi. Tất cả cùng tôi đang tận hưởng một ngày làm biếng thật thênh thang!

Giây phút cùng Thầy

Thầy kính thương!

Con biết là Thầy đang có mặt đó cho con nên con rất hạnh phúc. Con hạnh phúc vì thật sự nhận diện được sự có mặt của Thầy chung quanh con và ngay cả trong con. Sự ấm áp, sự bình an bởi tình thương của Thầy đã nâng bước cho con, tiếp sức cho con, làm lớn mạnh niềm tin và hạnh phúc cho con.

Con nhớ Thầy nhiều. Và vì nhớ Thầy nên con đào sâu hơn vào sự thực tập. Con dành 100% sự chú tâm vào hơi thở và bước chân của mình. Con thấy Thầy trong mỗi bước chân an lạc, con thấy Thầy trong mỗi hơi thở bình an, và vì thấy Thầy, con càng tận hưởng được nhiều hạnh phúc hơn trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở của mình. Cứ thế, sự tương tức giữa nhớ thương Thầy và hạnh phúc trong sự thực tập đang lớn dần trong con. Hai khía cạnh ấy hòa làm một trong con, giúp con không còn phân biệt sự nhớ thương hay niềm hạnh phúc nữa Thầy ạ. Con chỉ sống với chúng một cách bình dị vậy thôi.

Hồi con còn là một sinh viên ở Sài Gòn, mạ con đã tham dự khóa tu của Thầy tại Huế rồi gởi hình Thầy vào làm quà cho con. Con mở bì thư ra, nhìn vào hình Thầy rồi ngạc nhiên tự hỏi: “vì răng mà mạ gởi hình Ôn ni vô cho mình?” Hồi đó con chưa biết Thầy, con chưa có được một mối liên hệ nào với Thầy hết, con như chú hổ con chưa nhận ra mình đang gặp lại hổ mẹ, vì vậy con đã tặng hình của Thầy cho một người bạn của con, giống như chú hổ con vẫn thỏa mãn với gia đình khỉ của mình.

Nhưng dường như Thầy đã có mặt cho con từ thuở ấy, dường như Thầy đã gieo hạt giống bồ đề trong con từ dạo ấy, để rồi con tìm ra tu viện Bát Nhã năm 2007 và tham gia vào con đường hạnh phúc. Con nếm được pháp lạc của sự thực tập, và hạnh phúc càng lớn dần đến ngày con trở thành con của Thầy trong gia đình Sen Hồng. Vì hoàn cảnh cách trở, con trở thành con của Thầy trong khi chưa được gần Thầy, chưa được tiếp xúc với Thầy. Từng ngày, từng ngày, con nhận được tình thương của Thầy, sự có mặt của Thầy qua các sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị, sư em và Ôn Phước Huệ. Con nhận được tình thương của Thầy qua những lời nhắn nhủ đầy tình thương yêu trong mỗi bài pháp thoại. Và con đã gặp Thầy trong những hạnh phúc nho nhỏ mà con có được trong mỗi bước chân và hơi thở của mình. Con luôn chờ đợi đến ngày được gặp Thầy bằng xương bằng thịt, được kinh nghiệm trực tiếp mối liên hệ giữa Thầy và con… Theo thời gian, con đã được gặp Thầy, tiếp xúc với Thầy, và con biết Thầy luôn có mặt cho con, nhất là những lúc con thật sự cần Thầy.

Con nhớ một đêm mùa đông năm 2010 (con chỉ mới tới tu viện Bích Nham vài tháng), hệ thống sưởi hết ga và sư cô trong phòng con chuyển qua tòa nhà dành cho khách, nhưng con làm biếng nên đã thưa với sư cô cho phép con ở lại, một đêm qua nhanh lắm và con thường ngủ rất dễ dàng. Thế nhưng, đến nửa đêm thì con bắt đầu rét run và sợ (vì con chưa quen lắm với Bích Nham). Con đang lơ mơ trong tâm trạng bất an ấy thì con bỗng thấy Thầy. Thầy đã xoa đầu con và bảo “Thầy đây con!”. Dù là trong giấc mơ, con cũng ngạc nhiên tự hỏi sao Thầy biết là mình đang ở trong tâm trạng bất an như thế. Nhờ tình thương của Thầy, con đã ngủ một giấc thật ngon lành, ấm áp. Sáng hôm sau, sư cô phòng con quay về thật sớm để xem con có ổn không. Khi thấy con không bị ảnh hưởng gì thì sư cô rất ngạc nhiên. Con đã kể giấc mơ của con cho sư cô nghe, và sư cô cũng hạnh phúc không kém gì con. Sư cô bảo rằng Thầy luôn có trong tâm con, vì vậy mà con đã có một giấc mơ đẹp như thế. Và con nhận ra, Thầy đã ở trong con từ lâu rồi.

Một lần khác con gặp khó khăn với một sư anh của mình. Khối nội kết lớn đến nỗi mỗi lần đang đi thiền hành cùng đại chúng mà con nhìn thấy sư anh là con đi thật nhanh để tránh xa người ấy ra. Nhưng rồi, con nghĩ đến Thầy. Con thấy con và sư anh là những tế bào trong cơ thể của Thầy, con không thể cắt một tế bào nào ra khỏi cơ thể của Thầy hết, vì như thế sẽ làm Thầy đau. Nhờ nghĩ đến Thầy, con đã dần dần hòa giải được khối nội kết đó. Và thêm một lần nữa, con biết Thầy quan trọng đối với con đến nhường nào.

Mùa thu 2011 con được gặp Thầy. Thầy biết đó là lần đầu tiên con được gặp Thầy từ lúc xuất gia nên Thầy đã dành thời gian, không gian và tình thương cho con rất nhiều. Lúc đó, con chỉ muốn ngồi yên để tận hưởng giây phút huyền diệu, thiêng liêng mà ấm cúng ấy mà thôi. Dường như Thầy hiểu con nên Thầy đã không dạy con hát cho đại chúng nghe, mặc dù quý sư cô đã quảng cáo là con hát nghe cũng được. Và con hạnh phúc lắm vì con thấy Thầy hiểu con. Thầy cũng đã bao dung, không trách con vì con đã lỡ dại theo các sư chị mình leo núi ngay khi vừa đặt chân đến Lộc Uyển, thay vì đến chào Thầy trước. Thầy chỉ nhẹ nhàng hỏi: “Đi núi vui không con?”, làm con vừa cảm động vừa hối hận và con thầm nhắc mình đừng có lầm lỡ lần sau.

Lần khác, con thấy Thầy và thị giả đi ngang qua ni xá trong những ngày đại chúng làm biếng, và con đã lẳng lặng đi theo Thầy. Không biết vì sao, mặc dù Thầy đi thật thong dong, thật chậm mà con bước hoài không kịp. Trong lòng con như muốn gọi “Thầy ơi chờ con với!”, nhưng con không dám gọi ra. Rồi lạ thay, Thầy dừng lại chờ con, và đưa tay ra nắm tay con cùng đi. Con như được trở về tuổi thơ của mình, cùng nắm tay Ông của mình đi chơi. Giây phút ấy bình yên quá Thầy ơi! Còn những lần khác nữa, mỗi khi có dịp gần Thầy, con đã được đón nhận những lời dạy bảo đầy tình thương của Thầy. Thầy đã lắng nghe con chia sẻ về gia đình mình và đã dạy cho con về cách thích ứng với môi trường mới. Thầy đã giúp con được trở về là chính mình và sống an nhiên cùng đại chúng. Con thấy bình an biết bao, con tự hứa với chính con là sẽ thực tập hết lòng để không phụ tình thương của Thầy.

Năm 2012, con đã gởi đến Thầy một bài hát kèm theo lời tâm nguyện của con trước khi thọ giới Thức Xoa Ma Na. Vậy mà khi về lại tu viện Bích Nham, con đã nhận được tin nhắn từ Thầy qua một sư chị rằng Thầy đã nhận được thư con và rất thích bài hát ấy. Con thật ngạc nhiên và cảm động biết bao. Con biết nhạc của con chỉ tự phát mà thôi vì con có qua trường lớp gì đâu, nhưng Thầy luôn khuyến khích các sư con của mình có niềm vui và hạnh phúc trong sự tu tập. Thầy không bao giờ bỏ qua một lá thư nào của các sư con, dù Thầy có quá nhiều sư con và có rất nhiều khóa tu. Nhưng con biết, đó là cách Thầy dành sự có mặt của mình cho các sư con.

Mùa thu năm 2013, con được gặp lại Thầy. Thầy đã viết cho con câu thư pháp “Thầy đây con” khi nghe con kể lại giấc mơ của con. Thầy đã để tâm chăm chút chỉ dạy cho con về cung cách của người thị giả khi con được làm thị giả Sư cô Chân Không. Thầy luôn có mặt và yểm trợ con hết lòng. Mỗi khi con mang thức ăn đến, Thầy luôn để ý xem có thiếu gì không để nhắc con trước, vì vậy mà con chưa bao giờ làm Sư cô buồn. Có lần Sư cô con tiếp khách ở bên thiền đường Đại Đồng, con đã qua cốc của Thầy cầu cứu vì đi về ni xá thì xa quá. Thầy đã từ bi cho con mượn ly, bình thủy, trà và cả … bình trà “sơ cua” của Thầy nữa. Con chỉ biết để tâm vào các vật dụng ấy mà quên mất sự có mặt của Thầy. Đến khi con chuẩn bị rời cốc thì Thầy mới nhắc nhẹ nhàng :”Xong việc thì về chơi với Thầy nghe con!”.

Thầy còn dành thời gian để chuẩn bị tinh thần cho chúng con thọ giới Lớn. Thầy dạy cho con cách làm việc trong chúng, cách thực tập trong các buổi họp… và quan trọng nhất là đường hướng của người xuất gia. Con đã được chuẩn bị tư trang đầy đủ và được tiếp thêm năng lượng từ Thầy. Vì vậy mà năm 2014, con thật an nhiên khi tiếp nhận giới Lớn do Thầy truyền trao.

Thầy dường như hiểu được con thích gì, cần gì, nghĩ gì; Thầy như biết được lúc nào con cần Thầy để luôn luôn đáp ứng được cho con… Thầy luôn cho con giải pháp kịp thời trong những lúc con gặp phải khó khăn. Đối với con, Thầy vừa là một người Ông, vừa là một người Cha, vừa là một người Thầy. Thầy vừa hiền từ như người mẹ vừa nghiêm khắc như người cha. Thầy vừa là dòng suối ngọt ngào vừa là ngọn núi hùng vĩ che chắn cho con. Thầy luôn có mặt cho con, và sự có mặt lúc nào cũng tròn đầy. Con chỉ biết tận hưởng tình thương ấy và đào sâu sự thực tập cho mình mà thôi. Mỗi ngày con luôn nghĩ đến Thầy, để được hạnh phúc, và để giúp con buông những cảm thọ nho nhỏ khởi lên trong cuộc sống hàng ngày mà con lỡ có với sư anh, sư chị, sư em của mình. Con tập sống không đòi hỏi, không tìm cầu, không vọng tưởng. Thầy đã chuẩn bị hành trang cho con trước khi thọ giới lớn quá đầy đủ. Mỗi ngày nhìn lại, con thấy Thầy đã trao cho con một túi gấm chứa đầy cẩm nang. Mỗi khi cần lời khuyên của Thầy là con có ngay câu giải đáp. Và từng mỗi phút giây trong đời sống, con luôn nhận được sự có mặt của Thầy. Giờ đây con không còn sợ hãi hay băn khoăn gì cả. Niềm tin và tình thương vào Thầy không hề suy giảm. Con cứ thế thích chí rong chơi trong khung trời phương ngoại mà Thầy đã mở ra cho con; khung trời chứa đầy hạnh phúc, chứa đầy sự hiểu biết và thương yêu. Con nguyện gắng sức, bền lòng đi trọn con đường để đem giáo pháp nhiệm mầu đến cho người người đang mong đợi.

 

Con của Thầy

Thư gởi Thầy

 

Thầy thương,
Chúng con, một nhóm huynh đệ từ Thái Lan về thăm chùa Từ Đức ngày 25.09.2014. Chùa nay sáng đẹp hơn nhiều. Ngày 04-05.10.2014 là quán niệm và giỗ thân mẫu chúng con.

Qua các pháp thoại, trước tiên chúng con nói sơ về mẹ. Ba và ba anh chị lớn của con mất trong vòng ba tháng, lúc đó mẹ khoảng 40 tuổi, con mới được bảy tháng. Gia sản tiêu sạch, vất vả và đảm đang lắm mẹ mới nuôi nổi hai anh em con và dần dần dựng lại sự nghiệp. Có một lần lính Việt – Pháp bắt mẹ, đánh đập tra tấn một cách tàn nhẫn rồi giam cầm một thời gian không rõ lý do. Đi buôn, mỗi lần mẹ mua vài đôi dép để bán cho bất cứ ai. Dép này mặt trận đánh đuổi Pháp thường dùng nhưng ít ai buôn nên mẹ buôn dễ có lời mà rất gọn nhẹ. Lúc được tha về nhà, mẹ đau ốm nặng và rất buồn một thời gian lâu. Năm 1966, học hết lớp 9 thì con đi tu. Trước đó, anh của con đi lính và mất năm 1974. Năm 1972 để tránh bom đạn, mẹ vào Nha Trang sống, cách nơi con tu học là Phật Học Viện Hải Đức khoảng 500 mét. Buổi sáng mẹ thường nấu cháo đậu đỏ và bí ngô cho con dùng để giảm đau đầu.

Năm 1975, mẹ vào sống với con ở Chùa Từ Đức – Cam Ranh. Mẹ rất kính ngưỡng người tu và thích cúng dường. Mẹ tinh chuyên niệm Phật và ăn trường trai. Mẹ rất chu đáo, lo cho con ăn uống và cùng con trồng cây lương thực để sống. Mẹ bị bệnh sa tử cung độ 3 và thiếu máu trầm trọng, mỗi tuần phải chuyền máu một lần. Nhờ bác sĩ Luông khám chữa tận tình nên bệnh mẹ lành hẳn. Có lần mẹ té giếng bể đầu gối, bác sĩ Kỳ đã chăm sóc cho mẹ, một thời gian thì mẹ đi lại được nhưng khó khăn hơn trước. Sau tai nạn một thời gian mẹ mất, đó là năm 1988, thọ 80 tuổi. Ngày 28.09 Mậu Thìn, lúc 5h chiều mẹ không ăn uống gì, đến 8h tối thì mẹ đi rất nhẹ nhàng an ổn, không thấy có một dấu hiệu đau đớn nào. Con cùng với năm đạo hữu cư sĩ đã có mặt bên mẹ. Năng lượng yên tĩnh từ sự thực tập của mọi người được duy trì suốt cả đám tang. Có thầy Tâm Minh và các đạo hữu tụng kinh. Rạp lo đám được trang trí bằng kinh Pháp Cú và tượng Bồ Tát gánh mẹ và cha. Đêm trước, tối 29 tháng 09 Mậu Thìn, con nói pháp thoại với chủ đề báo ân như những đám tang khác ở đây.

Sáng hôm sau, ngày 01.10 tiến hành lễ di quan và mai táng, có 17 vị xuất sĩ và một vị linh mục, bà con cùng đạo hữu xa gần đông đảo đến dự. Dù ngày 27.09 có bão lớn, vườn cây điều cao khoảng bốn mét trong chùa nghiêng ngửa, đám tang vẫn đi trong tiếng niệm Bụt phát từ loa lớn qua băng cattsette để trên xe tang đẩy bằng sức người. Mỗi người cầm một cây hương, lần đầu tiên ở đây có một đám tang như vậy. Các ngày cúng và giỗ năm đầu của mẹ cho đến bây giờ, năm nào cũng được tổ chức như ngày quán niệm. Mọi người tham dự mỗi năm mỗi đông. Giỗ ba con cũng vậy. Trước mộ, con ghi hai câu nhắc con thực tập gởi niềm tri ân đến Thầy bổn sư và mẹ con, hai bậc sinh thành tâm linh và huyết thống đã chăm sóc chu đáo đầu đời của con đã cho con cảm hứng:
Trông xác vữa mẹ già chết để lại
Nhắc thân hèn trẻ mọn sống cho đi
Giỗ năm nay, huynh đệ chúng con ra thăm mộ và thắp hương. Ngôi mộ giản đơn như khung cảnh miền quê đã gây một ấn tượng đẹp trong lòng chúng con hôm ấy. Mười ba năm sống trong chùa, hai mẹ con đầy đủ mọi thứ. Chùa có hơn hai mẫu đất, nhờ các bạn tu cư sĩ trực tiếp phụ giúp trồng cây lương thực và chăm sóc mẹ con trong những lúc tai nạn, dù các vị rất khó khăn về mặt kinh tế và lao động vất vả suốt ngày thâu đêm.
Hằng năm, ba mẹ và anh chị của con được giỗ chung một ngày với ba mẹ của những người thân trong tăng thân xuất sĩ Làng Mai Thái Lan. Chị dâu con và con chị lại ở gần Từ Đức, ngoài quê nội, ngoại, làng xã, bà con xa gần đều được hướng dẫn thực tập đạo Bụt dấn thân một cách cụ thể, nhiều người trẻ đã xuất gia với Thầy, có vị đã xuất gia trên mười năm.
Con thấy rằng con đang từng bước tu tập và đã góp được một phần nhỏ vào việc nâng đỡ gia đình huyết thống và xã hội, nên con rất trân quý sự nghiệp này và biết ơn Thầy bổn sư, các huynh đệ của con và Thầy cũng như Tăng thân đã cho con rất nhiều cơ hội tốt để thực tập đạo Bụt dấn thân.
Chúng con chia sẻ niềm vui và lòng biết ơn những cái sáng đẹp của chùa về hình thức lẫn nội dung. Đó là nhờ sự tiếp nối đầy năng lượng của các sư em xuất sĩ trẻ và sự nuôi dưỡng của tất cả các bạn tu cư sĩ gần xa. Tất cả đều hết lòng miên mật hành trì nương tựa lẫn nhau, thuận dòng để cùng về biển cả. Nếu chùa không có năng lượng dựng tăng thuận dòng ấy thì khó mà được như thế, khó mà tiếp tục phát triển, trao truyền cho tới hôm nay.

Chúng con ôn lại vài nét của chùa Từ Đức trong 40 năm qua. Hồi ấy quý bạn xuất sĩ và cư sĩ chúng con còn trẻ như các bạn bây giờ, niềm tin chưa sáng, cách hành xử còn vụng về; bao nhiêu khó khăn từ bên ngoài đến bên trong đều do sự hạn chế này đã nảy sinh liên tục. Nhưng nhờ sự nâng đỡ của nguồn tuệ giác tiền nhân, chúng con đã cùng nhau thực tập xây dựng với những gì có trong tầm tay, nên đạo tràng chuyển hóa giúp đời tuy còn non yếu song vẫn được nuôi dưỡng. May mắn nữa là giờ đây có lớp trẻ kế tục, thừa hưởng và nuôi lớn tuổi già chúng con.

Lớp già bây giờ không còn năng nổ linh hoạt như xưa, song cách hành xử chín chắn hơn, cái nhìn sâu rộng hơn, đức kham nhẫn lớn hơn, lại được lớp trẻ tiếp sức dưỡng nuôi nên vẫn đến chùa, thấy cần đến chùa để được tắm mình trong năng lượng tin yêu thân kính ấy. Các vị chỉ cần có mặt, thường biết nhìn bằng cái nhìn chan chứa tin yêu đã là một đóng góp lớn lao rồi. Lớp trẻ cũng ý thức được, cảm nhận được, nên đã hết lòng tận hưởng, trân quý và nuôi dưỡng lớp già. Nhờ thế mà đại chúng có thêm sức để đi xa, đi sâu vào lòng sự sống trong mỗi phút giây. Quả là “Măng vươn xanh lũy tre già”.

Ôn lại quá khứ, tuổi già chúng con càng trân quý, thương cảm tuổi trẻ sâu sắc như mình thuở ấy, lòng con chợt cảm thấy lâng lâng, nhận được sức sống xuân thì trong ánh hoàng hôn của tuổi tác.

Sư chị CĐ, KN, ĐN, Sư em PL, PC, TK, ĐL và con, tất cả đều sinh hoạt với chùa, với huynh đệ nhịp nhàng mà vẫn có rộng thời gian và đầy đủ năng lực. Đó là nhờ sự bảo hộ của Tăng thân trong sự vận hành của tăng nhãn.

Ngày 12.10 (19.09 Giáp Ngọ), ngày vía đức Quan Âm, nhằm ngày quán niệm, đại chúng thiền hành đến bảo tượng Bồ tát, mọi người thiền tọa có hướng dẫn của thầy Pháp Huân, thầy Pháp Côn khởi niệm danh hiệu để làm lễ đặt đá cho việc xây cất tăng xá và chánh điện. Sau đó, đại chúng vào thiền đường để nghe pháp thoại. Chúng con chia sẻ với nhau kinh nghiệm và giáo lý thực tập chánh niệm từ bi, chuyển hóa tà kiến để hiểu và thương, biểu lộ trong các sinh hoạt hằng ngày, là sống cùng Đức Thế Tôn ngay bây giờ và ở đây qua hơi thở, việc làm có ý thức.

Buổi lễ và ngày tu đơn giản nhưng đã cho nhau thấy rằng, sống như vậy là chế tác năng lượng hộ quốc an dân rất cụ thể và nhiệm mầu mà các bậc tiền bối của chúng con đã sống qua các thời đại. Đặc biệt vào thời đại Lý – Trần là thời đại thuần từ nhất của nước Việt chính cũng nhờ vào năng lượng hộ quốc an dân đầy tuệ giác này. Năng lượng ấy hiện tại vẫn được tiếp nối và lan rộng khắp năm châu. Cuối pháp thoại, chúng con cùng ôn lại chuyến về nước của Thầy và huynh đệ thế giới, đã đến vun bồi năng lượng hiểu thương tại chùa Từ Đức vào chiều 13.04.2007 (26.02 Đinh Hợi). Chúng con cùng nghe bài thơ “Thầy thương” được làm vào dịp ấy:

Thầy thương

Bụt ở đó, Tăng muôn nơi,
Ngàn sao lấp lánh thảnh thơi muôn lòng.
Đường về mây bạc thong dong,
Từng buông xả, lại rõ từng bên nhau.
Bước chân huyền thoại ngàn sau,
Dâu ngàn xanh, ngát hương mầu thường nhiên.
Cúi đầu thâm tạ triều lên,
Suối ngàn trong mát mọi miền núi sông.
(Chùa Từ Đức kính dâng)
Chúng con đã cung đón Thầy và huynh đệ năm châu bằng tấm lòng trân quý đầy tình thâm của đại gia đình tâm linh có phẩm chất mà không phải là chủ nhà đón thượng khách. Năng lượng thuở ấy được sống dậy và nuôi dưỡng chúng con hiện tại rất nhiều. Sự nuôi dưỡng ấy cho chúng con thêm khả năng thưởng thức hoa trái sau bảy năm đã hiện rõ ở đây và làm vững chãi thêm sự tu học để  chúng con tiếp tục phát triển sâu rộng hơn.
Trong những ngày tu ấy, các sư em ở Huế, Đồng Nai cùng các bạn tu cư sĩ các nơi về dự. Sự họp mặt ấy tạo thêm năng lượng cho nhau. Qua mấy ngày tu, các sư em, huynh đệ ở đây đàm đạo rất hạnh phúc. Các em trẻ ở Đà Nẵng, các bác ở Đà Lạt, Ninh Hòa, Bình Phước chia sẻ về sự chuyển hóa rõ rệt của mình. Sự chuyển hóa ấy đã giúp các em ở Đà Nẵng nói ra được những khó khăn đau thương sâu thẳm rất khó tỏ lộ cùng ai từ trước tới nay. Nhờ vậy, các em “mới” hẳn, lại phát khởi tâm nguyện thiết tha là nuôi dưỡng cái “mới” ấy mỗi ngày ở tự thân, gia đình và xã hội để chuyển hóa tận gốc khổ đau và để có năng lượng an lạc hiến tặng cho người thương. Điều này đã nuôi dưỡng chúng con, làm tăng thêm niềm tin vào sức mạnh của pháp môn hiện pháp lạc trú trong dòng sức mạnh, lành đẹp của Tăng thân, một dòng sức mạnh mà thân hữu khắp nơi đang thụ hưởng, tán dương và mở rộng.
Sau đó, bốn huynh đệ chúng con được phép đi biển nghỉ dưỡng, cơ hội được sống với nhau trong tình huynh đệ và nuôi dưỡng được năng lượng tương tục tương tức, để cùng hòa nhập vào lòng đại dương giải thoát, trong đó có sư em mới về nhập chúng. Chúng con có cơ hội để nhìn lại, thưởng thức những hạnh phúc đã có và nhận diện những yếu kém để cùng nhau thẩm định lại thật hư, hầu dắt dìu nhau đi tới. Điều này giúp chúng con có thêm chiều sâu thời gian vui với biển rộng mây ngàn, có mặt cho nhau, cho các bạn đồng tu và cho các sư em thương kính ở Đồng Nai.
Trở lại chùa, những ngày tiếp theo chúng con lại có dịp chia sẻ một vài yếu kém trong sự tu học đã được huynh đệ nhận thấy, từ đó huynh đệ giúp nhau phương pháp vượt thoát, đồng thời cho nhau không gian thông thoáng để mỗi người tự quán chiếu sâu hơn mà dễ dàng cùng nhau chuyển hóa. Ngày 30.10, chúng con có buổi thiền trà, sư em KN chia sẻ hạnh phúc về sự chuyển hóa của bà con miền Tây mộc mạc, cụ thể mà ích lợi quá nhiều qua chuyến đi của các sư em về thăm quê ở đó. Có thầy P.L, sư em H.Ph, sư chị KN cùng đi về thăm mấy tuần. Điều này giúp huynh đệ cùng nhau ôn lại rằng, mở khóa tu là để tu học, trưởng thành chứ không phải bị đuối sức. Trong buổi thiền trà, huynh đệ chia sẻ niềm vui trong thời gian sống với nhau và nói lên những nhu cầu cần quan tâm, nâng đỡ đối với chùa trong các ngày tu đông người sắp tới.
Buổi ngồi bên nhau ấy, chúng con đều thấy rõ, tuổi trẻ giàu năng lượng là tài sản quý báu cần được chăm sóc và nuôi lớn mỗi ngày. Phần lớn nhờ vào sự thực tập Luật nghi và sự dẫn đạo của tăng nhãn. Với thực tập căn bản này, Tăng thân mới đủ sức thực hiện sự nghiệp dấn thân khế lý, khế cơ trước sự thay đổi nhanh chóng, tinh xảo rất tiện ích, song chứa đựng nhiều cám dỗ của cuộc sống đa dạng toàn cầu. Vì vậy, huynh đệ đều ý thức rằng tất cả cần nương tựa nhau, rất cần có nhau mới đủ điều kiện tốt để hiểu thương được bản thân, góp phần xây dựng nếp sống gia đình, xã hội một cách có trách nhiệm và tự do. Một điều kỳ diệu của Tăng thân là biết nương tựa sự tiêu cực như sen nương vào bùn. Vì chúng con đã có A-lại-gia thức tự do vượt thoát thời – không và có đủ điều kiện để giúp sáu thức phát khởi niệm – định – tuệ không những ở mỗi người mà còn được yểm trợ bởi mọi người trong mọi lúc, mọi nơi, nên sự thực tập ‘biết nương tựa’ ấy ít khó khăn, như Thầy dạy “không bùn là không sen”. Một ít khó khăn là bùn. Tình huynh đệ có thực là sen.
Ngày 02.11, chúng con về Thái Lan để tiếp tục nương tựa và nghỉ ngơi trong lòng đại chúng giàu năng lượng tu tập. Hay tin Thầy yếu sức rồi bệnh nặng, chúng con cùng nhau thực tập chung hai xóm để cùng hòa nhịp với tất cả các trung tâm khác, xuất sĩ cũng như cư sĩ, nên năng lượng nguyện cầu tỏa chiếu cụ thể qua các thời khóa mỗi ngày. Năng lượng này đi vào nguồn chung, tạo nên nhiều thuận lợi trong việc Thầy đang điều trị nơi chốn gốc Làng Mai. Xót xa với những cảm xúc có đó, song chúng con vẫn thấy được rằng, bệnh theo nhân duyên thường nhiên của Thầy vẫn tạo ra nhiều năng lượng lớn lao, giúp chúng con tu tập tinh chuyên, nhẹ nhàng vượt qua các khó khăn, lại trân quý những gì đang có một cách cụ thể hơn.

Nhân duyên này lại đánh động rất nhiều người đang lưu tâm cần hiểu sâu, hiểu rõ và thấy sáng, thật và lành hơn về Thầy, về Tăng thân, về Tam Bảo sinh động đang có thật bây giờ, ở đây và mỗi lúc mỗi lan tỏa gần xa khắp thế giới. Từ đó, mọi người có thêm hiểu biết, thương yêu cho sự tu học đi tới vững chãi, thảnh thơi trong các sinh hoạt hằng ngày.

Tối ngày 02.12.2014, lần đầu tiên chúng con ở đây được thăm Thầy qua mạng. Ai cũng lắng lòng theo dõi. Thấy được Thầy bệnh như vậy, tiếp nhận sự nuôi dưỡng trong vòng cho phép hạn chế như vậy, qua một thời gian khá dài như vậy mà sắc diện Thầy không suy giảm như thường tình. Thầy đang thở theo tiếng tích tắc của đồng hồ mà không thở bằng máy trợ lực ô xy. Thầy đã vượt qua được thời gian đầy hiểm nghèo và các đệ tử cũng như thị giả của Thầy đủ sáng suốt để thực tập giúp Thầy chữa trị cùng y bác sĩ mà không ảnh hưởng theo sức đẩy của tập quán đời thường. Tất cả đều từ nguồn tuệ giác tương tức tương tục biểu hiện, mà Thầy là bậc Thầy từ lâu đã sống với tuệ giác ấy một cách nhuần nhuyễn.

Thầy thị hiện bệnh như vậy là lời kinh sinh động, một thông điệp quý hiếm được trao đến cho tất cả chúng con và mọi giới. Thầy xuất huyết não mà các sư em Sồi Đỏ bụ bẫm ra đời vào ngày 18.12.2014 sung mãn với cả hình thức lẫn nội dung. Ở xóm Thượng có mặt của Sư Thúc Đà Nẵng và đại chúng, bên này chúng con cùng với một số huynh đệ lớn từ các nơi về, cùng thừa hưởng năng lượng Tam bảo qua Thầy, tĩnh lặng trao truyền giới pháp. Thập tử nhất sinh mà Thầy vẫn an nhàn đưa đàn con vào sự sống mới, 42 sư em được chăm sóc, được mớm bằng dòng sữa pháp từ đầu tới cuối như cùng tham dự một khóa tu, nên thân tâm sáng rỡ.

Thầy ơi! đúng như Thầy đã dạy cặn kẽ, năm uẩn là Niết bàn, Niết bàn không hữu dư, không vô dư. Chúng con có cảm nhận rằng, có niệm, định, tuệ thì sinh, trẻ, khỏe, già, bệnh, phục hồi hay viên tịch đều là Niết bàn, là sự sống vượt thoát mọi ý niệm, đều là tự tính vô thường, vô ngã luôn vận hành biểu hiện qua đủ mọi tướng sinh động nhiệm mầu. Trong năng lượng tự do Niết bàn, cái nhìn về tướng không bị vướng mắc, qua tướng là thấy rõ tự do, sống là tự do. Các chuyển thức thì còn vướng mắc vào các tướng, nên thức thứ sáu cần được giúp đỡ để phát khởi, nuôi lớn niệm, định và tuệ liên tục mỗi phút giây, mới vận hành, biểu hiện năng lượng tự do này trong mọi thời gian, không gian. Điều này rất cần đến minh sư hướng dẫn, Tăng thân có phẩm chất bảo hộ thường xuyên và sự tinh chuyên thực tập của mình để sự sống là tự do. Sự sống ấy chuyên chở tự tính tương tục tương tức, vượt thoát ý niệm sinh diệt, có không, đoạn diệt hay vĩnh hằng. Đây là nội dung Thầy dạy chúng con sống làm sao để vượt thoát được cái nhìn nhị thủ qua ba nghiệp của mình ngay ở cuộc đời này. Nhờ vậy, chúng con thấy lúc Thầy khỏe, Thầy nuôi chúng con tu tập giúp đời. Khi Thầy bệnh, Thầy phục hồi, vẫn liên tục nuôi dưỡng chúng con. Thời gian này, chúng con đã thực tập sâu sắc hơn rồi, thì mai đây giữa biển sóng nhấp nhô vô tận, chúng con đã có vốn liếng quý báu của ngày hôm nay để duy trì, nâng đỡ và nuôi lớn định tuệ cho tự thân, Tăng thân và tất cả qua mọi tình huống. Giờ phút này đây, chúng con cùng nhau thắp sáng ý thức ấy mọi lúc, mọi nơi, để tương lai trở thành hiện thực. Đây cũng là điều mà mọi người trông vào và kỳ vọng, lại cùng hòa đồng nhịp thở thắp sáng ấy với chúng con. Chúng con giàu có vô cùng trong đại gia đình tâm linh bốn chúng.

Có một điều mà ai cũng đồng lòng cầu nguyện và mong cầu là Thầy được bình phục trở lại trong sinh hoạt bình thường. Đó là niềm vui thanh thản khôn lường, để tất cả đều được nương tựa. Trong sự bình phục này, Thầy lại tâm sự cho mọi người rõ, Thầy thực tập trong lúc bệnh, nhất là lúc hiểm nguy nhất giữa sống và chết một cách rất là con người mà lại rất là tự do ra sao, lại là một chấn động lớn, một sự thúc đẩy mọi người trở về nương tựa tuệ giác tương tức sâu sắc không thể hình dung được cho con người, cho muôn loại và cho đến cả đất đá trăng sao. Cảm nhận này lại giúp chúng con thực tập ngay trong hiện tại một cách hết lòng và thảnh thơi. Năng lượng ấy là chúng con, là Thầy giữa ngôn từ sự tướng vô thường, vô ngã mà chuyên chở tự tính, tuệ giác vô ngã, vô thường.

Thầy là bậc Thầy thương yêu chúng con và thương yêu tất cả trọn đời. Chúng con là học trò, là sự tiếp nối năng lượng hiểu thương, là thương kính Thầy, cùng nhau mang Thầy đi về tương lai. Thầy trò và tất cả là Tăng thân. Thầy luôn trân quý và nương tựa Tăng thân. Chúng con thường được trao truyền năng lượng suốt đời trân quý nương tựa Tăng thân. Cốt lõi của Tăng thân là tình huynh đệ, là niệm, định, tuệ, là tăng nhãn.

Đặt mình vào sự dẫn đường của tăng nhãn, một cái nhìn tổng hợp mọi cái nhìn qua quyết định của chúng Khất sĩ về những việc quan trọng, chúng con được bảo hộ, nuôi lớn và đi xa; đó là uy đức của Tam Bảo, là uy đức của Luật nghi, đó là ý hòa và kiến hòa, uy đức của hiểu và thương. Tình thương và cái thấy vô thỉ vô chung, là Thầy của chúng con. Chúng con cùng dắt dìu nhau từng bước cẩn trọng hướng về trong sự bảo hộ của Tăng thân.

PakChong, 10.01.2015 – Cẩn ghi

 

Xuân Ất Mùi 2015

Sư đệ Thích Giác Viên

Khoảnh khắc bên Thầy

Thầy kính thương,

Con nhớ có lần tại cốc Thầy, cốc Tùng Bút ở tu viện Lộc Uyển, Thầy nói với con: “Này con, con làm một bài thơ và phổ nhạc rồi hát bài của mình, đừng hát bài Sông và Biển nữa.” Con thưa: “Bạch Thầy con không biết làm thơ, mà phổ nhạc thì con càng không biết nhạc lý gì cả”. Thầy nhìn con cười và nói: “Mỗi bước chân của con bước hãy làm biểu hiện những vần thơ, mỗi hơi thở vào ra của con đó chính là nốt nhạc”.

Ngay giây phút ấy, con chưa lĩnh hội được ý của Thầy một cách sâu sắc, con nghĩ thầm: “Ô, sướng quá! làm thơ như vậy đâu có khó”. Rồi Thầy dạy con hát cho Thầy nghe. Con thưa Thầy con không biết hát. Thầy lại dạy: “Sư cô Chân Đức làm thơ, làm nhạc rồi hát nữa, thế nào con cũng sẽ làm được như sư cô Chân Đức”. Con ngồi bên Thầy yên lặng, chưa biết trả lời ra sao thì Thầy dạy tiếp: “Con hát bài Lòng Không Bận Về cho Thầy nghe đi!” Con nhớ lúc ấy con thật lúng túng và thưa là con không thuộc bài đó. Thầy đâu có tha, Thầy nói không thuộc để Thầy nhắc cho. Thế là con chịu trận phải hát, hát tới câu nào quên là Thầy nhắc. Hát xong, con thấy mình như được thoát nợ.

Thầy ơi, con đâu có ngờ rằng chính bài hát mà Thầy nhắc cho con hát từng câu ấy đã giúp con rất nhiều. Những ngày tháng sống xa Thầy, về nơi đất mới đóng góp xây dựng chúng, có những khó khăn đến với con và đôi lúc làm cho lòng con chùng xuống. Chính những giây phút như vậy, câu thơ “Gió reo tám hướng lòng không bận về” trong bài hát ngày trước và hình ảnh Thầy lại hiện về trong con, giúp cho con mạnh mẽ hơn để đi tới. Sau mỗi lần lòng con chùng xuống, chỉ một lát sau tinh thần con được phấn chấn trở lại, lúc ấy con mới nhận ra và thốt lên một mình rằng: Ôi, tuệ giác và phương tiện của Thầy sao tuyệt vời quá! Ấy vậy mà ngày trước con nào có hiểu. Thầy dạy hát thì con “phải hát” như trả bài chứ đâu có nắm được yếu chỉ như nhà thiền thường nói tới “Tâm truyền tâm”. Và kể từ đó, con nhận ra Thầy đã trang bị hành trang cho con rõ ràng và cụ thể, con chỉ cần nắm lấy và khéo sử dụng để mỗi ngày làm nên chất liệu thơ, nhạc và hát cho Thầy nghe. Nhờ vậy, dẫu sống xa hình hài Thầy, nhưng không gian và thời gian chưa bao giờ ngăn cách tâm thức khi con muốn tiếp xúc với Thầy.

“Chúng ta xa cách nhau
Từ ngàn vạn kiếp lâu
Nhưng không hề xa nhau
Dẫu một phút giây nào.”

Thầy kính thương, mười chín năm về trước khi quyển sách “Bước Tới Thảnh Thơi” ra đời, Thầy tặng cho mỗi người con tâm linh của Thầy một quyển. Thầy nói các con muốn Thầy đề câu gì vào sách của mình thì cho Thầy biết để Thầy ghi vào. Con đã xin Thầy ghi cho con câu “Tình thương là chất liệu nhiệm mầu, Chư Bụt, Chư Tổ và Thầy truyền trao cho con, con hãy nắm lấy gìn giữ để nuôi dưỡng lại thế hệ tương lai”.

Thầy ơi, mười chín năm qua con rất thích câu này nên nó vẫn còn bừng sáng trong con, mỗi ngày con thực tập sâu sắc hơn với lòng biết ơn để không cô phụ suối nguồn.

Hướng đến Thầy với lòng thương kính.

Con của Thầy.

Có dễ hiểu không con

Thường sau các buổi pháp thoại, Thầy tôi hay hỏi: “Có dễ hiểu không con?”. Đối với tôi, bài pháp nào Thầy giảng cũng thật dễ hiểu, kể cả những đề tài khó học như giáo lý Trung Quán hay Duy Biểu. Ngay cả bọn con nít cũng hiểu được sự thật về vô sinh bất diệt khi Thầy đưa ra những ví dụ cụ thể như hạt bắp không bao giờ chết mà vẫn tiếp tục nơi cây bắp, hay đám mây không bao giờ mất mà luôn còn có mặt trong tuyết, trong mưa, v.v.

Tuy pháp Thầy dạy dễ hiểu như vậy, nhưng tôi không bao giờ dại gì nói hớ: “Bạch Thầy, con đã hiểu!”. Đó là vì có lần chúng tôi đã từng được nghe câu chuyện đức Thế Tôn dạy thầy A Nan: “Này thầy A Nan, thầy đừng vội nói rằng thầy đã hiểu giáo lý duyên khởi. Giáo lý này thậm thâm vi diệu vô cùng, cần phải học và hành cả đời mới mong hiểu thấu”. Tuy rằng chưa từng trả lời hớ với Thầy lần nào, trong thâm tâm tôi cũng ngấm ngầm tin rằng mình đã hiểu, ít nhất là những điều căn bản mà Thầy thường dạy. Mãi cho đến gần đây, mới gần đây thôi, tôi mới phát hiện ra rằng ngay cả những điều căn bản nhất, xưa nay tôi cũng chẳng hiểu gì cả.

Như các bạn đã biết, cuối năm ngoái Thầy bị xuất huyết não và nằm trong hôn mê nhiều tuần. Trước đó hơn ba tháng, Thầy bắt đầu yếu và ngã bệnh, vì vậy các thị giả luôn túc trực bên Thầy từ lúc đó. Một trong những điều mà các vị thị giả không bao giờ được quên là Thầy ở đâu thì cái đồng hồ nhỏ kêu tích tắc phải ở đó. (Những cái đồng hồ kêu tích tắc bây giờ rất hiếm có. Ngoài chợ, họ chỉ toàn quảng cáo và bán các loại đồng hồ không gây tiếng động). Như bạn đã từng nghe trong nhiều bài pháp thoại, Thầy dạy chúng ta cách dùng tiếng tích tắc của đồng hồ để duy trì hơi thở chánh niệm. Một hơi thở vào có thể kéo dài 5 hay 7 giây và hơi thở ra 7 hay 9 giây, hoặc lâu hơn nữa. Nếu bạn đã từng thử phối hợp hơi thở với tiếng tích tắc của đồng hồ, chắc hẳn bạn cũng đã cảm được thực tập như vậy thì dễ dàng và dễ chịu như thế nào phải không? Trong thời gian Thầy bệnh, các thị giả mới có cơ hội ở bên Thầy 24 trên 24 giờ, và đã chứng kiến Thầy đã thực tập như vậy ngày cũng như đêm, Thầy chưa bao giờ rời cái đồng hồ. Trong nhà, bất kỳ khi Thầy ngồi hay nằm ở đâu thì cái đồng hồ cũng được đặt trên chiếc bàn thấp ngay sát đó. Ngoài trời, trong khi Thầy ngồi nghỉ ngơi dưới những cây tùng hùng vĩ ở Sơn Cốc hay dạo chơi trong sân hoa của Nội viện, Thầy luôn đặt cái đồng hồ trong chiếc nón len nâu ngay phía trên lỗ tai.

Vì vậy trong khi Thầy hôn mê, các thị giả đã không quên đặt chiếc đồng hồ bên cạnh Thầy. Trước kia, ngay cả trong những giấc mơ khi ngủ, Thầy cũng đã thấy mình thực tập an ban thủ ý và đi thiền hành. Trong lúc hôn mê, Thầy đã luôn tiếp tục thở thật sâu, khi tất cả các thức, trừ mỗi một tàng thức, đều đã ngưng hoạt động. Thầy đã không hề cần đến máy thở như đa số các bệnh nhân ở tình trạng nặng như thế. Theo các bác sĩ chuyên môn về não bộ, sau cơn xuất huyết não, từ ngày thứ ba đến ngày thứ năm bộ óc bệnh nhân sưng to nhất và họ thường chết trong khoảng thời gian này. Mặc cho những gì xảy ra trong những ngày ấy, tàng thức của Thầy cứ thản nhiên tiếp tục thực tập an ban thủ ý một cách miên mật, không ngừng nghỉ.

Trong khi hôn mê, người bệnh mất đi khả năng nuốt. Trong khi đó thì hai lá phổi và hệ thống hô hấp phản ứng bằng cách tiết ra rất nhiều đàm. Vì không được nuốt, đàm có thể chảy vào phổi và gây nhiễm trùng phổi. Do đó có nhiều bệnh nhân chết không phải vì xuất huyết não hay hôn mê mà vì bị nhiễm trùng phổi sau đó. Trong suốt thời gian này, các thị giả liên tục hút đàm cho Thầy ngày cũng như đêm. Tuy nhiên, vẫn còn đàm rất sâu dưới cổ họng không hút tới được, vì vậy có một hôm, hình phổi của Thầy cho thấy rằng lá phổi bên trái vừa bị nghẽn bởi đàm. Lúc bấy giờ, Thầy chỉ thở bằng mỗi lá phổi bên phải. May thay, bác sĩ đã phát hiện kịp thời và đặt một cái máy để giúp Thầy thở vào sâu và mạnh. Khi đẩy dưỡng khí vào đầy phổi thì màng phổi hai bên tự động tách ra và lá phổi sẽ được thông trở lại. Đây không phải là máy thở, và nếu dùng máy này lâu, bệnh nhân sẽ đánh mất khả năng tự thở. Vì vậy Thầy chỉ được dùng máy trong vòng vài giờ đồng hồ chiều hôm đó, ngưng vài giờ rồi lại được tiếp tục chỉ trong một đêm. Kết quả ra sao thì sáng hôm sau, hình phổi sẽ cho biết.

Trong suốt khoảng thời gian thập tử nhất sinh, đây là lần đầu tiên tôi thật sự cảm nhận được ý nghĩa của: “Hơi thở là trị liệu”, “hơi thở là phép lạ”. Chưa bao giờ tôi biết trân quý hơi thở như vậy, hơi thở của người bệnh, hơi thở của chính mình, hơi thở đơn thuần mà không cần biết hơi thở của ai. Trong phòng cấp cứu, tôi hạnh phúc khi thấy Thầy vẫn còn thở. Tiếng thở đều của Thầy hòa vào và trở thành một với tiếng thở của các thị giả, với tiếng thở của tất cả các huynh đệ gần xa và của tất cả các bạn cư sĩ trên thế giới, những người cùng thực tập để cầu nguyện cho Thầy. Tất cả những lo lắng, tuyệt vọng, những lời tuyên bố của bác sĩ về kết quả hình chụp, v.v. đều đã được bỏ lại ngoài cửa. Trong phòng Thầy chỉ có hơi thở chánh niệm. (Sau này nghe kể lại, chúng tôi mới biết rằng các bác sĩ và y tá đã thường vào phòng Thầy để thâu nạp năng lượng bình an vào những giây phút căng thẳng nhất trong công việc).

Tôi đã tập nhìn thấy sự có mặt của Thầy khắp nơi chứ không phải chỉ trong hình hài này, nhưng tôi cũng vô cùng biết ơn Thầy đã tiếp tục thở. Tôi biết ơn mẹ tôi ở bên kia vòng trái đất. Mẹ tôi không cần phải làm gì, chỉ cần thở thôi cũng đủ làm cho tôi tràn đầy hạnh phúc rồi. Những người tôi thương cũng vậy. Và chính bản thân tôi, tôi biết rằng khi tôi thở giỏi, tôi cũng làm cho mọi người yên lòng.

Có những biến cố đau thương trong cuộc đời làm chúng ta lớn lên và thay đổi hoàn toàn, như da cây hé nứt đau đớn để cho những chồi non mới chào đời. Nếu cái “chết” của ba tôi đã làm tôi tái sanh để bắt đầu một cuộc sống mới, thì giờ đây cơn bệnh của Thầy cũng đang làm tôi lột xác để trở thành một con người mới.

Con gặp Thầy

Sư chú Chân Trời Đại Đồng là người Việt, sinh viên du học tại Paris – Pháp. Mùa hè năm 2013, sư chú về Làng lần đầu và đã tìm ra cho mình một hướng đi mới. Ngày 2/7/2014, sư chú chính thức trở thành người xuất sĩ trong gia đình xuất gia Cây Trắc Bá. Bài chia sẻ dưới đây đã nói lên được sự thực tập tiếp xúc với Thầy trong tự thân của sư chú.

Cây hoa lan nhỏ bé,

Từ ngày em về phòng, tôi có thêm một thói quen mới. Khi rảnh rỗi, thắp lên một cây nến, pha một ấm trà, tôi ngồi nhấp từng ngụm trà và ngắm từng bông hoa xinh xắn trong ánh nến lung linh. Có khi với một ly trà nhỏ, vậy mà tôi đã nhấm nháp đến mười lăm, hai mươi phút, chỉ đơn giản vậy thôi nhưng tôi có được rất nhiều niềm vui.

Hầu như mọi lần tôi chỉ ngồi ngắm em trong im lặng. Hôm nay tôi sẽ kể cho em nghe vài câu chuyện nho nhỏ của tôi. Những câu chuyện tuy nhỏ nhưng đem đến cho tôi những hạnh phúc rất lớn. Đó là những kỷ niệm của tôi khi tôi được gặp Thầy – vị Thầy kính yêu của tất cả chúng ta.

Em biết không, bông hoa xinh đẹp! Lần đầu tiên tôi gặp Thầy cách đây chừng sáu năm, lúc ấy tôi còn chưa biết Thầy là ai, thậm chí tôi chưa bao giờ nghe tới tên Thầy. Đó là khi tôi tình cờ được nghe đĩa thu âm của tác phẩm Đường Xưa Mây Trắng, một cuốn sách do Thầy viết. Khi tôi nghe đến tựa đề của chương thứ nhất – Đi để mà đi – tôi thực sự bị tác động mạnh. Hồi còn học tập và công tác ở ngoài đời, tôi làm việc về lĩnh vực kỹ thuật. Những người làm về kỹ thuật chúng tôi thường nói với nhau về tác phong công nghiệp. Ai làm gì lề mề, chậm chạp là bị nhắc nhở “tác phong công nghiệp đâu?” hay khi luộm thuộm, cẩu thả cũng bị nhắc “tác phong công nghiệp đâu?” Tôi cũng có thói quen kiểu tác phong công nghiệp như vậy, đi đâu cũng hấp tấp vội vàng như bị ma đuổi, lên xuống cầu thang là cứ phải hai hay ba bậc mỗi bước mới chịu, làm gì cũng phải thật nhanh, thật chóng mới được.

Ấy thế mà lần đầu tiên nghe câu đi để mà đi, tôi sửng sốt vô cùng. Lối suy nghĩ cũ của tôi – nghĩa là dù không gấp gáp nhưng đi đâu cũng phải bước thoăn thoắt, đi cho mướt mồ hôi ra mới gọi là hay – đã bị đánh đổ hoàn toàn nhờ câu nói giản dị của Thầy. Từ đó tôi bỏ thói quen cũ, tập đi đứng và làm việc khoan thai, từ tốn hơn. Trong tôi đã có những biến đổi rất lớn kể từ khi tôi thay đổi phong cách sinh hoạt hằng ngày. Khi đi, tôi có thể cảm nhận được vẻ đẹp của những hàng cây, những phong cảnh xung quanh. Khi làm việc, tôi bớt được những căng thẳng và còn có thể cảm nhận được sự nhẹ nhàng và niềm vui trong công việc.

Đó em, tôi đã gặp Thầy lần đầu tiên như vậy đấy. Rồi từ đó tôi say mê sách của Thầy, tôi tìm đọc hết cuốn này đến cuốn khác. Càng đọc tôi càng kính trọng Thầy, càng quý mến Thầy, vì Thầy đã mở cho tôi những chân trời hoàn toàn mới lạ về cuộc sống mà tôi chưa từng được biết. Tôi ao ước có ngày được gặp Thầy trực tiếp, được cùng Thầy thực tập những điều mà Thầy dạy trong sách.

Bông lan xinh tươi, ngắm em, tôi thấy em có nhiều phước đức lắm. Em đang được ở đây, bên ánh nến lung linh và bên ly trà thơm, giữa lòng tăng thân của Thầy, được thấm nhuần tình thương của Thầy và những người học trò yêu quý của Thầy. Tôi thấy tôi cũng có rất nhiều phước đức, cơ duyên mầu nhiệm đã đưa tôi từ Việt Nam xa xôi qua bên Pháp và được về Làng gặp Thầy và tu học với tăng thân của Thầy.

Ngày được lên xóm Thượng nghe Thầy giảng pháp thoại, tôi vô cùng phấn khích, lại còn sắp được thực tập thiền hành với Thầy nữa chứ. Tôi tự nhủ mình phải tìm cách đi cho thật gần Thầy mới được. Nhưng vì lạ lẫm nên tôi không biết đại chúng tập trung ở đâu. Khi tới nơi thì Thầy cùng mọi người đã đi được một đoạn, Thầy đi đầu còn tôi ở phía sau cách hàng trăm người. Tôi thất vọng não nề mặc dù tôi vẫn tiếp tục đi cùng đại chúng. Biết là không thể nào chen lên nổi để tới gần Thầy, tôi đành chờ dịp khác. Bây giờ tôi chỉ có thể thực hiện theo lời Thầy dạy là quay về với từng bước chân và từng hơi thở. Rồi nỗi hậm hực trong lòng cũng tan đi, cảm xúc của tôi cũng lắng dịu và nhẹ nhàng trở lại.

Bất chợt câu hát Bụt là lá chín khởi lên trong tâm tôi. Lần này tôi cũng sửng sốt không kém lần trước khi nghe câu đi để mà đi. Lòng tôi bỗng phơi phới lạ kỳ. Khi tôi đem ý thức về với mỗi bước chân và hơi thở, tôi thấy Thầy đang đi ngay bên cạnh mình. Mỗi chiếc lá đung đưa trong gió, mỗi bông hoa long lanh dưới ánh nắng đều thấp thoáng nụ cười hiền từ của Thầy. Tôi dường như quên hẳn ai kia đang dẫn đầu đoàn thiền hành, tôi đang cảm nhận hạnh phúc khi đi thiền với Thầy qua từng ngọn cỏ, từng cánh hoa. Lần thứ hai tôi được gặp Thầy với niềm hạnh phúc dâng tràn như vậy đấy.

Khi nhìn về bản thân, tôi tin rằng cha mẹ, ông bà và tổ tiên của tôi hẳn đã gieo trồng rất nhiều phước đức từ ngày trước để ngày nay tôi có cơ duyên gặp Thầy, được học hỏi những điều Thầy dạy. Sau hai tuần về Làng thực tập như một thiền sinh, một hạt giống mầu nhiệm trong tôi được Thầy tưới từng giọt mưa; được những người học trò của Thầy ôm ấp và vun vén đã nảy mầm – tôi phát nguyện gia nhập tăng đoàn xuất gia của Thầy. Được Thầy và tăng thân chấp thuận, tôi sung sướng vô cùng. Mỗi ngày niềm vui, niềm hạnh phúc và lòng biết ơn của tôi đối với Thầy và tăng thân đều được nuôi lớn.

Trong cuộc sống hằng ngày, tôi vẫn thường xuyên trở về gặp Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong mỗi hơi thở, mỗi bước chân chánh niệm. Khi đang làm việc, thỉnh thoảng bên tai tôi vẳng lên câu hỏi “con đang làm gì vậy?” và tôi mỉm cười, lúc đó có lẽ nụ cười của tôi cũng đẹp gần bằng nụ cười của Thầy nhỉ. Tôi có thể gặp Thầy trong các học trò thương yêu của Thầy, những người đã nguyện sẽ hết lòng tu tập để có thể trở thành sự tiếp nối xứng đáng của Thầy. Ngay khi ngồi đây, ý thức rằng tôi đang được sống giữa những người anh em có tình thương, có sự gắn kết, ý thức rằng tôi có thể ngồi thảnh thơi mà ngắm từng cánh hoa, nhấp từng ngụm trà trong tĩnh lặng, là tôi có thể gặp được nụ cười đầy từ bi của Thầy. Tôi có thể gặp Thầy trong những hạnh phúc, trong sự chuyển hóa những niềm đau nỗi khổ của những thiền sinh tới với Làng. Tôi cũng có thể gặp Thầy trong tôi, trong những niềm vui tôi có hằng ngày, trong những sự chuyển hóa nội tâm của tôi.

Em thấy đấy, bông hoa mầu nhiệm, tôi và em may mắn lắm chứ. Lúc nào Thầy cũng ở ngay bên cạnh chúng ta, Thầy chỉ chờ chúng ta trở về gặp Thầy, và chúng ta có thể gặp Thầy ngay lập tức. Mỗi giây phút chúng ta gặp Thầy đều là những giây phút kỳ diệu, đem lại cho chúng ta niềm hạnh phúc vô bờ. Tôi và em nhớ đừng bỏ lỡ những cơ hội quý giá để về gặp Thầy em nhé, điều này không phải ai cũng may mắn có được. Tôi còn tin chắc rằng, mỗi khi chúng ta về gặp Thầy là Thầy hạnh phúc nhiều lắm. Còn gì vui sướng hơn khi được làm cho Thầy hạnh phúc, phải không em?