Tình chị em

                                                                                       

Vermont Green Mountain Dharma Center c.1999

 

Phương Khê, ngày 27 tháng 12 năm 2024

Sư chị Chân Không thương kính,

Em muốn bày tỏ niềm tri ân đối với sư chị nhưng không biết phải bắt đầu từ đâu vì có rất nhiều điều muốn nói. Nhưng em nghĩ mình sẽ bắt đầu theo thứ tự thời gian, từ lúc em mới gặp sư chị lần đầu tiên vào năm 1986. 

Trước đó hai năm, em và một người bạn đã viết thư cho sư chị để xin phép đến Làng Mai. Bọn em định đi phà từ Anh qua Pháp và sau khi xuống phà sẽ đạp xe từ bến Dieppe tới Làng. Nhưng thật đáng tiếc, chúng em được sư chị báo tin là Làng Mai đã hết chỗ cho mùa hè năm đó.

Năm 1986, em có duyên được tham gia tổ chức khóa tu và các buổi pháp thoại công cộng cho Thầy ở nước Anh. Em hoàn toàn không biết gì về sức khỏe của Thầy và của sư chị nên đã chọn một tòa lâu đài lạnh lẽo ở miền bắc nước Anh cho khóa tu. Thậm chí trong những ngày khóa tu còn có tuyết, mà tòa lâu đài lại không có sưởi. 

Lần đầu tiên gặp sư chị ở sân bay, em đã thấy thân thiết với sư chị liền. Thầy và sư chị rất dễ thương với em, không hề phàn nàn dù em có rất nhiều thiếu sót trong khi tổ chức khóa tu. Sư chị đã hát suốt trên đường khi mấy thầy trò lái xe từ Luân Đôn lên miền Bắc. Em nhớ đó là lần đầu tiên nghe sư chị hát bài Ý thức em mặt trời tỏa rạng và sư chị dạy em hát theo. Sư chị cũng giải thích cho em một vài điểm trong tiếng Việt. Em được sư chị cho biết tiếng Việt không có từ “I” và “you” như trong tiếng Anh, sư chị là “chị”, còn em là “em”. Đây là điều rất khó hiểu đối với một cái đầu đã quen với “I” và “you” như em, vì phải thay đổi cách xưng hô tùy thuộc vào người mình đang nói chuyện.

Nhờ lần gặp gỡ đó mà em đã có đủ duyên đến Làng Mai để dự khóa tu mùa Hè năm 1986. Hai tuần cuối của khóa tu, em được ở xóm Hạ nơi sư chị phụ trách chăm sóc. Sư chị là người hướng dẫn thực tập cho các thiền sinh người Việt ở xóm Hạ. Không khí ở đây như trong một đại gia đình. Đến lúc em phải ra về vì hết thời hạn, sư chị nói với em có lẽ Thầy sẽ hỏi em có muốn ở lại làm dân thường trú ở Làng hay không. Em tin chuyện em được thường trú ở Làng hẳn là nhờ có sư chị trợ duyên. Chuyện được mời ở lại thật sự rất bất ngờ đối với em. Khi thưa với Thầy là em không còn hạnh phúc nào hơn khi được ở lại Làng, em được sư chị báo tin là em sẽ làm chị của một số người nam tị nạn đang có mặt tại xóm Hạ. Sư chị đã tin cậy giao cho em một công việc mà em làm không được giỏi cho lắm trong thời gian hai, ba tháng sư chị đi thăm các trại tị nạn ở Đông Nam Á, nơi những thuyền nhân người Việt đang tạm trú. Thời gian đó là cơ hội để em học tiếng Việt, bởi vì ở nhà chẳng có ai nói được tiếng Anh hay tiếng Pháp. Khi trở về Làng, bất cứ khi nào sư chị đến thăm, sư chị cũng mang thức ăn cho em: Phô mai Pháp, yến mạch để ăn sáng và yaourt. Sư chị cũng dạy em cách làm yaourt.

Em đã trải qua mùa hè năm 1987 tại Làng như một người thường trú dưới sự hướng dẫn của sư chị chứ không phải là một thiền sinh. Sư chị làm tất cả mọi thứ, từ sắp xếp chương trình đến nấu ăn. Em đi theo sư chị và học cách nấu một số món canh Việt Nam như canh bầu, canh rau muống, canh khoai tây cho khoảng hơn 100 người. Em cũng làm được bánh ga tô chanh cho thiền trà và được sư chị khen ngon.

1988 là một năm đặc biệt vì năm đó hai chị em được thọ giới tỳ kheo ni. Em tri ân sư chị rất nhiều vì nhờ sư chị thọ giới mà em cũng được Thầy nhận lời cho em được thọ giới. Em nghĩ có lẽ Thầy không chắc là em có thể duy trì nếp sống xuất gia suốt đời hay không. Vì vậy sự yểm trợ của sư chị trong việc em thọ giới là một điều rất quan trọng. Sư chị luôn là một người có hảo tâm và không bao giờ để cho ai có cảm tưởng mình bị gạt ra ngoài. Sư chị thậm chí còn cho em áo tràng của sư chị vì trước khi đi Ấn Độ, em không biết là sẽ có lễ xuất gia cho nên em không hề chuẩn bị một chút gì. 

Từ đó trở đi, em đã có một sư chị, và chắc hẳn em không phải là một sư em dễ dàng gì. Dù hạt giống muốn xuất gia của em rất lớn nhưng em vẫn còn có rất nhiều tập khí không nên có nơi một sư cô, thí dụ như tâm ganh tị. Em cần được nhắc nhở rất nhiều. Và nhờ sư chị mà em có một người sẵn lòng nhắc nhở em. Khi em còn là một sư cô còn non trẻ, sư chị đã khuyến khích em làm việc trong nhà bếp và ở ngoài vườn. Em rất may mắn được cho phép đến và ở lại Sơn Cốc, nơi em luôn cảm thấy được đón chào và cũng là nơi mà em được học hỏi rất nhiều từ cách sống của Thầy.

Năm 1989, em được Thầy cho phép làm thị giả trong chuyến hoằng pháp Bắc Mỹ sau khi sư chị quay trở lại châu Âu. Sư chị đã dạy em cách nấu một số món ăn căn bản mà Thầy có thể dùng được. Nhưng em không có cơ hội được nấu vì có rất nhiều thiền sinh người Việt rất nhiệt tình nấu ăn cúng dường Thầy.

Thời gian trôi qua, sư chị thấy những khiếm khuyết của em trong công việc văn phòng và tổ chức nên đã cố gắng hết sức để em không phải đảm đương những công việc ấy trong thời gian em ở tu viện Thanh Sơn. Sư chị đã ủng hộ em thật hết lòng khi em ở Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu (EIAB), Đức. Sư chị cũng luôn cho phép em về lại Làng và sẵn lòng có mặt, lắng nghe những vấn đề của em với đôi tai rất từ bi và nhiều tuệ giác. Sư chị không bao giờ trách móc em mỗi khi em đi qua khó khăn và luôn chấp nhận những yếu kém của em.

Lần gặp gần đây, sư chị nói: “Em ráng giữ gìn sức khỏe! Giữ gìn cho em mà cũng là cho chị nữa!”. Vâng, thưa sư chị, em sẽ cố gắng hết sức mình. Từ khi sư chị bị ngã trong chuyến đi Séc, em lúc nào cũng ngưỡng mộ sự kiên nhẫn của sư chị. Sư chị chấp nhận điều kiện sức khỏe của mình với sự kiên trì và cả sự hài hước. Nơi sư chị, em được học hỏi rất nhiều từ cách sư chị thực tập buông bỏ và an trú trong giây phút hiện tại. Vì sư chị đã có duyên được thân cận Thầy qua nhiều năm tháng nên sự thực tập chánh niệm đã trở thành bản tính tự nhiên của sư chị. 

 

 

Em chắc rằng đôi khi sư chị cũng rất nhớ Thầy sau nhiều năm thân cận Người như vậy, nhưng sư chị luôn tự nhắc mình và người khác rằng Thầy vẫn luôn có đó, bên cạnh chúng ta, dù cho hoàn cảnh có thể khó khăn đến đâu đi nữa. Sư chị đích thực là một vị Bồ tát, như hình ảnh trong bài kệ truyền đăng mà Thầy đã trao cho sư chị: 

              Chân thân vượt thoát sắc cùng hình

              Không tánh từ xưa vẫn tịnh minh

              Ứng hiện trần gian trăm vạn lối

              Từ bi phương tiện độ quần sinh.

Cảm ơn sư chị đã trợ duyên để em được là một người tu và là một sư em của sư chị. 

Chân Đức. 

(Bài viết được dịch từ nguyên bản tiếng Anh.)

 



14 Bài kệ chỉ quán

  1. Như chim có hai cánh
    Thiền tập có chỉ, quán
    Hai cánh chim nương nhau
    Chỉ và quán song hành
  2. Chỉ là tập dừng lại
    Ðể nhận diện, tiếp xúc
    Nuôi dưỡng và trị liệu
    Lắng dịu và chú tâm
  3. Quán là tập nhìn sâu
    Vào bản chất năm uẩn
    Làm phát khởi tuệ giác
    Chuyển hóa mọi sầu đau
  4. Hơi thở và bước chân
    Chế tác nguồn chánh niệm
    Ðể nhận diện, tiếp xúc
    Với sự sống mầu nhiệm
  5. Làm lắng dịu thân, tâm
    Nuôi dưỡng và trị liệu
    Hộ trì được sáu căn
    Và duy trì chánh định
  6. Nhìn sâu vào thực tại
    Thấy tự tánh các pháp
    Quán giúp ta buông bỏ
    Mọi tìm cầu sợ hãi
  7. An trú trong hiện tại
    Chuyển hóa các tập khí
    Làm phát sanh tuệ giác
    Giải thoát mọi phiền não
  8. Vô thường là vô ngã
    Vô ngã là duyên sanh
    Là không, là giả danh
    Là trung đạo, tương tức
  9. Không, vô tướng, vô tác
    Giải tỏa mọi sầu đau
    Trong nhật dụng công phu
    Không kẹt vào lý giải
  10. Niết bàn là vô đắc
    Ðốn, tiệm không phải hai
    Chứng đạt sống thảnh thơi
    Ngay trong giờ hiện tại
  11. Các thiền kinh căn bản
    Như An Ban, Niệm Xứ
    Chỉ đường đi nước bước
    Chuyển hóa thân và tâm
  12. Các kinh luận Ðại Thừa
    Mở thêm nhiều cửa lớn
    Giúp ta thấy chiều sâu
    Của dòng thiền Nguyên Thỉ
  13. Như Lai và Tổ Sư
    Thiền chẳng nên cách biệt
    Bốn đế phải nương nhau
    Làm nền tảng truyền thừa
  14. Có tăng thân yểm trợ
    Thực tập dễ thành công
    Chí nguyện lớn độ sanh
    Lên đường mau thành tựu.

Lễ truyền đăng

Lễ Phó pháp truyền đăng là một truyền thống đẹp, giàu ý nghĩa trong đạo Bụt, mang đậm dấu ấn đặc thù của Làng Mai. Trong buổi lễ này, mỗi vị giáo thọ đắc pháp đều được trao truyền một cây đèn và một bài kệ truyền đăng.

Cây đèn tượng trưng cho ánh sáng chánh pháp, là ngọn đèn tuệ giác được chư Bụt, chư Tổ và Thầy trao truyền qua bao thế hệ. Bài kệ truyền đăng, mang tên của vị giáo thọ mới, là những hạnh nguyện, lời gửi gắm và nhắn nhủ từ Thầy và Tăng thân, như một kim chỉ nam soi sáng bước đường độ đời.

Một trong những niềm vui lớn lao của đại chúng trong Đại Giới Đàn chính là Lễ truyền đăng. Đó là giây phút hân hoan, khi đại chúng cùng nhau đón chào những vị giáo thọ mới  – những cánh tay nối dài của chư Bụt, chư Bồ Tát, các vị Tổ sư và Thầy, mang ánh sáng chánh pháp đi vào cuộc đời.

Quý Thầy, quý Sư Cô lớn đã thay mặt chư Tổ và Thầy, trao truyền niềm tin và tình thương cho các vị  giáo thọ mới qua những bài kệ truyền đăng thiêng liêng. Tăng thân hân hoan chào đón thêm 64 vị tân giáo thọ xuất sĩ và cư sĩ, đánh dấu một cột mốc quan trọng trên con đường tu học và hoằng pháp của các vị.

Dưới đây là những hình ảnh truyền đăng trong Đại Giới Đàn Nước Tĩnh, tổ chức tại Trung tâm Thiền tập Quốc tế Làng Mai Pháp và Tu viện Vườn Ươm Thái Lan.

 

 

Lễ truyền Giới Khất sĩ nữ

Với lòng từ bi vô biên, chư tôn đức đã rũ lòng thương mà có mặt trong đại giới đàn Nước Tĩnh, đã trao truyền giới thân tuệ mạng cho các giới tử. Nhờ đó các giới tử được thọ nhận giới pháp một cách trọn vẹn để tu học, xây dựng tăng thân và giúp đời. Sự hiện diện vững chãi, thảnh thơi của Chư Tôn Đức trong Đại Giới Đàn là nguồn động viên lớn lao, tiếp thêm niềm tin và nghị lực cho các giới tử trên con đường thực tập và chuyển hóa.

Trong Đại Giới Đàn này, Tăng thân hân hoan chào đón 21 vị Khất sĩ nữ. Có thêm những vị xuất gia trẻ phát nguyện tiếp nhận giới pháp, tinh tấn tu tập, chuyển hóa thân tâm là niềm vui lớn lao đối với Chư Tôn Đức – những bậc Thầy đi trước. Với năng lượng lành và sự tin tưởng, gửi gắm từ đại chúng, các vị Khất sĩ mới nguyện luôn thắp sáng ngọn lửa Bồ Đề Tâm, dành trọn tuổi trẻ cho con đường tu học, thúc liễm thân tâm, vun bồi gốc rễ tâm linh, gieo trồng hạt giống thiện lành cho tự thân và cho mọi người.

 

 

 

Lễ truyền Giới Khất sĩ nam

Trong Giới trường thanh tịnh và trang nghiêm, các giới tử thành kính trình diện trước Tam Bảo để tiếp nhận giới pháp từ Chư Tôn Đức. Kể từ giây phút thiêng liêng này, các sư chú chính thức trở thành người con trai của Bụt. Khoác lên mình chiếc áo của Bụt và tiếp nhận bình bát là niềm vinh dự lớn lao trong đời người xuất gia. Chư Tôn Đức đã đưa các giới tử lên một vị trí cao quý, trở thành Tỳ kheo – chính thức gia nhập vào Tăng đoàn của Bụt. Đây là một dấu mốc quan trọng, là hành trang vững chắc cho các vị Khất sĩ trên con đường tu học và độ đời. Tăng thân vui mừng chào đón thêm 19 Tân Tỳ kheo.

Lễ rước Giới Bản Khất sĩ

Sáng ngày 23/03, Chư Tôn Đức cùng Tứ chúng Làng Mai đã vân tập tại thiền đường Chuyển Hoá – xóm Thượng để thực hiện nghi lễ Rước Giới Bản Khất sĩ về Giới Trường – thiền đường Nước Tĩnh. Trong không khí trang nghiêm và thanh tịnh, từng bước chân chậm rãi của các vị xuất sĩ trong y vàng rực rỡ hoà cùng tiếng chuông, tiếng trống bát nhã vang vọng khắp núi đồi xóm Thượng. Đất trời như rung động, hoan hỷ trước sự thành kính của các giới tử và đại chúng, những người một lòng cầu thỉnh giới pháp của Bụt –  là ánh sáng soi đường cho sự thực tập, chuyển hoá và phụng sự. 

Kính mời đại chúng chiêm ngưỡng nét đẹp uy nghiêm của tăng đoàn và cùng hoà mình vào năng lượng bình an của những buổi lễ.

 

Đại Giới Đàn Nước Tĩnh 23-28/03/2025

Trong tiết trời xuân ấm áp, Tứ chúng Làng Mai đã trang trọng tổ chức Đại Giới Đàn Nước Tĩnh, truyền giới cho các giới tử xuất gia từ các trung tâm Làng Mai trên khắp thế giới.

Đại Giới Đàn vẫn được tổ chức hai năm một lần. Dẫu Sư Ông Làng Mai không còn biểu hiện trong tích môn, nhưng Người vẫn luôn có mặt trong từng vị đệ tử qua các pháp môn thực tập mỗi ngày. Nhờ tình thương và mối thâm tình giữa Chư Tôn Đức và Sư Ông, quý Hòa thượng, quý Sư bà đã luôn đồng hành, nâng đỡ Tăng thân.

Trong kỳ Đại Giới Đàn này, Tăng thân hân hoan chào đón 19 vị Khất sĩ nam và 21 vị Khất sĩ nữ. Có thêm những vị xuất gia trẻ phát nguyện tiếp nhận giới pháp, tinh tấn tu tập, chuyển hóa thân tâm là niềm vui lớn lao đối với Chư Tôn Đức – những bậc Thầy đi trước. Với năng lượng lành và sự tin tưởng, gửi gắm từ đại chúng, các vị Khất sĩ mới nguyện luôn thắp sáng ngọn lửa Bồ Đề Tâm, dành trọn tuổi trẻ cho con đường tu học, thúc liễm thân tâm, vun bồi gốc rễ tâm linh, gieo trồng hạt giống thiện lành cho tự thân và cho mọi người.

Hình ảnh:

Mùa xuân nhắn nhủ bạn điều gì?

“Tin vui là mắt bạn còn sáng, còn tốt
Và bạn còn có thì giờ để ngắm trời xanh.”

Tia nắng ấm khẽ lay, đánh thức mùa đông sau những ngày dài băng giá. Mùa xuân đã về, mang theo muôn vàn sắc thắm. Từng đàn chim bay trở về, báo hiệu mùa xuân trỗi dậy. Đất trời như chuyển mình, khoác lên chiếc áo mới rực rỡ. Những cánh rừng khẳng khiu, trơ trụi trong ngày đông bắt đầu tách lớp áo nâu sẫm, nứt nẻ, để nhường chỗ cho những chồi non xanh biếc vươn lên.

Những bông hoa khẽ đung đưa trong gió giữa không gian thênh thang. Hàng vạn bông thủy tiên vươn lên, trải một thảm vàng rực rỡ trên mặt đất. Những đóa daisy nở trắng xóa, điểm tô trên thảm cỏ xanh mướt dưới ánh nắng dịu dàng. Tiếng chim hót líu lo vang vọng, dệt nên bản hòa tấu vui tươi, rộn ràng của đất trời.

Thiên nhiên đã vẽ nên một bức tranh tuyệt đẹp, tràn ngập sự nhiệm màu. Chỉ cần dừng lại một chút, lắng nghe, ngắm nhìn từng nụ hoa, từng chiếc lá… giây phút ấy, bạn đang thực sự sống cho chính mình. Thiên nhiên nhiệm màu đang nhắn nhủ, mời gọi bạn ghé thăm “Xứ sở của giây phút hiện tại.”