Thầy tôi – Thầy em

Anh Chân Cơ là một trong những vị đầu tiên được Sư Ông Làng Mai truyền giới Tiếp Hiện ở Tây phương vào năm 1986. Anh được truyền đăng vào năm 1990 và hiện đang là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Làng Cây Phong ở Montreal, Canada.

Trong mỗi đời người, chúng ta có thể có rất nhiều thầy. Nhưng vị thầy có khả năng chỉ lối đưa đường cho ta trong cuộc đời có lẽ là vị thầy quan trọng nhất. Ta có thể chọn một đức Bụt làm một vị thầy như thế, nhưng ta thật may mắn nếu gặp được vị thầy sống cùng thời và có cơ duyên học hỏi trực tiếp. Có rất nhiều người, dù đã cố tâm tìm kiếm trong suốt cuộc đời cũng không gặp được một vị thầy để nương theo. Tôi đã có phước duyên hơn, gặp được Thầy tôi. Cuộc đời của tôi có hướng đi tốt đẹp hơn từ đó. Tôi mong em cũng sẽ gặp được một vị thầy như vậy cho em. Và nếu em đã hoặc sẽ chọn Thầy tôi làm Thầy của em, tôi xin chân thành chia sẻ những câu chuyện sau đây với em, như đang kể chuyện cho người trong một nhà.

Ðã bao nhiêu năm, tôi vẫn thường nghĩ rằng những kỷ niệm của tôi có về Thầy tôi là những kỷ niệm riêng tư. Bây giờ, tôi biết rất rõ là những câu chuyện tôi kể ra đây cũng sẽ là những kỷ niệm của em vì Thầy tôi cũng đã, đang và sẽ là Thầy của rất nhiều người, trong đó có em, một người sinh sau tôi một hay hai thế hệ và có thể chưa từng được đối diện với Thầy Làng Mai. Mong rằng những câu chuyện của tôi sẽ giúp em hiểu và biết thêm chút ít về vị Thầy của chúng ta trong những thập niên đầu khi Thầy khởi công hoằng pháp. Tại Canada, ngoài tôi ra, còn có rất nhiều các bác và anh chị khác được đến tu học với Thầy trong những năm tháng đó như bác Chân Hội, anh Chân Văn, chị Chân Huyền, anh Chân Giác, chị Chân Thanh, v.v. Hy vọng các bác và các anh chị đó cũng sẽ có thời gian chia sẻ, kể chuyện cho em nghe.

Năm 1985, Thầy tôi đến Canada hướng dẫn khóa tu đầu tiên ngoài Làng Hồng, Pháp quốc. Làng Hồng về sau đổi tên là Làng Mai khi vài trăm cây mai được trồng để gây quỹ giúp trẻ em mồ côi. Làng Mai nước Pháp hình thành vào năm 1982 thì ba năm sau anh chị Chân Văn và Chân Huyền đã mời được Thầy sang Canada, hướng dẫn cho chúng tôi trong một khóa tu tổ chức tại Camp Les Sommets, Katevale, Québec. Khóa tu đầu tiên đó được các anh chị đặt tên là Trại Thiền Phong Tùng. Sau khóa tu, Thầy đã gợi ý thành lập một nơi mà chúng tôi có thể trở về tu học thường xuyên. Thầy cũng đã đề nghị đặt tên cho trung tâm tu học này là Làng Cây Phong. Làng Cây Phong được thành hình từ năm ấy.

Bước thiền hành đầu tiên

Lúc đó vào khoảng tháng 9 năm 1985. Sáng ấy, tôi dậy rất sớm. Được giao phó làm thị giả, tôi có phận sự pha trà và chuẩn bị trà nước hầu Thầy vào lúc sáu giờ sáng. Sau khi lặng lẽ thưởng thức chén trà nóng buổi sớm mai, Thầy quay lại bảo tôi: “Mình ra ngoài thiền hành một chút nghe”. Tôi liền ‘dạ’ mà trong bụng thật sự chẳng biết thế nào là thiền hành. Thế là thầy đi trước, trò theo sau, tôi đi sau Thầy khoảng chừng mươi bước, tôi đặt những bước thiền hành đầu tiên trong đời. Thầy bước chân trái, tôi bước theo chân trái, Thầy bước chân phải, tôi bước theo chân phải. Không gian, đồi núi tĩnh lặng, sương sớm phủ giăng trên con đường dốc, những tiếng đá sỏi sột soạt dưới chân cũng không làm cho tâm tôi xao lãng, tôi muốn học cho kỹ càng phép thiền hành. Bài học thân giáo, tôi nhớ mãi từ ngày ấy. Về sau, qua những năm tháng thực tập thiền hành, tôi mới thực sự hiểu thêm, biết rõ hơn và cảm nhận được diệu dụng của pháp môn này. Kỷ niệm và bài học ngày hôm ấy tôi nhớ hoài không quên. Ví như hôm nay, có dịp mời em thực tập thiền hành, tôi cũng có thể sẽ dặn dò và hướng dẫn em làm sao thiền hành trong vòng ít nhất là năm mười phút, nếu không nhớ đến bài học năm xưa: “Học bài cho thuộc rồi cũng sẽ quên, kỷ niệm sống, không có ý học, lại nhớ luôn”.

Có lẽ tôi là một trong những người thị giả cư sĩ đầu tiên của Thầy ngoài nước Pháp. Thời ấy, Thầy chưa có đệ tử xuất gia. Sư cô Chân Không lúc ấy cũng còn là một đệ tử tại gia, cô có một mái tóc dài và rất đẹp. Nhưng nét đẹp nhất của sư cô, ngay khi còn là cư sĩ tại gia, chính là lòng thương rộng lớn, luôn nghĩ đến và hành động giúp những người thiếu thốn. Chúng Tiếp Hiện năm ấy chỉ vào khoảng 20 người. Sang năm 1986, sáu anh chị em chúng tôi tại Canada là những người đầu tiên gia nhập dòng tu Tiếp Hiện ngoài Việt Nam và xứ Pháp: Chân Hội, Chân Văn, Chân Huyền, Chân Thanh, Chân Giác và Chân Cơ. Câu chuyện thọ giới Tiếp Hiện của chúng tôi cũng là một câu chuyện rất nhiều thiền vị mà có dịp tôi sẽ kể lại cho em nghe.

Thị giả Sony

Ngày đó, lúc nào làm thị giả ở bên Thầy tôi cũng mang theo một cái máy thu âm hiệu Sony. Ngoài việc thu âm những bài pháp thoại chính thức, tôi còn thu âm luôn tất cả những câu chuyện Thầy kể cho nghe hoặc những mẫu chuyện trao đổi hàng ngày giữa thầy và các trò. Tôi còn nhớ năm ấy, tôi sắm được một cái máy Sony có hiệu năng ngưng thâu và khởi thâu băng một cách tự động. Trên máy có một chấm đèn đỏ làm hiệu. Khi có tiếng động thì máy bắt đầu thâu và đèn đỏ lên, rồi khi có một thời gian im lặng thì máy ngưng thâu và đèn đỏ tắt đi. Chỉ như vậy thôi mà có một lần hai thầy trò để ra gần mười phút để vui chơi với cái hiệu năng đó. Thầy thử lên tiếng hoặc tôi thử làm tiếng động, để xem khi nào máy chạy hay máy ngưng. Thầy trò vui cười với nhau chỉ trong vài phút vậy mà cái hạnh phúc ấy vẫn nuôi dưỡng tôi mỗi khi nhớ lại. Về sau, Sư cô Chân Không đã đặt cho tôi cái biệt hiệu là thị giả Sony.

Xin kể cho em nghe tại sao tôi thích mang theo máy thu âm để trở thành thị giả Sony nhé. Trước khi được theo tu học với Thầy Làng Mai năm 1985, tôi đã từng đọc những quyển sách của Thầy viết ra thời ấy như Bông hồng cài áo, Nói với tuổi hai mươi, Nẻo vcủa ýTrái tim mặt trời. Tôi cũng đã từng tìm kiếm và đọc nhiều sách về đạo Bụt, ví dụ như cuốn Ðức Phật và Phật pháp của ngài Narada, cuốn Tinh hoa và sphát triển của đạo Phật hoặc những cuốn về thiền học như bộ Thiền luận của ngài Suzuki Daisetsu Teitarō. Tuy vậy, bây giờ nghĩ lại, những hiểu biết của tôi ngày ấy về đạo Bụt, về thiền tập thật thô thiển và lờ mờ. Ðến khi được nghe Thầy giảng về Ba squay vnương tựa trong bài pháp thoại đầu tiên, tôi mới nhận ra được một đạo Bụt thật giản dị, dễ hiểu và gần gũi. Có lẽ chính nhận thức đó đã cho tôi linh tính và nhận biết những giây phút bên Thầy rất quý giá, nhất là trong những câu nói thường ngày đã làm tôi bừng tỉnh của Thầy. Cho nên, khi nào ở bên Thầy tôi cũng có cái máy thu âm Sony để thâu cả những câu chuyện bình thường hàng ngày. Về sau, nhắc lại chuyện này, lúc nào Thầy cũng cười với niềm trìu mến.

Hai Hòn Ðá Lửa

Tháng 6 năm 1986, trong buổi gặp mặt trước khi vào khóa tu tại Montréal, để giúp chúng tôi hiểu hơn về đạo Bụt, và để khuyến khích sáu anh chị em chúng tôi gia nhập dòng tu Tiếp Hiện, Thầy đưa ra hình ảnh của hai hòn đá lửa. Một hòn đá tượng trưng cho giáo lý trong đạo Bụt, và một hòn đá tượng trưng cho những vấn đề hiện hữu trong xã hội. Thầy nói rằng giáo lý của đạo Bụt chỉ có sức sống và phát hiện khi chúng ta đưa hai hòn đá lửa chạm vào nhau. Sự va chạm này làm xẹt ra những tia lửa; và chính những tia lửa này mới là những giác ngộ quý giá của đạo Bụt. Thầy có đưa ra một vài ví dụ cho những vấn đề xã hội đương thời như: vấn đề người mẹ mang thai hộ người khác (surrogate mother), vấn đề giúp người sắp chết (euthanasia), vấn đề của những người đồng tính (gays and lesbians), vấn đề môi trường sinh thái trên trái đất (environment) v.v. Vào thời điểm đó, một người trẻ như tôi chưa hề biết đến một đạo Bụt có liên quan đến những vấn đề xã hội như vậy. Tôi đã thoáng nghiệm ra có một hướng đi của đạo Bụt rất nhập thế, một đạo Bụt thực sự áp dụng vào đời sống hàng ngày, một đạo Bụt thể hiện ngay trong những vấn đề rất tiên tiến và hiện đại. Cùng lúc, tôi cũng thoáng nhận ra rằng: Thầy tôi không chỉ là một vị thầy của người Việt Nam mà sẽ là một vị thầy chung, luôn cả cho xã hội Tây phương.

Bài học và hình ảnh của hai hòn đá lửa tôi mang mãi trong mình từ dạo ấy. Mỗi khi tôi có cảm tưởng mình hiểu biết thêm về giáo lý, tôi lại tự hỏi: với sự hiểu biết đó và với những vấn đề đương thời trong xã hội hay cuộc sống, tôi có làm xẹt ra những ánh lửa soi sáng nào không? Và mỗi khi có một vấn đề nan giải trong xã hội, tôi cũng tự hỏi: với bao nhiêu năm tu học, thiền tập,… những công phu đó có giúp tôi soi sáng được chút nào trong vấn đề đó hay chưa?

Ngày nay, xã hội hiện đại chúng ta đã có thêm những vấn đề mới như khủng bố, hiện tượng hâm nóng toàn cầu, thức ăn sạch (organic food), thức ăn, thức uống nhiễm độc tố, ảnh hưởng của hệ thống truyền thông đại chúng, v.v. Hơn bao giờ hết, bài học về hai hòn đá lửa của Thầy tôi lại trở về giúp tôi phương thức soi sáng, nhìn rõ vấn đề. Hiện nay, Thầy tôi vẫn chưa nói lại được bình thường sau lần đột quỵ cách đây hai năm, nhưng trong hơn 30 năm qua, Thầy tôi đã nuôi nấng, chỉ dạy và hướng dẫn cho hàng vạn người trên thế giới. Em có vấn đề nan giải của em? Em muốn tìm hiểu thêm về vấn đề nan giải của xã hội? Giờ đây, Làng Mai đã có rất nhiều vị xuất sĩ có khả năng và đức độ ở khắp nơi, em có thể nương tựa vào một tăng thân đang đi theo con đường Hiểu và Thương của Thầy để tìm ra hướng đi. Em hãy mang hình ảnh của hai hòn đá lửa vào trong lòng. Sự tu tập với Tăng thân sẽ giúp em khám phá ra được đường về.

Em còn nhớ hay em đã quên

Em còn nhớ hay em đã quên là tựa một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Bài hát nói về lòng ray rứt của nhạc sĩ khi tưởng nhớ về quá khứ. Tôi rất thích những ca từ của nhạc sĩ TCS, nhưng từ ngày được Thầy hướng dẫn, tôi đã phân biệt được đâu là những nẻo đường đưa về thương đau và đâu là những nẻo đường đưa về hạnh phúc. Thầy đã chỉ dạy cho tôi về chuyện nhớ – quên ngay từ những khóa tu đầu tiên ấy.

Nếu em có dịp về Làng Mai – Pháp và có cơ hội được mời vào trong cốc Ngồi Yên của Thầy, có thể em sẽ còn được thấy một bảng số xe của bang Québec treo trên vách. Trên bảng số, có một câu rất ngắn bằng tiếng Pháp “Je me souviens”. Có thể dịch câu này ra là “Tôi vẫn nhớ” hay “Em vẫn nhớ”. Giai thoại về câu này đã được Thầy kể lại trong cuốn sách An lạc từng bước chân. Tôi xin kể thêm ra đây vì tôi chính là “người bạn” lái xe cho Thầy hôm ấy.

Tôi nhớ rất rõ ngày hôm ấy, khi đang lái xe để đưa Thầy đến địa điểm khóa tu, Thầy bỗng hỏi: “Trên bảng số xe phía trước, có một dòng chữ Je me souviens, anh có biết họ muốn nói gì không?”. Sau khi nghe tôi trả lời, Thầy lại nói tiếp: “Tôi có một món quà cho anh và cho quý vị đang sống ở Québec: mỗi khi lái xe và mỗi khi nhìn thấy câu  Je me souviens trên bảng số xe phía trước, là mình có thể nhớ và trở về với hơi thở chánh niệm”. Tôi lấy làm sung sướng và từ ngày ấy tôi thực tập hơi thở chánh niệm với nhiều hiệu quả. Vài tháng sau, khi về Làng Mai tu học, dù không có những bảng số xe của bang Québec trước mặt, tôi cũng đã thực tập rất tinh chuyên với các đèn nháy xi-nhan sau các xe. Và tôi đã làm ra được một bài kệ đầu tiên cho việc thực tập của mình: “Kệ kẹt xe”

“Mắt Bụt sáng lên rồi

Tâm ý hiện màu tươi

Cho chánh niệm rạng rỡ

Tôi cười, đèn cũng cười.”

Khi trở về Canada, tôi có viết thư tâm sự với Thầy là tôi đã thấy Bụt nháy mắt và cười với tôi mỗi khi tôi nhớ lại và trở về với hơi thở chánh niệm. Em còn nhớ đến hơi thở chánh niệm là em có Bụt bên em; nếu em quên hơi thở chánh niệm thì em sẽ có khuynh hướng đi về những nẻo tối tăm.

Con đang nuôi Thầy

Khóa tu đầu tiên ở Làng Cây Phong, trong một bài pháp thoại Thầy giảng về đề tài: “nuôi cây, con nuôi mẹ”. Khái niệm Tương tức – Tương nhập đã được Thầy giảng giải rất cụ thể với những hình ảnh và ví dụ thật dễ hiểu. Ngay những năm ấy, sức khoẻ của Thầy đã không được tốt. Hồi đó tôi đã nhận thức rất rõ là thời gian được ở bên Thầy và được Thầy chỉ dẫn thật quý. Vì là thị giả nên tôi không thể hoàn toàn tham gia các sinh hoạt. Sau khi mọi người dùng cơm trưa gần xong tôi mới bắt đầu ăn trưa. Ngay lúc ấy, Thầy đi lại bên tôi và hỏi: “Bây giờ anh mới ăn trưa?”, tôi bèn trả lời: “Dạ, con đang nuôi Thầy”. Thầy mỉm cười, có vẻ vui lòng với câu trả lời của tôi. Về sau trong một chuyến về Việt Nam, Thầy có kể lại chuyện này cho đại chúng ở quê hương, lâu lâu lại có vài người bạn quen biết với tôi nhắc lại; nói rằng qua chuyện này thì họ nhớ đến pháp hiệu Chân Cơ của tôi.

Giờ đây, khi em có dịp về tu học tại bất cứ một trung tâm nào, dù là Làng Mai Pháp, Làng Mai Thái, các Viện Phật học Ứng dụng hoặc các tu viện Bích Nham, Mộc Lan hay Vườn Nai bên Mỹ, em cũng sẽ nhận ra bóng dáng Thầy rất rõ rệt trong rất nhiều người. Có thể nói quý thầy và quý sư cô đang tu học và “nuôi Thầy” của chúng ta một cách chuyên cần và tinh tiến. Tại những trung tâm đó, em cũng có thể nhận ra được bóng dáng Thầy khi nhìn vào cách đi, đứng, nằm, ngồi của các anh chị trong dòng Tiếp Hiện. Cái bóng dáng của Thầy đó là gì? Ðó là bóng dáng của sự thảnh thơi, thong dong của một người Vô sự. Ðó là bóng dáng của sự tĩnh lặng, an bình trong sinh hoạt hàng ngày. Ðó là bóng dáng của một người biết lắng nghe để hiểu thương sâu.

Cuối trời mây trắng bay

Năm 1986, khi Thầy trở lại hướng dẫn khóa tu lần thứ hai tại Montréal, Canada, tôi được giao cho trách nhiệm đưa Thầy đến giảng pháp tại Montréal Zen Center, một thiền viện theo truyền thống Nhật Bản. Có thêm chị Chân Thanh theo tháp tùng. Thiền viện này do thiền sư Albert Low điều hành. Thiền sư Albert Low theo học thiền sư Philip Kapleau bên Mỹ, tác giả của cuốn sách Ba trụ thiền (The three pilars of Zen) trong 20 năm. Về sau, Thiền sư Low được giao nhiệm vụ trông nom thiền viện Montréal Zen Center. Chính thiền sư Low cũng là người dịch cuốn sách Nẻo vào thiền học của Thầy từ tiếng Pháp sang tiếng Anh (Zen keys).

Hôm ấy, chị Chân Thanh và tôi cảm thấy rất hứng khởi. Thầy của mình được mời đến giảng như một thượng khách và chúng tôi được theo tháp tùng. Buổi giảng có khoảng 30 người tham dự nhưng không khí trang trọng đúng theo truyền thống trong các thiền viện Nhật. Trước buổi giảng, Thầy đã niệm và dâng hương bằng tiếng Việt. Tôi không nhớ Thầy đã giảng những gì, nhưng điều tôi nhớ nhất là ngay sau pháp thoại, một cơn mưa lớn đổ xuống và chúng tôi đã ngồi nghe mưa trong vòng nhiều phút. Sau buổi pháp thoại, chị Chân Thanh và tôi, mỗi người một cây dù, đưa Thầy đi bộ ra bờ sông Rivière des Prairies, mạn bắc của sông Saint-Laurent. Chúng tôi đã đứng với dù để ngắm trời mây và dòng sông chảy xiết. Ðối với tôi, thời gian lúc ấy như ngừng lại. Ðó cũng chính là hình ảnh tôi thường thấy trong những giấc mơ của tôi. Trong giấc mơ, tôi hay được đi bên một vị thầy, che dù cho thầy trong mưa tuyết lất phất.

Cũng vào năm ấy, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo có ra một tuyển tập nhạc thiền đặt tên Tịnh tâm khúc. Trong tuyển tập này, có một bài tôi rất thích, đó là bài Cuối trời mây trắng bay. Sau này, mỗi lần được nghe lại bài này, tôi lại nhớ đến ngày hôm đó; thầy trò chúng tôi đã cùng yên lặng, ngắm trời mây, nghe sông vỗ sóng:

...

Đôi bờ im nghe

Sông vùi tiếng sóng

mộng gối vô thường

Sông mở tim ra, trăng già bát ngát

rủ nhau tan giữa biển xa

sông như bầu trời

quên mây trắng bay

Trong những khóa tu sau đó, Thầy đã dùng hình ảnh của một dòng sông trong bài nhạc này để giáo hoá. Bắt đầu dòng sông chỉ ham vui chơi, chạy đuổi theo mây trắng trên bầu trời. Khi mây trắng bay mất ở cuối bầu trời, trong sự yên lặng trống vắng, dòng sông đã mở được lòng mình ra để trời xanh hiện rõ và để bóng trăng già hiện rõ trong lòng sông. Từ lúc ấy, sông và trăng “rủ nhau tan giữa biển xa”…

Lời Tạm Biệt

Những câu chuyện như trên về Thầy tôi, tôi vẫn còn nhiều nữa; nhưng phải hẹn em sau. Em cũng biết sau này Thầy đã có rất nhiều học trò tại gia cũng như xuất gia, mỗi vị đều có thể kể cho em nghe những mẫu chuyện còn thú vị hơn. Riêng tôi, tôi chỉ có thể chia sẻ với em rằng: khi chúng ta được sống gần Thầy, một người có chánh niệm, giây phút nào cũng có thể tạo ra hạnh phúc lâu dài, con đường nào cũng có thể trở thành con đường huyền thoại. Thầy tôi đã là một vị thầy như thế, Thầy em cũng sẽ là một vị thầy như thế.

Chân Cơ

Khi chết, ta sẽ đi về đâu?

Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm.

Không phải chỉ khi nào xác thân ta tan hoại và những tác dụng tâm lý của ta không còn biểu hiện nữa thì ta mới về với đất Mẹ. Sự thật là ta đang về với đất Mẹ trong từng giây từng phút. Mỗi khi thở, mỗi khi bước đi là chúng ta đang trở về. Khi chúng ta gãi, những tế bào khô rớt xuống đất là ta đã trở về đất Mẹ. Luôn luôn có những cái cho vào và cho ra (input và output) đang xảy ra, vì vậy chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ sau khi xác thân tan hoại rồi ta mới trở về. Chúng ta đang trở về và trở ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày.

Con người tự hào mình là những chiến sĩ dũng cảm, nhưng trái đất mới là một chiến sĩ dũng cảm đã trải qua 4 tỷ năm kiên nhẫn, hào hùng chờ đợi cho tới khi sự sống phát hiện. Nói về tình thương, chúng ta thấy đất Mẹ đã cho ra đời không biết bao nhiêu chủng loại và đã tìm cách để nuôi dưỡng các chủng loại đó. Đất Mẹ cho ta ra đời, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống, thực phẩm để ăn, cho ta cây cỏ để trị liệu, tình thương đó là một tình thương rất lớn. Ta có thể nhận diện hành tinh của ta  là một bà mẹ. Đất Mẹ luôn luôn có đó và đón ta trở về với hai bàn tay từ mẫu, để rồi sẽ đưa chúng ta ra đời trở lại. Chúng ta có một bà mẹ tuyệt vời và xinh đẹp như vậy mà không biết trân quý, chúng ta đi tìm một bà mẹ khác trong đầu óc tưởng tượng của chúng ta.

Đất Mẹ đã đưa chúng ta ra đời một lần, khi chúng ta trở về, đất Mẹ sẽ đưa hai tay ra ôm lấy và sẽ đưa chúng ta ra đời muôn vạn lần khác. Không có gì mà ta phải lo sợ.

 (Trích từ tác phẩm “Tâm tình với đất Mẹ” của Sư Ông Làng Mai – TS Thích Nhất Hạnh)

Tại sao chúng ta lại ở đây?

(BBT chuyển ngữ từ bài viết “Why are we here?” của tác giả Leslie Davis)

Cậu con trai tuổi teen của tôi đang thấy chán. Rất chán. Chúng tôi mới tới tu viện Lộc Uyển ngày hôm qua để tham dự khóa tu chánh niệm một tuần dành cho gia đình, mà con tôi đã thấy chán quá và phàn nàn suốt.

Con trai tôi cứ hỏi: “Tại sao mình lại ở đây?”

Tôi trả lời theo nghĩa đen của câu hỏi vì con tôi hỏi theo nghĩa đen, nó đâu có đi tìm một giải đáp tâm linh nào đâu. “Năm nào vào thời điểm này chúng ta cũng đến đây, đó là chuyện thường mà con ”, tôi nói.

Không nao núng, vài phút sau con tôi lại hỏi một cách bực bội: “Tại sao mình lại ở đây?”

“Ba con được nghỉ làm tuần này nên đây là một dịp thuận tiện để đến đây”, tôi nói mà trong lòng thì biết rõ những lý do này sẽ không thuyết phục được con tôi.

Con trai tôi đã đến đây rất nhiều lần từ khi còn nhỏ. Thằng bé đã từng rất thích nơi đây. Bây giờ đến tuổi teen thì nó ít thích hơn, nhưng thường thì sau vài ngày là nó hòa nhịp được.

Tôi đến với khóa tu trong một trạng thái kiệt sức, hết “xí quách”. Tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi. Năng lượng của tôi đang xuống thấp. Tôi chỉ muốn được ở ẩn, được thu mình trong phòng và ngủ. Tôi muốn có thời giờ chăm sóc bản thân, quay vào bên trong và có mặt cho tự thân, chứ không phải cho con trai tôi. Tâm trạng của thằng bé thực sự đang thử thách tôi.

Tôi đi chầm chậm quanh khuôn viên tu viện với con trai và tự ép mình phải lắng nghe những lời phàn nàn của con. Tôi nghe nó nói về những trò chơi điện tử, không phải theo cách chia sẻ vui vẻ mà theo kiểu phàn nàn, bực bội. Sự khó chịu của nó cũng dễ hiểu thôi. Nó không vui vì không thể vào mạng Internet trong một tuần. Quả thật để có mặt cho con trai lúc này là một việc không dễ, tôi gần như không còn đủ năng lượng. Tôi muốn bỏ chạy, muốn đi trốn để lo cho những cảm xúc mong manh của riêng mình.

“Mẹ có thể nói lại một lần nữa là tại sao mình lại ở đây không?”, con trai tôi hỏi lần nữa với vẻ thất vọng.

“Mình ở đây để học cách chăm sóc cho những cảm xúc của mình”, tôi đáp.

“Chán nản có phải là một cảm xúc không? Tại vì con đang rất rất chán đây”, nó rên rỉ.

“Phải”, tôi nói, “chán nản là một cảm xúc”. Tôi tự nhắc mình rằng con trai tôi đang bị đưa ra khỏi môi trường quen thuộc, rằng nó cần thời gian để điều chỉnh và thích nghi. Tôi lại thở một hơi thật sâu nữa. Hơi thở không đi vào một cách tự nhiên. Tôi phải tự nhắc mình thở vào và ra thật chậm. Dù rằng chúng tôi đang ở một trung tâm thiền tập, bao quanh bởi hàng mấy hec-ta đất rộng rãi đẹp đẽ nhưng tôi vẫn bị bế tắc trong những cảm xúc phiền muộn nặng nề của mình và chưa tìm thấy phương cách để vượt qua.

Chúng tôi tiếp tục đi dạo. Giờ đây chúng tôi đang đi trên con đường đất dẫn lên núi, hướng về phía ngôi tháp nhỏ và điểm dừng để ngắm toàn cảnh. Con tôi thích lên đây, một không gian rộng mở khiến cho ta có cảm giác mênh mông, không giới hạn. Chúng tôi từ từ leo lên cao trong khi con trai tôi vẫn tiếp tục càm ràm và tôi cố gắng lắng nghe. Thật là quá mất năng lượng; cái đầu tôi tiếp tục lang thang. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng tâm trí tôi luôn quay về với những phàn nàn của riêng tôi.  Tôi cũng đang làm y hệt con trai tôi, có điều là không thành tiếng, chỉ ở trong đầu tôi thôi. Cái tiếng nói trong đầu tôi toàn là những lời phàn nàn. Tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt, thật khốn khổ. Tôi không muốn ở đây. Tôi muốn đi về nhà. Tôi không muốn làm một người mẹ dễ thương, tốt bụng vào lúc này.

Cả hai mẹ con tôi đều không muốn ở đây. Chúng tôi đều đang vật lộn một cách khó khăn để có thể có mặt trong giây phút hiện tại, bởi vì giây phút hiện tại của chúng tôi tràn ngập những cảm xúc tiêu cực. Tôi nhận ra rằng cả hai mẹ con đều cần được chăm sóc. Con tôi cần sự yểm trợ và tôi cũng cần sự yểm trợ. Con tôi cần trút ra sự thất vọng của mình và tôi cũng vậy. Tôi không cần bỏ chạy khỏi con mình để lo cho những cảm xúc của riêng tôi. Đây không phải là tình cảnh mà tôi có thể lựa chọn hoặc bên này hoặc bên kia. Chúng tôi đang trong cùng một tình trạng.

Tôi nói, “Mẹ không chán, nhưng mẹ cũng đang có những cảm xúc”.

Con tôi không hiểu ý tôi nhưng dù sao cũng hay là tôi đã nói ra được. Tôi kể với con rằng tôi vừa phải trải qua những chuyện rất khó khăn ở nơi làm việc và tôi thấy trong tôi có rất nhiều cảm xúc mạnh, rằng tôi không cảm thấy ổn lắm.

“Mặc dù trông mẹ có vẻ ổn, nhưng bên trong mẹ thấy khổ sở lắm”, tôi nói, “Mẹ thực sự phải cố gắng lắm để giữ bình tĩnh và chú ý đến những gì con nói”.

“Thật hả mẹ?”, con tôi hỏi.

Phơi bày những cảm xúc mạnh và khó chịu trong lòng mình, tôi đã mở ra một cánh cửa và làm cho con trai tôi dịu lại.

Tôi tiếp tục chia sẻ một cách dè dặt. Tôi nói với con rằng chúng tôi ở đây là để học cách làm thế nào có thể trụ được những khi có cảm xúc mạnh mà không bỏ chạy hoặc giả vờ là cảm xúc đó không tồn tại. Tôi nói rằng tôi muốn yểm trợ nó và tôi cũng cần được yểm trợ. Chỉ cần có mặt cùng nhau thôi là chúng tôi có thể yểm trợ cho nhau rồi, dù cả hai đều đang trong tâm trạng nặng nề và khổ sở. Con tôi phá lên cười và tôi cảm thấy nó mềm ra thêm được một chút. Chúng tôi đi dạo quanh và tung vài hòn đá nhỏ. Hai mẹ con leo lên một bờ đá lớn và nhìn ra phong cảnh xung quanh. Chúng tôi không nói gì nhiều.

Tâm chúng ta như một cái vòng lặp (a loop) và thỉnh thoảng ta bị lạc lối trong đường vòng đó. Ta có cảm giác đường đi như vô tận, không có lối ra. Nhờ chú tâm và chậm lại nên tôi có thể nhận ra rằng mình đang bị tắc trong vòng lặp của tâm thức. Nhờ tôi đi rất chậm với con và gắng tập trung vào hơi thở, nên đã xuất hiện một thay đổi nhỏ trong cách nhìn của tôi.

Khi chú tâm theo dõi được hoạt động của thân và tâm, tôi có thể tiếp cận với tuệ giác của thiền tập. Thỉnh thoảng tôi chỉ dừng cử động thân thể, chỉ cần đứng lại hoặc ngồi xuống cũng giúp được tôi rồi, bởi vì nếu tôi dừng được cử động của cơ thể thì tâm tôi cũng theo sự hướng dẫn đó mà chậm lại. Nếu tôi không thể dừng được chuyển động thì tôi có thể chỉ cần dừng nói, và như thế não của tôi có một cơ hội để nghỉ ngơi và phục hồi.

Có mặt cho một đứa trẻ trong khi bạn không muốn là một trong những thử thách lớn nhất cho các bậc cha mẹ. Và đó là một điều rất quen thuộc đối với hầu hết chúng ta, bởi vì nó xảy ra vô số lần trong một ngày. Có mặt đó, ngay tại đó, thực sự có mặt trong giây phút hiện tại – đó là một điều cần năng lượng và sự chú tâm rất lớn.

Trở lại với câu hỏi “Tại sao chúng ta ở đây?”. Tại sao ta ĐANG ở đây? Đó là một câu hỏi lớn. Dù bạn có ở đâu thì bạn cũng có thể tự hỏi: “Tại sao tôi lại ở đây?”. Hãy quan sát xem điều gì đi lên trong bạn. Hãy xem bạn có thể cam kết có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại ở ngay nơi mà bạn đang ở không.

Không có gì đặc biệt đáng chú ý trong cuộc nói chuyện giữa tôi với con trai. Đó là một kinh nghiệm rất bình thường. Cả hai chúng tôi đã phải khập khiễng đi qua và cảm nhận sự khó chịu của mình. Nhưng sự kiện chúng tôi có ý thức về những cảm xúc của mình, có thể gọi tên chúng để nói lời chào với cảm xúc chán nản và khó chịu đã giúp cả hai chúng tôi đi qua được bờ bên kia. Điều đặc biệt xảy ra khi chúng ta soi chiếu ánh sáng vào những trải nghiệm của chính mình và thấy được sự chuyển hóa mầu nhiệm.

Ngày hôm sau, chủ đề của buổi pháp thoại là “Tại sao bạn lại ở đây?” (!!!!). Khi tôi nghe thấy câu ấy, hàm tôi trễ xuống và tôi cười phá lên trong thiền đường. Sau cuộc nói chuyện với con trai tôi ngày hôm trước, tôi không thể không cười vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này. Thầy Pháp Hải đã hỏi những người tham gia khóa tu câu hỏi “Tại sao bạn lại ở đây?”. Làm sao thầy biết được? Có phải thầy đã đi theo chúng tôi? Nghe lén chúng tôi? Và con trai tôi đâu rồi? Nó không có mặt trong thiền đường. Vậy thông điệp này hẳn là dành riêng cho tôi.

Thầy Pháp Hải chia sẻ rằng chúng ta đi qua cuộc đời mà thường xuyên không nhận ra chúng ta đang ở đâu. Thân và tâm chúng ta thường bị tách rời, thân một nơi và tâm một nơi, nên chúng ta chỉ đi qua những chuyển động của cuộc sống mà không có mặt thực sự. Thầy khuyến khích tất cả chúng tôi có mặt trong giây phút hiện tại trong suốt khóa tu. Thầy nói: “Hãy chọn có mặt ở đây”. Vâng, chọn để có mặt ở đây. Hãy đưa ra sự chọn lựa và chọn có mặt ở bất cứ nơi nào mà bạn đang ở đó. Đó là lựa chọn của bạn, cho nên bạn có thể chọn để có mặt. Chỉ là như vậy. Điều này nghe thật giản đơn nhưng không phải lúc nào cũng làm được dễ dàng. Sự thực tập chánh niệm thường xuyên cho bạn nguồn lực để làm nên những thay đổi này. Dù cho bạn đang thực tập thiền hay yoga, sự thực tập thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày sẽ là nền tảng để bạn có thể neo vào hơi thở, để phản ứng một cách định tĩnh, và lựa chọn để có mặt đó, cho bản thân và cho người khác, đôi khi là đồng thời cho cả hai.

Con trai tôi không còn hỏi tại sao chúng tôi lại ở đó nữa, nhưng tôi đã có sẵn câu trả lời cho nó rồi: Tại sao chúng ta lại ở đây? Bởi vì chúng ta chọn có mặt ở đây.

Leslie Davis

Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần II

(Trích Pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh ngày 10.03.2005 tại Trung tâm văn hóa Liễu Quán, Huế)

https://www.youtube.com/watch?v=F4hue0yC7Jk&list=PLMG8i-w8rYWm-hwFeM-HD9YE02FNqLty2&index=8

Tuệ giác của đạo Phật

Khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy rằng giáo lý của đạo Phật đã đi đôi một cách tuyệt hảo với truyền thống thờ cúng tổ tiên. Truyền thống thờ cúng tổ tiên đã có mặt tại đất nước này trước khi Phật giáo được du nhập, nghĩa là trên hai ngàn năm. Vào đầu thế kỷ thứ ba của kỷ nguyên Tây lịch, chúng ta có được một vị thiền sư lỗi lạc là thiền sư Tăng Hội.

Thiền sư Tăng Hội hành đạo ở Luy Lâu cho đến giữa thế kỷ thứ ba mới rời Giao Châu để đi qua Trung Quốc, ba trăm năm trước khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc. Vì vậy ở Việt Nam, nếu chúng ta biết lịch sử thì thay vì thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma trong các thiền viện, ta phải thờ tổ Tăng Hội, tại vì tổ Tăng Hội chính là người sáng lập thiền tông Việt Nam, tổ cũng chính là người đã đem thiền sang truyền dạy bên Trung quốc và tổ Tăng Hội lớn hơn tổ Bồ Đề Đạt Ma tới ba trăm tuổi.

Chúng ta trở lại vấn đề hạt bắp đã sinh ra cây bắp. Hạt bắp đó với cây bắp đó là một thực tại, một thực thể hay là hai thực thể khác nhau? Chúng ta nói một cũng không đúng, mà nói hai cũng không đúng. Chúng ta biết rất rõ là cây bắp từ hạt bắp mà sinh khởi, cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp. Nhưng nói cây bắp là hạt bắp thì có gì đó còn lấn cấn, nói cây bắp là một thực thể hoàn toàn khác với hạt bắp thì cũng không đúng.

Trong hệ thống văn học trung quán, chúng ta có giáo lý gọi là phi nhất phi dị. “Phi nhất” là không phải một, “phi dị” nghĩa là không phải khác nhau. Không phải một, không phải khác là sự thật liên hệ tới hạt bắp và cây bắp. Cây bắp với hạt bắp không phải là một mà cũng không phải là hai thực thể khác nhau. Đứa con với người cha cũng vậy. Đứa con là từ người cha sinh ra, nhưng nói đứa con với người cha là một người cũng không đúng, mà nói hai người khác nhau cũng không đúng. Phi nhất phi dị là giáo lý thậm thâm vi diệu của Trung quán.

Khi chúng ta nhìn một đám mây chúng ta có thể nghĩ rằng đám mây đó có sinh, có diệt . Sinh nghĩa là từ chỗ không có gì hết mà tự nhiên có một cái gì. Diệt nghĩa là đang là cái gì đó tự nhiên trở thành không có gì cả. Ta hiểu về sinh và diệt là như vậy. Nếu chúng ta quán chiếu về đám mây, chúng ta sẽ thấy rằng đám mây không phải từ chỗ không mà trở thành có được. Trước khi là đám mây, đám mây đã là nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời. Trong tiền kiếp của nó, đám mây đã từng là nước và đã từng là hơi nóng. Vì vậy đám mây không phải sinh ra, chẳng qua là một sự tiếp nối của nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời.

Cũng như tờ giấy này, không phải là từ không mà sanh . Trước khi mang tướng của tờ giấy, nó đã là cây rừng, nó là sự tiếp nối của cây rừng. Vì vậy tự tánh của đám mây là vô sinh, nghĩa là đám mây chưa bao giờ từng sinh ra. Giờ phút ta gọi là giờ sinh của đám mây, chẳng qua là giờ phút của một sự tiếp nối. Tiếp nối dưới một hình thái khác. Khi đám mây biến thành mưa, đám mây không chết vì chết có nghĩa là từ có trở thành không mà một đám mây không bao giờ có thể chết được. Đám mây chỉ có thể trở thành tuyết, trở thành mưa hay trở thành băng, thành nước đá.

Nếu có con mắt vô tướng thì khi nhìn cơn mưa chúng ta thấy đám mây ở trong đó. Nếu có cảm tình với một đám mây và  khi thấy đám mây không còn ở trên trời nữa thì chúng ta có thể than khóc, trong khi đó cơn mưa đang là sự tiếp nối của đám mây, nó nói rằng: Anh ơi, chị ơi tại sao khóc, em đây này, em đang còn đây này, em đang có mặt dưới một hình tướng mới. Như vậy chúng ta thấy rõ ràng cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây. Đám mây không thể nào chết được. Đám mây chỉ có thể được tiếp nối giữa những hình thái khác. Đó gọi là luân hồi và luân hồi là một sự thật, rất khoa học.

Lavoisier (1743-1794) nhà khoa học Pháp nói rằng: Không có cái gì sinh mà cũng không có cái gì diệt. Ông ta dùng đúng những chữ trong Tâm Kinh Bát Nhã: Thị chư pháp bất sinh bất diệt. Tự tánh của vạn hữu là vô sinh bất diệt, không phải một cũng không phải hai cái khác nhau. Khi mình nhìn vào đứa con và nhìn cho kỹ, thấy rất rõ đứa con là sự tiếp nối của người cha. Nếu đứa con có cơ hội tu tập, để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau mà cha trao truyền lại là một đứa con có hiếu vì nó sẽ không trao truyền lại nỗi khổ, niềm đau đó cho thế hệ tương lai nữa.

Sám pháp địa xúc

Xin liệt vị tưởng tượng, trên một ngọn đồi có năm ngàn thiền sinh Âu châu hay là Hoa Kỳ đang thực tập lạy. Ở Tây phương chúng tôi thực tập thiền lạy, chúng tôi gọi là địa xúc, chứ không dùng chữ lạy. Khi năm vóc mình chạm đất, năm vóc tức là đầu, hai tay và hai chân mình, thì mình có cơ hội tiếp xúc được với tất cả tổ tiên của mình. Khi mình đang ở trong tư thế ngũ thể đầu địa, năm vóc sát đất, mình quán chiếu trở lại, mình thấy dòng máu mình luân lưu với sự có mặt của bao nhiêu tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh.

Các bạn trẻ Tây phương tiếp nhận 5 Giới trong khóa tu Wake Up Earth 2017

Chúng ta có những tổ tiên huyết thống rất là hào hùng nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những tổ tiên huyết thống rất là kém cỏi. Chúng ta có Lý Thường Kiệt, có Trần Hưng Đạo nhưng chúng ta cũng có Trần Ích Tắc. Họ đều có mặt trong từng tế bào trong cơ thể ta, dù hào hùng như là Trần Hưng Đạo, dù yếu kém như là Trần Ích Tắc, chúng ta phải chấp nhận tất cả đều là tổ tiên của chúng ta.

Chúng ta là ai? Chính trong tự thân của chúng ta cũng còn những cái yếu kém, những lên xuống, những trồi sụt. Ta là ai mà dám không chấp nhận tổ tiên của ta? Thấy được điều đó, ta chấp nhận các tổ tiên, không những các vị hào hùng mà cả những vị còn yếu kém. Sau khi đã chấp nhận rồi, tự nhiên trong lòng mình bình an. Cha mẹ mình cũng là tổ tiên, thế hệ tổ tiên trẻ nhất. Nếu cha mẹ mình có những yếu kém, có những bạo động, có những buồn đau và đã làm khổ mình, mình không thể nào từ khước cha mẹ mình, tổ tiên mình.

Mình quán chiếu cho kỹ, mình thấy cha mẹ mình đã không có cơ hội, không có sự may mắn, không có được đời sống tâm linh, không được hướng dẫn để chuyển hóa, trị liệu những nỗi khổ, niềm đau. Đến thế hệ mình, mình phải làm hay hơn cha mẹ, để mình chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau mà mình đã tiếp nhận. Trở lui, mình độ cho cha, mình độ cho mẹ. Những người thanh niên khi lạy xuống, họ thấy được điều đó.

Đây là văn hóa mà chúng tôi sử dụng để hướng dẫn cho những thanh niên Tây phương. Chúng tôi có pháp môn thiền lạy, có ba cái lạy và có năm cái lạy. Tất cả những pháp môn đem ra để giáo dục, hướng dẫn cho người Tây phương tu học hoàn toàn lấy từ gia sản văn hóa Việt Nam.

Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng tâm linh và huyết thống. Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt và các vị Bồ Tát, các vị Thánh Tăng và các vị Tổ sư qua các thời đại. Trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay là còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã trao truyền cho con những hạt giống bình an trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, của tuệ giác và của từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh trí tuệ và từ bi rất là viên mãn nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu, nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con vì chính trong con cũng còn có những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh, trí tuệ và từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và những khiếm khuyết ấy, cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con. Trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng. Nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn hoặc trồi sụt không ngừng trên con đường tu đạo. Đây là mình mới chỉ nói về phía gia đình tâm linh mà thôi.

Ở Tây phương có những người thuộc truyền thống Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo. Họ đã không cảm thấy thoải mái trong truyền thống của họ. Họ bỏ nhà thờ, họ bỏ giáo đường mà đi. Họ giận các vị linh mục, họ giận các vị mục sư. Họ phủ nhận những vị đó là tổ tiên tâm linh của họ. Trong khi đó những thế hệ cha, anh của họ đều hành trì, đều công nhận các thế hệ tổ tiên tâm linh đó là tổ tiên của họ. Nhưng những thanh niên bây giờ, họ giận cha, giận mục sư, giận nhà thờ và thề không trở lại nhà thờ nữa. Những người đó không có khả năng hiểu họ. Những người đó ép họ phải làm những điều họ không hiểu hoặc họ không muốn làm.

Cũng như có những thanh niên Việt Nam bị mẹ ép đi chùa, tới chùa nghe đọc kinh tiếng Phạn chẳng hiểu gì hết, đọc kinh tiếng Hán Việt chẳng hiểu gì hết. Lạy hết lạy này sang lạy khác và một hồi thì họ chán đi chùa, họ cảm thấy không có dính líu gì tới thầy, tới sư cô ở trong chùa cả, họ cảm thấy rằng khung cảnh ở trong nhà chùa không phải là khung cảnh của họ. Ở bên Tây phương cũng vậy, có những giáo đường mà cách học hỏi, cách thực tập nghi lễ không còn phù hợp với người trẻ bây giờ nhưng người trẻ bị bắt ép phải làm theo, phải học theo những điều đó thì họ rất đau khổ.

Hiện đại hóa Đạo Phật

Những nhà lãnh đạo tâm linh, không có khả năng làm mới, đổi mới, hiện đại hóa cách dạy dỗ và thực tập. Một truyền thống mà không có khả năng tự làm mới sẽ đánh mất con cháu. Đạo Phật cũng vậy thôi. Nếu quý vị là những Phật tử, những vị giáo thọ, những vị trụ trì thì quý vị nên biết rằng nếu không hiện đại hóa đạo Phật, nếu không cung cấp được những giáo lý và phương cách hành trì phù hợp với tinh thần, tâm lý của người trẻ, những người trẻ sẽ cảm thấy lạc lõng mỗi khi họ tới chùa.

Nhu yếu hiện đại hóa Phật pháp, hiện đại hóa Phật giáo, hiện đại hóa nền sinh hoạt tâm linh của mình rất quan trọng. Chúng ta phải giảng dạy như thế nào để người trẻ thấy rõ ràng những điều đó đang đáp ứng những đau khổ, bức xúc, những khó khăn, tuyệt vọng của họ. Chúng ta phải cung cấp cho họ những phương pháp tu học để họ có khả năng tháo gỡ, chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau của họ thì họ mới cảm thấy họ thuộc về gia đình tâm linh này. Đây không phải chỉ là vấn đề của Cơ Đốc giáo hay của Hồi giáo mà cũng là vấn đề của Phật giáo. Phật giáo ở Trung quốc, ở Đại Hàn, ở Việt Nam rất cần những nỗ lực của chúng ta để hiện đại hóa, nếu không sẽ không có tương lai và con cháu chúng ta sẽ rất bơ vơ.

Trong truyền thống tâm linh này có rất nhiều châu báu mà nếu chúng ta dùng những hình thức học hỏi và thực tập quá xưa cũ thì chúng ta không chỉ bày được cho thế hệ trẻ những châu báu đó. Chúng ta cũng không thể nào khai thị cho người trẻ thấy rằng đây là truyền thống rất sâu sắc, rất nhiệm mầu mà cha ông của chúng ta qua bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu thời đại đã nương tựa, học hỏi và đã thành công trong sự nghiệp của họ, sự nghiệp xã hội cũng như sự nghiệp chính trị.

Xin các Thượng tọa, xin các vị Sư trưởng lắng nghe những người trẻ. Phải làm thế nào để cung cấp cho những người trẻ, những người trí thức những giáo lý và phương pháp thực tập hữu hiệu nhằm đáp ứng lại được nhu cầu đích thực của họ trong thời đại mới, nghĩa là phải hiện đại hóa đạo Phật. Khi khai thị cho những người trẻ Tây phương thì chúng tôi sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam trong đó có đạo Phật, chúng tôi đã hướng dẫn họ trở về với truyền thống của họ để chấp nhận tổ tiên của họ, dù tổ tiên của họ còn những yếu kém, còn những khiếm khuyết về giới hạnh cũng như về đạo đức. Như vậy mới có cơ hội để làm mới, đổi mới truyền thống của họ. Có hàng ngàn, chục ngàn, trăm ngàn, hàng triệu người trẻ Tây phương đang đi như những con ma đói, tại vì họ không cảm thấy liên hệ gì với truyền thống tâm linh và truyền thống huyết thống của họ.

Trong gia đình tâm linh, thỉnh thoảng chúng ta thấy những vị lãnh đạo giới hạnh rất nghiêm minh, đạo đức rất cao viễn nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy có những ông thầy, có những sư cô phạm giới làm chúng ta nản chí. Chúng ta nên biết rằng, ông thầy đó, sư cô đó chưa may mắn gặp được minh sư, chưa gặp được một đoàn thể tu học có khả năng bảo hộ, nâng đỡ và che chở cho nên họ mới lâm vào tình trạng phải phá giới hay chạy theo danh lợi. Điều này chứng tỏ rằng những vị đó thiếu may mắn, chứ không phải là truyền thống chúng ta không có châu báu.

Từ ngàn xưa cho đến bây giờ truyền thống của chúng ta đã sản xuất được không biết bao nhiêu vị cao tăng, có vị  đã từng làm quốc sư cho các vị vua lớn, có vị đã từng cứu nước, cứu dân ra khỏi những tình trạng hiểm nghèo. Trong quá khứ chúng ta đã làm như vậy được thì tại sao trong hiện tại và trong tương lai chúng ta sẽ không đóng vai trò đó được? Vì vậy chúng ta phải khuyên những người trẻ đó trở về và chấp nhận những tổ tiên tâm linh của họ. Nếu tổ tiên tâm linh còn yếu kém, ta phải làm đủ sức để giúp cho các vị đó vượt thoát cái tình trạng khó khăn, yếu kém của họ. Khi mà chấp nhận được rồi thì trong lòng có một sự bình an rất lớn.

Đứng về phương diện tổ tiên huyết thống cũng vậy. Chúng ta có những vị tổ tiên huyết thống rất hào hùng, đạo đức, trí tuệ. Thỉnh thoảng chúng ta cũng có những vị tổ tiên huyết thống không xứng đáng, đã phản nước, phản dân nhưng dù sao họ cũng là tổ tiên của chúng ta. Họ không có cơ hội, không có may mắn cho nên đã không nhận được một nền giáo dục thích hợp. Họ không có bạn hiền, thầy giỏi cho nên họ mới cư xử như vậy. Họ là những người đáng thương hơn là đáng ghét, đáng trừng phạt. Khi mà người thanh niên thấy được như vậy thì những nỗi buồn, cơn giận của họ dịu lại và họ bắt đầu chấp nhận được những vị tổ tiên huyết thống hay tâm linh còn yếu kém của họ. Chính trong lòng họ cũng đang có những yếu kém, những trồi sụt. Con là ai mà con dám không chấp nhận tổ tiên tâm linh và huyết thống của con? Tôi xin đọc lại, trong tư thế phủ phục thì người thực tập quán chiếu như thế này: Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, là các vị Bồ Tát, là các vị Thánh Tăng, là các vị Tổ sư qua các thời đại.

Khi tôi dạy cho người Cơ Đốc giáo, tôi nói: Con có tổ tiên tâm linh là chúa Ky Tô, là các vị Thánh. Ngôn ngữ khác nhưng nội dung chỉ là một. Mình đưa họ về với gốc rễ của họ, chứ mình không làm như những vị giáo sĩ ngày xưa tới Việt Nam, khuyên người ta đừng thờ cúng tổ tiên để theo đạo của họ, rất tội nghiệp. Ở Tây phương, chúng tôi hoàn toàn làm ngược lại với điều mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã từng làm ở Việt Nam trong những thế kỷ trước. Chúng tôi khuyên họ trở về truyền thống tâm linh của họ, chấp nhận tổ tiên tâm linh của họ và chấp nhận tổ tiên huyết thống của họ. Chúng tôi biết rằng một con người mất gốc là một con người không bao giờ có hạnh phúc được. Điều đó chứng tỏ đạo Phật có một lượng bao dung rất lớn và làm cho họ càng kính phục mà càng kính phục thì họ càng thương mến đạo Phật nhiều hơn vì lượng bao dung vĩ đại đó của đạo Phật. Không kỳ thị, không xúi người ta bỏ nguồn gốc của người ta, trái lại, đưa người ta trở về cắm rễ vào trong truyền thống của người ta. Các vị cứ thực tập đạo Phật đi và những sự thành công của quý vị sẽ giúp cho quý vị trở lại xây dựng lại truyền thống của quý vị cho những người trẻ đừng có tiếp tục bỏ truyền thống đó để trở thành những con ma đói.

Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị Bồ Tát, các vị Thánh Tăng và các vị Tổ sư qua các thời đại. Trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay là còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã trao truyền cho con những hạt giống bình an trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, của tuệ giác và của từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh trí tuệ và từ bi viên mãn, tuyệt hảo. Nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu, nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con vì chính trong con cũng còn những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh về trí tuệ và về từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và khiếm khuyết ấy cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con. Trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng. Nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn hoặc trồi sụt không ngừng trên con đường tu đạo. Điều này cũng đúng về phương diện huyết thống. Con chấp nhận tất cả các vị tổ tiên huyết thống của con về cả hai phía nội ngoại với tất cả những đức độ công hạnh và khiếm khuyết của các vị. Cũng như con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con với những đức độ tài năng, khiếm khuyết của từng người. Tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của con cũng như con cháu tâm linh và huyết thống của con đều đang có mặt trong con. Con là họ, họ là con. Con không có một cái ta riêng biệt. Tất cả đều có mặt trong một dòng sinh mệnh đang diễn biến một cách mầu nhiệm.

Thưa quý vị,

Quý vị đã từng làm cha mẹ, quý vị đã từng thấy, có những đứa con rất dễ thương, những đứa con đức độ, ngoan ngoãn, tài ba xứng đáng sự tiếp nối của tổ tiên mình nhưng thỉnh thoảng mình có những đứa con rất khó dạy, những đứa con cứng đầu, những đứa con giống như không phải là con của mình. Mình có khuynh hướng muốn từ bỏ những đứa con đó vì mình đã từng đau khổ với những đứa con như vậy. Cũng như là các thầy, các sư cô, các vị sư trưởng đã từng có những vị đệ tử rất dễ thương, rất ngoan ngoãn, tu hành rất đàng hoàng nhưng thỉnh thoảng các thầy, các sư cô cũng có những người đệ tử khó chịu, cứng đầu, có những khiếm khuyết, không xứng đáng làm con cháu, làm đệ tử của mình. Khi quán chiếu thì mình thấy rõ ràng rằng chính tổ tiên mình cũng có những vị có những khiếm khuyết, tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống.

Chính mình đây, làm cha, làm mẹ, làm thầy mà mình cũng còn những khiếm khuyết, những yếu đuối thì mình là ai mà không chấp nhận những khiếm khuyết, những yếu đuối của những đứa con của mình hay những đệ tử của mình. Khi thấy được như vậy rồi thì mình chấp nhận những đứa con khó thương của mình một cách dễ dàng và trong mình có một sự bình an. Chưa chấp nhận thì mình còn đau khổ, chấp nhận được rồi, tự nhiên có một niềm bình an rất lớn. Đối với các vị sư trưởng cũng vậy, đối với những vị đệ tử từng làm cho mình đau khổ đó, nếu nhìn cho kỹ thì mình thấy họ vì đã nhận chịu những hạt giống từ phía nội, từ phía ngoại, từ xã hội, nên có những trồi sụt, những khó khăn, những lao đao. Chính những người đệ tử này mình phải cho họ nhiều thì giờ, nhiều thương yêu, nhiều chăm sóc hơn mới phải còn những người đệ tử giỏi rồi, mình đâu cần phải phí nhiều thì giờ, nhiều công lao, nhiều công phu. Khi thấy được như vậy rồi thì mình chấp nhận được người đệ tử yếu kém, còn lao đao, còn lên xuống. Khi chấp nhận được rồi thì tự nhiên trong lòng mình có niềm bình an rất lớn.

Khi lạy xuống lạy đầu tiên, mục đích của mình là nhìn cho rõ bản thân của mình để thấy được sự có mặt của tất cả các vị tổ tiên tâm linh và huyết thống trong người mình, thấy được tất cả các thế hệ con cháu đang có mặt ở trong từng tế bào cơ thể mình. Khi mình chấp nhận được tổ tiên và con cháu thì tự nhiên trong mình yêu thương dâng lên tràn ngập, trong lòng mình có một niềm bình an rất lớn và mình buông bỏ tất cả những hận thù, tuyệt vọng. Khi đứng dậy, mình là một con người mới. Đó gọi là thiền lạy. Quý vị thử tưởng tượng, năm ngàn người Hoa kỳ cùng lạy xuống như vậy dưới sự hướng dẫn của một thầy hay là một sư cô Việt Nam thì năng lượng rất hùng hậu. Có nhiều người sau khi lạy ba cái lạy đã trở thành một con người khác, tại vì trong những cái lạy đó họ đã buông bỏ tất cả những hận thù, khổ đau, tuyệt vọng và họ trở thành một con người có hiểu và có thương.

Nếu có thì giờ, xin mời các vị Sư trưởng, xin mời các vị quan khách đọc những dẫn giải về sự thực tập ba cái lạy và năm cái lạy trong cuốn Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000  mới được nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành. Chúng ta không có thì giờ để nói nhiều về những cái lạy nhưng đây là phương pháp thực tập rất là hay. Có những người họ mới tới trung tâm tu tập lần đầu mà chỉ sau một giờ đồng hồ thực tập ba cái lạy, họ đã buông bỏ được hầu hết những khổ đau, tuyệt vọng của họ để trở thành một con người mới. Tôi xin thưa với quý vị, những pháp môn mà chúng tôi cung cấp cho người Tây phương hoàn toàn rút ra từ gia tài văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Cái một được làm bằng cái tất cả

Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn có dạy rằng: Cái một được làm bằng cái tất cả, cái tất cả được làm bằng cái một (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất). Giáo lý đó của kinh Hoa Nghiêm, một hạt bụi chứa đựng cả tam thiên đại thiên thế giới, ngày nay đã được khoa học chứng minh là một sự thật. Cái một nó chứa đựng cái tất cả. David Bohm (1917-1992),nhà vật lý học nguyên tử gốc Do Thái, có nói một câu rất gần giáo lý trong kinh Hoa Nghiêm: Một điện tử nó được tất cả các điện tử khác làm ra. Khoa học bây giờ có khả năng lấy ra một tế bào của cơ thể mình, một tế bào thôi và làm thành ra một cơ thể toàn vẹn, gọi là cloning.

Làm sao làm được như vậy? Họ lấy một cái trứng trong noãn sào của người phụ nữ, họ nạo sạch tất cả nội dung của cái trứng đó, nghĩa là không còn dấu vết nào thuộc về gia tài di truyền của người phụ nữ. Họ chỉ mượn vỏ của cái trứng, rồi họ lấy một tế bào trong cơ thể một người nào đó (hoặc đàn ông hoặc đàn bà), một tế bào gan, một tế bào bắp chân hoặc bất cứ tế bào nào của thân thể và họ bỏ đói tế bào đó trong vòng hai hoặc ba ngày thì tế bào đó trở thành tế bào mầm mà trước đó nó là một tế bào chuyên môn. Tế bào chuyên môn là một tế bào có phận sự chuyên môn trong cơ thể, như tế bào óc làm việc của tế bào óc, tế bào gan làm việc của tế bào gan. Khi mình bỏ đói tế bào chuyên môn hai ba ngày thì nó trở thành tế bào mầm và nó có khả năng sinh hóa trở lại. Họ lấy tế bào đó để vào cái vỏ trứng của người phụ nữ và cho một lượng điện chạy qua thì nó khép lại. Họ nuôi cái vỏ trứng đó trong tử cung của người phụ nữ, cho đến khi cái thai đó lớn và người phụ nữ đó sinh con.

Người phụ nữ đó không phải là mẹ, người phụ nữ đó chỉ mang dùm cái thai đó mà thôi. Khi đứa bé sinh ra, nó giống hoàn toàn cái nguyên bản của người mà mình lấy tế bào kia ra, gọi là một sinh hóa thân, một clone. Nếu lấy một trăm tế bào ra thì mình sẽ làm thành một trăm con người y hệt con người nguyên bản. Hiện bây giờ luật pháp trên thế giới cấm không được làm điều đó nhưng mà đứng về phương diện kỹ thuật thì các nhà khoa học có khả năng làm được như vậy và họ đang thí nghiệm với các loài thú vật. Điều đó có nghĩa là trong một tế bào nó chứa đựng tất cả gia tài huyết thống, gia tài tâm linh, tất cả gia tài di truyền của tất cả các thế hệ tổ tiên. Cái một nó chứa đựng cái tất cả, đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm và đã được khoa học chứng minh.

Ngày xưa có một vị Thiền sư đời Lý nói rằng: Trời đất có thể đặt gọn vào trong một hột cải. Đó là một hình ảnh thi ca để nói về sự thật: Cái tất cả có thể tìm thấy trong cái một. Trong cái một ta có thể có đủ những tư liệu về cái tất cả và cái tất cả nó nằm trong cái một. Vì vậy chúng ta nói rằng đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên của Việt Nam đã đi đôi với nhau trong 2000 năm. Cái này đã làm giàu cho cái kia và cái kia đã làm giàu cho cái này. Giờ đây, đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên Việt Nam đi đôi với nhau một cách tuyệt hảo.

Chúng ta có thể làm được gì?

Xã hội Tây phương đã và đang sản xuất ra hàng triệu con ma đói. Xã hội Việt Nam ngày hôm nay cũng bắt đầu sản xuất ra những con ma đói. Những người thanh niên đi trong cuộc đời, không biết mình thuộc về truyền thống nào? Không có gốc rễ trong gia đình, không thấy được liên hệ giữa mình với cha mẹ với tổ tiên với ông bà. Hiện nhà nước đang có một chính sách thành lập những tổ văn hóa, những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa mà trong đó không có những tệ nạn xã hội như xì ke ma túy, đĩ điếm, băng đảng. Những tệ nạn xã hội sinh ra trong một nền kinh tế đang phát triển, đó là điều không thể tránh được.

Chúng ta có thể làm được gì để xây dựng những tổ văn hóa, những khu văn hóa, những khu phố văn hóa? Chúng ta có thể kiểm soát, chúng ta có thể trừng phạt nhưng kiểm soát và trừng phạt không phải là giải pháp gốc. Sở dĩ người thanh niên đi ra ngoài và sa vào hầm hố của ma túy, xì ke, của tội ác, của băng đảng, của sắc dục là vì trong gia đình họ không cảm thấy có hạnh phúc, họ không có niềm tin nơi hạnh phúc gia đình, hạnh phúc gia đình đối với họ là một cái gì chưa bao giờ từng có. Cha mẹ làm khổ nhau, cha con không truyền thông được với nhau, không nhìn mặt được nhau. Người thanh niên không muốn trở về gia đình vì không khí gia đình là không khí của bão tố, của địa ngục. Vậy các thầy, các sư cô, các bậc phụ huynh đã nắm được tư tưởng, giáo lý, sự thực tập để giúp cho con người có thể tìm lại gốc rễ của mình chưa?

Quý vị phải làm thế nào để giúp cho những người thanh niên đó thiết lập lại được truyền thông với cha, với mẹ, giúp cho vợ thiết lập lại được truyền thông với chồng, dựng lại tình thâm và đem hạnh phúc trở lại gia đình. Chỉ khi đó thì chúng ta mới thật sự bài trừ được những tệ đoan của xã hội như là đĩ điếm, ma túy, băng đảng và tội phạm. Pháp luật không đủ để giải quyết những tệ nạn xã hội, phải có đạo đức mới được. Ai là người nắm giềng mối của đạo đức? Các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, các nhà nghệ sĩ? Chúng ta có phận sự phải giáo dục, phải chỉ đường, phải có khả năng giúp cho những gia đình trong thôn xóm, trong khu phố. Làm thế nào để cho con với cha có thể hòa giải với nhau được, sự truyền thông giữa con và cha được phục hồi, vợ chồng có thể trở về với nhau, hòa giải được với nhau và biết làm hạnh phúc cho nhau.

Tôi đã làm việc với những người trẻ trong bốn mươi năm và thường nghe người trẻ nói với nhau rằng: Cái quý giá nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu là hạnh phúc của chính cha mẹ. Nếu cha mẹ có hạnh phúc với nhau, cha mẹ biết săn sóc cho nhau, làm cho nhau hạnh phúc thì đó là cái gia tài lớn nhất mà con cháu có thể tiếp thu. Nếu cha mẹ làm khổ nhau mỗi ngày thì cha mẹ không có gì để trao truyền lại cho con cháu hết. Chúng ta là những vị xuất gia, những người tại gia, những nhà giáo dục, những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà nghệ sĩ thì chúng ta có thể đóng góp được gì vào công việc phục hồi lại hạnh phúc gia đình, phục hồi được sự truyền thông giữa vợ và chồng, giữa cha và con. Đó là công tác căn bản để có thể thành công thật sự trong sự xây dựng những tổ văn hóa, những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa. Vai trò của Phật giáo cũng như vai trò của các nhà giáo dục, của các văn nghệ sĩ rất quan trọng. Trong gia sản văn hóa của chúng ta, chúng ta có đủ những yếu tố để có thể làm được việc đó.

Đóng góp của đạo Phật

Khi rời quê hương năm 1966 chúng tôi đâu có ý muốn đi sang Tây phương để truyền bá Phật pháp đâu. Chúng tôi chỉ muốn ở bên đó chừng ba tháng để kêu gọi thế giới góp một tay để chấm dứt cuộc chiến tranh thảm khốc ở Việt Nam nhưng vì thời thế xảy ra như vậy cho nên chúng tôi đã không được về nước trong ba mươi chín năm. Cố nhiên chúng tôi phải làm đủ mọi cách để có thể cống hiến những gì mình có thể cống hiến được cho thế giới Tây phương. Chúng tôi đã tu tập, chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam để giúp cho người Tây phương. Đạo Phật cũng vậy, truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng vậy, chúng ta phải nhào nặn, phải trau chuốt, phải chế tác trở lại để cho những sản phẩm của Việt Nam có thể xuất khẩu và được chấp nhận được ở thế giới Tây phương.

Trong bốn mươi năm, chúng tôi làm việc như một đại sứ văn hóa cho đất nước. Chúng tôi đã cống hiến đạo Phật, chúng tôi đã cống hiến sự thực tập thờ cúng tổ tiên, cố nhiên là có những cái khác nữa nhưng hai điều này là hai điều mà chúng tôi muốn chia sẻ với quý vị đêm nay. Chúng tôi đã tinh luyện, đã chế biến những yếu tố đó của nền văn hóa dân tộc nhằm giúp cho người thanh niên, người trí thức Tây phương có thể hiểu được, chấp nhận được cũng như để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau và tháo gỡ được những khó khăn để có thể trở về với gia đình, với truyền thống tâm linh của họ. Chúng tôi giúp họ tái lập truyền thông, xây dựng lại hạnh phúc gia đình và chúng tôi đã thành công.

Trong chuyến về viếng thăm Việt Nam lần này, chúng tôi có một niềm tin rất lớn. Nếu những pháp môn đó hữu hiệu với thanh niên và trí thức Tây phương thì tại sao nó không hữu hiệu với thanh niên và trí thức Việt Nam, một khi những pháp môn đó hoàn toàn có gốc rễ văn hóa Việt Nam.

Bài viết có liên quan: Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa binh thế giới – phần I

Mất còn trong cõi sống chết

(Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 20. 4.2007  Trai Đàn Chẩn Tế tại Chùa Non Nước, Sóc Sơn – Hà Nội)

https://www.youtube.com/watch?v=KLa-JpvEAaU&list=PLMG8i-w8rYWlTEG9PO5er8ueJa5t9ZoAV

Kính thưa liệt vị tôn đức,
kính thưa các vị khách quý, các Phật tử.

Chúng ta vừa trì niệm danh hiệu của đức Quan Thế Âm để cầu cho trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan này được thành công. Chúng ta đã nói rằng  trai đàn này là để cầu nguyện cho “âm siêu” và “dương thái”. Tôi muốn bắt đầu buổi pháp thoại hôm nay nói về sự liên hệ giữa cõi âm và cõi dương. Chúng ta làm thế nào để tiếp xúc với cõi âm và chúng ta có thể tiếp xúc được hay không? Và những người ở cõi âm làm thế nào để tiếp xúc với chúng ta trong cõi dương? Hai cõi này – cõi âm và cõi dương – là hai cõi tách biệt hay là có dính líu tới nhau?

Cố nhiên chúng ta biết rõ rằng khi mà âm được siêu thì dương cũng được thái và khi dương được thái thì âm cũng được siêu. Cho nên chúng ta biết chắc rằng có một liên hệ rất mật thiết giữa hai cõi. Nhưng trong đầu óc của nhiều người, chúng ta thường nghĩ rằng cõi âm là cõi nó hoàn toàn khác biệt với cõi dương. Thường thường, chúng ta nghĩ rằng cõi âm chúng ta không thấy được, không nghe được, không sờ mó được. Và những gì mà chúng ta không thấy được, không nghe được, không sờ mó được, có khi chúng ta nghĩ là không có.

Chúng ta hãy tưởng tượng là trong không gian này, chúng ta biết rằng có những đài truyền hình, những đài phát thanh, luôn luôn phát ra những chương trình trên các làn sóng. Và trong không gian đang bao phủ chúng ta, có rất nhiều tín hiệu của các buổi phát thanh và truyền hình. Chúng ta biết rằng luôn luôn trong giờ phút này có những chương trình phát thanh và truyền hình. Những tín hiệu đó nó đầy dẫy trong hư không, nhưng mà chúng ta không thấy, chúng ta không nghe, chúng ta không sờ mó được những chương trình đó. Chúng ta cần phải có một máy thu thanh, máy thu hình để nó có thể nắm được những tín hiệu đó và nó chuyển dịch những tín hiệu đó ra những đối tượng mà mắt ta có thể tiếp xúc được và tai của ta có thể tiếp xúc được. Và những cái ta không thấy, những cái ta không nghe, những cái ta không sờ mó được, chúng ta không thể nói là chúng nó không có.

Trong kinh Thương Yêu, đức Thế Tôn có dạy rằng chúng ta phải phát khởi lòng từ bi của chúng ta đối với tất cả các loài, các loài ta thấy được và các loài ta không thấy được. Không thấy được không có nghĩa là không có mặt. Ngay những con vi khuẩn nó làm ra bệnh tật của chúng ta, chúng ta không có thể thấy được. Chúng ta phải cần kính hiển vi mới có thể thấy được những con vi khuẩn đó. Khi không thấy được những con vi khuẩn đó, chúng ta không thể nói rằng con vi khuẩn đó không có.

Chúng ta có sáu giác quan và những giác quan của chúng ta nó có giới hạn. Chúng ta có thể không nghe được những âm thanh mà con chó nó nghe được. Chúng ta có thể không thấy được những hình ảnh mà con chim nó thấy được. Cho nên chúng ta đừng vội vàng nói rằng những gì những gì tôi không thấy, những gì tôi không nghe, những gì tôi không có sờ mó được, tức là chúng nó không có. Có và Không là hai ý niệm, trong đạo Phật chúng ta thực tập để có thể vượt thoát được hai ý niệm Có và Không. Có hai ý niệm khác đi đôi với hai ý niệm Có và Không, đó là ý niệm Còn và Mất. Chúng ta không thể nào hiểu được sự liên hệ giữa cõi âm và cõi dương nếu chúng ta không nắm được sự thật về vấn đề còn, vấn đề mất.

Xin quý vị tôn đức, các vị khách quý và các vị đạo hữu hình dung ra một hạt mưa rơi. Hạt mưa đó có thể rơi xuống trên một tảng đá hay rơi xuống trên mặt đất. Có thể trong vòng mấy phút thì hạt mưa rơi xuống trên đất, nó được đất hút vào. Có thể đất hút vào liền lập tức và ta không thấy hạt mưa đó nữa, hạt mưa vừa có đó, bây giờ đã trở thành không có đó. Trước đó chúng ta thấy hạt mưa và bây giờ chúng ta không thấy hạt mưa và chúng ta nói hạt mưa không còn nữa. Đó là một tri giác sai lầm, đó là một vọng tưởng. Hạt mưa vẫn còn đó dưới một hình thái khác mà ta không thấy được thôi, ta không thể nói rằng hạt mưa đó không còn. Còn hạt mưa kia, nó rơi trên một tảng đá và chỉ trong vòng mười phút, mười lăm phút, hạt mưa đó nó biến mất, nó biến thành hơi nước, nó trở thành một phần của đám mây trên trời. Nhưng chúng ta không thấy hạt mưa đó cho nên chúng ta nói hạt mưa đó không còn nữa.

Người thương của chúng ta cũng vậy, chúng ta nói là không còn nữa nhưng kỳ thật điều đó là không đúng. Người thương của chúng ta vẫn còn đó và chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được với người ấy nếu chúng ta có tuệ giác. Hãy tưởng tượng chúng ta nhìn lên trời, thấy một đám mây mà chúng ta rất ưa thích. Nhưng đám mây vô thường, cho nên mấy giờ đồng hồ sau, đám mây sẽ biến thành mưa và chúng ta không còn thấy đám mây ở trên trời nữa.

Tại vì chúng ta đã thương yêu đám mây, chúng ta đã lưu luyến đám mây cho nên bây giờ đám mây không còn trên trời, chúng ta buồn, chúng ta than khóc, chúng ta nghĩ rằng đám mây đã chết rồi, đám mây từ chỗ có đã trở thành không, đã từ chỗ còn đã trở thành mất. Trong khi chúng ta khóc than thì đám mây vẫn còn đó dưới dạng của một cơn mưa. Thật ra một đám mây không bao giờ có thể chết được, chúng ta không có thể nào làm đám mây từ có trở thành không, không có thể làm cho đám mây từ có trở thành không được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa thành tuyết, thành mưa đá nhưng mà đám mây không thể nào từ “có” trở thành “không” được.

Trong khi thương tiếc đám mây, chúng ta khóc, thì đám mây trong hình thái mới của nó là cơn mưa, gọi chúng ta, nói rằng anh ơi, anh có biết là em đang còn đây không, anh nhìn xem em đang con đây dưới một hình thái mới đó là một cơn mưa. Cho nên đám mây trong hình thái mới của nó đang gọi chúng ta mà chúng ta không nghe được, chúng ta không thấy được và chúng ta cứ tiếp tục than khóc, chúng ta cứ nghĩ đám mây thân yêu của chúng ta không còn nữa. Người thương của chúng ta, người yêu của chúng ta, người thân của chúng ta cũng thế. Chúng ta không còn thấy hình dáng quen thuộc của người đó trong giây phút này nữa nhưng mà người đó không phải là không còn, người đó không phải là đã mất. Giữa chúng ta với người đó có thể có liên hệ rất là mật thiết và nếu chúng ta quán chiếu thì chúng ta có thể tiếp tục tiếp xúc với người đó nói chuyện với người đó, cười với người đó và sống với người đó trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Cõi âm nó không có xa xôi gì đâu, cõi âm rất là gần gũi với chúng ta.

Chúng tôi xin hiến tặng quý vị một hình ảnh khác là một hạt bắp, hạt ngô. Chúng ta gieo hạt ngô xuống đất mềm và chúng ta đợi bảy hôm hay mười hôm thì hạt ngô đó nứt mầm và trở thành một cây bắp mới, cây bắp non. Khi cây bắp nó biểu hiện ba cái lá mới và một thân bắp mỏng manh của nó, chúng ta nhìn không có thấy hạt bắp hai ba tuần trước nữa. Hạt ngô hai ba tuần trước, bây giờ chúng ta không thấy. Chúng ta chỉ thấy – thay vì hạt ngô – thì là một cây bắp con và chúng ta có thể nói rằng hạt bắp đã chết rồi, hạt bắp không còn nữa. Nhưng chúng ta ai cũng biết rằng hạt bắp không có thật sự chết, hạt bắp vẫn còn nhưng mà hạt bắp vẫn còn trong một hình thái mới. Hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng, hạt bắp không chết, hạt bắp không phải là từ “có” mà trở thành “không”. Nếu chúng ta có trí tuệ, nhìn vào cây bắp non, chúng ta thấy được hạt bắp vẫn còn trong hình thái mới của nó.

Tổ tiên, cha mẹ, ông bà chúng ta vẫn còn đó. Nếu chúng ta biết cách nhìn, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được với tổ tiên, ông bà, cha mẹ và vẫn còn nói chuyện được với tổ tiên ông bà cha mẹ. Khi chúng ta nhìn vào cơ thể, chúng ta thấy rất rõ là trong mỗi tế bào của cơ thể, có sự có mặt của tổ tiên, của cha mẹ. Cha mẹ đã trao truyền cho chúng ta rất nhiều. Cha mẹ ta đã trao truyền cái gì cho chúng ta?  Cha mẹ ta đã trao truyền chính bản thân của cha mẹ cho chúng ta. Trong mỗi cái tế bào của cơ thể, có sự có mặt đầy đủ của cha và của mẹ, tất cả những cái gien, những cái nhiểm thể của cha mẹ trao truyền lại. Chúng ta thấy sự có mặt của cha mẹ ở trong từng tế bào cơ thể.

Thường thường, chúng ta nghĩ rằng cha ta ở ngoài ta và mẹ ta ở ngoài ta. Nếu chúng ta giận cha, hay giận mẹ thì chúng ta giận cha ta ở ngoài ta, giận mẹ ở ngoài ta. Nhưng chúng ta ít khi nghĩ rằng cha ta đang có mặt trong ta, mẹ ta cũng đang có mặt trong ta, ở nơi mỗi tế bào cơ thể. Và mỗi khi chúng ta giận cha, tức là chúng ta giận bản thân của chúng ta. Tại vì chúng ta chỉ là sự tiếp nối của cha và của mẹ. Cũng như cây bắp chỉ là sự tiếp nối của hạt bắp. Nếu mà cây bắp nó giận hạt bắp tức là nó tự giận cái bản thân của nó.

Có một thiền sinh tới làng Mai ở bên Pháp và thiền sinh đó bị bệnh ung thư. Một sư cô khai thị cho thiền sinh đó và chỉ dẫn cho thiền sinh đó một phương pháp thực tập, thiền sinh này người Mỹ. Sư cô hỏi rằng này bác, bác nói cho chúng tôi nghe sơ lược về tổ tiên ông bà, cha mẹ của bác đi. Vị thiền sinh đó tiết lộ rằng bà ta có một ông nội rất là khỏe mạnh, sống tới chín mươi lăm tuổi. Sư cô làng Mai mới nói rằng ông nội của bà đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của bà. Ông nội của bà đã trao truyền cái hình hài rất là vững chắc, rất là khỏe mạnh của ông ta cho bà, mà tại sao bà không cầu nguyện ông nội đi. Bà cầu nguyện như thế nào?  Ông nội ơi! ông nội đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể cháu, ông nội giúp cháu đi!

Phương pháp của sư cô làng Mai là giúp cho bà tiếp xúc được với ông nội của mình ở trong từng tế bào cơ thể của bà ta. Bà theo đó thực tập, mỗi ngày đều ngồi thiền, mỗi ngày đều tiếp xúc với ông nội trong từng tế bào, và gọi ông nội lên giúp mình, tại vì ông nội ngày xưa có những tế bào rất là khỏe mạnh. Nếu đánh động được những tế bào khỏe mạnh của ông nội thì những tế bào đó sẽ biểu hiện, sẽ hoạt động như thế nào để có thể giúp cho những tế bào bị ung thư nó rút lui, nó giảm thiểu. Một phép lạ đã xảy ra,  mấy tháng sau thì bà hết bệnh ung thư.

Thành ra ông nội của mình, mình đừng tưởng rằng không còn nữa, ông nội của mình vẫn còn trong từng tế bào cơ thể của mình. Mình có thể tiếp tục nói chuyện với ông nội, cầu cứu ông nội mỗi khi mình cần đến ông nội. Ông nội mình có thể có một hình hài rất là khỏe mạnh, ông nội mình cũng có thể có những tài ba, những kinh nghiệm rất sâu sắc trong cuộc đời. Nếu chúng ta biết cách tiếp xúc với ông nội chúng ta thì chúng ta có thể thừa hưởng được năng lượng về hình hài, cũng như là năng lượng tinh thần của ông nội ta.

Cho nên truyền thống thờ cúng tổ tiên của người Việt là một truyền thống cần phải bảo tồn. Tại vì khi mà chúng ta có bàn thờ tổ tiên ở trong nhà, chúng ta mỗi ngày thắp một cây hương và khấn nguyện thì chúng ta có cơ hội tiếp xúc với ông bà chúng ta, không phải trên bàn thờ mà ở ngay trong từng từng tế bào của cơ thể ta. Con cháu đi đâu thì ông bà đi theo đó, không phải là đi sau lưng mà đi ngay trong từng tế bào cơ thể. Điều này nó không có vẻ tôn giáo tín ngưỡng, nó là khoa học, rất là khoa học.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam từ sáu đến bảy triệu đồng bào chúng ta đã tử vong. Chúng ta có những chiến sĩ đã tranh đấu rất oai hùng cho nền độc lập quốc gia, cho tự do của đất nước. Hàng vạn chiến sĩ đã bỏ mình nơi chiến trường một cách uy hùng như thế. Nhưng cũng có những người đồng bào chúng ta đã chết trong những hoàn cảnh rất là tối tăm, rất là oan khuất, bom đạn, ngục tù, tù đày, tra tấn. Vậy nên nỗi oan khổ đó vẫn còn nơi cõi âm, và nó vẫn còn nơi cõi dương. Nó nằm ngay ở trong trái tim của chúng ta. Khi chúng ta dồn nén những oan khổ đó vào đáy lòng thì những oan khổ đó vẫn còn, không có tiêu tan được.

Có khi chúng ta hành xử hơi thô bạo với những người thương của chúng ta, chúng ta không hiểu tại sao chúng ta lại nói một câu thô bạo như vậy, hay là có một cử chỉ thô bạo như vậy đối với người thương. Thật ra động lực nó xui chúng ta nói những lời thô bạo, hay là có những lời thô bạo là tại vì chúng ta có những nỗi khổ niềm đau ở trong lòng mà chưa chuyển hóa được.

Vậy nên theo nguyên tắc của tâm lý trị liệu, nếu chúng ta cho phép những nỗi khổ niềm đau đó đi lên trên mặt phẳng của ý thức, chúng ta công nhận nó, chúng ta ôm ấp nó, chúng ta chuyển hóa nó, thì chúng ta mới có thể làm tiêu tan những nỗi khổ niềm đau đó. Từ đó về sau, chúng ta sẽ không còn cư xử một cách nặng nề bạo động, thô bạo với những người chung quanh. Nếu không thì chúng ta có thể trao truyền lại những năng lượng tiêu cực đó cho con, cho cháu. Một ngày nào đó, con cháu chúng ta sẽ cư xử một cách không có dễ thương đối với những người thân của họ, và họ sẽ không biết tại sao. Những nỗi khổ, niềm đau, những oan ức của chúng ta, chúng ta chưa chuyển hóa được và chúng ta đã trao truyền lại cho các thế hệ tương lai.

Đại trai đàn chẩn tế giải oan bình đẳng là một cơ hội để chúng ta thực tập, đưa những oan khổ, những đau đớn đó lên trên mặt phẳng của ý thức, để công nhận nó, để ôm ấp lấy nó và để chuyển hóa nó. Đây là một thực tập cụ thể. nếu chúng ta chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau trong lòng thì những người thân của chúng ta cũng chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau trong lòng của họ, dầu những người đó đang còn sống hay là đã khuất. Khi chúng ta tới với nhau để cầu nguyện là chúng ta đem hết tất cả tâm thân để mà nhớ tới, để mà tưởng niệm tới những khổ đau, những oan khuất mà những người thân của chúng ta đã phải gánh chịu trong suốt bao nhiêu năm của chiến tranh.

Trong Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan ở tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như trong đại trai đàn bình đẳng chẩn tế giải oan thực hiện ở tại chùa Diệu Đế, chúng ta đã đọc lên những lời khấn nguyện của những người đang sống đối với những người đã khuất. Và để chuẩn bị cho trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan ở chùa Non Nước, chúng tôi xin đọc lại những lời khấn nguyện đó để quý vị thấy được tinh thần và phương pháp thực tập của chúng ta.

Lời khấn nguyện trong các trai đàn chẩn tế giải oan, đây là những lời của người sống nói với những người đã chết, những người ở cõi dương nói với những người ở cõi âm. Và chúng ta biết rằng âm dương tương tức, ở trong dương có âm và trong âm có dương. Chúng ta nói với những người thân của chúng ta đã qua đời, nhưng mà chúng ta cũng nói với chính bản thân của chúng ta.

“Kính thưa liệt vị hương linh. Quý vị là cha của chúng tôi, quý vị là chồng của chúng tôi, quý vị là anh trai của chúng tôi, quý vị là em trai của chúng tôi, quý vị là con trai của chúng tôi, quý vị cũng là mẹ của chúng tôi, quý vị cũng là vợ của chúng tôi, là chị gái của chúng tôi, là em gái của chúng tôi, quý vị cũng là con gái của chúng tôi.

Trong cơn binh lửa, trong cảnh tao loạn, quý vị đã bỏ lại hình hài quý giá của quý vị mà đi, chúng tôi đã đánh mất quý vị. Quý vị hoặc đã chiến đấu dũng cảm cho đất nước và đã chết một cách hào hùng không hề thương tiếc thân mạng, chúng tôi rất hãnh diện về quý vị.

  Nhưng quý vị có thể cũng đã bỏ mình trong những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, Nỗi oan khổ không thể nào nói lên được. Trên rừng sâu, trong biển cả, nơi chốn tù đày, chết vì bom đạn hoặc vì kiệt sức, hoặc vì bị bức bách, bị hãm hiếp rồi bị sát hại mà không có phương tiện chống cự lại. Có biết bao nhiêu quý vị đã ngã quị mà nắm xương tàn không biết đang được chôn vùi ở đâu. Những tai ương mà đất nước và dân tộc ta phải chịu đựng trong bao nhiêu năm tranh đấu cho độc lập và cho tự do, chính quý vị là người phải gánh chịu nhiều nhất.

Chúng tôi những người thân thuộc và đồng bào của quý vị. Hôm nay tới đây thắp hương tưởng niệm quý vị, hoặc thiết lập bàn thờ cho quý vị trước hiên nhà. Trong chúng tôi, cũng có những người vẫn còn tiếp tục gánh chịu oan khổ. Nhưng may thay cơn ác mộng đã qua, đất nước đã được hòa bình, dân tộc đang có cơ hội xây dựng kiến thiết trở lại. Nhờ phúc đức tổ tiên, chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ Pháp lực gia trì, thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ. Cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Bắc Nam, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo.”

 

Mẹ an – con an

Tôi có duyên lành trở về tu viện Mộc Lan sau bốn năm để tham dự khoá tu “Tâm bình, thế giới bình”. Sau đó là khoá tu xuất sĩ gồm 125 vị đến từ các trung tâm khác của Làng Mai. Tu viện chào khách phương xa với những cây Mộc Lan nay đã khá lớn.

Trời chiều đầu thu gió hơi se lạnh, vài cây lá bắt đầu vàng đong đưa trong nắng chiều trong vắt, càng làm nổi bật màu xanh đậm và nâu của lá. Những nụ cười thân thương của quý thầy quý sư cô trẻ cùng vài người bạn đạo quen biết làm tôi quên hết mệt sau chuyến bay xuyên bang.

Sau một đêm ngủ ngon, tôi được đánh thức bởi tiếng đại hồng chung ngân vang. Trời từ từ sáng. Mộc Lan vẫn hiền lành, khiêm tốn quyện mình trong những đồng cỏ xanh. Nhìn ra phía rừng cây quanh tu viện, tàng lá đan vào nhau như hoa văn nổi bật trên nền trời trong xanh, nhất là mỗi sáng mây hồng rạng rỡ dịu dàng chào đón một ngày mới với 24 giờ tinh khôi.

Tuy không phải là mùa trăng, nhưng đêm Mộc Lan thật huyền ảo với sự im lặng tràn đầy sự sống của vạn vật cùng bao vì sao sáng tỏ trên nền trời đen thẫm.

Hoa Mộc Lan là loài hoa biểu tượng của bang Mississippi đó bạn, nơi đây đã ghi dấu sâu đậm lịch sử tranh đấu nhân quyền của người dân. Đài tưởng niệm Mục sư Martin Luther King cùng Sư Ông Làng Mai giản dị với vài ghế ngồi làm bằng những khúc cây to bên đồng cỏ xanh mát, dù vậy  thật trang trọng.

Quý thầy, quý sư cô nơi đây đã hết lòng “chịu chơi, chịu làm, chịu tu, chịu học”.  Đúng là ” tất cả trong một” (“All in one”). Với sự đóng góp công sức của quý phật tử địa phương, chỉ trên dưới mười năm, Mộc Lan đã trở nên một nơi tu tập lý tưởng với đầy đủ tiện nghi cho tứ chúng sinh hoạt. Tăng xá mới được xây trong rừng,  từ phòng nhìn ra nơi nào cũng tràn ngập mầu xanh của lá rừng.

Tôi thấy nhiều thiền sinh Tây phương với áo vạt hò nâu mới toanh, can đảm nhưng vẫn rụt rè thử các món ăn Việt. Tôi nghe đâu đây bài thiền ca quen thuộc:

“Anh em ta từ bốn phương trời
Chị em ta từ khắp năm châu
Không phân biệt màu da tôn giáo
Cùng về đây xây đắp  yêu thương…”

Lòng tôi chùng xuống, cúi đầu nghĩ đến Sư Ông, Người giúp chúng ta khai phá, mở lối yêu thương bằng những chất liệu có sẵn nơi mỗi người như hơi thở, bước chân ý thức. Toa thuốc mầu nhiệm này đã dìu dắt bao người tìm lại ý nghĩa cuộc sống.

Tôi chắp tay nguyện cầu cho quý thầy quý sư cô trẻ tu tập tinh tấn để sau này:

“Trái yêu thương đầy cành
Hái đem cho mọi người…”

Quý thầy, quý sư cô trong khóa tu xuất sĩ tại tu viện Mộc Lan

Khóa tu xuất sĩ là dịp đoàn tụ của gia đình tâm linh mỗi hai năm, vì Làng Mai có nhiều trung tâm sinh hoạt khác nhau trên thế giới. Nhìn quý vị xuất gia trẻ gặp  nhau, có vị sau bảy, tám năm mới gặp lại. Họ ríu rít như chim, cười tươi như hoa… Thật nuôi dưỡng nhau bạn ạ!

Cư sĩ chúng tôi lo nấu ăn  để tất cả quý thầy quý sư cô tham dự khóa tu trọn vẹn. Tôi thấy vui và đậm đà hơn những dịp giỗ, tết của cư sĩ chúng tôi vì không tay xách nách mang, nấu ăn ồn ào, chẳng thật sự có mặt cho nhau. Nơi đây tôi cũng thấy những món quà nhỏ bé, xinh xinh kín đáo trao cho nhau, chắc là gói trà, hộp bánh, hay tượng phật, cái mũ đan tay…

Một bữa ăn sáng, tôi thấy xuất hiện nhiều khuôn mặt cư sĩ lớn tuổi ở bên quý vị xuất gia trẻ. Ai cũng rạng ngời với nụ cười tươi. Có cụ người Tây phương  lưng còng phải dùng gậy để đi. Hỏi ra mới biết có những bà đến từ các nơi trên nước Mỹ, có bà đến từ Việt Nam. Tất cả về đây, ngôi nhà tâm linh, để được hội ngộ với các con mình đã đi tu. Quả vậy, gia đình huyết thống và tâm linh đã hoà quyện như bột và đường để làm nên chiếc bánh ngọt bùi nuôi dưỡng nhau. Tôi không có con đi tu, nhưng cảm nhận được từ đáy lòng mình sự ấm áp của hạnh phúc, nhất là khi một sư cô đi tu đã mười bốn năm nói “Ôm cô, con đỡ nhớ mẹ con”.

Bạn ơi!

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ.
Đi suốt đời lòng mẹ vẫn theo con…”

Câu thơ này được viết theo kiểu thư pháp đã theo tôi  từ năm 1991, tôi mua ở Việt Nam nhân chuyến về thăm mẹ lần đầu tiên  kể từ khi theo chồng di tản năm 1975. Dọn nhà bao lần, tôi đều treo trong phòng ngủ rất trang trọng để có những giây phút riêng tư cho mình.

Mẹ tôi qua đời ba năm sau đó! Tôi đã làm mẹ, con còn bé, nên lúc đó đã không thể về dự lễ tang của mẹ. Tôi vẫn chuyện trò cùng mẹ qua nén hương hay những lúc ngồi yên. Tôi vẫn cần đến mẹ những khi có khó khăn trong cuộc sống. Tôi vẫn bé nhỏ như ngày nào bên mẹ.

Bạn ơi! Cuộc chia tay nào cũng để lại dư vị. Ngày đó mỗi khi nghĩ về nhau mẹ con tôi đều thắt ruột lo cho nhau. Còn với những vị ở đây, cuộc chia tay con đi xuất gia chắc là không quặn đau mà nhẹ nhàng êm ái, mà cùng lo tu cho nhau. Tôi chợt mỉm cười với so sánh dí dỏm: “Con đi xuất gia, hay con đi xuất giá…Thì suốt đời lòng mẹ vẫn theo con”. Mà con thì lúc nào cũng nương vào mẹ như rễ cây luôn tìm về mạch nước. Đúng là con an – mẹ an, con vui – mẹ vui.

Nắng trưa đầu thu với nắng ấm rất dễ chịu, từ dãy cư xá dành cho cư sĩ, các bà mẹ tay trong tay, tươi cười thong thả đi thiền hành về nhà ăn. Tóc trắng lòa xoài trên đôi kính lão, bà mẹ Tây phương mặc áo xanh quần hồng chống gậy đi bên bà mẹ Việt Nam với áo nâu nón lá, có bà đeo ba lô rất “ngầu”. Tôi lại mỉm cười thầm nghĩ: sung sướng thay những bà mẹ này, thu xếp đời sống tất bật về tu viện thăm con, được thong thả rong chơi chắc cũng nếm được chút ít vị an lạc.

Bà E., người Mỹ, bối rối trước các món ăn Việt Nam, sợ cay nên món gì cũng hỏi, ngay cả món …. chè. Món quà quý bà tặng Làng Mai là người con trai duy nhất, cao to gấp đôi bà.  Thầy phải cúi gập người lại mỗi khi muốn ôm mẹ.

Mẹ O. tâm sự: Ra phi trường đón con từ Làng về sau sáu năm, nhìn con ôm các chú dì, chị…..khóc vì tủi thân. Nhưng món quà quý mà thầy dâng lên mẹ  là vào ngày Vu Lan, trong bài pháp thoại, câu đầu tiên thầy nói: ” Con được như hôm nay là nhờ mẹ”, thì lần này chị …. khóc vì sung sướng.

Mẹ H nói: “Nhìn thầy chia sẻ trên YouTube, khi mọi người cười thì em khóc, khi mọi người khóc thì em cười”. Ôi tâm tình người mẹ kín đáo mà mãnh liệt, chỉ mẹ và con mới biết.

Đang ngồi chơi với các mẹ, tôi thấy bao nhiêu quý thầy quý sư cô trẻ đến ríu rít như chim non ôm các mẹ “Cám ơn các má mi (mommy) đã đến đây với chúng con”. Bạn xem có con đi tu lời ghê không? Đi có một mà bây giờ có bao nhiêu con, chẳng bù con đi xuất giá, chỉ được có một mà nhiều khi thành không.

Sư chú Chân Trời Minh Dung, sư cô Chân Trăng Kim Sơn và sư cô Chân Trăng Quang Sơn

Trong khóa tu này, tôi được chứng kiến lễ xuất gia của ba vị người Tây phương,  tất cả đều ở tuổi dưới 25. Tôi có dịp chuyện trò với cha mẹ các vị này. Họ rất hạnh phúc.

Tôi như cảm nghe được lời tâm tình của những vị xuất gia trẻ: Mẹ ơi!  Hãy về đây buông bỏ hết lo âu  vướng mắc của cuộc đời. Mẹ con ta sẽ giúp nhau chuyển hoá khổ đau có từ bao đời, sẽ tiếp nối con đường hiểu và thương. Mẹ không cần phải làm gì cả. Con không cần phải làm gì cả. Mẹ con ta chỉ cần quay về với hơi thở có ý thức và đi những bước chân an lành trên mặt đất.

“Về đây lữ khách đường xa lắm
Cát bụi sầu thương vướng đã nhiều
Thanh thản ngủ trong lòng đạo cả
Cho hồn thơ ấu được nâng niu”. 

Hôm nay khoá tu chấm dứt. Chắc ai ai cũng có chút gì mang về trú xứ của mình. Bạn ơi xin gói món quà quý đó vào tim, mạch sống của tim  sẽ nuôi dưỡng chúng ta đi về tương lai để không phụ ơn Sư Ông đã khai thông suối nguồn của thương yêu.

Tôi tri ơn quý thầy quý sư cô của tu viện Mộc Lan đã cho tôi về đây góp mặt trong những ngày đoàn tụ đầy ý nghĩa này, để giờ đây có giây phút trải lòng mình trên trang giấy chia sẻ cảm nghĩ này.

Rủ nhau về Mộc Lan bạn nhé.

(Đỗ Thủy)

Kệ truyền đăng năm 2010

Kệ truyền đăng trong Đại giới đàn Thuỷ Tiên, từ ngày 12 – 19 tháng Giêng năm 2010

Thầy Chân Pháp Chương
(Nguyễn Văn Chí)

Pháp thân rạng rỡ ánh chiêu chương
Biển học mênh mông chẳng lạc đường
Ngày xuân ngồi ngắm hoa mai nở
Ngộ được vườn xưa chân diệu hương.

 

Thầy Chân Pháp Thanh
(Ziegler Bernd)

Pháp nhiệm linh sơn vừa khởi xướng
Thanh âm vi diệu vọng mười phương
Tuyết bay bát ngát trời phương ngoại
Nhạc khúc tâm linh ứng dị thường.

 

Thầy Chân Pháp Không
(Nguyễn Ngọc Điệp)

Ngã đã không thì pháp cũng không
Trời xanh mây bạc cứ thong dong
Vườn xưa tổ phụ hoa còn nở
Máu chảy về tim vẫn thuận dòng.

Sư cô Chân Tùng Nghiêm
(Barbara Ruth Newell)

Thiền môn tùng hạc vẫn trang nghiêm
Pháp cổ uy nghi điểm diệu huyền
Gánh lúa thơm về vàng óng ả
Ao nhà đã nở đoá kim liên.

 

Thầy Chân Pháp Liệu
(Phạm Bá An)

Pháp xưa trị liệu có muôn hình
Nhiệm mầu huyết mạch gọi tâm linh
Nước biếc non xanh trời sáng rộng
Đêm đêm nhớ hát khúc đăng trình.

 

Thầy Chân Pháp Hộ
(Fredriksson Jerker)

Pháp môn phòng hộ đêm ngày
Uy nghi giới luật xưa nay tỏ tường
Quê nhà giếng nước thơm hương
Hùng phong mời gọi thẳng đường Hy Ma.

 

Thầy Chân Pháp Xả
(Thedoor Johan Frederiks)

Pháp diệu muôn đời không thủ, xả
Lối về quê cũ chẳng bao xa
Giang tay ôm trọn hành tinh quý
Xanh mướt trần gian bóng Phật Đà.

 

Sư cô Chân Lăng Nghiêm
(Văn Thị Lan)

Lăng già trăng bạc chiếu trang nghiêm
Lồng lộng khuôn xưa nét diệu huyền
Hải ấn sáng ngời in dấu ngọc
Thanh trừng tính hải chiếu an nhiên.

 

Sư cô Chân Quỳnh Nghiêm
(Hồ Thị Thô)

Đêm thanh tinh khiết toả hương quỳnh
Nghiêm tịnh ngân hà lộ hiển linh
Trao tay Bồ Tát cành dương ấy
Giọt nước thương yêu ngát tịnh bình.

 

Thầy Chân Pháp Sĩ
(Nguyễn Duy Sơn)

Pháp lực cao cường chân đại
Vượt ngàn sóng gió đến bờ kia
Ngàn mắt ngàn tay không vướng bận
Phong sương quét sạch nẻo đi về.

 

Thầy Chân Pháp Quán
(Phạm Tăng Trung)

Mưa pháp là từ quán
Thấm nhuần cõi thế gian
Đất trời đang hợp tấu
Khúc bình minh nạm vàng.

 

Thầy Chân Pháp Duyệt
(Phan Khôi)

Pháp diệu  là  thiền duyệt
Thuyền đi sẽ đến bờ
Gieo bồ đề hạt cũ
Khám phá được huyền cơ.

 

Thầy Chân Pháp Lộ
(Phạm Phước)

Mưa pháp chân cam lộ
Xanh lại núi rừng xưa
Ước cũ còn nguyên vẹn
Khám phá dấu chân thừa.

 

Sư cô Chân Gia Nghiêm
(Panya Bouachanh)

Xuất gia tìm tới cõi huyền nghiêm
Vằng vặc trăng xưa dọi trước thềm
Biển cả nương dâu thường quán niệm
Vượt bờ sinh tử đến tây thiên.

 

Sư cô Chân Trúc Nghiêm
(Trương Hoa)

Trúc biếc hoa vàng còn đó
Trang nghiêm cõi tịnh nguyền xưa
Lắng nghe Tần già tiếng hót
Công phu trình diễn chân thừa.

 

Thầy Chân Pháp Lai
(Benjamin Jean-Philippe Boucherat)

Pháp mở lời xưa chúc thiện lai
Não phiền rơi rụng ánh dương soi
Có không mấy đám phù vân ấy
Vượt thoát không gian tỏ rạng ngời.

 

Sư cô Chân Trang Nghiêm
(Lê Thị Bửu Ấn)

Nếp xưa hạnh cũ tinh cần
Trang nghiêm niệm lực pháp thân tài bồi
Gió trên đỉnh Thứu reo vui
Búp tay sen nở chào trời rạng đông.

Điểm trang dụng trí lực
Nghiêm tịnh trượng bi hành
Đào hồng  kiêm liễu lục
Đồng xướng diệu cao thanh.

 

Sư cô Chân Thanh Nghiêm
(Trần Thị Xuân Dung)

Phạm bối trầm dùng diễn diệu thanh
Quang nghiêm quả báo tự viên thành
Giọt sương cam lộ bình minh ấy
Nâng cánh đàm hoa nét đẹp xinh.

 

Thầy Chân Pháp Uyển
(Nguyễn Anh Vũ Michael)

Vườn xưa pháp uyển nở hoa
Thơm tho đất mẹ sáng loà ánh dương
Thuyền đi thuận gió căng buồm
Nhất tâm trực chỉ trùng dương bến bờ.

 

Sư cô Chân Mai Nghiêm
(Caroline Bouquet)

Đất Pháp hoa mai nở
Nghiêm tịnh xuân đạo tràng
Phương tây là tịnh độ
Tâm giới rộng thênh thang

Pháp quốc hiện mai hình
Nghiêm tịnh chiếu quang minh
Tây phương hữu Phật độ
Diệu Pháp mai hoa kinh.

 

Sư cô Chân Hạc Nghiêm

(Nguyễn Thị Lệ)

Tùng xanh hạc trắng uy nghiêm
Bước chân thiền duyệt vui miền thượng phương
Thong dong đã chọn con đường
Sắt son một dạ, thanh lương nẻo về

 

Thầy Chân Pháp Chiếu
(Nguyễn Bảo Thiên)

Nếp nhà đuốc pháp chiếu soi
Dấu chân để lại rạng ngời nước non
Kim cương tâm ấy mãi còn
Nắng lên chim bướm muôn phương lại về.

 

Thầy Chân Pháp Tự
(Paul Barthelemy)

Pháp trao thừa tự chốn sơn môn
Mầu nhiệm chân tâm hiện tỏ tường
Nơi đến có hoa vàng trúc tím
Chuông rền đầu ngõ đã tan sương.

 

Sư cô Chân Mật Nghiêm
(Đặng Ngọc Thanh)

Như lai mật ý đã tâm truyền
Một hướng đi về cõi tịnh nghiêm
Xanh biếc thông già nghe sóng biển
Trầm hùng phạm bối hải triều lên.

 

Sư cô Chân Cần Nghiêm
(Đinh Thu Nguyệt)

Nếp xưa vốn sẵn tinh cần
Trang nghiêm niệm lực pháp thân tài bồi
Hào quang chiếu diệu muôn nơi
Tay  tiên nâng đoá kim đài ngát hương.

 

Sư cô Chân Cơ Nghiêm
(Võ Ngô Huỳnh Huệ)

Thiền vượt tử siêu sinh
Hoa vàng trúc tím tự mình trang nghiêm
Tâm an trăng chiếu bên thềm
Trời quang mây tạnh oan khiên sạch rồi.

 

Chị Chân Bảo Tịnh
(Hildeth Farias Da Silva)

Chân như bảo tạng lộ nguyên hình
Tịnh độ sen vàng cánh đẹp xinh
Sông lớn xuôi dòng về biển lớn
Nhìn vào vô tướng thấy vô sinh.

 

Chị Chân Bản Đức
(Nguyễn Thị Thu Hồng)

Mang Linh Phong bản nguyện
Lấy ân đức truyền thừa
Mây xưa thành tuyết mới
Trọn vẹn ước mơ xưa.

 

Anh Chân Đại Thệ
(Bùi Cao Thanh Tâm)

Lối về mang đại nguyện
Lời thệ ước không quên
Thấy hoa vàng trúc tím
Ân báo và nghĩa đền.

 

Chị Chân Bảo Hiện
(Jane Hulshoff Pol)

Bảo châu vạt áo hiện tiền
Thong dong lạc trú thần tiên cõi nầy
Nhân duyên thời tiết ai hay
Khúc vô sinh xướng, hiển bày pháp thân.

 

Anh Chân Thệ Hải
(Look Hulshoff Pol)

Tâm bất vi bản thệ
Nguyện hải nhật do thâm
Thái bình ca nhất khúc
Bộ bộ khả siêu trần.

 

Anh Chân Diệu Trí
(John Bell)

Đem diệu quan sát trí
Đốn phá màn vô minh
Đốt lên hương ngũ phận
Cùng bảo vệ hành tinh.

 

Anh Chân Trí Hải
(Michel Walzer)

Trí cả như minh nguyệt
Hải ấn ngát đàn hương
Sương tan núi biếc hiện
Đường về quê tỏ tường

 

Chị Chân Bảo An
(Shelagh Shalev)

Trái tim chân bảo tạng
Chứa một trời bình an
Đàm hoa đang hé cánh
Phô hiện pháp niết bàn.

 

Anh Chân Bảo Học
(Kai Romhardt)

Khơi đèn Tam Bảo sáng trưng
Pháp môn Tam Học nhất tâm hành trì
Phượng hoàng dương cánh uy nghi
Thong dong mây trắng bay về núi xanh.

———————————————————————————————–

Ngày 18.10.2010, một ngày trong khoá tu xuất sĩ tại Làng Mai Thái Lan, vào lúc 5h sáng Sư Ông làm lễ truyền đăng cho mười lăm tân giáo thọ tại thiền đường Trời Phương Ngoại. Chưa bao giờ có lễ truyền đăng vắn tắt mà trang nghiêm đến thế. Âu cũng nhờ ân đức của chư Tổ truyền qua Sư Ông. Dưới đây là danh sách các vị tân giáo thọ cùng với các bài kệ truyền đăng:

 

Thầy Chân Pháp Lâm
(Trần Nguyên Trường)

Cầm đuốc thiêng chánh pháp
Soi sáng chốn tùng lâm
Oanh vàng về ca hát
Trên liễu biếc cành xuân.

 

Thầy Chân Pháp Toàn
(Lê Phê)

Nghe bông hoa thuyết pháp
Tiếp xúc được toàn chân
Vượt ngàn trùng sinh diệt
Tìm lại đóa chân tâm.

 

Thầy Chân Pháp Tụ
(Nguyễn Phi Hùng)

Bốn phương pháp lữ về quy tụ
Núi cũ vang lừng tiếng phạm âm
Đôi vầng nhật nguyệt trên vai vác
Tuổi đạo dài như tuổi núi sông.

 

Thầy Thích Từ Hải
(Trần Phước Lâm)

Thuyền từ lướt sóng đại dương
Triều âm hải chấn căng buồm độ sinh
Trời mây thân hữu an lành
Chở che có ánh trăng thanh tuyệt vời.

 

Thầy Thích Từ Giác
(Lê Vi Thoại)

Hạt từ gieo thuở ấu thơ
Cội cây giác ngộ đến giờ nở hoa
Hương bay ngàn dặm quê nhà
Non xưa biểu hiện một tòa lưu ly.

 

Thầy Thích Từ Đức
(Phạm Tăng Chính)

Mây từ ban xuống mưa ân đức
Công phu vực dậy một trời xuân
Tăng thân xây dựng tình huynh đệ
Đêm đêm khởi xướng hội trăng rằm.

 

Thầy Thích Từ Thông
(Hoàng Trọng Đống)

Từ mở tâm vô lượng
Thông đạt ý vô cầu
Mưa pháp về thấm nhuận
Chuyển hoá mọi niềm đau.

 

Thầy Thích Từ Dung
(Dương Thanh Trung)

Đất trời lên tiếng gọi
Từ và niệm dung thông
Đại bàng xòe cánh rộng
Mây núi đã lên hồng.

 

Thầy Thích Từ Tế
(Lê Quang Lợi)

Quan Âm một chiếc thuyền từ
Ra tay tế độ vượt bờ tử sinh
Công phu trái kết hoa thành
Trăng sao nến ngọc lung linh rạng ngời.

 

Thầy Thích Từ Hòa
(Phạm Tăng Hiền)

Mưa xuân thấm đức từ hòa
Cho cây Ưu Bát nở hoa tuyệt vời
Đồi Xuân khoác áo Xuân tươi
Công phu thiền quán tài bồi Dương Xuân.

 

Thầy Thích Từ Đạo
(Đỗ Quang Phú)

Đại từ khai đại đạo
Diệu âm quán thế âm
Vô lượng tâm nhất quán
Đương niệm đắc siêu trần.

 

Thầy Chân Pháp Tịnh
(Hàng Thanh Tùng)

Cửa pháp vừa hé mở
Thế gian tịnh hóa rồi
Hương giới định thơm ngát
Trời tuệ giác chiếu soi.

 

Sư cô Chân Phước Tâm
(Trần Thị Thắng)

Tay ai nâng đóa sen vàng
Uy nghi phước tuệ rõ ràng chân tâm
Mây mù bốn phía đã tan
Trăng thu sáng tỏ trần gian rạng ngời.

 

Thầy Chân Thông Tánh
(Lê Quốc Thanh)

Giới định vốn dung thông
Nguồn linh tánh sáng trong
Hương Ưu Đàm tỏa ngát
Tuệ nhật chiếu vô cùng

 

Thầy Chân Huệ Trung
(Văn Ngọc Lâm)

Song hành phước huệ trang nghiêm
Vầng trăng trung quán vừa lên tuyệt vời
Tỳ lô tánh hải chiếu soi
Mây trời thân hữu đón mời tri âm.

Bộ phim “Bước chân an lạc” (Walk With Me) sẽ được công chiếu tại Việt Nam

“Bước chân an lạc” (tựa đề tiếng Anh là “Walk With Me”) – một bộ phim tài liệu về Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai – dự kiến sẽ ra mắt khán giả Việt Nam vào ngày 24 tháng 11 năm 2017.

Được thực hiện bởi Max Pugh và Marc J. Francis, bộ phim “Bước chân an lạc” đã được công chiếu lần đầu tiên tại Liên hoan phim South by Southwest ở Texas (Mỹ) vào ngày 15 tháng 3, sau đó chu du nhiều nước Âu Mỹ và châu Á từ tháng 8 đến nay. Gần đây nhất, ngày 18 tháng 9, bộ phim đã được công chiếu tại Thái Lan với sự có mặt của Thiền sư Thích Nhất Hạnh và tăng thân Làng Mai.

Về hoàn cảnh ra đời của bộ phim, đạo diễn Max Pugh nói rằng: “Mười năm trước đây, em trai tôi đã từ bỏ tài sản, xe hơi và ngôi nhà của mình để xuất gia làm một tu sĩ Phật giáo theo truyền thống Làng Mai. Quyết định đó không hoàn toàn làm tôi ngạc nhiên vì em tôi đã hướng về đạo Phật từ vài năm trước, khi còn đang là sinh viên đại học. Chúng tôi đã nói chuyện với nhau rất nhiều về con đường xuất gia, nhưng phải đến năm 2011 khi một thầy trong tăng thân Làng Mai đề nghị tôi theo chuyến hoằng pháp của Thiền sư Thích Nhất Hạnh tại Mỹ và Canada để làm một bộ phim tài liệu thì tôi mới thực sự có cơ hội để khám phá cuộc sống của người xuất gia. Khi đó tôi đã mời người bạn cũ của tôi là đạo diễn phim Marc J. Francis cùng hợp tác. Và bộ phim “Bước chân an lạc” (“Walk with me”) ra đời. Cơ hội được gần gũi và đi cùng các vị xuất sĩ trong những chuyến hoằng pháp để làm bộ phim này đã làm thay đổi cuộc đời tôi theo nhiều cách khác nhau. Sự thực tập lắng nghe sâu, chia sẻ và sống cùng các vị xuất sĩ đã khiến tôi có cảm hứng làm việc hết lòng để tìm ra những cách thể hiện hay nhất nếp sống chánh niệm qua những thước phim của mình.”

Hai nhà làm phim Marc J. Francis và Max Pugh đang phỏng vấn thầy Pháp Cầu tại Làng Mai

Đạo diễn Marc J. Francis cũng chia sẻ cảm nhận của mình khi lần đầu tiên được gặp Thiền sư Thích Nhất Hạnh và kinh nghiệm làm bộ phim này: “Ngay lần đầu tiên khi nhìn thấy Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tôi đã thực sự rất ấn tượng bởi sự có mặt và phong thái đầy chánh niệm của Thiền sư. Cuộc gặp gỡ đó đã gây cảm hứng cho tôi và thúc đẩy tôi phải tìm cách để thể hiện được kinh nghiệm này qua những thước phim.

Theo truyền thống, hầu hết các bộ phim đều được xây dựng dựa trên một vài nhân vật chính. Nhưng để làm bộ phim “Bước chân an lạc” (“Walk With Me”) chúng tôi phải từ bỏ quy ước này, bởi vì Thiền sư Thích Nhất Hạnh không muốn trở thành nhân vật trung tâm của bộ phim, không muốn bị thần tượng hóa, dù bằng bất cứ cách nào. Do vậy chúng tôi phải tìm cách tiếp cận khác để tất cả tăng thân đều trở thành nhân vật chính trong phim.

Chúng tôi đã dành nhiều tuần lễ để đến sống tại các tu viện Làng Mai ở Pháp và Mỹ. Chúng tôi  không mang theo máy quay phim và dành toàn bộ thời gian để thực tập chánh niệm, học cách có mặt và nhìn thế giới bằng một cặp mắt mới. Ngay việc làm bộ phim đã trở thành một sự thực tập chánh niệm. Chúng tôi phải thực tập không bị ràng buộc vào kết quả làm phim bởi vì chúng tôi không bao giờ biết được điều gì sẽ diễn ra mỗi ngày. Có những ngày chúng tôi không làm được thước phim nào, nhưng lại có những ngày chúng tôi quay được những cảnh tuyệt vời”.

Trong ba năm thực hiện bộ phim, Max Pugh và Marc J. Francis đã ghi lại được những hình ảnh rất chân thực, gần gũi của các vị xuất sĩ Làng Mai trong đời sống tu tập hàng ngày cũng như trong những chuyến hoằng pháp bên ngoài tu viện. Với những thước phim đẹp, tĩnh lặng, sử dụng âm thanh tự nhiên, cùng lời dẫn chuyện trích từ tác phẩm “Nẻo về của ý” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh qua giọng đọc của diễn viên nổi tiếng Benedict Cumberbatch, bộ phim tài liệu “Bước chân an lạc” đem đến cho người xem một trải nghiệm rất đặc biệt, đầy thiền vị. Khán giả sẽ có cơ hội bước vào xứ sở của phút giây hiện tại và hiểu thêm về nếp sống của người xuất gia, đặc biệt là những người xuất gia trẻ đến từ nhiều quốc gia khác nhau trong tăng thân Làng Mai.

tại Liên hoan phim South by Southwest ở Texas (Mỹ)

Bộ phim “Bước chân an lạc” đã nhận được rất nhiều lời khen ngợi từ giới làm phim và phê bình điện ảnh của Hollywood.

 “Những lời dạy của Thiền sư Thích Nhất Hạnh đã ảnh hưởng sâu sắc đến cuộc đời tôi. Vì vậy, thật là một niềm vinh hạnh lớn cho tôi khi được góp phần vào bộ phim Walk With Me. Tôi tin chắc là khán giả trên khắp thế giới sẽ rung động bởi những thước phim thật đẹp này.” – Chia sẻ của diễn viên Anh từng được đề cử giải Oscar Benedict Cumberbatch, người dẫn chuyện cho phim “Bước chân an lạc”.

Ông Alejandro G. Inarritu – đạo diễn Mexico từng đoạt giải Oscar với phim The Revenant (Người về từ cõi chết) và Birdman (Người chim) – miêu tả bộ phim là “thinh lặng và trong trẻo” với những “hình ảnh và âm thanh diễn tả về sự tỉnh thức bị quên lãng và đặt nó ngay trên màn hình”.

Inarritu nói rằng: “Tôi rất thích cách mà các đạo diễn phim Bước chân an lạc nắm bắt và thể hiện được trạng thái tỉnh thức qua những thước phim của mình, một điều không phải dễ để thực hiện được. Bộ phim gợi mở về sức mạnh của sự tĩnh lặng – một điều chưa được đánh giá đúng mức nhưng lại rất cần thiết trong bối cảnh thế giới có nhiều sợ hãi và vô minh như hiện nay.” Inarritu đã từng tham dự khóa tu 21 ngày tại Làng Mai với sự hướng dẫn của Thiền sư Thích Nhất Hạnh; đối với ông, Thiền sư Thích Nhất Hạnh là “một trong những người có trí tuệ thâm sâu nhất” trên thế giới.

Dưới đây là một trích đoạn của bộ phim:

https://youtu.be/C7Ww2ZmSLvo

Thông tin và lịch chiếu của bộ phim tại Việt Nam, xin xem tại đường link sau:  https://moveek.com/phim/walk-with-me/

Tình bạn, tình yêu và khoảng lặng vi diệu

(Sư Ông Làng Mai)

Trong đạo Bụt chữ Từ Bi là thương yêu bắt nguồn từ chữ Maitri và Karuna (tiếng Phạn). Maitri là Từ, Karuna là Bi. Mà Maitri có nguồn gốc từ Mitra, có nghĩa là bạn. Người yêu của mình phải là bạn mình, phải hiểu mình và mình phải hiểu người đó. Hai người đi như một đôi bạn thì mình mới có hạnh phúc. Nếu hai người không hiểu nhau, không có sự thông cảm nhau, nếu tôi không thể hiểu em, em không thể hiểu tôi thì cái đó có thể tạm gọi là tình yêu, nhưng trong đó không có tình bạn, mà không có tình bạn thì không phải là tình yêu đích thực. Vì vậy ai đang yêu thì nên đặt câu hỏi: “Trong tình yêu này có tình bạn không?” Nếu không có tình bạn thì tình yêu này chưa phải là tình yêu đích thực.

“Tình bạn có bộ mặt thật hơn tình yêu, trong tình bạn sự bội bạc có, nhưng không nhiều. Tôi thấy tình bạn quý hơn tình yêu, vì tình bạn có khả năng làm hồi sinh một cơn hôn mê và phục sinh lại một cuộc đời tưởng rằng không còn tái tạo được nữa.”

Tình bạn có công năng cứu chữa. Đúng vậy! Một người bạn có thể cứu chữa cho ta mặc dù đã có lúc ta có rất nhiều lầm lỡ. Dù ta đã sa vào hầm hố của khổ đau, người bạn của ta cũng có thể kéo ta ra khỏi hầm hố đó. Có khi mình nằm trong vực sâu đen tối và người bạn đó tới thả một chiếc thang dài xuống cho ta leo lên vùng chan hòa ánh sáng để tìm lại được màu trời xanh và tiếng suối, tiếng chim. Khả năng cứu chữa đó là tình bạn. Và Đức Bụt Thích Ca cũng có tình bạn, tình bạn rất lớn, tình bạn đó có khả năng cứu chúng ta ra khỏi những trạng huống khó khăn tuyệt vọng. Nếu học theo được tình bạn này thì chúng ta là sự nối tiếp của Đức Thế Tôn, và chúng ta có khả năng đưa cánh tay của tình bạn ra để cứu giúp những người khác. Những giờ phút có thể nói là hạnh phúc nhất của Trịnh Công Sơn là giờ phút ngồi với bạn, vì ngồi như vậy thì không cần phải đối phó, không cần phải nói gì, không cần phải làm gì hết. Sự có mặt của bạn bên mình đem đến cho ta sự an ủi, không cần phải giữ gìn, không cần phải đối phó. Nếu anh có một người bạn như vậy thì quá quý. Trịnh Công Sơn có một số người bạn như vậy nhưng sao anh lại cô đơn? Vì giây phút đó ít quá, Trịnh Công Sơn đã nói như thế này:

“Trong âm nhạc có những dấu lặng, tức dấu nghỉ không có âm thanh, nếu không có những dấu lặng đó thì là một tai họa. Âm nhạc mà không có khoảng cách im lặng thì chẳng qua đó là sự rối loạn mà thôi”.

Trịnh Công Sơn nói, khi ngồi bên cạnh một người bạn yên lặng không nói gì hết cũng giống như một dấu lặng trong âm nhạc. Không nói gì mà hay hơn nói. Đoạn đó rất hay, tôi muốn đọc lại cho quý vị nghe:

“Có những sự có mặt của bạn bè tương đương với một dấu lặng trong âm nhạc, nên sự có mặt đó thường có khả năng mang đến cho ta sự thoải mái, thảnh thơi tựa hồ như là niềm hoan lạc. Đó là những trường hợp ta không cần phải đối phó, không cần phải lấp đầy khoảng trống bằng câu chuyện gắng gượng và nhạt nhẽo”.

Trịnh Công Sơn đã có những giây phút đó, giây phút ngồi với bạn mà không cần làm gì cả, chỉ để được nuôi dưỡng bằng tình bạn. Tất cả chúng ta đều rất cần tình bạn như vậy. Sự ồn ào làm cho Trịnh Công Sơn mệt mỏi dù sự ồn ào đó là để tán thưởng hay ca ngợi mình, cho nên Trịnh Công Sơn rất cần những giờ phút yên lặng. Tuy nhiên Trịnh Công Sơn chưa học được cách ngồi một mình để hưởng sự yên lặng, nên Trịnh Công Sơn cần một người bạn ở bên cạnh, để cảm thấy mình hưởng được sự yên lặng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta đã học ngồi thiền, nhưng ngồi thiền một mình chưa thấy vui lắm. Ngồi thiền thì đâu được nói chuyện thế mà ngồi ba bốn người vẫn vui hơn. Có phải như vậy không?

Trong khi ta ngồi yên như thế, sự có mặt của nhau nuôi dưỡng được tất cả mọi người trong đó. Có một lần ở tu viện Cấp Cô Độc, trong khi các thầy đang chuẩn bị khóa an cư mùa mưa, thì có khoảng ba bốn trăm thầy từ Kosambi tới. Gặp lại các huynh đệ mừng quá, nên các thầy nói chuyện rất ồn ào. Ngồi trong phòng nghe ồn, Bụt hỏi thầy Xá Lợi Phất: “Có chuyện gì mà ồn như cái chợ vậy? Thầy xá Lợi Phất trả lời: “Có một số huynh đệ từ Kosambi tới; gặp nhau, mừng quá nên họ cười nói ồn ào, mất hết uy nghi, xin Đức Thế Tôn tha lỗi cho họ.” Đức Thế Tôn bảo: “Không được, làm ồn như thế thì phải đi chỗ khác tu học, không thể ở đây, tôi không thể ở chung với những người ồn ào như vậy.” Ta thấy trong lòng đức Thế Tôn chủ yếu muốn dạy cho những người đó nên Đức Thế Tôn nói không thể ở đây, phải đi chổ khác tu học. Sau đó thầy Xá Lợi Phất ra báo tin cho các huynh đệ là “Đức Thế Tôn không muốn cho quý vị ở đây, vì từ đầu giờ vào đây quý vị ồn quá làm mất không khí thanh tịnh của nhà thiền.” Nghe thế quý thầy yên lặng, quyết định đi tới một địa phương khác gần đó để an cư.

Trong suốt mùa an cư đó, các thầy nhớ lời Bụt dạy không nói chuyện, không cười giỡn, người nào cũng hạ thủ công phu, cho nên cuối mùa an cư họ chuyển hóa rất nhiều, mặt người nào cũng sáng rực ra, nụ cười nào cũng rất tươi tắn. Sau mùa an cư họ muốn đến cám ơn Đức Thế Tôn đã quở trách họ và nhờ lời quở trách đó mà họ tinh tấn hơn, nên đã thành công trong tu tập. Thầy Xá Lợi Phất vào thưa với Bụt: “Bạch Đức Thế Tôn, các thầy đã an cư xong rồi và họ muốn vào chào Đức Thế Tôn”. Đức Thế Tôn cho quý thầy vào. Lúc đó khoảng 7 giờ chiều. Đức Thế Tôn chắp tay chào các thầy. Ba trăm thầy đó với hai trăm thầy ở địa phương cùng ngồi với Đức Thế Tôn trong thiền đường rất lớn. Thầy trò ngồi với nhau như vậy từ 7 giờ tối cho tới 12 giờ khuya. Ngồi yên lặng không nói gì hết.

Thầy Anan, thị giả của Bụt, tới gần Bụt và bạch: “Bạch Đức Thế Tôn, gần tới nửa đêm rồi, Đức Thế Tôn có dạy gì cho các thầy không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên và thầy trò ngồi yên như thế cho tới 3 giờ sáng. Ngồi yên bên nhau, không nói gì hết, thầy Anan lại nóng ruột nên đến bạch với Đức Thế Tôn một lần nữa:“ Ba giờ sáng rồi, Ngài có muốn khai thị cho các thầy điều gì không?” Đức Thế Tôn vẫn ngồi yên với các thầy cho đến 5 giờ sáng. Lúc này thầy Anan tới “Bạch Đức Thế Tôn, trời rạng đông rồi, Ngài có muốn nói gì với các thầy không?” Đức Thế Tôn nói: “Thầy muốn tôi nói gì nữa. Thầy trò ngồi với nhau như vậy chưa đủ hay sao.”

Thầy trò huynh đệ ngồi với nhau, thấy được và trân quý sự có mặt của nhau là một hạnh phúc rất lớn, rất được nuôi dưỡng. Tuy không có âm thanh nhưng giá trị bằng 10 lần âm thanh. Trong tác phẩm “Tỳ Bà Hành” cũng có một câu nói tương tự “Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Người nữ đó đàn tỳ bà, có lúc nàng im bặt và trong thời gian im lặng đó, giữa hai nốt nhạc rất hùng hồn, rất thấm thía. Còn hay hơn có âm thanh nữa.“Thử thời vô thanh thắng hữu thanh.” Thử thời là bây giờ, vô thanh là không có âm thanh. Không có âm thanh mà hay hơn là có âm thanh. Trịnh Công Sơn đã thấy được điều đó. Ngồi với bạn bè không cần nói năng gì, chỉ cần có sự thông cảm và hưởng sự có mặt của nhau là đủ rồi. Tôi nghĩ sự an ủi lớn nhất của Trịnh Công Sơn là những giờ phút ngồi với bạn bè. Nhưng nếu bạn không biết ngồi chỉ biết uống rượu thôi thì những giây phút đó không còn quý nữa.

(Trích từ pháp thoại “Thông điệp thương yêu của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn” của Thiền sư Thích Nhất Hạnh.

Lòng hôm ấy sẽ là lòng muôn thuở

Anh Chân Văn và chị Chân Huyền được Sư Ông Làng Mai truyền đăng năm 2003. Anh chị đã cùng với tăng thân Montreal, Canada thành lập Làng Cây Phong từ năm 1985, và hiện đang là thành viên nòng cốt của tăng thân xóm Dừa tại Nam California. Trong khóa tu 21 ngày tại Làng Mai năm qua, BBT có cơ hội được ngồi chơi và nghe anh chị chia sẻ những kỷ niệm với Sư Ông và những ảnh hưởng của Sư Ông đến cuộc đời của anh chị. BBT xin được trích đăng dưới đây.

Thầy đã giúp cho tôi thay đổi

Anh Chân Văn: Rất khó để nói trong cuộc đời có một người nào đó ảnh hưởng đến mình, làm cho mình thay đổi. Một trong những điều quan trọng nhất tôi trực tiếp nhận từ Thầy là qua Thầy tôi mới bắt đầu hiểu đạo Bụt. Trước đó, tôi đã học về Phật giáo, tự học cũng như học ở chùa, ở đại học, nhưng đến khi gặp Thầy thì tôi nhận ra rằng: Ồ, thì ra Phật giáo là như vậy.

Trước năm 1963, tôi được đọc cuốn Đạo Phật ngày nay của Thầy, do sinh viên Phật tử ở Paris in. Đây là lần đầu tiên tôi đọc sách Thầy. Trước đó, khi nghe nhà văn Nguyễn Đức Quỳnh nhắc đến ‘thầy Nhất Hạnh’ và sách thầy viết về Duy thức học, tôi chỉ thấy Thầy “có vẻ nổi tiếng và được nhiều người kính trọng”. Đọc cuốn Đạo Phật ngày nay, tôi thấy những điều mình biết trước đó không có ích lợi gì cả, tâm tôi được đánh động. Nó không phải là những hiểu biết mới, nó là một thứ chuyển động trong tôi. Lúc đó tôi mới hiểu: “À, có một cách để đi vào đạo Phật, nó khác với những gì mình đã học”. Bởi tôi học Việt-Hán nên tôi biết chữ Hán một chút, khi tụng đọc tôi có thể hiểu các kinh. Nhưng rồi tất cả những hiểu biết đó không ích lợi gì nếu không đưa mình tới quyết tâm tu tập.

Năm 1964, tôi vào Viện Cao đẳng Phật học. Tôi ghi tên khóa đầu tiên và học một lớp Thầy dạy – lớp Phật giáo Đại cương. Trong lớp đó, khi học về Tứ Diệu Đế, Thầy cho sinh viên một bài tập về nhà. Đó là thực tập về Khổ đế. Lần đầu tiên ở đại học Việt Nam có một thầy giáo (là Thầy) ra bài tập làm ở nhà là bảo sinh viên đi săn sóc người bệnh ở nhà thương để tiếp xúc với cái khổ. Năm đó, tôi được văn phòng nhà trường xếp cho đi thăm một bệnh nhân tại bệnh viện Chợ Rẫy. Tôi đến, gặp một em bé chừng mười bốn tuổi bị cụt chân, em tên Tuấn, người Quảng Ngãi. Tôi mang quà tặng em và ngồi nói chuyện với em, mỗi tuần vài lần, kéo dài trong nhiều tuần lễ. Bài tập Thầy giao về nhà là như vậy. Cuộc tiếp xúc với em Tuấn đã thay đổi tôi rất nhiều. Đó là lần đầu tiên tôi thấy như chiến tranh ở trước mặt mình. Trước đó, anh tôi mất vì chiến tranh; tôi cũng đưa đám mấy người bạn chết vì chiến tranh. Nhưng trong tôi, chiến tranh vẫn là cái gì đó ở xa lắm. Chỉ đến khi gặp em Tuấn, nghe kể chuyện, một em bé rất quê mùa, hoàn toàn không biết gì ngoài ngôi làng mình ở, không biết cả tỉnh Quảng Ngãi như thế nào, không biết chuyện vì sao có chiến tranh ở Việt Nam… Nhưng nhờ gặp em, tôi mới hiểu được người dân thực sự đang sống thế nào.

Ngay sau đó, tôi đi tham dự các công tác xã hội giúp đồng bào, cho nên không thiết tha đi học để lãnh bằng cấp gì nữa. Đang học chương trình Cử nhân Văn khoa, tôi bỏ luôn. Trường Cao đẳng Phật học, tôi cũng nghỉ, vì không có thì giờ tiếp tục nữa. Ngoài việc dạy học, tôi chỉ đi làm những công việc thiện nguyện.

Mùa thu năm 1964, có bão lụt lớn ở miền Trung, cả nước xúc động, chúng tôi họp nhau bàn một chương trình giúp người bị nạn. Cùng một số bạn hoạt động trong các hội đoàn thanh niên ở Sài Gòn, mười anh em chúng tôi đã cổ động sinh viên, học sinh và thanh niên đi công tác. Một vài người đến gặp ông Bộ trưởng xã hội, nói rằng: “Có hàng ngàn sinh viên tình nguyện mang đồ cứu trợ đến tại chỗ giúp đồng bào miền Trung, các ông có dám giao cho chúng tôi không?”. Ông Bộ trưởng xã hội bảo: “Tốt lắm! Nếu các anh đi được thì chúng tôi giao hết cho các anh. Các anh mang thực phẩm, quần áo, giày dép, chăn mền phát cho người dân miền Trung bị lũ lụt”. Ba bốn đoàn thanh niên chúng tôi đi các tỉnh từ Quảng Ngãi xuống tới Tuy Hòa, đi vào vùng lụt lội, sống ở đó cả tháng trời. Đó cũng là lần đầu tiên tôi trông thấy xác chết vì chiến tranh ngay trước mắt. Đoàn của tôi đi từ Quy Nhơn ra đến Bồng Sơn, làm việc tại bốn quận. Trong khi di chuyển, trên xe, chúng tôi luôn luôn phải lo không biết có mìn, hố hay không, có bị phục kích hoặc bắn lẻ không!

Có lẽ cuộc gặp gỡ với em Tuấn đã đánh thức cho tôi về chiến tranh Việt Nam, và từ năm đó tôi làm thơ về chiến tranh Việt Nam. Thành ra, một bài thực tập về Khổ đế mà Thầy giao cho đã thay đổi đời sống của tôi trong những năm 1964. Tôi làm việc xã hội trong nhiều đoàn thể, tôi cũng là một huynh trưởng Hướng Đạo. Rồi tới một lúc, tôi thấy: “tất cả những việc mình làm như đi cứu trợ lũ lụt hay đi xây nhà cho đồng bào tị nạn,… những việc đó chỉ là nhất thời. Còn muốn giúp thực sự cho xã hội mình phải tham gia công tác lâu dài”. Trường Thanh niên phụng sự xã hội là một môi trường như thế. Thầy Thanh Văn đã đến nhà tôi kêu gọi hãy giúp trường, khoảng sau Tết Mậu Thân, năm 1968. Từ đó, tôi chuyển sang làm việc cho trường Thanh niên phụng sự xã hội, với thầy Thanh Văn, anh Chân Lễ Lê Nguyên Thiều, anh Nguyễn Văn Thuất, chú Châu Văn Thọ. Cho đến năm 1975, Thầy vẫn là giám đốc trường Thanh niên phụng sự xã hội. Còn chức Giám đốc điều hành là thầy Thanh Văn, sau đó được thầy Châu Toàn, thầy Từ Mẫn kế nhiệm.

Do ảnh hưởng của Thầy nên đời sống của tôi trong thời gian đó đã thay đổi. Nhưng phải nói đến giai đoạn chót, tức là lúc di cư ra nước ngoài, tôi lại nhận được ảnh hưởng của Thầy lần nữa.

Tôi nhớ khoảng cuối năm 1975 hay 1976, sư cô Chân Không hay Thầy có gửi thư đến Montréal cho tôi, gọi tôi sang Singapore để giúp con tàu vớt người trên biển. Lúc đó tôi không đi được, một phần vì tôi mới qua Canada chưa có quốc tịch, con tôi mới một tuổi, nhà tôi là Quyên (tức Chân Huyền) lại chưa đi làm, tôi là người duy nhất trong nhà đi làm nuôi vợ con. Nhưng sau đó công tác cứu người vượt biển của Thầy cũng phải ngưng vì chính quyền các nước Đông Nam Á ngăn cản.

Năm 1983, chúng tôi lại nhận được thư Thầy, bảo Quyên và tôi xuống gặp Thầy tại Mount Tremper, ở New York. Thầy đang hướng dẫn một khóa thiền tập cho người Mỹ ở đó. Tôi còn nhớ lúc chúng tôi gặp Thầy, câu đầu tiên Thầy hỏi là: “Các cháu đâu?”. Tôi đã rất ngạc nhiên, không nghĩ rằng Thầy sẽ hỏi câu đó. Nhưng Thầy thì mình biết, mỗi câu nói của Thầy đều có suy nghĩ trước và đều có tác dụng. Bài học Thầy dạy tôi hôm đó là hãy lo cho các con; chuyện tu học không phải là chuyện của một mình mình mà là chuyện của cả gia đình.

Đó là bài học đầu tiên tôi nhận được từ Thầy, trong cuộc gặp gỡ đó.

Bài học thứ hai, cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ lời Thầy dạy, mà vẫn chưa làm theo được. Một ngày ngồi nói chuyện với Thầy, Thầy bảo tôi một câu: “Anh Toàn, mình không cần phải đọc nhiều sách quá!” Khi nói chuyện, Thầy đã nhìn ra ngay anh này là con ‘mọt sách’. Thú thật là từ năm 1983 cho tới giờ tôi chưa hoàn toàn vâng lời Thầy. Tôi vẫn giữ thói quen đọc nhiều. Có lẽ do nghề nghiệp của tôi là phải viết, cho nên đọc cũng là một cách kích thích giúp cho mình muốn viết và viết dễ hơn.

Nhưng tôi nhớ mãi lời Thầy khuyên: “không cần đọc nhiều quá”, nghĩa là đừng chất chứa quá nhiều thứ vào đầu! Đó vẫn là một điều tôi phải thực tập mãi mãi. Cũng may là tôi hay quên, đọc xong rồi quên, không chứa nhiều thứ trong đầu quá. Nhưng sau khi nghe lời khuyên của Thầy, từ đó tôi cũng thay đổi. Việc đọc sách báo của tôi có tính chất “giải trí” để tự kích thích trong nghề viết; giống như có người muốn viết thì phải ra ngắm trời ngắm đất để lấy cảm hứng. Bây giờ mình đã có máy móc hiện đại để chứa hết các dữ liệu rồi, mình không cần phải nhớ nhiều nữa.

Nhưng một thay đổi lớn trong tôi, sau khi gặp Thầy năm 1983 và cùng gia đình qua ở Làng Mai mùa hè năm 1984, là cách nhìn cuộc đời đã thay đổi khi mình thực tập sống với cái quán chiếu. Ảnh hưởng rõ rệt nhất là dần dần cách viết của tôi thay đổi. Thực tập sống tỉnh thức, khi cầm bút viết mình bắt đầu quán chiếu tâm mình và tâm của người đọc. Tự nghĩ rằng cái này viết ra người đọc sẽ thấy gì, họ nhận được như thế nào, làm như vậy có ích lợi gì cho họ không, xã hội có được ích lợi gì hay không? Cái tâm chuyển biến khiến văn phong bắt đầu thay đổi, từ từ, trong nhiều năm. Từ đó trở đi tôi thấy cách mình nhìn cuộc đời, cách nhìn các vấn đề chính trị, xã hội, kinh tế cũng thay đổi. Bởi mình đã biết tập quán chiếu, quán chiếu mình và quán chiếu người. Lắm khi, con người mình thay đổi hồi nào mà mình không hay, vì sự thay đổi diễn ra chầm chậm, nó thể hiện trong cách mình viết, ngôn ngữ mình dùng cho tới các ý tưởng, phán đoán của mình, mà chính mình không biết mình đang thay đổi. Phải tới một ngày, có những người đọc văn tôi và nêu ra nhận xét của họ tôi mới nhận ra cách viết của mình đã khác trước. Khi đó, mình có ý thức hơn, quán chiếu cẩn mật hơn mỗi khi ngồi trước bàn máy để viết.

Nếu tôi không được gặp Thầy, không được nghe Thầy giảng về sự thực tập chánh niệm, thì tôi sẽ không có được sự thay đổi về cách nghĩ, cách sống và viết theo lối đó. Rõ ràng tôi thay đổi cách viết là nhờ tu tập theo Thầy.

Liều thuốc chánh niệm

Chị Chân Huyền chia sẻ: Trước năm 1975, trên thị trường, sách của Thầy có cuốn nào là Chân Huyền đọc cuốn đó và đọc rất say mê, trừ cuốn Duy thức học vì khó quá. Sau năm 1975, khi sang đến Canada, việc đầu tiên là Chân Huyền liên lạc với nhà xuất bản Lá Bối để thỉnh mua tất cả những cuốn sách bị bỏ lại khi di tản. Và cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức là cuốn sách đã cứu mạng Chân Huyền.

Sang Canada được ba năm, nhờ may mắn, Chân Huyền mở được tiệm thuốc riêng. Tất nhiên, Chân Huyền phải làm việc rất nhiều, vội vã và căng thẳng. Chân Huyền không thích thuốc an thần, nhưng lúc đó đã bắt đầu phải uống thuốc để có thể làm việc mười tiếng một ngày, rồi về lo cơm nước cho gia đình. Cuốn Phép lạ của sự tỉnh thức Chân Huyền thỉnh về từ năm 1976 – 1977, để ở đầu giường và lật ra đọc. Khi ấy, Chân Huyền cũng không hiểu quán niệm khác với chánh niệm là như thế nào. Tất cả các danh từ trong cuốn sách ấy đều rất lạ lùng.

Trong ba mươi mốt bài thực tập, chỉ có một bài Chân Huyền có thể theo được, là mỗi tuần dành một ngày để sống thong thả, tức là sống có chánh niệm. Chân Huyền không biết sống có chánh niệm là gì nhưng hiểu là làm đến đâu thì làm, không cần phải lo, không cần phải cố gắng. Chân Huyền áp dụng bài đó. Mỗi Chủ nhật, thay vì nấu ăn cho ngon, mời bạn bè đến thì Chân Huyền bỏ, không làm nữa. Ngày Chủ nhật là ngày thong thả. Giặt quần áo đến đâu thì giặt, không cần phải giặt hết, lau nhà cũng không cần phải lau cho hết các phòng, sống cho thong thả, đến chiều thì cả nhà cùng đi ăn tiệm, không phải nấu vì nấu ăn cũng mất rất nhiều thì giờ. Trước đó, Chân Huyền đã phải uống một tuần hai viên thuốc an thần. Ba tháng sau khi áp dụng bài tập “ngày Chủ nhật sống thong thả” thì bỗng nhiên thấy mình không cần phải uống thuốc mà ra tiệm vẫn làm việc bình tĩnh được. Đó là bài học đầu tiên Chân Huyền học trong sách. Sau đó thì không bao giờ Chân Huyền đụng đến thuốc nữa.

Năm 1982, Chân Huyền bị mất ngủ liên miên, một người bạn rất thân của gia đình đã qua đời vì tự tử, đó là một cú sốc rất lớn cho hai vợ chồng. Khi mới sang Canada, anh ấy là người bạn thân nhất, thường tới giúp gia đình Chân Huyền đủ mọi thứ. Từ chuyện tìm kế sinh sống ở nước ngoài cho tới khó khăn về tâm lý, anh ấy cũng là chỗ cho mình tâm sự. Vậy mà lúc anh ấy có chuyện, mình lại không biết để giúp đỡ. Anh ấy rất kín đáo. Anh là một người rất đáng quý, rất dễ thương, nhưng lại coi nhẹ đời sống, khi có vấn đề thì anh tự kết liễu đời mình. Chiều hôm đó, anh đến nhà chơi với các cháu, dùng cơm chung, rồi đêm về nhà tự kết liễu cuộc đời. Chân Huyền rất ân hận là tại sao một người thân và quý của mình như vậy mà mình không hiểu gì về họ trong lúc họ gặp khó khăn.

Hai vợ chồng Chân Huyền bị sốc rất nặng, rất đau khổ, nên cứ đêm là Chân Huyền thức dậy lúc hai, ba giờ sáng. Chân Huyền bắt đầu đọc lại cuốn Nẻo vào thiền học của Thầy, thấy đoạn rửa chén cũng là thiền, quét nhà cũng là thiền thì sướng quá. Một buổi sáng thức dậy sớm, Chân Huyền mới mạo muội viết cho Thầy một lá thư, xin phép Thầy để được qua thăm vào một mùa hè nào đó để học thiền rửa chén và thiền quét nhà. Chân Huyền cũng biết là Thầy rất bận cho việc viết sách, đóng sách,… Hồi đó, Thầy được phong là “ông đạo đóng sách”. Thật bất ngờ, chỉ một tuần sau Chân Huyền nhận được thư của Thầy. Thầy trả lời thư, lá thư dài tới hai trang. Thầy bảo Chân Huyền “chị có tới ba thiện tri thức trên con đường tập thiền, phải không. Việc nuôi dạy các cháu là việc quan trọng nhất, căn bản nhất. Tương lai của nhân loại tùy thuộc ở nơi đó. Nếu anh chị chăm chú thì sẽ học được rất nhiều nơi các cháu. Đó là những thiền sư ‘authentiques’ (thứ thiệt) nhất. Tôi đang lập Làng Hồng, khi nào xong mời anh chị và các cháu về chơi, chúng ta cùng ngồi thiền. Nhưng năm tới tôi sang dạy cho người bản xứ, tôi sẽ thu xếp để chị có thể tới gặp tôi một buổi”. Thầy rất chu đáo. Vì thế nên có cuộc gặp gỡ với Thầy vào năm 1983 ở Mount Tremper, ngày Thầy được rảnh trong chương trình “làm biếng”. Thầy tiếp hai vợ chồng Chân Huyền từ sáng tới chiều tối.

Chuyện Thầy ảnh hưởng tới Chân Huyền thì rất nhiều, ngoài hai cuốn sách Phép lạ của sự tỉnh thức và Nẻo vào thiền học. Chân Huyền nhớ rất rõ là với anh Toàn thì Thầy dạy đừng đọc nhiều quá; còn với Chân Huyền thì Thầy dạy: “Đừng quá lo lắng về các cháu. Các cháu có dòng máu Việt trong người, khi lớn lên các cháu sẽ có văn hóa Việt. Chị đừng lo quá!”. Chân Huyền chưa nói gì về con cái nhưng Thầy đã nói trước rồi. Thầy đọc được sự lo lắng trong mắt Chân Huyền. Năm đó cũng là lần đầu tiên được gặp thầy Giác Thanh. Thầy Giác Thanh là người Thầy gửi gắm hướng dẫn cho vợ chồng Chân Huyền đi thiền hành. Hôm đó, cảm được năng lượng thương yêu, ân cần và từ bi của Thầy, Chân Huyền rất cảm động.

Lúc mới tới Chân Huyền mặc chiếc áo mưa, Thầy bảo: “Chị bỏ áo ra, tôi cất vào đây cho”. Chân Huyền thưa: “Thưa Thầy, con lạnh”. Lúc Chân Huyền đi ra ngoài để tập thiền hành với thầy Giác Thanh, Thầy đứng lên lấy áo và mũ của Thầy đưa cho Chân Huyền mặc. Thầy nói: “Bên ngoài lạnh lắm, chị mặc thêm áo cho khỏi lạnh”. Thế là Chân Huyền khoác áo măng-tô và đội mũ của Thầy. Chân Huyền còn bức hình đó. Vậy nên cứ lút cút theo Thầy cho tới giờ này (cười).

Nhưng có một công án Thầy trao cho Chân Huyền từ khi mới nhận giới Tiếp Hiện. Thầy qua Montreal, Canada hướng dẫn khóa tu 5 năm liền, từ 1985 cho đến 1989, mỗi năm Thầy đều tới, đó là một đặc ân Thầy dành cho người Việt ở Canada. Thầy rất hay ở nhà Chân Huyền, trước và sau khóa tu. Ba, bốn giờ sáng Thầy thức dậy thì Chân Huyền cũng dậy theo và đi xuống mang trà lên để Thầy dùng. Thầy lại bảo ngồi đây uống trà với Thầy. Có một hôm, khi vừa thọ giới Tiếp Hiện, ngồi uống trà cùng Thầy, Thầy nhìn thẳng vào mặt Chân Huyền và nói: “Chân Huyền”, thì Chân Huyền nói: “Dạ”. Thầy nói tiếp: “Thiền tập không phải chỉ để sống đỡ căng thẳng đâu nhé!”. Chân Huyền chỉ biết dạ vì lúc đó Chân Huyền cũng sợ lắm, không dám hỏi thêm Thầy một câu gì nữa. Câu đó làm cho Chân Huyền biết là chỉ có thực tập thôi, để rồi xem Thầy nói thế nghĩa là gì.

Và sự thực tập chánh niệm, dù mình còn nhiều lên xuống, khi thì nhớ thực tập, khi thì không, nhưng mình nhớ chút chút mình cũng đã thấy hạnh phúc nhiều hơn trước, gia đình êm ấm hơn. Và dần dần mình mới hiểu thêm câu nói của Thầy, rằng chánh niệm giúp mình những gì. Điều chính là chánh niệm giúp mình thấy được hạnh phúc từ trong tâm, không cần lời khen của ai, không cần phải mua bán hay đạt được một thứ gì hết. Mình có hạnh phúc khi mình biết thở, mình biết thực tập. Đó là điều giúp cho Chân Huyền lúc nào cũng hăng hái trong sự thực tập, nhất là bên cạnh thì có tăng thân Làng Cây Phong, và sau này thì có tăng thân Xóm Dừa ở California.

Chân Văn – Chân Huyền