Phỏng vấn thầy Minh Mẫn

Thầy Minh Mẫn, một trong những vị giáo thọ tập sự trẻ tuổi của Làng Mai, xuất thân từ Việt Nam, Thầy có duyên may đến Làng tháng 8/2001. Xuất gia năm 19 tuổi, tính đến nay Thầy đã có 10 năm tu tập. Tăng thân rất quý mến Thầy và rất thích được nghe Thầy chia sẻ bởi tính hài hước, có nhiều câu nói đầy dí dỏm, tuy đơn giản nhưng thâm sâu vô cùng.

1. Kính thưa Thầy, theo chúng con nghĩ, với cái tên Minh Mẫn có nghĩa là vừa thông minh, lại cần mẫn, chắc Thầy vốn như thế nên Sư Phụ đã đặt cho Thầy Pháp tự này phải không?

(Cười) Minh Mẫn nghĩ Sư Phụ mong mình được như vậy thì đúng hơn!

2. Thưa Thầy, động cơ nào thúc đẩy Thầy chọn con đường xuất gia?

Đó là niềm yêu thích của Minh Mẫn từ lúc nhỏ, nhưng mãi đến khi học xong trung học thì mong muốn đó mới được thành tựu.

3. Xin Thầy kể cho chúng con biết nhân duyên nào đã đưa Thầy tới Làng Mai?

Đúng là phải có nhân duyên từ trước, và cho đến năm 1999 thì Minh Mẫn được người cậu ở Berlin gởi tặng một quyển sách Thiết Lập Tịnh Độ và trong thư cậu có chia sẻ về cách tu tập của Làng. Qua vài lần trao đổi cậu có ý muốn giúp Minh Mẫn sang Làng để tham học trực tiếp, và đến năm 2001 các duyên đầy đủ nên Minh Mẫn được biểu hiện ở Làng.

4. Chúng con thấy Thầy đến Làng là một cơ duyên hơn là một sự tìm kiếm phải không ạ?

Nói chung là hình như "Bụt đã an bày" như thế!

5. Trước đó Thầy có đọc sách của Sư Ông chưa?

Minh Mẫn có đọc nhiều nhưng thích nhất là hai quyển Nói Với Người Xuất Gia Trẻ Tuổi (1996) và Từng Bước Nở Hoa Sen (1997).

6. Thầy có thể kể cho chúng con nghe một trong những kỷ niệm khó quên trong thời Sadi của Thầy không ạ?

Chỉ lo ăn học, tu và chơi, không phải lo bất cứ một việc gì cả. Không có kỷ niệm nào đáng nhớ thì làm sao khó quên. Chỉ nhớ là không phải lo bất cứ việc gì ngoài bốn việc: ăn, học, tu và chơi.

7. Và hiện tại thì sao thưa Thầy? Có phải không bằng cái ngày xưa ấy?

Tuổi thơ qua nhanh. Ngày xưa ấy đương nhiên là huy hoàng, nhưng ngày nay niềm vui và hạnh phúc mới cũng không kém. Được sống trong một Tăng thân lớn có con đường đi tới. Tự biết chăm sóc mình và còn chăm sóc các sư em nữa, đối với Minh Mẫn như vậy là tuyệt vời.

8. Chúng con rất thích buổi pháp thoại kỳ trước của Thầy, chúng con cảm thấy đó là một sự kết hợp hòa điệu của Khoa học, Phật học, Văn học, Toán học và Tu học. Có phải hồi xưa Thầy học giỏi lắm phải không, đặc biệt là môn Toán?

Làm gì có bác học như thế. Minh Mẫn học bình thường thôi, riêng môn Toán thời Trung học có lần phải xin cô giáo 0,5 điểm mới được lên lớp !
(Thầy cười)

9. Thưa Thầy, Thầy muốn được chia sẻ điều gì với các bạn trẻ ?

Thế giới bây giờ đang chạy đua, cho nên tất cả mọi người rất dễ bị căng thẳng (stress). Điều Minh Mẫn muốn nói với các bạn trẻ là các bạn phải nhớ rằng mình đang còn rất trẻ, cần phải hoạt động và đóng góp hết sức trong khả năng của mỗi người, nhưng điều quan trọng là phải biết rằng mình đang sống, nên dành một ít thời giờ để xúc chạm một tí vào cuộc sống riêng tư thì cuộc sống này mới thật sự có ý nghĩa.

10. Bằng cách cụ thể nào thưa Thầy?

Mỗi ngày có đầy các công việc thì mình nên có một chút thời gian để lắng đọng. Thứ nhất: trước giờ đi ngủ nên ngồi cho thật yên khoảng 5-10 phút để thân thể được nghỉ ngơi và đầu óc thư giãn. Thứ hai: ý thức mình đang còn sống. Chúng ta phải biết sống hạnh phúc với cuộc sống mà mình đang có, điều này nói thì dễ nhưng phải bỏ công nghiên cứu về thiền hoặc yoga một chút, và cần thời gian để luyện tập đều đặn.

11. Được biết Thầy từ Việt Nam sang, như vậy là có sự thay đổi từ truyền thống này sang truyền thống khác, Thầy thấy thế nào về cặp phạm trù khách và chủ ?

Đối với vấn đề khách và chủ lúc đầu cũng gặp khó khăn, bởi vì lần đầu tiên Minh Mẫn đến sống trong một môi trường hoàn toàn mới lạ so với những gì mình đã biết trước đây. Nhưng nhờ để tâm quan sát, học hỏi tu tập, cộng với yếu tố thời gian và sự đóng góp hết lòng của mình thì vấn đề khách chủ từ từ lắng đọng, hơn nữa mình phải xác định rõ mục tiêu đến đây để làm gì? Ví như một người đi rừng để tìm gỗ trầm hương, trên đường đi họ bị một tí gai góc quấn chân rồi nản chí thì cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu; trường hợp này cũng vậy, hiện tại vấn đề khách chủ không còn là vấn đề.

12. Thưa Thầy, Thầy thường thực tập xây dựng tình huynh đệ trong Tăng thân như thế nào?

Phong tục người Việt Nam thì "Miếng trầu là đầu câu chuyện", còn với Minh Mẫn thì "Chén trà đậm đà câu chuyện". Anh em cùng ngồi uống trà với nhau, trong sự thân thiện và ấm cúng, là sự nuôi dưỡng tình huynh đệ của Minh Mẫn và khi mình có đủ thân thiện thì có thể nói rất thật với nhau. Việc xây dựng tăng thân do đó rất dễ, không có gì ngăn ngại.

13. Thưa Thầy, khó khăn nào Thầy cho là lớn nhất trong cuộc đời tu tập của mình và Thầy đã vượt qua nó như thế nào?

Đó là sự thiếu truyền thông giữa Thầy và Trò, cần phải có thời gian hay nói một cách khác là có đủ duyên để 2 bên có sự dung thông với nhau. Tuy khó khăn về mặt truyền thông nhưng bổn phận mình là học trò thì lúc nào cũng phải giữ đúng lễ, nhờ niềm vui trong sự thực tập và tình đồng môn đã giúp mình đi tới.

14 . Thưa Thầy, sai lầm lớn nhất mà Thầy đã vấp phải là gì?

Đó là quá tự tin vào khả năng của mình. Mình cứ tưởng người khác sẽ suy nghĩ và sẽ làm theo cách của mình vạch ra, mình quên là mỗi người đều có một khối óc và một con tim, không ai giống ai, nhưng thất bại là mẹ thành công mà .

15. Thưa Thầy, xin Thầy chia sẻ sự thực tập trong việc chữa trị em bé bị thương của mình cho chúng con được học hỏi?

Em bé trong mình nếu bị tổn thương thì đã tổn thương rồi. Điều mình cần làm là hiểu được người lớn cũng có thể là nạn nhân của những tổn thương đó hoặc chưa có kinh nghiệm trong sự trao truyền, họ còn đang tự mày mò, nên không thể tránh được những điều sai sót. Điều quan trọng là những cái không hay và không đẹp đó đừng lặp lại cho đàn em của mình.

16. Thầy có một lời khuyên cụ thể nào về vấn đề này không?

Theo Minh Mẫn thấy thì tuổi thơ giống như những khung lụa trắng phau, người lớn như những người thợ vẽ. Nếu bạn là một họa sĩ tài ba thì bạn sẽ hiến tặng cho đời những bức tranh đầy nghệ thuật; nhưng nếu bạn là một họa sĩ vụng về thì những đường vẽ ngoằn ngoèo (thiếu hiểu biết và thương yêu nhưng lại đầy bạo động …)trên tấm lụa ấy dù đã cố công tẩy xóa vẫn sẽ không bao giờ phai nhạt kể gì 10 năm, 20 năm hay 30 năm…

17. Đối với những người già, đặc biệt là những người già cô đơn, Thầy có gì để nhắn nhủ đến họ không ?

Vấn đề này thật là khó nói, Minh Mẫn thấy có nhiều gia đình người già rất hạnh phúc với cháu con, bên cạnh đó cũng có những người già cô đơn. Vấn đề này thì những người già cô đơn nên nhìn lại lúc còn trẻ mình có đủ tình thương cho con cháu hay chưa ? Nếu chưa, thì nên tỏ tình thương cho con cháu hiểu dù là hơi muộn, và Minh Mẫn tin rằng tình thương sẽ có đủ sức mạnh để cảm hóa tất cả.

18. Hay lắm Thầy à, chúng con biết Thầy cũng thích làm thơ, vậy Thầy có thể đọc một bài thơ mà Thầy đã làm lúc mới tới Làng và một bài thơ làm gần đây nhất được không?

Thơ dở lắm đừng chê nhé (cười):

– Bài này được viết khi mới tới Làng :

Thanh Phong chốn tạm nghỉ đầu tiên
Cảnh vật xung quanh vẻ rất thiền
Trà lọc đơn sơ tô bún lạc
Bắt đầu cuộc sống thảy tùy duyên
– Bài này viết vào mùa thu năm 2005
Một chiếc lá lìa cành
Thôi tạm biệt trời xanh
Em về nương đất mẹ
Đủ duyên lại vận hành.
 
Chúng con xin chân thành cảm ơn thầy. Chúc thầy luôn vui khỏe.

Phỏng vấn Sc Học Nghiêm

 

Sư cô Học Nghiêm xuất gia vào năm 2000. Sư cô sống rất hòa thuận, vui vẻ cùng đại chúng. Khi nghe đến tên Sư cô Học Nghiêm, mọi người thường liên tưởng đến sự tươi mát và những bước chân nhẹ nhàng, thảnh thơi của Sư cô. Một điểm rất đẹp về Sư cô mà chúng con nhận thấy là Sư cô biết nuôi dưỡng hạnh phúc của mình qua sự thực tập trong đời sống hàng ngày. Kính mời Quý vị theo dõi những câu hỏi và những câu trả lời thật dễ thương để biết thêm về Sư cô .

1. Xin Sư Cô cho chúng con biết Sư Cô gặp được Sư Ông lần đầu tiên là vào lúc nào?

Chị gặp Sư Ông lúc chị tham dự khóa tu GĐPT tại Tu Viện Thanh Sơn năm 1999. Nhưng thật sự, chị được đánh động rất lớn khi chị xem một cuốn băng video phỏng vấn Sư Ông. Chị nhớ lúc đó điều đã đánh động chị không phải là những câu trả lời của Sư Ông mà chính là sự giản dị. Xem trên băng chị thấy rất thích sự đơn giản trên bàn thờ Bụt: chỉ một cặp nến, một bình hoa rất thiền vị, một dĩa trái cây. Hơn nữa, hình ảnh Thầy ngồi thật vững chãi, thật an nhiên, tay cầm một tách trà trông rất là hiền. Chính hình ảnh đó đã làm cho chị nhớ mãi.  

2. Thưa Sư cô, có người thắc mắc không hiểu vì sao lúc còn ở Việt Nam gia đình nghèo khó mà sao Sư Cô không muốn đi tu, đến khi qua Mỹ đời sống đầy đủ tiện nghi thì Sư Cô lại phát tâm xuất gia?

Chị sẽ kể cho mấy em nghe nhân duyên đi tu của chị. Từ nhỏ chị được cùng bà nội và mẹ dẫn cho đi chùa vào các ngày lễ lớn. Qua Mỹ, chị cũng như những người trẻ khác, đi học, đi làm và đi chơi. Bên cạnh đó, thỉnh thoảng chị cũng đến chùa và chị đã gặp được những người bạn tinh thần. Sau 2-3 năm ở Mỹ, chị cảm thấy cần có một đời sống tâm linh. Tiếp xúc với giáo pháp chị thấy thật đẹp, chị tìm cách thỉnh băng và sách để đọc và thấy mình được nuôi dưỡng rất nhiều trong đời sống tâm linh. Một hôm chị được gặp hai người bạn vốn là học trò của Sư Ông Làng Mai đã là cầu nối để chị được tiếp xúc với băng, sách, với pháp môn thực tập của Làng.

Một buổi đó, chị đang đi trong sân trường, nhìn những người khác đang hấp tấp vào lớp, tự nhiên chị có suy nghĩ: biết bao người trẻ cứ muốn học để trở thành bác sĩ, kỹ sư,… trong khi đó mấy ai muốn làm tu sĩ? Tại sao mình thích đời sống tâm linh mà mình lại không chọn con đường xuất gia? Và ý nghĩ đó cứ theo chị vào những lớp học. Đến ngày nọ, sau khi dự một ngày quán niệm do Thầy Pháp Ân tổ chức và tối về chị liền quyết định đi theo con đường này. Chị nghĩ, đi tu được cũng là nhờ phước đức của ông bà tổ tiên. Vấn đề là khi hội đủ duyên thì mình đi thôi, chứ không phải là nghèo hay giàu về vật chất.

3.  Sư cô có gặp khó khăn gì không khi xin phép gia đình đi xuất gia?

Chị nhớ lúc đó ba mẹ chị đang ngồi trong phòng khách. Chị xin phép và mẹ chị nói ngay: “Không được!” Ba chị thì không nói là cho hay không mà chỉ hỏi chị: “Con muốn đi xuất gia làm gì?” Chị thưa là không phải vì chị đau khổ gì trong gia đình mà bỏ đi tu, chỉ là do chị thích sự thực tập, thích đời sống tâm linh. Là một cư sĩ, chỉ thực tập 5 giới thôi mà chị đã thấy được lợi lạc rất nhiều rồi. Phật Pháp còn có mặt đến ngày hôm nay là nhờ chư Tổ qua các thời đại đã khéo tu tập, gìn giữ. Để cho giáo pháp của Bụt tiếp tục hiện hữu trong cuộc đời thì cần phải có những người xuất gia trẻ để tiếp nối sự nghiệp của chư vị. Ca dao Việt Nam có câu: Tre già, măng mọc. Chị thích đi trên con đường cao đẹp đó. Dĩ nhiên là rất khó cho gia đình chấp nhận lời chia sẻ của chị, tại vì chẳng ai muốn chị đi xuất gia. Chị thực tập kiên nhẫn, tiếp tục làm một đứa con ngoan, một người em, người chị dễ thương; và cùng lúc, chị thường xuyên đọc sách, nghe băng, gần gũi những người bạn tinh thần để nuôi dưỡng tâm Bồ Đề. Rốt cuộc thì gia đình yểm trợ cho chị. Ngày ra đi, cả nhà đưa chị đến phi trường. Chị cảm thấy rất hạnh phúc và xúc động.


4. Xin Sư Cô cho biết Sư cô xuất gia gia đình cây gì? Có bao nhiêu người trong gia đình xuất gia?

Chị là thành viên gia đình cây Bông Sứ. Chị nhớ vào ngày đầy tháng cây của chị, Sư cô Chân Đức chia sẻ với anh chị em cây Bông Sứ rằng: ‘Cây Hoa Đại (tức cây Bông Sứ), luôn luôn sống ở chùa, nên chị hy vọng các em cũng vậy, sống trọn cuộc đời mình trong chùa.” Gia đình chị có tất cả 12 anh chị em và chị là người kế út.


5. Sư Cô đã từng sống ở tăng thân Lộc Uyển hay Thanh Sơn chưa?

Sau khi xuất gia được 9 tháng, chị qua sống ở Thanh Sơn 2 năm.


6. Lúc đó Sư cô còn rất nhỏ, chưa đến ngày thôi nôi mà phải sống xa Thầy, Sư cô cảm thấy như thế nào?

Sư cô Trụ trì Thanh Sơn là Sư cô Chân Đức. Sư cô thực tập rất vững chãi, chăm sóc các Sư em rất đàng hoàng. Một Sư chị lớn như vậy cũng đủ với chị lúc đó, chị không dám đòi hỏi gì thêm, chị đã học được rất nhiều từ thân giáo của Sư cô. Hơn nữa, chúng Thanh Sơn lúc đó chỉ có 10, 11 người thôi. Vì là chúng nhỏ nên chị em đã yêu thương nhau, yểm trợ và giúp đỡ nhau trong sự thực tập rất nhiều.  

7. Trong nhiều pháp môn thực tập ở Làng, Sư cô thích nhất là pháp môn nào?

Chị thấy pháp môn này yểm trợ cho pháp môn kia. Để thiền hành thành công, phải nắm vững thiền thở. Để thở thành công thì khi ngồi thiền, đi đứng, làm việc nên ý thức đến hơi thở thường xuyên. Chị cũng thích thiền trăng, ở xóm Hạ mùa trăng nào cũng đẹp. Vào mùa trăng chị thấy vui hơn, được đi thiền hành dưới trăng, vừa đi chị vừa nhớ đến bài hát “ Bụt là vầng trăng mát, đi ngang trời thái không, hồ tâm chúng sanh lặng, trăng hiện bóng trong ngần” và thấy mình rất được nuôi dưỡng.


8. Xin Sư Cô chia sẻ một kỷ niệm đẹp thời Sadi.

Chị nhớ ngày thôi nôi của gia đình cây Bông Sứ, chị và sư chị Phụng Nghiêm đang ở tại tu viện Thanh Sơn. Lúc đó, Sư Ông cũng có mặt với đại chúng Thanh Sơn. Quý Sư Cô tổ chức sinh nhật cho hai chị em rất xôm tụ. Sư Ông, quý Thầy, quý Sư Cô và các bạn thiền sinh đang ngồi trong thiền đường để chúc mừng sinh nhật. Ở giữa vòng tròn có rất nhiều quà. Sư Ông lấy hai gói quà đưa cho hai chị rồi nhìn sư chị Phụng Nghiêm và hỏi: “ Con muốn Thầy tặng con cái gì?” Sư chị Phụng Nghiêm không trả lời Thầy mà nhìn qua chị tủm tỉm cười. Chị cũng mỉm cười với Sư chị Phụng Nghiêm và trong đầu nẩy lên một câu: “Nếu Thầy hỏi con câu đó thì con sẽ trả lời ngay.” Nhưng rất tiếc là Thầy đã không hỏi (Cười).

9. Nếu Thầy hỏi Sư cô: “Học Nghiêm, con thích Thầy tặng con cái gì?” thì Sư cô sẽ trả lời sao?

Chị sẽ trả lời: “Bạch Thầy, con muốn nắm tay Thầy đi thiền hành.” Hồi chị mới xuất gia chị cảm thấy tâm mình giống như em bé. Chị rất thích hình ảnh Thầy nắm tay các em bé mỗi khi đi thiền hành và chị cũng muốn mình được như các em bé đó. Mặc dù Thầy đã không hỏi và chị đã không trả lời Thầy nhưng trong lòng cảm thấy rất vui tại vì mình muốn có một món quà sinh nhật rất dễ thương. Vào mùa Thu Thầy trở lại Thanh Sơn. Một hôm chị được làm thị giả cho Thầy. Mới sáng sớm hai thầy trò đi thiền hành dưới những cây phong đang đổi lá màu đỏ thật đẹp, đang đi thì Thầy dừng lại đưa tay ra cho chị nắm. Thầy giải thích về kinh A Di Đà cho chị nghe, Thầy bảo rằng: “Chúng ta đang tiếp xúc với những điều mầu nhiệm đã mô tả về cõi nước Tịnh Độ của Bụt A Di Đà đó con.” Chị cảm thấy rất vui và nhớ hoài kỷ niệm đó.

10. Mùa Giáng Sinh đang đến, xin Sư c ô chia sẻ một điều gì đó với các bạn trẻ.

Học Nghiêm nghĩ giờ này chắc các bạn đang bận rộn chuẩn bị những món quà để tặng người thương, bạn bè của mình và chắc chắn các bạn cũng đang háo hức để đón nhận những món quà từ bạn bè và người thương. Đó là một điều rất tự nhiên nhưng Học Nghiêm muốn mời các bạn làm thêm một điều là đừng quên tặng quà cho chính mình. Các bạn có thể nhìn thật rõ để biết mình thích cái gì nhất trong mùa Giáng Sinh và hãy tặng cho mình món quà đó.

11. Sư cô có thể đọc và hát cho chúng con nghe một vài bài hát mà Sư c ô thích nhất được không ạ?

Chị rất thích bài thơ Dặn Dò và bài hát Mở Thêm Rộng Lớn Con Đường.

(Ghi chú : Với vai trò là một người chị trả lời những thắc mắc của các Sư em của mình, Ban Biên Tập xin được giữ nguyên từ chị trong những câu trả lời của Sư Cô, để cảm thấy gần gũi và thân thương hơn.)

Phỏng vấn Sc Mai Nghiêm

 

Sư cô Mai Nghiêm là một Tỳ kheo ni trẻ người Pháp. Sinh ra và lớn lên tại Paris, sư cô đã được theo cha mẹ đến Làng Mai tu tập từ khi sư cô lên mười tuổi. Rất trân quý đời sống của người xuất gia nên sư cô đã quyết định xuất gia khi sư cô mười tám tuổi. Thời gian qua với sự trẻ trung, tươi mát và sự thực tập rất vững chãi, sư cô đã mang lại rất nhiều hạnh phúc và niềm vui cho tăng thân Làng Mai và các bạn thiền sinh từ khắp thế giới đến tu tập. Nụ cười thân thiện và giọng nói điềm đạm của sư cô đã giúp làm vơi đi nỗi khổ và mang lại niềm tự tin cho rất nhiều thiền sinh tới Làng.

Và sau đây là phần phỏng vấn sư cô Mai Nghiêm.

1. Thưa sư chị Mai Nghiêm (MN), sư chị có thể chia sẻ cho chúng em biết sư chị đã làm như thế nào để nuôi dưỡng hạnh phúc trong sự thực tập của sư chị?

Đối với MN, được học hỏi và hành trì giới luật thường xuyên là một yếu tố đã nuôi dưỡng MN rất nhiều trong sự thực tập. Giới luật đã giúp cho Bồ Đề Tâm của MN ngày càng lớn mạnh, làm cho MN có một khát khao, một động lực bên trong rất lớn thúc đẩy MN phải luôn tinh tấn. Bên cạnh đó, được sống gần Thầy, được sống trong Tăng thân, được ôm ấp trong tình huynh đệ, MN cảm thấy luôn được bảo hộ và xung quanh mình đâu đâu cũng toàn những niềm vui. Khi MN mở lòng ra để đón nhận những điều này, thì MN cảm thấy như mình cũng đang được tiếp xúc với con người thật bên trong mình. MN luôn tự nhắc nhở mình đừng để cho cái sơ tâm xuất gia ban đầu của mình bị mai một đi.

2. Động cơ nào đã thúc đẩy sư chị xuất gia? Sư chị có suy nghĩ gì về vấn đề làm sao để đạo Bụt có thể đáp ứng và phù hợp với người trẻ, đặc biệt là người trẻ ở Pháp?

Thật sự thì MN nghĩ rằng không ít thì nhiều, hạt giống xuất gia đã được gieo trong MN từ lâu lắm rồi, và nó chỉ biểu hiện khi nhân duyên đầy đủ. Hồi nhỏ, MN theo mẹ đến Làng rất nhiều lần, MN rất thích khi được nghe quý thầy và quý sư cô tụng kinh và niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Cứ mỗi lần được nghe niệm Bồ Tát Quán Âm thì MN muốn đi tu ngay. Chính những điều đó đã tưới tẩm hạt giống xuất gia trong MN.

Ngay từ những ngày đầu mới được xuất gia và mãi cho đến bây giờ, MN vẫn luôn khao khát là được chia sẻ sự thực tập với những người trẻ ở Pháp, quê hương của MN. MN nhớ trong những khóa tu mùa hè đầu tiên, lúc MN mới xuất gia lúc 18 tuổi, khi quý sư cô cho MN vào sinh hoạt với gia đình nhóm thanh thiếu niên thì MN chưa cảm thấy tự tin lắm vì MN thấy mình còn quá trẻ trong sự thực tập, nhưng càng sinh hoạt với người trẻ, MN càng cảm thấy thích và được nuôi dưỡng.

Có rất nhiều cách để có thể đem đạo Bụt cũng như những pháp môn Làng Mai chia sẻ đến giới trẻ. Lần đầu tiên khi MN được nghe Sư Ông giảng về Truyện Kiều, về Trịnh Công Sơn, MN cảm thấy thật thích thú. Truyện Kiều hay nhạc Trịnh Công Sơn không phải là kinh Bụt mà là những gì đã nằm sâu trong văn hóa Việt Nam, nhưng Sư Ông đã có thể đem được những cái không phải trong Kinh Bụt đó để chia sẻ và giảng dạy một cách rất mới và rất thu hút người nghe. Với âm nhạc cũng vậy, ví dụ như nhạc ráp, một loại nhạc giới trẻ hiện nay đang rất chuộng. Chúng ta có thể dùng ngay những gì giới trẻ đang sử dụng và làm thế nào thật khéo để có thể lồng vào đó sự thực tập. Làm được như vậy thì đạo Bụt sẽ tiến được một bước rất xa. Là một người tu trẻ, cùng đi qua những thao thức của lứa tuổi mới lớn, nên chúng ta rất dễ đồng cảm cho nhau và dễ dàng chia sẻ, học hỏi lẫn nhau.

3. Âm nhạc đã giúp ích cho Sư chị như thế nào trong đời sống hằng ngày, cũng như trong sự thực tập?

Âm nhạc là cái gì đó mà MN cũng đang học hỏi. Âm nhạc đã giúp cho MN thực tập “thay CD” (phương pháp thay chốt) như Thầy đã dạy. Khi MN có điều gì đó khó chịu trong lòng, MN đi chơi piano hay thổi sáo. Hát vài bài hát cũng giúp MN chuyển đổi tình trạng hiện tại của mình sang một hướng khác, thay vì cứ ngồi đó nghĩ mãi về những gì đau buồn. Đặc biệt khi hát, thật sự nó cũng gắn liền với hơi thở của mình. Chúng ta hát hay Tụng Kinh cũng vậy, chúng ta không phải chỉ lấy hơi từ cổ họng mà phải vận dụng toàn bộ cơ thể mình, cả thân và tâm đều đang cùng tham gia và tạo nên sự hòa điệu. Đối với MN, nếu để tâm vào giọng hát cũng có thể giúp mình trong sự thực tập, MN hay theo dõi mỗi khi trong tâm mình có nhiều căng thẳng để xem thử chúng được ra theo những lời ca như thế nào và làm sao để có thể buông thả những căng thẳng đó.

4. Xin Sư chị chia sẻ một chút về chuyến đi Việt Nam đầu năm 2005 vừa qua cùng với Tăng Thân? Những hình ảnh nào ở VN đã làm Sư chị không bao giờ quên và điều gì làm Sư chị thích nhất ?

MN nhớ mãi hình ảnh diễn ra tại Đàn Nam Giao-Huế, sau buổi Lễ Khất Thực. Lúc đó, Sư Ông cùng với hai vị tôn túc khác nữa lên trước Đàn Nam Giao, hai vị tôn túc đã đọc một vài điều gì đó và cùng lạy xuống. Mặc dù MN không hiểu hai vị đã đọc những gì vì không có thông dịch, nhưng MN vẫn cảm được một năng lượng rất lớn đang tỏa ra, MN thấy hình ảnh hai vị đó cùng đi lên với nhau thật đẹp. Một điều đã đánh động MN rất nhiều đó là hình ảnh người tu sĩ ở Việt Nam. Họ đã phải đi qua biết bao khó khăn và họ đã rất có nghị lực để vượt qua những trở ngại đó. Quý vị đó đã phải tu tập trong một môi trường khó khăn hơn nhiều so với chúng ta, cả về vật chất lẫn tinh thần. Điều đó đòi hỏi người tu phải có một quyết tâm cực kỳ lớn. MN cảm thấy rằng có thể là nhờ đạo Bụt đã có một truyền thống khá lâu ở Việt Nam và truyền thống đó đã ăn sâu vào gốc rễ tâm linh của người dân Việt.

Nghĩ về Tăng thân Làng Mai của mình, MN cảm thấy rất hạnh phúc. MN nhớ ngày đầu tiên của khóa tu tăng ni tại chùa Hoằng Pháp. Lúc vừa bước vào MN đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy trước mắt mình có quá nhiều người xuất gia một lúc như vậy. Thật là tuyệt! Trong suốt khóa tu này MN cảm được tình huynh đệ rất lớn của các sư anh, sư chị và sư em đã dành cho nhau. Thầy đã chia sẻ nhiều về tình huynh đệ và các anh chị em đã thực tập ngay những gì Thầy dạy. Điều đó đã nuôi dưỡng MN rất nhiều.

Một điều MN thích nữa đó là khi đến thăm các ngôi làng nhỏ ở Việt Nam. Khi nghe Thầy chia sẻ về sự sống chung nhiều thế hệ, có ông bà, cha mẹ và con cái trong một gia đình, MN đã rất thích và khi được tận mắt đến thăm những gia đình như vậy đã đánh động trong MN rất nhiều. Thật đẹp biết bao khi các thế hệ được sống chung bên nhau. Điều này đã làm MN nghĩ tới một sự mất mát rất lớn trong cách sống độc lập ở Tây Phương. Đó là một trong những sức mạnh cho chúng ta khi chúng ta có được sợi dây liên hệ huyết thống một cách chặt chẽ như vậy. Tây phương chúng ta cần phải xem lại điều đó.


5) Sau chuyến đi Việt Nam, có gì thay đổi trong cách suy nghĩ của Sự chị về con đường mà Sư chị đã chọn không?

Chuyến đi Việt Nam đã giúp làm lớn mạnh hơn chí nguyện của MN là chia sẻ các pháp môn tu tập của đạo Bụt với người Pháp nhiều hơn nữa. Như Thầy đã ở trong đất nước của Thầy với đồng bào và với văn hóa của Thầy để chia sẻ sự thực tập bằng cả con người của Thầy. Thầy đã chia sẻ với dân tộc và đất nước của Thầy.

Một trong những việc đầu tiên MN đã làm khi trở về Pháp là MN đã mua một cuốn từ điển lịch sử Pháp để MN có thể hiểu nhiều hơn. Bởi vì MN nghĩ rằng hiểu về văn hóa của mình rất quan trọng vì đó là cách có thể giúp mình tiếp xúc được với người dân mình. Khi mà Tăng đoàn tới Bát Nhã-một nơi thật đẹp, MN cảm thấy như là MN sẽ trở lại đó để sống một thời gian. MN muốn học cái ý chí rất mạnh mẽ ở quý thầy và quý sư cô Việt Nam. Và cũng là vì cội nguồn tâm linh của Thầy ở Việt Nam thì cũng chính là cội nguồn tâm linh của MN.

Khi MN trở lại Mỹ, MN đã nghĩ rằng tất cả quý thầy và quý sư cô người Tây Phương nên sống ở Bát Nhã một năm. Cách hành trì giới luật mà người tu sĩ ở Việt Nam được dạy có khác so với ở Làng Mai. Có thể chính vì sự nghiêm khắc đã giúp tạo nên cái ý chí rất mạnh đó trong mỗi người tu sĩ ở Việt Nam. Đối với MN thì MN cần một chút đừng dễ dãi quá, bởi vì nếu dễ dãi quá thì MN thường bị làm biếng, MN sẽ bị buồn ngủ, (cười) như là nếu lạnh một chút thì mình sẽ tỉnh táo hơn vậy đó.

6) Có rất nhiều người trẻ có khó khăn về sự truyền thông với cha mẹ, Sư chị có thể chia sẻ một chút về vấn đề này được không?

Khi MN còn ở nhà, MN thường không có liên hệ tốt với cha. Đôi khi rất là khó khăn bởi vì MN và cha đã có nhiều cãi vã. Có một cái gì đó làm MN cảm thấy rằng nó vẫn còn ở đó khi cha MN đến đây. Khi MN còn nhỏ, MN có một hình ảnh về một người cha lý tưởng, ví dụ như cha là một người rất mạnh để bảo vệ cho MN. Rồi MN lớn dần lên và bắt đầu khám phá ra rằng cha mẹ của MN cũng là con người mà không phải sẽ luôn luôn dễ thương. Đôi khi MN đã chỉ muốn giữ cái hình ảnh tuyệt hảo đó của cha mẹ trong lòng MN, MN thấy tất cả những điều mà MN không thích về cha, như một con người, thì đều có trong MN. Đôi khi cha như một đứa trẻ và đứa trẻ đó ở trong MN làm MN cảm thấy không được an toàn. MN là một đứa trẻ, và theo đúng lý thì MN phải được làm một đứa trẻ, nhưng nếu cha cũng là một đứa trẻ thì nó không có lý và cái đứa trẻ của MN cảm thấy bị tổn thương và không an toàn. MN nghĩ đó là khi khó khăn xuất hiện, bởi vì MN cảm thấy không an toàn và cha cũng cảm thấy không an toàn. Khi mà cả hai người đều cảm thấy không an tòan thì sẽ khép mình lại và sẽ có phản ứng đối với nhau.

Đối với MN, MN thấy rất may mắn khi cả cha và mẹ MN đã đến Làng Mai ở một thời gian dài để thực tập. Khi MN có khó khăn với cha, MN có thể nói chuyện được với cha và cha đã nhận ra được. Nó sẽ làm cho tình huống dễ dàng hơn khi mà cả hai bên đều nhận ra vấn đề và cùng chia sẻ. MN cảm thấy rằng sự truyền thông là một cái gì đó mà mình cần phải đưa sự thực tập vào, một cái gì đó rất tự nhiên nên có trong sự liên hệ với nhau. Hãy nói lên cảm giác của mình khi mình có cảm giác (dễ chịu hay khó chịu) là điều mà tất cả chúng ta nên học. Khi mà cha mẹ có thể cởi mở để lắng nghe thì con cái sẽ cởi mở để chia sẻ. MN thấy rằng trong tất cả mọi gia đình, tình thương của cha mẹ dành cho con cái là luôn luôn có đó.

7) Bây giờ là đêm cuối cùng trước khi bước qua năm mới, Sư chị có thể chia sẻ về một trong những lời phát nguyện của Sư chị và làm như thế nào để Sư chị có thể giữ cho những lời phát nguyện đó sống động trong suốt cả năm?

Năm nay MN có một lời phát nguyện rất đặc biệt vì những giới lớn (giới Tỳ Kheo Ni) mà MN sẽ nhận trong hai tuần tới. MN đã viết lời phát nguyện của MN lên Thầy. Khi MN viết cho Thầy, MN đặt mình vào trường hợp của một con côn trùng và thấy mình luôn luôn bị vướng vào cái màng nhện, bởi vì mình không bao giờ nhìn thấy cái màng nhện. MN thấy mình bị ăn thịt từng chút từng chút một bởi những con nhện. Rồi một buổi sáng mùa đông, tất cả mọi thứ đều một màu trắng và mặt trời hiện ra, MN nhìn thấy cái màng nhện đẹp tuyệt vời này, nó nhìn như là kim cương với những tia nắng mặt trời chiếu vào nó. Cái con côn trùng này sẽ đi tới một cành cây và nhìn vào cái mạng nhện. Tất cả mọi thứ đều rất yên lặng. Khi mà mình có khả năng dừng lại và khi mà sự yên lặng có mặt thì mình có thể nhìn thấy những nỗi buồn hoặc những cơn ác mộng của mình như một cái gì đó thật là đẹp. Cái hành động thực sự đó là khi mà mình không hành động gì hết.

Đây bản phỏng vấn bằng tiếng Anh:

Sister Mai Nghiêm is a young Bhikshuni coming from France. Born and raised in Paris, she started to come to Plum Village when she was ten years – old with her parents. She cherished the life of the monastics; therefore, she decided to become a nun when she was eighteen years – old. Her youth, freshness, and her solid practice bring tremendous joy and happiness to Plum Village Sangha and to the layfriends coming all over the world. Her friendly smile and calm voice have helped people to remove their suffering and helped them to have confidence within themselves. She continues to help people through her smile everyday 🙂

1) What helps you to nourish your joy and happiness in the practice?

One of the things that help me is reading the precepts regularly. I can feel it’s something that helps me to keep my happiness, or better to keep my beginner’s mind, the desire inside and the will to practice. To be in touch with my family, with Thầy, with the sisters and brothers also helps to nourish my joy and happiness. These things help me to be more in contact with inside, I open up to receive. When I can keep in contact with my aspiration, with why I became a nun, then I am happy.

2) What inspired you to become a nun?

It has been there for a while. The aspiration has manifested in different ways and at different times. One of the things that I loved so much when I came to Plum Village , when I was young, was to hear the brothers and sisters chant “ Nam Mô Bồ Tát Quan Thế Âm.” Every time I listened to it, I would say, “Oh, oh” and every time it would come up, I would say, “I want to become a nun, too” (Smile). This was watered then. Different conditions came together at the right moment.

3) How do you hope to bring Buddhism to young people in France ?

When I ordained, the thought of sharing the practice with the young people in France was very important to me, and still is now. At first, when I ordained, the sisters wanted me to be in the teenage program because I was eighteen at that time. I didn’t want to because I felt I was too much of a teen and I was too young in the practice.

There are so many different ways that could help to bring Buddhism and Plum Village practices to the young people. The first time I heard Thầy share about Truyện Kiều and Trịnh Công Sơn, which are so special in the Vietnamese culture, I felt it was so great of Thầy to take something that is not Buddhism. I feel the same way is true with music, like rap music, for example. We can feel a lot. If we can find the way to transmit or share the practice through something to which they are already used to, and which is precious and important to them, then it would be much easier for the young people to receive the teaching, because then they can connect to it very strongly. It’s an advantage to share the practice when you are young yourself, because you can relate very easily to the young people. We might have gone through the same thing and we can learn from each other.

4) How has music helped you in your daily life or in your practice?

It is something that I am still learning. Music helps me to change the CD, like Thầy has said. When I have something inside, I play piano or the flute. Singing also helps me to direct my energy in another direction rather than carrying on thinking about something that upsets me or makes me sad. I intend to learn more about singing and want to practice it more because it involves breathing so much. You really have to be present with your whole body. When I chant or sing, and there is a lot of tension in me then my voice cannot come out fully. I can see the tension, how it came about, and how to release it. When the voice can come out fully, not just from the throat or the chest, but from the whole body, then I feel there’s enough space, no more tension.

5 ) You went to Vietnam with Thầy and the delegation in January 2005, can you share with us what was the most beautiful for you in Việt Nam .

I will never forget something very moving that happened after the alms round in Huế. Thầy met with two other Venerables from two different churches. They read some texts and then they touched the earth together. This was taking place at Đà Nam Giao. I didn’t understand what they were saying because there was no translation, but it was very strong. Seeing them up there was so beautiful.

I really appreciated to see the monastics in Việt Nam , to see the difficulties they have to go through, the determination they have. They practice in conditions that are more difficult than those we have here, materially and spiritually. Their determination is so strong. Buddhism has been there such a long time and it’s so much in them that it’s a real strength in them, a spiritual root.

I was very happy to see how the Plum Village Sangha compared to some other Sanghas. I remember the first day of the monastic retreat in Hoàng Pháp. I have never seen so many monastics in one place, it was amazing. It was so beautiful. During this retreat I could see that the brotherhood and sisterhood of the Plum Village Sangha is very strong. Our aspiration as monks and nuns is to practice brotherhood and sisterhood which is bonding us. This is also what Thầy is teaching us.

Another thing I liked in Việt Nam was to see the way the families lived together in the small villages. It is nice to hear about it, when Thầy talks about the grandmother, the father, the mother, the children, and the grandchildren all living together in a small house, but to actually see it, was quite different and very moving. It was so beautiful to see how all generations are living together. It really touched me. We have lost this in the West. It was there but does not exist any more. It is one of the strengths of a country to have such bonding in the families but we have lost it. We need to find it again.

6) After the Việt Nam trip, were there any changes in your way of thinking about your path?

The Việt Nam trip helped me to strengthen my aspiration to be in France and to share the Dharma with the French people. Thầy was in his country with his own people and he is his culture. His way of sharing the practice was to fully be himself. He was sharing with his people and with his country.

One of the first things I did when I came back to France was to buy a dictionary of French history, so I could learn more about my country. I feel it is so important to know one’s own culture. Knowing our culture is how we can touch the people. When the delegation arrived at Bát Nhã, which is so beautiful, I felt that I will come back to live there for a while. I want to have the same strong determination the Vietnamese monastic brothers and sisters have. Also, Thầy’s spiritual root is in Việt Nam , it is my spiritual root, too.

When I came back to the United States , I thought that all Western monastics should live in Bát Nhã for a year to learn. Vietnamese monastics in Viet Nam practice and teach the precepts differently than we do in Plum Village . Perhaps strictness helps to build up a strong determination inside of them. Personally, I need to have something not too easy. If it is too easy, I tend to get lazy, I just fall asleep. (Smile) If it is a little cold, one can lift up a little more.

7) Many young people are having problems communicating with their parents, what would you like to share about this?

When I was at home, I did not always have a good relationship with my dad. It was very difficult sometimes because we used to argue a lot. This is still so when my dad is here. When I was a child, I had an image of an ideal dad, for instance, dad is strong to protect me. As I grew up, I started to notice that my parents are human beings, which is not always nice to see. Sometimes I just wanted to keep this image of perfect parents inside of me, I think this is very deep in each one of us. We all want to have perfect parents. On top of that, I see that I have in myself some of the things I do not like about my dad, as a human being.

Sometimes he is more like a child, and I do not feel secure and safe inside of myself. I am a child; I am supposed to be the child. It does not make sense if the dad is a child, then the child inside of me feels lost and unsafe. I think sometimes, the difficulty arises because I feel insecure and he feels unsafe. When we both feel unsafe and insecure, we close up and we react towards each other.

I am very lucky that both of my parents have come to Plum Village for a long time, they both practice. When I have difficulties with my dad, I can talk to him and he accepts it. It is easier to improve the situation when both sides share and accept. I feel that communication is something we need to practice. It is something so natural, it should be there. We all should simply learn to say what we feel. That is how communication comes about. When you can say how you feel at that moment without saying what the other person did but speak only about your own personal feelings. When the parents can open up to listen, then the children can open up to the parents. The love parents have for their children is always there, I think that this is true for all families.

8) It is New Year’s Eve, can you share one of your resolutions and how to keep your resolutions active throughout the whole year?

This year I have a special resolution because of the Bhiksuni precepts that I will take in two weeks. I wrote my aspiration to Thầy. When I wrote to Thầy I used an image: if I were an insect then I would always be caught in the spider web because I could never see the spider web. I would be eaten little by little by the spider. Then one winter morning, everything is very white and the sun comes out. I see this beautiful spider web; with the sunshine on it, it looks like diamonds. The insect would go to the little branch and look at the spider web. Everything is so silent. When we can stop and when the silence is here, we can see our sadness or our nightmare as something beautiful. The real action is when you do not react.

Phỏng vấn thầy Pháp Dung

 

Thầy Pháp Dung thường dùng chữ “cool” mỗi khi thầy nhìn một cái gì đó đẹp hoặc một ai đó đã làm gì dễ thương. Chữ “cool” mà thầy thường dùng đã làm cho nhiều bạn trẻ cảm thấy như thầy là nguời bạn thân của mình khi nói chuyện với thầy hoặc được gần thầy. Đại giới đàn năm ngoái tại Làng, thầy đã được nhận đèn (nghĩa là trở thành một vị Giáo Thọ). Những lời chia sẻ của thầy rất dễ thương và làm cho đại chúng cười. Đó là một trong những nét đẹp của thầy Pháp Dung, luôn đem niềm vui và nụ cười đến cho mọi người. Bạn có muốn biết thầy Pháp Dung “cool” như thế nào không? Nếu muốn, xin bạn đọc những dòng chia sẻ của thầy. Chúc bạn đọc vui.


1 – Lúc mới đến Làng, điều gì khiến Thầy nghĩ rằng “Con muốn nơi này là ngôi nhà tâm linh của con trọn đời”?

– Hồi Pháp Dung đến đây, Làng còn chưa lớn lắm, quý Thầy cũng không nhiều, vì vậy Pháp Dung thấy tình cảm của mọi người rất ấm cúng. Thật ra ban đầu Pháp Dung không có ý định xuất gia, nhưng càng gần quý Thầy như Thầy Pháp Trú, Thầy Pháp Ứng, Thầy Pháp Niệm, Thầy Pháp Dụng… mình thấy như anh em của mình, như nước và sữa cùng hòa vào nhau vậy. Pháp Dung thấy được sự ấm cúng của một gia đình mà anh em cư xử và chăm sóc cho nhau rất dễ thương. Năng lượng ở Làng cũng rất tuyệt vời. Bên cạnh đó, mình cũng thấy được lý tưởng giúp đời của Sư Ông và quý Thầy qua các bài pháp thoại. Trước đó, khi còn học đại học, Pháp Dung cũng có nghĩ đến chuyện làm sao để giúp xã hội, nhưng khi đến đây Pháp Dung thấy cách giúp đời của quý Thầy đơn giản hơn nhiều: tiếp xúc với thiền sinh và giúp họ chuyển hóa. Mới nhìn vào thì có vẻ như cách này không giúp đời nhiều, vì nó không có một chương trình hay một dự án xã hội cụ thể nào cả. Đây là lần đầu tiên Pháp Dung thấy cách giúp xã hội mà không cần chương trình hay dự án lớn lao như cải tạo một thành phố, nhưng thực ra nó như từng giọt nước mỗi ngày thấm vào lòng mỗi người. Đối với Pháp Dung đây là cách giúp đời thật sâu sắc. Mình không cần làm gì cả, chỉ giúp cho người ta tự chuyển hóa, từ đó họ có thêm niềm tin, cởi mở hơn, làm hòa với gia đình, bè bạn, con cái. Trường Đại học không dạy mình giúp đời theo cách đó. Có nhiều điều để nói lắm, Pháp Dung chỉ đưa ra 2 điểm này thôi: tiếp xúc người và giúp người chuyển hóa.

2 – Tại sao Thầy không tiếp tục làm một kiến trúc sư công trình mà chọn con đường này?

– Lúc đó Pháp Dung có rất nhiều cảm hứng đối với nghề kiến trúc, nhưng khi nghiên cứu tâm của con người, thì những khám phá về tâm làm cho Pháp Dung thấy hạnh phúc, nếm được sự an lạc và điều đó đáp ứng được cái năng lượng sáng tạo trong tự thân. Kiến trúc giúp về mặt xây dựng vật chất, Pháp Dung cũng đã nhiều lần giúp xây dựng cơ sở vật chất cho Làng, còn ở đây cũng là xây dựng nhưng là xây dựng con người, xây dựng cộng đồng, nên không có gì khác nhau cả. Pháp Dung nhớ Bụt có dạy trong Kinh là “ai cũng là một người kiến trúc” xây dựng cho đời sống và tâm linh của mình. Cho nên Pháp Dung không thấy thiếu hay mất đi cái gì cả, tất cả giống như là những móc xích, nối tiếp và giúp đỡ nhau. Pháp Dung không thấy là mình đã bỏ đi điều gì hay đã bắt đầu một cái mới, thật ra cái kia giúp cái này và tự nhiên hai cái đi với nhau rất đều. Những điều này không thấy trước được, trước đây Pháp Dung không bao giờ nghĩ rằng mình sẽ về ở làng quê nước Pháp này, có bò, có ruộng, có rừng núi… vì mình đang ở thành phố làm kiến trúc sư, có nhiều bạn bè, rồi đi chơi nơi phố xá ồn ào xe cộ…, nhưng rồi thì Pháp Dung chuyển hướng dần dần cho đời sống của mình.  
Lúc còn đi học kiến trúc, Pháp Dung có ý nghĩ muốn giúp thành phố thiết kế lại để mọi người có thể thay đổi cách sống, vì Pháp Dung nhìn thành phố không có cây cảnh, thiếu màu xanh của thiên nhiên, không có không gian cho con người tiếp xúc với nhau, con người sống thu mình…Mà mình biết là kiến trúc của thành phố có ảnh hưởng tới sinh hoạt và hạnh phúc của con người, từ đó quyết định hướng đi, lý tưởng của xã hội. Nhưng giới kiến trúc sư ít có cơ hội làm những việc này, họ thường chỉ chú trọng vào danh vọng, tiền tài… Bản chất của người làm kiến trúc chưa được trong sạch, nói là giúp đời cũng có thể được nhưng nhìn vào đời sống của một kiến trúc sư thì thấy họ không hạnh phúc. Có một lần ngồi ăn trưa, Pháp Dung nhìn thấy một ông sếp kiến trúc đang “nhét” thức ăn vào một cách vội vã hấp tấp, thấy thật đáng sợ. Mặc dù đó là sếp, có thể làm nhà đẹp, nhưng nghĩ thật tội cho ông ta, ông không có hạnh phúc

3 – Ai cũng có lỗi lầm, Thầy có thể chia sẻ một bài học không thể quên được mà Thầy đã rút ra được từ những lỗi lầm của mình. Có thể là những lỗi lầm khi 18 tuổi hay 21 tuổi hay lỗi lầm trong đời tu của mình?

– Điều mà mình đã học được và còn đang học rất nhiều lần qua cách hành xử của Sư Ông và quý Thầy, là phải trân quý người đang ở trước mặt mình. Mình thường hay mắc lỗi ở điểm này lắm. Ngày xưa ở nhà, mình thường không có mặt cho ba, cho mẹ, cho anh chị em, cho người bạn thân của mình. Bây giờ, mình muốn sửa đổi, muốn thực sự có mặt cho những ai đang ở trước mặt mình. Ngày trước không có ai dạy mình cách thực sự có mặt cho nhau, vậy nên khi nhìn lại lỗi lầm thì thấy đây không phải là một lỗi mà là một cách sống. Đối với đồng nghiệp cũng vậy, làm việc cùng nhau nhưng không biết quý trọng nhau. Điều này mình vẫn còn đang phải học, vì mình thường hay quên lắm, dễ coi thường sự có mặt của người khác. Ví như có người mới tới đưa cho mình một lá thư với sự quan tâm, nếu chỉ để ý sơ sơ thì mình đã đánh mất cơ hội. Tuy chỉ là những điều nhỏ nhưng những cái nhỏ sẽ làm ra cái lớn, mình có thể trở nên coi thường sư anh, sư em của mình.

4 – Thầy phản ứng, cảm nhận thế nào khi nghe tin Sư Ông chọn Thầy làm Trụ trì tu viện Lộc Uyển?

( “Sao lại hỏi câu nớ làm chi?”)
– Pháp Dung không muốn nhớ hôm đó là ngày nào nữa. Hôm đó sư cô Bích Nghiêm đem fax của Sư Ông từ Mỹ gửi đến Lộc Uyển và nói: “Sư em có biết là Sư Ông và Đại chúng đã chọn sư em làm “xử lý thường vụ” Lộc Uyển không?” Bởi vì Pháp Dung không hiểu nghĩa “xử lý thường vụ” nên Pháp Dung không bị ảnh hưởng nhiều. Vài ngày sau, vào ngày quán niệm, sư cô Trung Chính, sư cô Thoại Nghiêm bắt Pháp Dung ra trước đại chúng để nghe tuyên bố điều đó nhưng Pháp Dung nhớ rằng mình chỉ có ngồi đó thôi, không cảm gì cả. Vì Pháp Dung lớn lên ở Mỹ nên thấy “trụ trì” hay “xử lý thường vụ” không có gì là ghê gớm lắm. Pháp Dung thấy rằng quan trọng là giữ tâm mình thôi, sống trong Tăng thân, mình biết cách làm việc của anh em nên thấy không có gì quan trọng. Sau này, Pháp Dung học được cách bỏ qua mỗi khi mọi người đặt mình vào chỗ nào đó, vị trí nào đó, giống như là cỏ đang mọc và mình cứ nhẹ nhàng tìm cách bước qua thôi. Vui lắm! (cười) Pháp Dung cũng đang học hỏi. Cũng như khi mình làm tri sự, tri xa, những ngày đầu mình cũng sẽ có những câu hỏi như “ồ! Thì ra lo cho chúng là như vậy hả? Thì ra mình phải chuẩn bị cái này trước…” Rồi một cách tự nhiên mình phải biết sắp xếp công việc, nếu không sẽ hỏng việc của đại chúng. Vậy thôi! Trong cương vị này, Pháp Dung cũng đang học hỏi điều gì là tốt và điều gì không tốt. Cũng có lúc nó làm cho mình khó chịu vì mọi người có ý kiến này kia, rồi đặt Pháp Dung vào một chỗ đứng mà Pháp Dung không quen, không biết tâm lý ra sao, những lúc đó Pháp Dung thở, thấy hơi nóng nóng và mắc cỡ. Pháp Dung cũng đang học từ từ thôi.

Pháp Dung muốn rằng ai cũng phải học tất cả những cái như xử lý thường vụ, tri sự, chùi nhà vệ sinh, làm vườn,… để mình biết và hiểu thêm. Điều làm Pháp Dung khó chịu nhất là bắt Pháp Dung phải lớn, phải làm những điều mà mình không thích. Nhưng bây giờ mình biết cách rồi. Cũng như làm tri sự, trong vài tuần đầu sẽ mất ngủ. Tất cả đều là chuyện học hỏi thôi, không phải tự nhiên mà mình biết hết. Từng ngày, từng ngày sẽ quen dần. Mỗi khi tiếp xúc với phật tử, mình để ý xem họ đối xử với mình ra sao, phật tử Tây phương và Việt Nam có cái nhìn của họ, mình đứng đó thở để xem thử họ muốn điều gì. Nếu họ muốn mình là một vị trụ trì thì mình cũng sẽ là một vị trụ trì, nhưng mình không bị kẹt vào đó, sau đó mình có thể đi chơi với anh em hoặc với bọn trẻ.

5. Điều quan trọng đối với thầy ở cương vị này là gì?

– Điều quan trọng là liên hệ tốt với huynh đệ trong tăng thân, đó chính là hạnh phúc của Pháp Dung cũng là để nuôi dưỡng và bảo vệ Pháp Dung. Có khi những vị cư sĩ buồn do hiểu lầm cũng làm cho mình buồn vì Pháp Dung thuộc loại người luôn ưa thích thấy mọi người được hòa hợp và hạnh phúc, mà điều này không thể xảy ra hoài hoài được. Cho nên bây giờ, hạnh phúc của Pháp Dung là khi nhìn lại sự liên hệ của mình với các sư anh, sư chị, sư em cũng như liên hệ với các thành phần trong gia đình thấy vẫn còn tốt. Là một vị trụ trì, có rất nhiều điều đi qua tai mình, mình phải tập và thấy rằng những sự khen chê không phải là hạnh phúc của mình. Cũng như cái cây có nhiều nhánh, có nhánh chính và nhánh phụ, nhánh phụ thì từ từ mình tìm cách nhổ bớt. Nghe những chuyện phe phái có khi làm Pháp Dung ngán đến nỗi phải nghĩ ra phương pháp chơi với trẻ em, bọn trẻ sẽ bảo vệ mình, xung quanh có trẻ con nên người lớn không tới xâm nhập được.

6 – Mọi người đều thấy sự liên hệ tốt giữa Thầy và giới trẻ cũng như trẻ em, Thầy rất thích chơi với thiếu nhi nhưng khi làm trụ trì thì Thầy phải làm việc nhiều với người lớn, Thầy thấy thế nào?

– Thường thường, khi có thiếu nhi lên Lộc Uyển là Pháp Dung rất để ý, có trẻ em lên là mình thấy liền, thấy cách bọn trẻ đi, cười. Trẻ em lên Lộc Uyển có rất nhiều lứa tuổi, và chúng lớn rất nhanh. Quay trở lại câu hỏi, Pháp Dung thấy người lớn cũng như trẻ con, không có gì khác nhau hết. Không phải mình coi thường, nhưng vì có sự gần gũi nên mình biết họ muốn gì và cần gì, nên mình dùng lời nói để tưới tẩm những điều tích cực thôi. Giống như khi một em bé đang giận ba mẹ, ra ném cát, thì mình tới chơi ném cát cùng với em. Em bé thấy mình còn quậy hơn cả em nữa thì chấp nhận mình thôi. Khi đó mình có thể từ từ dẫn em ra khỏi tâm trạng buồn khổ của em được. Người lớn dường như cũng vậy, họ có rất nhiều điều than phiền, nhưng mình cứ ngồi lắng nghe, rồi cũng từ từ dẫn họ ra được. Tuy nhiên, Pháp Dung thấy mình vẫn chưa giỏi lắm, vì mình vẫn còn chọn gần với con nít nhiều hơn, người lớn suy tư nhiều quá. Nhưng điều này không liên quan đến công việc trụ trì nhiều, mình vẫn có thể dành cho họ 15 phút mỗi khi cần, nhưng sau đó mình trở về với chúng thôi. Cho nên chăm sóc con nít hay người lớn, đối với Pháp Dung cũng là một lý tưởng, giống như các sư anh, sư chị, sư em khác thôi. Việc làm trụ trì không ảnh hưởng đến việc chăm sóc người lớn hay trẻ em. Tuy nhiên có những lúc mình phải lựa chọn, khi mình đang chơi với con nít nếu có người lớn đến tìm sự giúp đỡ của mình, hay như khi đang nói chuyện để tháo gỡ khó khăn cho một cặp vợ chồng thì con nít chạy tới muốn chơi với mình, mình phải nói mạnh một chút: “Các con qua bên kia chơi, để Thầy nói chuyện xong sẽ chơi với các con sau”. Lúc đó bọn trẻ cũng có thể hơi ngạc nhiên, vì thường thường mình chơi đùa với chúng bất cứ lúc nào. Từ từ mình thấy phải đối xử với hai bên tùy theo hoàn cảnh, có khi mình mệt quá, phải nói với bọn trẻ “Thầy hết xí quách rồi, Thầy đi ngủ đây”, rồi mình đi ngủ.


7 – Thầy có một phẩm chất đẹp, đó là sự khiêm cung của Thầy ở một vị trụ trì trẻ lại có nhiều tài năng lại rất thích hợp với thiếu nhi và thanh thiếu niên. Thầy có thể chia sẻ bí quyết để có được sự liên hệ tốt như vậy với giới trẻ không, vì trong trường học, có nhiều thầy cô giáo muốn có được sự liên hệ tốt với học trò của mình mà không được?

– Thực ra Pháp Dung không có cách gì cả, nếu có cái gì đó được gọi là bí quyết thì có thể là niềm vui thích trong lòng mình khi được tới chơi và đùa nghịch với trẻ em, có lẽ điều đó làm cho mình rất tự nhiên khi đến với mấy em. Mà mình cũng để ý chăm sóc chúng nữa, và vì mình không có ý định tới để dạy bảo gì mấy em cả, nên mình có được tình bạn của mấy em. Tuy nhiên Pháp Dung cũng gặp những trường hợp mình phải nói để mấy em sửa đổi. Có lần người ta mời Pháp Dung đến một trường tiểu học với mục đích giới thiệu cho các em thấy được thế nào là một tu sĩ sống trên núi. Pháp Dung hỏi ngay mấy em “Các em có biết thế nào là một tu sĩ không?” Bọn trẻ cùng trả lời, và thế là mình cùng bọn trẻ ngồi chia sẻ. Vài ba lần như vậy, mình phát hiện ra rằng bọn trẻ thiếu tình thương. Thầy cô giáo nên nhìn bằng con mắt đó vì có khi ở nhà bọn trẻ thiếu tình thương và sự quan tâm chăm sóc của ba mẹ, có thể bị ba mẹ la mắng, hay ba mẹ bận rộn quá không có mặt đó cho con. Pháp Dung có em trai làm thầy giáo, và Pháp Dung luôn khích lệ em trai giữ nghề của mình. Nhưng làm thầy giáo khó lắm, vì bây giờ người ta thường muốn nhồi nhét thông tin hơn là dạy cho bọn trẻ thành người. Phần dạy con trẻ thành người ngày càng ít hơn.
Khi đến trường tiểu học đó Pháp Dung không chia sẻ gì nhiều, chỉ nói về “Chiến Tranh Giữa Các Vì Sao” (Stars War), “Chúa Tể Của Chiếc Nhẫn” (Lord of the Ring), hay Darwin là ai. Những điều đó bọn trẻ đều biết hết, và mình cũng thích, nên mình dùng để nói với bọn trẻ vì nó có vẻ “đúng đài”. Nhưng đó chỉ là hình thức thôi. Sau đó, Pháp Dung cảm nhận là bọn trẻ rất hạnh phúc vì Pháp Dung thực sự có mặt cho các em. Pháp Dung chăm sóc bọn trẻ theo cách thức khác. Còn người em trai của Pháp Dung là dạy bảo theo nguyên tắc. Pháp Dung thấy rõ là bọn trẻ thiếu sự ấm cúng, Pháp Dung ngồi dưới đất và bọn trẻ ngồi xung quanh, giống y hệt mỗi lần chúng ta ngồi quanh Sư Ông, tự nhiên có một năng lượng rất thật mà không cần bất kỳ một “kỹ thuật” nào hết. Đó là phương pháp đến với các em của các Thầy, các sư cô, dù mình có chơi đùa, dạy bảo hay ăn cơm với các em thì cũng chỉ áp dụng cái thực tập gốc đó thôi. Có những trường hợp mình không chỉ giúp chính đứa trẻ mà phải giúp cả cho cha mẹ của em nữa. Người mẹ có thể nghĩ rằng vấn đề xuất phát từ người con, nhưng thực ra khi nhìn lại thì có lỗi của cha mẹ trong đó: họ chỉ muốn con mình trở nên hoàn hảo ngay lập tức mà không muốn dành thời gian cho bọn trẻ, xu hướng của xã hội Mỹ bây giờ là vậy. Cho nên mình phải rất khéo để chỉ cho các bậc phụ huynh thấy được những thiếu sót của họ chứ không phải lên án họ. Dù thế nào thì hiện giờ Pháp Dung cũng còn đang học hỏi thôi, và cảm thấy mình cần phải học thêm rất nhiều.

8– Thầy có thể chia sẻ một kỷ niệm đẹp về Sư Ông?

– Có một mùa hè, Sư Ông rất bận, sức cũng yếu, còn Pháp Dung thì mới từ Lộc Uyển về. Sư Ông gọi lên và đưa cho Pháp Dung một cuốn sách tiếng Trung để tặng cho ba của Pháp Dung. Pháp Dung vô cùng ngạc nhiên vì thấy Sư Ông bận rộn và có rất nhiều đệ tử mà vẫn quan tâm đến những chuyện nhỏ như vậy. Điều đó gây cho Pháp Dung một ấn tượng sâu sắc và một bài học về cách cư xử với mọi người là không quên những việc dù nhỏ. Đó cũng là một trong những điều làm cho Pháp Dung luôn nhớ về Sư Ông. Sư Ông có những cái hạnh chan chứa tình người mà những ai ít có cơ hội gần gũi thì sẽ không thấy được, không biết được.

9 – Thầy đã về Việt Nam bao nhiêu lần, và qua những lần đó Thầy khám phá được những gì về nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam mà trước đây Thầy chưa bao giờ biết?

– Pháp Dung về Việt Nam ba lần. Lần đầu tiên là sau khi học xong đại học, Pháp Dung về ba tháng để nghiên cứu kiến trúc Việt Nam. Mẹ Pháp Dung cho rằng mình không thể về quê hương và tiến hành nghiên cứu mà không về thăm quê và lạy tổ tiên trước, vì vậy Pháp Dung theo mẹ về thẳng quê ngoại ở Quảng Trị và thăm quê nội ở Đà Nẵng. Sau đó mẹ về lại Mỹ, còn Pháp Dung ở lại tiếp tục đi thăm đất nước Việt Nam. Rốt cuộc thì chuyến đi đó không phải là nghiên cứu về kiến trúc mà là tìm hiểu về con người, muốn biết về kiến trúc thì mình phải biết cách sống của con người ở đó.
Có một lần, ở tận vùng quê ven biển Quảng Trị, Pháp Dung nói chuyện với một ông lão, xung quanh là mấy người Việt. Lúc đó Pháp Dung còn là sinh viên, còn ngây thơ lắm, lại không biết tiếng Việt nhiều. Pháp Dung có hỏi xem ông cụ có cảm thấy lo lắng khi người phương Tây về Việt Nam xây cất những tòa nhà cao và đem cách sống Tây phương làm ảnh hưởng đến cách sống của người Việt không, vì Pháp Dung thấy Sài Gòn và Đà Nẵng đang phát triển rất nhanh. Dường như ông cụ thấy sự lo lắng của Pháp Dung trong câu hỏi, nên bật lên tiếng cười rất hiền hậu rồi bảo Pháp Dung đừng có lo, ông bà tổ tiên của mình đã bao lần kinh nghiệm những điều đó. Sau đó, Pháp Dung cảm thấy như được thức tỉnh. Khi học ở trường, Pháp Dung hay tưởng tượng nhiều điều nhưng trong cuộc sống thì không như thế. Cách ông lão cười làm Pháp Dung thấy nhẹ đi rất nhiều và Pháp Dung cũng đọc được nhiều điều trong mắt của ông, một con người đã trải qua bao nhiêu đau thương mà vẫn có thể sống và cười, nụ cười rộng mở trên khuôn mặt nhăn nheo với hàm răng chỉ còn vài chiếc. Cho đến bây giờ, đối với Pháp Dung đó là một hình ảnh đặc trưng của Việt Nam, là một biểu tượng. Và sau đó, hình ảnh những con người đang lao động đã làm thay đổi cách nghiên cứu của Pháp Dung, bằng cách chụp những bức ảnh Pháp Dung đã tìm cách miêu tả kiến trúc qua cách sống của con người.

10 – Thầy lớn lên ở Mỹ và sống ở đó khá lâu, 26 năm, cho dù không nhiều nhưng Thầy thế nào cũng biết về văn hóa Việt Nam. Thầy có thể nêu lên một trong những nét đẹp của văn hóa Việt Nam và một trong những nét đẹp của văn hóa Mỹ?

– Bây giờ nói về văn hóa, Pháp Dung bớt có cái nhìn phân biệt Việt Nam hay Mỹ, Tây phương, Pháp…Tuy nhiên cũng còn một vài điểm như cách xưng hô, hay cách ăn uống, nhưng Pháp Dung thấy những điểm đó thuộc về văn hóa làm người nhiều hơn. Một trong những nét đẹp của văn hóa Việt Nam là người trẻ tuổi trong khi tiếp xúc với người lớn có sự kính trọng. Trong văn hóa phương Tây, người nhỏ tuổi và người lớn có thể đối xử với nhau như những người bạn, đó cũng là nét đẹp riêng. Người Tây phương khi nhìn vào cách đối xử của người Việt Nam có thể cảm thấy có khoảng cách, nhưng Pháp Dung lại thấy rất đẹp vì đó là cách mình biểu lộ tình cảm với nhau, không phải là sự ép buộc. Do vậy, mặc dù mang tính Á Đông nhưng Pháp Dung không còn thấy đó chỉ là văn hóa Việt Nam nữa mà thuộc về văn hóa làm người rồi, do vậy người phương Tây cũng có thể học hỏi.
Hiện nay ở Mỹ, những gia đình người Việt đang tìm cách giữ gìn văn hóa Việt Nam. Pháp Dung cũng suy nghĩ về điều đó và thấy rằng những nét đẹp và sự ấm áp trong cách mình có mặt cho nhau, lắng nghe nhau, thương yêu và chăm sóc cho nhau sẽ tạo thành văn hóa, không kể là Việt Nam hay Mỹ, nhưng sẽ đẹp.

11 – Ở Lộc Uyển có rất nhiều khóa tu cho người trẻ, có cả khóa tu dành riêng cho những sinh viên đại học. Trong những khóa tu như vậy, thời khóa sẽ như thế nào và đề tài của những buổi pháp đàm là gì để có thể gây được cảm hứng cho người trẻ thưa Thầy?

– Nhìn chung, thời khóa cũng không khác với các khóa tu khác, cũng có pháp đàm, ăn cơm im lặng, ngồi thiền, buông thư…chỉ khác là cách các quý Thầy và quý sư cô chia sẻ mang tính cách vui tươi, năng động và tiếp xúc nhiều hơn. Ví dụ như khi hướng dẫn một buổi pháp thoại, mình không dạy nhiều, mà thỉnh thoảng hỏi các em: “Các em nghĩ sao về điều đó?” để tạo nên sự trao đổi. Các em thường không thích ngồi nghe nhiều mà muốn có sự trao đổi. Các em rất tò mò muốn biết về cuộc sống xuất gia. Các sư anh sư chị đã quen với điều đó và biết cách hành xử thế nào để trở thành bạn của mấy em chứ không phải làm thầy cô giáo. Như vậy, hình thức của khóa tu không có gì khác. Mới đây, khi tham khảo ý kiến các em về khóa tu, Pháp Dung rất ngạc nhiên khi biết rằng có những em ở nhà rất muốn dậy sớm ngồi thiền vì thấy làm như vậy rất có ích. Pháp thoại ngắn hơn và có thêm phần vấn đáp. Pháp đàm sôi nổi hơn. Ngoài ra, thời khóa còn có thêm các hoạt động thân thể hay trò chơi, tạo cơ hội cho những ý tưởng được bộc lộ. Phần tôn giáo, như giảng hay tụng kinh, mặc dù cũng quan trọng nhưng được giảm bớt, vì điều quan trọng hơn với giới trẻ là mình có thể hiểu sâu vấn đề của các em và chỉ cho các em phương pháp để tự chăm sóc.
Tất cả các khóa tu này đều được tổ chức dựa trên sự yêu cầu, chứ không do mình tự đề ra. Khóa tu đầu tiên chỉ có 25 thiếu nhi, nhưng rất vui. Và sau đó, khi các bậc phụ huynh đến, họ thích và cũng muốn có khóa tu cho riêng họ. Vì vậy ở Lôc Uyển có tổ chức khóa tu riêng cho gia đình, cho các cặp vợ chồng trẻ, cho giáo viên và sinh viên đại học. Hàng năm, Lộc Uyển có 2 khóa tu cho cấp đại học, có khi cả lớp học cùng đến tu học và sống cùng nhau trong 2 tuần. Và quý Thầy, quý sư cô hướng dẫn giáo viên cách dạy sinh viên của mình. Pháp Dung rất ngạc nhiên khi thấy mọi người thảo luận sôi nổi về 5 Giới, và chủ đề cơ bản là mối quan hệ với gia đình, bạn bè, cách xử lý các cảm xúc – những vấn đề rất con người và cũng là những khía cạnh rất cơ bản trong các bài giảng của Sư Ông.

12 – Tuần trước, Sư Ông giảng về sự hòa hợp trong Tăng thân như một bản hòa tấu. Thầy có ý kiến như thế nào khi Thầy muốn Tăng thân có được sự hòa điệu như một bản nhạc?

– Pháp Dung thấy việc xây dựng Tăng thân quả là một nghệ thuật. Khái niệm “nghệ thuật” rất rộng, nó không loại trừ bất kì điều gì, tuỳ theo cách mình nhìn. Khi mình có sự hòa điệu trong Tăng thân, không có nghĩa là ai cũng phải đồng ý với tất cả ý kiến của nhau về tất cả mọi việc, đó là điều không tưởng. Mình không muốn nói là không thể đạt tới sự hòa hợp hoàn hảo, nhưng trên thực tế, sự hòa hợp trong cuộc sống cộng đồng con người là tôn trọng sự khác biệt của người khác. Đôi khi mình so sánh sự hòa hợp này với một bản nhạc hay một thứ gì đó mang tính cấu trúc thì mình có thể bị sai lầm vì nghĩ rằng mọi thứ phải hoàn hảo. Vì vậy, trong mối quan hệ và cuộc sống cộng đồng, sự hòa hợp không phải là điều mà mình có thể thiết kế mà là khả năng thay đổi và thích ứng của từng người. Cho nên nó rất đẹp. Như khi mình làm đường bên Lộc Uyển, thì sự hòa hợp không phải là mọi việc được hoàn thành và từng cái lỗ được đắp hoàn hảo, nhưng mình có thể cảm thấy được sự hòa điệu của chúng mà cái đó được gọi là nghệ thuật vì cái đó không thiết kế trước được, mình chỉ có thể cảm nhận được khi nó xảy ra. Nhiều người đã từng nghiên cứu về xây dựng cộng đồng, và đã có nhiều sách viết về xây dựng cộng đồng,

13 – Trong thời gian trở về Làng vào khóa An Cư Kiết Đông 2006 này Thầy có vui nhiều không thưa Thầy?

– Có chứ. Pháp Dung thấy Tăng thân đang phát triển, mọi người cũng đều thấy như vậy. Điều đó làm cho Pháp Dung hạnh phúc và đầy niềm tin vào tương lai. Mỗi lần quay về đây, Pháp Dung đều học được rất nhiều. Pháp Dung về lại và chỉ tận hưởng tình huynh đệ, mặc dù có nhiều sư em mình chưa biết nhưng Pháp Dung vẫn cảm nhận được sự ấm cúng. Có thể Pháp Dung không có nhiều cơ hội làm việc cùng nhau, sống cùng nhau, chia sẻ nhiều với nhau nhưng điều đó không quan trọng, chỉ cần nhìn vào mắt nhau là có thể thấy được sự gần gũi và chấp nhận nhau là quá đủ rồi.

BBT kính cám ơn thầy rất nhiều.

Phỏng Vấn Quý Thầy Từ Hiếu Và Bát Nhã

Thầy Đồng Châu là đệ tử của Thượng tọa Đức Nghi (trụ trì tu viện Bát Nhã). Xuất gia năm 1993. Năm nay Thầy 43 tuổi

Thầy Từ Hải: tuổi Dần nghĩa là năm nay 33 tuổi, xuất gia năm 18 tuổi. Xuất thân từ Tổ Đình Từ Hiếu và là đệ tử của Sư thúc Chí Mậu.   
Thầy Đồng Lực: năm nay 28 tuổi, đệ tử của Thượng Tọa Đức Nghi ( viện chủ tu viện Bát Nhã)

Thầy Từ Giác: tuổi chuột, sinh năm 1984, xuất gia năm 1996 khi 11 tuổi, cùng xuất thân từ Tổ Đình Từ Hiếu và cũng là đệ tử của Thầy Chí Mậu.

1.  Xin Thầy cho chúng con biết về những ngày Quán niệm ở Từ Hiếu và Bát Nhã, có bao nhiêu người đến dự và thời khóa có giống ở Làng Mai không?

Thầy Đồng Châu: Khi Thầy chuẩn bị qua Làng thì Xóm Rừng Phương Bối đang được thành lập, còn Xóm Bếp Lửa Hồng đã có thể sinh hoạt đều đặn, đã có những ngày Quán niệm mỗi Thứ Năm và Chủ Nhật như ở Làng. Do thời tiết trưa nắng nên đi thiền hành sau thời tụng kinh sớm, sau đó ăn sáng, chấp tác từ 8h – 10h. Trong ba tháng an cư này, Thứ Năm hàng tuần hai xóm quán niệm chung với nhau và mỗi tháng có hai ngày Thứ Bảy và Chủ Nhật đầu tháng dành cho các phật tử cùng tu chung với các thầy, các sư cô. Tùy theo có bữa có 300 – 400 người, có bữa 700 – 800 người, mức trung bình là khoảng 500 người nên không có đủ chỗ ở đàng hoàng cho Phật Tử, mình phải sử dụng luôn nhà Tổ, nhà bếp, nhà Tăng, thiền đường, phòng khách … Thời tiết ở Bát Nhã gần như lạnh quanh năm, ẩm thấp và có muỗi nên ngủ qua đêm cần có đầy đủ mùng mền, có thêm gối càng tốt. Không đặt giá cả mà tuỳ hỉ cúng dường Tam Bảo, ai có điều kiện thì đóng góp, không có thì thôi, cùng san sẻ điều kiện tu tập chung với nhau. Thường là quý sư cô nấu cơm, đã có hệ thống nấu cơm rất tiện lợi, chỉ cần khoảng 1h đồng hồ là có thể nấu 50kg gạo thành những mẻ cơm hấp rất ngon lành. Các Thầy thì nấu thức ăn, có Phật Tử giúp cắt gọt. Còn những ngày Quán niệm riêng cho tăng ni thì có bữa các thầy làm hết, có bữa quý sư cô nấu bún riêu đãi các Thầy rất ngon lành. Nghe mấy sư cô nói đãi bún là các thầy biết ngay là món bún … riêu.
Một thời khóa cụ thể của ngày Quán niệm: Ngồi thiền tụng kinh, thiền hành, ăn sáng, pháp thoại của Thầy Viện chủ hoặc của các vị giáo thọ Làng Mai, thỉnh thoảng của một số thầy khác. Chiều thường có pháp đàm chia theo lứa tuổi.

Thầy Từ Hải: Trước Hạ có hai ngày Quán niệm, một ngày dành riêng cho tăng ni và một ngày tăng ni Phật Tử chung. Sau này chỉ còn một ngày thứ bảy trong tuần. Số lượng tham dự rất đông, có lần hơn 300 người. Đặc biệt là giới trí thức đến tham dự rất nhiều. Sinh hoạt của ngày Quán niệm giống như ở Làng Mai, có hôm pháp thoại của Sư Ông, có hôm của Sư Thúc hoặc của các vị giáo thọ. Riêng thời khóa buổi chiều, có thực tập thiền buông thư (Từ Hải là một trong những “chuyên viên” thiền buông thư), sau đó chương trình thay đổi tùy theo pháp đàm hay thiền trà, thiền lạy.

2. Thưa Thầy các sư em bên đó có được chơi nhiều như bên Làng không?

Thầy Đồng Lực: Những ngày Quán niệm, các thầy các sư cô cũng được chơi chung với nhau, ở Làng chơi môn thể thao nào thì Bát Nhã cũng chơi như vậy, đá cầu, đá bóng, có một sư cô là võ sư nên cũng có một lớp võ thuật. Những ngày làm biếng cũng tổ chức đi chơi picnic, đi chơi suối, đi chơi rừng, đi vào
các buôn làng được người dân tộc đãi món ăn rất ngon.  

3. Xin Thầy cho chúng con hiểu thêm về những thuận lợi và khó khăn hiện nay của Tăng thân Bát Nhã và Từ Hiếu.

Thầy Đồng Châu: Bất cứ một tổ chức nào cũng có những khó khăn và thuận lợi riêng. Khi tu viện Bát Nhã được thành lập theo đường hướng tu tập pháp môn Làng Mai thì mọi thứ đã được dọn đường sẵn. Tức là những lực lượng, nhân sự cũ ở đó đã tự điều động cho gọn. Xóm Bếp Lửa Hồng – xóm của quý sư cô – có mặt trước tiên và hiện nay có thêm Xóm Rừng Phương Bối dành cho quý thầy. Giai đoạn đầu cũng có những khó khăn từ phía Giáo Hội cũng như từ phía chính quyền, nhưng từ từ mọi chuyện cũng được thu xếp ổn thỏa.
Về mặt tổ chức, Bát Nhã có thuận tiện là tất cả những thời khóa tụng kinh, thiền tập đều qui về một mối, không khác gì sự thực tập tại Làng Mai nên không có những khó khăn trong nội viện.
Về phía Phật Pử Việt Nam, tuy rất ưa chuộng pháp môn Làng Mai nhưng pháp môn của Làng đối với họ vẫn còn rất mới mẻ. Một số người thực tập có lợi lạc thì đã thích nghi, một số còn trong giai đoạn quan sát, một số muốn đến tham dự khoá tu  để tìm hiểu.

Thầy Từ Hải: Mọi người ai cũng biết rằng Tổ Đình Từ Hiếu mang sắc thái truyền thống chùa Huế. Những bước đầu chuyển sang tu viện gặp rất nhiều khó khăn, không phải là vấn đề tổ chức mà là vấn đề tiếp nhận pháp môn, giống như hình ảnh con rắn lột da, phải đi qua giai đoạn rất đau xót thì mới có thể sống mạnh. Trước đây, pháp môn của Sư Ông cũng đã được thực tập tại Phật học viện  nhưng chưa được hoàn toàn vì vừa kết hợp với truyền thống nên không đi được trọn vẹn. Khi thay đổi thì có những vị Thầy, sư chú chưa thích ứng, thành ra phải qua ở chùa khác để có thể đi học bên ngoài, vì vậy gây nên khá nhiều tri giác sai lầm để người ta có thể bàn tán.
Mặt thuận lợi là: anh em đi vào sự thực tập mới, tiếp thu pháp môn rất nhanh. Sư Ông hỗ trợ về mặt tinh thần cho Từ Hiếu rất nhiều, tổ chức những buổi họp chúng xây dựng tăng thân, đưa ra đường hướng tu tập, thương tưởng nâng đỡ những khó khăn của anh em, nên anh em sau này có  nơi nương tựa. Hiện giờ, anh em rất vững vàng, không sợ hãi, sống rất vui, và điều đáng phấn khởi nhất là tình Thầy trò, tình huynh đệ đang sống lại rất đẹp.

Thầy Từ Giác: Dù một vài Thầy, vài sư anh lớn chưa quen “đi theo dòng sông” – nghĩa là tụng kinh Thiền Môn Nhật Tụng bằng Việt ngữ thay vì chữ Hán- , đi ra ngoài thì phải có thân thứ hai, tiền được cúng dường khi đi ứng phú  thì bỏ vào quỹ chung …nhưng có quý Ôn lớn ủng hộ cách sống theo tu viện nên chúng con rất biết ơn quý Ôn. Dù một số các sư anh lớn chưa thật sự chấp nhận và dấn thân cho pháp môn mới nhưng các sư em rất thông cảm và có thể hiểu được phần nào tâm sự các sư anh mình. Đối với các sư anh sự thực tập pháp môn truyền thống đã quá lâu năm và bỗng nhiên thay đổi hoàn toàn để chấp nhận pháp môn thì quả là khó khăn cho các sư anh. Hơn nữa bấy lâu nay chùa Tổ đã được quý Ôn, quý thầy trong tăng đoàn dày công nâng đỡ và dạy dỗ nên ân nghĩa đó rất là sâu dày nên khi chùa Tổ trở thành tu viện thì Phật học viện phải chuyển đi nơi khác và quý Ôn cũng phải chuyển đi theo Phật học viện để tiếp tục dạy dỗ cho các tăng sinh muốn cầu học. Vì đó, các sư anh phần nào cảm thấy áy náy và rất khó khăn để chấp nhận và hết lòng xây dựng tu viện. Các sư em biết mình còn trẻ cả hai mặt đời và đạo nên sự thực tập pháp môn truyền thống chưa được sâu sắc nên dễ dàng thay đổi khi chuyển qua môi trường mới và sự thực tập mới. Vì hiểu được như thế nên các sư em chỉ biết thực tập và cống hiến hết lòng để xây dựng tu viện và qua đó có thể tạo được nguồn cảm hứng cho các sư anh. Từ đó, các sư anh có thể lần lần chấp nhận và thật sự dấn thân để xây dựng tu viện.

Thầy Đồng Lực: Tu viện Bát Nhã cách biệt với thị xã Bảo Lộc-Lâm Đồng khoảng 20km, có rừng thông bao quanh và nhiều đồi suối thuận lợi cho sự tu tập các pháp môn của Làng. Các Thầy, các sư cô tu tập có nhiều an lạc, đi thiền hành rất hạnh phúc. Các vị Thầy lớn có sự nhất trí nên các anh em có nhiều niềm tin và đi theo Thầy 100%.

4 – Thưa Thầy, ở Bát Nhã người dân tộc tham dự tu tập có nhiều không? Và họ là những dân tộc nào?

Thầy Đồng Lực: Có chứ. Vào những ngày quán niệm đồng bào người dân tộc cũng có đến tham dự. Đặc điểm của người dân tộc là họ không bao giờ nghỉ chân nghỉ tay hết nên họ rất nhiệt tình trong việc làm công quả. Ngoài ra thì họ tham dự thời khóa chung với người Kinh như bình thường. Họ có thể hiểu được tiếng Việt phổ thông, vấn đề bây giờ là mình thiếu giáo thọ để có thể hướng dẫn riêng cho họ. Người dân tộc tu tập cũng giỏi lắm, họ thuộc hết những bài thiền ca của mình và rất thích hát, những chú điệu người dân tộc hát trong khóa tu, giữa đại chúng một cách tự nhiên, rất vui và dễ thương. Trong số họ, phần nhiều là người dân tộc K’Ho. Thật ra tâm của người dân tộc rất lành, đơn giản và vô tư, làm ngày nào ăn ngày đó, không đau khổ nhiều như người Kinh mình đâu. Đã có ba em gái và sáu em trai người dân tộc xin tập sự xuất gia tại Bát Nhã. Các em tập sự đã hơn 3 tháng rồi.

5. Thưa Thầy có cách giải quyết nào cho tình trạng người muốn xuất gia tu tập rất đông nhưng thiếu cơ sở vật chất để tiếp nhận họ?

Thầy Từ Hải: Hiện nay, tu viện đặt điều kiện khi nhận tập sự xuất gia, các em từ 15 – 18 tuổi phải biết đọc, biết viết, có khả năng văn chương khá. Lứa tuổi từ 18 – 25 đang học hay đã tốt nghiệp đại học. Lứa tuổi từ 25 – 35 đang học cao học hay có bằng cấp cao học hoặc tiến sỹ. Đặc biệt, tu viện Từ Hiếu không nhận người đã lập gia đình, đây là truyền thống chùa Huế, khác với Bát Nhã hay Làng Mai. Hiện tại, tăng thân Từ Hiếu có những sư chú đã từng là giáo viên, bác sỹ, công chức Nhà nước cho đến thợ xây, thợ mộc, thợ điện, nên mình rất giàu. Vì cơ sở vật chất hạn chế nên không thể tiếp nhận ồ ạt, đang có dự án xây thêm tăng xá nhưng chưa tiến hành.

Thầy Đồng Lực: Tu viện Bát Nhã cũng tương tự Từ Hiếu, chủ yếu là chọn lựa những tài năng trẻ. Tuy nhiên, Bát Nhã cũng có chủ trương đưa những người lớn tuổi yêu thích pháp môn của Sư Ông qua một tu viện khác có thời khóa riêng phù hợp với lứa tuổi. Hiện Bát Nhã đang xây dựng thêm Tăng xá – Ni xá để có đủ chổ cho những người muốn tu tập pháp môn của Sư Ông. Vì có quá nhiều người muốn xin tu tập và cơ sởvật chất để tiếp nhận không đủ nên Bát Nhã chỉ nhận đơn nhưng chưa thể nhận người; đa phần là thanh thiếu niên đến từ khắp mọi miền đất nước.

6. Thưa Thầy, chúng con muốn tìm hiểu tình trạng tu tập của giới Tăng Ni trẻ tại Việt Nam?

Thầy Từ Hải: Tình hình tăng ni trẻ ở Huế nói riêng và toàn quốc nói chung đa số chạy theo bằng cấp và kiến thức Phật học mà chưa đủ điều kiện đi vào thực tập nội tâm. Có cái hay là sau một thời gian học tại các trường Phật học, kiến thức đã được thỏa mãn rồi thì họ có những nhu yếu nào đó khiến cho họ nhìn trở lại. Cho nên khi đã học xong Phật học thì đi vào tu viện cũng rất hay. Tu viện Từ Hiếu và Bát Nhã có thể là những nơi cho những vị đã học xong Phật học trở về với sự tu tập. Nếu như mình chỉ chạy theo kiến thức, không có pháp môn, không có đường hướng học và tu thì không có tương lai cho sự tu tập. Tuệ giác và từ bi của Sư Ông đã có ảnh hưởng rất tốt để giúp người ta bắt đầu trở nhìn lại, có niềm tin là những kiến thức Phật học có thể áp dụng được trong đời tu của mình. Đó là nói về những vị có bằng cấp Phật học.
Cũng có những vị không muốn chạy theo trào lưu bằng cấp, học vấn, những người bỏ dở nửa chừng vì không tìm thấy hạnh phúc thực sự trong khi học ở các Phật học viện nên tìm tới tu viện. Theo cái thấy của Từ Hải thì có những người tuy không có bằng cấp về Phật học với rất nhiều kiến thức, nhưng trong cuộc sống đã thực tập được những điều rất căn bản Phật dạy và đã tiếp xúc và hành xử với anh chị em đồng đạo rất đẹp. Rõ ràng không phải ai có nhiều kiến thức Phật học đều tu giỏi.

Thầy Đồng Châu: Vấn đề này một phần là trách nhiệm của các vị tôn túc ở Việt Nam, chưa tạo được nhiều cơ hội cho tăng ni trẻ tu tập. Thầy có tiếp xúc một số vị ở trường Cao đẳng, Trung cấp, Phật học viện thì thấy rằng nhiều thầy, nhiều sư cô cũng thao thức được học, được tu, nhưng khi về chùa không có không gian, không có điều kiện cho người ta áp dụng những gì đã được học thì nảy sinh chán nản, nên lại muốn đi học trở lại. Bởi vậy, mình cần phải tạo ra một môi trường có đủ điều kiện cho người ta áp dụng những gì đang học và sau khi đã tốt nghiệp các trường Phật học. Đây là một vấn đề chúng ta cần nhìn lại về cách tổ chức các trung tâm tu học của mình chứ không phải là vấn đề riêng của giới tăng ni trẻ.

7. Xin Thầy cho biết sự khác nhau giữa các em đã trực tiếp thực tập pháp môn Làng Mai với các Thầy từ truyền thống chuyển sang?

Thầy Từ Hải: Với các Thầy đã ở Từ Hiếu trước đây thì có sẵn nền tảng trong sự thực tập. Riêng các em mới vào thì lớn lên rất nhanh và đều. Chính các em cũng nhìn thấy sự chuyển hóa của mình. Có em tuy còn rất trẻ, và ngay ở thời gian mới là tập sự xuất gia thôi mà đã có thể giúp ba mẹ hòa giải, hàn gắn lại với nhau. Khác với truyền thống là các điệu phải làm việc, học kinh kệ nhiều, và lớn lên rất chậm.

8. Thầy thích pháp môn nào nhất và thực tập pháp môn nào thành công nhất?

Thầy Từ Hải: Pháp môn nào Thầy cũng thích, nhưng Thầy thích pháp môn thiền hành nhất. Những khi trong người mệt mỏi, khó chịu hay có vấn đề nào đó làm mình bực bội, Thầy thường đi thiền hành để lắng dịu, sau đó thì thấy trong người rất khỏe và bình an trở lại.

Thầy Từ Giác: Thầy cũng thích rất nhiều pháp môn, nhất là pháp môn làm mới, soi sáng, và thiền hành. Mỗi khi Từ Giác đi thiền hành, mình thường quán rằng có Bụt đang đi với mình, thấy rất hạnh phúc, có thể tha thứ và chấp nhận những điều không vừa ý. Pháp môn pháp đàm cũng rất hay, nhiều khi không cần chia sẻ gì, chỉ cần nhìn thấy các anh chị em ngồi với nhau trong tình huynh đệ, lắng nghe nhau, Từ Giác cũng cảm thấy rất vui.

Phỏng vấn Sc Thoại Nghiêm

 

Nếu bạn đã từng là độc giả trung thành của Lá Thư Làng Mai hẳn sẽ không quên loạt bài dưới tựa đề Sư Tử Núi và trong hai số gần đây là Lửa Hồng Phương Bối. Các bạn có muốn biết tác giả của loạt bài đó là ai không? Sư cô Thoại Nghiêm, một trong những vị giáo thọ xuất sắc của Làng Mai, người luôn luôn đi tiên phong trong công tác thành lập và phát triển các trung tâm tu học mới của Làng Mai. Nhờ sự góp sức rất tích cực ngay từ những ngày đầu tiên của sư cô mà chúng ta đã có được Tu viện Lộc Uyển tại Hoa Kỳ ngày hôm nay; và cũng như vậy sư cô đã góp trái tim và đôi bàn tay của mình để phát triển Tu viện Bát Nhã tại Bảo Lộc, Lâm Đồng, Việt Nam. Hiện nay sư cô lại đang giúp sức tại Ni viện Diệu Nghiêm tại Huế. Và sư cô cũng chính là tác giả của loạt bài Sư Tử Núi và Lửa Hồng Phương Bối. Để biết thêm về sư cô Thoại Nghiêm, mời các bạn theo dõi bài phỏng vấn dưới đây của BBT trang nhà Làng Mai với sư cô Thoại Nghiêm.


1. Xin Sư cô cho con hỏi một câu mà chắc nhiềucũng người muốn được biết, Sư cô đi tu có phải vì thất tình không?

– (Cười) Hỏi câu gì mà khó trả lời quá. Chị không biết nữa. Chị đi xuất gia vì chị thương quá nhiều người cho nên chị muốn đi xuất gia. Thành ra thất tình mà nói theo kiểu nói chơi là chỉ có 7 mối tình thôi thì hơi ít! Thật ra chị đi tu chỉ vì muốn “bước tới thảnh thơi”. Được chưa?

2. Có bao giờ sư cô nản hoặc chán trong đời tu chưa?

– Chán người thì có, chán đời tu thì không.

3. Và sư cô đã thực tập như thế nào để vượt qua?

– Thông thường mình chán vì cảm thấy người khác không hiểu mình và đó là những lúc mình thực tập yếu. Đó là những lúc mình xuống tinh thần vì không biết chăm sóc cho mình, không biết chăm sóc những cảm thọ của mình. Sự thực tập để vượt qua là sự thực tập những điều rất căn bản như đi theo thời khóa của chúng, theo dõi hơi thở, đặc biệt là đi thiền hành và ngồi thiền để quán chiếu, tìm hiểu cho ra cội rễ của vấn đề và khi hiểu được rồi thì đi qua dễ lắm.

4. Theo kinh nghiệm của sư cô thì lứa tuổi nào dễ vướng mắc tình cảm nhất?

– Đúng là với tuổi trẻ thì vấn đề vướng mắc dễ xảy ra hơn, điều này không có nghĩa là với người lớn thì không có. Nhưng người trẻ thường chưa có đủ chín chắn về mặt tình cảm, đôi khi mình còn rất mơ hồ về những cảm tình mình đang có. Với một số các em trẻ mới vừa xuất gia phải rời xa gia đình của mình, các em thường cảm thấy có một khao khát được yêu thương bởi vì mình không còn trong vòng tay yêu thương của gia đình nữa hoặc lúc ở gia đình mình cũng bị thiếu thốn tình thương. Mặt khác thì nhu yếu được hiểu, được thương là nhu yếu của mọi lứa tuổi, nhưng với người trẻ thì mạnh hơn, đi song song với sự phát triển của sinh lý và tâm lý. Điều này làm nảy sinh khuynh hướng muốn đi tìm một đối tượng khác để mình thương yêu. Một là xảy ra tình trạng vướng mắc giữa các em với nhau hay với các sư cô lớn, hai là các em đi tìm người khác phái. Vấn đề này không phải riêng của một tu viện nào mà đây là vấn đề chung của tất cả tăng ni trẻ.

5. Tại tu viện Bát Nhã, quý  sư cô làm cách nào để giải quyết vấn đề này?

– Sư Ông dạy phòng ngừa chắc ăn hơn là mình phải đối trị. Tại Bát Nhã có rất là nhiều buổi diễn thuyết, thảo luận, pháp đàm về chủ đề tình yêu, tuổi trẻ. Cũng có vài hiện tượng vướng mắc sơ sơ, thương sơ sơ, cảm thấy lòng bồi hồi xao xuyến thì đều được đem ra chia sẻ với nhau. Các em hay bị “hở van tim” khi bắt gặp một ánh mắt chăm chú và đặc biệt hơn bình thường. Các em được khuyến khích tâm sự khi bắt đầu thấy có những cảm giác khác lạ trong người, nhất là về một đối tượng cụ thể dù là người khác phái hoặc người cùng phái. Thông thường các em có y chỉ sư thì các em lên tâm sự với y chỉ sư, vị này sẽ hướng dẫn cho các em nhận diện được đó là cảm thọ gì, tập làm quen, chấp nhận, ôm ấp và chuyển hóa những cảm thọ vướng mắc như thế nào. Có những trường hợp các em không chịu cho biết, khi đã xảy ra nặng thì khó đối phó hơn một chút. Nhưng phần đông các em đều có ý thức là mình muốn tu và có thể dễ bị vướng mắc, thành ra các em rất muốn được thực tập để đừng có bị vướng vào. Nhất là một số các em ở ngoài đời đã từng có bạn trai, cũng đã từng kinh nghiệm qua những khổ thọ của cái “thú đau thương” đó, cho nên các em tâm sự, chia sẻ cho nhau và cho đại chúng biết, thì những vị chưa “lọt”  vô cũng thấy hơi đắn đo khi phải bước chân vào trong đấy.  

6. Tại xóm Bếp Lửa Hồng, tu viện Bát Nhã, hiện giờ có khoảng 200 quý sư cô và các em tập sự, xin sư cô chia sẻ kinh nghiệm hướng dẫn một đại chúng vừa mới vừa đông như vậy?

– Công việc không khó lắm như mọi người tưởng vì không phải một mình chị điều chúng mà là tập thể Tỳ Kheo Ni ở đấy điều chúng. Trước kia các chị có 15 vị, giảm còn 11 vị và hiện giờ còn khoảng 11-12 vị. Công việc được chia ra và cùng chịu trách nhiệm chung thành ra chị thấy không phải là một vấn đề khó khăn lắm. Thêm nữa các em đông thì giống như là nhà đông con vậy đó, chị lớn dạy em nhỏ, cho nên các em đến trước mà tu tập đàng hoàng thì tạo ra một sự thúc đẩy và một kỷ cương, các em đến sau nhập vào và cứ theo cái dòng đó mà tiến thì cũng không khó lắm.  Dĩ nhiên là vì đông quá cho nên đôi khi mình cũng không có đủ giờ đi sâu đi sát vào từng em, để giúp các em có thể phát triển đến mức độ tối đa của các em mà gần giống như một trường học. Các em học chung, làm chung với nhau thì lại có một mặt tích cực khác là các em có được một tinh thần đồng đội, có được sự giúp nhau phát triển thay vì phải chờ mình thúc đẩy. Các em lớn lên rất đều và lớn lên trong tình thương của nhau nên đem lại một năng lượng rất mạnh, và chị thấy yên tâm. Trường hợp những em cá biệt quá và không chịu thực tập theo chúng, được các chị giúp đỡ, nhắc nhở nhiều lần nhưng vẫn chưa có thể chuyển hóa, vẫn làm động chúng thì đành phải mời em về nhà quán chiếu lại mục đích em muốn đi tu. Rồi khi em xác định lại được mục đích, viết thư lên thì chúng cho em thêm một cơ hội để nhập chúng tu học. Chủ yếu là những lớp đầu tiên mà được huấn luyện đàng hoàng và tu tập giỏi giang thì những lớp kế tiếp cứ noi gương mà đi thôi.

7. Những ai muốn xin vào tập sự tại Bát Nhã đều phải trải qua một buổi phỏng vấn với các sư cô. Xin sư cô cho biết những câu hỏi tượng trưng khi quý sư cô phỏng vấn các chị em?

– Chị không có danh sách những câu hỏi, nhưng mà đại khái là mình hỏi để hiểu thêm về các em, về hoàn cảnh gia đình các em bởi vì con người được hình thành từ sự giáo dục cũng như hoàn cảnh gia đình và xã hội. Mình cần biết để hiểu thêm để mà giúp đỡ cho các em. Có thêm những câu hỏi như là các em đã từng có bạn trai chưa, để nếu lỡ mà bạn trai em đòi về thì mình biết cách giúp em. Những câu hỏi về hoàn cảnh gia đình vì nếu gia đình em gặp khó khăn thì em có thể sẽ bỏ dở đường tu để về giúp đỡ cho gia đình. Ngoài ra mình cũng hỏi những câu ví dụ như có mắc nợ hay còn những vấn đề gì chưa giải quyết xong để cho các em có cơ hội được thấy những điều chướng ngại trong sự tu, em cần giải quyết trước khi em xuất gia. Và một số câu hỏi về bệnh lý để mình có thể đưa em đi khám chữa bệnh kịp thời, giúp em tự tin vào sức khỏe của mình khi được xuất gia bởi vì các em có thể sẽ được đưa đi phụng sự ở những vùng sâu vùng xa, là những vùng mọi người cần đến ánh sáng đạo pháp, lúc đó mình cần có một sức khỏe tương đối. Nhất là các em tuổi còn trẻ nếu không phát hiện ra bệnh sớm và điều trị kịp thời thì sau này khi các em lớn tuổi một chút sẽ chữa trị khó khăn hơn.

8. Chuyến về kế tiếp tại Huế sư cô có cảm nghĩ hoặc sắp đặt gì không?

– Sắp tới chị về Huế thì chị sẽ có nhiều cơ hội được tiếp xúc lại với truyền thống của chùa Tổ, nhất là truyền thống xướng tán. Chị nghĩ là chị sẽ cho các em lớn lớn từ Bát Nhã, nghĩa là sau một năm rèn luyện, được học xướng tán chính gốc chùa Huế chứ không phải học lại từ các chị, chắc là sẽ hay lắm.

9. Sư cô có cảm tưởng ra sao mỗi khi Sư Ông đề cử sư cô đi một trung tâm mới?

– Thường thường chị không có một cảm tưởng gì đặc biệt. Sư Ông đã dạy là việc gì cũng giống nhau: cho pháp thoại hay nấu ăn hay chùi phòng tắm cũng không có gì khác. Chị chỉ nghĩ đây là một Phật sự mà Sư Ông gọi mình đi thì chắc là mình cũng thích hợp với công việc đó, hay là Sư Ông muốn công việc đó giúp mình trưởng thành hơn, cho nên mình nên đi. Chị ít có suy nghĩ là công việc đó khó hay dễ, tại sao là mình mà không phải người khác. Chị thấy phần nhiều những gì Sư Ông dạy hay là những gì Sư Ông cho mình làm đều trong mục đích giúp mình trưởng thành hơn, khám phá ra chính mình hơn. Bằng chứng là khi chị đi Lộc Uyển và ở đó một năm rưỡi thì chị thấy mình lớn lên rất nhiều, khi về Việt Nam cũng vậy. Thành ra những công việc Sư Ông giao cho mình là giúp mình có thể tiến lên thêm thôi, và cũng có những thử thách, những cam go, những khó khăn nhưng cũng có những hạnh phúc, những điều mà mình không ngờ tới được. Đối với chị, hễ Sư Ông dạy mà thuận duyên hợp ý Bụt, hợp ý chư tổ thì công việc thành. Chị cứ đem hết lòng mà làm thôi chứ chị ít suy nghĩ công việc đó khó hay dễ, thành hay không vì mọi việc không thể tùy thuộc chỉ một mình mình mà còn tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố khác.

10. Sư cô là người dễ bị dính vào những dự án công việc, vậy thì khi không có những dự án nào sư cô có thấy trong lòng mình ý  muốn đi tìm những dự án hay không?

– Chị luôn luôn có công việc để làm, nhưng chị không nghĩ là chị đi tìm công việc mà công việc luôn luôn có đó là bởi vì chị rất là có hứng khởi với công việc.
Và chị lại muốn làm rất là nhiều chuyện, thành ra khi không có ai giao việc gì hết thì chị rất là thích, và chị hay nói là: “Ôi! Bây giờ là lúc mình làm việc này…” nhưng mà thường thường ít khi nào chị có đủ giờ để làm xong cái việc của chị. Khi chị mới vừa bắt đầu làm chuyện của mình là bắt đầu có việc người khác giao…, và cứ như thế chị luôn luôn thấy mình có công chuyện để làm. Tuy nhiên, nhờ sự thực tập thành ra công việc nào chị thấy cũng như nhau. Dĩ nhiên có những việc mình thích làm và có những việc mình không thích làm lắm, nhưng Thầy dạy là lúc nào cũng phải có được cái hứng thú trong công việc thì mình mới nên làm, cho nên thực tập của chị là bất cứ công việc nào chị nhìn vào và chị thấy được là mình có hứng thú hay không, và nếu không có hứng thú thì chị sẽ làm cho nó có hứng thú để chị làm việc. Vậy thôi. Thành ra, chị thấy những việc mình muốn làm đôi khi nó nằm trong những việc người khác giao cho mình, và mình có hạnh phúc ngay trong khi mình phải làm việc.

11. Sư cô có thể cho biết làm thế nào để có thể sinh hoạt cùng với chúng những khi mình có những dự án đặc biệt?

– Cái này thì “đoạn trường ai có qua cầu mới hay”. Hồi xưa, khi chị mới được giao công việc thì chị phải vắng rất nhiều sinh hoạt của chúng, và cái đó gây cho mình rất nhiều khó khăn. Tại vì một mặt mình cũng rất muốn đi theo sinh hoạt của chúng, một mặt mình rất muốn công việc của mình hoàn thành, và nếu mình cố gắng cả hai mặt thì mình không có đủ giờ và không đủ sức khỏe. Cho nên trong một giai đoạn rất lâu thì chị bị lấn cấn và đôi khi điều đó tạo cho mình thêm nhiều áp lực. Nhưng càng tu lâu chị càng thấy rằng công việc nào cũng có giới hạn của nó, và khi mình muốn cho công việc phải xong thì rõ ràng là mình đã chạy theo công việc. Cho nên, không biết có phải một phần vì càng lớn tuổi chị càng làm biếng hơn, nghĩa là không có tâm đòi hỏi muốn làm thiệt giỏi, thiệt hoàn toàn như hồi xưa (less expectation), thành ra chị dễ bằng lòng để mà buông công việc đó mặc dù là nó chưa đạt tới ý mình muốn nhưng mà cũng tương đối rồi, miễn sao chị đừng có vắng sinh hoạt của chúng nhiều quá. Nhưng có những công việc bắt buộc phải vắng sinh hoạt chúng thì chị tự an ủi mình là việc gì cũng như nhau thôi, và chị tìm cách làm sao để trong công việc đó mình cũng phải có sự thực tâp để đừng có cảm thấy tiếc là mình không được sinh hoạt chung với chúng.

12. Ba Mẹ sư cô bây giờ đã khá lớn tuổi. Là một người tu, sư cô thấy làm như thế nào để chăm sóc tốt nhất cho Ba Mẹ của mình khi mình ở xa?

– Ba chị luôn luôn muốn chị về nhà ở với gia đình một thời gian. Chị cũng có nghĩ tới chuyện đó nhiều lần ngay cả trong giai đoạn mà Ba Má chị đang còn rất khỏe. Điều quan trọng là Ba Má chị biết chị hạnh phúc, và những điều mà Ba Má chị không thể làm tiếp được nữa nhưng chị làm được thì Ba Má chị rất vui. Chị lấy ví dụ như mới đây ở tu viện Bát Nhã có chương trình giúp đỡ cho người nghèo xung quanh, tại vì hai tháng mưa họ không thể đi làm được và họ không có tiền ăn cho nên mình phải yểm trợ cho họ gạo, xì dầu, muối, đường, mì gói để cho họ sống trong hai tháng đó. Khi nghe sư cô Hỷ Nghiêm nói tới chuyện giúp đỡ người nghèo thì chị tìm cách vận động kiếm tiền để giúp cho họ. Chị viết thư về nhà kể lại hồi xưa Ba Má đã giúp người nghèo như thế nào nên đã gieo trồng hạt giống đó trong chị, và bây giờ chị có cơ hội được tiếp tục công chuyện của Ba Má chị làm ngày xưa. Hơn nữa bây giờ nhà mình rất là may mắn, mình có điều kiện làm được tại vì mình đang sống ở Mỹ, có một đời sống vật chất tương đối ổn định thì mình lại có cơ hội để giúp đỡ người ta nhiều hơn, và chị rất hạnh phúc được làm sự nối tiếp của Ba Má chị trong công tác đó. Khi thấy chị viết như vậy, Ba Má chị gởi tiền qua giúp đỡ và rất là vui. Chị cũng vui bởi vì chị không thấy Ba Má chị nhắc đến chuyện chị phải về nhà để giúp nhà nữa mà thấy là chị đang đại diện cho Ba Má và thế cho Ba Má trong những công tác từ thiện ngày xưa mà Ba Má chị đã làm. Cho nên mỗi lần có giờ là chị viết thư cho Ba Má nói là chị đã giúp được người ta những gì, hay là chị đã làm được những gì để tiếp nối chí nguyện hay ước muốn của Ba Má chị. Do đó Ba Má chị cảm thấy đời sống của chị không phải là một đời sống vô ích thì Ba Má chị rất là an tâm và động viên để cho chị tiếp tục đứng trên cương vị của một người con mà tiếp nối cho gia đình như thế hơn là đòi chị về nhà. Nhưng thỉnh thoảng Ba Má chị cũng gọi về là vì nhớ, nhưng không có ý bắt phải ở lâu, để chăm sóc hay này kia. Chị mừng là Ba Má chị còn đủ sức khỏe và chị cũng rất ý thức là một ngày kia Ba Má chị quá lớn tuổi và cần chị thì chị sẽ về (ở cái thế không về không được thì dĩ nhiên mình về). Nhưng hình như chị càng tu thì chị thấy Ba Má chị càng khỏe ra, cũng bớt bệnh hoạn hơn, lại rất là vui, cho nên chị có cảm tưởng như là gia đình huyết thống và gia đình tâm linh bổ sung cho nhau, không phải bổ sung qua con người của chị mà bổ sung trên bình diện không gian: ở đây chị cảm thấy hạnh phúc thì bên kia Ba Má chị cũng hạnh phúc, ở đây chị thấy khỏe thì ở bên kia Ba Má chị cũng khỏe. Chị tin như thế và chị thấy là chị cứ việc tha hồ mà đi hành đạo và Ba Má chị cũng chẳng hay nhắc nhở và nói năng gì nhiều, ngoại trừ lâu lâu lại có một câu rằng là “bao giờ thì cô lại về Mỹ?”  Thì để chờ coi khi nào Ba Má gởi tối hậu thư kêu rằng là phải về nhà thì lúc đấy mình sẽ tính tiếp. Bây giờ thì chuyện đó chưa xảy tới nhưng mà chị cũng dự định là lâu lâu chị cũng vẫn phải về thăm thường xuyên để Ba Má không cảm thấy là con ham lo chuyện thiên hạ quá mà quên mất Ba Má ở nhà.

13. Xin Sư cô chia sẻ một trong những sai lầm lúc Sư cô ở lứa tuổi 20 và sư cô đã học được gì qua kinh nghiệm đó?

– Ở lứa tuổi 20, chị chưa biết pháp môn thực tập. Lúc đó chị lớn lên trong sự thay đổi của xã hội cho nên trong gia đình cũng có rất nhiều áp lực của cuộc sống. Cái sai lầm mà chị mắc phải và chị nghĩ là rất nhiều người trẻ cũng mắc phải, đó là mình không hiểu được Cha Mẹ mình. Mình luôn luôn nghĩ rằng Cha Mẹ không hiểu được mình và áp đặt mình, mà mình cũng không hiểu được nỗi khổ của Cha Mẹ. Lúc đó với những biến chuyển về tâm lý và sinh lý mà lại không biết cách thực tập, cho nên có lúc những cảm xúc và những cảm thọ của mình lên rất mạnh và mình không biết cách giải quyết, thì mình thường đi tìm một cái giải pháp để mà đối trị với nó. Nhưng xung quanh mình thì không ai chỉ cho mình cho nên mình cảm thấy rất là bơ vơ, rất là lạc lõng, và có những lúc mình nghĩ đến chuyện là mình muốn chết quách cho rồi tại vì không ai hiểu mình hết. Khi đi qua khỏi cái tuổi đó mình rất thương cho những người trẻ tuổi cũng đã và đang phải đi qua. Đi qua được thì mình sẽ lớn nhưng cũng có rất nhiều người đi qua không được.

14. Sư cô đã làm như thế nào để đi qua?

– Hình như là phải tới 2 hay 3 năm sau. Chị không có thực tập để đi qua bởi vì chị chưa biết sự thực tập, nhưng hồi đó thì chị nói trong bụng là: “Thôi, mình sống cũng như đã chết, mặc kệ nó, ai biểu gì thì cứ nghe để cho nó yên”. Mặc dù là chị không muốn nhưng chị đặt mình vô tình trạng như vậy để cho có hòa khí. Và chị đã đi qua được những năm tháng đó. Nhưng sau này khi biết được sự thực tập rồi chị hơi tiếc, tại vì nếu mà mình đã biết được sự thực tập thì mình có thể sống được những năm tháng đó rất dễ chịu, và mình có thể giúp cho gia đình mình dễ chịu hơn. Khi mà chị đi qua được và trở nên một con người bình thường thì Má chị mừng quá trời luôn. Bởi vì Má chị nghĩ chị là một người cứng đầu và khó dạy nhất trong nhà. Má chị đã nhiều lúc chịu thua bởi vì không biết phải đối phó với chị như thế nào.

15. Nếu như bây giờ có những người trẻ đang gặp vấn đề như vậy thì sư cô sẽ chia sẻ với họ thực tập gì để giúp đỡ họ?

– Lời khuyên đầu tiên của chị là phải kiên nhẫn. Tất cả mọi chuyện xảy ra, nó đến rồi nó sẽ đi, không có cái gì là cái quan trọng đến độ như mình tưởng là mình đang bước vô ranh giới của sự sống và sự chết hết. Tất cả đều do cái tưởng của mình. Việc thứ nhì là mình phải hiểu được phần nào về mình. Cho tới bây giờ chị vẫn còn đang thực tập để hiểu thêm về mình và cố gắng để hiểu được tại sao Cha Mẹ mình làm những điều đó. Nếu như mình chỉ nhìn vào những hành động và mình đổ lỗi, thì cái đó nó không giúp ích được. Thành ra sự quán chiếu rất là quan trọng, để mình thấy được gốc rễ đưa tới những sự hiểu lầm hoặc những sự bất như ý, những sự thiếu truyền thông. Nhưng muốn được cái đó thì mình phải đi vào những sự thực tập rất là căn bản. Ví dụ như là phải thực tập theo dõi hơi thở, tại vì khi cảm xúc dâng lên mà mình biết theo dõi hơi thở để dừng lại, thì những cảm xúc đó không tiếp tục dâng cao được mà nó có cơ hội để hạ xuống. Ngược lại, nếu mình không biết quay lại với sự thực tập thì mình sẽ để cho những cảm xúc, suy tư và những nỗi khổ hay những cảm thọ khó chịu nó dẫn mình càng ngày càng đi lên, và mình hoặc là thấy bị căng thẳng, hoặc là thấy nổ tung cái đầu ra và không muốn làm gì nữa hết, hoặc là càng ngày càng vẽ ra những hình ảnh đi quá cái sự thật ban đầu… Cho nên, thực tập mà chị muốn khuyên tất cả các em là một thực tập căn bản nhất, đó là trở về với hơi thở. Và bây giờ, dù chị đã thực tập 10 năm rồi mà chị vẫn quay về với hơi thở mà Sư Ông dạy là thở bằng bụng. Cách thực tập này trong yoga cũng có, trong khí công cũng có, trong những phép thực tập về nội lực cũng có dạy là mình nên thở sâu, thở từ bụng, mình lấy hơi thở từ bụng lên và đó là khi mình thở ra và khi mình thở vào cũng như vậy, mình đưa cái hơi thở sâu xuống bụng. Nếu mình đặt tay lên bụng, mình theo dõi sự phồng xẹp của cái bụng, sẽ giúp cho mình định tâm lại rất là nhanh và mình chỉ nên tập trung vào sự phồng xẹp của cái bụng mình thôi. Làm được như vậy sẽ đem lại nguồn oxygen mới, làm mới lại những tế bào trong người và cũng làm mới lại những tư tưởng trong đầu mình rất là nhanh. Chị khám phá ra cái đó rất là hiệu quả. Tại vì khi mình đau quá, mình theo dõi hơi thở như vậy thì mình bớt đau; khi mình buồn, mình theo dõi hơi thở như vậy một hồi thì mình cũng bớt buồn. Đôi khi mình nói đau quá mình không chịu thực tập, nhưng mà mình biết chắc một điều là đem oxy vào trong người càng nhiều thì nó càng giúp cho cơ thể khỏe mạnh, thì thôi cứ thực tập đi đã. Và sự thực tập đó đem lại sức khỏe không những cho thân và cho tâm, và sau đó mình trở nên một người khác rất là nhanh, mình có nhiều cái nhìn tích cực hơn và mình có thể  vượt thoát nỗi đau dễ hơn.

16. Hiện tại trên thế giới có rất nhiều người trẻ và người lớn đang cảm thấy cô đơn và bơ vơ. Xin sư cô chia sẻ với những người này, họ có thể làm gì để có thể chuyển hóa được tâm trạng này?

– Đọc thư gởi cho trang nhà Làng Mai, chị nghĩ có nhiều nguyên nhân lắm và tùy vô căn cơ và nhân duyên của mỗi người, giống như là mỗi người đến với đạo một cách khác nhau vậy. Bây giờ có nhiều người lợi lạc từ trang nhà Làng Mai thì họ nên tiếp tục giữ liên lạc và viết lên những câu hỏi mà họ gặp phải và đồng thời họ cũng phải thực tập khi họ nhận được những câu trả lời. Nếu họ không thực tập thì sẽ có lúc họ không vượt thoát những tình trạng bế tắc mà họ đang gặp. Chỉ có sự thực tập của chính mình mới giúp mình có được sự vượt thoát đó. Thành ra những lời dạy, những câu trả lời, những cuốn sách chỉ là những phương tiện để giúp mình đến với sự thực tập, còn lại kết quả của sự thực tập phải là tùy mình. Nếu mình không thực tập thì không có cách nào mà nếm được cái hỷ lạc một cách chân thật được. Cho nên lời khuyên của chị là ai có nhân duyên với trang nhà Làng Mai, với Làng Mai, thì nên đi sâu vào trong sự thực tập hơn và đừng có coi thường những thực tập căn bản như là thở vào, thở ra. Tuy đó là những cái rất là căn bản mà cho tới giờ này chị vẫn thấy mình chưa có làm trọn vẹn được, vậy mà nó đã giúp chị rất là nhiều so với những năm chưa biết thực tập.

17. Sư Ông dạy rất nhiều về pháp môn thiền hành, xin sư cô có thể chia sẻ về kinh nghiệm riêng của sư cô về đi thiền hành mà Sư Ông chưa bao giờ nhắc đến?

– Làm gì mà có cái chuyện never mentioned (chưa bao giờ nhắc đến) được. Thầy mentioned (nhắc đến) rất nhiều mà mình chưa bao giờ đạt tới thì đúng hơn.
Nếu nói đến kinh nghiệm thì có một lần mà đối với chị nó là một kinh nghiệm rất quý mà tới giờ này chị vẫn chưa có lại được. Chị thường hay quên thực tập đi thiền hành khi mà có công việc gấp, vì vậy cho nên chị đặt cho mình mục tiêu (lúc đó chị còn ở Xóm Hạ) là mỗi khi chị đi từ phòng của mình (lúc đó chị ở phòng Chim Sơn Ca) lên nhà ăn thì chị phải thực tập đi thiền hành liền. Dĩ nhiên đây là điều Thầy luôn luôn mong mỏi mà đôi lúc mình hay quên lắm. Cho nên năm đó chị hạ thủ công phu, chị ghi lên tờ giấy và dán lên trên tường. Năm đó chị thấy mình có sự bình an. Và có một lần trên quãng đường ngắn như vậy – khoảng chừng 30 m – trong lúc chị đang đi rất là chậm rãi như vậy, chị thấy cảnh vật xung quanh rất là sáng, nó bừng sáng lên như là mình đang chụp hình có flash vậy, và chị thấy bông hoa vàng trong cỏ rõ từng nét một, và chị nghĩ ngay đến điều Thầy dạy trong kinh Hoa Nghiêm và cảnh giới mà Kinh tả và chị nghĩ bụng: “Trời đất ơi, chẳng lẽ mình đạt đến cảnh giới này sao?” Nhưng quả thật lúc đó trong chị có sự hân hoan rất là lớn và tràn ngập, và mắt chị nhìn mọi thứ rất sáng, rất rõ nét giống như mình chụp hình mà mình focus (chú ý) rất rõ vậy. Khi chị bắt gặp hình ảnh đó thì chị đứng lặng, chị theo dõi hơi thở và chị mỉm cười. Không biết là mấy giây hay mấy phút sau đó vì lúc đó chị không có ý niệm về thời gian, thì cái cảnh nó không còn sắc nét như vậy nữa, nhưng chị bước tiếp và chị thấy rất là bình an và cái cảm giác bình an đó đến rất là thật. Chị biết rất rõ là nếu mà mình thực tập hết lòng, thì mình sẽ có được những điều mà Thầy đã từng nói. Nhưng đa phần mình thực tập được vài chục phần trăm thôi và mình đi được mấy bước là mình thất niệm lại. Đó là cái kinh nghiệm của chị. Sau này, mà nhiều khi có những lúc chị không có được vững chãi lắm, thì mỗi lần bước về con đường đó là tự nhiên kỷ niệm đó, cái kinh nghiệm đó trở lại và nó cho chị nhiều niềm tin trong sự thực tập.

18. Sư cô sẽ nhớ Làng điều gì nhiều nhất?

– Chị có bao giờ rời Làng đâu mà phải nhớ chứ! Nói một cách văn vẻ là Làng ở trong mình rồi. Thật ra, lần đầu tiên – khoảng chừng 5 – 7 năm về trước – khi mà bắt đầu nhận những công việc phải đi xa thì có lúc chị ngồi nghĩ: “Ôi! lúc này Làng có hội Hoa Mai, hay lúc này là mùa lượm mận…” Thỉnh thoảng chị có cảm tưởng là mình bị thiếu, và thiếu nhất là pháp thoại của Sư Ông, tại vì chị cứ đi hoài không có nghe pháp thoại được. Nhưng càng ngày càng đi thì chị thấy mình cũng học được ở bên ngoài, bởi vì những gì Thầy dạy mình cũng đã quá đủ, chỉ có cái là mình chưa đem ra để thực tập thôi. Và cái môi trường ở ngoài là môi trường tốt để giúp cho mình bắt buộc phải thực tập, tại vì không có Thầy để mà mình chạy tới than thở là “tại sao hôm nay sư chị này làm cho con buồn, hay sư em kia làm cho con khổ” mà coi như mình phải đứng trên đôi chân của mình và mình phải biết cách để bảo vệ cho chính mình và giúp đỡ cho người khác. Thành ra nhớ tới Làng thì đó là một hình ảnh chung, trong đó có Thầy, có tăng thân, có những sinh hoạt của Làng nhưng mà nhớ một cái gì thật riêng biệt thì chị không nhớ mình có nhớ gì không.
Chúng con xin cám ơn sư cô. Bây giờ, sư cô phải tiếp tục chuẩn bị hành lý bởi vì chỉ còn có vài tiếng nữa thôi là sư cô lại phải đi nữa rồi.

19. Câu hỏi bổ sung: Xin sư cô hoan hỷ cho chúng con thêm một câu cuối này nữa. Chúng con tò mò muốn biết cảm hứng gì đã thúc đẩy sư cô chọn nhan đề Sư Tử Núi để đặt cho những loạt bài của sư cô đăng trong Lá Thư Làng Mai? Và Lá Thư Làng Mai số Tết này Sư Tử Núi sẽ “rống” lên những tiếng rống gì thưa sư cô?

– Em sẽ thất vọng với câu trả lời của chị vì chị không chọn nhan đề đó. Chị rất dở trong việc đặt nhan đề cho những bài mình viết nên chẳng bao giờ có nhan đề cả. Năm đó (2000) chị đang ở Lộc Uyển, làm báo cáo khai thuế cuối năm thì Sư Ông bảo viết bài. Chị từ chối vì trong đầu chị lúc đó chỉ toàn là con số thôi, nhưng Sư Ông nói nếu chị không viết về Lộc Uyển thì ai biết để viết. Chị nghĩ Sư Ông nói đúng nên lục nhật ký, lôi ra vài đoạn “hấp dẫn” và sắp xếp cho có sự liền lạc rồi gởi qua Làng “để trả nợ”. Chủ yếu là để Sư Ông đọc nhiều hơn chứ không nghĩ là sẽ được đăng. Nên cái đầu đề rất lôi cuốn sự chú ý đó là do Sư Ông đặt đấy. Năm sau và năm sau nữa cũng thế, chị chỉ gởi bài thôi và đầu đề cũng từ Sư Ông hay ban biên tập Lá Thư năm đó đặt dùm (Sư Tử Núi trở lại). Không ngờ nhiều người thích và còn gọi chị là Sư Tử Núi nữa nên chị hết dám nhúc nhích (sợ bị gọi thêm tên khác), chỉ viết tiếp là tập 3, tập 4, v.v… Bài viết năm ngoái đã có tên là Lửa Hồng Phương Bối và chị “đã khai tử con sư tử núi” rồi, nhưng vì cái máy vi tính xách tay chứa bài viết bị sét đánh hư, nên chị phải viết lại. Năm nay muốn biết Sư Tử Núi “rống” cái chi chắc em ở Làng, gần Thầy hơn chị, em hỏi Thầy thử xem? Chị cũng tò mò muốn biết lắm.

Thôi nhé, chào các em và chúc các em ăn Tết vui. Hy vọng chuyến Thầy về Việt Nam kỳ này chị sẽ có nhiều giờ để ghi chép khá hơn chuyến trước.

Chúng con xin tỏ lòng biết ơn đến sư cô đã tranh thủ thời gian để trò chuyện cùng chúng con.

Phỏng vấn Thượng Tọa Lệ Trang

 

Thượng tọa Lệ Trang xuất gia từ năm 1973 với Hòa thượng Vĩnh Đạt tại chùa Hương, Sa-Đéc, Đồng Tháp. Hiện nay, Thượng tọa đang trụ trì chùa Định Thành, TP. HCM. Thượng tọa là Thầy chủ sám trong Đại trai đàn chẩn tế tại chùa Vĩnh Nghiêm (SG) trong chuyến về Việt Nam năm 2007 vừa qua của Sư Ông và Tăng thân Làng Mai. Thượng tọa cũng là người đầu tiên ở Việt Nam đưa kinh Nhật Tụng Thiền Môn 2000 vào thời công phu chiều để hành trì tại chùa Viên Giác. Khóa tu mùa đông 2007 – 2008 vừa qua, Thượng tọa đã về Làng tu học với Sư Ông cùng đại chúng và Thượng tọa đã hướng dẫn vài nét về nghi lễ, cách thức tán tụng theo nghi thức miền Nam cho đại chúng Làng Mai. Thượng tọa là một người vui tính và dễ gần gũi nên rất được đại chúng Làng Mai thương kính. Để hiểu rõ thêm về Thượng tọa cũng như về nghi lễ miền Nam, xin mời các bạn cùng theo dõi phần phỏng vấn dưới đây:

tt.le_trang.jpg1. Kính thưa Thượng tọa, trong cuộc đời xuất gia, Thượng tọa đã từng gặp Ma Lăng Già chưa? Làm thế nào Thượng tọa khắc phục Ma Lăng Già?

Thượng tọa trả lời: (Cười) Khi nói đến Ma Lăng Già, chúng ta nhớ đến chuyện Lăng Nghiêm, Ngài Tôn Giả A Nan bị chú thuật của Ca Tỳ Ma La Phạm Thiên nên Ngài mất chánh niệm và bị năng lực đó lôi đi. Sau khi được đức Phật dạy Ngài Văn Thù đến cứu, Ngài trở về và đã được đức Phật khai thị. Sau này, mỗi khi đề cập đến câu chuyện đó, Tăng Ni bao giờ cũng hỏi về vấn đề Ma Lăng Già. Thực ra mà nói, ma có hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất nói về sắc ma, tức là nam nữ. Và nghĩa thứ hai là: ma ngũ ấm, ma phiền não, tử ma, thiên ma. Nếu nói trong cuộc đời của tôi mà không có thì không đúng, có nhiều lắm nhưng cũng may là chỉ có một lần thôi. Có một lần nọ, anh nhà báo hỏi tôi: “Thầy đi xuất gia, nghe đâu đời sống xuất gia trong Tu viện không có gia đình. Xin hỏi Thầy, Thầy cũng như bao con người khác, về trường hợp nhu cầu sinh lý thì các thầy phải xử lý như thế nào?” Khi mình có mặt trên cõi đời này, mang thân xác này thì trời đã phú cho mình những khả năng làm cha, làm chồng và mình cũng có tâm sinh lý như bao người khác. Cũng may là chúng tôi ở chùa, chúng tôi được học giáo lý của đức Phật, chúng tôi có lý tưởng. Nghĩa là, nếu mình quan hệ, mình sinh hoạt như cuộc sống thế gian thì điều đó sẽ trói buộc mình. Như vậy, bao nhiêu lý tưởng tươi đẹp, bao nhiêu hạnh nguyện độ sanh đó rốt cuộc chỉ độ được một người. Những hạnh nguyện đẹp đó không còn khả năng để làm những công việc mà tâm nguyện chúng tôi muốn làm. Chính lý tưởng đó hướng chúng tôi đi và chúng tôi không kẹt lại ở vấn đề như cuộc sống thế gian. Chúng tôi chuyển hóa những sinh lực đó bằng cách tập trung vào sự tu tập và năng lực đó được chuyển hóa thành trí tuệ. Nếu như suốt ngày chúng ta chỉ ngồi đó than mây với gió, chỉ nghĩ đến tóc dài tóc ngắn thì nhiều khi sẽ bị nó thôi thúc, rồi dục hỏa sẽ làm chảy tan tinh túy của con người. Mình dùng công phu tu tập không dừng lại một chỗ mà còn chuyển hóa nó, chuyển hóa thành trí tuệ. Đem năng lực đó cống hiến cho đời mà trước tiên là chuyển hóa cuộc sống của mình, nhờ vậy mà mình vượt qua được. Nếu hỏi có Ma Lăng Già không, thì câu trả lời là có, có thể họ thương mình, thư từ chưa nhận được nhưng không biết trong ánh mắt có gởi gắm gì hay không ? Chắc có, chứ không phải không. Nếu chúng ta trụ lại ở hai chiều thì chết. Vì vậy mình không trụ lại, mình sẽ vượt qua. 
 

Trường hợp ma thứ hai, (ma tiếng Phạn là mala), có nghĩa là những cái gì làm cho pháp lành của mình bị khựng lại, không tăng trưởng được. Cái đó gọi là ma. Ví dụ: Đến giờ ngồi thiền nhưng còn muốn nướng cho vàng, cái đó là ma. Nghe chuông thức chúng mà chưa chịu đi, cho đến khi tới giờ vác áo chạy, đó cũng là ma. Muốn làm việc gì cao đẹp nhưng bị việc chung quanh làm cho ta bỏ đi không thực hiện được, cái đó cũng là ma.

Ngạ quỷ là một chúng sanh, do nghiệp của họ tạo tác bất thiện nên họ phải đến một cảnh giới thấp hèn, đau khổ. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu ta có pháp nhãn, tuệ nhãn ta sẽ nhìn thấy họ đang ở chung quanh mình, họ đang ngồi đây, họ có mặt trong cuộc sống của mình. Thánh phàm đồng cư, thành phần lẫn lộn, chẳng qua mình và họ hai nghiệp khác nhau, không vướng mắc nhau nên mình không tiếp chạm, không thấy mà thôi. Lúc nhỏ tôi rất sợ ma nhưng nhờ tu học thì mình có thể thấy và hiểu, nên tự nhiên thấy ma là một chúng sanh đáng thương hơn là đáng sợ hãi. Vì họ khổ nên khi họ thấy mình vui, họ không bao giờ để cho mình yên ổn. Có một ngôi chùa ở Việt Nam nhờ tôi lập đàn chẩn tế dùm. Mấy sư cô trong chùa tối ngủ bị kéo chân và bị hất xuống. Tôi hỏi qua, các sư cô nơi đó cho biết mỗi buổi chiều đều có cúng thí thực nhưng công việc đó giao cho mấy chú tiểu làm. Tôi nói: “Nếu tôi đến giúp cho Ni sư cũng được nhưng Ni sư hiểu cho là chẩn tế cũng giống như ăn cỗ, còn thí thực hàng ngày giống như ăn cháo húp. Nếu chỉ ăn được một bữa cỗ no nê, sau đó nhịn đói ba năm rồi mới được ăn nữa thì không ai chịu hết. Chẳng thà mỗi ngày có tô cháo húp mà no. Bây giờ, Ni sư chuyển cách cúng thí đó lại. Không ai bắt mình làm, không ai bắt mình phụng sự nhưng ta làm bằng tình thương. Khi đọc một câu chú, hay một bài kệ bằng tất cả tình thương, bằng tâm của mình, lúc đó mới có đạo lực chuyển hóa được. Nếu các vị coi thường thì sẽ bị họ phá cho nên các vị nên coi lại cách cúng của mình thì sẽ yên.” Và sau đó, không biết có yên hay không mà không thấy họ đến mời tôi nữa. Do đó, đối với vấn đề sợ ma thì mình nên giữ tâm thật tĩnh, vấn đề là ta tiếp xúc với họ bằng nguyện lực chứ không phải bằng nghiệp lực. Nếu tâm mình có Phật, Phật sẽ hiện ra, ngược lại nếu tâm mình có ma thì ma sẽ hiện lên. Vì vậy, không thể phủ nhận thuyết chết là hết nhưng có thể họ ở cảnh khác, cõi giới khác đau khổ hơn. Cho nên đừng sợ ma, chỉ sợ mình không đủ đạo lực giúp cho họ. Họ đến thật ra không phải để nhát mình, còn nếu có là do mình “tự kỷ ám thị”. Có câu chuyện ở miền Tây, có ông cố đi chơi về được người ta cho một nải chuối chín. Ông vác trên cây gậy, kéo lon ton đằng sau. Ông cứ nghĩ ai đi đằng sau, càng về khuya ông lật đật vừa đi vừa sợ, về tới nhà nhánh chuối rụng hết chỉ còn cái cùi. Đó là do nhiều khi tự mình nghĩ như vậy, mình hốt hoảng, mình thấy ngọn tre, mấy tàu lá chuối mà tưởng đó là ma.

2. Xin Thượng tọa chia sẻ làm sao có thể luyện giọng trong khi đọc kinh, tán tụng mà không bị đứt hơi?

Thượng tọa trả lời: Thật ra, trước giờ chưa ai dạy tôi điều đó. Mấy thầy lớn chỉ dạy tán như vậy, để hơi cho thật già dặn, nói theo cách miền Nam: “Để cho nó có góc, có cạnh, để hơi thật là già.” Nhưng theo tôi, hằng ngày mình phải hành trì luyện tập hơi thở thật sâu và thật đều. Đó là một cách luyện cho mình có chất giọng khi tụng kinh hoặc tán.

3. Làm sao để lập trình cho mình một thời khóa tu tập?

Thượng tọa trả lời: Đối với quý thầy, quý sư cô còn trẻ hay mới tập sự nên nương tựa vào y chỉ sư, cho dù mình đã thọ giới khất sĩ rồi cũng phải theo Thầy học hỏi. Theo Thầy để học luật, học những uy nghi, những điều hiểu biết mà những điều hiểu biết đó được rút từ kinh nghiệm của Thầy truyền trao. Đến một lúc nào đó, mình tự vỗ cánh bay, những hình ảnh sinh hoạt của Thầy đã ấn tượng sâu vào trong tâm thức của mình. Lúc đó, những điều gì Thầy đã truyền trao trước đây mình nên đem ra ứng dụng. Cho nên, thời khóa mình không chủ động được. Ở Việt Nam, thời khóa khác hơn so với Làng Mai. Từ ngày tôi qua bên đây đến nay đã được 28 ngày. Thật sự mà nói, tôi thấy mình thảnh thơi, hay nói vô sự thì đúng hơn. Tại vì, chúng ta không bị chi phối bởi những công việc phải giúp đỡ, phải đáp ứng cho tín đồ hay cá nhân của họ, nếu có chăng là do sinh hoạt của đại chúng hay do những khóa tu. Còn bên kia, mới chuẩn bị lạy Phật thì có một chú đến thưa: “Bạch thầy! Bà Hai vừa mới mất, nhờ thầy coi dùm ngày nhập quan.” Rồi nếu mình nói: “Thôi! Thầy bận tụng kinh” thì coi sao được. Mới hôm qua bà cúng dường bao gạo, cho nên mình không thể nào từ chối được. Cho nên, gấp y lại, coi ngày, rồi đi nhập quan. Nếu mình không suy nghĩ kỹ, mình cũng sinh ra bực bội cho thời gian của mình. Xét cho cùng: “Ăn cơm chúa thì múa tối ngày.” Những cung phi mỹ nữ trong cung được vua cho nào là phấn, son, áo quần… Nhưng vua nói: “Múa” thì ta phải múa. Do đó, ăn cơm của tín thí, ta không thể nào nói “Thôi!” Đây là nói về sinh hoạt ở Việt Nam. Vì vậy, nếu ta không biết điều chỉnh cho chính mình thì giống như người đếm tiền suốt ngày trong ngân hàng, tiền nhiều lắm nhưng về nhà phải lo tự chạy gạo mà ăn. Như nhơn sổ tha bảo, kỷ vô bán phân tiền, cũng như đếm của báo cho người khác, bản thân mình không có đến một xu. Như vậy, chúng ta phải làm sao? Chúng ta phải quân bình mọi thời gian đều là khóa tu của mình. Nhựt nhựt thị hảo nhật, thời thời thị hảo thời. Giờ nào, ngày nào, công việc gì cũng là thời khóa của chúng ta. Tụng kinh cũng ở trong chánh niệm, lạy Phật cũng ở trong chánh niệm. Nếu có tiếp khách cũng tiếp khách trong chánh niệm, mang chuông mõ đi đám cũng trong chánh niệm. Được như vậy, tôi nghĩ công việc đó không phải là của người ta mà cũng là công việc của chính mình. Do đó mình sẽ được an lạc, vì người ta hết khổ mình mới ăn cơm được. Cái khổ của người ta mà mình dửng dưng thì coi không được, nhất là nói: “Pháp môn xin nguyện học. Ân nghĩa xin nguyện đền. Phiền não xin nguyện đoạn. Quả Bụt xin chứng nên.” Chúng ta làm sao đem đạo lý tỉnh thức thắp sáng hiện hữu, tạo nên định lực, đưa đến tuệ giác. Từ nền tảng đó mà làm việc và tu tập thì sẽ thành công.
 

4. Trên con đường xuất gia của mình, Thượng tọa đã gặp những chướng duyên nào?

Thượng tọa trả lời: Trong kinh có nói một câu: “Vô ma chướng bất thành đại đạo.” Mình học tập, mình tu trì chưa biết đạo lực thâm hậu như thế nào, cao sâu như thế nào, nhiều khi gặp những chướng duyên như vậy để mình có cơ hội nhìn lại mình. Nhưng nên nhớ đừng đi tìm chướng duyên, đừng đi tìm nghịch cảnh. Phải chuẩn bị đạo lực, luyện tập nội công cho hùng hậu để một khi nghiệp duyên, chướng duyên đến thì mình có khả năng đối trị mà không xa lánh, không kỳ thị, không có cái nhìn cục bộ, cho đó là đối tượng làm mình khổ. Điều này trong kinh đức Phật nói: “Người nữ lớn hơn mình, mình coi đó là mẹ của mình, là chị của mình, là em gái của mình, mình sẽ thấy an lạc.” Nếu như phải gần gũi để giúp đỡ, việc làm đó rất thánh thiện. Nếu mình nhìn đối tượng đó một cách vẩn đục thì không được. Nếu thỉnh thoảng nó vẫn còn lóe lên thì mình nên tìm cách an trú trở lại nơi giới pháp của mình, hải đảo của chính mình, giới luật của mình. Hằng ngày tu học là để chế tác thêm nhiều đạo lực. Khi tiếp xúc với đối duyên hằng ngày thì đạo lực, tuệ giác sẽ giữ mình, nhờ vậy mình sẽ vượt qua được. Nhưng phải nỗ lực tu tập để có nhiều phước đức, nhiều trí tuệ. Cũng một bước đi như vậy mà các sư anh, sư chị đi qua an toàn nhưng đến mình đi thì trượt. Nếu nói cố ý thì cũng có, nhưng nên nghĩ là phúc của mình mỏng, nghiệp của mình dày nên bị trượt. Vì vậy, những thời khóa cho chính mình là thực tập thiền quán. Ngoài những thời khóa của đại chúng mình nên thiền quán thêm. Nếu các vị tu theo những pháp môn khác, đọc kinh lạy Phật, đó là những giây phút mình chế tác ra nhiều công đức. Chính cái phúc, cái đức đó giống như là áo giáp giúp cho mình, bao bọc lấy mình. Cho nên, đường gươm mũi đạn không đụng được đến thân mình, nó chỉ xước qua áo thôi. Thành ra “đa thiện căn đa phúc đức”. Điều này, mình phải nỗ lực tu tập, được như vậy tôi nghĩ chúng ta sẽ đi qua và đi đến trọn cuộc đời. Vấn đề là mình đừng sợ nó, mình phải đối diện. Hồi tôi khoảng hai mươi mấy tuổi, có một “cô”, không biết thích thiệt không! Nhưng thỉnh thoảng hay đến cho tôi khúc vải may áo. Thật sự lúc đó tôi nhát lắm. Hòa thượng ở nhà – Thầy tôi – giữ kẽ lắm, đi đâu cũng không cho đi, do đó tôi không dám lấy, muốn gì phải lên bạch với Thầy, lúc đó mới được nhận. Nhưng không biết họ có ý tứ gì không, chắc hình như có. Trong mấy chú ở chung, họ thấy cô đó đặc biệt, chăm sóc mình nhiều hơn. Nếu mình thấy sung sướng nhiều thì bị cái đó nhận chìm. Mình không chạy theo danh thì danh không hại mình, lợi cũng không nhận chìm. Vì vậy đừng bao giờ tự tin mình. Đức Phật dạy: “Các thầy đừng bao giờ tự tin mình, khi nào đã chứng quả A La Hán lúc đó mới dám tự tin mình.” Có nghĩa là mình tu tập chưa đi đến đâu mà mình tự thị, cho đó là xong, rồi mình xông pha nhiều, trong khi đạo lực mình chưa có thì rất nguy hiểm. Cho nên sinh hoạt với đại chúng, đi đâu cũng phải đi với Tăng thân. Các thầy giữ cho mình, mình giữ cho các thầy. Tôi thường dạy các chú ở nhà: “Ở đây, tôi giữ cho mấy chú, nhưng thật sự mấy chú giữ cho tôi.” Do đó, nếu có tiếp khách, chú thị giả phải ở bên cạnh, không nên tiếp khách một mình. Thứ nhất là để nhờ việc, nếu họ xin cuốn kinh thì mình đâu thể nói: “Ngồi đây nghen, để tôi chạy vô lấy.” Và thứ hai là để bảo hộ cho nhau. Thành ra, thầy nương trò, trò nương thầy. Chính vì vậy mà giờ này tôi còn ngồi ở đây, còn giữ được chiếc áo này. Còn nhiều khó khăn khác nữa, chi tiết lắm, mỗi người tự cảm nhận.

5. Thưa Thượng tọa, trong sự tu tập, làm sao mình vừa trì giới, vừa giữ uy nghi mà vẫn giữ được hồn nhiên, tươi trẻ, đó không phải là hai việc khác nhau, chống đối nhau? Trong sự trì giới mình vẫn có được sự liên hệ giữa bạn đồng tu với nhau hay giữa người tại gia và người xuất gia. Ví dụ:Như khi con được chứng kiến những buổi đại trai đàn chẩn tế,Thượng tọa luôn chú tâm vào những việc mình đang làm, Thượng tọa không phung phí một cái nhìn, dù là một lời nói mà tất cả Thượng tọa đều chú tâm vào đó. Đó là công phu, định lực Thượng tọa chế tác mỗi ngày sao cho nó nuôi dưỡng mình và những người khác mà không trở nên căng thẳng hay nghiêm trọng. Có những người trẻ cũng muốn đi con đường này nhưng nếu nó khó quá, làm sao Thượng tọa có được sự tiếp nối.

Thượng tọa trả lời: Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Đức Lục Tổ có nói: “Tâm tịnh hà lao trì giới, tánh định bất đải tu thiền.” Vì tâm mình không tịnh, nó như con ngựa, con khỉ. Nó cứ rong ruổi ngoài đồng, nó cứ phan duyên, nhíu nhánh cho nên phải tìm phương tiện khống chế nó. Đầu tiên tạm gọi là khống chế nó. Các Tổ lập thanh quy, đức Phật chế giới luật cũng không ngoài ý nghĩa đó, là để cho tâm tịnh lại. Nếu lúc nào tâm mình tịnh thì không cần phải nhập trì giới; tánh định rồi thì không cần phải tọa thiền. Như vậy, tọa thiền để tâm mình lắng yên và làm chủ được nó. Mình thấy được những gì mầu nhiệm đang có mặt trong cuộc sống của mình. Nhờ giới đưa mình vào quỹ đạo của Bụt. Nếu mình không lăng xăng thì những bước chân đã trì giới rồi. Trì như thế nào để thấy mình không trì, niệm đến lúc thấy mình không có niệm, không có trì; mình là nó, nó là mình. Mình sống với nó, chính nó, bằng nó cho nên mình không có cái gì khó chịu. Trì giới không có nghĩa là xa cách đại chúng, trở thành người khô khan. Mình tu học sao cho mình dễ thương. Không biết mấy bữa nay tôi qua đây có dễ thương hay không nhưng mà tôi rất sợ bị dễ ghét. (Cười) Mình trì giới không phải là cách ly với đại chúng, mình cô lập hóa mình, không phải vậy đâu. Mình trì giới với đại chúng để những lời nói, ý nghĩ, hành động không còn bị lửa phiền não thiêu đốt. Cho nên “Giới” còn được dịch là Ca Thi La, còn gọi là Biệt Giải Thoát. Mình hiểu nhau nên trong lời nói không còn vướng mắc hay hiểu lầm. Như vậy trong lời nói của mình là giới rồi. Hiểu như vậy, dù cho có bao nhiêu giới, dù cho mình không thuộc lòng số mục của giới nhưng tự nhiên tất cả những sinh hoạt của mình đã đi vào giới.
Trong trai đàn phải làm việc như vậy thôi, nhưng những việc đó cũng từ nền tảng của công phu tu tập. Hiểu được như vậy mình sẽ không ràng buộc vào hình thức. Cái sợ nhất của người tu học là mình để sự tu học đó làm khổ mình. Ví dụ có cặp vợ chồng nọ ở Mỹ, hôm anh chồng về chùa thăm và nói chuyện với tôi. Anh ấy hỏi một câu: “Không biết trong Phật giáo có cách tu như thế nào và dạy dỗ như thế nào, mà từ khi vợ con đi chùa cho đến nay không làm tròn trách nhiệm với con? Đến chùa lúc nào cũng thầy, cái gì cũng thầy nhưng về nhà thì bỏ bê việc gia đình nên con rất buồn. Chúng con sống hạnh phúc từ khi gặp nhau cho đến bây giờ, con cái cũng đã lớn. Nhưng thời gian sau này, từ khi đi chùa đến nay con thấy vợ con làm sao đó”. Tôi nói: “Thôi được, anh cho tôi gặp vợ anh, có một buổi nói chuyện riêng, rồi sau đó tôi sẽ gặp hai người.” Thế là tôi nói chuyện với cô đó một buổi. Tôi nói: “Thật ra, mình đi tu là để làm sao cho bản thân mình dễ thương và về nhà, chồng thấy mình là một người vợ đảm đương hơn, con cái thấy mình trở thành một người mẹ mẫu mực hơn. Tự lợi và lợi tha, mình phải Phật hóa mình trước. Vai trò của cô, trách nhiệm của cô là phải cùng tu với anh ấy. Nếu cô chỉ tu một mình thôi thì cô không có bạn đồng hành. Cô về nhà thì dù đến giờ tụng kinh, ông chồng mà không chịu thì cô cũng không nên tụng. Khi nào cô xuất gia, đời sống của cô sẽ khác đi, còn ở tại gia thì đời sống khác. Cô phải làm thế nào để điều phối lại cho quân bình. Bổn phận, nghiệp duyên của mình còn phải chăm sóc, lo lắng nên mình không thể nào làm khác đi. Mình trốn nó thì cũng giống như sợ cái bóng mà mình cứ chạy ngoài nắng hoài thì không thể nào mất cái bóng đó”. Sau khi nói chuyện xong, tôi có dẫn năm giới của Sư Ông đưa vào. Mấy bữa sau, hai người lên gặp tôi và chia sẻ: “Mấy ngày nay tụi con sống với nhau rất hạnh phúc. Con và cô ấy cùng tụng kinh, chứ mấy ngày trước chỉ có một mình vợ con tụng thôi”. Thành ra, chẩn tế cũng là một công việc. Nếu hiểu theo nghề nghiệp, nghề đi cúng, thì chẩn tế cũng là một công việc, nhưng nếu đứng về hạnh tu nó cũng là một công phu. Tại vì hằng ngày mình cũng phải làm công việc tu tập để có khả năng chuyển hóa mình và giúp cho người khác. Trai đàn chẩn tế cũng vậy, nếu hiểu theo nghĩa Nôm, giống như tu tập hàng ngày, như mình ăn cơm ba bữa hằng ngày nhưng trai đàn giống như ăn cỗ vậy thôi. Nó không khác nhau ở hình thức nhưng nội dung phải làm sao cho tốt. Vì vậy trong vấn đề trì giới và làm Phật sự, không có cái gì khác nhau, phải từ nền tảng đó mà làm.

6. Xin Thượng tọa bật mí làm sao trong buổi lễ đại trai đàn chẩn tế, Thượng tọa đã thuyết phục được Sư Ông mặc áo gấm?

Thượng tọa trả lời: Thật ra, khi thấy Sư Ông mặc, tôi rất cảm động. Sư Ông thương mấy anh em mà Sư Ông chiều theo. Thật sự, Sư Ông đã đạt đến cái nhìn cao lắm, làm, nhưng mà không vướng vào đó. Sư Ông mặc, quý thầy mặc, tôi cũng mặc ,cho dù nhiều khi mình không thích. Sư Ông mặc rồi thì Sư Ông vẫn là Sư Ông, không dính líu gì đến cúng hết. Đó là Pháp Y của nghi lễ. Do vậy tôi kính Sư Ông từ chỗ đó.

7. Lúc Thượng tọa mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thượng tọa mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?

Thượng tọa trả lời: Hôm nay là thứ Năm, đến Chủ Nhật tôi sẽ về lại Việt Nam, tôi cũng lưu luyến lắm! Tôi lưu luyến như thế này: Hễ mà về Việt Nam, chỗ nào có ‘hơi hướng’ của Làng Mai, tự nhiên cuốn hút tôi đến. Thực ra, đứng về sự tướng mà nói, như hôm tuần trước, Sư Ông giảng kinh Hoa Nghiêm có nói về phần tục vọng, tức là đứng về mặt tương đối mà nói, chúng ta thấy có người tu tập, giác ngộ, an lạc, giải thoát. Cũng có những người không tu tập, phải đọa lạc đau khổ, cho nên cái sự thật tương đối này có oan hồn. Có những người đang lầm lũi trong bóng tối, đang bị không ai thừa nhận, không ai đoái hoài, không có kẻ hương khói nên mình gọi là cô hồn.

Còn tổ tiên là hương hồn tức có hương khói đàng hoàng. Ở trường hợp này, ta dùng tâm từ bi để nghĩ đến họ. Một khi mình nghĩ đến họ là họ đã có mặt. Tuy âm dương u huyễn nan thông nhiên Phật lực đề huề cự chí, dù âm dương có cách trở khó thông nhưng mình chỉ cần nương theo lời thề của đức Thế Tôn, của chư vị Bồ tát. Mình cũng nương vào bản thể đó để phát khởi tình thương và nghĩ đến họ. Mọi người trong pháp hội cũng nghĩ đến họ và năng lực đó lan tỏa trong khắp pháp giới. Họ cũng từ trong thể tính pháp giới đó mà mê lầm, đau khổ. Cho nên chỉ cần cảm ứng không mất thời gian, không tốn tiền vé, không có trải qua thời gian nhưng họ vẫn tiếp nhận được.

Ví dụ như trong buổi ăn cơm quá đường hôm nay, Sư Ông chỉ cần đọc tên cầu an hoặc cầu siêu lên như vậy thôi mà đại chúng lắng nghe bằng từ tâm thì đâu cần phải đem năng lượng đó chuyển máy bay để chạy về Việt Nam đến chỗ đó, mà ngay lúc đó họ vẫn cảm ứng với nhau. Cũng từ thể tính pháp giới đó mà chúng ta triệu họ đến, rồi cũng từ thể tính pháp giới đó họ trở về. Do đó, đứng về Sự mà nói, có đến có đi nhưng đứng về Lý mà nói thì không đi đâu cả. “Tích nhật như thị lai, kim triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Đó là một bài pháp ngữ khai thị khi một vị Tăng viên tịch. Theo nghi lễ truyền thống Việt Nam, cần thỉnh một vị Thượng tọa chứng minh trước khi chuyển cửu. Hòa thượng đó cầm cây phất trần, đứng ở đầu quan tài và nói: “Lão thiện ông kim hữu đồng tông, pháp hữu vô vi liêu tạm tống biệt nhất ngôn. Duy nguyện lão thiền ông mặc nhiên, tịch tính thụ phấn triệt.” Bắt đầu cầm lại: “Tích nhật như thị lai, kim nhật triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Nghĩa là: Ngày xưa thầy đến đây như thế nào thì ngày nay thầy về lại như thế ấy. Đến và đi không cần mượn chỗ của Như Lai, tự tại là như vậy. Dù thầy không phải bước, không phải mượn nhưng mà những bước chân của thầy bước là đang đi vào cảnh giới của Bụt, của Thế Tôn.

Khi chúng ta mời họ đến không phải là để uống trà chơi mà chúng ta mời họ đến để tâm sự. Các vị thấy bài khấn nguyện của Sư Ông, bài đó rất thâm thúy. Chính vì không ai nói lên, nên làm cho người ta vẫn ngộ nhận, người ta cố chấp và vướng mắc, nhìn nhau không có thiện cảm, đùng, một tiếng chuông cảnh dương gióng lên để người ta thấy sự thật phải như vậy. Biết rằng bầu và bí có thể leo chung một giàn; gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Đại khái lời khấn nguyện của Sư Ông cũng giống như trong khoa giáo. Tức là mời họ đến để khai thị cho họ thấy rõ nguyên nhân mà các vị phải chịu đau khổ, đọa lạc. Mình chỉ cho họ một hướng đi, họ đi theo con đường này sẽ được an lạc và giải thoát. Như vậy là họ có đường đi, dù họ đi đâu đi nữa nhưng sự an lạc, giải thoát, ấm cúng vẫn có mặt, vì họ đã có khả năng tạo cho mình một thế giới Tịnh Độ. Họ có khả năng tạo cho họ một cảnh giới an lạc.

Cho nên: “Tín tâm tạo nghiệp như vân ế nhật, hậu tâm khai minh như chúc trừ ám.” Nghĩa là: Tâm niệm trước đã tạo tác những vọng động, những nhân tố xấu xa, bất thiện giống như mây che mặt trời. Nhưng nếu một tâm niệm sau biết giác ngộ, chuyển hóa được nó, cũng giống như thắp lên một ngọn đuốc và bóng tối biến mất. Họ có con đường để đi, chúng ta không cần chỉ dẫn nữa. Cho nên, về Lý và Sự, chúng ta thấy có đối tượng được mời đến và có chủ thể là mình đứng ra tiếp đãi. Nhưng đứng về thể tính pháp giới mà nói, họ có mặt trong tâm thức của mình, phiền não ngũ ấm. Đồng bào chúng ta đau khổ thì chúng ta không an, trên tinh thần đó mà Sư Ông làm chẩn tế, chuyển hóa. Có thể lấy công việc trai đàn đó để giải thích. Ngôi mộ đó chỉ là kỷ niệm, bàn thờ đó chỉ là kỷ niệm.

Chỗ ông bà tổ tiên ta thờ, không phải ông bà tổ tiên ta ngồi đó mà đó là tinh thần tổ khảo của chúng ta. Mình nương vào hàng chữ đó, nén hương đó để mình nhớ lại nguồn cội của mình. Trong một niệm, nếu mình lấy tâm thanh tịnh thì ba thời gian đều có mặt – quá khứ, hiện tại và tương lai đều có mặt ở đây. Tôi rất vui khi được nghe Sư Ông nói pháp thoại rằng: “Mình phải ăn cơm cho cha mẹ. Tu cho cha, tu cho mẹ mình.” Trở lại vấn đề này, nhiều khi có những chướng duyên, phiền não, có lúc muốn bỏ chùa ra đi. Lúc nhỏ, tôi cũng muốn bỏ Thầy ra đi nhưng mà khi nghĩ đến mẹ mình, tự nhiên mình không còn nghĩ lung tung nữa. Mình nghĩ đến người thân thương đã kỳ vọng nơi mình, đã chăm sóc cho mình, từ đó mình có sức mạnh. Do đó trong sự tu tập, chúng ta thấy rằng cô hồn thực ra không có khác. Nếu một niệm mình sống trong mê lầm thì lúc đó mình cũng đã là cô hồn sống rồi, như Sư Ông đã dạy.

8. Thượng tọa cho phép chúng con được hỏi câu hỏi cuối: Trước khi lập trai đàn chẩn tế, ban Kinh sư phải tịnh tâm trước thời gian đó bao lâu để có thể lên đàn? Thầy chủ sám ở trên phải rất chánh niệm, nếu vọng tâm sẽ bị vật ngã. Hơn nữa, chúng con được biết có những thầy trẻ cúng chẩn tế nhiều quá sức khỏe sẽ không tốt, có khi chết trẻ. Theo Thượng tọa có phải như vậy không? Xin Thượng tọa chỉ dạy cho chúng con được rõ hơn.

Thượng tọa trả lời: Chẩn tế cũng là hình thức ủy lạo, bố thí. Chẩn có nghĩa là đem của, đem tài vật chất của mình giúp cho người ta. Tế có nghĩa là giúp đỡ qua cơn đói khát, lạnh buốt. Chẩn tế có nghĩa là như vậy. Chúng ta đi ủy lạo cũng xuất phát từ tình thương, người làm công việc chẩn tế cũng không khác với công việc từ thiện. Nếu có, là khác ở chỗ: làm từ thiện giúp cho người dương, còn quý thầy ngồi đàn chẩn tế giúp cho người âm. Nếu như tôi lãnh công việc ủy lạo của đại chúng giao cho và thông tin đó đã được thông báo đến vùng đó. Đồng bào người ta đến, người ta chờ, người ta đợi nhưng không biết rằng số quà đó không đến tay họ được. Họ giận ai? Họ đâu có giận sư cô Chân Không đâu. Họ giận tôi vì họ biết tôi là người trưởng đoàn sẽ đem quà đến. Họ giận ít thì thôi mà họ giận nhiều quá thì coi chừng! Chẩn tế cũng vậy.

Chúng ta làm công việc này để bố thí, trước tiên là để cho họ hưởng vật thực. Trước khi hưởng vật thực ta cho họ pháp thực. “Tài thí như đăng minh nhất thất. Pháp thí như nhật chiếu đại thiên.” Đem tiền bố thí là có phước nhưng phước đó nhỏ như ánh sáng một ngọn đèn, chỉ sáng trong căn phòng thôi. Nhưng Pháp thí là cho họ lời khuyên, giúp cho họ có hướng đi, giúp cho họ chuyển hóa cuộc sống đau khổ, công đức đó mới lớn, giống như ánh sáng của mặt trời. Cho nên, trong trai đàn đó vừa có pháp thí lẫn vật thí.

Nếu lên đàn không có chánh niệm, không có đạo lực hay nói cách khác mình không có tình thương, vẫn còn ganh tỵ, bon chen, hơn thua. Hay là đối với cha mẹ mình không có hiếu kính, đối với anh chị em không dễ thương, mà mình đi nói thương đồng bào, thương cô hồn thì họ nói anh này dối, họ sẽ không tin tưởng. Nếu chúng ta làm công việc đó, họ không nhận được thì hậu quả đó chúng ta phải lãnh lấy. Nếu chúng ta làm công việc đó mà họ đều hoan hỷ, đều tiếp nhận thì “vô bệnh trường thọ, thọ dụng đắc cụ túc.”

Vấn đề không phải là không có nhưng vấn đề có hay không? Ta phải nhìn lại việc làm của người đó. Nếu nói là trước khi lên đàn phải có thời gian bế quan để luyện công, thực ra đó chỉ là cách nói thôi. Ví như tôi học võ, tôi đi đường quyền hay nhưng học rồi tôi cất đó, khi nào giặc đến cổng rồi tôi mới múa, liệu có trị được giặc không? Nó đánh sau lưng mình cũng không hay. Do đó ta phải “nghiêm tinh luyện thục”, tức là ta phải nghiên cứu và luyện tập một cách thuần thục, chín mùi rồi mới dám làm công việc đó.

Như vậy, không phải đợi đến khi lên đàn, mới đóng cửa lại ngồi làm như vậy. Chúng ta phải tu tập hành trì như Sư Ông dạy, là phải tu tập hàng ngày. Nếu chúng ta hiểu như vậy, dù lúc ở không hay lên đàn đều là công phu. Dù chúng ta lên đàn hay ngồi trong phòng để tĩnh tâm hay làm công việc nào đó cũng từ nền tảng của từ, bi, trí tuệ đã thuần thục. Giống như lúc nào quý sư cô thỉnh Sư Ông cho pháp thoại thì Sư Ông đâu phải bế quan, phải luyện tập. Từ ở trong tâm thức của Sư Ông tuôn ra. Những cái đó từ trong máu, trong xương tuôn ra. Thành ra phong cách nào của Sư Ông cũng là Ấn, lời nói nào của Sư Ông bằng tình thương cũng là châm ngôn.

Hôm mới đến Làng, sáng sớm đang dùng cơm với Thượng tọa Minh Tuấn ở Trai đường thì Sư Ông xuống. Sư Ông rủ đi thiền hành, vừa đi mấy bước Sư Ông nắm tay tôi đi cho ấm. Đi một hồi, Sư Ông đưa tay lên và hỏi: “Đây là ấn gì?” Tôi cũng không biết đó là ấn gì. Sư Ông nói: “Đây là ấn huynh đệ.” Chúng ta thấy tất cả những cử chỉ nào xuất phát từ căn bản trí luôn xuất ra hậu đắc trí và tuôn chảy ra đại bi tâm thì những lời đó đều là châm ngôn, là thật ấn. Cho nên, những cách đó mình làm cho thuần thục, không phải nhất thiết đợi đến lúc đó mới đóng cửa bế quan và trị liệu. Chắc quý có nghe ở Vĩnh Nghiêm, trước đó một tuần tôi đóng cửa bế quan phải không? Thật ra là tôi có tung ra tin đó để tránh không tiếp xúc những người thắc mắc, đóng cửa lại để làm công việc cho xong. Đến giờ mình xuất chiêu là đã xong hết rồi. Đó là cách nói chứ không phải bế quan, trốn khách. (Cười)

Chúng con xin thành kính tri ân Thượng tọa đã hoan hỷ để thì giờ ra chia sẻ với chúng con những kinh nghiệm thực tập quý báu này.

Phỏng vấn thầy Pháp Hội


1. Chúng con được biết Thầy đã từng sống ở Mỹ rất lâu, là một người trẻ ở xã hội Tây phương, điều kiện sống rất đầu đủ, Thầy lại thành đạt trong xã hội. Tại sao Thầy muốn trở thành một người tu?

Thầy Pháp Hội
:
Thực ra Pháp Hội mới sống ở Mỹ ba năm thôi, còn mười mấy năm khác thì sống ở Châu Âu. Nhân duyên để Pháp Hội đến với đạo cũng rất đặc biệt. Lúc còn trẻ lối suy tư, cách hành xử, nhận thức của mình cũng giống như những bạn trẻ bây giờ. Mình cũng chạy theo mục đích như kiếm tiền, chạy theo những nhu cầu bình thường của một người trẻ. Nhưng khi được tiếp xúc với những tư tưởng, cách hành xử đẹp của đạo Bụt thì mình nhìn thấy một lối sống mới cao đẹp hơn, mình thấy nó khác hẳn với lối sống mà mình đang theo đuổi. Những quan niệm về giá trị hạnh phúc và cuộc sống cũng khác hẳn với những cái lâu nay mình nghĩ, mình theo đuổi. Thế nên Pháp Hội quyết định buông bỏ hết những giá trị theo kiểu đời thường đó để đi tìm giá trị của một đời sống mới và cảm thấy đây mới là một lối sống đích thực, là những giá trị đích thực mà mình cần, đó là một chân trời mới. Khi thấy được giá trị chân thực của cuộc sống đích thực, của hạnh phúc thì mình có thể buông bỏ một cách dễ dàng lối sống vật chất tiện nghi đó. Pháp Hội tin đó là giá trị đích thực và cao đẹp.

2. Ở xã hội bây giờ luôn mới và có sự thay đổi phát triển không ngừng mà quý thầy, quý sư cô trong Tu viện ngày nào cũng chỉ thực tập thiền hành, thiền toạ… Và ở đây lại không sử dụng điện thoại di động, máy tính cá nhân, truyền hình… Vậy làm sao quý thầy, quý sư cô có thể hiểu và đồng hành để giúp đỡ những người bên ngoài, nhất là giới trẻ rất năng động, có nhiều khó khăn và bế tắc?

Thầy Pháp Hội:
Nét đẹp và giá trị chân thật của người xuất gia là ở ngay trong đời sống hằng ngày mà đạt được lối sống cao đẹp, năng lượng vững chãi, an lành và những quy định của đời sống người tu làm cho những mục tiêu đó được thành tựu. Những quy định của mình như là: không sử dụng điện thoại di động riêng, không xem tivi, hay sử dụng những trương mục cá nhân, e-mail riêng… tất cả những cái đó nhằm mục đích giúp cho người tu trở nên vững chãi hơn, nó ngăn chặn những điều không lành mạnh của xã hội thâm nhập vào. Tự thân những cái đó không có gì quá lớn lao, thế nhưng nó ảnh hưởng vào quá trình bắt đầu của sự tu tập nên mình phải buông bỏ nó đi. Giả sử trong đời sống của người xuất gia, khi mình chưa có sự vững chãi mà sử dụng những tiện nghi đó thì nó sẽ làm đời sống của mình bị ảnh hưởng xấu, đánh mất đi sự sống, nét đẹp của người xuất gia. Mình không phải hoàn toàn chối bỏ nó, mình sử dụng những cái đó trong vai trò, trách nhiệm của một tập thể, mình dùng như một phương tiện để phục vụ cho công việc của đại chúng chứ mình không dùng cho tiện nghi cá nhân. Nó khác nhau ở chỗ đó! Và người trẻ khi tiếp xúc với đời sống của người tu qua dòng tu của mình, họ cứ nghĩ là mình sống cách biệt với thế gian, nhưng trên thực tế thì dòng tu của mình lại giúp được cho người đời rất nhiều, nó tạo niềm tin cho người trẻ và các giới. Vì lối sống của mình có thể tạo ra hạnh phúc đích thực, nụ cười đích thực, có tình huynh đệ, có sự thương yêu, bao dung được cho nhau. Đạo đức trong lối sống, nghệ thuật sống thương yêu và hiểu biết là cái mà xã hội cần chứ không phải là chạy theo đời sống vật chất. Vì người trẻ ở Tây phương đã đi trước giới trẻ Việt Nam trong những cái đó rồi! Họ đã đạt được tiện nghi về mặt vật chất, về quyền con người, họ đã đi một bước rất xa trên con đường đó nhưng cho đến bây giờ họ vẫn không có hạnh phúc đích thực, mình có thể khẳng định rằng đó không phải là phương tiện đem lại hạnh phúc. Nếu người trẻ biết xa lánh những gì không lành mạnh cho đời sống của họ thì đương nhiên họ sẽ tìm đến một lối sống khác đem lại cho họ hạnh phúc. Và đó chính là con đường của người xuất gia. Không phải chỉ có người xuất gia mới có thể tu tập được, mới có thể tạo dựng hạnh phúc được mà bất cứ ai cũng có thể sống hạnh phúc bằng lối sống lành mạnh, bằng cách chỉ tiêu thụ những gì nuôi dưỡng cho thân tâm. Dù có khó khăn, phiền não nhưng nếu biết sàng lọc, tưới tẩm và đem vào trong cuộc sống hằng ngày những yếu tố lành mạnh, yêu thương, biết chăm sóc cho chính mình và cho mọi người chung quanh thì hạnh phúc đạt được sẽ ở mức độ chân thật. Người trẻ một khi hiểu rằng hạnh phúc của họ chỉ có thể được tạo ra bằng chính đời sống lành mạnh của họ và thấy được hạnh phúc của một cá nhân có liên quan đến hạnh phúc của cộng đồng. Họ phải chọn cho mình một cách sống phù hợp không tàn hoại đến thân tâm của chính họ, không tàn hoại đến môi trường, đó là lối sống đích thực – là thông điệp mà chúng ta muốn gởi đến xã hội! Vì những yếu tố đó trong xã hội ngày nay đang bị trào lưu chạy theo vật chất làm lu mờ. Xã hội Việt Nam bây giờ cơ hội làm giàu của người trẻ rất nhiều. Những nhu yếu, những thành tựu của xã hội Tây phương đi vào xã hội Việt Nam nhiều quá mà giới trẻ thì lại dễ dàng tiếp nhận. Thế nhưng, họ không hiểu được một điều là những thành tựu đó không chắc chắn đem tới hạnh phúc. Cách thức trong quản lý xã hội, thành tựu trong khoa học kỹ thuật hay những phương tiện tạo ra vật chất… những cái đó đi vào Việt Nam rất nhiều nhưng đồng thời những thứ rác, những cái không lành mạnh cũng xen vào và ảnh hưởng rất mạnh đến giới trẻ. Nhiệm vụ của người xuất gia là đem lại cho xã hội một con đường mới, một phương thức sống hữu hiệu nhưng vẫn có tự do, có thảnh thơi, không bị ràng buộc bởi tiện nghi mà vẫn hạnh phúc như thường. Thông điệp đó mình đang làm tại đây bằng cách sống, bằng sự chuyển hoá hằng ngày.

3. Đường hướng của Tu viện Bát Nhã là “Đạo Phật dấn thân vào cuộc đời”, xin Thầy chia sẻ một chút về điều đó?

Thầy Pháp Hội:
Sự dấn thân của mình cũng mang một màu sắc rất đặc biệt. Mình sẽ đóng góp cho xã hội bằng cả Tăng thân chứ không phải bằng một cá nhân. Truyền thống đạo Bụt Việt Nam đã từng đào tạo được rất nhiều vị Tăng tài, rất nhiều vị Tôn túc có khả năng, có tuệ giác và có sự tu chứng nhưng chưa bao giờ đào tạo được một Tăng thân đi chung với nhau và sống như một dòng sông. Nó sẽ có hiệu quả nhiều hơn khi mình cống hiến cho xã hội bằng một Tăng thân. Một người cho dù có giỏi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể dễ dàng thay đổi được tâm thức cộng đồng. Mình phải sử dụng năng lượng của cả một Tăng thân, cả một cộng đồng, có lối sống lành mạnh, có sự đi chung với nhau, cùng làm việc thì mới đủ sức! Nếu như một cộng đồng sống với nhau có sự lành mạnh, thương yêu thì môi trường xung quanh cộng đồng đó được thay đổi, những người đến nương tựa vào, họ sẽ có thay đổi và đó là cái mình dấn thân vào xã hội. Ở trong Tu viện nhưng mình luôn đào luyện được cho mình có năng lượng của thương yêu, của vững chãi – những năng lượng đó sẽ tác động ít nhiều vào xã hội. Tuy mình ở đây nhưng mình vẫn chăm lo cho xã hội, vẫn tổ chức những khóa tu cống hiến cho xã hội những phương pháp để chuyển hóa khổ đau và mình quán chiếu những khó khăn, những giá trị đạo đức của xã hội! Ví dụ như bây giờ xã hội Việt Nam, yếu tố niềm tin, giá trị đạo đức ít được người ta tôn trọng nhưng ở đây mình đang xây dựng cái đó. Bởi trong bất cứ một lãnh vực nào của xã hội nếu không có yếu tố đạo đức thì sẽ trở nên hư hỏng dù những người đó đã thành đạt về mặt kiến thức, về mặt vật chất hay quyền chức. Mình dấn thân ở chỗ tạo dựng được cho con người của mình những yếu tố mà xã hội đang cần! Và đồng thời dựa trên tuệ giác của sự tu tập mình sẽ cống hiến cho họ tình thương, cách thực tập trong những khó khăn của họ. Ví dụ như người trẻ bây giờ họ quan niệm về hôn nhân, học đường, về giá trị hành xử không giống trước bởi vì họ gặp những khó khăn không giống như các thế hệ trước. Người trẻ bây giờ được sử dụng tiện nghi về công nghệ cao, sử dụng Internet và nạn xã hội ảo – phục vụ cho nhu cầu của những người trẻ rất nhiều nhưng đồng thời nó cũng đem lại những bê bối, những vụ scandal khá lớn trong xã hội, dòng tu chúng ta dấn thân ở đó, đóng góp được cho người trẻ cách thức để sống, để đối diện với những gì không có trong thời đại của những vị đi trước mà trong thời đại của chúng ta lại có. Dòng tu của mìmh lại luôn biến đổi để cung cấp được cho xã hội, cho người trẻ những giá trị đích thực mà người trẻ cần phải có, một phương cách để có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống và đó là cách dấn thân của mình chứ mình không cống hiến cho họ theo một lối sống cũ. Tuy mình sống trong xã hội nhưng mình không nhiễm phải những thói quen không lành mạnh mà còn tạo dựng được một lối sống lành mạnh, chính hình ảnh đó là cái mình cống hiến cao nhất cho xã hội.

4. Thưa Thầy, con thấy ở đây quý thầy, quý sư cô đi tu khi còn rất trẻ, vậy làm sao để quý thầy, quý sư cô có thể chia sẻ về những trường hợp như là tình yêu, hôn nhân và gia đình… Quý thầy, quý sư cô dựa vào đâu để chia sẻ, nó có lý thuyết không khi mà mình chưa có kinh nghiệm thực tế?

Thầy Pháp Hội:
Có một thực tế là khi mình đang ở trong vòng của đau khổ, của tuyệt vọng thì mình lại không hề thấy được lối ra. Nó giống như một người sống trong ngày mùa đông thì chỉ thấy bầu trời xám xịt mà không thấy được ánh mặt trời. Phải là một người vượt lên trên được những đám mây u ám kia mới thấy được mặt trời vẫn đang chiếu rạng cùng lúc đó. Trong môi trường bị ràng buộc bởi hôn nhân, gia đình và xã hội – những hệ lụy của một đời sống bình thường thì sẽ khó thấy được cách giải quyết vấn đề tươi sáng hơn. Có một sự thật là rất nhiều cặp vợ chồng không truyền thông được với nhau nhưng lại sẵn sàng chia sẻ những khó khăn của mình với một người tu. Nếu nói về mặt nào đó thì kinh nghiệm của đời sống hôn nhân họ phải rành hơn người xuất gia chứ! Thế nhưng họ lại không tìm được hạnh phúc đích thực ở trong đó mà họ phải nhờ đến người tu để chỉ lối ra cho họ. Đơn giản là vì người tu không bị vướng vào những hệ lụy của đời sống đó và không bị ràng buộc bởi danh lợi, vật chất, bởi những dục vọng cá nhân nên cách giải quyết và cách hành xử cũng vì thế mà có tuệ giác nhiều hơn. Người ta cần đến người tu là cần điều đó! Thế nhưng trên thực tế người xuất gia lại nắm vững cách thức để sống hạnh phúc với nhau, vì hạnh phúc đích thực giống như chúng ta vừa nói tới lại do cách sống của chúng ta chứ không phải là giá trị tầm thường mà người ta theo đuổi. Con người tạo dựng được hạnh phúc của mình là nhờ lối sống trong lành của họ. Nếu như trong gia đình, họ học được cách sống của người tu, biết truyền thông với nhau, biết tôn trọng, thương yêu và hiểu biết nhau thì tự khắc họ sẽ có hạnh phúc. Và điều đó, dù là người xuất gia cũng phải học. Người tại gia sống với người bạn hôn phối của mình cũng phải học thì mới tạo dựng được hạnh phúc. Cái chính là mình có được kinh nghiệm của một đời sống giải thoát.

Phỏng vấn sư cô Tạng Nghiêm


Sư cô Tạng Nghiêm là một sư cô trẻ, năm nay sư cô 20 tuổi, sư cô là con một, bố của sư cô mất năm sư cô chín tuổi. Mẹ sư cô kinh doanh khách sạn của gia đình, bà ở vậy nuôi con. Sư cô mới xuất gia được một năm tại tu viện Bát Nhã, và hiện giờ sư cô đang tu tập tại Làng Mai.

tang_nghiem.jpg1. PV: Chào sư em, sư em biết tới pháp môn của Sư Ông lâu chưa mà lại đi xuất gia?

Sư cô Tạng Nghiêm: Đó là vào mùa xuân năm 2005, sư em được gặp Sư Ông và Tăng đoàn tại Huế. Từ đó, sư em bắt đầu đọc sách và nghe pháp thoại của Sư Ông. Em mơ ước được sang Làng và ngày nào cũng cầu nguyện được tới đó. Thế là mùa hè năm 2006, sư em đi cùng mẹ về Làng tham dự khoá tu một tuần.

2. PV: Ấn tượng của sư em về lần đầu về Làng như thế nào?

Sư cô Tạng Nghiêm: Khi vừa bước chân tới Làng sư em cảm nhận được ngay một nguồn năng lượng rất bình an, thanh tịnh. Các sư cô ở đây rất dễ thương với thiền sinh và luôn kính trọng lẫn nhau. Ai cũng rất hiền, rất tươi, lúc nào cũng có nụ cười thường trực trên môi. Em rất thích ngắm nhìn các sư cô, nhìn các sư cô an lạc quá. Các sư cô thật gần gũi, thường xuyên tới chuyện trò và giúp đỡ các thiền sinh. Sư em hay tới chơi với các sư cô và các sư cô cứ hỏi sư em: “Bé có muốn đi tu không?”

3. PV: Sư em trả lời sao?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em nói rằng, dạ không, con không muốn xuất gia. Sư em thương các sư cô lắm, sư em thần tượng các sư cô, nhưng lúc ấy sư em không hề muốn làm sư cô.

4. PV: Tại sao vậy?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tại sư em không muốn xa mẹ và vì sư em còn nhiều dự định muốn làm.

5. PV: Sư em còn những dự định gì?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em muốn tiếp tục theo học trường đại học Rmit tại Sài Gòn, muốn đi du lịch khắp nơi, và còn thích nhiều đồ đẹp nữa…

6. PV: Vậy vì lý do gì mà sau đó sư em thay đổi ý định?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em chỉ được ở Làng có một tuần thôi, ngày phải trở về Việt Nam sư em buồn lắm. Sau đó, khi về Việt Nam sư em được tới tu viện Bát Nhã. Sư em tính đến đây chơi thôi, nhưng các sư cô và các chị tập sự tại tu viện Bát Nhã quá dễ thương, sư em chưa thấy một nơi nào mà tình người lại sâu sắc như ở đây, cuộc sống tại tu viện hết sức thanh bình, tâm hồn ai cũng đẹp. Đúng là một môi trường mà trong đó gồm có những con người thánh thiện nhất tới sống chung với nhau. Ở đây được một tháng thì sư em bị khuất phục hoàn toàn, sư em không thể không xuất gia. Khi đã được nếm trải niềm hạnh phúc trong đời sống tu viện, sư em không còn muốn trở lại cuộc đời trần tục, nhiều lo toan, bon chen ngoài kia nữa.

7. PV: Sư em rất đẹp và rất dễ thương, ở ngoài đời chắc sư em có nhiều người theo lắm nhỉ? Sư em đã thương ai bao giờ chưa?

Sư cô Tạng Nghiêm: Cũng có vài người thương sư em, nhưng sư em chưa thương ai hết. Hàng năm, vào ngày 14.02 em cũng nhận được nhiều thư. Lúc ấy sư em thích đọc thư tình lắm, sư em cũng thích viết thư tình, nhưng sư em chẳng biết viết cho ai. Sư em đọc đi đọc lại những bức thư đó để chọn ra một bức nhưng không chọn được ai hết thế là sư em nghĩ ra một người, sư em liền viết ngay cho người ấy.

8. PV: (giả vờ hồi hộp) Ai mà có diễm phúc thế hả em?

Sư cô Tạng Nghiêm: (cười) Hì… hì… đó là mẹ của sư  em. Và từ đó, cứ mỗi lần tới ngày 14.02 là sư em lại gửi cho mẹ một bức thư tình

9. PV: Sư em có thể kể về mẹ được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ sư em rất đẹp và hiền. Khi bố sư em qua đời mẹ cứ ở vậy nuôi sư em và chăm sóc bà ngoại với ông bà nội. Hai nội rất thương mẹ, coi mẹ như con gái vậy, bà nội cứ giục mẹ đi lấy chồng, bà còn giới thiệu cho mẹ hết người này tới người khác, toàn những người thành đạt trong xã hội nhưng mẹ chỉ cười. Mẹ bảo, khi nào mẹ lo cho bà ngoại và ông bà nội xong thì mẹ cũng đi tu với Tạng Nghiêm.

10. PV: Sư em có thể kể cho bạn đọc nghe một vài kỷ niệm của sư em với mẹ được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Kỷ niệm thì nhiều lắm sư chị ơi. Lúc ở nhà, mẹ là người bạn của sư em. Trước khi đi ngủ hai mẹ con hay oẳn tù tì với nhau, ai thua thì người ấy phải đi mắc màn. Trước đó thì mẹ toàn mắc màn cho sư em ngủ, nhưng sau sư em không chịu, sư em đòi chơi oẳn tù tì. Một lần, dịp đó sư em được đọc cuốn Bông hồng cài áo của Sư Ông. Tối hôm ấy, sư em bỗng sực nhớ ra và sư em liền chạy đến bên mẹ. Sư em mỉm cười nhìn sâu vào mắt mẹ và hỏi: “Mẹ ơi! Mẹ có biết không?” Mẹ nhìn sư em và hỏi lại: “Biết gì?” Hì… hì… như là đang đóng kịch ấy, sư em nói: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”. Mẹ hạnh phúc quá ôm sư em vào lòng, một lúc sau mẹ nói: “À, phải rồi bây giờ mẹ phải đi lên nói với bà ngoại đây”. Thế là lúc ấy, dù đã hơn mười giờ đêm rồi mà mẹ vẫn lái xe đi lên nhà ngoại để nói câu đó.

11. PV: Cảm động quá! Mẹ chỉ có một mình sư em, sư em đi tu rồi chắc mẹ buồn lắm nhỉ?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tuy mẹ biết đạo và ủng hộ sư em xuất gia nhưng mẹ buồn lắm. Ngoại và ông bà nội sư em còn buồn hơn nữa. Ông bà nội suốt ngày khóc và bắt mẹ phải đi đón sư em về. Có lần nội nhớ sư em quá nội khóc, mẹ cứ phải lên dỗ nội, sau đó mẹ về nhà và khóc một mình. Nội nằng nặc đòi mẹ phải đi đón sư em về cho nội. Mẹ không chịu, thế là nội bắt mẹ phải dẫn hai nội lên tu viện Bát Nhã đưa sư em về.

12. PV: Rồi hai nội có lên không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Dạ có, nhưng khi tới tu viện thấy sư em vui tươi, hạnh phúc quá lại thấy các sư cô ai cũng đẹp, ai cũng dễ thương nên nội rất thương các sư cô và chấp nhận cho sư em xuất gia. Nội nói, mấy ngày ở Bát Nhã nội rất yên tâm và mừng cho sư em khi được sống trong môi trường này.

13. PV: Sư em đi tu mọi người khóc dòng như vậy, thế lúc sư em sang Làng Mai mọi người có khóc nhiều như thế không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mọi người còn khóc nhiều hơn ấy chị ạ, vì ở tu viện Bát Nhã mọi người còn tới thăm em thường xuyên, chứ ở tận bên Pháp làm sao thăm em dễ dàng được

14. PV: Lúc sắp lên máy bay, sư em có khóc không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Dạ không, ai cũng khóc nhưng sư em chẳng khóc chút nào hết, sư em còn cười tươi là khác, sư em hát cho mọi người nghe hết bài này tới bài nọ. Nhưng… nhưng khi vừa vào nhà cách ly… là sư em… khóc bù lu bù loa ở trong đó.   

15. PV: Tội nghiệp quá. Sư em à, sư chị nghe nói hôm 01.06 mẹ có gửi quà cho sư em từ Việt Nam qua phải không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Hàng năm cứ tới ngày 01.06 là mẹ lại tặng quà cho sư em. Năm nay sư em nghĩ rằng ở xa chắc mẹ không gửi đâu, nhưng đúng ngày 01.06 sư em nhận được quà của mẹ chuyển fax nhanh từ Việt Nam, sư em mừng quá chạy đi khoe hết tất cả các sư chị.

16. PV: Mẹ gửi gì vậy?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ gửi cho sư em một… con búp bê màu hồng… hát nhạc rốc (PV bưng miệng cười) và một bức thư, cảm động lắm.

17. PV: Mẹ nói gì hả sư em?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ bảo: “Con yêu của mẹ, bao nhiêu ngày nay mẹ đã đi hết cả thành phố, nhưng tất cả các shopping đều đã đóng chặt cửa vì con gái của mẹ đã mặc chiếc áo màu nâu.

18. PV: Chà, cảm động thật, mẹ nói như thi sĩ ấy. Rồi sư em xử lý thế nào với con búp bê, vì theo thanh quy của tu viện các sư cô không được chơi búp bê?

Sư cô Tạng Nghiêm: Ngay tối hôm ấy sư em làm… lễ xuất gia cho nó.

19. PV: Hả?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tối hôm đấy, sư em với sư chị Liên Thanh làm lễ xuất gia cho nó. Chúng em đọc bài kệ: “Cạo sạch mái tóc. Nguyện cho mọi người. Dứt hết phiền não. Độ thoát cho đời.” rồi cạo tóc. Lúc cắt đi mớ vàng óng sư em cũng thấy hơi thương thương, nhưng khi chít chiếc khăn màu nâu lên thì nhìn búp bê hiền như một sư cô vậy. Sư chị Liên Thanh có một miếng vải nâu, thế là chúng em tháo chiếc váy màu hồng ra và may cho nó một chiếc áo nâu. Ôi, khi mặc áo nâu và chít khăn lên nhìn búp bê xinh đẹp, hiền dịu vô cùng.

20. PV: Thật tuyệt vời, thế đệ tử đầu lòng của sư em tên là gì?

Sư cô Tạng Nghiêm: Em không biết đặt tên là gì hết, hôm sau em hỏi các sư chị, thì sư chị Nhẫn Nghiêm nói, con gái Sư Ông thì ai cũng tên là Chân… Nghiêm, ví dụ như em là Chân Tạng Nghiêm, sư chị là Chân…

21. PV: Ấy, đừng có ví dụ sư chị, ví dụ người khác đi.

Sư cô Tạng Nghiêm: À, ví dụ sư chị Nhẫn Nghiêm là Chân Nhẫn Nghiêm, nên chị ấy đặt tên cho đệ tử của sư em là Cẳng Bê Nghiêm.

22. PV: Tên hay quá, hí… hí… Sư em có thể cho độc giả diện kiến đệ tử đầu lòng của sư em được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư chị cứ chọc sư em hoài, mọi người chả nhìn thấy từ nãy rồi còn gì?

23. PV: Ô, thì ra sư cháu của sư chị đây hả?

Kính thưa độc giả! Đây là sư bê Cẳng Bê Nghiêm. Sư bê thuộc thế hệ thứ 44 của dòng tu Lâm Tế, thứ 10 của phái Liễu Quán, là đệ tử đầu tiên của sadini Thích Nữ Chân Tạng Nghiêm.

Cảm ơn sư em đã trò chuyện với mọi người. Sư em trong sáng và thánh thiện lắm. Các sư anh, sư chị ai cũng thương sư em hết. Mỗi lần sư em tới chơi với ai là người đó đều được nuôi dưỡng bởi sư em. Thương chúc sư em tu tập tinh tấn, làm niềm hứng khởi cho các bạn trẻ biết tới con đường tâm linh ngày càng nhiều hơn.

Phỏng vấn Thầy Trung Hải về tình hình Bát Nhã

Gần 400 tăng sinh và giáo thọ theo Pháp Môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng bị cưỡng bức rời khỏi nơi tu học hồi ngày 27 tháng 9 vừa qua với lý do không được người trụ trì tại Bát Nhã bảo lãnh, nhưng sau đó được Thượng Tọa Thích Thái Thuận trụ trì Chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc cho tá túc.

Nhưng suốt thời gian qua vẫn bị phía chính quyền tỉnh Lâm Đồng, cũng như chính quyền nơi  quý thầy quý sư cô đăng ký thường trú gây áp lực buộc phải trở về quê quán.

Trong những ngày này, thầy Thích Trung Hải (hiện đang tu học tại Pháp) cùng những tăng sinh người ngoại quốc đã đến làm việc tại Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ở Geneva và Liên Hiệp Châu Âu tại Brussels kêu gọi can thiệp cho những tăng sinh Bát Nhã ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Gia Minh trao đổi với thầy Thích Trung Hải về vấn đề đó và những thông tin liên quan, mời quí thính giả theo dõi. Trước hết thầy Thích Trung Hải cho biết lý do tìm đến Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cùng Liên Minh Châu Âu

Thông cảm, can thiệp

Thầy Thích Trung Hải: Nhờ lời mời và sự sắp xếp của một số các thầy, các sư cô và một số vị tu sĩ thực tập theo Pháp Môn Làng Mai, mà người có quốc tịch nước ngoài, chúng tôi yêu cầu họ kiên nhẫn, chưa nhờ sự can thiệp vội của Cao ủy Nhân Quyền LHQ cũng như nước bạn, những nước có liên hệ trong công tác đối thoại với VN về vấn đề thương mại cũng như quan hệ quốc tế, gây nên một ý thức trong cộng đồng quốc tế để cho VN ý thức hơn, thận trọng hơn trong vấn đề giải quyết các tăng ni tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã, và bây giờ là tại chùa Phước Huệ. Cho tới bây giờ, khi các vị không còn kiên nhẫn nổi nữa thành ra quí vị phải đi tìm sự trợ giúp, bởi vì theo nhiều thông tin nhận được thì có nhiều sự đe dọa hơn vào cuối tháng 11 này. Một lý do khác là họ cũng thấy rằng các thầy, các sư cô tại tu viện Bát Nhã, những vị tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại đó cũng đã kiên nhẫn tới sức chịu đựng cuối cùng, và sức lực đã dùng hết trong 14 tháng vừa rồi dưới những áp lực thường trực của chính quyền địa phương cũng như sự không thông cảm, không thông hiểu của nhà nước. Vì vậy, hôm nay chúng tôi có mặt ở Geneva yêu cầu được sự thông cảm và sự can thiệp cũng như tiếng nói của những bạn bè quốc tế với chính quyền VN, để VN để trái tim của mình vào những việc này, bởi đó là con em của những người VN.

Gia Minh: Thầy đã gặp được những ai ở Cao Ủy LHQ, và trả lời của họ ra sao sau khi nhận được những trình bày của phía đại diện của các thầy?

Thầy Thích Trung Hải: Chúng tôi đã gặp được thư ký của chủ tịch Cao Ủy LHQ và qua văn phòng của Cao Ủy Nhân Quyền LHQ, chúng tôi cũng trình bày lại vấn đề của tu viện Bát Nhã và những người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại VN, cũng như đã trình bày trong một số văn thư gửi đi cho báo chí và chính quyền VN. Cao Ủy Nhân Quyền LHQ cũng đặt rất nhiều câu hỏi, và đó là những câu hỏi thực sự rất là thú vị. Những câu hỏi như tại sao VN có nhiều chùa, nhiều trung tâm mà chúng tôi lại bị tấn công trong khi những trung tâm khác thì không?

Sau khi chúng tôi trình bày lý do tại sao, thì đã gây được cảm hứng và sự đồng cảm rất mạnh nơi Cao Ủy Nhân Quyền LHQ. Đây chỉ là một trong khoảng 20 cuộc họp của chúng tôi tại Geneva mà thôi. Tại Brussels, chúng tôi được tiếp xúc khoảng hơn 20 nước có liên hệ hợp tác với VN, nước nào cũng bày tỏ sự đồng cảm và thương yêu, cũng như yêu cầu bảo vệ và trân trọng những người trẻ đang tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tạm trú tại chùa Phước Huệ sau thời gian gặp khó khăn tại tu viện Bát Nhã. Người nào cũng hứa sẽ tìm mọi cách để truyền thông với VN và cho VN hiểu rằng đó là một gia tài của đất nước VN. VN không những không nên đàn áp họ mà cần phải tìm cách bảo vệ và nâng đỡ họ để họ có thể sống trong hòa bình như họ đã từng sống. Để họ có thể cống hiến cuộc đời họ cho hạnh phúc của nước VN.

Gia Minh: Ngoài sự đồng cảm và những lời hứa chung chung như vậy thì đại diện của Cao Ủy LHQ cũng như các nước liên hệ có đưa ra những hoạt động gì cụ thể mà họ sẽ làm hay không?

Thầy Thích Trung Hải: Đã có rất nhiều giải pháp được đưa ra, và gần đây nhất là chủ tịch Cao Ủy về Nhân Quyền của Liên Minh Âu Châu ra một công văn gửi chính phủ VN, yêu cầu lập tức chấm dứt việc khủng bố và gây áp lực lên các người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai. Đó là từ phía Liên Minh Âu Châu, còn về phía Cao Ủy LHQ về nhân quyền thì thưa thật là chúng tôi chưa được phép nói ra. Theo lời hứa thì chúng tôi không được phép thông báo trước khi Cao Ủy đưa ra hành động gì. Chúng tôi tôn trọng lời hứa với Cao Ủy Nhân Quyền LHQ. Và các nước khác cũng vậy, nước nào cũng đang có một giải pháp rất cụ thể để giúp đỡ cho các thầy, các sư cô và những người theo học Pháp Môn Làng Mai tại đó. Chúng tôi cũng có hứa là để các nước sắp xếp với nhau, chúng tôi không được quyền thông báo trước. Bên cạnh việc làm có tính cách thông báo khẩn cấp của Cao Ủy Nhân Quyền Liên Minh Âu Châu thì thượng viện Hoa Kỳ, trong đó có 3 thượng nghị sĩ cũng có gửi một thông cáo tới chính phủ VN, yêu cầu giải quyết cho những người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại đó một cách ôn hòa và trân trọng. Chúng tôi cũng nhận được điện thoại của rất nhiều đại sứ các nước quốc tế tại VN yêu cầu chúng tôi cung cấp thông tin và cho họ biết họ có thể làm được gì để giúp đỡ chúng tôi, và chúng tôi cũng gửi lại một thông điệp rằng chúng tôi rất thương đất nước VN, thương con người VN và thương chính phủ của chúng tôi. Chúng tôi biết là quí vị đã cố gắng rất nhiều, nhưng có một điều chắc chắn là các vị chưa có đủ thông tin, các vị chưa đặt trái tim vào trong vấn đề giải quyết những người trẻ này. Vì vậy, đã có những quyết định và việc làm đi ngược lại với tinh thần đạo đức của dân tộc, đi ngược lại với truyền thống đạo đức tâm linh, những nét đẹp của văn hóa VN.

Việc đánh đập người tu, chà đạp lên những tu sĩ là chuyện mà những vị bạo chúa mới làm mà thôi, còn những vị lãnh đạo có trái tim và thương đất nước, thương văn hóa cổ truyền của VN thì sẽ không bao giờ làm điều đó. Nhất là đánh đập, chà đạp lên nhân phẩm và tính mạng của những người tu trẻ, những người tu hòa bình và bất bạo động. Đó là thông điệp mà chúng tôi muốn chuyển tới cho chính phủ của chúng tôi.

Tìm tri kỷ tu tập

Gia Minh: Được biết là Ban Tôn giáo Chính phủ của VN có chủ trương cho số tăng sinh đang tạm trú tại Chùa Phước Huệ được tiếp tục học tiếp cho đến cuối năm nay? Vậy Thầy thấy biện pháp đó có thể giải quyết vấn đề đến mức nào? Trước đây chính ông Bùi Hữu Dược, là người phụ trách về vấn đề Phật giáo của Ban Tôn Giáo chính phủ, trong trả lời phỏng vấn của Đài chúng tôi cho rằng cách thức giải quyết hợp tình hợp lý là các tăng sinh nên tìm một vị tri kỷ để tu tập thì đến nay Thầy thấy ra sao?

Thầy Thích Trung Hải: Vấn đề ở đây không phải là chọn một chỗ để ở cho những người đó theo cá nhân của họ. Vấn đề ở đây là khi chúng tôi đi tu thì chúng tôi muốn tu tập chung với nhau như những người thân trong một gia đình, bởi đó là cách hay nhất để chúng tôi đảm bảo nâng đỡ được cho nhau trong vấn đề tu học. Thử tưởng tượng một trường đại học mà yêu cầu các học viên phải đi tìm người thầy nào đó mình thích học để học, thì làm sao có thể học được chương trình và giúp nâng đỡ được các học viên trong học tập và nghiên cứu?

Chúng tôi là những người trẻ, chúng tôi cần có một môi trường tu học chung với nhau để có thể nâng đỡ và yểm trợ nhau trong vấn đề tu học và hành trì lời dạy của Đức Phật. Việc yêu cầu giải tán và ép buộc mỗi người chúng tôi phải tự đi kiếm một chỗ ở riêng cho mình, chẳng khác gì yêu cầu các học sinh phải tự về nhà kiếm một người thầy nào đó ở nhà quê để dạy theo kiểu giáo dục VN, giáo dục thế giới cách đây mấy trăm năm trước. Đó là việc chống lại sự tiến bộ của giáo dục, chống lại sự tiến bộ của xã hội. Tôi tin là nếu như ông Bùi Hữu Dược và chính quyền VN để trái tim họ vào vấn đề này, thì họ sẽ biết được cách làm việc đó là đi ngược lại với sự tiến hóa và sự tiến bộ của giáo dục. Chúng không có lợi mà có hại rất nhiều vì gây sự hoang mang và mất niềm tin nơi những người trẻ vào chính phủ của họ, vào những người lãnh đạo của họ, hơn là làm cho họ cảm phục. Chúng tôi không muốn tranh đấu cho bất cứ một chủ thuyết hay lý tưởng nào hết, chúng tôi chỉ muốn người lãnh đạo của chúng tôi hiểu rằng, chúng tôi là những người trẻ lớn lên ở đất nước VN sau chiến tranh, chúng tôi biết phần đóng góp của mình là phần đóng góp tạo ra một VN ổn định mà ở đó, con người biết thương nhau, hiểu nhau và thông cảm cho nhau, không còn nghi kỵ, đánh đập và tàn ác với nhau như trong chiến tranh. Chúng tôi đã sống cuộc đời đó để hiểu nhau, thương nhau và tu tập với nhau. Chúng tôi rất cảm phục và trân trọng những cố gắng của chính phủ để phát triển kinh tế và quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới. Chúng tôi muốn đóng góp phần nhỏ là tự thân mình trở thành những con người hòa bình, những con người biết thương nhau, chấp nhận nhau như trong một gia đình. Gia đình là nền tảng của hạnh phúc xã hội, chúng tôi đóng góp những việc làm nho nhỏ để hỗ trợ cho nền an ninh của VN.

Đóng cửa dạy nhau

Gia Minh: Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi thư cho ông Chủ tịch nước VN dưới một tên khác, rồi thỉnh nguyện thư do một số nhân sĩ trí thức đã gửi đi được hồi âm ra sao, thưa Thầy?

Thầy Thích Trung Hải: Khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh ký tên GS Nguyễn Lang, một giáo sư sử học, để gửi thư ngỏ cho ngài Chủ tịch nước, cũng như gửi thư ngỏ cho giới nhân sĩ trí thức trong nước yêu cầu đứng ra nâng đỡ và bảo vệ những con em của họ, những người con ưu tú của đất nước đã dám bỏ cuộc đời của mình để sống đạm bạc, an lành như vậy, thì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và những vị nhân sĩ trí thức đang làm đúng vai trò của bậc ông cha, của người đi trước trong vấn đề dẫn dắt nền tảng đạo đức của dân tộc. Theo tôi hiểu, sở dĩ Thiền Sư Thích Nhất Hạnh không đứng tên mình, một nhân vật quốc tế, để làm việc này là có dụng ý muốn giữa những người VN giải quyết vấn đề trong trình tự dân tộc với nhau. Tại sao chúng ta chưa cố gắng làm việc chung với nhau mà lại đi kêu với bạn bè quốc tế?

Truyền thống VN là “đóng cửa dạy nhau”, khi nào trong nhà không nói chuyện được với nhau mới nhờ tới chú bác, hàng xóm. Vì thế, chúng tôi đã cố gắng làm tất cả để có thể truyền thông, có thể đánh thức sự cảm thông nơi những con người VN với nhau. Trong hơn một năm qua chúng tôi đã cố gắng rất nhiều để làm những việc này, và như anh thấy, hiệu quả thì có nhưng chưa thực sự đủ tin cậy để bảo vệ tính mạng, sự an nguy và lý tưởng của những người trẻ này. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đi Brussels, đi Geneva để mong thức dậy lương tâm của bạn bè quốc tế, để những người trẻ này được an lành.

Theo như câu hỏi của anh thì khi viết thư cho ngài Chủ tịch nước với tư cách của một giáo sư sử học, Thầy của chúng tôi cũng muốn nhắc nhở ngài Chủ tịch nước rằng đây là một bước ngoặc của lịch sử VN. Đây không chỉ là bước ngoặc về chính trị và lịch sử, mà đây là lúc chúng ta cần vực dậy nền đạo đức tâm linh của dân tộc đã bị mai một rất nhiều trong chiến tranh, trong thời gian đất nước hỗn loạn và kinh tế gặp nhiều khó khăn. Bây giờ đất nước ổn định rồi, chúng ta cần xây dựng lại nền đạo đức tâm linh để làm nền tảng và thêm niềm tin cho người trẻ. Làm nền tảng cho sự phát triển và hạnh phúc của đồng bào trong đất nước của chúng ta. Khi một đất nước chỉ phát triển về kinh tế mà không phát triển về đạo đức tâm linh thì sự phát triển đó sẽ không ổn định. Một gia đình có thu nhập cao và những con người trong nhà sống có đạo đức, hạnh phúc và thương yêu nhau, thì đó là một viễn tượng rất đẹp mà những người trẻ chúng tôi muốn xây dựng, muốn đóng góp và muốn sống một cuộc đời như vậy.

Gia Minh: Cám ơn Thầy về những thông tin mới nhất cũng như những chia sẻ trong cuộc nói chuyện vừa rồi.