Nghệ thuật thả bò

Hỏi: Thưa thầy, có rất nhiều câu hỏi về vấn đề thả bò – những đối tượng của tham đắm và ràng buộc, những ý niệm về hạnh phúc mà mình đang theo đuổi. Có một câu hỏi như thế này: Có phải cái tâm kỳ thị, phân biệt và khuynh hướng muốn phán xét người khác là những con bò cần được buông bỏ không?

Thầy: Khi tôi sử dụng danh từ ”bò,” cái nghĩa căn bản đầu tiên là những ý niệm ta nghĩ là thiết thực cho hạnh phúc của ta. Nó là những gì mà ta chưa bao giờ đặt lại vấn đề như địa vị, sự giàu sang và quyền hành của ta trong xã hội, cơ sở kinh doanh, bằng cấp hay một ý thức hệ v.v… Khi ta đã đạt được những thứ đó rồi, ta lại cảm thấy không thỏa mãn, không hạnh phúc với chúng và ta tiếp tục đau khổ. Đây là lời mời chúng ta nhìn lại bản chất của những con bò của ta để xem chúng có thật sự cần thiết cho niềm an lạc và hạnh phúc của ta không. Nếu ta thấy chúng chỉ là những con bò tạo thêm nhiều sầu khổ, sợ hãi, bất an và ràng buộc, thì ta sẽ có khả năng buông bỏ chúng một cách dễ dàng. Vì vậy tôi xin mời quý vị thực tập nhìn sâu vào bản chất của những con bò – tức là đối tượng hạnh phúc của mình và gọi đúng tên của nó.

Hôm kia tôi có chia sẻ về một người bạn ở Đức về khả năng thả bò của ông ta. Trong số những con bò của ông, có những con bò có tính chất rất lý tưởng, phục vụ nếp sống tâm linh. Ông ta là chủ tịch của nhiều hội Phật Giáo ở Đức. Ông phải tham gia nhiều cuộc họp và làm rất nhiều việc. Việc Phật sự của ông chiếm rất nhiều thì giờ, năng lực và vì vậy nó đã tạo ra nhiều căng thẳng cho ông. Ông không có khả năng dừng lại để thưởng thức từng hơi thở vào, hơi thở ra, không có khả năng đi từng bước thảnh thơi hoặc ngồi yên như một người tự do. Ông rất thành công về mọi mặt – việc đời cũng như việc đạo, thế mà ông không cảm thấy hạnh phúc với đời sống của ông. Vì vậy muốn được an lạc, hạnh phúc và tự do, ông phải thực tập thả bò – tức là buông bỏ bớt một vài con bò của ông. Càng thả nhiều bò, ta càng có nhiều không gian để sống, để thảnh thơi và hạnh phúc. Đó là ý nghĩa của sự thực tập thả bò. Con bò lớn nhất cản trở hạnh phúc và tự do của ta là ý niệm của ta về hạnh phúc.

Có lẽ quý vị đã có công ăn việc làm rồi, nhưng có thể quý vị vẫn nghĩ rằng như thế vẫn chưa đủ và muốn có thêm một công việc thứ hai để kiếm thêm lợi nhuận. Quý vị làm đầu tắt mặt tối, làm thêm giờ, nghĩ rằng mình cần tạo cơ hội để dành dụm thêm tiền hoặc muốn có thêm tiếng vang trong xã hội, cộng đồng. Hết tháng này sang năm nọ, quý vị bị cuốn hút vào trong dòng suy tư như thế. Nhưng một hôm nào đó, quý vị chợt nhận thấy rằng mình chưa bao giờ có được một giây phút hạnh phúc, an lạc thật sự trong cuộc sống, mặc dầu mình đã đạt được địa vị cao trong xã hội, làm ra được nhiều tiền, được nhiều người quý trọng…; và quý vị muốn có hạnh phúc thật sự. Quý vị không muốn bỏ phí thì giờ và năng lực một cách vô ích của mình trong sự lo lắng, giận hờn, chạy theo bóng dáng của hạnh phúc theo hướng ngũ dục và do đó quý vị quyết tâm thả bò. Chúng ta nên thực tập nhìn sâu, nhìn lại và nhận diện cho được bản chất của những con bò để xem chúng có phải là nguồn hạnh phúc đích thực của mình hay không và khi thấy được bản chất của chúng rồi thì ta có thể buông bỏ bớt. Con bò nguy hiểm nhất của ta có thể là một ý thức hệ hoặc một ý niệm mà ta đã trả một cái giá rất đắt để thành đạt. Nghĩ rằng ta sẽ là một người đặc biệt, sẽ được nổi tiếng, sẽ được mọi người kính nể nếu ta đeo đuổi và thực hiện được cái ý thức hệ hoặc ý niệm đó của ta. Nhưng nếu cái đó không thật sự đem lại chân hạnh phúc cho ta, nó làm cho ta ngày đêm ăn không ngon, ngủ không yên, thì nó chính là con bò ta cần phải buông bỏ. Ta có thể chết chỉ vì một ý niệm về hạnh phúc của ta.

Kỳ trước tôi có kể câu chuyện về một ông thầy tu bận rộn trong việc xây chùa. Quý vị có thể nói: ”Thầy tu xây chùa, đúc tượng là việc đáng làm. Đó là Phật sự. Đâu có gì sai trái?” Nhưng trong trường hợp của thầy này, thì trong quá trình xây chùa, thầy đã lo lắng quá nhiều đến nỗi thầy không có thì giờ để thở, để thực tập thiền đi, để uống một ly trà cho thoải mái hoặc để tiếp xúc với sự sống mầu nhiệm đang có mặt trong giây phút hiện tại. Thầy bị cuốn hút trong việc xây chùa và cho đó là công việc quan trọng nhất. Thầy đã hy sinh hạnh phúc, tự do của thầy cho việc xây chùa và nghĩ rằng xây chùa xong rồi hãy thảnh thơi, rồi mới hạnh phúc. Thầy đã hy sinh việc quan trọng nhất của người tu và chú trọng vào những việc không phải là mục đích chính của người tu. Và như vậy thầy bận rộn suốt ngày đêm. Có lần những người cư sĩ thân hữu của thầy tới thăm, trong buổi uống trà, thầy đã than thở với họ là thầy thấy mình bận rộn quá. Nghe thầy nói như thế, họ nói đùa với thầy: ”Nếu thầy cảm thấy bận rộn như vậy sao thầy không xuất gia lại; đi thầy!’’ Người tu thiệt là người có tự do, là người không bị ràng buộc bởi những đam mê, danh lợi và vướng bận dù đó là việc xây chùa, đúc tượng. Vậy thì chùa chiền có thể cũng là một con bò ràng buộc ta. Nói như thế không có nghĩa là thầy ấy không được phép xây chùa, đúc tượng, nhưng có rất nhiều cách để xây chùa và đúc tượng mà không biến công việc xây chùa, đúc tượng thành sự ràng buộc – thành con bò và thầy có thể vẫn là một người tự do trong khi làm những công việc đó. Công việc có trở thành sự ràng buộc, trở thành con bò hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào cách hành xử của ta. Thả bò không có nghĩa là buông bỏ trách nhiệm mà chính là buông bỏ những ý niệm, ý tưởng của ta.

 

 

Tha thứ cho chính mình

Câu hỏi: Kính bạch Thầy, trong khóa tu Thầy có dạy về giáo lý tha thứ, bao dung thật thâm sâu. Những lời dạy ấy đã giúp ích cho con rất nhiều. Con vô cùng biết ơn Thầy. Kính thưa Thầy, nhiều lần con nhận thấy người mà con khó tha thứ nhất lại là chính mình. Xin Thầy ban cho con những phương pháp thực tập để con có thể thực tập tha thứ chính mình một cách hữu hiệu?

 

 

Thầy: Trong đời sống, có nhiều lúc vì thiếu chánh niệm, thiếu sự khéo léo, ta đã làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ cho những người ta thương và nhiều người khác. Ta hối hận, cảm thấy tội lỗi và trở nên chán ghét chính ta, không có khả năng tha thứ cho chính mình. Nhưng ta không biết rằng chính mình cũng đã gây khổ đau, tàn hoại cho thân tâm mình rất nhiều. Sự thực là tất cả những khổ đau, hư hoại ta đang gánh chịu đều do chính mình tạo ra. Xin quý vị quán chiếu về điều này. Nếu nhìn kỹ lại, quý vị sẽ thấy rằng người làm mình khổ nhiều nhất lại chính là mình chứ không phải ai khác. Đây là sự thực hiển nhiên mà ta không hề hay biết.

Vì vô minh, giận hờn, thù hận, kỳ thị và thiếu sự khéo léo, ta đã gây khổ đau, đổ vỡ cho chính ta và cho những người ta thương. Ta biết rằng năng lượng của tập khí chịu trách nhiệm về tình trạng khổ đau của ta. Đôi khi ta có đủ thông minh để biết rằng những lời nói hoặc hành động của ta sẽ gây khổ đau, nhưng năng lượng tập khí trong ta quá mạnh; nó sai khiến, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều mà ngay sau đó ta cảm thấy hối tiếc. Ta nguyện là lần sau ta sẽ không nói hoặc làm những điều như thế nữa, nhưng khi đụng chuyện, ta lại lặp lại giống hệt như lần trước. Con ma tập khí luôn mạnh hơn ta. Ta không có chủ quyền để làm chủ lấy năng lượng tập khí của ta.

Đức Thế Tôn đã dạy chúng ta phương pháp thực tập nhận diện sự có mặt của năng lượng tập khí mỗi khi nó biểu hiện và làm chủ lấy nó, không để cho nó tác yêu tác quái. Ta chỉ nhận diện đơn thuần và mỉm cười với nó, gọi đúng tên của nó, thì từ từ sức mạnh của nó sẽ bị yếu đi. Như chúng ta đã được học trong những lần trước, nếu ta biết cách chế tác và vun trồng năng lượng chánh niệm mỗi ngày, thì ta sẽ có khả năng nhận diện được năng lượng tập khí của ta một cách dễ dàng và nhanh chóng. Khi đã nhận diện được nó, ta có thể thầm nói: ”A! chào anh bạn tập khí. Tôi biết anh có mặt đó. Lần này anh không thể tác yêu tác quái được tôi đâu.” Đó là chánh niệm, là Bụt, là năng lượng thánh thiện. Khi năng lượng chánh niệm có mặt, tức là Bụt có mặt thì ta được bảo hộ, che chở.

Mỗi khi ta nhận diện được sự có mặt của năng lượng tập khí, tập khí sẽ yếu dần yếu dần đi. Nếu ta tiếp tục thực tập nhận diện đơn thuần như thế nhiều lần, thì một ngày nào đó nó sẽ không đủ sức để khống chế, sai sử ta, thúc đẩy ta nói hoặc làm những điều gây khổ đau, đổ vỡ nữa. Có thể năng lượng tập khí ấy đã được trao truyền cho ta qua nhiều thế hệ của tổ tiên. Vì vậy ta không nên tự trách mình, cảm thấy tội lỗi với chính mình; mà phải thấy rằng mình chỉ là nạn nhân của sự trao truyền. Nếu không học cách nhận diện và chuyển hóa năng lượng tập khí ấy thì ta sẽ tiếp tục là nạn nhân của nó và ta sẽ trao truyền lại cho con cháu của ta và các con em của họ trong nhiều thế hệ tương lai.

Ta không phải là người duy nhất gánh chịu trách nhiệm về những năng lượng của tập khí ấy; ta phải thấy rằng nó là sản phẩm chung của rất nhiều thế hệ tổ tiên và xã hội của ta. Nếu thấy được năng lượng tập khí của ta đã được trao truyền từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên, ta sẽ không còn cảm thấy tội lỗi, ta không tự hành hạ, trách phạt mình nữa. Khi có cơ duyên gặp được chánh pháp và học được những phương pháp thực tập chánh niệm quý vị nên biết rằng quý vị đã được trao truyền những khí cụ có khả năng giúp mình chuyển hóa năng lượng tập khí ấy. Khi quý vị chuyển hóa được chính mình thì tất cả các thế hệ tổ tiên cũng đều được chuyển hóa, bởi vì quý vị là sự tiếp nối của ông bà tổ tiên. Làm được như thế, quý vị có thể lấy đi được mặc cảm tội lỗi và oán hận chính mình. Quý vị chạm tới được bản chất đích thực của mình – bản chất tương tức tương nhập, bản chất của an lạc, hạnh phúc thật sự. Khi có năng lượng của niềm vui và hạnh phúc trong lòng, quý vị tự khắc có đủ sức mạnh để tiếp tục làm công việc chuyển hóa và trị liệu. Quý vị biết rằng năng lượng tự trách phạt, hối hận và chán ghét chính mình đã được trao truyền lại từ ông bà, cha mẹ và tổ tiên. Khi thấy năng lượng tập khí này cũng thuộc về họ, quý vị có thể nói: ”Chào bà nội! Cháu biết bà đang có mặt đó.” Ngay lúc đó mình và bà nội đều được cứu thoát. Quý vị đang làm công việc chuyển hóa không phải cho bản thân mà cho tất cả dòng họ tổ tiên và cho các thế hệ tương lai của quý vị nữa.

Con phải làm gì khi con giận?

Câu hỏi (của một em gái): Thầy ơi, con không biết làm gì với cơn giận trong con. Khi cơn giận phát khởi, con có thể cảm nhận được sự có mặt của nó, cơ thể con nóng lên, mặt con đỏ bừng và đầu con thì rối bời…Con biết là con được trao truyền từ cha của con hạt giống nóng giận đó và con không muốn giống cha. Con muốn trở thành một con người dễ thương. Nhưng khi giận lên thì con không thể suy nghĩ được gì hết. Thầy hãy chỉ cho con nên làm gì khi con giận? Bởi vì lúc đó đầu óc của con dường như bị tê liệt và con không thể suy nghĩ được gì hết.



Thầy: Có những người rất dễ nổi giận, năng lượng bực bội, sân hận trong họ rất mạnh và dễ biểu hiện. Có thể là mười năm trước, người đó không nóng tính và dễ giận như bây giờ. Và điều đó có nghĩa là hạt giống giận trong người đó được tưới tẩm và không ngừng lớn lên mỗi ngày. Vì vậy, nếu ta thấy cơn giận trong ta quá lớn thì điều đó cũng có nghĩa là ta đã để cho hạt giống giận lớn lên trong ta. Vấn đề là ở thức ăn. Bụt đã dạy rằng không có gì có thể tồn tại nếu không có thức ăn. Và nếu cơn giận trong ta không ngừng lớn lên, đó là vì ta đang cung cấp thực phẩm, đang nuôi cơn giận trong ta mỗi ngày. Những gì chúng ta nghe, những gì chúng ta thấy đều đi vào trong ta và nuôi hạt giống giận lớn lên. Nếu ta biết làm thế nào để dừng lại, không nghe những điều đó, không xem những thứ đó, thì chúng ta có cơ hội ngăn không cho hạt giống giận lớn lên.

Điều này cũng đúng với những hạt giống khác như bạo động, sợ hãi, tuyệt vọng, v.v.Nếu bạo động, sợ hãi và tuyệt vọng trong ta lớn lên, đó là vì ta đã để cho chúng lớn lên. Trong đời sống hàng ngày, ta đã tiêu thụ như thế nào để nuôi cơn giận, sự sợ hãi và tuyệt vọng trong ta ngày một lớn lên. Khi ta đọc một bài báo trong một tạp chí nào đó tức là ta đang tiêu thụ, bởi vì bài báo đó có thể chứa đựng rất nhiều bạo động và hận thù, đọc bài báo đó chính là ta đang cung cấp thực phẩm cho hạt giống giận trong ta. Cũng tương tự như vậy, khi ta trò chuyện với một ai đó và những gì người đó chia sẻ toàn là giận hờn và thù hận thì trong khi nghe, ta đã để cho hạt giống giận trong ta bị tưới tẩm và nuôi dưỡng. Vì vậy mà chúng ta cần phải rất chánh niệm để không tiêu thụ những loại thực phẩm có khả năng nuôi dưỡng cơn giận trong ta. Đó là sự thực tập chánh niệm.

Những thực phẩm nuôi hạt giống giận có thể đi vào trong ta qua đường mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đó là vấn đề tiêu thụ. Chẳng hạn như Internet, khi ta vào mạng Internet, ta có thể tiếp xúc với rất nhiều những thức ăn không lành mạnh như thèm khát, bạo động, giận hờn, tuyệt vọng, và ta tiêu thụ những thực phẩm đó. Vì vậy mà điều đầu tiên ta cần thực tập đó là không cung cấp thực phẩm để nuôi dưỡng hạt giống giận. Không nhìn, không nghe, không làm những gì có khả năng làm cho hạt giống giận lớn lên. Chúng ta phải quyết tâm và đề ra những cách thức cụ thể để làm điều đó. Chẳng hạn như: ta nguyện rằng từ nay trở đi ta sẽ không nhìn, không nghe, không nói chuyện, không suy nghĩ về những điều có khả năng nuôi dưỡng hạt giống giận trong ta. Và ta phải nhờ bạn bè giúp đỡ, ta có thể nói với bạn bè rằng: “Xin các bạn hãy giúp tôi, tâm giận hờn trong tôi rất lớn, vì vậy xin đừng cho tôi bất kỳ một loại thực phẩm nào có thể nuôi dưỡng hạt giống giận trong tôi. Xin hãy yểm trợ cho tôi.” Chúng ta phải tự mình thực tập và đề nghị bạn bè yểm trợ chúng ta trong sự thực tập đó. Đây là điều đầu tiên chúng ta cần thực tập.

Điều thứ hai chúng ta cần làm, đó là quán chiếu về khổ đau, khổ đau trong chính chúng ta, khổ đau nơi cha, nơi mẹ, nơi vợ/chồng, hoặc con cái, v.v. Những người thân của ta có thể đã nói, đã làm những điều không được dễ thương đối với chúng ta. Nhưng đó không phải là vì họ muốn làm cho chúng ta khổ, mà bởi vì trong bản thân họ có quá nhiều khổ đau. Và họ chính là nạn nhân của khổ đau đó. Họ không biết xử lý những khổ đau trong chính mình. Và nếu nhìn thật sâu, chúng ta sẽ thấy được nỗi khổ, niềm đau nơi họ cũng như những gốc rễ của khổ đau đó. Ta sẽ nhận ra rằng họ chính là nạn nhân của những khổ đau của chính họ. Cái thấy đó sẽ làm phát khởi tình thương và lòng từ bi trong trái tim ta.

Từ bi là năng lượng duy nhất có khả năng làm trung hòa cơn giận, một loại thuốc giải độc giúp chuyển hóa cơn giận (antidote of anger). Vì vậy, điều thứ hai mà chúng ta cần thực tập, đó là nuôi dưỡng lòng từ bi. Một người không có từ bi là người có rất nhiều khổ đau. Nếu chúng ta biết cách nuôi dưỡng lòng từ bi thì năng lượng từ bi đó sẽ có khả năng trung hòa cơn giận trong ta và giúp làm vơi bớt khổ đau nơi người kia, bởi vì với lòng từ bi, chúng ta có thể nói và làm một điều gì đó đầy tình thương để giúp cho người kia bớt khổ. Con đường của đạo Bụt là con đường của từ bi. Không một ngày nào mà chúng ta không thực tập nuôi dưỡng lòng từ bi. Nếu lòng từ bi trong ta lớn lên mỗi ngày thì hạt giống giận trong ta sẽ tiếp tục được chuyển hóa. Mọi người ai cũng nên thực tập điều này.

Nếu cha mẹ của chúng ta không biết phương pháp thực tập thì với sự thực tập của mình, chúng ta sẽ giúp cho cha mẹ làm được điều đó. Khi chúng ta thực tập, chúng ta làm cho cơn giận trong ta ngày một yếu đi và năng lượng từ bi ngày một lớn, điều này sẽ nuôi dưỡng và mang lại nhiều lợi lạc cho cha mẹ của chúng ta. Vì cha mẹ không chỉ ở bên ngoài chúng ta mà còn nằm bên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Vì vậy mỗi khi ta làm phát khởi lòng từ bi trong trái tim ta thì cha mẹ ở trong ta cũng đang được chuyển hóa nhờ vào năng lượng từ bi đó. Và khi chúng ta có con, chúng ta sẽ không tiếp tục trao truyền cho con mình hạt giống giận, bởi vì chúng ta đã thực tập và đã chuyển hóa được cơn giận trong ta. Chúng ta đã dừng lại được bánh xe luân hồi. Chúng ta chỉ trao truyền cho thế hệ tương lai hạt giống của hiểu biết và thương yêu mà thôi. Chúng ta đã chuyển hóa được năng lượng giận hờn trong ta thành năng lượng tích cực. Và đó là điều mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được ngay ngày hôm nay.

Luân hồi và Nhân quả trong đạo Bụt

Hỏi: Tôi xin hỏi là có kiếp luân hồi không? Người ta nói tới nhân quả. Không biết trong đạo Phật có sự nhân quả này không: Kiếp trước ăn ở như thế nào đấy, kiếp sau đến đời con cháu phải nhận. Liệu người chết ở kiếp trước rồi sau này đầu thai vào những kiếp sau không?

Uống trà là uống mâyThiền sư Nhất Hạnh: Luân hồi có nghĩa là sự tiếp nối. Chúng ta đã nghe trong bài nói chuyện là không có cái gì từ có trở thành không hết. Tất cả đều được tiếp nối dưới một hình thức này hay một hình thức khác. Đám mây luân hồi ra thành cơn mưa và cơn mưa luân hồi ra thành ra nước trà. Khi uống trà trong chánh niệm, tôi thấy tôi đang uống mây. Không cần phải là thi sĩ mới thấy mình đang uống mây, mình chỉ cần là một thiền giả thôi. Khi nhìn vào nước trà mình thấy đây là cơn mưa, đây là đám mây và mình đang uống mây. Nước trà là sự tiếp nối của cơn mưa, cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây và đám mây là sự tiếp nối của sức nóng mặt trời cùng nước ao, hồ, sông, biển. Luôn luôn có sự tiếp nối như vậy, gọi là luân hồi.

Nhưng mình đừng đi tìm cái tướng, mình đừng kẹt vào tướng. Nếu kẹt vào tướng, mình không nhận diện được sự tiếp nối. Nhìn vào cơn mưa, mình phải thấy đám mây, đó là nhìn với con mắt vô tướng. Nhà khoa học người Pháp Lavoisier nói rằng: Không có cái gì mất đi hết. Ðúng như vậy. Có ba cái sẽ còn mãi, ít nhất có ba cái. Thứ nhất là tư duy, thứ hai là ngôn ngữ và thứ ba là hành động của chúng ta. Tư duy, ngôn ngữ, hành động trong đạo Bụt gọi là thân, khẩu và ý. Ý là tư duy, khẩu là ngôn ngữ và thân tức là hành động.

Mỗi tư duy của chúng ta mang chữ ký của chúng ta. Tư duy của chúng ta có thể đi theo với sự độc ác, sự kỳ thị, sự thèm khát, sự giận dữ. Nếu chúng ta phát ra một tư duy như vậy, tư duy đó mang chữ ký của chúng ta. Chúng ta không thể nói rằng tư duy đó không phải là của tôi. Khi mình phát ra một tư duy như vậy, tư duy đó lập tức đi luân hồi. Thấm vào mình, nó có ảnh hưởng trên mình. Thấm vào người kia, nó ảnh hưởng tới người kia. Tư duy làm cho mình đau khổ và làm cho những người khác đau khổ không phải là chánh tư duy mà là tà tư duy.

Lời nói cũng như vậy. Nói ra một câu không có tình, không có nghĩa, một câu gieo sự bất hòa, nghi kỵ, hận thù, câu nói đó cũng mang chữ ký của mình, mình chịu trách nhiệm hoàn toàn. Một câu như vậy nói ra gây đổ vỡ trong lòng, gây những đổ vỡ chung quanh. Ðó là sự tiếp nối của chính mình. Nói một câu nói ân tình giúp người ta hòa giải với nhau, giúp người ta có niềm tin vào tương lai, câu nói đó cũng mang chữ ký của mình. Đó là chánh ngữ chứ không phải là tà ngữ, đó là sự tiếp nối của mình. Đó là sự luân hồi của mình.

Khi có một hành động nhân ái, biết bảo vệ sự sống và hòa giải người khác, hành động đó mang chữ ký của mình. Ðó là sự tiếp nối đẹp đẽ của mình, còn nếu hành động của mình là chia rẽ là giết chóc là tàn phá, nó cũng mang chữ ký của mình và mình sẽ tiếp nối, sẽ luân hồi dưới một dạng rất xấu.

Thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp được mình tạo ra thì nó sẽ đi luân hồi mãi mãi, đó là sự tiếp nối của mình, nó không có thể nào mất đi được và nó sẽ ảnh hưởng dài dài sau này cho nên mình chỉ muốn luân hồi đẹp thôi.

Muốn có tiếp nối đẹp mình phải làm sao cho tư duy của mình là chánh tư duy, tư duy với tình thương, với sự hiểu biết. Mình phải làm sao cho lời nói của mình là chánh ngữ, đi theo sự hiểu biết và tình thương. Hành động của mình phải là chánh nghiệp. Ba nghiệp đó mang chữ ký của mình và ba nghiệp đó tiếp nối mình trong tương lai, dưới dạng này hay dạng kia, dưới hình thức này hay là hình thức kia. Nghiệp đã được gây rồi, không bao giờ mất hết. Nghiệp tốt sẽ đưa đến kết quả tốt. Nghiệp xấu đưa đến kết quả xấu.

Chữ nghiệp chỉ có nghĩa là hành động thôi. Tư duy là một hành động vì có kết quả. Ngôn ngữ là một hành động vì nó có kết quả. Và động tác của cơ thể là một hành động vì nó có kết quả. Không có nhân nào mà không có quả cho nên mình phải rất cẩn thận khi chế tác những tư duy, những lời nói hay những hành động của mình, đó là sự tiếp nối của mình. Quán chiếu cho kỹ thì mình thấy mình đã đi luân hồi rồi, đã được tiếp nối rồi chứ không chờ đến khi thân xác này hoàn toàn tiêu diệt, mình mới đi luân hồi.

Trong truyền thống Tây Tạng có một niềm tin bình dân là sau khi một vị đại sư chết rồi thì ba năm sau người ta đi tìm một em bé và cho đó là hậu thân của vị đạo sư nhưng theo truyền thống của đạo Bụt ở Việt Nam thì khác. Khi tôi phát ra những tư duy, những ngôn ngữ và hành động thì những tư duy, ngôn ngữ và hành động đó đã đi vào trong các bạn của tôi, vào trong các đệ tử của tôi và tôi đã được tiếp nối. Tôi đã bắt đầu luân hồi rồi và tôi đi luân hồi rất xa. Có những người ở trong tù đang đọc sách tôi viết và đang ngồi thiền ở trong nhà tù bên Mỹ, bên Anh hay bên Pháp, họ cũng là sự tiếp nối của tôi. Tôi đi vào trong họ để giúp cho họ nhẹ nhàng hơn, cho họ bớt khổ hơn và tôi muốn luân hồi một cách tốt đẹp.

Tôi luân hồi ra nhiều hình thái chứ không phải một hình thái. Khi mình gieo một hạt bắp, hạt đó có thể thành ra một cây bắp. Cây bắp đó có thể cho hai trái bắp. Từ một hạt bắp có thể thành ra mấy trăm hạt bắp. Luân hồi cũng như vậy, có thể từ một trở thành nhiều. Thầy Nhất Hạnh luân hồi thành biết bao nhiêu đệ tử xuất gia và tại gia. Thầy Nhất Hạnh đang có mặt ở bên Pháp dưới dạng của những người học trò của thầy. Thầy đang có mặt bên Hà Lan. Nếu quý vị nói thầy Nhất Hạnh chỉ đang ngồi ở đây thôi, quý vị chưa thấy thầy Nhất Hạnh, quý vị mới thấy một phần nhỏ của thầy Nhất Hạnh thôi. Luân hồi là như vậy, mình đã luân hồi rồi, đã bắt đầu luân hồi rồi. Nếu nhìn cho kỹ thì mình thấy rằng mình đang có mặt nhiều nơi chứ không phải chỉ có mặt ở đây mà thôi.

Làm thế nào để thực sự mở lòng ra ?

Câu hỏi: Làm thế nào để con có thể thực sự mở lòng ra ?

Thầy: Những hiểu lầm, những tri giác sai lầm là một phần của cuộc sống, cũng giống như bùn. Hiểu lầm, tri giác sai lầm chính là nền tảng của những cuộc chiến tranh xung đột, chết chóc, đau khổ. Đó là bùn. Sự thực tập giúp chúng ta giải tỏa được những hiểu lầm, lấy đi những tri giác sai lầm để phục hồi lại truyền thông và mang lại hòa giải. Chuyển hóa bùn thành sen, đó là một điều có thể làm.

Giáo lý của Bụt có thể giúp chúng ta làm được điều đó với tư cách một cá nhân hay một nhóm người. Và khi làm được điều đó với một nhóm người thì chúng ta có thể thay đổi được tình trạng xã hội. Đó là lý do tại sao thực tập với tư cách một cá nhân là không đủ. Chúng ta cần thực tập với một nhóm người dưới hình thức một tăng thân. Có những người trong chúng ta rất sợ phải yêu, chúng ta không dám mở lòng mình ra. Chúng ta sợ bởi vì chúng ta đã đau khổ và chúng ta nghĩ rằng yêu là khổ. Như vậy rất đáng tiếc, bởi vì tình yêu thương chân thật có thể mang lại cho chúng ta rất nhiều niềm vui và sự trị liệu.

Có những lúc mùa xuân đến, tất cả những bông hoa đều nở rộ nhưng tại sao chúng ta lại từ chối mở lòng ra ? Bởi vì có một sự sợ hãi, sợ rằng ta sẽ đau khổ thêm một lần nữa. Đó là do chúng ta đã không được học nghệ thuật để thương yêu. Cố nhiên là người kia đã không khéo léo, nhưng chúng ta cũng không khéo léo nốt, chúng ta chưa biết cách để thương. Chúng ta đã để cho những hiểu lầm và tri giác sai lầm sai sử, người kia đã làm cho ta đau khổ và ta cũng làm cho người đó đau khổ. Vì vậy, chúng ta cần phải học giáo lý mà Bụt dạy về nghệ thuật thương yêu.

Yếu tố thứ nhất của tình thương đích thực là Từ (Maitri). Tình thương đích thực là phải có khả năng mang lại hạnh phúc. Lòng Từ là một năng lượng có thể mang lại hạnh phúc cho ta và cho người kia. Nếu một tình yêu mà không thể mang lại hạnh phúc thì đó không phải là tình yêu. Đó là một cái gì đó khác. Đam mê, thèm khát, thú vui dục tình, mong muốn chiếm hữu… tất cả đều không phải là tình yêu. Vì vậy, Từ là một loại năng lượng mà chúng ta phải vun trồng, tưới tẩm. Nếu đó là một tình yêu đích thực thì nó phải mang lại sự lành mạnh, hạnh phúc cho mình và cho người kia. Và cách để vun trồng, nuôi dưỡng lòng từ là phải có thời gian để nhìn và để hiểu. Hiểu được những đau khổ, khó khăn và nhu cầu của người kia, cũng như là những đau khổ, khó khăn và nhu cầu của chính mình. Chúng ta cần thời gian để nhìn vào chính mình. Chúng ta cần phải hiểu được những đau khổ, khó khăn cũng như những ước vọng sâu xa của chúng ta. Và chúng ta phải có khả năng chấp nhận được mình như mình đang là, do vậy hiểu biết chính là nền tảng của lòng Từ. Chúng ta phải nên tự hỏi xem mình có hiểu được chính mình chưa, mình có hiểu được những đau khổ, khó khăn của mình chưa. Nếu chúng ta có thể hiểu được những khó khăn, đau khổ của mình, chúng ta sẽ cảm thấy yên ổn hơn nhiều, chúng ta chấp nhận được chính mình. Kế đó, khi chúng ta nhìn vào người kia, chúng ta sẽ hiểu những đau khổ và khó khăn của người đó một cách dễ dàng hơn nhiều. Do đó, bước thứ nhất là phải hiểu mình và chấp nhận chính mình. Bước thứ hai là hiểu người kia và chấp nhận người đó. Không có sự hiểu biết và chấp nhận này thì cũng khó mà có được hạnh phúc và nuôi dưỡng được tình yêu đích thực.

Yếu tố thứ hai của tình yêu đích thực là Bi. Bi là một năng lượng có thể giúp trị liệu. Khi chúng ta có sự bi mẫn trong lòng thì chúng ta sẽ bớt khổ đi nhiều và có thể mở lòng ra một cách dễ dàng hơn. Hãy nhìn sâu vào người kia, chúng ta sẽ thấy những nỗi khổ niềm đau trong người đó. Người đó là nạn nhân của những khổ đau của chính họ. Và người đó không biết cách ôm ấp những đau khổ của mình nên cứ tiếp tục đau khổ và làm chúng ta đau khổ dù không phải người đó muốn như vậy. Vì vậy, hiểu được nỗi khổ trong người đó, chúng ta không còn giận họ nữa mà ngược lại, muốn làm một cái gì đó, nói một điều gì đó để giúp người đó bớt khổ. Như vậy có nghĩa là chúng ta đã có được lòng từ bi trong lòng mình. Khi chúng ta muốn làm một điều gì đó hoặc nói một điều gì đó làm cho người khác bớt khổ thì cũng có nghĩa là lòng từ bi đang có trong trái tim ta. Và khi lòng từ bi có trong ta thì ta sẽ không khổ nữa vì ta đã mở lòng ra với chính mình và giờ đây ta có thể mở lòng ra với người khác. Đó là năng lượng thứ hai của tình thương đích thực, Karuna.

Khi chúng ta có rất nhiều năng lượng của Bi, gọi là Đại Bi, thì chúng ta cũng là một vị Bồ Tát. Chúng ta là một vị Bồ Tát vì tình thương trong ta rất lớn, trái tim ta có thể ôm hết, không những người thương của ta mà bao trùm lên tất cả. Đại Từ, năng lượng từ phải được vun trồng. Và nếu không tiếp xúc với khổ đau, không có sự hiểu biết về khổ đau, chúng ta không thể chế tác được lòng Từ. Khi lòng Từ được sinh ra thì cũng bắt đầu có sự trị liệu, trị liệu cho chúng ta và trị liệu cho thế giới. Với sự thực tập Từ quán và Bi quán, chúng ta sẽ ít khổ hơn, chúng ta bắt đầu nếm được cam lộ của tình thương và chúng ta dễ dàng mở lòng ra hơn với cuộc đời.

Yếu tố thứ ba của tình thương đích thực là Hỷ (niềm vui). Nếu tình yêu của ta không mang lại cho ta niềm vui và làm cho người kia khóc suốt ngày thì đó không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy, dấu ấn của tình thương đích thực là niềm vui và niềm vui cũng là sự trị liệu.

Yếu tố thứ tư là Xả, nghĩa là sự mở lòng, không loại trừ, không kỳ thị. Xả có nghĩa là chúng ta mở lòng mình ra và để cho người kia đi vào trong trái tim của mình. Bởi vì nếu không mở lòng thì làm sao mà chúng ta có thể ôm lấy người kia được. Nếu cứ tiếp tục như vậy, trái tim ta sẽ càng ngày càng lớn và lớn thêm ra. Và chẳng bao lâu sau, chúng ta sẽ ôm hết mọi người vì chúng ta không còn sự kỳ thị với ai nữa. Trái tim của chúng ta sẽ rộng lớn vô cùng nếu chúng ta có thể ôm hết tất cả mọi người trong trái tim mình. Đó là tình thương của Bụt, tình thương không loại trừ bất cứ một ai, không chỉ đối với loài người mà còn cả với các loài động vật, cỏ cây, đất đá. Tất cả được ôm trọn trong tình thương đó. Đó là sự bình đẳng, không phân biệt.

Như vậy, giáo lý của Bụt về tình thương rất rõ ràng và cụ thể. Nếu chúng ta thực tập, chúng ta tưới tẩm bốn yếu tố này thì hạnh phúc sẽ đến với chúng ta ngay lập tức. Chúng ta không cần phải mất nhiều năm, nhiều tháng. Khi chúng ta thực tập Từ, Bi, Hỷ, Xả, hạnh phúc sẽ bắt đầu có mặt trong trái tim ta. Ngay khi đó, chúng ta sẽ mở lòng ra được với chính mình và với những người xung quanh ta.

Thượng Đế là gì ?

1.Câu hỏi của một bé trai:  Thượng Đế là gì?

Thầy : Câu hỏi này khó quá nhưng Thầy sẽ cố gắng. Thầy nghĩ rằng Thượng Đế là tất cả mọi sự, mọi vật. Thượng Đế là mọi sự, mọi vật, do vậy mà Thượng Đế không còn là một ý niệm hay khái niệm nữa. Thượng đế đang rất thật và con có thể tiếp xúc với Thượng đế nếu con có niệm, có định và có tuệ.

Khi con đến Làng Mai để thực tập thiền nghĩa là con đang vun trồng năng lượng của Niệm, của Định và của Tuệ trong con. Và khi mà con có được 3 năng lượng này thì chắc chắn con sẽ tiếp xúc được với Thượng đế. Ngay tại làng Mai hay khi trở về nhà, con đều có thể tiếp tục tiếp xúc với Thượng Đế.

Con biết rằng khi con dừng lại những suy nghĩ, khi con thở trong chánh niệm và thưởng thức những hơi thở của mình thì con cũng đang tiếp xúc với Thượng Đế rồi. Bởi vì khi thở vào như vậy, con thưởng thức hơi thở vào và con nhận thấy rằng thở là một cái gì rất mầu nhiệm.

Thở vào, con biết mình còn sống và còn sống là một điều rất mầu nhiệm. Khi thở vào, con trở nên rất sống động, con thấy thân con và tâm con quá mầu nhiệm. Con có thể tiếp xúc với ánh nắng, với những ngọn đồi, với những bông hoa hướng dương, với nước đang chảy ra từ vòi nước. Có quá nhiều điều mầu nhiệm đang xảy ra trong con và chung quanh con.

Khi con đi thiền hành, con nhận thấy con đường dẫn lên đồi hay vào rừng có đầy những điều tuyệt diệu như cỏ xanh, những bông hoa li ti, những con côn trùng nhỏ, ánh nắng mặt trời… Mỗi thứ đều là một mầu nhiệm. Một hòn sỏi, một chiếc lá, một bông hoa, một con bướm, mỗi thứ đều tuyệt diệu.

Con có thể thấy Thượng Đế trong những người bạn. Và khi con nhìn thấy Thượng  Đế như vậy thì con là một người hạnh phúc, con không muốn làm bất cứ điều gì có hại cho chính mình và cho người khác cho dù họ có hung dữ, bạo động. Người ta khổ bởi vì người ta không thể tiếp xúc được với Thượng Đế.

Nhưng nếu người ta thực tập chánh niệm, nếu người ta có niệm, có định và có tuệ thì người ta sẽ có cơ hội nhận ra được là người ta đang sống trong nước Chúa. Chúng ta đang thực sự sống trong nước Chúa. Khi chúng ta đi thiền hành, chúng ta đang đi trong nước Chúa. Và nếu nước Chúa đang ở đây thì Thượng Đế cũng đang có ở đây.

Vì vậy cho nên chúng ta có thể tiếp xúc được với Thượng Đế qua mỗi bước chân, mỗi hơi thở. Đó là những gì mà Thầy đã làm trong suốt các buổi thiền hành. Ở đây chúng ta có quý thầy, quý sư cô và những bạn thiền sinh cũng có khả năng làm như vậy – thưởng thức những mầu nhiệm trong nước Chúa, thưởng thức Thượng Đế.

Với Thầy, Thượng Đế không phải là một khái niệm mơ hồ mà là một cái gì rất thật chúng ta có thể tiếp xúc trong mỗi giây phút cuộc sống hàng ngày của mình. Thân thể của chúng ta thuộc về nước Chúa, tâm của chúng ta cũng vậy và mỗi bông hoa, dòng suối, cỏ cây cũng đều thuộc về nước Chúa.

Rất là uổng nếu chúng ta bị kẹt vào những giận dữ, sợ hãi, ghen tị của mình mà không tiếp xúc được với nước Chúa. Nếu chúng ta không biết làm sao tiếp xúc với nước Chúa và với Thượng Đế thì thật là uổng phí cho cuộc đời ta. Vì vậy cho nên ở Làng Mai, chúng ta phải học cách đi, cách ngồi, cách ăn, cách tắm… như thế nào để có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của cuộc sống đang có mặt trong nước Chúa.

Và Thầy nói cho con biết rằng tất cả mọi thứ đều thuộc về nước Chúa, kể cả bông hoa này, kể cả cậu bé này. Con cần phải tiếp tục học để hiểu được điều này sâu hơn.

 

2.Câu hỏi của một bé gái: Con phải làm sao để đừng có lo lắng nữa?

Thầy : Dễ lắm! Khi con thở vào một cách có chánh niệm và để hết tâm ý vào hơi thở vào thì sự lo lắng của con sẽ biến đi ngay lập tức. Hoặc nếu con biết cách đi thiền hành và chú ý đến từng bước chân, thưởng thức mỗi bước chân của mình thì trong suốt thời gian đó sự lo lắng sẽ không có cơ hội có mặt nữa.

Hoặc khi con chơi bóng chuyền hay bóng rổ, nếu con để hết lòng vào cuộc chơi, tận hưởng giây phút hiện tại thì con cũng không còn lo lắng gì nữa. Tương tự như vậy, mỗi khi ăn sáng, nếu con nhìn sâu vào bữa ăn sáng của mình, thưởng thức món muesli, yaourt hay miếng bánh mì và trân quý sự có mặt của những người bạn tu hay những người thân xung quanh mình thì sự lo lắng cũng không thể có mặt được nữa.

Chúng ta cần có niệm, định về những gì đang xảy ra và tận hưởng những điều đó thì những lo lắng sẽ không thể làm gì được chúng ta.

Vì sao gia đình con không thể chung sống với nhau?

Phiên tả từ buổi vấn đáp với Thầy Làng Mai trong tuần đầu tiên của khóa tu mùa hè 2013
(ngày 11/07/2013 tại xóm Hạ, Làng Mai)

 

Những câu hỏi của trẻ em

Một cậu bé: Vì sao thế giới này tồn tại? (Why does the world exist?)

 

Thầy: Con có chắc là thế giới này đang tồn tại không?

 

Cậu bé: Dạ, có.

 

Thầy: Còn Thầy thì không chắc lắm. Theo lời Bụt dạy, nếu nói thế giới này “có” cũng không đúng, mà nói thế giới này “không có” cũng không đúng luôn. Vấn đề không nằm ở chỗ hay không có, tồn tại hay không tồn tại, đó là lời Bụt dạy (To be or not to be, that is not a question). Ngày mai chúng ta sẽ chia sẻ thêm về vấn đề này. Con có đồng ý không? Cảm ơn con đã đặt câu hỏi. Một câu hỏi khó mà chỉ có triết gia mới đặt ra thôi.

======

Một cô bé (vừa khóc vừa hỏi): Con không hiểu về tình yêu. Con không biết tình yêu là gì? Vì sao khi cha mẹ của con ly dị, họ lại chửi mắng nhau? Con không thể nào hiểu được vì sao họ lại làm như vậy? Vì sao gia đình con không thể chung sống với nhau?

Thầy: Thầy nghĩ đó là vì cha mẹ của con chưa từng có cơ hội được biết thế nào là tình thương chân thực. Có thể họ chưa từng được cha mẹ, tức là ông bà của con, dạy cho biết phải thương yêu như thế nào mới đúng. Nhưng bây giờ, các con có cơ hội được học về tình thương, học cách thương yêu theo phương pháp Bụt dạy. Vì vậy mà các con sẽ không hành xử như cha mẹ của mình. Và khi các con đã biết cách thương yêu thì các con sẽ không còn đau khổ nữa và các con có thể giúp cho cha mẹ của mình. Nhiều bạn đã làm được như vậy.

Có nhiều bạn nhỏ đến tham dự khóa tu tại Làng Mai và học được phương pháp thương yêu và khi trở về nhà, các bạn đã giúp được cho cha mẹ của mình. Thỉnh thoảng ở Làng Mai có tổ chức những khóa tu dành cho trẻ em, có khoảng 300 – 400 bạn nhỏ đã đến tham dự khóa tu trong vòng 5 hoặc 7 ngày. Và trong thời gian khóa tu, các bạn được học cách thở, cách chăm sóc các cảm xúc mạnh như sợ hãi, giận dữ, v.v. Các bạn cũng học được cách thương chính mình và thương những người khác. Và khi trở về nhà, các bạn có thể giúp được cho cha mẹ của mình. Các bạn có thể giúp cho cha mẹ hòa giải với nhau, điều này đã xảy ra nhiều lần rồi. Vì vậy mà con đừng mất hy vọng. Khi ở Làng Mai, con ráng thực tập cho giỏi. Con cần học cách thương yêu sao cho đúng, nếu không con sẽ có thể hành xử y hệt cha mẹ của mình. Con có đồng ý như vậy không?

=======

Một cậu bé: Thầy có hình ảnh như thế nào về Chúa (Thượng đế)? (What does God look like to you?)

 

Thầy: Theo Thầy, Chúa (God, Thượng đế) biểu hiện dưới muôn vàn hình thức. Nếu ta biết cách nhìn với sự chú tâm, với chánh niệm, chúng ta có thể nhìn thấy Chúa nơi một bông hoa bé xíu mọc ở vạt cỏ  ven đường thiền hành. Ta cũng có thể thấy Chúa là ánh mặt trời buổi sáng hay là một dòng sông. Ta cũng có thể nhận ra Chúa nơi một em bé. Chỉ với năng lượng của niệm, định và tuệ, ta mới có thể nhận ra Chúa. Và Chúa không bị giới hạn trong một hình tướng cụ thể nào. Chúa biểu hiện trong muôn vàn hình thức và luôn luôn có mặt trong giờ phút hiện tại, bây giờ và ở đây. Nếu chúng ta quá bận rộn, chúng ta sẽ không thể nào tiếp xúc được với Chúa.

=======

Một cậu bé: Thưa Thầy, con sẽ sống được bao lâu?

 

Thầy: Nếu con biết thực tập thiền, nếu con biết nhìn sâu vào vạn vật thì con sẽ sống mãi, con sẽ không bao giờ chết. Nhưng nếu con không biết nhìn sâu thì con sẽ luôn lo sợ cái chết. Các nhà khoa học đã phát hiện ra rằng không có gì có thể chết đi. Không có gì sinh mà cũng không có gì diệt, đó là tuyên bố của một nhà khoa học người Pháp tên là Lavoisier. Vì vậy đối với một người thực tập thiền, khi nhìn sâu vào vạn vật, người đó sẽ phát hiện ra bản chất không sinh, không diệt của vạn vật. Các nhà khoa học cũng vậy, nếu nhà khoa học biết nhìn sâu thì cũng sẽ thấy được bản chất không sinh, không diệt của vạn vật. Và khi thấy được điều đó, chúng ta sẽ không còn lo sợ cái chết nữa.

==========

Một em gái tuổi teen: Thưa Thầy, khi cha mẹ ly dị nhau, làm sao họ có thể nói rằng họ rất thương con cái của mình trong khi họ lại cãi vã và đánh đập nhau trước mặt con cái?

Thầy: Thầy nghĩ rằng những người cha, người mẹ như vậy có rất nhiều khổ đau trong lòng, và vì họ không biết cách xử lý những khổ đau đó nên họ gây lộn và đánh mắng nhau, cho dù có mặt con cái hay không. Vì vậy mà chúng ta nên cảm thông với cha mẹ và cầu mong cho  họ có thể học được cách xử lý những khổ đau của mình.

Chúng ta có thể viết thư cho cha mẹ và nói rằng: thưa cha, thưa mẹ, con biết là cha và mẹ đều có rất nhiều khổ đau trong lòng, vì vậy mà cha mẹ luôn cãi vã với nhau cho dù có mặt chúng con ở đó. Chúng con không trách cha mẹ, bởi vì chúng con thấy rằng cả cha và mẹ đều có nhiều niềm đau, nỗi khổ trong lòng. Chúng con chỉ xin cha mẹ hai điều thôi. Điều thứ nhất là khi có mặt chúng con, xin cha mẹ đừng nên cãi vã và gây lộn với nhau. Vì mỗi lần như vậy, chúng con khổ tâm lắm. Điều thứ hai là nếu được thì xin cha mẹ hãy tham gia một khóa tu chánh niệm để học cách xử lý những khổ đau trong lòng mình, để cha và mẹ có thể hàn gắn và làm bạn lại với nhau. Và điều này hoàn toàn có thể làm được vì đã có nhiều người tham dự khóa tu chánh niệm và học được cách chế tác hiểu biết và thương yêu đối với mình và với mọi người, nhờ vậy mà sau khóa tu, họ bớt khổ và có thể hàn gắn lại với gia đình của mình.

Chúng ta có thể viết một lá thư như vậy. Chúng ta không nên trách móc cha mẹ bởi vì chúng ta biết rằng họ đang rất khổ. Nếu chúng ta ở vào hoàn cảnh của họ thì có thể chúng ta cũng sẽ hành xử y hệt như vậy. Vì vậy điều quan trọng hơn hết là học cách xử lý khổ đau và xây dựng lại tình thân. Và trong lá thư đó, chúng ta cũng có thể nói thêm rằng mặc dù còn nhỏ tuổi nhưng chúng ta đã may mắn có được cơ hội học hỏi cách thức xử lý khổ đau trong chính mình. Bất cứ khi nào có một cảm xúc đau buồn phát khởi, chúng ta biết cách để trở về với hơi thở chánh niệm và làm lắng dịu cảm xúc, và nhờ vậy mà chúng ta cảm thấy bớt khổ liền. Vì vậy mà chúng ta hy vọng rằng cha mẹ cũng có thể làm được như vậy, chắc chắn là cha mẹ có thể làm hay hơn chúng ta nhiều.

Chúng ta hãy viết cho cha mẹ một lá thư với nhiều thương yêu, thay vì giận hờn và trách móc. Khi đó cha mẹ của chúng ta sẽ nhận ra rằng là một người trẻ, chúng ta cũng có những khổ đau, nhưng chúng ta vẫn có thể hành xử với rất nhiều thương yêu và cảm thông, từ đó họ sẽ cố gắng để làm được như chúng ta. Thầy chúc con may mắn!

========

Một em gái: Có một người luôn đối xử không tốt với con, nhưng sau khi làm cho con bị tổn thương thì người đó lại quan tâm, lo lắng cho con. Con không hiểu vì sao người đó lại như vậy?

Thầy: Khi một người đối xử không tốt với con thì cũng có nghĩa là người đó cũng đồng thời đối xử không tốt với chính người đó. Người đó không biết thương mình và thường làm khổ chính mình. Và vì không biết thương mình và tự làm khổ mình cho nên người đó cũng hành xử tương tự với con hoặc với một ai khác. Khi chúng ta hiểu được điều đó thì tự nhiên chúng ta sẽ không còn trách móc, mà ngược lại chúng ta mong cho người đó biết cách thương chính mình, biết cách chăm sóc cho thân mình, chăm sóc các cảm xúc mạnh khi chúng phát khởi, và đồng thời biết cách chế tác niềm vui, niềm hạnh phúc trong tự thân. Đó là những gì mà chúng ta đã may mắn học được trong thời gian ở Làng Mai. Chúng ta mong rằng người đó học được cách thương chính mình, vì khi đã biết thương mình rồi thì người đó cũng đồng thời thương được con và những người khác.

Vì vậy con đừng trách móc người đó. Con có thể tìm cách nói chuyện với người đó. Con có thể nói rằng dù mới ở tuổi teen (tuổi thiếu niên) nhưng con đã có cơ hội học được cách chăm sóc cơ thể của mình, con biết cách buông bỏ những căng thẳng trong thân, con biết cách ăn uống, vui chơi như thế nào để không làm tổn hại đến cơ thể. Con cũng biết cách xử lý một cảm xúc mạnh, một niềm đau. Và con biết chắc rằng nếu thực tập trong một vài tuần thì ai cũng có thể làm được như vậy. Vì vậy mà con mong người đó cũng học được phương pháp thực tập như con. Thực ra, ở Làng Mai cũng thường tổ chức những khóa tu dành cho các giáo viên và các bậc phụ huynh. Trong các khóa tu này, các giáo viên được học cách chăm sóc cho chính mình, và khi đến lớp, họ có thể tươi mát và nhẹ nhàng với các học sinh của mình, nhờ vậy mà họ có thể giúp được những học sinh có nhiều khổ đau. Đối với các bậc phụ huynh cũng tương tự như vậy. Ai trong chúng ta cũng cần học cách chăm sóc chính mình, học cách thương chính mình. Đó là điều kiện căn bản để chúng ta có thể đối xử tốt và thương yêu những người khác.

Nếu người đó làm con khổ và khi thấy con khổ, người đó mới quan tâm, lo lắng thì như vậy là hơi trễ. Vì vậy, khi người đó bày tỏ sự quan tâm, lo lắng đối với con thì con nên chia sẻ với người đó rằng con mong người đó học được cách chăm sóc và thương yêu chính mình, có như vậy thì người đó mới không lập lại cách hành xử như trước đây đối với con. Con nói với người đó rằng: chắc chắn là nếu người đó biết cách chăm sóc và thương yêu chính mình thì người đó sẽ không bao giờ có thể làm tổn thương hay làm khổ con nữa.

=========

Câu hỏi của một bạn trẻ:
Thưa Thầy, khi con nhìn thấy Thầy, con cảm nhận được sự định tĩnh và niềm an lạc nơi Thầy, nhưng đồng thời con lại thấy một niềm đau trong con…Con muốn được như Thầy. Làm sao con có thể chuyển hóa niềm đau trong con thành niềm vui, sự an lạc và tĩnh lặng như Thầy?

Thầy: Con biết đó, ở Làng Mai, chúng ta luôn nói rằng không có bùn thì không có sen. Nếu như có một chút bùn thì chúng ta nên biết cách tận dụng bùn để trồng nên những đóa sen. Vào thời điểm này ở Làng Mai, sen bắt đầu nở ở các xóm. Và con thấy đó, nếu không có bùn thì làm sao có thể trồng sen được. Cũng như vậy, những khổ đau trong ta chính là một loại bùn và chúng ta nên biết cách tận dụng những khổ đau đó. Bản thân Thầy cũng có nhiều khổ đau, nhưng Thầy may mắn có được cơ hội học hỏi từ Bụt, từ Thầy Tổ cũng như các huynh đệ của mình cách thức xử lý khổ đau và chuyển hóa rác thành hoa.

Con vẫn còn rất trẻ, con còn nhiều cơ hội để làm điều đó. Chắc chắn là con có thể làm như Thầy, thậm chí là còn làm hay hơn nữa. Khi con đi, mỗi bước chân của con có thể mang lại cho con niềm vui và sự bình an. Khi con rửa chén hay chuẩn bị bữa sáng cũng vậy, mỗi giây phút rửa chén hay làm đồ ăn sáng có thể trở thành những giây phút đầy niềm vui và hạnh phúc. Và để làm được điều này chỉ đòi hỏi một chút tập luyện mà thôi. Con có rất nhiều cơ hội để tập luyện. Chẳng hạn như từ bãi đỗ xe cho đến nơi làm việc, con có thể tận hưởng từng bước chân của mình. Con phải đi như thế nào để mỗi bước chân đều mang lại cho con sự bình an, nuôi dưỡng và trị liệu. Ai cũng có thể làm được như vậy nếu mình thực sự muốn làm. Muốn thì sẽ được!

=========

Câu hỏi:
Thưa Thầy, làm sao con có thể chuyển hóa mặc cảm tội lỗi trong con cũng như mặc cảm tội lỗi của cha mẹ khi cha mẹ ly dị nhau? Làm sao con có thể tha thứ cho con và tha thứ cho cha mẹ của mình? Con phải làm gì để không bị cuốn đi bởi những cảm xúc tiêu cực?

Thầy: Là con người, ai trong chúng ta cũng có lúc lầm lỗi. Chúng ta không đủ khéo léo, và vì vậy mà chúng ta làm khổ mình và làm khổ người khác, đó là chuyện thường xảy ra. Nhưng điều quan trọng hơn hết là chúng ta có thể học hỏi và lớn lên từ những lầm lỗi này. Chúng ta cần phải học hỏi từ khổ đau. Nếu mọi thứ đều hoàn hảo thì làm sao chúng ta có cơ hội để học hỏi và lớn lên được. Cho nên chúng ta có thể học hỏi được rất nhiều từ những vụng về, lầm lỗi của mình, cũng như từ những khổ đau của chính mình. Chúng ta có thể tận dụng bùn để trồng nên sen. Chúng ta chỉ giữ mặc cảm tội lỗi khi chúng ta không thể chuyển hóa nó. Còn nếu chúng ta biết cách chuyển hóa thì mặc cảm tội lỗi đó sẽ tan biến.

Giả sử như ngày hôm qua, ta có một tư tưởng giận hờn, thù ghét một ai đó và ngày hôm nay ta cảm thấy hối hận. Tuy nhiên, ngày hôm nay ta vẫn có thể làm phát khởi trong ta một ý nghĩ đầy thương yêu, tha thứ và bao dung đối với người đó. Chúng ta có cơ hội để làm điều đó. Nếu nhìn thật sâu, chúng ta có thể thấy được niềm đau, nỗi khổ nơi người đó và trong chính chúng ta. Khi đã hiểu được khổ đau nơi mình và nơi người thì tình thương trong ta sẽ phát khởi ngay lập tức. Và khi trong trái tim đã có tình thương thì ta có thể làm phát khởi một tư tưởng đầy thương yêu và từ bi. Nếu hôm nay chúng ta có thể làm phát khởi một tư tưởng thương yêu thì tư tưởng đó sẽ làm trung hòa và xóa đi tư tưởng mà ta đã phát khởi ngày hôm qua. Vì vậy có thể nói chúng ta có khả năng thay đổi cả quá khứ.

Nếu ngày hôm qua ta đã lỡ nói một điều gì đó không dễ thương với người đó và hôm nay ta cảm thấy hối tiếc. Vậy thì tại sao ta không ngồi xuống và nhìn thật sâu để hiểu được khổ đau nơi chính mình và nơi người kia, rồi thì ta có thể gọi điện thoại và nói chuyện với người đó bằng những lời đầy thương yêu và hiểu biết. Sau khi ta đã làm, đã nói được như vậy thì mặc cảm tội lỗi trong ta cũng tan biến. Chúng ta đã làm thay đổi quá khứ, làm cho quá khứ trở nên tươi đẹp hơn. Chúng ta hãy nên tận dụng giây phút hiện tại để làm thay đổi quá khứ và xây dựng tương lai. Đó là điều hoàn toàn có thể làm được với năng lượng của niệm, định và tuệ. Với niệm, định và tuệ, ta sẽ có tự do. Năng lượng của niệm, định và tuệ có công năng giải phóng, giúp ta ra khỏi những tình huống khó khăn, ra khỏi những mặc cảm, kể cả mặc cảm tội lỗi. Chuyển hóa là điều ta có thể làm được nếu ta biết tận dụng giây phút hiện tại để thay đổi chính mình, thay đổi cách ta tư duy, nói năng và hành động, khi đó ta sẽ tạo ra hạnh phúc cho chính mình và cho người khác.

==========

Câu hỏi:
Thầy ơi, con không biết làm gì với cơn giận trong con. Khi cơn giận phát khởi, con có thể cảm nhận được sự có mặt của nó, cơ thể con nóng lên, mặt con đỏ bừng và đầu con thì rối bời…Con biết là con được trao truyền từ cha của con hạt giống nóng giận đó và con không muốn giống cha. Con muốn trở thành một con người dễ thương. Nhưng khi giận lên thì con không thể suy nghĩ được gì hết. Thầy hãy chỉ cho con là con nên làm gì khi con giận? Bởi vì lúc đó đầu óc của con dường như bị tê liệt và con không thể suy nghĩ được gì hết.

Thầy: Có những người rất dễ nổi giận, năng lượng bực bội, sân hận trong họ rất mạnh và dễ biểu hiện. Có thể là mười năm trước, người đó không nóng tính và dễ giận như bây giờ. Và điều đó có nghĩa là hạt giống giận trong người đó được tưới tẩm và không ngừng lớn lên mỗi ngày. Vì vậy, nếu ta thấy cơn giận trong ta quá lớn thì điều đó cũng có nghĩa là ta đã để cho hạt giống giận lớn lên trong ta. Vấn đề là ở thức ăn. Bụt đã dạy rằng không có gì có thể tồn tại nếu không có thức ăn. Và nếu cơn giận trong ta không ngừng lớn lên, đó là vì ta đang cung cấp thực phẩm, đang nuôi cơn giận trong ta mỗi ngày. Những gì chúng ta nghe, những gì chúng ta thấy đều đi vào trong ta và nuôi hạt giống giận lớn lên. Nếu ta biết làm thế nào để dừng lại, không nghe những điều đó, không xem những thứ đó, thì chúng ta có cơ hội ngăn không cho hạt giống giận lớn lên.

Điều này cũng đúng với những hạt giống khác như bạo động, sợ hãi, tuyệt vọng, v.v.Nếu bạo động, sợ hãi và tuyệt vọng trong ta lớn lên, đó là vì ta đã để cho chúng lớn lên. Trong đời sống hàng ngày, ta đã tiêu thụ như thế nào để nuôi cơn giận, sự sợ hãi và tuyệt vọng trong ta ngày một lớn lên. Khi ta đọc một bài báo trong một tạp chí nào đó tức là ta đang tiêu thụ, bởi vì bài báo đó có thể chứa đựng rất nhiều bạo động và hận thù, đọc bài báo đó chính là ta đang cung cấp thực phẩm cho hạt giống giận trong ta. Cũng tương tự như vậy, khi ta trò chuyện với một ai đó và những gì người đó chia sẻ toàn là giận hờn và thù hận thì trong khi nghe, ta đã để cho hạt giống giận trong ta bị tưới tẩm và nuôi dưỡng. Vì vậy mà chúng ta cần phải rất chánh niệm để không tiêu thụ những loại thực phẩm có khả năng nuôi dưỡng cơn giận trong ta. Đó là sự thực tập chánh niệm.

Những thực phẩm nuôi hạt giống giận có thể đi vào trong ta qua đường mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Đó là vấn đề tiêu thụ. Chẳng hạn như Internet, khi ta vào mạng Internet, ta có thể tiếp xúc với rất nhiều những thức ăn không lành mạnh như thèm khát, bạo động, giận hờn, tuyệt vọng, và ta tiêu thụ những thực phẩm đó. Vì vậy mà điều đầu tiên ta cần thực tập đó là không cung cấp thực phẩm để nuôi dưỡng hạt giống giận. Không nhìn, không nghe, không làm những gì có khả năng làm cho hạt giống giận lớn lên. Chúng ta phải quyết tâm và đề ra những cách thức cụ thể để làm điều đó. Chẳng hạn như: ta nguyện rằng từ nay trở đi ta sẽ không nhìn, không nghe, không nói chuyện, không suy nghĩ về những điều có khả năng nuôi dưỡng hạt giống giận trong ta. Và ta phải nhờ bạn bè giúp đỡ, ta có thể nói với bạn bè rằng: “Xin các bạn hãy giúp tôi, tâm giận hờn trong tôi rất lớn, vì vậy xin đừng cho tôi bất kỳ một loại thực phẩm nào có thể nuôi dưỡng hạt giống giận trong tôi. Xin hãy yểm trợ cho tôi.” Chúng ta phải tự mình thực tập và đề nghị bạn bè yểm trợ chúng ta trong sự thực tập đó. Đây là điều đầu tiên chúng ta cần thực tập.

Điều thứ hai chúng ta cần làm, đó là quán chiếu về khổ đau, khổ đau trong chính chúng ta, khổ đau nơi cha, nơi mẹ, nơi vợ/chồng, hoặc con cái, v.v. Những người thân của ta có thể đã nói, đã làm những điều không được dễ thương đối với chúng ta. Nhưng đó không phải là vì họ muốn làm cho chúng ta khổ, mà bởi vì trong bản thân họ có quá nhiều khổ đau. Và họ chính là nạn nhân của khổ đau đó. Họ không biết xử lý những khổ đau trong chính mình. Và nếu nhìn thật sâu, chúng ta sẽ thấy được nỗi khổ, niềm đau nơi họ cũng như những gốc rễ của khổ đau đó. Ta sẽ nhận ra rằng họ chính là nạn nhân của những khổ đau của chính họ. Cái thấy đó sẽ làm phát khởi tình thương và lòng từ bi trong trái tim ta. Từ bi là năng lượng duy nhất có khả năng làm trung hòa cơn giận, một loại thuốc giải độc giúp chuyển hóa cơn giận (antidote of anger). Vì vậy, điều thứ hai mà chúng ta cần thực tập, đó là nuôi dưỡng lòng từ bi. Một người không có từ bi là người có rất nhiều khổ đau. Nếu chúng ta biết cách nuôi dưỡng lòng từ bi thì năng lượng từ bi đó sẽ có khả năng trung hòa cơn giận trong ta và giúp làm vơi bớt khổ đau nơi người kia, bởi vì với lòng từ bi, chúng ta có thể nói và làm một điều gì đó đầy tình thương để giúp cho người kia bớt khổ. Con đường của đạo Bụt là con đường của từ bi. Không một ngày nào mà chúng ta không thực tập nuôi dưỡng lòng từ bi. Nếu lòng từ bi trong ta lớn lên mỗi ngày thì hạt giống giận trong ta sẽ tiếp tục được chuyển hóa. Mọi người ai cũng nên thực tập điều này.

Nếu cha mẹ của chúng ta không biết phương pháp thực tập thì với sự thực tập của mình, chúng ta sẽ giúp cho cha mẹ làm được điều đó. Khi chúng ta thực tập, chúng ta làm cho cơn giận trong ta ngày một yếu đi và năng lượng từ bi ngày một lớn, điều này sẽ nuôi dưỡng và mang lại nhiều lợi lạc cho cha mẹ của chúng ta. Vì cha mẹ không chỉ ở bên ngoài chúng ta mà còn nằm bên trong từng tế bào của cơ thể chúng ta. Vì vậy mỗi khi ta làm phát khởi lòng từ bi trong trái tim ta thì cha mẹ ở trong ta cũng đang được chuyển hóa nhờ vào năng lượng từ bi đó. Và khi chúng ta có con, chúng ta sẽ không tiếp tục trao truyền cho con mình hạt giống giận, bởi vì chúng ta đã thực tập và đã chuyển hóa được cơn giận trong ta. Chúng ta đã dừng lại được bánh xe luân hồi. Chúng ta chỉ trao truyền cho thế hệ tương lai hạt giống của hiểu biết và thương yêu mà thôi. Chúng ta đã chuyển hóa được năng lượng giận hờn trong ta thành năng lượng tích cực. Và đó là điều mà chúng ta hoàn toàn có thể làm được ngay ngày hôm nay.

=========

Câu hỏiLàm sao con có thể hình dung ra cha của con khi con chưa bao giờ được gặp ông ấy?

Thầy: Có những người nhìn thấy cha mình mỗi ngày nhưng chưa bao giờ thực sự tiếp xúc với cha mình. Nhiều khi giữa vợ và chồng, giữa cha và con, tuy gặp nhau mỗi ngày nhưng giữa họ không hề có sự truyền thông. Họ nhìn thấy nhau nhưng họ không thực sự gặp nhau, bởi vì giữa họ không hề có sự truyền thông, không có tình thương, không có sự cảm thông hay thấu hiểu. Vì vậy trong trường đó, nhìn thấy cha mỗi ngày nhưng lại không hề có hạnh phúc thực sự, bởi vì giữa hai cha con không có sự thấu hiểu và thương yêu.

Nhưng nếu con thực tập nhìn sâu thì con sẽ thấy mình là sự tiếp nối của cha. Đây là sự thật. Con không chỉ là sự tiếp nối của cha mà con chính là cha. Con không thể lấy cha ra khỏi con được. Con hãy nhìn đám mây trên bầu trời. Đám mây có thể trở thành mưa, và mưa lại trở thành trà và khi nhìn vào tách trà, con có thể thấy được đám mây. Không quá khó để nhận ra đám mây trong tách trà. Vì vậy khi nhìn vào chính con, con sẽ dễ dàng nhận ra cha trong con. Con không chỉ là sự tiếp nối của cha mà con chính là cha. Mưa cũng chính là đám mây, mà trà cũng là mưa và cũng là đám mây. Hình tướng bên ngoài không phải là điều quan trọng nhất. Chính nội dung bên trong mới là điều quan trọng. Vì vậy nếu con có thể mỉm cười với niềm vui và sự bình an thì cha của con cũng đang cười đồng thời với con. Con luôn mang cha trong con. Khi con đi được những bước chân an lạc thì cha của con cũng đang bước những bước chân an lạc cùng với con. Và con gần với cha hơn bao giờ hết, còn gần hơn là con nghĩ. Con có thể nói chuyện với cha bất cứ lúc nào. Cha của thầy chưa bao giờ chết, mỗi ngày cha của thầy và thầy đều đi thiền hành với nhau, cùng thở với nhau và thầy thường xuyên nói chuyện với cha. Con thấy đó, đám mây không hề chết, nó chỉ mang một hình tướng mới mà thôi, hình tướng của mưa hoặc của trà, vì vậy mà con có thể nói chuyện với đám mây và con có thể uống cả đám mây nữa. Thiền tập có khả năng giúp ta nhìn sâu như vậy. Khi chúng ta có khả năng nhìn sâu vào vạn vật, ta sẽ có thể buông bỏ hết mọi giận hờn, nuối tiếc, buồn phiền và khổ đau.

===========

Câu hỏi:
Thưa thầy, một người bạn của con bị nghiện và con rất muốn giúp cô ấy. Nhưng mỗi khi lắng nghe cô ấy tâm sự, con lại thấy khổ tâm và nhiều lúc bị chìm ngập trong khổ đau của cô ấy. Con cần phải làm sao thưa Thầy?

Thầy: Thầy nghĩ rằng chúng ta phải biết giới hạn của mình. Ta chỉ nên dành một khoảng thời gian “trong giới hạn” đó để có mặt cho người bạn kia, như vậy ta mới có thể bảo vệ được cho chính mình. Nếu con không giữ gìn và chăm sóc cho chính mình thì con cũng không thể nào có thể giúp được cho người bạn đó trong tương lai. Giữ gìn, chăm sóc cho chính mình là điều rất quan trọng. Con cần phải biết mình có thể dành ra tối đa là bao nhiêu thời gian trong mỗi ngày hoặc mỗi tuần cho người bạn đó. Con có thể nhờ sự giúp đỡ của bạn bè hoặc người thân. Nếu con có một Tăng thân để nương tựa thì con có thể nhờ sự giúp đỡ của anh chị em trong Tăng thân đó. Nếu có được anh chị em trong Tăng thân yểm trợ thì con sẽ mạnh hơn nhiều và con có thể giúp được nhiều hơn cho người bạn đó. Và nếu người bạn đó cũng tham gia tu học với Tăng thân thì người đó sẽ có nhiều cơ hội hơn để chuyển hóa.

Con biết không, có nhiều nhà tâm lý trị liệu phải dành rất nhiều thời gian nói chuyện và lắng nghe các bệnh nhân và không có thời gian để chăm sóc cho chính mình, điều này không tốt chút nào. Chúng ta không thể nào dành cả ngày để lắng nghe khổ đau của người khác. Ta cần phải có thời gian để tiếp xúc với những yếu tố vui tươi, nuôi dưỡng và trị liệu cho chính chúng ta. Các nhà tâm lý trị liệu cũng vậy, họ cũng cần được nuôi dưỡng để có thể tiếp tục công việc của mình một cách lâu dài. Vì vậy, biết được giới hạn của mình là điều rất quan trọng, và con cần phải có một Tăng thân ở đằng sau để yểm trợ con, đó là câu trả lời cho vấn đề của con.

 

Làm sao để lắng nghe sâu?

Những câu hỏi này được ghi lại vào ngày 7.4.2013 tại buổi pháp thoại thứ ba của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Thái Lan trong khóa tu dành cho Các Nhà Giáo. Trong bài pháp thoại này, Thiền sư đã trả lời các câu hỏi không chỉ liên quan đến những vấn đề cá nhân mà cả những vấn đề trong phạm vi giáo dục. Những đề tài trao đổi bao gồm cả việc thực tập chánh niệm đối với người trẻ.

Hỏi: Thưa Thầy, khi chúng con cố gắng thực tập lắng nghe sâu thì đối tượng tiếp xúc lại dùng những lời lẽ không dễ thương, thô tháo làm tổn thương người khác và chính bản thân họ, chúng con phải làm thế nào để có thể duy trì sự thực tập lắng nghe sâu?

Thầy: Mục đích của việc lắng nghe với lòng từ bi là để giúp người kia bớt khổ đau. Khi người ta tràn đầy đau khổ thì họ khó sử dụng ái ngữ. Có lẽ trái tim họ có quá nhiều đớn đau, chua chát, bạo lực, thất vọng và sân hận, vì thế chúng biểu hiện qua lời nói và thái độ của họ. Do đó trong khi lắng nghe, quý vị hãy nhớ một điều: người này đang đầy đau khổ. Tôi lắng nghe là để giúp họ vơi bớt khổ đau. Hành động chánh niệm này có hai khía cạnh: trước hết là thấy được người đối diện đang đau khổ, kế tiếp là nhớ lại mục đích của hạnh lắng nghe của ta. Trong lúc lắng nghe, hãy tự nhắc nhở mình như thế và năng lượng từ bi sẽ bảo hộ cho quý vị nếu người kia nói những lời có thể gây thương tổn. Nếu làm được như thế thì những lời nói đó không thể làm tổn thương quý vị lâu dài. Nếu quý vị không giữ được tâm từ bi, thì đừng cố gắng buộc mình phải tiếp tục lắng nghe vì tâm quý vị sẽ không được bảo vệ nữa. Hãy đợi đến một lúc khác để thực tập hạnh lắng nghe, khi trong lòng quý vị có từ bi và thông cảm.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, chúng con có nhận một nhân viên vào phụ trách việc huấn nghệ. Nhưng anh ta thường dùng những lời lẽ xem thường phụ nữ, hay những người khác sắc tộc. Những lời lẽ này rất khó nghe. Làm thế nào để con có thể bày tỏ với anh ta sự khó chịu của mình về cách ứng xử của anh ta một cách thân thiện nhất?

Thầy: Thầy không nghĩ là quý vị cần phải chuyển đổi cách ăn nói của người đó. Nhưng quý vị cần chuyển đổi cách lắng nghe của mình. Nếu quý vị nhận ra được nỗi khổ đau của anh ta, và anh ta đã thể hiện điều đó ra ngoài như thế nào, thì quý vị có thể lắng nghe bất cứ điều gì anh ta nói mà không bị bực tức. Nếu quý vị có thể lắng nghe với tâm từ bi, người nói dần dần sẽ tự họ thay đổi cách nói năng, quý vị không cần phải bảo họ làm thế.

 

_____________________

H: Thưa Thiền sư, chúng con làm việc với những người dân thuộc một bộ tộc trên núi. Họ phải giết thú, phá rừng, góp phần vào việc làm nóng trái đất – cách kiếm sống của các bậc phụ huynh này dựa trên việc sát hại mạng sống. Làm sao chúng con có thể dạy con cái họ cách bảo vệ sự sống một cách cụ thể?

Thầy: Nếu quý vị có thể nấu những bữa ăn chay cho họ thì rất tốt.  Hy vọng họ có thể dần dần thay đổi thói quen ăn uống. Quý vị cần tìm những phương cách thiết thực để chỉ cho họ thấy sự khổ đau của các sinh vật, có thể một bộ phim tài liệu về cảnh thú vật bị làm thịt để ăn, họ sẽ cảm nhận được nỗi đau của những con thú mẹ. Điều đó còn giáo dục họ hơn là một bài pháp thoại hay những lời giáo huấn trừu tượng. Quý vị có thể gầy dựng một vườn rau, trồng rau xanh sạch, rồi mời họ cùng tiếp tay với quý vị. Vườn rau không những có thể được duy trì và cung cấp thực phẩm, mà còn có thể được dùng để dạy cho con cái của họ những phương cách sống khác. Hãy chỉ cho bọn trẻ thấy là chúng có thể thể hiện tình thương yêu bằng cách ăn những thực phẩm hữu cơ, rằng chúng ta không cần phải ăn thịt. Người có lòng từ bi là người hạnh phúc. Vậy quý vị hãy làm như thế đi, rồi quý vị sẽ thành công.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, chúng con muốn áp dụng những phương pháp của Thầy vào trường học, nhưng thầy hiệu trưởng, hay giám hiệu không chấp nhận việc này. Chúng con phải làm thế nào để có thể áp dụng chúng mà không bị đuổi việc?

Thầy: Có nhiều cách để đem các phương cách này vào trường học. Cách tốt nhất là đem các bài học về chánh niệm vào lớp học một cách khéo léo, tinh tế. Nếu quý vị bảo các em học sinh bắt đầu buổi học bằng cách thở có chánh niệm, thì ai có thể ngăn cấm quý vị? Quý vị cần để cho người ta cảm nhận được những đổi thay trong lớp học. Nếu lớp học trở nên tốt hơn, các em học sinh tử tế hơn thì mọi người sẽ bắt đầu chú ý. Giả thử quý vị hướng dẫn cho học sinh buông thư (thư giãn); dù là trong một khoảng thời gian dài hay ngắn, chắc chắn là nó sẽ gây ảnh hưởng trên lớp học. Quý vị cũng cần dành thời gian để tiếp xúc với thầy hiệu trưởng và các bạn đồng nghiệp để bàn về phương cách làm cho học sinh cảm thấy hạnh phúc hơn, và những việc cụ thể cần làm. Khi một thầy hay cô giáo thực hành chánh niệm thì mọi thứ về người đó đều thay đổi, người ngoài sẽ nhận thấy điều đó và sẽ hỏi vị thầy hay cô giáo đó về sự bình an của họ. Khi người ta thấy được điều đó, họ sẽ không ngăn trở quý vị được an lạc. Nếu quý vị không biết được cảm giác an lạc của chánh niệm thì quý vị không thể đem nó vào dạy trong lớp học được. Một cách nữa là quý vị có thể viết một bài về những lợi ích của việc thực hành chánh niệm và chia sẻ nó với các bạn đồng nghiệp hay cấp trên. Có rất nhiều bằng chứng để chỉ ra rằng chánh niệm có thể mang đến ích lợi cho môi trường giáo dục như thế nào.

Ngồi thiền trong một lớp học Brighton, Anh Quốc

_____________________

H: Thưa Thầy, con đang đau khổ nhưng khi con đang cố gắng để thoát ra khỏi nguồn gốc của khổ đau của mình, thì học trò con tìm đến, muốn con giúp giải quyết những vấn đề của họ, rồi mẹ con lại gọi điện thoại báo là cha con muốn làm hại bà. Làm sao con có thể cùng lúc giải quyết khổ đau từ ba nguồn lực như thế?

Thầy: Quý vị cần lắng nghe những vấn đề của học trò và mẹ của mình, nhưng chỉ cần giải quyết trước một vấn đề! Nên rõ ràng là trước tiên quý vị cần nói với bà mẹ là mình sẽ trao đổi với bà, rồi quán xét vấn đề và gọi lại sau. Làm như thế là hợp lý. Để không bị choáng ngợp bởi quá nhiều vấn đề cùng một lúc, chúng ta cần biết nuôi dưỡng bản thân để có đủ sức mạnh mà giải quyết nhiều vấn đề.

Có hai việc: trước tiên, phải biết đối phó với khổ đau, và thứ đến là phải biết vun trồng hạnh phúc. Quý vị phải biết cách chữa lành vết thương và cũng cố bản thân. Ở đây Thầy xin nhắc lại thí dụ việc đi đến trường: đi như thế nào để có thể nuôi dưỡng bản thân. Làm những công việc thường ngày cũng vậy, làm như thế nào để chúng trở thành nguồn nuôi dưỡng ta. Khi cuộc sống hằng ngày nuôi dưỡng ta, ta sẽ có đủ sức mạnh và không bị choáng ngợp bởi nhiều vấn đề cùng lúc. Nếu một bác sĩ nhận thấy bệnh nhân của mình quá yếu, không thể chịu đựng phẫu thuật, ông sẽ dời việc phẫu thuật lại chờ cho bệnh nhân mạnh lên trước. Học hỏi cách sống an lạc trong từng giây phút rất quan trọng trong việc giảm thiểu khổ đau. Khi quý vị mở vòi nước, quý vị cảm thấy an lạc. Khi đánh răng, quý vị thấy hạnh phúc. Biết tri ân và biết thưởng thức khi làm tất cả những công việc đơn giản hằng ngày rất quan trọng, chính chánh niệm sẽ giúp quý vị tỉnh thức trước những khổ đau và các giải pháp.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, khi con thực tập, con cũng cảm nhận được một vài chuyển hóa, nhưng chúng không bền lâu. Thí dụ, con có thể nhận thấy tâm sân của con khởi lên và để cho nó qua đi, nhưng con chỉ làm được đôi ba lần như thế, nên con cảm thấy rất nản lòng. Làm sao con có thể duy trì được kết quả của công trình tu tập của con?

Thầy: Nếu quý vị buộc mình phải thở, với ý nghĩ rằng điều đó là tốt, thì đó không phải là cách tu tập thông minh. Nhưng nếu quý vị bắt đầu thở theo một phương cách mà quý vị cảm thấy bình an, tự tại trong ba, bốn giây phút đầu tiên, thì đó là cách thực hành đúng. Đừng cố thực tập trong đau khổ. Bụt đã dạy rằng pháp Bụt hoàn hảo ở khúc đầu, khúc giữa và khúc cuối. Quý vị cần phải cảm thấy an bình, hạnh phúc suốt quá trình thở vào, thở ra của mình, không chỉ ở khúc cuối. Đừng nghĩ rằng sự thực tập chính là phương tiện và an lạc chính là kết quả của việc thực tập. An lạc không phải là đích đến mà chỉ là con đường. Không có con đường nào đưa đến việc buông thư. Buông thư chính là con đường. Quý vị không thể buộc mình phải buông thư! Thực tập tốt là chúng ta không bị đau khổ trong khi tu tập! Nếu chúng ta khổ khi thiền hành, thì đó không phải là cách tu tập tốt! Nếu chúng ta tập thở theo tiếng chuông mà cảm thấy khổ, thì đó không phải là cách tu tập tốt. Hãy vui vẻ khi thực hành, thì quý vị không cần hỏi câu hỏi này!

 

_____________________

H: Thưa Thầy, phần đông chúng con sống trong những thành phố lớn, nên khi có dịp đến tu tập tại các chùa, thì chúng con lại thấy rất khó thực hành theo. Rồi khi trở về thành phố, thật khó giữ, khó nhớ những điều đã học được.

Thầy: Làm người xuất gia dễ tu tập hơn người cư sĩ. Khi quý vị sống trong tăng đoàn, quý vị được bảo hộ trong một môi trường lý tưởng. Vì thế việc duy trì, giữ gìn giới pháp dễ hơn khi ta sống trong tăng đoàn với các bạn đồng tu. Bụt luôn đi cùng với rất nhiều vị tỳ kheo vì Ngài hiều rất rõ thực tại đó. Chúng tôi chỉ theo gương Bụt bằng cách mời theo nhiều vị xuất gia và cư sĩ có nhiều kinh nghiệm tu tập. Nếu quý vị muốn tu dễ, hãy trở thành một tu sĩ!

Nếu không, quý vị phải thành lập một tăng thân cư sĩ dầu quý vị ở bất cứ nơi đâu. Ở thành phố, một tăng thân cư sĩ sẽ thay thế tăng đoàn xuất sĩ. Đó là lý do tại sao những khóa tu như thế này có thể khơi nguồn cảm hứng để người cư sĩ có thể duy trì việc tu tập bằng cách thành lập hay tìm ra một tăng thân. Thông thường vào ngày cuối khóa tu người ta mới tìm ra được, nhất là những người sống cùng một thành phố. Rất nhiều tăng thân cư sĩ đã được thành lập khắp nơi trên thế giới. Ở Đức có hơn 80 tăng thân cư sĩ tu theo pháp môn của Làng Mai. Ở Anh, có khoảng 100. Trong các thành phố như London và New York, nhiều khi có đến 10. Vì thế khi quý vị trở về, hãy tìm hiểu, hãy họp thành nhóm để mỗi tuần tụ họp lại một lần đi thiền hành trong chánh niệm, ăn cơm chánh niệm và cùng nhau nghe pháp thoại. Tôi luôn thực tập thiền hành ở các trạm xe lửa hay phi trường. Khi đến các siêu thị, tôi cũng làm như thế! Khi quý vị thực tập như thế thì quý vị sẽ biết cái gì nên hay không nên mua. Đôi khi tôi bước ra khỏi siêu thị mà không mua thứ gì! Đó là Phật giáo ứng dụng mà quý vị có thể đem vào thực tế.

 

_____________________

H: Thưa Thầy, làm thế nào để con cháu có thể hàn gắn lại với những bậc cha mẹ hay ông bà, những người đã làm tổn thương, đã xâm phạm họ? Chúng con cũng muốn thương yêu các bậc trưởng bối, nhưng vết thương của chúng con quá sâm đậm.

Thầy: Khi cha mẹ của chúng ta đau khổ và họ không biết làm thế nào để giải tỏa nỗi đau đó, họ sẽ chuyền nó qua cho chúng ta. Vì thế hãy quan sát nỗi đau của quý vị, quý vị sẽ thấy nỗi đau của cha mẹ trong đó. Nếu chúng ta không thể chuyển hóa nỗi đau đó, chúng ta cũng sẽ trao truyền nó lại cho con cái chúng ta. Đó là luân hồi khổ đau.

thở đi ba mẹThông thường chúng ta nghĩ là cha mẹ ở bên ngoài chúng ta, rằng họ là người khác. Điều đó không đúng; họ ở trong chúng ta, hoàn toàn có mặt trong từng tế bào trong cơ thể chúng ta. Những nỗi khổ và niềm vui của mỗi tế bào trong cơ thể chúng ta cũng là của cha mẹ chúng ta. Nếu quý vị không chuyển hóa được nỗi đau của cha mẹ bên trong chúng ta, thì chúng ta cũng sẽ khiến cho những người chúng ta thương yêu nhất khổ đau.

Quý vị đừng tìm cách thay đổi người cha hay mẹ ở bên ngoài quý vị mà không chuyển hóa người cha hay mẹ bên trong quý vị. Hãy nhớ rằng chúng ta là sự tiếp nối của cha mẹ chúng ta. Chúng ta sẽ mang họ vào tương lai. Vì thế mỗi khi quý vị bước đi, hãy mời gọi người cha, người mẹ bên trong quý vị cùng bước, để họ có thể tận hưởng những điều kỳ diệu của cuộc sống và có thể được chuyển hóa ở bên trong quý vị. Hãy uống trà cùng họ, để họ có thể được chuyển hóa ở bên trong quý vị. Hãy thay đổi người cha, người mẹ ở bên trong quý vị trước, điều đó dễ làm hơn, trước khi hướng tâm đến người cha, người mẹ ở bên ngoài. Chúng ta có thể chuyển các bậc cha mẹ ở bên trong thành những người dễ thương, vui vẻ, đồng cảm, và chấm dứt sự luân hồi của họ trong ta. Sau đó quý vị mới có thể đủ sức giúp người cha, người mẹ bên ngoài thay đổi. Nhưng phải đợi đến lúc đó, vì người cha sân hận trong ta khi phải đối mặt với người cha giận dữ bên ngoài sẽ chẳng đem lại lợi ích gì! Tôi cũng đã chứng kiến nhiều người con đã quay trở lại giúp đỡ cha mẹ mình. Nương tựa Tam Bảo, giữ năm giới là con đường tốt nhất để chữa lành các vết thương và chuyển hóa.

 


 

Nguồn:
Phù Sa net dịch từ nguyên bản tiếng Anh
Questions from the heart:  Advice about practice from Thich Nhat Hanh

Tại sao đạo Bụt có sự phân biệt đối xử với phụ nữ?

Câu hỏi: Tại sao trong truyền thống đạo Bụt vẫn có sự phân biệt đối xử với phụ nữ, thậm chí điều này vẫn tồn tại cho đến ngày nay?

 

Thầy: Bạn có nghĩ là ở Làng Mai, chúng tôi đối xử phân biệt với phụ nữ không? Các sư cô cũng như một số nữ cư sĩ thực tập theo pháp môn Làng Mai đã và đang đóng một vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức đời sống cũng như sự tu học của Tăng thân ở đây nói riêng và các tăng thân tu tập theo pháp môn Làng Mai ở khắp nơi trên thế giới.

Hiện nay, ở nhiều nước vẫn còn Tăng đoàn Tỳ kheo ni. Tuy nhiên, cũng có những nước đã không còn sự hiện diện của Tăng đoàn Tỳ kheo ni nữa. Lý do không phải là do sự kỳ thị trong đạo Bụt, mà là do những người thực tập theo đạo Bụt. Họ đã để cho những phân biệt đối xử từ xã hội thâm nhập vào trong tăng đoàn. Ở Thái Lan và Sri Lanka hiện nay không còn Tỳ kheo ni nữa, và nhiều người dân ở các nước này đang cố gắng khôi phục lại Tăng đoàn Tỳ kheo ni. Có thể nói những người theo đạo Bụt chưa thực tập giỏi lắm, vì vậy các bạn cần phải thực tập giỏi hơn, làm hay hơn các thế hệ trước đây.

Thầy là một trong những người luôn cố gắng khôi phục lại tinh thần nguyên thủy của đạo Bụt, bởi vì Bụt vốn là người luôn cởi bỏ mọi sự phân biệt và kỳ thị. Người đã đón nhận những người đến từ các thành phần, giai cấp, chủng tộc khác nhau trong xã hội vào Tăng đoàn. Bụt cũng cho phép phụ nữ được xuất gia và trở thành tỳ kheo ni. Bụt đã làm một cuộc cách mạng thật sự vào thời đó. Hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ rất khó khăn, vậy mà Bụt vẫn có thể làm được. Vì vậy, là sự tiếp nối của Bụt, chúng ta cần phải thực tập hết lòng để có thể gìn giữ và bảo vệ gia tài mà Bụt để lại, gia tài đó là tinh thần không phân biệt và kỳ thị.

Liệu có sự sống sau khi chết?

Câu hỏi : Thưa Thầy, liệu có sự sống sau khi chết hay không ?

Thầy : Sự sống luôn có mặt đồng thời với cái chết, không có trước mà cũng không có sau. Sự sống không thể tách rời khỏi cái chết. Nơi nào có sự sống thì nơi đó có cái chết và nơi nào có cái chết thì nơi đó có sự sống. Điều này cần phải quán chiếu kỹ mới có thể hiểu được. Trong đạo Bụt, chúng ta nói về tính tương tức của vạn vật, nghĩa là không ai trong chúng ta có thể tồn tại một cách biệt lập, riêng rẽ. Chúng ta phải tương tức với những thành phần khác. Nó cũng giống như bên trái và bên phải. Nếu bên phải không có đó thì bên trái cũng không thể có mặt. Nếu không có bên trái thì cũng không có bên phải. Không thể nào có thể lấy bên trái ra khỏi bên phải hoặc lấy bên phải ra khỏi bên trái.

Giả sử tôi nhờ một bạn mang nửa bên trái đi về xóm Hạ và một bạn khác mang nửa bên phải đi về xóm Mới. Chắc chắn là không thể làm được. Bên phải và bên trái luôn có mặt cùng nhau, bởi vì không có bên này thì bên kia cũng không thể tồn tại. Điều này rất rõ ràng, cũng giống như bên trên và bên dưới. Vì vậy, trong đạo Bụt gọi đó là tương tức (Inter-being). Những mặt đối lập luôn đi liền với nhau.

Cũng vì vậy mà khi Thượng Đế truyền lệnh: "Ánh sáng, hãy xuất hiện đi !" thì ánh sáng thưa rằng: "Con phải đợi, thưa Thượng Đế ! Con phải đợi !". Thượng Đế nghe vậy liền hỏi: "Ngươi còn đợi cái gì nữa?". Ánh sáng đáp: "Dạ, con đang đợi bóng tối đến để biểu hiện cùng một lúc".  Bởi vì ánh sáng và bóng tối tương tức với nhau. Khi đó, Thượng Đế mới bảo rằng: "Bóng tối đã xuất hiện rồi! ". Ánh sáng đáp: "Vậy thì con cũng đã có mặt ở đó rồi !".

Điều này cũng đúng với các cặp đối lập như: tốt – xấu, trước – sau, ở đây – ở đó, anh – tôi. Tôi không thể nào có mặt ở đó nếu không có anh. Cũng giống như hoa sen kia không thể nào có mặt nếu không có bùn. Không có bùn thì cũng không có sen. Cũng tương tự như vậy, hạnh phúc sẽ không thể nào có được nếu không có khổ đau, cũng như không thể nào có sự sống nếu không có cái chết.

Các nhà sinh vật học khi quan sát cơ thể con người đã nhận thấy rằng cái sinh và cái diệt diễn ra đồng thời. Trong giây phút này đây, hàng ngàn tế bào trong cơ thể chúng ta đang chết đi. Khi ta gãi trên da như thế này thì nhiều tế bào khô rơi xuống, đó là những tế bào đã chết. Và rất nhiều tế bào chết đi trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Bởi vì chúng ta quá bận rộn nên chúng ta không nhận thấy điều đó thôi. Và nếu những tế bào đó chết cũng có nghĩa là chúng ta đang chết. Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta còn lâu mới chết. Ta nghĩ rằng ta còn năm mươi hay bảy mươi năm nữa mới chết, nhưng điều đó không đúng. Cái chết không phải là một cái gì đang chờ đợi ta ở cuối con đường, mà nó đang diễn ra ngay trong giây phút này, ngay bây giờ và ở đây.

Cái chết đang diễn ra trong mỗi giây, mỗi phút, ngay trong giờ phút hiện tại. Chính vì có những tế bào chết đi mà có những tế bào mới được sinh ra. Và vì có quá nhiều tế bào được sinh ra trong từng giây từng phút nên chúng ta không thể có thì giờ để tổ chức lễ mừng sinh nhật cho chúng được. Nói một cách khoa học thì chúng ta có thể nhìn thấy cái sinh và cái diệt đang diễn ra trong giờ phút hiện tại, đó là sự thật. Bởi vì có những tế bào chết đi nên những tế bào mới được sinh ra và vì có những tế bào được sinh ra nên mới có những tế bào chết đi. Chúng nương vào nhau để biểu hiện. Do vậy, chúng ta đang kinh nghiệm sự sống và cái chết trong từng giây, từng phút. Đừng nghĩ rằng chúng ta chỉ được sinh ra từ ngày tháng ghi trong giấy khai sinh, đó không phải là ngày sinh thật sự. Trước ngày giờ đó thì chúng ta đã có mặt rồi. Trước khi được thụ thai trong bào thai của mẹ thì chúng ta đã có mặt trong cha và mẹ của chúng ta dưới một hình tướng khác. Vì vậy mà có thể nói không có sinh, không có một điểm bắt đầu thực sự, và cũng không có kết thúc.

Khi chúng ta biết sinh và diệt luôn có mặt đồng thời với nhau thì chúng ta không còn sợ hãi cái chết. Bởi vì chính giây phút mà cái chết xảy ra thì sự sống cũng đồng thời sinh khởi. La vie est avec la mort (Sự sống luôn đi liền với cái chết). Chúng không thể tách rời. Để chứng nghiệm được điều này đòi hỏi phải có một sự thiền quán rất sâu. Ta không nên chỉ dùng trí năng để thiền quán. Ta phải quan sát sự sống trong từng giây từng phút của đời sống hàng ngày. Ta sẽ thấy rằng sinh và diệt tương tức với nhau, điều này xảy ra đối với vạn vật, từ cây cỏ, cầm thú, thời tiết, vật chất và năng lượng. Các nhà khoa học cũng đã tuyên bố rằng không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự chuyển biến từ hình thái này sang hình thái khác mà thôi. Vì vậy chỉ có sự chuyển biến là có thật, còn sinh và diệt là những cái không có thật. Những gì mà ta gọi là sinh và diệt thì đó chỉ là sự chuyển biến mà thôi.

Khi thực hiện một phản ứng hóa học, ta lấy một số chất hóa học cho vào với nhau. Khi các chất hóa học gặp nhau thì sẽ xảy ra phản ứng, một sự biến đổi của các chất. Đôi khi ta nghĩ rằng một chất hóa học nào đó không còn nữa, nó đã biến mất, nhưng sự thật là khi quan sát kỹ, ta sẽ thấy rằng chất hóa học đó vẫn còn tồn tại nhưng chỉ ở dưới một dạng khác mà thôi.

Khi ta nhìn lên bầu trời và không thấy đám mây mà ta yêu quý đâu nữa, ta nghĩ rằng đám mây đó đã chết, nhưng sự thực là đám mây đó vẫn đang tiếp tục tồn tại nhưng dưới hình tướng là mưa hay những hình tướng khác mà thôi. Sinh và diệt chỉ là những hiện tượng mà ta nhìn thấy trên bề mặt. Nếu ta nhìn thật sâu thì không có sinh cũng không có diệt, chỉ có sự tiếp nối không ngừng. Khi ta tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt thì ta không còn lo sợ cái chết. Không chỉ đạo Bụt nói về không sinh không diệt, mà khoa học cũng nói về điều này. Giữa hai bên có thể chia sẻ với nhau những khám phá của mình, điều này sẽ rất thú vị. Chúng ta cần sống đời sống của mình cho sâu sắc hơn để có thể tiếp xúc được với bản chất không sinh không diệt.

Câu trả lời này của Thầy chỉ là một lời mời, một lời đề nghị thực tập. Chúng ta cần sống đời sống của mình một cách chánh niệm hơn, với sự định tĩnh để có thể tiếp xúc một cách sâu sắc với những gì đang diễn ra trong ta và xung quanh ta. Và khi đó, chúng ta sẽ có cơ hội tiếp xúc với bản chất chân thực của thực tại, đó là bản chất không sinh không diệt. Đạo Bụt gọi đó là Niết bàn (Nirvana). Niết bàn chính là bản chất không sinh không diệt. Trong đạo Thiên chúa, ta có thể gọi đó là Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản chất không sinh, không diệt của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế. Thượng Đế chính là bản tánh chân thật của chúng ta.

Điều này cũng giống như một ngọn sóng tin rằng mình có sinh, có diệt. Mỗi lần con sóng dâng lên cao và khi chuẩn bị xuống thấp, nó cảm thấy lo sợ, nó sợ cái chết. Nhưng nếu con sóng nhận ra rằng nó là nước thì nó sẽ không còn sợ hãi. Trước khi dâng lên cao thì nó đã là nước, trước khi hạ xuống thì nó vẫn là nước và sau khi hạ xuống thấp thì nó vẫn là nước thôi. Không có cái gì chết đi. Vì vậy điều quan trọng là con sóng cần thiền quán để thấy rằng nó là con sóng, nhưng nó cũng đồng thời là nước. Và khi đã biết mình là nước thì con sóng sẽ không còn sợ cái chết nữa. Nó sẽ cảm thấy vô cùng hạnh phúc khi vươn lên cao và cũng hạnh phúc không kém khi hạ xuống thấp. Nó đã vượt thoát mọi sự sợ hãi.

Những đám mây của chúng ta cũng vậy. Chúng không sợ chết, bởi vì chúng biết rằng nếu chúng không phải là một đám mây thì chúng có thể trở thành một cái gì khác cũng đẹp không kém, chẳng hạn như mưa hay tuyết.

Vì vậy trong trường hợp con sóng, nó không đi tìm kiếm nước. Nó không phải đi tìm kiếm làm gì, bởi vì nó chính là nước ngay trong giờ phút hiện tại. Điều này cũng đúng với Thượng Đế. Chúng ta không phải đi tìm Thượng Đế ở đâu hết, chúng ta chính là Thượng Đế. Thượng Đế chính là tự tánh của chúng ta. Chúng ta không phải đi tìm kiếm Niết bàn. Niết bàn chính là nền tảng hiện hữu của chúng ta. Đó là giáo lý của Bụt. Nhiều người trong chúng ta đã có thể chứng nghiệm được điều đó. Chúng ta biết tận hưởng giây phút hiện tại. Chúng ta biết rằng chúng ta không thể nào chết được.

Trái đất của chúng ta là hành tinh đẹp nhất trong hệ mặt trời. Chúng ta nên biết cách tận hưởng những bước chân của mình khi đi trên hành tinh xinh đẹp này, đó là đất Mẹ – mẹ của tất cả chư Bụt, chư Bồ tát và các Thánh nhân, mẹ của Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Chúa Jesus, các vị Bụt và cũng là mẹ của tất cả chúng ta. Và chúng ta đang hạnh phúc tận hưởng sự có mặt của Mẹ. Mẹ của chúng ta đang có mặt ở bên ngoài và cả bên trong mỗi chúng ta. Khi đi dạo trên đồi, chúng ta có thể tận hưởng từng bước chân của mình, tận hưởng sự có mặt của chính mình và của đất Mẹ, người mẹ vô cùng xinh đẹp. Chúng ta cần đi như thế nào để trong mỗi bước chân, chúng ta có thể tiếp xúc với đất Mẹ một cách sâu sắc. Mỗi bước chân như vậy có thể trị liệu cho chính chúng ta và cho cả đất Mẹ.