Làm thế nào để giúp người thân bị bệnh nan y?

Hỏi: Kính thưa Thầy, có một người bị lâm bệnh ung thư đã nhiều năm, người ấy rất đau đớn khổ sở. Nếu sau khi người ấy đã bàn thảo với gia đình và Tăng thân của người ấy và được họ chấp thuận, thì người ấy có thể kết liễu cuộc đời của mình được không? Hành động ấy sẽ đưa tới những kết quả nào và có đi ngược với tinh thần Năm Giới – không sát hại, bảo vệ sự sống của giáo lý đạo Bụt không?

Thầy: Đây là một câu hỏi khó. Trong thời Bụt còn tại thế, có những thầy bị bệnh, họ rất đau đớn, khổ sở. Bụt đã hướng dẫn nhiều phương pháp tu tập cho các thầy ấy thực tập trong những ngày còn lại của đời mình. Những lời dạy ấy đã được ghi chép lại trong tạng kinh. Chúng ta có thể học hỏi các kinh ấy để giúp cho những người khổ đau, đang vướng vào những chứng bệnh nan y và đang hấp hối. Chúng ta cũng có thể học cách áp dụng những lời dạy ấy vào trong đời sống hàng ngày của mình nếu mình đang có những nỗi lo sợ, ám ảnh về cái chết của bệnh tật.

Đức Thế Tôn đã hướng dẫn chúng ta những phương pháp thực tập cụ thể để làm thuyên giảm niềm đau trong thân và tâm của ta. Có những phương cách làm thuyên giảm những niềm đau về thân. Chúng ta nhận diện sự có mặt của niềm đau nhức về thể xác và ôm ấp, làm êm dịu niềm đau của ta mà không nên phóng đại nó vì nỗi lo sợ và tuyệt vọng. Đức Thế Tôn có dạy khi một người bị trúng tên, người ấy đau đớn vô cùng. Nhưng nếu có mũi tên thứ hai cũng lao trúng vào vết thương của mũi tên thứ nhất, thì cơn đau không phải chỉ tăng gấp đôi mà nó tăng lên gấp mười lần, hai mươi lần hoặc ba mươi lần hoặc nhiều hơn. Cũng thế, khi một người phóng đại niềm đau nhức về thể xác của mình bằng niềm lo sợ, giận hờn và tưởng tượng của mình, thì niềm đau ấy sẽ tăng lên gấp trăm ngàn lần. Vì vậy chúng ta cần phải trở về với hơi thở chánh niệm, thở vào và thở ra thật sâu sắc và nhận diện niềm đau của thể xác như nó đang là, mà không nên thổi phồng, phóng đại nó vì nỗi lo sợ, giận hờn và tưởng tượng của mình. Cái đó gọi là nhận diện đơn thuần, không sinh tâm lo sợ, chán nản và tuyệt vọng, không suy tưởng về nó.

Nếu có một bác sĩ hoặc một người bạn biết về bệnh tình của quý vị, quý vị có thể nhờ người ấy nói cho mình biết rằng đây chỉ là niềm đau thuộc về thể xác. Bác sĩ chẩn đoán một cách chính xác về bệnh tình của mình và cho mình biết để mình yên tâm mà không vì quá lo sợ, tuyệt vọng mà phóng đại, suy tưởng ra thêm. Có những phương cách thực tập khác để đối trị với niềm đau, nỗi khổ của thân và tâm. Quý vị có thể phục hồi trở lại sự thăng bằng của nội tâm để có khả năng chấp nhận và ôm lấy niềm đau của mình. Khi biết thực tập tiếp xúc, tự tưới tẩm những niềm vui, những yếu tố tích cực, những hạt giống tốt, quý vị sẽ bớt khổ rất nhiều và sẽ cảm thấy rằng mình có thể sống hòa bình và an vui với niềm đau ấy. Khi quá khổ, quá tuyệt vọng, mình có cảm tưởng rằng mình không đủ năng lực để tự chăm lo cho chính mình. Nhưng khi có một người bạn đạo đến cầm tay mình, chuyền cho mình năng lượng thương yêu, chăm sóc và khích lệ, thì mình cảm thấy dễ chịu và có đủ khả năng để chấp nhận, ốm ấp niềm đau nỗi khổ của mình và vượt thắng được. Sự thật là trong tự thân của ta luôn có sẵn tiềm năng tự chữa trị rất lớn. Nếu ta trở về với tự thân để tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh, hiểu biết, thương yêu và trị liệu, thì những năng lượng tốt đẹp trong ta sẽ có cơ hội biểu hiện và giúp ta phục hồi lại sự thăng bằng trong cuộc sống. Ta sẽ có khả năng chấp nhận và ôm ấp niềm đau nỗi khổ của ta một cách dễ dàng mà không cần phải trốn chạy, loại trừ hay tuyệt vọng về chúng.

Tôi nhớ vào năm nọ khi chị của sư cô Chân Không đang bị hấp hối trên giường bệnh tại bệnh viện ở Mỹ, cái lá gan nhân tạo của chị sư cô đã bắt đầu bị hư sau hơn ba năm hoạt động. Trong giờ phút lâm chung, bà đau đớn khôn xiết. Cuối cùng bà rơi vào cơn hôn mê; chồng bà, con cái của bà và các bác sĩ, y tá đã cố gắng làm đủ cách để làm thuyên giảm niềm đau nhức trong bà nhưng đều bó tay. Trong cơn đau quằn quại, bà vặn vẹo, rên rỉ và khóc than không ngừng. Sau đó sư cô Chân Không tới, sư cô biết mình không thể nói chuyện được với chị  mình vì chị đang ở trong cơn hôn mê trầm trọng. Tuy thế, sư cô vẫn biết cách giúp chị mình. Sư cô biết chị từ nhỏ thường ưa tới chùa nghe các thầy, các sư cô tụng kinh, niệm Phật và những hạt giống ấy đã được gieo trồng trong tâm thức của chị từ nhỏ. Sư cô đã mang theo bên mình một băng cassette niệm danh hiệu của đức Bồ Tát Quán Thế Âm do các thầy, các sư cô Làng Mai niệm và mở lên cho chị nghe. Sư cô đặt ống nghe vào tai của chị rồi tăng âm thanh lên thật lớn. Mầu nhiệm thay, sau đó khoảng ba mươi giây, phép lạ đã xảy ra, chị của sư cô trở nên yên bình trở lại và từ lúc đó cho đến giây phút lâm chung, bà không còn khóc rên hoặc vặn vẹo nữa.

Tâm thức của chị sư cô đã được gieo trồng những hạt giống tốt, hạt giống tu tập, chánh pháp từ nhỏ đến lớn. Bà đã từng được nghe tiếng tụng kinh cho nên tâm thức của bà đã nhận ra được những lời tụng quen thuộc mà mình đã từng được nghe trong truyền thống tâm linh của mình. Những lời kinh tụng ấy đã trở thành nguồn suối an lạc, hạnh phúc và trị liệu cho đời sống của bà trong những năm tháng qua, trong khi đó những người thân chung quanh, trong đó có cả bác sĩ, y tá đã không biết làm thế nào để giúp bà tiếp xúc với những hạt giống tốt như thế trong tâm thức của bà. Những hạt giống này đã từ lâu không được chạm đến, không được tưới tẩm mỗi ngày nên chúng đã bị hao mòn và ngủ yên trong chiều sâu tâm thức, không có cơ hội phát triển và cũng không có ai có khả năng đánh thức chúng dậy. Và trong cơn đau nhức, sợ hãi, bà đã bị trấn ngự bởi những năng lượng của sầu khổ và tuyệt vọng. Những lời tụng kinh, niệm Bụt và Bồ Tát đã thâm nhập vào tâm thức bà và đã chạm tới được nguồn năng lượng tâm linh trong bà. Khi nghe được những lời tụng niệm ấy, tự nhiên bà tiếp xúc được với nguồn năng lượng lành mạnh, mầu nhiệm của Bồ Tát Quán Thế Âm – năng lượng của tình thương, an bình trong bà. Nguồn năng lượng ấy đã cho bà đủ sức mạnh để thiết lập lại sự an bình. Nhờ vậy mà bà đã có khả năng nằm yên cho tới lúc ra đi.

Trong khi thân thể có những niềm đau nhức, chúng ta phải nhớ thực tập tiếp xúc với những yếu tố lành mạnh có khả năng nuôi dưỡng và trị liệu như năng lượng của sự vững chãi, hạnh phúc và niềm tin; những hạt giống này luôn có sẵn trong mình và chung quanh mình. Ta cần phải tiếp xúc với những hạt giống ấy để có thể thiết lập sự thăng bằng, vững chãi và thảnh thơi trong ta. Nếu thực tập những lời dạy của đức Thế Tôn thành công, ta sẽ biết làm gì trong giây phút đó để giúp những người đang hấp hối hoặc đang khổ đau có thể phục hồi lại sự bình an hoặc giúp họ ra đi một cách nhẹ nhàng. Chúng ta đã được nghe, được đọc kinh Độ Người Hấp Hối trong cuốn Nhật Tụng Thiền Môn 2000 của Làng Mai. Kinh Độ Người Hấp Hối cống hiến cho chúng ta rất nhiều phương pháp thực tập cụ thể để ta thực tập và hướng dẫn những người đang hấp hối vượt qua giây phút khó khăn của cơn bệnh trong giờ phút lâm chung.

Mỗi khi đức Thế Tôn hoặc các đệ tử lớn của Ngài viếng thăm những người đang hấp hối, các Ngài luôn luôn biết mình phải làm gì để giúp những người đang hấp hối phục hồi lại sự thăng bằng, vững chãi để họ vượt được cơn đau nhức của thể xác và thoát được nỗi sợ hãi về tử sinh. Phép thực tập là tưới tẩm những hạt giống lành mạnh, thương yêu và hạnh phúc trong người kia. Phép thực tập này luôn luôn đem lại hiệu quả tốt. Chính tôi cũng thực tập phương pháp này mỗi ngày và luôn luôn có hiệu quả, đem lại rất nhiều lợi lạc. Khi hỏi rằng nếu đời sống của mình có quá nhiều khổ đau, bế tắc, không thể chịu đựng được nữa, nhất là khi thân mình phải mang những chứng bệnh nan y, đau đớn vô cùng thì mình nên chọn cái chết hay không nếu có sự chấp thuận của những người thân trong gia đình và tăng thân? Hành động ấy sẽ đem lại những kết quả nào? Theo tôi, chúng ta nên cố gắng hết lòng tìm cách chữa trị trước. Chúng ta phải tin vào khả năng tự chữa trị của bản thân ta.

 

(Trích từ tác phẩm: “Hơi thở nuôi dưỡng và trị liệu” – Thiền sư Thích Nhất Hạnh)

Con phải làm thế nào với áp lực trong trường học?

Câu hỏi: Có rất nhiều cạnh tranh và áp lực trong trường học. Con có xu hướng gây áp lực lên chính mình, đòi hỏi mình phải luôn cố gắng hơn nữa để có thể trở thành người giỏi nhất. Nếu con không đủ thông minh, nhanh nhẹn hay hoạt bát so với người khác thì con lại cho mình là một người vô tích sự. Con phải làm thế nào để không bỏ cuộc mà cũng không làm tổn thương chính mình?

Thầy trả lời:

Nhiều người có rất nhiều danh vọng, quyền hành nhưng họ không có hạnh phúc. Sự tranh đua trong trường học có mục đích là để đạt được danh vọng, sự tự hào, quyền hành, tiền bạc và sự thành công nhiều hơn nữa. Nhưng con hãy tự hỏi: “Điều quan trọng nhất mà tôi muốn làm trong đời mình là gì? Tôi có một cuộc đời để sống và tôi thật sự muốn làm điều gì có ý nghĩa với cuộc đời của mình. Được ngang bằng những người khác hay trở thành số 1 có ý nghĩa gì không khi mà tôi không có hạnh phúc, không có sự bình an trong tâm, không có khả năng giúp cho người khác bớt khổ?”. Đó là những câu hỏi mình có thể đặt ra.

Giả sử như có một người tới hỏi thầy: “Thưa Thầy, Thầy là người có nhiều tuệ giác, tại sao Thầy không làm thủ tướng của một nước mà lại chịu làm một thầy tu?”. Đối với thầy, làm thủ tướng của một nước không có gì hấp dẫn cả. Thầy thấy có nhiều khổ đau, nhiều căng thẳng, nhiều ganh tị trong đó. Thầy thích làm một ông thầy tu bình dị để có nhiều thì giờ đi thiền hành và ít phải đau khổ hơn.

Mỗi người trong chúng ta đều có một ước muốn, một động lực thúc đẩy, điều này rất quan trọng! Có những động lực tốt như ước muốn có được sự bình an trong tâm. Thầy không muốn có sự xung đột trong tâm mình. Thầy muốn có hòa bình trong chính mình. Nếu không tạo được hòa bình cho chính mình thì mình cũng không thể tạo hòa bình cho thế giới và cho những người khác. Có hòa bình trong chính mình, đó là ưu tiên mà thầy đặt ra, là ước muốn sâu sắc nhất của thầy. Thầy muốn sống như thế nào để mỗi giây phút của đời sống là một giây phút mãn ý. Khi đi thì thầy thưởng thức từng bước chân. Khi làm một việc gì thì thầy cảm thấy thích thú với công việc mà mình đang làm. Thầy không làm cho xong để làm công việc khác. Trong khi nghiên cứu, trong khi viết bài hay trong khi nói pháp thoại, thầy đều thưởng thức công việc mình đang làm.

Vì vậy con phải nhìn cho kỹ, xem mình thật sự muốn làm gì. Thầy thấy có những người có được cái mà họ mong muốn nhưng họ vẫn không có hạnh phúc. Dục lạc sẽ đem tới cho mình rất nhiều khổ đau. Hạnh phúc của thầy không dựa trên dục lạc. Thầy biết nếu không có sự bình an, không có tình thương, không có tình huynh đệ và không có khả năng giúp cho người khác bớt khổ thì thầy sẽ không thật sự hạnh phúc. Vì vậy thầy sử dụng thì giờ, năng lượng và sự chú tâm của mình để làm công việc đó. Làm như vậy thì thầy có hạnh phúc và sự mãn ý trong mỗi giây phút.

Thầy cần tuệ giác, tức là cái thấy đúng đắn để có thể làm được việc đó. Sự thực tập niệm và định đưa tới cái thấy đúng đắn giúp thầy buông bỏ được những thứ có thể làm cho mình đau khổ. Và thầy có nhiều thì giờ cũng như năng lượng để tập trung vào những công việc mang lại cho mình sự bình an, hạnh phúc và có khả năng giúp được cho mọi người.

Vì vậy chúng ta cần phải có chánh kiến. Và muốn có chánh kiến thì ta phải thực tập chánh niệm và chánh định. Việc này rất cụ thể! Mình có thể có hạnh phúc ngay bây giờ và ở đây. Mình không cần phải tranh đua với người khác. Đây là giáo lý của Làng Mai! Nhiều người trong chúng tôi, tuy còn rất trẻ nhưng không muốn làm gì khác hơn là trở thành một người tu. Chúng tôi thấy đây là nhà của mình. Chúng tôi yêu thích công việc mình làm mỗi ngày. Và chúng tôi có thể giúp cho những người khác có được sự bình an và hạnh phúc. Như vậy, sự mãn ý có thể có được nhờ sự tu tập. Mình không cần phải rong ruổi đi tìm sự mãn ý. Thực ra, nếu luôn chạy tranh đua với người khác thì mình sẽ không có cơ hội thực tập và đạt tới cái mà mình mong muốn. Vì vậy mỗi người trong chúng ta cần phải ngồi xuống và tự hỏi: “Tôi thật sự muốn gì?” Mình sẽ biết được con đường mình nên đi. Mình sẽ không có sự xung đột trong tâm và mình sẽ không bị thúc đẩy phải chạy đi làm việc này hay việc kia nữa.

Làm thế nào để thương yêu chính mình?

Câu hỏi: Con thường cảm thấy buồn và cô đơn. Con ghét chính bản thân mình, vì vậy mà con đã tàn hại thân tâm của con. Con phải làm thế nào để chăm sóc và thương yêu chính mình khi mà đau buồn đã trở thành tập khí sâu dày trong con? Con phải làm thế nào để buông bỏ những tri giác sai lầm về bản thân mình?

Thầy trả lời:

Câu hỏi này phải được đặt ra cho các bậc cha mẹ và các thầy cô giáo. Nếu để ra một ít thì giờ để quán chiếu thì cha mẹ và thầy cô giáo sẽ thấy được rằng chính môi trường sống đã làm cho người trẻ rơi vào tình trạng đó.

Trước hết là trong gia đình, có thể các em không có cơ hội được học cách thương yêu và chăm sóc cho bản thân mình. Nếu cha mẹ biết thương yêu và chăm sóc cho chính mình thì đương nhiên con cái sẽ học được từ cha mẹ. Vì vậy, cha mẹ cũng chịu trách nhiệm trong chuyện này. Có những gia đình, cha mẹ có khổ đau mà không biết cách xử lý khổ đau của mình. Cha mẹ làm khổ nhau, vì vậy cha mẹ đã tạo ra một môi trường gia đình mà trong đó con cái không được nuôi dưỡng và có nhiều vết thương trong lòng.

Khi các em đến trường, các thầy cô giáo cũng không giúp được cho các em, vì có thể thầy cô cũng có những khó khăn ở nhà như các bậc cha mẹ. Và họ mang theo những khó khăn đó đến trường. Ở nhà họ có khó khăn với con cái và khi đến trường, họ có khó khăn với học sinh. Nếu các thầy cô giáo không biết xử lý khổ đau, không biết thương yêu và chăm sóc cho chính mình thì làm sao có thể giúp được cho học sinh? Nếu có được các thầy cô giáo hạnh phúc, những người biết cách thương yêu và chăm sóc cho chính bản thân thì người trẻ sẽ có một cơ hội thứ hai. Cơ hội đó là học đường, một môi trường mà trong đó các thầy cô giáo có sự bình an và có khả năng thương yêu. Nhưng nếu thầy cô giáo không biết cách xử lý khổ đau của chính họ thì người trẻ sẽ không có cơ hội thứ hai.

Những vị làm trong Bộ Giáo dục phải thấy rằng môi trường học đường và môi trường gia đình hiện nay không đem lại sự bình an, sự tôn trọng lẫn nhau, sự hiểu biết và thương yêu cho các em học sinh. Họ cần tìm cách thay đổi hệ thống giáo dục và đưa vào trường học những phương pháp thực tập giúp các em học sinh biết cách thương yêu, chăm sóc, trị liệu cho chính mình. Khi đã biết thực tập, các em sẽ mang sự thực tập này về giúp cho cha mẹ.

Tuy nhiên, người trẻ cũng có thể giúp thay đổi tình trạng. Người trẻ có thể nói lên những khó khăn, khổ đau của mình. Ví dụ như sáng hôm nay khi con đặt câu hỏi này thì con đã giúp cho cha mẹ và thầy cô thấy được tình trạng. Có thể chúng tôi đã quá bận rộn với khổ đau, với cái giận và những khó khăn của chính mình nên chúng tôi không có thì giờ lắng nghe con. Con có mặt ở đây và đặt câu hỏi giúp cho chúng tôi ý thức được cái gì đang xảy ra. Nhờ vậy chúng tôi có cơ hội tìm cách thay đổi hướng đi của mình để cho con có được cơ hội thay đổi tốt hơn.

Ở Làng Mai, chúng ta được học cách trở về để ý thức rằng mình đang có một hình hài và hình hài đó là một mầu nhiệm, một kiệt tác của vũ trụ. Các nhà sinh học và các nhà khoa học thần kinh não bộ cũng có cùng cái thấy với chúng ta. Chúng ta phải biết cách trân quí, bảo vệ và giữ gìn kiệt tác của vũ trụ này. Nếu biết thực tập, chúng ta có thể bảo hộ và trị liệu để hình hài trở thành suối nguồn của niềm vui cho ta và cho những người khác.

Chúng ta cũng được học những phương pháp cụ thể như phương pháp làm lắng dịu hình hài. Ở Làng Mai mình học cách thở và đi như thế nào để làm thư giãn những căng thẳng, đau nhức trong thân. Mình cũng được học cách làm lắng dịu những cảm xúc mạnh để có bình an. Cha mẹ và thầy cô không dạy cho chúng ta điều này nhưng bây giờ chúng ta có may mắn học được. Vì vậy có rất nhiều thứ mà người trẻ có thể học để trước hết làm cho mình trở nên dễ chịu hơn. Chúng ta cũng được học là hình hài của chúng ta được trao truyền từ các thế hệ tổ tiên. Tổ tiên của ta không chết, tổ tiên vẫn còn sống trong ta. Vì vậy, nếu ta đối xử tàn tệ với hình hài cũng có nghĩa là ta đối xử tàn tệ với tổ tiên. Cha mẹ cũng đang có mặt trong hình hài của ta, ta là sự tiếp nối của cha mẹ. Chúng ta cần thực tập nhìn lại hình hài của mình để biết trân quí, giữ gìn và bảo hộ nó.

Năm giới là những phép thực tập cụ thể giúp ta làm được điều đó. Sống theo Năm giới thì ta bảo hộ được cho chính mình. Ta không để cho thân và tâm của mình bị tàn hoại bởi môi trường sống. Nếu ta không tôn trọng thân của ta thì người khác cũng không tôn trọng thân của ta. Nếu ta không tôn trọng chính mình thì người khác cũng không tôn trọng ta. Vì vậy điều đầu tiên mà chúng ta cần làm là phải tôn trọng chính mình. Năm giới không phải là sự ép buộc! Vì có tuệ giác nên mình biết là mình không muốn sống một lối sống như trước nữa, một lối sống luôn tàn hoại thân và tâm của mình. Mình nhận ra rằng sống theo Năm giới thì mình có thể tự trị liệu được nên mình thực tập hết lòng để có thể trị liệu cho mình, đồng thời giúp được cho gia đình và cộng đồng.

Ở Làng Mai chúng ta cũng học phương pháp quay về nương tựa tăng thân. Tăng thân là một nhóm nguời gồm những cá nhân biết cách thực tập chế tác sự bình an và niềm vui. Mỗi người trẻ trong chúng ta phải có được một chỗ như thế để nương tựa. Trong một số truyền thống, trẻ em đều có cha mẹ đỡ đầu để các em có thể được giúp đỡ mỗi khi có khó khăn. Ở Làng Mai chúng ta có sự thực tập đệ nhị thân. Mỗi người đều có một đệ nhị thân. Khi có khó khăn ta có thể tìm đệ nhị thân để xin được giúp đỡ. Đó là thiên thần hộ mạng của mình. Đệ nhị thân có thể là một thầy, một sư cô hay là chú, là cậu, là một người bạn của mình, một người có đủ vững chãi, bình an, niềm vui và sự tự do. Mỗi người trẻ phải có một đệ nhị thân như vậy. Bất cứ lúc nào khi gặp khó khăn chúng ta cũng có thể tìm tới người đó để được che chở và giúp đỡ. Vì vậy những người trẻ phải tìm cho mình một nhóm người, một tăng thân như tăng thân Làng Mai. Các em có thể thành lập một tăng thân tại địa phương của mình để làm nơi nương tựa. Mỗi khi có nỗi khổ niềm đau thì các em có thể quay về để được an ủi và bảo hộ. Ai trong chúng ta cũng cần một người hay một tăng thân để nương tựa.

Thầy cũng vậy, thầy cũng cần một tăng thân. Thầy cũng thực tập quay về nương tựa tăng thân. Ở Làng Mai có những thầy, những sư chú, những sư cô trẻ dưới 20 tuổi. Họ thực tập giới luật và uy nghi để bảo hộ thân tâm nên họ trong sáng, tươi mát và vững chãi. Vì thực tập giới luật nên họ chế tác được chất thánh. Chất thánh là cái có thể có được. Thực tập Năm giới là chúng ta đang chế tác năng lượng của chất thánh, và năng lượng đó sẽ bảo hộ cho ta. Ở Làng Mai thầy thấy có những thầy, những sư cô và những Phật tử cư sĩ tuổi còn trẻ nhưng họ đã có khả năng chế tác năng lượng của chất thánh và thầy đã quay về nương tựa nơi họ. Chất thánh được chế tác ra từ năng lượng của niệm, định và tuệ cũng giống như chúa thánh thần trong Cơ đốc giáo. Nếu có chúa thánh thần che chở thì thân và tâm của mình sẽ được bảo hộ. Nếu có chất thánh của sự trong sáng, sự bình an và niềm vui thì mình sẽ được trị liệu một cách dễ dàng. Và khi mình khỏe mạnh, vui vẻ, có tình thương thì mình có thể giúp cho cha mẹ và thầy cô giáo. Vì vậy những người trẻ hãy tổ chức những nhóm tu tập để yểm trợ lẫn nhau trong sự thực tập nuôi dưỡng và trị liệu hàng ngày. Như vậy thì mình sẽ có được sự trị liệu như mong muốn.

Mình có tập khí để cho tham dục, giận dữ, sợ hãi, hận thù và tuyệt vọng lôi cuốn đi. Nhưng bây giờ mình bắt đầu chế tác năng lượng của những thói quen mới, năng lượng của chất thánh, của bình an, của chánh niệm và của tình huynh đệ có công năng trị liệu cho mình. Điều này mình có thể làm được nhờ giáo lý của Bụt mà mình được học ở Làng Mai.

Như chúng ta đã biết, Làng Mai là một nơi bình dị, không hào nhoáng nhưng là một môi trường lành mạnh trong đó có tình huynh đệ, có sự bình an, vì tất cả mọi người đều thực tập đi trong chánh niệm, ngồi trong chánh niệm, nói năng trong chánh niệm, tiêu thụ trong chánh niệm. Một môi trường như vậy có công năng đưa tới sự trị liệu. Những người trẻ phải tạo cho mình một môi trường như vậy và chúng ta cùng nhau tạo ra những môi trường như vậy trong trường học, trong gia đình. Một người có thể không làm được nhưng ba, bốn hay năm người sẽ cùng nhau làm được. Nếu mình có năng lượng tập thể của sự bình an, của tình huynh đệ thì đi tới đâu mình cũng đem năng lượng đó theo. Mình sẽ bắt đầu làm thay đổi con người và làm thay đổi bầu không khí của những nơi mình tới. Vì vậy mình đừng nên tuyệt vọng, mình có thể tạo ra những thói quen mới: thói quen thương yêu, thói quen có sự bình an. Mình có thể chữa trị được sự giận dữ, niềm tuyệt vọng trong mình. Mình không nên bỏ cuộc!

Thầy đề nghị là những người trẻ hãy ngồi lại chia sẻ với nhau để tìm cách tạo ra những thói quen mới, những thói quen tốt. Các em học lại cách đi như thế nào, ngồi như thế nào, ăn như thế nào, uống như thế nào, nói năng như thế nào để có được sự bình an, tình thương và tình huynh đệ. Thầy tin rằng những người trẻ có thể làm được. Chúc các con may mắn!

Con phải làm gì khi mẹ nổi giận với ba?

Câu hỏi: Con phải làm gì khi mẹ nổi giận với ba?

Thầy trả lời: Có nhiều cách lắm! Một trong những điều mà con có thể làm là đến bên mẹ và nói: “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh” (Mommy, there is a cake in the refrigerator). Đây là câu thần chú rất nổi tiếng ở Làng Mai đó, con có biết không? Khi mẹ hoặc ba đang giận và không khí trong nhà căng thẳng không thể chịu nổi thì con hãy đến bên ba mẹ và đọc câu thần chú: “mẹ ơi (ba ơi), hình như có bánh trong tủ lạnh”. Câu đó có ngụ ý là “mẹ ơi, con đang khổ. Con không muốn thấy mẹ giận như vậy. Con không muốn thấy không khí gia đình nặng nề như vậy”. Đó là một cách để nhắc cho mẹ thấy là mẹ đang giận và đang làm cho không khí trong gia đình rất nặng nề, khiến cho chồng con đều không vui. Đó là một cách hay để nhắc cho mẹ: “mẹ ơi, đừng giận nữa, đừng làm cho cả nhà khổ nữa.” Con đừng nên nói: “Mẹ đừng có giận nữa”, mà hãy đọc câu thần chú: “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh” thì mẹ sẽ hiểu ngay. Mẹ sẽ thức tỉnh và thấy là “mình đang làm cho con gái đau khổ, mình không nên làm như vậy”. Và mẹ sẽ cố gắng mỉm cười với con và nói: “Đúng rồi, con đi ra vườn và chuẩn bị bàn ghế, mẹ sẽ mang bánh ra và mời ba ra ăn chung với mẹ con mình luôn”. Mẹ sẽ nói như vậy và không khí gia đình sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn. Mẹ sẽ không còn giận ba nữa và ba sẽ ra ăn bánh cùng với hai mẹ con. Lần sau, khi thấy mẹ hoặc ba đang giận thì con hãy đọc thần chú mà thầy vừa chỉ, “mẹ ơi, hình như có bánh trong tủ lạnh”, con nhớ chưa? Có thể con còn thắc mắc: “vậy nếu không có bánh trong tủ lạnh thật thì sao?”. Không sao hết! Mẹ của con rất thông minh, dù không có bánh thì mẹ cũng sẽ tìm ra một cái gì khác, cho nên con đừng lo!

Câu hỏi: Con phải làm sao để bày tỏ được cơn giận của mình mà không trút sự tức giận đó lên người khác?

Thầy trả lời:

Khi giận, mình muốn bày tỏ cơn giận của mình vì mình nghĩ rằng nếu không bày tỏ ra, nếu cứ đè nén cơn giận thì mình sẽ khổ hơn. Vì vậy mình thấy cần phải nói ra hay phải làm gì đó để bày tỏ cơn giận của mình. Nhưng kỳ thực nói ra một lời gì đó hay làm một hành động nào đó trong khi giận sẽ không giúp ích được gì cho mình cả. Nói và hành động khi đang giận luôn làm cho mình và người kia bị tổn thương.

Bụt dạy đừng bao giờ nói hay làm điều gì để bày tỏ sự giận dữ của mình, vì làm như thế mình sẽ gây ra đổ vỡ nhiều hơn. Thay vì làm cho bớt giận thì mình sẽ càng giận hơn nữa và mình cũng làm cho người kia giận luôn.

Nhưng nói như vậy không có nghĩa là mình phải đè nén cơn giận. Phương pháp hay nhất là mình trở về với tự thân để chăm sóc cơn giận. Tới Làng Mai, mình được học những phương pháp thực tế giúp mình chăm sóc cơn giận. Mình phải học cho được vì đây là một việc rất quan trọng! Trong đời sống hàng ngày có rất nhiều chuyện làm cho mình giận dữ và đau khổ cho nên mình phải học cách chăm sóc cơn giận.

Việc đầu tiên mình làm là không nói gì, không làm gì cả mà chỉ trở về với chính mình bằng phương pháp thở. Mình thở vào thật sâu và nói: “Thở vào, con biết cơn giận đang có trong con!” Mình nhận diện cơn giận. Mình không cố đàn áp nó, mình không chiến đấu với nó, mình chỉ nhận diện nó: “Cơn giận ơi, chào em. Ta biết là em có đó và ta sẽ chăm sóc cho em!”. Đó gọi là nhận diện cơn giận.

Bước kế tiếp là mình ôm lấy cơn giận. Khi thở vào và thở ra một cách có ý thức thì mình chế tác được năng lượng chánh niệm. Năng lượng chánh niệm có công năng nhận diện và ôm lấy cơn giận như một bà mẹ ôm lấy đứa con của mình. Đây là một sự thực tập rất hay! Khi giận thì mình sẽ không nói, không làm gì cả mà chỉ thở và ôm lấy cơn giận. Cha mẹ và bạn bè thấy mình thực tập ôm lấy cơn giận như vậy sẽ rất nể phục vì mình là người có tu tập, mình biết cách chăm sóc cơn giận.

Nếu mình tiếp tục thở vào, thở ra hay đi thiền hành chậm và ôm lấy cơn giận thì cơn giận sẽ lắng dịu xuống. Khi thấy em bé khổ, bà mẹ sẽ ôm em bé vào lòng một cách dịu dàng và em bé sẽ bớt khổ. Cơn giận giống như em bé của mình, trở về chăm sóc cho em bé (cơn giận). Mình nói: “Em bé giận ơi, chào em. Ta biết em có đó, ta không đánh lộn, ta không đàn áp em đâu! Ta sẽ chăm sóc cho em!”. Mình thở trong chánh niệm, đi trong chánh niệm và ôm lấy cơn giận. Có hai loại năng lượng: năng lượng của cơn giận và năng lượng của chánh niệm được chế tác bởi hơi thở. Mình sử dụng năng lượng chánh niệm để nhận diện và ôm ấp cơn giận.

Tôi nghĩ cha mẹ cũng nên thực tập như vậy. Nếu cha mẹ quên thực tập thì mình phải nhắc: “mẹ ơi, mẹ đang giận đó, mẹ hãy chăm sóc cho cơn giận của mẹ nhé. Con sẽ giúp cho mẹ, con sẽ thở với mẹ!”. Mình tới ngồi gần bên mẹ và thở với mẹ. Hai mẹ con cùng ngồi thở và ôm lấy cơn giận. Đây là sự thực tập rất tuyệt vời! Nếu ba giận thì mình có thể tới giúp cho ba: “Ba ơi, hình như là ba đang có chút giận dữ trong ba. Mình thực tập với nhau đi ba! Con sẽ yểm trợ cho ba”. Hai cha con cùng thở với nhau để nhận diện và ôm ấp cơn giận một cách dịu dàng. Mình sẽ có sự lắng dịu sau vài phút thở vào và thở ra.

Những người làm cho mình giận cũng có nhiều sự giận dữ mà không biết cách để xử lý. Vì vậy nên họ vung vãi sự giận dữ ra khắp chung quanh họ. Nhưng mình đã được học phương pháp chăm sóc cơn giận, mình không hành xử như những người đó. Mình không vung vãi sự giận dữ ra khắp nơi và làm khổ luôn những người chung quanh. Mình hãnh diện với chính mình và nói: “Những người kia thật là tội nghiệp! Họ có nhiều giận dữ mà không biết cách để xử lý, còn mình thì biết cách!”. Thấy được như vậy thì mình không còn giận họ nữa, mình muốn nói hay làm cái gì đó để giúp cho những người kia bớt khổ. Vì vậy thay vì giận thì trong tâm của mình phát sinh ra tình thương. Mình không còn muốn trừng phạt nữa mà chỉ muốn giúp cho họ, vì trong tâm mình đã có tình thương.

Tình thương là liều thuốc chữa trị sự giận dữ. Khi tình thương phát sinh thì cơn giận sẽ tắt ngấm. Thật là mầu nhiệm! Tình thương được phát sinh khi mình nhìn người kia và thấy được rằng trong người kia có sự giận dữ và khổ đau. Người đó không có khả năng chăm sóc cơn giận nên trở thành nạn nhân của cơn giận và đã vung vãi cơn giận đó ra khắp nơi. Thấy được như vậy thì mình sẽ không giận nữa và tình thương sẽ phát sinh trong mình. Mình trở nên tươi mát và có thể giúp được cho người kia. Biết được phương pháp thực tập không những mình không đau khổ mà mình còn giúp được cho những người trong gia đình hay bạn bè ở trường bớt khổ hơn. Đây là một phương pháp thực tập rất mầu nhiệm!

Ai trong chúng ta cũng có lúc nổi giận, nhưng không phải ai cũng biết cách xử lý cơn giận của mình. Tôi hy vọng là một ngày nào đó người ta sẽ đem sự thực tập này vào học đường. Các thầy cô giáo cùng các bậc phụ huynh phải biết cách xử lý cơn giận và phải có khả năng chỉ dạy lại cho các em học sinh. Nếu các thầy cô giáo và các bậc phụ huynh làm được thì đương nhiên các em học sinh cũng học được. Khi cha mẹ biết cách thực tập thì con cái sẽ học được từ họ. Đây là sự thực tập rất hay mà mình có thể mang về nhà sau khóa tu!

Thầy thích điều gì nhất trong đạo Bụt?

Câu hỏi: Thầy thích điều gì nhất trong đạo Bụt?

Thầy trả lời:

Điều mà thầy thích nhất trong đạo Bụt là tinh thần bao dung, không kỳ thị. Nếu chúng ta thực tập tình thương theo giáo lý đạo Bụt thì tình thương đó phải trải rộng đến tất cả mọi người, không loại trừ bất kỳ ai. Ta không chỉ thương giáo lý đạo Bụt mà còn thương cả giáo lý của đạo Thiên Chúa, đạo Hồi, đạo Do Thái, v.v. Ta không cho rằng chỉ có cái thấy, cái hiểu của ta là đúng, còn cái hiểu, cái thấy của những truyền thống khác là sai. Đó là lý do vì sao một Phật tử chân chính sẽ không bao giờ gây chiến với các tôn giáo khác.

Đạo Bụt không mang tính giáo điều. Những giáo nghĩa Bụt dạy là con đường giúp cho ta chuyển hóa, không phải là chân lý để ta thờ phụng và bảo vệ, nhất là bảo vệ bằng những phương tiện bạo động. Bụt đã từng dạy rằng chúng ta phải thực tập như thế nào để có tự do, không bị mắc kẹt vào những giáo lý của đạo Bụt, và cả ý niệm về Bụt trong ta. Đây là điều mà thầy thích nhất. Cảm ơn con đã đặt một câu hỏi rất hay!

Câu hỏi: Tại sao có lúc một hạt giống biểu hiện ra thành một bông hoa, có lúc lại không? Tại sao con lại không giống với những người khác?

Thầy trả lời:

Thông thường, hạt giống của hoa thường biểu hiện ra thành một bông hoa. Nhưng nhiều khi những điều kiện giúp cho sự biểu hiện đó không được thuận lợi hay không được đầy đủ, ví dụ như không có mưa, hay gió nhiều quá, v.v. Vì vậy nên trên tiến trình hạt giống biểu hiện thành bông hoa có sự gián đoạn. Phải có đầy đủ những điều kiện để một hạt giống có thể tiếp tục tiến trình của nó và biểu hiện ra. Nhưng có lúc vì vài điều kiện không có mặt nên hạt giống không thể tiếp tục biểu hiện. Và hạt giống sẽ tìm cách để biểu hiện trở lại. Cũng giống như những nụ hoa sắp nở, bỗng nhiên một cơn lạnh kéo tới và nụ hoa không nở được nữa. Nhưng cây hoa vẫn còn đó. Vài tuần sau, khi thời tiết ấm áp trở lại thì những nụ hoa mới lại xuất hiện. Lần này những điều kiện thuận lợi hơn và nếu thời tiết ấm kéo dài vài tuần thì những nụ mới sẽ nở thành hoa.

Vì vậy câu trả lời là: Nếu không có đầy đủ điều kiện thì một hạt giống không thể tiếp tục tiến trình của nó. Khi các điều kiện đầy đủ thì hạt giống sẽ tiếp tục tiến trình lớn lên và biểu hiện ra thành hoa.

Ngay đến những sự vật cùng một loại như hoa sen chẳng hạn, nhìn cho kỹ chúng cũng không giống nhau, ví dụ như có những hoa sen lớn và có những hoa sen nhỏ. Cũng là hoa sen nhưng hoa sen này khác với hoa sen kia. Điều này cũng đúng với những chiếc lá trên cây. Các sự vật không giống nhau là một sự kiện mầu nhiệm, vì nếu các sự vật giống y như nhau thì thật là chán. Mọi vật phải khác biệt nhau. Ở Pháp người ta có câu: “Sự khác biệt muôn năm!” (Vive la différence!) Vì vậy không giống với những người khác là một điều hay, nếu mình giống y hệt như những người khác thì thật là nhàm chán.

Tiêu thụ có chánh niệm

Câu hỏi: Khi con dạy con trai của con sống giản dị, không nên mua sắm, tiêu xài hoang phí thì con trai của con nói rằng nếu ai cũng sống giản dị như Bụt thì xã hội làm sao phát triển được. Phải có tiêu xài mua bán thì nhà máy sản xuất mới phát triển chứ? Con không biết phải trả lời con trai như thế nào, kính xin Thầy giúp con.

Thầy trả lời:

Mình phải thấy được nguyên do sâu xa của lý luận này. Mục đích của con người là có hạnh phúc, nhưng có nhiều người nghĩ rằng mình không thể hạnh phúc nếu không có nhiều tiền để mua sắm. Khi nhìn xung quanh mình thấy nhiều người rất giàu, rất nhiều tiền, muốn mua gì cũng được, muốn sắm gì cũng được nhưng điều đó không có nghĩa là người đó có hạnh phúc. Có những người rất giàu nhưng rất cô đơn, không có bạn, không có ai hiểu mình và có cảm tưởng rằng người ta tới với mình không phải vì tình bạn mà vì mình giàu. Do đó người đó có ít bạn, rất cô đơn.

Tôi đã từng gặp những ông tỷ phú như vậy. Họ rất giàu, họ có nhiều quyền thế nhưng họ không có tình thương, họ rất cô đơn. Vì vậy nếu kết luận rằng có nhiều tiền để mua sắm thì có hạnh phúc là không đúng. Có nhiều người rất giàu, nhiều quyền lực, nhiều danh vọng nhưng họ có rất nhiều khổ đau. Đã rất nhiều người đi tự tử. Quý vị phải giúp cho con trai hay con gái mình biết được điều đó.

Hạnh phúc chỉ có được khi nào mình được hiểu, được thương, cũng như khi mình có khả năng hiểu và thương người khác. Khi mình hiểu được mình, thương được mình; mình hiểu được người khác, thương được người khác thì dầu mình sống đơn giản, ít tiêu xài như các thầy các sư cô ở Làng Mai cũng vẫn có hạnh phúc rất nhiều. Các thầy, các sư cô ở Làng Mai không ai có tài khoản riêng, có nhà riêng, có xe riêng, không mua sắm nhiều nhưng tại sao ai cũng cứ cười hoài. Vậy nên nếp sống đơn giản không phải là nếp sống không có hạnh phúc.

Nếu mình muốn có nhiều tiền để mua sắm thì mình phải làm việc rất nhiều, mình không có thì giờ để chăm sóc, thương yêu chính mình và chăm sóc cho người khác. Vì vậy mình không có hạnh phúc. Nếu ai cũng sống giản dị như Bụt thì hạnh phúc lắm, vì mình có nhiều thì giờ để thương yêu. Cuộc đời của Bụt là cuộc đời của sự thương yêu. Cho nên mình gọi Bụt là Đức Từ Bi. Đức Từ Bi nói nôm na là người biết thương, người có khả năng thương và thương được rất nhiều người. Sở dĩ thương được nhiều người là nhờ mình có tu tập. Nếu không có tu tập thì thương một người cũng khó chứ đừng nói nhiều người. Cứ lên, xuống, hệ luỵ rất nhiều. Cho nên phải học thương. Phải nói cho con trai biết là hạnh phúc không nằm ở chỗ tiêu thụ. Hạnh phúc nằm ở chỗ ta có thì giờ để chăm sóc cho chính mình, cả về thân và tâm, cũng như có thì giờ để chăm sóc và thương yêu những người khác.

Hiểu và thương là hai yếu tố căn bản của hạnh phúc. Nếu không có hiểu thì không có thương. Người  thực sự thương mình là người có khả năng hiểu mình và mình có thể nhận diện người đó dễ dàng. Người đó có khả năng lắng nghe mình. Mình nói điều gì người đó cũng lắng nghe và hiểu được. Còn mình nói điều gì cũng cắt lời mình và chỉ muốn nói cho mình nghe thôi thì mình biết người này không có khả năng lắng nghe, không có khả năng hiểu mình và người đó có thể làm cho mình khổ suốt đời.

Bên Cali có một anh chàng rất thông mình và đẹp trai, tốt nghiệp một trường đại học nổi tiếng, có công ăn việc làm rất tốt và có rất nhiều bạn gái. Anh sống với mẹ. Bà mẹ nhận thấy con trai mình đặc biệt chú ý tới một  trong những cô bạn mà theo bà thì cô này không phải là đẹp nhất. Một bữa, hai mẹ con ngồi nói chuyện, bà nói rằng: Má thấy con chú ý tới cô đó nhưng đó đâu phải là người đẹp nhất. Có rất nhiều người đẹp hơn mà sao con không thương, con lại thương cô ấy. Anh rất ngạc nhiên khi thấy mẹ mình cũng quán sát và biết được điều đó. Ban đầu anh không tìm được câu trả lời nhưng cuối cùng anh cũng tìm ra. Anh nói : Má ơi, tại vì cô ấy hiểu con, cô ấy biết lắng nghe con, cô ấy hiểu được những khổ đau và ước vọng của con. Vậy nên con biết rằng con cần một người như vậy, cần một người hiểu và thương con. Câu chuyện rất đơn sơ nhưng rất rõ là muốn thương thì phải hiểu.

Trong cuộc đời mình, phải có nhiều may mắn lắm mình mới gặp một người có thể hiểu mình. Nếu mình muốn thương một người thì mình cũng phải có khả năng hiểu được người đó, mình phải có khả năng thấy được những khó khăn, những bức xúc, những khổ đau của người đó. Mình phải có khả năng nghe, nhìn và thấy được. Khi mình hiểu được rồi thì mình sẽ thương. Hai chữ hiểu thương khác nhau nhưng kỳ thực nó là một. Khi không hiểu nhau thì đừng nói là thương. Có khi người cha không hiểu được đứa con của mình. Dù đứa con của mình mới chỉ 14, 15 tuổi nhưng nó đã có những khó khăn, khổ đau của nó rồi. Nếu mình áp đặt ý của mình lên đứa con và bắt nó làm, bắt nó nói, bắt nó hành xử theo kiểu mà mình cho là đúng thì có thể mình làm khổ nó thêm.

Nếu mình muốn làm một người cha thật sự thì mình phải có thì giờ để lắng nghe con. Phải biết được những khó khăn, khổ đau của nó trong trường học, trong gia đình, trong giới bạn bè. Phải ngồi nói chuyện với nó. Nếu không hiểu con thì mình không thương con được. Cha nào cũng muốn thương con nhưng có thể mình càng thương thì mình càng làm khổ cho nó, tại vì mình không hiểu. Hiểu là chất liệu làm ra thương. Vậy nên cha phải ngồi nói chuyện với con để hiểu con. Con cũng vậy. Con cũng muốn thương cha lắm nhưng thương không được tại vì không hiểu được niềm đau nỗi khổ của cha. Cho nên hai cha con phải ngồi với nhau, phải có thì giờ cho nhau. Con phải hỏi cha về những khó khăn, khổ đau, bức xúc của cha. Vì cha có những khổ đau của cha nhưng tại vì con không biết cho nên cứ trách móc cha. Khi hiểu được những khó khăn, bức xúc của cha thì tự nhiên con không còn trách cha nữa và hai cha con mới có sự truyền thông. Có sự truyền thông thì mới có sự hòa giải. Vậy nên chất liệu của hiểu đã làm ra thương.

Theo phương pháp của đạo Bụt thì mình phải hiểu mình. Lắng nghe mình trước rồi sau đó mình lắng nghe để hiểu được người kia. Cái hiểu càng lớn thì cái thương càng lớn. Trong liên hệ bạn bè hay liên hệ vợ chồng, cá nhân mình có thể tìm cách hiểu được người kia và mình có thể nhờ người kia giúp cho mình. Ví dụ như mình nói: anh ơi, anh có nghĩ rằng em đã hiểu được anh chưa ? Em có cảm tưởng là em đã hiểu được anh nhưng chưa chắc em đã hiểu được. Vậy anh hãy giúp em hiểu anh hơn . Anh hãy nói thêm về những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc của anh để cho em có thể hiểu được anh hơn. Mình đừng nghĩ rằng mình hiểu người kia quá rồi. Thực ra hai mẹ con có thể không hiểu nhau vì hai mẹ con chưa có thì giờ ngồi để tâm tình với nhau.

Hôm qua Thầy có nói chuyện với các em nhỏ. Thầy nói rằng mình thường có cảm tưởng là mình hiểu mẹ mình là ai rồi nhưng thực tình mình không biết gì về mẹ hết. Phải ngồi lại và hỏi mẹ: Mẹ ơi, hồi còn bé mẹ sống ra sao, mẹ có những khổ đau nào, những nỗi niềm nào? Mẹ có thể ngồi nói chuyện với con, con nói chuyện với mẹ. Cái đó rất đẹp, nó giúp cho hai bên hiểu nhau và thương nhau. Điều này đúng với mối liên hệ cha con, bạn bè hay hai người yêu nhau. Chúng ta phải có thì giờ để nhìn nhau, để thấy được những khổ đau của nhau và lắng nghe nhau. Có hiểu thì mới có thương. 

Làm thế nào khi mất người thương?

Câu hỏi: Trường hợp vợ chồng sống với nhau tương đối hạnh phúc, con cái đã trưởng thành và lập gia đình. Nay một trong hai người đã qua đời thì người kia phải làm như thế nào để có đủ năng lượng đi hết đoạn đường còn lại. Thường thì người này sẽ chết vì đau buồn, nhớ thương sau một khoảng thời gian ngắn khi người kia qua đời. Phải làm sao để đi hết đoạn đường còn lại trong an lạc, thong dong, không bị ám ảnh bởi quá khứ?

 

Thầy trả lời:

Trịnh Công Sơn có bài hát Hạ trắng, trong đó có câu: “áo xưa dù nhàu, cũng xin bạc đầu gọi mãi tên nhau”. Có lần Trịnh Công Sơn nói rằng câu chuyện đó bắt nguồn từ câu chuyện của một cặp vợ chồng ở Huế. Hai ông bà sống với nhau cho tới già và con cái đã lớn, có gia đình riêng. Sống với nhau tới khi đầu bạc răng long là một thành công. Trong suốt sáu mươi, bảy mươi năm sống với nhau, sáng nào bà cũng xuống bếp pha cho ông một bình trà. Không có ngày nào không làm như vậy nên nó là một lễ nghi.

Buổi sáng hôm đó, như thường lệ bà xuống bếp làm cho ông bình trà nhưng chẳng may bị trúng gió, ngã ra và qua đời ngay tại bếp. Trên nhà ông đợi hoài không thấy bình trà đem lên. Trong lúc đó, tình cờ đứa con trai ghé nhà và thấy mẹ đã qua đời dưới bếp liền tìm cách đưa mẹ về nhà làm lễ an táng. Anh sợ báo tin cho cha biết là mẹ đã mất thì cha sẽ buồn và mất theo nên tìm cách giấu tin đó. Sau đó anh đã nói với cha: “mẹ của chúng con đang ở với các cháu nên con qua đây để chăm sóc cha”. Anh đã tìm cách giấu tin đó trong nhiều ngày nhưng giấu lâu không được nên một buổi sáng ông đã hỏi: “có phải mẹ của các con đã mất rồi phải không?” Lúc đó anh đã òa ra khóc và nói: “thưa cha, đúng như vậy”. Từ đó trở đi ông không ăn cơm nữa, không có uống trà nữa cho tới khi ông mất. Vì người đã sống với mình sáu, bảy chục năm giờ không còn nữa thì mình không có lạc thú sống ở trên đời nữa và người đó không muốn sống nữa. Đó là trường hợp của khá nhiều người.

Để trả lời cho câu hỏi này phải dựa trên sự quán chiếu về sống, chết. Khi mình chết rồi thì mình đi về đâu, vì có nhiều người nghĩ rằng chết rồi là hết. Kỳ thực không phải. Ví dụ như đám mây. Khi đám mây  không còn là đám mây thì nó tiếp tục trong một hình thức mới là cơn mưa, hoặc là tuyết. Không có gì là từ có trở thành không. Cái gì cũng tiếp tục. Nó chỉ thay hình đổi dạng. Vậy nên khi người thương của mình chết không có nghĩa là người đó không còn. Người đó vẫn còn dưới những hình thức khác. Không có gì mất đi. Khoa học bây giờ cũng công nhận điều đó. Họ nói rằng vật chất và năng lượng không mất đi. Trên phương diện hình thức thì mình không thấy nó nhưng trên phương diện nội dung thì nó vẫn còn. Vật chất dưới hình thức này có thể trở thành vật chất dưới hình thức kia và vật chất có thể biến thành năng lượng. Năng lượng dưới hình thức này có thể trở thành năng lượng dưới hình thức kia và năng lượng có thể trở lại thành vật chất. Đó là luật thứ nhất của nhiệt động học. Khoa học cũng đồng ý rằng không có gì sinh cũng không có gì diệt, giống như trong Tâm Kinh Bát Nhã có nói bản chất của sự vật là không sinh không diệt.

Trong trường hợp bà mất thì ông phải quán chiếu là bà vẫn còn và đang được tiếp nối trong ông và trong các con. Một ví dụ rất dễ hiểu là ai trong chúng ta cũng đã từng trải qua một thời gian làm em bé. Khi mình ba tuổi thì cha có chụp cho mình chụp một bức hình. Hình đó còn nằm trong album. Bây giờ lật ra và ta thấy em bé ba tuổi là mình thì mình hỏi em bé ba tuổi này đã chết chưa? Nếu chưa chết thì tại sao mình không còn thấy nữa. Cũng như đám mây. Mình không thấy đám mây ở trên trời thì mình nói đám mây đã chết rồi. Vậy nên mình phải thấy sự tiếp tục của đám mây trong cơn mưa. Bây giờ mình không thấy mẹ của các cháu nữa nhưng không có nghĩa là bà đã chết. Bà còn đang tiếp tục ở trong chính mình và trong các cháu, cả ở những chỗ khác nữa.

Trong đạo Bụt mình được học về nghiệp (nghiệp tức là hành động). Trong đời sống hàng ngày mình chế tác những tư tưởng, lời nói và hành động. Những cái đó là sự tiếp nối của mình, gọi là nghiệp. Mọi tư tưởng của mình đều mang chữ ký của mình. Chính mình đã phát ra những tư tưởng đó. Dù là tư tưởng từ bi hay tư tưởng hận thù đều là tư tưởng. Những tư tưởng phát ra làm cho mình khổ hay hạnh phúc thì mỗi tư tưởng đều mang chữ ký của mình. Mỗi lời nói của mình cũng vậy. Lời nói của mình dễ thương hay khó thương thì mỗi câu nói đó đều mang chữ ký của mình. Mình là tác giả. Những hành động của cơ thể mình có thể là những hành động tàn sát, giết hại thì những hành động đó đều mang chữ ký của mình. Những hành động cứu trợ, giúp đỡ, che chở thì cũng là hành động của mình. Tất cả những hành động đó đều mang chữ ký của mình. Tư tưởng, hành động, lời nói của mình là sự tiếp nối của mình trong tương lai. Khi cơ thể của mình tàn hoại thì mình cũng tiếp tục như thường, vì những hành động kia (tam nghiệp) được tiếp nối dưới những hình thức khác. Vậy nên mình không thể nói người kia không còn nữa. Người kia vẫn còn. Tại vì mình không nhận ra sự tiếp nối của người kia mà thôi.

Cho nên ông cụ cần phải thấy được bà vẫn còn sống, vẫn đang có mặt nơi các con và các cháu của mình. Ông cụ vẫn phải làm công việc nuôi dưỡng các con và cháu của mình. Ví dụ mình có một cây bắp mới lên. Khi nẩy mầm nó cắm rễ xuống đất và cho ra hai chiếc lá. Năm, bảy ngày sau có thêm năm hay sáu, hay bảy chiếc lá. Nếu quán sát thì mình sẽ thấy hai lá đầu từ từ vàng và khô lại. Cây chuối cũng vậy. Những lá chị vàng đi và khô lại trong khi những lá em xanh tươi mơn mởn đi lên. Nếu quan sát cho kỹ thì ta thấy hai lá đầu đã từng sống, đã từng tiếp thu nước và những chất ở dưới đất đi lên. Nó tự nuôi nó và nó nuôi những chiếc lá em. Bây giờ đây, nếu nhìn cho kỹ thì ta thấy hai chiếc lá chị đang có mặt đây, trong tất cả những chiếc lá em. Vậy nên hai chiếc lá chị đó dầu có khô, có vàng đi nhưng không phải là đã chết. Nó vẫn còn tiếp tục sống ở trong những chiếc lá non, lá còn xanh. Điều đó cũng dễ hiểu, cũng dễ thấy.

Cũng vậy, mình không chết được Mình còn đang được tiếp tục ở những thế hệ tương lai. Những gì mình nói, mình làm, mình suy nghĩ  đang tiếp tục trong cuộc đời. Nếu ông cụ thấy được điều đó thì ông sẽ tới và sống với các con, các cháu. Ông sẽ thấy ông vẫn còn tiếp tục nuôi dưỡng được các con, các cháu. Nếu làm được như thế thì sẽ không có sự mất mát. Điều này cũng cần tuệ giác. Tuệ giác đó chỉ có thể do thiền quán đưa lại mà thôi. Tuệ giác đó có thể giúp ông vượt thắng được sự cô đơn của mình. Ông không còn bị kẹt vào cái tướng của bà. Ông có con mắt vô tướng. Ông không còn thấy bà trong hình dáng quen thuộc mà ông thường thấy, mà ông thấy bà trong hình thái mới, rất trẻ, rất đẹp.

Cũng như ngày mai, nếu quý vị nghe tin thầy Nhất Hạnh không còn nữa thì quý vị đừng có khóc, vì quý vị nhìn vào quý thầy, quý sư cô trẻ, quý vị phật tử trẻ đang tiếp nối Thầy. Quý vị thấy cách họ đi, cách họ đứng, cách họ ngồi, cách họ giúp đời thì đó là Thầy. Thầy đang còn tiếp tục. Thầy không chết đi. Mình không cần phải khóc, mình không cần phải buồn. Không có gì chết hết. Cái gì cũng tiếp tục. Cái đó chỉ có tu thiền, quán chiếu thì mới thấy được mà thôi. Mình sẽ vượt thắng được cô đơn, tuyệt vọng.

Đối diện với niềm đau trong ta

Câu hỏi: Làm thế nào để có thể an trú được trong giây phút hiện tại khi ta không thể chịu đựng nổi giây phút đó?

 

 

Thầy trả lời:

Tại Làng Mai chúng ta thường nói: Đừng để cho quá khứ hay tương lai kéo ta đi, ta phải trở về với giây phút hiện tại. Câu hỏi đặt ra là: Làm sao để có thể an trú trong giây phút hiện tại khi ta không thể chịu đựng nổi giây phút đó? Đây là một câu hỏi rất hay!

Người thực tập chánh niệm biết rằng mình luôn phải trở về với giây phút hiện tại. Khi trở về với giây phút hiện tại, chúng ta có thể đối diện với hai loại tình huống:

– Tình huống thứ nhất là ta thấy có rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt cho ta ngay bây giờ và ở đây. Khi thở vào và đem tâm trở về với thân, ta an trú trong giây phút hiện tại. Ta nhận ra được rất nhiều yếu tố tươi mát có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu, rất nhiều điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong giây phút hiện tại. Ý thức được điều đó thì niềm vui và hạnh phúc sẽ được chế tác một cách dễ dàng. Ta nuôi dưỡng mình bằng niềm vui và hạnh phúc. Đó là tình huống thứ nhất mà ta gặp phải khi trở về với giây phút hiện tại.

– Tỉnh huống thứ hai là khi trở về với giây phút hiện tại, ta có thể đối diện với những cảm xúc đau buồn trong ta. Sự thật là thỉnh thoảng có những cảm thọ hay những cảm xúc đau buồn đi lên trong ta. Nhưng khi chúng bắt đầu phát khởi thì ta thường tìm cách trốn chạy, giả vờ như là chúng không hề tồn tại. Ta không có mặt để chăm sóc những cảm thọ và những cảm xúc đau buồn trong ta. Trong trường hợp này, ta trở về với giây phút hiện tại để có cơ hội chăm sóc và chuyển hóa niềm đau nỗi khổ trong ta.

Vì vậy cho dù giây phút hiện tại có khó chịu thế nào đi nữa thì ta cũng phải trở về, vì đó là cơ hội duy nhất của ta, cơ hội để làm lắng dịu và chuyển hóa nỗi khổ niềm đau trong ta. Nhưng phần đông trong chúng ta không làm như vậy, bởi vì chúng ta sợ bị tràn ngập bởi khổ đau khi trở về đối diện với chính mình. Ta chạy trốn khổ đau bằng cách tưởng tượng ra một cái gì trong tương lai hay trở về quá khứ để tìm sự quên lãng. Nhưng quá khứ và tương lai chỉ là những hình ảnh mà không phải là thực tại, chỉ giây phút hiện tại là có thật mà thôi. Nhiều người trong chúng ta tìm cách khỏa lấp khổ đau bằng cách tiêu thụ. Ta đọc sách báo, xem truyền hình, nghe nhạc, tìm cái gì để ăn, nói chuyện điện thoại, v.v… Ta hy vọng rằng làm như vậy thì ta khỏi phải đối diện với khổ đau trong mình. Nhưng kỳ thực, khi làm như vậy, ta đang cho phép khổ đau tiếp tục lớn lên trong ta.

Phương pháp thực tập của chúng ta là trở về với giây phút hiện tại cho dù giây phút đó không được dễ chịu, tại vì chính nhờ giây phút đó mà ta có thể hiểu được khổ đau và thực tập để chuyển hóa khổ đau. Vì vậy, lần sau khi phải đối diện với giây phút không được dễ chịu thì ta đừng nghĩ rằng chạy trốn là phương pháp hay nhất. Giây phút không dễ chịu đó có thể là một cơ hội để ta nhìn sâu vào bản chất của khổ đau. Ta phải có mặt trong giây phút đó và nhìn sâu vào khổ đau của chính mình. Nếu biết cách trở về với hơi thở và bước chân chánh niệm thì năng lượng chánh niệm mà ta chế tác được sẽ giúp cho ta trở nên vững mạnh để có thể đối diện và ôm ấp niềm đau nỗi khổ trong mình. Ôm ấp niềm đau nỗi khổ một cách nhẹ nhàng trong một vài phút thì ta có thể làm cho nó lắng dịu lại. Và nếu có những người khác cùng thực tập chung thì ta có thể thừa hưởng được năng lượng chánh niệm và từ bi tập thể. Ta có thể tiếp xúc với khổ đau và hiểu được nguồn gốc của khổ đau. Năng lượng của hiểu biết và từ bi có công năng trị liệu cho ta và cho những người chung quanh ta. Nếu có một nhóm người cùng tu tập với nhau, ôm ấp khổ đau một cách nhẹ nhàng thì năng lượng tập thể của chánh niệm và từ bi sẽ trị liệu cho ta. Và khi ta bớt khổ thì ta sẽ giúp cho những người khác cũng làm được như vậy.

Có một vị Bồ tát tên là Ksitigarbha – Bồ tát Địa Tạng. Bồ tát Địa Tạng có lời nguyện rằng Ngài sẽ tìm đến những nơi có thật nhiều đau khổ để giúp người, độ đời. Nhiều vị bác sĩ, ý tá và tác viên xã hội cũng đang làm như vậy. Họ tình nguyện đi đến những nơi có nhiều khổ đau trên trái đất để giúp người. Bồ tát Địa Tạng đang có mặt trong cuộc đời này, chứ không phải là một sự tưởng tượng. Rất nhiều người trẻ đang phụng sự như những Bồ tát Địa Tạng. Họ không sợ khổ đau vì họ biết là mình có thể giúp làm vơi bớt khổ đau. Những Bồ tát Địa Tạng này có một nguồn năng lượng mạnh mẽ và hùng hậu, đó là chí nguyện, một loại tư niệm thực.

Ý thức là mình đang còn sống và mình muốn làm một cái gì đó với cuộc đời của mình, mình muốn có một đời sống hữu ích và có ý nghĩa, cho nên họ phát khởi tâm nguyện đi vào cuộc đời để giúp cho mọi người bớt khổ. Họ không sợ hãi và trốn tránh khổ đau. Những vị Bồ tát đó cần sự yểm trợ của chúng ta. Chúng ta phải yểm trợ cho họ để họ không đánh mất đi chí nguyện của mình sau vài năm phụng sự. Chúng ta phải gửi năng lượng và sự khích lệ đến với họ, tại vì họ cũng cần được nuôi dưỡng và trị liệu. Sau 6 tháng hay một năm làm việc trong những điều kiện khó khăn, họ trở về nhà để được chăm sóc và trị liệu. Chúng ta phải cố gắng trị liệu cho họ để họ có thể trở lại tiếp tục công việc phụng sự. Bồ tát Địa Tạng cũng cần sự giúp đỡ. Chúng ta có mặt đây để giúp cho những vị Bồ tát Địa Tạng trẻ đang có mặt khắp nơi trên thế giới có thể tiếp tục công việc của họ.

Khi trong ta có từ bi thì ta không ngại những tình huống khó khăn. Nếu có đủ từ bi thì chúng ta sẽ được bảo hộ bởi năng lượng từ bi đó. Ta sẽ không bị tràn ngập bởi năng lượng khổ đau tập thể của những người chung quanh. Bồ tát Địa Tạng ý thức rằng mình cũng cần có một tăng thân để có thể tiếp tục được lâu dài. Chúng ta không nên thực tập một mình mà phải thực tập như một tập thể. Ta hãy cố gắng thuyết phục những người trong gia đình cùng thực tập với ta, mà cách thức hay nhất là mỗi ngày ta trở nên vui vẻ hơn, tươi mát hơn và dễ thương hơn. Như vậy thì những người thân của ta mới có niềm tin vào sự thực tập. Và khi trong gia đình hay trong đoàn thể có sự hòa hợp, sự lành mạnh và tình huynh đệ thì ta có thể thực hiện được chí nguyện của mình một cách dễ dàng hơn. Không có tăng thân, không có một tập thể thì giấc mơ của ta không thể nào trở thành sự thật. Ta có thể thực tập như một cá nhân, nhưng nếu ta thực tập như một tập thể hay như một tăng thân thì sẽ hay hơn rất nhiều.

 

 

Ai cũng có thể thành Bụt?

Câu hỏi:
1. Có rất nhiều Phật tử đi chùa tụng kinh. Vậy con xin hỏi tụng kinh để làm gì?
2. Bụt nói rằng ai cũng có thể trở thành Bụt. Xin Thầy giải thích tại sao Bụt nói như vậy?

     

    Thầy trả lời:

    1. Tụng có nghĩa là ôn đọc lại. Có nhiều thứ kinh, ví dụ như sáng hôm nay chúng ta đã học kinh Quán Niệm Hơi Thở. Mỗi kinh có một chủ đề và mình tụng kinh không phải để cầu nguyện mà để nhớ lại những điều Bụt dạy mà làm theo. Đó là mục đích của sự tụng kinh. Vì vậy chúng ta đừng tụng kinh như những con vẹt. Ta đừng nghĩ là ta tụng kinh thì Bụt thích lắm, Bụt rất ưa ta tụng kinh.

    Bụt muốn ta tụng kinh và làm theo lời dạy. Tụng kinh có nghĩa là nhớ lại những lời Bụt dạy và làm theo mà không phải là để có công đức. Nếu ta không làm theo thì có tụng bao nhiêu cũng vậy thôi. Ví dụ ta thường niệm “Nam mô A Di Đà Phật” hay “Nam mô Bụt Thích Ca Mâu Ni”. Tụng và niệm hơi giống nhau. Niệm là nhớ lại, tụng cũng để nhớ lại. Nhưng mình nhớ lại như thế nào để có thể đem lại sự bình yên, đem lại khả năng hiểu và thương trong con người thì nhớ lại mới có ích lợi. Còn nếu quí vị cứ “Nam mô A Di Đà Phật, Nam mô A Di Đà Phật” hoài mà sự căng thẳng, sự giận hờn, buồn phiền trong lòng không bớt chút nào thì quí vị có lặp lại câu “Nam mô A Di Đà Phật” một triệu lần cũng không có ích lợi gì, cũng như mình nói “một, hai, ba, bốn, năm, sáu,…” vậy thôi.

    Niệm Bụt có mục đích để tiếp xúc được với Bụt. Mà Bụt là gì? Bụt là khả năng có bình an, khả năng hiểu và thương. Vì vậy mình phải niệm Bụt như thể nào để chế tác được từ từ khả năng đó trong con người của mình. Chúng ta không thể làm như một con vẹt hay như một cái máy.

    Có một câu chuyện buồn cười xảy ra trong bệnh viện tâm thần Biên Hòa. Một ông nọ có tri giác sai lầm về ông, ông nghĩ mình là một hạt bắp. Vì vậy mỗi khi thấy con gà đi ngang thì ông sợ hãi bỏ chạy. Ông nghĩ con gà sẽ tới mổ ông. Trên đời có rất nhiều tri giác sai lầm. Người ta không thù mình mà mình nghĩ là người ta thù mình. Người ta không ghét mình mà mình tưởng là người ta ghét mình. Ngưòi không muốn thủ tiêu mình mà mình tưởng là người ta muốn thủ tiêu mình. Người không muốn lợi dụng mình mà mình cứ tưởng tượng là người ta lợi dụng mình.

    Bác sĩ nói với ông bệnh nhân:

    – Anh nên biết, anh là một con người, anh không phải là một hạt bắp. Anh làm bài tập đi! Anh viết xuống câu “Tôi là một con người, tôi không phải là một hạt bắp”. Mỗi ngày anh phải viết xuống và lặp lại nhiều lần”.

    Đó là tụng niệm. Viết xuống nhiều lần là chép kinh. Đọc đi đọc lại là tụng niệm.

    Sau đó một tháng anh ta lên gặp bác sĩ, bác sĩ hỏi:

    – Anh là cái gì?

    Anh ta nói:

    – Thưa bác sĩ, tôi là một con người! Tôi không phải là một hạt bắp!

    – Giỏi lắm! Anh về đi, chiều nay chúng tôi sẽ cho anh xuất viện!

    Trưa hôm đó đi lang thang gặp một con gà, anh ta bỏ chạy làm cô ý tá chạy theo bắt lại không kịp. Bác sĩ rất thất vọng. Ông triệu tập bệnh nhân tới văn phòng hỏi:

    – Hồi sáng này anh nói rất rõ với tôi rằng anh là một con người, anh không phải là một hạt bắp. Vậy tại sao trưa hôm nay gặp con gà anh lại bỏ chạy?

    – Tôi biết rất rõ tôi là một con người chứ không phải là hạt bắp. Nhưng con gà đâu có biết, nó vẫn tưởng tôi là một hạt bắp nên tôi phải bỏ chạy thôi.

    Kiểu tụng niệm như vậy không có ích lợi gì cả vì không có tuệ giác. Vì vậy niệm Bụt A Di Đà hay niệm Bụt Thích Ca một triệu lần cũng không có ích lợi. Nếu trong mình không có sự bình an, mình không làm tăng thêm cái hiểu và cái thương, mình nhìn người kia vẫn còn hận thù, bực bội thì tụng kinh không có ích lợi.

    Như vậy có nghĩa là: không phải tụng kinh niệm Bụt không có ích lợi, nhưng tùy theo cách mà mình tụng kinh niệm Bụt. Nếu mình tụng như cái máy, như con vẹt thì không có ích lợi gì hết. Nghe chuông cũng vậy. Chúng ta ai cũng nghe chuông, nhưng có người nghe chuông thì rất khỏe còn những người khác nghe chuông như vịt nghe sấm, có nghe một ngàn tiếng cũng vậy thôi. Trong khi đó chúng ta nghe ba tiếng chuông thôi mà có rất nhiều bình an.

      2. Trong kinh nói: Người nào cũng có thể thành Bụt. Bụt là gì? Bụt là một con người nhưng có nhiều chất liệu của hiểu và thương. Hiểu là trí tuệ, thương là từ bi. Trong chúng ta ai cũng có cái hiểu và cái thương, nhưng có thể hiểu và thương của ta còn ít quá. Chúng ta hiểu mình chưa đủ, và khi chưa hiểu được mình thì làm sao mà hiểu được người khác. Chúng ta có những nỗi khổ niềm đau mà ta chưa hiểu và nhận diện được thì làm sao ta có thể hiểu được nỗi khổ niềm đau của người kia.

      Ta có cái hiểu nhưng cái hiểu đó chỉ lớn bằng hạt đậu phụng trong khi cái hiểu của đức Thế Tôn thì rất lớn. Ngài hiểu được nỗi khổ niềm đau của chính Ngài. Ngài hiểu được nỗi khổ niềm đau của con người và của muôn loại. Tại vì có hiểu và thương nhiều nên hạnh phúc cũng rất nhiều. Khả năng hiểu và thương được gọi là Phật tính. Người nào cũng có Phật tính, nhưng ta phải tu tập hàng ngày để cái hiểu và thương đó mỗi ngày mỗi lớn lên. Chúng ta phải đặt câu hỏi:”Hôm nay cái hiểu và thương của tôi có lớn hơn hôm qua chút nào không?” Nếu nó không lớn hơn là ta giẫm chân tại chỗ. Trong sự liên hệ vợ chồng ta có thể hỏi:”Này anh, anh có thấy cái hiểu và thương của em có lớn hơn ngày hôm qua không? Anh nói thật đi!”

        Là một người tu thì mỗi ngày cái hiểu và thương của mình phải lớn lên. Mình phải giúp nhau, mình có thể giúp cho người kia hiểu thêm và thương thêm. Hạnh phúc tùy thuộc vào cái hiểu và cái thương. Mình chế tác cái hiểu và cái thưong cho mình và giúp người kia chế tác cái hiểu và cái thương. Người kia có thể là con hay là bố của mình.

        Bây giờ mình cũng đã là Bụt rồi nhưng là Bụt rất nhỏ. Khi nào cái hiểu và cái thương của mình lớn thì mình mới thật sự là Bụt lớn. Mỗi người đều có khả năng làm cho cái hiểu và thương trong con người mình lớn lên. Vì vậy cho nên trong kinh nói người nào cũng có khả năng thành Bụt. Nếu có thì giờ tu thì mỗi hơi thở, mỗi bước chân có thể giúp cho cái hiểu và cái thương của mình lớn lên hơn. Và mình phải có sự tiến bộ.

        Trong chùa có truyền thống “an cư kiết hạ”. Mỗi năm các thầy, các sư cô tu chung với nhau trong vòng 90 ngày để đào sâu và làm lớn lên cái hiểu và cái thương của mình. Đến rằm tháng 7 tức ngày tự tứ thì tính sổ xem thử cái hiểu và cái thưong của mình đã lớn được chừng nào. Trong ngày lễ tự tứ một thầy quì trước một thầy khác và hai thầy đối thoại với nhau:

        – Bạch thầy, con đã có cơ hội tu với thầy trong 90 ngày. Xin thầy dạy cho con trong 90 ngày đó con có sự tiến bộ trong sự thực tập hiểu và thương hay không hay là con còn giẫm chân tại chỗ? Xin thầy nói thẳng cho con biết.

        Khi được hỏi như vậy người kia sẽ nói thật cho mình biết là mình đã tiến bộ được bao nhiêu. Đó gọi là lễ tự tứ vào ngày rằm tháng bảy. Các thầy, các sư cô, các vị Phật tử được tu 90 ngày có cơ hội trong 90 ngày để làm lớn lên cái hiểu và cái thương của mình.

        Mình đừng nên tưởng tượng Bụt là một vị thần linh. Bụt là một con người như mình, nhưng là một người có rất nhiều khả năng hiểu và thương. Vì vậy Bụt không khổ đau nhiều, có khả năng làm hạnh phúc cho rất nhiều người và giúp cho người bớt khổ đau. Có nhiều hiểu biết và từ bi thì quí vị là một người hạnh phúc và quí vị có thể giúp cho người khác bớt khổ và có nhiều niềm vui. Như vậy thì quí vị đã là một vị Bụt gọi là Phật sống.

        Ở đời có rất nhiều Phật sống, mình đừng nên coi thường. Có những người không mang danh hiệu Phật tử nhưng họ có cái hiểu và cái thương rất lớn. Ngay trong loài người đã có những vị Bụt và những vị Bồ tát, tuy họ không tự xưng mình là Bụt hay là Bồ tát. Đó là những Bồ tát đại nhân. Vì vậy trong kinh nói “ai cũng có thể thành Bụt”, có nghĩa là ai cũng có thể làm lớn lên khả năng hiểu và thương của mình để  cho mình bớt khổ và giúp cho người khác cũng bớt khổ và có niềm vui.

        Nghề nghiệp chân chính

        Làm thế nào biết được mình đang sống một đời sống có thể cống hiến được nhiều nhất cho nhân loại? Tất cả chúng ta ai cũng phải có nghề nghiệp để sinh sống nhưng làm thế nào để chọn được một nghề nghiệp có thể đồng thời giúp cho thế giới này tốt đẹp hơn?

        Thầy trả lời:

        Chúng ta hãy tưởng tượng cây tùng đang đứng ngoài kia, nó hỏi:

        – Tôi phải làm gì để giúp ích cho đời?

        Câu trả lời sẽ rất đơn giản:

        – Cây tùng ơi, em chỉ cần làm một cây tùng xanh tốt là được rồi!

        Nếu cây tùng xanh tươi, khỏe mạnh thì tất cả chúng ta đều được nhờ. Nếu cây tùng không được xanh tốt thì chúng ta cũng sẽ khổ vì nó. Do vậy công việc hữu ích nhất mà ta có thể làm là hãy làm một con người hạnh phúc. Chúng ta phải vững chãi, tươi mát và hạnh phúc. Và khi chúng ta giữ cho mình được tươi mát, vững chãi và hạnh phúc thì chúng ta cũng đồng thời đang giúp ích cho mọi người. Vì vậy vấn đề là làm sao để mình được khỏe mạnh và tươi mát. Đó là câu trả lời!

        Trong câu hỏi này còn có một ý hỏi về nghề nghiệp: Tôi cần có một nghề để sinh sống, vậy làm thế nào để chọn được một nghề mà có thể giúp cho tôi sống hòa bình với chính mình và với thế giới? Câu hỏi này liên quan đến sự thực tập chánh mạng.

        Chúng ta ai cũng cần có một nghề nghiệp để sinh sống, nhưng có nhiều nghề giúp cho mình làm phát khởi được niềm vui và lòng từ bi. Chúng ta nên chọn một nghề có thể giúp mình trở nên từ bi hơn, hạnh phúc hơn, cho dù mình có nhận được lương tiền ít hơn đi nữa. Nếu may mắn thì mình sẽ tìm được một nghề giúp cho mình thể hiện được lòng từ bi đối với mọi người và mọi loài trong đó có các loài cỏ cây, cầm thú và đất đá. Nếu không được như thế thì chúng ta có thể tiếp tục hành nghề mà mình đang có, nhưng vẫn giữ tâm nguyện là khi điều kiện cho phép mình có được một nghề tốt hơn, một nghề cho mình cơ hội làm phát khởi được niềm vui và lòng từ bi thì mình sẽ đổi nghề ngay, cho dù là lương tiền sẽ ít hơn. Tuy kiếm được ít tiền hơn nhưng mình có hạnh phúc nhiều hơn.