Phỏng vấn Thượng Tọa Lệ Trang

 

Thượng tọa Lệ Trang xuất gia từ năm 1973 với Hòa thượng Vĩnh Đạt tại chùa Hương, Sa-Đéc, Đồng Tháp. Hiện nay, Thượng tọa đang trụ trì chùa Định Thành, TP. HCM. Thượng tọa là Thầy chủ sám trong Đại trai đàn chẩn tế tại chùa Vĩnh Nghiêm (SG) trong chuyến về Việt Nam năm 2007 vừa qua của Sư Ông và Tăng thân Làng Mai. Thượng tọa cũng là người đầu tiên ở Việt Nam đưa kinh Nhật Tụng Thiền Môn 2000 vào thời công phu chiều để hành trì tại chùa Viên Giác. Khóa tu mùa đông 2007 – 2008 vừa qua, Thượng tọa đã về Làng tu học với Sư Ông cùng đại chúng và Thượng tọa đã hướng dẫn vài nét về nghi lễ, cách thức tán tụng theo nghi thức miền Nam cho đại chúng Làng Mai. Thượng tọa là một người vui tính và dễ gần gũi nên rất được đại chúng Làng Mai thương kính. Để hiểu rõ thêm về Thượng tọa cũng như về nghi lễ miền Nam, xin mời các bạn cùng theo dõi phần phỏng vấn dưới đây:

tt.le_trang.jpg1. Kính thưa Thượng tọa, trong cuộc đời xuất gia, Thượng tọa đã từng gặp Ma Lăng Già chưa? Làm thế nào Thượng tọa khắc phục Ma Lăng Già?

Thượng tọa trả lời: (Cười) Khi nói đến Ma Lăng Già, chúng ta nhớ đến chuyện Lăng Nghiêm, Ngài Tôn Giả A Nan bị chú thuật của Ca Tỳ Ma La Phạm Thiên nên Ngài mất chánh niệm và bị năng lực đó lôi đi. Sau khi được đức Phật dạy Ngài Văn Thù đến cứu, Ngài trở về và đã được đức Phật khai thị. Sau này, mỗi khi đề cập đến câu chuyện đó, Tăng Ni bao giờ cũng hỏi về vấn đề Ma Lăng Già. Thực ra mà nói, ma có hai nghĩa:

Nghĩa thứ nhất nói về sắc ma, tức là nam nữ. Và nghĩa thứ hai là: ma ngũ ấm, ma phiền não, tử ma, thiên ma. Nếu nói trong cuộc đời của tôi mà không có thì không đúng, có nhiều lắm nhưng cũng may là chỉ có một lần thôi. Có một lần nọ, anh nhà báo hỏi tôi: “Thầy đi xuất gia, nghe đâu đời sống xuất gia trong Tu viện không có gia đình. Xin hỏi Thầy, Thầy cũng như bao con người khác, về trường hợp nhu cầu sinh lý thì các thầy phải xử lý như thế nào?” Khi mình có mặt trên cõi đời này, mang thân xác này thì trời đã phú cho mình những khả năng làm cha, làm chồng và mình cũng có tâm sinh lý như bao người khác. Cũng may là chúng tôi ở chùa, chúng tôi được học giáo lý của đức Phật, chúng tôi có lý tưởng. Nghĩa là, nếu mình quan hệ, mình sinh hoạt như cuộc sống thế gian thì điều đó sẽ trói buộc mình. Như vậy, bao nhiêu lý tưởng tươi đẹp, bao nhiêu hạnh nguyện độ sanh đó rốt cuộc chỉ độ được một người. Những hạnh nguyện đẹp đó không còn khả năng để làm những công việc mà tâm nguyện chúng tôi muốn làm. Chính lý tưởng đó hướng chúng tôi đi và chúng tôi không kẹt lại ở vấn đề như cuộc sống thế gian. Chúng tôi chuyển hóa những sinh lực đó bằng cách tập trung vào sự tu tập và năng lực đó được chuyển hóa thành trí tuệ. Nếu như suốt ngày chúng ta chỉ ngồi đó than mây với gió, chỉ nghĩ đến tóc dài tóc ngắn thì nhiều khi sẽ bị nó thôi thúc, rồi dục hỏa sẽ làm chảy tan tinh túy của con người. Mình dùng công phu tu tập không dừng lại một chỗ mà còn chuyển hóa nó, chuyển hóa thành trí tuệ. Đem năng lực đó cống hiến cho đời mà trước tiên là chuyển hóa cuộc sống của mình, nhờ vậy mà mình vượt qua được. Nếu hỏi có Ma Lăng Già không, thì câu trả lời là có, có thể họ thương mình, thư từ chưa nhận được nhưng không biết trong ánh mắt có gởi gắm gì hay không ? Chắc có, chứ không phải không. Nếu chúng ta trụ lại ở hai chiều thì chết. Vì vậy mình không trụ lại, mình sẽ vượt qua. 
 

Trường hợp ma thứ hai, (ma tiếng Phạn là mala), có nghĩa là những cái gì làm cho pháp lành của mình bị khựng lại, không tăng trưởng được. Cái đó gọi là ma. Ví dụ: Đến giờ ngồi thiền nhưng còn muốn nướng cho vàng, cái đó là ma. Nghe chuông thức chúng mà chưa chịu đi, cho đến khi tới giờ vác áo chạy, đó cũng là ma. Muốn làm việc gì cao đẹp nhưng bị việc chung quanh làm cho ta bỏ đi không thực hiện được, cái đó cũng là ma.

Ngạ quỷ là một chúng sanh, do nghiệp của họ tạo tác bất thiện nên họ phải đến một cảnh giới thấp hèn, đau khổ. Trong cuộc sống hàng ngày, nếu ta có pháp nhãn, tuệ nhãn ta sẽ nhìn thấy họ đang ở chung quanh mình, họ đang ngồi đây, họ có mặt trong cuộc sống của mình. Thánh phàm đồng cư, thành phần lẫn lộn, chẳng qua mình và họ hai nghiệp khác nhau, không vướng mắc nhau nên mình không tiếp chạm, không thấy mà thôi. Lúc nhỏ tôi rất sợ ma nhưng nhờ tu học thì mình có thể thấy và hiểu, nên tự nhiên thấy ma là một chúng sanh đáng thương hơn là đáng sợ hãi. Vì họ khổ nên khi họ thấy mình vui, họ không bao giờ để cho mình yên ổn. Có một ngôi chùa ở Việt Nam nhờ tôi lập đàn chẩn tế dùm. Mấy sư cô trong chùa tối ngủ bị kéo chân và bị hất xuống. Tôi hỏi qua, các sư cô nơi đó cho biết mỗi buổi chiều đều có cúng thí thực nhưng công việc đó giao cho mấy chú tiểu làm. Tôi nói: “Nếu tôi đến giúp cho Ni sư cũng được nhưng Ni sư hiểu cho là chẩn tế cũng giống như ăn cỗ, còn thí thực hàng ngày giống như ăn cháo húp. Nếu chỉ ăn được một bữa cỗ no nê, sau đó nhịn đói ba năm rồi mới được ăn nữa thì không ai chịu hết. Chẳng thà mỗi ngày có tô cháo húp mà no. Bây giờ, Ni sư chuyển cách cúng thí đó lại. Không ai bắt mình làm, không ai bắt mình phụng sự nhưng ta làm bằng tình thương. Khi đọc một câu chú, hay một bài kệ bằng tất cả tình thương, bằng tâm của mình, lúc đó mới có đạo lực chuyển hóa được. Nếu các vị coi thường thì sẽ bị họ phá cho nên các vị nên coi lại cách cúng của mình thì sẽ yên.” Và sau đó, không biết có yên hay không mà không thấy họ đến mời tôi nữa. Do đó, đối với vấn đề sợ ma thì mình nên giữ tâm thật tĩnh, vấn đề là ta tiếp xúc với họ bằng nguyện lực chứ không phải bằng nghiệp lực. Nếu tâm mình có Phật, Phật sẽ hiện ra, ngược lại nếu tâm mình có ma thì ma sẽ hiện lên. Vì vậy, không thể phủ nhận thuyết chết là hết nhưng có thể họ ở cảnh khác, cõi giới khác đau khổ hơn. Cho nên đừng sợ ma, chỉ sợ mình không đủ đạo lực giúp cho họ. Họ đến thật ra không phải để nhát mình, còn nếu có là do mình “tự kỷ ám thị”. Có câu chuyện ở miền Tây, có ông cố đi chơi về được người ta cho một nải chuối chín. Ông vác trên cây gậy, kéo lon ton đằng sau. Ông cứ nghĩ ai đi đằng sau, càng về khuya ông lật đật vừa đi vừa sợ, về tới nhà nhánh chuối rụng hết chỉ còn cái cùi. Đó là do nhiều khi tự mình nghĩ như vậy, mình hốt hoảng, mình thấy ngọn tre, mấy tàu lá chuối mà tưởng đó là ma.

2. Xin Thượng tọa chia sẻ làm sao có thể luyện giọng trong khi đọc kinh, tán tụng mà không bị đứt hơi?

Thượng tọa trả lời: Thật ra, trước giờ chưa ai dạy tôi điều đó. Mấy thầy lớn chỉ dạy tán như vậy, để hơi cho thật già dặn, nói theo cách miền Nam: “Để cho nó có góc, có cạnh, để hơi thật là già.” Nhưng theo tôi, hằng ngày mình phải hành trì luyện tập hơi thở thật sâu và thật đều. Đó là một cách luyện cho mình có chất giọng khi tụng kinh hoặc tán.

3. Làm sao để lập trình cho mình một thời khóa tu tập?

Thượng tọa trả lời: Đối với quý thầy, quý sư cô còn trẻ hay mới tập sự nên nương tựa vào y chỉ sư, cho dù mình đã thọ giới khất sĩ rồi cũng phải theo Thầy học hỏi. Theo Thầy để học luật, học những uy nghi, những điều hiểu biết mà những điều hiểu biết đó được rút từ kinh nghiệm của Thầy truyền trao. Đến một lúc nào đó, mình tự vỗ cánh bay, những hình ảnh sinh hoạt của Thầy đã ấn tượng sâu vào trong tâm thức của mình. Lúc đó, những điều gì Thầy đã truyền trao trước đây mình nên đem ra ứng dụng. Cho nên, thời khóa mình không chủ động được. Ở Việt Nam, thời khóa khác hơn so với Làng Mai. Từ ngày tôi qua bên đây đến nay đã được 28 ngày. Thật sự mà nói, tôi thấy mình thảnh thơi, hay nói vô sự thì đúng hơn. Tại vì, chúng ta không bị chi phối bởi những công việc phải giúp đỡ, phải đáp ứng cho tín đồ hay cá nhân của họ, nếu có chăng là do sinh hoạt của đại chúng hay do những khóa tu. Còn bên kia, mới chuẩn bị lạy Phật thì có một chú đến thưa: “Bạch thầy! Bà Hai vừa mới mất, nhờ thầy coi dùm ngày nhập quan.” Rồi nếu mình nói: “Thôi! Thầy bận tụng kinh” thì coi sao được. Mới hôm qua bà cúng dường bao gạo, cho nên mình không thể nào từ chối được. Cho nên, gấp y lại, coi ngày, rồi đi nhập quan. Nếu mình không suy nghĩ kỹ, mình cũng sinh ra bực bội cho thời gian của mình. Xét cho cùng: “Ăn cơm chúa thì múa tối ngày.” Những cung phi mỹ nữ trong cung được vua cho nào là phấn, son, áo quần… Nhưng vua nói: “Múa” thì ta phải múa. Do đó, ăn cơm của tín thí, ta không thể nào nói “Thôi!” Đây là nói về sinh hoạt ở Việt Nam. Vì vậy, nếu ta không biết điều chỉnh cho chính mình thì giống như người đếm tiền suốt ngày trong ngân hàng, tiền nhiều lắm nhưng về nhà phải lo tự chạy gạo mà ăn. Như nhơn sổ tha bảo, kỷ vô bán phân tiền, cũng như đếm của báo cho người khác, bản thân mình không có đến một xu. Như vậy, chúng ta phải làm sao? Chúng ta phải quân bình mọi thời gian đều là khóa tu của mình. Nhựt nhựt thị hảo nhật, thời thời thị hảo thời. Giờ nào, ngày nào, công việc gì cũng là thời khóa của chúng ta. Tụng kinh cũng ở trong chánh niệm, lạy Phật cũng ở trong chánh niệm. Nếu có tiếp khách cũng tiếp khách trong chánh niệm, mang chuông mõ đi đám cũng trong chánh niệm. Được như vậy, tôi nghĩ công việc đó không phải là của người ta mà cũng là công việc của chính mình. Do đó mình sẽ được an lạc, vì người ta hết khổ mình mới ăn cơm được. Cái khổ của người ta mà mình dửng dưng thì coi không được, nhất là nói: “Pháp môn xin nguyện học. Ân nghĩa xin nguyện đền. Phiền não xin nguyện đoạn. Quả Bụt xin chứng nên.” Chúng ta làm sao đem đạo lý tỉnh thức thắp sáng hiện hữu, tạo nên định lực, đưa đến tuệ giác. Từ nền tảng đó mà làm việc và tu tập thì sẽ thành công.
 

4. Trên con đường xuất gia của mình, Thượng tọa đã gặp những chướng duyên nào?

Thượng tọa trả lời: Trong kinh có nói một câu: “Vô ma chướng bất thành đại đạo.” Mình học tập, mình tu trì chưa biết đạo lực thâm hậu như thế nào, cao sâu như thế nào, nhiều khi gặp những chướng duyên như vậy để mình có cơ hội nhìn lại mình. Nhưng nên nhớ đừng đi tìm chướng duyên, đừng đi tìm nghịch cảnh. Phải chuẩn bị đạo lực, luyện tập nội công cho hùng hậu để một khi nghiệp duyên, chướng duyên đến thì mình có khả năng đối trị mà không xa lánh, không kỳ thị, không có cái nhìn cục bộ, cho đó là đối tượng làm mình khổ. Điều này trong kinh đức Phật nói: “Người nữ lớn hơn mình, mình coi đó là mẹ của mình, là chị của mình, là em gái của mình, mình sẽ thấy an lạc.” Nếu như phải gần gũi để giúp đỡ, việc làm đó rất thánh thiện. Nếu mình nhìn đối tượng đó một cách vẩn đục thì không được. Nếu thỉnh thoảng nó vẫn còn lóe lên thì mình nên tìm cách an trú trở lại nơi giới pháp của mình, hải đảo của chính mình, giới luật của mình. Hằng ngày tu học là để chế tác thêm nhiều đạo lực. Khi tiếp xúc với đối duyên hằng ngày thì đạo lực, tuệ giác sẽ giữ mình, nhờ vậy mình sẽ vượt qua được. Nhưng phải nỗ lực tu tập để có nhiều phước đức, nhiều trí tuệ. Cũng một bước đi như vậy mà các sư anh, sư chị đi qua an toàn nhưng đến mình đi thì trượt. Nếu nói cố ý thì cũng có, nhưng nên nghĩ là phúc của mình mỏng, nghiệp của mình dày nên bị trượt. Vì vậy, những thời khóa cho chính mình là thực tập thiền quán. Ngoài những thời khóa của đại chúng mình nên thiền quán thêm. Nếu các vị tu theo những pháp môn khác, đọc kinh lạy Phật, đó là những giây phút mình chế tác ra nhiều công đức. Chính cái phúc, cái đức đó giống như là áo giáp giúp cho mình, bao bọc lấy mình. Cho nên, đường gươm mũi đạn không đụng được đến thân mình, nó chỉ xước qua áo thôi. Thành ra “đa thiện căn đa phúc đức”. Điều này, mình phải nỗ lực tu tập, được như vậy tôi nghĩ chúng ta sẽ đi qua và đi đến trọn cuộc đời. Vấn đề là mình đừng sợ nó, mình phải đối diện. Hồi tôi khoảng hai mươi mấy tuổi, có một “cô”, không biết thích thiệt không! Nhưng thỉnh thoảng hay đến cho tôi khúc vải may áo. Thật sự lúc đó tôi nhát lắm. Hòa thượng ở nhà – Thầy tôi – giữ kẽ lắm, đi đâu cũng không cho đi, do đó tôi không dám lấy, muốn gì phải lên bạch với Thầy, lúc đó mới được nhận. Nhưng không biết họ có ý tứ gì không, chắc hình như có. Trong mấy chú ở chung, họ thấy cô đó đặc biệt, chăm sóc mình nhiều hơn. Nếu mình thấy sung sướng nhiều thì bị cái đó nhận chìm. Mình không chạy theo danh thì danh không hại mình, lợi cũng không nhận chìm. Vì vậy đừng bao giờ tự tin mình. Đức Phật dạy: “Các thầy đừng bao giờ tự tin mình, khi nào đã chứng quả A La Hán lúc đó mới dám tự tin mình.” Có nghĩa là mình tu tập chưa đi đến đâu mà mình tự thị, cho đó là xong, rồi mình xông pha nhiều, trong khi đạo lực mình chưa có thì rất nguy hiểm. Cho nên sinh hoạt với đại chúng, đi đâu cũng phải đi với Tăng thân. Các thầy giữ cho mình, mình giữ cho các thầy. Tôi thường dạy các chú ở nhà: “Ở đây, tôi giữ cho mấy chú, nhưng thật sự mấy chú giữ cho tôi.” Do đó, nếu có tiếp khách, chú thị giả phải ở bên cạnh, không nên tiếp khách một mình. Thứ nhất là để nhờ việc, nếu họ xin cuốn kinh thì mình đâu thể nói: “Ngồi đây nghen, để tôi chạy vô lấy.” Và thứ hai là để bảo hộ cho nhau. Thành ra, thầy nương trò, trò nương thầy. Chính vì vậy mà giờ này tôi còn ngồi ở đây, còn giữ được chiếc áo này. Còn nhiều khó khăn khác nữa, chi tiết lắm, mỗi người tự cảm nhận.

5. Thưa Thượng tọa, trong sự tu tập, làm sao mình vừa trì giới, vừa giữ uy nghi mà vẫn giữ được hồn nhiên, tươi trẻ, đó không phải là hai việc khác nhau, chống đối nhau? Trong sự trì giới mình vẫn có được sự liên hệ giữa bạn đồng tu với nhau hay giữa người tại gia và người xuất gia. Ví dụ:Như khi con được chứng kiến những buổi đại trai đàn chẩn tế,Thượng tọa luôn chú tâm vào những việc mình đang làm, Thượng tọa không phung phí một cái nhìn, dù là một lời nói mà tất cả Thượng tọa đều chú tâm vào đó. Đó là công phu, định lực Thượng tọa chế tác mỗi ngày sao cho nó nuôi dưỡng mình và những người khác mà không trở nên căng thẳng hay nghiêm trọng. Có những người trẻ cũng muốn đi con đường này nhưng nếu nó khó quá, làm sao Thượng tọa có được sự tiếp nối.

Thượng tọa trả lời: Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Đức Lục Tổ có nói: “Tâm tịnh hà lao trì giới, tánh định bất đải tu thiền.” Vì tâm mình không tịnh, nó như con ngựa, con khỉ. Nó cứ rong ruổi ngoài đồng, nó cứ phan duyên, nhíu nhánh cho nên phải tìm phương tiện khống chế nó. Đầu tiên tạm gọi là khống chế nó. Các Tổ lập thanh quy, đức Phật chế giới luật cũng không ngoài ý nghĩa đó, là để cho tâm tịnh lại. Nếu lúc nào tâm mình tịnh thì không cần phải nhập trì giới; tánh định rồi thì không cần phải tọa thiền. Như vậy, tọa thiền để tâm mình lắng yên và làm chủ được nó. Mình thấy được những gì mầu nhiệm đang có mặt trong cuộc sống của mình. Nhờ giới đưa mình vào quỹ đạo của Bụt. Nếu mình không lăng xăng thì những bước chân đã trì giới rồi. Trì như thế nào để thấy mình không trì, niệm đến lúc thấy mình không có niệm, không có trì; mình là nó, nó là mình. Mình sống với nó, chính nó, bằng nó cho nên mình không có cái gì khó chịu. Trì giới không có nghĩa là xa cách đại chúng, trở thành người khô khan. Mình tu học sao cho mình dễ thương. Không biết mấy bữa nay tôi qua đây có dễ thương hay không nhưng mà tôi rất sợ bị dễ ghét. (Cười) Mình trì giới không phải là cách ly với đại chúng, mình cô lập hóa mình, không phải vậy đâu. Mình trì giới với đại chúng để những lời nói, ý nghĩ, hành động không còn bị lửa phiền não thiêu đốt. Cho nên “Giới” còn được dịch là Ca Thi La, còn gọi là Biệt Giải Thoát. Mình hiểu nhau nên trong lời nói không còn vướng mắc hay hiểu lầm. Như vậy trong lời nói của mình là giới rồi. Hiểu như vậy, dù cho có bao nhiêu giới, dù cho mình không thuộc lòng số mục của giới nhưng tự nhiên tất cả những sinh hoạt của mình đã đi vào giới.
Trong trai đàn phải làm việc như vậy thôi, nhưng những việc đó cũng từ nền tảng của công phu tu tập. Hiểu được như vậy mình sẽ không ràng buộc vào hình thức. Cái sợ nhất của người tu học là mình để sự tu học đó làm khổ mình. Ví dụ có cặp vợ chồng nọ ở Mỹ, hôm anh chồng về chùa thăm và nói chuyện với tôi. Anh ấy hỏi một câu: “Không biết trong Phật giáo có cách tu như thế nào và dạy dỗ như thế nào, mà từ khi vợ con đi chùa cho đến nay không làm tròn trách nhiệm với con? Đến chùa lúc nào cũng thầy, cái gì cũng thầy nhưng về nhà thì bỏ bê việc gia đình nên con rất buồn. Chúng con sống hạnh phúc từ khi gặp nhau cho đến bây giờ, con cái cũng đã lớn. Nhưng thời gian sau này, từ khi đi chùa đến nay con thấy vợ con làm sao đó”. Tôi nói: “Thôi được, anh cho tôi gặp vợ anh, có một buổi nói chuyện riêng, rồi sau đó tôi sẽ gặp hai người.” Thế là tôi nói chuyện với cô đó một buổi. Tôi nói: “Thật ra, mình đi tu là để làm sao cho bản thân mình dễ thương và về nhà, chồng thấy mình là một người vợ đảm đương hơn, con cái thấy mình trở thành một người mẹ mẫu mực hơn. Tự lợi và lợi tha, mình phải Phật hóa mình trước. Vai trò của cô, trách nhiệm của cô là phải cùng tu với anh ấy. Nếu cô chỉ tu một mình thôi thì cô không có bạn đồng hành. Cô về nhà thì dù đến giờ tụng kinh, ông chồng mà không chịu thì cô cũng không nên tụng. Khi nào cô xuất gia, đời sống của cô sẽ khác đi, còn ở tại gia thì đời sống khác. Cô phải làm thế nào để điều phối lại cho quân bình. Bổn phận, nghiệp duyên của mình còn phải chăm sóc, lo lắng nên mình không thể nào làm khác đi. Mình trốn nó thì cũng giống như sợ cái bóng mà mình cứ chạy ngoài nắng hoài thì không thể nào mất cái bóng đó”. Sau khi nói chuyện xong, tôi có dẫn năm giới của Sư Ông đưa vào. Mấy bữa sau, hai người lên gặp tôi và chia sẻ: “Mấy ngày nay tụi con sống với nhau rất hạnh phúc. Con và cô ấy cùng tụng kinh, chứ mấy ngày trước chỉ có một mình vợ con tụng thôi”. Thành ra, chẩn tế cũng là một công việc. Nếu hiểu theo nghề nghiệp, nghề đi cúng, thì chẩn tế cũng là một công việc, nhưng nếu đứng về hạnh tu nó cũng là một công phu. Tại vì hằng ngày mình cũng phải làm công việc tu tập để có khả năng chuyển hóa mình và giúp cho người khác. Trai đàn chẩn tế cũng vậy, nếu hiểu theo nghĩa Nôm, giống như tu tập hàng ngày, như mình ăn cơm ba bữa hằng ngày nhưng trai đàn giống như ăn cỗ vậy thôi. Nó không khác nhau ở hình thức nhưng nội dung phải làm sao cho tốt. Vì vậy trong vấn đề trì giới và làm Phật sự, không có cái gì khác nhau, phải từ nền tảng đó mà làm.

6. Xin Thượng tọa bật mí làm sao trong buổi lễ đại trai đàn chẩn tế, Thượng tọa đã thuyết phục được Sư Ông mặc áo gấm?

Thượng tọa trả lời: Thật ra, khi thấy Sư Ông mặc, tôi rất cảm động. Sư Ông thương mấy anh em mà Sư Ông chiều theo. Thật sự, Sư Ông đã đạt đến cái nhìn cao lắm, làm, nhưng mà không vướng vào đó. Sư Ông mặc, quý thầy mặc, tôi cũng mặc ,cho dù nhiều khi mình không thích. Sư Ông mặc rồi thì Sư Ông vẫn là Sư Ông, không dính líu gì đến cúng hết. Đó là Pháp Y của nghi lễ. Do vậy tôi kính Sư Ông từ chỗ đó.

7. Lúc Thượng tọa mời những vong linh về dự trai đàn, những linh hồn không nơi nương tựa, không mồ mả, không thân nhân, chỉ là một mớ xương. Vậy khi xong lễ, Thượng tọa mời họ đi, họ đi đâu? Giả sử, họ về dự đàn tràng Vĩnh Nghiêm rồi, vậy đàn tràng ở Huế hay miền Bắc, họ có còn tới nữa hay không?

Thượng tọa trả lời: Hôm nay là thứ Năm, đến Chủ Nhật tôi sẽ về lại Việt Nam, tôi cũng lưu luyến lắm! Tôi lưu luyến như thế này: Hễ mà về Việt Nam, chỗ nào có ‘hơi hướng’ của Làng Mai, tự nhiên cuốn hút tôi đến. Thực ra, đứng về sự tướng mà nói, như hôm tuần trước, Sư Ông giảng kinh Hoa Nghiêm có nói về phần tục vọng, tức là đứng về mặt tương đối mà nói, chúng ta thấy có người tu tập, giác ngộ, an lạc, giải thoát. Cũng có những người không tu tập, phải đọa lạc đau khổ, cho nên cái sự thật tương đối này có oan hồn. Có những người đang lầm lũi trong bóng tối, đang bị không ai thừa nhận, không ai đoái hoài, không có kẻ hương khói nên mình gọi là cô hồn.

Còn tổ tiên là hương hồn tức có hương khói đàng hoàng. Ở trường hợp này, ta dùng tâm từ bi để nghĩ đến họ. Một khi mình nghĩ đến họ là họ đã có mặt. Tuy âm dương u huyễn nan thông nhiên Phật lực đề huề cự chí, dù âm dương có cách trở khó thông nhưng mình chỉ cần nương theo lời thề của đức Thế Tôn, của chư vị Bồ tát. Mình cũng nương vào bản thể đó để phát khởi tình thương và nghĩ đến họ. Mọi người trong pháp hội cũng nghĩ đến họ và năng lực đó lan tỏa trong khắp pháp giới. Họ cũng từ trong thể tính pháp giới đó mà mê lầm, đau khổ. Cho nên chỉ cần cảm ứng không mất thời gian, không tốn tiền vé, không có trải qua thời gian nhưng họ vẫn tiếp nhận được.

Ví dụ như trong buổi ăn cơm quá đường hôm nay, Sư Ông chỉ cần đọc tên cầu an hoặc cầu siêu lên như vậy thôi mà đại chúng lắng nghe bằng từ tâm thì đâu cần phải đem năng lượng đó chuyển máy bay để chạy về Việt Nam đến chỗ đó, mà ngay lúc đó họ vẫn cảm ứng với nhau. Cũng từ thể tính pháp giới đó mà chúng ta triệu họ đến, rồi cũng từ thể tính pháp giới đó họ trở về. Do đó, đứng về Sự mà nói, có đến có đi nhưng đứng về Lý mà nói thì không đi đâu cả. “Tích nhật như thị lai, kim triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Đó là một bài pháp ngữ khai thị khi một vị Tăng viên tịch. Theo nghi lễ truyền thống Việt Nam, cần thỉnh một vị Thượng tọa chứng minh trước khi chuyển cửu. Hòa thượng đó cầm cây phất trần, đứng ở đầu quan tài và nói: “Lão thiện ông kim hữu đồng tông, pháp hữu vô vi liêu tạm tống biệt nhất ngôn. Duy nguyện lão thiền ông mặc nhiên, tịch tính thụ phấn triệt.” Bắt đầu cầm lại: “Tích nhật như thị lai, kim nhật triêu như thị khứ. Lai khứ tự như như, bất giả như lai xứ.” Nghĩa là: Ngày xưa thầy đến đây như thế nào thì ngày nay thầy về lại như thế ấy. Đến và đi không cần mượn chỗ của Như Lai, tự tại là như vậy. Dù thầy không phải bước, không phải mượn nhưng mà những bước chân của thầy bước là đang đi vào cảnh giới của Bụt, của Thế Tôn.

Khi chúng ta mời họ đến không phải là để uống trà chơi mà chúng ta mời họ đến để tâm sự. Các vị thấy bài khấn nguyện của Sư Ông, bài đó rất thâm thúy. Chính vì không ai nói lên, nên làm cho người ta vẫn ngộ nhận, người ta cố chấp và vướng mắc, nhìn nhau không có thiện cảm, đùng, một tiếng chuông cảnh dương gióng lên để người ta thấy sự thật phải như vậy. Biết rằng bầu và bí có thể leo chung một giàn; gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau. Đại khái lời khấn nguyện của Sư Ông cũng giống như trong khoa giáo. Tức là mời họ đến để khai thị cho họ thấy rõ nguyên nhân mà các vị phải chịu đau khổ, đọa lạc. Mình chỉ cho họ một hướng đi, họ đi theo con đường này sẽ được an lạc và giải thoát. Như vậy là họ có đường đi, dù họ đi đâu đi nữa nhưng sự an lạc, giải thoát, ấm cúng vẫn có mặt, vì họ đã có khả năng tạo cho mình một thế giới Tịnh Độ. Họ có khả năng tạo cho họ một cảnh giới an lạc.

Cho nên: “Tín tâm tạo nghiệp như vân ế nhật, hậu tâm khai minh như chúc trừ ám.” Nghĩa là: Tâm niệm trước đã tạo tác những vọng động, những nhân tố xấu xa, bất thiện giống như mây che mặt trời. Nhưng nếu một tâm niệm sau biết giác ngộ, chuyển hóa được nó, cũng giống như thắp lên một ngọn đuốc và bóng tối biến mất. Họ có con đường để đi, chúng ta không cần chỉ dẫn nữa. Cho nên, về Lý và Sự, chúng ta thấy có đối tượng được mời đến và có chủ thể là mình đứng ra tiếp đãi. Nhưng đứng về thể tính pháp giới mà nói, họ có mặt trong tâm thức của mình, phiền não ngũ ấm. Đồng bào chúng ta đau khổ thì chúng ta không an, trên tinh thần đó mà Sư Ông làm chẩn tế, chuyển hóa. Có thể lấy công việc trai đàn đó để giải thích. Ngôi mộ đó chỉ là kỷ niệm, bàn thờ đó chỉ là kỷ niệm.

Chỗ ông bà tổ tiên ta thờ, không phải ông bà tổ tiên ta ngồi đó mà đó là tinh thần tổ khảo của chúng ta. Mình nương vào hàng chữ đó, nén hương đó để mình nhớ lại nguồn cội của mình. Trong một niệm, nếu mình lấy tâm thanh tịnh thì ba thời gian đều có mặt – quá khứ, hiện tại và tương lai đều có mặt ở đây. Tôi rất vui khi được nghe Sư Ông nói pháp thoại rằng: “Mình phải ăn cơm cho cha mẹ. Tu cho cha, tu cho mẹ mình.” Trở lại vấn đề này, nhiều khi có những chướng duyên, phiền não, có lúc muốn bỏ chùa ra đi. Lúc nhỏ, tôi cũng muốn bỏ Thầy ra đi nhưng mà khi nghĩ đến mẹ mình, tự nhiên mình không còn nghĩ lung tung nữa. Mình nghĩ đến người thân thương đã kỳ vọng nơi mình, đã chăm sóc cho mình, từ đó mình có sức mạnh. Do đó trong sự tu tập, chúng ta thấy rằng cô hồn thực ra không có khác. Nếu một niệm mình sống trong mê lầm thì lúc đó mình cũng đã là cô hồn sống rồi, như Sư Ông đã dạy.

8. Thượng tọa cho phép chúng con được hỏi câu hỏi cuối: Trước khi lập trai đàn chẩn tế, ban Kinh sư phải tịnh tâm trước thời gian đó bao lâu để có thể lên đàn? Thầy chủ sám ở trên phải rất chánh niệm, nếu vọng tâm sẽ bị vật ngã. Hơn nữa, chúng con được biết có những thầy trẻ cúng chẩn tế nhiều quá sức khỏe sẽ không tốt, có khi chết trẻ. Theo Thượng tọa có phải như vậy không? Xin Thượng tọa chỉ dạy cho chúng con được rõ hơn.

Thượng tọa trả lời: Chẩn tế cũng là hình thức ủy lạo, bố thí. Chẩn có nghĩa là đem của, đem tài vật chất của mình giúp cho người ta. Tế có nghĩa là giúp đỡ qua cơn đói khát, lạnh buốt. Chẩn tế có nghĩa là như vậy. Chúng ta đi ủy lạo cũng xuất phát từ tình thương, người làm công việc chẩn tế cũng không khác với công việc từ thiện. Nếu có, là khác ở chỗ: làm từ thiện giúp cho người dương, còn quý thầy ngồi đàn chẩn tế giúp cho người âm. Nếu như tôi lãnh công việc ủy lạo của đại chúng giao cho và thông tin đó đã được thông báo đến vùng đó. Đồng bào người ta đến, người ta chờ, người ta đợi nhưng không biết rằng số quà đó không đến tay họ được. Họ giận ai? Họ đâu có giận sư cô Chân Không đâu. Họ giận tôi vì họ biết tôi là người trưởng đoàn sẽ đem quà đến. Họ giận ít thì thôi mà họ giận nhiều quá thì coi chừng! Chẩn tế cũng vậy.

Chúng ta làm công việc này để bố thí, trước tiên là để cho họ hưởng vật thực. Trước khi hưởng vật thực ta cho họ pháp thực. “Tài thí như đăng minh nhất thất. Pháp thí như nhật chiếu đại thiên.” Đem tiền bố thí là có phước nhưng phước đó nhỏ như ánh sáng một ngọn đèn, chỉ sáng trong căn phòng thôi. Nhưng Pháp thí là cho họ lời khuyên, giúp cho họ có hướng đi, giúp cho họ chuyển hóa cuộc sống đau khổ, công đức đó mới lớn, giống như ánh sáng của mặt trời. Cho nên, trong trai đàn đó vừa có pháp thí lẫn vật thí.

Nếu lên đàn không có chánh niệm, không có đạo lực hay nói cách khác mình không có tình thương, vẫn còn ganh tỵ, bon chen, hơn thua. Hay là đối với cha mẹ mình không có hiếu kính, đối với anh chị em không dễ thương, mà mình đi nói thương đồng bào, thương cô hồn thì họ nói anh này dối, họ sẽ không tin tưởng. Nếu chúng ta làm công việc đó, họ không nhận được thì hậu quả đó chúng ta phải lãnh lấy. Nếu chúng ta làm công việc đó mà họ đều hoan hỷ, đều tiếp nhận thì “vô bệnh trường thọ, thọ dụng đắc cụ túc.”

Vấn đề không phải là không có nhưng vấn đề có hay không? Ta phải nhìn lại việc làm của người đó. Nếu nói là trước khi lên đàn phải có thời gian bế quan để luyện công, thực ra đó chỉ là cách nói thôi. Ví như tôi học võ, tôi đi đường quyền hay nhưng học rồi tôi cất đó, khi nào giặc đến cổng rồi tôi mới múa, liệu có trị được giặc không? Nó đánh sau lưng mình cũng không hay. Do đó ta phải “nghiêm tinh luyện thục”, tức là ta phải nghiên cứu và luyện tập một cách thuần thục, chín mùi rồi mới dám làm công việc đó.

Như vậy, không phải đợi đến khi lên đàn, mới đóng cửa lại ngồi làm như vậy. Chúng ta phải tu tập hành trì như Sư Ông dạy, là phải tu tập hàng ngày. Nếu chúng ta hiểu như vậy, dù lúc ở không hay lên đàn đều là công phu. Dù chúng ta lên đàn hay ngồi trong phòng để tĩnh tâm hay làm công việc nào đó cũng từ nền tảng của từ, bi, trí tuệ đã thuần thục. Giống như lúc nào quý sư cô thỉnh Sư Ông cho pháp thoại thì Sư Ông đâu phải bế quan, phải luyện tập. Từ ở trong tâm thức của Sư Ông tuôn ra. Những cái đó từ trong máu, trong xương tuôn ra. Thành ra phong cách nào của Sư Ông cũng là Ấn, lời nói nào của Sư Ông bằng tình thương cũng là châm ngôn.

Hôm mới đến Làng, sáng sớm đang dùng cơm với Thượng tọa Minh Tuấn ở Trai đường thì Sư Ông xuống. Sư Ông rủ đi thiền hành, vừa đi mấy bước Sư Ông nắm tay tôi đi cho ấm. Đi một hồi, Sư Ông đưa tay lên và hỏi: “Đây là ấn gì?” Tôi cũng không biết đó là ấn gì. Sư Ông nói: “Đây là ấn huynh đệ.” Chúng ta thấy tất cả những cử chỉ nào xuất phát từ căn bản trí luôn xuất ra hậu đắc trí và tuôn chảy ra đại bi tâm thì những lời đó đều là châm ngôn, là thật ấn. Cho nên, những cách đó mình làm cho thuần thục, không phải nhất thiết đợi đến lúc đó mới đóng cửa bế quan và trị liệu. Chắc quý có nghe ở Vĩnh Nghiêm, trước đó một tuần tôi đóng cửa bế quan phải không? Thật ra là tôi có tung ra tin đó để tránh không tiếp xúc những người thắc mắc, đóng cửa lại để làm công việc cho xong. Đến giờ mình xuất chiêu là đã xong hết rồi. Đó là cách nói chứ không phải bế quan, trốn khách. (Cười)

Chúng con xin thành kính tri ân Thượng tọa đã hoan hỷ để thì giờ ra chia sẻ với chúng con những kinh nghiệm thực tập quý báu này.

Phỏng vấn thầy Pháp Hội


1. Chúng con được biết Thầy đã từng sống ở Mỹ rất lâu, là một người trẻ ở xã hội Tây phương, điều kiện sống rất đầu đủ, Thầy lại thành đạt trong xã hội. Tại sao Thầy muốn trở thành một người tu?

Thầy Pháp Hội
:
Thực ra Pháp Hội mới sống ở Mỹ ba năm thôi, còn mười mấy năm khác thì sống ở Châu Âu. Nhân duyên để Pháp Hội đến với đạo cũng rất đặc biệt. Lúc còn trẻ lối suy tư, cách hành xử, nhận thức của mình cũng giống như những bạn trẻ bây giờ. Mình cũng chạy theo mục đích như kiếm tiền, chạy theo những nhu cầu bình thường của một người trẻ. Nhưng khi được tiếp xúc với những tư tưởng, cách hành xử đẹp của đạo Bụt thì mình nhìn thấy một lối sống mới cao đẹp hơn, mình thấy nó khác hẳn với lối sống mà mình đang theo đuổi. Những quan niệm về giá trị hạnh phúc và cuộc sống cũng khác hẳn với những cái lâu nay mình nghĩ, mình theo đuổi. Thế nên Pháp Hội quyết định buông bỏ hết những giá trị theo kiểu đời thường đó để đi tìm giá trị của một đời sống mới và cảm thấy đây mới là một lối sống đích thực, là những giá trị đích thực mà mình cần, đó là một chân trời mới. Khi thấy được giá trị chân thực của cuộc sống đích thực, của hạnh phúc thì mình có thể buông bỏ một cách dễ dàng lối sống vật chất tiện nghi đó. Pháp Hội tin đó là giá trị đích thực và cao đẹp.

2. Ở xã hội bây giờ luôn mới và có sự thay đổi phát triển không ngừng mà quý thầy, quý sư cô trong Tu viện ngày nào cũng chỉ thực tập thiền hành, thiền toạ… Và ở đây lại không sử dụng điện thoại di động, máy tính cá nhân, truyền hình… Vậy làm sao quý thầy, quý sư cô có thể hiểu và đồng hành để giúp đỡ những người bên ngoài, nhất là giới trẻ rất năng động, có nhiều khó khăn và bế tắc?

Thầy Pháp Hội:
Nét đẹp và giá trị chân thật của người xuất gia là ở ngay trong đời sống hằng ngày mà đạt được lối sống cao đẹp, năng lượng vững chãi, an lành và những quy định của đời sống người tu làm cho những mục tiêu đó được thành tựu. Những quy định của mình như là: không sử dụng điện thoại di động riêng, không xem tivi, hay sử dụng những trương mục cá nhân, e-mail riêng… tất cả những cái đó nhằm mục đích giúp cho người tu trở nên vững chãi hơn, nó ngăn chặn những điều không lành mạnh của xã hội thâm nhập vào. Tự thân những cái đó không có gì quá lớn lao, thế nhưng nó ảnh hưởng vào quá trình bắt đầu của sự tu tập nên mình phải buông bỏ nó đi. Giả sử trong đời sống của người xuất gia, khi mình chưa có sự vững chãi mà sử dụng những tiện nghi đó thì nó sẽ làm đời sống của mình bị ảnh hưởng xấu, đánh mất đi sự sống, nét đẹp của người xuất gia. Mình không phải hoàn toàn chối bỏ nó, mình sử dụng những cái đó trong vai trò, trách nhiệm của một tập thể, mình dùng như một phương tiện để phục vụ cho công việc của đại chúng chứ mình không dùng cho tiện nghi cá nhân. Nó khác nhau ở chỗ đó! Và người trẻ khi tiếp xúc với đời sống của người tu qua dòng tu của mình, họ cứ nghĩ là mình sống cách biệt với thế gian, nhưng trên thực tế thì dòng tu của mình lại giúp được cho người đời rất nhiều, nó tạo niềm tin cho người trẻ và các giới. Vì lối sống của mình có thể tạo ra hạnh phúc đích thực, nụ cười đích thực, có tình huynh đệ, có sự thương yêu, bao dung được cho nhau. Đạo đức trong lối sống, nghệ thuật sống thương yêu và hiểu biết là cái mà xã hội cần chứ không phải là chạy theo đời sống vật chất. Vì người trẻ ở Tây phương đã đi trước giới trẻ Việt Nam trong những cái đó rồi! Họ đã đạt được tiện nghi về mặt vật chất, về quyền con người, họ đã đi một bước rất xa trên con đường đó nhưng cho đến bây giờ họ vẫn không có hạnh phúc đích thực, mình có thể khẳng định rằng đó không phải là phương tiện đem lại hạnh phúc. Nếu người trẻ biết xa lánh những gì không lành mạnh cho đời sống của họ thì đương nhiên họ sẽ tìm đến một lối sống khác đem lại cho họ hạnh phúc. Và đó chính là con đường của người xuất gia. Không phải chỉ có người xuất gia mới có thể tu tập được, mới có thể tạo dựng hạnh phúc được mà bất cứ ai cũng có thể sống hạnh phúc bằng lối sống lành mạnh, bằng cách chỉ tiêu thụ những gì nuôi dưỡng cho thân tâm. Dù có khó khăn, phiền não nhưng nếu biết sàng lọc, tưới tẩm và đem vào trong cuộc sống hằng ngày những yếu tố lành mạnh, yêu thương, biết chăm sóc cho chính mình và cho mọi người chung quanh thì hạnh phúc đạt được sẽ ở mức độ chân thật. Người trẻ một khi hiểu rằng hạnh phúc của họ chỉ có thể được tạo ra bằng chính đời sống lành mạnh của họ và thấy được hạnh phúc của một cá nhân có liên quan đến hạnh phúc của cộng đồng. Họ phải chọn cho mình một cách sống phù hợp không tàn hoại đến thân tâm của chính họ, không tàn hoại đến môi trường, đó là lối sống đích thực – là thông điệp mà chúng ta muốn gởi đến xã hội! Vì những yếu tố đó trong xã hội ngày nay đang bị trào lưu chạy theo vật chất làm lu mờ. Xã hội Việt Nam bây giờ cơ hội làm giàu của người trẻ rất nhiều. Những nhu yếu, những thành tựu của xã hội Tây phương đi vào xã hội Việt Nam nhiều quá mà giới trẻ thì lại dễ dàng tiếp nhận. Thế nhưng, họ không hiểu được một điều là những thành tựu đó không chắc chắn đem tới hạnh phúc. Cách thức trong quản lý xã hội, thành tựu trong khoa học kỹ thuật hay những phương tiện tạo ra vật chất… những cái đó đi vào Việt Nam rất nhiều nhưng đồng thời những thứ rác, những cái không lành mạnh cũng xen vào và ảnh hưởng rất mạnh đến giới trẻ. Nhiệm vụ của người xuất gia là đem lại cho xã hội một con đường mới, một phương thức sống hữu hiệu nhưng vẫn có tự do, có thảnh thơi, không bị ràng buộc bởi tiện nghi mà vẫn hạnh phúc như thường. Thông điệp đó mình đang làm tại đây bằng cách sống, bằng sự chuyển hoá hằng ngày.

3. Đường hướng của Tu viện Bát Nhã là “Đạo Phật dấn thân vào cuộc đời”, xin Thầy chia sẻ một chút về điều đó?

Thầy Pháp Hội:
Sự dấn thân của mình cũng mang một màu sắc rất đặc biệt. Mình sẽ đóng góp cho xã hội bằng cả Tăng thân chứ không phải bằng một cá nhân. Truyền thống đạo Bụt Việt Nam đã từng đào tạo được rất nhiều vị Tăng tài, rất nhiều vị Tôn túc có khả năng, có tuệ giác và có sự tu chứng nhưng chưa bao giờ đào tạo được một Tăng thân đi chung với nhau và sống như một dòng sông. Nó sẽ có hiệu quả nhiều hơn khi mình cống hiến cho xã hội bằng một Tăng thân. Một người cho dù có giỏi đến đâu đi chăng nữa cũng không thể dễ dàng thay đổi được tâm thức cộng đồng. Mình phải sử dụng năng lượng của cả một Tăng thân, cả một cộng đồng, có lối sống lành mạnh, có sự đi chung với nhau, cùng làm việc thì mới đủ sức! Nếu như một cộng đồng sống với nhau có sự lành mạnh, thương yêu thì môi trường xung quanh cộng đồng đó được thay đổi, những người đến nương tựa vào, họ sẽ có thay đổi và đó là cái mình dấn thân vào xã hội. Ở trong Tu viện nhưng mình luôn đào luyện được cho mình có năng lượng của thương yêu, của vững chãi – những năng lượng đó sẽ tác động ít nhiều vào xã hội. Tuy mình ở đây nhưng mình vẫn chăm lo cho xã hội, vẫn tổ chức những khóa tu cống hiến cho xã hội những phương pháp để chuyển hóa khổ đau và mình quán chiếu những khó khăn, những giá trị đạo đức của xã hội! Ví dụ như bây giờ xã hội Việt Nam, yếu tố niềm tin, giá trị đạo đức ít được người ta tôn trọng nhưng ở đây mình đang xây dựng cái đó. Bởi trong bất cứ một lãnh vực nào của xã hội nếu không có yếu tố đạo đức thì sẽ trở nên hư hỏng dù những người đó đã thành đạt về mặt kiến thức, về mặt vật chất hay quyền chức. Mình dấn thân ở chỗ tạo dựng được cho con người của mình những yếu tố mà xã hội đang cần! Và đồng thời dựa trên tuệ giác của sự tu tập mình sẽ cống hiến cho họ tình thương, cách thực tập trong những khó khăn của họ. Ví dụ như người trẻ bây giờ họ quan niệm về hôn nhân, học đường, về giá trị hành xử không giống trước bởi vì họ gặp những khó khăn không giống như các thế hệ trước. Người trẻ bây giờ được sử dụng tiện nghi về công nghệ cao, sử dụng Internet và nạn xã hội ảo – phục vụ cho nhu cầu của những người trẻ rất nhiều nhưng đồng thời nó cũng đem lại những bê bối, những vụ scandal khá lớn trong xã hội, dòng tu chúng ta dấn thân ở đó, đóng góp được cho người trẻ cách thức để sống, để đối diện với những gì không có trong thời đại của những vị đi trước mà trong thời đại của chúng ta lại có. Dòng tu của mìmh lại luôn biến đổi để cung cấp được cho xã hội, cho người trẻ những giá trị đích thực mà người trẻ cần phải có, một phương cách để có thể giải quyết những vấn đề trong đời sống và đó là cách dấn thân của mình chứ mình không cống hiến cho họ theo một lối sống cũ. Tuy mình sống trong xã hội nhưng mình không nhiễm phải những thói quen không lành mạnh mà còn tạo dựng được một lối sống lành mạnh, chính hình ảnh đó là cái mình cống hiến cao nhất cho xã hội.

4. Thưa Thầy, con thấy ở đây quý thầy, quý sư cô đi tu khi còn rất trẻ, vậy làm sao để quý thầy, quý sư cô có thể chia sẻ về những trường hợp như là tình yêu, hôn nhân và gia đình… Quý thầy, quý sư cô dựa vào đâu để chia sẻ, nó có lý thuyết không khi mà mình chưa có kinh nghiệm thực tế?

Thầy Pháp Hội:
Có một thực tế là khi mình đang ở trong vòng của đau khổ, của tuyệt vọng thì mình lại không hề thấy được lối ra. Nó giống như một người sống trong ngày mùa đông thì chỉ thấy bầu trời xám xịt mà không thấy được ánh mặt trời. Phải là một người vượt lên trên được những đám mây u ám kia mới thấy được mặt trời vẫn đang chiếu rạng cùng lúc đó. Trong môi trường bị ràng buộc bởi hôn nhân, gia đình và xã hội – những hệ lụy của một đời sống bình thường thì sẽ khó thấy được cách giải quyết vấn đề tươi sáng hơn. Có một sự thật là rất nhiều cặp vợ chồng không truyền thông được với nhau nhưng lại sẵn sàng chia sẻ những khó khăn của mình với một người tu. Nếu nói về mặt nào đó thì kinh nghiệm của đời sống hôn nhân họ phải rành hơn người xuất gia chứ! Thế nhưng họ lại không tìm được hạnh phúc đích thực ở trong đó mà họ phải nhờ đến người tu để chỉ lối ra cho họ. Đơn giản là vì người tu không bị vướng vào những hệ lụy của đời sống đó và không bị ràng buộc bởi danh lợi, vật chất, bởi những dục vọng cá nhân nên cách giải quyết và cách hành xử cũng vì thế mà có tuệ giác nhiều hơn. Người ta cần đến người tu là cần điều đó! Thế nhưng trên thực tế người xuất gia lại nắm vững cách thức để sống hạnh phúc với nhau, vì hạnh phúc đích thực giống như chúng ta vừa nói tới lại do cách sống của chúng ta chứ không phải là giá trị tầm thường mà người ta theo đuổi. Con người tạo dựng được hạnh phúc của mình là nhờ lối sống trong lành của họ. Nếu như trong gia đình, họ học được cách sống của người tu, biết truyền thông với nhau, biết tôn trọng, thương yêu và hiểu biết nhau thì tự khắc họ sẽ có hạnh phúc. Và điều đó, dù là người xuất gia cũng phải học. Người tại gia sống với người bạn hôn phối của mình cũng phải học thì mới tạo dựng được hạnh phúc. Cái chính là mình có được kinh nghiệm của một đời sống giải thoát.

Phỏng vấn sư cô Tạng Nghiêm


Sư cô Tạng Nghiêm là một sư cô trẻ, năm nay sư cô 20 tuổi, sư cô là con một, bố của sư cô mất năm sư cô chín tuổi. Mẹ sư cô kinh doanh khách sạn của gia đình, bà ở vậy nuôi con. Sư cô mới xuất gia được một năm tại tu viện Bát Nhã, và hiện giờ sư cô đang tu tập tại Làng Mai.

tang_nghiem.jpg1. PV: Chào sư em, sư em biết tới pháp môn của Sư Ông lâu chưa mà lại đi xuất gia?

Sư cô Tạng Nghiêm: Đó là vào mùa xuân năm 2005, sư em được gặp Sư Ông và Tăng đoàn tại Huế. Từ đó, sư em bắt đầu đọc sách và nghe pháp thoại của Sư Ông. Em mơ ước được sang Làng và ngày nào cũng cầu nguyện được tới đó. Thế là mùa hè năm 2006, sư em đi cùng mẹ về Làng tham dự khoá tu một tuần.

2. PV: Ấn tượng của sư em về lần đầu về Làng như thế nào?

Sư cô Tạng Nghiêm: Khi vừa bước chân tới Làng sư em cảm nhận được ngay một nguồn năng lượng rất bình an, thanh tịnh. Các sư cô ở đây rất dễ thương với thiền sinh và luôn kính trọng lẫn nhau. Ai cũng rất hiền, rất tươi, lúc nào cũng có nụ cười thường trực trên môi. Em rất thích ngắm nhìn các sư cô, nhìn các sư cô an lạc quá. Các sư cô thật gần gũi, thường xuyên tới chuyện trò và giúp đỡ các thiền sinh. Sư em hay tới chơi với các sư cô và các sư cô cứ hỏi sư em: “Bé có muốn đi tu không?”

3. PV: Sư em trả lời sao?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em nói rằng, dạ không, con không muốn xuất gia. Sư em thương các sư cô lắm, sư em thần tượng các sư cô, nhưng lúc ấy sư em không hề muốn làm sư cô.

4. PV: Tại sao vậy?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tại sư em không muốn xa mẹ và vì sư em còn nhiều dự định muốn làm.

5. PV: Sư em còn những dự định gì?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em muốn tiếp tục theo học trường đại học Rmit tại Sài Gòn, muốn đi du lịch khắp nơi, và còn thích nhiều đồ đẹp nữa…

6. PV: Vậy vì lý do gì mà sau đó sư em thay đổi ý định?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư em chỉ được ở Làng có một tuần thôi, ngày phải trở về Việt Nam sư em buồn lắm. Sau đó, khi về Việt Nam sư em được tới tu viện Bát Nhã. Sư em tính đến đây chơi thôi, nhưng các sư cô và các chị tập sự tại tu viện Bát Nhã quá dễ thương, sư em chưa thấy một nơi nào mà tình người lại sâu sắc như ở đây, cuộc sống tại tu viện hết sức thanh bình, tâm hồn ai cũng đẹp. Đúng là một môi trường mà trong đó gồm có những con người thánh thiện nhất tới sống chung với nhau. Ở đây được một tháng thì sư em bị khuất phục hoàn toàn, sư em không thể không xuất gia. Khi đã được nếm trải niềm hạnh phúc trong đời sống tu viện, sư em không còn muốn trở lại cuộc đời trần tục, nhiều lo toan, bon chen ngoài kia nữa.

7. PV: Sư em rất đẹp và rất dễ thương, ở ngoài đời chắc sư em có nhiều người theo lắm nhỉ? Sư em đã thương ai bao giờ chưa?

Sư cô Tạng Nghiêm: Cũng có vài người thương sư em, nhưng sư em chưa thương ai hết. Hàng năm, vào ngày 14.02 em cũng nhận được nhiều thư. Lúc ấy sư em thích đọc thư tình lắm, sư em cũng thích viết thư tình, nhưng sư em chẳng biết viết cho ai. Sư em đọc đi đọc lại những bức thư đó để chọn ra một bức nhưng không chọn được ai hết thế là sư em nghĩ ra một người, sư em liền viết ngay cho người ấy.

8. PV: (giả vờ hồi hộp) Ai mà có diễm phúc thế hả em?

Sư cô Tạng Nghiêm: (cười) Hì… hì… đó là mẹ của sư  em. Và từ đó, cứ mỗi lần tới ngày 14.02 là sư em lại gửi cho mẹ một bức thư tình

9. PV: Sư em có thể kể về mẹ được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ sư em rất đẹp và hiền. Khi bố sư em qua đời mẹ cứ ở vậy nuôi sư em và chăm sóc bà ngoại với ông bà nội. Hai nội rất thương mẹ, coi mẹ như con gái vậy, bà nội cứ giục mẹ đi lấy chồng, bà còn giới thiệu cho mẹ hết người này tới người khác, toàn những người thành đạt trong xã hội nhưng mẹ chỉ cười. Mẹ bảo, khi nào mẹ lo cho bà ngoại và ông bà nội xong thì mẹ cũng đi tu với Tạng Nghiêm.

10. PV: Sư em có thể kể cho bạn đọc nghe một vài kỷ niệm của sư em với mẹ được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Kỷ niệm thì nhiều lắm sư chị ơi. Lúc ở nhà, mẹ là người bạn của sư em. Trước khi đi ngủ hai mẹ con hay oẳn tù tì với nhau, ai thua thì người ấy phải đi mắc màn. Trước đó thì mẹ toàn mắc màn cho sư em ngủ, nhưng sau sư em không chịu, sư em đòi chơi oẳn tù tì. Một lần, dịp đó sư em được đọc cuốn Bông hồng cài áo của Sư Ông. Tối hôm ấy, sư em bỗng sực nhớ ra và sư em liền chạy đến bên mẹ. Sư em mỉm cười nhìn sâu vào mắt mẹ và hỏi: “Mẹ ơi! Mẹ có biết không?” Mẹ nhìn sư em và hỏi lại: “Biết gì?” Hì… hì… như là đang đóng kịch ấy, sư em nói: “Mẹ có biết là con thương mẹ không?”. Mẹ hạnh phúc quá ôm sư em vào lòng, một lúc sau mẹ nói: “À, phải rồi bây giờ mẹ phải đi lên nói với bà ngoại đây”. Thế là lúc ấy, dù đã hơn mười giờ đêm rồi mà mẹ vẫn lái xe đi lên nhà ngoại để nói câu đó.

11. PV: Cảm động quá! Mẹ chỉ có một mình sư em, sư em đi tu rồi chắc mẹ buồn lắm nhỉ?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tuy mẹ biết đạo và ủng hộ sư em xuất gia nhưng mẹ buồn lắm. Ngoại và ông bà nội sư em còn buồn hơn nữa. Ông bà nội suốt ngày khóc và bắt mẹ phải đi đón sư em về. Có lần nội nhớ sư em quá nội khóc, mẹ cứ phải lên dỗ nội, sau đó mẹ về nhà và khóc một mình. Nội nằng nặc đòi mẹ phải đi đón sư em về cho nội. Mẹ không chịu, thế là nội bắt mẹ phải dẫn hai nội lên tu viện Bát Nhã đưa sư em về.

12. PV: Rồi hai nội có lên không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Dạ có, nhưng khi tới tu viện thấy sư em vui tươi, hạnh phúc quá lại thấy các sư cô ai cũng đẹp, ai cũng dễ thương nên nội rất thương các sư cô và chấp nhận cho sư em xuất gia. Nội nói, mấy ngày ở Bát Nhã nội rất yên tâm và mừng cho sư em khi được sống trong môi trường này.

13. PV: Sư em đi tu mọi người khóc dòng như vậy, thế lúc sư em sang Làng Mai mọi người có khóc nhiều như thế không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mọi người còn khóc nhiều hơn ấy chị ạ, vì ở tu viện Bát Nhã mọi người còn tới thăm em thường xuyên, chứ ở tận bên Pháp làm sao thăm em dễ dàng được

14. PV: Lúc sắp lên máy bay, sư em có khóc không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Dạ không, ai cũng khóc nhưng sư em chẳng khóc chút nào hết, sư em còn cười tươi là khác, sư em hát cho mọi người nghe hết bài này tới bài nọ. Nhưng… nhưng khi vừa vào nhà cách ly… là sư em… khóc bù lu bù loa ở trong đó.   

15. PV: Tội nghiệp quá. Sư em à, sư chị nghe nói hôm 01.06 mẹ có gửi quà cho sư em từ Việt Nam qua phải không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Hàng năm cứ tới ngày 01.06 là mẹ lại tặng quà cho sư em. Năm nay sư em nghĩ rằng ở xa chắc mẹ không gửi đâu, nhưng đúng ngày 01.06 sư em nhận được quà của mẹ chuyển fax nhanh từ Việt Nam, sư em mừng quá chạy đi khoe hết tất cả các sư chị.

16. PV: Mẹ gửi gì vậy?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ gửi cho sư em một… con búp bê màu hồng… hát nhạc rốc (PV bưng miệng cười) và một bức thư, cảm động lắm.

17. PV: Mẹ nói gì hả sư em?

Sư cô Tạng Nghiêm: Mẹ bảo: “Con yêu của mẹ, bao nhiêu ngày nay mẹ đã đi hết cả thành phố, nhưng tất cả các shopping đều đã đóng chặt cửa vì con gái của mẹ đã mặc chiếc áo màu nâu.

18. PV: Chà, cảm động thật, mẹ nói như thi sĩ ấy. Rồi sư em xử lý thế nào với con búp bê, vì theo thanh quy của tu viện các sư cô không được chơi búp bê?

Sư cô Tạng Nghiêm: Ngay tối hôm ấy sư em làm… lễ xuất gia cho nó.

19. PV: Hả?

Sư cô Tạng Nghiêm: Tối hôm đấy, sư em với sư chị Liên Thanh làm lễ xuất gia cho nó. Chúng em đọc bài kệ: “Cạo sạch mái tóc. Nguyện cho mọi người. Dứt hết phiền não. Độ thoát cho đời.” rồi cạo tóc. Lúc cắt đi mớ vàng óng sư em cũng thấy hơi thương thương, nhưng khi chít chiếc khăn màu nâu lên thì nhìn búp bê hiền như một sư cô vậy. Sư chị Liên Thanh có một miếng vải nâu, thế là chúng em tháo chiếc váy màu hồng ra và may cho nó một chiếc áo nâu. Ôi, khi mặc áo nâu và chít khăn lên nhìn búp bê xinh đẹp, hiền dịu vô cùng.

20. PV: Thật tuyệt vời, thế đệ tử đầu lòng của sư em tên là gì?

Sư cô Tạng Nghiêm: Em không biết đặt tên là gì hết, hôm sau em hỏi các sư chị, thì sư chị Nhẫn Nghiêm nói, con gái Sư Ông thì ai cũng tên là Chân… Nghiêm, ví dụ như em là Chân Tạng Nghiêm, sư chị là Chân…

21. PV: Ấy, đừng có ví dụ sư chị, ví dụ người khác đi.

Sư cô Tạng Nghiêm: À, ví dụ sư chị Nhẫn Nghiêm là Chân Nhẫn Nghiêm, nên chị ấy đặt tên cho đệ tử của sư em là Cẳng Bê Nghiêm.

22. PV: Tên hay quá, hí… hí… Sư em có thể cho độc giả diện kiến đệ tử đầu lòng của sư em được không?

Sư cô Tạng Nghiêm: Sư chị cứ chọc sư em hoài, mọi người chả nhìn thấy từ nãy rồi còn gì?

23. PV: Ô, thì ra sư cháu của sư chị đây hả?

Kính thưa độc giả! Đây là sư bê Cẳng Bê Nghiêm. Sư bê thuộc thế hệ thứ 44 của dòng tu Lâm Tế, thứ 10 của phái Liễu Quán, là đệ tử đầu tiên của sadini Thích Nữ Chân Tạng Nghiêm.

Cảm ơn sư em đã trò chuyện với mọi người. Sư em trong sáng và thánh thiện lắm. Các sư anh, sư chị ai cũng thương sư em hết. Mỗi lần sư em tới chơi với ai là người đó đều được nuôi dưỡng bởi sư em. Thương chúc sư em tu tập tinh tấn, làm niềm hứng khởi cho các bạn trẻ biết tới con đường tâm linh ngày càng nhiều hơn.

Phỏng vấn Thầy Trung Hải về tình hình Bát Nhã

Gần 400 tăng sinh và giáo thọ theo Pháp Môn Làng Mai tại Tu viện Bát Nhã, Lâm Đồng bị cưỡng bức rời khỏi nơi tu học hồi ngày 27 tháng 9 vừa qua với lý do không được người trụ trì tại Bát Nhã bảo lãnh, nhưng sau đó được Thượng Tọa Thích Thái Thuận trụ trì Chùa Phước Huệ ở Bảo Lộc cho tá túc.

Nhưng suốt thời gian qua vẫn bị phía chính quyền tỉnh Lâm Đồng, cũng như chính quyền nơi  quý thầy quý sư cô đăng ký thường trú gây áp lực buộc phải trở về quê quán.

Trong những ngày này, thầy Thích Trung Hải (hiện đang tu học tại Pháp) cùng những tăng sinh người ngoại quốc đã đến làm việc tại Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ở Geneva và Liên Hiệp Châu Âu tại Brussels kêu gọi can thiệp cho những tăng sinh Bát Nhã ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.
Gia Minh trao đổi với thầy Thích Trung Hải về vấn đề đó và những thông tin liên quan, mời quí thính giả theo dõi. Trước hết thầy Thích Trung Hải cho biết lý do tìm đến Cao Ủy Nhân Quyền Liên Hiệp Quốc cùng Liên Minh Châu Âu

Thông cảm, can thiệp

Thầy Thích Trung Hải: Nhờ lời mời và sự sắp xếp của một số các thầy, các sư cô và một số vị tu sĩ thực tập theo Pháp Môn Làng Mai, mà người có quốc tịch nước ngoài, chúng tôi yêu cầu họ kiên nhẫn, chưa nhờ sự can thiệp vội của Cao ủy Nhân Quyền LHQ cũng như nước bạn, những nước có liên hệ trong công tác đối thoại với VN về vấn đề thương mại cũng như quan hệ quốc tế, gây nên một ý thức trong cộng đồng quốc tế để cho VN ý thức hơn, thận trọng hơn trong vấn đề giải quyết các tăng ni tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại tu viện Bát Nhã, và bây giờ là tại chùa Phước Huệ. Cho tới bây giờ, khi các vị không còn kiên nhẫn nổi nữa thành ra quí vị phải đi tìm sự trợ giúp, bởi vì theo nhiều thông tin nhận được thì có nhiều sự đe dọa hơn vào cuối tháng 11 này. Một lý do khác là họ cũng thấy rằng các thầy, các sư cô tại tu viện Bát Nhã, những vị tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại đó cũng đã kiên nhẫn tới sức chịu đựng cuối cùng, và sức lực đã dùng hết trong 14 tháng vừa rồi dưới những áp lực thường trực của chính quyền địa phương cũng như sự không thông cảm, không thông hiểu của nhà nước. Vì vậy, hôm nay chúng tôi có mặt ở Geneva yêu cầu được sự thông cảm và sự can thiệp cũng như tiếng nói của những bạn bè quốc tế với chính quyền VN, để VN để trái tim của mình vào những việc này, bởi đó là con em của những người VN.

Gia Minh: Thầy đã gặp được những ai ở Cao Ủy LHQ, và trả lời của họ ra sao sau khi nhận được những trình bày của phía đại diện của các thầy?

Thầy Thích Trung Hải: Chúng tôi đã gặp được thư ký của chủ tịch Cao Ủy LHQ và qua văn phòng của Cao Ủy Nhân Quyền LHQ, chúng tôi cũng trình bày lại vấn đề của tu viện Bát Nhã và những người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại VN, cũng như đã trình bày trong một số văn thư gửi đi cho báo chí và chính quyền VN. Cao Ủy Nhân Quyền LHQ cũng đặt rất nhiều câu hỏi, và đó là những câu hỏi thực sự rất là thú vị. Những câu hỏi như tại sao VN có nhiều chùa, nhiều trung tâm mà chúng tôi lại bị tấn công trong khi những trung tâm khác thì không?

Sau khi chúng tôi trình bày lý do tại sao, thì đã gây được cảm hứng và sự đồng cảm rất mạnh nơi Cao Ủy Nhân Quyền LHQ. Đây chỉ là một trong khoảng 20 cuộc họp của chúng tôi tại Geneva mà thôi. Tại Brussels, chúng tôi được tiếp xúc khoảng hơn 20 nước có liên hệ hợp tác với VN, nước nào cũng bày tỏ sự đồng cảm và thương yêu, cũng như yêu cầu bảo vệ và trân trọng những người trẻ đang tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tạm trú tại chùa Phước Huệ sau thời gian gặp khó khăn tại tu viện Bát Nhã. Người nào cũng hứa sẽ tìm mọi cách để truyền thông với VN và cho VN hiểu rằng đó là một gia tài của đất nước VN. VN không những không nên đàn áp họ mà cần phải tìm cách bảo vệ và nâng đỡ họ để họ có thể sống trong hòa bình như họ đã từng sống. Để họ có thể cống hiến cuộc đời họ cho hạnh phúc của nước VN.

Gia Minh: Ngoài sự đồng cảm và những lời hứa chung chung như vậy thì đại diện của Cao Ủy LHQ cũng như các nước liên hệ có đưa ra những hoạt động gì cụ thể mà họ sẽ làm hay không?

Thầy Thích Trung Hải: Đã có rất nhiều giải pháp được đưa ra, và gần đây nhất là chủ tịch Cao Ủy về Nhân Quyền của Liên Minh Âu Châu ra một công văn gửi chính phủ VN, yêu cầu lập tức chấm dứt việc khủng bố và gây áp lực lên các người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai. Đó là từ phía Liên Minh Âu Châu, còn về phía Cao Ủy LHQ về nhân quyền thì thưa thật là chúng tôi chưa được phép nói ra. Theo lời hứa thì chúng tôi không được phép thông báo trước khi Cao Ủy đưa ra hành động gì. Chúng tôi tôn trọng lời hứa với Cao Ủy Nhân Quyền LHQ. Và các nước khác cũng vậy, nước nào cũng đang có một giải pháp rất cụ thể để giúp đỡ cho các thầy, các sư cô và những người theo học Pháp Môn Làng Mai tại đó. Chúng tôi cũng có hứa là để các nước sắp xếp với nhau, chúng tôi không được quyền thông báo trước. Bên cạnh việc làm có tính cách thông báo khẩn cấp của Cao Ủy Nhân Quyền Liên Minh Âu Châu thì thượng viện Hoa Kỳ, trong đó có 3 thượng nghị sĩ cũng có gửi một thông cáo tới chính phủ VN, yêu cầu giải quyết cho những người tu tập theo Pháp Môn Làng Mai tại đó một cách ôn hòa và trân trọng. Chúng tôi cũng nhận được điện thoại của rất nhiều đại sứ các nước quốc tế tại VN yêu cầu chúng tôi cung cấp thông tin và cho họ biết họ có thể làm được gì để giúp đỡ chúng tôi, và chúng tôi cũng gửi lại một thông điệp rằng chúng tôi rất thương đất nước VN, thương con người VN và thương chính phủ của chúng tôi. Chúng tôi biết là quí vị đã cố gắng rất nhiều, nhưng có một điều chắc chắn là các vị chưa có đủ thông tin, các vị chưa đặt trái tim vào trong vấn đề giải quyết những người trẻ này. Vì vậy, đã có những quyết định và việc làm đi ngược lại với tinh thần đạo đức của dân tộc, đi ngược lại với truyền thống đạo đức tâm linh, những nét đẹp của văn hóa VN.

Việc đánh đập người tu, chà đạp lên những tu sĩ là chuyện mà những vị bạo chúa mới làm mà thôi, còn những vị lãnh đạo có trái tim và thương đất nước, thương văn hóa cổ truyền của VN thì sẽ không bao giờ làm điều đó. Nhất là đánh đập, chà đạp lên nhân phẩm và tính mạng của những người tu trẻ, những người tu hòa bình và bất bạo động. Đó là thông điệp mà chúng tôi muốn chuyển tới cho chính phủ của chúng tôi.

Tìm tri kỷ tu tập

Gia Minh: Được biết là Ban Tôn giáo Chính phủ của VN có chủ trương cho số tăng sinh đang tạm trú tại Chùa Phước Huệ được tiếp tục học tiếp cho đến cuối năm nay? Vậy Thầy thấy biện pháp đó có thể giải quyết vấn đề đến mức nào? Trước đây chính ông Bùi Hữu Dược, là người phụ trách về vấn đề Phật giáo của Ban Tôn Giáo chính phủ, trong trả lời phỏng vấn của Đài chúng tôi cho rằng cách thức giải quyết hợp tình hợp lý là các tăng sinh nên tìm một vị tri kỷ để tu tập thì đến nay Thầy thấy ra sao?

Thầy Thích Trung Hải: Vấn đề ở đây không phải là chọn một chỗ để ở cho những người đó theo cá nhân của họ. Vấn đề ở đây là khi chúng tôi đi tu thì chúng tôi muốn tu tập chung với nhau như những người thân trong một gia đình, bởi đó là cách hay nhất để chúng tôi đảm bảo nâng đỡ được cho nhau trong vấn đề tu học. Thử tưởng tượng một trường đại học mà yêu cầu các học viên phải đi tìm người thầy nào đó mình thích học để học, thì làm sao có thể học được chương trình và giúp nâng đỡ được các học viên trong học tập và nghiên cứu?

Chúng tôi là những người trẻ, chúng tôi cần có một môi trường tu học chung với nhau để có thể nâng đỡ và yểm trợ nhau trong vấn đề tu học và hành trì lời dạy của Đức Phật. Việc yêu cầu giải tán và ép buộc mỗi người chúng tôi phải tự đi kiếm một chỗ ở riêng cho mình, chẳng khác gì yêu cầu các học sinh phải tự về nhà kiếm một người thầy nào đó ở nhà quê để dạy theo kiểu giáo dục VN, giáo dục thế giới cách đây mấy trăm năm trước. Đó là việc chống lại sự tiến bộ của giáo dục, chống lại sự tiến bộ của xã hội. Tôi tin là nếu như ông Bùi Hữu Dược và chính quyền VN để trái tim họ vào vấn đề này, thì họ sẽ biết được cách làm việc đó là đi ngược lại với sự tiến hóa và sự tiến bộ của giáo dục. Chúng không có lợi mà có hại rất nhiều vì gây sự hoang mang và mất niềm tin nơi những người trẻ vào chính phủ của họ, vào những người lãnh đạo của họ, hơn là làm cho họ cảm phục. Chúng tôi không muốn tranh đấu cho bất cứ một chủ thuyết hay lý tưởng nào hết, chúng tôi chỉ muốn người lãnh đạo của chúng tôi hiểu rằng, chúng tôi là những người trẻ lớn lên ở đất nước VN sau chiến tranh, chúng tôi biết phần đóng góp của mình là phần đóng góp tạo ra một VN ổn định mà ở đó, con người biết thương nhau, hiểu nhau và thông cảm cho nhau, không còn nghi kỵ, đánh đập và tàn ác với nhau như trong chiến tranh. Chúng tôi đã sống cuộc đời đó để hiểu nhau, thương nhau và tu tập với nhau. Chúng tôi rất cảm phục và trân trọng những cố gắng của chính phủ để phát triển kinh tế và quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới. Chúng tôi muốn đóng góp phần nhỏ là tự thân mình trở thành những con người hòa bình, những con người biết thương nhau, chấp nhận nhau như trong một gia đình. Gia đình là nền tảng của hạnh phúc xã hội, chúng tôi đóng góp những việc làm nho nhỏ để hỗ trợ cho nền an ninh của VN.

Đóng cửa dạy nhau

Gia Minh: Thiền sư Thích Nhất Hạnh gửi thư cho ông Chủ tịch nước VN dưới một tên khác, rồi thỉnh nguyện thư do một số nhân sĩ trí thức đã gửi đi được hồi âm ra sao, thưa Thầy?

Thầy Thích Trung Hải: Khi Thiền sư Thích Nhất Hạnh ký tên GS Nguyễn Lang, một giáo sư sử học, để gửi thư ngỏ cho ngài Chủ tịch nước, cũng như gửi thư ngỏ cho giới nhân sĩ trí thức trong nước yêu cầu đứng ra nâng đỡ và bảo vệ những con em của họ, những người con ưu tú của đất nước đã dám bỏ cuộc đời của mình để sống đạm bạc, an lành như vậy, thì Thiền Sư Thích Nhất Hạnh và những vị nhân sĩ trí thức đang làm đúng vai trò của bậc ông cha, của người đi trước trong vấn đề dẫn dắt nền tảng đạo đức của dân tộc. Theo tôi hiểu, sở dĩ Thiền Sư Thích Nhất Hạnh không đứng tên mình, một nhân vật quốc tế, để làm việc này là có dụng ý muốn giữa những người VN giải quyết vấn đề trong trình tự dân tộc với nhau. Tại sao chúng ta chưa cố gắng làm việc chung với nhau mà lại đi kêu với bạn bè quốc tế?

Truyền thống VN là “đóng cửa dạy nhau”, khi nào trong nhà không nói chuyện được với nhau mới nhờ tới chú bác, hàng xóm. Vì thế, chúng tôi đã cố gắng làm tất cả để có thể truyền thông, có thể đánh thức sự cảm thông nơi những con người VN với nhau. Trong hơn một năm qua chúng tôi đã cố gắng rất nhiều để làm những việc này, và như anh thấy, hiệu quả thì có nhưng chưa thực sự đủ tin cậy để bảo vệ tính mạng, sự an nguy và lý tưởng của những người trẻ này. Vì vậy, hôm nay chúng tôi đi Brussels, đi Geneva để mong thức dậy lương tâm của bạn bè quốc tế, để những người trẻ này được an lành.

Theo như câu hỏi của anh thì khi viết thư cho ngài Chủ tịch nước với tư cách của một giáo sư sử học, Thầy của chúng tôi cũng muốn nhắc nhở ngài Chủ tịch nước rằng đây là một bước ngoặc của lịch sử VN. Đây không chỉ là bước ngoặc về chính trị và lịch sử, mà đây là lúc chúng ta cần vực dậy nền đạo đức tâm linh của dân tộc đã bị mai một rất nhiều trong chiến tranh, trong thời gian đất nước hỗn loạn và kinh tế gặp nhiều khó khăn. Bây giờ đất nước ổn định rồi, chúng ta cần xây dựng lại nền đạo đức tâm linh để làm nền tảng và thêm niềm tin cho người trẻ. Làm nền tảng cho sự phát triển và hạnh phúc của đồng bào trong đất nước của chúng ta. Khi một đất nước chỉ phát triển về kinh tế mà không phát triển về đạo đức tâm linh thì sự phát triển đó sẽ không ổn định. Một gia đình có thu nhập cao và những con người trong nhà sống có đạo đức, hạnh phúc và thương yêu nhau, thì đó là một viễn tượng rất đẹp mà những người trẻ chúng tôi muốn xây dựng, muốn đóng góp và muốn sống một cuộc đời như vậy.

Gia Minh: Cám ơn Thầy về những thông tin mới nhất cũng như những chia sẻ trong cuộc nói chuyện vừa rồi.

Phỏng vấn Sư cô Chân Đức

 

Sư cô Chân Đức, một trong ba vị đệ tử xuất gia đầu tiên của Sư Ông tại Làng Mai. Sư cô là người Anh, nói tiếng việt rất giỏi và là một sư chị lớn sống hiền hòa, tươi mát, vững chãi trong Tăng thân. Sư cô đã đem đến cho các sư em nhiều niềm tin yêu và cảm hứng trong sự thực tập. Dưới đây là bài phỏng vấn của BBT với sư cô, sư cô đã trả lời bằng tiếng Việt rất mộc mạc và dễ thương. 
Sr ChanDuc

Smile Kính thưa sư cô! Xin sư cô có thể chia sẻ một chút về đời sống ở Làng trong những ngày đầu mới thành lập, khi sư cô còn là một vị tập sự xuất gia?

Sư cô: Khi Chân Đức (CĐ) tới Làng, CĐ giới thiệu với những người bạn khác, Làng là một khách sạn “năm sao”. Vì trước đó CĐ sống trong một tu viện ở Ấn Độ, phần nhiều rất nghèo, không có giường để nằm (ở đây thì còn có giường), không có nước để tắm, không có toilet, và thức ăn thì rất ít, có khi đi ngủ đói. Cho nên khi CĐ tới Làng không thấy Làng nghèo. Nhưng so sánh với bây giờ thì lúc đó Làng nghèo hơn nhiều, mỗi khi trời mưa bị dột ướt cả phòng, nhất là ở xóm Hạ, phải để xô hứng nước mưa. Mùa đông lạnh lắm, không có hệ thống sưởi tốt, một số lò nhỏ đốt bằng củi, nhưng đốt vài tiếng đồng hồ mà không cho củi vào thì bị tắt, nên trước khi đi ngủ phải chuẩn bị cho thật nhiều củi, nhưng đến nửa đêm thì lửa vẫn bị tàn, buổi sáng lạnh quá không thức dậy nổi. CĐ thì không sao vì lớn lên ở Anh, nhà CĐ nghèo và cũng không có điện. Nhưng tội nghiệp cho sư cô Chân Vị, vì sư cô từ một xứ nóng tới mà ở đây rất lạnh, sư cô không quen. CĐ lấy thêm mền cho sư cô đủ ấm, nhưng sư cô chịu không nổi, vì nó quá nặng không ngủ được. Ban đầu CĐ không thể hiểu, với người Tây phương để đối phó với trời lạnh thì chỉ có thêm mền thôi, càng nhiều càng tốt. Nhưng Sư Cô ở xứ nóng chỉ quen đắp một cái mền nhẹ, sau này khi hiểu được CĐ thấy rất thương sư sô.

Smile Công việc đầu tiên khi sư cô mới đến Làng là gì ạ?

Sư cô: À! Khi mới tới Làng CĐ hỏi Sư Ông cần CĐ làm  gì không? Sư Ông nói là không cần làm gì hết, chơi thôi. Nhưng nếu CĐ muốn thì có thể trồng cải bẹ xanh, trồng những loại rau để ăn vào mùa đông, trồng ở trong nhà mặt trời (tức nhà xanh). Lúc đó có một số anh chàng trẻ tuổi ở đây, người Việt Nam, tới từ trại tị nạn, họ dựng một cái nhà xanh cho CĐ làm việc, CĐ thích lắm. Các anh chàng đó rất bực mấy con limat, con đó nó mập và ăn rau nhiều vào ban đêm, họ muốn bỏ thuốc diệt chúng, nhưng CĐ và sư cô Chân Vị không chịu. Cho nên mỗi buổi sáng vào lúc 4h30′ hai chị em phải đi vào nhà xanh bắt hết những con limat đem vào để trong rừng, vì những thứ rau Việt Nam như bầu thì con limat thích lắm, chỉ trong vòng một đêm nó có thể ăn hết sạch. Thời gian đó CĐ bắt đầu học tiếng Việt, sư cô Chân Vị dạy, nhưng mà CĐ luôn nói sai, bỏ dấu không đúng. Sư cô Chân Vị rất  hiền, sư cô không sửa, từ đó CĐ có thói quen  nói không bỏ dấu, không sửa được. Cho nên có khi CĐ nói chuyện với người Việt Nam thì họ rất khó hiểu. Nhưng họ dễ thương lắm, họ nói với CĐ: “Sư cô nói rất giỏi, con có thể hiểu được 60 phần trăm tiếng Việt mà sư cô nói”. Có khi đến một chùa Việt Nam mà phải nói pháp thoại, trong khi CĐ nói thì có những người lớn tuổi ngồi ở trước họ sửa tiếng Việt cho mình, vui lắm. Cười…Smile

Smile Thưa sư cô! nhân duyên nào mà sư cô biết đến đạo Bụt?

Sư cô: Sau khi tốt nghiệp đại học, CĐ muốn làm một cô giáo dạy cổ ngữ như là tiếng Phạn, tiếng Latinh, tiếng Hy Lạp… bởi vì CĐ rất thích đạo học và văn hóa của Hy Lạp. CĐ sợ lạnh lắm, mà ở Hy Lạp thì đỡ lạnh, ít mưa. May quá, CĐ xin và được nhận vào dạy trong một trường Trung Học ở Hy Lạp. CĐ là một người gốc Công Giáo, lúc nhỏ học trong trường do các bà sơ dạy và rất thích lớn lên trở thành bà sơ, nhưng cuối cùng không còn muốn nữa, vì hơi mất niềm tin nơi giáo lý mình được học. Có nhiều thứ mình không đồng ý như là có một ông thượng đế ở trên trời và đấng sáng tạo… mình không tin, không còn đi nhà thờ. Khi qua Hy Lạp để dạy, người dân ở đó nghèo, họ sống rất đơn giản, nhưng họ thuộc về một loại Thiên Chúa Giáo, gọi là Chính Thống Giáo. Họ đi nhà thờ rất đều, tất cả mọi người cùng đi, họ dự nhiều buổi lễ… thấy CĐ không đi nhà thờ họ rất ngạc nhiên, và nói rằng “người nào cũng phải có một tôn giáo, tại sao CĐ không có?”, và CĐ trả lời là “không cần”, họ nói “cần”, họ nói “CĐ học tiếng Phạn thì chắc chắn CĐ nên đi chùa Phật giáo”, họ đề nghị như vậy. CĐ không muốn đi mà họ ép quá, nên CĐ miễn cưỡng đi thử xem sao. CĐ đến một chùa Tây Tạng, ở đó chỉ có chùa Tây Tạng thôi. Lúc tới mình không muốn vào và định đi về lại, thì có một sư cô mở cửa ra chào. Sư cô đó người Tây Tạng. Sư cô mời CĐ vào, CĐ không thể trốn được, phải đi vào. Trong chùa chỉ có mình sư cô, sư cô hỏi CĐ “có phải là Phật tử không?”, CĐ nói “không, không phải là Phật tử”, và cô nói là cô sẽ chỉ một vài phương pháp để CĐ có thể bớt khổ, cười…  Sư cô đó cho CĐ một xâu chuỗi và dạy niệm “Án ma ni bát di hồng, án ma ni bát di hồng…”, sau đó sư cô hướng dẫn cách lạy Bụt, lạy thôi, lạy Bụt ở ngoài mình. CĐ không thích, thấy không có ý nghĩa gì hết, CĐ tự hỏi “tại sao lại bắt mình làm như vậy?” CĐ hỏi rất nhiều, nhưng sư cô  nói thật sự sư cô không giỏi. Sư cô khuyên CĐ nên trở về lại đây trong vòng một tháng, vào lúc Tết, vì lúc đó Thầy của cô sẽ tới. Ngài rất giỏi, khi giảng pháp sẽ có người dịch ra tiếng Anh.

Hôm Ngài thuyết giảng, CĐ phải đi dạy, vì trường học không có ngày nghỉ. Vào khoảng 5 giờ chiều thì CĐ mới tới được, và bài pháp thoại đã bắt đầu rồi, giảng đường đã hết chỗ. CĐ không dám đi vào nên ngồi ở ngoài, nhưng ngồi một lúc CĐ nghĩ “ngồi ở ngoài này uổng quá, mình đến là để nghe mà” nên CĐ cố gắng đi vào. CĐ mới bước vào thì nghe vị Thầy đó nói về vấn đề “con rắn và sợi dây”. Có một người đi ban đêm thấy một sợi dây mà cứ nghĩ là con rắn nên người đó rất sợ hãi, nhưng có một người đi sau và nói “cái đó không phải là con rắn, cái đó là sợi dây”, lúc đó người ấy hoàn toàn yên tâm không sợ gì nữa. Thầy nói là “khi mình thấy rõ sự thật của vạn vật thì lúc đó mình sẽ không có sợ hãi. Mình sợ là vì chính tri giác sai lầm của mình”. CĐ thật sự xúc động khi nghe như vậy, có cái gì đó đi vào  trong trái tim mình mà mình không có biết. Tự nhiên CĐ thốt lên “đúng rồi, mấy năm nay CĐ muốn nghe một người nói như vậy nhưng chưa bao giờ có ai nói đến, trong truyền thống Công Giáo cũng chưa bao giờ nghe những điều như vậy”.Từ đó CĐ rất là mê Phật giáo vì câu chuyện đó thôi.

Vào dịp tết vị Thầy đó có lễ truyền 5 giới và quy y. CĐ hỏi “tại sao phải quy y, lạy Bụt và niệm án ma ni bát mê hồng?”.CĐ thấy  không có ý nghĩa gì cả, chỉ có chuyện về con rắn thì rất sâu sắc. CĐ hỏi sư cô “có thật sự cần quy y không?”. Sư cô nói tùy CĐ “muốn quy y thì quy y, không muốn cũng không sao” và sư cô cũng nói không cần quyết định bây giờ, ngày mai có lễ muốn quy y thì quy y. Cuối cùng tất cả mọi người đều ra làm lễ. Bất chợt vị Thầy hỏi “Còn ai nữa không?”. Lúc đó CĐ không muốn ra, nhưng không hiểu sao có cái gì đó trong chân của mình đẩy mình đi. Sau đó thì CĐ tu với vị Thầy và Sư cô đó ở Hy Lạp. Được một thời gian ngắn sư cô hỏi “CĐ có muốn đi Ấn Độ không, có muốn đến tu viện của sư cô ở Ấn Độ không?”, CĐ nói là “muốn, muốn, rất là muốn”. Nhưng Thầy thì nói là chưa đúng lúc, đừng có đi bây giờ, nên thực tập thêm một năm nữa thì hãy đi. CĐ ở lại thêm một năm và tập ngồi thiền. Ban đầu ngồi thiền đau chân quá, nhưng mà vẫn phải ngồi, không có được đổi chân, đau lắm. CĐ luôn luôn mong sớm có tiếng chuông chấm dứt, để được tháo chân ra. Tập nhiều thì cũng quen dần, nhưng mà thật sự ngồi thiền không thích lắm, cho đến khi gặp Sư Ông mới bắt đầu thích ngồi thiền… Smile.

Smile Thưa sư cô! đời sống ở Ấn Độ có gì vui và đặc biệt ?

Sư cô: Sau một năm thì CĐ qua Ấn Độ. Máy bay đáp xuống New Dehli CĐ ở lại ngủ một đêm, ngày sau đi xe buýt đến chùa của sư cô, xe buýt chạy 12 tiếng đồng hồ mới đến nơi. Xe buýt ở đó rất cũ, chưa bao giờ trong đời đi một xe buýt như vậy. Người Ấn Độ rất nhỏ, ghế ở Tây phương thường thì hai người ngồi, mà ở Ấn Độ họ ngồi ba, bốn người!, nó chật quá và có cả mấy con dê ở trên xe buýt nữa, cả người ta cũng ngồi ở trên trần xe nữa, vui lắm. Xe buýt đi tới đâu thì ồn ào tới đó. Đi ban đêm, lâu lâu dừng lại cho mọi người đi vệ sinh, nhưng ở Ấn Độ không cón nhà vệ sinh, nên đi ở ngoài, hơi lạ… Cuối cùng thì cũng đến nơi, chỗ đó rất đẹp, gần Hy Mã Lạp Sơn, có rừng cây và nhìn xa xa thấy cả núi tuyết trắng xóa, mặt trời chiếu lên núi tuyết lấp lánh, núi cao thật cao, đẹp và hùng vĩ quá. Ở đó còn có dòng sông, mà dù ở trong chùa mình vẫn có thể nghe tiếng nước chảy cả ngày lẫn đêm, thích lắm. Khi xe buýt dừng lại, CĐ đi thật nhanh, CĐ muốn đi nhanh để lên chùa, chùa nằm ở trên đồi, và sư cô đã nhắc CĐ đi chậm lại, thầy cũng nói, “we are walking slowly, we are walking slowly”, luôn luôn nói như vậy để nhắc CĐ đi chậm. Có lẽ đó là bài học đầu tiên về thiền hành mà CĐ được  biết trước khi gặp Sư Ông. Nhưng mà thiền hành lúc đó đối với CĐ chỉ là đi chậm thôi, không có kết hợp hơi thở với bước chân, cũng còn suy nghĩ vẩn vơ nhiều lắm. Khi đi vào cổng chùa, nghe tiếng các sư cô tụng kinh, có khoảng vài chục sư cô. Các Sư cô ở đó sống khá đơn giản, và ở rất chật. Sư cô trụ trì trước đó là một sư cô người Anh, nhưng đã viên tịch rồi. CĐ được ở trong cái thất cũ của sư cô đó. Thất đã cũ và rất thô sơ. CĐ ngủ ở trên giường, không biết làm bằng loại gỗ gì mà mỗi khi nằm xuống thì đau lắm, ngủ hai tiếng đồng hồ là chịu không nổi, phải trở dậy, nên ngủ rất ít, ngồi thiền nhiều hơn. Thực sự thì cách ngồi thiền CĐ không biết có đúng không, nhưng mà cảnh ở đó quá đẹp, quá yên tĩnh và không có xe. Bây giờ Ấn Độ có xe hơi khá nhiều, ngày xưa Ấn Độ chỉ có xe buýt thôi, phần đông người ta đi xe đạp, đi bộ, đi xe ngựa, hiếm ai có xe hơi riêng, nên không khí rất thanh bình

Smile Thưa Sư cô, làm thế nào mà sư cô biết đến Làng và trở thành đệ tử của Sư Ông?

Sư cô: Sau một thời gian thì sư cô có ý xây dựng thêm một ni viện mới, ni viện này quá nhỏ, không đủ chỗ cho các sư cô ở, vì mỗi tuần đều có các sư cô từ Tây Tạng sang tị nạn. Cách đó vài chục cây số là tu viện của quí thầy, có rất nhiều đất. Quý thầy nói sẽ cho các sư cô một miếng đất để xây chùa, nhưng các sư cô phải tự lo xây cất, quý thầy chỉ cho đất thôi. Chỗ đó ở trong rừng, khá cao và đẹp. Sư cô muốn CĐ cùng đi với sư cô đến chỗ đất mới để chuẩn bị xây cất ni viện. Ni viện cũ tuy hơi chật mà có chút tiện nghi, còn chỗ đất mới thì chưa có gì hết. Nhưng quý thầy rất dễ thương, thường ở chùa quý thầy thì không cho phụ nữ ở, nhưng  thấy tội nghiệp quá, nên quí thầy cho hai chị em một phòng cuối cùng, gần cổng sau vườn chùa. Hai chị em phải tự túc nấu ăn, nấu ngay trong phòng ngủ, ăn rất đơn giản.

Ở đó CĐ có cơ hội quan sát cách sống của quý thầy. Quý thầy có rất nhiều “baby monks” (chú tiểu)  người Tây Tạng khoảng 5 đến 7 tuổi, rất dễ thương. Mỗi ngày có lớp và có thầy dạy cho các chú tiểu  học. Các baby phá nhiều lắm, nếu thầy bận đi đâu, các baby không học, trốn ra ngoài chơi, và có một đứa đứng ở góc canh khi nào thầy về để chạy ra báo, nhưng có khi chạy  không kịp, và bị thầy đánh. Các baby học nhiều lắm, kinh thì phải học thuộc lòng, và tập viết trên cái bảng nhỏ xíu màu đen. Mỗi ngày đều ăn cơm im lặng, hoàn toàn im lặng. CĐ rất cảm động khi thấy quý thầy ăn cơm im lặng. Nhưng mà Sư cô và CĐ không thể ở lâu trong tu viện của quý thầy mãi được. May sao một cư sĩ người Tây phương, có dựng môt cái thất nhỏ ở trong rừng, rất gần chỗ đất mình xây cất ni viện. Họ đi về nhà, họ cho mình ra đó ở tạm. Trong thất không có điện, không có nước, nhưng lại có nhiều bò cạp. CĐ sợ quá. Thỉnh thoảng các sư cô lên giúp về vấn đề xây cất, có khi năm người phải ở trong cái cốc đó. Khi nằm ngủ đưa tay lên thì đụng người này, hạ tay xuống thì đụng người kia. Ai cũng phải làm việc rất nhiều, trộn hồ, khiêng gạch… Những khi trời mưa thì vui lắm, được nghỉ, vì công việc đó rất là mệt, làm từ sáng tới tối. Buổi sáng thì không có gì để ăn, chỉ có một chút bột và trà. Xứ đó họ trồng trà, cho nên mình có đầy đủ trà, người ta mang tới cúng dường trà nhiều lắm, ngon nữa, mình không thiếu trà, nhưng những thứ khác như bột gạo, bột mì thì rất là ít.

Có nhiều buổi sáng thức dậy không có gì để ăn, tới 11 giờ thì mình uống trà với đường, trưa ăn chút cơm, nếu không có cơm thì mình ăn bánh chappati. Chiều uống chút sữa trâu, và có cháo, nhưng rất loãng, như nước vậy. Sau một thời gian, CĐ quá yếu, nhưng thật sự CĐ rất thích ở chùa, đời sống ở đây quá đẹp, quá yên tĩnh. CĐ thích cách sống đơn giản, không còn muốn trở về lại Tây phương. Nhưng sức khỏe của CĐ càng ngày càng yếu, CĐ ốm và đen nhiều lắm.Tình cờ ngày đó có một thầy nghé thăm, Thầy cầm theo một cái đài radio và thầy nói với CĐ: “CĐ có biết không, ở bên Anh có rất nhiều phụ nữ đang ngồi thiền chung quanh một chỗ mà người Mỹ đặt vũ khí nguyên tử, để biểu tình ngăn người Mỹ không cho đem vũ khí ra gây chiến, rất nhiều phụ nữ, chỉ phụ nữ thôi, không có đàn ông”. CĐ nghe và cảm động lắm. Lúc đó CĐ bệnh và yếu quá nên quyết định đi về Anh để mình có thể cùng tham gia vào cuộc biểu tình. Do vậy CĐ đi về Anh, lúc đó CĐ vẫn là một người cư sĩ thôi. Trước đó, CĐ có xin để xuất gia làm sư cô, nhưng Sư cô ở đó nói chưa được, đúng như vậy, CĐ không có đủ sức để làm.

CĐ  về Anh, và đến ngồi chung với những người phụ nữ biểu tình đó, cả ngày lẫn đêm, thay phiên nhau, ai mệt thì nằm xuống nghỉ và sau khi khỏe thì lại ngồi. Ở đó có những người lính họ nói với CĐ: “cô sẽ chết lạnh, ở ngoài đó lạnh lắm, đừng có ngồi nữa”. CĐ vẫn cứ ngồi và thầm mong gặp một vị Thầy vận động cho hòa bình, mà đồng thời cũng là một Thầy tu Phật Giáo. CĐ hỏi mọi người: “có ai mà vừa tu vừa vận động cho hòa bình không?”, không có ai trả lời, nhưng cuối cùng có một người nói “có”, có một ông Thầy tên là Thầy Nhất Hạnh. Và CĐ quyết định đi tìm Thầy Nhất Hạnh, (không biết CĐ đi tìm Thầy Nhất Hạnh hay là Thầy Nhất Hạnh đi tìm CĐ nữa) …cười .  CĐ gặp một số người quen với Thầy Nhất Hạnh, họ đề nghị “ tại sao mình không tổ chức một khóa tu ở bên Anh và mời Thầy Nhất Hạnh sang?”. Một số người nói họ sẽ tổ chức nhưng cuối cùng họ bỏ cuộc, không tổ chức nữa, cuối cùng CĐ phải nhận trách nhiệm tổ chức khóa tu đó. CĐ còn nhớ ngày CĐ ra phi trường đón Thầy ở phi trường. Hồi đó là năm 1986, Sư Ông khoảng 60 tuổi, trẻ lắm. Sư Ông có vẻ rất trẻ như là 30 tuổi vậy. CĐ đã tổ chức rất là dở, không hiểu một chút gì về Sư Ông hết, tổ chức ở một chỗ rất lạnh, không có đủ sưởi. Sư Ông phải làm việc rất nhiều,  nhưng lại ít người tới, có khi chỉ 6 người thôi. Sư Ông rất từ bi và dễ thương, vẫn  nói pháp thoại cho 6 người đó nghe. Đó là lần đầu tiên CĐ tu theo pháp môn của Làng, thấy rất là vui, và cũng là lần đầu tiên hiểu ý nghĩa của lạy Bụt, và bắt đầu thích lạy. Khi nghe Sư Ông xướng “working mindfully, working joyfully, for the seek of  all beings…” CĐ hiểu một chút, hiểu tại sao mình lạy. Học thở, học đi, và hơn nữa Sư Ông cho một bài pháp thoại về Tâm Kinh Bát Nhã, mà đối với người Tây Tạng Tâm Kinh Bát Nhã rất là rắc rối, rất là khó hiểu. Họ không có giải thích nhiều, CĐ nghĩ có lẽ sẽ không bao giờ hiểu được kinh Bát Nhã. Bây giờ nghe Sư Ông giảng thì dễ hiểu và giản đi, mình có thể hiểu liền “ít nhất mình nghĩ mình hiểu”. Sư Ông đưa lên một tờ giấy và nói : “trong tờ giấy này có đám mây, có mặt trời, có người đốn cây v.v…” Lần đầu tiên CĐ bắt đầu hiểu kinh Bát Nhã, vui lắm. Lúc từ giã, Sư Ông đã hôn lên trên trán của CĐ. CĐ rất cảm động khi Sư Ông làm như vậy. Sư Ông còn nói: “tháng bảy CĐ qua Làng đi”, và tháng bảy CĐ đã qua Làng. CĐ nghĩ sẽ ở Làng một tháng và sau đó sẽ về Anh để dạy học, nhưng sau khi ở Làng một tháng Sư Ông cho ở lại luôn.…cười Smile.

Smile Dạ, kính thưa sư cô, đã có bao giờ sư cô giận Thầy chưa?

Sư cô: Có chứ, nhưng không phải lỗi từ Thầy, mà là vì CĐ muốn được Thầy thương. Lúc CĐ mới đến Làng thì có Thầy, Sư cô Chân Không với CĐ. Thầy để ý đến CĐ rất nhiều, cưng rất nhiều. Nhưng mà Sư Ông tiếp tục cưng như thế thì chắc là CĐ sẽ hư, sẽ bỏ đi, không có tốt. Có một lần kết thúc khóa tu mùa hè, hồi đó chưa có ngày làm biếng chính thức. Nhưng Sư Ông cũng muốn sau khóa tu mùa hè đại chúng được làm biếng. Khi đó CĐ là chúng trưởng ở dưới xóm Hạ, CĐ muốn mọi người tiếp tục tu và thức dậy sớm buổi sáng. CĐ đã thỉnh chuông và hướng dẫn nhiều sinh hoạt khác… Có một thị giả của Sư Ông là cư sĩ (vì hồi đó tu sĩ rất ít) nói với Sư Ông là dưới xóm Hạ, CĐ bắt buộc mọi người mỗi ngày đều phải ngồi thiền buổi sáng. Sư Ông không đồng ý, nói với  thị giả xuống nói với CĐ là đừng làm như vậy, đừng bắt buộc mọi người thức dậy. Lúc đó CĐ giận, nói là:”tại sao Sư Ông không nói trực tiếp với CĐ mà nhờ người nhắn?”. Và CĐ đi lên xóm Thượng hỏi Sư Ông: “tại sao Sư Ông không cho tu tập, ngồi thiền như vậy…” Sau đó thì CĐ thấy mình có lỗi, và sám hối. Sư cô Chân Không nói CĐ nói như vậy là bất hiếu.

Smile Dạ, kính thưa sư cô! Xin sư cô chia sẻ cách thực tập để giữ gìn bước chân của mình. Chúng con còn trẻ, vừa bước được một bước thì bước thứ hai đã bước rất nhanh rồi.

Sư cô: CĐ không phải luôn luôn có bước chân bình an. CĐ đã thấy Sư Ông đi thiền hành năm 1986. Lúc đó đi từ phi trường lên chỗ đậu xe, Sư Ông đã nói về vấn đề đi thiền hành. CĐ có thói quen đi rất nhanh, mỗi lần nhìn ra sau thấy mình đi thật xa rồi mà Sư Ông còn đi đằng sau, mình phải dừng  lại chờ Sư Ông tới, rồi lại đi mau rồi lại chờ Sư Ông tới. Có một lần, Sư Ông nói CĐ xem thử  phòng nào ở trên gác có thể làm thiền trà được không. CĐ rất muốn làm thật nhanh nên nhảy lên bậc cầu thang hai bậc một bước. Sư Ông nói “there is no hurry, take your time”. Từ lúc đó CĐ rất để ý đến bước chân của Sư Ông và muốn làm giống như Sư Ông, vì thấy nó quá đẹp. Khi CĐ thực tập được như lời Sư Ông dạy thì trong người rất yên, cái cách đi làm cho mình thấy yên. Không phải mình yên mà mình đi như vậy, bởi vì mình đi như vậy mình cảm thấy yên. Có khi trong người không khỏe, đi như vậy cũng phần nào được trị liệu, một cách trị liệu. CĐ nghĩ vấn đề là để hết lòng, đầu tư hết con người ở trong bước chân, thì mình sẽ thành công.

Smile Thưa sư cô! Từ khi mới xuất gia cho đến bây giờ, có khi nào sư cô cảm thấy mình cô đơn chưa? và nếu có, sư cô đã thực tập như thế nào để chuyển hóa nó?

Sư cô: Có chứ, có nhiều lúc cảm thấy cô đơn lắm, nhưng phương pháp của CĐ khi thấy cô đơn là đừng ở một mình, phải đến với một người khác, phải đến với Tăng thân. Đó là phương pháp hay nhất. Bởi vì khi đến với người khác, mình thực sự thấy mình không cô đơn, và mình không cần làm gì hết, đừng có cô lập hóa mình. Điều quan trọng là tham gia thời khóa cho đầy đủ, để được đại chúng nuôi dưỡng. CĐ thấy mình cô đơn là vì mình không có cố gắng đủ để có mặt cho mọi người, nên mình có cảm tưởng là mọi người không có mặt cho mình.

Smile Kính thưa sư cô! Bằng cách nào sư cô luôn giữ được sự tươi mát và niềm hứng khởi khi có mặt trong mọi sinh hoạt của đại chúng?

Sư cô: CĐ tham dự thời khóa vì CĐ thấy cần thiết cho mình, nó đem lại cho mình nhiều năng lượng. Trước khi đi tu, lúc CĐ khoảng 18 tuổi, CĐ bị một chứng bệnh tâm lý. Bệnh đó khiến mình không muốn ăn, mình ốm dần mỗi ngày, làm cho mình yếu đi. Thời gian ở Ấn Độ thì cũng không có gì để ăn, và không có nước để uống nữa nên yếu thêm. CĐ rất cần đại chúng, ngồi với đại chúng và cùng tu tập thì có thêm rất nhiều năng lượng. Ở một mình hoài trong phòng, thì có khi không có đủ năng lượng.

Smile Kính thưa sư cô! Đối với sư cô lời khuyên gì là quan trọng để chúng con có thể đem nó vào trong trái tim và nhắc nhở mình trên con đường thực tập?

Sư cô: “Tu cho vui, không cần hoàn hảo”, mỗi ngày để cho năng lượng của đại chúng đi vào mình, cởi mở để chấp nhận mọi người. Trong những buổi họp nhớ nói ra ý kiến của mình, dù là không có ai đồng ý… Smile. Nếu có ai trong chúng mà mình chưa thương được, chưa yêu được thì nhớ để một chút thì giờ để hiểu người đó, thương người đó.

Smile Kính thưa sư cô! Làm thế nào thực tập không bị “vướng mắc” để mình có thể giữ trọn con đường tu của mình?

Sư cô:
Sư Ông có dạy, mỗi ngày phải nhìn trong gương, sờ lên đầu để tự nhắc nhở mình đang là một người tu. Sư Ông thường nói về vấn đề tham ái và  sợ hãi. Trong mỗi người chúng ta ai cũng có nhu yếu muốn trở thành một người mẹ, một người cha. Điều đó biểu hiện rất tự nhiên, và cũng tiềm ẩn rất sâu trong mỗi người.  Chắc chắn  nếu tu không giỏi thì mình dễ bị vướng mắc. Điều căn bản là phải lôn thực tập uy nghi, giới luật cho thật nghiêm túc.

Smile Kính thưa sư cô! Theo sư cô “Điều gì là tuyệt vời nhất trong đời sống của một người tu?”

Sư cô: Theo CĐ “ Đó là sự tự do, tự do để nhận ra ý nghĩa lớn nhất của cuộc sống. Tự do đem lại cho mình nguồn năng lượng rất lớn, để thực hiện ước muốn sâu sắc nhất của mình. Đó là lý do tại sao chúng ta muốn trở thành người tu. Chúng ta muốn giúp chính mình, và giúp những người khác tiếp xúc được với cuộc sống một cách sâu sắc. Là người tu, chúng ta có tự do để làm được điều đó. Chúng ta dành cả cuộc đời mình để làm điều đó. Và đó là điều tuyệt vời nhất đối với một người tu. Giờ đây, chúng ta không có gì để lo lắng cả.

Smile Kính thưa sư cô!  rất nhiều em trẻ muốn đi tu có băn khoăn và đặt câu hỏi là: “Sư Ông thì lớn tuổi, già, sắp tịch rồi, nếu như đi tu với Sư Ông, lỡ Sư Ông tịch rồi thì mình sẽ bơ vơ, xin sư cô cho các  em đó một lời khuyên”.

Sư cô: Sư Ông rất là khỏe, Sư Ông đi qua những nguy hiểm rồi mà vẫn còn khỏe lắm, như vậy thì Sư Ông cũng còn sống lâu các sư em không phải lo. Một ngày nào đó nếu Sư Ông không biểu hiện thân tướng là Thầy Nhất Hạnh ở Làng Mai nữa, thì cũng không sao. Bây giờ người cư sĩ họ có rất nhiều niềm tin nơi tăng thân xuất gia. Năm rồi ở Mỹ Sư Ông phải nằm bệnh viện, không hướng dẫn khóa tu được.  Ban đầu người ta rất sợ và buồn, vì Sư Ông không có mặt, nhưng sau vài ngày tu tập với quý thầy, quý sư cô thì họ rất vui và hạnh phúc, giống như Sư Ông có mặt với họ vậy. CĐ tin là quý thầy quý sư cô có thể nương vào nhau, mỗi người có thể thấy Sư Ông nơi các anh chị em của mình. Sư Ông không có mất, không có gì mất đi cả. Những bài giảng của Sư Ông còn đó, đủ để nghe cả đời. Sư Ông thường nói “đối với một người con, nếu mình có hiếu là mình tiếp nối sự nghiệp của ông cha”. Đời sống thì thay đổi, mỗi năm mỗi khác, mình phải tiếp tục tìm những pháp môn mới, phù hợp với thời đại và có hiệu lực giúp đời, giúp người bớt khổ. CĐ nghĩ một người không thể nào thay thế cho Sư Ông được, nhưng mà một Tăng thân thì có thể, nếu biết nương vào nhau thì mình sẽ làm được.  Phải tập thấy Sư Ông ở ngoài Sư Ông, đừng có chờ đến khi Sư Ông không còn biểu hiện nữa, rồi khóc than, thì không có giỏi.

SmileChúng con kính cám ơn sư cô rất nhiều, đã bỏ thời gian để ngồi với chúng con.

Sư cô: Cám ơn các sư em cũng đã bỏ thời gian để ngồi chơi chung với sư chị.

Cây sen vàng

Gia đình xuất gia Cây sen vàng có 46 vị xuất gia ngày 08 tháng 03 năm 2009. Lễ truyền giới tiến hành tại thiền đường Nước Tĩnh – chùa Pháp Vân, xóm Thượng – Làng Mai và được truyền qua mạng lưới Internet về tổ đình Từ Hiếu.

Sen Vàng

Nhạc và lời:  Pháp Xa, Pháp Giải

Download

 


————————————————————-

Sen Vàng

Nhạc và lời: Pháp Cao, Pháp Hoan

Download

Cây sen trắng

Gia đình xuất gia Cây Sen Trắng có 42 vị xuất gia ngày 20 tháng 09 năm 2008. Lễ truyền giới được tiến hành tại thiền đường Nước Tĩnh – chùa Pháp Vân – xóm Thượng, Làng Mai và được truyền qua mạng lưới Internet về tổ đình Từ Hiếu.

Sen trắng mùa thu

Download

Sen trắng mùa thu

Sen trắng mùa xuân

Download