Tiêu thụ có chánh niệm

Câu hỏi: Khi con dạy con trai của con sống giản dị, không nên mua sắm, tiêu xài hoang phí thì con trai của con nói rằng nếu ai cũng sống giản dị như Bụt thì xã hội làm sao phát triển được. Phải có tiêu xài mua bán thì nhà máy sản xuất mới phát triển chứ? Con không biết phải trả lời con trai như thế nào, kính xin Thầy giúp con.

Thầy trả lời:

Mình phải thấy được nguyên do sâu xa của lý luận này. Mục đích của con người là có hạnh phúc, nhưng có nhiều người nghĩ rằng mình không thể hạnh phúc nếu không có nhiều tiền để mua sắm. Khi nhìn xung quanh mình thấy nhiều người rất giàu, rất nhiều tiền, muốn mua gì cũng được, muốn sắm gì cũng được nhưng điều đó không có nghĩa là người đó có hạnh phúc. Có những người rất giàu nhưng rất cô đơn, không có bạn, không có ai hiểu mình và có cảm tưởng rằng người ta tới với mình không phải vì tình bạn mà vì mình giàu. Do đó người đó có ít bạn, rất cô đơn.

Tôi đã từng gặp những ông tỷ phú như vậy. Họ rất giàu, họ có nhiều quyền thế nhưng họ không có tình thương, họ rất cô đơn. Vì vậy nếu kết luận rằng có nhiều tiền để mua sắm thì có hạnh phúc là không đúng. Có nhiều người rất giàu, nhiều quyền lực, nhiều danh vọng nhưng họ có rất nhiều khổ đau. Đã rất nhiều người đi tự tử. Quý vị phải giúp cho con trai hay con gái mình biết được điều đó.

Hạnh phúc chỉ có được khi nào mình được hiểu, được thương, cũng như khi mình có khả năng hiểu và thương người khác. Khi mình hiểu được mình, thương được mình; mình hiểu được người khác, thương được người khác thì dầu mình sống đơn giản, ít tiêu xài như các thầy các sư cô ở Làng Mai cũng vẫn có hạnh phúc rất nhiều. Các thầy, các sư cô ở Làng Mai không ai có tài khoản riêng, có nhà riêng, có xe riêng, không mua sắm nhiều nhưng tại sao ai cũng cứ cười hoài. Vậy nên nếp sống đơn giản không phải là nếp sống không có hạnh phúc.

Nếu mình muốn có nhiều tiền để mua sắm thì mình phải làm việc rất nhiều, mình không có thì giờ để chăm sóc, thương yêu chính mình và chăm sóc cho người khác. Vì vậy mình không có hạnh phúc. Nếu ai cũng sống giản dị như Bụt thì hạnh phúc lắm, vì mình có nhiều thì giờ để thương yêu. Cuộc đời của Bụt là cuộc đời của sự thương yêu. Cho nên mình gọi Bụt là Đức Từ Bi. Đức Từ Bi nói nôm na là người biết thương, người có khả năng thương và thương được rất nhiều người. Sở dĩ thương được nhiều người là nhờ mình có tu tập. Nếu không có tu tập thì thương một người cũng khó chứ đừng nói nhiều người. Cứ lên, xuống, hệ luỵ rất nhiều. Cho nên phải học thương. Phải nói cho con trai biết là hạnh phúc không nằm ở chỗ tiêu thụ. Hạnh phúc nằm ở chỗ ta có thì giờ để chăm sóc cho chính mình, cả về thân và tâm, cũng như có thì giờ để chăm sóc và thương yêu những người khác.

Hiểu và thương là hai yếu tố căn bản của hạnh phúc. Nếu không có hiểu thì không có thương. Người  thực sự thương mình là người có khả năng hiểu mình và mình có thể nhận diện người đó dễ dàng. Người đó có khả năng lắng nghe mình. Mình nói điều gì người đó cũng lắng nghe và hiểu được. Còn mình nói điều gì cũng cắt lời mình và chỉ muốn nói cho mình nghe thôi thì mình biết người này không có khả năng lắng nghe, không có khả năng hiểu mình và người đó có thể làm cho mình khổ suốt đời.

Bên Cali có một anh chàng rất thông mình và đẹp trai, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có công ăn việc làm rất tốt và có rất nhiều bạn gái. Anh sống với mẹ. Bà mẹ nhận thấy con trai mình đặc biệt chú ý tới một  trong những cô bạn mà theo bà thì cô này không phải là đẹp nhất. Một bữa, hai mẹ con ngồi nói chuyện, bà nói rằng: Má thấy con chú ý tới cô đó nhưng đó đâu phải là người đẹp nhất. Có rất nhiều người đẹp hơn mà sao con không thương, con lại thương cô ấy. Anh rất ngạc nhiên khi thấy mẹ mình cũng quán sát và biết được điều đó. Ban đầu anh không tìm được câu trả lời nhưng cuối cùng anh cũng tìm ra. Anh nói : Má ơi, tại vì cô ấy hiểu con, cô ấy biết lắng nghe con, cô ấy hiểu được những khổ đau và ước vọng của con. Vậy nên con biết rằng con cần một người như vậy, cần một người hiểu và thương con. Câu chuyện rất đơn sơ nhưng rất rõ là muốn thương thì phải hiểu.

Trong cuộc đời mình, phải có nhiều may mắn lắm mình mới gặp một người có thể hiểu mình. Nếu mình muốn thương một người thì mình cũng phải có khả năng hiểu được người đó, mình phải có khả năng thấy được những khó khăn, những bức xúc, những khổ đau của người đó. Mình phải có khả năng nghe, nhìn và thấy được. Khi mình hiểu được rồi thì mình sẽ thương. Hai chữ hiểu thương khác nhau nhưng kỳ thực nó là một. Khi không hiểu nhau thì đừng nói là thương. Có khi người cha không hiểu được đứa con của mình. Dù đứa con của mình mới chỉ 14, 15 tuổi nhưng nó đã có những khó khăn, khổ đau của nó rồi. Nếu mình áp đặt ý của mình lên đứa con và bắt nó làm, bắt nó nói, bắt nó hành xử theo kiểu mà mình cho là đúng thì có thể mình làm khổ nó thêm.

Nếu mình muốn làm một người cha thật sự thì mình phải có thì giờ để lắng nghe con. Phải biết được những khó khăn, khổ đau của nó trong trường học, trong gia đình, trong giới bạn bè. Phải ngồi nói chuyện với nó. Nếu không hiểu con thì mình không thương con được. Cha nào cũng muốn thương con nhưng có thể mình càng thương thì mình càng làm khổ cho nó, tại vì mình không hiểu. Hiểu là chất liệu làm ra thương. Vậy nên cha phải ngồi nói chuyện với con để hiểu con. Con cũng vậy. Con cũng muốn thương cha lắm nhưng thương không được tại vì không hiểu được niềm đau nỗi khổ của cha. Cho nên hai cha con phải ngồi với nhau, phải có thì giờ cho nhau. Con phải hỏi cha về những khó khăn, khổ đau, bức xúc của cha. Vì cha có những khổ đau của cha nhưng tại vì con không biết cho nên cứ trách móc cha. Khi hiểu được những khó khăn, bức xúc của cha thì tự nhiên con không còn trách cha nữa và hai cha con mới có sự truyền thông. Có sự truyền thông thì mới có sự hòa giải. Vậy nên chất liệu của hiểu đã làm ra thương.

Theo phương pháp của đạo Bụt thì mình phải hiểu mình. Lắng nghe mình trước rồi sau đó mình lắng nghe để hiểu được người kia. Cái hiểu càng lớn thì cái thương càng lớn. Trong liên hệ bạn bè hay liên hệ vợ chồng, cá nhân mình có thể tìm cách hiểu được người kia và mình có thể nhờ người kia giúp cho mình. Ví dụ như mình nói: anh ơi, anh có nghĩ rằng em đã hiểu được anh chưa ? Em có cảm tưởng là em đã hiểu được anh nhưng chưa chắc em đã hiểu được. Vậy anh hãy giúp em hiểu anh hơn . Anh hãy nói thêm về những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của anh để cho em có thể hiểu được anh hơn. Mình đừng nghĩ rằng mình hiểu người kia quá rồi. Thực ra hai mẹ con có thể không hiểu nhau vì hai mẹ con chưa có thì giờ ngồi để tâm tình với nhau.

Hôm qua Thầy có nói chuyện với các em nhỏ. Thầy nói rằng mình thường có cảm tưởng là mình hiểu mẹ mình là ai rồi nhưng thực tình mình không biết gì về mẹ hết. Phải ngồi lại và hỏi mẹ: Mẹ ơi, hồi còn bé mẹ sống ra sao, mẹ có những khổ đau nào, những nỗi niềm nào? Mẹ có thể ngồi nói chuyện với con, con nói chuyện với mẹ. Cái đó rất đẹp, nó giúp cho hai bên hiểu nhau và thương nhau. Điều này đúng với mối liên hệ cha con, bạn bè hay hai người yêu nhau. Chúng ta phải có thì giờ để nhìn nhau, để thấy được những khổ đau của nhau và lắng nghe nhau. Có hiểu thì mới có thương. 

Làm thế nào khi mất người thương?

Câu hỏi: Trường hợp vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, con cái đã trưởng thành và lập gia đình. Nay một trong hai người đã qua đời thì người kia phải làm như thế nào để có đủ năng lượng đi hết đoạn đường còn lại. Thường thì người này sẽ chết vì đau buồn, nhớ thương sau một khoảng thời gian ngắn khi người kia qua đời. Phải làm sao để đi hết đoạn đường còn lại trong an lạc, thong dong, không bị ám ảnh bởi quá khứ?

 

Thầy trả lời:

Trịnh Công Sơn có bài hát Hạ trắng, trong đó có câu: “áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau”. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng câu chuyện đó bắt nguồn từ câu chuyện của một cặp vợ chồng ở Huế. Hai ông bà sống với nhau cho tới già và con cái đã lớn, có gia đình riêng. Sống với nhau tới khi đầu bạc răng long là một thành công. Trong suốt sáu mươi, bảy mươi năm sống với nhau, sáng nào bà cũng xuống bếp pha cho ông một bình trà. Không có ngày nào không làm như vậy nên nó là một lễ nghi.

Buổi sáng hôm đó, như thường lệ bà xuống bếp làm cho ông bình trà nhưng chẳng may bị trúng gió, ngã ra và qua đời ngay tại bếp. Trên nhà ông đợi hoài không thấy bình trà đem lên. Trong lúc đó, tình cờ đứa con trai ghé nhà và thấy mẹ đã qua đời dưới bếp liền tìm cách đưa mẹ về nhà làm lễ an táng. Anh sợ báo tin cho cha biết là mẹ đã mất thì cha sẽ buồn và mất theo nên tìm cách giấu tin đó. Sau đó anh đã nói với cha: “mẹ của chúng con đang ở với các cháu nên con qua đây để chăm sóc cha”. Anh đã tìm cách giấu tin đó trong nhiều ngày nhưng giấu lâu không được nên một buổi sáng ông đã hỏi: “có phải mẹ của các con đã mất rồi phải không?” Lúc đó anh đã òa ra khóc và nói: “thưa cha, đúng như vậy”. Từ đó trở đi ông không ăn cơm nữa, không có uống trà nữa cho tới khi ông mất. Vì người đã sống với mình sáu, bảy chục năm giờ không còn nữa thì mình không có lạc thú sống ở trên đời nữa và người đó không muốn sống nữa. Đó là trường hợp của khá nhiều người.

Để trả lời cho câu hỏi này phải dựa trên sự quán chiếu về sống, chết. Khi mình chết rồi thì mình đi về đâu, vì có nhiều người nghĩ rằng chết rồi là hết. Kỳ thực không phải. Ví dụ như đám mây. Khi đám mây  không còn là đám mây thì nó tiếp tục trong một hình thức mới là cơn mưa, hoặc là tuyết. Không có gì là từ có trở thành không. Cái gì cũng tiếp tục. Nó chỉ thay hình đổi dạng. Vậy nên khi người thương của mình chết không có nghĩa là người đó không còn. Người đó vẫn còn dưới những hình thức khác. Không có gì mất đi. Khoa học bây giờ cũng công nhận điều đó. Họ nói rằng vật chất và năng lượng không mất đi. Trên phương diện hình thức thì mình không thấy nó nhưng trên phương diện nội dung thì nó vẫn còn. Vật chất dưới hình thức này có thể trở thành vật chất dưới hình thức kia và vật chất có thể biến thành năng lượng. Năng lượng dưới hình thức này có thể trở thành năng lượng dưới hình thức kia và năng lượng có thể trở lại thành vật chất. Đó là luật thứ nhất của nhiệt động học. Khoa học cũng đồng ý rằng không có gì sinh cũng không có gì diệt, giống như trong Tâm Kinh Bát Nhã có nói bản chất của sự vật là không sinh không diệt.

Trong trường hợp bà mất thì ông phải quán chiếu là bà vẫn còn và đang được tiếp nối trong ông và trong các con. Một ví dụ rất dễ hiểu là ai trong chúng ta cũng đã từng trải qua một thời gian làm em bé. Khi mình ba tuổi thì cha có chụp cho mình chụp một bức hình. Hình đó còn nằm trong album. Bây giờ lật ra và ta thấy em bé ba tuổi là mình thì mình hỏi em bé ba tuổi này đã chết chưa? Nếu chưa chết thì tại sao mình không còn thấy nữa. Cũng như đám mây. Mình không thấy đám mây ở trên trời thì mình nói đám mây đã chết rồi. Vậy nên mình phải thấy sự tiếp tục của đám mây trong cơn mưa. Bây giờ mình không thấy mẹ của các cháu nữa nhưng không có nghĩa là bà đã chết. Bà còn đang tiếp tục ở trong chính mình và trong các cháu, cả ở những chỗ khác nữa.

Trong đạo Bụt mình được học về nghiệp (nghiệp tức là hành động). Trong đời sống hàng ngày mình chế tác những tư tưởng, lời nói và hành động. Những cái đó là sự tiếp nối của mình, gọi là nghiệp. Mọi tư tưởng của mình đều mang chữ ký của mình. Chính mình đã phát ra những tư tưởng đó. Dù là tư tưởng từ bi hay tư tưởng hận thù đều là tư tưởng. Những tư tưởng phát ra làm cho mình khổ hay hạnh phúc thì mỗi tư tưởng đều mang chữ ký của mình. Mỗi lời nói của mình cũng vậy. Lời nói của mình dễ thương hay khó thương thì mỗi câu nói đó đều mang chữ ký của mình. Mình là tác giả. Những hành động của cơ thể mình có thể là những hành động tàn sát, giết hại thì những hành động đó đều mang chữ ký của mình. Những hành động cứu trợ, giúp đỡ, che chở thì cũng là hành động của mình. Tất cả những hành động đó đều mang chữ ký của mình. Tư tưởng, hành động, lời nói của mình là sự tiếp nối của mình trong tương lai. Khi cơ thể của mình tàn hoại thì mình cũng tiếp tục như thường, vì những hành động kia (tam nghiệp) được tiếp nối dưới những hình thức khác. Vậy nên mình không thể nói người kia không còn nữa. Người kia vẫn còn. Tại vì mình không nhận ra sự tiếp nối của người kia mà thôi.

Cho nên ông cụ cần phải thấy được bà vẫn còn sống, vẫn đang có mặt nơi các con và các cháu của mình. Ông cụ vẫn phải làm công việc nuôi dưỡng các con và cháu của mình. Ví dụ mình có một cây bắp mới lên. Khi nẩy mầm nó cắm rễ xuống đất và cho ra hai chiếc lá. Năm, bảy ngày sau có thêm năm hay sáu, hay bảy chiếc lá. Nếu quán sát thì mình sẽ thấy hai lá đầu từ từ vàng và khô lại. Cây chuối cũng vậy. Những lá chị vàng đi và khô lại trong khi những lá em xanh tươi mơn mởn đi lên. Nếu quan sát cho kỹ thì ta thấy hai lá đầu đã từng sống, đã từng tiếp thu nước và những chất ở dưới đất đi lên. Nó tự nuôi nó và nó nuôi những chiếc lá em. Bây giờ đây, nếu nhìn cho kỹ thì ta thấy hai chiếc lá chị đang có mặt đây, trong tất cả những chiếc lá em. Vậy nên hai chiếc lá chị đó dầu có khô, có vàng đi nhưng không phải là đã chết. Nó vẫn còn tiếp tục sống ở trong những chiếc lá non, lá còn xanh. Điều đó cũng dễ hiểu, cũng dễ thấy.

Cũng vậy, mình không chết được Mình còn đang được tiếp tục ở những thế hệ tương lai. Những gì mình nói, mình làm, mình suy nghĩ  đang tiếp tục trong cuộc đời. Nếu ông cụ thấy được điều đó thì ông sẽ tới và sống với các con, các cháu. Ông sẽ thấy ông vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng được các con, các cháu. Nếu làm được như thế thì sẽ không có sự mất mát. Điều này cũng cần tuệ giác. Tuệ giác đó chỉ có thể do thiền quán đưa lại mà thôi. Tuệ giác đó có thể giúp ông vượt thắng được sự cô đơn của mình. Ông không còn bị kẹt vào cái tướng của bà. Ông có con mắt vô tướng. Ông không còn thấy bà trong hình dáng quen thuộc mà ông thường thấy, mà ông thấy bà trong hình thái mới, rất trẻ, rất đẹp.

Cũng như ngày mai, nếu quý vị nghe tin thầy Nhất Hạnh không còn nữa thì quý vị đừng có khóc, vì quý vị nhìn vào quý thầy, quý sư cô trẻ, quý vị phật tử trẻ đang tiếp nối Thầy. Quý vị thấy cách họ đi, cách họ đứng, cách họ ngồi, cách họ giúp đời thì đó là Thầy. Thầy đang còn tiếp tục. Thầy không chết đi. Mình không cần phải khóc, mình không cần phải buồn. Không có gì chết hết. Cái gì cũng tiếp tục. Cái đó chỉ có tu thiền, quán chiếu thì mới thấy được mà thôi. Mình sẽ vượt thắng được cô đơn, tuyệt vọng.

Đối diện với niềm đau trong ta

Câu hỏi: Làm thế nào để có thể an trú được trong giây phút hiện tại khi ta không thể chịu đựng nổi giây phút đó?

 

 

Thầy trả lời:

Tại Làng Mai chúng ta thường nói: Đừng để cho quá khứ hay tương lai kéo ta đi, ta phải trở về với giây phút hiện tại. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao để có thể an trú trong giây phút hiện tại khi ta không thể chịu đựng nổi giây phút đó? Đây là một câu hỏi rất hay!

Người thực tập chánh niệm biết rằng mình luôn phải trở về với giây phút hiện tại. Khi trở về với giây phút hiện tại, chúng ta có thể đối diện với hai loại tình huống:

– Tình huống thứ nhất là ta thấy có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt cho ta ngay bây giờ và ở đây. Khi thở vào và đem tâm trở về với thân, ta an trú trong giây phút hiện tại. Ta nhận ra được rất nhiều yếu tố tươi mát có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu, rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong giây phút hiện tại. Ý thức được điều đó thì niềm vui và hạnh phúc sẽ được chế tác một cách dễ dàng. Ta nuôi dưỡng mình bằng niềm vui và hạnh phúc. Đó là tình huống thứ nhất mà ta gặp phải khi trở về với giây phút hiện tại.

– Tỉnh huống thứ hai là khi trở về với giây phút hiện tại, ta có thể đối diện với những cảm xúc đau buồn trong ta. Sự thật là thỉnh thoảng có những cảm thọ hay những cảm xúc đau buồn đi lên trong ta. Nhưng khi chúng bắt đầu phát khởi thì ta thường tìm cách trốn chạy, giả vờ như là chúng không hề tồn tại. Ta không có mặt để chăm sóc những cảm thọ và những cảm xúc đau buồn trong ta. Trong trường hợp này, ta trở về với giây phút hiện tại để có cơ hội chăm sóc và chuyển hóa niềm đau nỗi khổ trong ta.

Vì vậy cho dù giây phút hiện tại có khó chịu thế nào đi nữa thì ta cũng phải trở về, vì đó là cơ hội duy nhất của ta, cơ hội để làm lắng dịu và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau trong ta. Nhưng phần đông trong chúng ta không làm như vậy, bởi vì chúng ta sợ bị tràn ngập bởi khổ đau khi trở về đối diện với chính mình. Ta chạy trốn khổ đau bằng cách tưởng tượng ra một cái gì trong tương lai hay trở về quá khứ để tìm sự quên lãng. Nhưng quá khứ và tương lai chỉ là những hình ảnh mà không phải là thực tại, chỉ giây phút hiện tại là có thật mà thôi. Nhiều người trong chúng ta tìm cách khỏa lấp khổ đau bằng cách tiêu thụ. Ta đọc sách báo, xem truyền hình, nghe nhạc, tìm cái gì để ăn, nói chuyện điện thoại, v.v… Ta hy vọng rằng làm như vậy thì ta khỏi phải đối diện với khổ đau trong mình. Nhưng kỳ thực, khi làm như vậy, ta đang cho phép khổ đau tiếp tục lớn lên trong ta.

Phương pháp thực tập của chúng ta là trở về với giây phút hiện tại cho dù giây phút đó không được dễ chịu, tại vì chính nhờ giây phút đó mà ta có thể hiểu được khổ đau và thực tập để chuyển hóa khổ đau. Vì vậy, lần sau khi phải đối diện với giây phút không được dễ chịu thì ta đừng nghĩ rằng chạy trốn là phương pháp hay nhất. Giây phút không dễ chịu đó có thể là một cơ hội để ta nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ta phải có mặt trong giây phút đó và nhìn sâu vào khổ đau của chính mình. Nếu biết cách trở về với hơi thở và bước chân chánh niệm thì năng lượng chánh niệm mà ta chế tác được sẽ giúp cho ta trở nên vững mạnh để có thể đối diện và ôm ấp niềm đau nỗi khổ trong mình. Ôm ấp niềm đau nỗi khổ một cách nhẹ nhàng trong một vài phút thì ta có thể làm cho nó lắng dịu lại. Và nếu có những người khác cùng thực tập chung thì ta có thể thừa hưởng được năng lượng chánh niệm và từ bi tập thể. Ta có thể tiếp xúc với khổ đau và hiểu được nguồn gốc của khổ đau. Năng lượng của hiểu biết và từ bi có công năng trị liệu cho ta và cho những người chung quanh ta. Nếu có một nhóm người cùng tu tập với nhau, ôm ấp khổ đau một cách nhẹ nhàng thì năng lượng tập thể của chánh niệm và từ bi sẽ trị liệu cho ta. Và khi ta bớt khổ thì ta sẽ giúp cho những người khác cũng làm được như vậy.

Có một vị Bồ tát tên là Ksitigarbha – Bồ tát Địa Tạng. Bồ tát Địa Tạng có lời nguyện rằng Ngài sẽ tìm đến những nơi có thật nhiều đau khổ để giúp người, độ đời. Nhiều vị bác sĩ, ý tá và tác viên xã hội cũng đang làm như vậy. Họ tình nguyện đi đến những nơi có nhiều khổ đau trên trái đất để giúp người. Bồ tát Địa Tạng đang có mặt trong cuộc đời này, chứ không phải là một sự tưởng tượng. Rất nhiều người trẻ đang phụng sự như những Bồ tát Địa Tạng. Họ không sợ khổ đau vì họ biết là mình có thể giúp làm vơi bớt khổ đau. Những Bồ tát Địa Tạng này có một nguồn năng lượng mạnh mẽ và hùng hậu, đó là chí nguyện, một loại tư niệm thực.

Ý thức là mình đang còn sống và mình muốn làm một cái gì đó với cuộc đời của mình, mình muốn có một đời sống hữu ích và có ý nghĩa, cho nên họ phát khởi tâm nguyện đi vào cuộc đời để giúp cho mọi người bớt khổ. Họ không sợ hãi và trốn tránh khổ đau. Những vị Bồ tát đó cần sự yểm trợ của chúng ta. Chúng ta phải yểm trợ cho họ để họ không đánh mất đi chí nguyện của mình sau vài năm phụng sự. Chúng ta phải gửi năng lượng và sự khích lệ đến với họ, tại vì họ cũng cần được nuôi dưỡng và trị liệu. Sau 6 tháng hay một năm làm việc trong những điều kiện khó khăn, họ trở về nhà để được chăm sóc và trị liệu. Chúng ta phải cố gắng trị liệu cho họ để họ có thể trở lại tiếp tục công việc phụng sự. Bồ tát Địa Tạng cũng cần sự giúp đỡ. Chúng ta có mặt đây để giúp cho những vị Bồ tát Địa Tạng trẻ đang có mặt khắp nơi trên thế giới có thể tiếp tục công việc của họ.

Khi trong ta có từ bi thì ta không ngại những tình huống khó khăn. Nếu có đủ từ bi thì chúng ta sẽ được bảo hộ bởi năng lượng từ bi đó. Ta sẽ không bị tràn ngập bởi năng lượng khổ đau tập thể của những người chung quanh. Bồ tát Địa Tạng ý thức rằng mình cũng cần có một tăng thân để có thể tiếp tục được lâu dài. Chúng ta không nên thực tập một mình mà phải thực tập như một tập thể. Ta hãy cố gắng thuyết phục những người trong gia đình cùng thực tập với ta, mà cách thức hay nhất là mỗi ngày ta trở nên vui vẻ hơn, tươi mát hơn và dễ thương hơn. Như vậy thì những người thân của ta mới có niềm tin vào sự thực tập. Và khi trong gia đình hay trong đoàn thể có sự hòa hợp, sự lành mạnh và tình huynh đệ thì ta có thể thực hiện được chí nguyện của mình một cách dễ dàng hơn. Không có tăng thân, không có một tập thể thì giấc mơ của ta không thể nào trở thành sự thật. Ta có thể thực tập như một cá nhân, nhưng nếu ta thực tập như một tập thể hay như một tăng thân thì sẽ hay hơn rất nhiều.

 

 

Ai cũng có thể thành Bụt?

Câu hỏi:
1. Có rất nhiều Phật tử đi chùa tụng kinh. Vậy con xin hỏi tụng kinh để làm gì?
2. Bụt nói rằng ai cũng có thể trở thành Bụt. Xin Thầy giải thích tại sao Bụt nói như vậy?

     

    Thầy trả lời:

    1. Tụng có nghĩa là ôn đọc lại. Có nhiều thứ kinh, ví dụ như sáng hôm nay chúng ta đã học kinh Quán Niệm Hơi Thở. Mỗi kinh có một chủ đề và mình tụng kinh không phải để cầu nguyện mà để nhớ lại những điều Bụt dạy mà làm theo. Đó là mục đích của sự tụng kinh. Vì vậy chúng ta đừng tụng kinh như những con vẹt. Ta đừng nghĩ là ta tụng kinh thì Bụt thích lắm, Bụt rất ưa ta tụng kinh.

    Bụt muốn ta tụng kinh và làm theo lời dạy. Tụng kinh có nghĩa là nhớ lại những lời Bụt dạy và làm theo mà không phải là để có công đức. Nếu ta không làm theo thì có tụng bao nhiêu cũng vậy thôi. Ví dụ ta thường niệm “Nam mô A Di Đà Phật” hay “Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni”. Tụng và niệm hơi giống nhau. Niệm là nhớ lại, tụng cũng để nhớ lại. Nhưng mình nhớ lại như thế nào để có thể đem lại sự bình yên, đem lại khả năng hiểu và thương trong con người thì nhớ lại mới có ích lợi. Còn nếu quí vị cứ “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật” hoài mà sự căng thẳng, sự giận hờn, buồn phiền trong lòng không bớt chút nào thì quí vị có lặp lại câu “Nam mô A Di Đà Phật” một triệu lần cũng không có ích lợi gì, cũng như mình nói “một, hai, ba, bốn, năm, sáu,…” vậy thôi.

    Niệm Bụt có mục đích để tiếp xúc được với Bụt. Mà Bụt là gì? Bụt là khả năng có bình an, khả năng hiểu và thương. Vì vậy mình phải niệm Bụt như thể nào để chế tác được từ từ khả năng đó trong con người của mình. Chúng ta không thể làm như một con vẹt hay như một cái máy.

    Có một câu chuyện buồn cười xảy ra trong bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Một ông nọ có tri giác sai lầm về ông, ông nghĩ mình là một hạt bắp. Vì vậy mỗi khi thấy con gà đi ngang thì ông sợ hãi bỏ chạy. Ông nghĩ con gà sẽ tới mổ ông. Trên đời có rất nhiều tri giác sai lầm. Người ta không thù mình mà mình nghĩ là người ta thù mình. Người ta không ghét mình mà mình tưởng là người ta ghét mình. Ngưòi không muốn thủ tiêu mình mà mình tưởng là người ta muốn thủ tiêu mình. Người không muốn lợi dụng mình mà mình cứ tưởng tượng là người ta lợi dụng mình.

    Bác sĩ nói với ông bệnh nhân:

    – Anh nên biết, anh là một con người, anh không phải là một hạt bắp. Anh làm bài tập đi! Anh viết xuống câu “Tôi là một con người, tôi không phải là một hạt bắp”. Mỗi ngày anh phải viết xuống và lặp lại nhiều lần”.

    Đó là tụng niệm. Viết xuống nhiều lần là chép kinh. Đọc đi đọc lại là tụng niệm.

    Sau đó một tháng anh ta lên gặp bác sĩ, bác sĩ hỏi:

    – Anh là cái gì?

    Anh ta nói:

    – Thưa bác sĩ, tôi là một con người! Tôi không phải là một hạt bắp!

    – Giỏi lắm! Anh về đi, chiều nay chúng tôi sẽ cho anh xuất viện!

    Trưa hôm đó đi lang thang gặp một con gà, anh ta bỏ chạy làm cô ý tá chạy theo bắt lại không kịp. Bác sĩ rất thất vọng. Ông triệu tập bệnh nhân tới văn phòng hỏi:

    – Hồi sáng này anh nói rất rõ với tôi rằng anh là một con người, anh không phải là một hạt bắp. Vậy tại sao trưa hôm nay gặp con gà anh lại bỏ chạy?

    – Tôi biết rất rõ tôi là một con người chứ không phải là hạt bắp. Nhưng con gà đâu có biết, nó vẫn tưởng tôi là một hạt bắp nên tôi phải bỏ chạy thôi.

    Kiểu tụng niệm như vậy không có ích lợi gì cả vì không có tuệ giác. Vì vậy niệm Bụt A Di Đà hay niệm Bụt Thích Ca một triệu lần cũng không có ích lợi. Nếu trong mình không có sự bình an, mình không làm tăng thêm cái hiểu và cái thương, mình nhìn người kia vẫn còn hận thù, bực bội thì tụng kinh không có ích lợi.

    Như vậy có nghĩa là: không phải tụng kinh niệm Bụt không có ích lợi, nhưng tùy theo cách mà mình tụng kinh niệm Bụt. Nếu mình tụng như cái máy, như con vẹt thì không có ích lợi gì hết. Nghe chuông cũng vậy. Chúng ta ai cũng nghe chuông, nhưng có người nghe chuông thì rất khỏe còn những người khác nghe chuông như vịt nghe sấm, có nghe một ngàn tiếng cũng vậy thôi. Trong khi đó chúng ta nghe ba tiếng chuông thôi mà có rất nhiều bình an.

      2. Trong kinh nói: Người nào cũng có thể thành Bụt. Bụt là gì? Bụt là một con người nhưng có nhiều chất liệu của hiểu và thương. Hiểu là trí tuệ, thương là từ bi. Trong chúng ta ai cũng có cái hiểu và cái thương, nhưng có thể hiểu và thương của ta còn ít quá. Chúng ta hiểu mình chưa đủ, và khi chưa hiểu được mình thì làm sao mà hiểu được người khác. Chúng ta có những nỗi khổ niềm đau mà ta chưa hiểu và nhận diện được thì làm sao ta có thể hiểu được nỗi khổ niềm đau của người kia.

      Ta có cái hiểu nhưng cái hiểu đó chỉ lớn bằng hạt đậu phụng trong khi cái hiểu của đức Thế Tôn thì rất lớn. Ngài hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính Ngài. Ngài hiểu được nỗi khổ niềm đau của con người và của muôn loại. Tại vì có hiểu và thương nhiều nên hạnh phúc cũng rất nhiều. Khả năng hiểu và thương được gọi là Phật tính. Người nào cũng có Phật tính, nhưng ta phải tu tập hàng ngày để cái hiểu và thương đó mỗi ngày mỗi lớn lên. Chúng ta phải đặt câu hỏi:”Hôm nay cái hiểu và thương của tôi có lớn hơn hôm qua chút nào không?” Nếu nó không lớn hơn là ta giẫm chân tại chỗ. Trong sự liên hệ vợ chồng ta có thể hỏi:”Này anh, anh có thấy cái hiểu và thương của em có lớn hơn ngày hôm qua không? Anh nói thật đi!”

        Là một người tu thì mỗi ngày cái hiểu và thương của mình phải lớn lên. Mình phải giúp nhau, mình có thể giúp cho người kia hiểu thêm và thương thêm. Hạnh phúc tùy thuộc vào cái hiểu và cái thương. Mình chế tác cái hiểu và cái thưong cho mình và giúp người kia chế tác cái hiểu và cái thương. Người kia có thể là con hay là bố của mình.

        Bây giờ mình cũng đã là Bụt rồi nhưng là Bụt rất nhỏ. Khi nào cái hiểu và cái thương của mình lớn thì mình mới thật sự là Bụt lớn. Mỗi người đều có khả năng làm cho cái hiểu và thương trong con người mình lớn lên. Vì vậy cho nên trong kinh nói người nào cũng có khả năng thành Bụt. Nếu có thì giờ tu thì mỗi hơi thở, mỗi bước chân có thể giúp cho cái hiểu và cái thương của mình lớn lên hơn. Và mình phải có sự tiến bộ.

        Trong chùa có truyền thống “an cư kiết hạ”. Mỗi năm các thầy, các sư cô tu chung với nhau trong vòng 90 ngày để đào sâu và làm lớn lên cái hiểu và cái thương của mình. Đến rằm tháng 7 tức ngày tự tứ thì tính sổ xem thử cái hiểu và cái thưong của mình đã lớn được chừng nào. Trong ngày lễ tự tứ một thầy quì trước một thầy khác và hai thầy đối thoại với nhau:

        – Bạch thầy, con đã có cơ hội tu với thầy trong 90 ngày. Xin thầy dạy cho con trong 90 ngày đó con có sự tiến bộ trong sự thực tập hiểu và thương hay không hay là con còn giẫm chân tại chỗ? Xin thầy nói thẳng cho con biết.

        Khi được hỏi như vậy người kia sẽ nói thật cho mình biết là mình đã tiến bộ được bao nhiêu. Đó gọi là lễ tự tứ vào ngày rằm tháng bảy. Các thầy, các sư cô, các vị Phật tử được tu 90 ngày có cơ hội trong 90 ngày để làm lớn lên cái hiểu và cái thương của mình.

        Mình đừng nên tưởng tượng Bụt là một vị thần linh. Bụt là một con người như mình, nhưng là một người có rất nhiều khả năng hiểu và thương. Vì vậy Bụt không khổ đau nhiều, có khả năng làm hạnh phúc cho rất nhiều người và giúp cho người bớt khổ đau. Có nhiều hiểu biết và từ bi thì quí vị là một người hạnh phúc và quí vị có thể giúp cho người khác bớt khổ và có nhiều niềm vui. Như vậy thì quí vị đã là một vị Bụt gọi là Phật sống.

        Ở đời có rất nhiều Phật sống, mình đừng nên coi thường. Có những người không mang danh hiệu Phật tử nhưng họ có cái hiểu và cái thương rất lớn. Ngay trong loài người đã có những vị Bụt và những vị Bồ tát, tuy họ không tự xưng mình là Bụt hay là Bồ tát. Đó là những Bồ tát đại nhân. Vì vậy trong kinh nói “ai cũng có thể thành Bụt”, có nghĩa là ai cũng có thể làm lớn lên khả năng hiểu và thương của mình để  cho mình bớt khổ và giúp cho người khác cũng bớt khổ và có niềm vui.

        Nghề nghiệp chân chính

        Làm thế nào biết được mình đang sống một đời sống có thể cống hiến được nhiều nhất cho nhân loại? Tất cả chúng ta ai cũng phải có nghề nghiệp để sinh sống nhưng làm thế nào để chọn được một nghề nghiệp có thể đồng thời giúp cho thế giới này tốt đẹp hơn?

        Thầy trả lời:

        Chúng ta hãy tưởng tượng cây tùng đang đứng ngoài kia, nó hỏi:

        – Tôi phải làm gì để giúp ích cho đời?

        Câu trả lời sẽ rất đơn giản:

        – Cây tùng ơi, em chỉ cần làm một cây tùng xanh tốt là được rồi!

        Nếu cây tùng xanh tươi, khỏe mạnh thì tất cả chúng ta đều được nhờ. Nếu cây tùng không được xanh tốt thì chúng ta cũng sẽ khổ vì nó. Do vậy công việc hữu ích nhất mà ta có thể làm là hãy làm một con người hạnh phúc. Chúng ta phải vững chãi, tươi mát và hạnh phúc. Và khi chúng ta giữ cho mình được tươi mát, vững chãi và hạnh phúc thì chúng ta cũng đồng thời đang giúp ích cho mọi người. Vì vậy vấn đề là làm sao để mình được khỏe mạnh và tươi mát. Đó là câu trả lời!

        Trong câu hỏi này còn có một ý hỏi về nghề nghiệp: Tôi cần có một nghề để sinh sống, vậy làm thế nào để chọn được một nghề mà có thể giúp cho tôi sống hòa bình với chính mình và với thế giới? Câu hỏi này liên quan đến sự thực tập chánh mạng.

        Chúng ta ai cũng cần có một nghề nghiệp để sinh sống, nhưng có nhiều nghề giúp cho mình làm phát khởi được niềm vui và lòng từ bi. Chúng ta nên chọn một nghề có thể giúp mình trở nên từ bi hơn, hạnh phúc hơn, cho dù mình có nhận được lương tiền ít hơn đi nữa. Nếu may mắn thì mình sẽ tìm được một nghề giúp cho mình thể hiện được lòng từ bi đối với mọi người và mọi loài trong đó có các loài cỏ cây, cầm thú và đất đá. Nếu không được như thế thì chúng ta có thể tiếp tục hành nghề mà mình đang có, nhưng vẫn giữ tâm nguyện là khi điều kiện cho phép mình có được một nghề tốt hơn, một nghề cho mình cơ hội làm phát khởi được niềm vui và lòng từ bi thì mình sẽ đổi nghề ngay, cho dù là lương tiền sẽ ít hơn. Tuy kiếm được ít tiền hơn nhưng mình có hạnh phúc nhiều hơn.

        Nghệ thuật thả bò

        Hỏi: Thưa thầy, có rất nhiều câu hỏi về vấn đề thả bò – những đối tượng của tham đắm và ràng buộc, những ý niệm về hạnh phúc mà mình đang theo đuổi. Có một câu hỏi như thế này: Có phải cái tâm kỳ thị, phân biệt và khuynh hướng muốn phán xét người khác là những con bò cần được buông bỏ không?

        Thầy: Khi tôi sử dụng danh từ ”bò,” cái nghĩa căn bản đầu tiên là những ý niệm ta nghĩ là thiết thực cho hạnh phúc của ta. Nó là những gì mà ta chưa bao giờ đặt lại vấn đề như địa vị, sự giàu sang và quyền hành của ta trong xã hội, cơ sở kinh doanh, bằng cấp hay một ý thức hệ v.v… Khi ta đã đạt được những thứ đó rồi, ta lại cảm thấy không thỏa mãn, không hạnh phúc với chúng và ta tiếp tục đau khổ. Đây là lời mời chúng ta nhìn lại bản chất của những con bò của ta để xem chúng có thật sự cần thiết cho niềm an lạc và hạnh phúc của ta không. Nếu ta thấy chúng chỉ là những con bò tạo thêm nhiều sầu khổ, sợ hãi, bất an và ràng buộc, thì ta sẽ có khả năng buông bỏ chúng một cách dễ dàng. Vì vậy tôi xin mời quý vị thực tập nhìn sâu vào bản chất của những con bò – tức là đối tượng hạnh phúc của mình và gọi đúng tên của nó.

        Hôm kia tôi có chia sẻ về một người bạn ở Đức về khả năng thả bò của ông ta. Trong số những con bò của ông, có những con bò có tính chất rất lý tưởng, phục vụ nếp sống tâm linh. Ông ta là chủ tịch của nhiều hội Phật Giáo ở Đức. Ông phải tham gia nhiều cuộc họp và làm rất nhiều việc. Việc Phật sự của ông chiếm rất nhiều thì giờ, năng lực và vì vậy nó đã tạo ra nhiều căng thẳng cho ông. Ông không có khả năng dừng lại để thưởng thức từng hơi thở vào, hơi thở ra, không có khả năng đi từng bước thảnh thơi hoặc ngồi yên như một người tự do. Ông rất thành công về mọi mặt – việc đời cũng như việc đạo, thế mà ông không cảm thấy hạnh phúc với đời sống của ông. Vì vậy muốn được an lạc, hạnh phúc và tự do, ông phải thực tập thả bò – tức là buông bỏ bớt một vài con bò của ông. Càng thả nhiều bò, ta càng có nhiều không gian để sống, để thảnh thơi và hạnh phúc. Đó là ý nghĩa của sự thực tập thả bò. Con bò lớn nhất cản trở hạnh phúc và tự do của ta là ý niệm của ta về hạnh phúc.

        Có lẽ quý vị đã có công ăn việc làm rồi, nhưng có thể quý vị vẫn nghĩ rằng như thế vẫn chưa đủ và muốn có thêm một công việc thứ hai để kiếm thêm lợi nhuận. Quý vị làm đầu tắt mặt tối, làm thêm giờ, nghĩ rằng mình cần tạo cơ hội để dành dụm thêm tiền hoặc muốn có thêm tiếng vang trong xã hội, cộng đồng. Hết tháng này sang năm nọ, quý vị bị cuốn hút vào trong dòng suy tư như thế. Nhưng một hôm nào đó, quý vị chợt nhận thấy rằng mình chưa bao giờ có được một giây phút hạnh phúc, an lạc thật sự trong cuộc sống, mặc dầu mình đã đạt được địa vị cao trong xã hội, làm ra được nhiều tiền, được nhiều người quý trọng…; và quý vị muốn có hạnh phúc thật sự. Quý vị không muốn bỏ phí thì giờ và năng lực một cách vô ích của mình trong sự lo lắng, giận hờn, chạy theo bóng dáng của hạnh phúc theo hướng ngũ dục và do đó quý vị quyết tâm thả bò. Chúng ta nên thực tập nhìn sâu, nhìn lại và nhận diện cho được bản chất của những con bò để xem chúng có phải là nguồn hạnh phúc đích thực của mình hay không và khi thấy được bản chất của chúng rồi thì ta có thể buông bỏ bớt. Con bò nguy hiểm nhất của ta có thể là một ý thức hệ hoặc một ý niệm mà ta đã trả một cái giá rất đắt để thành đạt. Nghĩ rằng ta sẽ là một người đặc biệt, sẽ được nổi tiếng, sẽ được mọi người kính nể nếu ta đeo đuổi và thực hiện được cái ý thức hệ hoặc ý niệm đó của ta. Nhưng nếu cái đó không thật sự đem lại chân hạnh phúc cho ta, nó làm cho ta ngày đêm ăn không ngon, ngủ không yên, thì nó chính là con bò ta cần phải buông bỏ. Ta có thể chết chỉ vì một ý niệm về hạnh phúc của ta.

        Kỳ trước tôi có kể câu chuyện về một ông thầy tu bận rộn trong việc xây chùa. Quý vị có thể nói: ”Thầy tu xây chùa, đúc tượng là việc đáng làm. Đó là Phật sự. Đâu có gì sai trái?” Nhưng trong trường hợp của thầy này, thì trong quá trình xây chùa, thầy đã lo lắng quá nhiều đến nỗi thầy không có thì giờ để thở, để thực tập thiền đi, để uống một ly trà cho thoải mái hoặc để tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong giây phút hiện tại. Thầy bị cuốn hút trong việc xây chùa và cho đó là công việc quan trọng nhất. Thầy đã hy sinh hạnh phúc, tự do của thầy cho việc xây chùa và nghĩ rằng xây chùa xong rồi hãy thảnh thơi, rồi mới hạnh phúc. Thầy đã hy sinh việc quan trọng nhất của người tu và chú trọng vào những việc không phải là mục đích chính của người tu. Và như vậy thầy bận rộn suốt ngày đêm. Có lần những người cư sĩ thân hữu của thầy tới thăm, trong buổi uống trà, thầy đã than thở với họ là thầy thấy mình bận rộn quá. Nghe thầy nói như thế, họ nói đùa với thầy: ”Nếu thầy cảm thấy bận rộn như vậy sao thầy không xuất gia lại; đi thầy!’’ Người tu thiệt là người có tự do, là người không bị ràng buộc bởi những đam mê, danh lợi và vướng bận dù đó là việc xây chùa, đúc tượng. Vậy thì chùa chiền có thể cũng là một con bò ràng buộc ta. Nói như thế không có nghĩa là thầy ấy không được phép xây chùa, đúc tượng, nhưng có rất nhiều cách để xây chùa và đúc tượng mà không biến công việc xây chùa, đúc tượng thành sự ràng buộc – thành con bò và thầy có thể vẫn là một người tự do trong khi làm những công việc đó. Công việc có trở thành sự ràng buộc, trở thành con bò hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào cách hành xử của ta. Thả bò không có nghĩa là buông bỏ trách nhiệm mà chính là buông bỏ những ý niệm, ý tưởng của ta.

         

         

        Tha thứ cho chính mình

        Câu hỏi: Kính bạch Thầy, trong khóa tu Thầy có dạy về giáo lý tha thứ, bao dung thật thâm sâu. Những lời dạy ấy đã giúp ích cho con rất nhiều. Con vô cùng biết ơn Thầy. Kính thưa Thầy, nhiều lần con nhận thấy người mà con khó tha thứ nhất lại là chính mình. Xin Thầy ban cho con những phương pháp thực tập để con có thể thực tập tha thứ chính mình một cách hữu hiệu?

         

         

        Thầy: Trong đời sống, có nhiều lúc vì thiếu chánh niệm, thiếu sự khéo léo, ta đã làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ cho những người ta thương và nhiều người khác. Ta hối hận, cảm thấy tội lỗi và trở nên chán ghét chính ta, không có khả năng tha thứ cho chính mình. Nhưng ta không biết rằng chính mình cũng đã gây khổ đau, tàn hoại cho thân tâm mình rất nhiều. Sự thực là tất cả những khổ đau, hư hoại ta đang gánh chịu đều do chính mình tạo ra. Xin quý vị quán chiếu về điều này. Nếu nhìn kỹ lại, quý vị sẽ thấy rằng người làm mình khổ nhiều nhất lại chính là mình chứ không phải ai khác. Đây là sự thực hiển nhiên mà ta không hề hay biết.

        Vì vô minh, giận hờn, thù hận, kỳ thị và thiếu sự khéo léo, ta đã gây khổ đau, đổ vỡ cho chính ta và cho những người ta thương. Ta biết rằng năng lượng của tập khí chịu trách nhiệm về tình trạng khổ đau của ta. Đôi khi ta có đủ thông minh để biết rằng những lời nói hoặc hành động của ta sẽ gây khổ đau, nhưng năng lượng tập khí trong ta quá mạnh; nó sai khiến, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều mà ngay sau đó ta cảm thấy hối tiếc. Ta nguyện là lần sau ta sẽ không nói hoặc làm những điều như thế nữa, nhưng khi đụng chuyện, ta lại lặp lại giống hệt như lần trước. Con ma tập khí luôn mạnh hơn ta. Ta không có chủ quyền để làm chủ lấy năng lượng tập khí của ta.

        Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phương pháp thực tập nhận diện sự có mặt của năng lượng tập khí mỗi khi nó biểu hiện và làm chủ lấy nó, không để cho nó tác yêu tác quái. Ta chỉ nhận diện đơn thuần và mỉm cười với nó, gọi đúng tên của nó, thì từ từ sức mạnh của nó sẽ bị yếu đi. Như chúng ta đã được học trong những lần trước, nếu ta biết cách chế tác và vun trồng năng lượng chánh niệm mỗi ngày, thì ta sẽ có khả năng nhận diện được năng lượng tập khí của ta một cách dễ dàng và nhanh chóng. Khi đã nhận diện được nó, ta có thể thầm nói: ”A! chào anh bạn tập khí. Tôi biết anh có mặt đó. Lần này anh không thể tác yêu tác quái được tôi đâu.” Đó là chánh niệm, là Bụt, là năng lượng thánh thiện. Khi năng lượng chánh niệm có mặt, tức là Bụt có mặt thì ta được bảo hộ, che chở.

        Mỗi khi ta nhận diện được sự có mặt của năng lượng tập khí, tập khí sẽ yếu dần yếu dần đi. Nếu ta tiếp tục thực tập nhận diện đơn thuần như thế nhiều lần, thì một ngày nào đó nó sẽ không đủ sức để khống chế, sai sử ta, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ nữa. Có thể năng lượng tập khí ấy đã được trao truyền cho ta qua nhiều thế hệ của tổ tiên. Vì vậy ta không nên tự trách mình, cảm thấy tội lỗi với chính mình; mà phải thấy rằng mình chỉ là nạn nhân của sự trao truyền. Nếu không học cách nhận diện và chuyển hóa năng lượng tập khí ấy thì ta sẽ tiếp tục là nạn nhân của nó và ta sẽ trao truyền lại cho con cháu của ta và các con em của họ trong nhiều thế hệ tương lai.

        Ta không phải là người duy nhất gánh chịu trách nhiệm về những năng lượng của tập khí ấy; ta phải thấy rằng nó là sản phẩm chung của rất nhiều thế hệ tổ tiên và xã hội của ta. Nếu thấy được năng lượng tập khí của ta đã được trao truyền từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên, ta sẽ không còn cảm thấy tội lỗi, ta không tự hành hạ, trách phạt mình nữa. Khi có cơ duyên gặp được chánh pháp và học được những phương pháp thực tập chánh niệm quý vị nên biết rằng quý vị đã được trao truyền những khí cụ có khả năng giúp mình chuyển hóa năng lượng tập khí ấy. Khi quý vị chuyển hóa được chính mình thì tất cả các thế hệ tổ tiên cũng đều được chuyển hóa, bởi vì quý vị là sự tiếp nối của ông bà tổ tiên. Làm được như thế, quý vị có thể lấy đi được mặc cảm tội lỗi và oán hận chính mình. Quý vị chạm tới được bản chất đích thực của mình – bản chất tương tức tương nhập, bản chất của an lạc, hạnh phúc thật sự. Khi có năng lượng của niềm vui và hạnh phúc trong lòng, quý vị tự khắc có đủ sức mạnh để tiếp tục làm công việc chuyển hóa và trị liệu. Quý vị biết rằng năng lượng tự trách phạt, hối hận và chán ghét chính mình đã được trao truyền lại từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên. Khi thấy năng lượng tập khí này cũng thuộc về họ, quý vị có thể nói: ”Chào bà nội! Cháu biết bà đang có mặt đó.” Ngay lúc đó mình và bà nội đều được cứu thoát. Quý vị đang làm công việc chuyển hóa không phải cho bản thân mà cho tất cả dòng họ tổ tiên và cho các thế hệ tương lai của quý vị nữa.

        Con phải làm gì khi con giận?

        Câu hỏi (của một em gái): Thầy ơi, con không biết làm gì với cơn giận trong con. Khi cơn giận phát khởi, con có thể cảm nhận được sự có mặt của nó, cơ thể con nóng lên, mặt con đỏ bừng và đầu con thì rối bời…Con biết là con được trao truyền từ cha của con hạt giống nóng giận đó và con không muốn giống cha. Con muốn trở thành một con người dễ thương. Nhưng khi giận lên thì con không thể suy nghĩ được gì hết. Thầy hãy chỉ cho con nên làm gì khi con giận? Bởi vì lúc đó đầu óc của con dường như bị tê liệt và con không thể suy nghĩ được gì hết.



        Thầy: Có những người rất dễ nổi giận, năng lượng bực bội, sân hận trong họ rất mạnh và dễ biểu hiện. Có thể là mười năm trước, người đó không nóng tính và dễ giận như bây giờ. Và điều đó có nghĩa là hạt giống giận trong người đó được tưới tẩm và không ngừng lớn lên mỗi ngày. Vì vậy, nếu ta thấy cơn giận trong ta quá lớn thì điều đó cũng có nghĩa là ta đã để cho hạt giống giận lớn lên trong ta. Vấn đề là ở thức ăn. Bụt đã dạy rằng không có gì có thể tồn tại nếu không có thức ăn. Và nếu cơn giận trong ta không ngừng lớn lên, đó là vì ta đang cung cấp thực phẩm, đang nuôi cơn giận trong ta mỗi ngày. Những gì chúng ta nghe, những gì chúng ta thấy đều đi vào trong ta và nuôi hạt giống giận lớn lên. Nếu ta biết làm thế nào để dừng lại, không nghe những điều đó, không xem những thứ đó, thì chúng ta có cơ hội ngăn không cho hạt giống giận lớn lên.

        Điều này cũng đúng với những hạt giống khác như bạo động, sợ hãi, tuyệt vọng, v.v.Nếu bạo động, sợ hãi và tuyệt vọng trong ta lớn lên, đó là vì ta đã để cho chúng lớn lên. Trong đời sống hàng ngày, ta đã tiêu thụ như thế nào để nuôi cơn giận, sự sợ hãi và tuyệt vọng trong ta ngày một lớn lên. Khi ta đọc một bài báo trong một tạp chí nào đó tức là ta đang tiêu thụ, bởi vì bài báo đó có thể chứa đựng rất nhiều bạo động và hận thù, đọc bài báo đó chính là ta đang cung cấp thực phẩm cho hạt giống giận trong ta. Cũng tương tự như vậy, khi ta trò chuyện với một ai đó và những gì người đó chia sẻ toàn là giận hờn và thù hận thì trong khi nghe, ta đã để cho hạt giống giận trong ta bị tưới tẩm và nuôi dưỡng. Vì vậy mà chúng ta cần phải rất chánh niệm để không tiêu thụ những loại thực phẩm có khả năng nuôi dưỡng cơn giận trong ta. Đó là sự thực tập chánh niệm.

        Những thực phẩm nuôi hạt giống giận có thể đi vào trong ta qua đường mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đó là vấn đề tiêu thụ. Chẳng hạn như Internet, khi ta vào mạng Internet, ta có thể tiếp xúc với rất nhiều những thức ăn không lành mạnh như thèm khát, bạo động, giận hờn, tuyệt vọng, và ta tiêu thụ những thực phẩm đó. Vì vậy mà điều đầu tiên ta cần thực tập đó là không cung cấp thực phẩm để nuôi dưỡng hạt giống giận. Không nhìn, không nghe, không làm những gì có khả năng làm cho hạt giống giận lớn lên. Chúng ta phải quyết tâm và đề ra những cách thức cụ thể để làm điều đó. Chẳng hạn như: ta nguyện rằng từ nay trở đi ta sẽ không nhìn, không nghe, không nói chuyện, không suy nghĩ về những điều có khả năng nuôi dưỡng hạt giống giận trong ta. Và ta phải nhờ bạn bè giúp đỡ, ta có thể nói với bạn bè rằng: “Xin các bạn hãy giúp tôi, tâm giận hờn trong tôi rất lớn, vì vậy xin đừng cho tôi bất kỳ một loại thực phẩm nào có thể nuôi dưỡng hạt giống giận trong tôi. Xin hãy yểm trợ cho tôi.” Chúng ta phải tự mình thực tập và đề nghị bạn bè yểm trợ chúng ta trong sự thực tập đó. Đây là điều đầu tiên chúng ta cần thực tập.

        Điều thứ hai chúng ta cần làm, đó là quán chiếu về khổ đau, khổ đau trong chính chúng ta, khổ đau nơi cha, nơi mẹ, nơi vợ/chồng, hoặc con cái, v.v. Những người thân của ta có thể đã nói, đã làm những điều không được dễ thương đối với chúng ta. Nhưng đó không phải là vì họ muốn làm cho chúng ta khổ, mà bởi vì trong bản thân họ có quá nhiều khổ đau. Và họ chính là nạn nhân của khổ đau đó. Họ không biết xử lý những khổ đau trong chính mình. Và nếu nhìn thật sâu, chúng ta sẽ thấy được nỗi khổ, niềm đau nơi họ cũng như những gốc rễ của khổ đau đó. Ta sẽ nhận ra rằng họ chính là nạn nhân của những khổ đau của chính họ. Cái thấy đó sẽ làm phát khởi tình thương và lòng từ bi trong trái tim ta.

        Từ bi là năng lượng duy nhất có khả năng làm trung hòa cơn giận, một loại thuốc giải độc giúp chuyển hóa cơn giận (antidote of anger). Vì vậy, điều thứ hai mà chúng ta cần thực tập, đó là nuôi dưỡng lòng từ bi. Một người không có từ bi là người có rất nhiều khổ đau. Nếu chúng ta biết cách nuôi dưỡng lòng từ bi thì năng lượng từ bi đó sẽ có khả năng trung hòa cơn giận trong ta và giúp làm vơi bớt khổ đau nơi người kia, bởi vì với lòng từ bi, chúng ta có thể nói và làm một điều gì đó đầy tình thương để giúp cho người kia bớt khổ. Con đường của đạo Bụt là con đường của từ bi. Không một ngày nào mà chúng ta không thực tập nuôi dưỡng lòng từ bi. Nếu lòng từ bi trong ta lớn lên mỗi ngày thì hạt giống giận trong ta sẽ tiếp tục được chuyển hóa. Mọi người ai cũng nên thực tập điều này.

        Nếu cha mẹ của chúng ta không biết phương pháp thực tập thì với sự thực tập của mình, chúng ta sẽ giúp cho cha mẹ làm được điều đó. Khi chúng ta thực tập, chúng ta làm cho cơn giận trong ta ngày một yếu đi và năng lượng từ bi ngày một lớn, điều này sẽ nuôi dưỡng và mang lại nhiều lợi lạc cho cha mẹ của chúng ta. Vì cha mẹ không chỉ ở bên ngoài chúng ta mà còn nằm bên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Vì vậy mỗi khi ta làm phát khởi lòng từ bi trong trái tim ta thì cha mẹ ở trong ta cũng đang được chuyển hóa nhờ vào năng lượng từ bi đó. Và khi chúng ta có con, chúng ta sẽ không tiếp tục trao truyền cho con mình hạt giống giận, bởi vì chúng ta đã thực tập và đã chuyển hóa được cơn giận trong ta. Chúng ta đã dừng lại được bánh xe luân hồi. Chúng ta chỉ trao truyền cho thế hệ tương lai hạt giống của hiểu biết và thương yêu mà thôi. Chúng ta đã chuyển hóa được năng lượng giận hờn trong ta thành năng lượng tích cực. Và đó là điều mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được ngay ngày hôm nay.

        Luân hồi và Nhân quả trong đạo Bụt

        Hỏi: Tôi xin hỏi là có kiếp luân hồi không? Người ta nói tới nhân quả. Không biết trong đạo Phật có sự nhân quả này không: Kiếp trước ăn ở như thế nào đấy, kiếp sau đến đời con cháu phải nhận. Liệu người chết ở kiếp trước rồi sau này đầu thai vào những kiếp sau không?

        Uống trà là uống mâyThiền sư Nhất Hạnh: Luân hồi có nghĩa là sự tiếp nối. Chúng ta đã nghe trong bài nói chuyện là không có cái gì từ có trở thành không hết. Tất cả đều được tiếp nối dưới một hình thức này hay một hình thức khác. Đám mây luân hồi ra thành cơn mưa và cơn mưa luân hồi ra thành ra nước trà. Khi uống trà trong chánh niệm, tôi thấy tôi đang uống mây. Không cần phải là thi sĩ mới thấy mình đang uống mây, mình chỉ cần là một thiền giả thôi. Khi nhìn vào nước trà mình thấy đây là cơn mưa, đây là đám mây và mình đang uống mây. Nước trà là sự tiếp nối của cơn mưa, cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây và đám mây là sự tiếp nối của sức nóng mặt trời cùng nước ao, hồ, sông, biển. Luôn luôn có sự tiếp nối như vậy, gọi là luân hồi.

        Nhưng mình đừng đi tìm cái tướng, mình đừng kẹt vào tướng. Nếu kẹt vào tướng, mình không nhận diện được sự tiếp nối. Nhìn vào cơn mưa, mình phải thấy đám mây, đó là nhìn với con mắt vô tướng. Nhà khoa học người Pháp Lavoisier nói rằng: Không có cái gì mất đi hết. Ðúng như vậy. Có ba cái sẽ còn mãi, ít nhất có ba cái. Thứ nhất là tư duy, thứ hai là ngôn ngữ và thứ ba là hành động của chúng ta. Tư duy, ngôn ngữ, hành động trong đạo Bụt gọi là thân, khẩu và ý. Ý là tư duy, khẩu là ngôn ngữ và thân tức là hành động.

        Mỗi tư duy của chúng ta mang chữ ký của chúng ta. Tư duy của chúng ta có thể đi theo với sự độc ác, sự kỳ thị, sự thèm khát, sự giận dữ. Nếu chúng ta phát ra một tư duy như vậy, tư duy đó mang chữ ký của chúng ta. Chúng ta không thể nói rằng tư duy đó không phải là của tôi. Khi mình phát ra một tư duy như vậy, tư duy đó lập tức đi luân hồi. Thấm vào mình, nó có ảnh hưởng trên mình. Thấm vào người kia, nó ảnh hưởng tới người kia. Tư duy làm cho mình đau khổ và làm cho những người khác đau khổ không phải là chánh tư duy mà là tà tư duy.

        Lời nói cũng như vậy. Nói ra một câu không có tình, không có nghĩa, một câu gieo sự bất hòa, nghi kỵ, hận thù, câu nói đó cũng mang chữ ký của mình, mình chịu trách nhiệm hoàn toàn. Một câu như vậy nói ra gây đổ vỡ trong lòng, gây những đổ vỡ chung quanh. Ðó là sự tiếp nối của chính mình. Nói một câu nói ân tình giúp người ta hòa giải với nhau, giúp người ta có niềm tin vào tương lai, câu nói đó cũng mang chữ ký của mình. Đó là chánh ngữ chứ không phải là tà ngữ, đó là sự tiếp nối của mình. Đó là sự luân hồi của mình.

        Khi có một hành động nhân ái, biết bảo vệ sự sống và hòa giải người khác, hành động đó mang chữ ký của mình. Ðó là sự tiếp nối đẹp đẽ của mình, còn nếu hành động của mình là chia rẽ là giết chóc là tàn phá, nó cũng mang chữ ký của mình và mình sẽ tiếp nối, sẽ luân hồi dưới một dạng rất xấu.

        Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp được mình tạo ra thì nó sẽ đi luân hồi mãi mãi, đó là sự tiếp nối của mình, nó không có thể nào mất đi được và nó sẽ ảnh hưởng dài dài sau này cho nên mình chỉ muốn luân hồi đẹp thôi.

        Muốn có tiếp nối đẹp mình phải làm sao cho tư duy của mình là chánh tư duy, tư duy với tình thương, với sự hiểu biết. Mình phải làm sao cho lời nói của mình là chánh ngữ, đi theo sự hiểu biết và tình thương. Hành động của mình phải là chánh nghiệp. Ba nghiệp đó mang chữ ký của mình và ba nghiệp đó tiếp nối mình trong tương lai, dưới dạng này hay dạng kia, dưới hình thức này hay là hình thức kia. Nghiệp đã được gây rồi, không bao giờ mất hết. Nghiệp tốt sẽ đưa đến kết quả tốt. Nghiệp xấu đưa đến kết quả xấu.

        Chữ nghiệp chỉ có nghĩa là hành động thôi. Tư duy là một hành động vì có kết quả. Ngôn ngữ là một hành động vì nó có kết quả. Và động tác của cơ thể là một hành động vì nó có kết quả. Không có nhân nào mà không có quả cho nên mình phải rất cẩn thận khi chế tác những tư duy, những lời nói hay những hành động của mình, đó là sự tiếp nối của mình. Quán chiếu cho kỹ thì mình thấy mình đã đi luân hồi rồi, đã được tiếp nối rồi chứ không chờ đến khi thân xác này hoàn toàn tiêu diệt, mình mới đi luân hồi.

        Trong truyền thống Tây Tạng có một niềm tin bình dân là sau khi một vị đại sư chết rồi thì ba năm sau người ta đi tìm một em bé và cho đó là hậu thân của vị đạo sư nhưng theo truyền thống của đạo Bụt ở Việt Nam thì khác. Khi tôi phát ra những tư duy, những ngôn ngữ và hành động thì những tư duy, ngôn ngữ và hành động đó đã đi vào trong các bạn của tôi, vào trong các đệ tử của tôi và tôi đã được tiếp nối. Tôi đã bắt đầu luân hồi rồi và tôi đi luân hồi rất xa. Có những người ở trong tù đang đọc sách tôi viết và đang ngồi thiền ở trong nhà tù bên Mỹ, bên Anh hay bên Pháp, họ cũng là sự tiếp nối của tôi. Tôi đi vào trong họ để giúp cho họ nhẹ nhàng hơn, cho họ bớt khổ hơn và tôi muốn luân hồi một cách tốt đẹp.

        Tôi luân hồi ra nhiều hình thái chứ không phải một hình thái. Khi mình gieo một hạt bắp, hạt đó có thể thành ra một cây bắp. Cây bắp đó có thể cho hai trái bắp. Từ một hạt bắp có thể thành ra mấy trăm hạt bắp. Luân hồi cũng như vậy, có thể từ một trở thành nhiều. Thầy Nhất Hạnh luân hồi thành biết bao nhiêu đệ tử xuất gia và tại gia. Thầy Nhất Hạnh đang có mặt ở bên Pháp dưới dạng của những người học trò của thầy. Thầy đang có mặt bên Hà Lan. Nếu quý vị nói thầy Nhất Hạnh chỉ đang ngồi ở đây thôi, quý vị chưa thấy thầy Nhất Hạnh, quý vị mới thấy một phần nhỏ của thầy Nhất Hạnh thôi. Luân hồi là như vậy, mình đã luân hồi rồi, đã bắt đầu luân hồi rồi. Nếu nhìn cho kỹ thì mình thấy rằng mình đang có mặt nhiều nơi chứ không phải chỉ có mặt ở đây mà thôi.

        Làm thế nào để thực sự mở lòng ra ?

        Câu hỏi: Làm thế nào để con có thể thực sự mở lòng ra ?

        Thầy: Những hiểu lầm, những tri giác sai lầm là một phần của cuộc sống, cũng giống như bùn. Hiểu lầm, tri giác sai lầm chính là nền tảng của những cuộc chiến tranh xung đột, chết chóc, đau khổ. Đó là bùn. Sự thực tập giúp chúng ta giải tỏa được những hiểu lầm, lấy đi những tri giác sai lầm để phục hồi lại truyền thông và mang lại hòa giải. Chuyển hóa bùn thành sen, đó là một điều có thể làm.

        Giáo lý của Bụt có thể giúp chúng ta làm được điều đó với tư cách một cá nhân hay một nhóm người. Và khi làm được điều đó với một nhóm người thì chúng ta có thể thay đổi được tình trạng xã hội. Đó là lý do tại sao thực tập với tư cách một cá nhân là không đủ. Chúng ta cần thực tập với một nhóm người dưới hình thức một tăng thân. Có những người trong chúng ta rất sợ phải yêu, chúng ta không dám mở lòng mình ra. Chúng ta sợ bởi vì chúng ta đã đau khổ và chúng ta nghĩ rằng yêu là khổ. Như vậy rất đáng tiếc, bởi vì tình yêu thương chân thật có thể mang lại cho chúng ta rất nhiều niềm vui và sự trị liệu.

        Có những lúc mùa xuân đến, tất cả những bông hoa đều nở rộ nhưng tại sao chúng ta lại từ chối mở lòng ra ? Bởi vì có một sự sợ hãi, sợ rằng ta sẽ đau khổ thêm một lần nữa. Đó là do chúng ta đã không được học nghệ thuật để thương yêu. Cố nhiên là người kia đã không khéo léo, nhưng chúng ta cũng không khéo léo nốt, chúng ta chưa biết cách để thương. Chúng ta đã để cho những hiểu lầm và tri giác sai lầm sai sử, người kia đã làm cho ta đau khổ và ta cũng làm cho người đó đau khổ. Vì vậy, chúng ta cần phải học giáo lý mà Bụt dạy về nghệ thuật thương yêu.

        Yếu tố thứ nhất của tình thương đích thực là Từ (Maitri). Tình thương đích thực là phải có khả năng mang lại hạnh phúc. Lòng Từ là một năng lượng có thể mang lại hạnh phúc cho ta và cho người kia. Nếu một tình yêu mà không thể mang lại hạnh phúc thì đó không phải là tình yêu. Đó là một cái gì đó khác. Đam mê, thèm khát, thú vui dục tình, mong muốn chiếm hữu… tất cả đều không phải là tình yêu. Vì vậy, Từ là một loại năng lượng mà chúng ta phải vun trồng, tưới tẩm. Nếu đó là một tình yêu đích thực thì nó phải mang lại sự lành mạnh, hạnh phúc cho mình và cho người kia. Và cách để vun trồng, nuôi dưỡng lòng từ là phải có thời gian để nhìn và để hiểu. Hiểu được những đau khổ, khó khăn và nhu cầu của người kia, cũng như là những đau khổ, khó khăn và nhu cầu của chính mình. Chúng ta cần thời gian để nhìn vào chính mình. Chúng ta cần phải hiểu được những đau khổ, khó khăn cũng như những ước vọng sâu xa của chúng ta. Và chúng ta phải có khả năng chấp nhận được mình như mình đang là, do vậy hiểu biết chính là nền tảng của lòng Từ. Chúng ta phải nên tự hỏi xem mình có hiểu được chính mình chưa, mình có hiểu được những đau khổ, khó khăn của mình chưa. Nếu chúng ta có thể hiểu được những khó khăn, đau khổ của mình, chúng ta sẽ cảm thấy yên ổn hơn nhiều, chúng ta chấp nhận được chính mình. Kế đó, khi chúng ta nhìn vào người kia, chúng ta sẽ hiểu những đau khổ và khó khăn của người đó một cách dễ dàng hơn nhiều. Do đó, bước thứ nhất là phải hiểu mình và chấp nhận chính mình. Bước thứ hai là hiểu người kia và chấp nhận người đó. Không có sự hiểu biết và chấp nhận này thì cũng khó mà có được hạnh phúc và nuôi dưỡng được tình yêu đích thực.

        Yếu tố thứ hai của tình yêu đích thực là Bi. Bi là một năng lượng có thể giúp trị liệu. Khi chúng ta có sự bi mẫn trong lòng thì chúng ta sẽ bớt khổ đi nhiều và có thể mở lòng ra một cách dễ dàng hơn. Hãy nhìn sâu vào người kia, chúng ta sẽ thấy những nỗi khổ niềm đau trong người đó. Người đó là nạn nhân của những khổ đau của chính họ. Và người đó không biết cách ôm ấp những đau khổ của mình nên cứ tiếp tục đau khổ và làm chúng ta đau khổ dù không phải người đó muốn như vậy. Vì vậy, hiểu được nỗi khổ trong người đó, chúng ta không còn giận họ nữa mà ngược lại, muốn làm một cái gì đó, nói một điều gì đó để giúp người đó bớt khổ. Như vậy có nghĩa là chúng ta đã có được lòng từ bi trong lòng mình. Khi chúng ta muốn làm một điều gì đó hoặc nói một điều gì đó làm cho người khác bớt khổ thì cũng có nghĩa là lòng từ bi đang có trong trái tim ta. Và khi lòng từ bi có trong ta thì ta sẽ không khổ nữa vì ta đã mở lòng ra với chính mình và giờ đây ta có thể mở lòng ra với người khác. Đó là năng lượng thứ hai của tình thương đích thực, Karuna.

        Khi chúng ta có rất nhiều năng lượng của Bi, gọi là Đại Bi, thì chúng ta cũng là một vị Bồ Tát. Chúng ta là một vị Bồ Tát vì tình thương trong ta rất lớn, trái tim ta có thể ôm hết, không những người thương của ta mà bao trùm lên tất cả. Đại Từ, năng lượng từ phải được vun trồng. Và nếu không tiếp xúc với khổ đau, không có sự hiểu biết về khổ đau, chúng ta không thể chế tác được lòng Từ. Khi lòng Từ được sinh ra thì cũng bắt đầu có sự trị liệu, trị liệu cho chúng ta và trị liệu cho thế giới. Với sự thực tập Từ quán và Bi quán, chúng ta sẽ ít khổ hơn, chúng ta bắt đầu nếm được cam lộ của tình thương và chúng ta dễ dàng mở lòng ra hơn với cuộc đời.

        Yếu tố thứ ba của tình thương đích thực là Hỷ (niềm vui). Nếu tình yêu của ta không mang lại cho ta niềm vui và làm cho người kia khóc suốt ngày thì đó không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy, dấu ấn của tình thương đích thực là niềm vui và niềm vui cũng là sự trị liệu.

        Yếu tố thứ tư là Xả, nghĩa là sự mở lòng, không loại trừ, không kỳ thị. Xả có nghĩa là chúng ta mở lòng mình ra và để cho người kia đi vào trong trái tim của mình. Bởi vì nếu không mở lòng thì làm sao mà chúng ta có thể ôm lấy người kia được. Nếu cứ tiếp tục như vậy, trái tim ta sẽ càng ngày càng lớn và lớn thêm ra. Và chẳng bao lâu sau, chúng ta sẽ ôm hết mọi người vì chúng ta không còn sự kỳ thị với ai nữa. Trái tim của chúng ta sẽ rộng lớn vô cùng nếu chúng ta có thể ôm hết tất cả mọi người trong trái tim mình. Đó là tình thương của Bụt, tình thương không loại trừ bất cứ một ai, không chỉ đối với loài người mà còn cả với các loài động vật, cỏ cây, đất đá. Tất cả được ôm trọn trong tình thương đó. Đó là sự bình đẳng, không phân biệt.

        Như vậy, giáo lý của Bụt về tình thương rất rõ ràng và cụ thể. Nếu chúng ta thực tập, chúng ta tưới tẩm bốn yếu tố này thì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta ngay lập tức. Chúng ta không cần phải mất nhiều năm, nhiều tháng. Khi chúng ta thực tập Từ, Bi, Hỷ, Xả, hạnh phúc sẽ bắt đầu có mặt trong trái tim ta. Ngay khi đó, chúng ta sẽ mở lòng ra được với chính mình và với những người xung quanh ta.