Mặt trời là một vị Bồ tát lớn

Nếu quán chiếu sâu sắc, chúng ta thấy trước khi con người xuất hiện trên trái đất , đã có sự hiện diện của các vị Bụt và Bồ tát. Các vị Bụt và Bồ tát không hẳn phải mang hình thức một con người. Ví dụ như mặt trời mà mỗi ngày chúng ta thấy là một ngôi sao rất lớn trong dải ngân hà có triệu triệu ngôi sao. Mặt trời là một trong những ngôi sao lớn nhất của tinh hà này. Mỗi ngày mặt trời hiến tặng bản thân của mình dưới hình thái ánh sáng. Hành tinh của chúng ta là trái đất mỗi ngày tiếp thu một ít ánh sáng mặt trời để có thể chế tác được sự sống.

Nhìn cho kỹ thì mặt trời là một vị Bụt có hào quang vô lượng và thọ mạng vô lượng. Mặt trời lớn gấp 330.000 lần trái đất và đường kính gần 1 triệu rưỡi cây số. Mỗi ngày mặt trời lấy hình hài của mình chế thành ánh sáng hiến tặng cho thế gian. Ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng, đó là đức Bụt A Di Đà. Mỗi ngày đức Bụt A Di Đà có mặt cho trái đất và cho chúng ta trong hình hài của chúng ta. Trong chúng ta có mặt trời, cũng như trong bông hoa có Mặt trời. Lấy mặt trời ra thì chúng ta chết. Trong kinh nói Di Đà là tự tánh, chúng ta đã có được Di Đà trong thân và tâm của mình. Nếu bản chất của A Di Đà là vô lượng quang, vô lượng thọ thì mặt trời đúng là vô lượng quang, vô lượng thọ. Mặt trời là Suna, là thần Thái Dương, là Bụt A Di Đà Vô Lượng Quang Vô Lượng Thọ. Mỗi ngày mặt trời đi chơi từ phương Đông qua phương Tây nên người ta nghĩ rằng nhà của mặt trời hay của Bụt A Di Đà là phương Tây. Chúng ta không cần phải nhớ tưởng hay niệm đức A Di Đà. Đức A Di Đà đang có mặt trong hình hài ta, có mặt với chúng ta trong mỗi giây phút của đời sống hằng ngày. Muốn nhìn hình hài của mặt trời thì mình nhìn lên, muốn tiếp xúc với năng lượng của mặt trời thì nó có ngay trên trái đất và trong hình hài của chúng ta.

Mặt trời là một vị Bụt, một vị đại Bồ tát. Mặt trời không cần phải mang hình hài một con người. Lâu nay trong đạo Kitô người ta quan niệm Thượng đế là đấng tạo hóa có hình hài của một con người. Nhưng sau này nhiều nhà thần học đã đặt vấn đề: Có phải Thượng đế có hình hài của một con người hay không? God is a person or not? Rất nhiều nhà thần học Kitô giáo không đồng ý rằng Thượng đế có hình hài của một con người.

Lúc còn sống, Albert Einstein có đọc một bài diễn văn, trong đó ông nói ông không tin rằng Thượng đế có hình dáng của một con người. Sau đó, những nhà thần học như Paul Tillich cũng nói như vậy: God is not a person.

Trong đạo Bụt chúng ta có danh từ pháp thân (Dharmakāya). Danh từ pháp thân có ít nhất là hai nghĩa:

  1. Trước nhất, pháp thân là sự thực tập của chúng ta. Mỗi người chúng ta đều có pháp thân, tức có sự thực tập. Sự thực tập của chúng ta có thể yếu kém hay hùng mạnh. Nếu sự thực tập của ta vững chãi thì ta có thể xử lý được những nỗi khổ niềm đau và chế tác được niềm vui. Đó là Dharmakāya, là pháp thân của chúng ta. Ta tu tập, hành trì như thế nào để pháp thân càng ngày càng vững, ta có thể chế tác niềm vui và chuyển hóa niềm đau một cách dễ dàng. Có pháp thân là ta có Phật thân, đi đâu hay ngồi đâu trong ta cũng có Bụt.
  2. Sau này, nhất là trong Đại thừa, chữ pháp thân có nghĩa là nền tảng của vạn pháp. Vạn pháp có thiên hình vạn trạng, có muôn ngàn pháp, nhưng tất cả đều nương tựa trên một nền tảng gọi là pháp thân.

Bên Kitô giáo, nhiều nhà thần học cũng nói tới Thượng đế như một pháp thân. Nhà thần học người Đức, Paul Tillich, nói: “Thượng đế là nền tảng của hiện hữu”. God is the ground of being. Đạo Phật cũng nói: Pháp thân là nền tảng của tất cả các pháp. Cho rằng Thượng đế là nền tảng của hiện hữu cũng gần giống như khi ta nói pháp thân là nền tảng của các pháp. Phật tử sẽ không khó khăn khi chấp nhận một Thượng đế như là bản thể, nền tảng của vạn pháp.

Mặt trời cũng là một vị Bồ tát lớn, là một vị Bụt. Không có mặt trời thì không có ánh sáng, sức nóng và không có sự sống. Mặt trời có tên là Đại Nhật Như Lai, Vairochana Tathagata. Không có mặt trời thì không có sự sống trên trái đất. Chúng ta có thể xướng: Nhất tâm kính lễ đức Tỳ Lô Giá Na Như Lai, Bụt Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang hiến tặng sự sống cho hành tinh đại địa.

 

 

Sự thành lập của Trái Đất

Trái đất được thành lập

Chúng ta hay có thói quen nhân cách hóa mọi thứ. Ví dụ như tự do, chúng ta nghĩ tới tự do như một vị thần, nên ta tạc tượng Nữ thần Tự Do. Khi gió thổi mạnh, chúng ta tưởng tượng ra một vị thần đang làm ra gió gọi là thần Gió. Khi nghe tiếng sấm sét, chúng ta nghĩ ra một vị thần gọi là thần Sấm Sét. Văn hóa nào cũng có khuynh hướng đó. Tình thương cũng được nhân cách hóa thành ra một bà mẹ, Mẹ Maria hay Mẹ Quan Âm. Chúng ta có thần Tự Do, thần Công Lý, có Mẹ Maria, Mẹ Quan Âm. Trong nhiều nền văn hóa, chúng ta đã xem Mặt trời là một vị thần linh. Trong văn hóa Ấn Độ, Mặt trời là một vị thần tên Surya, ở Trung Quốc là thần Thái Dương và ở Âu châu là Suna. Chúng ta có khuynh hướng nhân cách hóa mọi thứ.

Khi nghĩ tới sự thành lập vũ trụ, chúng ta nhân cách hóa sự thành lập đó bằng hình ảnh một Thượng đế, một vị hóa công, tức người đã tạo dựng ra thế giới. Hành tinh của chúng ta, ta gọi là Đất Mẹ, ta cũng nhân cách hóa trái đất. Chúng ta nghĩ đất là Mẹ như một con người và mặt trời là một ông cha. Trong những ơn ta muốn tỏ lộ có ơn trời che và đất chở (thiên địa phú tài chi ân).

Trái đất của chúng ta đã có mặt vào khoảng 5 tỷ năm. Lúc đầu nó chỉ là một khối lửa như mặt trời bây giờ. Trong gần 4 tỷ năm trên trái đất không có sự sống, tại vì quá nóng. Nhưng từ từ, lửa phun ra tạo thành hơi nước, hơi nước làm cho vỏ ngoài của trái đất lạnh và cứng lại. Từ từ bầu khí quyển được hình thành và sự sống bắt đầu xuất hiện dưới nước. Nhờ bầu khí quyển và từ trường phóng ra từ trái đất mà có đủ sức ấm, nhờ sức nóng do mặt trời chiếu dọi mà đại dương không đóng thành băng. Bầu khí quyển ngăn cản những tia phóng xạ cực tím nên sự sống từ từ xuất hiện trên mặt đất. Trong một tỷ năm cuối, sự sống được phát hiện dưới hàng triệu chủng loại, từ cây cối đến thú vật. Con người xuất hiện rất trễ trên trái đất. Có một lần trái đất bị một thiên thể lớn bằng sao Hỏa va chạm, tạo ra một cú sốc rất lớn. Một phần của thiên thể hòa nhập với trái đất, một phần hợp với một phần nhỏ của trái đất văng ra và trở thành mặt trăng. Mặt trăng xoay chung quanh trái đất theo một quỹ đạo. Trái đất bị tai nạn – bị những thiên thể trong không gian va chạm như vậy bốn năm lần. Tới lần trái đất bị va chạm cuối cùng thì những loài khủng long đang sống trên mặt đất bị hoàn toàn tiêu diệt, loài bò sát khổng lồ cũng chết hết, chỉ còn lại những loài động vật có vú sống được và tiếp tục phát triển.

 

Sự xuất hiện của con người

Con người xuất hiện rất trễ trong lịch sử của sự sống. Lúc đầu có một loài vượn ở Phi châu đứng thẳng lên và hai tay của nó được tự do. Nó bắt đầu biết sử dụng những khí cụ nên trí óc phát triển rất nhanh. Loài vượn đứng thẳng xuất hiện và từ từ trở thành nhiều chủng loại của con người. Nhờ khối óc nên con người trở nên thông minh, sáng tạo ra nông nghiệp, kỹ thuật và ảnh hưởng tới trái đất một cách rất hiệu quả. Trong lịch sử của sự sống, chưa có loài nào trên thế giới có thể ảnh hưởng lên trái đất một cách lớn lao như vậy. Và con người bắt đầu nhân cách hóa, con người nghĩ rằng: Thượng đế, tức lực lượng tạo ra trời đất, phải có hình dáng của một con người.

Trong kinh điển nói: Thượng đế tạo ra con người dưới hình ảnh của Ngài. Nhưng trên thực tế thì chính con người đã tạo ra Thượng đế. Đó gọi là nhân cách hóa. Trong đạo Bụt, chúng ta nói tới Phật tánh, tức khả năng hiểu, thương và tỉnh thức. Chúng ta nói tới Phật tánh, không những của con người mà còn của những loài khác, vì vậy trong Thiền tông có công án: Con chó có Phật tánh hay không? Chúng ta có tụng một bài kinh, trong đó có câu: Tình dữ vô tình đồng thành Phật đạo – tất cả các loài, dù hữu tình hay vô tình, đều có thể thành Phật. Không những con chó, con nai, con thiên nga, con cá, con chim có thể thành Phật, mà cây trúc đào, cây xoài, cây chanh cũng có thể thành Phật. Cỏ cây, đất đá đều có thể thành Phật, đó là tình dữ vô tình đồng thành Phật đạo.

Nhưng con người có khuynh hướng muốn coi mình cao hơn hết mọi loài. Con người nhìn mọi loài bằng con mắt phân biệt, nghĩ rằng Phật, Thánh hay Thượng đế chỉ có thể là con người mà thôi.

 

Phần II

Đất Mẹ

Đây là những bài pháp thoại Thầy Thích Nhất Hạnh giảng tại Làng Mai trong khóa An Cư Kết Đông 2011-2012.

 

Mộc Lan lắm tình

Thương kính tặng quý thầy, quý sư cô ở tu viện Mộc Lan ngày ấy. Dù chông gai ta không lùi bước, đường gập ghềnh ta đã và sẽ vượt qua. Kính chúc quý thầy, quý sư cô luôn được bình an và vững chãi, thảnh thơi trong từng hơi thở nhẹ.

Mới hôm nào đó về đây

Kiến đàn mừng rỡ ong bầy reo vui

Tiêm cho mấy mũi sưng vùi

Bảo rằng thuốc bổ ngậm ngùi xót xa

Thôi đừng chích nữa xin tha

Nhập gia tùy tục thật là đớn đau

Thời gian thấm thoát qua mau

Mộc Lan ngày trước hôm sau thế này

Quý vị tu sĩ về đây

Khai vườn lập chúng dựng xây đạo tràng

Xây luôn cơ sở khang trang

Nhờ bàn tay mẹ đảm đang trao truyền

Nhờ cha rèn luyện tinh chuyên

Vận công cầm búa đóng đinh khoan tường

Hoan hô chiến sĩ kiên cường

Trưa hè nắng nóng dọn đường người đi

Dọn tâm hành xấu sân si

Dọn luôn hạt giống lưới nghi trong mình

Để cho trí tuệ phát sinh

Khai thông dòng suối công trình Thầy trao

Nhiều khi vất vả lao đao

Nước mắt huynh đệ tuôn trào Thầy ơi

Khóc xong lại nở nụ cười

Vui buồn như giọt sương rơi đầu cành

Bấy lâu tâm nguyện đã thành

Mộc Lan nay đã nên danh giữa đời

Trúc, Mai hai xóm có rồi

Pháp môn chánh niệm tuyệt vời nương theo

Lấy dây hơi thở làm neo

Bước chân vững chãi thuyền chèo rong chơi

Bây chừ chúng con phải rời

Visa hết hạn tạm thời chia tay

Vô thường biến chuyển mỗi ngày

Tan rồi hợp lại có ngày gặp nhau

Cớ chi giọt lệ tuôn trào

Mộc Lan thấy vậy mà sao lắm tình.

                                                                           Chân Đồng Đoan

Chiêng Dao – Về với thiên nhiên

Trước khi đi khóa tu, con qua chào thầy y chỉ sư, thầy chỉ dặn dò vài điều thực tập: Bước chân, hơi thở, hiện pháp lạc trú, hải đảo tự thân.

Chuyến đi gồm có 27 người, 10 quý thầy và 17 quý sư cô, trong đó cũng có những sư cô người Thái mới xuất gia. Trải qua mười hai tiếng đi xe, Chiang Dao Youth Camp là điểm đến đầu tiên. Nhìn bầu trời xanh, núi vững chãi, tiếng suối róc rách, cùng với sương mù buổi sáng làm con có cảm tưởng đây là Tịnh Độ! Những phút giây ban đầu thật lắng đọng, con không vội vàng đi khất thực, chỉ ngồi đó thôi và nhận diện sự có mặt của thiên nhiên thật mầu nhiệm. Mình đã đến đây thật sao? Những suy nghĩ chợt lắng lại, một khung trời thênh thang trước mắt, làm sao để ôm trọn cả thiên nhiên vào lòng?

Chuyến đi lần này con có cơ hội tiếp xúc gần hơn với thiên nhiên, cỏ cây và hoa lá nơi núi rừng miền Bắc Thái Lan. Đứng trước thiên nhiên hùng vĩ, làm chủ được thân tâm, con cảm thấy mình hòa với thiên nhiên làm một. Buổi chiều tại Chiang Dao, con trở về với thói quen thường ngày, cầm gậy ra tập thể dục ngay cạnh một con suối, nhìn những nhánh tre con mọc ra tua tủa, ngọn tre vắt ngang lưng trời, những ngọn núi hùng vĩ hiện ra trước mặt với những cụm mây trắng bao quanh, con thấy lòng thật nhẹ nhàng. Trở về với hơi thở và những động tác chánh niệm, lắng nghe tiếng suối reo vang át cả mọi âm thanh bên ngoài, con có cảm giác chỉ còn một mình con và dòng suối. Con trân quý phút giây này vì con được trở về với thân tâm, làm chủ được bản thân, chấm dứt những suy nghĩ miên man. Thân tâm dừng lại được thật là một cảm giác dễ chịu. Con cảm thấy mình đang thực sự sống giữa thiên nhiên bao la. Đời sống luôn có nhiều điều mầu nhiệm diễn ra nhưng nhiều lúc vì thất niệm nên con đã đánh mất mình trong những lo lắng và suy nghĩ mông lung.

Chúng con đến Chiang Dao trước khi khóa tu bắt đầu 2 ngày nên có cơ hội nghỉ ngơi, tìm hiểu thiên nhiên hùng vĩ nơi này. Con luôn ý thức trở về với sự thực tập để có đủ niềm vui và bình an hiến tặng cho khóa tu bốn ngày sắp đến. Khóa tu có chủ đề “Happiness in your pocket” (tạm dịch: Hạnh phúc trong tầm tay), có khoảng 100 thiền sinh và tình nguyện viên tham gia. Khi khóa tu gần diễn ra thì con chợt phát hiện mình mang thiếu một số thiết bị cho hệ thống thông dịch. Lúc đó, con vô cùng lo lắng, bao nhiêu bình an biến mất, mọi việc bỗng trở nên rối lên. Hai anh em chăm sóc âm thanh bắt đầu ngồi lại, tính toán số lượng thiền sinh, ước tính số người cần thông dịch, kiểm tra lại các thời khóa và sắp xếp các tình huống cần thiết trong một hoàn cảnh khẩn cấp. Con tự trách mình hơi chủ quan trong khâu chuẩn bị. Nhưng rồi, con bình tĩnh trở lại và những sáng kiến phát sinh. Chúng con đã hoàn thành trách nhiệm của mình một cách tốt nhất. Sự bình tĩnh trong các tình huống khó khăn là một sự thực tập quan trọng, và đồng thời chúng con cũng học được thêm một bài học về sự chu đáo và tính cẩn thận, không chủ quan trong công việc.

Sự thực tập khi đi ra ngoài tu viện là một thử thách. Con thấy mình dễ thất niệm bởi hoàn cảnh bên ngoài: khung cảnh, con người, chỗ ở, đi lại, thức ăn,… Leo lên những đỉnh núi cao, thỉnh thoảng con nhìn thấy những bông hoa tuyệt đẹp. Con tự hỏi tại sao hoa lại có mặt nơi này? Nhìn vào bông hoa con chợt thấy những điều kiện giúp cho bông hoa có mặt: nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng,… bao nhiêu điều kiện để tạo nên bông hoa. Nhân duyên đầy đủ thì hoa biểu hiện, con nghĩ nếu mình đem về tu viện trồng thì có thể bông hoa sẽ  không sống được vì không đủ điều kiện thích hợp. Nhân duyên tạo ra con người, cảnh vật, tập quán,… Cơ thể mình cũng do nhiều điều kiện, nhân duyên hợp lại và con thấy không có điều kiện riêng nào đóng vai trò then chốt, tất cả hợp tác với nhau để cùng có mặt. Trong chuyến đi lần này chúng con còn  được hai anh chị nơi tổ chức khóa tu, chăm sóc rất chu đáo, tận tình. Sự gần gũi của con người nơi đây làm con suy nghĩ: phải chăng khi được sống và trở về với thiên nhiên, con người trở nên đơn giản và hạnh phúc hơn?

Những ngày ở đây, chúng con còn được trải nghiệm với suối nước nóng thiên nhiên. Thường thường, chúng con đi tắm vào sáng sớm hoặc khi trời tối vì lúc đó không có ai. Thiên nhiên thật mầu nhiệm. Có những dòng suối cứ chảy liên tục quanh năm, có dòng nước nóng, có dòng nước lạnh. Con người chỉ cần trở về để được hòa mình với thiên nhiên. Có sư anh nói với con rằng “nếu mình biết sống hòa mình với thiên nhiên thì không bao giờ thấy thiếu”. Con ngâm mình trong dòng nước nóng, cảm giác thật khó tả, tại vì có một mùi rất đặc trưng – mùi trứng luộc. Ngâm nước nóng và sau đó qua ngâm nước lạnh để máu huyết trong cơ thể được vào ra lưu thông. Cơ thể mình cũng rất kỳ diệu, có khả năng điều tiết rất nhanh chóng để thích nghi với hoàn cảnh bên ngoài. Con nghĩ rằng nếu có suối nước nóng này chắc người dân ở đây cũng không cần phải xài điện nhiều và một lần nữa khẳng định điều sư anh con nói là đúng.

Trong khóa tu, thiền sinh được khuyến khích nhận Năm giới để áp dụng trong đời sống hằng ngày. Có các bạn lo ngại vì sợ rằng mình sẽ không gìn giữ trọn vẹn được. Nhưng quý thầy, quý sư cô đã từ bi động viên các bạn rằng nếu mình cảm thấy chưa sẵn sàng thì có thể chọn một hoặc hai giới để thọ, rồi lần sau mình đăng ký thọ các giới khác. Con hiểu rằng nếu các bạn thực tập một giới cho đàng hoàng là cũng có nghĩa là các bạn đã thực tập cả năm giới cho nên dù các bạn chỉ thọ một giới thôi nhưng lợi ích đã là rất nhiều rồi. Khóa tu lần này các bạn đăng ký thọ Năm giới rất đông. Sau khóa tu, các bạn có nhiều niềm vui và chuyển hóa nhưng cái quý giá mà các bạn mang về chính là sự thực tập chánh niệm cụ thể trong Năm giới.

Trong chuyến đi, đoàn có dịp ghé thăm nhà các sư cô người Thái, được ở lại vài ngày, nghỉ ngơi và cũng giúp cho gia đình hiểu hơn về tăng thân và pháp môn. Đêm thiền trà vào ngày cuối cùng ở nhà sư cô Suối Thanh Thủy – sư cô xuất gia gieo duyên với tăng thân 3 tháng, sau đó sư cô quyết định tiếp tục tu học với tăng thân. Ba mẹ sư cô rất cảm động, cảm thấy hạnh phúc khi cho con đi xuất gia mặc dù điều kiện kinh tế của gia đình còn khó khăn.

Khi đi tu rồi, con cảm nhận được sự liên hệ giữa anh chị em xuất sĩ và gia đình huyết thống ngày càng sâu sắc hơn, gắn bó hơn và có mặt trọn vẹn hơn bao giờ hết. Nhờ có được pháp môn thực tập, chúng con nuôi dưỡng được lòng biết ơn, biết ơn ba mẹ, biết ơn Thầy, biết ơn Tăng thân.

Đi chung với đoàn là cơ hội để chúng con hiểu về nhau hơn, có những thói quen và cá tính khác nhau nhưng mọi người đã thực tập và chấp nhận nhau như anh chị em một nhà. Lâu lâu, con thấy trong con cũng có những đòi hỏi đi lên nhưng nhờ sự thực tập mà con không cảm thấy đánh mất mình trong những đòi hỏi. Nếu không chế tác được năng lượng thực tập thì mình dễ bị cuốn đi, đánh mất sự truyền thông với bản thân và các anh chị em. Chỉ cần một câu nói khó nghe cũng dễ làm con khởi tâm hành khó chịu. Lúc đó, con trở về và nhận diện tâm hành đang có mặt. Sáng hôm đó, quý thầy được đi tham quan chùa và đi chợ. Thật may, khung cảnh của chùa Wat Chedi Luang giúp cho con trở về, con để ý đến mỗi bước chân và hơi thở mỗi khi đi qua một khu vực của chùa, con đi cho ba, cho mẹ, cho Thầy, cho Tổ và thế hệ tương lai. Con cảm thấy mình không còn là một cá nhân biệt lập, những suy nghĩ của mình không chỉ là của mình, con thấy được tâm hành khó chịu, bực bội đã lắng dịu đi rất nhiều. Bước chân của con cẩn trọng hơn. Viếng thăm, lạy Bụt là cơ hội để con trở về mà không phải chỉ để bày tỏ sự tôn kính. Con ngắm nhìn Bụt trong thế ngồi vững chãi và cảm thấy lòng mình trở nên nhẹ hơn!

 

Về tu viện sau một chuyến đi dài, con bắt đầu lấy lại cảm giác quen thuộc và dễ chịu khi được ở trong lòng đại chúng. Đi ra ngoài rồi con mới thấy càng nhớ nhà hơn, càng trân quý ngôi nhà chung của mình hơn. Nhà ở đây là đại gia đình tâm linh đang tu học bên nhau. Nhà ở đây cũng là ngôi nhà đích thực của tự thân mình. Có lẽ cũng do con đôi khi đã bỏ rơi ngôi nhà đích thực của mình nên mới cảm thấy nhớ, thấy mong. Về nhà rồi, thỉnh thoảng con vẫn tự hỏi mình, con đã về nhà chưa để phát khởi ý thức về lòng biết ơn và trân quý trong mình!

Chân Trời Đạt Nguyện

Thầy tôi – Thầy em

Anh Chân Cơ là một trong những vị đầu tiên được Sư Ông Làng Mai truyền giới Tiếp Hiện ở Tây phương vào năm 1986. Anh được truyền đăng vào năm 1990 và hiện đang là một trong những thành viên nòng cốt của tăng thân Làng Cây Phong ở Montreal, Canada.

Trong mỗi đời người, chúng ta có thể có rất nhiều thầy. Nhưng vị thầy có khả năng chỉ lối đưa đường cho ta trong cuộc đời có lẽ là vị thầy quan trọng nhất. Ta có thể chọn một đức Bụt làm một vị thầy như thế, nhưng ta thật may mắn nếu gặp được vị thầy sống cùng thời và có cơ duyên học hỏi trực tiếp. Có rất nhiều người, dù đã cố tâm tìm kiếm trong suốt cuộc đời cũng không gặp được một vị thầy để nương theo. Tôi đã có phước duyên hơn, gặp được Thầy tôi. Cuộc đời của tôi có hướng đi tốt đẹp hơn từ đó. Tôi mong em cũng sẽ gặp được một vị thầy như vậy cho em. Và nếu em đã hoặc sẽ chọn Thầy tôi làm Thầy của em, tôi xin chân thành chia sẻ những câu chuyện sau đây với em, như đang kể chuyện cho người trong một nhà.

Ðã bao nhiêu năm, tôi vẫn thường nghĩ rằng những kỷ niệm của tôi có về Thầy tôi là những kỷ niệm riêng tư. Bây giờ, tôi biết rất rõ là những câu chuyện tôi kể ra đây cũng sẽ là những kỷ niệm của em vì Thầy tôi cũng đã, đang và sẽ là Thầy của rất nhiều người, trong đó có em, một người sinh sau tôi một hay hai thế hệ và có thể chưa từng được đối diện với Thầy Làng Mai. Mong rằng những câu chuyện của tôi sẽ giúp em hiểu và biết thêm chút ít về vị Thầy của chúng ta trong những thập niên đầu khi Thầy khởi công hoằng pháp. Tại Canada, ngoài tôi ra, còn có rất nhiều các bác và anh chị khác được đến tu học với Thầy trong những năm tháng đó như bác Chân Hội, anh Chân Văn, chị Chân Huyền, anh Chân Giác, chị Chân Thanh, v.v. Hy vọng các bác và các anh chị đó cũng sẽ có thời gian chia sẻ, kể chuyện cho em nghe.

Năm 1985, Thầy tôi đến Canada hướng dẫn khóa tu đầu tiên ngoài Làng Hồng, Pháp quốc. Làng Hồng về sau đổi tên là Làng Mai khi vài trăm cây mai được trồng để gây quỹ giúp trẻ em mồ côi. Làng Mai nước Pháp hình thành vào năm 1982 thì ba năm sau anh chị Chân Văn và Chân Huyền đã mời được Thầy sang Canada, hướng dẫn cho chúng tôi trong một khóa tu tổ chức tại Camp Les Sommets, Katevale, Québec. Khóa tu đầu tiên đó được các anh chị đặt tên là Trại Thiền Phong Tùng. Sau khóa tu, Thầy đã gợi ý thành lập một nơi mà chúng tôi có thể trở về tu học thường xuyên. Thầy cũng đã đề nghị đặt tên cho trung tâm tu học này là Làng Cây Phong. Làng Cây Phong được thành hình từ năm ấy.

Bước thiền hành đầu tiên

Lúc đó vào khoảng tháng 9 năm 1985. Sáng ấy, tôi dậy rất sớm. Được giao phó làm thị giả, tôi có phận sự pha trà và chuẩn bị trà nước hầu Thầy vào lúc sáu giờ sáng. Sau khi lặng lẽ thưởng thức chén trà nóng buổi sớm mai, Thầy quay lại bảo tôi: “Mình ra ngoài thiền hành một chút nghe”. Tôi liền ‘dạ’ mà trong bụng thật sự chẳng biết thế nào là thiền hành. Thế là thầy đi trước, trò theo sau, tôi đi sau Thầy khoảng chừng mươi bước, tôi đặt những bước thiền hành đầu tiên trong đời. Thầy bước chân trái, tôi bước theo chân trái, Thầy bước chân phải, tôi bước theo chân phải. Không gian, đồi núi tĩnh lặng, sương sớm phủ giăng trên con đường dốc, những tiếng đá sỏi sột soạt dưới chân cũng không làm cho tâm tôi xao lãng, tôi muốn học cho kỹ càng phép thiền hành. Bài học thân giáo, tôi nhớ mãi từ ngày ấy. Về sau, qua những năm tháng thực tập thiền hành, tôi mới thực sự hiểu thêm, biết rõ hơn và cảm nhận được diệu dụng của pháp môn này. Kỷ niệm và bài học ngày hôm ấy tôi nhớ hoài không quên. Ví như hôm nay, có dịp mời em thực tập thiền hành, tôi cũng có thể sẽ dặn dò và hướng dẫn em làm sao thiền hành trong vòng ít nhất là năm mười phút, nếu không nhớ đến bài học năm xưa: “Học bài cho thuộc rồi cũng sẽ quên, kỷ niệm sống, không có ý học, lại nhớ luôn”.

Có lẽ tôi là một trong những người thị giả cư sĩ đầu tiên của Thầy ngoài nước Pháp. Thời ấy, Thầy chưa có đệ tử xuất gia. Sư cô Chân Không lúc ấy cũng còn là một đệ tử tại gia, cô có một mái tóc dài và rất đẹp. Nhưng nét đẹp nhất của sư cô, ngay khi còn là cư sĩ tại gia, chính là lòng thương rộng lớn, luôn nghĩ đến và hành động giúp những người thiếu thốn. Chúng Tiếp Hiện năm ấy chỉ vào khoảng 20 người. Sang năm 1986, sáu anh chị em chúng tôi tại Canada là những người đầu tiên gia nhập dòng tu Tiếp Hiện ngoài Việt Nam và xứ Pháp: Chân Hội, Chân Văn, Chân Huyền, Chân Thanh, Chân Giác và Chân Cơ. Câu chuyện thọ giới Tiếp Hiện của chúng tôi cũng là một câu chuyện rất nhiều thiền vị mà có dịp tôi sẽ kể lại cho em nghe.

Thị giả Sony

Ngày đó, lúc nào làm thị giả ở bên Thầy tôi cũng mang theo một cái máy thu âm hiệu Sony. Ngoài việc thu âm những bài pháp thoại chính thức, tôi còn thu âm luôn tất cả những câu chuyện Thầy kể cho nghe hoặc những mẫu chuyện trao đổi hàng ngày giữa thầy và các trò. Tôi còn nhớ năm ấy, tôi sắm được một cái máy Sony có hiệu năng ngưng thâu và khởi thâu băng một cách tự động. Trên máy có một chấm đèn đỏ làm hiệu. Khi có tiếng động thì máy bắt đầu thâu và đèn đỏ lên, rồi khi có một thời gian im lặng thì máy ngưng thâu và đèn đỏ tắt đi. Chỉ như vậy thôi mà có một lần hai thầy trò để ra gần mười phút để vui chơi với cái hiệu năng đó. Thầy thử lên tiếng hoặc tôi thử làm tiếng động, để xem khi nào máy chạy hay máy ngưng. Thầy trò vui cười với nhau chỉ trong vài phút vậy mà cái hạnh phúc ấy vẫn nuôi dưỡng tôi mỗi khi nhớ lại. Về sau, Sư cô Chân Không đã đặt cho tôi cái biệt hiệu là thị giả Sony.

Xin kể cho em nghe tại sao tôi thích mang theo máy thu âm để trở thành thị giả Sony nhé. Trước khi được theo tu học với Thầy Làng Mai năm 1985, tôi đã từng đọc những quyển sách của Thầy viết ra thời ấy như Bông hồng cài áo, Nói với tuổi hai mươi, Nẻo vcủa ýTrái tim mặt trời. Tôi cũng đã từng tìm kiếm và đọc nhiều sách về đạo Bụt, ví dụ như cuốn Ðức Phật và Phật pháp của ngài Narada, cuốn Tinh hoa và sphát triển của đạo Phật hoặc những cuốn về thiền học như bộ Thiền luận của ngài Suzuki Daisetsu Teitarō. Tuy vậy, bây giờ nghĩ lại, những hiểu biết của tôi ngày ấy về đạo Bụt, về thiền tập thật thô thiển và lờ mờ. Ðến khi được nghe Thầy giảng về Ba squay vnương tựa trong bài pháp thoại đầu tiên, tôi mới nhận ra được một đạo Bụt thật giản dị, dễ hiểu và gần gũi. Có lẽ chính nhận thức đó đã cho tôi linh tính và nhận biết những giây phút bên Thầy rất quý giá, nhất là trong những câu nói thường ngày đã làm tôi bừng tỉnh của Thầy. Cho nên, khi nào ở bên Thầy tôi cũng có cái máy thu âm Sony để thâu cả những câu chuyện bình thường hàng ngày. Về sau, nhắc lại chuyện này, lúc nào Thầy cũng cười với niềm trìu mến.

Hai Hòn Ðá Lửa

Tháng 6 năm 1986, trong buổi gặp mặt trước khi vào khóa tu tại Montréal, để giúp chúng tôi hiểu hơn về đạo Bụt, và để khuyến khích sáu anh chị em chúng tôi gia nhập dòng tu Tiếp Hiện, Thầy đưa ra hình ảnh của hai hòn đá lửa. Một hòn đá tượng trưng cho giáo lý trong đạo Bụt, và một hòn đá tượng trưng cho những vấn đề hiện hữu trong xã hội. Thầy nói rằng giáo lý của đạo Bụt chỉ có sức sống và phát hiện khi chúng ta đưa hai hòn đá lửa chạm vào nhau. Sự va chạm này làm xẹt ra những tia lửa; và chính những tia lửa này mới là những giác ngộ quý giá của đạo Bụt. Thầy có đưa ra một vài ví dụ cho những vấn đề xã hội đương thời như: vấn đề người mẹ mang thai hộ người khác (surrogate mother), vấn đề giúp người sắp chết (euthanasia), vấn đề của những người đồng tính (gays and lesbians), vấn đề môi trường sinh thái trên trái đất (environment) v.v. Vào thời điểm đó, một người trẻ như tôi chưa hề biết đến một đạo Bụt có liên quan đến những vấn đề xã hội như vậy. Tôi đã thoáng nghiệm ra có một hướng đi của đạo Bụt rất nhập thế, một đạo Bụt thực sự áp dụng vào đời sống hàng ngày, một đạo Bụt thể hiện ngay trong những vấn đề rất tiên tiến và hiện đại. Cùng lúc, tôi cũng thoáng nhận ra rằng: Thầy tôi không chỉ là một vị thầy của người Việt Nam mà sẽ là một vị thầy chung, luôn cả cho xã hội Tây phương.

Bài học và hình ảnh của hai hòn đá lửa tôi mang mãi trong mình từ dạo ấy. Mỗi khi tôi có cảm tưởng mình hiểu biết thêm về giáo lý, tôi lại tự hỏi: với sự hiểu biết đó và với những vấn đề đương thời trong xã hội hay cuộc sống, tôi có làm xẹt ra những ánh lửa soi sáng nào không? Và mỗi khi có một vấn đề nan giải trong xã hội, tôi cũng tự hỏi: với bao nhiêu năm tu học, thiền tập,… những công phu đó có giúp tôi soi sáng được chút nào trong vấn đề đó hay chưa?

Ngày nay, xã hội hiện đại chúng ta đã có thêm những vấn đề mới như khủng bố, hiện tượng hâm nóng toàn cầu, thức ăn sạch (organic food), thức ăn, thức uống nhiễm độc tố, ảnh hưởng của hệ thống truyền thông đại chúng, v.v. Hơn bao giờ hết, bài học về hai hòn đá lửa của Thầy tôi lại trở về giúp tôi phương thức soi sáng, nhìn rõ vấn đề. Hiện nay, Thầy tôi vẫn chưa nói lại được bình thường sau lần đột quỵ cách đây hai năm, nhưng trong hơn 30 năm qua, Thầy tôi đã nuôi nấng, chỉ dạy và hướng dẫn cho hàng vạn người trên thế giới. Em có vấn đề nan giải của em? Em muốn tìm hiểu thêm về vấn đề nan giải của xã hội? Giờ đây, Làng Mai đã có rất nhiều vị xuất sĩ có khả năng và đức độ ở khắp nơi, em có thể nương tựa vào một tăng thân đang đi theo con đường Hiểu và Thương của Thầy để tìm ra hướng đi. Em hãy mang hình ảnh của hai hòn đá lửa vào trong lòng. Sự tu tập với Tăng thân sẽ giúp em khám phá ra được đường về.

Em còn nhớ hay em đã quên

Em còn nhớ hay em đã quên là tựa một bài hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn (TCS). Bài hát nói về lòng ray rứt của nhạc sĩ khi tưởng nhớ về quá khứ. Tôi rất thích những ca từ của nhạc sĩ TCS, nhưng từ ngày được Thầy hướng dẫn, tôi đã phân biệt được đâu là những nẻo đường đưa về thương đau và đâu là những nẻo đường đưa về hạnh phúc. Thầy đã chỉ dạy cho tôi về chuyện nhớ – quên ngay từ những khóa tu đầu tiên ấy.

Nếu em có dịp về Làng Mai – Pháp và có cơ hội được mời vào trong cốc Ngồi Yên của Thầy, có thể em sẽ còn được thấy một bảng số xe của bang Québec treo trên vách. Trên bảng số, có một câu rất ngắn bằng tiếng Pháp “Je me souviens”. Có thể dịch câu này ra là “Tôi vẫn nhớ” hay “Em vẫn nhớ”. Giai thoại về câu này đã được Thầy kể lại trong cuốn sách An lạc từng bước chân. Tôi xin kể thêm ra đây vì tôi chính là “người bạn” lái xe cho Thầy hôm ấy.

Tôi nhớ rất rõ ngày hôm ấy, khi đang lái xe để đưa Thầy đến địa điểm khóa tu, Thầy bỗng hỏi: “Trên bảng số xe phía trước, có một dòng chữ Je me souviens, anh có biết họ muốn nói gì không?”. Sau khi nghe tôi trả lời, Thầy lại nói tiếp: “Tôi có một món quà cho anh và cho quý vị đang sống ở Québec: mỗi khi lái xe và mỗi khi nhìn thấy câu  Je me souviens trên bảng số xe phía trước, là mình có thể nhớ và trở về với hơi thở chánh niệm”. Tôi lấy làm sung sướng và từ ngày ấy tôi thực tập hơi thở chánh niệm với nhiều hiệu quả. Vài tháng sau, khi về Làng Mai tu học, dù không có những bảng số xe của bang Québec trước mặt, tôi cũng đã thực tập rất tinh chuyên với các đèn nháy xi-nhan sau các xe. Và tôi đã làm ra được một bài kệ đầu tiên cho việc thực tập của mình: “Kệ kẹt xe”

“Mắt Bụt sáng lên rồi

Tâm ý hiện màu tươi

Cho chánh niệm rạng rỡ

Tôi cười, đèn cũng cười.”

Khi trở về Canada, tôi có viết thư tâm sự với Thầy là tôi đã thấy Bụt nháy mắt và cười với tôi mỗi khi tôi nhớ lại và trở về với hơi thở chánh niệm. Em còn nhớ đến hơi thở chánh niệm là em có Bụt bên em; nếu em quên hơi thở chánh niệm thì em sẽ có khuynh hướng đi về những nẻo tối tăm.

Con đang nuôi Thầy

Khóa tu đầu tiên ở Làng Cây Phong, trong một bài pháp thoại Thầy giảng về đề tài: “nuôi cây, con nuôi mẹ”. Khái niệm Tương tức – Tương nhập đã được Thầy giảng giải rất cụ thể với những hình ảnh và ví dụ thật dễ hiểu. Ngay những năm ấy, sức khoẻ của Thầy đã không được tốt. Hồi đó tôi đã nhận thức rất rõ là thời gian được ở bên Thầy và được Thầy chỉ dẫn thật quý. Vì là thị giả nên tôi không thể hoàn toàn tham gia các sinh hoạt. Sau khi mọi người dùng cơm trưa gần xong tôi mới bắt đầu ăn trưa. Ngay lúc ấy, Thầy đi lại bên tôi và hỏi: “Bây giờ anh mới ăn trưa?”, tôi bèn trả lời: “Dạ, con đang nuôi Thầy”. Thầy mỉm cười, có vẻ vui lòng với câu trả lời của tôi. Về sau trong một chuyến về Việt Nam, Thầy có kể lại chuyện này cho đại chúng ở quê hương, lâu lâu lại có vài người bạn quen biết với tôi nhắc lại; nói rằng qua chuyện này thì họ nhớ đến pháp hiệu Chân Cơ của tôi.

Giờ đây, khi em có dịp về tu học tại bất cứ một trung tâm nào, dù là Làng Mai Pháp, Làng Mai Thái, các Viện Phật học Ứng dụng hoặc các tu viện Bích Nham, Mộc Lan hay Vườn Nai bên Mỹ, em cũng sẽ nhận ra bóng dáng Thầy rất rõ rệt trong rất nhiều người. Có thể nói quý thầy và quý sư cô đang tu học và “nuôi Thầy” của chúng ta một cách chuyên cần và tinh tiến. Tại những trung tâm đó, em cũng có thể nhận ra được bóng dáng Thầy khi nhìn vào cách đi, đứng, nằm, ngồi của các anh chị trong dòng Tiếp Hiện. Cái bóng dáng của Thầy đó là gì? Ðó là bóng dáng của sự thảnh thơi, thong dong của một người Vô sự. Ðó là bóng dáng của sự tĩnh lặng, an bình trong sinh hoạt hàng ngày. Ðó là bóng dáng của một người biết lắng nghe để hiểu thương sâu.

Cuối trời mây trắng bay

Năm 1986, khi Thầy trở lại hướng dẫn khóa tu lần thứ hai tại Montréal, Canada, tôi được giao cho trách nhiệm đưa Thầy đến giảng pháp tại Montréal Zen Center, một thiền viện theo truyền thống Nhật Bản. Có thêm chị Chân Thanh theo tháp tùng. Thiền viện này do thiền sư Albert Low điều hành. Thiền sư Albert Low theo học thiền sư Philip Kapleau bên Mỹ, tác giả của cuốn sách Ba trụ thiền (The three pilars of Zen) trong 20 năm. Về sau, Thiền sư Low được giao nhiệm vụ trông nom thiền viện Montréal Zen Center. Chính thiền sư Low cũng là người dịch cuốn sách Nẻo vào thiền học của Thầy từ tiếng Pháp sang tiếng Anh (Zen keys).

Hôm ấy, chị Chân Thanh và tôi cảm thấy rất hứng khởi. Thầy của mình được mời đến giảng như một thượng khách và chúng tôi được theo tháp tùng. Buổi giảng có khoảng 30 người tham dự nhưng không khí trang trọng đúng theo truyền thống trong các thiền viện Nhật. Trước buổi giảng, Thầy đã niệm và dâng hương bằng tiếng Việt. Tôi không nhớ Thầy đã giảng những gì, nhưng điều tôi nhớ nhất là ngay sau pháp thoại, một cơn mưa lớn đổ xuống và chúng tôi đã ngồi nghe mưa trong vòng nhiều phút. Sau buổi pháp thoại, chị Chân Thanh và tôi, mỗi người một cây dù, đưa Thầy đi bộ ra bờ sông Rivière des Prairies, mạn bắc của sông Saint-Laurent. Chúng tôi đã đứng với dù để ngắm trời mây và dòng sông chảy xiết. Ðối với tôi, thời gian lúc ấy như ngừng lại. Ðó cũng chính là hình ảnh tôi thường thấy trong những giấc mơ của tôi. Trong giấc mơ, tôi hay được đi bên một vị thầy, che dù cho thầy trong mưa tuyết lất phất.

Cũng vào năm ấy, nhạc sĩ Hoàng Quốc Bảo có ra một tuyển tập nhạc thiền đặt tên Tịnh tâm khúc. Trong tuyển tập này, có một bài tôi rất thích, đó là bài Cuối trời mây trắng bay. Sau này, mỗi lần được nghe lại bài này, tôi lại nhớ đến ngày hôm đó; thầy trò chúng tôi đã cùng yên lặng, ngắm trời mây, nghe sông vỗ sóng:

...

Đôi bờ im nghe

Sông vùi tiếng sóng

mộng gối vô thường

Sông mở tim ra, trăng già bát ngát

rủ nhau tan giữa biển xa

sông như bầu trời

quên mây trắng bay

Trong những khóa tu sau đó, Thầy đã dùng hình ảnh của một dòng sông trong bài nhạc này để giáo hoá. Bắt đầu dòng sông chỉ ham vui chơi, chạy đuổi theo mây trắng trên bầu trời. Khi mây trắng bay mất ở cuối bầu trời, trong sự yên lặng trống vắng, dòng sông đã mở được lòng mình ra để trời xanh hiện rõ và để bóng trăng già hiện rõ trong lòng sông. Từ lúc ấy, sông và trăng “rủ nhau tan giữa biển xa”…

Lời Tạm Biệt

Những câu chuyện như trên về Thầy tôi, tôi vẫn còn nhiều nữa; nhưng phải hẹn em sau. Em cũng biết sau này Thầy đã có rất nhiều học trò tại gia cũng như xuất gia, mỗi vị đều có thể kể cho em nghe những mẫu chuyện còn thú vị hơn. Riêng tôi, tôi chỉ có thể chia sẻ với em rằng: khi chúng ta được sống gần Thầy, một người có chánh niệm, giây phút nào cũng có thể tạo ra hạnh phúc lâu dài, con đường nào cũng có thể trở thành con đường huyền thoại. Thầy tôi đã là một vị thầy như thế, Thầy em cũng sẽ là một vị thầy như thế.

Chân Cơ

Khi chết, ta sẽ đi về đâu?

Trong khóa tu cho người Việt ở Washington, có người hỏi:

Chúng con tu theo Tịnh độ. Khi niệm Bụt A Di Đà chúng con biết khi chết chúng con sẽ về đâu. Tăng thân Làng Mai tu chỉ biết thở ra thở vô, không biết mai mốt chết rồi sẽ đi về đâu?

Sư Ông Làng Mai trả lời:

Có một điều rất rõ ràng là: ta được biểu hiện ra từ trái đất thì ta sẽ về với trái đất. Đất Mẹ đưa ta ra một lần thì đất Mẹ đón ta trở về, rồi ta sẽ đi-về hàng nghìn lần như vậy, ta có chỗ về rõ ràng. Nhưng như vậy không có nghĩa là chúng ta chối bỏ giáo lý Tịnh độ. Tịnh độ không phải là cái gì mơ hồ, chỉ có ở nơi khác hay trong tương lai. Tịnh độ có mặt trong giây phút hiện tại. Trong mỗi hơi thở vào và hơi thở ra, ta trở về tiếp xúc với giây phút hiện tại ngay bây giờ, tại vì đất Mẹ là một Tịnh độ. Đức Thích Ca là con của đất Mẹ, Đức Thích Ca nhận đây là quê hương, “xin nhận nơi này là quê hương”. Là học trò của Đức Thích Ca, không lý chúng ta lại đi tìm một chỗ nào khác? Tại sao ta không nhận quê hương của thầy mình là quê hương của mình mà lại đi tìm một chỗ nào khác chưa chắc đã có thật? Chỗ này đang có thật, đang là một hiện thực rất mầu nhiệm.

Không phải chỉ khi nào xác thân ta tan hoại và những tác dụng tâm lý của ta không còn biểu hiện nữa thì ta mới về với đất Mẹ. Sự thật là ta đang về với đất Mẹ trong từng giây từng phút. Mỗi khi thở, mỗi khi bước đi là chúng ta đang trở về. Khi chúng ta gãi, những tế bào khô rớt xuống đất là ta đã trở về đất Mẹ. Luôn luôn có những cái cho vào và cho ra (input và output) đang xảy ra, vì vậy chúng ta đừng nghĩ rằng chỉ sau khi xác thân tan hoại rồi ta mới trở về. Chúng ta đang trở về và trở ra trong từng giây phút của đời sống hằng ngày.

Con người tự hào mình là những chiến sĩ dũng cảm, nhưng trái đất mới là một chiến sĩ dũng cảm đã trải qua 4 tỷ năm kiên nhẫn, hào hùng chờ đợi cho tới khi sự sống phát hiện. Nói về tình thương, chúng ta thấy đất Mẹ đã cho ra đời không biết bao nhiêu chủng loại và đã tìm cách để nuôi dưỡng các chủng loại đó. Đất Mẹ cho ta ra đời, cho ta không khí để thở, cho ta nước để uống, thực phẩm để ăn, cho ta cây cỏ để trị liệu, tình thương đó là một tình thương rất lớn. Ta có thể nhận diện hành tinh của ta  là một bà mẹ. Đất Mẹ luôn luôn có đó và đón ta trở về với hai bàn tay từ mẫu, để rồi sẽ đưa chúng ta ra đời trở lại. Chúng ta có một bà mẹ tuyệt vời và xinh đẹp như vậy mà không biết trân quý, chúng ta đi tìm một bà mẹ khác trong đầu óc tưởng tượng của chúng ta.

Đất Mẹ đã đưa chúng ta ra đời một lần, khi chúng ta trở về, đất Mẹ sẽ đưa hai tay ra ôm lấy và sẽ đưa chúng ta ra đời muôn vạn lần khác. Không có gì mà ta phải lo sợ.

 (Trích từ tác phẩm “Tâm tình với đất Mẹ” của Sư Ông Làng Mai – TS Thích Nhất Hạnh)

Tại sao chúng ta lại ở đây?

(BBT chuyển ngữ từ bài viết “Why are we here?” của tác giả Leslie Davis)

Cậu con trai tuổi teen của tôi đang thấy chán. Rất chán. Chúng tôi mới tới tu viện Lộc Uyển ngày hôm qua để tham dự khóa tu chánh niệm một tuần dành cho gia đình, mà con tôi đã thấy chán quá và phàn nàn suốt.

Con trai tôi cứ hỏi: “Tại sao mình lại ở đây?”

Tôi trả lời theo nghĩa đen của câu hỏi vì con tôi hỏi theo nghĩa đen, nó đâu có đi tìm một giải đáp tâm linh nào đâu. “Năm nào vào thời điểm này chúng ta cũng đến đây, đó là chuyện thường mà con ”, tôi nói.

Không nao núng, vài phút sau con tôi lại hỏi một cách bực bội: “Tại sao mình lại ở đây?”

“Ba con được nghỉ làm tuần này nên đây là một dịp thuận tiện để đến đây”, tôi nói mà trong lòng thì biết rõ những lý do này sẽ không thuyết phục được con tôi.

Con trai tôi đã đến đây rất nhiều lần từ khi còn nhỏ. Thằng bé đã từng rất thích nơi đây. Bây giờ đến tuổi teen thì nó ít thích hơn, nhưng thường thì sau vài ngày là nó hòa nhịp được.

Tôi đến với khóa tu trong một trạng thái kiệt sức, hết “xí quách”. Tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi. Năng lượng của tôi đang xuống thấp. Tôi chỉ muốn được ở ẩn, được thu mình trong phòng và ngủ. Tôi muốn có thời giờ chăm sóc bản thân, quay vào bên trong và có mặt cho tự thân, chứ không phải cho con trai tôi. Tâm trạng của thằng bé thực sự đang thử thách tôi.

Tôi đi chầm chậm quanh khuôn viên tu viện với con trai và tự ép mình phải lắng nghe những lời phàn nàn của con. Tôi nghe nó nói về những trò chơi điện tử, không phải theo cách chia sẻ vui vẻ mà theo kiểu phàn nàn, bực bội. Sự khó chịu của nó cũng dễ hiểu thôi. Nó không vui vì không thể vào mạng Internet trong một tuần. Quả thật để có mặt cho con trai lúc này là một việc không dễ, tôi gần như không còn đủ năng lượng. Tôi muốn bỏ chạy, muốn đi trốn để lo cho những cảm xúc mong manh của riêng mình.

“Mẹ có thể nói lại một lần nữa là tại sao mình lại ở đây không?”, con trai tôi hỏi lần nữa với vẻ thất vọng.

“Mình ở đây để học cách chăm sóc cho những cảm xúc của mình”, tôi đáp.

“Chán nản có phải là một cảm xúc không? Tại vì con đang rất rất chán đây”, nó rên rỉ.

“Phải”, tôi nói, “chán nản là một cảm xúc”. Tôi tự nhắc mình rằng con trai tôi đang bị đưa ra khỏi môi trường quen thuộc, rằng nó cần thời gian để điều chỉnh và thích nghi. Tôi lại thở một hơi thật sâu nữa. Hơi thở không đi vào một cách tự nhiên. Tôi phải tự nhắc mình thở vào và ra thật chậm. Dù rằng chúng tôi đang ở một trung tâm thiền tập, bao quanh bởi hàng mấy hec-ta đất rộng rãi đẹp đẽ nhưng tôi vẫn bị bế tắc trong những cảm xúc phiền muộn nặng nề của mình và chưa tìm thấy phương cách để vượt qua.

Chúng tôi tiếp tục đi dạo. Giờ đây chúng tôi đang đi trên con đường đất dẫn lên núi, hướng về phía ngôi tháp nhỏ và điểm dừng để ngắm toàn cảnh. Con tôi thích lên đây, một không gian rộng mở khiến cho ta có cảm giác mênh mông, không giới hạn. Chúng tôi từ từ leo lên cao trong khi con trai tôi vẫn tiếp tục càm ràm và tôi cố gắng lắng nghe. Thật là quá mất năng lượng; cái đầu tôi tiếp tục lang thang. Tôi nhanh chóng nhận ra rằng tâm trí tôi luôn quay về với những phàn nàn của riêng tôi.  Tôi cũng đang làm y hệt con trai tôi, có điều là không thành tiếng, chỉ ở trong đầu tôi thôi. Cái tiếng nói trong đầu tôi toàn là những lời phàn nàn. Tôi cảm thấy mình bị mắc kẹt, thật khốn khổ. Tôi không muốn ở đây. Tôi muốn đi về nhà. Tôi không muốn làm một người mẹ dễ thương, tốt bụng vào lúc này.

Cả hai mẹ con tôi đều không muốn ở đây. Chúng tôi đều đang vật lộn một cách khó khăn để có thể có mặt trong giây phút hiện tại, bởi vì giây phút hiện tại của chúng tôi tràn ngập những cảm xúc tiêu cực. Tôi nhận ra rằng cả hai mẹ con đều cần được chăm sóc. Con tôi cần sự yểm trợ và tôi cũng cần sự yểm trợ. Con tôi cần trút ra sự thất vọng của mình và tôi cũng vậy. Tôi không cần bỏ chạy khỏi con mình để lo cho những cảm xúc của riêng tôi. Đây không phải là tình cảnh mà tôi có thể lựa chọn hoặc bên này hoặc bên kia. Chúng tôi đang trong cùng một tình trạng.

Tôi nói, “Mẹ không chán, nhưng mẹ cũng đang có những cảm xúc”.

Con tôi không hiểu ý tôi nhưng dù sao cũng hay là tôi đã nói ra được. Tôi kể với con rằng tôi vừa phải trải qua những chuyện rất khó khăn ở nơi làm việc và tôi thấy trong tôi có rất nhiều cảm xúc mạnh, rằng tôi không cảm thấy ổn lắm.

“Mặc dù trông mẹ có vẻ ổn, nhưng bên trong mẹ thấy khổ sở lắm”, tôi nói, “Mẹ thực sự phải cố gắng lắm để giữ bình tĩnh và chú ý đến những gì con nói”.

“Thật hả mẹ?”, con tôi hỏi.

Phơi bày những cảm xúc mạnh và khó chịu trong lòng mình, tôi đã mở ra một cánh cửa và làm cho con trai tôi dịu lại.

Tôi tiếp tục chia sẻ một cách dè dặt. Tôi nói với con rằng chúng tôi ở đây là để học cách làm thế nào có thể trụ được những khi có cảm xúc mạnh mà không bỏ chạy hoặc giả vờ là cảm xúc đó không tồn tại. Tôi nói rằng tôi muốn yểm trợ nó và tôi cũng cần được yểm trợ. Chỉ cần có mặt cùng nhau thôi là chúng tôi có thể yểm trợ cho nhau rồi, dù cả hai đều đang trong tâm trạng nặng nề và khổ sở. Con tôi phá lên cười và tôi cảm thấy nó mềm ra thêm được một chút. Chúng tôi đi dạo quanh và tung vài hòn đá nhỏ. Hai mẹ con leo lên một bờ đá lớn và nhìn ra phong cảnh xung quanh. Chúng tôi không nói gì nhiều.

Tâm chúng ta như một cái vòng lặp (a loop) và thỉnh thoảng ta bị lạc lối trong đường vòng đó. Ta có cảm giác đường đi như vô tận, không có lối ra. Nhờ chú tâm và chậm lại nên tôi có thể nhận ra rằng mình đang bị tắc trong vòng lặp của tâm thức. Nhờ tôi đi rất chậm với con và gắng tập trung vào hơi thở, nên đã xuất hiện một thay đổi nhỏ trong cách nhìn của tôi.

Khi chú tâm theo dõi được hoạt động của thân và tâm, tôi có thể tiếp cận với tuệ giác của thiền tập. Thỉnh thoảng tôi chỉ dừng cử động thân thể, chỉ cần đứng lại hoặc ngồi xuống cũng giúp được tôi rồi, bởi vì nếu tôi dừng được cử động của cơ thể thì tâm tôi cũng theo sự hướng dẫn đó mà chậm lại. Nếu tôi không thể dừng được chuyển động thì tôi có thể chỉ cần dừng nói, và như thế não của tôi có một cơ hội để nghỉ ngơi và phục hồi.

Có mặt cho một đứa trẻ trong khi bạn không muốn là một trong những thử thách lớn nhất cho các bậc cha mẹ. Và đó là một điều rất quen thuộc đối với hầu hết chúng ta, bởi vì nó xảy ra vô số lần trong một ngày. Có mặt đó, ngay tại đó, thực sự có mặt trong giây phút hiện tại – đó là một điều cần năng lượng và sự chú tâm rất lớn.

Trở lại với câu hỏi “Tại sao chúng ta ở đây?”. Tại sao ta ĐANG ở đây? Đó là một câu hỏi lớn. Dù bạn có ở đâu thì bạn cũng có thể tự hỏi: “Tại sao tôi lại ở đây?”. Hãy quan sát xem điều gì đi lên trong bạn. Hãy xem bạn có thể cam kết có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại ở ngay nơi mà bạn đang ở không.

Không có gì đặc biệt đáng chú ý trong cuộc nói chuyện giữa tôi với con trai. Đó là một kinh nghiệm rất bình thường. Cả hai chúng tôi đã phải khập khiễng đi qua và cảm nhận sự khó chịu của mình. Nhưng sự kiện chúng tôi có ý thức về những cảm xúc của mình, có thể gọi tên chúng để nói lời chào với cảm xúc chán nản và khó chịu đã giúp cả hai chúng tôi đi qua được bờ bên kia. Điều đặc biệt xảy ra khi chúng ta soi chiếu ánh sáng vào những trải nghiệm của chính mình và thấy được sự chuyển hóa mầu nhiệm.

Ngày hôm sau, chủ đề của buổi pháp thoại là “Tại sao bạn lại ở đây?” (!!!!). Khi tôi nghe thấy câu ấy, hàm tôi trễ xuống và tôi cười phá lên trong thiền đường. Sau cuộc nói chuyện với con trai tôi ngày hôm trước, tôi không thể không cười vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này. Thầy Pháp Hải đã hỏi những người tham gia khóa tu câu hỏi “Tại sao bạn lại ở đây?”. Làm sao thầy biết được? Có phải thầy đã đi theo chúng tôi? Nghe lén chúng tôi? Và con trai tôi đâu rồi? Nó không có mặt trong thiền đường. Vậy thông điệp này hẳn là dành riêng cho tôi.

Thầy Pháp Hải chia sẻ rằng chúng ta đi qua cuộc đời mà thường xuyên không nhận ra chúng ta đang ở đâu. Thân và tâm chúng ta thường bị tách rời, thân một nơi và tâm một nơi, nên chúng ta chỉ đi qua những chuyển động của cuộc sống mà không có mặt thực sự. Thầy khuyến khích tất cả chúng tôi có mặt trong giây phút hiện tại trong suốt khóa tu. Thầy nói: “Hãy chọn có mặt ở đây”. Vâng, chọn để có mặt ở đây. Hãy đưa ra sự chọn lựa và chọn có mặt ở bất cứ nơi nào mà bạn đang ở đó. Đó là lựa chọn của bạn, cho nên bạn có thể chọn để có mặt. Chỉ là như vậy. Điều này nghe thật giản đơn nhưng không phải lúc nào cũng làm được dễ dàng. Sự thực tập chánh niệm thường xuyên cho bạn nguồn lực để làm nên những thay đổi này. Dù cho bạn đang thực tập thiền hay yoga, sự thực tập thường xuyên trong cuộc sống hàng ngày sẽ là nền tảng để bạn có thể neo vào hơi thở, để phản ứng một cách định tĩnh, và lựa chọn để có mặt đó, cho bản thân và cho người khác, đôi khi là đồng thời cho cả hai.

Con trai tôi không còn hỏi tại sao chúng tôi lại ở đó nữa, nhưng tôi đã có sẵn câu trả lời cho nó rồi: Tại sao chúng ta lại ở đây? Bởi vì chúng ta chọn có mặt ở đây.

Leslie Davis

Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa bình thế giới – phần II

(Trích Pháp thoại của Thiền sư Nhất Hạnh ngày 10.03.2005 tại Trung tâm văn hóa Liễu Quán, Huế)

https://www.youtube.com/watch?v=F4hue0yC7Jk&list=PLMG8i-w8rYWm-hwFeM-HD9YE02FNqLty2&index=8

Tuệ giác của đạo Phật

Khi nghiên cứu văn hóa Việt Nam, chúng ta thấy rằng giáo lý của đạo Phật đã đi đôi một cách tuyệt hảo với truyền thống thờ cúng tổ tiên. Truyền thống thờ cúng tổ tiên đã có mặt tại đất nước này trước khi Phật giáo được du nhập, nghĩa là trên hai ngàn năm. Vào đầu thế kỷ thứ ba của kỷ nguyên Tây lịch, chúng ta có được một vị thiền sư lỗi lạc là thiền sư Tăng Hội.

Thiền sư Tăng Hội hành đạo ở Luy Lâu cho đến giữa thế kỷ thứ ba mới rời Giao Châu để đi qua Trung Quốc, ba trăm năm trước khi Tổ Bồ Đề Đạt Ma từ Ấn Độ sang Trung Quốc. Vì vậy ở Việt Nam, nếu chúng ta biết lịch sử thì thay vì thờ tổ Bồ Đề Đạt Ma trong các thiền viện, ta phải thờ tổ Tăng Hội, tại vì tổ Tăng Hội chính là người sáng lập thiền tông Việt Nam, tổ cũng chính là người đã đem thiền sang truyền dạy bên Trung quốc và tổ Tăng Hội lớn hơn tổ Bồ Đề Đạt Ma tới ba trăm tuổi.

Chúng ta trở lại vấn đề hạt bắp đã sinh ra cây bắp. Hạt bắp đó với cây bắp đó là một thực tại, một thực thể hay là hai thực thể khác nhau? Chúng ta nói một cũng không đúng, mà nói hai cũng không đúng. Chúng ta biết rất rõ là cây bắp từ hạt bắp mà sinh khởi, cây bắp là sự tiếp nối của hạt bắp. Nhưng nói cây bắp là hạt bắp thì có gì đó còn lấn cấn, nói cây bắp là một thực thể hoàn toàn khác với hạt bắp thì cũng không đúng.

Trong hệ thống văn học trung quán, chúng ta có giáo lý gọi là phi nhất phi dị. “Phi nhất” là không phải một, “phi dị” nghĩa là không phải khác nhau. Không phải một, không phải khác là sự thật liên hệ tới hạt bắp và cây bắp. Cây bắp với hạt bắp không phải là một mà cũng không phải là hai thực thể khác nhau. Đứa con với người cha cũng vậy. Đứa con là từ người cha sinh ra, nhưng nói đứa con với người cha là một người cũng không đúng, mà nói hai người khác nhau cũng không đúng. Phi nhất phi dị là giáo lý thậm thâm vi diệu của Trung quán.

Khi chúng ta nhìn một đám mây chúng ta có thể nghĩ rằng đám mây đó có sinh, có diệt . Sinh nghĩa là từ chỗ không có gì hết mà tự nhiên có một cái gì. Diệt nghĩa là đang là cái gì đó tự nhiên trở thành không có gì cả. Ta hiểu về sinh và diệt là như vậy. Nếu chúng ta quán chiếu về đám mây, chúng ta sẽ thấy rằng đám mây không phải từ chỗ không mà trở thành có được. Trước khi là đám mây, đám mây đã là nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời. Trong tiền kiếp của nó, đám mây đã từng là nước và đã từng là hơi nóng. Vì vậy đám mây không phải sinh ra, chẳng qua là một sự tiếp nối của nước sông, nước hồ, nước ao, nước biển và sức nóng của mặt trời.

Cũng như tờ giấy này, không phải là từ không mà sanh . Trước khi mang tướng của tờ giấy, nó đã là cây rừng, nó là sự tiếp nối của cây rừng. Vì vậy tự tánh của đám mây là vô sinh, nghĩa là đám mây chưa bao giờ từng sinh ra. Giờ phút ta gọi là giờ sinh của đám mây, chẳng qua là giờ phút của một sự tiếp nối. Tiếp nối dưới một hình thái khác. Khi đám mây biến thành mưa, đám mây không chết vì chết có nghĩa là từ có trở thành không mà một đám mây không bao giờ có thể chết được. Đám mây chỉ có thể trở thành tuyết, trở thành mưa hay trở thành băng, thành nước đá.

Nếu có con mắt vô tướng thì khi nhìn cơn mưa chúng ta thấy đám mây ở trong đó. Nếu có cảm tình với một đám mây và  khi thấy đám mây không còn ở trên trời nữa thì chúng ta có thể than khóc, trong khi đó cơn mưa đang là sự tiếp nối của đám mây, nó nói rằng: Anh ơi, chị ơi tại sao khóc, em đây này, em đang còn đây này, em đang có mặt dưới một hình tướng mới. Như vậy chúng ta thấy rõ ràng cơn mưa là sự tiếp nối của đám mây. Đám mây không thể nào chết được. Đám mây chỉ có thể được tiếp nối giữa những hình thái khác. Đó gọi là luân hồi và luân hồi là một sự thật, rất khoa học.

Lavoisier (1743-1794) nhà khoa học Pháp nói rằng: Không có cái gì sinh mà cũng không có cái gì diệt. Ông ta dùng đúng những chữ trong Tâm Kinh Bát Nhã: Thị chư pháp bất sinh bất diệt. Tự tánh của vạn hữu là vô sinh bất diệt, không phải một cũng không phải hai cái khác nhau. Khi mình nhìn vào đứa con và nhìn cho kỹ, thấy rất rõ đứa con là sự tiếp nối của người cha. Nếu đứa con có cơ hội tu tập, để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau mà cha trao truyền lại là một đứa con có hiếu vì nó sẽ không trao truyền lại nỗi khổ, niềm đau đó cho thế hệ tương lai nữa.

Sám pháp địa xúc

Xin liệt vị tưởng tượng, trên một ngọn đồi có năm ngàn thiền sinh Âu châu hay là Hoa Kỳ đang thực tập lạy. Ở Tây phương chúng tôi thực tập thiền lạy, chúng tôi gọi là địa xúc, chứ không dùng chữ lạy. Khi năm vóc mình chạm đất, năm vóc tức là đầu, hai tay và hai chân mình, thì mình có cơ hội tiếp xúc được với tất cả tổ tiên của mình. Khi mình đang ở trong tư thế ngũ thể đầu địa, năm vóc sát đất, mình quán chiếu trở lại, mình thấy dòng máu mình luân lưu với sự có mặt của bao nhiêu tổ tiên huyết thống và tổ tiên tâm linh.

Các bạn trẻ Tây phương tiếp nhận 5 Giới trong khóa tu Wake Up Earth 2017

Chúng ta có những tổ tiên huyết thống rất là hào hùng nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng có những tổ tiên huyết thống rất là kém cỏi. Chúng ta có Lý Thường Kiệt, có Trần Hưng Đạo nhưng chúng ta cũng có Trần Ích Tắc. Họ đều có mặt trong từng tế bào trong cơ thể ta, dù hào hùng như là Trần Hưng Đạo, dù yếu kém như là Trần Ích Tắc, chúng ta phải chấp nhận tất cả đều là tổ tiên của chúng ta.

Chúng ta là ai? Chính trong tự thân của chúng ta cũng còn những cái yếu kém, những lên xuống, những trồi sụt. Ta là ai mà dám không chấp nhận tổ tiên của ta? Thấy được điều đó, ta chấp nhận các tổ tiên, không những các vị hào hùng mà cả những vị còn yếu kém. Sau khi đã chấp nhận rồi, tự nhiên trong lòng mình bình an. Cha mẹ mình cũng là tổ tiên, thế hệ tổ tiên trẻ nhất. Nếu cha mẹ mình có những yếu kém, có những bạo động, có những buồn đau và đã làm khổ mình, mình không thể nào từ khước cha mẹ mình, tổ tiên mình.

Mình quán chiếu cho kỹ, mình thấy cha mẹ mình đã không có cơ hội, không có sự may mắn, không có được đời sống tâm linh, không được hướng dẫn để chuyển hóa, trị liệu những nỗi khổ, niềm đau. Đến thế hệ mình, mình phải làm hay hơn cha mẹ, để mình chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau mà mình đã tiếp nhận. Trở lui, mình độ cho cha, mình độ cho mẹ. Những người thanh niên khi lạy xuống, họ thấy được điều đó.

Đây là văn hóa mà chúng tôi sử dụng để hướng dẫn cho những thanh niên Tây phương. Chúng tôi có pháp môn thiền lạy, có ba cái lạy và có năm cái lạy. Tất cả những pháp môn đem ra để giáo dục, hướng dẫn cho người Tây phương tu học hoàn toàn lấy từ gia sản văn hóa Việt Nam.

Năm vóc sát đất, con tiếp xúc với tổ tiên và con cháu của con trong hai dòng tâm linh và huyết thống. Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt và các vị Bồ Tát, các vị Thánh Tăng và các vị Tổ sư qua các thời đại. Trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay là còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã trao truyền cho con những hạt giống bình an trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, của tuệ giác và của từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh trí tuệ và từ bi rất là viên mãn nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu, nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con vì chính trong con cũng còn có những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh, trí tuệ và từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và những khiếm khuyết ấy, cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con. Trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng. Nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn hoặc trồi sụt không ngừng trên con đường tu đạo. Đây là mình mới chỉ nói về phía gia đình tâm linh mà thôi.

Ở Tây phương có những người thuộc truyền thống Cơ Đốc giáo, Do Thái giáo, Hồi giáo. Họ đã không cảm thấy thoải mái trong truyền thống của họ. Họ bỏ nhà thờ, họ bỏ giáo đường mà đi. Họ giận các vị linh mục, họ giận các vị mục sư. Họ phủ nhận những vị đó là tổ tiên tâm linh của họ. Trong khi đó những thế hệ cha, anh của họ đều hành trì, đều công nhận các thế hệ tổ tiên tâm linh đó là tổ tiên của họ. Nhưng những thanh niên bây giờ, họ giận cha, giận mục sư, giận nhà thờ và thề không trở lại nhà thờ nữa. Những người đó không có khả năng hiểu họ. Những người đó ép họ phải làm những điều họ không hiểu hoặc họ không muốn làm.

Cũng như có những thanh niên Việt Nam bị mẹ ép đi chùa, tới chùa nghe đọc kinh tiếng Phạn chẳng hiểu gì hết, đọc kinh tiếng Hán Việt chẳng hiểu gì hết. Lạy hết lạy này sang lạy khác và một hồi thì họ chán đi chùa, họ cảm thấy không có dính líu gì tới thầy, tới sư cô ở trong chùa cả, họ cảm thấy rằng khung cảnh ở trong nhà chùa không phải là khung cảnh của họ. Ở bên Tây phương cũng vậy, có những giáo đường mà cách học hỏi, cách thực tập nghi lễ không còn phù hợp với người trẻ bây giờ nhưng người trẻ bị bắt ép phải làm theo, phải học theo những điều đó thì họ rất đau khổ.

Hiện đại hóa Đạo Phật

Những nhà lãnh đạo tâm linh, không có khả năng làm mới, đổi mới, hiện đại hóa cách dạy dỗ và thực tập. Một truyền thống mà không có khả năng tự làm mới sẽ đánh mất con cháu. Đạo Phật cũng vậy thôi. Nếu quý vị là những Phật tử, những vị giáo thọ, những vị trụ trì thì quý vị nên biết rằng nếu không hiện đại hóa đạo Phật, nếu không cung cấp được những giáo lý và phương cách hành trì phù hợp với tinh thần, tâm lý của người trẻ, những người trẻ sẽ cảm thấy lạc lõng mỗi khi họ tới chùa.

Nhu yếu hiện đại hóa Phật pháp, hiện đại hóa Phật giáo, hiện đại hóa nền sinh hoạt tâm linh của mình rất quan trọng. Chúng ta phải giảng dạy như thế nào để người trẻ thấy rõ ràng những điều đó đang đáp ứng những đau khổ, bức xúc, những khó khăn, tuyệt vọng của họ. Chúng ta phải cung cấp cho họ những phương pháp tu học để họ có khả năng tháo gỡ, chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau của họ thì họ mới cảm thấy họ thuộc về gia đình tâm linh này. Đây không phải chỉ là vấn đề của Cơ Đốc giáo hay của Hồi giáo mà cũng là vấn đề của Phật giáo. Phật giáo ở Trung quốc, ở Đại Hàn, ở Việt Nam rất cần những nỗ lực của chúng ta để hiện đại hóa, nếu không sẽ không có tương lai và con cháu chúng ta sẽ rất bơ vơ.

Trong truyền thống tâm linh này có rất nhiều châu báu mà nếu chúng ta dùng những hình thức học hỏi và thực tập quá xưa cũ thì chúng ta không chỉ bày được cho thế hệ trẻ những châu báu đó. Chúng ta cũng không thể nào khai thị cho người trẻ thấy rằng đây là truyền thống rất sâu sắc, rất nhiệm mầu mà cha ông của chúng ta qua bao nhiêu thế hệ, bao nhiêu thời đại đã nương tựa, học hỏi và đã thành công trong sự nghiệp của họ, sự nghiệp xã hội cũng như sự nghiệp chính trị.

Xin các Thượng tọa, xin các vị Sư trưởng lắng nghe những người trẻ. Phải làm thế nào để cung cấp cho những người trẻ, những người trí thức những giáo lý và phương pháp thực tập hữu hiệu nhằm đáp ứng lại được nhu cầu đích thực của họ trong thời đại mới, nghĩa là phải hiện đại hóa đạo Phật. Khi khai thị cho những người trẻ Tây phương thì chúng tôi sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam trong đó có đạo Phật, chúng tôi đã hướng dẫn họ trở về với truyền thống của họ để chấp nhận tổ tiên của họ, dù tổ tiên của họ còn những yếu kém, còn những khiếm khuyết về giới hạnh cũng như về đạo đức. Như vậy mới có cơ hội để làm mới, đổi mới truyền thống của họ. Có hàng ngàn, chục ngàn, trăm ngàn, hàng triệu người trẻ Tây phương đang đi như những con ma đói, tại vì họ không cảm thấy liên hệ gì với truyền thống tâm linh và truyền thống huyết thống của họ.

Trong gia đình tâm linh, thỉnh thoảng chúng ta thấy những vị lãnh đạo giới hạnh rất nghiêm minh, đạo đức rất cao viễn nhưng thỉnh thoảng chúng ta cũng thấy có những ông thầy, có những sư cô phạm giới làm chúng ta nản chí. Chúng ta nên biết rằng, ông thầy đó, sư cô đó chưa may mắn gặp được minh sư, chưa gặp được một đoàn thể tu học có khả năng bảo hộ, nâng đỡ và che chở cho nên họ mới lâm vào tình trạng phải phá giới hay chạy theo danh lợi. Điều này chứng tỏ rằng những vị đó thiếu may mắn, chứ không phải là truyền thống chúng ta không có châu báu.

Từ ngàn xưa cho đến bây giờ truyền thống của chúng ta đã sản xuất được không biết bao nhiêu vị cao tăng, có vị  đã từng làm quốc sư cho các vị vua lớn, có vị đã từng cứu nước, cứu dân ra khỏi những tình trạng hiểm nghèo. Trong quá khứ chúng ta đã làm như vậy được thì tại sao trong hiện tại và trong tương lai chúng ta sẽ không đóng vai trò đó được? Vì vậy chúng ta phải khuyên những người trẻ đó trở về và chấp nhận những tổ tiên tâm linh của họ. Nếu tổ tiên tâm linh còn yếu kém, ta phải làm đủ sức để giúp cho các vị đó vượt thoát cái tình trạng khó khăn, yếu kém của họ. Khi mà chấp nhận được rồi thì trong lòng có một sự bình an rất lớn.

Đứng về phương diện tổ tiên huyết thống cũng vậy. Chúng ta có những vị tổ tiên huyết thống rất hào hùng, đạo đức, trí tuệ. Thỉnh thoảng chúng ta cũng có những vị tổ tiên huyết thống không xứng đáng, đã phản nước, phản dân nhưng dù sao họ cũng là tổ tiên của chúng ta. Họ không có cơ hội, không có may mắn cho nên đã không nhận được một nền giáo dục thích hợp. Họ không có bạn hiền, thầy giỏi cho nên họ mới cư xử như vậy. Họ là những người đáng thương hơn là đáng ghét, đáng trừng phạt. Khi mà người thanh niên thấy được như vậy thì những nỗi buồn, cơn giận của họ dịu lại và họ bắt đầu chấp nhận được những vị tổ tiên huyết thống hay tâm linh còn yếu kém của họ. Chính trong lòng họ cũng đang có những yếu kém, những trồi sụt. Con là ai mà con dám không chấp nhận tổ tiên tâm linh và huyết thống của con? Tôi xin đọc lại, trong tư thế phủ phục thì người thực tập quán chiếu như thế này: Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, là các vị Bồ Tát, là các vị Thánh Tăng, là các vị Tổ sư qua các thời đại.

Khi tôi dạy cho người Cơ Đốc giáo, tôi nói: Con có tổ tiên tâm linh là chúa Ky Tô, là các vị Thánh. Ngôn ngữ khác nhưng nội dung chỉ là một. Mình đưa họ về với gốc rễ của họ, chứ mình không làm như những vị giáo sĩ ngày xưa tới Việt Nam, khuyên người ta đừng thờ cúng tổ tiên để theo đạo của họ, rất tội nghiệp. Ở Tây phương, chúng tôi hoàn toàn làm ngược lại với điều mà các giáo sĩ Thiên chúa giáo đã từng làm ở Việt Nam trong những thế kỷ trước. Chúng tôi khuyên họ trở về truyền thống tâm linh của họ, chấp nhận tổ tiên tâm linh của họ và chấp nhận tổ tiên huyết thống của họ. Chúng tôi biết rằng một con người mất gốc là một con người không bao giờ có hạnh phúc được. Điều đó chứng tỏ đạo Phật có một lượng bao dung rất lớn và làm cho họ càng kính phục mà càng kính phục thì họ càng thương mến đạo Phật nhiều hơn vì lượng bao dung vĩ đại đó của đạo Phật. Không kỳ thị, không xúi người ta bỏ nguồn gốc của người ta, trái lại, đưa người ta trở về cắm rễ vào trong truyền thống của người ta. Các vị cứ thực tập đạo Phật đi và những sự thành công của quý vị sẽ giúp cho quý vị trở lại xây dựng lại truyền thống của quý vị cho những người trẻ đừng có tiếp tục bỏ truyền thống đó để trở thành những con ma đói.

Con có tổ tiên tâm linh của con là Bụt, các vị Bồ Tát, các vị Thánh Tăng và các vị Tổ sư qua các thời đại. Trong đó có các bậc sư trưởng của con đã qua đời hay là còn tại thế. Các vị đang có mặt trong con, các vị đã trao truyền cho con những hạt giống bình an trí tuệ, tình thương và hạnh phúc. Nhờ liệt vị mà con có được một ít vốn liếng của an lạc, của tuệ giác và của từ bi. Trong dòng tổ tiên tâm linh của con, có những vị mà giới hạnh trí tuệ và từ bi viên mãn, tuyệt hảo. Nhưng cũng có những vị mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi còn khiếm khuyết. Tuy nhiên con cúi đầu, nhận chịu tất cả là tổ tiên tâm linh của con vì chính trong con cũng còn những yếu đuối, những khiếm khuyết về giới hạnh về trí tuệ và về từ bi. Và cũng vì con biết trong con còn có những yếu đuối và khiếm khuyết ấy cho nên con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con. Trong đó có những người mà giới hạnh, trí tuệ và từ bi đáng cho con kính ngưỡng. Nhưng cũng có những người còn đang chật vật, khó khăn hoặc trồi sụt không ngừng trên con đường tu đạo. Điều này cũng đúng về phương diện huyết thống. Con chấp nhận tất cả các vị tổ tiên huyết thống của con về cả hai phía nội ngoại với tất cả những đức độ công hạnh và khiếm khuyết của các vị. Cũng như con mở lòng chấp nhận tất cả các con cháu của con với những đức độ tài năng, khiếm khuyết của từng người. Tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống của con cũng như con cháu tâm linh và huyết thống của con đều đang có mặt trong con. Con là họ, họ là con. Con không có một cái ta riêng biệt. Tất cả đều có mặt trong một dòng sinh mệnh đang diễn biến một cách mầu nhiệm.

Thưa quý vị,

Quý vị đã từng làm cha mẹ, quý vị đã từng thấy, có những đứa con rất dễ thương, những đứa con đức độ, ngoan ngoãn, tài ba xứng đáng sự tiếp nối của tổ tiên mình nhưng thỉnh thoảng mình có những đứa con rất khó dạy, những đứa con cứng đầu, những đứa con giống như không phải là con của mình. Mình có khuynh hướng muốn từ bỏ những đứa con đó vì mình đã từng đau khổ với những đứa con như vậy. Cũng như là các thầy, các sư cô, các vị sư trưởng đã từng có những vị đệ tử rất dễ thương, rất ngoan ngoãn, tu hành rất đàng hoàng nhưng thỉnh thoảng các thầy, các sư cô cũng có những người đệ tử khó chịu, cứng đầu, có những khiếm khuyết, không xứng đáng làm con cháu, làm đệ tử của mình. Khi quán chiếu thì mình thấy rõ ràng rằng chính tổ tiên mình cũng có những vị có những khiếm khuyết, tổ tiên tâm linh cũng như tổ tiên huyết thống.

Chính mình đây, làm cha, làm mẹ, làm thầy mà mình cũng còn những khiếm khuyết, những yếu đuối thì mình là ai mà không chấp nhận những khiếm khuyết, những yếu đuối của những đứa con của mình hay những đệ tử của mình. Khi thấy được như vậy rồi thì mình chấp nhận những đứa con khó thương của mình một cách dễ dàng và trong mình có một sự bình an. Chưa chấp nhận thì mình còn đau khổ, chấp nhận được rồi, tự nhiên có một niềm bình an rất lớn. Đối với các vị sư trưởng cũng vậy, đối với những vị đệ tử từng làm cho mình đau khổ đó, nếu nhìn cho kỹ thì mình thấy họ vì đã nhận chịu những hạt giống từ phía nội, từ phía ngoại, từ xã hội, nên có những trồi sụt, những khó khăn, những lao đao. Chính những người đệ tử này mình phải cho họ nhiều thì giờ, nhiều thương yêu, nhiều chăm sóc hơn mới phải còn những người đệ tử giỏi rồi, mình đâu cần phải phí nhiều thì giờ, nhiều công lao, nhiều công phu. Khi thấy được như vậy rồi thì mình chấp nhận được người đệ tử yếu kém, còn lao đao, còn lên xuống. Khi chấp nhận được rồi thì tự nhiên trong lòng mình có niềm bình an rất lớn.

Khi lạy xuống lạy đầu tiên, mục đích của mình là nhìn cho rõ bản thân của mình để thấy được sự có mặt của tất cả các vị tổ tiên tâm linh và huyết thống trong người mình, thấy được tất cả các thế hệ con cháu đang có mặt ở trong từng tế bào cơ thể mình. Khi mình chấp nhận được tổ tiên và con cháu thì tự nhiên trong mình yêu thương dâng lên tràn ngập, trong lòng mình có một niềm bình an rất lớn và mình buông bỏ tất cả những hận thù, tuyệt vọng. Khi đứng dậy, mình là một con người mới. Đó gọi là thiền lạy. Quý vị thử tưởng tượng, năm ngàn người Hoa kỳ cùng lạy xuống như vậy dưới sự hướng dẫn của một thầy hay là một sư cô Việt Nam thì năng lượng rất hùng hậu. Có nhiều người sau khi lạy ba cái lạy đã trở thành một con người khác, tại vì trong những cái lạy đó họ đã buông bỏ tất cả những hận thù, khổ đau, tuyệt vọng và họ trở thành một con người có hiểu và có thương.

Nếu có thì giờ, xin mời các vị Sư trưởng, xin mời các vị quan khách đọc những dẫn giải về sự thực tập ba cái lạy và năm cái lạy trong cuốn Nhật Tụng Thiền Môn năm 2000  mới được nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành. Chúng ta không có thì giờ để nói nhiều về những cái lạy nhưng đây là phương pháp thực tập rất là hay. Có những người họ mới tới trung tâm tu tập lần đầu mà chỉ sau một giờ đồng hồ thực tập ba cái lạy, họ đã buông bỏ được hầu hết những khổ đau, tuyệt vọng của họ để trở thành một con người mới. Tôi xin thưa với quý vị, những pháp môn mà chúng tôi cung cấp cho người Tây phương hoàn toàn rút ra từ gia tài văn hóa truyền thống của Việt Nam.

Cái một được làm bằng cái tất cả

Trong kinh Hoa Nghiêm, đức Thế Tôn có dạy rằng: Cái một được làm bằng cái tất cả, cái tất cả được làm bằng cái một (nhất tức nhất thiết, nhất thiết tức nhất). Giáo lý đó của kinh Hoa Nghiêm, một hạt bụi chứa đựng cả tam thiên đại thiên thế giới, ngày nay đã được khoa học chứng minh là một sự thật. Cái một nó chứa đựng cái tất cả. David Bohm (1917-1992),nhà vật lý học nguyên tử gốc Do Thái, có nói một câu rất gần giáo lý trong kinh Hoa Nghiêm: Một điện tử nó được tất cả các điện tử khác làm ra. Khoa học bây giờ có khả năng lấy ra một tế bào của cơ thể mình, một tế bào thôi và làm thành ra một cơ thể toàn vẹn, gọi là cloning.

Làm sao làm được như vậy? Họ lấy một cái trứng trong noãn sào của người phụ nữ, họ nạo sạch tất cả nội dung của cái trứng đó, nghĩa là không còn dấu vết nào thuộc về gia tài di truyền của người phụ nữ. Họ chỉ mượn vỏ của cái trứng, rồi họ lấy một tế bào trong cơ thể một người nào đó (hoặc đàn ông hoặc đàn bà), một tế bào gan, một tế bào bắp chân hoặc bất cứ tế bào nào của thân thể và họ bỏ đói tế bào đó trong vòng hai hoặc ba ngày thì tế bào đó trở thành tế bào mầm mà trước đó nó là một tế bào chuyên môn. Tế bào chuyên môn là một tế bào có phận sự chuyên môn trong cơ thể, như tế bào óc làm việc của tế bào óc, tế bào gan làm việc của tế bào gan. Khi mình bỏ đói tế bào chuyên môn hai ba ngày thì nó trở thành tế bào mầm và nó có khả năng sinh hóa trở lại. Họ lấy tế bào đó để vào cái vỏ trứng của người phụ nữ và cho một lượng điện chạy qua thì nó khép lại. Họ nuôi cái vỏ trứng đó trong tử cung của người phụ nữ, cho đến khi cái thai đó lớn và người phụ nữ đó sinh con.

Người phụ nữ đó không phải là mẹ, người phụ nữ đó chỉ mang dùm cái thai đó mà thôi. Khi đứa bé sinh ra, nó giống hoàn toàn cái nguyên bản của người mà mình lấy tế bào kia ra, gọi là một sinh hóa thân, một clone. Nếu lấy một trăm tế bào ra thì mình sẽ làm thành một trăm con người y hệt con người nguyên bản. Hiện bây giờ luật pháp trên thế giới cấm không được làm điều đó nhưng mà đứng về phương diện kỹ thuật thì các nhà khoa học có khả năng làm được như vậy và họ đang thí nghiệm với các loài thú vật. Điều đó có nghĩa là trong một tế bào nó chứa đựng tất cả gia tài huyết thống, gia tài tâm linh, tất cả gia tài di truyền của tất cả các thế hệ tổ tiên. Cái một nó chứa đựng cái tất cả, đó là giáo lý của kinh Hoa Nghiêm và đã được khoa học chứng minh.

Ngày xưa có một vị Thiền sư đời Lý nói rằng: Trời đất có thể đặt gọn vào trong một hột cải. Đó là một hình ảnh thi ca để nói về sự thật: Cái tất cả có thể tìm thấy trong cái một. Trong cái một ta có thể có đủ những tư liệu về cái tất cả và cái tất cả nó nằm trong cái một. Vì vậy chúng ta nói rằng đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên của Việt Nam đã đi đôi với nhau trong 2000 năm. Cái này đã làm giàu cho cái kia và cái kia đã làm giàu cho cái này. Giờ đây, đạo Phật và truyền thống thờ cúng tổ tiên Việt Nam đi đôi với nhau một cách tuyệt hảo.

Chúng ta có thể làm được gì?

Xã hội Tây phương đã và đang sản xuất ra hàng triệu con ma đói. Xã hội Việt Nam ngày hôm nay cũng bắt đầu sản xuất ra những con ma đói. Những người thanh niên đi trong cuộc đời, không biết mình thuộc về truyền thống nào? Không có gốc rễ trong gia đình, không thấy được liên hệ giữa mình với cha mẹ với tổ tiên với ông bà. Hiện nhà nước đang có một chính sách thành lập những tổ văn hóa, những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa mà trong đó không có những tệ nạn xã hội như xì ke ma túy, đĩ điếm, băng đảng. Những tệ nạn xã hội sinh ra trong một nền kinh tế đang phát triển, đó là điều không thể tránh được.

Chúng ta có thể làm được gì để xây dựng những tổ văn hóa, những khu văn hóa, những khu phố văn hóa? Chúng ta có thể kiểm soát, chúng ta có thể trừng phạt nhưng kiểm soát và trừng phạt không phải là giải pháp gốc. Sở dĩ người thanh niên đi ra ngoài và sa vào hầm hố của ma túy, xì ke, của tội ác, của băng đảng, của sắc dục là vì trong gia đình họ không cảm thấy có hạnh phúc, họ không có niềm tin nơi hạnh phúc gia đình, hạnh phúc gia đình đối với họ là một cái gì chưa bao giờ từng có. Cha mẹ làm khổ nhau, cha con không truyền thông được với nhau, không nhìn mặt được nhau. Người thanh niên không muốn trở về gia đình vì không khí gia đình là không khí của bão tố, của địa ngục. Vậy các thầy, các sư cô, các bậc phụ huynh đã nắm được tư tưởng, giáo lý, sự thực tập để giúp cho con người có thể tìm lại gốc rễ của mình chưa?

Quý vị phải làm thế nào để giúp cho những người thanh niên đó thiết lập lại được truyền thông với cha, với mẹ, giúp cho vợ thiết lập lại được truyền thông với chồng, dựng lại tình thâm và đem hạnh phúc trở lại gia đình. Chỉ khi đó thì chúng ta mới thật sự bài trừ được những tệ đoan của xã hội như là đĩ điếm, ma túy, băng đảng và tội phạm. Pháp luật không đủ để giải quyết những tệ nạn xã hội, phải có đạo đức mới được. Ai là người nắm giềng mối của đạo đức? Các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, các nhà nghệ sĩ? Chúng ta có phận sự phải giáo dục, phải chỉ đường, phải có khả năng giúp cho những gia đình trong thôn xóm, trong khu phố. Làm thế nào để cho con với cha có thể hòa giải với nhau được, sự truyền thông giữa con và cha được phục hồi, vợ chồng có thể trở về với nhau, hòa giải được với nhau và biết làm hạnh phúc cho nhau.

Tôi đã làm việc với những người trẻ trong bốn mươi năm và thường nghe người trẻ nói với nhau rằng: Cái quý giá nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con cháu là hạnh phúc của chính cha mẹ. Nếu cha mẹ có hạnh phúc với nhau, cha mẹ biết săn sóc cho nhau, làm cho nhau hạnh phúc thì đó là cái gia tài lớn nhất mà con cháu có thể tiếp thu. Nếu cha mẹ làm khổ nhau mỗi ngày thì cha mẹ không có gì để trao truyền lại cho con cháu hết. Chúng ta là những vị xuất gia, những người tại gia, những nhà giáo dục, những nhà chính trị, những nhà kinh tế, những nhà nghệ sĩ thì chúng ta có thể đóng góp được gì vào công việc phục hồi lại hạnh phúc gia đình, phục hồi được sự truyền thông giữa vợ và chồng, giữa cha và con. Đó là công tác căn bản để có thể thành công thật sự trong sự xây dựng những tổ văn hóa, những khu phố văn hóa, những thôn văn hóa. Vai trò của Phật giáo cũng như vai trò của các nhà giáo dục, của các văn nghệ sĩ rất quan trọng. Trong gia sản văn hóa của chúng ta, chúng ta có đủ những yếu tố để có thể làm được việc đó.

Đóng góp của đạo Phật

Khi rời quê hương năm 1966 chúng tôi đâu có ý muốn đi sang Tây phương để truyền bá Phật pháp đâu. Chúng tôi chỉ muốn ở bên đó chừng ba tháng để kêu gọi thế giới góp một tay để chấm dứt cuộc chiến tranh thảm khốc ở Việt Nam nhưng vì thời thế xảy ra như vậy cho nên chúng tôi đã không được về nước trong ba mươi chín năm. Cố nhiên chúng tôi phải làm đủ mọi cách để có thể cống hiến những gì mình có thể cống hiến được cho thế giới Tây phương. Chúng tôi đã tu tập, chúng tôi đã sử dụng những yếu tố của nền văn hóa Việt Nam để giúp cho người Tây phương. Đạo Phật cũng vậy, truyền thống thờ cúng tổ tiên cũng vậy, chúng ta phải nhào nặn, phải trau chuốt, phải chế tác trở lại để cho những sản phẩm của Việt Nam có thể xuất khẩu và được chấp nhận được ở thế giới Tây phương.

Trong bốn mươi năm, chúng tôi làm việc như một đại sứ văn hóa cho đất nước. Chúng tôi đã cống hiến đạo Phật, chúng tôi đã cống hiến sự thực tập thờ cúng tổ tiên, cố nhiên là có những cái khác nữa nhưng hai điều này là hai điều mà chúng tôi muốn chia sẻ với quý vị đêm nay. Chúng tôi đã tinh luyện, đã chế biến những yếu tố đó của nền văn hóa dân tộc nhằm giúp cho người thanh niên, người trí thức Tây phương có thể hiểu được, chấp nhận được cũng như để chuyển hóa những nỗi khổ, niềm đau và tháo gỡ được những khó khăn để có thể trở về với gia đình, với truyền thống tâm linh của họ. Chúng tôi giúp họ tái lập truyền thông, xây dựng lại hạnh phúc gia đình và chúng tôi đã thành công.

Trong chuyến về viếng thăm Việt Nam lần này, chúng tôi có một niềm tin rất lớn. Nếu những pháp môn đó hữu hiệu với thanh niên và trí thức Tây phương thì tại sao nó không hữu hiệu với thanh niên và trí thức Việt Nam, một khi những pháp môn đó hoàn toàn có gốc rễ văn hóa Việt Nam.

Bài viết có liên quan: Gia sản văn hóa Việt Nam đóng góp được gì cho hòa binh thế giới – phần I

Mất còn trong cõi sống chết

(Pháp thoại của Sư ông Làng Mai ngày 20. 4.2007  Trai Đàn Chẩn Tế tại Chùa Non Nước, Sóc Sơn – Hà Nội)

https://www.youtube.com/watch?v=KLa-JpvEAaU&list=PLMG8i-w8rYWlTEG9PO5er8ueJa5t9ZoAV

Kính thưa liệt vị tôn đức,
kính thưa các vị khách quý, các Phật tử.

Chúng ta vừa trì niệm danh hiệu của đức Quan Thế Âm để cầu cho trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan này được thành công. Chúng ta đã nói rằng  trai đàn này là để cầu nguyện cho “âm siêu” và “dương thái”. Tôi muốn bắt đầu buổi pháp thoại hôm nay nói về sự liên hệ giữa cõi âm và cõi dương. Chúng ta làm thế nào để tiếp xúc với cõi âm và chúng ta có thể tiếp xúc được hay không? Và những người ở cõi âm làm thế nào để tiếp xúc với chúng ta trong cõi dương? Hai cõi này – cõi âm và cõi dương – là hai cõi tách biệt hay là có dính líu tới nhau?

Cố nhiên chúng ta biết rõ rằng khi mà âm được siêu thì dương cũng được thái và khi dương được thái thì âm cũng được siêu. Cho nên chúng ta biết chắc rằng có một liên hệ rất mật thiết giữa hai cõi. Nhưng trong đầu óc của nhiều người, chúng ta thường nghĩ rằng cõi âm là cõi nó hoàn toàn khác biệt với cõi dương. Thường thường, chúng ta nghĩ rằng cõi âm chúng ta không thấy được, không nghe được, không sờ mó được. Và những gì mà chúng ta không thấy được, không nghe được, không sờ mó được, có khi chúng ta nghĩ là không có.

Chúng ta hãy tưởng tượng là trong không gian này, chúng ta biết rằng có những đài truyền hình, những đài phát thanh, luôn luôn phát ra những chương trình trên các làn sóng. Và trong không gian đang bao phủ chúng ta, có rất nhiều tín hiệu của các buổi phát thanh và truyền hình. Chúng ta biết rằng luôn luôn trong giờ phút này có những chương trình phát thanh và truyền hình. Những tín hiệu đó nó đầy dẫy trong hư không, nhưng mà chúng ta không thấy, chúng ta không nghe, chúng ta không sờ mó được những chương trình đó. Chúng ta cần phải có một máy thu thanh, máy thu hình để nó có thể nắm được những tín hiệu đó và nó chuyển dịch những tín hiệu đó ra những đối tượng mà mắt ta có thể tiếp xúc được và tai của ta có thể tiếp xúc được. Và những cái ta không thấy, những cái ta không nghe, những cái ta không sờ mó được, chúng ta không thể nói là chúng nó không có.

Trong kinh Thương Yêu, đức Thế Tôn có dạy rằng chúng ta phải phát khởi lòng từ bi của chúng ta đối với tất cả các loài, các loài ta thấy được và các loài ta không thấy được. Không thấy được không có nghĩa là không có mặt. Ngay những con vi khuẩn nó làm ra bệnh tật của chúng ta, chúng ta không có thể thấy được. Chúng ta phải cần kính hiển vi mới có thể thấy được những con vi khuẩn đó. Khi không thấy được những con vi khuẩn đó, chúng ta không thể nói rằng con vi khuẩn đó không có.

Chúng ta có sáu giác quan và những giác quan của chúng ta nó có giới hạn. Chúng ta có thể không nghe được những âm thanh mà con chó nó nghe được. Chúng ta có thể không thấy được những hình ảnh mà con chim nó thấy được. Cho nên chúng ta đừng vội vàng nói rằng những gì những gì tôi không thấy, những gì tôi không nghe, những gì tôi không có sờ mó được, tức là chúng nó không có. Có và Không là hai ý niệm, trong đạo Phật chúng ta thực tập để có thể vượt thoát được hai ý niệm Có và Không. Có hai ý niệm khác đi đôi với hai ý niệm Có và Không, đó là ý niệm Còn và Mất. Chúng ta không thể nào hiểu được sự liên hệ giữa cõi âm và cõi dương nếu chúng ta không nắm được sự thật về vấn đề còn, vấn đề mất.

Xin quý vị tôn đức, các vị khách quý và các vị đạo hữu hình dung ra một hạt mưa rơi. Hạt mưa đó có thể rơi xuống trên một tảng đá hay rơi xuống trên mặt đất. Có thể trong vòng mấy phút thì hạt mưa rơi xuống trên đất, nó được đất hút vào. Có thể đất hút vào liền lập tức và ta không thấy hạt mưa đó nữa, hạt mưa vừa có đó, bây giờ đã trở thành không có đó. Trước đó chúng ta thấy hạt mưa và bây giờ chúng ta không thấy hạt mưa và chúng ta nói hạt mưa không còn nữa. Đó là một tri giác sai lầm, đó là một vọng tưởng. Hạt mưa vẫn còn đó dưới một hình thái khác mà ta không thấy được thôi, ta không thể nói rằng hạt mưa đó không còn. Còn hạt mưa kia, nó rơi trên một tảng đá và chỉ trong vòng mười phút, mười lăm phút, hạt mưa đó nó biến mất, nó biến thành hơi nước, nó trở thành một phần của đám mây trên trời. Nhưng chúng ta không thấy hạt mưa đó cho nên chúng ta nói hạt mưa đó không còn nữa.

Người thương của chúng ta cũng vậy, chúng ta nói là không còn nữa nhưng kỳ thật điều đó là không đúng. Người thương của chúng ta vẫn còn đó và chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được với người ấy nếu chúng ta có tuệ giác. Hãy tưởng tượng chúng ta nhìn lên trời, thấy một đám mây mà chúng ta rất ưa thích. Nhưng đám mây vô thường, cho nên mấy giờ đồng hồ sau, đám mây sẽ biến thành mưa và chúng ta không còn thấy đám mây ở trên trời nữa.

Tại vì chúng ta đã thương yêu đám mây, chúng ta đã lưu luyến đám mây cho nên bây giờ đám mây không còn trên trời, chúng ta buồn, chúng ta than khóc, chúng ta nghĩ rằng đám mây đã chết rồi, đám mây từ chỗ có đã trở thành không, đã từ chỗ còn đã trở thành mất. Trong khi chúng ta khóc than thì đám mây vẫn còn đó dưới dạng của một cơn mưa. Thật ra một đám mây không bao giờ có thể chết được, chúng ta không có thể nào làm đám mây từ có trở thành không, không có thể làm cho đám mây từ có trở thành không được. Đám mây chỉ có thể trở thành mưa thành tuyết, thành mưa đá nhưng mà đám mây không thể nào từ “có” trở thành “không” được.

Trong khi thương tiếc đám mây, chúng ta khóc, thì đám mây trong hình thái mới của nó là cơn mưa, gọi chúng ta, nói rằng anh ơi, anh có biết là em đang còn đây không, anh nhìn xem em đang con đây dưới một hình thái mới đó là một cơn mưa. Cho nên đám mây trong hình thái mới của nó đang gọi chúng ta mà chúng ta không nghe được, chúng ta không thấy được và chúng ta cứ tiếp tục than khóc, chúng ta cứ nghĩ đám mây thân yêu của chúng ta không còn nữa. Người thương của chúng ta, người yêu của chúng ta, người thân của chúng ta cũng thế. Chúng ta không còn thấy hình dáng quen thuộc của người đó trong giây phút này nữa nhưng mà người đó không phải là không còn, người đó không phải là đã mất. Giữa chúng ta với người đó có thể có liên hệ rất là mật thiết và nếu chúng ta quán chiếu thì chúng ta có thể tiếp tục tiếp xúc với người đó nói chuyện với người đó, cười với người đó và sống với người đó trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Cõi âm nó không có xa xôi gì đâu, cõi âm rất là gần gũi với chúng ta.

Chúng tôi xin hiến tặng quý vị một hình ảnh khác là một hạt bắp, hạt ngô. Chúng ta gieo hạt ngô xuống đất mềm và chúng ta đợi bảy hôm hay mười hôm thì hạt ngô đó nứt mầm và trở thành một cây bắp mới, cây bắp non. Khi cây bắp nó biểu hiện ba cái lá mới và một thân bắp mỏng manh của nó, chúng ta nhìn không có thấy hạt bắp hai ba tuần trước nữa. Hạt ngô hai ba tuần trước, bây giờ chúng ta không thấy. Chúng ta chỉ thấy – thay vì hạt ngô – thì là một cây bắp con và chúng ta có thể nói rằng hạt bắp đã chết rồi, hạt bắp không còn nữa. Nhưng chúng ta ai cũng biết rằng hạt bắp không có thật sự chết, hạt bắp vẫn còn nhưng mà hạt bắp vẫn còn trong một hình thái mới. Hạt bắp chỉ thay hình đổi dạng, hạt bắp không chết, hạt bắp không phải là từ “có” mà trở thành “không”. Nếu chúng ta có trí tuệ, nhìn vào cây bắp non, chúng ta thấy được hạt bắp vẫn còn trong hình thái mới của nó.

Tổ tiên, cha mẹ, ông bà chúng ta vẫn còn đó. Nếu chúng ta biết cách nhìn, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được với tổ tiên, ông bà, cha mẹ và vẫn còn nói chuyện được với tổ tiên ông bà cha mẹ. Khi chúng ta nhìn vào cơ thể, chúng ta thấy rất rõ là trong mỗi tế bào của cơ thể, có sự có mặt của tổ tiên, của cha mẹ. Cha mẹ đã trao truyền cho chúng ta rất nhiều. Cha mẹ ta đã trao truyền cái gì cho chúng ta?  Cha mẹ ta đã trao truyền chính bản thân của cha mẹ cho chúng ta. Trong mỗi cái tế bào của cơ thể, có sự có mặt đầy đủ của cha và của mẹ, tất cả những cái gien, những cái nhiểm thể của cha mẹ trao truyền lại. Chúng ta thấy sự có mặt của cha mẹ ở trong từng tế bào cơ thể.

Thường thường, chúng ta nghĩ rằng cha ta ở ngoài ta và mẹ ta ở ngoài ta. Nếu chúng ta giận cha, hay giận mẹ thì chúng ta giận cha ta ở ngoài ta, giận mẹ ở ngoài ta. Nhưng chúng ta ít khi nghĩ rằng cha ta đang có mặt trong ta, mẹ ta cũng đang có mặt trong ta, ở nơi mỗi tế bào cơ thể. Và mỗi khi chúng ta giận cha, tức là chúng ta giận bản thân của chúng ta. Tại vì chúng ta chỉ là sự tiếp nối của cha và của mẹ. Cũng như cây bắp chỉ là sự tiếp nối của hạt bắp. Nếu mà cây bắp nó giận hạt bắp tức là nó tự giận cái bản thân của nó.

Có một thiền sinh tới làng Mai ở bên Pháp và thiền sinh đó bị bệnh ung thư. Một sư cô khai thị cho thiền sinh đó và chỉ dẫn cho thiền sinh đó một phương pháp thực tập, thiền sinh này người Mỹ. Sư cô hỏi rằng này bác, bác nói cho chúng tôi nghe sơ lược về tổ tiên ông bà, cha mẹ của bác đi. Vị thiền sinh đó tiết lộ rằng bà ta có một ông nội rất là khỏe mạnh, sống tới chín mươi lăm tuổi. Sư cô làng Mai mới nói rằng ông nội của bà đang có mặt trong từng tế bào cơ thể của bà. Ông nội của bà đã trao truyền cái hình hài rất là vững chắc, rất là khỏe mạnh của ông ta cho bà, mà tại sao bà không cầu nguyện ông nội đi. Bà cầu nguyện như thế nào?  Ông nội ơi! ông nội đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể cháu, ông nội giúp cháu đi!

Phương pháp của sư cô làng Mai là giúp cho bà tiếp xúc được với ông nội của mình ở trong từng tế bào cơ thể của bà ta. Bà theo đó thực tập, mỗi ngày đều ngồi thiền, mỗi ngày đều tiếp xúc với ông nội trong từng tế bào, và gọi ông nội lên giúp mình, tại vì ông nội ngày xưa có những tế bào rất là khỏe mạnh. Nếu đánh động được những tế bào khỏe mạnh của ông nội thì những tế bào đó sẽ biểu hiện, sẽ hoạt động như thế nào để có thể giúp cho những tế bào bị ung thư nó rút lui, nó giảm thiểu. Một phép lạ đã xảy ra,  mấy tháng sau thì bà hết bệnh ung thư.

Thành ra ông nội của mình, mình đừng tưởng rằng không còn nữa, ông nội của mình vẫn còn trong từng tế bào cơ thể của mình. Mình có thể tiếp tục nói chuyện với ông nội, cầu cứu ông nội mỗi khi mình cần đến ông nội. Ông nội mình có thể có một hình hài rất là khỏe mạnh, ông nội mình cũng có thể có những tài ba, những kinh nghiệm rất sâu sắc trong cuộc đời. Nếu chúng ta biết cách tiếp xúc với ông nội chúng ta thì chúng ta có thể thừa hưởng được năng lượng về hình hài, cũng như là năng lượng tinh thần của ông nội ta.

Cho nên truyền thống thờ cúng tổ tiên của người Việt là một truyền thống cần phải bảo tồn. Tại vì khi mà chúng ta có bàn thờ tổ tiên ở trong nhà, chúng ta mỗi ngày thắp một cây hương và khấn nguyện thì chúng ta có cơ hội tiếp xúc với ông bà chúng ta, không phải trên bàn thờ mà ở ngay trong từng từng tế bào của cơ thể ta. Con cháu đi đâu thì ông bà đi theo đó, không phải là đi sau lưng mà đi ngay trong từng tế bào cơ thể. Điều này nó không có vẻ tôn giáo tín ngưỡng, nó là khoa học, rất là khoa học.

Trong cuộc chiến tranh Việt Nam từ sáu đến bảy triệu đồng bào chúng ta đã tử vong. Chúng ta có những chiến sĩ đã tranh đấu rất oai hùng cho nền độc lập quốc gia, cho tự do của đất nước. Hàng vạn chiến sĩ đã bỏ mình nơi chiến trường một cách uy hùng như thế. Nhưng cũng có những người đồng bào chúng ta đã chết trong những hoàn cảnh rất là tối tăm, rất là oan khuất, bom đạn, ngục tù, tù đày, tra tấn. Vậy nên nỗi oan khổ đó vẫn còn nơi cõi âm, và nó vẫn còn nơi cõi dương. Nó nằm ngay ở trong trái tim của chúng ta. Khi chúng ta dồn nén những oan khổ đó vào đáy lòng thì những oan khổ đó vẫn còn, không có tiêu tan được.

Có khi chúng ta hành xử hơi thô bạo với những người thương của chúng ta, chúng ta không hiểu tại sao chúng ta lại nói một câu thô bạo như vậy, hay là có một cử chỉ thô bạo như vậy đối với người thương. Thật ra động lực nó xui chúng ta nói những lời thô bạo, hay là có những lời thô bạo là tại vì chúng ta có những nỗi khổ niềm đau ở trong lòng mà chưa chuyển hóa được.

Vậy nên theo nguyên tắc của tâm lý trị liệu, nếu chúng ta cho phép những nỗi khổ niềm đau đó đi lên trên mặt phẳng của ý thức, chúng ta công nhận nó, chúng ta ôm ấp nó, chúng ta chuyển hóa nó, thì chúng ta mới có thể làm tiêu tan những nỗi khổ niềm đau đó. Từ đó về sau, chúng ta sẽ không còn cư xử một cách nặng nề bạo động, thô bạo với những người chung quanh. Nếu không thì chúng ta có thể trao truyền lại những năng lượng tiêu cực đó cho con, cho cháu. Một ngày nào đó, con cháu chúng ta sẽ cư xử một cách không có dễ thương đối với những người thân của họ, và họ sẽ không biết tại sao. Những nỗi khổ, niềm đau, những oan ức của chúng ta, chúng ta chưa chuyển hóa được và chúng ta đã trao truyền lại cho các thế hệ tương lai.

Đại trai đàn chẩn tế giải oan bình đẳng là một cơ hội để chúng ta thực tập, đưa những oan khổ, những đau đớn đó lên trên mặt phẳng của ý thức, để công nhận nó, để ôm ấp lấy nó và để chuyển hóa nó. Đây là một thực tập cụ thể. nếu chúng ta chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau trong lòng thì những người thân của chúng ta cũng chuyển hóa được những nỗi khổ niềm đau trong lòng của họ, dầu những người đó đang còn sống hay là đã khuất. Khi chúng ta tới với nhau để cầu nguyện là chúng ta đem hết tất cả tâm thân để mà nhớ tới, để mà tưởng niệm tới những khổ đau, những oan khuất mà những người thân của chúng ta đã phải gánh chịu trong suốt bao nhiêu năm của chiến tranh.

Trong Đại trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan ở tại chùa Vĩnh Nghiêm, thành phố Hồ Chí Minh, cũng như trong đại trai đàn bình đẳng chẩn tế giải oan thực hiện ở tại chùa Diệu Đế, chúng ta đã đọc lên những lời khấn nguyện của những người đang sống đối với những người đã khuất. Và để chuẩn bị cho trai đàn chẩn tế bình đẳng giải oan ở chùa Non Nước, chúng tôi xin đọc lại những lời khấn nguyện đó để quý vị thấy được tinh thần và phương pháp thực tập của chúng ta.

Lời khấn nguyện trong các trai đàn chẩn tế giải oan, đây là những lời của người sống nói với những người đã chết, những người ở cõi dương nói với những người ở cõi âm. Và chúng ta biết rằng âm dương tương tức, ở trong dương có âm và trong âm có dương. Chúng ta nói với những người thân của chúng ta đã qua đời, nhưng mà chúng ta cũng nói với chính bản thân của chúng ta.

“Kính thưa liệt vị hương linh. Quý vị là cha của chúng tôi, quý vị là chồng của chúng tôi, quý vị là anh trai của chúng tôi, quý vị là em trai của chúng tôi, quý vị là con trai của chúng tôi, quý vị cũng là mẹ của chúng tôi, quý vị cũng là vợ của chúng tôi, là chị gái của chúng tôi, là em gái của chúng tôi, quý vị cũng là con gái của chúng tôi.

Trong cơn binh lửa, trong cảnh tao loạn, quý vị đã bỏ lại hình hài quý giá của quý vị mà đi, chúng tôi đã đánh mất quý vị. Quý vị hoặc đã chiến đấu dũng cảm cho đất nước và đã chết một cách hào hùng không hề thương tiếc thân mạng, chúng tôi rất hãnh diện về quý vị.

  Nhưng quý vị có thể cũng đã bỏ mình trong những hoàn cảnh cực kỳ bi thương, Nỗi oan khổ không thể nào nói lên được. Trên rừng sâu, trong biển cả, nơi chốn tù đày, chết vì bom đạn hoặc vì kiệt sức, hoặc vì bị bức bách, bị hãm hiếp rồi bị sát hại mà không có phương tiện chống cự lại. Có biết bao nhiêu quý vị đã ngã quị mà nắm xương tàn không biết đang được chôn vùi ở đâu. Những tai ương mà đất nước và dân tộc ta phải chịu đựng trong bao nhiêu năm tranh đấu cho độc lập và cho tự do, chính quý vị là người phải gánh chịu nhiều nhất.

Chúng tôi những người thân thuộc và đồng bào của quý vị. Hôm nay tới đây thắp hương tưởng niệm quý vị, hoặc thiết lập bàn thờ cho quý vị trước hiên nhà. Trong chúng tôi, cũng có những người vẫn còn tiếp tục gánh chịu oan khổ. Nhưng may thay cơn ác mộng đã qua, đất nước đã được hòa bình, dân tộc đang có cơ hội xây dựng kiến thiết trở lại. Nhờ phúc đức tổ tiên, chúng tôi hôm nay mới có cơ hội đến với nhau một cách chính thức, chắp tay nguyện cầu Tam Bảo, nhờ Pháp lực gia trì, thỉnh cầu tất cả liệt vị trở về đoàn tụ. Cùng nhau cầu nguyện để giải trừ nghiệp cũ, mở ra một vận hội mới, nhìn nhận nhau, ôm lấy nhau, thương lấy nhau như đồng bào ruột thịt, không còn phân biệt Bắc Nam, gái trai, già trẻ, chủng tộc, tôn giáo.”