Im lặng – đỉnh cao của âm thanh

CHƯƠNG 7

Im lặng – đỉnh cao của âm thanh



Một ngày các chú có bao nhiêu là sinh hoạt, nào ngồi thiền tụng kinh, thiền hành, nghe pháp thoại, chấp tác…., hầu hết các thời khóa đều được ghi trên chiếc bảng con con. Duy chỉ có một sinh hoạt đều đặn thường xuyên ở cuối ngày là im lặng hùng tráng. Lần đầu tiên Tâm An đọc bốn chữ đó cảm thấy kỳ lạ. Sao mà Im Lặng Hùng Tráng được nhỉ? Chú đem thắc mắc của mình ra hỏi Tâm Từ:

– Anh Tâm Từ nè! Em thấy bốn chữ im lặng hùng tráng nghe kỳ kỳ sao ấy. Im lặng thì đâu có gì mà hùng tráng.

Tâm Từ ngồi im suy tư rồi nói:

– Ừ nhỉ, anh cũng chẳng để ý đến cách dùng từ, giờ em nói anh mới thấy nó là lạ. Anh thường thấy trong âm nhạc những bài ca hùng tráng thường có những giai điệu hùng dũng mạnh mẽ, chứ nếu im lặng không có ca từ, nốt nhạc gì thì làm sao có bài ca hùng tráng kia chứ. Hay Thầy còn có dụng ý nào khác khi dùng từ này?

– Em cũng không biết nữa, chỉ biết rằng tới giờ đó mình không được mở miệng nói điều gì hết. Tâm An nói.

Tâm Từ ghẹo em:

– Ngủ rồi lấy đâu mà nói.

– Anh ngủ mà anh cũng nói mớ như thường, lúc hát, lúc tụng kinh, lúc lầm bầm cái gì đó, ngủ cũng nói được chứ bộ.

Tâm Từ im re biết mình yếu thế trong điểm này nên không chọc ghẹo Tâm An nữa, nếu không Tâm An sẽ moi hết các tật xấu của chú ra mà nói thì quê lắm. Tâm Từ trở lại đề tài rồi nói:

– Im lặng thì đâu có gì hay đâu, tự nhiên lúc đó mình như người câm, muốn nói gì thì ra dấu. Hay là thực tập im lặng để làm người câm nhỉ? Mình sẽ thấy nỗi khổ của họ khi không nói được mà thương chứ không chọc ghẹo họ

– Nghe cũng có lý nhỉ, nhưng nếu mà thực tập để hiểu mọi người khuyết tật thì mình phải một buổi tập làm người câm, một buổi làm người điếc, người mù, người bị thiếu tay chân. Tại sao chỉ tập cái miệng thôi?

– Anh không biết, chắc lúc đầu mới tu Thầy cho như vậy, tu lâu thì phải tập điếc, tập mù cũng nên.

– Em thấy cách giải thích đó không ổn chút nào, tự nhiên lại đi làm chuyện đó.

– Anh cũng chịu, nhưng mình có trò để chơi rồi.

– Trò gì?

– Trò tập làm người câm, người điếc. Ví dụ như anh là người câm, em là người điếc khi anh nói chỉ ứ ứ, quơ quơ tay chân, em không nghe, trả lời lạc nhách, lạc nghẽo. Thử xem sao?

 

Tâm Từ đứng dậy đi tới cái bàn cầm cái bình bát lên quơ tay ra bộ ăn, rồi chỉ cái bụng mặt ỉu xìu. Tâm An nói “anh đói bụng muốn ăn mì gói chứ gì?” Tâm Từ nói, chơi như vậy không dzui, đâu cần em đoán trúng. Em đoán đúng nhưng phải nói ngược lại, ví dụ như: anh đang diễn tả đói bụng nhưng em phải nói là uống nước hả, hoặc đau đầu à?

– Nhưng mà em bị điếc chứ đâu có mù, nên em thấy cách anh diễn tả là hiểu ngay. Chơi như vậy không dzui, chán lắm. Hay mình tập làm người mù và người thiếu một chân thử, anh là người thiếu chân, em là người mù, anh dắt em đi

– Ừ, thử xem.

Thế là Tâm Từ co cái chân lên nhảy lò cò, Tâm An nắm lấy tay anh, hai mắt nhắm cứng. Tâm Từ nhảy từng bước kéo Tâm An đi theo, hai đứa đi quanh phòng vừa đi vừa cười ngặt nghẽo. Tâm An nhảy theo Tâm Từ chứ không bước. Tâm Từ ngừng lại cười nói:

– Em có hai chân mà, đâu cần phải nhảy đâu?

Cả hai ngừng lại nhìn nhau cười, lúc đó Tâm Chánh ở đâu chạy về phòng, nói:

–  Chơi gì mà dzui thế? Cho anh chơi với.

– Tụi em tập làm người khuyết tật -Tâm An trả lời.

– Tại sao lại tập làm người khuyết tật? Tâm Chánh ngạc nhiên hỏi.

– Để hiểu  nỗi khổ của họ – Tâm Từ đáp

– Anh đâu thấy các em khổ đâu mà thấy cười giòn tan. Đừng chơi như vậy tội họ.

– Nhưng anh Tâm Từ giải thích cho em là thực tập im lặng hùng tráng là tập làm người câm để hiểu nỗi khổ của họ mà. Tâm An nói.

Tâm Chánh cười ngất nói:

– Tâm Từ ơi Tâm Từ im lặng chứ đâu phải là làm người câm.

– Chứ anh tập im lặng như thế nào? Tâm Từ hỏi lại.

–  Thì lúc đó anh im lặng không nói thôi.

– Nhưng giờ chỉ tịnh em vẫn thấy anh em mình nói chuyện thầm thì mà.

– Tụi mình không thực tập giỏi thôi.

– Chứ theo anh thực tập Im Lặng Hùng Tráng để làm gì?

– Anh nghĩ lúc đó Thầy cần yên tĩnh để làm việc hoặc ngồi thiền nên sợ anh em mình ồn ào mất thanh tịnh của thầy. Thôi mà đoán già đoán non chi cho mệt, lúc nào Thầy rảnh mình sẽ hỏi Thầy. Nhưng hình như ít khi nào mình im lặng giờ đó, lúc nào cũng có đứa nói chuyện. Tối nay mình thử không nói chuyện xem sao? Tâm Chánh đề nghị.

– Mình phải quy định, ai mở miệng là phải phạt  – Tâm Từ nói

– Phạt cái gì? Tâm An hỏi.

– Mỗi lần nói phải bỏ vào hộp một viên kẹo – Tâm Chánh đáp.

– Em ăn hết rồi, lấy đâu mà bỏ. Tâm An nói.

– Trời! ăn gì một lần mười mấy cây kẹo, không sợ sâu răng à? Tâm Từ hỏi.

Tâm An lắc đầu:

– Em không sợ đâu.

Tâm Chánh nói:

– Thế thì em phải đừng mở miệng.

Tâm Từ cười, rồi thò vào túi móc một viên kẹo trao cho Tâm An:

– Để dành nhé, lỡ tối mở miệng còn có một viên để nộp vào cái hộp

Tâm An mừng quá nhảy lên:

– Cảm ơn anh, em sẽ để dành, em không ăn đâu.

– Giờ mình đi đá bóng đi, bốn giờ chiều rồi. Tâm Chánh rủ.

Cả ba hưởng ứng liền, Tâm An bỏ cây kẹo vào túi áo vạt hò chạy theo hai anh ra bãi cỏ. Được chơi đá bóng là trò ba chú thích nhất, chơi hoài không chán. Có khi Thầy cũng ra chơi với các chú, Thầy bày cho các chú chuyền bóng, dẫn bóng, sút bóng chứ không như các chú chơi với nhau, thấy bóng ở đâu là chạy tới giành, có ba đứa làm sao chia đội được. Chỉ có chơi sút bóng thì một chú làm thủ môn còn hai chú làm cầu thủ. Khi có thầy thì còn có hai đội, mỗi đội hai người, những lúc chơi đá bóng như vậy, Tâm An ao ước chùa mình có thêm khoảng hai chục chú nhóc như các chú để có hai đội chơi thỏa thích.

 

 

Mà tại sao trẻ con chúng nó không thích đi tu nhỉ, để mình có bạn thêm, chứ có ba đứa thì ít quá. Tâm An nghĩ: “Hôm nào mình đi học, mình sẽ rủ mấy đứa bạn trong lớp đi tu với mình, để có thêm cầu thủ cho đội bóng”. Tâm An đem ý kiến đó ra nói với hai anh. Hai chú kia đồng ý mỗi đứa phải tìm cho được sáu đến bảy đứa bạn cùng lớp rủ đi tu để tạo thành một đội bóng chơi cho thỏa thích.

Các chú chơi với nhau cho đến lúc thỉnh chuông báo hiệu đến giờ cơm. Mặt mày chú nào chú nấy đỏ au, mồ hôi nhễ nhại, quần áo nhớp nháp, chạy ù về phòng mặc vội cái áo vào để xuống nhà bếp ăn cơm. Nhìn tay chân, mặt mũi các chú Thầy thấy nửa thương, nửa buồn cười nhưng Thầy nén lại, rồi nói với các chú:

– Các con dơ quá, thôi đi tắm rửa sạch sẽ rồi vô ăn cơm. Từ nay trở đi Thầy sẽ thỉnh chuông trước mười lăm phút để các con nghỉ, tắm rửa, phải ngừng đúng giờ không được chơi quá giờ nghe không.

Ba chú dạ lí nhí trong miệng rồi đi về phòng.

Chùa có phòng tắm nhưng ba chú không thích tắm trong phòng, chỉ thích mặc một chiếc quần cụt rồi lấy vòi nước dội vào nhau vui hơn. Chỉ khi nào trời lạnh các chú mới cần phòng tắm thôi. Tắm xong ba chú vào nhà bếp ăn cơm ngon lành. Ăn xong rửa chén bát rồi về phòng. Từ ngày có bà Tư bên cạnh chùa phát tâm nấu giúp cơm nước hai buổi cho bốn thầy trò, các chú không phải giúp thầy nấu ăn. Các chú chỉ phụ bà Tư mỗi buổi sáng thôi. Bà Tư chỉ qua chùa mỗi buổi sáng nấu đến trưa bà về nhà. Thức ăn chiều bà làm sẵn để trên bếp, chiều bà qua hâm lại dọn lên bàn cho thầy và các chú. Thầy dạy các chú:

– Bà Tư già rồi, các con cần giúp bà xách nước, làm một vài việc nặng, giúp bà nhặt rau…

Bà Tư hiền lắm, thương các chú nhiều, bà thường qua chùa tụng kinh, ngồi thiền mỗi tối. Mỗi lần bà Tư đến các chú đều được bà nhét cho vài viên kẹo, lúc thì mấy cái bánh bò, lúc thì vài khúc mía nên chú nào cũng thương bà Tư hết. Các chú thường quấn quýt bên bà trong bếp, tíu tít kể đủ chuyện.

Tâm An ăn xong về phòng sờ lên túi áo giật mình không thấy viên kẹo đâu hết. Chú lặng lẽ đi ra bãi cỏ tìm nhưng không có. Chạy về chỗ phơi áo quần xem lại trong túi áo cũ nhưng không thấy. Chú buồn thiu, mình hứa phải giữ nó ai dè lại đánh mất rồi, làm sao đây? làm sao để khỏi phải nộp kẹo tối nay? Ngồi im một lúc suy nghĩ chú nẩy lên một sáng kiến giúp chú không nói tối nay. Chú vui vẻ trở về phòng. Chuyện không có kẹo không còn quá khó đối với chú nữa rồi, chú thầm đọc câu thơ “đã có đường đi rồi, con không còn lo sợ”.

Sau giờ ngồi thiền tụng kinh các chú có ba mươi phút để trao đổi nói chuyện, đến chín giờ tối, một hồi chuông ngân lên báo hiệu giờ im lặng đã đến. Lúc này, Tâm An về giường lục tìm trong kệ sách ra một cuộn băng keo dài, chú cắt lấy hai miếng dài dán chéo ở miệng. Chú thầm nghĩ: “Vậy là ổn nhé”, chú hạnh phúc khi thực hiện sáng kiến của mình. Khi chú ngước mặt lên với cái miệng bị bít cứng băng keo làm cho Tâm Chánh và Tâm Từ không thể nhịn cười được, hai chú ôm bụng cười, không dám cười to mà cứ hi hí trong miệng. Tâm Từ chịu hết nổi trước khuôn mặt ngố ngố của Tâm An chú bật nói:

– Em làm cái trò gì vậy? Bịt miệng để không nói chứ gì?

Lúc đó Tâm Chánh bắt Tâm Từ:

– Em đã nói rồi nghe, nộp phạt mau.

– Thì anh cũng đã nói rồi, anh cũng phạt.

– Anh mới một câu mà em hai câu, hai cây kẹo.

Lúc này Tâm Từ khôn ra, ngừng lại ngay và ú ớ giơ tay ý nói: “anh cũng nói hai câu, anh cũng hai cây nghe”.

Tâm An ngồi đó cười khúc khích với cái miệng bịt cứng, chú muốn nói “Hai anh thua em rồi nhé” nhưng không mở miệng được, chú ú ớ trong miệng. Muốn nói mà không nói được cũng khổ. Giờ im lặng hùng tráng hôm nay còn ồn ào hơn mọi hôm vì tiếng cười khúc khích, tiếng nói chuyện. Thầy nghe ồn đi đến phòng gõ cửa ba tiếng bước vào. Thầy cũng bật cười khi nhìn thấy Tâm An đang cười khúc khích với cái miệng dính băng keo, còn hai chú kia thì phải trùm mền lại để cười cho khỏi thành tiếng lớn. Thầy hỏi:

– Tâm An con đang làm cái gì vậy?

 

 

Chú chắp tay xá Thầy rồi đưa tay lên miệng ra dấu hiệu im lặng. Thầy nói:

– Con bỏ cái băng keo trên miệng đi.

Chú dạ bằng cách chắp tay xá và xé hai miếng băng keo dính vào da đau điếng.

– Con nói cho Thầy nghe, con đang làm cái gì vậy?

– Dạ con đang thực tập im lặng hùng tráng ạ.

– Ai dạy con làm điều đó?

– Dạ con tự nghĩ ra, nếu con mở miệng con phải nộp phạt một viên kẹo bỏ vô hộp đó, mà chiều nay đi chơi bóng con làm mất viên kẹo rồi, con sợ không có kẹo để nộp nên nghĩ ra phải tìm cách dán miệng mình lại. Mà hay thiệt nhờ hai miếng băng keo này giữ con lại chứ không lúc anh Tâm Chánh bắt anh Tâm Từ nộp kẹo vì đã nói thì con cũng muốn nói “cuối cùng em là người không nói” nhưng miệng không mở được nên ú ớ hoài.

Thầy nhìn ba chú cười, tiếng cười Thầy giòn tan rồi nói:

– Các con ngốc của Thầy, đó không phải là thực tập im lặng hùng tráng. Thực tập im lặng là một cách thực tập sâu sắc, chúng ta làm cho thân  và tâm được lắng dịu, được yên tĩnh. Khi từ thiền đường về phòng các con nên giữ im lặng ý thức chánh niệm trong mỗi bước chân, mình không nên nói chuyện với bất cứ ai để cùng yểm trợ cho nhau. Các con có thể ngồi yên khoảng mười đến mười lăm phút ngoài trời để ngắm sao, ngắm trăng, lắng nghe tiếng côn trùng rả rích trong đêm, mọi tiếng động nhỏ nhất các con đều nghe thấy bởi nhờ sự yên tĩnh. Cũng vậy, đây là thời gian để  tâm các con được nghỉ ngơi, được yên tĩnh. Cả ngày các con vận động, tâm các con thu nhặt nhiều thứ, nó làm việc quá nhiều, nó ồn ào đủ điều. Nên Im Lặng Hùng Tráng là cơ hội để các con làm lắng dịu thân tâm, quay về với chính mình, lắng nghe nội tâm của mình sâu sắc hơn. Im lặng không phải là đè nén, không nói. Chúng ta vẫn có thể nói nhưng khi nào cần thiết, nói trong chánh niệm, nói nhỏ để khỏi làm động những người xung quanh. Thôi tạm thời các con hiểu như vậy, ngày mai Thầy sẽ giảng  rõ cho các con biết cách thực tập im lặng hùng tráng một cách sâu sắc hơn.

Nói xong Thầy đứng lên “chào các con, chúc các con ngủ ngon”.

– Thầy thong thả bước đi những bước chân nhẹ nhàng mà vững chãi, những lời dạy của Thầy đánh động vào tâm trí ngây thơ của các chú. Các chú cảm thấy nó mới mẻ mà cũng đâu xa lạ lắm. Cả ba lặng im suy ngẫm lời chia sẻ vừa rồi. Tâm An tự cười thầm khi nhớ đến hai miếng băng keo trên miệng. Nếu không có Thầy đến đúng lúc thì chú sẽ khổ sở với nó cho đến sáng mai mất. Không khí trong phòng trở nên im ắng, tiếng con dế rủ rỉ rù rì, tiếng con ếch kêu ộp ộp ngoài xa vọng lại. Âm thanh của màn đêm nghe cũng hay, cũng kỳ diệu  ghê.

 

 

Tâm Từ không ngờ màn đêm lại có khúc nhạc hay tuyệt, như một bản hòa tấu của thiên nhiên đang rung lên những cung bậc sâu lắng đến lạ, tự nhiên trong chú đi lên câu hát “Im lặng của đêm tôi đang lắng nghe”.

Tâm Chánh cảm thấy khi hiểu được ý nghĩa của sự thực tập này. Chú cảm thấy rất khỏe, rất thoải mái ngắm mọi vật xung quanh. Chú cảm thấy Im lặng nó có cái gì đó rất mạnh mẽ, rất hấp dẫn lôi cuốn. Chú mơ hồ nhận ra sự hùng tráng của Im lặng, khó mà giải thích rõ, chỉ tự cảm nhận thôi. Chú tự nhắc nhở mình phải tôn trọng giờ thực tập này. Nó rất đẹp, rất nuôi dưỡng, làm cho sự thực tập chánh niệm trở nên sâu sắc hơn.

Sáng hôm sau, chùa có khách quý, ba chú rất vui khi có sư anh, sư em của Thầy về thăm Thầy. Thầy cũng bất ngờ trước sự thăm viếng này. Thầy gọi ba chú vào phòng khách. Cả ba mặc áo tràng bước vào xá chào hai vị khách:

– Chúng con kính chào quý Thầy

Thầy mỉm cười nói với ba chú:

–  Thầy này là sư anh của Thầy tên là Pháp Vĩ , còn đây là sư em Pháp Thiện.

Các chú cúi đầu chào. Các chú được phép ngồi chơi chung. Thầy nói:

– Các con tự giới thiệu về mình cho hai Thầy biết

– Dạ thưa quý Thầy, con tên là Tâm Chánh. Con mười bốn tuổi.

– Dạ thưa con tên là Tâm Từ con mười ba tuổi.

– Dạ thưa con tên là Tâm An con mười hai tuổi.

Thầy Pháp Vĩ hỏi:

– Các con muốn ăn bánh không? Thầy có mang một ít bánh cho các con.

Các chú dạ lí nhí trong miệng.

Thầy nói tiếp:

– Mình cùng ăn bánh uống trà kể chuyện ngồi chơi với nhau là dzui rồi. Các con cứ tự nhiên thoải mái. Các con có chuyện gì dzui kể cho quý thầy nghe với!

Tâm Từ hỏi nhỏ Tâm Chánh

– Kể chuyện Tâm An hồi tối đi.

Tâm An mắc cỡ, chú lắc đầu lia lịa:

– Tự nhiên đem chuyện đó ra kể quê lắm.

–  Nhưng mà vui. Tâm Từ trấn an em.

–  Anh kể nghe?

Tâm An làm thinh nhưng trong bụng không thích cho lắm.

Thầy nhìn các chú cười rồi nói:

– Tụi nhỏ này có nhiều trò dzui lắm sư anh, hồi tối em không nhịn được cười. Có chúng nó em thấy mình hạnh phúc, em cũng bớt nhớ về Bát Nhã, về những ngày tháng tươi đẹp ở đó.

Nói đến đó Thầy quay sang gợi ý:

– Các con kể chuyện cho quý Thầy nghe đi, rồi quí Thầy sẽ chia sẻ thêm cho các con biết cách thực tập Im Lặng Hùng Tráng, sự thực tập của quý Thầy hay lắm đó.

Tâm Từ hớn hở chắp tay lên xá chào, rồi kể lại chuyện Tâm An có phương pháp thực tập Im Lặng Hùng Tráng mới:

– Dạ con kính thưa quý Thầy, Tâm An em con có cách thực tập Im Lặng Hùng Tráng đặc biệt nhờ vào một bảo bối kỳ diệu là băng keo dán miệng.

Mặt Tâm An đỏ lên vì mắc cỡ, chú chống chế:

– Nhưng nó giúp em không nói, còn các anh nói trước hết.

– Tại em làm phương pháp mới này lạ quá nên các anh không thể không cười không nói được. Tâm Chánh nói.

Quý Thầy ngồi đó cười khi nghe ba chú thuật lại việc thực tập Im Lặng Hùng Tráng.

Thầy Pháp Thiện lúc này mới lên tiếng:

– Chà mình phải xin Tâm An một ít bảo bối này dán miệng để thôi nói linh tinh. Thầy cười, nói tiếp:

– Chia sẻ về thực tập Im Lặng Hùng Tráng cũng hay, sư em xin các sư anh lão làng chỉ dạy thêm cho em và cho các chú nhỏ này.

Thầy nói:

– Sư anh đã chia sẻ một chút ít căn bản rồi, và hứa hôm nay sẽ giải thích hướng dẫn thêm cho các chú. Tiện thể có sư anh và sư em ở đây, xin chia sẻ một ít kinh nghiệm của mình cho sư em và các chú cùng học hỏi. Pháp Thiện, sư em chia sẻ đi.

Thầy Pháp Thiện cười, rồi chắp tay thưa:

 

 

– Con kính bạch Sư Ông, con kính thưa quý sư anh và các em. Trước đây con thường nói nhiều, chuyện gì cũng nói, nói linh tinh không hà, rất là hiếu động, quý sư anh cũng biết rồi mà, cách sử dụng từ ngữ của con vô tội vạ, thiếu chánh niệm, do đó con được y chỉ sư cho thực tập Im Lặng ba ngày để cho mình yên lại và tập thói quen mới biết cách nói đúng lúc, đúng thời, biết cách diễn đạt tâm ý của mình rõ ràng, gọn ghẽ. Con đã thực tập im lặng với mục đích là thực tập chánh ngữ. Ba ngày đi qua, con đã không thành công, sau khi im lặng ba ngày con còn nói nhiều hơn, nói bù vào những ngày phải im. Sau đó y chỉ sư cho con thêm ba ngày nữa nhưng kèm theo bài tập phải làm lắng dịu, yên tĩnh lại cái tâm của mình, phải thực tập dừng lại các suy nghĩ. Im lặng để thấy rõ tâm ý của mình mà dừng lại. Ba ngày sau đó con khá hơn, con thấy mình đã nói thừa thải quá nhiều trong cuộc đời và tạm thời yên hơn, bớt nói lại chút ít. Con không ngờ thực tập im lặng hùng tráng lại có tác dụng chữa trị tật nói nhiều của con. Thực tập im lặng hùng tráng là thực tập chánh ngữ một cách sâu sắc nhất. Nó là đỉnh cao của các loại ngôn ngữ âm thanh. Nó giúp cho âm thanh được phát ra có giá trị hơn, có phẩm chất hơn. Do đó, con rất trân quí thời khoá im lặng hùng tráng mỗi ngày.

Những lời chia sẻ của thầy Pháp Thiện làm các chú bàng hoàng khó hiểu. Lần đầu tiên các chú mới nghe “im lặng là sự thực tập chánh ngữ một cách sâu sắc” hay “im lặng là đỉnh cao của âm thanh”, dầu chưa hiểu được bao nhiêu nhưng các chú cảm thấy rất thích thú, có nhiều cảm hứng hơn trong giờ thực tập Im Lặng Hùng Tráng.

Ba Thầy ngồi im uống những ngụm trà thong thả, ba chú được ngồi ăn bánh thoả thích. Một lát sau, Thầy Pháp Vĩ lên tiếng chia sẻ:

– Hôm nay chỉ là một buổi ngồi chơi thân mật, chúng ta nói chuyện thoải mái, bỏ bớt những nghi lễ, những lời thưa chào nhé. Sư anh rất thích thời gian được im lặng. Sự thực tập im lặng của sư anh là sự im lặng toàn bộ ba nghiệp thân, khẩu, ý. Thân và khẩu ngó vậy chứ còn dễ thực tập hơn ý. Cái tâm của mình nó lúc nào cũng suy nghĩ, ít khi nào lắng yên lắm. Im Lặng là cơ hội để cho cái thân và cái miệng mình yên lại, có như thế mình mới tập trung vào tâm ý, lắng nghe chính mình sâu hơn và buông bỏ mọi ý niệm đi lên dù là ý niệm tốt hay ý niệm xấu. Làm thế nào để trong tâm không khởi lên ý niệm nào hết, cái tâm thực sự rỗng rang, biết rõ mọi chuyện đang xảy ra nhưng không nắm bắt, không chiếm giữ. Đó mới là sự im lặng hùng tráng nhất, nó tạo ra một năng lượng kỳ diệu để tiếp xúc với sự thật mầu nhiệm của cuộc sống. Theo Sư Anh, bất cứ một người xuất gia nào cũng cần có sự im lặng đó để nuôi dưỡng, dẫn dắt mình đi đúng hướng. Các sư em có biết không? Im lặng là sự hội tụ của muôn ngàn âm thanh, nó chứa đựng mọi thứ tiếng, mọi tầng âm khác nhau. Im lặng là nền tảng của mọi âm thanh, nếu không có im lặng thì chúng ta không thể biết đến các âm thanh. Con người chúng ta có một tập khí sâu dày rất kỳ lạ là chỉ nắm bắt được âm thanh mà không thể thấy một cách trọn vẹn sự kết hợp hài hoà giữa âm thanh và im lặng. Tiếng im lặng luôn có mặt nhưng chúng ta thường lãng quên.

Thầy ngừng lại rồi im lặng, nâng ly trà uống một ngụm nhỏ. Cử chỉ chậm rãi, thảnh thơi. Những lời chia sẻ này đối với ba chú đều mù tịt không hiểu gì hết. Các chú chỉ cảm nhận rằng: sự thực tập im lặng có chiều sâu hun hút khó mà hiểu được. Đó là sự thực tập kỳ lạ nhất, mọi lời chia sẻ đều mới lạ vô cùng. Tâm An nhìn Thầy, Thầy của chú tỏ ra rất hạnh phúc sung sướng khi được nghe những lời chia sẻ này. Mắt Thầy chú sáng lên, khuôn mặt tràn đầy sự mãn nguyện. Rồi Thầy nói tiếp:

– Đó là một sự lãng quên đáng tiếc.

Nói đến đây, Thầy ngừng hẳn, Thầy như chìm sâu vào cõi im lặng của Thầy. Mọi người ngồi yên như chiêm nghiệm, như cảm nhận sự mầu nhiệm của Im Lặng. Tâm Từ cảm thấy khó chịu trước sự im lặng đó. Tay chân chú bắt đầu múa máy. Không riêng gì chú, Tâm Chánh, Tâm An cũng thế, cảm thấy sự im lặng đó ghê quá, các chú chỉ muốn phá tan nó đi. Các chú biết, hiểu sơ sài rằng: thực tập Im Lặng Hùng Tráng là rất cần thiết, thế cũng đủ rồi. Người lớn hình như thích dài dòng. Một lát sau. Thầy cứu các chú ra khỏi cảm giác đó. Thầy hỏi:

– Các con có thấy thực tập Im Lặng Hùng Tráng có ý nghĩa sâu xa không?

– Dạ có ạ! Cả ba đồng thanh trả lời.

Tâm An thầm nghĩ dù sao thì có âm thanh vẫn dễ chịu hơn nhiều. Cái đỉnh cao ấy chú chưa muốn leo lên, hình như trên ấy cũng chẳng phải là chỗ của con nít chúng mình. Chỗ thích hợp nhất của chúng mình lúc này là sân bóng thôi.Kín miệng

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Chương 4: Những chiếc bình ngồi yên

Chương 5: Nuôi dưỡng thân tâm

Chương 6: Phá vỡ bức tường vô hình

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 8: Trận bóng đá đáng nhớ

Phá vỡ bức tường vô hình

CHƯƠNG 6

Phá vỡ bức tường vô hình



 

Chỉ còn vài ngày nữa thôi là đến ngày khai trường rồi. Mùa hè ra đi nhường lại cho mùa thu ngự trị. Những chiếc lá vàng trên cây rơi xuống khắp sân chùa. Tâm An tiếc nuối một mùa hè tươi vui, không phải bận tâm đến học hành đã đi qua. Chú chia sẻ nỗi niềm của mình với hai anh:

– Em ao ước mùa hè dài thêm, anh em mình không phải đến trường, được ở luôn trong Chùa thì vui biết mấy.

– Anh cũng thế, Tâm Từ đồng ý.

– Hay là mình chơi hết mình trong những ngày cuối cùng này đi. Tâm Chánh đề nghị

– Đúng rồi, mình có đến mấy ngày nữa mà. Em sẽ không bỏ qua cuộc chơi nào đâu. Tâm An vui vẻ nói.

– Mình sẽ đi chơi suối một ngày cho đã thèm. Tâm Từ gợi ý.

– A! em thích lắm, đi nghe anh Tâm Chánh. Tâm An vừa nói vừa vỗ tay.

– Tâm Chánh cũng gật đầu đồng ý. Ba anh em dự định vào một ngày làm biếng, các chú không có thời khoá gì nên được đi chơi.

Từ năm giờ sáng các chú đã thức dậy, ngày làm biếng thường các chú ngủ luôn đến sáng, nhưng hôm nay là ngày đặc biệt nên cả ba đều thức dậy sớm, vui vẻ chuẩn bị ba cái bình bát, một bình thuỷ nước sôi, mấy gói mì, bánh kẹo, các chú đã để dành đều mang theo cả. Các chú làm rất nhẹ nhàng khe khẽ, rón rén bước đi sợ Thầy biết được. Cả ba đều đồng ý là trốn Thầy đi chơi, rồi trưa về gặp Thầy xin phép. Tâm Chánh lớn nhất nên chú phải có bổn phận đi xin phép. Theo dự định các chú chơi, ăn sáng xong là Tâm Chánh phải xin phép Thầy. Cả ba lên đường trong sương sớm, lội qua những con đường mòn đầy cỏ, gai còn ướt đẫm sương mai, các chú phải đi từ sớm như thế này mới có thể nhìn ông mặt trời lên. Cảm giác đón ánh nắng đầu tiên của một ngày thật là kỳ diệu. Cảnh vật hiện ra càng lúc càng rõ ràng, tinh khiết, mới mẻ làm sao! Như chim sổ lồng cả ba chạy nhảy chân sáo vui vẻ cười đùa. Tiếng nói cười làm thức giấc những con chim đang ngủ trên cành cây cao, làm rung động cái bầu không khí yên tĩnh của buổi ban mai. Sự vui nhộn của các chú cũng làm ông mặt trời mở con mắt còn ngái ngủ nhìn xem ai mà ồn ào thế không biết. Ông nhăn mặt vươn vai nhìn xuống. Ồ! Thì ra là ba thằng nhóc con đang tung tăng chạy nhảy giữa núi đồi yên tĩnh. Ông khẽ mỉm cười: “Chào ba chú nhóc, mới sáng sớm mà đã ồn ào rồi, có chuyện gì mà vui thế?” Rồi ông buông ra mái tóc rối bù óng ánh, trải lại từng sợi, mỗi sợi tóc sáng ấy chiếu xuống đến đâu làm cho cảnh vật ở đó sáng lên một cách kỳ diệu. Cả ba quyết định dừng lại ngồi ở một bãi cỏ lưng đồi, ngồi nhìn xuống những đồi chè xanh thăm thẳm, có dòng suối uốn quanh. Một khung cảnh đẹp như tranh vẽ hiện ra trước mắt. Các chú ngồi xuống để ngắm ông mặt trời đang dần dần ló rạng sau lưng đồi. Tâm Từ dang rộng hai cánh tay như muốn ôm tất cả đất trời vào lòng. Chú hét lên thật to: “Chào ông mặt trời” rồi cười. Tâm Chánh, Tâm An cũng bắt chước làm theo. Ông mặt trời dường như mọc lên nhanh hơn để chào đón các chú. Tâm Chánh đề nghị.

– Giờ mình ngồi im một chút ngắm cảnh xong rồi chơi tiếp nghe.

– Hai chú kia đồng ý, gật đầu lia lịa. Ngồi phịch lên đám cỏ xanh còn đọng những giọt sương.

Đối với Tâm An, buổi sáng ở đây đẹp chi lạ, sương dày đặc tạo nên sự mờ ảo. Cảnh vật lúc tỏ lúc hiện. Ông mặt trời cũng hiền lành ấm áp với màu hồng tươi mát chứ không phải màu đỏ rực lửa như buổi trưa. Những hạt sương long lanh đọng lại trên cành cây. Ánh nắng chiếu vào làm cho chúng lấp lánh như những viên kim cương. Tiếng chim hót vang khúc nhạc chào bình minh. Ở đây có nhiều loại chim, nào là chim sẻ, chim áo nâu, chim chân dài,… các chú không biết tên nên tự đặt tên cho chúng. Các chú chim gọi bạn nhảy từ cành này sang cành khác, Tâm Chánh say mê ngắm nhìn không biết chán.

Tâm An thì thích đàn bươm bướm đủ màu bay lượn quanh những khóm hoa dại. Tâm Từ thích nhìn những đám mây lờ lững bềnh bồng. Mỗi khi khám phá điều gì hay hay, các chú đều chỉ cho nhau xem. Tâm Từ lôi các anh về phe mình:

– Anh xem nè, đám mây kia có hình con thỏ.

– Ừ hen, hai cái tai, hai cái chân, giống ghê. Tâm An đồng ý.

– Còn đám mây bên kia giống hình con chim. Tâm Chánh nói.

– Không con cò, con chim gì mà cổ dài quá Tâm An bàn vô.

– Con chim cổ dài chứ bộ, Tâm Từ bênh vực.

– Con chim hay con cò gì cũng được đều là loài có cánh biết bay cả mà. Tâm Chánh giải hoà.

Cả ba cứ thế tha hồ tưởng tượng đủ thứ. Bầu trời xanh là một cuộn giấy dài bất tận để các đám mây mặc sức vẽ vời đủ thứ. Ông mặt trời còn tô màu nữa, có chỗ vàng, chỗ xanh, chỗ trắng,… Ngồi ngắm mệt rồi các chú lăn kềnh ra đất. Mùi cỏ dại, mùi đất, mùi sương sớm tạo nên một mùi thơm thơm lạ lạ. Cái hương vị này tạo cảm giác thân thương dễ chịu.

– Cái mùi này mình gọi là mùi gì nhỉ? Tâm An hỏi

– Mùi cỏ cây. Tâm Từ trả lời.

– Không đúng. Nó có thêm hương vị của đất, của sương sớm nữa. Tâm Chánh cãi lại.

– Mùi tùm lum. Tâm An cười nói.

– Ai lại gọi như vậy, hay là mình đặt tên cho mùi này là mùi quê hương đi. Chỉ có nơi này mới có cái mùi này. Khi đi đâu mà nghe mùi vị thân quen này mình đều cảm thấy nhớ. Tâm Từ đề nghị.

– Ừ mùi quê hương cũng hay mà, được  không Tâm An?

– Dạ được, giờ thì em thích mùi mì gói hơn, em đói bụng rồi.

Tâm Chánh cười bốc phét:

– Bây giờ mình ra tay làm đầu bếp siêu đẳng với món ăn đặc sắc có một không hai, đến vua đầu bếp cũng ngưỡng mộ món ăn thu hút số một này. Mì lẩu Thái, vừa nhanh, vừa gọn, vừa giòn, vừa nóng hổi, vừa thổi vừa ăn mại dzô, mại dzô.

– Cả ba cùng cười hí hửng làm buổi điểm tâm cho mình. Kỳ lạ nghen, mì gói ăn tại đây ngon hơn, vui hơn ở nhà. Các chú cùng nhau thưởng thức rồi trầm trồ khen.

– Ngon thiệt à nghen. Number one.

– À! Từ đây mình đừng gọi món ăn này là mỳ gói nữa, nghe nó tầm thường quá. Mình đặt cho nó cái tên là món ăn số một đi. Sau này lỡ đói bụng ăn lén, tụi mình chỉ cần đưa một ngón tay làm dấu là biết mình cần ăn món này, được không? Tâm Chánh đề nghị.

– Lỡ sau này có món ăn ngon hơn thì mình không thể gọi món đó là món số một. Tâm An phân vân.

– Có sao đâu, có khối tên để đặt như: tuyệt cú mèo, món số dzách, món …. Tâm Từ lên tiếng.

– Thôi cứ đặt vậy nghe. Tâm Chánh nói.

Cả hai chú đều gật đầu đồng ý.

Ăn sáng xong cả ba men ra suối rửa bát đĩa. Con suối này có nhiều ghềnh đá to đủ cho vài người ngồi. Các chú đã có trò chơi mới, nhảy trên các phiến đá mà đi ngược lên đầu con suối, nơi có thác nước cao chảy xuống rất đẹp. Đi trên những tảng đá thích thật, mình phải tìm cách đi cho nhanh và không để ướt. Khung cảnh ở đây còn nguyên sơ lắm, có những cây cổ thụ to, cành lá xum xuê, có một cây rễ phụ của nó to dài, quấn vào thân một cây khác tạo thành một cái võng đủ sức cho một người ngồi lên. Các chú tranh nhau ngồi lên chiếc võng thiên nhiên ấy tha hồ lắc lư. Cũng cái cây ấy, một rễ phụ khác to dài thòng từ trên cao xuống trông như một sợi dây cáp. Các chú ôm lấy sợi dây đu từ bên này sang bên kia bờ suối, giống như người rừng Tazan vậy.

Chơi chán, các chú lại nằm dài ra bãi cỏ buông thư, nghỉ ngơi một lúc. Tâm An nhổm dậy trước, rồi rủ:

– Giờ mình chơi bịt mắt bắt dê đi.

– Ở đây rộng quá sao bắt được. Tâm Từ nói.

– Chơi cũng được thôi, ta giới hạn phạm vi chạy lại, từ cái cây này đến cái cây kia thôi. Tâm Chánh nói.

– Chơi đi, đừng để uổng thời gian lắm. Tâm An năn nỉ.

Thế là hai chú kia ngồi dậy, cả ba oánh xù xì xem ai bị trước. Tiếng cười, tiếng la hét vang vọng khắp nơi. Chỉ có ba chú thôi mà náo động cả một khu đồi vắng lặng. Chạy nhảy đến đổ cả mồ hôi. Tâm Chánh đề nghị:

– Nóng quá, hay mình xuống suối tắm cho mát.

– Đúng đó, Tâm Từ vừa nói vừa cởi áo, chỉ mặc một cái quần sọt ngắn chạy, nhảy ùm xuống suối.

 

Ba chú tắm thoả thích, cười đùa, té nước vào nhau. Con suối lúc nào cũng hiền từ ôm các chú vào lòng dẫu các chú có quậy phá nó cũng không phàn nàn điều gì cả.

Ông mặt trời đã lên cao quá đỉnh đầu. Tâm Chánh giật thót cả người, chợt nhớ điều gì quan trọng lắm.

– Ấy chết! Trưa rồi, mình quên lên chùa xin phép Thầy rồi. Về thế nào cũng bị la cho xem.

Tâm Chánh tỏ ra lo lắng, hai chú kia cũng lo sợ theo. Chẳng còn náo động nữa. Cả ba đứng yên để tìm ra phương pháp hay nhất. Tâm Chánh quyết định:

– Mình chơi cũng nhiều rồi, giờ mình nên về thôi. Chắc chắn anh em mình đều bị Thầy rày, có gì mình cùng chịu.

Hai chú còn lại gật đầu đồng ý, thu xếp mọi thứ để về chùa. Niềm vui nhường chỗ cho sự lo lắng, sợ bị la, bị phạt. Cả ba im lặng lủi thủi đi. Tâm Từ muốn phá tan cái bầu không khí ngột ngạt này, chú nói:

– Cho dù bị Thầy la, nhưng mình có một buổi đi chơi thoải mái, dzui ơi là dzui. Đừng nghĩ nữa, mình biết chắc sẽ bị phạt rồi, thì về chùa anh em mình cùng chịu chung. Nhiều khi bị phạt chung như vậy mới tạo nên kỷ niệm đáng nhớ. Đây là dấu ấn khó quên trong mùa hè này.

Nghe Tâm Từ nói, lòng Tâm An cảm thấy nhẹ đi đôi chút. Chú bình thường hơn, vừa đi vừa ngắm cảnh cho khuây khoả. Tâm Chánh lặng lẽ đi bên cạnh, nỗi lòng chưa được nhẹ vơi chút nào. Tâm Từ nhìn anh mình đi bên cạnh, choàng vai an ủi. Thấy thế Tâm An cũng đến gần Tâm Chánh nắm tay cùng đi. Cả ba anh em dung dăng dung dẻ trên đường về. Tâm Từ bắt lên bài hát:

 

Rồi mình lại đi chơi

Lên đồi khi sương sớm

Lên mỏm đá cao ngồi

Nhìn xa qua mấy núi

Chỉ thấy mây mù thôi.

Có ai nhìn thấy phố

Có ai nhìn thấy người

Không người sao vui vậy

Đâu đó tiếng ai cười.

Buổi sáng mây còn ngủ

Đục mờ như biển khơi

Ngồi yên tâm thoắt động

Giật mình chiếc lá rơi

Xa xa in mấy núi

Nhẹ nhàng biển mây trôi

Một ngày nữa đi tới

Một ngày nữa qua rồi.

Ngày  qua ai khôn lớn

Ngày đến ai buồn vui

Kiếp người như buổi sáng

Ngồi chơi trên đỉnh đồi.

Vui buồn như sương khói

Chốc đầy chốc lại vơi

Phút giây lòng thanh thản

Nhận ra tiếng ta cười

Phút giây lòng thanh thản

Nhận ra tiếng ta cười.

Cả ba cùng tam ca, lời bài hát cứ trôi đi trôi đi làm cho những áng mây mù trong tâm hồn các chú cũng tan đi.

 

Về đến chùa, nỗi lo sợ lại trở về, ba chú đi những bước nhẹ nhàng, khe khẽ như những chú mèo con. Tới trước cửa phòng Thầy, lén nhìn vô, Thầy đang ngồi uống trà, đọc sách. Tâm Chánh gõ nhẹ cửa phòng Thầy ba tiếng để xin phép. Rồi lần lượt từng chú bước vào, đầu cúi xuống im lặng chờ đợi. Tâm An khẻ ngẩng đầu lên nhìn Thầy, khuôn mặt Thầy nghiêm nghị dễ sợ, khiến chú ngừng thở, tim đập thình thịch. Thầy nhìn từng chú một lượt rồi hỏi:

– Các con đi đâu về?

– Dạ kính thưa Thầy, chúng con đi chơi suối ạ. Tâm Chánh lí nhí trong miệng.

Tâm Từ nhanh nhẩu thưa:

– Dạ con kính thưa Thầy, chúng con xin sám hối với Thầy đã đi chơi mà không xin phép trước.

– Dạ con kính thưa Thầy, Tâm An rụt rè thưa, chúng con dự định trời sáng anh Tâm Chánh sẽ lên xin phép, nhưng chúng con chơi vui quá nên quên.

– Tâm Chánh, Thầy đã dặn con bao nhiêu lần rồi, đi chơi suối phải được phép của Thầy và không được tắm suối, rất nguy hiểm. Vậy mà, con vẫn để các em đi chơi, còn tắm suối nữa. Con là anh lớn mà không biết dạy em. Con lên bàn Bụt quì hương sám hối cho hết một cây nhang, để con nhớ mà không còn tái phạm nữa.

Tâm Chánh cúi đầu xá chào Thầy rồi đi, hai chú kia lẽo đẽo theo anh lên chánh điện. Tâm Chánh cảm thấy vừa tức, vừa buồn tủi, chú thầm nghĩ: “Thầy không công bằng, đi chơi thì cả ba đến khi phạt chỉ mình mình chịu thôi”. Tự nhiên chú ganh tị với hai em, chú thấy hai đứa đó chơi không đẹp tí nào. Vào thiền đường, chú thắp nhang rồi quì xuống im lặng gặm nhấm nỗi buồn, nước mắt tự nhiên tuôn tràn. Tâm Từ cứ loay hoay quanh chú lấy tay chùi nước mắt cho anh. Nhưng Tâm Chánh hờn lẫy, lấy tay hất chú ra. Tâm Từ cảm nhận Tâm Chánh đang giận mình. Còn Tâm An đi kiếm cái quạt, quạt cho Tâm Chánh nhưng chú bực dọc nói to: “không cần, không cần, đi đi”.

Tâm An, Tâm Từ buồn thiu. Tâm An nghĩ giá như cả ba cùng quì hương thì đâu có khó xử như vậy. Thầy đâu biết rằng chỉ Tâm Chánh chịu phạt thôi mà làm cho chú đau lòng đến thế. Nhìn anh khóc, lòng chú cứ thổn thức muốn khóc theo. Trời ơi! Mình mà hư thân thì anh mình chịu đòn như thế này. Biết vậy mình không làm rồi.

Tâm Từ rút trong túi áo ra cây kẹo Sôcôla ngon lắm. Chú cất mãi chưa dám ăn, bóc vỏ đưa vào miệng Tâm Chánh. Tâm Chánh hất mặt đi chỗ khác, làm viên kẹo rơi xuống nền gạch. Tâm Từ lượm lên rồi lủi thủi bước lại góc cửa ngồi chờ đợi. Tâm An ngồi đó nhìn các anh mình, lòng rối bời. Chú thấy cây nhang cháy sao mà chậm quá. Không biết anh Tâm Chánh có chịu nổi không? Chú nóng lòng đứng dậy, chạy lại cây nhang chu miệng thổi cho lửa cháy nhanh hơn. Rồi cuối cùng cây nhang đã tàn. Tâm Chánh về phòng, thả mình xuống giường, trùm mền, buồn không nói một tiếng. Tâm An và Tâm Từ mỗi người ôm một khối tâm trạng buồn, giận, thương, ghét loạn xạ cả lên. Khối nội kết đang ngày càng nuôi lớn.

 

 

Trưa hôm đó, khi ôm bát đi ăn, Tâm Chánh không buồn ngồi dậy. Còn Tâm Từ, Tâm An mỗi đứa một nơi. Cảnh chùa bây giờ yên tĩnh, trầm mặc đến lạ, nhưng bên trong tâm hồn của các chú đang xáo động, đang ào ào giông bão. Chẳng ai buồn ăn cơm. Tâm An lấy bát múc thức ăn đem về phòng cho Tâm Chánh, còn mình thì nỗi buồn làm no rồi. Chú lang thang một mình ngoài vườn cho đến khi chán mới về phòng ngủ vùi. Ngày hôm đó sao mà dài quá, ảm đạm quá.

Sáng hôm sau, Tâm Chánh đỡ buồn, chú thức dậy mặc áo đi thỉnh chuông đại hồng. hai chú kia cũng lồm cồm bò dậy, lẽo đẽo theo sau, chẳng ai buồn nói với ai một lời. Tình trạng này kéo dài mãi đến chiều, Thầy gọi ba chú lại Thầy hỏi:

– Sao các con buồn thế?

Tâm Từ nhủ thầm: “Thầy biết rồi còn hỏi”.

–  Các con định kéo dài đến bao lâu?

Các chú vẫn im lặng cúi đầu. Lần này, các chú giận Thầy, giận nhau mà không biết cách hoá giải để cho cơn giận cứ lan ra tạo nên những đợt sóng trong hồ tâm của mình. Thầy tiếp tục chia sẻ:

– Ngày xưa đức Thế Tôn dạy: các thầy là người xuất gia thì không nên giận ai quá một đêm. Ta phải biết cách ôm ấp những hạt giống giận hờn đang phát khởi trong tâm, làm lắng dịu các tâm hành bằng hơi thở hay bước chân thiền hành. Khi thân tâm đã nhẹ nhàng rồi, ta hãy nhìn sâu vào sự việc đã làm ta buồn giận, ta không nên oán trách, đổ lỗi cho người mà ta nghĩ là nguyên nhân của sự việc. Trái lại ta phải quay vào trong để nhìn thấy những vụng về, thiếu sót của mình lúc hành xử. Bước tiếp theo, ta tìm thấy những điểm dễ thương của người kia, để tháo gỡ bớt cái nhìn giận hờn. Khi nào trong tâm con hoàn toàn thoải mái, không còn trách móc, giận người kia nữa, các con có thể mời họ lại chia sẻ nỗi lòng mình để người kia hiểu. Có hiểu thì mới có thương phải không các con?

–  Dạ thưa phải ạ!

 

– Cách tái lập lại mối quan hệ, lập lại hoà bình cho mình và cho mọi người xung quanh cũng bắt đầu từ trong tâm mình trước. Ta có muốn phá vỡ tình trạng căng thẳng hay không? Nếu thực sự muốn, ta nên ngồi lại với nhau, chia sẻ nỗi khổ của mình khi bị đối xử không dễ thương, để tháo tung những hiểu lầm về nhau. Sư Ông gọi các cuộc nói chuyện như vậy là “làm mới”. Đây cũng là một hình thức sám hối, xưng tội trực tiếp với nhau. Các buổi làm mới giúp cho anh chị em, ba mẹ với con cái hiểu nhau hơn, thương nhau hơn, nó cũng là cách phá tan bức tường vô hình ngăn cách chúng ta.

Tâm An nghe Thầy giảng cảm thấy thấm thía. Thầy chia sẻ điều này đúng lúc các chú đang xây dựng những bức tường vây kín trái tim, khiến nó ngột ngạt. Chú chẳng muốn như thế, nhưng để xin lỗi hai anh thì chú chưa chịu. Các anh đã làm tổn thương Tâm An, nên lòng tự ái còn đầy. Nghe Thầy nói, Tâm An cảm thấy nhẹ nhàng hơn. Chú từ từ hé mở cánh cửa lòng, vén bức màn vô hình lên một chút để dòm ra, để nhìn khuôn mặt Thầy và hai anh. Thầy không còn nghiêm nghị dễ sợ như lúc trước, nét mặt Thầy thanh thản, dịu dàng. Lòng Tâm An vơi đi rất nhiều. Tự ái dần dần tan ra, chú nhìn Tâm Chánh, khuôn mặt buồn, đôi mắt còn sưng húp vì khóc. Chú không còn trách anh sao hôm qua xua đuổi chú, la chú nữa. Tình thương bắt đầu trỗi dậy, thứ ánh sáng dịu dàng này có khả năng kỳ diệu, xua tan mọi bóng đen của buồn tủi, giận hờn, oán trách. Còn Tâm Từ, cái khuôn mặt tròn trịa, mũm mỉm ấy không còn nhăn nhó, cau có nữa, chú thấy thương thương các anh mình quá. Giọng Thầy vẫn vang lên trầm ấm:

– Muốn một buổi làm mới thành công, tâm các con phải lắng dịu và khao khát thay đổi tình trạng. Sau đó ta tiến hành ba bước: trước tiên, các con nên tìm ra những cái hay, điểm dễ thương của người kia. Chẳng hạn như: Tâm An thấy được Tâm Chánh hiền lành, biết lắng nghe người khác, điều đó đã nuôi dưỡng Tâm An. Các con nói bằng sự thật lòng của mình. Tiếp theo, các con tự nhận ra những lỡ lầm của mình. Mình đã cư xử thiếu chánh niệm, không dễ thương với người kia đã làm cho anh em mình buồn. Tự hứa với lòng, hứa với người kia mình sẽ thực tập lại cho đàng hoàng hơn. Cuối cùng, các con nói lên niềm đau của mình khi nhận được cách tiếp xử, thái độ của người kia. Tự thấy sự thực tập của mình còn yếu kém, xin người kia đừng nên lặp lại như vậy để yểm trợ, nâng đỡ cho sự thực tập của mình.

Thầy ngừng lại nhìn ba chú mỉm cười hiền từ. Thầy biết các con còn giận Thầy, còn nhiều điều uất ức trong lòng chưa nói ra được. Thầy từ tốn nói tiếp:

– Thôi, các con có thể đi chơi, các con suy nghiệm cho kỹ xem mình đã muốn thoát ra sự ngột ngạt khó chịu trong lòng hay không? Tối nay, Thầy trò ta sẽ có một buổi làm mới nhé.

Ba chú cúi đầu vâng dạ rồi lẳng lặng đi ra. Trong lòng ai cũng nhẹ vơi đi bớt phần nào rồi. Tâm An lén nhìn Tâm Chánh chú cảm thấy thương anh nhiều hơn nhưng không biết nói gì đây, bởi trong chú cũng còn có nhiều điều rối rắm lộn xộn.

Tâm Từ dường như hết giận Tâm An rồi, chú nở được nụ cười ngượng ngiụ với Tâm An. Tâm An thở phào nhẹ nhỗm, chú bắt chuyện liền:

– Anh Tâm Từ ! Ra đây em nói cái này nè.

Tâm Từ đứng lại, hai chú rẽ ra sau lối đi. Tâm An nói:

– Giờ mình vô xin lỗi anh Tâm Chánh đi.

– Anh sợ anh ấy còn giận anh em mình.

– Nhưng cứ để ảnh buồn như vậy em thấy khó chịu quá. Hay là mình làm như cách của Thầy dạy đi – Tâm An nói.

Tâm Từ bàn vào:

– Giờ mà làm liền thì nó quê quê sao ấy. Mình viết thư nghe. Mình sẽ xếp lá thư  thành con hạc thật đẹp gởi tặng anh ấy.

– Được đó, mình làm liền nghe. Bí mật đừng để cho anh ấy biết. Vậy giờ em vô phòng lấy giấy bút nghen. Chờ em ở gốc cây ngoài vườn nhé. Tâm An hớn hở nói xong chú đi nhanh về phòng lấy giấy bút. Trong lòng vui vẻ, khuôn mặt chú sáng lên, trên môi mỉm một nụ cười tươi.

Dưới gốc cây, hai chú lom khom xếp chim và suy nghĩ, tìm kiếm những lời nói dễ thương gởi tặng Tâm Chánh. Càng nói, các chú càng thấy anh mình đáng yêu lắm, có quá nhiều điều đẹp mà mình không chịu thấy, cứ để cho cơn giận, những cảm xúc ồ ạt trồi lên phủ lấp đi những điểm đáng yêu của anh mình. Làm xong, hai chú cảm thấy lòng mình tươi vui trở lại, tâm hồn sáng lên như vừa được tắm gội sạch những bụi bặm mấy ngày qua. Các chú tâm đắc:  đúng là “Làm Mới”, chỉ có như vậy thôi mà làm mới được con người mình và cả người mình thương.

Về đến phòng, hai chú thấy Tâm Chánh ngồi yên trên bàn, suy tư dữ lắm. Cả hai nhè nhẹ đặt lên bàn món quà mình vừa làm và nở một nụ cười thân thiện. Hai chú không mong chờ sự đáp lại của Tâm Chánh. Nhưng kỳ diệu thay! Tâm Chánh đã nở được nụ cười với các chú. Bức màn vô hình lạnh giá đã được vén lên. Không nói gì cả, nhưng cả ba đều cảm thấy ấm áp trong lòng. Tâm An hạnh phúc lắm, chú mở lời trước:

– Anh mở ra xem đi, của anh Tâm Từ và em làm đó.

Tâm Chánh xúc động cầm món quà trong tay và nói:

– Anh xin lỗi hai em, đã làm hai em buồn.

– Không sao đâu, chúng em cũng xin lỗi anh mà. Mở ra xem rồi anh sẽ biết, nhưng đừng cười chúng em nghe. Thôi chúng em ra vườn trước, đọc xong, nếu anh thích chơi thì ra chơi với chúng em cho vui. Tâm Từ rủ.

– Ừ, anh sẽ ra

– Đi thôi Tâm An, mình đứng đó thấy anh ấy đọc những gì mình viết mắc cỡ lắm.

Cả hai chạy ù ra khỏi phòng, phóng ra sau vườn, leo lên cây ổi, hái trái nhai ngấu nghiến.

– Không ngờ anh Tâm Chánh hết giận mình rồi nhỉ? Nhưng chắc còn giận Thầy. Em thấy nếu Thầy cho ba anh em cùng quì hương thì đâu có gì phải giận. Em thấy Thầy khó hiểu quá. Mà không biết Thầy có giận, có buồn mình không? Tâm An hỏi.

– Chắc là có rồi, nếu không thì Thầy đâu có bắt anh Tâm Chánh quì hương.

– Bây giờ em thấy Thầy không còn hiểu con nít nữa, Thầy cũng như những người lớn, khó hiểu.

Thời gian cứ trôi qua vun vút. Tối đó, các chú mặc áo tràng, lên thiền đường ngồi chờ Thầy đến. Các chú đã chuẩn bị một lọ hoa nhỏ xinh xinh để giữa, bốn cái toạ cụ xếp thành vòng tròn, mùi hương trầm thoang thoảng bay tạo nên một bầu không khí ấm áp, nhẹ nhàng, sâu lắng.

Thầy đến, cả ba đứng dậy chào Thầy, rồi ngồi xuống bồ đoàn của mình. Thầy nhìn quanh ba chú rồi mỉm cười. Thầy thầm nghĩ: “trẻ con mau đi qua cơn buồn, giận, làm trẻ con cũng sướng thật!”. Thầy im lặng một lát, rồi nâng dùi chuông thỉnh ba tiếng chuông khoan thai. Các chú im lặng ngồi ngay ngắn theo dõi hơi thở. Khi tiếng chuông chấm dứt. Thầy mới cất tiếng:

– Các con! Hôm nay, Thầy trò mình có một buổi thực tập làm mới. Đây là cơ hội để thầy trò, anh em hiểu nhau hơn, có thể cảm thông, tha thứ những lỗi lầm của nhau; có thể tái lập lại truyền thông với nhau. Do đó, hôm nay thầy trò ta có dịp tâm sự bày tỏ nỗi lòng của mình, những hành xử của mọi người đã tạo cho mình nỗi khổ, niềm đau và nhận ra được những tri giác sai lầm về nhau. Các con đừng e ngại nói ra những cảm nghĩ của mình, nhưng các con nên tập nói có chánh ngữ, hoà ái, có tâm ý xây dựng, hoà giải mà đừng nên buông ra những lời buộc tội, phê phán, chỉ trích. Thầy mời các con nghe tiếng chuông thở ba hơi, nếu ai muốn làm mới thì chắp tay xá xuống, đi lên thỉnh bình hoa về chỗ ngồi và bắt đầu chia sẻ như lúc sáng thầy đã chỉ cho các con.

Tiếng chông ngân trong đêm như một sợi dây dài xâu mọi người lại với nhau, cùng lắng nghe, cùng thở một nhịp. Tiếng chuông đã bay xa vào không gian bao la mà bốn thầy trò vẫn im lặng bình an trong hơi thở. Tâm Chánh cảm thấy trong lòng có một sự thôi thúc muốn chia sẻ, chú xá xuống, rồi đứng dậy, chậm rãi bước đến lọ hoa, xá chào rồi mang bình hoa về chỗ ngồi của mình. Mỗi cử động, mỗi bước chân của chú đều trở thành điểm chú ý của mọi người, nên chú rất chánh niệm, đặt lọ hoa thật nhẹ nhàng để tránh gây ra tiếng động. Chú cảm thấy giây phút này thiêng liêng làm sao ấy, mỗi cử chỉ của chú tự nhiên trở nên tôn kính lạ thường, những hành động bình thường như xá chào, nâng bình hoa, ngồi xuống lại trở thành một nghi lễ thật đẹp. Với năng lượng chung như vậy chú tự ý thức rằng mình phải biết ăn nói sao cho phải phép. Chú im lặng một lúc rồi chắp tay thưa:

– Con kính bạch Thầy, kính thưa hai em. Từ trước đến nay con rất hạnh phúc khi sống nơi này, con biết Thầy thương và chăm sóc chúng con, con cũng được hai em thương yêu, giúp đỡ. Con biết sự thực tập của con còn nhiều yếu kém, nên hai ngày qua con đã đau khổ, buồn tủi, giận hờn, có những hành động không dễ thương với hai em, đã làm hai em buồn, và cũng bị tổn thương nữa. Con xin lỗi hai em. Con xin hứa với Thầy và hai em con sẽ cố gắng thực tập hơn.

Nói đến đây, chú Tâm Chánh cảm thấy mình đủ can đảm, đủ mạnh dạn chia sẻ nỗi khổ tâm của mình cho Thầy nghe. Chú ngẩng lên nhìn Thầy rồi cúi xuống nói tiếp:

– Thưa Thầy! Hai ngày vừa qua con cũng có những suy nghĩ, giận hờn với Thầy. Con đã tủi thân vì nghĩ rằng, Thầy thương hai em hơn con. Con đã thầm trách Thầy không công bằng chút nào. Con biết làm như vậy không tốt nhưng con không thể làm lắng dịu được những buồn tủi, hờn trách đó. Con xin sám hối với Thầy. Con hứa con sẽ không nghĩ như vậy nữa.

Thầy nhìn Tâm Chánh mỉm cười. Không khí trở nên yên tĩnh. Tâm Từ khèo Tâm Chánh mượn lọ hoa, Tâm Chánh đưa cho chú, Tâm Từ xá xuống, kính cẩn nâng lọ hoa để xuống trước mặt, rồi chắp tay thưa:

– Con kính bạch Thầy, kính thưa anh Tâm Chánh và em Tâm An. Con cảm thấy mình cũng có lỗi đã giận anh Tâm Chánh, lúc đó em đã nghĩ: “con người anh sao mà cộc cằn, khó chịu quá, tự nhiên trút giận lên đầu hai em chứ”. Thật ra lúc ấy, em cũng buồn lắm, cũng đau khổ như anh. Em chỉ mong sao lần sau anh giận hai em thì đừng làm thinh như vậy, đừng tự dày vò đau khổ. Anh đâu có biết anh như vậy tụi em cũng đâu có vui. Anh thương hai em lắm mà, anh đừng làm hai em buồn nữa nghe anh Tâm Chánh.

Tâm Chánh gật đầu mỉm cười thật tươi với chú. Tâm Từ nói tiếp:

– Con cũng xin sám hối với Thầy, chúng con biết mình có lỗi ham chơi không nghe lời Thầy dạy, nhưng trong con lúc đó cứ trách Thầy sao lại chỉ phạt mình anh Tâm Chánh tạo ra sự chia rẽ trong anh em. Con chỉ cảm thấy tại Thầy mà anh em con giận nhau, lúc đó con cũng giận Thầy luôn, không thương Thầy nữa. Con biết một người đệ tử không nên giận Thầy, trách Thầy mình, như vậy là không phải một người đệ tử ngoan. Con xin sám hối mong Thầy hoan hỷ bỏ qua cho chúng con.

Nói xong chú xá xuống rồi trao luôn lọ hoa cho Tâm An, Tâm An liền đỡ lấy. Chú xá xuống và ấp úng thưa:

– Con kính bạch Thầy, kính thưa hai anh. Thật ra, chúng con đã hết giận nhau hồi chiều rồi, chúng con đã xin lỗi nhau. Nhưng con chưa sám hối với Thầy, con cũng nghĩ Thầy không còn hiểu con nít nữa, Thầy cũng khó hiểu như người lớn, Thầy chẳng biết đến tâm trạng con nít của chúng con. Con chỉ xin Thầy lần sau nếu có phạt thì phạt ba anh em, như thế thì chúng con không thấy khó chịu như hôm trước. Thầy phạt anh Tâm Chánh mà con và anh Tâm Từ đau buồn, áy náy bứt rứt lắm. Có lẽ chúng con còn nhỏ chưa hiểu nhiều nên đã có những hiểu lầm, hờn trách Thầy, xin Thầy bỏ qua cho chúng con.

Nói xong, chú xá chào mang bình hoa về lại chỗ cũ, rồi từ từ trở về chỗ ngồi. Thầy im lặng thỉnh một tiếng chuông để mọi người cùng trở về theo dõi hơi thở. Tiếng chuông dứt, Thầy đứng dậy đến bình hoa, xá chào rồi mang về chỗ ngồi. Thầy chắp tay lên, chậm rãi nói:

– Nam mô đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Con kính bạch Sư Ông !

Thầy thương các con, Thầy rất là hạnh phúc khi sống chung với các con. Hai ngày qua, thầy thấy được tình cảm của các con dành cho nhau. Thầy cũng biết các con buồn, các con giận thầy nhiều lắm. Thầy xin lỗi các con, đã làm các con không vui khi chỉ phạt một mình Tâm Chánh. Nhưng qua lần này, Thầy chỉ muốn các con có một kinh nghiệm thực tế rằng, chỉ cần một người gây lầm lỗi thì ảnh hưởng chung đến những người khác. Khi Tâm Chánh buồn, bị phạt thì các con cũng cảm thấy như chính mình bị phạt dưới một hình thức khác mà thôi. Các con đã có một kinh nghiệm là chúng ta có trong nhau. Để thấy rằng mình phải cẩn trọng hơn trong suy nghĩ, lời nói, hành động của mình, nếu mình lầm lỡ thì những người thương của mình phải gánh chịu. Mình phải có trách nhiệm với những gì mình đã làm. Chúng ta thực tập vì chính mình mà cũng là đang thực tập cho những người mình thương. Thầy rất hạnh phúc khi thấy các con thương nhau thật sự, đều muốn chia sẻ những vui buồn cho nhau một cách thật lòng. Các con đã biết trân quý tình huynh đệ, tình anh em. Cuộc đời của người tu được nuôi dưỡng, nâng đỡ từ anh em, bạn hữu các con ạ. Có tình anh em như vậy thì chúng ta mới có thể nắm tay nhau mà vượt qua những khó khăn trên con đường tu tập. Sự thành công của một người tu là xây dựng được những mối quan hệ tốt đẹp đó. Một người tu mà không được nuôi dưỡng bởi tình huynh đệ thì người ấy dần dần sẽ trở nên cô đơn, yếu đuối và có thể bỏ cuộc giữa đường. Thầy thấy được tình anh em ở các con, thầy rất mừng. Thầy muốn cho các con có được kinh nghiệm quý báu đó nên Thầy chấp nhận để các con trách, hờn, giận Thầy. Giờ các con còn giận Thầy nữa không?

Cả ba nhoẻn miệng cười, lắc đầu rồi cùng xá xuống thưa:

– Dạ thưa không ạ!

Thầy quay sang nhìn Tâm Chánh rồi nói:

– Tâm Chánh con! Thầy biết con sẽ trách thầy không công bằng, không thương con. Con biết không, nhìn con đau khổ, quay cuồng với những suy nghĩ tràn dâng trong đầu mà không thể dừng  được. Thầy rất muốn giúp con lúc đó biết cách nhận diện và ôm ấp nỗi khổ niềm đau của mình. Thầy biết quá khó đối với một đứa trẻ mới mười bốn mười lăm tuổi như con. Nhưng thầy luôn hy vọng con sẽ biết cách áp dụng những lời dạy của thầy mà chuyển hoá những hạt giống buồn tủi trong con. Tuy rằng hai ngày qua con đã buồn tủi nhưng con biết không, thầy muốn cho con biết cách làm một người anh. Nghệ thuật làm người anh khó lắm con, mình phải biết hy sinh, biết cách đón nhận và gánh chịu những đòi hỏi, những lỡ lầm, vụng về của các em. Mình phải biết bao dung và tha thứ. Làm người anh tốt là người đứng dưới làm bàn đạp cho em mình đi lên. Là người đi trước khai thông con đường cho các em mình dễ dàng vượt qua. Và luôn hạnh phúc khi thấy các em thành công, thực tập ngày càng tươi mát và vững chãi. Con phải thấy rằng, các em có lỗi lầm là một phần do chính người anh gây ra, làm một người anh mà không biết làm gương cho các em, không biết dạy em, ngăn chặn những hành vi không tốt của các em, để các em hư là lỗi của mình.

Thầy ngừng lại, Tâm Chánh cảm thấy mỗi lời của Thầy như thấm sâu vào trái tim nhỏ bé của mình. Chú ân hận, đã không hiểu Thầy, trách Thầy không công bằng thiên vị các em. Nhưng bài học này sao mà khó quá, làm Tâm Chánh buồn tủi mất hai ngày hai đêm, phải chịu đựng bao nhiêu tâm hành tiêu cực. Tâm Chánh cảm thấy hổ thẹn trước cách hành xử của mình, không xứng đáng làm một người anh tốt của các em.

Thầy quay sang nhìn Tâm Từ và Tâm An rồi nói:

– Các con à! Làm một người em cũng khó lắm. Mình cũng phải có trách nhiệm với các hành vi của mình. Đừng nghĩ rằng đã có anh mình đỡ đầu, che chở thì muốn làm gì cũng được. Nếu anh mình đau khổ thì mình đâu có vui vẻ gì phải không các con?

– Dạ phải ạ!

Thầy mỉm cười rồi tiếp tục:

– Đức hạnh một người em cần có là khả năng biết lắng nghe, tôn kính anh mình. Làm một người em giỏi cũng cần rất nhiều sự thực tập. Tóm lại, làm anh hay làm em cũng chỉ là điều kiện cho mình thực tập mà thôi. Nếu các con thực tập tốt chánh ngữ và lắng nghe, ngày càng rèn luyện những điều được dạy trong “bước tới thảnh thơi” thì các con sẽ là một người anh giỏi, một người em ngoan. Thầy cảm ơn các con đã thành thật chia sẻ những tâm tư tình cảm của mình, các con đã làm cho buổi thực tập làm mới này thành công. Thầy trò ta có thể hiểu nhau, những nội kết, tri giác sai lầm đã được hoá giải, các con đã buông bỏ nỗi buồn đeo mang hai ngày qua để tiếp tục hưởng thụ cuộc sống tươi đẹp này. Để kết thúc buổi làm mới, Thầy xin thỉnh ba tiếng chuông, các con quay về để thấy rõ mỗi giây phút là hạnh phúc.

Những tiếng chuông ngân dài trong đêm làm cho tâm hồn ba chú lắng dịu, bình an đến lạ. Qua rồi những cơn bão lòng, bầu trời trở lại trong xanh như vốn dĩ của nó. Cả ba xá chào Thầy, lạy Bụt rồi nhìn nhau mỉm cười, cùng bước về phòng trong niềm vui lâng lâng khó tả.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Chương 4: Những chiếc bình ngồi yên

Chương 5: Nuôi dưỡng thân tâm

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 7: Im lặng – đỉnh cao của âm thanh

Nuôi dưỡng thân tâm

CHƯƠNG 5

Nuôi dưỡng thân tâm


Đi tu thật ngộ. Con người của mình không phải là một cơ thể nguyên vẹn, một khối như cục đá, cục gạch đâu. Cơ thể mình do nhiều bộ phận ráp lại như người máy ráp cái tay, cái chân cái đầu, gắn con mắt… Hồi ở nhà Tâm An thấy con người là con người thôi, đâu có nhìn kỹ từng bộ phận cơ thể làm chi. Nhưng bây giờ thì khác, Tâm An thấy mỗi bộ phận là một cách thực tập. Ví dụ như đôi chân thì phải tập đi, con mắt thì phải tập nhìn, cái đầu phải tập trung suy nghĩ đúng đắn, cái tai thì phải biết nghe. Còn nữa, cái miệng phải biết cách ăn. Lạ không? Ăn mà cũng phải tập. Ai mà chẳng ăn kia chứ. Mới mở mắt là tự biết bú, lớn một chút mẹ đút cái gì thì cứ há miệng ăn thôi. Tâm An nghĩ: chắc đây là pháp môn dễ nhất, ăn thôi mà, chẳng có gì đặc biệt cả. Không hẳn vậy, chuyện ăn cũng rườm rà, cũng lắm chuyện. Trước tiên ta phải hiểu cái bụng của mình chứa được bao nhiêu để lấy thức ăn cho nó vừa đủ. Cái bụng nó cũng biết nói đó nghe. Nó chỉ xin một bát thôi nhưng lên tới con mắt thành hai bát, chuyển đến cái tay thành hai bát rưỡi. Do đó mà Bụt chỉ cho có một cái bình bát thôi, ăn nhiều thì lấy nhiều, ăn ít thì lấy ít. Ba chú cứ lấy các món mà mình thích, bỏ các món không ưa lại. Cả ba đều lấy một bát đầy cho dù cái bụng bảo là chỉ cần một bát lưng thôi. “Con mắt luôn to hơn cái bụng mà”. Bắt cái tay phải lấy vừa đủ cái bụng chẳng đơn giản chút nào nên các chú cứ chiều theo con mắt hoài. Tâm An thầm nghĩ: “Thầy nói đúng, ăn cũng là cả một nghệ thuật. Có nhiều hạng người ăn khác nhau; người ăn vì ham thích các món ngon vật lạ cứ chạy theo những cảm thọ của vị giác, đắm mình vào nó. Có người ăn chỉ để nuôi sống bản thân, cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể. Có người thưởng thức các thức ăn như thưởng thức một môn nghệ thuật. Chúng ta là người tu thì ăn uống của chúng ta được nâng cấp lên một bậc trở thành đạo, trở thành thiền. Do đó ta có pháp môn thiền ăn. Người tu là ta biết lắng nghe cơ thể mình cần nhu cầu bao nhiêu? Một bát, nửa bát hay hơn. Chúng ta chỉ nên khất thực vừa đủ thôi. Người thô và người tế nhị mình nhìn cách lấy thức ăn và cách ăn là biết. Lúc khất thực, cái tâm tham của mình thấy rất rõ, cái gì mình thích thì lấy nhiều, không thích thì ta không lấy. Ta thực tập như vậy chưa hay lắm. Ngày xưa, Bụt dạy “thứ đệ khất thực” tức là đi tuần tự từng nhà không lựa chọn nhà giàu, nhà nghèo, không lựa chọn thức ăn này ngon, thức ăn kia dở, ai cúng dường bao nhiêu Ngài cũng hoan hỉ như nhau cả. Phép khất thực này giúp ta không khởi tâm phân biệt, tất cả đều được tôn quý như nhau. Các con nên học theo hạnh này của Bụt, các món ăn đều được khất thực hết để khỏi phụ lòng người cúng dường, người nấu nướng. Tuy nhiên, khi cơ thể có bệnh, không thích hợp dùng món ăn đó thì ta cũng có thể không khất thực. Khi thực tập ta phải uyển chuyển.”.

Từ đó, Tâm An chú ý lấy thức ăn hơn, chú còn được học ăn cơm trong “Bước tới thảnh thơi”. Sư ông dạy rất kỹ. Chú thích thú khi phát hiện ra mỗi uy nghi nho nhỏ, từng chút từng chút nhưng đều có ý nghĩa, mục đích sâu xa, rèn luyện tâm của mình sáng hơn, lành hơn. Tuy biết thế nhưng cả ba đều muốn ăn theo sở thích của mình, không phải nghi lễ gì hết. Đối với các chú ăn sao thoải mái, vui vẻ thì tốt rồi. Có thể vừa ăn vừa nói, có thể chọc ghẹo, đùa giỡn với nhau. Cũng thông cảm thôi, tuổi nhỏ luôn hiếu động, đâu có thích lúc nào cũng trầm tĩnh.

Tưởng rằng ăn cơm là sự thực tập dễ nhất. Nhưng đâu có dễ dàng chút nào. Ba chú cảm thấy giờ ăn cơm sao mà lâu thế, chẳng có gì thú vị cả. Thầy ăn sao mà lâu quá, còn các chú thì loáng cái đã sạch hết bát cơm. Ngồi im chờ đợi, cảm giác chờ đợi thật là khó chịu. Giờ mà được chạy ra vườn chơi với con Kinô và con mèo thì thích biết mấy. Nhìn nó ăn cơm, vuốt vuốt bộ lông mềm mại, rồi bắt chước tiếng sủa của nó, xem ai sủa giống Kinô nhất. Có cả khối trò chơi đang chờ các chú ngoài kia. Chơi giả tiếng thú vật cũng vui. Ai giả được tiếng giống nhất thì phải làm điệu bộ giống con đó. Tâm Từ giả giống Kinô, Tâm An giống mèo, Tâm Chánh giống lợn, trò chơi này vui ơi là vui, thế mà các chú còn phải ngồi trong bàn cơm chờ Thầy ăn xong rồi mới được ôm bát đứng dậy, đi rửa.

Chiều hôm đó, mấy thầy trò được ngồi chơi với nhau dưới bóng cây bồ đề mát rượi. Thầy hỏi:

– Trong các con, ai là người thương con Kinô nhất.

– Dạ thưa con, Tâm Từ giơ tay lên.

– Dạ, con thương con mèo- Tâm An nói

– Còn con thương con lợn- Tâm Chánh thưa.

– Chùa mình làm gì có con lợn nào đâu?

Cả ba cùng cười. Rồi Tâm An, Tâm Từ chỉ vào Tâm Chánh:

– Dạ thưa Thầy, đây này.

Lúc đó, Tâm Chánh kêu lên : “ Ùn ụt, ụt ịt, eng ẻng…” đủ kiểu kêu của lợn. Thầy chợt hiểu ra cười hỏi:

– Còn Tâm Từ thì sao?

Tâm Từ ngồi dậy, bò xuống vừa bò vừa sủa theo tiếng con Kinô làm cho mọi người cười ngặt nghẽo.

Tâm An cũng thế, chú nằm xuống, kêu meo meo rồi giả bộ lấy lưỡi liếm tay chân.

Thầy cười nói:

–         Các con làm giống thiệt! Vậy các con thấy con Kinô, con mèo, con lợn ăn như thế nào? Nó ăn có đẹp không?

–         Dạ thưa, con Kinô ăn rất nhanh, nó nhai ngấu nhai nghiến, lâu lâu còn gừ lên vài tiếng nữa như sợ ai lấy mất thức ăn. Tâm Từ trả lời.

–         Còn con lợn thì khỏi nói, nó háu ăn lắm, nó ăn táp táp thành tiếng. Con thích nhìn các con lợn hàng xóm ăn lắm. Nó còn lấn nhau để đến cái máng trước nữa. Ăn loáng một chút là sạch nhẵn máng thức ăn nên nó chóng lớn lắm Thầy ạ. Chiều nào mà có thức ăn thừa là ba anh em con đều mang qua cho nó, nhìn nó ăn vui ơi là vui.

–         Con mèo thì ăn ít lắm, lúc gặp thức ăn nó thích, nó liền kêu lên meo meo một cách khoái chí. Lạ lắm Thầy ơi. Nó ăn một chút rồi bỏ đi chơi, một lát sau quay lại ăn tiếp. Con thấy con mèo ham chơi ghê. Nó làm biếng lắm, nhai vài ba cái rồi nuốt cho xong.

Nhìn các chú vui vẻ kể về các con vật một cách hồn nhiều, ngây thơ, Thầy thấy vui trong lòng. Thầy nói:

– Chà! Các con quan sát các con vật kỹ quá. Vậy các con có thấy được mình ăn cơm như thế nào không?

Thầy nhìn quanh, chẳng thấy chú nào lên tiếng hồ hởi như lúc trước. Các chú cúi đầu, rồi lén nhìn nhau, nhìn Thầy. Tâm Chánh hổ thẹn đỏ cả mặt, bởi chú cứ nghĩ Thầy ví chú ăn như lợn vậy. Thầy chơi trò này kỳ quá đi. Ai lại ví người ta với các con vật kia chứ.

Thầy như hiểu được những suy tư đang diễn ra trong đầu các chú, Thầy từ từ cất tiếng:

– Các con, các con đừng nghĩ thầy ví các con với các con vật dễ thương ấy đâu. Thầy biết các con đều có suy nghĩ con vật thua kém con người nhiều thứ. Nhưng, các con có biết tại sao nó thua kém con người không?

– Dạ thưa không ạ.

– Bởi nó có quá nhiều điểm không lành, không đẹp. Nhìn cách ăn, cách ứng xử của nó với nhau còn biểu hiện nhiều tâm tham lam, si mê, đố kỵ, nó không có nhiều khả năng nhận biết những điều chưa hay, cũng không biết cả sự sửa đổi như con người. Tuy nhiên, mình đừng tự hào là con người có cách sống đẹp hơn con vật. Chưa chắc đâu, có nhiều điều con người chúng ta phải học cách sống, cách sinh hoạt của chúng. Ví dụ như: cách sống tập thể của bầy ong, của đàn kiến rất hay. Tuy sống chung bầy đàn nhưng vẫn trật tự, có sự phân công rõ rệt. Chúng rất đoàn kết và không sống riêng lẽ. Bên cạnh những điểm đẹp đó chúng vẫn thiếu phước duyên hơn chúng ta nhiều. Con người còn may mắn biết được những điều mình làm chưa hay, chưa đẹp để sửa đổi. Các con vừa nói những tật xấu của các con vật đó, nếu mình nhìn kỹ thì trong con người chúng ta ai cũng có những cách biểu hiện không đẹp như vậy. Do đó, thầy chỉ khuyên các con thay đổi lại cách ăn cho đẹp, cho thanh nhã. Khi cầm muỗng múc thức ăn, nên lấy sao cho gọn gàng, đừng để cho thức ăn lùa thùa ra ngoài muỗng, cách lấy cũng nhẹ nhàng, tránh tiếng va chạm của muỗng vào bát. Đưa vào miệng, nhai đều, không nên nhai thành tiếng, không nên vừa nhai vừa nói. Các con nhai như thế nào mà cảm thấy thức ăn nhuyễn và ngọt rồi nuốt. Chúng ta có từ ba mươi đến bốn mươi lăm phút cho một buổi ăn cơm, nên mình chẳng có gì phải vội vàng, cứ thong thả thưởng thức tất cả các món ăn ngon lành.

Thầy ngừng lại, nhìn các đứa trẻ một lát rồi nói tiếp:

– Khi ăn các con nên đặt hết tâm trí vào thức ăn và nhận biết sự có mặt của mọi người xung quanh, mà đừng suy nghĩ lung tung, đừng muốn ăn cho xong để được làm cái này hay cái kia. Càng nên tránh các tâm hành xấu như tham, giận, buồn phiền. Nếu như các con đang giận một ai đó mà mang tâm giận hờn vào bữa ăn thì các con đang ăn cái giận. Khi các tâm hành giận hờn, buồn bực đang phát khởi, thì trong con người chúng ta đang tiết ra các độc tố làm cho thức ăn ngon lành kia nhiễm độc. Chúng ta được nuôi dưỡng trở lại bằng các độc tố ấy. Lâu ngày sẽ sinh ra bệnh tật đủ điều. Do đó, tâm thức của chúng ta khi ăn rất quan trọng. Nó có thể chuyển hóa độc tố thành thức ăn lành. Các con có biết không? Ngày xưa, Ngài Ca Diếp đã từng khất thực những thức ăn hôi thiu, mốc meo của những người bần cùng khốn khổ, Ngài đã dùng nó một cách hoan hỷ, ngon lành và tỏ lòng biết ơn sâu sắc để hồi hướng cho vị thí chủ đó. Những thức ăn đó mà cho chúng ta dùng thì sẽ bị đau bụng, bị hư đường ruột ngay. Nhưng với tâm niệm an lành của Ngài, các thức ăn ấy trở thành chất liệu nuôi dưỡng. Việc thực tập Từ, Bi, Hỉ, Xả trong khi ăn giúp chúng ta phát khởi lên những tâm niệm thiện, đó là nguồn thực phẩm cần thiết. Các con đọc cho thầy nghe bài thi kệ bốn muỗng đầu đi !

Các chú đồng chắp tay và đọc:

Muỗng thứ nhất học hiến tặng niềm vui

Muỗng thứ hai học làm vơi nỗi khổ

Muỗng thứ ba học giữ lòng hoan hỷ

Muỗng thứ tư học thực tập xả buông.

– Các con, đó là thực tập Tứ Vô Lượng Tâm: Từ, Bi, Hỉ, Xả ngay trong khi ăn. Cho nên thực tập ăn một cách sâu sắc cũng giúp chúng ta chuyển hóa khổ đau cho mình và cho người, đồng thời nuôi dưỡng hạnh phúc của chúng ta nữa.

Các chú ngồi yên nghe Thầy giảng, giọng nói ấm áp của Thầy vang ra cả khu vườn. Cây bồ đề thỉnh thoảng đung đưa cành lá như vui mừng khi nghe được cơn mưa pháp. Tâm An nhìn lên từng chiếc lá với ánh mắt rạng ngời hạnh phúc, thương yêu. Những lời giảng đó đã đưa chú đến với Bụt, Pháp, Tăng ngay trong giây phút này. Rồi chú nhìn lên Thầy, chú cảm thấy mình là cậu bé chăn trâu Cát Tường ngày xưa trong truyện “Đường xưa mây trắng” đang được ngồi bên Bụt dưới bóng cây Bồ Đề nghe Ngài chỉ dạy. Chú như bị cuốn hút vào dòng suy nghĩ đó. Tiếng Tâm Chánh cất lên làm chú quay về với thực tại:

– Dạ thưa Thầy cho con hỏi?

– Nói đi con!

– Dạ thưa, con chưa hiểu tại sao cái gì Thầy cũng gọi là thức ăn, là thực phẩm như: âm nhạc, ngồi thiền, pháp thoại,… đâu có ăn được đâu mà lại gọi là thức ăn?

Thầy cười hiền lành rồi nói:

– Các con, người ngoài đời thường quan niệm: thức ăn chỉ là những thực phẩm đưa vào miệng để nuôi sống con người mà thôi. Đó là một cách hiểu rất nông cạn. Bụt dạy chúng ta có bốn loại thức ăn đó là: đoàn thực, xúc thực, tư niệm thực và thức thực. Các con có nhớ mình vẫn thường tụng kinh “bốn loại thức ăn” không?

– Dạ nhớ ạ!

– Thức ăn mà chúng ta ăn hàng ngày như: cơm, canh, nước,… gọi là đoàn thực; tức là những thực phẩm đi vào cơ thể chúng ta bằng con đường miệng. Các con hãy kể cho thầy nghe một số thực phẩm được gọi là đoàn thực?

Tâm Từ nhanh nhẹn đáp:

– Dạ bún, mỳ, phở…

– Dạ bún riêu, bún bò Huế, mỳ Quảng, phở Hà Nội, phở tái, phở chay, bánh cuốn, bánh bèo, bánh xèo,… Tâm Chánh tiếp lời:

Tâm An cười:

– Bạch Thầy! anh Tâm Chánh thích ăn mặn nên kể toàn đồ mặn không à.

– Bậy nào, đâu có, các món ăn đó đều có thể nấu chay mà.

– Chay gì mà bún bò Huế, phở bò tái, phở Hà Nội nè. Nghe toàn là bò không thôi. Ai ăn chay mà toàn nói bò, heo, gà, tôm, cua,…

– Em không biết đó thôi, ở  ngoài người ta làm đủ thứ thức ăn chay như thức ăn mặn vậy. Có lần anh thấy nguyên một con gà chay luôn, anh còn thấy tôm, ốc, mực, cá làm giống như thật vậy đó. Tâm Chánh nói lại. Lúc này, Thầy lên tiếng cắt đứt cuộc tranh luận của hai anh em:

– Thôi được rồi, những thứ các con kể đều đúng là đoàn thực cả, còn chuyện đó chúng ta sẽ bàn sau nhé. Tâm An con chưa kể cho thầy nghe các món ăn con thích:

– Dạ con thích nhiều món lắm: Bánh bao, bánh bò, cơm chiên Dương Châu, cháo nêm, càri bánh mỳ, trái cây nữa.

– Như vậy các con đã hiểu thế nào là đoàn thực rồi chứ.

– Dạ hiểu ạ.

– Các con, ngay trong các thức ăn này, chúng ta phải tập nhìn sâu để thấy được vạn vật đang hiến tặng sự sống của chúng để nuôi dưỡng chúng ta. Chúng ta ăn chay để nuôi dưỡng lòng từ bi của mình. Làm giảm bớt những khổ đau cho các con vật bị giết thịt. Các con vật cũng đau đớn và sợ hãi khi ai đó đem dao giết nó như chúng ta vậy. Còn các loài thực vật cũng có những cảm giác ấy nhưng vì cảm thọ của nó không lớn nên ít đau đớn hơn loài động vật thôi. Sự sống của chúng ta được đánh đổi bằng sự sống của các loài khác, vật khác, do đó Bụt có một ví dụ rất dễ sợ nói về đoàn thực như sau: Có hai vợ chồng nọ có một đứa con trai duy nhất cùng đi qua một sa mạc. Giữa đường bị hết lương thực họ đành phải giết đứa con ăn thịt để sống mà vượt qua sa mạc. Họ đau khổ vô cùng khi phải ăn thịt con mình. Cũng vậy các con, nếu các con biết yêu thương vạn loài cỏ cây, đất đá như những đứa con yêu quý thì lúc ăn cơm các con phải nhắm mắt mà ăn để sống qua ngày thôi. Cho nên, ăn không phải để bồi bổ, làm cho cơ thể đẹp thêm mà chỉ sống  để vượt qua bãi sa mạc nóng bức của cuộc đời. Chúng ta nương nhờ nguồn thực phẩm ấy nuôi sống giúp cho ta khoẻ mạnh mà tu tập. Nên khi thọ nhận một bát cơm thôi là ta đã thọ ơn của mọi loài, nếu không tu tập đàng hoàng thì ta sẽ mang nợ cuộc đời không biết bao giờ trả hết. Khi nhìn sâu như vậy, các con sẽ trân quý tất cả các loại thức ăn mà không chê ngon dở, không dám phí phạm.

Thầy ngừng lại uống một ngụm trà rồi nói tiếp:

– Loại thức ăn thứ hai là xúc thực. Tức là thứ ta tiếp xúc, nuôi dưỡng cho thân tâm qua các giác quan khác như: mắt, tai, mũi, thân và ý. Xúc thực này ảnh hưởng tới đời sống của chúng ta rất lớn. Một ngày chúng ta nuôi dưỡng tâm hồn mình biết bao nhiêu là thứ như: Âm nhạc, phim ảnh, , sách báo, các bài học ở trường, các lời dạy giáo lý ở chùa, những câu chuyện mình nói với nhau, tưới tẩm lên nhau bao nhiêu điều. Cho nên chính trong các thực phẩm đó các con phải biết chọn lựa, thanh lọc những độc tố mà thu nhận những thực phẩm lành mạnh nuôi dưỡng tâm hồn mình. Khi các con hiểu được điều này rồi, các con sẽ cảm thông cho thầy tại sao không cho các con hát nhạc ngoài đời, những thể loại Rock, Rap mà tuổi trẻ các con ưa thích. Thầy không khuyến khích các con xem truyện tranh mà mua chuyện văn học, những tác phẩm có giá trị nuôi dưỡng tâm hồn cho các con đọc. Thầy không cho các con xem tivi, bởi trên tivi có nhiều điều không lành mạnh cho trẻ em xem. Các con chưa có đủ khả năng tự thanh lọc, tự lựa chọn thức ăn cho mình nên các con cần sự giúp đỡ của người lớn. Tuy nhiên, Thầy vẫn tìm kiếm các bộ phim khoa học, lịch sử, tài liệu hay, nuôi dưỡng để các con được xem, học hỏi thêm. Đó chỉ là những gì có thể làm được thầy làm cho các con. Điều mà thầy mong muốn là các con được nuôi dưỡng từ  những thực phẩm lành mạnh để từ đó phát triển khả năng tự nhận biết các loại thực phẩm khi mình tiếp xúc. Bụt đã thấy rõ nguy hại do loại thức ăn này mang đến cho con người, nên Ngài mới hướng dẫn pháp môn tu tập “Phòng hộ sáu căn” tức là các con phải có chánh niệm khi tai tiếp xúc với âm thanh, mắt tiếp xúc với hình sắc, mũi tiếp xúc với mùi hương, lưỡi tiếp xúc với vị, thân xúc chạm, và ý tiếp xúc với mọi sự vật hiện tượng. Có chánh niệm thì các con như được bảo hộ, được che chở khỏi những độc tố, những điều không lành mạnh.

Tâm Chánh như được thông suốt mọi thắc mắc, chú hạnh phúc, Tâm Từ cảm thấy thương Thầy nhiều hơn, chú biết Thầy thương các chú nên không cho các chú hát Rock thi kệ, không sửa thi kệ lung tung. Chú nhìn Thầy với ánh mắt trìu mến. Còn Tâm An, chú như lạc vào một thế giới mới lạ, những chuyện đơn giản như ăn cơm thôi mà có nhiều ý nghĩa sâu sắc như vậy. Chú nhìn Thầy với ánh mắt ngưỡng mộ. Thầy hay thật, chuyện gì Thầy cũng biết, cũng giải thích rõ ràng. Mỗi khi thầy giảng điều gì Tâm An cũng cảm thấy hấp dẫn cứ dẫn dắt chú lần lần vào một kho tàng tri thức rộng lớn. Chú biết rằng, còn nhiều điều, rất nhiều điều chú chưa được biết, nghĩ đến đó thôi trong chú đã khởi lên một niềm cảm hứng tu học, chú ao ước càng ngày chú càng được học và thực hành những điều hay từ giáo lý đạo Bụt mang lại.

Ông mặt trời đã chuyển về Tây bầu trời như êm dịu lại, từng cụm mây bay lơ lửng. Thầy ngừng lại rồi bảo: Thôi chúng ta ngừng cuộc trò chuyện ở đây. Thầy còn mắc nợ các con hai loại thức ăn nữa cũng rất là quan trọng. Khi nào có dịp thầy giảng tiếp cho các con.

Tâm An nhanh nhẹn thưa:

– Thưa Thầy, ngày mai thầy giảng tiếp cho chúng con đi, con còn muốn nghe nữa.

Tâm Từ và Tâm Chánh cũng hùa theo:

– Chúng con cũng muốn nữa, ngày mai Thầy giảng nữa nghe Thầy. Thầy hứa đi.

Thầy cười, gật đầu. Ba chú sung sướng, nở hoa. Thầy đứng dậy, dắt các chú đi dạo quanh đồi, rồi bốn thầy trò trở về phòng. Một buổi chiều êm ả, hiền lành trôi qua, nó đã để lại trong lòng các chú một niềm hân hoan, hạnh phúc. Riêng Tâm An, chú cứ nhớ lại lời Thầy giảng và mong cho ngày mai mau tới để được nghe tiếp phần còn lại.

Chiều hôm đó, bữa cơm thật ấm cúng, thong thả. Các chú ăn cơm rất chánh niệm. Những cái miệng nhỏ nhai đều đặn, thảnh thơi. Nhìn những thiền sư con này ăn cơm dễ thương lắm, hiền lành, ngoan ngoãn. Thầy nhìn các chú với ánh mắt trìu mến. Các chú hạnh phúc lắm. Có lẽ đây là buổi ăn cơm đầy tình thương và sự hiểu biết mà lần đầu tiên các chú được nếm hương vị này. Thức ăn được đưa vào miệng trở nên ngon ngọt hơn mọi khi, các chú phân biệt được từng vị của các loại trái cây, rau củ,… Ăn cơm được như thế đâu có dễ như Tâm An từng nghĩ.

Ngày hôm sau, sau giờ thiền hành quanh ngọn đồi xanh, thầy trò ngồi lại bên nhau bên gốc cây già ven suối. Thầy ngồi yên rất lâu lắng nghe dòng suối hát. Tâm An thích ngắm cảnh suối, thích nhìn những giọt nước lăn, té nhào từ trên cao xuống, chạy nhảy tứ phía tạo nên bọt nước trắng xoá. Thầy nhìn các chú rồi nói:

– Bây giờ thầy trả nợ tiếp cho các con.

Ba chú vui mừng ra mặt, như một bầy chim non đang xúm xít quanh người cha, các chú xích gần lại ngồi quanh Thầy để nghe Thầy nói chuyện:

– Hôm nay, thầy muốn nghe các con kể chuyện, chuyện gì cũng được.

Cả ba chú ngẩn ngơ, bất ngờ quá, biết kể chuyện gì đây. Thầy gợi ý:

– Các con có thể nói về ước mơ của mình. Những điều các con muốn thực hiện. Các con có thể nói về một mẫu người lý tưởng mà các con muốn trở thành.

Tâm Từ nhoẻn miệng cười, chắp tay xá xuống rồi thưa:

– Con kính thưa Thầy và các anh em, con muốn trở thành một tu sĩ có đức hạnh, có khả năng sáng tác các bài thiền ca cho mọi người được thưởng thức, nuôi dưỡng mọi người bằng dòng nhạc thánh thiện.

Tâm Chánh chắp tay thưa:

– Con muốn làm thiền sư giống như Sư Ông.

Tâm An cũng thưa:

– Con muốn được giống Thầy. Con chưa được gặp Sư Ông, chỉ được nghe Thầy kể, đọc sách và nghe pháp thoại của Sư Ông con rất thích, nhưng con chỉ muốn giống Thầy thôi.

Thầy nhìn Tâm An hỏi:

– Thầy tu tập vẫn còn nhiều thiếu sót, con muốn giống thầy thì còn nhiều hạn chế lắm. Tại sao con không chọn một vị Bồ Tát nào đó.

– Dạ con chưa có ước mơ đó, con chỉ muốn được làm một ông thầy tu có tình thương và hạnh phúc như Thầy thôi. Con chưa gặp Sư Ông, chưa gặp Bồ Tát thì làm sao mà giống được. Sư Ông, Bồ Tát làm cái gì, đi thiền, ăn cơm ra sao con chưa thấy nên con chỉ muốn giống một người gần mình, mình được gặp hàng ngày thôi.

Thầy nhìn các chú với ánh mắt yêu thương. Các chú rất lành, những ước mơ thật đẹp, thật hiếm. Thầy sẽ là người chắp thêm đôi cánh để các chú bay xa, bay cao trong bầu trời mơ ước.

– Các con, những ước mơ đẹp sẽ nuôi dưỡng chúng ta, sẽ là động lực giúp chúng ta thực hiện các hoài bão lớn lao của mình. Ước muốn, hoài bão là một loại thức ăn, nó vi tế hơn loại thức ăn trước nhưng nó rất quan trọng. Những ước muốn cao đẹp như phụng sự xã hội, bảo vệ môi sinh, giúp đời, giúp người đều là những tư niệm thực lành. Ta có thể nói đó là Bồ Đề Tâm. Khi các con muốn trở thành một người tu, các con phải nhìn thấy các điều hay, đẹp của người tu sĩ và muốn sống đẹp như họ. Các tâm thuần thiện đó phát khởi thì ta gọi là phát Bồ Đề Tâm. Chính những ước muốn đấy thúc đẩy ta, thôi thúc ta hành động lựa chọn hướng đi.

Thầy ngừng lại, rồi chậm rãi tiếp tục:

– Tư niệm thực là loại thức ăn thứ ba nói cho dễ hiểu là ước muốn của mình. Chúng ta có rất nhiều loại ước muốn. Có ước muốn thiện và ước muốn không thiện. Những ước mơ các con vừa chia sẻ là ước mơ thiện, nếu các con nuôi lớn, tưới tẩm và rèn luyện mình mỗi ngày thì ước mơ sẽ thành hiện thực. Ước mơ sẽ dẫn dắt chúng ta vào những nẻo đường khác nhau. Ước mơ cao đẹp sẽ đưa chúng ta vào con đường chân, thiện, hạnh phúc, bình an. Còn ước mơ chứa đầy dục vọng như: tiền tài, giàu sang, địa vị, uy quyền, ăn ngon mặc đẹp sẽ cuốn chúng ta đi vào chốn trần lao, khổ ải. Rất nhiều người cứ nghĩ rằng được sống hưởng thụ dục lạc thế gian như thế thì mới hạnh phúc. Cái hạnh phúc đó được đánh đổi qúa lớn, họ có thể bán đứng lương tâm, làm điều xằng bậy để có được của cải vật chất, càng ngày mảnh đất tâm hồn của họ bị chất lên bao nhiêu rác thải, ô uế từ sự giàu sang mang lại, chật cứng cả không gian. Trong tâm hồn họ không còn có một chỗ nho nhỏ để cho các loài hoa được nở rộ. Càng nuôi nhiều ước muốn địa vị, quyền hành thì   tham vọng chất chồng. Dục lạc thế gian có sức quyến rũ rất mạnh nó lấy hết thời gian và không gian của con người. Họ không thể thanh thản từng bước đi đến công sở, họ đi như chạy, chạy cho kịp thời gian. Nhưng thời gian có hạn hẹp với ai đâu, nó công bằng với tất cả mọi người. Họ ăn cơm nhưng trong đầu họ toàn là những dự tính làm thế nào để số tiền thu nhập mỗi ngày được nhiều hơn. Hoặc là làm sao leo lên vị trí lãnh đạo. Có như vậy thì cuộc đời họ mới hạnh phúc, ăn mới ngon, ngủ mới yên. Nhưng họ đâu có dừng lại được, họ đâu biết rằng, hạnh phúc đang nằm trong tầm tay mà không biết thưởng thức, hưởng thụ mà đi tìm một cái bóng hạnh phúc mờ ảo xa vời không thể nắm bắt.

Thầy say sưa nói như trút bầu tâm sự, như đang nói cho chính mình nghe vậy. Thầy ngừng lại, im lặng một hồi lâu rồi hỏi:

– Các con có hiểu về tư niệm thực không?

– Dạ hiểu ạ.

– Do đó khi một ước muốn phát khởi trong tâm các con phải nhìn nó, xem thử đây là anh bạn lành cần được gần gũi hay là người bạn không tốt có thể dẫn dắt mình đi về nẻo đường tiêu cực. Khi các con lớn lên các con sẽ thấy sức mạnh của tư niệm thực rất lớn. Bụt ví dụ tư niệm thực như một người bị hai lực sĩ lôi kéo vào hầm lửa. Hầm lửa là những khổ luỵ nhưng người đó không thể nào cưỡng lại được.

Tâm An hỏi:

– Vậy người đó có chết không Thầy?

– Chết là có chắc rồi, Tâm Từ nhìn Tâm An nói.

– Thưa thầy, nếu mình ước muốn thiện thì làm sao mà kéo vào hầm lửa được. Ước muốn tốt thì hầm lửa sẽ biến thành hồ sen phải không Thầy?

Thầy cười gật đầu, rồi thầy trầm tư. Ước  gì các con của thầy lớn lên thầy sẽ nói cho các con biết rằng đã khởi lên một ước muốn dù thiện hay bất thiện  thì các con đều phải trải qua cam go thử thách, cũng thử thách như nhau, nhưng ý nghĩa khác nhau. Giá mình nói được cho các con hiểu pháp thực tập vô cầu, vô nguyện… để các con đi thẳng vào cánh cửa giải thoát. Còn quá sớm, các con của thầy còn quá nhỏ để nói điều này. Nhiều khi thầy muốn cho các chú sống trong bầu trời tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng sống hết mình với tuổi thơ thần tiên này. Thầy không muốn đưa quá nhiều giáo điều vào cuộc sống vốn tự tại của một đứa trẻ. Những điều đó cũng giúp ích tạo một hành lang để dẫn dắt các chú. Nhưng cũng làm các chú già đi, cái đầu óc bé nhỏ ấy phải suy tư bao nhiêu chuyện. Cho nên thầy chỉ đưa ít ít mỗi ngày thôi. Còn lại là không gian của chúng tha hồ vui chơi

Tâm Chánh cất tiếng hỏi cắt đứt sự suy tư của Thầy:

– Thầy ơi! Còn loại thức ăn cuối cùng nữa, thầy nói luôn đi thầy.

– À! Còn thức ăn thứ tư là thức thực. Đây là loại thức ăn sâu kín nhất, và tế nhị nhất trong bốn loại thức ăn. Nó được biểu hiện ra môi trường sống và con người của mình. Trong nhà Phật gọi là y báo và chánh báo. Y báo là môi trường xung quanh ảnh hưởng tới mình, khi con sống với một nhóm bạn suốt ngày lêu lổng, quậy phá thì con cũng quậy phá giống các bạn. Khi con ở chung với các anh chị trong chùa thì các con sẽ được nuôi dưỡng thành những đứa trẻ ngoan hiền. Thầy nhớ câu chuyện thời xưa rất hay. Lúc Mạnh Tử còn nhỏ, Mạnh Tử là một nhà hiền triết của Trung Quốc, nhà của cậu ở gần khu chợ, một hôm mẹ cậu nghe con mình nói chuyện, hành xử như những người ngoài chợ, không mấy thanh lịch. Bà mẹ đã biết con mình bị ảnh hưởng môi trường không lành mạnh và bà quyết định đổi nhà. Bà dọn về một nơi yên tĩnh hơn nhưng lại gần nhà mai táng. Một thời gian sau bà thấy Mạnh Tử có những biểu hiện dễ buồn, dễ khóc, chẳng lo học, suốt ngày chạy theo đám bạn để xem các đám tang. Bà lại một lần nữa thay đổi chỗ ở, lần này bà quyết định mua một căn nhà gần trường học. Từ khi ở nơi mới, Mạnh Tử thấy các bạn hằng ngày ôm sách đến trường, cậu ta bắt đầu học theo, từ đó rất ham học, sau này trở thành một trong những hiền nhân của Trung  Quốc. Qua câu chuyện này các con sẽ thấy môi trường sinh sống sẽ ảnh hưởng đến con ngưới của mình rất nhiều. Còn chánh báo tức là con người của chúng ta. Con người của chúng ta không chỉ đơn thuần là hình hài, thân thể này mà còn cả tâm thức của mình. Trong tâm thức của con người có rất nhiều hạt giống buồn, thương, giận, ghét,… Do đó khi gặp điều kiện thì các hạt giống này phát khởi. Các con cứ tưới tẩm nhiều thì các hạt giống này nẩy mầm và phát triển, thì các con sẽ tạo nên tính cách dễ giận hờn, buồn bực. Trái lại các con tưới tẩm hạt giống tốt thì các con sẽ hành xử một cách dễ thương hơn, đẹp hơn, thanh lịch hơn. Cũng giống như Mạnh Tử trong cậu ta có một cậu bé thích lêu lổng, dễ buồn, dễ giận, dễ khóc nên gặp điều kiện sống gần môi trường suốt ngày thấy người ta buồn rầu than khóc, thì cậu ta cũng vô tình tưới tẩm hạt giống không lành này. Nhưng cũng chính Mạnh Tử có một cậu bé ngoan, hiền nên khi được tưới tẩm trong môi trường tốt hạt giống lành được nuôi lớn trở thành con người tốt. Trong chúng ta ai cũng có đầy đủ hạt giống thiện và bất thiện, chúng ta chỉ cần biết chăm sóc vườn tâm của mình cho hoa thơm trái ngọt lớn mạnh, cỏ rác ngày càng ít thì con người mình ngày càng đẹp, càng thánh thiện. Các ước muốn của các con đang ngày càng thành tựu. Thôi để khi nào các con lớn hơn chút nữa Thầy sẽ giảng giải cho các con. Kinh Bốn Loại Thức Ăn  này là một sự thực tập rất căn bản, nhưng rất là sâu xa, vi diệu. Càng thực tập các con càng khám phá ra chiều sâu thăm thẳm của nó.

Thời gian ngồi bên thầy trôi qua rất nhanh, ông mặt trời đã lên cao, gửi những tia nắng mạnh mẽ xuống núi đồi. Những ngày hè cứ trôi đi như thế, các chú được sống bên nhau, cùng chơi cùng học. Các chú biết mùa hè sắp hết rồi. Sắp đến năm học mới, các chú phải đến trường. Thầy nói thầy đã xin cho các chú nhập học ở một ngôi trường làng gần chùa. Ba chú ba lớp khác nhau. Từ đây ba chú sẽ có thêm nhiều người bạn mới, họ khác các chú, họ đi học với quần xanh, áo trắng. Còn các chú đi học với bộ đồ vạt hò ở trong, chiếc áo dài dành cho các điệu ở ngoài. Những ngày sắp tới đang chờ đón các chú. Nó còn nhiều điều mới mẻ nữa, không còn nhiều thời gian vui chơi, đi thiền, ngồi bên thầy nhiều như những ngày hè. Cuộc sống mới có chút chút thay đổi nhưng không thiếu những buổi ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm chánh niệm, nghe chuông,… Tất cả những thứ đó là những thức ăn bổ dưỡng mà các chú cần được cung cấp mỗi ngày.Nháy mắt

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Chương 4: Những chiếc bình ngồi yên

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 6: Phá vỡ bức tường vô hình

Những chiếc bình ngồi yên

 

CHƯƠNG 4

Những chiếc bình ngồi yên

 

Những ngày mới vào chùa, Tâm An ngạc nhiên không hiểu tại sao Thầy và hai anh sáng sáng lại ngồi yên. Chú nghe nói ngồi thiền thì phát sinh trí tuệ, nhưng làm sao tin được kia chứ, cứ ngồi như vậy chán lắm, buồn ngủ nữa. Ấy thế mà ngày hai lần luôn, một lần buổi sáng sớm, một lần buổi tối. Mỗi khi ngồi yên đến ba mươi phút, lâu ơi là lâu. Hai chân thì đau, ngồi yên như thế sao Thầy thích thú đến thế nhỉ? Có nhiều khi Tâm An thấy Thầy ngồi bất động hàng giờ. Thầy nói nếu một ngày không được ngồi yên là Thầy bị đói, bị mất năng lượng gì đó. Ngồi thiền là thức ăn không thể thiếu của Thầy. Nhưng đối với cả ba chú, ngồi thiền là một thức ăn khó nuốt, chẳng ngon lành gì. Tâm An cũng không biết mình phải làm gì trong thời gian đó cả.

Mọi thắc mắc của chú được Thầy trả lời trong một buổi nghe Thầy chia sẻ ngồi thiền:

– Các con! Ngồi thiền không như các con ngồi từ trước đến nay, thầy thấy các con lúc thì cựa quậy, đứa thì ngủ gục, đứa thì nhìn quanh, nhìn quất chẳng có yên cái thân chút nào cả. Tâm Chánh! Con nói cho Thầy nghe tư thế ngồi của một người tập thiền ngồi như thế nào?

Tâm Chánh giật mình, tự nhiên Thầy lại hỏi bất ngờ quá, chú chắp tay ngừng im lặng một lúc rồi thưa:

– Dạ con kính thưa Thầy! Khi ngồi lưng phải cho thẳng, đầu không ngửa ra sau, cũng không cúi xuống. Xếp hai chân lại, chân trái để lên bắp vế chân phải và ngược lại.

– Các con ngồi cho Thầy xem

Cả ba ngồi trên chiếc bồ đoàn con con, xếp chân ngay ngắn trong tư thế kiết già. Hai tay đặt nhẹ lên nhau. Thầy đi đến từng chú chỉnh sửa cho ngay ngắn. Rồi bảo:

– Các con phải ghi nhớ tư thế này, nếu thấy mình bị nghiêng, bị ngã ra sau, hoặc bị chồm tới phía trước thì phải điều chỉnh lại, các con phải ngồi buông thư không nên gồng lên, hoặc căng lưng quá. Các con có cảm thấy thoải mái trong tư thế này không?

– Dạ không ạ!

Thầy hiền lành cười, rồi bảo:

– Dần dần các con sẽ quen, quen rồi đến thích. Đây là tư thế ngồi lý tưởng nhất đó các con. Chịu khó tập lúc đầu mình ngồi được mười phút, mỗi ngày mình tập thêm hai phút thôi thì một thời gian sau các con có thể ngồi được hàng giờ mà không thấy khó chịu, gò bó. Đây chỉ là tư thế ngồi thôi, mình mới chỉ điều cái thân cho nó yên vị thôi. Tiếp theo các con theo dõi hơi thở. Thở vào con biết đây là hơi thở vào, thở ra con biết đây là hơi thở ra. Các con tập như vậy trước, khi nào các con biết cách theo dõi hơi thở thì mình sẽ tập thêm. Hàng tuần Thầy sẽ hướng dẫn một buổi thiền ngồi, các con nên làm theo lời khai thị. Thật ra đối với thực tập thiền, tập sống chánh niệm thì khó mà diễn tả rõ ràng. Sẽ có lúc các con tự biết được thực tập như thế nào là đúng. Chẳng hạn khi thầy chia sẻ hơi thở, mình nên thở tự nhiên không gò ép, mình chỉ là xem hơi thở nó dài ngắn như thế nào chứ không phải là tác động lên hơi thở để nó theo ý mình. Tuy nói như vậy cho các con biết nhưng Thầy biết là các con còn rất mơ hồ về hơi thở của mình. Điều lạ là khi thực tập một thời gian thì các con cảm được, chứng nghiệm được. Con người mình có một khả năng tự biết. Khả năng này sẽ dạy cho ta biết làm gì và không nên làm gì. Đó là nhờ năng lượng của chánh niệm. Chánh niệm có công năng nhận biết, có thể trở thành vị thầy giỏi hướng dẫn chúng ta đi đúng đường. Khi mình thực tập sai lệch chẳng hạn, thì tự nhiên mình biết được rằng sự thực tập của mình đang có vấn đề cần được tham vấn, cần được điều chỉnh.

Nghe Thầy chia sẻ mới bước khởi đầu thôi mà có nhiều từ ngữ xa lạ với Tâm An, chú cảm thấy rất khó hiểu nào là “khai thị”, “nhận biết”, “năng lượng”, “công năng”, “tham vấn”, “điều chỉnh”… có quá nhiều từ loạn xạ cả lên. Tại sao người lớn rắc rối thế không biết? Họ đặt ra bao nhiêu là thứ để rồi cứ luẩn quẩn với một mớ ngôn từ xa lạ. Mình không thể biết được, mệt quá đi mất thôi. Người lớn thật là rắc rối, mình chẳng muốn làm người lớn chút nào. Giá như mình được làm con nít mãi thì thích biết mấy. Nhưng theo luật vô thường thì mình phải lớn lên thôi. Chán quá! Ừ! Mình lại suy nghĩ bậy bạ nữa rồi. Đầu óc đi chơi xa quá, về lại đi Tâm An.

– Tâm An! Thầy hỏi, con có hiểu những gì Thầy nói không?

– Dạ con thưa Thầy, không ạ. Con chẳng hiểu chút nào hết, có quá nhiều từ con chẳng quen, mà hình như chúng cũng không thích con nữa. Thầy ơi! Chắc con không ngồi thiền được đâu.

– Thầy biết là quá nhiều khái niệm xa lạ nhưng Thầy phải đưa vào cho các con làm quen. Rồi Thầy trò mình cùng làm thử một thời gian, các con sẽ có nhiều điều bổ ích từ ngồi thiền này.

Từ đó, sáng nào ba chú đều phải ôm bồ đoàn theo Thầy ngồi thiền dù hiểu sơ sơ thôi chưa tới đâu cả, nhưng bây giờ cả ba đều biết được thế ngồi vững chãi hơn, ít loay hoay hơn. Anh Tâm Chánh còn biết theo dõi hơi thở nữa. Anh chỉ tập khi thấy hơi thở vào thầm nhẩm theo hơi thở vào… vào… vào, hơi thở ra anh thầm đọc ra… ra… ra. Làm được điều này anh Tâm Chánh bắt đầu thích thú thiền ngồi. Anh đã cảm nhận được một chút niềm vui nên anh chia sẻ:

– Các em không nên chán. Thiền ngồi còn đặc biệt hơn cả các thiền khác. Anh cảm thấy sự yên tĩnh của Thiền ngồi mang lại rất lớn. Anh đã theo dõi hơi thở được thì anh tin các em cũng sẽ làm được. Thiền ngồi là cách giúp ta lắng đọng mọi tâm tư, mọi suy nghĩ lăng xăng thông qua hơi thở. Ta chỉ để ý đến hơi thở thôi. Khi nào có suy nghĩ nào đó khởi lên, ta chỉ biết có suy nghĩ khởi lên rồi dừng lại mà không bị kéo theo suy nghĩ đó, quay về lại với hơi thở. Các em, trò chơi này cũng lý thú lắm đó. Anh thích nó, khám phá ra được sự tuyệt vời của ngồi thiền nhờ vào hồ cá của chùa. Một hôm nhìn hồ nước trong xanh, mặt hồ yên tĩnh anh đã hỏi Thầy:

– Dạ con kính thưa Thầy! Tại sao hồ nước lúc này trong như vậy ạ?

– Đó là do mặt hồ tĩnh lặng, các bụi dơ, rác bẩn lắng xuống lòng hồ trả lại dòng nước xanh, cũng vậy khi ngồi thiền là các con tự làm cho hồ tâm của mình lắng xuống những suy nghĩ lăng xăng, những cấu bẩn của tâm hồn, trả lại một hồ tâm trong sáng, khi đó tâm các con có thể phản chiếu tất cả mọi sự vật như thật, không bị bóp méo. Con nhìn xem, cảnh vật được phản chiếu dưới mặt hồ không bị méo mó, rất đẹp. Nếu có gió thổi ngang qua thì mặt hồ gợn sóng, mọi thứ bị phản chiếu đều trở nên khác đi, không thật đúng không con?

– Dạ thưa đúng ạ!

– Cũng vậy, khi ngồi yên tâm thức tĩnh lặng, con sẽ cảm nhận mọi vật, mọi hiện tượng một cách chân thật hơn, khách quan hơn, rõ ràng hơn. Khi có các tâm hành buồn, thương, giận, ghét, ganh tỵ, sợ hãi… nổi lên trong tâm thì tâm thức các con đã bị xao động như mặt hồ gợn sóng, cho nên các con không thể nhìn nhận mọi chuyện một cách trung thực được mà bị các tâm hành này thì thầm to nhỏ, tạo ra một cái nhìn lệch lạc. Do đó, một người tu là người biết giữ cho hồ tâm mình tĩnh lặng, để luôn sáng suốt trong mọi hoàn cảnh, mọi lúc, mọi nơi.

Tâm Chánh kể lại một cách hứng thú, chú thổi vào lòng Tâm Từ, Tâm An một sự thích thú, một sự tò mò về pháp môn ngồi thiền. Hai chú tròn mắt nhìn anh Tâm Chánh chia sẻ say sưa. Hình ảnh mặt hồ tĩnh lặng rất dễ hiểu. Tâm An bây giờ hết suy nghĩ là người lớn chỉ nghĩ ra những chuyện chán ngắt nữa. Họ tìm ra những thứ kỳ lạ làm sao, nhưng con nít cũng tìm ra nhiều thứ trò chơi cũng hay không kém người lớn đâu nhé. Việc ngồi yên, lắng lòng này được các chú biến hóa thành trò chơi cái bình đựng cát sỏi và nước. Mỗi chú đều tìm cho mình một cái hũ thủy tinh, đổ vào đó một phần ba cát và sỏi nhỏ, còn lại hai phần ba là nước, lắc lên, làm cho bình nước đen sì, đục ngầu, rồi để xuống cho bình nước ngồi yên. Cái bình nước ngồi yên rồi thì những hạt sỏi, hạt cát dần dần lắng xuống. Ngồi theo dõi những diễn biến của cái bình nước các chú cảm thấy vui vui. Từ đó, mỗi lần ngồi thiền, ngoài việc ôm bồ đoàn cả ba chú còn ôm luôn cái bình nước. Cái bình nước ngồi thiền rất giỏi, khoảng ba ngày là mặt nước trong vắt không một hạt bụi. Mỗi lần đi ngồi thiền với cái bình nước, các chú phấn khởi lắm, chuyện ngồi thiền không còn chán nữa.

Chỉ một tuần thôi, thì Thầy gọi ba chú vào hỏi:

– Các con đi ngồi thiền với bình nước thấy thế nào?

– Dạ kính thưa Thầy, chúng con thấy vui hơn, ngồi nhìn nó đỡ chán hơn.

– Vậy các con có theo dõi hơi thở khi nhìn không? Các con đã nghĩ gì lúc đó?

Tâm Chánh trả lời:

– Dạ con kính thưa Thầy, con có theo dõi nhưng chỉ một lúc là quên, con bị cái bình cuốn hút, con tự hỏi nhiều câu hỏi: Tại sao nó lại như vậy nhỉ? Tại sao hạt sỏi lớn là rớt xuống trước, còn cát bụi thì lắng từ từ. Tại sao? Tại sao…? Nhiều thứ lắm Thầy ạ.

Tâm Từ thưa:

– Dạ con kính thưa Thầy, con chỉ ngồi nhìn thôi chẳng thở gì cả. Cái bình nó lắng rồi, cái bình ngồi thiền dùm con rồi. Con nhìn cái bình nghĩ mình nên trang trí nó thành một con người, cho cái bình hai con mắt, một cái mũi, cái miệng, thêm cái mũ nữa thì hay lắm. Con định cho nó hai cái tay nữa, cái bình sẽ đẹp hơn, sinh động hơn.

Nghe Tâm Từ chia sẻ, hai chú còn lại cười. Rồi đến lượt Tâm An, chú chắp tay thưa:

– Dạ con kính thưa Thầy, con chỉ ngồi nhìn lúc nhớ thì thở lúc không nhớ thì thôi. Con đã chờ xem cái bình này lắng bao lâu là nước trong. Khi nước trong rồi con lại lắc nó và để xuống lại và khám phá ra thời gian lắng của cái bình nhanh hơn. Lần đầu con để mất ba ngày, lần thứ hai con thấy còn có hai ngày thôi. Con chẳng làm gì cả chỉ ngồi chờ nó lắng.

– Vậy con có suy nghĩ gì không?

– Dạ con kính thưa Thầy, con thấy nhiều thứ lắm, lúc con nghĩ đến ba mẹ, lúc con nhớ đến con mèo đang bị đau, khi con nhớ những chuyện đâu đâu không à.

– Các con! Các con ngồi thiền với cái bình nước này cũng được, nói như Tâm Từ thì cái bình ngồi thiền, lắng trong còn các con thì không. Trong tâm các con còn nhiều suy nghĩ lăng xăng đủ kiểu giống như bình nước bị khuấy động nên còn nhiều bụi dơ. Thầy sẽ chỉ cho các con cách ngồi chơi với cái bình nhé.

– Dạ. Các chú hồ hởi lắm. Thầy lại bày trò chơi mới cho mình sẽ đỡ chán, chứ trò chơi cái bình này cũng cũ lắm rồi. Nhìn các chú háo hức chờ đợi Thầy cầm một cái bình nước lên và trong tay có vài hòn sỏi nhỏ xíu. Thầy đặt tên cho từng viên sỏi nào là: tán loạn, ganh tỵ, thất niệm, suy tư, vui mừng, hờn giận, từ bi, hiểu biết… rồi thả vào trong bình. Thầy từ tốn giảng giải.

– Các con, điều Thầy cần nhắc các con là lúc ngồi thiền mình nên theo dõi hơi thở, khi các con theo dõi mà đừng nghĩ về cái bình trước mặt, hãy nhìn cái bình trong con người mình nó lắng dần lắng dần. Khi các con thấy mình suy nghĩ lung tung bỏ quên hơi thở con tự nhìn vào cái bình này và gọi tên viên sỏi thất niệm, chào bạn và gọi: “Thất niệm, chào bạn mình đã thấy bạn rồi” thì tự nhiên mình nhớ quay lại hơi thở cứ như vậy khi nào tâm hành muốn loay hoay, cựa quậy các con gọi: “Trạo cử, chào bạn” có thể mỉm cười với nó cũng tốt. Các con sẽ cảm thấy mình giống như một người lính canh gác, khi có ai bước đến cổng anh ta đứng dậy chào và biết rõ người nào đi vào đơn vị mình. Các con là những chú lính nhỏ canh gác tâm ý và gọi tên mỗi suy nghĩ, nhìn thấy viên sỏi mình gọi tên bằng cách:

Thở vào, con biết con đang buồn ngủ.
Thở ra, con đã thấy viên sỏi buồn ngủ rồi
Thở vào, chào bạn sỏi buồn ngủ
Thở ra, con mỉm cười với bạn sỏi buồn ngủ.

–  Các con có thích trò chơi mới này không?
–  Dạ có

Thầy gật đầu cười, ngày mai các con làm thử nghen.

Các chú vui lắm, có trò chơi mới rồi, mình khỏi phải nghĩ ra trò để chơi trong giờ ngồi thiền nữa.

Sau khi các chú chào Thầy về phòng, Thầy ngồi im nhìn lũ trẻ thấy thương chi lạ, chúng nó trong sáng quá, hướng dẫn cho con nít mình phải tùy duyên, phải chế biến các pháp môn thành các trò chơi thì mới làm cho chúng thích thú. Ừ! Mà mình cũng là một đứa con nít lớn tuổi đó thôi, mình cũng thích bày trò để chơi mà, Thầy ngâm nga.

“Chẳng biết rong chơi miền Tịnh Độ,

làm người một kiếp cũng như không”.

Thầy nghĩ hôm nào đó đi xuống phố, Thầy sẽ mua một số đồ chơi cho các chú nào là diều, con cubik hay trò chơi ghép hình và một quả bóng nữa. Các chú chắc thèm đá bóng lắm. Các chú còn bé cũng cần được chơi thể thao để rèn luyện thể chất. Nghĩ đến đó Thầy mỉm cười một mình, trong lòng hạnh phúc dâng tràn.

Lần đầu tiên được thực tập thiền hướng dẫn, Tâm An thấy hay hay, những lời hướng dẫn đầy hình ảnh thi ca:

Thở vào tôi thấy tôi là một bông hoa
Thở ra tôi cảm thấy tươi mát

Sau hai câu Thầy tóm lại

Thở vào là hoa
Thở ra tươi mát

 

Rồi Thầy thỉnh một tiếng chuông. Thỉnh thoảng Thầy hướng dẫn thêm câu khác.

Thở vào tôi thấy mình là núi
Thở ra tôi thấy mình vững vàng

 

Hoặc câu:

Thở vào tôi thấy mình là nước
Thở ra tôi thấy mình tĩnh lặng

 

Hoặc:

Thở vào tôi thấy tôi là không gian
Thở ra tôi thấy tôi thênh thang

Khi nghe những câu đó, Tâm An cảm thấy khó thực hành quá, nghe thì hay nhưng làm chẳng được. Khi bảo mình là hoa, đầu óc chú loạn xạ cả lên, mình sao là bông hoa nhỉ? Vậy đâu là cánh hoa? Đâu là nhụy hoa? Kỳ nhỉ bông hoa mà là con người ư? Mình là con người mà, mình đâu phải là một bông hoa. Thầy có lộn không nhỉ?

Đến lúc là núi thì chú cảm thấy khá hơn, chú thấy thế ngồi của mình như một ngọn núi, vững chãi, hiên ngang làm sao.

Thiền hướng dẫn trở thành một điều bí hiểm mà các chú cần khám phá, nó là một bài toán khó cho các chú. Tâm Chánh tự hỏi tại sao mình không thở vào thở ra thôi thì dễ hơn nhiều lắm. Còn Tâm Từ thì chia sẻ:

–   Khi nghe là hoa, em tưởng tượng mình là một bông hoa. Thân mình là nhụy nè, rồi tay chân là cánh. Em tưởng tượng mình mọc thêm nhiều cánh nữa cũng được, tùy sở thích của mình. Em muốn mình tưởng tượng là hoa gì thì tưởng tượng ra hoa đó.

Tâm An ngạc nhiên:

–   Vậy ngồi thiền là tưởng tượng ư? Em không nghĩ vậy đâu. Hôm nào mình sẽ thưa với Thầy để Thầy giải thích nghen?

–   Ừ, thôi đừng nghĩ nữa. Mệt quá.

Chưa hết đâu nhé. Nếu không bị suy nghĩ lung tung thì bị ngủ gục. Các chú cứ đồng ý không điều kiện. Tâm Chánh thì như cối giã gạo, lúc nào cũng gật gù lên xuống đều đặn. Tâm Từ lắc lư như quả lắc đồng hồ. Còn Tâm An thì xoay tròn như cối xay gió vậy. Mỗi chú một kiểu. Các chú cố gắng lắm mới tỉnh được một chút. Hai con mắt như hai cục đá nặng kéo mí mắt xuống. Khi khép lại rồi thì bị dính cứng như được dán keo supper mở ra không được. Cả ba chú đều chứng được “ngủ thiền” này. Nhiều khi Tâm An muốn được nằm lăn ra ngủ một giấc ngon lành cho sướng chứ cà giựt, cà giựt vậy mệt lắm. Tình trạng “thiền mi” này kéo dài hơn một tuần. Thầy đã dạy cho các chú cách chống lại con mắt, cái đầu của mình:

–   Các con, khi các con buồn ngủ, hãy cố gắng mở mắt ra, đừng nhắm lại, lấy tay xoa vào mắt, vào hai tai. Nếu tiếp tục buồn ngủ thì quỳ lên. Nhưng từ hôm nay, buổi tối các con nên ăn những món ăn nhẹ, không nên ăn ngọt, ăn ít lại một chút sẽ giúp các con tỉnh táo hơn.

Các chú vâng dạ. Nhưng rồi chứng nào tật ấy, điệp khúc gà mổ, cối xay vẫn cứ tái diễn liên miên.

“Trời ơi! Sao lại đặt ra cái cách ngồi, cách tu gì mà kỳ quái quá đi.”. Nhiều khi chiến đấu không lại “cái thằng giặc ngủ” các chú tỏ ra bất bình. Mỗi buổi sáng, nghĩ đến giờ ngồi thiền mà chán. Thầy hiểu, tuổi các chú giờ là tuổi ăn tuổi ngủ nên cảm thông. Mọi khi Thầy cho ngồi thiền bốn giờ sáng bây giờ Thầy cho các chú ngủ đến bốn giờ ba mươi và bắt đầu ngồi thiền năm giờ. Thầy tập cho các chú quen dần, từ từ sẽ nâng thời gian thức chúng trở lại như cũ.

Hiếm khi nào các chú được cảm giác nhẹ nhàng, an lạc, nhưng không phải là không có. Có hôm, Tâm Chánh sau giờ ngồi thiền về phòng mà mặt mày tươi như hoa, nhìn chú hạnh phúc Tâm Từ và Tâm An thì thầm bảo nhau: “Anh Tâm Chánh chắc ngộ đạo rồi, nhìn anh ấy phơi phới, vui vẻ quá đi, sướng thật.” Tâm An ngớ ngẩn hỏi:

–    Anh Tâm Từ, người ngộ đạo là thành thiền sư phải không?

–   Ừ, chứ sao, là Tổ nữa đó.

–    Vậy mình gọi anh Tâm Chánh là Tổ nhé, xin anh khai ngộ cho mình biết đâu anh chỉ cú, chỉ đánh mình một cái mà mình cũng ngộ đạo thì hay biết mấy.

Tâm Từ nhe răng cười rồi nói:

–    Đưa anh cốc cho một cái để em ngộ đạo.

Vừa nói Tâm Từ vừa đưa tay về phía đầu của Tâm An, chú giơ tay né tránh rồi nói:

–    Anh đâu phải thiền sư, em không cho cốc đâu. Anh cốc em, em còn ngu thêm, đạo thì không thấy mà chỉ thấy đau thôi. Anh ngộ đạo đi em sẽ đặt pháp hiệu là Thiền sư Cốc, nghe cũng oai phong chứ bộ.

Chú vừa nói vừa cười ngặt nghẽo rồi giả bộ chào:

–    Chào Cốc thiền sư, xin thầy khai ngộ cho con.

Lúc đó Tâm Từ giơ tay định cốc chú một cái nhưng Tâm An tránh được. Hai chú ôm nhau cười.

–   Cốc thiền sư! Cốc thiền sư mà cốc hụt. Tâm Chánh lúc này mới lên tiếng. Hai chú quay sang anh Tâm Chánh tò mò hỏi:

–    Anh Tâm Chánh! Anh ngộ đạo rồi à?

Tâm Chánh phì cười lắc đầu:

–     Ngộ cái con khỉ.

–     Chứ sao mặt mày anh hớn hở thế kia?

–     Ừ! Hôm nay anh cảm thấy hạnh phúc, bình an trong giờ ngồi thiền. Anh thích lắm, không ngờ ngồi thiền đem lại sự an lạc đến như vậy. Trong lòng anh thấy mừng vui.

–     Anh sướng ghê! Không bị buồn ngủ.

–     Đâu có phải lúc nào cũng được như vậy đâu. Mười hôm thì hết chín hôm là ngủ, không ngủ thì cứ suy nghĩ tùm lum. Anh nghĩ sẽ có lúc mình đạt được trạng thái đó, đến bây giờ mới thấy chút chút thôi. Thầy nói: “Thực tập lâu ngày, mình sẽ thấy ngồi thiền nuôi dưỡng mình nhiều lắm đó”.

Tâm An cười, trong đầu chú lóe lên một trò đùa mới, chú nói:

–     Anh Tâm Từ khi ngộ đạo sẽ lấy tên là Cốc thiền sư còn anh tên gì?

–    Anh không muốn ăn Cốc đâu, chua lắm. Sau này lỡ có đệ tử mới nói kính bạch Cốc thiền sư thì nước miếng chảy dài, nuốt ừng ực chẳng hỏi được gì cả. Anh chưa nghĩ ra.

–    Anh hay cù lét người ta cười muốn chết hay anh lấy tên là Cù thiền sư đi. Sau này đệ tử tới hỏi đạo anh chỉ cần cù lét cho nó cười, cười ngất có khi chứng đạo đó nghe.

–    Trời! Thầy mà nghe anh em mình sau này trở thành thiền sư Cốc, thiền sư Cù lét, thiền sư Nhéo chắc Thầy sợ chúng mình luôn. Thầy trao truyền kiểu gì mà chúng nó ngộ toàn là cốc, nhéo, cù lét thôi.

Cả ba ôm bụng cười ha hả.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 5: Nuôi dưỡng thân tâm

Vũ điệu của đôi chân

CHƯƠNG 3

Vũ điệu của đôi chân

Thế giới này thật là kỳ lạ, có những điều tưởng chừng như cũ rích, cổ lỗ sĩ, quá thân quen, gần gũi đến độ chúng ta cảm thấy sự có mặt của chúng là điều tất nhiên, chẳng có gì hay ho để chúng ta chú ý, quan tâm cả. Chỉ vì chúng ta cứ nghĩ còn quá nhiều điều mới mẻ khác đang chờ chúng ta khám phá, tìm hiểu. Nào ngờ đâu, từ những điều bình thường ấy, Thầy đã mở ra một khung trời mới mẻ, mầu nhiệm biết bao. Nơi đó, đôi chân chúng ta tạo nên nhiều điều kỳ diệu, như một nhà họa sĩ với cây cọ của mình vẽ lên mặt đất những đường nét tuyệt tác của mình. Tâm An rất thích những bước chân của mình, đối với chú bước chân không phải là cây cọ vẽ mà là những vần thơ đi theo chú trong suốt con đường thiền hành mỗi sáng. Những câu thơ chạy dài được đệm bằng những bước chân đặt nhẹ như hôn vào mặt đất. Khi bước một bước chú thầm đọc: “Đã về, đã về” bước tiếp theo “đã tới, đã tới” từng bước, từng bước chậm rãi, nhẹ nhàng. Chú cảm nhận rõ lòng bàn chân tiếp xúc với mặt đất. Chú rất thích trò chơi này, bởi mỗi bước chân như một sợi dây dệt nên một bài thơ đẹp:

“Đã về, đã tới

Bây giờ, ở đây

Vững chãi, thảnh thơi

Quay về, nương tựa.

Nay con đã về

Nay con đã tới

An trú bây giờ

An trú ở đây

Vững chãi như núi xanh

Thảnh thơi dường mây trắng

Cửa vô sinh mở rồi

Trạm nhiên và bất động.”

Lời bài thơ rất hay, nhưng Tâm An chưa hiểu hết được. Ngộ nhỉ? Dù không hiểu hết nhưng vẫn cứ thích như thường. Chú nhớ hôm Thầy dạy thiền hành Thầy có nói:

– Đây là một phương pháp giúp ta trở về khám phá chính mình, rồi các con sẽ thấy sự kỳ diệu của đôi chân. Trước tiên, các con phải đặt tâm ý xuống lòng bàn chân, đi từng bước vững chãi, cảm nhận sự tiếp xúc giữa bàn chân với mặt đất. Ta đi thật tự nhiên, chánh niệm giúp ta đi an lạc và thảnh thơi như đi trong Tịnh Độ. Nếu cần đi đến đâu, dù khoảng cách không xa, ta cũng nên sử dụng phép đi thiền này. Phép thực tập này giúp ta sống sâu sắc trong từng phút giây của đời sống hàng ngày. Các con có thể kết hợp hơi thở với bước chân.Ví dụ như: thở vào ta bước hai bước, thở ra ta bước ba bước. Để hơi thở tự nhiên, không gò ép theo số lượng bước chân. Nếu hơi thở ngắn ta bước hai bước, hơi thở dài bước ba hay bốn bước tùy theo hơi thở của mình. Hoặc các con có thể bước theo bài thi kệ thiền hành như bài “đã về, đã tới”…

Với Tâm An, thì bước theo bài thơ là thích nhất, chú chưa thể theo dõi hơi thở và bước chân được. Lúc đầu chú đã thử nhưng đi một lát thấy mệt mỏi, tức ngực, khó thở. Chú chia sẻ với Thầy, Thầy bảo: chú đã gò ép hơi thở ,cố kéo dài ra nên có hiện tượng này xảy ra. Tâm An cảm thấy không thích thú với trò chơi này lắm, nên chú đổi lại bước theo bài thơ. Thế mà hay ra phết nhé! Tâm An cảm thấy vui, thấy thích giờ thiền hành hơn trước nhiều.

Đừng tưởng là bước chân chỉ có vậy thôi đâu. Còn rất nhiều điều mới lạ trong bước chân nữa. Hôm bốn thầy trò Tâm An ngồi lại với nhau, nói cho nhau nghe kinh nghiệm thực tập thiền hành. Tâm An rất sung sướng khi biết được nhiều điều kỳ diệu của đôi chân. Chú rất thích cách đi thiền của anh Tâm Từ. Anh Tâm Từ nghệ sĩ lắm, anh đã đi theo bài hát thầm. Tâm Từ chia sẻ:

– Dạ con kính thưa Thầy! Con đi thiền hành rất vui, con thấy đôi chân mình nhịp nhàng như đang nhảy theo một vũ điệu nào đó. Từ đó con không đọc thi kệ và hát các bài thiền ca chậm rãi và hai chân trở thành những bước nhảy kiểu mới, con thích gọi nó là vũ điệu của đôi chân. Không phải như các ca sĩ nhảy đâu, không phải Rock, Hiphop như lúc trước con biểu diễn cho hai anh xem đâu. Có lẽ đây là vũ điệu của bình an, của hòa bình, của những gì đẹp nhất, lành nhất mà con được biết. Dạ kính thưa Thầy, điều kỳ lạ từ lúc đó con còn khám phá ra rằng đôi chân cũng là một loại nhạc cụ đệm vào trong dòng thiền ca tuôn chảy. Một loại nhạc cụ kỳ lạ mà chưa nhạc sỹ nào tìm ra cả, nó tạo ra các khoảng lặng trong lòng, nó làm cho câu hát không vội vã mà trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát. Con để ý kỹ thì thấy khoảng cách giữa hai bước chân có một dấu lặng nhỏ xíu, mỗi lần nhận được, bắt gặp được khoảnh khắc bé nhỏ đó trong con luôn rúng động, hạnh phúc lâng lâng khó tả. Thật là tuyệt diệu. Dạ con kính thưa Thầy và các anh, con đã chia sẻ sự thực tập thiền hành của mình. Con xin Thầy từ đây cho con đặt tên pháp môn thiền hành này là vũ điệu của đôi chân nhé.

Tâm An nhìn anh Tâm Từ khâm phục lắm. Anh nói như một nhạc sỹ tài ba lỗi lạc đang bình phẩm về tuyệt tác của mình, say sưa, tràn đầy cảm hứng. Nghe Tâm Từ chia sẻ, Thầy vui lắm. Thầy biết Tâm Từ có năng khiếu âm nhạc, Thầy sẽ tưới tẩm và cho chú học nhạc để phát triển tài năng bẩm sinh của chú. Nhưng Thầy biết chưa đến lúc, Thầy muốn chú có chiều sâu tâm linh làm nền tảng trước, thì âm nhạc mới có chất thiền vị, mới đẩy tả được hạt giống thanh lương, trong sáng của cuộc sống, mở ra một dòng nhạc mới cho thế hệ trẻ bây giờ. Một dòng nhạc đưa người trẻ về với con người chân thật, về với thiên nhiên, với tình yêu thương nhân loại, con người. Một dòng nhạc đi xuyên qua hai thái cực, hoặc là quá sầu thảm, bi thương; hoặc là quá nhộn nhịp, kích động, đưa con người vào những tâm trạng không lành. Âm nhạc là một loại thức ăn không thể thiếu của cuộc sống. Âm nhạc vốn dĩ nó không xấu nhưng do các nhạc sĩ sáng tác đã được nuôi dưỡng, được tưới tẩm trong một môi trường xã hội như vậy, nên phản ánh lại vào âm nhạc các chất liệu sầu thương, kích động, đứt ruột… Bởi vậy, chỉ cần nhìn vào một số bài hát của thời nay, ta có thể thấy được xã hội bây giờ đã nuôi dưỡng con người, đặc biệt là giới trẻ bằng các loại thức ăn nào. Thầy biết Tâm Từ có khả năng đó, nhưng hãy còn quá sớm gieo vào đầu một đứa trẻ mười ba tuổi, hãy để chú sống thực tập đi sâu hơn vào thiền học thì thiền ca là một loại hoa trái mà chú có thể dâng tặng cho cuộc đời. Thầy mỉm cười rồi nói với Tâm Từ:

– Tâm Từ con! Thầy rất vui khi nghe con chia sẻ sự thực tập thiền hành, Thầy cảm nhận được niềm hạnh phúc của con. Thầy cũng biết con rất có năng khiếu âm nhạc, Thầy hứa sẽ cho con học nhạc, nhưng chưa phải lúc này. Thời gian này, con nên đào sâu hơn vào sự thực tập từng uy nghi, tế hạnh mà thầy đã dạy. Con có biết tại sao như vậy không?

– Dạ thưa, tại Thầy muốn con là một đứa con ngoan.

– Chỉ một phần thôi, còn chính yếu thầy muốn con có chiều sâu trong cuộc sống, con sống chánh niệm trong mỗi phút giây, tức là con cảm nhận được cuộc sống một cách sâu sắc nhất, trọn vẹn nhất. Khi đời sống tâm linh của con được nâng cao, thì khả năng nhìn nhận của con bén nhạy, thực tế và đầy đủ hơn. Lúc đó, con có làm cái gì cũng trở nên tốt đẹp cả. Nếu con sáng tác ra các bản thiền ca, thì lời ca của con trở thành một dòng suối thanh lương, trong mát. Chỉ có con đường thiền tập nó mới giúp con đi đến đỉnh cao của nghệ thuật. Lúc đó con mới là một nghệ sĩ chân chính. Một người nghệ sĩ mà thiếu chất tu sĩ làm nền tảng thì chỉ là một dòng nước nhỏ không đủ khả năng gột rửa những nhiễm ô dơ bẩn của cuộc đời, mà trái lại nó sẽ bị cuộc đời làm ô nhiễm luôn, dòng nước đó uống vào lâu ngày sinh bệnh. Các con có muốn tạo ra những dòng nhạc bệnh hoạn không? Hay các con muốn những bài ca của mình là dòng nước cam lộ thanh lương tươi mát, chữa lành vết thương của nhân loại? Tất cả những gì các con làm ra đều phản ảnh tâm thức của các con. Tâm thức bệnh hoạn đầy dẫy những hạt giống si mê, giận hờn, thèm khát, kích động, sợ hãi… thì sản phẩm của các con làm ra sẽ chứa đựng những hạt giống đó. Ngược lại, nếu tâm các con chứa đựng sự hiểu biết, thương yêu thì các con cho ra những tác phẩm mang đầy hạt giống chân thiện. Do đó, thiền hành là một phương pháp giúp các con lắng dịu lại những tâm hành bất thiện, gây khổ đau cho mình và cho mọi người và khơi lên những tâm hành thiện. Tâm hành thiện càng nuôi lớn thì cuộc sống của các con trở nên thánh thiện hơn, các con biết thương yêu nhiều hơn.

Ba chú ngồi nghe Thầy chia sẻ một cách say mê, không chán, đôi mắt ai cũng sáng long lanh nhìn Thầy chăm chú như nuốt từng câu, từng chữ, từng lời. Thầy tiếp tục:

– Khi các con thấy mình buồn bực, giận hờn, ganh ghét, các con đừng vội làm điều gì cả, chỉ nên ra ngoài trời đi thiền khoảng mười phút thì sự giận hờn trong các con lắng dịu bớt, lúc đó các con có thể thấy được tại sao mình lại giận, nguyên nhân từ đâu. Nếu biết cách nhìn sâu, trung thực không bảo vệ mình mà chê người, thì các con sẽ thấy được nguồn gốc của nó. Có thể do sự hiểu lầm. Tri giác, suy nghĩ của chúng ta thường hay sai lầm, không thực, mình thường cho là mình đúng, người kia sai, mình luôn bảo vệ ý kiến, những suy nghĩ của mình mà không thấy được cái hay, cái đẹp của những ý kiến khác, từ đó sinh ra nhiều chuyện không hay, sinh ra hiểu lầm, trách móc nhau đủ thứ. Nhờ đi thiền chúng ta làm lắng dịu tâm ý, dừng lại bớt các suy nghĩ không lành trong đầu đang dấy khởi. Lúc đó chúng ta luôn bình tâm hơn mà nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, nếu các con giữ vững được từng bước thiền hành thì cuộc sống của các con ít gặp khó khăn, anh em không có sự bất hoà, lúc nào cuộc sống cũng tươi đẹp.

Hôm đó, Thầy đã hát cho các chú nghe bài Tâm An, Tâm An rất thích, bài hát mới hay làm sao, mà đặc biệt tên bài hát là tên mình nữa chứ.

“Quê hương đi về trên mỗi bàn chân

Bao nhiêu con đường mở ra độ lượng

Tâm không mong cầu bình an là vậy

An vui nơi này, an khắp mọi nơi

Niềm vui trải dài sự sống.

Tôi đi vững đôi bàn chân

Mắt tôi mở to giữa đời này đây.

Lòng không cầu làm mây trắng bay

Khổ đau từng nuôi ta lớn lên

Xin cho nắng mưa ngày sau

Vững một niềm tin chẳng hề nhạt phai

Hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi

Vì biết thương mình là đã biết thương trần gian.”

Giọng Thầy hát rất hay, Thầy như khơi dậy trong tâm hồn các chú một sự hiểu biết sâu sắc, một tình thương rộng lớn mênh mông -Tình người. Tâm Từ ước gì sau này mình cũng làm được những bài thiền ca như vậy. Còn Tâm An, lòng chú như mở hội. Bài hát như một lời nhắn nhủ rằng: nếu chú sống được như tinh thần bài hát thì chú mới thực sự là Tâm An. Đến bây giờ chú cảm thấy tên mình hay đến lạ. Chú tự nói với lòng giờ đây mình phải tập đi sao cho “mỗi bước chân là quê hương” mình không cầu làm một nghệ sĩ như anh Tâm Từ, mình chỉ muốn mỗi con đường mình đi qua đều trải dài sự bình an, độ lượng, tha thứ bao dung thôi. Chú thắc mắc không hiểu tại sao “Tâm không mong cầu bình an là vậy, an vui nơi này, an khắp mọi nơi”. Chú định hỏi Thầy nhưng lại thôi. Chú nghĩ biết đâu được mình thực tập thiền đi rồi mình hiểu ra nó, chứ đụng cái gì mình cũng hỏi, có lúc Thầy trả lời có khi Thầy chỉ nói, con cứ thực tập đi rồi dần dần con tự hiểu, tự cảm nhận. Do đó có nhiều thắc mắc chú không hỏi nữa, chỉ lâu lâu chú thấy điều gì đó không hỏi chú không chịu được chú mới hỏi thầy thôi.

Sáng nào cũng vậy, bốn thầy trò cùng đi thiền hành quanh sân chùa, đi qua các hàng cây, những luống rau xanh mơn mởn. Không khí buổi sáng trong lành, êm ả, yên tĩnh. Từ khi thực tập nghe chuông, Tâm An đã biết lắng nghe mọi thứ âm thanh của thiên nhiên. Sự lắng nghe của Tâm An bây giờ khác trước nhiều. Thầy từng dạy các chú phải học hạnh lắng nghe của Bồ Tát Quan Thế Âm. Lắng nghe để giúp người bớt khổ, lắng nghe với tâm không thành kiến, không phán xét. Nói như vậy chứ khó lắm đó. Nghe âm thanh của đất trời thì còn dễ hơn là nghe hai anh Tâm Chánh, Tâm Từ nói lúc buồn bực, hoặc lúc Tâm An phạm những sai sót được nhắc nhở, nhưng mình ít khi nào nghe với tâm không thành kiến, không phán xét mà trái lại mặc cảm tự ti nổi lên tràn trề.

Những vũ điệu của đôi chân không chỉ dừng ở đó, mỗi bước chân là mở ra một khung trời mới, lý thú vô cùng, nó dẫn dắt con người vào ba cánh cửa tự do, thảnh thơi, an lạc. Thầy đã chia sẻ điều đó với anh Tâm Chánh khi anh nói cho Thầy nghe kinh nghiệm thiền hành của mình.

– Dạ con kính thưa Thầy! trước đây Thầy dạy con đi thiền cho ba, cho mẹ để nối lại sự truyền thông với gia đình. Con đã thực hành ba tháng nay, bước một bước con đi cho ba, bước một bước con đi cho mẹ. Qua một thời gian, tự nhiên trong con cảm thấy mình có thể thương được mẹ, thông cảm được cho ba. Con thấy sự tất bật của ba, không bao giờ có thời gian bước được những bước chân chậm rãi, thảnh thơi như con. Ba đi như chạy, như đuổi với thời gian, ba con đầu tư tất cả thời gian cho công việc, ba đã đem về nhà nhiều thứ đắt tiền nhưng quanh năm con ít khi nào được gần ba nhiều cả. Mẹ con cũng vậy, nhiều khi đi làm về mệt, mẹ còn la con vô cớ nữa. Con buồn mẹ nhiều lắm. Ngày còn ở nhà, con chỉ có một ước muốn nho nhỏ thôi mà khó ơi là khó, được nắm tay ba mẹ vào mỗi buổi chiều cuối tuần đi dạo chơi trong công viên. Con cảm thấy ba nẹ không thương con, hắt hủi con, con đã từng nghĩ mình không thể nào thương được ba mẹ, những người suốt ngày ra lệnh, nếu không làm theo lệnh thì bị úp mặt vào tường, nhiều khi không phải lỗi của con mà cũng bị phạt, bị đánh, tức ơi là tức. Thế mà, kỳ diệu lắm, con đã đi thiền cho ba, cho mẹ con mới thấy được sự mệt mỏi, đau khổ của ba, ba không còn thời gian cho chúng con. Rồi con thấy thương mẹ nhiều hơn, con nhìn thấy sự chán chường, buồn bực nơi mẹ mỗi tối. Càng đi như thế thì bao nhiêu giận hờn, bực tức rơi rớt lại trên đường. Con đã biết cảm thông, biết thương yêu ba mẹ. Nhiều khi con ao ước một ngày nào đó ba mẹ được bước đi những bước chân thảnh thơi, bình an như con đi, nhưng điều đó chắc khó lắm, bởi đến bây giờ mà ba mẹ vẫn chưa hết giận con, vì con đã bỏ nhà vào chùa ở. Dạ thưaThầy! nếu mình tiếp tục đi như vậy thì mình sẽ chuyển hoá được những giận hờn của ba mẹ phải không Thầy? Nếu con đã thương được thì ba mẹ sẽ thương con, hiểu con nhiều hơn phải không Thầy?

– Tâm Chánh! Con giỏi lắm, con đã tự tháo gỡ những ngục tù trong lòng mình, con đã bỏ đi gánh nặng trên vai mà bước vào sự nhẹ nhàng, sự thanh thản của tâm hồn. Lòng con đã chuyển hoá dần dần con sẽ cảm hoá được ba mẹ mình. Các con, người ngoài đời như ba mẹ Tâm Chánh chỉ biết đi cho mau tới, chỉ biết chạy đuổi mục đích xa vời trong tương lai mà đánh mất giây phút hiện tại. Nhưng tương lai được làm trong hiện tại các con ạ. Còn chúng ta đi chỉ để mà đi thôi, không cầu mau tới, không mong mỏi một điều gì, chỉ biết một việc là an trú trong từng bước chân, trong từng hơi thở thôi, thưởng thức, cảm nhận sâu sắc những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, nhận diện được sự an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc với những gì mình đang có, tức là ta đang xây dựng cho một tương lai bình an, tươi đẹp đó các con. Tâm Chánh, con đã đi để mà dừng lại. Mỗi bước chân chánh niệm là sự dừng lại của các tâm hành bất thiện, dừng lại được thì mới có thể thấy rõ hơn, nhìn sâu hơn vào sự vật hiện tượng. Đó là những bước chân thành công, những bước chân như thế sẽ nâng chúng ta lên, sẽ là chiếc chìa khoá mở cánh cửa tự do thứ nhất. Giờ đây, các con cố gắng thực tập thiền hành rồi các con sẽ gặt được nhiều hoa trái của nó đem lại.

Thật vậy, hoa trái đầu tiên của Tâm An là niềm hạnh phúc khi hiểu ra được “tâm không mong cầu, bình an là vậy”. Khi nghe thầy giảng cho Tâm Chánh, chú đã mơ hồ nhận ra điều gì đó, nhưng một thời gian sau, khi đang thiền với Thầy, chú cảm nhận lòng mình thật yên tĩnh, mỗi bước chân như dạo chơi không một ước muốn nào tồn tại trong đầu chú lúc đó. Sự bình an xuất hiện một cách nhẹ nhàng. Chú tự mỉm cười, chú hiểu nếu an trú trong bước chân hiện tại thì sự mầu nhiệm, phép lạ hiển bày ra trước mắt. Chú thích thú với khám phá này lắm. Chú cảm thấy con đường thiền hành có xa bao nhiêu cũng không quá một bước chân. Đó mới là điều kỳ lạ, một điều mà người lớn có quá nhiều bận rộn, lo toan khó mà tiếp xúc được. Tự nhiên chú cảm thấy tình yêu thương dâng trào trong lòng. Chú muốn chia sẻ niềm hạnh phúc với mọi người, mọi loài, và cả con chó Kinô, con mèo nữa. Chú thầm hát:

“Hạnh phúc chưa từng là hạnh phúc mình tôi

Vì biết thương mình là đã biết thương trần gian”

Chà! thiền hành chỉ là đi thôi mà vi diệu lắm. Vũ điệu của đôi chân sẽ mãi mãi nhịp nhàng trên vạn nẻo đường, mỗi bước chân là thông điệp của tình thương và sự hiểu biết:

Em có nghe chăng ?

Lời yêu thương trong từng bước chân

Em có thấy không?

Gót sen hồng nở hoa chân lý

Từ bi và trí tuệ

Bừng sáng từng sát na

Thân tâm thường an trú

Xin nguyện thoát trầm luân.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương 1: Tiếng gọi của Thế Tôn

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 4: Những chiếc bình ngồi yên

 

Thế giới của thơ và nhạc

 

CHƯƠNG 2

Thế giới của thơ và nhạc


Cuộc sống ở trong chùa sao mà đẹp quá! Tâm An hạnh phúc được học những điều kỳ lạ từ cuộc sống đời thường mang lại. Chú được chơi đùa với hai anh, được làm việc chung, lúc quét sân, lúc thì lau thiền đường, lúc thì ở nhà bếp tập nấu ăn. Làm việc gì chú cũng thấy vui vẻ cả, bởi trong mắt chú cái gì cũng có một bí mật cần được khám phá và tìm hiểu.

Đã mười ngày rồi, từ khi bước chân vào nơi này, chú cảm thấy cuộc sống thật nhẹ nhàng, làm việc gì cũng cảm thấy thú vị. Công việc ở đây cũng như lúc ở nhà thôi. Thỉnh thoảng chú cũng phụ mẹ nhặt rau, quét nhà, dọn cơm mà sao lúc đó mình chẳng thấy thích thú chút nào cả. À! Chú biết tại sao rồi. Ở đây, cái gì cũng có thể biến thành thơ cả, mỗi cử chỉ mỗi hành động đều có một bài thơ. Vừa mới thức dậy thôi mà cũng có thơ nữa đó, ngộ nhỉ, lời thơ hay tuyệt:

“ Thức dậy miệng mỉm cười

Hai bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời.”

Chú rất thích bài thơ này, mỗi buổi sáng thức dậy chú đều đọc thầm trong miệng rồi tự mỉm cười. Bài thơ giúp Tâm An nhiều lắm, chú không còn uể oải, lồm cồm bò dậy rồi ngủ lại như trước nữa. Nó như bơm vào người chú một sinh lực, một niềm vui khi được thức dậy, được sống hai mươi bốn giờ trong chánh niệm và nhìn đâu chú cũng thấy thương yêu. Bắt đầu một ngày mới đẹp thì cả ngày tốt đẹp. Ừ lạ nhỉ? Hèn gì mấy cô, mấy bác bán hàng đều muốn mở hàng gặp được người dễ thương, bán nhanh để hôm đó hàng bán đắt. Không phải là mê tín đâu nhé. Cái đó là kinh nghiệm của các người bán hàng truyền lại với nhau như vậy, lâu dần thành một tục lệ, một lối nghĩ chung. Chú dự định hôm nào sẽ hỏi Thầy  tại sao bắt đầu một ngày có niềm vui, có hạnh phúc là trọn một ngày an lành trôi qua.

Có nhiều hôm, khi nghe chuông thức chúng, chú cũng ngồi dậy, cũng đọc thi kệ và mỉm cười, nhưng nụ cười còn ngái ngủ lắm, nó nhăn nhó, méo xệch, nhìn khó coi làm sao. Thỉnh thoảng chú thấy hai anh cũng cười như vậy.

Sau khi đọc thi kệ thức dậy, chú từ từ xếp mền và thầm đọc:

“ Xếp mền cho niềm vui

Sống ngăn nắp cuộc đời

Thân và tâm thúc liễm

Phiền não phải rụng rơi”.

Hay nhỉ, chỉ xếp mền thôi mà phiền não rụng rơi lả tả như lá mùa thu. Ủa! Như vậy có cây phiền não thật sao? Cây phiền não nó ở đâu nhỉ? Ở trong tâm chứ ở đâu, mình đọc “ thân và tâm thúc liễm, phiền não phải rụng rơi” mà còn suy nghĩ lung tung. Chợt chú nhớ lại lời Thầy dạy: “Con làm gì cũng nên tập trung, biết việc mình đang làm, đừng để tâm trí đi lang thang đâu đó”. Chú giật mình, mới biết mình đang xếp mền. Ồ! Chỉ có chừng đó thôi mà mình quên hoài. Chú nhoẻn miệng cười với cái tật hay suy nghĩ lung tung của mình. Rồi chuẩn bị bước xuống giường, cũng có một bài kệ xuống giường nữa.

“ Sáng trưa chiều và tối

Mọi loài hãy giữ gìn

Nếu dưới chân lỡ đạp

Xin nguyện chóng siêu sinh

Nam mô Bồ Tát Siêu Lạc Địa (ba lần)”

Bài kệ này làm cho chú phát khởi được tâm thương yêu, chú biết quý trọng sự sống của mọi loài từ loài lớn đến loài bé. Đọc bài kệ lên chú cảm thấy rằng nếu mình không cẩn thận, không chú ý thì sẽ gây ra bao nhiêu là đau khổ cho những loài côn trùng ở dưới đất. Cho nên mỗi khi lỡ đạp chết một con sâu, con kiến, thì chú thầm niệm: “ Nam mô Bồ Tát Siêu Lạc Địa” để cầu siêu cho chúng.

Từ trong tâm hồn trẻ thơ của chú, ngọn lửa yêu thương đang được nhen nhúm. Tâm An hạnh phúc khi phát hiện ra rằng các bài thi kệ đã nuôi lớn những ước mơ cao đẹp, làm cho trái tim chú mở ra, hạt Từ Bi đang nẩy mầm. Chú ao ước mọi người cũng được học, được thực hành các bài thi kệ này, thì cuộc sống họ đẹp hơn, hạnh phúc hơn. Chú đã chia sẻ điều này với Thầy và các anh. Thầy khuyên các chú nên viết ba bài thi kệ này dán trên đầu giường để mỗi buổi sáng nhìn thấy và để nhắc nhở cho các anh em cùng thực tập. Cả ba chú vui lắm. Sau khi về lại phòng, ba anh em tụm lại với nhau chép, trang trí, vẽ các bài thi kệ sao cho đẹp nhất. Anh Tâm Chánh vẽ đẹp lắm, Tâm An, Tâm Từ mừng rỡ, vỗ tay hoan hô anh khi thấy các bức tranh hiện ra theo ý muốn của các chú. Anh Tâm Chánh thực xứng đáng là một anh cả. Anh đã hỏi ý kiến của hai chú nên vẽ những gì. Thật là gay go, bởi ý của Tâm An thì thích vẽ chú tiểu đang thao tác những sinh hoạt trong thi kệ, như thức dậy thì vẽ chú tiểu ngồi trong mùng, dụi mắt, vươn vai, mỉm cười… Còn Tâm Từ thì thích vẽ cảnh hoa lá, cỏ cây, bầu trời xanh, con mèo, con kiến, con sâu… Hai chú cứ cãi nhau, cho ý mình hay hơn. Chỉ có Tâm Chánh ngồi im lắng nghe hai chú. Thấy hai chú đi quá xa, anh lên tiếng:

– Thôi được rồi hai em, anh sẽ vẽ bài thức dậy như ý của Tâm An, xếp mền mùng anh sẽ vẽ chú tiểu xếp mền và những chiếc lá rơi rơi trong không gian đó, còn xuống giường anh sẽ chìu ý Tâm Từ vẽ con sâu, con kiến, con mèo dưới chân giường. Như vậy có được không?

Nghe anh nói, hai chú cười tít mắt, cuối cùng ai cũng được thỏa nguyện rồi. Tâm An rất thích cách giải quyết của anh Tâm Chánh. Càng lúc chú càng thấy anh ấy kỳ lạ, tuy ít nói hơn anh Tâm Từ nhưng anh biết lắng nghe và luôn làm người hòa giải các ý kiến của hai chú. Thầy khen anh thực tập tốt “ý hòa đồng duyệt” giờ thì Tâm An mới hiểu thế nào là “ý hòa đồng duyệt”, thực tập được điều này thì anh em không có cãi nhau, không giận nhau khi cùng làm việc chung. Chú nhìn qua Tâm Từ rồi cười, Tâm Từ cũng cười lại, ánh mắt hai chú ngời sáng niềm thương yêu.

Mười ngày đầu tiên, Thầy chỉ dạy Tâm An thực tập ba bài thi kệ đó thôi. Rồi Thầy trao cho chú cuốn sách “Bước tới thảnh thơi” để học thi kệ. Cầm quyển sách lên mở ra chú thấy rất nhiều bài thơ. Chú không biết liệu mình có học hết được không nữa. Ba bài thi kệ đó chú đã thuộc lòng, đã quen đọc nó trước khi làm, hoặc vừa theo dõi hơi thở vừa đọc.

Đến bây giờ, chú đã thực tập thêm năm bài thi kệ nữa: Vào nhà cầu, vặn nước, đánh răng, rửa mặt và soi gương. Chú thấy đi tu vui thật. Những chuyện làm vệ sinh cá nhân mà cũng thành một sự thực tập. Thầy có nói rằng: “Người biết cách thực tập thì nơi nào cũng tu được, ngồi trên bàn cầu cũng tu được, không nhất thiết là phải ngồi trên thiền đường mới tu, mình phải tu trong mỗi hành động, mỗi lời nói. Do đó, việc vào nhà vệ sinh cũng quan trọng như vào thiền đường. Chú thấy lời nói đó rất đúng, rất  hay.

Tâm An để ý thấy hai anh Tâm Chánh và Tâm Từ thường gõ cửa ba tiếng trước khi bước vào nhà vệ sinh. Lạ nhỉ? Có ba anh em trong phòng rồi, thì trong nhà vệ sinh không có ai, sao lại gõ cửa? Chú đem thắc mắc của mình hỏi anh Tâm Chánh, Tâm Chánh trả lời:

– Mình gõ cửa là thắp lên ý thức chánh niệm, để khi bước vào nhà vệ sinh mình sinh hoạt nhẹ nhàng hơn, có ý tứ hơn. Mình không thể vào nhà vệ sinh mà tạo ra quá nhiều tiếng ồn, rất thô tháo, không đẹp chút nào. Anh đã từng được Thầy chia sẻ vì trước đây, anh cứ để bị thúc bách mới vội vàng chạy ù vào toilet, vào trong rồi, anh lại mở nước ào ào, múc ca nước lên dội thì thả đại cái ca xuống xô. Không ngờ, Thầy biết hết, chờ anh đi ra khỏi nhà vệ sinh Thầy gọi lại bảo:

– Tâm Chánh, là người tu chánh niệm con nên để ý hơn. Khi thấy mình muốn đi vệ sinh thì nên đi ngay, đừng để chần chừ, đến lúc thúc bách mà vội vội vàng vàng. Con nhớ phải gõ ba tiếng trước khi vào, dầu biết trong ấy không có người. Thầy có dạy con các bài thi kệ vào nhà cầu, vặn nước… chỉ để con làm với ý thức chánh niệm. Khi có chánh niệm, mọi hành động của con sẽ trở nên đẹp, nhẹ nhàng, khoan thai. Con để ý mình nên dội nhà vệ sinh sao cho càng ít nghe tiếng động càng tốt, mình nên để ca múc nước xuống xô, đừng thả như vậy. Con biết không, nhà cầu cũng là nơi để thực tập và thiền quán.

Lúc đó, Tâm Từ từ nhà vệ sinh bước ra, chú nghe anh Tâm Chánh giải thích rồi nói thêm:

– Tâm An biết không? Dù biết không có người nhưng anh vẫn phải gõ cửa. Bởi vì trong ấy có những loài sinh vật ăn đồ dơ, nghe đâu có cả các loài ngạ quỷ nữa đó. Cho nên khi gõ ba tiếng là để báo hiệu xin phép cho mình được sử dụng nhà vệ sinh, để họ tránh mà mình cũng không thải đồ dơ lên trên đầu họ, tạo cho họ sinh tâm sân hận tội lắm. Mình làm như vậy là vì thương họ. Do đó, mình đừng tưởng mình vào nhà cầu là không có ai, mình làm gì cũng được không ai biết. Họ biết đó, nên mình phải thực tập cho đàng hoàng, đừng làm quá ồn và trước khi đi ra phải nhìn lại xem nhà vệ sinh đã sạch sẽ, tươm tất như lúc mới vào chưa? Nếu chưa, thì phải làm sạch rồi mới ra.

Nghe như vậy, Tâm An sợ lắm. Có ma ở trong toilet ư? Vậy ai mà dám đi cầu lúc ban đêm. Chú nói:

– Em sợ lắm! Lỡ ban đêm em muốn đi vệ sinh thì làm sao đi được, hai anh dẫn em đi nghe. Em sợ gặp ma.

Tâm Chánh cười:

– Không sao đâu, mình thực tập thi kệ bước vào nhà cầu, làm trong chánh niệm là em sẽ không còn thấy sợ. Khi em sợ là do em không để hết tâm ý vào các động tác của mình, đọc thi kệ như một cái máy, mà tâm ý thì vẽ vời lên nhiều hình ảnh ma quái thôi. Đừng sợ, nếu thấy sợ, em theo dõi hơi thở, hơi thở sẽ là lá bùa trừ ma quái đó. Đó là cách Thầy chỉ cho anh lúc mới vào chùa, vì sợ ma nên anh được sống chung phòng với Thầy, sau đó có Tâm Từ, Thầy mới cho hai đứa ở phòng bên cạnh. Nhưng ở hai anh em, buổi tối đi toilet cũng sợ, nên Thầy cho thêm các bài thần chú để tụng thầm, em có biết các bài thần chú đó không?

– Dạ không. Anh dạy cho em đi.

Tâm Chánh ngồi lại ngay ngắn chắp tay đọc:

Vào nhà cầu

“ Không dơ cũng không sạch

Không bớt cũng không thêm

Trí tuệ Ba La Mật

Không có pháp nào trên”.

– Đó là thi kệ, không phải thần chú, anh xạo quá. Thần chú đó em cũng biết như:

Đi tiểu

Đi tiểu trong bản môn

Đổi trao nào kỳ diệu

Ta và người không hai

Không dư mà không thiếu.

– Em không tin đâu, các anh ghẹo em thôi.

Cùng lúc đó có tiếng gõ cửa, ba chú đứng dậy mở cửa rồi xá chào Thầy. Thầy cười hỏi:

– Các con đang nói chuyện gì mà vui quá vậy?

– Dạ thưa Thầy, Tâm Từ nói với Tâm An là trong toilet có các loài ngạ quỷ… làm em sợ, không dám vào toilet một mình vào ban đêm ạ. Tâm Chánh thưa.

– Dạ thưa Thầy! Anh Tâm Chánh chỉ các bài thần chú cho Tâm An nhưng em nói là các anh xạo, ghẹo em thôi. Thần chú kiểu đó em cũng biết.

Thầy nhìn Tâm An rồi hỏi:

– Con thuộc được bao nhiêu bài thần chú rồi?

–  Dạ thưa Thầy, con học được thêm năm bài nữa ạ. Con đọc cho Thầy nghe nhé.

Thầy gật đầu.

Vặn nước

Nước từ nguồn suối cao

Nước từ lòng đất sâu

Nước mầu nhiệm tuôn chảy

Ơn nước luôn tràn đầy.

– Giỏi lắm. Sao con không tin đây là thần chú trị ma quái?

– Dạ thưa Thầy, con thấy mấy bài thần chú toàn là : Nam mô hắt ra đá ra đá dô… gì đó chẳng thể hiểu được. Đó mới là thần chú, còn các bài thơ này Sư Ông nói nó là thi kệ thôi.

– Con có biết ma quái từ đâu mà có không?

– Dạ con thưa Thầy, từ những nơi u tối.

– Thật ra, ma quái từ trong tâm tưởng chúng ta thôi. Lúc nhỏ chúng ta bị nhát kẹ để sợ và người lớn, các bậc làm cha làm mẹ cứ dọa con mình bằng cách đó mà không biết là vô tình tưới tẩm hạt giống sợ hãi trong các con, làm các con sợ hãi. Khi con không để cho đầu óc mình tưởng tượng lung tung mà chú tâm vào hơi thở, vào từng hành động của cơ thể, vào mỗi câu thi kệ thì hình ảnh ma quái không có cơ hội xuất hiện. Vậy thi kệ cũng có công năng đánh đuổi ma quái như thần chú. Hạt giống sợ hãi sẽ không xuất hiện trong tâm tưởng của các con nữa. Như vậy, nếu ta xem thi kệ như thần chú cũng không sai, đúng không các con?

– Dạ thưa đúng ạ!

– Cho nên muốn thi kệ có công năng đặc biệt đó, thì các con phải hết lòng, phải đặt tất cả tâm ý mình vào thi kệ, theo dõi hơi thở và các động tác của cơ thể, thì thi kệ mới linh nghiệm được. Còn đọc chỉ như trả bài thuộc lòng xong rồi là để tâm ý suy nghĩ lung tung, rong chơi với những chuyện ma quái thì chẳng ích lợi gì đâu các con.

Thầy quay qua nhìn Tâm Chánh rồi hỏi:

– Từ hồi đó đến giờ, thần chú có còn linh nghiệm không con? Có đỡ sợ ma chưa?

– Dạ chỉ mới đỡ sơ sơ thôi, nhiều khi đi ra vườn ban đêm con cũng sợ, vì thần chú đó chỉ có hiệu nghiệm trong toilet thôi.

Thầy cười rồi bảo:

– Con có thể áp dụng các bài thi kệ khác bằng phương pháp thầy đã dạy. Có thể lớn hơn một chút nữa thì mình bớt sợ ma hơn. Các con cố gắng thực tập những gì thầy đã chỉ dạy nhé.

Cả ba chú xá xuống cùng thưa:

– Dạ, chúng con sẽ nhớ ạ!

– Thôi bây giờ bốn thầy trò mình cùng ra vườn nhổ cỏ trồng cây nhé!

Ba chú hớn hở, đứng dậy cùng đi theo Thầy. Được làm việc chung với Thầy rất thích. Thỉnh thoảng, những lúc nghỉ tay Thầy còn kể chuyện cho ba chú nghe, dạy các chú hát các bài thiền ca rất hay. Tâm Từ hát hay nhất, do đó chú rất thích được hát. Ba chú cứ xúm xít quanh thầy, đứa nhổ cỏ, đứa quét lá, đứa hốt rác vào bao mang đi đổ. Nhìn cảnh bốn thầy trò thật vui, thật hạnh phúc.

– Tâm Từ, con có đọc thi kệ khi nhổ cỏ không con?

– Dạ thưa, con quên chưa đọc, giờ con đọc được không thưa Thầy?

– Được, khi nào nhớ thì làm ngay, đừng có nghĩ là lỡ quên rồi thôi khỏi đọc cũng được. Con đọc cho thầy nghe đi.

– Dạ thưa Thầy, đọc bài nào ạ?

– Bài nào con thích nhất.

– Dạ, con đọc nghen.

Thầy gật đầu, Tâm Từ thong thả đọc:

Nhổ cỏ

Nhổ cỏ nơi bản môn

Ta nhớ chú điệu xưa

Bụt che chở ngàn đời

Cho muôn ngàn cậu bé.

– Tại sao con thích bài này?

– Dạ thưa, con thích nó vì có hình ảnh chú điệu, thích được Bụt che chở.

– Còn Tâm Chánh, con thích bài nào?

– Dạ thưa Thầy, con thích bài:

Nhổ cỏ nơi tích môn

Nhớ đến Trần Thái Tông

Nhổ cỏ dùm Chiêu Hoàng

Cho sông dài biển rộng.

– Dạ thưa Thầy, Trần Thái Tông và Chiêu Hoàng là ai vậy Thầy?

– Trần Thái Tông là ông vua đầu tiên của thời Trần, Lý Chiêu Hoàng là hoàng hậu của vua Trần Thái Tông và là con gái của vua Lý Huệ Tông. Đây là một câu chuyện lịch sử khá dài. Các con có muốn nghe không?

– Dạ muốn ạ.

Thầy chậm rãi kể:

– Cuối thời nhà Lý, lúc đó Lý Huệ Tông lên làm vua, sinh ra được hai nàng công chúa, người chị là Lý Thuận Thiên và người em là Lý Chiêu Thánh. Khi Lý Chiêu Thánh lên tám tuổi, triều đình rối ren, mọi thế lực đều nằm trong tay Trần Thủ Độ, vua Lý Huệ Tông thế cô lực kiệt đã nhường ngôi cho cô con gái út là Lý Chiêu Thánh. Sau này gọi là Chiêu Hoàng. Khi đó Chiêu Hoàng có một người bạn thân tên là Trần Cảnh, cháu của Trần Thủ Độ. Hai đứa trẻ rất thương nhau, dưới sự sắp xếp của người lớn, hai đứa trẻ được tổ chức đám cưới. Sau đó, Chiêu Hoàng nhường ngôi lại cho chồng là Trần Cảnh, tức là vua Trần Thái Tông, mở đầu cho triều đại nhà Trần. Khi Trần Thái Tông được hai mươi tuổi mà vẫn chưa có con nối dõi, nên Trần Thủ Độ ép vua bỏ Chiêu Hoàng mà cưới chị dâu của mình, vợ của người anh ruột Trần Liễu, tức công chúa Thuận Thiên, lúc đó công chúa Thuận Thiên đã có thai ba tháng. Trước sự ép buộc phải bỏ người yêu mà cưới chị dâu, trái với luân thường đạo lý, khiến vua đau khổ cùng cực, nên vua quyết định bỏ ngôi báu trốn vào núi Yên Tử xin đi tu. Nhưng không được mấy ngày, Trần Thủ Độ đã lên núi và ép vua phải về cung. Khi vua từ chối thì Thiền Lão Trúc Lâm mới khuyên vua: “Bệ Hạ là vua của một nước, trăm họ đang cần vua, khi mình là một vị vua thì phải lấy cái muốn của muôn dân làm cái muốn của mình, lấy hạnh phúc của muôn dân làm hạnh phúc của mình. Là một ông vua, Bệ Hạ cũng có thể tu tập được, đâu nhất thiết phải ở trên núi mới thành người tu. Kính xin bệ hạ nhớ những lời này mà trở thành một vị minh quân, thương dân như con, lấy đức độ mà trị vì thiên hạ”.

Rồi vua từ giã thiền sư trở về lại cung cấm. Vua tu hành rất miên mật. Vì mặc cảm tội lỗi, nên vua thường xuyên sám hối. Vua tự viết “Lục thời sám hối khoa nghi” để cho mình thực tập, cứ bốn giờ đồng hồ vua đều dành mười lăm phút để lạy sám hối. Mỗi thời sám hối một căn. Ví dụ như ngủ dậy sám hối ý căn rồi đến mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Dưới triều đại của vua, nhân dân an bình, vua luôn luôn lấy đức để trị quốc, nên trên dưới một lòng. Thời nhà Trần là một triều đại thuần từ nhất trong lịch sử Việt Nam.

Thầy ngừng lại, nhìn các chú đang lắng nghe một cách chăm chú, bị cuốn hút vào câu chuyện, thầy mỉm cười.

– Dạ con thưa Thầy! Tâm Từ hỏi:

– Vậy Chiêu Hoàng thì sao? Chiêu Hoàng chắc khổ lắm Thầy nhỉ?

– Chiêu Hoàng sau đó bị giáng xuống làm công chúa và gả cho người khác. Sau này nàng có được hai người con, một trai một gái.

– Các con à! Các bài thi kệ nhổ cỏ đều hay, mỗi bài có một hình ảnh khác nhau như các chú bé, hay vua Trần Thái Tông… nhưng tất cả cũng chỉ nhắc nhở ta nên quay về chăm sóc tâm ta. Tâm ta cũng là một mảnh vườn có đầy cỏ và hoa, khi nhổ đi những thói hư tật xấu, những tâm niệm không an lành là chúng ta đang làm cho vườn tâm ta ngày một sạch đẹp. Là người tu chúng ta phải biết cách chăm sóc, vun bón cho vườn tâm của mình. Tuy nhổ cỏ là công việc đơn giản nhưng nó có một ý nghĩa sâu xa.

Ngồi chơi một lát, rồi bốn thầy trò tiếp tục công việc. Ba chú im lặng ngồi nhổ cỏ, khu vườn dường như sáng lên, sạch sẽ gọn gàng hơn. Cả ba chú đều nghĩ rằng khu vườn này sạch là vườn tâm của mình cũng được sắp xếp ngăn nắp, nên cả ba đặt hết lòng mình vào công việc, moi tất cả các ngóc ngách, xếp lại ngay ngắn từng chậu cây. Làm việc như thế thích thật. Đôi mắt ai cũng sáng ngời một niềm vui.

Không chỉ nhổ cỏ mới có thi kệ mà hầu như tất cả các công việc đều có thi kệ cả như: trồng cây, tưới cây, quét sân, rửa chén, lặt rau đến cả việc dọn vệ sinh, đổ rác nữa. Tất cả các bài thi kệ đều hay, có ý nghĩa, tạo cho công việc có thêm nguồn năng lượng mới mẻ hơn. Nhiều khi Tâm Từ còn hát thi kệ nữa, vì học, đọc hoài cũng chán nên chú nghĩ ra cách làm mới thi kệ. Chú có giọng hát hay, chú hát đủ kiểu. Có hôm cả ba chú dắt nhau ra vườn chơi, đùa giỡn chán, Tâm Chánh đề nghị Tâm Từ hát thi kệ nghe. Tâm Từ đứng lên làm ngay một màn trình diễn Rock thi kệ, chú nhún nhảy, uốn éo đủ kiểu làm cho hai chú kia cười ngặt nghẽo, cả ba đứa trẻ cùng đề nghị từ đây mình sẽ đọc thi kệ kiểu này mới vui. Ví dụ như:

Thất niệm là bóng đêm bóng đêm bóng đêm

Chánh niệm là ánh sáng ô là là, á lồ lồ

Đưa tỉnh thức trở về hê hế, hê hế

Cho thế gian tỏ rạng tỏ rạng, tỏ rạng.

Chà! Cái trò này thích thật, vừa hiện đại, vừa hợp thời lắm đó. Bây giờ người ta thích Rock, Hiphop thôi chứ ai thích ngâm nga, ê a hoài cũ lắm. Mình đi tu nhưng phải hợp thời đại chứ. Cả ba đều đồng ý với nhau như thế, rồi cùng chế biến ra bao nhiêu là cách hát vui ơi là vui.

Chưa hết đâu, thi kệ còn bị chế nữa, có lần Tâm An nghe anh Tâm Chánh đọc thi kệ nghe chuông:

Nghe chuông phiền não lên phơi phới

Ý loạn thân đau, mặt ỉu xìu

Hơi thở đi đâu rồi chánh niệm

Vườn tâm cỏ dại nở muôn nơi.

Nghe cũng thích chứ bộ, nhưng đọc hoài, đùa mãi cũng bị nhiễm. Có lần Tâm Chánh thỉnh chuông đại hồng, chú nghiêm trang dõng dạc hô:

Nghe chuông phiền não lên phơi phới

Ý loạn thân đau mặt ỉu xìu

Hơi thở nương chuông về chánh niệm

Vườn tâm hoa tuệ nở muôn nơi.

Trong tâm Tâm Chánh cứ nghĩ mình hô chuông đại hồng đúng. Ai dè, sáng hôm đó, ba anh em được mời lên ngồi trong phòng Thầy, nghe lời dạy rất nghiêm nghị của Thầy làm ba chú ỉu xìu thật. Giờ mà nghe chuông chắc cả ba đều ỉu xìu chứ phiền não không tan theo mây khói được đâu. Điều đáng buồn nữa là ba anh em không được chơi cái trò sửa thi kệ, không được hát Rock thi kệ nữa rồi. Còn gì buồn hơn khi không được nhìn Tâm Từ vừa hát, vừa giựt giựt. Mất rồi các thú vui. Vĩnh biệt Rock, Hip hop nhé! Thôi thế từ nay ta trở lại với cách xưa. Ba đứa trẻ ngồi nhìn nhau, thấy chú nào cũng hối tiếc cái trò ấy lắm. Bây giờ Tâm An mới thấy Thầy cũng như người lớn, chả hiểu con nít tí nào cả. Mặc dù cả ba đều biết rằng điều Thầy cấm là đúng, nhưng các chú vẫn cứ ưng ức trong lòng, giống như ai đó ra lấy mất món đồ chơi quý của mình vậy.

Trưa hôm đó, ba chú vác ba bộ mặt rầu rầu đi ăn cơm. Nhìn ba chú không còn vui vẻ như mọi hôm, Thầy biết các chú đang còn giận mình, Thầy mỉm cười rồi thỉnh chuông, đọc lời quán niệm. Giọng Thầy trầm ấm, lúc này sao Thầy dễ thương, nhẹ nhàng hơn hồi sáng. Nhìn Thầy Tâm An cảm thấy lòng mình mềm ra, muốn nhoẻn miệng cười với Thầy, nhưng cả ba chú đã ký hiệp ước đóng mặt lạnh, nghỉ thương Thầy một ngày luôn. Mới có mấy tiếng đồng hồ thôi mà Tâm An đã muốn hủy bỏ hiệp ước này rồi. Không biết giờ đến tối chú có giữ vững lời hứa với các anh không? Chú liếc nhìn Tâm Chánh, Tâm Từ thấy hai anh im lặng cúi đầu ăn cơm, mặt lạnh như tiền. Chà! Sao hai anh đóng vai này giỏi thế. Khâm phục, khâm phục quá đi mất thôi.

Thỉnh thoảng Thầy gắp những miếng đậu khuôn chiên chia cho ba chú, nhưng chả ai nhìn Thầy cười cả. Tâm An cũng thế, chú không muốn ngước lên vì sợ chú sẽ cười với Thầy mất thôi. Bây giờ thật là gay cấn, chú cứ phân vân: “bên Thầy bên bạn bên nào nặng hơn?”. Cả giờ ăn cơm chú chẳng để tâm đến bát cơm mà chỉ suy nghĩ lung tung, với bao nhiêu là tâm hành phát khởi lên triền miên không dứt. Giờ cơm chấm dứt bằng hai tiếng chuông, mọi người đứng dậy đi rửa bát. Tâm An sợ gặp Thầy lúc này lắm, nên chú cứ chần chừ mãi, để Thầy rửa bát xong ba chú mới đi rửa và đổ nước. Thế là thoát được, suýt nữa mình phá vỡ cam kết rồi.

Về phòng, Tâm Chánh, Tâm Từ nhìn Tâm An rồi phá lên cười:

– Thích thật mình đóng kịch giỏi quá mà, chắc Thầy nghĩ mình giận Thầy thật rồi.

– Ủa! Vậy hai anh không giận Thầy à? Tâm An ngạc nhiên hỏi.

– Ừ! Mình không thể nào giận Thầy quá năm phút đâu. Tại anh bị Thầy la hoài nhưng không thấy ghét Thầy chút nào cả. Chỉ ỉu xìu một chút thôi. Nhưng lần này anh thử đóng kịch coi em có giữ lời hứa không? Chứ hai anh đã thương Thầy lại rồi. Tâm Chánh vừa cười vừa nói.

– Hú hồn! Mừng quá đi mất. Chứ kéo dài nữa chắc em không giữ được lời hứa đâu. Lúc Thầy gắp thức ăn cho anh em mình, em chẳng dám nhìn Thầy, vì sợ mình cười hòa với Thầy. Giờ mình vui lại với Thầy nghe các anh.

Tâm Từ cười:

– Ừ! Thôi đừng đùa như vậy làm Thầy buồn. Mà hình như Thầy buồn thật rồi. Thế này nhé, trưa nay mình đi hái hoa cắm một bình tặng Thầy nghe.

– Thôi đi, chỉ có con gái mới hái hoa, bắt bướm thôi, ai con trai làm vậy, kỳ lắm. Tâm Chánh không đồng ý.

– Nhưng, Thầy thích hoa mà. Con trai cũng chơi hoa được chứ bộ. Mình vẫn thường cắm hoa cúng Bụt có sao đâu. Tâm An bàn vào.

Hai chú đã thuyết phục được Tâm Chánh, cả ba len lén đi ra sau vườn hái hoa, lá để cắm vào một chiếc bình con con, nhẹ nhàng đặt trên bàn trà của Thầy. Rồi trở về phòng ngủ. Đối với ba chú, ngủ trưa chẳng thích thú gì cả, giá như giờ đó mà chuồn ra sau vườn chơi thì vui hơn nhiều.

Riêng Tâm An, sau khi được hủy bỏ hiệp ước “làm mặt lạnh” chú cảm thấy trong lòng nhẹ nhàng, thoải mái. Chú có thể nhìn Thầy, cười và thương Thầy như trước. Chú nghĩ tới chiều nay, khi thức dậy nhìn bình hoa làm bằng cỏ dại trên bàn trà, chắc Thầy vui lắm, Thầy không còn buồn nữa. Chú thầm mỉm cười, rồi chìm vào giấc ngủ.Mỉm cười

 

Những trang viết trước:

Chương I: Tiếng Gọi Đức Thế Tôn

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 3: Vũ điệu của đôi chân

Tiếng gọi của Thế Tôn

 

CHƯƠNG 1

Tiếng gọi của Thế Tôn

 

Từng tiếng chuông ngân lên trong màn đêm tĩnh mịch, vang dài trên khắp núi đồi, như gọi mời vạn loài thức dậy sau một giấc ngủ dài. Chú Tâm An cũng miễn cưỡng lồm cồm bò dậy, hai con mắt còn nhắm cứng, khuôn mặt nhăn nhó trông đến tội nghiệp. Chú gục xuống giường ngủ tiếp, nhưng có tiếng của Thầy gọi nhẹ:

– Tâm An ! Dậy đi con.

Chỉ một câu thôi mà chú ngồi bật dậy, vội vả xếp mền mùng, rồi đi vào nhà vệ sinh. Khuôn mặt còn ngái ngủ, tay cứ dùi dụi vào hai mắt để giúp mình tỉnh hẳn.

Thầy nhìn chú mỉm cười cảm thông, Thầy nhớ hình ảnh của chú tuần trước còn bỡ ngỡ đứng trước sân chùa mân mê từng chiếc lá, từng cành hoa một cách trìu mến. Chú rụt rè khi gặp cái nhìn của Thầy, rồi chắp tay xá chào. Chú nói nhỏ xíu trong miệng:

– Thầy ơi! Con muốn đi tu, con muốn ở chùa.

Nói xong, chú cúi đầu chờ đợi một hồi lâu mới dám ngước lên nhìn Thầy, Thầy nhìn chú yêu thương và nở một nụ cười hiền hậu làm chú yên tâm hơn. Trong đôi mắt thơ ngây ấy hiện lên những dấu chấm hỏi và sự mong đợi một câu trả lời. Thầy đến gần nắm tay chú dắt đến phiến đá rồi bảo chú ngồi xuống. Thầy từ tốn hỏi:

– Con mấy tuổi rồi?

– Dạ thưa, con đã mười hai tuổi rồi ạ!

– Con tên gì?

– Dạ, con tên là Nguyên Khang.

– Con đến đây với ai?

– Dạ, con đi một mình.

– Thế ba mẹ con đâu?

– Dạ, ba con đã bỏ mẹ con đi theo người khác, mẹ con giờ đang đi tìm ba về, mẹ không còn nhớ đến con nữa, lúc nào cũng buồn bực gắt gỏng, la mắng con.

– Vậy mẹ con có biết con đi đâu không? Lỡ mẹ về không thấy con, mẹ con buồn khổ lắm.

Nghe nói mẹ sẽ buồn khổ, lòng chú hơi chùng lại một lát rồi nói:

– Dạ thưa Thầy, con có viết thư xin mẹ cho con đi tu rồi, nhưng con không nói cho mẹ biết con đi tu ở đâu để mẹ không tìm ra con nữa, khi nào con xuất gia rồi con sẽ viết thư báo cho mẹ biết.

Thầy ngồi đó lắng nghe, chợt thở dài rồi hỏi:

– Có phải con giận ba mẹ mà bỏ đi tu không?

– Dạ… dạ… – chú ngập ngừng không dám trả lời.

– Mình muốn đi tu thì mình phải ngay thẳng, có thì nói có, không thì nói không, sao con lưỡng lự vậy?

– Dạ, thực ra, con cũng giận ba mẹ lắm, mà con cũng thương mẹ nhiều lắm, nên con không biết phải trả lời sao nữa, nhưng con thích làm thầy tu, con thích ở chùa. Con thấy quý thầy hiền lành, không chửi mắng, đánh đập ai cả nên con muốn được như vậy.

– Đi tu khổ lắm, con có chịu được không?

– Dạ khổ là sao thưa Thầy?

– Trước hết là con phải thức khuya dậy sớm, bốn giờ kém mười lăm là con phải dậy rồi, con không được ngủ thoải mái như ở nhà được. Con còn phải học văn hóa, học kinh kệ, giáo lý… con có chịu nổi không?

Nghe Thầy nói, chú hăng hái trả lời liền:

– Dạ thưa Thầy, con làm được mà.

Thầy nhìn chú mỉm cười, cái tuổi thơ là như vậy, tâm hồn trong sáng, thuần khiết. Động cơ thúc đẩy một đứa trẻ muốn xuất gia chỉ vì thấy thích một nét đẹp nào đó như hình ảnh một vị tu sĩ bước đi nhẹ nhàng, chậm rãi, hoặc chỉ thích nghe tiếng tụng kinh… Cái tâm ban đầu ngây thơ, thanh lương ấy mới đẹp làm sao. Thấy Thầy im lặng, chú chắp tay thưa:

– Dạ con thưa Thầy, con có được ở đây tu không ạ?

Thầy gật đầu, đưa tay xoa đầu chú rồi nói:

– Con hứa mình sẽ làm được những điều khó khăn nho nhỏ như thầy đã nói thì con cứ ở lại đây một thời gian xem sao? Khi nào thầy thấy đủ duyên thầy sẽ cho con xuất gia. Thầy sẽ liên lạc với gia đình con, báo cho mẹ con biết con đang ở đây để mẹ con khỏi lo lắng.

Chú nghe đến đó trong lòng lo sợ:

– Thưa Thầy, nếu mẹ biết con ở đây rồi vô chùa dắt con về thì sao? Con muốn tu mà. Chú nói như mếu.

– Thầy sẽ giúp con, nhưng tất cả đều phụ thuộc vào sự quyết tâm của con. Nếu có chuyện đó xảy ra, con phải thể hiện cho mẹ con thấy được tấm lòng, ước mơ của con với con đường xuất gia. Thầy hy vọng con sẽ làm được.

Nói xong, Thầy mỉm cười, đứng dậy, dắt chú vào chùa. Chú vui vẻ trở lại, bước theo Thầy đến phòng các bạn nhỏ như chú đang ở, đến cửa Thầy gõ ba tiếng rồi vào trong. Thầy gọi:

– Tâm Chánh, Tâm Từ! Hai con ở đâu?

Từ trong hốc tủ, hai chú bé lò mò bước ra, chắp tay chào:

– Dạ thưa, Thầy gọi con?

– Hai con lại bày trò gì nữa vậy?

Hai chú lấm lét nhìn Thầy, chú lớn hơn thưa:

– Dạ thưa Thầy! Chúng con chui vô đó đọc sách ạ!

– Sao các con không ngồi trên bàn mà đọc?

– Dạ… dạ… Hai chú ấp úng.

Thầy như đi guốc trong bụng các chú:

– Hai con đọc chuyện tranh phải không? Sợ Thầy la nên chui vô đó đọc để không ai biết đúng không?

– Dạ. Hai chú lí nhí trong miệng. Đôi mắt các chú ánh lên vẻ ngạc nhiên như tự hỏi: “ ao Thầy lại biết vậy kìa? Chuyện gì mình cũng không dấu được Thầy cả?”.

– Tâm Từ, Tâm Chánh! Các con cho bạn mượn một bộ vạt hò, mai thầy kiếm người may cho mỗi đứa một bộ mới. Các con phải thương yêu giúp đỡ Nguyên Khang nhé.

Nói xong, Thầy giao Nguyên Khang cho hai chú, rồi đi về phòng.

Tâm Chánh năm nay mười bốn tuổi, chú lớn hơn Tâm Từ một tuổi, chú cao hơn Tâm Từ một cái đầu. Còn Nguyên Khang thì bé hơn hai anh một chút, nên chú mặc quần áo của hai anh rộng thùng thình. Lần đầu tiên được mặc bộ đồ vạt hò chú thấy vui và hạnh phúc chi lạ, dù bộ quần áo cũ mềm, nhăn nhó. Thay áo quần xong, chú bước ra và nhoẻn miệng cười:

– Cảm ơn hai anh.

Hai chú nhìn Nguyên Khang cười ngặt nghẽo. Tâm Từ tinh nghịch hỏi:

– Sao bạn ôm cái quần hoài vậy?

– Dạ, tại cái quần lỏng dây thun nên mở ra là nó tụt.

Tâm Chánh đến gần đưa cho chú một sợi dây thun cột đỡ.

Trẻ con thật vui, trong một tiếng đồng hồ là chúng quen nhau và trở nên thân mật liền.

Vài ngày sau  Nguyên Khang được Thầy cho thọ Tam quy ngũ giới và chú có cái tên mới là Tâm An. Chú rất thích cái tên này, bởi nó giống với các chú Tâm Chánh, Tâm Từ. Kể từ đó chú được Thầy và hai anh gọi là Tâm An.

Hơn một tuần qua, chú đi theo Tâm Chánh và Tâm Từ để biết cách sinh hoạt trong chùa. Tất cả mọi thứ đều xa lạ từ cái chuông, cái mõ, cái linh, cái tang… chú phải học tên gọi của chúng. Hai chú lớn rất vui khi được làm “thầy” chỉ vẽ cho Tâm An. Chú nào cũng giành nhau nói, giành nhau kể những chuyện mà các chú được biết:

– Tâm An! Em có biết tại sao cái mõ có hình con cá không?

Tâm An lắc đầu:

– Em không biết, anh kể cho em nghe đi.

Tâm Từ nhanh nhảu trả lời:

– Con cá đó là một ông thầy tu bị đọa đó. Nghe đâu ổng tu hành không miên mật, phá giới nên sau đó chết hóa ra con cá. Vì ân hận và muốn sám hối tội lỗi, nên mỗi khi con cá nghe tiếng tụng kinh đều ngoi đầu lên mặt nước để lắng nghe. Từ đó người ta khắc hình con cá lên mõ để răn dạy các vị thầy tu phải giữ gìn giới luật mà mình đã thọ nhận để hành trì.

– Vậy nếu em không thực tập năm giới mà Thầy mới trao là em cũng bị biến thành cá ư?

– Ừ, chớ sao nữa. Tâm Chánh gật đầu trả lời:

Chú lè lưỡi rồi nói:

– Ồ ! Sợ quá, em phải cố gắng thực tập chứ không bị biến thành cá, rồi lại bị người ta bắt làm thịt đau lắm.

Ba đứa trẻ đang huyên thuyên với nhau đủ điều, thì tiếng chuông báo hiệu giờ ăn chiều đã đến. Cả ba không ai bảo ai, tức khắc im lặng nghe chuông, thở và mỉm cười. Rồi trở về phòng mặc áo xuống nhà ăn dùng cơm chiều.

Về chuyện dừng lại nghe chuông cũng làm cho Tâm An ngạc nhiên. Chú thắc mắc không biết tại sao lại như thế. Tự nhiên con người đang hoạt động, nghe chuông thì dừng lại, đứng như tượng, thấy kỳ kỳ sao ấy. Chú đi quanh hai pho tượng sống, méo miệng, le lưỡi, quơ tay mà hai anh vẫn đứng im không nhúc nhích, cũng không cười với chú nữa. Tiếng chuông dứt, một lát sau, hai pho tượng mới hoạt động trở lại. Tâm Chánh, Tâm Từ nói với chú:

– Tâm An, em nên tập dừng lại để lắng nghe tiếng chuông, theo dõi hơi thở. Lần sau, em đừng múa máy tay chân trước mặt các anh đang thực tập nghe chuông nhé!

– Nhưng tại sao lại phải làm kỳ cục như vậy chứ?

– Tại em chưa biết đó thôi, nghe chuông là một pháp môn rất mầu nhiệm đó. Thầy đã từng dạy, khi nghe chuông thì dừng lại mọi câu nói, mọi động tác, mọi suy nghĩ để trở về hơi thở và thực tập bài kệ nghe chuông:

“ Lắng lòng nghe, lắng lòng nghe

Tiếng chuông huyền diệu đưa về nhất tâm”.

Tâm Chánh từ tốn giảng giải. Tâm Từ thêm vào:

– Tiếng chuông là tiếng gọi của đức Thế Tôn gọi mình trở về với chánh niệm. Mình nghe chuông là nghe những âm thanh vi diệu của Bụt gọi mình đó. Có nhiều khi anh cảm thấy trong tiếng chuông có tiếng Bụt gọi tên mình nữa.

Tâm An trố mắt nhìn, vừa ngạc nhiên vừa vui mừng:

– Thật hả anh? Bụt đã gọi anh à? Anh sướng ghê. Anh kể Bụt đã nói gì đi.

– Bụt gọi anh: “Tâm Từ, về đi con, về sống với giây phút này”.

– Vậy Bụt có thật à? Pho tượng kia đã nói với anh như thế ư? Sao mà linh thiêng quá.

– Ừ! Thầy từng nói: Trong cuộc đời của chúng ta ai cũng sẽ có lần nghe được tiếng gọi của Đức Thế Tôn mà mở rộng lòng thương yêu, tha thứ, bao dung. Từ tiếng gọi ấy khai thông suối nguồn tâm linh, khơi dậy ước mơ cao đẹp: đem niềm vui đến cho mọi người và làm vơi bớt khổ đau cho người nữa. Em có muốn làm điều đó không?

– Dạ có, em rất thích. Nghe chuông tưởng bình thường, kỳ quái như vậy mà lại linh ghê anh nhỉ? Em sẽ tập nghe chuông để được nghe tiếng gọi của Bụt.

Từ lúc đó, chú quen với việc dừng lại nghe chuông như một tiếng gọi thiêng liêng. Qua sự giải thích của hai anh, Tâm An háo hức làm ngay. Có lần, đang ăn cơm với Thầy và hai anh, mọi người nghe chuông đồng hồ đổ, dừng lại thở. Nhưng chú vừa đưa muỗng cơm vào miệng nên cứ để im tư thế đưa cơm như vậy nghe chuông. Chiều hôm đó, Thầy gọi ba anh em vào, bảo các chú lấy tọa cụ ngồi xuống, rồi Thầy chỉ dạy:

– Mấy hôm nay, Thầy có một số công việc nên chưa chỉ dạy cho Tâm An cách thực tập căn bản ở chùa mình. Thầy rất vui khi thấy ba con chơi với nhau như anh em, lại còn chỉ bày cho em mình cách thực tập nữa. Vậy các con đã chỉ cho Tâm An những gì nào?

Tâm Từ nhanh nhẹn chắp tay thưa:

– Chúng con nói cho em Tâm An nghe chuyện cái mõ, cách nghe chuông.

Rồi các chú lần lượt thuật lại những gì đã nói một cách vui vẻ. Thầy mỉm cười khen:

– Các con giỏi lắm, đã nhớ rõ những lời thầy dạy. Nhưng các con còn thiếu sót một số điều nên Tâm An lúc trưa đã ngậm muỗng cơm mà nghe chuông. Có đúng như vậy không con, Tâm An?

– Dạ thưa, đúng ạ. Chú lí nhí mắc cỡ, trước tiếng cười của hai anh. Thầy cũng cười, làm như chú là một chú hề trong rạp xiếc vậy.

– Tâm An con! Tại chùa này chúng ta thực tập chánh niệm. Chánh niệm tức là con biết được những gì con đang làm trong giây phút này, ở đây. Ví dụ như các con đang ngồi nghe thầy nói chuyện, các con biết rằng mình đang ngồi nghe. Tương tự như vậy, các con tập nhận biết trong tứ uy nghi: đi, đứng, nằm, ngồi, làm cái gì mình cũng đem ý thức sáng tỏ soi rọi vào. Đó là phép thực tập căn bản nhất.

Thầy ngừng lại, nhìn ba chú như xem thử các chú có hiểu những gì Thầy giảng giải không? Rồi Thầy tiếp tục:

– Vì con người chúng ta hay quên, nên Sư Ông đã tạo ra nhiều cách giúp chúng ta ghi nhớ và quay về trong chánh niệm. Nghe chuông cũng là một phương tiện nhắc nhở ta. Cho nên khi nghe chuông, chúng ta đem tâm ý chạy lung tung đâu đó về lại với thân mình thông qua hơi thở. Các con có hiểu ý của thầy không?

Ba chú chắp tay xá xuống:

– Dạ hiểu ạ.

– Tâm An, các anh của con quên nói cho con biết khi thực tập mình phải áp dụng một cách khôn ngoan, khéo léo, đừng có quá cứng ngắc. Giống như hồi trưa, con có thể đưa cơm vào miệng, để muỗng xuống bát rồi ngừng lại thở cũng được, nếu con thao tác như vậy trong chánh niệm thì cũng như con đang đem tâm về với thân vậy. Nhưng cách thiết lập chánh niệm nhanh nhất, tốt nhất là theo dõi hơi thở.

Tâm An nhìn Thầy, chú cảm nhận được tình thương của Thầy thông qua giọng nói trầm ấm, ánh mắt trìu mến. Trong lòng chú trào dâng một niềm thương kính vô hạn. Thầy không như cha chú, khi lầm lỡ, thì Thầy chỉ bảo cặn kẽ, còn cha chú nếu có lỗi thì bị la, bị đánh mà chú chẳng biết sau này mình nên làm cái gì, không nên làm cái gì, cũng không hiểu tại sao mình làm như vậy là sai trái nữa. Sau mỗi lần bị la, bị đánh chú chỉ biết rằng nếu mình làm lại việc đó thì sẽ bị phạt. Chú sợ bị đánh, sợ bị la nên không làm thôi, chứ chú chẳng hiểu được người lớn. Người lớn kỳ lắm, lúc vui thì chú làm hư cái gì cũng không bị la, lúc buồn thì bị mắng ngay. Người lớn thật khó hiểu quá. Thầy cũng là người lớn, mà sao Thầy không hành xử như ba chú nhỉ. Tâm hồn chú cứ thả theo suy nghĩ. Vậy Thầy có phải là người lớn không? Nếu nhìn bề ngoài Thầy cũng lớn như ba chú ấy chứ. Bất chợt Thầy gọi:

– Tâm An, con đang suy nghĩ gì thế?

– Dạ thưa, con … con đang nghĩ… con nghĩ Thầy có phải là người lớn không? Chú nói xong rồi nhìn Thầy chờ đợi sự phản ứng của Thầy.

Thật bất ngờ, chú thấy Thầy cười, Thầy cười rất vui và hai anh cũng cười. Chợt chú đỏ mặt, mình lại ngớ ngẩn nữa rồi, Thầy nhìn chú hỏi:

– Tại sao con hỏi vậy?

– Dạ thưa, tại con thấy Thầy hành xử không như những người lớn mà con gặp. Họ chỉ bảo con là con nít thì không được làm cái này, làm cái nọ mà chẳng giải thích tại sao không được làm kia chứ? Người lớn họ lạ lắm, có nhiều điều họ nói không được làm vì nó không tốt nhưng họ vẫn làm. Còn Thầy không giống họ, Thầy chỉ dạy con làm gì thì con thấy Thầy cũng làm như lời Thầy dạy. Con nghe mẹ con nói: “chỉ có con nít mới nói chi làm nấy, nghĩ gì nói nấy thôi. Còn người lớn họ muốn nói gì cũng phải suy xét trước sau, thiệt hơn”. Cho nên con phân vân không biết Thầy có phải là người lớn không? Và tại sao Thầy lại biết con nít cũng cần được giải thích mọi chuyện khi yêu cầu chúng con làm?

Nghe chú trả lời Thầy thấy vui vui. Thầy bảo:

– Từ từ rồi con sẽ biết thầy là con nít hay người lớn. Nhưng thầy muốn nhắc con một điều, là khi đang nghe giảng, hoặc làm bất cứ việc gì con cũng phải tập trung, đừng để tâm ý lôi kéo mình đi như vừa rồi. Con có thấy không? Tâm ý của mình như một con khỉ cứ nhảy từ cành này sang cành khác mà không chịu đứng yên. Con đang nghe thầy giải thích việc nghe chuông, thì để tâm ý đâu đâu, con thấy mình có nên như vậy không?

– Dạ thưa, không nên ạ.

Chú rất khâm phục Thầy mình, Thầy nói như vậy chứ không bắt ép chú mà chỉ khơi lên để chú tự nhìn ra là mình không nên như vậy. Chú cảm thấy thật nhẹ nhàng. Ngồi bên Thầy, nghe Thầy dạy bảo sao mà thích thế! Lời dạy nào cũng dễ hiểu, khuyến khích chú thực tập.

Đến đây, Thầy bảo:

– Thôi chúng ta ngừng nhé. Các con có thể đi chơi, nhưng phải tắm rửa sạch sẽ trước giờ cơm chiều.

Nói xong Thầy thỉnh ba tiếng chuông, bốn thầy trò nghe chuông, thở, mỉm cười. Tâm An cảm thấy càng lúc việc thực tập nghe chuông càng có ý nghĩa. Chú mơ hồ cảm nhận ra rằng đằng sau việc thực tập này có nhiều điều mầu nhiệm mà chú chưa khám phá ra được.Mỉm cười

 

Mời quý bạn đọc đón xem phần tiếp theo của Phương Trời Lạ do sư cô Chân Vỹ Nghiêm viết tặng khung trời tuổi thơ.

Chương 2: Thế giới của thơ và nhạc

Nha Trang ngày về (hết)

Donna Donna

8h’05’: Cũng bởi vì chúng ta đã có nhau rồi từ lâu

Buổi văn nghệ và thiền trà như thường lệ là những hoạt động cuối cùng của khóa tu. Tôi đã cùng những người bạn mình hát thật nhiều. Hát cho ý thức mình bừng tỉnh.

Đâu bao giờ có chia ly. Chưa bao giờ là đoạn kết.

Biết vậy, nhưng tôi thấy có rất nhiều những giọt lệ rơi trong những ngày cuối. Tôi được biết rằng có một số thanh thiếu niên đã phải miễn cưỡng đến đây để rồi sau bốn ngày ba đêm chợt nhận ra mình sắp phải mất đi một điều gì đó thiêng liêng và ý nghĩa. Ta cứ tưởng đoá Đỗ Quyên trước hiên nhà không sắc không hương, bỗng một hôm dừng bước ngỡ ngàng thì hương hoa đã phai nhạt cành lá đã rụng rời. Nhưng các bạn ấy đâu có biết rằng, dưới lớp đất đen màu mỡ vẫn còn đó những hạt giống. Ai đó đã nói với tôi rằng Khoá Tu Kim Sơn là một vườn ươm.

 

09. Choi tro choi tap the

Nắng trên hòn Gành chưa bao giờ tắt. Trăng chưa hề tàn trong những đêm liên hoan. Mỗi một thiền sinh đến với nơi đây khi ra về đã mang trong mình một chủng tử. Chủng tử của Ánh Sáng. Nhật Nguyệt – hai nguồn năng lượng lớn lao đó đã đi vào trong tâm thức mỗi người. Tình thương diệu ngọt tựa mảnh trăng vàng. Trí tuệ bừng sáng như mặt trời đỏ. Tất cả hạt giống đã được trao truyền để đợi những mùa sang năm tuôn dậy, trình hiện trên khắp những hàng quán chói chang cuộc đời.

 

Bài hát Donna

Khóa tu lần này tôi được dịp ngồi bên thầy Đại Hỷ và được nghe thầy giải thích về 14 bài kệ Chỉ và Quán. Khánh Chung có biết tôi luôn ghi nhớ bài nào không? Đó là…

Như chim có hai cánh
Thiền tập có chỉ quán
Hai cánh chim nương nhau
Chỉ và Quán song hành”

Khi học nếp sống tỉnh thức, chúng ta thường có cảm tưởng là mình phải thực tập Chỉ (Dừng Lại) rồi mới đến Quán (Nhìn Sâu). Nhưng thực tế hai phương pháp ấy chỉ là hai mặt của đồng xu, hai cánh của loài chim biển. Ví như khi ta xem một bức tranh thì giây phút ta Nhìn Sâu cũng tức là mình đã Dừng Lại. Càng có thời gian dừng lại thật lâu thì ta càng có cơ hội nhìn sâu và ta có thể phát giác cái hay đẹp của bức tranh ấy. Cho nên khi thục tập Dừng Lại thì tức là ta cũng đang Nhìn Sâu. Khi Nhìn Sâu tức là ta cũng đang Dừng Lại.

Bốn câu xúc tích đã đánh động tôi về một bài hát tuổi thơ. Một đoản khúc đồng quê đã làm say mê bao trái tim, thổn thức vạn tâm hồn. Khúc ca ngắn ngủi đó kể về câu chuyện một chú bò đáng thương. Suốt đời mình, chú chỉ mải miết kéo chở những cỗ xe rau quả, ngũ cốc. Chú luôn mộng ước được bay cao. Chú luôn mong mỏi được là cánh nhạn tung cánh về phương Nam. Chú mơ mình là gió ngàn rong chơi bốn mùa hoa lá. Thực tế là Donna đang bị đem ra chợ bán và sắp phải sang tay một người chủ mới. Kết thúc bài ca là một tiếng vọng về trong hư không. Đó cũng là câu quan trọng nhất toàn bài…

“Whoever treasure the freedom has learn to fly.”

Bạn ơi nếu muốn cất cánh thì phải học cách bay. Nếu không muốn đánh rơi tự do thì phải học cách bay. Chỉ vậy thôi đừng than thở nữa.

Tôi biết rằng bạn cũng như tôi đã bao lần ngần ngại, ngập ngừng khi đứng trước cánh cửa Phật Giáo. Ba tạng kinh điển, 84 vạn pháp môn dễ khiến cho vị hành giả khổ trí lao tâm. Đó như khu rừng mênh mông làm nản lòng lão tiều phu. Đó như biển xanh sâu thẳm bào mòn chí người ngư phủ. Nhưng bạn cùng tôi đã có Chỉ và Quán. Ta có thể yên lòng. Ta không còn lo sợ nữa. Chỉ cần thực tập Dừng Lại và Nhìn Sâu là ta đã có cây gậy băng rừng, chiếc bè vượt biển. Chúng ta có một con đường thật sáng rõ, phải không Khánh Chung?

Đôi cánh của Chỉ và Quán đã có nơi tự tâm mỗi người. Liệu ta có đủ dũng cảm để học, để vài lần vấp ngã, đôi lần trượt té rồi được bay cao hay không? Hay ta giống như Donna, tiếp tục lê bước quanh quẩn trên những nẻo đường bụi bặm. Bài ca Donna là bài hát về tự do. Và nếu ta biết thế nào là “Nhìn Lại” thế nào là “Nhìn Sâu” thì ta có đôi cánh chim trời. Ta có tất cả. Bao la trời cao, mênh mông biển rộng. Không tù ngục nào có thể giam hãm thân xác ta. Không mùa đông nào có thể làm trái tim ta lạnh giá.

Tự do! Ai mà không trân quý tự do, phải không Khánh Chung? Nhưng chúng ta phải bay, phải học cách cất mình khỏi những điều hữu hạn nơi thế gian này. Bạn có thể cùng tôi mừng vui vì ta đã biết được bí mật muôn đời. Bí mật của hạnh phúc. Chúng ta là những người giàu sang và may mắn nhất trần thế. Mình đã được truyền trao đôi cánh. Và với sự thực tập mỗi ngày, ta sẽ có cơ hội được vỗ đập lên không trung âm thanh của đại bàng. Với đôi cánh này, chúng ta sẽ không như chú bò tủi hờn kia nữa. Ta sẽ không đứng giữa chợ than thân trách phận, hơn thua với những điều nhỏ nhoi, vụn vặt. Ta vươn mình bay cao khỏi ngọn Tứ Sơn chật hẹp, đến với phương trời tự tại, dập dìu áng mây vàng.

Khánh Chung sẽ chọn như thế nào đây? Ngoan ngoãn với những lối cùng hẽm cụt hay phiêu diêu nơi mây trắng, trời xanh…?

 

Tin nhắn của Thầy Quảng Kim

Trong khoá tu, tôi được đọc lá thơ của Thầy Quảng Kim. Tôi muốn chia sẻ với Khánh Chung những cảm nhận của mình. Tôi biết rằng trong thời điểm viết thư, thầy đang gặp nhiều gian khó. Tuy vậy, suốt trong những dòng thơ không thấy một lời trách, tiếng than. Thay vào đó, chỉ là những niềm vui, những kỉ niệm đẹp ở thị xã Vĩnh Ngọc thành phố Nha Trang này. Thầy nhắn chúng tôi rằng dẫu phải chia xa nhưng tâm hồn thầy vẫn dõi theo từng tiếng thở nhịp đập của quê hương yêu dấu. Thầy còn nói đến hai cánh cửa kỳ diệu Bản môn và Tích môn. À phải rồi, Thầy còn nhắc cho chúng tôi về những thanh âm quen thuộc… Đó là những tiếng khua vang ngày mới, xé rách màn đêm…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

Tôi xin dành chút câu chữ cuối cùng này để kể cho Khánh Chung về những chiếc hỏa xa chạy dưới chân đồi Kim Sơn. Mỗi khi đi qua thì tiếng còi tàu luôn đánh động tôi về sự sống, ánh sáng, niềm tin, hy vọng và tuổi trẻ. Tất cả đang có mặt. Mọi thứ vẫn hiện hữu.

Khi tôi viết thư thì mỗi dòng chữ cũng là một đoàn tàu. Và âm thanh đánh thức tôi chính là “Khánh” và “Chung”. Tiếng khánh, tiếng chung luôn là pháp khí, là vật thiêng liêng đỡ nâng cho tôi trong sự thực hành nếp sống tỉnh thức. Và khi viết nên hai chữ thân quen “Khánh Chung” cũng là lúc tôi có cơ hội dừng lại. Ý thức tôi có mặt. Ý thức những con chữ bình lặng cũng có thể tạo ra niềm vui hay nỗi khổ. Tôi cẩn trọng từng nét bút giọng văn. Tôi biết rằng viết thư cũng là một sự thực tập Nói Lời Đúng Đắn…Tôi biết rằng có những người người đã vui, đã hạnh phúc khi nghe tôi bày tỏ nỗi lòng. Nhưng bạn của tôi ơi, bạn có biết không? Sự thật là khi trao một bức thông điệp lành, truyền một tin vui thì chính tôi mới là người sung sướng nhất. Bạn có biết không? Chính tôi đã được nuôi dưỡng bởi những trang thơ của mình. Khi trút hết tâm tư vào giấy trắng cũng là lúc tôi thấy rõ khuôn mặt của mình hơn, thấu tận nguồn cơn dòng nước tâm hành ….

Đời người ngắn ngủi. Tri âm khó tìm. Đọc thư của những người thương như anh Lữ như thầy Quảng Kim tôi như em bé thơ hằng đêm bắt ghế trông ngóng theo những toa hàng rực rỡ, chói loá. Những dòng chữ như đoàn tàu lấp lánh, ấm áp giúp tôi có thêm nhiều ước mơ và hy vọng. Và nay tôi lại viết cho Khánh Chung. Con tàu mang tên Thống Nhất, kết nối hai miền Nam Bắc đã lại lên đường, bắt đầu lăn bánh tiếp nối một chu kỳ. Và trong bức tranh tuổi thơ huyền diệu đó, tôi nguyện ước thấy bóng hình Khánh Chung. Thêm một em nhỏ nữa. Hai đứa trẻ. Hai tâm hồn thơ dại cùng nhau dõi theo những khoang tàu cổ tích, ngập tràn mảnh mảnh trăng vỡ sao rơi…

t.u…..t..u……….t……u……t………u…….t………u.…………t…..u

 

Tim an bình. Tâm rộng mở.

HẾT

Và vẫn còn……Những hàng chữ vẫn nối dài….

 

Hương ngả đầu ra sau lên giọng:

– Tên bạn dài quá hà. Từ nay mình sẽ gọi bạn là Xê.

Khánh Chung suy nghĩ, gật gù trả lời:

– Cũng được. Nhưng mà, tên bạn cũng dài. Cái dzì mà Dạ Lai Hương. Hỏng hiểu. Từ nay, mình đặt lại tên cho bạn. Mình sẽ gọi bạn là Hắc.

Hương lắc đầu ngầy ngậy. Khánh Chung chợt la lớn:

-AAA! Tới rồi! Tới rồi! Tàu tới rồi!

-Ờ. Tới rồi!

Hai đứa im lặng hồi lâu. Rất lâu. Hương lim dim, hỏi:

– Xê có nghe cái dzì hôn?

-Nghe dzì?

-Thì tiếng còi tàu đó.

-Ừ, mình thích nó lắm. Mà tại sao người lớn lại ghét nó nhỉ?

– Hương cũng hỏng biết nữa? Chắc tại nó ồn?

-Nhưng Chung thấy nó có ồn cái dzì đâu.

Khánh Chung tỏ vẻ hiểu biết:

-Ê, Hắc. Mình thấy có những người hay nói dzống tiếng còi tàu đó.

Hương ngạc nhiên, quay đầu:

-Ai dzậy?

-Thì mấy ông thầy tu đó.

-À, hi hi. Đúng rồi. Họ hay đi chung dzới nhau như một đoàn tàu.

Khánh Chung nhìn Hương chờ đợi. Hương chợt vỗ tay:

– À, hiểu ý rồi. Mấy ổng cũng suốt ngày  t.u…..t..u……….t……u…t……u..

Hai đứa khoái chí cười vang. Hương nghĩ ngợi:

– Mình thích họ. À không, thật ra thì mình thích tiếng còi tàu.

– Ừ, mình cũng thích tiếng còi tàu.

– Bạn xem mình làm có giống không?

– T..u….t…u…..t…….u………..t…………u

– Ha ha! Mình sẽ t…u….t……u như dzậy hoài nhé?

– Ừ, bạn dzà mình sẽ là hai toa tàu không rời.

t…..u…….t….u……t…….u……………tttttttttttttt……….uuuuuuuuuuuuuu

 

Nha Trang ngày về (p5)

 

A Cappella cho tất cảc

7h45’: Vấn đáp

Khoá tu lần này vì được tổ chức vào mùa hè nên rất đông các bạn trẻ tham dự. Tôi được thông báo số lượng phải hơn 400 người. Những điều nghe thấy…

… Và hôm nay sẽ có buổi vấn đáp.

41. No mud no lotus

Làm thế nào để biết được tình thương chân thật? Tình yêu đến từ rung động của trái tim hay là thể xác?

Thế nào là đồng tính luyến ái? Kết hôn với một người đồng giới có phải là một tội ác hay không?

Khi cái sai, cái xấu, cái giả liên tục xuất hiện trên những kênh thông tin đại chúng thì dần dần chúng cũng được chấp nhận như một sự thật hiển nhiên. Vậy làm sao để ta không phải trở thành nạn nhân của những phương tiện truyền thông đó?

Nền văn hoá Á Đông vốn coi trọng sự khiêm tốn, đề cao những hình mẫu hoàn hảo. Nhưng sự khiêm tốn và hoàn hảo dần khiến cho người ta trở nên dối trá, giả tạo. Vậy làm sao để không phải trở thành nạn nhân của chính nền văn hoá đó?

Làm thế nào an vui khi xung quanh ta có quá nhiều khổ đau?

 

Những phương pháp tu tập vốn có nhiều sự khác biệt. Vậy ta phải làm sao có thể dung hòa để không gây ra sự đổ vỡ, nghi kỵ?


Thật là lạ thường, phải không Khánh Chung? Tại sao những thắc mắc như vậy lại xuất hiện giữa nơi đạo tràng thanh tịnh? Chúng ta có thể tự vấn mình: Gia đình, học đường và xã hội đã giữ một vai trò như thế nào, đã vận hành ra làm sao để rồi những dấu chấm than, chấm hỏi đó lại lưu vết in dấu trên mảnh đất già lam yên bình này? Dưới nơi Phật đài, tôi đã nghe không biết là bao những băn khoăn, hoang mang về giới tính, tình yêu, tuổi trẻ và lý tưởng…

Trên đường lên Kim Sơn, tôi đã chứng kiến một sự thật đau lòng. Hai con người chỉ vì một va chạm nhỏ trên đường đi đã lao vào nhau như loài thú dữ. Không cần một lời giải thích, họ trút hết tất cả cơn giận dữ lên thân thể nhau. Và xung quanh dòng người vẫn còn đang chen chúc, giành giựt từng không gian ngã tư chật hẹp để tiến lên phía trước. Đây không còn là những hình ảnh hiếm gặp ít thấy. Tại sao kinh tế phát triển, đời sống đi lên mà máu vẫn chảy, nước mắt vẫn rơi?

Chúng ta hỏi nhau: Ai đã gây ra tình trạng này?
Loạn lạc, chiến tranh vẫn còn đang tiếp diễn khắp mười phương. Sự phát triển của khoa học chỉ có thể giảm bớt những bệnh tật về thân. Nhưng đứng trước những vấn đề của tâm, nhân loại bỗng trở nên nhỏ bé, bất lực. Những tiện nghi của công nghệ không thể thiết lập được truyền thông giữa cá nhân với gia đình và xã hội. Loài người đã mất dấu nhau. Đau thương đã tràn lấp. Bóng tối vẫn trực chờ. Và trong đêm thâu hun hút đó một tia lửa nhỏ – ánh Đạo vàng – đã chớp loé, soi rọi, dẫn chiếu cho bao nhiêu linh hồn lạc bước tìm về lối cũ đường xưa….

Thông điệp của Khoá Tu

Tôi đã được dạy rằng khi ta có những khó khăn thì điều hay nhất ta có thể làm là thở một hơi thật sâu và mỉm một nụ cười thật nhẹ. Thở và Cười. Chỉ đơn giản vậy thôi. Đó chính là câu trả lời cho tất cả. Đó cũng là thông điệp của khóa tu lần này. Khi ta thật sự trở về với hơi thở, khi ta mỉm được nụ cười chân thật thì ta có bình an, thanh thản. Năng lượng của sự hay biết, của ý thức có mặt thì nỗi khỗ, niềm đau của ta sẽ không còn cơ hội vùng vẫy, khuấy động. Chúng sẽ lại là những hạt giống được ngủ yên trở về với mảnh đất tâm hồn. Vì vậy cho nên nếu mỗi ngày ta hết lòng thực tập theo từng câu kinh bài kệ, nếu ta đặt trọn tâm trí vào từng bước chân, hơi thở, nụ cười thì ta đang tích luỹ cho mình một nguồn năng lượng vĩ đại. Năng lượng đó sẽ như đất, nước, gió, lửa tưới tẩm những hạt giống mà ta đã gieo trồng. Để rồi một sớm mai kia, bạn của tôi ơi! Khi thăm lại khu vườn tâm thức bạn chỉ còn bắt gặp những dãy màu đỏ thắm vàng tươi ngập tràn. Vỏ cứng đã vỡ nát. Hạt mầm năm xưa đã là đoá xuân ngời trong bình minh toả rạng…

Có thể trong ta vẫn còn những vấn nghi, những khắc khoải. Có thể ta vẫn chưa tìm ra một câu trả lời rốt ráo cho những khó khăn bản thân. Nhưng chủ đích của một buổi vấn đáp hay pháp đàm không nhất thiết phải tìm ra một giải pháp hay một lối thoát. Tu học không phải là công trình của những khối óc. Mục đích của ta là được ngồi với nhau, có mặt cho nhau. Khi tham gia một buổi như vậy tức là ta có cơ hội được ngồi yên bên người anh người chị của mình. Ta thực tập sống trong tình anh chị em. Ta lắng nghe nỗi niềm của nhau, nói bằng lời ái ngữ và nghe với tâm buông bỏ. Ngồi lắng nghe người khác trút bớt nỗi lòng là ta có cơ hội được tiếp xúc gần hơn với thực tại của người ấy. Chỉ vậy thôi mà người kia bớt khổ. Trong buổi vấn đáp hôm nay, tôi thấy nhiều người đã ngồi thật tĩnh lặng. Tôi thấy mình đang được nuôi dưỡng bởi sự vững chãi và bất động đó. Khi ta còn hơi thở, còn nụ cười thì ta có thể yên lòng. Lời giải đáp, một nẻo thoát, lối về chắc chắn sẽ sáng tỏ. Tôi mong sao mình sẽ luôn duy trì được nguồn năng lượng lớn lao này. Tôi nguyện ước: Trước mọi biến cố khó khăn, tôi vẫn sẽ luôn Thở và Cười được. Giữ được hơi thở và nụ cười thì mọi vết thương sẽ liền da, bao ách nạn sẽ đóng khép. Tôi có niềm tin như thế đó, Khánh Chung! Tôi có niềm tin nơi Bụt Dược Sư. Tin vào Bụt Dược Sư. Tin vào năng lực chuyển hoá, chữa lành mọi khổ đau, tật bệnh…

Quản lý năng lượng
Trong các câu hỏi được đưa ra, có một thắc mắc làm tôi giật mình chú ý. Đây cũng chính là tình trạng mà tôi đang mắc phải. Một bác Phật tử đã nhắc đến vấn đề “quản lý năng lượng” và hỏi rằng:

Làm sao tận dụng được thời gian tu học một cách hiệu quả?

Đầu tiên, ai trong chúng ta cũng đều thấy rằng quản lý thời gian sao cho thật khoa học là một điều cần thiết. Nhưng sau khi đã sắp xếp cho mình một thời khoá hoàn chỉnh “giờ nào việc đó” thì đôi lúc ta lại đánh mất mình trong chính thời khắc ấy. Vậy thì điều thứ hai là ta phải biết cách quản lý năng lượng của sự hay biết. Tức là ta phải biết cách duy trì Niệm Lực của mình. 

Ví dụ như ta có hơn nửa tiếng đồng hồ để đi thiền hành với một người bạn đồng tu. Nhưng sao sự vững vàng của ta rất ít ỏi, nhưng khi nhìn sang người bên cạnh thì có khi chỉ vài bước chân thì niềm vui, sự bình an của họ đã toả chiếu. Khánh Chung có thấy sự khác biệt ấy không? Ba mươi phút của người này là thiên thu nhưng với người kia thì có khi chỉ là một cái ngoảnh mặt chuyển mình.

Câu hỏi ở đây là làm sao ta có thể quản lý Niệm Lực sau khi đã biết cách quản lý thời gian? Làm sao có thể làm cho năng lượng tỉnh thức của mình thật sự có mặt?  
Trong đời sống hằng ngày, tôi đã sắp xếp một giờ phút để có thể nhìn lại bản thân . Tôi có thể thực tập một mình rất kiên định rất miên mật. Nhưng sao hiệu quả vẫn chưa thấy. Đến khi tôi thực tập cùng tăng thân thì Niệm Lực trở nên sâu dày. Khi tham gia vào ngày Quán Niệm thì tôi thấy mình có nhiều thăng tiến hơn. Bước chân mình vững vàng hơn. Tiếng nói mình yêu thương hơn. Thế ngồi mình thanh thoát hơn. Khánh Chung đã thấy câu trả lời rồi phải không?

Khi ta chỉ là một hạt nước nhỏ thì làm sao có thể dưỡng nuôi, tưới tẩm cho gốc rễ thân tâm? Nhưng khi ta đã hòa điệu với hải hà thì ta có thể đi tới rất nhanh, rất mạnh. Ta hòa vào biển lớn, nương theo dòng ra tới đại dương…

Thoạt nhìn thì mình chỉ tu tập cho bản thân mình thôi. Nhưng khi mình thực tập hết lòng cùng đại chúng thì năng lượng bé nhỏ của ta được ôm ấp trong lòng tăng thân. Và sức mạnh của tăng thân – nguồn lực vĩ đại đó sẽ đi vào châu thân mình. Muốn quản lý năng lượng của sự hay biết thì ta nên nương vào sức mạnh của bốn chúng (Tâm thức của cộng đồng). Nếu muốn thành công trên phương diện tu học thì phải biết nương vào sức mạnh của tăng đoàn. Chân lý giản dị này tôi và Khánh Chung đã được nghe, được dạy. Ấy vậy mà tôi vẫn đôi lần bỏ quên đánh mất trên con đường dưỡng tánh tu tâm…

Ba sự quay về

Trưa nay, tôi thầm lặng cúi đầu quỳ gối dưới ngôi Tam Bảo. Khi năm vóc trở về với đất cũng là lúc tôi lãnh trọn cơn mưa trắng xóa cõi lòng.

Con về nương tựa Tăng
Đã về nương tựa Tăng
Về nương Tăng trong con

3 câu ngắn ngủi, vỡ lòng mà đến nay tôi vẫn chưa thuộc, khi nhớ khi quên.

Tôi nào có khác chi hình bóng ca nhân nơi đất khách quê người. Vì buồn giận tủi hờn mà chàng nghệ sĩ đã vội vã chia tay gánh hát của mình lang thang trên đường xa vạn dặm. Anh nghĩ là có thể an ổn một mình làm thân dế hát rong sau khi nắm bắt âm luật điệu thức. Anh nghĩ rằng mình có thể hát không cần nhạc đệm. Nhưng anh đâu có biết để hát A Cappella thật hay thì phải cần ít nhất 4 người. Rồi ngày trôi đi… Trôi đi… Bốn mùa thay lá…  Một sớm mai tĩnh lặng, khi chân chùng gối mỏi, những dấu hỏi dấu chấm bắt đầu thành hình, thổn thức trái tim, cào xé da thịt…

Ba nghìn thế giới mà ta vẫn
Không biết về đâu? Trụ ở đâu?
Chùa xưa đã đốt. Ta đi vậy
Tam Bảo và em ở cõi nào?

Nhà thơ Du Tử Lê đã hỏi mình và cũng hỏi thay cho bao nhiêu linh hồn vô chủ. “Trụ ở đâu?” “Về đâu?”

Ta có thể trả lời. Sẽ không quá khó khăn để ta đáp lại. “Về nương tựa Tăng”. Nếu được nói một câu về Đạo Bụt thì tôi cũng xin chỉ cất lên bốn tiếng đơn sơ ấy. Nhưng tôi cũng biết rằng có những điều dung dị, giản đơn mà ta học hết kiếp này vẫn chưa xong, trả suốt đời sau cũng mãi còn.

Kim Sơn Tự đã giúp tôi trở về. Trưa nay, tôi đã về lại ngôi trường xưa cũ. Và nguyện ước luôn là kẻ học trò, mãi là người tập sự. Trưa nay, một lần nữa trong tư thế sát đất, tôi thầm ôn lại bài học Nương Tựa Quay Về…

Tim an bình. Tâm rộng mở.

(còn tiếp…)

Nha Trang ngày về (p4)

 

Luân khúc Canon sớm mai

NhaTrangngayve45h30’ :Iha Shaariputra 
sarva-dharmaah shuunyataa-lakshanaa………..

Sáng nay tôi cùng đại chúng ôn tụng Bát Nhã Tâm Kinh. Nghe kinh mà như nghe mưa rơi. Rơi trên mái dạ linh hồn. Từng giọt, từng giọt vỗ về  bao khối hờn đau kết tụ từ muôn vạn kiếp. Trên nền sân của ngôi cổ tự chỉ còn là những “hạt lụy phiền”. Cứ mỗi lần đọc lại những lời dạy của Đức Thế Tôn dành cho người đại đệ tử của mình trong tôi luôn là một cảm giác thanh bình và lân mẫn. Từng dòng kinh kệ như bản luân khúc vỗ vào bờ giác quan, thấm ướt những nơi héo úa khô cằn. Người tôi nhẹ nhõm. Lòng tôi rỗng rang. Hương kinh thơm phức như dòng sữa mà mật ngọt vẫn còn lưu luyến trên đầu lưỡi vành môi. Cánh chim hồn tôi được yên nghỉ ấm êm trong lòng đạo lớn. Từng bước đi là từng hạt giận buồn rụng rơi. Cảm giác này tôi không thể diễn tả bằng lời mình mà đành phải vay mượn thi sĩ Xuyên Trà. Tôi muốn đọc cho Khánh Chung những dòng thơ mà tôi luôn ghi khắc…

Thời kinh ai tụng thơm trời đất
Mà cánh chim về cũng ngủ yên
Sáng ra Bát Nhã bừng tâm thất
Rụng trắng đầy sân hạt lụy phiền.

Bốn câu thơ ngắn ngủi mà nói thay tôi biết bao nhiêu ý tình. Trong những ngày đầu tiên bước vào Cửa Tịnh, tôi đã thầm ước ao mình cũng là Thầy Xá Lợi Phất để được kề cận Bụt, được Bụt chỉ dạy mỗi ngày. Giờ đây tôi đã có thể mỉm cười với ước vọng đó của mình. Bụt có bao giờ xa cách với tôi đâu! Bụt đã hoá hiện trong hình ảnh của một tăng thân. Và tôi đã có thêm nhiều tri kỷ. Những người như Khánh Chung như Xuân Phong như Về Nguồn và còn biết bao những trái tim hai mươi nữa – những người thương của tôi – đoàn thể luôn nhắc nhở tôi, luôn chỉ bày cho tôi nghệ thuật hiểu sâu thương lớn.

Bữa ăn cuối cùng

Bốn ngày tu học thì có đến ba ngày tôi được ăn cùng đại chúng dưới ánh bình minh. Ngồi xoay lưng về phía Đông, hướng mặt vào nhau. Bữa ăn chỉ là một ít xôi và chén sữa đậu nành thôi mà sao ngon và vui quá! Niềm vui vỡ đê tâm hồn. Ánh dương tỏa chiếu, đưa hơi ấm lan truyền trong từng tế bào cơ thể. Những mạch máu trào dâng, lấn chen nhau đón chào khí trời trong tinh khiết. Dòng sông cảm thọ trong tôi sau bao mùa bão lũ đã trở nên hiền hòa, bình lặng. Và trong khoảnh khắc lung linh dịu êm đó, một bức tranh đang nổi trôi, dập dìu giữa khơi chừng sóng xô. Tôi tìm về với những trang kỉ niệm, đọc lại những dòng ký ức của đời mình. À! Thì ra đây là vật phẩm mà tôi đã cất giữ trong tầng sâu tâm thức. Tưởng chừng tôi đã lạc mất đi nhưng hôm nay lại biểu hiện dưới lấp lánh nắng vàng…

Bức bích họa ấy đã rung chuyển cả thế giới. Một bản vẽ chỉ miêu tả khung cảnh của một bữa ăn nhưng đã mất gần 7 năm để hoàn tất. Tài năng của họa sư ở chỗ ông vẽ trên một mặt phẳng nằm ngang nhưng người xem lại thấy được một vòng tròn đa diện. Không gian hai chiều nhưng nhìn kỹ thì đó là một không gian vô cùng tận. Thức ăn được vẽ bằng những hình tròn. Tất cả những người tham dự ngồi quây quần bên nhau hướng về người thầy của mình…Và đó cũng là bữa ăn cuối cùng của họ.

Khánh Chung có biết tác phẩm nổi tiếng ấy không? Ấy là The Last Supper. “Bữa ăn chiều cuối cùng”. Họa phẩm ấy đã đem đến cho nhân loại một nguồn sức mạnh tâm linh siêu việt. Ấn tượng đậm sâu nhất chính là trung tâm của bản vẽ với hình ảnh của Chúa hiền mơ. Khi xem tranh, ta thấy hai sắc thái tương phản nhau rõ rệt. Đức Jesus sau khi thông báo sẽ có người bội phản mình đã ngồi thật thanh thản với hai cánh tay mở rộng sẵn sàng đón nhận tất cả. Trong khi đó, 12 môn đồ của Người thì chia thành 4 nhóm nhỏ hoảng loạn, ngã nghiêng. Giây phút có một không hai đó đã được lưu giữ bởi bàn tay tài hoa của người nghệ sĩ thiên tài Leonardo Da Vinci.

Khi ăn sáng cùng đại chúng tôi thấy rằng lòng mình vẫn còn nhiều trăn trở. Những vết thương sâu kín vẫn chưa lành. Tâm can vẫn còn chưa thôi đau nhức. Nhưng hình ảnh của Chúa Kitô đã truyền đến tôi nguồn cảm hứng vô biên, trao cho tôi nguồn phúc lạc nồng ấm. Người như một hòn sỏi nhỏ rơi nhẹ vào hồ xanh để rồi trên mặt nước tĩnh lặng kia là bao dư ba lan tỏa. Dòng nước hung hãn của những thế lực đen tối cứ mãi dâng cao, tràn lấp. Ấy vậy mà Người vẫn ngồi bình yên như một trái núi. Nước càng lên cao. Núi càng đứng vững. Sự bình an trên khuôn mặt, sự vững chãi trong dáng ngồi của Người đã làm tan chảy biết bao trái tim lạnh lẽo giá băng, đem hừng đông về cho địa cầu sau những đêm dài huyền hoặc, tăm tối …

Sáng hôm nay, tôi thấy một vòng tròn thật đẹp. Tôi được ngồi tĩnh lặng giữa vòng tròn tăng thân trân quý. Mặt trời hồng đã lên cao và trong tôi mặt trời ý thức cũng đang rực cháy. Ý thức rằng đây có thể là Bữa Ăn Cuối Cùng, đây có thể là cơ hội có mặt duy nhất với người thương của mình đang thiêu đốt muôn vạn hồng cầu trong tôi. Vì thế cho nên tôi cẩn trọng từng miếng nhai, hay biết từng hơi thở. Và những giọt tịnh lạc, an định bắt đầu rơi nhẹ lặng lẽ khẽ khàng trên thềm tâm. Tôi chợt thấy rằng khung cảnh mầu nhiệm mà mình đang tham dự chính là sự tiếp nối tuyệt phẩm của Leo.

Chúng ta đâu cần phải là chàng họa sĩ vĩ đại của thành Firenze. Từng nhịp thở, mỗi miếng nhai ý thức đang là những đường nét tạo dựng cho nhân gian thêm một báu vật nữa. Khánh Chung cũng đâu cần phải đến nhà ăn của tu viện Santa Maria delle Grazie ở thành phố Milano xa xôi để chiêm ngưỡng L’Ultima Cena. Vào tuần lễ thứ ba trong tháng của mỗi quý, khi đến với mái chùa cổ ở thị xã Vĩnh Ngọc, thành phố Nha Trang này thì bạn sẽ lại được như tôi vẽ lại tuyệt tác năm nào. Và chắc chắn đó sẽ là những mảng màu, nét bút tươi sáng, rực rỡ gấp ngàn lần hơn. Chủ đề của tác phẩm sẽ là tình anh chị em, tình bạn hữu bao la cao rộng. Tiêu đề cũng sẽ khác đi. Không phải là Bữa Ăn Cuối Cùng nữa mà sẽ là bữa ăn đầu tiên, Bữa Sáng Đầu Tiên. La prima colazione. Vì tình thương không bao giờ cho phép chúng ta nói rằng đây là lần cuối, có phải không Khánh Chung? Sẽ không còn bất cứ một âm mưu, một toan tính nào nữa mà chỉ có sự xót thương, lòng lân mẫn. “Xứng đáng chỉ có lòng xót thương”. Thông điệp của tình thương và hiểu biết ấy tôi đã được nghe. Và tôi lại thêm một lần nữa được nhắc nhở trong buổi ăn sáng thiêng liêng này…