Giẫm lên Đất Mẹ

Khi giẫm lên Đất Mẹ chúng ta đừng nghĩ đất là vật chất, đất cũng là tâm thức, có tâm thức trong mỗi hạt bụi. Trong hạt bụi có vô số Bụt, mỗi vị an trú chúng hội mình, đó là lời dạy của kinh Hoa Nghiêm. Đi thiền hành với tuệ giác đó, chúng ta đi vào thế giới của Hoa Nghiêm, chúng ta tiếp xúc với một sự sống linh động, đó là Đất Mẹ. Chúng ta là một phần của Đất Mẹ, Đất Mẹ có trong ta, cũng như mặt trời, tức đức A Di Đà, một vị Bụt lớn, cũng có trong ta. Chúng ta phải thực tế, đừng nên viển vông đi tìm Bụt hay Bồ tát ở một nơi xa nào. Bụt và Bồ tát có mặt trong giây phút hiện tại, và Tịnh độ cũng có mặt trong hiện tại. Đi thiền hành như vậy đem lại sự dừng lại, sự bình an, sự vui sống để nuôi dưỡng chúng ta và nuôi dưỡng cả thế giới.

Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ
Mỗi bước chân con trở lại suối nguồn

Thở vào chúng ta đi ba bước: mỗi bước một từ, mỗi-bước-chân. Thở ra đi năm bước: con-đi-vào-Tịnh-độ. Đi thiền hành một mình tôi thường làm như vậy. Mỗi bước chân con đi vào Tịnh độ, tôi tiếp xúc với đất. Mỗi  bước  chân  con  trở  lại  suối  nguồn, tôi  tiếp  xúc với trời.

Hôm nay đi thiền hành, ta nhớ tiếp xúc với đất, đừng cho đất là vật chất, đất cũng là tâm. Vật và tâm là hai mặt của một thực tại, cái này nương vào cái kia mà có mặt, không có cái này thì không có cái kia. Đi thiền như vậy chúng ta có hạnh phúc, mỗi bước chân đều có khả năng nuôi dưỡng, trị liệu, mỗi bước chân đều có thể chế tác được niềm vui và năng lượng bình an. Ta đi cho ta và cho cả thế giới, đi cho bản thân và làm cho trái đất được an lành. Con người có thể trở nên độc ác, có khả năng phá hủy hình hài của mình và phá hủy trái đất là do cái thấy phân biệt nhị nguyên: tâm và vật khác nhau, sinh và diệt khác nhau. Vượt thoát được cái thấy nhị nguyên, chúng ta không còn phân biệt, chúng ta có sự chấp nhận, bình an. Nếu tu tập, con người sẽ trở thành những vị Bụt và Bồ tát có khả năng bảo vệ, không những bảo vệ cho con người mà còn bảo vệ cho các chủng loại khác trên trái đất và bảo vệ cho Đất Mẹ. Vì vậy sự tu tập của chúng ta rất cần thiết cho sự sống hằng ngày của thế giới.

Ta đi thiền hành không cho riêng ta mà đi cho thế giới và cho Đất Mẹ. Chúng ta đã tổ chức đi thiền hành ở các thành phố lớn trên thế giới.

Khi đi thiền hành, chúng ta không chỉ đi bằng thân mà phải đi bằng cả tâm của mình, gọi là thân tâm nhất như (the oneness of body and mind). Miệng (khẩu) của ta cũng phải đi theo. Cho nên trong khi thiền hành ta không được nói chuyện. Thân, khẩu, ý hợp nhất gọi là tương ưng. Trong khi giẫm lên mặt đất chúng ta không thấy đất là vật chất. Cho đất là vật chất tức là theo chủ trương duy vật luận (matérialisme). Nếu thấy đất là ý niệm, là tâm thì đó là duy tâm luận (idéalisme). Duy vật luận là một cực đoan và duy tâm luận là một cực đoan khác, căn cứ trên ý niệm vật và tâm là hai cái khác nhau. Nhiều nhà khoa học cho rằng tâm là do vật chất tạo ra, thức là một sản phẩm của não bộ. Khuynh hướng này rất gần với chủ nghĩa duy vật. Nhiều người khác lại cho rằng chính tâm tạo ra vật chất. Nhưng khi quán chiếu về thân thể, ta thấy rằng hình hài của ta không phải chỉ là vật chất. Trong hình hài có tâm, có cái biết và có sự thông minh của nó. Một tế bào cơ thể là một thực tại linh động có tâm trong đó, nếu lấy tâm đi thì nó trở thành một tế bào chết. Trong cơ thể của chúng ta có hàng tỷ tế bào và mỗi tế bào có sự thông minh, có cái biết rất sâu sắc. Vì vậy nói hình hài chỉ là vật chất, hay chỉ là sinh lý là không đúng.

Nhìn vào thế giới, ví dụ như một cọng cỏ hay một cái cây, ta thấy đó không phải là vật chất vô tri mà trong đó có cái biết. Ta không thể nói hạt bắp là vật chất, tại vì trồng hạt bắp xuống đất thì hạt bắp biết nẩy mầm, lên cây, làm lá, làm hoa và làm ra trái bắp. Như vậy, hạt bắp có cái biết. Nếu nói hạt bắp là vật chất là sai. Nhìn trái đất, ta thấy trái đất là một thực tại mầu nhiệm như những tế bào trong cơ thể. Trái đất có cái biết trong nó. Hành tinh đất có khả năng hiến tặng và nuôi dưỡng sự sống. Cho rằng hành tinh đất là một khối vật chất là sai. Hành tinh đất có sự thông minh, sáng tạo trong đó. Hành tinh này đã sản xuất ra những điều hết sức mầu nhiệm. Loài người là một trong bao nhiêu loài mà hành tinh này đã sản sinh ra. Bụt Thích Ca hay Chúa Jésus cũng là con của hành tinh này. Ta và mẹ ta cũng là những đứa con của hành tinh này. Nếu thấy được ta là con của mẹ ta thì ta cũng thấy được ta và mẹ ta cũng là con của trái đất. Trái đất là một thực tại mầu nhiệm, tuy không phải là con người nhưng trái đất cũng là một bà mẹ, gọi là Đất Mẹ.

Rất nhiều nền văn minh đã nhìn trái đất như một bà mẹ. Nhà sinh vật học người Mỹ, Thomas Lewis viết một cuốn sách về hành tinh trái đất, trong đó ông nói: theo ông thì trái đất giống như một tế bào trong cơ thể con người. Trong trái đất có sự sống, có sự thông minh, tại vì khi nghiên cứu về tế bào trong cơ thể, ông thấy mỗi tế bào đều mầu nhiệm vô cùng. Nhìn trái đất ông thấy trái đất cũng là một sinh vật biết đau, biết buồn, biết suy tư, có thông minh, có trí tuệ, có tài năng. Khi đi thiền hành chúng ta phải sử dụng trí bất nhị để thấy, đừng cho là ta đang giẫm lên trên vật chất. Ta phải thấy ta đang tiếp xúc với Đất Mẹ, với một thực tại vô cùng mầu nhiệm.

 

Đất Mẹ không phải là một hành tinh vô tri

Chúng ta rất may mắn được sống trong một đoàn thể, trong đó người nào cũng biết phương pháp thực tập. Bằng hơi thở, bằng bước chân chúng ta luôn luôn trở về với giây phút hiện tại và tiếp xúc với hình hài của mình. Khi tiếp xúc được với hình hài của ta là ta bắt đầu tiếp xúc được với Đất Mẹ. Tình trạng lao đao, phóng thể, đánh mất mình hay  thất niệm sẽ chấm dứt. Chúng ta có thể trị liệu và nuôi dưỡng tăng thân. Những người bạn của chúng ta đến từ các nước khác cũng thừa hưởng được sự thực tập đó, cũng có thể đạt được sự trị liệu và chuyển hóa.

Ngày Bụt Thích Ca thành đạo, Ngài rất phấn chấn, Ngài biết rằng giây phút đó có thể đến bất cứ lúc nào. Đức Thế Tôn nghĩ:

  • Ta đã thực tập nhiều kiếp, ta đã tiếp xúc, đã quán chiếu và giây phút thành đạo sắp tới rồi.

Khi đức Thế Tôn nghĩ như vậy thì bỗng nhiên ma vương xuất hiện, ma vương đây là sự nghi ngờ. Ma vương hỏi:

  • Tại sao ông biết chắc như vậy? Tại sao ông biết chắc là ông thực tập đầy đủ và ông sắp đạt đạo? Có ai có thể chứng minh được sự thật đó không, hay đó chỉ là sự tưởng tượng của ông?

Siddharta lấy bàn tay chạm vào đất nói:

  • Có đất này chứng kiến, đất này sẽ nói cho ngươi biết đây là sự thật.

Đó là địa xúc (bhūmispaśa). Chúng ta cũng phải thực tập địa xúc, chúng ta có “Sám Pháp Địa Xúc” rất hay. Trong khi ngồi thiền chúng ta thực tập địa xúc, trong khi đi thiền chúng ta cũng thực tập địa xúc. Tiếp xúc với Đất Mẹ, tự nhiên chúng ta sẽ được nuôi dưỡng và trị liệu. Chúng ta nương tựa vào Mẹ, chúng ta quy y vào vị Bồ tát lớn này. Đất Mẹ không những là mẹ của ta mà cha mẹ của ta, thầy của ta cũng là con của Đất Mẹ. Đất Mẹ đã tạo ra nhiều vị Bụt và Bồ tát dưới hình thức của con người hay không phải con người. Đức Thích Ca cũng là một đứa con của Mẹ, các vị Bồ tát cũng là những đứa con của Mẹ.

Trong kinh Pháp Hoa có câu chuyện: Một lần có nhiều vị Bồ tát từ các hành tinh khác tới để tham dự pháp hội Pháp Hoa. Nhiều vị hỏi Bụt có cần họ ở lại để giúp Bụt một tay không. Bụt nói:

  • Quý vị cứ về lo cho trú xứ của mình. Ở đây có đủ Bồ tát để chăm sóc trái đất này.

Lúc đó từ dưới đất trồi lên không biết bao nhiêu là Bồ tát Tùng Địa Dũng Xuất. Vì vậy Đất Mẹ là Mẹ của rất nhiều vị Bụt và Bồ tát dưới hình thức của con người hay không dưới hình thức của con người. Chúng ta phải nương tựa vào Mẹ, quy y Mẹ dưới hình thức của sự thực tập địa xúc. Khi đi thiền hành, xin đại chúng thực tập: mỗi bước chân ta tiếp xúc với Đất Mẹ, Đất Mẹ không phải là một hành tinh vô tri. Chúng ta rất dại, bằng đầu óc non nớt của mình, chúng ta phân biệt thực tại ra hai phần: phần vật chất và phần tinh thần, và chúng ta đặt ra những câu hỏi triết học như “có phải vật chất sinh ra tinh thần? hay tinh thần sinh ra vật chất?”Chúng ta chia làm hai phe:

  • một phe chủ trương duy vật, tất cả chỉ là vật chất, khi vật chất kết hợp lại thì nó sáng tạo ra tâm thức, tâm là do vật sinh ra.
  • một phe chủ trương duy tâm, tất cả đều là tâm, do tâm sinh ra.

Trong truyền thống đạo Bụt, chúng ta học rằng tâm và vật là hai mặt của cùng một thực tại. Thực tại không phải là tâm cũng không phải là vật, thực tại siêu việt cả tâm và vật. Một đồng Euro có mặt trái và mặt phải, chúng ta phân biệt, cho rằng mặt trái không phải là mặt phải và ta tưởng tượng hai mặt có thể tồn tại riêng biệt. Đó là một sự dại dột, tại vì nếu không có phải thì không có trái và nếu không có trái thì không có phải. Phải và trái đều thuộc về một thực tại. Đưa một tờ giấy lên, chúng ta phân biệt một bên là trái và một bên là phải. Chúng ta nói trái và phải có thể tách rời nhau ra mà vẫn tồn tại. Chúng ta không biết rằng sở dĩ bên trái có được là vì nhờ bên phải và ngược lại bên phải có được là vì nhờ bên trái. Chỗ nào có trái là chỗ đó có phải và chỗ nào có phải là chỗ đó có trái. Có trên là có dưới, có dưới là có trên. Cái thấy của đạo Bụt là cái thấy trung đạo, có nghĩa là con đường chính giữa vượt lên hai thái cực như có và không, sinh và diệt, trái và phải, trên và dưới, vật chất và tinh thần. Vì vô minh nên có hành, vì có hành nên có thức tức nhận thức phân biệt, vì có thức nên có danh sắc tức vật chất và tinh thần. Kỳ thực, vật chất và tinh thần không phải là hai cái riêng biệt, nó là hai mặt của cùng một thực tại.

Đạo Bụt dạy ta quán chiếu để vượt khỏi những cặp đối nghịch như chủ thể và đối tượng, tâm và vật, trong và ngoài, sinh và diệt, có và không. Nhìn một đám mây đang lơ lững trên trời, ta có khuynh hướng diễn tả đám mây đó là . Có là một ý niệm. Khi đám mây không còn trên trời nữa thì ta nói nó là không. Thật ra nói đám mây là không đúng mà nói đám mây là không cũng không đúng. Trong phòng này ta không thấy mây, nhưng có hơi nước. Chúng ta thở ra toàn là hơi nước, trong phòng có rất nhiều hơi nước mà ta không thấy được. Nhưng chỉ cần lạnh xuống là ta có thể thấy được hơi nước. Không thấy mà ta cho rằng không có là không đúng, mà khi thấy ta cho là cũng không đúng. Thực tại vượt thoát có và không. Cùng nhau quán chiếu về đám mây, ta thấy đám mây không thể từ có mà biến thành không. Đám mây chỉ có thể thành mưa hay thành tuyết, nó không thể nào thành không. Và đám mây cũng không thể nào từ không mà trở thành có, tại vì trước khi có đám mây thì đã có hơi nước. Đám mây là sự tiếp nối của hơi nước, đám mây không từ không mà trở thành có. Khi vượt thoát được ý niệm có và không thì đồng thời chúng ta vượt thoát được ý niệm sinh và diệt. Sinh là từ không mà trở thành có và diệt là từ có mà trở thành không. Không có có-không thì làm gì có sinh-diệt. Chúng ta không cần một sự tạo lập vũ trụ, tại vì tạo lập vũ trụ là từ không có vũ trụ mà trở thành có vũ trụ. Phải có tạo hóa để làm cho cái không trở thành cái có, nhưng vì đã vượt thoát ý niệm có và không nên ta cũng vượt thoát được ý niệm sinh và diệt.

Nhiều nhà khoa học hiện nay cũng đang bị kẹt vào ý niệm không và có, họ đang tìm hiểu tại sao vũ trụ từ không mà trở thành có. Họ sáng tạo ra những lý thuyết như thuyết Big Bang, tức là lúc mà vũ trụ, thời gian và không gian được thành lập. Vì có quan niệm về sự sinh thành của vũ trụ nên họ phải nghĩ tới lúc vũ trụ bị tiêu diệt. Vì vậy chữ Big Bang đi đôi với chữ Big Crunch.

Tuệ giác của đạo Bụt vượt thoát những quan niệm đó: vũ trụ không sinh cũng không diệt, không có cũng không không. Nếu tiếp xúc sâu sắc với Đất Mẹ, chúng ta có thể chứng đắc được cái thấy không có không không, không sinh không diệt. Chỉ cần nhìn một cách sâu sắc vào một đám mây hay một tờ lá mùa thu là chúng ta có thể tiếp xúc với tính không sinh không diệt, không có không không của đám mây hay của tờ lá. Bụt Thích Ca là người đã tìm thấy điều đó, và đã trao truyền cái thấy đó cho chúng ta. Chúng ta phải nhìn Đất Mẹ như vậy, Đất Mẹ đã dạy cho chúng ta những bài học rất sâu sắc. Nếu trong quá khứ Đất Mẹ đã đưa ra đời nhiều vị Bụt và Bồ tát thì trong hiện tại và trong tương lai Đất Mẹ sẽ cho ra đời những vị Bụt và Bồ tát khác. Đất Mẹ là một vị Bồ tát lớn, một vị Bụt lớn, rất xinh đẹp và mầu nhiệm. Nơi đây chính là Tịnh độ.

Chúng ta đừng nghe lời thiên hạ phát tâm nhàm chán cõi này để cầu sinh vào một cõi mơ hồ nào đó trong tương lai. Chỗ này là Tịnh độ, chỗ này là Thiên quốc. Chúng ta có bài tụng: Cùng tăng thân xin nguyền ở lại. Ở lại với Đất Mẹ để giữ gìn Đất Mẹ, giúp Đất Mẹ tiếp tục tạo ra thêm những vị Bụt và Bồ tát, làm cho thế giới này ngày càng xinh đẹp, tốt tươi hơn. Chiều nay đi thiền hành, trong mỗi bước chân chúng ta phải ý thức rằng ta đang bước đi trên Đất Mẹ, ta tiếp xúc với Đất Mẹ, Đất Mẹ có trong ta và dưới chân ta. Chúng ta không đi tìm một vị Bồ tát xa vời trên mây, chúng ta có một vị Bồ tát lớn làm nền tảng cho tất cả mọi sự sống trên trái đất mà chúng ta có thể tiếp xúc được. Tiếp xúc được thì chúng ta sẽ có bình an, chúng ta sẽ mạnh khỏe và có niềm vui. Đi thiền hành chung với nhau chúng ta sẽ chế tác ra một năng lượng tập thể rất hùng hậu.

Nói tới đất chúng ta thường nghĩ đất chỉ là đất, nhưng Đất Mẹ không phải chỉ là đất. Đất Mẹ là nước, Đất Mẹ ôm lấy nước, sáng tạo ra nước. Đất Mẹ là không khí, là sức ấm. Bốn đại: địa, thủy, hỏa, phong đều thuộc về vị Bồ tát này, và chất liệu làm ra hình hài của ta cũng là địa, thủy, hỏa, phong. Nhìn một bông hoa, ta phát hiện ra Đất Mẹ. Ta đừng nói bông hoa là vật chất, bông hoa cũng là tinh thần, tại vì bông hoa có cái biết trong nó. Chúng ta gieo một hạt xuống đất, thì trong hạt ấy có chứa cái biết, nếu không thì làm sao hạt lại làm ra được lá, hoa và trái? Vì vậy cho bông hoa là vật chất là không đúng, cho hạt bụi kia là vật chất cũng không đúng. Khoa học đã khám phá ra trong hạt bụi cũng có tâm thức, hạt bụi rất linh động. Hạt bụi kia, nguyên tử kia, điện tử kia không phải là vật chất mà cũng không phải là tinh thần, nó là cả hai.

Trái đất là một vị Bồ tát

Mặt trời là một pháp, hành tinh trái đất cũng là một pháp. Nếu mặt trời là một vị Bồ tát thì hành tinh của chúng ta cũng là một vị Bồ tát, Đất Mẹ là một vị Bồ tát. Là những người hành trì, chúng ta phải bắt đầu nhìn trái đất như một vị Bồ tát, một vị Bồ tát rất xinh đẹp. Các nhà khoa học đã dùng kính viễn vọng để tìm kiếm, nhưng cho tới nay họ chưa tìm được một hành tinh nào xinh đẹp như trái đất. Chiếc áo khoác lên người của Đất Mẹ là một chiếc áo rất xinh đẹp, chiếc áo có màu xanh của đại dương, màu xanh của cây cỏ. Nhìn cho kỹ, ta thấy có biết bao nhiêu mầu nhiệm biểu hiện trên mặt đất, trong đó có con người. Con người tự hào mình giỏi về toán học, nhưng khi nhìn một cánh hoa anh đào hay nhìn một vỏ ốc thì con người phải cúi đầu khâm phục. Phải rất giỏi toán mình mới làm ra được một cánh hoa anh đào hay một vỏ ốc như vậy. Muốn xây một ngôi nhà hay một cây cầu vững chãi, chúng ta phải nhờ kiến thức của toán học. Đất Mẹ cũng là một nhà toán học tài tình, đã tạo ra những cái rất mầu nhiệm.

Những nhạc sĩ đã tạo ra những bản nhạc rất hào hùng. Nhưng nếu lắng nghe tiếng hải triều, tiếng gió, tiếng chim, tiếng thông reo thì chúng ta sẽ thấy rằng Bồ tát Thanh Lương Địa của chúng ta là một nhạc sĩ rất tài tình. Không bản nhạc nào hào hùng hơn bản nhạc của đất trời, của mưa, của gió, của hải triều sớm tối. Các họa sĩ đã sáng tạo ra những bức tranh thật tuyệt vời, nhưng không họa sĩ nào có thể sáng tạo ra những bức tranh tuyệt vời như Đất Mẹ. Buổi sáng khi mặt trời lên, đứng trên núi nhìn xuống, chúng ta thấy bức tranh mà trái đất thực hiện đẹp hơn những bức tranh của con người rất nhiều.

 

 

Không hẳn chỉ con người mới được gọi là Mẹ. Ta có thể nhìn trái đất như một vị Bồ tát, gọi là Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Ta có thể chắp tay lại niệm: Nam mô Bồ tát Thanh Lương Đại Địa. Vị Bồ tát này là Mẹ của muôn loài, có khả năng chuyên chở, nuôi dưỡng và trị liệu. Mỗi khi đau ốm, ta đánh mất mình thì ta phải trở lại với bà Mẹ này để được nuôi dưỡng, trị liệu. Vì vậy, thiền hành là một phương pháp thực tập rất hay để chúng ta có thể trở về tìm sự nuôi dưỡng và trị liệu từ Đất Mẹ. Tuy không mang hình thức của một con người, nhưng Đất Mẹ đích thực là một vị Bồ tát, tại vì Đất Mẹ có những đức tính rất lớn như vững chãi và kiên nhẫn. Trong kinh Địa Tạng có câu: Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng (có nghĩa là đất kiên cố, dày dặn và cất chứa được rất nhiều). Đất có khả năng nuôi dưỡng, che chở, trị liệu và có khả năng cho ra đời biết bao nhiêu là mầu nhiệm. Nhiều vị Bụt và Bồ tát đã được đất sinh ra. Chính Chúa Kitô cũng do đất sinh ra. Ta không biết Chúa Kitô có phải do Thượng đế sinh ra thật hay không, nhưng ta biết chắc Chúa Kitô do trái đất sinh ra. Có những lúc ta lao đao, cô đơn, lạc hướng hay ốm đau thì ta phải trở lại Đất Mẹ để được nuôi dưỡng.

Trong khóa tu mùa Đông này, chúng ta nên đưa vị Bồ tát Đất Mẹ vào trong danh sách để lạy: Nhất tâm kính lễ Bồ tát Thanh Lương Đại Địa, mẹ của muôn loài luôn luôn chở che, nuôi dưỡng và trị liệu cho chúng con.

Bồ tát là tên gọi tắt của chữ bồ đề tát đỏa. Bodhisattva, đọc phiên âm ra là bồ đề tát đỏa. Bodhi là bồ đề, sattva là tát đỏa. Sattva nghĩa là một sinh vật, một hữu tình (being), bodhi nghĩa là giác ngộ (enlightened). Bồ đề tát đỏa là giác hữu tình (enlightened being).

Bồ tát là một sinh vật có hạnh phúc, có giác ngộ, có chánh niệm, có hiểu và có thương. Bất cứ sinh vật nào có sự tỉnh thức, có bình an, có hiểu và thương thì được gọi là một vị Bồ tát. Không phải chỉ có con người mới làm được Bồ tát. Trong những câu chuyện tiền thân, có khi Bồ tát là một con nai, một con khỉ, một tảng đá hay một cây xoài, tại vì nhìn vào cây xoài đó ta thấy có hạnh phúc, có sự tươi mát. Cây hiến tặng cho đời vẻ đẹp của nó và nuôi dưỡng sự sống, làm chỗ nương tựa cho bao nhiêu chim muông. Ta có thể thấy cây là một vị Bồ tát, vì vậy Bồ tát không hẳn phải là con người. Bồ tát không phải là cái gì xa xôi ở trên mây, mà là những cái ở ngay chung quanh mình. Một người trẻ hơn ta nhưng có tình thương, có sự hiểu biết, có sự tươi mát và hiến tặng cho ta nhiều niềm vui thì người đó là một vị Bồ tát. Cây thông ngoài vườn có thể tạo cho ta nhiều niềm vui, hiến tặng cho ta dưỡng khí và làm đẹp cho cuộc đời. Cây thông đó là một vị Bồ tát.

Vì vậy, chúng ta có thể nói trái đất của chúng ta là một vị Bồ tát. Đích thực địa cầu là một vị Bồ tát rất lớn. Địa cầu có nhiều đức tính rất tốt. Trước hết là sự vững chãi. Đất chuyên chở ta, đất có sức chịu đựng rất lớn, rất kiên nhẫn. Đất không kỳ thị. Ta có đổ nước thơm, hương hoa hay đổ phân, nước tiểu xuống, đất cũng chấp nhận được. Đất hiến tặng cho ta không biết bao nhiêu là phẩm vật. Đất đưa ta ra đời, nuôi nấng ta, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống. Như vậy rõ ràng đất là một vị Bồ tát. Khi bước trên mặt đất là ta tiếp xúc với một vị Bồ tát.

Ta đừng nên cho đất là vật chất, tại vì vật chất làm sao giỏi như vậy được? Đất là một vị Bồ tát lớn đã đưa ra đời nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát khác. Đất là Mẹ của nhiều vị Bụt và nhiều vị Bồ tát. Đức Thích Ca, thầy của ta, cũng là con của đất. Cha ta, mẹ ta cũng là con của đất. Nhờ mẹ ta, ta nhận diện ra đất cũng là một bà Mẹ, một bà Mẹ lớn. Đất đưa mẹ ta ra đời, đưa ta ra đời qua mẹ ta; vì vậy đi trên mặt đất là ta tiếp xúc được với bà Mẹ đó và ta phải có hạnh phúc. Bà Mẹ này rất xinh đẹp. Trong Thái Dương hệ, đất là hành tinh đẹp nhất. Trái đất là vị Bồ tát xinh đẹp nhất trong các vị Bồ tát mà ta thấy, gọi là Bồ tát Thanh Lương Địa, một vị Bồ tát vừa trong, vừa mát, vừa xinh đẹp. Vì vậy được bước đi trên địa cầu này là một hạnh phúc rất lớn.

Có những người dại dột xúi ta phải phát tâm nhàm chán trái đất này để cầu sinh sang một cõi nào đó không biết có thực hay không. Ta đừng nên nghe họ, ta phải quay về nương tựa nơi đất, ta phải quy y đất. Ta phải thương Đất Mẹ, mỗi bước chân ta biểu lộ tình thương đối với Đất Mẹ, và bước đi như vậy ta không thể không có hạnh phúc. Hạnh phúc là chuyện có thể có được.

Chúng ta phải tập nhìn địa cầu của ta không như một vật vô tri vô giác, địa cầu của ta là một sinh vật (living-being). Nhiều nhà khoa học, nhất là các nhà sinh vật học như Thomas Lewis, thấy rằng trái đất là một sinh vật. Ông viết một cuốn sách với tựa đề “The Lives of a Cell“ (Sự sống của một tế bào), ông xem trái đất như một tế bào của vũ trụ, một tế bào rất xinh đẹp trong đó có rất nhiều sự sống, rất nhiều mầu nhiệm.

Khi nhìn trái đất, chúng ta thấy trái đất là một hành (formation), tại vì trái đất được làm bằng những yếu tố trong vũ trụ trong đó có Mặt trời và các vì sao. Các vì sao đã gửi tới trái đất rất nhiều yếu tố. Nhìn vào bông hoa ta thấy bông hoa được làm bằng nhiều yếu tố, bông hoa là một hành. Ta thấy cả vũ trụ trong một bông hoa, trong đó có mặt trời, có trái đất. Trái đất cũng là một bông hoa rất xinh đẹp, ta thấy trong trái đất sự có mặt của toàn vũ trụ (the whole cosmos in the Earth).

 


 
Nhìn vào ta, ta thấy Đất Mẹ ở trong ta. Ta đừng tưởng Đất Mẹ ở ngoài ta. Ta mang Đất Mẹ trong ta. Mẹ sinh ra ta ở trong ta và trái đất, mẹ của mẹ ta cũng ở trong ta. Ta đừng tưởng trái đất ở ngoài ta, trái đất cũng ở trong ta. Những người có gốc Cơ Đốc giáo biết rằng trong Thánh Kinh cũng có những câu như vậy. Chính Chúa Jésus đã nói: I am my father, my father is in me. (Tôi là cha tôi, cha tôi có trong tôi). Đó là giáo lý tương tức rất gần với đạo Bụt.

Trong trái đất có cả vũ trụ. Nhìn vào trong hình hài của mình, ta thấy Đất Mẹ, nghĩa là có đủ cả vũ trụ trong ta. Đó là tuệ giác. Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

    • Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu? Các thầy, các sư cô trả lời như thế nào?

 

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì Đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì Đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của Đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm. Đi vào thiền đường, chúng ta đi bằng những bước chân có cái thấy đó, có hạnh phúc và có tình thương đó.

Trên xóm Thượng, sau khi ngồi thiền nửa giờ, chúng ta đi kinh hành, thở vào ta đi một bước và thở ra ta đi một bước. Chúng ta đi như vậy để tiếp xúc với đại địa, với Đất Mẹ. Khi tiếp xúc với Đất Mẹ bằng tuệ giác thì mỗi bước chân có tính cách nuôi dưỡng và trị liệu. Đi 30 bước là chúng ta có 30 cơ hội để nuôi dưỡng và trị liệu, vì vậy chúng ta đừng đi hình thức mà phải đi cho có nội dung. Mỗi bước chân phải có chánh niệm, phải đem lại sự bình an cho thân và tâm, phải đem lại cái thấy. Cái thấy đó không khó, chỉ cần một chút chánh niệm là ta có thể thấy Đất Mẹ là Mẹ của mình, Mẹ của mẹ mình, Mẹ của thầy mình.

Mặt trời là một vị Bồ tát lớn

Nếu quán chiếu sâu sắc, chúng ta thấy trước khi con người xuất hiện trên trái đất , đã có sự hiện diện của các vị Bụt và Bồ tát. Các vị Bụt và Bồ tát không hẳn phải mang hình thức một con người. Ví dụ như mặt trời mà mỗi ngày chúng ta thấy là một ngôi sao rất lớn trong dải ngân hà có triệu triệu ngôi sao. Mặt trời là một trong những ngôi sao lớn nhất của tinh hà này. Mỗi ngày mặt trời hiến tặng bản thân của mình dưới hình thái ánh sáng. Hành tinh của chúng ta là trái đất mỗi ngày tiếp thu một ít ánh sáng mặt trời để có thể chế tác được sự sống.

Nhìn cho kỹ thì mặt trời là một vị Bụt có hào quang vô lượng và thọ mạng vô lượng. Mặt trời lớn gấp 330.000 lần trái đất và đường kính gần 1 triệu rưỡi cây số. Mỗi ngày mặt trời lấy hình hài của mình chế thành ánh sáng hiến tặng cho thế gian. Ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng, đó là đức Bụt A Di Đà. Mỗi ngày đức Bụt A Di Đà có mặt cho trái đất và cho chúng ta trong hình hài của chúng ta. Trong chúng ta có mặt trời, cũng như trong bông hoa có Mặt trời. Lấy mặt trời ra thì chúng ta chết. Trong kinh nói Di Đà là tự tánh, chúng ta đã có được Di Đà trong thân và tâm của mình. Nếu bản chất của A Di Đà là vô lượng quang, vô lượng thọ thì mặt trời đúng là vô lượng quang, vô lượng thọ. Mặt trời là Suna, là thần Thái Dương, là Bụt A Di Đà Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ. Mỗi ngày mặt trời đi chơi từ phương Đông qua phương Tây nên người ta nghĩ rằng nhà của mặt trời hay của Bụt A Di Đà là phương Tây. Chúng ta không cần phải nhớ tưởng hay niệm đức A Di Đà. Đức A Di Đà đang có mặt trong hình hài ta, có mặt với chúng ta trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Muốn nhìn hình hài của mặt trời thì mình nhìn lên, muốn tiếp xúc với năng lượng của mặt trời thì nó có ngay trên trái đất và trong hình hài của chúng ta.

Mặt trời là một vị Bụt, một vị đại Bồ tát. Mặt trời không cần phải mang hình hài một con người. Lâu nay trong đạo Kitô người ta quan niệm Thượng đế là đấng tạo hóa có hình hài của một con người. Nhưng sau này nhiều nhà thần học đã đặt vấn đề: Có phải Thượng đế có hình hài của một con người hay không? God is a person or not? Rất nhiều nhà thần học Kitô giáo không đồng ý rằng Thượng đế có hình hài của một con người.

Lúc còn sống, Albert Einstein có đọc một bài diễn văn, trong đó ông nói ông không tin rằng Thượng đế có hình dáng của một con người. Sau đó, những nhà thần học như Paul Tillich cũng nói như vậy: God is not a person.

Trong đạo Bụt chúng ta có danh từ pháp thân (Dharmakāya). Danh từ pháp thân có ít nhất là hai nghĩa:

  1. Trước nhất, pháp thân là sự thực tập của chúng ta. Mỗi người chúng ta đều có pháp thân, tức có sự thực tập. Sự thực tập của chúng ta có thể yếu kém hay hùng mạnh. Nếu sự thực tập của ta vững chãi thì ta có thể xử lý được những nỗi khổ niềm đau và chế tác được niềm vui. Đó là Dharmakāya, là pháp thân của chúng ta. Ta tu tập, hành trì như thế nào để pháp thân càng ngày càng vững, ta có thể chế tác niềm vui và chuyển hóa niềm đau một cách dễ dàng. Có pháp thân là ta có Phật thân, đi đâu hay ngồi đâu trong ta cũng có Bụt.
  2. Sau này, nhất là trong Đại thừa, chữ pháp thân có nghĩa là nền tảng của vạn pháp. Vạn pháp có thiên hình vạn trạng, có muôn ngàn pháp, nhưng tất cả đều nương tựa trên một nền tảng gọi là pháp thân.

Bên Kitô giáo, nhiều nhà thần học cũng nói tới Thượng đế như một pháp thân. Nhà thần học người Đức, Paul Tillich, nói: “Thượng đế là nền tảng của hiện hữu”. God is the ground of being. Đạo Phật cũng nói: Pháp thân là nền tảng của tất cả các pháp. Cho rằng Thượng đế là nền tảng của hiện hữu cũng gần giống như khi ta nói pháp thân là nền tảng của các pháp. Phật tử sẽ không khó khăn khi chấp nhận một Thượng đế như là bản thể, nền tảng của vạn pháp.

Mặt trời cũng là một vị Bồ tát lớn, là một vị Bụt. Không có mặt trời thì không có ánh sáng, sức nóng và không có sự sống. Mặt trời có tên là Đại Nhật Như Lai, Vairochana Tathagata. Không có mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Chúng ta có thể xướng: Nhất tâm kính lễ đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, Bụt Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang hiến tặng sự sống cho hành tinh đại địa.

 

 

Sự thành lập của Trái Đất

Trái đất được thành lập

Chúng ta hay có thói quen nhân cách hóa mọi thứ. Ví dụ như tự do, chúng ta nghĩ tới tự do như một vị thần, nên ta tạc tượng Nữ thần Tự Do. Khi gió thổi mạnh, chúng ta tưởng tượng ra một vị thần đang làm ra gió gọi là thần Gió. Khi nghe tiếng sấm sét, chúng ta nghĩ ra một vị thần gọi là thần Sấm Sét. Văn hóa nào cũng có khuynh hướng đó. Tình thương cũng được nhân cách hóa thành ra một bà mẹ, Mẹ Maria hay Mẹ Quan Âm. Chúng ta có thần Tự Do, thần Công Lý, có Mẹ Maria, Mẹ Quan Âm. Trong nhiều nền văn hóa, chúng ta đã xem Mặt trời là một vị thần linh. Trong văn hóa Ấn Độ, Mặt trời là một vị thần tên Surya, ở Trung Quốc là thần Thái Dương và ở Âu châu là Suna. Chúng ta có khuynh hướng nhân cách hóa mọi thứ.

Khi nghĩ tới sự thành lập vũ trụ, chúng ta nhân cách hóa sự thành lập đó bằng hình ảnh một Thượng đế, một vị hóa công, tức người đã tạo dựng ra thế giới. Hành tinh của chúng ta, ta gọi là Đất Mẹ, ta cũng nhân cách hóa trái đất. Chúng ta nghĩ đất là Mẹ như một con người và mặt trời là một ông cha. Trong những ơn ta muốn tỏ lộ có ơn trời che và đất chở (thiên địa phú tài chi ân).

Trái đất của chúng ta đã có mặt vào khoảng 5 tỷ năm. Lúc đầu nó chỉ là một khối lửa như mặt trời bây giờ. Trong gần 4 tỷ năm trên trái đất không có sự sống, tại vì quá nóng. Nhưng từ từ, lửa phun ra tạo thành hơi nước, hơi nước làm cho vỏ ngoài của trái đất lạnh và cứng lại. Từ từ bầu khí quyển được hình thành và sự sống bắt đầu xuất hiện dưới nước. Nhờ bầu khí quyển và từ trường phóng ra từ trái đất mà có đủ sức ấm, nhờ sức nóng do mặt trời chiếu dọi mà đại dương không đóng thành băng. Bầu khí quyển ngăn cản những tia phóng xạ cực tím nên sự sống từ từ xuất hiện trên mặt đất. Trong một tỷ năm cuối, sự sống được phát hiện dưới hàng triệu chủng loại, từ cây cối đến thú vật. Con người xuất hiện rất trễ trên trái đất. Có một lần trái đất bị một thiên thể lớn bằng sao Hỏa va chạm, tạo ra một cú sốc rất lớn. Một phần của thiên thể hòa nhập với trái đất, một phần hợp với một phần nhỏ của trái đất văng ra và trở thành mặt trăng. Mặt trăng xoay chung quanh trái đất theo một quỹ đạo. Trái đất bị tai nạn – bị những thiên thể trong không gian va chạm như vậy bốn năm lần. Tới lần trái đất bị va chạm cuối cùng thì những loài khủng long đang sống trên mặt đất bị hoàn toàn tiêu diệt, loài bò sát khổng lồ cũng chết hết, chỉ còn lại những loài động vật có vú sống được và tiếp tục phát triển.

 

Sự xuất hiện của con người

Con người xuất hiện rất trễ trong lịch sử của sự sống. Lúc đầu có một loài vượn ở Phi châu đứng thẳng lên và hai tay của nó được tự do. Nó bắt đầu biết sử dụng những khí cụ nên trí óc phát triển rất nhanh. Loài vượn đứng thẳng xuất hiện và từ từ trở thành nhiều chủng loại của con người. Nhờ khối óc nên con người trở nên thông minh, sáng tạo ra nông nghiệp, kỹ thuật và ảnh hưởng tới trái đất một cách rất hiệu quả. Trong lịch sử của sự sống, chưa có loài nào trên thế giới có thể ảnh hưởng lên trái đất một cách lớn lao như vậy. Và con người bắt đầu nhân cách hóa, con người nghĩ rằng: Thượng đế, tức lực lượng tạo ra trời đất, phải có hình dáng của một con người.

Trong kinh điển nói: Thượng đế tạo ra con người dưới hình ảnh của Ngài. Nhưng trên thực tế thì chính con người đã tạo ra Thượng đế. Đó gọi là nhân cách hóa. Trong đạo Bụt, chúng ta nói tới Phật tánh, tức khả năng hiểu, thương và tỉnh thức. Chúng ta nói tới Phật tánh, không những của con người mà còn của những loài khác, vì vậy trong Thiền tông có công án: Con chó có Phật tánh hay không? Chúng ta có tụng một bài kinh, trong đó có câu: Tình dữ vô tình đồng thành Phật đạo – tất cả các loài, dù hữu tình hay vô tình, đều có thể thành Phật. Không những con chó, con nai, con thiên nga, con cá, con chim có thể thành Phật, mà cây trúc đào, cây xoài, cây chanh cũng có thể thành Phật. Cỏ cây, đất đá đều có thể thành Phật, đó là tình dữ vô tình đồng thành Phật đạo.

Nhưng con người có khuynh hướng muốn coi mình cao hơn hết mọi loài. Con người nhìn mọi loài bằng con mắt phân biệt, nghĩ rằng Phật, Thánh hay Thượng đế chỉ có thể là con người mà thôi.

 

Phần II

Đất Mẹ

Đây là những bài pháp thoại Thầy Thích Nhất Hạnh giảng tại Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2011-2012.

 

Mộc Lan lắm tình

Thương kính tặng quý thầy, quý sư cô ở tu viện Mộc Lan ngày ấy. Dù chông gai ta không lùi bước, đường gập ghềnh ta đã và sẽ vượt qua. Kính chúc quý thầy, quý sư cô luôn được bình an và vững chãi, thảnh thơi trong từng hơi thở nhẹ.

Mới hôm nào đó về đây

Kiến đàn mừng rỡ ong bầy reo vui

Tiêm cho mấy mũi sưng vùi

Bảo rằng thuốc bổ ngậm ngùi xót xa

Thôi đừng chích nữa xin tha

Nhập gia tùy tục thật là đớn đau

Thời gian thấm thoát qua mau

Mộc Lan ngày trước hôm sau thế này

Quý vị tu sĩ về đây

Khai vườn lập chúng dựng xây đạo tràng

Xây luôn cơ sở khang trang

Nhờ bàn tay mẹ đảm đang trao truyền

Nhờ cha rèn luyện tinh chuyên

Vận công cầm búa đóng đinh khoan tường

Hoan hô chiến sĩ kiên cường

Trưa hè nắng nóng dọn đường người đi

Dọn tâm hành xấu sân si

Dọn luôn hạt giống lưới nghi trong mình

Để cho trí tuệ phát sinh

Khai thông dòng suối công trình Thầy trao

Nhiều khi vất vả lao đao

Nước mắt huynh đệ tuôn trào Thầy ơi

Khóc xong lại nở nụ cười

Vui buồn như giọt sương rơi đầu cành

Bấy lâu tâm nguyện đã thành

Mộc Lan nay đã nên danh giữa đời

Trúc, Mai hai xóm có rồi

Pháp môn chánh niệm tuyệt vời nương theo

Lấy dây hơi thở làm neo

Bước chân vững chãi thuyền chèo rong chơi

Bây chừ chúng con phải rời

Visa hết hạn tạm thời chia tay

Vô thường biến chuyển mỗi ngày

Tan rồi hợp lại có ngày gặp nhau

Cớ chi giọt lệ tuôn trào

Mộc Lan thấy vậy mà sao lắm tình.

                                                                           Chân Đồng Đoan

Chiêng Dao – Về với thiên nhiên

Trước khi đi khóa tu, con qua chào thầy y chỉ sư, thầy chỉ dặn dò vài điều thực tập: Bước chân, hơi thở, hiện pháp lạc trú, hải đảo tự thân.

Chuyến đi gồm có 27 người, 10 quý thầy và 17 quý sư cô, trong đó cũng có những sư cô người Thái mới xuất gia. Trải qua mười hai tiếng đi xe, Chiang Dao Youth Camp là điểm đến đầu tiên. Nhìn bầu trời xanh, núi vững chãi, tiếng suối róc rách, cùng với sương mù buổi sáng làm con có cảm tưởng đây là Tịnh Độ! Những phút giây ban đầu thật lắng đọng, con không vội vàng đi khất thực, chỉ ngồi đó thôi và nhận diện sự có mặt của thiên nhiên thật mầu nhiệm. Mình đã đến đây thật sao? Những suy nghĩ chợt lắng lại, một khung trời thênh thang trước mắt, làm sao để ôm trọn cả thiên nhiên vào lòng?

Chuyến đi lần này con có cơ hội tiếp xúc gần hơn với thiên nhiên, cỏ cây và hoa lá nơi núi rừng miền Bắc Thái Lan. Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, làm chủ được thân tâm, con cảm thấy mình hòa với thiên nhiên làm một. Buổi chiều tại Chiang Dao, con trở về với thói quen thường ngày, cầm gậy ra tập thể dục ngay cạnh một con suối, nhìn những nhánh tre con mọc ra tua tủa, ngọn tre vắt ngang lưng trời, những ngọn núi hùng vĩ hiện ra trước mặt với những cụm mây trắng bao quanh, con thấy lòng thật nhẹ nhàng. Trở về với hơi thở và những động tác chánh niệm, lắng nghe tiếng suối reo vang át cả mọi âm thanh bên ngoài, con có cảm giác chỉ còn một mình con và dòng suối. Con trân quý phút giây này vì con được trở về với thân tâm, làm chủ được bản thân, chấm dứt những suy nghĩ miên man. Thân tâm dừng lại được thật là một cảm giác dễ chịu. Con cảm thấy mình đang thực sự sống giữa thiên nhiên bao la. Đời sống luôn có nhiều điều mầu nhiệm diễn ra nhưng nhiều lúc vì thất niệm nên con đã đánh mất mình trong những lo lắng và suy nghĩ mông lung.

Chúng con đến Chiang Dao trước khi khóa tu bắt đầu 2 ngày nên có cơ hội nghỉ ngơi, tìm hiểu thiên nhiên hùng vĩ nơi này. Con luôn ý thức trở về với sự thực tập để có đủ niềm vui và bình an hiến tặng cho khóa tu bốn ngày sắp đến. Khóa tu có chủ đề “Happiness in your pocket” (tạm dịch: Hạnh phúc trong tầm tay), có khoảng 100 thiền sinh và tình nguyện viên tham gia. Khi khóa tu gần diễn ra thì con chợt phát hiện mình mang thiếu một số thiết bị cho hệ thống thông dịch. Lúc đó, con vô cùng lo lắng, bao nhiêu bình an biến mất, mọi việc bỗng trở nên rối lên. Hai anh em chăm sóc âm thanh bắt đầu ngồi lại, tính toán số lượng thiền sinh, ước tính số người cần thông dịch, kiểm tra lại các thời khóa và sắp xếp các tình huống cần thiết trong một hoàn cảnh khẩn cấp. Con tự trách mình hơi chủ quan trong khâu chuẩn bị. Nhưng rồi, con bình tĩnh trở lại và những sáng kiến phát sinh. Chúng con đã hoàn thành trách nhiệm của mình một cách tốt nhất. Sự bình tĩnh trong các tình huống khó khăn là một sự thực tập quan trọng, và đồng thời chúng con cũng học được thêm một bài học về sự chu đáo và tính cẩn thận, không chủ quan trong công việc.

Sự thực tập khi đi ra ngoài tu viện là một thử thách. Con thấy mình dễ thất niệm bởi hoàn cảnh bên ngoài: khung cảnh, con người, chỗ ở, đi lại, thức ăn,… Leo lên những đỉnh núi cao, thỉnh thoảng con nhìn thấy những bông hoa tuyệt đẹp. Con tự hỏi tại sao hoa lại có mặt nơi này? Nhìn vào bông hoa con chợt thấy những điều kiện giúp cho bông hoa có mặt: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… bao nhiêu điều kiện để tạo nên bông hoa. Nhân duyên đầy đủ thì hoa biểu hiện, con nghĩ nếu mình đem về tu viện trồng thì có thể bông hoa sẽ  không sống được vì không đủ điều kiện thích hợp. Nhân duyên tạo ra con người, cảnh vật, tập quán,… Cơ thể mình cũng do nhiều điều kiện, nhân duyên hợp lại và con thấy không có điều kiện riêng nào đóng vai trò then chốt, tất cả hợp tác với nhau để cùng có mặt. Trong chuyến đi lần này chúng con còn  được hai anh chị nơi tổ chức khóa tu, chăm sóc rất chu đáo, tận tình. Sự gần gũi của con người nơi đây làm con suy nghĩ: phải chăng khi được sống và trở về với thiên nhiên, con người trở nên đơn giản và hạnh phúc hơn?

Những ngày ở đây, chúng con còn được trải nghiệm với suối nước nóng thiên nhiên. Thường thường, chúng con đi tắm vào sáng sớm hoặc khi trời tối vì lúc đó không có ai. Thiên nhiên thật mầu nhiệm. Có những dòng suối cứ chảy liên tục quanh năm, có dòng nước nóng, có dòng nước lạnh. Con người chỉ cần trở về để được hòa mình với thiên nhiên. Có sư anh nói với con rằng “nếu mình biết sống hòa mình với thiên nhiên thì không bao giờ thấy thiếu”. Con ngâm mình trong dòng nước nóng, cảm giác thật khó tả, tại vì có một mùi rất đặc trưng – mùi trứng luộc. Ngâm nước nóng và sau đó qua ngâm nước lạnh để máu huyết trong cơ thể được vào ra lưu thông. Cơ thể mình cũng rất kỳ diệu, có khả năng điều tiết rất nhanh chóng để thích nghi với hoàn cảnh bên ngoài. Con nghĩ rằng nếu có suối nước nóng này chắc người dân ở đây cũng không cần phải xài điện nhiều và một lần nữa khẳng định điều sư anh con nói là đúng.

Trong khóa tu, thiền sinh được khuyến khích nhận Năm giới để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Có các bạn lo ngại vì sợ rằng mình sẽ không gìn giữ trọn vẹn được. Nhưng quý thầy, quý sư cô đã từ bi động viên các bạn rằng nếu mình cảm thấy chưa sẵn sàng thì có thể chọn một hoặc hai giới để thọ, rồi lần sau mình đăng ký thọ các giới khác. Con hiểu rằng nếu các bạn thực tập một giới cho đàng hoàng là cũng có nghĩa là các bạn đã thực tập cả năm giới cho nên dù các bạn chỉ thọ một giới thôi nhưng lợi ích đã là rất nhiều rồi. Khóa tu lần này các bạn đăng ký thọ Năm giới rất đông. Sau khóa tu, các bạn có nhiều niềm vui và chuyển hóa nhưng cái quý giá mà các bạn mang về chính là sự thực tập chánh niệm cụ thể trong Năm giới.

Trong chuyến đi, đoàn có dịp ghé thăm nhà các sư cô người Thái, được ở lại vài ngày, nghỉ ngơi và cũng giúp cho gia đình hiểu hơn về tăng thân và pháp môn. Đêm thiền trà vào ngày cuối cùng ở nhà sư cô Suối Thanh Thủy – sư cô xuất gia gieo duyên với tăng thân 3 tháng, sau đó sư cô quyết định tiếp tục tu học với tăng thân. Ba mẹ sư cô rất cảm động, cảm thấy hạnh phúc khi cho con đi xuất gia mặc dù điều kiện kinh tế của gia đình còn khó khăn.

Khi đi tu rồi, con cảm nhận được sự liên hệ giữa anh chị em xuất sĩ và gia đình huyết thống ngày càng sâu sắc hơn, gắn bó hơn và có mặt trọn vẹn hơn bao giờ hết. Nhờ có được pháp môn thực tập, chúng con nuôi dưỡng được lòng biết ơn, biết ơn ba mẹ, biết ơn Thầy, biết ơn Tăng thân.

Đi chung với đoàn là cơ hội để chúng con hiểu về nhau hơn, có những thói quen và cá tính khác nhau nhưng mọi người đã thực tập và chấp nhận nhau như anh chị em một nhà. Lâu lâu, con thấy trong con cũng có những đòi hỏi đi lên nhưng nhờ sự thực tập mà con không cảm thấy đánh mất mình trong những đòi hỏi. Nếu không chế tác được năng lượng thực tập thì mình dễ bị cuốn đi, đánh mất sự truyền thông với bản thân và các anh chị em. Chỉ cần một câu nói khó nghe cũng dễ làm con khởi tâm hành khó chịu. Lúc đó, con trở về và nhận diện tâm hành đang có mặt. Sáng hôm đó, quý thầy được đi tham quan chùa và đi chợ. Thật may, khung cảnh của chùa Wat Chedi Luang giúp cho con trở về, con để ý đến mỗi bước chân và hơi thở mỗi khi đi qua một khu vực của chùa, con đi cho ba, cho mẹ, cho Thầy, cho Tổ và thế hệ tương lai. Con cảm thấy mình không còn là một cá nhân biệt lập, những suy nghĩ của mình không chỉ là của mình, con thấy được tâm hành khó chịu, bực bội đã lắng dịu đi rất nhiều. Bước chân của con cẩn trọng hơn. Viếng thăm, lạy Bụt là cơ hội để con trở về mà không phải chỉ để bày tỏ sự tôn kính. Con ngắm nhìn Bụt trong thế ngồi vững chãi và cảm thấy lòng mình trở nên nhẹ hơn!

 

Về tu viện sau một chuyến đi dài, con bắt đầu lấy lại cảm giác quen thuộc và dễ chịu khi được ở trong lòng đại chúng. Đi ra ngoài rồi con mới thấy càng nhớ nhà hơn, càng trân quý ngôi nhà chung của mình hơn. Nhà ở đây là đại gia đình tâm linh đang tu học bên nhau. Nhà ở đây cũng là ngôi nhà đích thực của tự thân mình. Có lẽ cũng do con đôi khi đã bỏ rơi ngôi nhà đích thực của mình nên mới cảm thấy nhớ, thấy mong. Về nhà rồi, thỉnh thoảng con vẫn tự hỏi mình, con đã về nhà chưa để phát khởi ý thức về lòng biết ơn và trân quý trong mình!

Chân Trời Đạt Nguyện

Thầy tôi – Thầy em

Anh Chân Cơ là một trong những vị đầu tiên được Sư Ông Làng Mai truyền giới Tiếp Hiện ở Tây phương vào năm 1986. Anh được truyền đăng vào năm 1990 và hiện đang là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Làng Cây Phong ở Montreal, Canada.

Trong mỗi đời người, chúng ta có thể có rất nhiều thầy. Nhưng vị thầy có khả năng chỉ lối đưa đường cho ta trong cuộc đời có lẽ là vị thầy quan trọng nhất. Ta có thể chọn một đức Bụt làm một vị thầy như thế, nhưng ta thật may mắn nếu gặp được vị thầy sống cùng thời và có cơ duyên học hỏi trực tiếp. Có rất nhiều người, dù đã cố tâm tìm kiếm trong suốt cuộc đời cũng không gặp được một vị thầy để nương theo. Tôi đã có phước duyên hơn, gặp được Thầy tôi. Cuộc đời của tôi có hướng đi tốt đẹp hơn từ đó. Tôi mong em cũng sẽ gặp được một vị thầy như vậy cho em. Và nếu em đã hoặc sẽ chọn Thầy tôi làm Thầy của em, tôi xin chân thành chia sẻ những câu chuyện sau đây với em, như đang kể chuyện cho người trong một nhà.

Ðã bao nhiêu năm, tôi vẫn thường nghĩ rằng những kỷ niệm của tôi có về Thầy tôi là những kỷ niệm riêng tư. Bây giờ, tôi biết rất rõ là những câu chuyện tôi kể ra đây cũng sẽ là những kỷ niệm của em vì Thầy tôi cũng đã, đang và sẽ là Thầy của rất nhiều người, trong đó có em, một người sinh sau tôi một hay hai thế hệ và có thể chưa từng được đối diện với Thầy Làng Mai. Mong rằng những câu chuyện của tôi sẽ giúp em hiểu và biết thêm chút ít về vị Thầy của chúng ta trong những thập niên đầu khi Thầy khởi công hoằng pháp. Tại Canada, ngoài tôi ra, còn có rất nhiều các bác và anh chị khác được đến tu học với Thầy trong những năm tháng đó như bác Chân Hội, anh Chân Văn, chị Chân Huyền, anh Chân Giác, chị Chân Thanh, v.v. Hy vọng các bác và các anh chị đó cũng sẽ có thời gian chia sẻ, kể chuyện cho em nghe.

Năm 1985, Thầy tôi đến Canada hướng dẫn khóa tu đầu tiên ngoài Làng Hồng, Pháp quốc. Làng Hồng về sau đổi tên là Làng Mai khi vài trăm cây mai được trồng để gây quỹ giúp trẻ em mồ côi. Làng Mai nước Pháp hình thành vào năm 1982 thì ba năm sau anh chị Chân Văn và Chân Huyền đã mời được Thầy sang Canada, hướng dẫn cho chúng tôi trong một khóa tu tổ chức tại Camp Les Sommets, Katevale, Québec. Khóa tu đầu tiên đó được các anh chị đặt tên là Trại Thiền Phong Tùng. Sau khóa tu, Thầy đã gợi ý thành lập một nơi mà chúng tôi có thể trở về tu học thường xuyên. Thầy cũng đã đề nghị đặt tên cho trung tâm tu học này là Làng Cây Phong. Làng Cây Phong được thành hình từ năm ấy.

Bước thiền hành đầu tiên

Lúc đó vào khoảng tháng 9 năm 1985. Sáng ấy, tôi dậy rất sớm. Được giao phó làm thị giả, tôi có phận sự pha trà và chuẩn bị trà nước hầu Thầy vào lúc sáu giờ sáng. Sau khi lặng lẽ thưởng thức chén trà nóng buổi sớm mai, Thầy quay lại bảo tôi: “Mình ra ngoài thiền hành một chút nghe”. Tôi liền ‘dạ’ mà trong bụng thật sự chẳng biết thế nào là thiền hành. Thế là thầy đi trước, trò theo sau, tôi đi sau Thầy khoảng chừng mươi bước, tôi đặt những bước thiền hành đầu tiên trong đời. Thầy bước chân trái, tôi bước theo chân trái, Thầy bước chân phải, tôi bước theo chân phải. Không gian, đồi núi tĩnh lặng, sương sớm phủ giăng trên con đường dốc, những tiếng đá sỏi sột soạt dưới chân cũng không làm cho tâm tôi xao lãng, tôi muốn học cho kỹ càng phép thiền hành. Bài học thân giáo, tôi nhớ mãi từ ngày ấy. Về sau, qua những năm tháng thực tập thiền hành, tôi mới thực sự hiểu thêm, biết rõ hơn và cảm nhận được diệu dụng của pháp môn này. Kỷ niệm và bài học ngày hôm ấy tôi nhớ hoài không quên. Ví như hôm nay, có dịp mời em thực tập thiền hành, tôi cũng có thể sẽ dặn dò và hướng dẫn em làm sao thiền hành trong vòng ít nhất là năm mười phút, nếu không nhớ đến bài học năm xưa: “Học bài cho thuộc rồi cũng sẽ quên, kỷ niệm sống, không có ý học, lại nhớ luôn”.

Có lẽ tôi là một trong những người thị giả cư sĩ đầu tiên của Thầy ngoài nước Pháp. Thời ấy, Thầy chưa có đệ tử xuất gia. Sư cô Chân Không lúc ấy cũng còn là một đệ tử tại gia, cô có một mái tóc dài và rất đẹp. Nhưng nét đẹp nhất của sư cô, ngay khi còn là cư sĩ tại gia, chính là lòng thương rộng lớn, luôn nghĩ đến và hành động giúp những người thiếu thốn. Chúng Tiếp Hiện năm ấy chỉ vào khoảng 20 người. Sang năm 1986, sáu anh chị em chúng tôi tại Canada là những người đầu tiên gia nhập dòng tu Tiếp Hiện ngoài Việt Nam và xứ Pháp: Chân Hội, Chân Văn, Chân Huyền, Chân Thanh, Chân Giác và Chân Cơ. Câu chuyện thọ giới Tiếp Hiện của chúng tôi cũng là một câu chuyện rất nhiều thiền vị mà có dịp tôi sẽ kể lại cho em nghe.

Thị giả Sony

Ngày đó, lúc nào làm thị giả ở bên Thầy tôi cũng mang theo một cái máy thu âm hiệu Sony. Ngoài việc thu âm những bài pháp thoại chính thức, tôi còn thu âm luôn tất cả những câu chuyện Thầy kể cho nghe hoặc những mẫu chuyện trao đổi hàng ngày giữa thầy và các trò. Tôi còn nhớ năm ấy, tôi sắm được một cái máy Sony có hiệu năng ngưng thâu và khởi thâu băng một cách tự động. Trên máy có một chấm đèn đỏ làm hiệu. Khi có tiếng động thì máy bắt đầu thâu và đèn đỏ lên, rồi khi có một thời gian im lặng thì máy ngưng thâu và đèn đỏ tắt đi. Chỉ như vậy thôi mà có một lần hai thầy trò để ra gần mười phút để vui chơi với cái hiệu năng đó. Thầy thử lên tiếng hoặc tôi thử làm tiếng động, để xem khi nào máy chạy hay máy ngưng. Thầy trò vui cười với nhau chỉ trong vài phút vậy mà cái hạnh phúc ấy vẫn nuôi dưỡng tôi mỗi khi nhớ lại. Về sau, Sư cô Chân Không đã đặt cho tôi cái biệt hiệu là thị giả Sony.

Xin kể cho em nghe tại sao tôi thích mang theo máy thu âm để trở thành thị giả Sony nhé. Trước khi được theo tu học với Thầy Làng Mai năm 1985, tôi đã từng đọc những quyển sách của Thầy viết ra thời ấy như Bông hồng cài áo, Nói với tuổi hai mươi, Nẻo vcủa ýTrái tim mặt trời. Tôi cũng đã từng tìm kiếm và đọc nhiều sách về đạo Bụt, ví dụ như cuốn Ðức Phật và Phật pháp của ngài Narada, cuốn Tinh hoa và sphát triển của đạo Phật hoặc những cuốn về thiền học như bộ Thiền luận của ngài Suzuki Daisetsu Teitarō. Tuy vậy, bây giờ nghĩ lại, những hiểu biết của tôi ngày ấy về đạo Bụt, về thiền tập thật thô thiển và lờ mờ. Ðến khi được nghe Thầy giảng về Ba squay vnương tựa trong bài pháp thoại đầu tiên, tôi mới nhận ra được một đạo Bụt thật giản dị, dễ hiểu và gần gũi. Có lẽ chính nhận thức đó đã cho tôi linh tính và nhận biết những giây phút bên Thầy rất quý giá, nhất là trong những câu nói thường ngày đã làm tôi bừng tỉnh của Thầy. Cho nên, khi nào ở bên Thầy tôi cũng có cái máy thu âm Sony để thâu cả những câu chuyện bình thường hàng ngày. Về sau, nhắc lại chuyện này, lúc nào Thầy cũng cười với niềm trìu mến.

Hai Hòn Ðá Lửa

Tháng 6 năm 1986, trong buổi gặp mặt trước khi vào khóa tu tại Montréal, để giúp chúng tôi hiểu hơn về đạo Bụt, và để khuyến khích sáu anh chị em chúng tôi gia nhập dòng tu Tiếp Hiện, Thầy đưa ra hình ảnh của hai hòn đá lửa. Một hòn đá tượng trưng cho giáo lý trong đạo Bụt, và một hòn đá tượng trưng cho những vấn đề hiện hữu trong xã hội. Thầy nói rằng giáo lý của đạo Bụt chỉ có sức sống và phát hiện khi chúng ta đưa hai hòn đá lửa chạm vào nhau. Sự va chạm này làm xẹt ra những tia lửa; và chính những tia lửa này mới là những giác ngộ quý giá của đạo Bụt. Thầy có đưa ra một vài ví dụ cho những vấn đề xã hội đương thời như: vấn đề người mẹ mang thai hộ người khác (surrogate mother), vấn đề giúp người sắp chết (euthanasia), vấn đề của những người đồng tính (gays and lesbians), vấn đề môi trường sinh thái trên trái đất (environment) v.v. Vào thời điểm đó, một người trẻ như tôi chưa hề biết đến một đạo Bụt có liên quan đến những vấn đề xã hội như vậy. Tôi đã thoáng nghiệm ra có một hướng đi của đạo Bụt rất nhập thế, một đạo Bụt thực sự áp dụng vào đời sống hàng ngày, một đạo Bụt thể hiện ngay trong những vấn đề rất tiên tiến và hiện đại. Cùng lúc, tôi cũng thoáng nhận ra rằng: Thầy tôi không chỉ là một vị thầy của người Việt Nam mà sẽ là một vị thầy chung, luôn cả cho xã hội Tây phương.

Bài học và hình ảnh của hai hòn đá lửa tôi mang mãi trong mình từ dạo ấy. Mỗi khi tôi có cảm tưởng mình hiểu biết thêm về giáo lý, tôi lại tự hỏi: với sự hiểu biết đó và với những vấn đề đương thời trong xã hội hay cuộc sống, tôi có làm xẹt ra những ánh lửa soi sáng nào không? Và mỗi khi có một vấn đề nan giải trong xã hội, tôi cũng tự hỏi: với bao nhiêu năm tu học, thiền tập,… những công phu đó có giúp tôi soi sáng được chút nào trong vấn đề đó hay chưa?

Ngày nay, xã hội hiện đại chúng ta đã có thêm những vấn đề mới như khủng bố, hiện tượng hâm nóng toàn cầu, thức ăn sạch (organic food), thức ăn, thức uống nhiễm độc tố, ảnh hưởng của hệ thống truyền thông đại chúng, v.v. Hơn bao giờ hết, bài học về hai hòn đá lửa của Thầy tôi lại trở về giúp tôi phương thức soi sáng, nhìn rõ vấn đề. Hiện nay, Thầy tôi vẫn chưa nói lại được bình thường sau lần đột quỵ cách đây hai năm, nhưng trong hơn 30 năm qua, Thầy tôi đã nuôi nấng, chỉ dạy và hướng dẫn cho hàng vạn người trên thế giới. Em có vấn đề nan giải của em? Em muốn tìm hiểu thêm về vấn đề nan giải của xã hội? Giờ đây, Làng Mai đã có rất nhiều vị xuất sĩ có khả năng và đức độ ở khắp nơi, em có thể nương tựa vào một tăng thân đang đi theo con đường Hiểu và Thương của Thầy để tìm ra hướng đi. Em hãy mang hình ảnh của hai hòn đá lửa vào trong lòng. Sự tu tập với Tăng thân sẽ giúp em khám phá ra được đường về.

Em còn nhớ hay em đã quên

Em còn nhớ hay em đã quên là tựa một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Bài hát nói về lòng ray rứt của nhạc sĩ khi tưởng nhớ về quá khứ. Tôi rất thích những ca từ của nhạc sĩ TCS, nhưng từ ngày được Thầy hướng dẫn, tôi đã phân biệt được đâu là những nẻo đường đưa về thương đau và đâu là những nẻo đường đưa về hạnh phúc. Thầy đã chỉ dạy cho tôi về chuyện nhớ – quên ngay từ những khóa tu đầu tiên ấy.

Nếu em có dịp về Làng Mai – Pháp và có cơ hội được mời vào trong cốc Ngồi Yên của Thầy, có thể em sẽ còn được thấy một bảng số xe của bang Québec treo trên vách. Trên bảng số, có một câu rất ngắn bằng tiếng Pháp “Je me souviens”. Có thể dịch câu này ra là “Tôi vẫn nhớ” hay “Em vẫn nhớ”. Giai thoại về câu này đã được Thầy kể lại trong cuốn sách An lạc từng bước chân. Tôi xin kể thêm ra đây vì tôi chính là “người bạn” lái xe cho Thầy hôm ấy.

Tôi nhớ rất rõ ngày hôm ấy, khi đang lái xe để đưa Thầy đến địa điểm khóa tu, Thầy bỗng hỏi: “Trên bảng số xe phía trước, có một dòng chữ Je me souviens, anh có biết họ muốn nói gì không?”. Sau khi nghe tôi trả lời, Thầy lại nói tiếp: “Tôi có một món quà cho anh và cho quý vị đang sống ở Québec: mỗi khi lái xe và mỗi khi nhìn thấy câu  Je me souviens trên bảng số xe phía trước, là mình có thể nhớ và trở về với hơi thở chánh niệm”. Tôi lấy làm sung sướng và từ ngày ấy tôi thực tập hơi thở chánh niệm với nhiều hiệu quả. Vài tháng sau, khi về Làng Mai tu học, dù không có những bảng số xe của bang Québec trước mặt, tôi cũng đã thực tập rất tinh chuyên với các đèn nháy xi-nhan sau các xe. Và tôi đã làm ra được một bài kệ đầu tiên cho việc thực tập của mình: “Kệ kẹt xe”

“Mắt Bụt sáng lên rồi

Tâm ý hiện màu tươi

Cho chánh niệm rạng rỡ

Tôi cười, đèn cũng cười.”

Khi trở về Canada, tôi có viết thư tâm sự với Thầy là tôi đã thấy Bụt nháy mắt và cười với tôi mỗi khi tôi nhớ lại và trở về với hơi thở chánh niệm. Em còn nhớ đến hơi thở chánh niệm là em có Bụt bên em; nếu em quên hơi thở chánh niệm thì em sẽ có khuynh hướng đi về những nẻo tối tăm.

Con đang nuôi Thầy

Khóa tu đầu tiên ở Làng Cây Phong, trong một bài pháp thoại Thầy giảng về đề tài: “nuôi cây, con nuôi mẹ”. Khái niệm Tương tức – Tương nhập đã được Thầy giảng giải rất cụ thể với những hình ảnh và ví dụ thật dễ hiểu. Ngay những năm ấy, sức khoẻ của Thầy đã không được tốt. Hồi đó tôi đã nhận thức rất rõ là thời gian được ở bên Thầy và được Thầy chỉ dẫn thật quý. Vì là thị giả nên tôi không thể hoàn toàn tham gia các sinh hoạt. Sau khi mọi người dùng cơm trưa gần xong tôi mới bắt đầu ăn trưa. Ngay lúc ấy, Thầy đi lại bên tôi và hỏi: “Bây giờ anh mới ăn trưa?”, tôi bèn trả lời: “Dạ, con đang nuôi Thầy”. Thầy mỉm cười, có vẻ vui lòng với câu trả lời của tôi. Về sau trong một chuyến về Việt Nam, Thầy có kể lại chuyện này cho đại chúng ở quê hương, lâu lâu lại có vài người bạn quen biết với tôi nhắc lại; nói rằng qua chuyện này thì họ nhớ đến pháp hiệu Chân Cơ của tôi.

Giờ đây, khi em có dịp về tu học tại bất cứ một trung tâm nào, dù là Làng Mai Pháp, Làng Mai Thái, các Viện Phật học Ứng dụng hoặc các tu viện Bích Nham, Mộc Lan hay Vườn Nai bên Mỹ, em cũng sẽ nhận ra bóng dáng Thầy rất rõ rệt trong rất nhiều người. Có thể nói quý thầy và quý sư cô đang tu học và “nuôi Thầy” của chúng ta một cách chuyên cần và tinh tiến. Tại những trung tâm đó, em cũng có thể nhận ra được bóng dáng Thầy khi nhìn vào cách đi, đứng, nằm, ngồi của các anh chị trong dòng Tiếp Hiện. Cái bóng dáng của Thầy đó là gì? Ðó là bóng dáng của sự thảnh thơi, thong dong của một người Vô sự. Ðó là bóng dáng của sự tĩnh lặng, an bình trong sinh hoạt hàng ngày. Ðó là bóng dáng của một người biết lắng nghe để hiểu thương sâu.

Cuối trời mây trắng bay

Năm 1986, khi Thầy trở lại hướng dẫn khóa tu lần thứ hai tại Montréal, Canada, tôi được giao cho trách nhiệm đưa Thầy đến giảng pháp tại Montréal Zen Center, một thiền viện theo truyền thống Nhật Bản. Có thêm chị Chân Thanh theo tháp tùng. Thiền viện này do thiền sư Albert Low điều hành. Thiền sư Albert Low theo học thiền sư Philip Kapleau bên Mỹ, tác giả của cuốn sách Ba trụ thiền (The three pilars of Zen) trong 20 năm. Về sau, Thiền sư Low được giao nhiệm vụ trông nom thiền viện Montréal Zen Center. Chính thiền sư Low cũng là người dịch cuốn sách Nẻo vào thiền học của Thầy từ tiếng Pháp sang tiếng Anh (Zen keys).

Hôm ấy, chị Chân Thanh và tôi cảm thấy rất hứng khởi. Thầy của mình được mời đến giảng như một thượng khách và chúng tôi được theo tháp tùng. Buổi giảng có khoảng 30 người tham dự nhưng không khí trang trọng đúng theo truyền thống trong các thiền viện Nhật. Trước buổi giảng, Thầy đã niệm và dâng hương bằng tiếng Việt. Tôi không nhớ Thầy đã giảng những gì, nhưng điều tôi nhớ nhất là ngay sau pháp thoại, một cơn mưa lớn đổ xuống và chúng tôi đã ngồi nghe mưa trong vòng nhiều phút. Sau buổi pháp thoại, chị Chân Thanh và tôi, mỗi người một cây dù, đưa Thầy đi bộ ra bờ sông Rivière des Prairies, mạn bắc của sông Saint-Laurent. Chúng tôi đã đứng với dù để ngắm trời mây và dòng sông chảy xiết. Ðối với tôi, thời gian lúc ấy như ngừng lại. Ðó cũng chính là hình ảnh tôi thường thấy trong những giấc mơ của tôi. Trong giấc mơ, tôi hay được đi bên một vị thầy, che dù cho thầy trong mưa tuyết lất phất.

Cũng vào năm ấy, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo có ra một tuyển tập nhạc thiền đặt tên Tịnh tâm khúc. Trong tuyển tập này, có một bài tôi rất thích, đó là bài Cuối trời mây trắng bay. Sau này, mỗi lần được nghe lại bài này, tôi lại nhớ đến ngày hôm đó; thầy trò chúng tôi đã cùng yên lặng, ngắm trời mây, nghe sông vỗ sóng:

...

Đôi bờ im nghe

Sông vùi tiếng sóng

mộng gối vô thường

Sông mở tim ra, trăng già bát ngát

rủ nhau tan giữa biển xa

sông như bầu trời

quên mây trắng bay

Trong những khóa tu sau đó, Thầy đã dùng hình ảnh của một dòng sông trong bài nhạc này để giáo hoá. Bắt đầu dòng sông chỉ ham vui chơi, chạy đuổi theo mây trắng trên bầu trời. Khi mây trắng bay mất ở cuối bầu trời, trong sự yên lặng trống vắng, dòng sông đã mở được lòng mình ra để trời xanh hiện rõ và để bóng trăng già hiện rõ trong lòng sông. Từ lúc ấy, sông và trăng “rủ nhau tan giữa biển xa”…

Lời Tạm Biệt

Những câu chuyện như trên về Thầy tôi, tôi vẫn còn nhiều nữa; nhưng phải hẹn em sau. Em cũng biết sau này Thầy đã có rất nhiều học trò tại gia cũng như xuất gia, mỗi vị đều có thể kể cho em nghe những mẫu chuyện còn thú vị hơn. Riêng tôi, tôi chỉ có thể chia sẻ với em rằng: khi chúng ta được sống gần Thầy, một người có chánh niệm, giây phút nào cũng có thể tạo ra hạnh phúc lâu dài, con đường nào cũng có thể trở thành con đường huyền thoại. Thầy tôi đã là một vị thầy như thế, Thầy em cũng sẽ là một vị thầy như thế.

Chân Cơ

Khi chết, ta sẽ đi về đâu?

Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm.

Không phải chỉ khi nào xác thân ta tan hoại và những tác dụng tâm lý của ta không còn biểu hiện nữa thì ta mới về với đất Mẹ. Sự thật là ta đang về với đất Mẹ trong từng giây từng phút. Mỗi khi thở, mỗi khi bước đi là chúng ta đang trở về. Khi chúng ta gãi, những tế bào khô rớt xuống đất là ta đã trở về đất Mẹ. Luôn luôn có những cái cho vào và cho ra (input và output) đang xảy ra, vì vậy chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ sau khi xác thân tan hoại rồi ta mới trở về. Chúng ta đang trở về và trở ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày.

Con người tự hào mình là những chiến sĩ dũng cảm, nhưng trái đất mới là một chiến sĩ dũng cảm đã trải qua 4 tỷ năm kiên nhẫn, hào hùng chờ đợi cho tới khi sự sống phát hiện. Nói về tình thương, chúng ta thấy đất Mẹ đã cho ra đời không biết bao nhiêu chủng loại và đã tìm cách để nuôi dưỡng các chủng loại đó. Đất Mẹ cho ta ra đời, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống, thực phẩm để ăn, cho ta cây cỏ để trị liệu, tình thương đó là một tình thương rất lớn. Ta có thể nhận diện hành tinh của ta  là một bà mẹ. Đất Mẹ luôn luôn có đó và đón ta trở về với hai bàn tay từ mẫu, để rồi sẽ đưa chúng ta ra đời trở lại. Chúng ta có một bà mẹ tuyệt vời và xinh đẹp như vậy mà không biết trân quý, chúng ta đi tìm một bà mẹ khác trong đầu óc tưởng tượng của chúng ta.

Đất Mẹ đã đưa chúng ta ra đời một lần, khi chúng ta trở về, đất Mẹ sẽ đưa hai tay ra ôm lấy và sẽ đưa chúng ta ra đời muôn vạn lần khác. Không có gì mà ta phải lo sợ.

 (Trích từ tác phẩm “Tâm tình với đất Mẹ” của Sư Ông Làng Mai – TS Thích Nhất Hạnh)