Xứ Nguyệt

Ngày hôm kia anh chào tạm biệt người thương để đi về bên kia núi. Nơi đó mùa thu đã bắt đầu với Trời Quang và Trăng Tỏ. Mây giăng kín lối và hoa cỏ phủ kín sương mai. Con Bạch thức dậy từ rất sớm kể cho anh nghe câu chuyện ngày xưa chị Hằng về thăm xứ Nguyệt…

Một chiều đầu thu, chị Hằng trở về thăm xứ Nguyệt. Gần đến ngày hội trăng rằm nên chị cũng cảm thấy trong lòng có chút bồi hồi và xao xuyến. Xứ Nguyệt im ắng trong chiều tà của ngày thứ hai “làm biếng”. Mặc dù vậy, chị được đón chào bởi những cô tiên áo nâu rất hiền hòa và dễ thương khiến bao mệt mỏi bởi chặng đường dài tan biến.

Phong cảnh rất hữu tình và thiền vị. Chị hít thật sâu, chậm rãi nhấp một ngụm trà và đưa mắt nhìn bốn phía. Bình yên quá! Tựa hồ như em bé được quà, chị cứ nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hít vào và thở ra để tận hưởng cái cảm xúc ngọt ngào đó. Bước nhẹ nhàng trên chiếc cầu gỗ băng qua thiền đường, chị phát giác hoa cỏ nở rộ xung quanh dưới chân mình.

Những ngày sau đó, chị nhanh chóng hòa nhịp vào cuộc sống của nơi này. Cách xứ Nguyệt một con đường với hoa cỏ mọc hai bên là lối về vùng đất của Trời Quang. Ngay chính giữa là nơi hội ngộ cho mỗi lần khất thực. Những bước chân nhẹ tênh, nét mặt tươi mát, ánh mắt, nụ cười và thỉnh thoảng có cả những trò đùa tinh nghịch hồn nhiên của các tiên chú, tiên cô đã giúp chị mỗi ngày một gắn bó và xích lại gần với chốn này. Ngày mới bắt đầu từ tinh mơ với ấm trà nóng, hồi chuông thức chúng và tiếng leng keng báo hiệu đối với chị như một vũ khúc lúc ban mai:

“Thức dậy miệng mỉm cười

Hăm bốn giờ tinh khôi

Xin nguyện sống trọn vẹn

Mắt thương nhìn cuộc đời”

Bạch là một chú chó dễ thương sống ở Xứ Nguyệt. Gọi là Bạch nhưng nhìn nó chỉ thấy màu vàng của đất đá và núi rừng mà thôi. Bạch cũng thức dậy từ rất sớm và thỉnh thoảng nó lại theo chị cùng với các cô tiên “dạo chơi” trên lối về “Hữu Tình Cốc”.

Hữu Tình Cốc  là cái nhà gỗ mái tranh nằm sát núi vẫn còn đang xây dở dang. Người dân của Xứ Nguyệt và Trời Quang dành nhiều tình thương và tâm huyết để dựng lên cái cốc này cho vị Thầy, vị Cha tâm linh đáng kính của mình. Cái tên này là do chị đặt ra cho riêng mình vì mỗi lần đặt chân đến đó, chị như nghe tiếng gọi của hồn thiêng sông núi gọi về. Mỗi buổi sáng thứ năm và chủ nhật, chị có cơ hội được ngồi yên dưới thảm cỏ còn đẫm hơi sương, mùi hương trầm hòa quyện mùi hoa cỏ, và chốc chốc lại nghe tiếng chim hót líu lo. Xung quanh chị là sự tĩnh mặc của ban mai nhưng tràn đầy năng lượng lan tỏa từ những vị tiên áo nâu đang ngồi bên cạnh mình.

 

Ngồi trong bình an

Hai tuần trôi qua với chị rất bình dị, đơn sơ nhưng thấm đượm rất nhiều nghĩa tình. Một đêm khuya nghe tiếng gõ cửa, chị nhận ra vị tiên già mang thuốc lại cho chị khi nghe tin chị bị cảm lạnh. Mấy ngày sau trước mỗi giờ đi ngủ chị đều được cô tiên trẻ lại bấm huyệt, xoa dầu. Bát cháo gạo lức, hủ chanh gừng, bình nấu nước nóng…xoa dịu cơn bệnh và chị phục hồi nhanh đến không ngờ.

Tham dự các lớp học, các buổi thiền trà, chia sẻ, chấp tác hay leo núi dã ngoại, chị đã được thưởng thức món ăn có giá trị nuôi dưỡng vô cùng. Đó chính là “tình huynh đệ” giúp Trời Quang và Trăng Tỏ mỗi ngày một xanh hơn, tươi mát hơn…Không còn ranh giới của sự phân biệt, mặc cảm hơn kém bằng, nơi đây tràn ngập năng lượng của sự bao dung, nâng đỡ và thương kính. Chị hiểu ra rằng chính tình thương lớn đã giúp cho Xứ Nguyệt và Trời Quang có được tự do lớn đến như vậy. Mấy ngày hôm đó, cơn mưa đầu mùa ào ạt xối xả. Có lúc, chị thích thú đưa tay hứng lấy những giọt mưa hiếm hoi của vùng đất này. Nhìn những bước chân chậm rãi và tự tại dưới trời mưa gió bão bùng, chị cũng hiểu ra thêm rằng chính tình thương lớn đã giúp cho xứ Nguyệt và Trời Quang có được vững chãi.

Thu về… ngày kỷ niệm của chị Hằng với người thương lại trùng hợp với ngày biểu hiện của Xứ Nguyệt và của cả Trời Quang. Cùng với tự do lớn của các vị tiên áo nâu, chị như cùng anh bay vào thiên thu cõi vĩnh hằng, thảnh thơi và bình an đến kỳ lạ.

Mỹ Hằng

Vu Lan trắng

Con đang thở nhẹ nhàng cho ba…

Con đang mỉm cười cho mẹ…”

Ba mẹ ơi, ba mẹ có biết rằng: Con thương ba mẹ lắm không?

Sáng nay trời trong veo, mây vắt lửng không trung, từng ngọn gió rơi khẽ vào lòng mát rượi. Sợi thương yêu nào đó dấy khởi, tơ hạnh phúc nào đó liệng ngang những ý nghĩ của con về ba mẹ. Lại tiếp nữa những mùa Vu Lan trắng…

Con bất chợt run rẩy, rồi đối diện với những khoảnh khắc ngày xưa đang ùa về trong thực tại: mười mấy năm trời rồi đó, ba mất đi. Mất mát đầu đời của một em bé bốn tuổi, có tàn nhẫn lắm không hở ba?

Con vẫn còn nhỏ lắm

Không hiểu rằng ba mất

Thân phận con khác đi

Thân phận trẻ mồ côi.

Mẹ nắm tay con đi suốt con đường làng tuổi nhỏ, con khờ khạo cũng đôi lần thèm được nắm tay ba, ôm ba quay tròn cười tít mắt. Con mở mắt nhìn qua song cửa, thấy bạn con được ba cõng tới trường…Ôi ngày đó! Nước mắt tèm lem gương mặt nhỏ, cố nghĩ ra: Vì sao ba mất? Con đi tìm, mà ba trốn con mãi?

Bảy tuổi đầu, con đứng khóc trên lớp vì lũ bạn trêu con: “Mày không có ba…” Lớn lên nữa, nào dứt cơn mê sảng, mẹ giật mình vì con hay bật dậy trong đêm…nước mắt hoen mi lúc nào chẳng rõ…Tất cả là tại ba đó, ba ơi! Con sụp quỳ trong thương nhớ, ôm thật kỹ những lời mẹ kể về ba…con sợ men đời giành giật và phai mờ hình dung ba của con!

Mẹ ôm con vào lòng, dắt con đi qua tuổi thơ vắng bóng ba bằng những lời ru ầu ơ êm dịu mà nghe nghẹn đắng, cay xè sống mũi:

Ầu ơ … ví dầu
Cầu ván đóng đinh
Cầu treo lắc lẻo
Gập ghềnh khó đi

Ầu ơ …
Khó đi mẹ dắt con đi…
Con đi trường học
Mẹ đi trường đời …”

Nét hồn nhiên làm hồng môi trẻ, lắm khi con hỏi: “Ba đâu rồi hở mẹ?” Mẹ lặng cười tê tái… “Ba đi xa rồi, thôi…ngủ đi con…” Giấc con say nào hay biết đâu bóng mẹ in hằn khắp ngõ giữa trưa hè, giữa mưa giông…nào hay biết vị đời chát chúa đang tràn ngập lòng mẹ. Mồ hôi và nước mắt, lo toan và gánh nặng mưu sinh chồng chất…vai mẹ hao gầy, đôi tay mẹ chai sần hết cả rồi… Chính mẹ đã thay ba cõng con đến lớp, lội qua con nước lũ tháng tám, tháng chín chốn quê nghèo. Cánh đồng nước mênh mông lênh láng như tình mẹ dành cho đứa con thơ và dốc hết yêu thương để ngăn những giọt nước mắt mồ côi chảy ròng trong đời con. Mẹ! Con ghét quyển từ điển của thế gian, nó rách nát quá, không có từ ngữ nào diễn bày cho thật đầy, thật sâu đức hy sinh, hạnh thương yêu vô tận của mẹ.

Con hứa ngoan ngoãn, con đủ khôn lớn để tự chăm sóc bản thân…con sẽ gánh vác cùng mẹ, con sẽ thay ba lau khô mồ hôi trên trán mẹ, hôn nhẹ lên đôi mắt mẹ còn nồng vị xót xa. Con thương mẹ lắm, mẹ đừng bỏ con đi…

Con đã quên đi mùi nhang khói, cố để mảnh tang trắng lụi tàn theo đống lửa, theo lớp đất phủ lên hình hài ba ngày đó. Mẹ! Mẹ đừng đi theo ba, vết thương trong lòng con sẽ đau rát, ai sẽ ôm con? Trái tim bị chẻ đôi, nhức nhối lắm, mẹ ơi… Ai sẽ chắp vá nguyên vẹn tình thương cho con?

Mất hút và tàn phai…con không còn gì, con vĩnh viễn chào xa tình yêu thiêng liêng đời người…khóa chốt thời gian cho tất cả chìm trong nước mắt, tờ giấy báo đỗ đại học cũng hoen nước…Con lạc lõng và bơ vơ lắm, ba mẹ biết không?

Con sợ đóa hoa trắng mùa Vu Lan năm nào…


Giờ…

Mùa Vu Lan đang gõ cánh cửa lòng con, mọi niềm đau trở nên mát dịu. Ba mẹ ơi, có một người đã cứu chữa vết thương, chắp vá lại thành những tin yêu trong đời sống của con và trao truyền một con đường đẹp màu tỉnh thức. Đã có đường đi rồi, con gái của ba mẹ không còn sợ hãi nữa… Sư Ông và Tăng thân đã dìu con qua khổ đau, năng lượng hạnh phúc trong con đong đầy mỗi giây phút hiện tại.

Con biết con là sự kết tinh tình yêu của ba mẹ, cũng chính vì tình yêu đích thực vuông tròn nên con được sinh ra trong thế gian này…

Con biết con là sự tiếp nối những hạt giống từ ái, đức hạnh, can đảm của ba mẹ nên con rất quý trọng và nguyện sống cho đẹp để thấy hoa trái hạnh phúc chỉ trong tích tắc thời gian…

Con biết “sự hiện hữu chỉ thật sự nhiệm màu khi tình thương khai mở và tâm hồn sáng trong như lưu ly để nhận chân sự thật rằng: một chút khổ, một chút bất hạnh là chất liệu nuôi dưỡng để hạnh phúc thăng hoa.”

Thế nên, ba mẹ ơi…

Con biết ba mẹ còn đó trong hình hài con đây, nên con rất hạnh phúc…con rất biết ơn! Con đang sống thành thực với giây phút hiện tại, con đang thở, con đang mỉm cười rất ngọt ngào, con đang bước đi rất dịu dàng…cho ba, cho mẹ và cho tất cả những người con thương và những người con chưa thương được…Con đã cởi dây khổ đau trói trái tim, để thấy ánh mặt trời tỏ rạng, để thấm thía lời Sư Ông dạy: “Ngày nào tôi mở được cửa trái tim, tôi sẽ nắm được phần thắng trong tay.”

Ba mẹ ơi, mầu nhiệm quá phải không ạ? Con gái được Tăng thân ôm ấp, che chở, cùng đi chung đường tìm về miền Chân-Thiện-Mỹ nên con không hề trống vắng, cô lẻ, buồn khổ…

Ba mẹ yên tâm nhé!

Con sẽ đối diện hết lòng với người cài hoa cho con trong mùa Vu Lan năm nay, rằng…

Hãy đưa cho em, những bông hoa trong rổ mây mà anh có…

Đóa hoa trắng ư? Em cảm ơn thật nhiều, em sẽ cài trang trọng lên ngực áo đóa hoa trắng…nhưng em đã cài nơi trái tim thiêng đóa hoa hồng vì ba mẹ chưa từng chết trong tâm thức em.

Đóa hoa hồng ư? Em xin nhận lấy, em sẽ cài trang trọng lên ngực áo đóa hoa hồng…vì ba mẹ còn biểu hiện “không có gì đã qua và đã mất, không có gì sẽ qua và sẽ mất.”

Con đang đón mùa Vu Lan trong tràn trề những niềm vui. Con sẽ bước đi tỉnh thức cho ba mẹ, quán chiếu thật sâu lời Sư Ông dạy: “Nếu bạn được cài bông trắng, nên quán chiếu là Cha hoặc Mẹ vẫn còn trong bạn và có mặt trong từng tế bào của cơ thể bạn. Đưa bàn tay lên nhìn, bạn sẽ thấy bàn tay ấy của bạn mà cũng là bàn tay của Cha, của Mẹ. Trong bàn tay bạn, có bàn tay của Cha, của Mẹ. Bạn hãy đưa bàn tay ấy đặt lên trán và sẽ thấy, đó là bàn tay của Mẹ hay của Cha đang đặt trên trán bạn. Thật là nhiệm mầu!”

Ba mẹ thấy không, trái tim con đang mỉm cười và “Ba Mẹ ơi, con đang tu tập có hạnh phúc với sự giúp đỡ của Sư Ông”.

Thương kính và trân trọng,

Thương tặng mọi người nhân mùa Vu Lan 2013,

Con,

Thongdong Mây

1:49pm- 17/8/2013

Trong Má có Bụt – Trong Má có Con

Còn nhớ 4 năm về trước, cái ngày không thể nào quên khi mà đứa con trai duy nhất của tôi đã vĩnh viễn ra đi khi mới 26 tuổi đời. Không để lại một lời nào để nhớ!… Ngày ấy, tôi chưa hề biết gì về Đạo Bụt cũng chưa biết gì về pháp môn Sư Ông Làng Mai. Những ngày tháng ấy thật là kinh khủng! Đó là địa ngục giữa trần gian, chỉ mong ai đó giúp mình chết đi thì sẽ biết ơn người ấy lắm!

Nhưng mà mọi việc đã đổi thay một cách mầu nhiệm… Một buổi chiều mưa như thác đổ ở Tu Viện Bát Nhã, Sư Cô Thanh Ý ngồi yên nghe từng tiếng nấc và từng lời kêu cứu của tôi: “Sư cô hãy giúp con làm sao để có thể tiếp tục sống!”. Lời khai thị của Sư Cô như một liều linh dược cấp cứu và giành lại sự sống cho một con người hoàn toàn tuyệt vọng…

Bốn năm tu học và thực tập pháp môn Làng Mai đã thay đổi cuộc đời tôi. Từ một con người chỉ muốn đi về cõi chết, tôi đã trở thành một con người khác. Có thể tự chuyển hoá những khổ đau phiền não, tự làm chủ những cảm xúc giận hờn, bức bối… để đem lại cho mình niềm vui và bình an trong cuộc sống. Tôi nhớ mãi lời dạy của Sư Ông: Dù trong bất cứ tình huống nào, khó khăn và đau khổ đến đâu cũng phải thực tập cho được bình an. Dù có chết cũng chết trong bình an. Lời dạy này của Sư Ông như một bảo bối mà lúc nào tôi cũng mang nó theo bên mình để thực tập, để sống tỉnh thức từng giây phút.

Những lúc khó khăn nhất tôi đều nương tựa vào quý thầy và quý sư cô, các bạn đồng tu. Bởi vì tôi biết mình chưa đủ lực để có thể hoàn toàn nương tựa hải đảo tự thân. Có một điều là càng ngày tôi càng thực chứng được những lời dạy của Sư Ông khi hết lòng thực tập. Một buổi chiều, khi người đưa thư trao cho tôi một phong bì lớn, có ghi nơi gửi là xóm Thượng Làng Mai Pháp Quốc. Người gửi là Thầy Pháp Toại. Tôi mở phong bì ra. Đó là một bức thư pháp của Sư Ông nhỏ nhắn, xinh xinh và dễ thương với dòng chữ : “trong má có Bụt – trong má có con”. Tôi bồi hồi xúc động bởi vì thật sự tôi đã cảm nhận được điều ấy. Con kính biết ơn Sư Ông, biết ơn Thầy!


Người ta thường nói: Tình mẫu tử, tình phụ tử rất thiêng liêng cao cả! Tôi là người cảm nhận điều này hơn ai hết. Khi mình còn trẻ, còn khoẻ mạnh thì cái ý niệm này đối với mình rất bình thường, không có gì đáng lưu tâm. Nhưng mà khi vô thường đến, nhất là khi sự chia ly đột ngột xảy ra thì mình mới hiểu hết sự thiêng liêng ấy.

Từ ngày con trai mất, tôi đã hết lòng thực tập những điều Sư Ông dạy, đi theo sự dìu dắt của quý thầy và quý sư cô nên tôi luôn tiếp xúc được với con trai mình. Tôi nhận ra một điều: Đúng là tình mẹ con, tình cha con là thứ tình cảm không ai có thể chia lìa. Dù người cha, người mẹ hay đứa con ấy có chết đi thì vẫn còn ở mãi trong nhau. Mẹ vẫn có thể chăm sóc cho con. Con vẫn có thể báo hiếu cho mẹ… Những lúc thiền hành, ngồi thiền, tụng kinh, ăn cơm chánh niệm… tôi luôn cảm nhận có con trai mình bên cạnh. Hai mẹ con cùng tu học. Sự bình an và hạnh phúc lan truyền từ mẹ sang con và từ con sang mẹ. Tôi vẫn thấy nụ cười rất tươi của con trai mình ở một nơi rất đẹp, rất bình an.

Có một điều thật lạ, những đứa học trò cấp 3 của con trai tôi dù không biết gì về pháp môn của Sư Ông, nhưng những cảm nhận của các em sao mà như một người đã thực tập pháp môn lâu lắm rồi vậy. Các em thường tâm sự với thầy trên FB : “ Chúng con nhớ thầy lắm! Thương thầy những lúc chúng con chưa ngoan, chưa chăm chỉ học tập, thầy dẫn chúng con đi ăn kem, khuyên nhủ chúng con, không bao giờ to tiếng rầy la chúng con. Thế mà chúng con chưa kịp nói với thầy rằng: Con thương thầy nhiều lắm! Thầy đâu có đi xa. Thầy đang ở trong mỗi chúng con. Thầy sẽ nâng bước khi chúng con vấp ngã, thầy sẽ mỉm cười khi chúng con thành công. Chúng con sẽ sống thật vui, thật hạnh phúc và sẽ tiếp nối công việc và tình thương của Thầy. Chúng con lúc nào cũng sẽ sống hết lòng với mọi người như thầy đã từng sống với chúng con. Gửi gió mang về nơi xa ấy có thầy của chúng con !”. Lời lẽ của những học sinh lớp 10 chỉ mới 15 tuổi mà như những người thấm nhuần Đạo Bụt và đang thực tập lời dạy của Bụt vậy. Những đứa học trò vẫn đến thăm mẹ của thầy. Những lúc ấy, tôi biết rằng có con trai mình đang ở trong các em và chính con trai tôi đã dẫn dắt học trò mình về thăm mẹ.


Trong số bạn bè của con trai tôi, H. Nam là người bạn thân nhất của nó và cũng là học trò cấp 3 mà tôi đã dạy. Nam đã nói: “ Con muốn thay Hải để lo cho thầy cô. Con là một thành viên của gia đình. Con không phải là người ngoài đâu“. Câu nói này đã làm tôi không cầm được nước mắt. Tôi biết rõ rằng: Dù không còn trên cõi đời này nữa, nhưng con trai tôi vẫn tìm cách báo hiếu cho cha mẹ theo cách của mình. Vậy là tôi có thêm một đứa con trai nữa, chứ tôi đâu có mất con trai! Ai bảo chết là hết? Không! Đối với tôi như chưa hề có cuộc chia ly nào cả. Con trai tôi vẫn ở cạnh bên tôi đó thôi.

Một điều kỳ diệu khác đã xảy ra. Trên trang Blog của mình, tôi đã trải lòng ra về sự thực tập pháp môn và thường tâm sự với con trai . Có một bạn rất bằng tuổi con trai tôi đã xúc động. Hai cô cháu kết bạn trên FB, bạn trai này cũng đang thực tập pháp môn sư ông. Trong một lần tâm sự với con trai, tôi có nói : “Mẹ nhớ mãi một buổi chiều mưa rất to, con đi dạy về đội mưa mang bánh xèo vào cho mẹ ăn khi mẹ đang nằm bệnh viện vì con biết mẹ rất thích bánh xèo. Chiếc bánh xèo hôm ấy chưa bao giờ ngon như vậy!” Đọc được điều này, cứ mỗi lần sinh nhật tôi là bạn trẻ ấy gửi một chiếc bánh xèo trên FB. Rồi hai cô cháu trở thành bạn đồng tu và lúc nào cũng rủ nhau đi tu. Có một lần thiền hành ở chùa Tuệ Uyển Long Thành, bạn ấy đã nắm tay tôi đi thiền hành. Lần ấy , tôi nghe hơi ấm của con trai tôi trong lòng bàn tay ấy. Tôi lại có thêm một đứa con trai nữa rồi! Cám ơn Cát Tường vì đã làm ấm áp thêm tình mẹ con trong cô.

Còn rất nhiều và rất nhiều điều nữa… Tất cả những điều mầu nhiệm ấy nằm trong tình thương lớn mà quý thầy cô và tăng thân đã dành cho tôi, đã ôm ấp tôi những lúc khó khăn nhất và cô đơn nhất. Nhưng mà vượt lên trên tất cả chính là vì: “Trong má có Bụt, trong má có con”. Hãy sống và thực tập hết lòng theo những gì Sư Ông dạy thì chắc chắn điều mầu nhiệm sẽ xảy ra thôi các bạn ạ. Xin tri ân vì tất cả…!

Mùa Vu Lan 2013

Tâm Tự Tại

 

Với tôi Làng Mai là một công án – Phần 1

Nguồn: Phù sa Online

Hoàng Hưng

Trên chuyến bay từ Paris đến Reykjavik, thủ đô Iceland, tôi không khỏi mỉm cười khi thấy trên màn hình giới thiệu du lịch có những từ “mindfulness” (chánh niệm), “meditation” (thiền), “here and now” (bây giờ và ở đây). Hôm trước cũng nghe một thiền sinh ở Làng Mai (LM) chia sẻ rằng cô thích thú khi nghe một nữ tiếp viên hàng không nói với khách: “Please have mindfulness to bring your luggage down…” (xin chánh niệm khi đưa hành lý xuống…). Thiền tập đã đi vào đời sống người châu Âu đến vậy, có phần ảnh hưởng khá lớn của LM.

Với riêng tôi, Làng Mai (LM) là một “công án” ám ảnh nhiều năm.

Tôi biết từ lâu một thi sĩ với những vần thơ tự do khá mới mẻ chắp tay nguyện cầu cho bồ câu trắng hiện bên cạnh những bản dịch tuyệt bích thơ tứ tuyệt Lý Trần. Cũng nghe từ lâu dòng tu “nhập thế” nổi tiếng với Phong trào Thanh niên Phụng sự Xã hội, với những vận động hòa bình cho Việt Nam, với con tàu cứu vớt thuyền nhân… Cũng đọc không ít sách Đạo của vị Thiền sư (TS) được coi là tu sĩ Phật giáo lớn thứ nhì thế giới hiện nay mà số người đọc và học trò đã lên tới nhiều triệu trên khắp hành tinh. Tôi ngưỡng mộ ông là chuyện tất nhiên.

Nhưng thú thật, với kinh nghiệm một đời lăn lộn, vỡ mộng cũng nhiều, cộng với “sở tri chướng” của kẻ “đa thư”, luôn e ngại mọi thần tượng, giáo chủ có “charisma” dẫn dụ bầy cừu mê mẩn, tôi vẫn giữ thái độ “quan sát” đối với LM.

 

Thiền hành từ chùa Pháp Vân (Xóm Thượng) xuống chùa Sơn Hạ

Ấn tượng đầu tiên của tôi với LM có sự mâu thuẫn. Lần đầu tiên tiếp xúc, vào năm 2005 khi TS đưa tăng đoàn về VN, là trong buổi pháp thoại của TS ở Viện Goethe. Ấn tượng này đã được ghi lại gần như tức thời qua bài thơ Bậc thầy (bài này đã in trong tập Hành trình, NXB Hội Nhà văn, HN 2005, bản tiếng Anh The Master in trong chapbook Hoang Hung, Poetry & Memoirs do International Poetry Library of San Francisco xuất bản, và đọc trong đêm thơ-văn “Echoes of Vietnam” tháng 3 năm 2012 ở Santa Cruz):

“Thầy vào như hơi gió

Tăng đoàn rạng rỡ tuệ quang…”

Quả thực hình ảnh khinh khoái hiếm thấy của một ông sư và ánh sáng trên gương mặt các học trò của thầy chinh phục tôi nhiều hơn những lời thuyết giáo.

Nhưng rồi ngay sau đó, tôi bị hẫng khá mạnh khi nghe qua bản thu âm câu hỏi đáp trong một buổi thầy thuyết trình ở Viện Khoa học Xã hội miền Nam. Một “giáo sư” giọng rất gay gắt (nói cho đúng là khiêu khích) nhắc lại hai lần câu hỏi, lần sau gắt hơn lần trước: “Tôi xin hỏi TS, nếu bây giờ tôi quy y thì tôi có còn được quyền yêu Đảng, Đảng do Bác Hồ sáng lập và lãnh đạo, có được quyền yêu nước, nữa hay không?” Có lẽ quá bất ngờ trước câu “truy hỏi”, TS hơi sững một chút, rồi đáp: “Không yêu Đảng không yêu nuớc thì quy y làm gì!”. Thú thật là tôi bất mãn với câu trả lời. Yêu nước, OK, còn “yêu Đảng”? Sao lại phải yêu cái đảng tuy một thời có công lãnh đạo cuộc chiến đấu giành độc lập thống nhất cho đất nước (tuy là với cái giá quá đắt, vấn đề này mang tính lịch sử rất phức tạp, lúc khác sẽ bàn), nhưng gần đây nó đã biến chất, suy thoái rõ rệt, không còn tính chính đáng?

Hình ảnh sơ phác của LM trong tôi thế là trong cái sáng vẫn còn cái “lăn tăn”.

Ba lần đến với Làng Mai:

Ba năm nay, Trời Phật sắp xếp sao đó để tôi có cơ duyên thực sự đi sâu, đi sát LM, để ngày càng hiểu rõ và hiểu đúng về Làng.

Tôi đã đến gần với LM qua những ngày hoạn nạn của các học trò TS ở Bát Nhã. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt người thân của mình sau mỗi chuyến lên Bát Nhã tu tập đợt hai tuần, đợt ba tuần. Tôi đã thấy ánh sáng rạng rỡ trên gương mặt, đã nghe tiếng cười hồn nhiên của những sư em, những thực tập sinh trẻ măng căng tấm ni lông giữa trời hứng nước mưa khi bị các đệ tử của thầy Đức Nghi cúp nước. Tôi đã nghe người thân kể chuyện những người trẻ là con em gia đình “cộm cán”, hay bản thân là trí thức trẻ đầy tương lai, đã dứt bỏ tất cả đi theo con đường LM để thực hiện tâm nguyện Bồ tát trước cứu mình sau giúp người ra khỏi cõi mê.

Tiếp ngay đó, cơ duyên lại đưa tôi đến thẳng LM. Nhân đi làm công việc dịch thuật ở Paris, hai vợ chồng tôi quyết định ghé xuống Làng vài hôm. Không liên lạc được trước, chúng tôi cứ đi, nghĩ có duyên thì gặp. Quả nhiên trong lúc tôi đang nằm thẳng cẳng ngủ giấc trưa “bụi đời” trên ghế băng trước cửa ga xép Sainte Foye La Grande chưa biết cách nào đến được LM, thì xuất hiện một sư cô người Tây trong trang phục màu đà quen thuộc của LM. Tình cờ cô ra đón một khách của Làng từ Paris tới. Thế là cô vui vẻ đưa chúng tôi về Xóm Mới, và cho biết ở đó đang có một khóa tu ngắn ngày. Bước chân vào Xóm, người tiếp đón chúng tôi là một sư cô trẻ măng đồng hương Hà Nội. Sau này tôi biết cô là con gái cưng của một quan chức cao cấp, lại biết cả mẹ cô cũng đã xuất gia theo gót con gái (thật dễ hiểu vì sao những quyền lực thế gian lại “kỵ” Bát Nhã, LM đến vậy!) Ba ngày ngắn ngủi ở LM tóm lại một cảm tưởng: một tiên cảnh giữa trần gian, với cảnh đồng quê đồi rừng thanh bình đẹp đến nao lòng, với những tiên đồng ngọc nữ tươi tắn trong veo và thanh tú, với hàng trăm người trong đại gia đình quốc tế vui vẻ và thành kính thực tập những “pháp môn” rất giản dị để thân tâm an lạc: tập thở vào thở ra, tập bước đi chánh niệm, tập ngừng lại khi nghe tiếng chuông…

Trong lần sơ ngộ này có một chi tiết tình cờ nhưng ít lâu sau thành một yếu tố gắn tôi với LM. Trong màn tự giới thiệu khi chia sẻ trong nhóm “gia đình”, tôi thành thật nói mình là nhà báo, không phải Phật tử (nói cho chính xác là không quy y Thầy nào, không theo tổ chức của chùa nào). Tôi đọc thấy vẻ ngỡ ngàng của quý ni sư và Phật tử. Giờ giải lao, một ông “Tây” to lớn đầu râu tóc bạc xin có vài lời với tôi. Ông bảo: “Tôi xin tự giới thiệu, tôi là cố vấn của Tổng thống Israel, nhưng tôi cũng là đệ tử của Thay (các đệ tử Âu Mỹ của TS đều gọi TS là Thay như một tên riêng) từ chục năm nay. Tôi không hiểu vì sao ông có ý nói ông là nhà báo nên không thể là Phật tử?” Tôi chỉ cười, đáp: “Mỗi nước có một hoàn cảnh khác nhau ông ạ”.

 

Một gia đình pháp đàm ở Làng Mai

Chỉ vài tuần sau đó, tôi đang ở chơi nhà chị Thụy Khuê dưới Côte d’Azur, một biệt thự màu hồng đẹp như mơ trên đồi nhìn xuống biển Địa Trung Hải mà anh Lê Tất Luyến chồng chị là người tạo dựng và chăm nom, ngôi nhà luôn mở lòng đón tiếp bạn bè tứ xứ… thì dồn dập nghe tin Bát Nhã bị tấn công. Sự xúc động trong lòng tôi nhiều lần trào lên khóe mắt khi xem trên mạng những em thiền sinh ngồi an bình niệm danh hiệu Quán Thế Âm trước sự hung hăng dữ dằn của kẻ ác. (Trong dịp ở LM gần đây, mỗi lần nghe màn tụng Avakilotesvara trước khi Thầy pháp thoại, thì hình ảnh các em Bát Nhã niệm Quán Thế Âm lại hiện lên khiến sự xúc động của tôi lại dâng trào). Đến ngày cao điểm, bọn ác nhân xua đuổi 400 em khỏi Bát Nhã giữa trời mưa như trút thì tôi không nén nổi căm giận và xót thương. Tôi nhờ chị Thụy Khuê liên lạc ngay với Radio France International (RFI) – lúc này chị đã về hưu, chỉ còn cộng tác một chuyên mục với Đài – cho biết tôi muốn phát biểu trên Đài về sự kiện Bát Nhã. Tôi cũng không ngờ, như Thầy cho biết trong phút gặp gỡ đầu tiên ở LM, phát biểu của mình về pháp nạn Bát Nhã trên truyền thông quốc tế đã khởi lên cao trào lên tiếng bênh vực con em của LM đang gặp nạn, và cũng không ngờ việc này kéo tôi tiếp tục dấn thân vào vụ Bát Nhã, viết liên tục 9 bài trên các mạng trong ngoài nước, trong đó có Thư ngỏ Thư thỉnh nguyện gửi ba nhà lãnh đạo cao nhất của Nhà nước VN thu được trên 400 chữ ký bao gồm nhiều trí thức văn nghệ sĩ nổi tiếng trong ngoài nước và Đảng viên Cộng Sản kỳ cựu. (Đây là một câu chuyện hơi bị “ly kỳ”, dịp khác sẽ kể).

Có một điều là tôi luôn khẳng định: lên tiếng bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã không phải vì tôi là Phật tử hay đệ tử của LM (thực ra tôi từng là tín đồ Công giáo, đã chịu lễ rửa tội từ lúc còn nhỏ do các bà cô dẫn dắt, rồi lẳng lặng bỏ đạo khi các bà vào Nam và chính quyền Cụ Hồ về Hà Nội), mà chỉ do lương tâm của một nhà báo “thấy sự bất bằng”. Tôi bảo vệ các thiền sinh Bát Nhã là bảo vệ quyền công dân, quyền con người, quyền chọn đi theo một lý tưởng, một tôn giáo của những người trẻ tuổi – tương lai của dân tộc. Tôi đã trả lời phóng viên hãng AP cũng như các sĩ quan an ninh VN “làm việc” với mình như thế.

Sau khi Bát Nhã tan, tôi biết ngoài hàng trăm thiền sinh được LM bảo lãnh sang Pháp, Đức, Mỹ, còn hàng trăm em ở lại tản mác khắp nước vẫn kiên gan chịu đựng sự truy bức của chính quyền để tu tập theo pháp môn của Thầy. Đôi lúc có dịp gặp, tôi vẫn thấy được vẻ “vững chãi như núi cao, thảnh thơi dường mây trắng” (như lời một thiền ca LM) của những con người ấy mặc dù họ không còn được đi với nhau “như một dòng sông”. Tôi hiểu là LM đã gieo được những hạt hướng dương bất diệt trên quê hương đau thương này.

Vậy đến gần đây, “Công án LM” của tôi có thể “diễn nôm” thế này:

1/ LM có “phép” gì đào tạo được những người trẻ tuyệt vời đến thế, những người quyết tâm thực tập ba đức Bi – Trí – Dũng của Bụt để “độ mình và độ đời”, giữa lúc nhan nhản quanh tôi là đám trẻ mất phương hướng, hoặc chỉ biết chạy theo “lý tưởng” làm giàu, tạo vị thế cho riêng mình, nói gọn là “vinh thân phì gia” bằng mọi giá, chấp nhận “đi với ma”, nhắm mắt che tai thậm chí hùa theo cái xấu cái ác, còn việc của dân của nước thì buông xuôi, mackeno, “đã có Đảng, Nhà nước lo”?

2/ LM làm thế nào hòa hợp được triết lý vô ngã, diệt dục của đạo Phật truyền thống với “chủ nghĩa cá nhân” sáng suốt và tính cạnh tranh là động lực phát triển của xã hội hiện đại?

3/ LM làm thế nào thu hút hàng ngàn người, hàng trăm gia đình Tây phương, trong đó không ít trí thức, doanh nhân thành đạt đến sinh hoạt và tu học theo hướng dẫn của các tăng ni người Việt trẻ măng?

Mùa hè vừa rồi, nhân sinh nhật thứ 30 của LM, tôi có cơ hội được cùng người thân của mình tham dự hai khóa tu liền, của người Việt tại LM và của người Hòa Lan tại cơ sở mới rất đồ sộ của Làng vừa khánh thành bên Đức (EIAB: Học viện Phật giáo Ứng dụng châu Âu). Gần một tháng sống trong đại gia đình quốc tế LM, tôi cảm nhận có sự biến chuyển trong mình, kẻ luôn tự nhận “tên học trò mới bướng bỉnh”.

Xin xem tiếp phần 2 Với tôi Làng Mai là một công án