Bàn tay mẹ trong bàn tay con

Đây là trích đoạn chia sẻ của Thiền sư Thích Nhất Hạnh trong bài Pháp thoại nói chuyện với Viện Nghiên cứu Tôn giáo – Hà Nội ngày 18.01.2005 về chủ đề: Phật giáo Việt Nam ngày nay qua cái nhìn tương tức. Pháp thoại đã được phiên tả thành sách Cho Đất Nước Đi Lên.

                                       

 

Khi đi chùa, mình có thể cầu nguyện, lễ lạy, cúng dường, nghe Pháp, có thể bớt đi rất nhiều niềm đau, nỗi khổ. Nhưng báu vật quí giá nhất, châu báu bậc nhất mà mình tìm thấy trong đạo Phật là mình có thể tiếp nhận, hành trì để mình có thể tiếp xúc được với tự tánh không sinh, không diệt của chính bản thân mình. Cái đó gọi là Niết Bàn, tiếng Phạn là Nirvana, có nghĩa là sự vắng lặng, sự tắt ngấm. Vắng lặng ở đây có nghĩa là sự vắng lặng của những ý niệm, trước hết là ý niệm sinh và diệt. Bản chất của sự vật là không sinh và không diệt nhưng mình nghĩ rằng chúng có sinh và có diệt. Bản chất của sự vật là không tới cũng không đi nhưng mình nghĩ là có tới, có đi.

Tôi xin cống hiến quý vị một phép thực tập, chúng ta cùng làm cho vui. Ví dụ, bây giờ chúng ta nhìn vào hộp diêm này và nếu nhìn bằng con mắt thiền thì chúng ta thấy ngọn lửa (không đợi tôi quẹt que diêm lên mình mới thấy), ngọn lửa đã tiềm tàng trong những nguyên nhân của chúng nó. Đức Thế Tôn dạy rằng khi hội đủ những điều kiện thì cái đó phát hiện (phát hiện chứ không phải là sinh đâu nhé!). Nhìn kỹ cái hộp diêm này mình thấy rằng ngọn lửa trốn ở đâu đây, không phải chỉ ở trong hộp diêm mà nó ở ngoài hộp diêm nữa, ví dụ như là dưỡng khí ở ngoài. Nếu không có dưỡng khí thì đố mà ngọn lửa biểu hiện ra được. Tất cả những điều kiện để cho ngọn lửa phát hiện đầy đủ rồi, chỉ thiếu một điều kiện cuối là cử động của ngón tay thôi. Tôi nói: Này lửa ơi! Tôi biết em có đó, bây giờ em hãy biểu hiện đi. Ngọn lửa mới nói: Thầy giúp em một tay, Thầy quẹt một cái đi, em sẽ biểu hiện. Tôi mới quẹt và ngọn lửa bừng cháy. Ngọn lửa không phải từ không mà trở thành đâu, ngọn lửa biểu hiện khi các điều kiện hội tụ, nhân duyên đầy đủ. Nhân và duyên đầy đủ thì nó biểu hiện, nhân duyên thiếu thì nó ẩn tàng. Bây giờ mình hỏi ngọn lửa: Ngọn lửa ơi, em từ đâu tới và em đã đi về đâu rồi? Nếu mình lắng nghe với con mắt thiền, mình sẽ nghe tiếng trả lời của ngọn lửa: Quý vị ơi, em đâu có từ đâu tới! Em không phải từ phương Nam, phương Bắc, cũng không phải từ phương Tây, phương Đông tới, hễ khi nào những điều kiện nó hội đủ thì em biểu hiện thôi! Đó là sự thật, một sự thật rất khoa học. Hồi nãy tôi mới thấy em đó, em đã đi đâu rồi ngọn lửa ơi? Ngọn lửa trả lời: Em đâu có đi đâu đâu. Em cũng không đi về miền Bắc, miền Nam, miền Tây, miền Đông. Khi nào điều kiện không hội đủ thì em không có biểu hiện nữa thôi, em không có đi đâu hết! Đó là sự thực không tới cũng không đi, vô khứ vô lai, bất sinh bất diệt. Đó là bốn ý niệm sinh diệt khứ lai. Bản chất của sự vật là vô khứ vô lai, mà mình cứ nói là có khứ có lai cho nên mình không tiếp xúc được với tự tánh Niết Bàn của nó.

Chúng ta nhìn vào cậu con trai bằng con mắt thiền thì chúng ta thấy người bố, người mẹ trong cậu con trai, thấy đứa con là sự tiếp nối của cha, của mẹ. Cũng như khi nhìn vào cây ngô, chúng ta biết rằng cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô mà chúng ta mới gieo cách đây mấy tháng. Chúng ta thử hỏi hạt ngô năm xưa và cây ngô mà chúng ta đang thấy là một hay là hai cái? Nói hai thì không đúng, vì nếu không có hạt ngô thì làm gì mà có cây ngô, cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô. Nói một thì cũng không đúng tại vì hạt ngô có khác và cây ngô có khác. Vậy cho nên quan niệm một và quan niệm khác cũng không phù hợp với thực tại. Danh từ chuyên môn gọi là Phi nhất phi dị. Chúng ta quen suy tư với những phạm trù sinh diệt, tới đi, một khác và nhất là có không. Khi những điều kiện hội đủ, cái đó biểu hiện, ta gọi là . Khi những điều kiện không đầy đủ cái đó không biểu hiện mà ta gọi là không thì điều đó không đúng. Ví dụ bây giờ trong phòng này, không có máy để tiếp nhận những luồng sóng điện từ đài phát thanh Hà Nội thì chúng ta không thể nói rằng những chương trình của đài phát thanh Hà Nội không có. Những âm ba của đài phát thanh đang có mặt đầy dẫy ở đây, chúng ta chỉ thiếu một điều kiện để có thể nhận thức được nó. Vậy khi nó chưa phát hiện mà nói là không thì không đúng và khi nó phát hiện rồi mà nói là , cũng không đúng, tại vì tức là sự trái chống lại của không. Cho nên sự thực vượt thoát cả hai ý niệm có và không.

 

 

Một thi sĩ Tây phương đã nói rằng: Có hay không đó là vấn đề (to be or not to be that is the question) 11*. Trong ánh sáng đạo Bụt thì: to be and not to be, being and non-being, hữu thể và vô thể đều là ý niệm. Niết Bàn là sự vắng mặt của tất cả các ý niệm. Niết Bàn là bản chất của thực tại, Niết Bàn không phải là một cõi mà sau khi chết mình đi vào, đó là một tư tưởng rất sai lầm. Nếu có cái nhìn sâu sắc của trí tuệ ta có thể tiếp xúc được Niết Bàn ngay trong giây phút hiện tại, đó là bản chất không sinh không diệt, không tới không đi, không một không khác, không có không không. Khi đạt tới cái đó là chúng ta thành công trong sự tu học, chúng ta vượt thoát tất cả những lo lắng, những sợ hãi và chúng ta có một trí tuệ lớn (gọi là đại trí). Tịnh Độ cũng vậy, Tịnh Độ có mặt bây giờ và ở đây. Đức A Di Đà nếu mình muốn ngài có mặt, mình có thể tiếp xúc được bây giờ và ở đây.

Tôi có một người bạn họa sĩ, ngày xưa đã rời Việt Nam bằng một con đường rất là cực nhọc, đi làm bồi trên một chiếc tàu thủy để được qua bên Hoa Kỳ vì nghĩ rằng bên đó có cơ hội tiến thân hơn. Trước khi rời Việt Nam thì bà mẹ của anh vốn là một người không biết chữ, không biết triết học là gì có dặn một câu: Con ơi, khi con sang bên nớ, con nhớ mẹ, con hãy đưa bàn tay của con ra con nhìn thì con sẽ đỡ nhớ. Bà ta nói như vậy, giống như một nhà triết học. Trong những năm tháng lây lất ở quê người, mỗi khi nhớ mẹ, anh chàng họa sĩ đó đã đưa tay lên để nhìn cho đỡ nhớ mẹ. Trong quá trình tu học của tôi, tôi thấy rất rõ đây là một tuệ giác rất là lớn của những bà mẹ Việt Nam. Bàn tay này, mình nói là bàn tay của mình, cái đó cũng đúng nhưng kỳ thực bàn tay này cũng là sự tiếp nối của bàn tay mẹ, bàn tay cha cũng như cây ngô là sự tiếp nối của hạt ngô và hạt ngô là sự tiếp nối của cây ngô trước. Nhìn vào bàn tay của mình thì mình thấy bàn tay của mẹ, bàn tay của cha và bàn tay của tổ tiên đang có mặt trong bàn tay mình mà nói đây chỉ là bàn tay của riêng mình là không đúng, đây cũng là bàn tay của cha, của mẹ.

Hồi nhỏ khi còn thơ ấu có những lúc bị sốt, khát nước, khô cổ, nóng bức và khi mẹ đi vào, rồi để bàn tay của bà lên trên trán mình thì mình thấy dễ chịu một cách lạ kỳ. Đến khi mình lớn lên, mình rong ruỗi, mẹ không còn đó nữa, mỗi khi sốt, mình ao ước có bàn tay đó đặt lên trên trán. Theo tôi, bàn tay của mẹ vẫn còn, nếu mình muốn bàn tay đó đặt lên trên trán mình thì vẫn còn có thể được, dầu quý vị đã bốn mươi tuổi hay sáu mươi tuổi nhưng vẫn còn có bàn tay của mẹ. Quý vị chỉ cần đưa bàn tay lên và nhìn và thấy rằng: Mẹ ơi, con biết bàn tay tuy con nói là của con nhưng mà cũng là bàn tay của mẹ, nó là sự nối tiếp của bàn tay mẹ. Trong sự quán chiếu, trong sự thiền quán mình thấy rõ ràng bàn tay của mẹ đang còn có mặt cho mình. Trong tuệ giác đó, đưa tay lên mình thấy bàn tay của mẹ đang đặt trên trán mình một cách rất nhẹ nhàng và mình cảm thấy không khác gì bàn tay năm xưa.

Quý vị thử đi, quý vị sẽ thấy, tự tánh của mẹ mình là không sinh, không diệt. Mình đừng tưởng mẹ mình đã mất rồi, mẹ mình đang còn dưới những hình dạng mới và mình phải có tuệ giác mới có thể nhận diện ra được. Thiền tập có khả năng đưa tới trí tuệ để có thể vượt thoát những nỗi khổ, niềm đau trong đó có sự sợ hãi. Tuệ giác có thể giúp mình lấy đi hết tất cả những tri giác sai lầm của mình về mình và những tri giác sai lầm của mình về người khác, như vậy chúng ta tới gần nhau hơn và chúng ta không còn tiếp tục làm khổ nhau nữa. An lạc, hòa bình, hạnh phúc là chuyện có thể xảy ra một cách dễ dàng với trí tuệ đó.

Trong những năm tháng chúng tôi ở quê người chúng tôi đã từng tìm cách giảng dạy trao truyền kinh nghiệm, sự thực tập. Chúng tôi nghĩ rằng nếu người trẻ tuổi, những trí thức Tây phương có khả năng tiếp nhận và áp dụng trong đời sống hàng ngày của họ để chuyển hóa những nỗi khổ niềm đau thì người trẻ tuổi Việt Nam, người trí thức Việt Nam cũng có thể áp dụng được, thừa hưởng được giáo lý đó. Tôi thấy thế hệ trẻ của chúng ta không có được nền tảng tâm linh vững chắc như thế hệ trước.

Quý vị đi chùa, quý vị sẽ thấy các bậc lớn tuổi, họ có niềm tin nơi nền đạo đức cổ truyền rất là vững chãi. Chính niềm tin giữ cho mình không bị rơi vào hầm hố của sự tham nhũng, sự hư hỏng, sự trác táng. Nếu người trẻ không có được vững chãi đó, niềm tin đó thì họ có thể trở thành nạn nhân của sự hư hỏng, sự tham nhũng, sự trác táng. Nhưng làm sao để thế hệ những người lớn tuổi có thể trao truyền lại được cái vốn liếng, cái gia tài tâm linh đó cho người trẻ? Nếu chúng ta thất bại trong sự trao truyền niềm tin đó cho thế hệ trẻ thì chúng ta đã có tội với tổ tiên, với đất nước. Chúng ta đã không trao truyền được những gì quí giá nhất mà tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống đã trao truyền cho chúng ta.

Hố ngăn cách giữa hai thế hệ chúng ta phải lấp đi, sự liên hệ giữa cha con và mẹ con cần phải được thiết lập trở lại để thế hệ này có thể trao truyền những gì quí giá nhất mà chúng ta đã tiếp nhận được từ các thế hệ trước. Đó là niềm ưu tư của chúng ta. Chúng tôi mong rằng các vị trong giới học giả, khảo cứu, các vị văn nghệ sĩ đóng góp vào một tay để chúng ta có thể bảo tồn được gia tài tâm linh quí giá của chúng ta. Gia tài đã làm cho nước chúng ta giàu mạnh, đứng vững và có khả năng đánh bại tất cả những cuộc xâm lăng của phương Bắc như đời Lý, đời Trần.

 

Khoá tu Tiếp hiện và tập sự Tiếp hiện dành cho người Việt từ 09.05 – 16.05.2025

     Hân hoan trong tiết trời Xuân với nắng vàng ấm áp trải dài,  khắp nơi cây cối xanh tươi, muôn loài hoa đủ sắc màu hoà cùng chim muôn hát khúc ca thanh bình đón mừng mùa Bụt đản sanh thì từ ngày 09.05 – 16.05.2025 ở tại xóm Mới, Làng Mai – Pháp cũng đã vui mừng đón chào sự có mặt của quý vị thiền sinh ở nhiều quốc gia trở về tham dự khoá tu dành cho các Tiếp hiện và tập sự Tiếp hiện người Việt năm 2025.

Dòng tu Tiếp hiện đã được Sư Ông Làng Mai thành lập vào đầu năm 1966 tại Việt Nam và dòng chảy vẫn không ngừng phát triển đem một đạo Bụt dấn thân lan rộng ra khắp thế giới. Khoá tu là một cơ hội quý dành cho cả quý sư cô và quý vị thiền sinh trong suốt một tuần đã cùng nhau tham dự  những thời khoá tu sinh hoạt bằng tiếng Việt, cùng tu tập, cùng đóng góp đôi bàn tay làm đẹp thêm tu viện, chế tác thêm chất liệu của  hiểu biết và thương yêu. Đại chúng đã có những buổi ngồi thiền dù là ở trong thiền đường Trăng Rằm hay là ở trên đỉnh đồi mận đều tràn đầy năng lượng của sự tĩnh lặng, bình an. Những buổi sinh hoạt pháp đàm đã đem mọi người lại gần nhau hơn, ai cũng được lắng nghe và được chia sẻ trong không khí đầm áp tình quê hương, tình gia đình tâm linh. Những buổi thuyết trình về sự hình thành, phát triển cũng như sứ mệnh của dòng tu tiếp hiện và cũng có những buổi vấn đáp, tham vấn cùng học hỏi trao đổi những kinh nghiệm thực tập, kinh nghiệm xây dựng tăng thân cư sĩ địa phương tại các quốc gia, hay đôi khi đơn giản chỉ là có mặt cho nhau. Cùng nhau trở về nhà, ngôi nhà tâm linh.

Kính mời đại chúng cùng thưởng thức vài khoảnh khắc họp mặt thân thương của gia đình Tiếp hiện trong khoá tu vừa qua.

 

 

 

 

 

 

Phật đản 2025

Giờ phút linh thiêng
Đoá bất diệt nở ngay giữa vườn hoa sinh diệt
Nụ giác ngộ hé thành muôn hoa thi thiết
Ngài về đây học tiếng nói loài người
Đêm nao
Từ trời Đâu Suất nhìn về
Chư thiên thấy địa cầu quê hương tôi sáng hơn vì sao sáng
Và tinh tú muôn phương chầu về
Cho đến khi vừng đông toả rạng
Cho đến khi vườn Lâm Tỳ Ni biến thành chiếc nôi êm chào đón Bụt sơ sinh.
 
Vào ngày Rằm tháng Tư, Tứ chúng Đạo tràng Mai Thôn đã vân tập tại thiền đường Hội Ngàn Sao, chùa Cam Lộ, Xóm Hạ để mừng ngày Bụt Đản sanh và làm lễ Tắm Bụt sơ sinh. Trong giây phút này, chúng con tràn ngập niềm biết ơn và hạnh phúc khi Đức Thế Tôn – bậc tỉnh thức toàn vẹn đã xuất hiện giữa cuộc đời. Người đem ánh sáng trí tuệ để đưa đường dẫn  lối cho chúng con có một hướng đi sáng đẹp trong cuộc đời.

 

Cách đây trên 2600 năm, tại thành Ca Tỳ La Vệ, giữa loài người chúng ta và trên trái đất xinh đẹp này, một đức Bụt đã ra đời. Đó là đức Thích Ca Mâu Ni. Ngài là một con người như chúng ta, nhưng Ngài đã đưa sự tỉnh thức của Ngài lên đến mức độ cao nhất. Ngài đã trở thành một bậc tỉnh thức toàn vẹn. Ngài là một con người như chúng ta, nhưng Ngài đã phát huy khả năng hiểu biết và thương yêu của Ngài tới mức tột cùng. Ngài là đóa hoa đẹp nhất và quý nhất trong vườn hoa nhân loại. Ngài là một đóa hoa Ưu Bát Đa La, mỗi ba ngàn năm mới nở một lần.

Hôm nay được tắm cho Như Lai
Trí tuệ quang minh công đức lớn
Chúng sanh ba cõi đang chìm đắm
Được thấy trần gian hiện Pháp thân.

 

Lễ Tắm Bụt sơ sinh là cơ hội thắp sáng ý thức rằng trong mỗi chúng ta đều có em bé Bụt – hạt giống của tỉnh thức, hiểu biết. Những đoá hoa của tình thương, tha thứ, bao dung,… đang âm thầm hé nở trong vườn tâm mỗi người con Bụt. Chúng con nguyện mỗi ngày tưới tẩm những hạt giống tốt cho con và cho những người xung quanh. Đó cũng là cách chúng con tiếp nối bước chân Bụt, lan toả bình an và thương yêu đến mọi người.

Kính mời đại chúng cùng chiêm ngưỡng vài hình ảnh trang nghiêm trong ngày vui này:

 

Đi gặp những mùa hoa – Phần II

 TÌNH HUYNH ĐỆ – GỐC RỄ UYÊN NGUYÊN

 Từ Hiếu – Diệu Trạm, ngày 17 tháng 1 năm 2025

Sư Ông kính thương,

Sáng nay, Sư Ông có nghe thấy tiếng gọi của chúng con không? “Thưa Thầy, Thầy đang ở đâu? Con đang đi tìm Thầy…”. Về với hơi thở và bước chân, chúng con nghe được tiếng trả lời của Sư Ông. Chúng con nghe thấy được Sư Ông nơi ánh mắt sáng trong, nơi nụ cười thảnh thơi, nơi bàn tay nâng đỡ, nơi nhịp đập tràn đầy tình thương và ước nguyện làm đẹp cho cuộc đời. “Cúc cu, Thầy đây!”. Chúng con thấy Sư Ông trong con và ngoài con, trong từng sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị và sư em.

 

Có một dòng sông trong chúng con

Sư Ông biết không, khi về với Tăng thân, mỗi chúng con mang theo những bông hoa và vết thương từ quá khứ. Từ những bước đầu chập chững, Tăng thân cho chúng con trở về với sự hồn nhiên, bình dị của quê hương tuổi thơ để niềm vui ấy trở thành sức mạnh chữa lành những vết thương cũ. Chúng con được che chở trong tình Thầy và tình huynh đệ để vượt qua những khúc đường quanh co.

Với mong ước “xin nguyện làm dòng sông”, ý thức xây dựng tình huynh đệ trong chúng con trở nên thật sáng tỏ. Không có tình huynh đệ, không thương yêu và đùm bọc lẫn nhau, chúng con sẽ không thể hiến tặng được cho cuộc đời những mùa hoa. Chúng con học nhìn nhận quý thầy, quý sư cô, những người bạn đồng tu như người một nhà. Vì vậy mà những tiếng gọi “sư cha”, “sư mẹ”, “sư anh”, “sư chị”, “sư em” đã trở nên tự nhiên và thân thương hơn bao giờ hết. Đi như một dòng sông là nếp sống mà chúng con được tiếp nhận từ Sư Ông để xây dựng tăng thân Làng Mai và nối tiếp sự nghiệp của chư Tổ. Như Sư Ông đã từng dạy chúng con:

             “Công trình xây dựng ngàn đời

   Nhưng công trình, em xem, đã được ngàn đời hoàn tất.

Như vậy là khỏi xây dựng gì hết, phải không các con. Có thể là chỉ cần xây dựng tình huynh đệ. Nhưng tình huynh đệ mình đã có rồi. Nếu không tại sao mình đi qua được những khúc đường khó khăn như khúc đường Bát Nhã. Nhưng tình huynh đệ cũng cùng một chất liệu với bốn vô lượng tâm, xây dựng thế nào cho đủ. Chính Bụt và các vị Bồ tát đại nhân mà cũng đang còn tiếp tục nuôi dưỡng và nuôi lớn tình huynh đệ mà…Thứ tình này càng lớn thì hạnh phúc càng tăng. Có hạnh phúc nhiều thì ta hiến tặng được nhiều. Trồng rau, quét dọn, nấu cơm, rửa bát, xây cư xá, tổ chức khóa tu, dọn dẹp thiền đường, chùi cầu tiêu, chơi thể thao… tất cả là để nuôi dưỡng và làm lớn tình huynh đệ. Làm không phải để làm cho xong mà là để nuôi dưỡng tình huynh đệ. Ngồi thiền hay đi thiền cũng là để nuôi dưỡng tình huynh đệ.”

Chúng con thấy mình có trong tình anh em của Ngài Thanh Thái – Huệ Minh dành cho Sư Cố Thanh Quý – Chân Thật. Sư Cố đã được sư anh của mình làm lễ thế độ vào năm 1899 trước kim quan của Bổn sư. Tiếp nối hạnh nguyện của Thầy và chư vị Tổ sư, Ngài Huệ Minh đã dìu dắt, lãnh phần trách nhiệm hướng dẫn và nuôi dạy sư em theo tinh thần “quyền huynh thế phụ”.  Trong nhiều năm qua, quý thầy và quý sư cô đã thay Sư Ông làm sư cha, sư mẹ giáo dưỡng chúng con, mà cũng là những khung trời tình anh, tình chị bao la, nhẹ nhàng mà các sư em chúng con được tắm mát và bơi lội trong đó. Trong niềm thương ấy, chúng con thấy mình được lớn lên mỗi ngày.

Tiếp nối mùa hoa thương yêu đã từng nở rộ trong đời sống của chư vị Tổ sư, chúng con tiếp tục được lắng nghe những mẩu chuyện nuôi dưỡng đời tu từ tình thầy trò, tình huynh đệ qua lời kể của các sư cha.

Tình huynh đệ là một cái gì có thật

Chúng con được cùng với Sư cha Từ Tế trở về những năm 90 khi đất nước và chùa Tổ còn nhiều khó khăn:

“Thầy sinh ra trên mảnh đất này, thời những năm 1991, khi đất nước và chùa mình còn khó khăn. Năm năm, từ 1991 đến 1995 là khoảng thời gian đầu thầy đi tu và được sống hạnh phúc trong tình thầy trò, tình anh em. Mặc dù điều kiện thiếu thốn nhưng thầy trò, anh em sống bên nhau ấm cúng như một gia đình. Giờ mỗi người một phòng chứ hồi đó các thầy, các chú và các điệu đều ngủ chung với nhau, trên một cái sập cũ, ba người chung một cái mền. Mùa đông lạnh, chỉ kéo qua kéo lại đủ ấm thôi. Rất kỳ lạ là, sự tương kính của anh em với nhau rất đẹp, ai là anh, ai là em đều rõ ràng. Vì vậy trong đời sống tu học, thầy được bồi đắp rất nhiều tình cảm huynh đệ, thầy trò. Có khi thầy mắc lỗi với sư phụ thì Ôn la, nhưng gặp lại thì Ôn tới cầm tay, dắt đi chơi và cười khà khà. Hay trong giai đoạn khó khăn, thầy xin Ôn đổi môi trường nhưng Ôn không cho, đó chính là tình cảm thầy trò dành cho nhau. Có khó khăn chi thì cứ ở lại đây, rồi tình thầy trò, tình huynh đệ nuôi dưỡng, nâng đỡ sẽ giúp mình vượt qua được những lúc khó khăn, nhàm chán trong đường tu. Vậy nên một mặt, thầy duy trì sự thực tập của tự thân cho đàng hoàng và mặt khác, thực tập làm sao cho tình huynh đệ không bị sứt mẻ. Khi ngồi thiền hay tham dự thời khóa, thầy có mặt đàng hoàng, hết lòng. Sự thực tập đó nuôi dưỡng được huynh đệ và mọi người xung quanh. Chỉ có mặt trọn vẹn mà không để tâm phán xét và thông cảm được với sự vắng mặt của người khác. Khi thầy có vấn đề, không đi thời khoá được thì người khác cũng hiểu được nguyên do và không đòi hỏi hay trách thầy tại sao.”

Thưa Sư Ông, chúng con rất biết ơn lòng khoan dung lớn rộng nơi sư cha Từ Tế. Sự chuyên cần, miên mật mà thầm lặng trong công phu thực tập của sư cha đã dẫn bước chúng con can đảm và dũng mãnh đi tới. Điều quan trọng nhất sư cha thường dạy chúng con là nuôi lớn được tình thương, niềm vui từ đời sống giữa các huynh đệ để tiếp tục con đường tu học. Từ đó, chúng con học cách cân bằng bốn yếu tố: tu, học, chơi và làm việc để sống với các chị em sao cho vui và hòa hợp. May mắn ở môi trường lành thiện này, những hạt giống phán xét, ganh tỵ, so sánh, kỳ thị, đòi hỏi, … trong tâm thức chúng con không có nhiều cơ hội để phát triển lớn mạnh, mà được nhận diện và chăm sóc ngay từ khi mới phát khởi. Sự ôm ấp, tình thương từ quý sư cha, sư mẹ đã tưới tẩm và nuôi dưỡng những vị tha, chấp nhận, bao dung nơi mỗi chúng con. Từ những gì tiếp nhận được, ai trong chúng con cũng đều có mong muốn thực tập để làm lớn lên hạnh phúc của chính mình và của tăng thân. Có những người bạn đồng hành, có người để nương tựa, để nâng đỡ và yểm trợ thì chúng con sẽ đi thật vững chãi trên con đường này. Đó là những cái thấy mà sư cha đã trao truyền cho chúng con từ kinh nghiệm đời sống tự thân:

“Dù không biết đời sống tu tập đạt đến ngang đâu nhưng trong lòng thầy phát nguyện không làm cho ai khổ. Mình không giúp người ta hạnh phúc thì đừng làm người ta đau khổ.  Nếu mình không có duyên đến với nhau thì thôi, chứ đừng nói nặng nhẹ và ghét những người mình chưa thương được. Còn chính bản thân thân thầy không lý tưởng mình tu đạt cái gì, miễn sao mình không làm người khác khổ, còn tu để thành gì thầy không quan trọng. Nếu có mặt chánh niệm trong mỗi giây phút, khi có tỉnh thức, có tình thương thì mình không gây khổ đau, mình biết làm những cái tốt hơn để giúp người khác hạnh phúc và tháo gỡ những khó khăn.”

Tuổi thơ làm điệu hạnh phúc đã âm thầm dung dưỡng và làm lớn dần cuộc đời tu của sư cha nên giờ đây chúng con có một người anh lớn đầy tình thương và sự che chở để nương tựa. Chúng con mong ước mình cũng sẽ truyền lại được tình thương yêu đó cho các thế hệ sư em sau này của chúng con.  

Trông nom lửa hồng bếp cũ

 Từ lớp học đến những buổi pháp đàm hay lúc được dịp ăn cơm, uống trà, chúng con thường được nghe sư cha Mãn Thành kể những mẫu chuyện bình dị ở chùa Tổ. Những câu chuyện đã luôn tiếp thêm thật nhiều lửa ấm cho trái tim ban đầu của chúng con:

“Với Mãn Thành, điều đẹp nhất ở đây là những người anh lớn. Các sư huynh làm anh rất đẹp. Mấy anh em nhỏ luôn coi các sư huynh là những vị thầy. Còn các sư huynh thì luôn hết lòng thể hiện là người anh thương những người em. Thầy Từ Đạo là người anh lớn thầm lặng. Sự quan tâm, lo lắng, có mặt hết lòng của thầy trong những sự kiện thường nhật và quan trọng của chùa Tổ làm cho các anh em theo đó mà có trách nhiệm chung tay, cùng có mặt với nhau. Thầy không dạy những điều “đao to búa lớn” mà bằng thân giáo qua nếp sống hằng ngày. Với những điều rất giản dị, làm đẹp những góc sân vườn: chăm nom từng cây già, trồng thêm nhiều cây mới,… Những gì mà quý vị đi trước giữ gìn, bây giờ quý thầy tiếp tục giữ gìn. Sự bao dung của thầy rất lớn và thầy không bao giờ đòi hỏi các em của mình. Có những buổi lễ Vía hay Chúc Tán, mấy anh em đi trễ rồi không kịp để thắp hương, thầy không nói gì, chỉ nhẹ nhàng đi lên thắp hương. Từ sự hết lòng, thầm lặng, không cần nói thành lời mà các anh em nhỏ tự nhiên phải nhìn lại mình, cố gắng hoàn thiện bản thân.  

Quý thầy là những người giữ lửa, vì thế mà chùa Tổ vẫn còn nhiều bếp lửa. Mỗi người anh là một bếp lửa. Không kể nắng mưa, mỏi mệt, đến giờ ngồi thiền là thầy Từ Tế vẫn luôn có mặt ở thiền đường. Thầy cũng không bao giờ đòi hỏi những người em. Lâu lâu có em nào lười nhác quá thì thầy nhắc một tiếng nhè nhẹ rồi thôi. Trước sự chuyên cần của thầy thì mình thấy tàm quý, xấu hổ khi chưa làm được như anh của mình. Khi người anh luôn đi tới, luôn có mặt như vậy, thì từ từ, người em học cách hoàn thiện bản thân. Đó là cái đẹp của chùa Tổ.

Vào trước một ngày cũng là anh. Đời sống giữa thầy Từ Đạo, thầy Từ Tánh, thầy Từ Minh, thầy Từ Tế và thầy Từ Hải,… cho mình học hỏi rất nhiều. Học được sự nhường nhịn, sự tôn trọng và những phép tắc. Khi anh mình dạy một việc gì rõ ràng rồi thì người em để tâm lắng nghe và tiếp nhận, chứ không phải biến sự việc trở thành một câu chuyện ồn ào. Giữa huynh đệ với nhau, sự tôn trọng đó là điều rất đẹp, đẹp nhất của chùa. Từ các anh lớn, các em nhỏ như vậy mà hành trì theo. Đó là đang giữ gìn nếp chùa.”

Sư Ông ơi, chúng con cũng mong ước mình có thể tiếp nối được đời sống mà quý sư cha tiếp nối từ Bụt và chư Tổ. Nhiều lúc chúng con cảm thấy mình thật nhỏ bé khi rơi vào trong vòng luẩn quẩn của những mặc cảm, hờn tủi. Nhưng chỉ cần nhìn lại để nhìn thấy nếp sống quý giá mà Tăng thân đang gìn giữ, chúng con nhận ra điều mình cần làm là vun bồi sức mạnh tự thân. Những chuyện khác đã có Bụt, Tổ lo. Mỗi giây phút là một cơ hội cho chúng con trở về với sự sống, tập chế tác thảnh thơi và tự do. Ý thức về điều đó giúp chúng con dừng lại được những tìm cầu xa xôi, làm lắng dịu hạt giống lãng tử vùng vẫy trong mình. Chúng con tập kiên nhẫn lắng nghe chính mình. Từng chút cởi bỏ những chướng ngại, ràng buộc để cắm rễ thật sâu vào đời sống này. Chúng con nguyện mỗi ngày vun đắp niềm biết ơn của mình cho sâu dày để có đủ hạnh phúc mà đi tới. Luôn tập nhớ sự có mặt quý giá của huynh đệ, và nhớ rằng chúng con đã về tới quê hương Tăng thân của mình rồi.

 Bình trà hoa mộc năm ấy

Mấy hôm nay, hoa mộc ở đồi Dương Xuân đang nở thật nhiều trên những “thân và cành đầy những chiếc vảy trắng mốc thếch”. Hương ngát tỏa ra, chỉ cần đang ở gần một cây hoa mộc tự nhiên sẽ nghe thấy. Nhớ ngày nào chú Phùng Xuân còn mỗi trưa hái xuống những bông hoa thơm để pha một bình trà dâng lên vị Thầy của mình. “Chú kính cẩn đứng bên để hầu trà, và cũng được uống trà với Sư Ông”. Mỗi khi nghe thấy hương hoa mộc là chúng con nhớ đến câu chuyện đượm tình thầy trò năm xưa. “Về chùa con sẽ tự nhiên trở thành chú Tâm Mãn. Và con cũng sẽ tự nhiên trở thành chú Phùng Xuân. Sẽ không có gì đi qua, và sẽ không có gì mất đi”. Bạch Sư Ông, giờ phút hạnh phúc lớn của người đệ tử năm ấy đã cho thế hệ chúng con gặp được vị Thầy từ bi, khả kính. Vị Thầy ấy giờ đây đang có mặt trong mỗi sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị của chúng con. Về chùa, chúng con tự nhiên trở thành người đệ tử nếm được thâm tình, đạo vị và sống những giờ phút hạnh phúc mới tinh mà lại giống hệt ngày xưa đó.

Sư cha Từ Hải đã kể tiếp cho chúng con nhiều câu chuyện về Sư Thúc – người Bổn Sư thương kính của sư cha. Tuy chưa từng gặp mặt Sư Thúc nhưng chúng con dễ dàng cảm nhận được tình thương yêu ấm áp của Sư Thúc nơi ánh mắt xúc động, nơi giọng kể trìu mến của sư cha.

“Ôn Trụ Trì là vị thầy mà Từ Hải học hỏi rất nhiều, Ôn rất nghiêm minh về giới luật và luôn chỉn chu, kỹ tính trong tất cả các công việc. Thời chưa qua Làng thì Ôn nóng tính lắm, Ôn thương các điệu nhưng rất nghiêm khắc. Các điệu thắp hương chỉ cần hơi nghiêng một chút thôi là không được. Ôn còn tự mình tập các bài tán, tụng cho các điệu. Nhưng chỉ cần Ôn la, nạt là các điệu sợ run. Vậy mà từ năm 2005 trở lại, Ôn không còn hành động như vậy. Thầy vui nhất là việc đệ tử được vào ngồi chơi, gần gũi và uống trà với Ôn. Trước đó không thể nào vào ngồi chơi hay uống trà với Ôn được đâu. Sự che chở, bao bọc, tình thương Ôn dành cho các sư cháu là một điều rất đẹp. Ôn có khi còn thương các sư cô hơn các thầy nữa (cười). Công nhận là hay thiệt. Không ai nghĩ Ôn thay đổi nhiều như vậy, chỉ ba tháng An Cư ở Làng thôi mà khi Ôn về chùa, ai cũng ngạc nhiên và ngưỡng mộ.

Ngày xưa Ôn Từ Hiếu nổi tiếng là khó nhất, một mình Ôn lo quản hết việc chùa. Khi Ôn tịch, quý thầy họp chúng kiểm tra có chi để lo đám, thì hóa ra là một số tờ tiền trong tủ đã nổi mốc luôn. Nghĩ lại thầy thấy thương Ôn. Bởi vì lo cho tương lai của chúng nên mới kỹ tính như vậy từ xưa giờ. Thế mà sau đó, Sư Thúc đã buông bỏ được những nỗi lo, giao hết tất cả các công việc cho quý thầy trực tiếp điều hành. Cái buông bỏ của Ôn là một sự thay đổi rất lớn. Vì sự chuyển hóa của Ôn đặc biệt như vậy nên thầy học hỏi được rất nhiều.

Những ngày cuối đời của Ôn, quý thầy thay phiên nhau túc trực trước khi Ôn mất. Ba đêm cuối cùng, thầy may mắn được có mặt trọn vẹn cùng Ôn. Mỗi khi đau, Ôn quàng tay ôm chặt lấy người thầy. Lúc ấy, thầy đứng một bên, nhẹ nhàng ôm Ôn. Dù rất đau nhưng Ôn không bao giờ thể hiện ra nhiều, chỉ khẽ nói: “Các con tụng kinh cho thầy nghe với”. Mỗi lần vậy là quý thầy tụng các bài sám rồi chuyển qua đọc những bài kinh trong Nhật tụng Thiền môn. Cứ liên tục như thế, ngày cũng như đêm. Mặc dù thân bệnh nhưng tâm Ôn thực sự giải thoát, tự do. Khi quý thầy tụng thì Ôn nằm lắng nghe và thở nhẹ nhàng”.

Quyết tâm nuôi lớn tình huynh đệ

Sư Ông thương kính, là những người con đất Tổ, chúng con luôn mang trong lòng niềm biết ơn đối với Sư Thúc, người luôn chở che, chăm sóc cho chúng con – những người con cháu của Ngài.

             “Quyết tâm nuôi lớn tình huynh đệ

              Đất thiêng rạng rỡ bước siêu trần.”

Từ lời gửi gắm của chư Bụt, chư Tổ và Sư Ông dành cho Sư Thúc mà chúng con đã được sống và lớn lên trong niềm hạnh phúc đong đầy. Bởi công trình xây dựng truyền thông, nuôi dưỡng tình huynh đệ, nghĩa thầy trò chính là những thành tựu Sư Thúc đã dày công vun đắp. Ngày hôm nay, tất cả con cháu của Sư Thúc vẫn đang tiếp tục sự nghiệp ngàn đời ấy, và chúng con có thể cảm nhận được rõ ràng điều đó trong nếp sống của quý sư cha chùa Tổ.

Chúng con nguyện cầu chư Bụt, chư Tổ, Sư Ông và Sư Thúc gia hộ độ trì cho chúng con tiếp nối được sự nghiệp cao đẹp của chư vị. Nguyện cho mỗi ngày chúng con đều được sống trong tình thương yêu, đùm bọc và che chở nhau như ruột thịt.

Hướng về Sư Ông với tấm lòng hiếu thảo và kính thương.

Chúng con, các sư bé Diệu Trạm của Sư Ông.

 

Nắng xưa đưa lối ta về

Trò chuyện cùng Sư cô Quy Nghiêm

 Sư cô Quy Nghiêm xuất gia năm 1999 tại Làng Mai trong gia đình xuất gia Cây Anh Đào. Từ trước khi xuất gia, sư cô đã được biết đến qua các bài thiền ca như Từng bước chân thảnh thơi, Thanh thản nẻo đi về… với pháp danh Tịnh Thủy. Nhân dịp sư cô về thăm Làng và dự khóa tu xuất sĩ tháng 9 năm 2024, Ban biên tập (BBT) cùng một số quý thầy, quý sư cô có cơ hội ngồi chơi và nghe sư cô chia sẻ. Dưới đây là một phần trích từ buổi chia sẻ này.

BBT:  Thưa sư cô, những nhân duyên nào đã đưa sư cô đến Làng và điều gì đọng lại trong sư cô nhất mỗi khi nghĩ về những ngày đầu tiên ấy?

Vào năm 1987, Quy Nghiêm đang ở Bỉ, chưa hề biết Sư Ông là ai, chưa hề biết Làng Hồng là gì. Lúc đó, có một người bạn biết Làng và muốn Quy Nghiêm về Làng cho biết. Quy Nghiêm nghe theo lời bạn và viết thư cho Sư cô Chân Không để xin về Làng. Làng Mai, thời điểm ấy có tên là Làng Hồng, được Sư Ông thành lập năm 1982 mà phải đến mùa Hè năm 1987, Quy Nghiêm mới có đủ duyên để được về Làng.

Quy Nghiêm về Làng thấy sinh hoạt ở Làng giống như một gia đình vậy. Hồi đó chỉ có một khóa tu vào mùa Hè thôi. Sư Ông cho biết lý do thành lập Làng Hồng là để có một nơi cho tất cả trẻ em người Việt sinh ra hoặc lớn lên ở nước ngoài tìm về gốc rễ và không bị quên gốc rễ của mình. Khóa tu tổ chức vào mùa Hè, vì vào thời gian ấy phần lớn các em mới được nghỉ học và có thể về tham dự.

 

 

Từ châu Mỹ, châu Âu, châu Úc, các em được gia đình tạo điều kiện tìm về Làng Hồng ở Pháp để được trao truyền về văn hóa Việt Nam. Các em được học tiếng Việt, cũng như được học về những phong tục Việt Nam như giỗ tổ tiên, lễ Trung thu, những hoạt động đặc trưng của Tết cổ truyền Việt Nam để các em được tiếp xúc với gốc rễ của mình. Đây là mục đích đầu tiên khi Sư Ông xây dựng Làng Hồng.

Trong tăng thân lúc đó có những vị là người Việt nhưng không hề biết tiếng Việt như sư cô Hương Nghiêm, thầy Pháp Dung, thầy Pháp Khâm. Sư Ông nói một người không có gốc rễ giống như một cô hồn, đi lang thang, không biết mình thuộc về đâu. Có một số vị về Làng khi còn rất nhỏ như thầy Pháp Hữu, sư cô Mẫn Nghiêm. Mùa Hè năm nào các em cũng về, được lớn lên trong môi trường ở Làng và sau một thời gian thì xin đi xuất gia.

Không khí của Làng như một gia đình Việt Nam rất ấm áp. Mọi người từ khắp nơi trở về và đến với nhau, kết nối với nhau rất dễ dàng, không hề xa lạ. Thành ra căn bản sự thực tập của Làng Mai là phải xây dựng tăng thân thành một gia đình vì không có nền tảng gia đình, mình sẽ khổ đau nhiều lắm. Khi Quy Nghiêm về Làng lần đầu tiên, có nhiều người Việt ở khắp các quốc gia cùng về, người nước ngoài cũng về. Dù văn hóa khác nhau, ngôn ngữ khác nhau nhưng sống với nhau như anh em một nhà.

Từ khi còn ở Việt Nam, Sư Ông đã có ước mơ xây dựng một đoàn thể tu học như một gia đình tâm linh sống với nhau có hòa điệu, có hạnh phúc để giúp chính mình và giúp đất nước. Tinh thần đó luôn được Sư Ông giữ gìn, bảo vệ và trao truyền. Thấy được điều này, Quy Nghiêm đã rất phấn khởi nên quyết định sẽ sắp xếp để quay lại Làng vào cuối năm 1987. Mặc dù chưa biết sẽ đi bao lâu và cũng không biết trở lại để làm gì, nhưng có một tiếng gọi gì đó rất thiêng liêng, thôi thúc đưa mình về đó.

Trong những năm đầu, ở Làng Mai rất ít người, ngoài Sư Ông là xuất sĩ, còn lại hoàn toàn là cư sĩ. Lúc đó, sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức còn chưa xuất gia. Cuối năm 1988, hai sư cô mới xuất gia cùng với một sư cô nữa là sư cô Chân Vị. Đó là ba vị đệ tử xuất gia đầu tiên của Sư Ông ở Làng. Bên cạnh đó còn có hai vị đến từ Thụy Sĩ là thầy Đại Nghĩa bây giờ, với bạn đời của thầy ấy, cũng từng là sư cô ở đây. Họ là những cánh tay giúp Sư Ông và sư cô Chân Đức rất đắc lực trong  những bước đầu xây dựng Làng Mai.

Làng lúc đó không được như bây giờ. Đời sống rất bình dị, thanh bần, ăn uống rất đơn giản và cũng không có hệ thống sưởi để sưởi ấm trong mùa đông lạnh giá. Rừng núi còn hoang vu lắm. Vậy mà không hiểu sao mình về Làng lại thấy rất hạnh phúc, không hề có một ý niệm gì về thiếu tiện nghi hết. Vốn dĩ đó là nông trại cũ được mua lại, toàn là những chuồng bò cho nên khi về đó mình phải làm việc, phải xúc phân bò ra. Thời gian đó mọi người đều làm việc rất nhiều để xây dựng Làng Mai.

BBT: Thưa Sư cô, bắt đầu từ năm nào thì Sư Ông dạy quý thầy, quý sư cô làm nhạc?

Khi Quy Nghiêm về Làng năm 1988, Sư Ông chưa dạy sáng tác nhạc. Hồi đó, Sư Ông cũng ở Sơn Cốc như bây giờ nhưng Sư Ông thường xuyên đến sinh hoạt cùng mọi người: ăn cơm, đi thiền hành.  Sư Ông hay kể chuyện nhưng Sư Ông không hề nói gì về hành trình của Sư Ông trước đây. Lúc đó cũng không có sách vở nào viết về Sư Ông nên mình hoàn toàn không biết gì về Sư Ông hết. Vậy mà sống với nhau, tình thầy trò rất đậm đà. Giống như Sư Ông nói, không phải tình cờ mà gặp nhau đâu, chúng ta đã có những liên hệ nào đó trong kiếp trước nên hiện tại nhân duyên đưa mình gặp lại nhau thôi. “Nắng xưa đưa lối ta về, mơ xưa đoàn tụ trời quê ấm lòng”. Đúng vậy, có duyên nên mình mới gặp nhau. Dù chẳng hề biết gốc gác gì của nhau mà vẫn thấy rất ấm áp.

Chỉ có bao nhiêu người đó thôi mà thời khóa vẫn giống như bây giờ: thức dậy sớm ngồi thiền, đọc kinh, đi thiền hành, chấp tác, pháp đàm,… Chừng đó người thôi mà cũng thay phiên nhau nấu ăn, dọn dẹp,… làm đủ việc như bây giờ không khác. Mọi sinh hoạt đều dưới sự hướng dẫn của sư cô Chân Đức. Lúc đó, không gian của nhà bếp xóm Hạ rất nhỏ, đó vừa là nơi nấu ăn, vừa là nơi ăn cơm, mà cũng là nơi Sư Ông dạy học. Mỗi lần Sư Ông dạy học là phải dẹp ghế, sắp đặt lại hết. Trong nhà chỉ có một lò sưởi rất cũ, đốt bằng củi cho nên mọi người phải vô rừng lượm củi. Thường thường củi không khô lắm cho nên mù mịt cả phòng. Tuy vậy, ai ai cũng rất hạnh phúc. Đời sống đơn giản hết sức mà hạnh phúc vô cùng. Không có ai than thở về tiện nghi cả, lạ lùng vậy đó.

Trong một buổi ngồi chơi, Sư Ông nói: “Ai muốn ở lại Làng thì phải biết hát. Muốn ở lại Làng mà không biết hát, không biết làm nhạc là không được”. Trước khi Quy Nghiêm đến Làng, chưa hề làm nhạc bao giờ hết. Khi về Làng, lần đầu tiên được nghe bài Ý thức em mặt trời tỏ rạng do cô Hà Thanh trình bày,  Quy Nghiêm cảm thấy chấn động, thấy tình yêu quê hương trong mình dạt dào. Qua bài hát, Quy Nghiêm cũng cảm được tấm lòng của Sư Ông đối với dân tộc. Sư Ông nói bài hát này Sư Ông làm ra khi bất ngờ nghe tin mình không được trở về quê hương  nữa. Lúc đó, khi ra nước ngoài để kêu gọi hòa bình và chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, Sư Ông chỉ chuẩn bị tinh thần đi một vài tháng thôi. Tất cả bạn bè thân thuộc, tăng thân của Sư Ông đều ở Việt Nam nên khi nghe tin không được trở về nữa, Sư Ông cảm thấy rất choáng váng, giống như cây bị bứng khỏi gốc rễ.

Sau này Sư Ông kể rằng suốt năm ngày sau khi nhận được tin, Sư Ông không chia sẻ với ai, chỉ đi thiền hành và thở thôi, không suy nghĩ gì khác. Thực tập miên mật như vậy Sư Ông mới lấy lại được bình tĩnh. Đó là vào năm 1966, khi Sư Ông bốn mươi tuổi và đã tu hơn hai mươi năm. Thành ra dù chúng ta có tu tập bao lâu cũng đừng coi thường chuyện trở về với hơi thở, với từng bước chân để lấy lại sự bình an. Trong bài hát Ý thức em mặt trời tỏ rạng, Sư Ông gợi lại hết tất cả những hình ảnh của quê hương để nuôi dưỡng mình. Ở nước ngoài, mọi thứ xung quanh rất xa lạ, nhờ vào tình yêu thắm thiết đối với quê hương và dân tộc giúp cho Sư Ông vượt qua tất cả. Đó là tinh thần của một người chiến sĩ.

Bài hát có câu “Bàn tay em gieo hạt cho mùa sang năm” khiến ta nhớ đến hình ảnh người gieo hạt lúc trời sẩm tối trong lời dạy về tâm của thiền sư Khương Tăng Hội. Ngài nói trong tâm ta có đủ loại hạt giống. Khi không thực tập chánh niệm, không ý thức được những gì đang làm, đang suy nghĩ, đang nói thì ta cũng giống một người đi gieo hạt trong bóng đêm, gieo tứ tung. Còn khi có tu tập, ý thức ta sẽ thắp sáng giống như mặt trời tỏ rạng. Khi đó, ta mới biết nên gieo hạt gì hay tưới tẩm hạt giống gì vào tâm thức. Chúng ta tương tức nên tất cả những lời nói, hành động, và suy nghĩ của ta đều ảnh hưởng lên mọi thứ xung quanh. Khi hiểu được ý nghĩa của tương tức, ta trở nên cảm thông, không đi gieo hạt tứ tung trong bóng đêm như ngài Khương Tăng Hội nói. Vậy nên mỗi lần hát bài này Quy Nghiêm cảm động lắm, thấy như một lời cảnh tỉnh bản thân vậy đó.

Qua bài hát, ta thấy được mình chỉ là một phần của tất cả những cái đang có mặt, tất cả mọi người đang có mặt. Chúng ta được nuôi lớn bởi tổ tiên tâm linh, tổ tiên huyết thống và tổ tiên đất đai. Khi làm ra một bài hát, ta thấy đó không phải là sản phẩm của riêng mình mà là sản phẩm chung của tất cả những đóng góp từ ngàn xưa tới ngàn nay.

Cách ta nói “bài hát của tôi” chỉ là nói trên phương diện tích môn, với ý thức là chữ “tôi” đó được làm bằng rất nhiều cái “không phải tôi”. Với ý thức tỏ rạng như vậy, dù ta có nói bài hát của tôi hay em tôi, nhà tôi, gia đình tôi, tăng thân tôi thì ta cũng không bị kẹt vào chữ “tôi” đó và không còn mặc cảm hơn, kém, bằng nữa. Bằng cách thắp sáng ý thức trong sự thực tập ta vượt thoát được tất cả những vọng tưởng sai lầm; nếu không ta sẽ cứ loay hoay, làm người đi vòng quanh, như Sư Ông từng nói: “Dù có ở bao nhiêu năm trong tu viện, tu bao nhiêu năm đi nữa, ta vẫn cứ luẩn quẩn trong những mặc cảm hơn, kém, bằng, rất tội nghiệp cho mình và cả cho đại chúng”.

 

 

BBT: Thưa Sư cô, bài hát đầu tiên mà Sư cô sáng tác là bài gì ạ?

Quy Nghiêm được ở gần Sư Ông rất gần gũi, thân tình, không có một sự ép buộc hay gượng ép nào từ phía thầy cũng như trò. Thầy trò sống rất dễ thương với nhau cho nên bài đầu tiên Quy Nghiêm làm là bài Thanh thản nẻo đi về mà mọi người hay gọi là Nhìn Thầy lòng thanh thoát. Bài hát này ra đời rất tự nhiên vào một hôm sau khi nghe Sư Ông hỏi: “Tịnh Thuỷ đã làm được bài hát nào chưa? Có thì mới được ở lại Làng đó nhé”.

Còn bài Cây sồi năm xưa ra đời bởi sự kiện cây sồi cổ thụ mà Sư Ông rất thương bị ngã xuống vào một năm bão to. Lúc đó, sắp sửa vào khóa tu mùa Hè, rất nhiều cây lớn bị ngã, có những cây sồi cổ thụ còn bị chặt đôi. Khu nhà Đồi Mận mới bắt đầu xây dựng cũng bị bay luôn cả mái ngói. Sư Ông nói với Quy Nghiêm: “Thầy muốn đi thăm một cây sồi rất nhiều tuổi rồi mà Thầy rất thương” rồi đi về phía sau mảnh đất mà bây giờ trở thành thiền đường Hội Ngàn Sao.

Hai thầy trò lên ngồi với nhau trên thân cây sồi lớn đã ngã và Sư Ông nói: “Con làm một bài hát cho cây sồi đi”. Bài hát ấy đã ra đời như vậy. Trong bài hát có câu: “Tôi vẫn khóc một ngày kia khi cây nằm xuống dù bao nhiêu cây khác sẽ lớn lên mạnh mẽ hơn, tôi vẫn khóc…” Cũng như các sư em đều là những cây con đang tiếp tục lớn lên của Sư Ông, nhưng mà khi một cây lớn như vậy ngã xuống thì mình vẫn không thể không thấy đau lòng.

Sư Ông thích bài đó và bài thứ hai là Từng bước chân thảnh thơi. Thời đó ở Làng, những con đường đi ra ruộng chưa có những căn nhà như bây giờ mà hai bên chỉ toàn là hoa hướng dương, đẹp lắm. Sư Ông và cả Quy Nghiêm đều thực tập thiền hành trên các con đường đó rất thường. Còn bài hát Mở thêm rộng lớn con đường được Quy Nghiêm phổ nhạc từ bài thơ Sư Ông làm tặng sư cô Chân Không khi Sư cô được xuất gia trên núi Thứu vào cuối năm 1988. Từ bên Ấn Độ, Sư cô Chân Không gửi bài thơ đó về Làng cho Quy Nghiêm và nói: “Em làm bài nhạc này cho chị”. Quy Nghiêm đọc bài thơ và rất cảm động, nhưng không bắt đầu từ câu đầu tiên là “Mái tóc vốn màu gỗ quý” mà lại ra nhạc từ “Gió reo trên triền núi Thứu, lòng nay thôi hết vấn vương”. Tự nhiên câu đó ra nhạc trước, còn những câu kia ra sau.

Chúng ta cứ tu cho đàng hoàng, tưới tẩm vào mình những hạt giống tốt thì tàng thức sẽ sắp xếp một cách mầu nhiệm. Khi học về Duy biểu, ta hiểu rõ điều đó. Sư Ông nói: “Con cứ tu cho đàng hoàng, còn lại cứ để Bụt lo”. Bụt chính là tàng thức của chúng ta. Chúng ta phải biết gieo hạt giống gì cũng như tưới tẩm hạt giống nào trong tàng thức. Chỉ cần lo tưới tẩm những hạt giống tốt cho nhiều thì những hạt giống chưa tốt của ta cũng đồng thời được chăm sóc.

Lúc còn nhỏ, Quy Nghiêm có học một chút về nhạc lý, nhưng chưa hề làm nhạc và cũng chưa từng nghĩ là sẽ làm, nhất là làm nhạc về sự thực tập nữa. Vậy mà các bài hát cứ ra một cách rất tự nhiên, rõ ràng là Sư Ông đã truyền chất liệu đó cho mình. Sư Ông biết mình có những hạt giống nào thì Sư Ông sẽ tưới tẩm những hạt giống đó. Sư Ông dạy là Quy Nghiêm làm thôi, mà không hề đặt vấn đề gì với Sư Ông cả. Bây giờ Quy Nghiêm biết là có nhiều sư em làm thơ, làm nhạc hay lắm nên không để thời gian làm điều đó nữa, thế hệ mới nên làm.

BBT: Xin Sư cô chia sẻ cho chúng con về bài “Đầu cành dương liễu” mà Sư cô đã làm nhạc.

Có một buổi, Sư Ông vào phòng và đưa cho Quy Nghiêm một bản giấy  viết tay của Sư Ông với hai bài có tựa đề Đầu cành dương liễuTây phương không xa cách. Sư Ông chỉ nói: “Con làm nhạc cho Thầy”, mà không giải thích gì thêm. Lúc đó, Quy Nghiêm không biết đó là hai bài kệ và không biết một trong hai bài có xuất xứ từ bài Tán dương Quan Âm. Tuy không biết nhưng Quy Nghiêm cứ làm và xin Mẹ Quan Thế Âm giúp nên có thể bài hát đó là do Mẹ Quan Âm làm. Thành ra Quy Nghiêm thấy đúng là mọi chuyện cứ để tổ tiên trong tàng thức mình sắp xếp.

Khi Sư Ông đưa hai bài cùng một lúc, Quy Nghiêm làm nhạc cho bài Đầu cành dương liễu trước, còn bài Tây phương không xa cách làm sau và Quy Nghiêm chỉ hát cho Sư Ông nghe một lần trên Sơn Cốc thôi. Cho đến trong dịp tưởng niệm Sư Ông vừa rồi, lần đầu tiên đại chúng được nghe bài này, không phải do Quy Nghiêm hát mà từ giọng hát của ba sư em là Trăng Tường Thanh, Trăng Phú Xuân và Trăng Quang Chiếu ở Thái Lan. Đó là một bài kệ của các thiền sư trong thiền môn:

   “Tây phương không xa cách

   Tây phương trước mặt người

   Ngàn sông về biển lớn

   Trăng lặn vẫn bầu trời

   Chén thơm trà Hương Tích

   Bình ngát cơm Pháp Vân

   Phương trượng hiện thiền duyệt

   Xa mấy cũng thành gần

   Tuy an nhiên ngồi đó

   Nhưng lặng lẽ âm thầm

   Dù biết sinh tử huyễn

   Ly biệt vẫn thương tâm.”

 

BBT: Thưa Sư cô, chúng con từng nghe Sư cô làm thơ nhiều, chúng con cũng muốn học hỏi thêm về nghệ thuật làm thơ từ Sư cô.

Như Sư Ông nói, nghệ thuật nằm trong sự sống của mình. Mình sống và cảm nó rồi tự nhiên nó ra. Cho nên Quy Nghiêm ít để ý đến kỹ thuật lắm. Có một thời gian Sư Ông dạy làm thơ, cũng theo luật trắc bằng. Rồi Sư Ông nói cứ để cảm xúc của mình tự diễn bày chứ mình không cần phải ép. Giống như thơ của sư cô Hội Nghiêm vậy, Quy Nghiêm thật là phục. Còn thơ của Quy Nghiêm, khi nào nó ra thì cho nó ra, chứ không phải suy nghĩ chi hết.

Có những bài hát, Sư Ông dạy mình làm thì tự nhiên nó ra như bài Mặt trời như trái tim đỏ tươi hay là bài Ý thức em mặt trời tỏ rạng. Hồi đó ở xóm Hạ, mỗi sáng nhìn mặt trời lên đẹp lắm. Và mình cũng bị ảnh hưởng khi đọc quyển Trái tim mặt trời của Sư Ông. Mình cho tàng thức những dữ liệu nó cần bằng sự tu học thật của mình, tàng thức sẽ giúp mình giữ lại, khi cần thì sẽ biểu hiện, hay lắm.  Giống như người Nhật làm thơ Haiku, họ thấy cái gì thì tả cái đó, ngắn gọn nhưng chân thật.

 

 

Các sư em biết không? Sư cô Chân Đức học tiếng Việt là do Sư Ông dạy Sư cô phải hát. Vì toàn hát bằng tiếng Việt nên từ đó Sư cô rất giỏi tiếng Việt. Thế nên, các em chỉ cần hát thiền ca bằng tiếng Pháp cho nhiều rồi học tiếng Pháp sẽ khá. Hồi đó, sư cô Chân Đức cũng bị bắt làm mấy bài hát như “Breathe, you are alive”. Mình phải tiếp nối Sư Ông.

Sư Ông muốn tất cả đệ tử của mình là những tu sĩ đích thực và đồng thời cũng là nhà nghệ sĩ, một chiến sĩ. Bi, trí, dũng và chân, thiện, mỹ phải đi cùng với nhau. Thế nên trong đời sống xuất sĩ, chúng ta phải biết làm sao để giữ gìn chất tu của mình, đồng thời phát triển chất tu đó cho thanh thoát như một nghệ sĩ mà không cứng nhắc, không giáo điều.

Với tinh thần của một chiến sĩ, phải biết trang bị cho tự thân nhiều phương tiện để vượt qua những khó khăn, vượt thắng chính mình. Chiến thắng chính mình mới là vinh quang. Tất cả những khó khăn mình gặp, những trở ngại đến từ hoàn cảnh đều là những cơ hội để ta rút thanh gươm trí tuệ của mình ra, chứ còn thuận lợi và được ôm ấp quá, ta sẽ mềm như cọng bún. Cho nên các sư em ở trong điều kiện càng thuận lợi thì phải càng thận trọng. Mỗi người phải tự thắp sáng ý thức chánh niệm chứ không ai giúp ta được. Giữa bao nhiêu tiêu cực nếu ta vẫn giữ được  ánh sáng đó thì những tiêu cực khó ảnh hưởng đến ta. Giữa những thử thách mà ta vẫn giữ mình được, đi trọn vẹn con đường thì mới đích thực là con của Bụt, con của Sư Ông. Cho nên đừng sợ những khó khăn, trở ngại. Đó là những cơ hội để ta trở nên cứng cáp, vững vàng hơn và trở thành một chiến sĩ đích thực. Sư Ông, Sư cô Chân Không là tấm gương của những chiến sĩ. Chúng ta là người tiếp nối thì phải vững vàng tay kiếm, đừng coi thường bước chân, hơi thở của mình.

Chúng ta biết rằng Bụt là một tu sĩ, một nghệ sĩ và cũng là một chiến sĩ. Vì Bụt như vậy cho nên học trò của Bụt cũng như vậy. Sư Ông là một người tu đồng thời cũng là một nghệ sĩ và là một chiến sĩ. Và chắc hẳn Sư Ông cũng muốn học trò của Sư Ông tiếp tục đi theo dòng chảy mà Bụt đã trao truyền.

Làm thế nào để thực sự yêu thương chính mình?

Trích buổi vấn đáp ngày 06/06/2014 tại xóm Mới, Làng Mai (được chuyển ngữ từ tiếng Anh)

Điều đầu tiên, bạn hãy thở vào một cách có ý thức và nhận ra rằng: mình đang có một thân thể.

Thở vào, tôi biết rằng mình đang có thân thể này. Thân thể này là một phần vô cùng quan trọng của bạn.

 

Có thể bạn đã từng ngồi trước máy tính suốt hai tiếng đồng hồ, cảm thấy căng thẳng mà không biết cách dừng lại. Trong suốt khoảng thời gian đó, bạn quên mất rằng mình có một thân thể đang hiện hữu. Bạn đang tìm kiếm một điều gì đó trong tương lai hoặc trong công việc. Nhưng trong khi đó, thân thể bạn lại phải âm thầm chịu đựng sự mệt mỏi và khổ đau.

Vì vậy, hành động đầu tiên để thể hiện tình thương với bản thân là thở vào thật sâu và trở về với ngôi nhà của chính mình – thân thể này. Thở vào, tôi biết mình đang có thân thể này. Xin chào, thân thể của tôi! Mình đã trở về rồi đây! Mình sẽ chăm sóc bạn.

Chính sự ý thức về thân thể là điểm khởi đầu cho tình thương. Khi tâm trở về với thân, cả tâm và thân cùng có mặt trong khoảnh khắc hiện tại, và bạn có thể nhận ra hai điều quan trọng qua sự thực tập thở chánh niệm.

Điều đầu tiên, bạn sẽ nhận ra rằng thân thể này là một điều kỳ diệu. Bạn cần tự mình khám phá ra điều ấy. “Body is a wonder.” Các nhà sinh học và nhiều nhà nghiên cứu đã cố gắng tìm hiểu về cơ thể con người – một kiệt tác nhiệm màu của vũ trụ. Thân thể không chỉ là phương tiện để bạn sống, mà còn là nơi lưu giữ lịch sử của vũ trụ trong từng tế bào.

Bạn có thể cảm nhận được sự hiện diện của tổ tiên – không chỉ tổ tiên loài người mà còn của các loài động vật, thực vật. Họ vẫn đang sống trong bạn, qua cả những điểm mạnh và điểm yếu. Có thể bạn đã từng xem thân thể là điều hiển nhiên, nhưng thật ra nó chính là một phép màu.

Bộ não của bạn – phần Neocortex (tân vỏ não) – là một cấu trúc tinh vi. Vũ trụ đã phối hợp để tạo nên một điều diệu kỳ như vậy, chính là cơ thể con người. Nếu bạn có thể kết nối với thân thể, bạn cũng đang kết nối với toàn thể vũ trụ – với tổ tiên quá khứ và cả những thế hệ tương lai đã có mặt trong bạn và sẽ tiếp tục biểu hiện.

Vậy, bạn có khả năng trân quý điều kỳ diệu ấy – cơ thể của chính bạn – hay không?
Đất Mẹ hiện hữu trong bạn, không phải chỉ dưới chân bạn hay quanh bạn, mà ở ngay trong cơ thể bạn. Trời Cha cũng ở trong bạn – bạn được tạo nên từ ánh nắng, không khí, nước tinh khiết. Khi bạn nhận ra và trân quý sự thật này, bạn sẽ có được niềm hạnh phúc sâu sắc.

 

 

Thở vào thật sâu, tôi biết mình có thân thể này. Và bạn sẽ bắt đầu tận hưởng niềm vui khi được kết nối với thân thể, với dòng lịch sử sống động trong mình. Bạn sẽ cảm nhận được sự hiện diện của tổ tiên huyết thống. Thân thể bạn chứa đựng thông tin kỳ diệu của vũ trụ. Sự ý thức về thân thể giúp bạn chữa lành và nuôi dưỡng chính mình.

Điều thứ hai bạn sẽ nhận ra khi trở về với thân thể: có thể bạn đang mang trong mình những đau khổ, áp lực. Bởi vì bạn đã để cho căng thẳng và khổ đau tích tụ trong thân thể suốt một thời gian dài. Bạn đã quên mất việc yêu thương, chăm sóc chính mình.

Thở một cách có ý thức giúp bạn nhận diện điều đó. Và đột nhiên, bạn có mong muốn chân thật rằng: mình không muốn thân thể này đau đớn thêm nữa. Đó là lý do bạn thở ra để buông bỏ căng thẳng trong thân thể – một hành động của tình thương.

Những bài tập hơi thở chánh niệm đã được dạy trong Kinh Quán Niệm Hơi Thở.


Thở vào, tôi ý thức về thân thể mình; thở ra, tôi buông bỏ căng thẳng trong thân thể.


Đó là cách yêu thương bản thân một cách cụ thể. Nhận ra mình có thân thể, và chăm sóc nó bằng sự thư giãn, nhẹ nhàng và tỉnh thức. Khi bạn thực tập thở chánh niệm, bạn sẽ thấy có nhiều sự tươi mát, trị liệu đang có mặt nơi đây. Bạn có thể tự chế tác ra niềm vui, cảm giác hạnh phúc để nuôi dưỡng bản thân. Đó là hành động của tình thương.

Với những người thường xuyên thực tập chánh niệm, việc chế tác niềm vui và hạnh phúc không khó. Vì bạn luôn được bao quanh bởi những yếu tố tích cực và điều kiện hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại. Bạn hoàn toàn có thể tạo ra niềm vui và hạnh phúc thông qua hơi thở ý thức. Đó chính là cách yêu thương bản thân mình: Cho phép bản thân được nuôi dưỡng bởi sự an lạc.

 

 

Khi bạn có cảm xúc đau buồn, nỗi khổ trỗi dậy, bạn đừng chối bỏ. Hơi thở chánh niệm giúp bạn ôm ấp, nhận diện nỗi đau. Chỉ vài phút thở trong tỉnh thức cũng có thể làm dịu bớt khổ đau trong lòng.

Đây cũng là một hành động của tình thương – yêu bản thân bằng cách chăm sóc những cảm xúc trong lòng. Khi bạn nhận diện và ôm ấp nỗi đau, bạn có thể lắng dịu và vượt lên. Khi nhìn sâu vào bản chất của khổ đau, bạn sẽ thấy rằng nguồn gốc của nó có thể đến từ cha mẹ, tổ tiên.

Khi hiểu được khổ đau của bản thân, bạn sẽ hiểu hơn về cha mẹ, tổ tiên – những người cũng từng chịu khổ như bạn. Hiểu khổ đau sẽ mang lại lòng từ bi – một năng lượng chữa lành mạnh mẽ. Và bạn sẽ bớt khổ đau. Khi bạn bớt khổ đau, bạn cũng có thể giúp những người thân của mình – con cái, cha mẹ, người bạn đời – vơi đi nỗi sầu muộn.

Nếu bạn thấu hiểu được khổ đau của họ, bạn sẽ được thúc đẩy bởi năng lượng từ bi từ bên trong để làm điều gì đó giúp họ bớt đau khổ. Khi họ bớt đau khổ, bạn cũng sẽ thấy nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn. Đó chính là cách để yêu thương bản thân. Bạn sẽ không thể thật lòng thương người khác nếu chưa biết cách thương chính mình.
Đó là lời dạy của Bụt.

Yêu thương bản thân là một điều cụ thể: Qua từng hơi thở chánh niệm, bạn buông bỏ căng thẳng, chăm sóc cơ thể, chăm sóc cảm xúc. Đó là con đường trở về, con đường của tình thương đích thực.

Hạt nước nhỏ xuôi về dòng sông

(Lại Thị Phương Thảo)

Bài viết là cảm nhận của một bạn thiền sinh sau khi tham dự tuần tu học với chủ đề : “Giáo viên hạnh phúc thay đổi thế giới” tại xóm Mới, Làng Mai Pháp vào tháng 04.2025 vừa qua. Vốn là một giảng viên, trưởng bộ môn Pháp luật chuyên ngành- viện Pháp luật Kinh tế, luôn tâm huyết và có nhiều thao thức trong hành trình làm giáo dục cũng như truyền trao đến các thế hệ sinh viên trong thời đại xã hội mới. Một chuyến đi thật xa để khám phá, học hỏi thế giới bên ngoài nhưng thật sự đã trở thành một chuyến đi trở về với chính Phương Thảo, để cảm nhận vẻ đẹp thật sự của cuộc sống từ những điều đơn giản nhất. Ban biên tập xin chia sẻ bài viết đến đại chúng cùng cảm nhận.

Khi thấy chúng tôi, hai người Việt Nam bay một hành trình rất xa đến với miền Nam nước Pháp, các quý sư cô ở Làng Mai đều rất ngạc nhiên vì hình như cũng lâu rồi hiếm thấy người Việt Nam sang Làng Mai – Pháp. Phần vì Làng Mai có ở Thái Lan, gần và thuận tiện từ Việt Nam sang hơn. Phần cũng vì mỗi sự gặp gỡ trong cuộc đời đều là kết quả của trùng trùng duyên khởi, nên thực sự có thể đến được Pháp, về với làng là một nhân duyên vô cùng tuyệt vời của hai chị em. Quý sư cô nào gặp cũng hỏi: “Hai chị em ở tăng thân nào? Có sinh hoạt trong tăng thân nào ở Việt Nam không? Tăng thân nào giới thiệu hai chị em sang đây học?”. Chúng tôi chân thành trả lời: “Chúng em không sinh hoạt ở tăng thân nào, vì nhân duyên được biết đến thầy Thích Nhất Hạnh, có tìm hiểu qua các bài giảng pháp, các cuốn sách của Thầy nên yêu mến và theo dõi các thông tin của làng Mai. Khi biết Làng Mai tổ chức khóa học “Giáo viên hạnh phúc thay đổi thế giới” – một chủ đề chạm đến đúng nỗi niềm mong mỏi của hai chị em trong hành trình làm giáo dục, nên chúng em quyết định đăng ký sang học[1]. Rồi các quý sư cô ân cần chăm sóc, hỏi han “Hai chị em đã ăn gì chưa? Trong bếp còn ít đồ ăn của bữa trưa, hai chị em dùng tạm cho ấm bụng nhé!”. Ngày hôm sau, sư cô Định Nghiêm mang đến cuốn sách “Thiền trong lớp học” để tặng hai chị em, còn không quên tâm tình “để sư cô tìm thêm xem có cuốn nào hay nữa sẽ tặng thêm hai em nhé”. Đến ngày “lazy day” – ngày không có hoạt động học tập gì trong chương trình, mọi người có thể tự do tận hưởng khoảng thời gian cả ngày theo cách mình muốn, trong lúc hai chị em đang thơ thẩn đứng ngắm nhìn trời mây, một sư cô đi đến và hỏi: “Hai chị em là người Việt Nam ạ? Mấy nay biết có người Việt mình qua mà sư cô bận chưa có dịp gặp nói chuyện. Hai chị em rảnh không? Mình đi thiền hành quanh làng và cùng nhau nói chuyện nhé”.

 

 

 

Về làng – hai tiếng giản dị và bình yên ấy cứ ngân nga một cảm giác hoan ca trong tâm trí hai chị em từ lúc đăng ký thành công khóa học của làng. Và sau bao gian nan của con đường di chuyển từ Việt Nam sang Pháp, ngồi trên xe taxi của làng đón hai chị em từ nhà ga Saint Foy về Làng Mai, cảnh vật yên bình tuyệt đẹp hai bên đường vén dần ánh nắng, để rồi chào đón hai chị em là một khung cảnh vô cùng an lạc với hai tấm biển gỗ nhỏ bé khiêm cung nhưng đầy sức nặng lay động sự tỉnh thức của mỗi người: “I have arrived, I am home”“Xứ sở của giây phút hiện tại chào đón bạn”. Một cảm giác bình yên kỳ lạ như từ sâu thẳm trong tâm hồn đã bao lâu bị lãng quên nay được gọi về và tan chảy trong từng hơi thở, từng ánh nhìn, từng bước chân nơi đây. Về làng là về nhà – ngôi nhà tràn ngập năng lượng bình an luôn bao dung vuốt ve, chữa lành những tâm hồn đang nhiều những hoang mang lạc lối; rộng mở và vun đắp vững chãi thêm những tâm hồn đang nhen nhóm sự an lạc, tươi sáng trong cuộc đời.

Về làng là về với tăng đoàn, không phân biệt bạn ở tôn giáo nào, quốc gia nào, tăng thân nào. Mọi người đến đây là những dòng nước nhỏ, bình yên bên nhau góp vào dòng sông lớn. Không cần những lời thuyết giảng sôi nổi, chỉ một sự yên lặng hùng tráng, tất cả lặng lẽ đi bên nhau như một dòng sông – dòng sông chảy về sự hạnh phúc trong tỉnh thức. Trong không gian của sảnh ăn – nơi mọi bữa ăn của hơn năm mươi con người diễn ra trong yên lặng, không một lời nói chuyện, không một bước chân to, dùng bát thủy tinh, đĩa sứ và thìa inox nhưng vẫn không vang lên một tiếng động – bức thư pháp của Thầy treo ngay ngắn trên bức tường nơi chính diện “Ngày ấy bên nhau”. Tất cả những suy nghĩ dừng lại trong từng nhịp thở, lặng lẽ tận hưởng bữa ăn qua từng vị giác. Ngày ấy, những con người xa lạ từ khắp mọi nơi đã về đây, dưới ngôi nhà này và trở thành tăng thân của nhau. Nơi đây mọi hoạt động chia nhóm đều được gọi là từng family, các sư cô là sisters, các học viên là những friends. Chỉ với những tên gọi đơn giản đó thôi đã tạo nên một sợi dây gắn kết vô hình giữa những người mới gặp mà không cần phải trò chuyện hàn huyên quá nhiều.

Khi đến Làng Mai rồi, những câu hát trong bài thiền ca “Bạn và tôi” mà tối nào bốn mẹ con cũng bật và hát cho nhau nghe, giờ bỗng trở nên sáng rõ ý nghĩa và lay động trong từng câu chữ:

   Từ muôn phương, đi chung một con đường

   Đến nơi đây, dưới mái chùa yêu thương

   Bạn và tôi, chúng ta cùng chí hướng

   Về cùng nhau, đắp xây nên tình tăng thân.

 

   Ngày hôm nay, đang tu học hết lòng

   Nắm tay nhau đi như một dòng sông

   Nào cười lên, hát ca vì lẽ sống

   Thở đi cho sức vóc mãi thêm nồng.

 

   Dù mai, có thể muôn phương

   Bạn ơi hãy vững bước trên đường

   Không gian sẽ không chia cắt niềm tin

   Mình luôn vẫn mãi trong nhau

   Thuở hồng hoang cho đến thiên thâu

   Thời gian dừng trong hơi thở nhẹ sâu.

 

   Giờ này đây, em có cả đất trời

   Với trăng sao muôn loài cùng mọi nơi

   Mặt trời lên sáng tươi bình minh mới

   Mỉm cười trong bước chân an lạc thảnh thơi.

 

   Cùng nhau chung tay xây dựng thiên đàng

   Sống hoan ca đem cho đời bình an

   Hiểu và thương chúng ta làm nguồn sáng

   Thở đi thôi, là có cả kho tàng.

 

Khi biết hai chị em không ở tăng thân nào, quý sư cô đều nồng hậu chia sẻ: “Ở Hà Nội có nhiều tăng thân của Làng Mai lắm, để sư cô giới thiệu các chị em đến đó sinh hoạt cùng mọi người nhé”. Sự thực tập, rèn luyện nào cũng cần có một tập thể những người cùng mục tiêu, cùng chí hưởng để tạo nên sức mạnh cộng đồng, giúp mỗi cá nhân đi được lâu bền trên hành trình mình mong đợi. Giống như một câu nói quen thuộc đâu đó mọi người vẫn nói với nhau mỗi khi ý chí bị dao động: “Muốn đi nhanh thì đi một mình, muốn đi xa hãy đi cùng nhau”. Hoặc một chân lý giản đơn hơn, đó là cá nhân chúng ta rất dễ bị ảnh hưởng bởi môi trường xung quanh. Nếu chúng ta ở trong môi trường những người nóng nảy, dễ hờn giận, trách móc nhau, ít nhiều chúng ta cũng sẽ bị nhiễm những nét tính cách tiêu cực ấy. Nhưng nếu hàng ngày chúng ta tiếp xúc với môi trường an lạc, những con người hiền hòa, cùng nhau rèn luyện hơi thở, bước chân đi trong chánh niệm, chúng ta sẽ trở nên lắng dịu và nhẹ nhàng hơn. Vì sao ở Làng Mai mọi thứ lại bình yên đến thế? Vì Làng Mai được xây dựng và nuôi dưỡng bởi những năng lượng bình yên từ các sư cô. Bạn dù đang ồn ào huyên náo cười đùa cùng nhau, nhưng khi bước vào không gian nơi các sư cô đi lại nhẹ nhàng, nói chuyện với nhau từ tốn, chừng mực vừa đủ, thì bạn sẽ tự thấy mình cần phải giữ cho sự tĩnh lặng đó không bị phá vỡ. Bạn có thể chưa từng nghe tụng kinh, chưa từng hát thiền ca, nhưng khi một sư cô thỉnh chuông, các sư cô và những thiền sinh của Làng Mai cùng nhau hòa giọng, bạn cũng sẽ vững tin để ngâm nga theo, hòa cùng vào dòng sông ấy mà không lo bị bơ vơ và lạc điệu. Đó là sức mạnh của tăng thân và tăng đoàn. Sức mạnh của ý thức cộng đồng và sự cộng hưởng năng lượng tích cực của tập thể.

 

 

Mình vốn là một người khá tham. Không tham tiền, nhưng tham nhiều thứ, cái gì cũng muốn và lại là muốn ngay. Bạn bè, học trò đều luôn nói mình quá nhiều năng lượng, việc gì cũng thấy hăm hở và tràn đầy nhiệt huyết. Mình tự nhận thấy đó là một ưu điểm lớn của bản thân. Nhưng ngược lại ưu điểm ấy cũng dẫn đến nhiều nhược điểm như: mình hay ôm đồm nhiều thứ và chưa thực sự biết xác định thứ tự ưu tiên cho các vấn đề để buông xuống những điều không cần thiết. Và người hay tràn đầy năng lượng cũng là người dễ cả thèm chóng chán, dẫn đến việc duy trì một hoạt động gì đó lâu bền là điều khá hên xui. Nhược điểm này của mình đã được chỉ trúng trong cuộc nói chuyện khi dạo chơi cùng sư cô Tại Nghiêm. Khi mình hỏi: “Sư cô có thể bày cho em những sách gì của Sư Ông Thích Nhất Hạnh mà sắp xếp trình tự đọc như một lộ trình học hỏi từng bước cho người mới bắt đầu?”. Sư cô đã chia sẻ rằng: “Sách thì có rất nhiều, không chỉ riêng những sách do Sư Ông viết mà còn có rất nhiều đầu sách do các sư cô, sư thầy khác là học trò của Sư Ông. Nhưng trước mắt em cứ đọc hai cuốn đơn giản là “An lạc trong từng bước chân” và “Phép lạ của sự tỉnh thức”. Sau hơn 15 năm xuất gia, đến giờ hai cuốn sách này vẫn là hai cuốn gối đầu giường của sư cô. Chúng ta thường hay có những mong cầu lớn lao mà quên mất rằng những điều giá trị nhất thường là những điều đơn giản nhất. Và dù hành trình có dài đến đâu cũng phải bắt đầu từ những bước đi rất nhỏ. Nếu mình không bước bước đầu tiên, thì bao giờ mình sẽ có những bước tiếp theo? Em cứ đọc hết hai cuốn sách ấy đi, rồi những điều tiếp theo cần đọc sẽ tự nó đến và chờ sẵn em”. Bởi vậy, tăng thân chỉ là điều kiện thêm, không phải điều kiện cần và đủ. Điều kiện cần và đủ là ở chính mình, sự chuyên tâm, nghiêm túc tu tập của chính bản thân mình.

Nếu không có tăng thân là những người đồng tu, đồng chí hướng để yểm trợ cho mình, mình có thể sử dụng rất nhiều những thứ hiện hữu khác để nhắc nhở bản thân thực hành tu tập mỗi ngày. Đó là những thứ mang tính biểu tượng như: một chiếc vòng tay, một sợi dây chuyền với những chữ thư pháp “breath”, “smile”’, “heal” để luôn đeo bên mình; Hay một bức tranh thư pháp treo ở nhà với những lời nhắn nhủ đầy yêu thương “Love is every step”; “Smile to the cloud in your tea”; “Each step brings healing”; “Be still and heal”; “Peace begins gentle smile”; “Welcome to the kingdom of the present moment”; “Thở đi con”; “An trú thảnh thơi”; “Bước chân con hãy về thanh thản”, để khi bước chân về đến không gian gia đình, những nét chữ thư pháp giàu cảm xúc sẽ nhắc bạn đi cầu thang trong chánh niệm, nấu ăn trong chánh niệm, chơi với gia đình trong chánh niệm. Ngoài ra, trong khóa học “Happy teacher change the world”, mình được nghe các thầy cô ở nước Pháp trong phong trào Wake Up Schools trên toàn thế giới (Trường học Tỉnh thức – chương trình đem Chánh niệm vào trường học), chia sẻ về cách thức để tự mình rèn luyện tu tập thông qua bảng theo dõi cá nhân. Bảng đó được xây dựng tùy theo bối cảnh và nhu cầu của mỗi cá nhân, nhưng sẽ theo tinh thần đưa ra các đề mục luyện tập như: Mỉm cười, hơi thở, thiền hành, thiền ăn, thiền buông thư… Mỗi một đề mục sẽ có thang điểm chấm từ một đến năm. Bạn có thể làm hàng ngày, chấm điểm cho từng đề mục, để quán chiếu xem hôm nay mình đã thực hành được đến đâu. Bảng thực hành này có giá trị như một chiếc mỏ neo để nhắc nhở ý thức của bản thân, tự mình có trách nhiệm theo sát quá trình thực hành. Ngoài ra, bảng thực hành cũng có giá trị giúp chúng ta quán chiếu lại và biết được phần nào mình đã thực hành tốt, phần nào mình còn yếu và cần có những giải pháp để tăng thêm hiệu quả trong việc luyện tập.

Và có một sự thật rất giản đơn nhưng không thể phủ nhận, đó là may mắn mình có thể đến được Làng Mai một đôi lần trong đời, nếu tham gia tăng thân thì tính kỷ luật tốt cũng sẽ chỉ gặp được các bạn đồng tu một, hai lần trong một tháng; chỉ có chính bản thân mình là ngày nào mình cũng có thể đối thoại, trò chuyện, chia sẻ về sự tu tập của bản thân. Vậy thay vì hướng về những điều bên ngoài, tại sao bạn không bắt đầu từ sự quay vào bên trong, vun đắp nội lực tự thân? Khi có một cá nhân bước đi với từng bước chân thanh thản, từng hơi thở trị liệu, sẽ góp chung năng lượng tuyệt vời cùng những cá nhân đồng tu khác góp thành một dòng sông mát lành trong một nhân duyên nào đó khi gặp được tăng thân dành cho mình!

 

 

[1] Sau này, khi có dịp giao lưu chia sẻ và nghe chia sẻ từ bạn bè khắp các nước về Làng Mai tham gia khóa học này, chúng tôi mới thấy đó đều là những tâm tư chung của các thầy, các cô giáo – dù là ở bất cứ đâu (Pháp, Hà Lan, Đức, Mỹ, Ecuado, Anh, Tây Ban Nha) hay dạy ở bất cứ cấp học nào (Mẫu giáo, cấp một, cấp hai, cấp ba hay đại học). Tất cả đều biết đến thầy Thích Nhất Hạnh qua những bài pháp thoại trên podcast, nhận ra những chân lý vô cùng giản đơn nhưng sâu sắc và lay động tâm trí, nên mong muốn được về Làng Mai – về nơi Thầy đã xây dựng và bồi đắp những năng lượng tuyệt vời, để được tìm thấy cho mình sự hạnh phúc giản đơn mà bền vững, vững cho mình và sẽ lan tỏa cho những học sinh, những đồng nghiệp thân yêu của mình.

 

Chiếc lá

(John P. Hussman)

John P. Hussman, pháp danh Tâm Thật Hữu (Genuine Friend of the Heart), là Giám đốc của Hussman Foundation, một tổ chức có nhiều dự án cải thiện cuộc sống và giảm bớt khổ đau cho các nhóm dân số dễ bị tổn thương. Hoạt động của các dự án liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau: giáo dục, nhân quyền, sức khỏe toàn cầu, tình trạng vô gia cư, chăm sóc sức khỏe cho người lớn tuổi và hỗ trợ các bệnh liên quan đến thần kinh như chứng tự kỷ và Alzheimer. Kể từ năm 2002, John đã giúp thành lập và hỗ trợ nhiều dự án cho tăng thân Làng Mai. Bài viết được dịch từ tiếng Anh.

“Nếu một ngày nào đó có người nói với con rằng thầy đã qua đời”, Thầy ngưng lại một chút rồi mỉm cười nói: “thì con đừng tin”. Thầy hẳn nhiên sẽ thì thầm: “Điều đó không đúng đâu!”.

Khi tưởng nhớ về cuộc đời một người mà ta thương mến, ta có khuynh hướng đóng khung sự hiện hữu của họ trong hai mốc thời gian, sinh ra và mất đi: Thích Nhất Hạnh (1926 – 2022).

Hai mươi năm trước, tôi được gặp Thầy lần đầu tiên sau khi đọc rất nhiều sách của Thầy. Cuối cùng, tôi quyết định tham dự một khóa thiền tập do Thầy hướng dẫn. Lúc đó quỹ từ thiện của chúng tôi đang hoạt động giúp trẻ em có hoàn cảnh khó khăn ở rất nhiều trường học tại Việt Nam, cũng như ở vùng dọc biên giới giữa Thái Lan và Miến Điện. Thầy lúc ấy cũng đã quán chiếu về sự tiếp nối của mình và mong ước duy trì hoạt động bảo trợ cho việc đào tạo và nuôi dưỡng tăng thân xuất sĩ. Khi trò chuyện với Thầy, chúng tôi vô cùng ấn tượng trước cái thấy sáng tỏ và sự kiên định trong những quyết định của Thầy. Bằng cái nhìn sâu sắc với những gì đang diễn ra trong hiện tại, Thầy có thể thấy trước được những khả năng có thể xảy ra trong tương lai, để từ đó chọn cho mình một bước cẩn trọng trên con đường hành đạo.

Đối với Thầy, ngay cả những hành động, cử chỉ giản đơn cũng đều chuyên chở năng lượng chánh niệm và lòng biết ơn. Tôi còn nhớ lần được đi thiền hành cùng Thầy và Sư cô Chân Không quanh một vườn cây ăn trái. Chúng tôi dừng lại hái táo rồi cùng ăn bên nhau, tận hưởng sự có mặt của nhau mà không cần nói năng gì. Cả thế giới dường như ngưng đọng lại trong khoảnh khắc ấy. Hiện tại và chỉ hiện tại mà thôi!

Mỗi lần gặp lại, Thầy thường nắm lấy tay tôi. Thầy trò nhìn nhau trong chốc lát rồi cùng thở và cười với nhau. Cứ mỗi lần gặp gỡ, Thầy thường ban cho tôi một bài pháp ngắn. Mặc dù, có lẽ chúng tôi chỉ gặp được Thầy mỗi năm một lần, nhưng giọng nói của Thầy dần dà đi vào trong tôi. Tiếng Thầy đã trở thành tiếng lòng tôi và với thời gian, thành tiếng lòng của vợ, con và cả gia đình, bạn bè tôi. Những lời dạy của Thầy đã ảnh hưởng tương tự đến không biết bao nhiêu người. Lời Thầy như tiếng gọi đưa ta nhẹ nhàng trở về với giây phút hiện tại, tiếp xúc với những gì tốt đẹp trong ta. Truyền cảm hứng để ta thêm hiểu, thêm thương chính mình cũng như những người xung quanh và sách tấn ta từng bước trên con đường thực tập chánh niệm.

Thầy đã đóng vai trò một vị thầy tâm linh với nhiều niềm vui, sự nghiêm túc, tâm học hỏi và sự thiền quán sâu sắc. Khi giảng dạy, Thầy không những lấy ví dụ từ kinh điển mà còn trích dẫn tư tưởng của các nhà thần học, triết học cũng như các nhà văn nổi tiếng. Những ai đã từng đứng trên bục giảng đều có thể cảm nhận được niềm vui của Thầy khi đứng trước tấm bảng trắng giảng về các hạt giống trong tàng thức, về sự thấu hiểu – nền tảng của tình thương đích thực và tầm quan trọng của việc có mặt cho nhau – “Tôi đang có mặt cho bạn và tôi biết bạn đang có đó cho tôi”.

Hình ảnh thiên nhiên luôn có mặt trong những ví dụ của Thầy: cây cối, chiếc lá, hạt giống, cơn mưa, giọt nắng, con sóng, dòng sông, đám mây, bầu trời và mặt trăng. Và không kém phần quan trọng, cả trên bình diện thiên nhiên lẫn con người, Thầy luôn nhìn thấy điều tốt đẹp nhất trong mỗi sự vật và con người. Những phẩm chất Thầy nhìn thấy ở thế giới phản ánh những điều tốt đẹp trong tim Thầy, mà Thầy gọi là “tự tánh”. Khi nghe Thầy giảng, ta hiểu ra rằng những khái niệm như vô ngã, vô thường, tiếp nối, từ bi, bất bạo động, hòa giải, không phân biệt và tình thương, không phải là những khái niệm riêng rẽ hay trừu tượng, nhưng là những đúc kết tự nhiên đến từ sự quán niệm về tự tánh trong mỗi chúng ta – rằng bản chất của chúng ta là như nhau; rằng chúng ta tương tức. “Chúng ta trống không, nhưng không có cái gì? Không có một cái ngã riêng biệt mà lại chứa đựng toàn thể vũ trụ”. Sóng cũng đồng thời là nước.

Thầy buộc phải sống hàng thập kỷ lưu đày xa quê hương, một cái giá khá đắt cho những nỗ lực kêu gọi hòa bình, từ bi và không kỳ thị – dù đối với những người mà người khác có thể gọi là “kẻ thù”. Nhưng rõ ràng là giữa tất cả những bạo động, xung đột, thế giới vẫn đẹp và từ bi hơn nhờ có Thầy.

Là một vị thầy chân chính, Thầy không có xu hướng đưa ra những khái niệm cao siêu, làm cho sự giác ngộ trở nên cao tột, xa vời đối với các đệ tử của mình. Chỉ cần một bước chân đi trong chánh niệm là đã đủ để nói rằng “Con đã về. Con đã tới”. Mức độ chánh niệm trong ngày của ta dù chỉ mới một phần trăm thôi cũng không sao, cứ thực tập, rồi năng lượng chánh niệm sẽ từ từ tăng tiến. Không nhìn sự thực tập chưa hoàn thiện của ta là một sự thất bại, Thầy chỉ cho ta thấy ngôi sao Bắc đẩu và chỉ bày những phương thức thực hành đầy từ bi, bao dung, giúp ta chữa lành, tha thứ, chấp nhận và lớn lên. Và để thấy: Không có bùn thì không có sen.

Khi nghe Thầy giảng, ta không cần quán chiếu về tiếng vỗ của một bàn tay để thấy sự sống đang có mặt trong phút giây hiện tại và thấy vạn vật tương tức với nhau mà không có một cái ngã riêng biệt. Tôi vẫn nhớ rõ bài học như một công án mà Thầy đã truyền đạt cho chúng tôi trong một khóa tu. Đó là lúc Thầy vào bếp và thấy đệ tử đang nấu ăn. Thầy nhắc vị ấy trở về với phút giây hiện tại bằng câu hỏi “Con đang làm gì đó?”

“Dạ, con đang cắt cà rốt”.

Thầy mỉm cười nói: “Mắt Thầy còn tốt, Thầy thấy con cắt cà rốt mà. Con đang làm gì đó?”

Giống như vị thiền sư dạy đệ tử cách quán chiếu cây tùng trước sân, Thầy khai sáng cho đệ tử mình bằng những khích lệ về thực tập chánh niệm, tuệ giác và tương tức. Ta có thể tưởng tượng Thầy đang mong đợi nhìn thấy đệ tử của mình, tay cầm miếng cà rốt giơ lên và mỉm cười như ngài Ca Diếp trên hội Linh Sơn.

Đệ tử của Thầy đến từ khắp mọi miền và mọi nền tôn giáo nhưng Thầy luôn có cách chỉ dạy dung hòa được mọi sự khác biệt. Thay vì bị kẹt trong giáo điều hay một hệ tư tưởng, Thầy dạy đệ tử thấu hiểu về tương tức. Thầy không ngần ngại giảng về vũ trụ, Thượng Đế, Niết bàn và cõi Tịnh độ của Bụt trong cùng một bài giảng. Thầy không phân biệt gì cả. Nếu tất cả chúng ta đều có chung một cội nguồn, thì không có mong ước nào lớn hơn là chúng ta có đủ tỉnh thức để nhận ra tính nhân bản trong nhau.

Thậm chí khi nói về “cái chết”, Thầy cũng giảng một cách rất nhẹ nhàng. Thầy từng kể câu chuyện có một bé gái hỏi Thầy: “Thầy ơi, trong kiếp sau của Thầy, Thầy muốn trở thành gì?”. Sau một hồi suy nghĩ, Thầy trả lời: “Thầy thấy là Thầy có thể trở thành nhiều thứ lắm, là con bướm nè, là đám mây nè và cũng có thể là một bông hoa vàng nữa”. Rồi Thầy dí dỏm nói thêm: “và nếu con không chánh niệm, con có thể giẫm lên Thầy đó”.

Những giây phút bình dị bên Thầy là những khoảnh khắc đọng lại trong tâm trí tôi nhiều nhất. Khi tôi và Terri được làm lễ hằng thuận tại Làng, Thầy nâng lên một lá sen và chỉ cho chúng tôi thấy cọng lá sen tuy bị bẻ đôi nhưng hai đoạn vẫn còn dính nhau nhờ sợi tơ sen. Hay một lần vào giờ dùng cơm, Thầy bất chợt phá tan sự im lặng bằng cách trở đầu đũa, gắp vào chén tôi một món chiên. Rồi Thầy mỉm cười với ánh mắt sáng rỡ hào hứng và nói: “Đó là chiếc lá”.

Tìm thấy niềm vui từ những thứ rất đơn giản như chiếc lá khiến tôi nhớ lời tựa mà Thầy viết cho cuốn sách của Sư cô Chân Không, Learning True Love (tạm dịch: “Tình thương đích thực”):

Đó là vào năm 1966. Cuộc chiến tại Việt Nam đang ngày càng khốc liệt. Tôi mải miết nghĩ cách để kêu gọi chấm dứt chiến tranh, và nhiều khi không thể nuốt trôi miếng cơm nào mỗi khi nghe tin một trận chiến khốc liệt vừa xảy ra. Bữa đó, sư cô Chân Không đang chuẩn bị một đĩa rau thơm. Sư cô quay qua hỏi tôi: “Bạch Thầy, Thầy có thể cho con biết những loại rau thơm này ở miền Bắc gọi là gì không?”. Nhìn sư cô đang cẩn trọng đặt những nhánh rau vào chiếc đĩa lớn với tất cả sự chú tâm, tôi bỗng bừng tỉnh. Thầy trò chúng tôi trao đổi với nhau mười phút về những loại rau thơm ở miền Nam, Trung và Bắc. Tâm trí tôi thoát khỏi những suy nghĩ về cuộc chiến. Khoảng thời gian đó đủ giúp tôi lấy lại được sự cân bằng mà tôi đang rất cần. Nhiều năm sau, một người bạn Mỹ hỏi tôi: “Thưa Thầy, Thầy trồng rau và xà lách làm gì cho mất thời gian. Thầy dành thời gian đó để làm thơ có hơn không? Ai mà không trồng được rau xà lách, nhưng ít ai có thể sáng tác những bài thơ sâu sắc như thơ của Thầy”. Tôi mỉm cười đáp: “Bạn ơi, nếu tôi không trồng những cây xà lách thật chánh niệm như vậy thì tôi không làm ra những bài thơ như vậy được”.

 

 

Thỉnh thoảng Thầy kể về giây phút Thầy ngừng lại tất cả mọi việc đang làm để quán chiếu một chiếc lá.

Tôi hỏi chiếc lá: “Em có sợ mùa thu không, vì tới mùa thu, em sẽ phải rời cây?”. Chiếc lá đáp: “Dạ không. Suốt mùa xuân và mùa hạ em đã sống rất đầy đủ. Em đã giúp cây hết lòng để cây được sống. Em thấy mình trong cây. Em thấy mình là cây, em không phải chỉ là một chiếc lá. Khi em trở về đất, em sẽ tiếp tục nuôi dưỡng cây. Em chẳng có gì phải lo sợ cả. Khi em rời cành bay bổng trên không, em sẽ vẫy tay chào cây: Ta sẽ gặp lại nhau một ngày rất gần”. Chiếc lá vừa nói xong thì một ngọn gió thoáng qua. Chiếc lá bay lượn nhẹ nhàng trước khi rơi xuống đất.

Cũng như chiếc lá, Thầy không lo lắng gì về sự tiếp nối của mình. “Chúng ta ai rồi cũng già. Ai rồi cũng ốm đau bệnh tật”. Thay vì trốn tránh sự thật ấy, Thầy dạy chúng ta quán chiếu để sống cho sâu sắc và với lòng biết ơn. Khi Thầy bị bệnh và không thể đi được, cả đại chúng bao quanh giúp Thầy như “một bầy ong vui vẻ”, lời của Sư cô Chân Không. Tôi luôn nhớ một lời nhắn nhủ được dán trên thất của Thầy: “Khi đi, con nhớ đi cho Thầy”.

Trong những lần tới thăm Thầy sau cùng, Thầy nói chuyện rất khó khăn. Thầy trò chỉ đứng nhìn nhau, thở và mỉm cười, không cần một lời pháp nào cả. Rồi tôi nói: “Thưa Thầy con đang có mặt đây cho Thầy và con biết Thầy cũng đang còn đó cho con”. Ánh mắt Thầy sáng bừng và Thầy cười thật tươi.

Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng chúng ta đã “mất” Thầy rồi. Chắc hẳn Thầy sẽ thì thầm: “Điều đó không đúng đâu!”. Thầy luôn còn đây, trong đám mây, cánh bướm, bông hoa, chiếc lá, trong muôn vàn biểu hiện của cõi tịnh độ và trong bản môn. Tất cả những biểu hiện mầu nhiệm đó đang giữ gìn Thầy cho chúng ta.

“Thân này không phải là tôi. Tôi không kẹt vào nơi thân ấy. Tôi là sự sống thênh thang. Tôi chưa bao giờ từng sinh mà cũng chưa bao giờ từng diệt”. Thầy chưa bao giờ sợ hãi vì Thầy thấy rõ ràng sự tiếp nối đẹp đẽ và vô tận của mình nơi các đệ tử – xuất gia cũng như tại gia; trong mỗi hơi thở, nụ cười chánh niệm, trong những hành động, lời nói đầy bình an và từ bi đang lan tỏa như những gợn sóng trên đại dương.

Cho tình thương thêm sâu

(Phỏng vấn Marisela Gomez – tăng thân ARISE)

Marisela Gomez (Chân Biểu Tôn), giáo thọ cư sĩ của Làng Mai, là người đồng sáng lập tăng thân ARISE vào năm 2016. ARISE là từ viết tắt của “Awakening through Race, Intersectionality, and Social Equity”, tạm dịch là: “Tỉnh thức trong vấn đề chủng tộc, sự đan xen giữa nhiều hình thức phân biệt đối xử và các hoạt động vì công bằng xã hội”. Lấy gốc rễ từ truyền thống thiền tập Làng Mai, tăng thân ARISE cam kết thực tập chánh niệm trên tinh thần nhập thế để góp phần mang lại công bằng chủng tộc và xã hội. Bài phỏng vấn này được BBT thực hiện vào tháng 6 năm 2022 và được dịch từ tiếng Anh.

 

 

BBT: Chào chị Marisela, xin chị chia sẻ về hoàn cảnh ra đời của tăng thân ARISE và điều gì đã tạo cảm hứng cho chị trong việc xây dựng tăng thân này?

Marisela: Trong chuyến hoằng pháp của tăng thân Làng Mai tại Mỹ vào năm 2015, có một buổi chia sẻ chuyên đề về bình đẳng chủng tộc tại New York với chủ đề: Where Spirit Meets Action (tạm dịch: Nơi tình thương biến thành hành động). Tại tu viện Lộc Uyển cũng có một buổi chia sẻ về chủ đề này. Trong cả hai buổi chia sẻ đó đều có ý kiến cho rằng sự có mặt cũng như tiếng nói đại diện cho nhóm người da đen, bản địa và người da màu là chưa đủ. Ở Mỹ thường dùng từ BIPOC, viết tắt của “Black, Indigenous, and People of Color” để nói về người da đen, người bản địa và người da màu. Còn ở Anh thì dùng từ BAME (Black, Asian, and Minority Ethnic), nghĩa là: người da đen, người gốc Á châu, và người dân tộc thiểu số.

Trong tăng thân, cộng đồng BIPOC thường được đại diện bởi các xuất sĩ người Việt, nhưng vẫn còn rất hiếm người da đen, người Mỹ La Tinh cũng như người bản địa. Một số người trong cộng đồng BIPOC, trong đó có tôi, đã đặt câu hỏi: “Chúng tôi đang ở đâu và tại sao chúng tôi không có đại diện trong tăng thân?”. Khi đặt ra câu hỏi này, chúng tôi thường nhận được câu trả lời nôm na là: “Chuyện đó không quan trọng, vì thực ra chúng ta giống nhau, chúng ta tương tức và chúng ta là một. Nói như các bạn có thể gây chia rẽ trong tăng thân”. Nghe vậy chúng tôi rất đau lòng. Trong khi đó, những gì chúng tôi đối diện trong đời sống hàng ngày liên quan đến vấn đề chủng tộc vẫn không ngừng gây ra những vết thương cần được chữa lành. Lẽ ra tăng thân là nơi chúng tôi có thể làm được điều đó. Nhưng nếu chúng tôi mang những vấn đề này ra thì lại không dễ được đón nhận. Hầu hết các tăng thân ở Mỹ đều có người da trắng chiếm đa số.

Một ví dụ cụ thể là sau cái chết của Freddie Gray – một thanh niên da đen – tại Mỹ vào năm 2015, có rất nhiều các cuộc biểu tình với hàng ngàn người xuống đường phản đối hành vi tàn bạo của cảnh sát. Một người bạn da đen đã chia sẻ vấn đề này trong tăng thân, nơi người da trắng chiếm đa số, nhưng không hề có ai lên tiếng. Không chỉ những người da đen mà cả xã hội Mỹ lúc bấy giờ đang bị tổn thương. Người bạn ấy đã trực tiếp gặp tôi và nói rằng bạn ấy không thể tiếp tục sinh hoạt trong tăng thân vì cảm giác sự có mặt của mình không được thừa nhận và không được quan tâm.

Khi có khó khăn xảy ra trong cộng đồng BIPOC, liệu tăng thân chúng ta có thể ôm ấp được không? Nếu tăng thân không hiểu rõ về nỗi đau mà cộng đồng BIPOC đang chịu đựng thì làm sao có thể ôm ấp được? Nếu có một người trong cộng đồng BIPOC qua đời, đặc biệt là do bạo lực, chúng tôi mong muốn tăng thân có mặt và cùng chia sẻ với chúng tôi niềm đau đó. Nhưng nếu tăng thân không hay biết gì về chuyện xảy ra, chúng tôi sẽ cảm thấy bơ vơ và bị tổn thương.

Vì những chuyện như thế cứ tiếp tục xảy ra nên những người có kinh nghiệm dấn thân trong lĩnh vực công bằng chủng tộc và công bằng xã hội đã đến với nhau để thành lập nên tăng thân ARISE. Chúng tôi tập trung vào vấn đề về chủng tộc nhưng cũng quan tâm đến sự đan xen giữa nhiều hình thức phân biệt đối xử và các hoạt động vì công bằng xã hội. Mặc dù tập trung vào vấn đề phân biệt chủng tộc, chúng tôi cũng cố gắng lên tiếng về một số lĩnh vực khác bao gồm vấn đề về giới tính LGBTQIA+, người nhập cư cũng như tình trạng phân biệt giai cấp trong xã hội.

BBT: Thầy đã từng tổ chức các khóa tu cho người da màu. Nhưng hiện nay khi tăng thân tổ chức những khóa tu như thế, nhiều người đặt câu hỏi: những khóa tu này có đang tạo thêm sự chia rẽ?

Marisela: Trong những nhóm xen lẫn với người da trắng, khi tôi chia sẻ về niềm đau do kỳ thị chủng tộc gây ra, các bạn trong nhóm thường nói rằng tôi là người gây chia rẽ và tôi nên rời khỏi buổi sinh hoạt đó. Các bạn muốn tôi để lại niềm đau đó đằng sau cánh cửa trước khi bước vào buổi sinh hoạt, và làm như thể tất cả đều là một.

Nhưng trong không gian chỉ có những người thuộc nhóm BIPOC, chúng tôi có thể chia sẻ rất cởi mở về các sang chấn tâm lý (trauma) và những tổn thương của mình. Đồng thời chúng tôi không làm mất lòng những người bạn da trắng khi nói thẳng ra rằng sự phân biệt chủng tộc là có thật, và chúng tôi bị tổn thương trước những đặc quyền của người da trắng và sự thiếu ý thức của họ về điều này.

Người da trắng cũng cần có không gian riêng để có thể chia sẻ một cách thành thật mỗi khi họ nhận thấy mình có những hành vi kỳ thị chủng tộc. Khi không có không gian riêng đó, giống như tình trạng hiện giờ, mỗi khi người da trắng chia sẻ về những lời nói, hành động hoặc suy tư của mình về một người da đen hoặc da màu, chúng tôi lại bị tổn thương một lần nữa. Và như thế, những người bạn da trắng không dám chia sẻ nữa, bởi vì họ không muốn làm tổn thương những người bạn BIPOC. Cũng tương tự như vậy, những người bạn BIPOC không dám đề cập đến những vết thương mà người da trắng gây ra cho mình, vì sợ tổn thương những người bạn da trắng trong tăng thân.

Rốt cuộc, tất cả mọi người cùng ngồi đó và làm bộ như không có chuyện gì xảy ra và nghĩ là mọi chuyện đều ổn cả. Nhưng đó không phải là cách thực tập của chúng ta. Cách thực tập của chúng ta là chế tác, nuôi dưỡng hạnh phúc để có thể chữa lành và tạo không gian để chăm sóc những vết thương do phân biệt chủng tộc, những vết thương rất sâu trong lòng chúng ta, cũng như trong lòng tổ tiên chúng ta.

 

 

Ai trong chúng ta cũng có tổ tiên đã từng chịu khổ đau vì nạn phân biệt chủng tộc, xuất phát từ lòng tham và tâm phân biệt trong ta. Vì vậy, tất cả chúng ta cần ngồi cho yên để lòng mình mở ra. Và trong không gian đó, ta có thể mời khổ đau lên và nhìn vào nó, cảm nhận nỗi đau và chăm sóc nó. Một khi trong ta có nhiều tỉnh thức và bình an hơn, chúng ta có thể đến với nhau trong một tinh thần rất khác.

Nếu trong tôi còn đầy khổ đau, giận dữ vì sự phân biệt chủng tộc và xung quanh tôi toàn là người da trắng, có những lúc tôi sẽ vung vãi những khổ đau và giận dữ đó lên những người bạn da trắng của mình và làm cho họ tổn thương. Đó là lý do tại sao tôi cần có không gian để thở, để thiền hành. Tôi cần những người bạn cùng màu da, chủng tộc để cảm thấy an toàn hơn một chút. Để có thể nói ra, cảm nhận được nỗi đau, nhận diện những sang chấn đang biểu hiện ở điểm nào trên thân thể và chữa lành cho mình.

Hiện giờ, trong tăng thân ARISE vẫn có những người bạn da trắng, nhưng đa số là người da màu. Kinh nghiệm cho chúng tôi thấy rằng trong một nhóm mà đa số là những người bạn BIPOC, năng lượng của người da trắng không còn quá mạnh, và không gian được cân bằng hơn. Như thế, chúng tôi ít nhất cũng có thể nói ra được những gì trong lòng mình. Không gian riêng này rất quan trọng, cho đến khi cả người da trắng và người da màu đều tìm được sự trị liệu, cân bằng trong chính mình, và không gây thương tổn thêm cho nhau.

BBT: Theo chị, tăng thân Làng Mai có thể làm gì để giúp nâng cao nhận thức và hành động trong lĩnh vực bình đẳng chủng tộc và công bằng xã hội?

Marisela: Việc chúng tôi được mời để nói về tăng thân ARISE đã là một bước quan trọng. Ngoài ra, tăng thân cần tạo điều kiện thành lập các nhóm có cùng mối quan tâm (affinity groups) và chia sẻ thông tin này đến với đại chúng. Các bài pháp thoại về những khổ đau của nạn phân biệt chủng tộc cũng rất quan trọng. Chúng ta cần ý thức về những lĩnh vực mà bất công xã hội đang xảy ra.

Tăng thân ARISE vừa tổ chức một khóa học sáu tháng có tên là: “Chủng Tộc: Một pháp môn” (Race: A Dharma Door). Chúng tôi sử dụng giáo lý Tứ diệu đế làm cơ sở để trình bày sự phân biệt và bất công chủng tộc gây ra khổ đau như thế nào. ARISE cũng đã làm một bài quán nguyện dựa trên Năm Giới, chú trọng vào công bằng chủng tộc để làm rõ cách chúng ta có thể áp dụng tất cả các pháp môn để chấm dứt khổ đau này. Chúng ta đã có đầy đủ các phương tiện cần thiết.

Chúng ta cần chia sẻ giáo pháp như thế nào để mọi người đều thấy mình trong đó. Chánh pháp giúp cho tất cả mọi người tạo dựng không gian trong mình để trị liệu, nhìn rõ và hiểu được họ cần nuôi dưỡng điều gì, bên cạnh việc chăm sóc niềm đau, nỗi khổ của mình. Những người nghèo, những người đồng tính, hay những người bị khuyết tật, ta đều không thể bỏ sót bất cứ ai.

BBT: Điều gì là trở ngại lớn nhất trong việc xây dựng tăng thân ARISE?

Marisela: Ngay từ đầu chúng tôi nhận được rất ít sự yểm trợ. Chúng tôi phải thúc đẩy rất nhiều để thay đổi hiện trạng. Vì sao không có người da đen nào trong Hội đồng Giáo thọ khu vực Bắc Mỹ? Ít ai quan ngại về điều đó. Sau vụ George Floyd bị giết hại năm 2020, chúng tôi có nhiều cơ hội hơn để nói về những gì ARISE đang cống hiến và được công nhận là một phần chính thức của tăng thân Làng Mai.

Chúng ta đều là đệ tử của Thầy. Thầy luôn có ước nguyện làm mới đạo Bụt, và mong muốn một đạo Bụt vì con người. Ta cần làm mới đạo Bụt ra sao để mang lại lợi lạc cho tất cả mọi người? ARISE cũng là vì con người. Làm cách nào để chúng ta có thể đảm bảo rằng tất cả mọi người đều được tham dự vào tăng thân và được lợi lạc từ sự thực tập? Các nhóm như ARISE hình thành một cách tự phát, bởi vì tăng thân chưa nhìn ra được nhu yếu của chúng tôi. Nhưng chúng tôi phải đi tới, chúng tôi không thể chờ tới lúc tất cả mọi người trong tăng thân đều sẵn sàng được.

 

 

BBT: Khi đối diện với những khó khăn này, các anh chị đã nương tựa vào đâu?

Marisela: Chúng tôi nương tựa vào Thầy, vào hơi thở và bước chân của chính mình. Chúng tôi luôn tự nhắc mình giữ gìn sự tinh tấn và bền bỉ. Đa số chúng tôi đều chịu ảnh hưởng bởi nạn phân biệt chủng tộc. Vậy nên chúng tôi nương tựa vào chính trải nghiệm sống của mình, đồng thời nương tựa vào sự thực tập, bởi vì sự thực tập đã mang lại hiệu quả và sự chuyển hóa cho tất cả chúng tôi. Không phải chỉ có hiệu quả không, mà đó chính là tự do thực sự, tự do chân chính. Điều đó khiến chúng tôi ai cũng tận tâm, hết lòng với tăng thân này. Một điều rất rõ ràng là chúng tôi sẽ không dừng lại cho tới khi nào bất công chủng tộc không còn tồn tại.

BBT: Nhưng chúng ta biết là không bao giờ có thể chấm dứt hoàn toàn khổ đau trong cuộc đời này. Không có bùn thì cũng không có sen. Làm sao để ta vẫn đạt tới bình an thực sự trong khi khổ đau vẫn đang có đó?

Marisela: Đó là một câu hỏi khá hay, bởi vì bùn luôn luôn có ở đó. Vấn đề là: Làm sao ta có thể chuyển hóa được bùn? Nếu tôi vẫn tiếp tục khổ đau mỗi lần tôi gặp cảnh bất công, thì tôi vẫn còn chưa thực tập đủ. Chúng ta cần làm cho sự thực tập vững chãi trước, đánh thức sức mạnh tâm linh trong tự thân và gặp gỡ những người bạn lành. Đây là một trong những lý do vì sao chúng ta cần giúp mọi người tiếp xúc với sự thực tập để được chữa lành những khổ đau. Chúng tôi không muốn cứ sống trong tiêu cực, lúc nào cũng chỉ có toàn tin xấu. Chúng tôi muốn nuôi dưỡng niềm vui và sự nhẹ nhàng.

Cuộc sống luôn có những điều tươi đẹp. Ngay trong cái nóng oi bức vẫn có những cơn gió mát lành, hay một gốc cây râm mát để ta nương tựa. Sau một buổi pháp đàm của nhóm ARISE gần đây, một thành viên tham dự chia sẻ: “Tôi nhận ra rằng trong bất cứ giây phút nào tôi cũng có thể chế tác niềm vui để giúp mình chăm sóc những khổ đau”. Với năng lượng thương yêu và có mặt cho nhau, chúng ta không còn khổ đau khi cảm thấy: “Mình là người khổ đau duy nhất trên đời này”, hay “Chuyện này sẽ chẳng bao giờ kết thúc”, hay là “Chẳng ai quan tâm đến những khổ đau của mình”. Giờ thì ta đã có pháp môn thực tập và tăng thân. Sự chuyển hóa sẽ xảy ra và điều kỳ diệu sẽ đến khi ta thực tập.

Giờ đây cách tôi đối diện với sự phân biệt chủng tộc đã hoàn toàn thay đổi. Tôi không còn thấy ghét bỏ người da trắng nữa. Ngay cả khi có ai đó hành xử một cách kỳ thị với tôi, tôi cũng không nổi khùng như trước nữa. Đây là một sự chuyển hóa cực kỳ lớn đối với tôi. Tình trạng phân biệt chủng tộc vẫn chưa chấm dứt, nhưng bây giờ tôi cảm thấy mình có chủ quyền hơn trước. Tôi không còn bị lôi kéo, bị giật dây bởi con bò mà tôi đang cưỡi. Tôi đang đi thong thả bên cạnh con bò ấy.

BBT: Cảm ơn chị đã dành thời gian để chia sẻ và giúp mọi người hiểu sâu hơn về tăng thân ARISE.

Cánh cửa đã mở ra

(Lilian Cheung)

Lilian Cheung là giáo sư về dinh dưỡng tại đại học Harvard. Chị đã cùng Thầy viết nên cuốn sách “Savor: Mindful Eating, Mindful Life” (Ăn trong chánh niệm, Sống trong tỉnh thức). Dưới đây là chia sẻ của chị về những kỷ niệm và những điều chị học được từ Thầy. Bài viết được dịch từ tiếng Anh.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống đạo Bụt tại Hồng Kông, con đường đến với chánh niệm của tôi bắt đầu khá sớm. Trong tôi vẫn còn lưu giữ hình ảnh các vị xuất sĩ, những bài pháp thoại, những buổi lễ với lời kinh và tiếng kệ trầm hùng. Đứa trẻ trong tôi sớm ghi nhận ý niệm rằng thế giới này tràn ngập khổ đau, và ta cần sống trong tình thương và lòng từ bi để giúp làm vơi bớt khổ đau cho nhau. Một thông điệp quan trọng đến vậy mà thời điểm đó tôi chưa cảm nhận sâu sắc gì mấy.

Mãi đến hàng chục năm sau, tôi mới biết đến thiền sư Thích Nhất Hạnh và được tiếp nhận giáo lý của Thầy. Kể từ đó, cuộc sống của tôi có nhiều bình an hơn. Tôi cũng tìm thấy được ý nghĩa của cuộc đời mình khi phụng sự trong lĩnh vực y tế cộng đồng. Điều đó làm tôi mãi mãi biết ơn Thầy.

Cốc cốc cốc, mẹ có ở đó không?

Tháng 8 năm 1993, tôi nhận được một khoản tài trợ vài triệu đô la từ Quỹ Sam & Helen Walton Family để thực hiện chương trình nghiên cứu bốn năm về chế độ dinh dưỡng và hoạt động thể chất tại mười bốn trường công lập ở thành phố Baltimore, Mỹ. Dự án này là một cơ hội tuyệt vời, nhưng đồng thời cũng là một trong những giai đoạn khó khăn nhất trên con đường sự nghiệp của tôi. Danh mục những việc phải làm mỗi ngày cứ dài ra thêm và những mối lo lắng càng thêm chồng chất. Mỗi ngày tôi phải dậy sớm hơn để có đủ thì giờ làm việc. Hai tuần một lần tôi lại đi từ Boston tới Baltimore, đã vậy còn phải vất vả chăm ba con nhỏ ở độ tuổi từ 4 tới 14 tuổi.

 

 

Không bao giờ tôi quên được buổi tối hôm ấy. Sau giờ cơm, con trai lớn kể với tôi về những khó khăn mà cháu đang gặp ở trường. Nhưng tâm trí tôi lúc đó hoàn toàn bị xâm chiếm bởi công việc. Đột nhiên, cháu nói: “Cốc cốc cốc, mẹ ơi, mẹ có ở đó không?”. Khoảnh khắc đó cứa sâu vào tim tôi. Tôi nhận ra đến con mình mà mình còn không thể có mặt hoàn toàn cho nó. Tôi biết mình phải thay đổi! Khổ sở vì thiếu ngủ và những khối lo âu, càng ngày tôi càng thu mình lại, lòng tràn ngập cảm giác trống rỗng và vô vọng. Tôi chẳng thiết tha gì đến những hoạt động mình từng rất yêu thích. Tôi cũng chẳng đủ năng lượng để hoàn tất cái danh sách dài vô tận những việc cần làm. Lúc nào tôi cũng cảm thấy mệt mỏi.

Tôi phải tạm nghỉ việc một năm vì không thể làm được gì, nhiều lúc còn không thể ngồi dậy khỏi giường. Bác sĩ cho tôi uống thuốc an thần nhưng cũng không giúp ích được gì. Trong buổi tiệc tốt nghiệp tiểu học của con trai giữa, một người bạn rất thân thì thầm hỏi tôi: “Chị đang dùng thuốc trầm cảm đó à?”. Tôi nghe mà sốc vô cùng. Cô nói: “Nhìn mắt chị là em biết chị đang phải dùng thuốc. Chị thử thực tập thiền với nhóm chúng em xem sao”. Tôi đồng ý và ngồi thiền 30 phút với các bạn. Đêm đó, lần đầu tiên sau một thời gian dài, tôi đã ngủ say như một đứa trẻ.

Mở ra cánh cửa chuyển hoá

Mùa thu năm 1997, tôi nhận được một tờ quảng cáo cho khóa tu bảy ngày về Tâm lý học Phật giáo, “Mở ra cánh cửa trị liệu và chuyển hóa”, do thiền sư Thích Nhất Hạnh hướng dẫn. Không biết thiền sư Thích Nhất Hạnh là ai, nhưng trong tôi vang lên tiếng con trai mình khẩn khoản: “cốc cốc cốc”. Tôi nghĩ đây chắc chắn là cánh cửa tôi phải mở ra. Thêm vào đó, khóa tu còn được tổ chức ở Key West, Floria, một nơi tôi đang muốn đến thăm. Vậy là tôi đăng ký liền lập tức.

Khóa tu diễn ra dưới một cái lều lớn trong sân gôn. Khi các vị xuất sĩ bước vào, tôi rất ngạc nhiên khi thấy họ không phải người gốc Á châu như những gì mình tưởng sau những trải nghiệm về đạo Bụt từ thuở nhỏ. Rồi từ từ, tôi nhận ra và thực sự trân quý tinh thần bao dung, không kì thị trong những lời Thầy dạy. Nhờ vậy, những lời dạy ấy đã đến được với tất cả các tín ngưỡng, tôn giáo, màu da và quốc tịch trên khắp thế giới.

Thầy xuất hiện trên khán đài, bình thản bước tới tọa cụ của mình. Chưa cần nghe tiếng Thầy nói, chỉ cần thấy sự hiện diện của Thầy, tôi đã có cảm giác đây là một vị thánh. Trong khi nghe Thầy dạy, tôi bắt đầu cảm thấy trong mình có một sự biến chuyển. Trong một bài pháp thoại, Thầy giảng rằng khổ đau luôn có mặt ở đó. “Ta cần phải nhìn sâu vào khổ đau để tìm thấy con đường thoát khổ. Ta không thể trốn chạy khổ đau. Hạnh phúc và an lạc chỉ có thể tìm thấy ngay trong lòng khổ đau”. Là một người suốt đời sống trong sự lo âu, thường xuyên không cảm nhận được hạnh phúc, tôi rất xúc động khi nghe lời dạy đó. Cũng trong buổi chiều hôm ấy, Thầy mời đại chúng quán chiếu về năm câu hỏi:

  1. Mình nghĩ là mình cần thêm những điều kiện nào thì mới có thể hạnh phúc?
  2. Nếu những điều kiện đó không thể nào có thể thực hiện được, mình sẽ đau khổ cả đời sao? Nếu vậy, mình cần làm gì?
  3. Điều gì mang lại hạnh phúc cho mình ngay thời điểm hiện tại? Viết xuống những yếu tố hạnh phúc đang có mặt cho mình trong hiện tại.
  4. Mình cần sắp xếp đời sống của mình như thế nào để có thể nhận diện và được nuôi dưỡng bởi những yếu tố này trong đời sống hàng ngày?
  5. Đối với những điều mà hiện giờ mình chưa thích, mình có thể làm gì để dễ dàng chấp nhận những điều ấy hơn?

Khóa tu đã đem lại sự chuyển hóa hoàn toàn cho tôi và có lẽ cũng trị liệu cho nhiều người khác nữa. Tôi chứng kiến một thiền sinh bật khóc trong buổi pháp đàm đầu tiên. Khi chúng tôi hỏi thăm, anh kể rằng vợ anh đã bỏ đi không một lời giải thích. Đến ngày thứ ba của khóa tu, anh thôi không khóc trong pháp đàm nữa và khi ngồi ăn trưa với nhau trước ngày chia tay, anh đã cười cùng chúng tôi. Chỉ trong bảy ngày mà đã có sự chuyển hóa không thể ngờ được như thế!

Giờ chia tay kết thúc khóa tu ở Key West, Thầy có một lời nhắn nhủ đặc biệt: “Có lẽ nhiều người trong chúng ta đã nếm được một chút an lạc trong khóa tu này, nhưng nếu về nhà ta không giữ sự thực tập thì những an lạc đó sẽ tan biến hết”. Thông điệp này đã ghi sâu vào lòng tôi và tôi quyết tâm sẽ áp dụng những lời Thầy dạy vào đời sống của mình. Tôi bắt đầu thực tập chánh niệm mỗi ngày, dù có lúc tôi chỉ làm được nhiều nhất là 3% thời gian mình có. Vậy mà dần dà thói quen mới đã được hình thành, và tôi thấy mức độ chánh niệm của mình tăng lên theo năm tháng.

Những nhân duyên đưa đến cuốn sách
“Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức”

Trong tuần lễ ở Key West, Thầy đã dạy chúng tôi thực tập về hơi thở, bước chân và ăn trong chánh niệm.

 

 

Ăn trong chánh niệm? Suốt chặng đường nghiên cứu và học thuật trong ngành dinh dưỡng học, tôi chưa bao giờ gặp khái niệm này. Ta ăn trong chánh niệm không phải chỉ để có đủ sức khỏe mà còn để duy trì nguồn lương thực lâu dài cho các thế hệ tương lai. Đối với tôi, đó là một tuệ giác thật thâm sâu.

Về lại Boston, tôi hào hứng tìm hiểu xem khái niệm ăn trong chánh niệm đã từng được áp dụng ra sao trong vấn đề sức khỏe cá nhân và sức khỏe cộng đồng. Nghiên cứu các tài liệu khoa học, tôi thấy ăn trong chánh niệm đã được sử dụng trong cơ sở y tế để giúp chữa trị các chứng rối loạn ăn uống và xu hướng ăn uống vô độ. Dầu vậy, chưa từng có nghiên cứu nào tập trung đồng thời vào sức khoẻ của mỗi cá nhân và sức khoẻ của cả hành tinh. Vẫn tiếp tục thực tập chánh niệm và quán chiếu những lời dạy của Thầy về chủ đề này, năm 2008 tôi quyết định viết một cuốn sách về thực tập ăn trong chánh niệm, kết hợp các khía cạnh khoa học với triết lý đạo Bụt.

Trong quá trình tìm đọc tài liệu về chủ đề này, tôi nhận ra Thầy đã viết lời mở đầu cho nhiều cuốn sách của các tác giả khác viết về chánh niệm. Tôi quyết định thử thỉnh cầu Thầy viết lời tựa cho cuốn sách của mình. Buổi chiều hôm ấy, tôi gặp Thầy, sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức tại tu viện Rừng Phong ở Vermont để trình bày dàn ý cuốn sách. Một câu hỏi chợt đi lên ngay lúc đó và không hề dự tính trước, tôi đột nhiên hỏi Thầy: “Đằng nào trong sách con cũng sẽ trích dẫn tên Thầy hết trang này qua trang khác… sao Thầy không làm đồng tác giả với con luôn ạ?”. Tôi thấy nét mặt ngạc nhiên của sư cô Chân Không và sư cô Chân Đức, còn chồng tôi thì thúc cùi chỏ vào tôi, ngầm nhắc là hỏi như vậy không đúng chút nào. Sau một hồi lâu im lặng, Thầy quay sang tôi và nói: “Sao lại không được?”. Tôi kinh ngạc trước câu trả lời của Thầy và thế là hành trình cùng viết sách với Thầy bắt đầu!

Quyển Savor – Mindful Eating, Mindful Life (Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức) xuất bản năm 2010, được dịch ra 17 thứ tiếng và năm 2012 còn được đăng trên thời báo The New York Times trong một bài dài ba trang viết về ăn uống chánh niệm. Tôi quá ấn tượng khi thấy tác giả bài báo Jeff Gordinier thậm chí còn dành cả ngày ở tu viện Bích Nham để tự mình trải nghiệm thực tập chánh niệm nói chung và ăn trong chánh niệm nói riêng.

Điều rất đáng mừng là quyển sách ấy và những giáo lý của Thầy vẫn tiếp tục gây thêm tiếng vang. Gần đây, thông điệp Ăn trong chánh niệm để giữ gìn sức khoẻ cho ta và sức khỏe cho hành tinh này vừa được chọn cho một chiến dịch trong mười năm có tên là Our Planet Our Future (“Hành tinh của chúng ta, Tương lai của chúng ta”) hướng đến tiếp cận 1.5 tỷ người trên toàn thế giới. Các nhà tổ chức rất có cảm hứng với cuốn sách Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thức với cách tiếp cận rất cởi mở của Thầy – tín ngưỡng, tôn giáo nào cũng có thể đón nhận. Họ nói với tôi rằng ai cũng cần ăn. Vậy nên ăn chánh niệm chính là con đường lý tưởng có thể giúp mọi người trên thế giới thay đổi thói quen ăn uống vì sức khỏe của bản thân cũng như của cả hành tinh này. Hơn nữa, giải pháp ăn trong chánh niệm còn giúp đảm bảo đủ thực phẩm cho thế hệ tương lai. Đây là bài học Bụt đã tiên đoán và dạy ta trong kinh Tử Nhục.

Dạy nhân viên Google ăn trong chánh niệm

Trong nhiều năm, Tiến sĩ Walter Willett – Giáo sư và cựu Chủ nhiệm khoa Dinh dưỡng học tại trường Y tế Công cộng T.H. Chan thuộc đại học Harvard, đã tư vấn cho Google về chế độ dinh dưỡng cho nhân viên. Năm 2011, tôi nhận được một cú điện thoại của Olivia Wu, đầu bếp chính tại trụ sở Google ở Mountain View, tiểu bang California. Cô muốn tìm cách giúp các nhân viên Google giảm lượng đồ ăn tráng miệng trong bữa ăn. Tôi gợi ý cho cô nhiều cách để cải thiện chất lượng món tráng miệng và giảm khẩu phần nhưng Olivia báo cô từng áp dụng những cách đó mà tình hình không tiến triển gì mấy, bởi vì ở Google thức ăn được miễn phí cho nhân viên. Lúc đó tôi mới hỏi cô đã từng nghe tư vấn về phương pháp ăn có chánh niệm như đã giới thiệu trong quyển sách Ăn trong chánh niệm, sống trong tỉnh thứcchưa? Cô bảo chưa và hỏi liệu tôi có thể mời Thầy đến nói chuyện ở Google không. Tôi trả lời rằng tôi sẽ thử nhưng không chắc là mời được, vì Thầy chưa từng tổ chức khóa tu nào ở thung lũng Silicon. May mắn là đề nghị của Olivia đưa ra cùng với thời điểm Thầy đang hướng dẫn khóa tu ở tu viện Bích Nham. Thầy có vẻ thích thú với đề nghị đó. Thầy trả lời Thầy sẽ cho pháp thoại nếu như Google đồng ý để Thầy và tăng thân hướng dẫn nửa ngày thực tập chánh niệm ở đó.

Sự kiện này đã làm thay đổi hẳn văn hoá công sở ở Google. Nhân viên Google thực tập thiền, nghe pháp thoại của Thầy, hát thiền ca, rồi cùng thiền hành khắp khuôn viên của Google và ăn cơm im lặng trong chánh niệm. Những phép màu trong khóa tu tại Google được ghi lại qua đoạn video này: youtube.com/watch?v=Ijnt-eXukwk

Thầy vẫn tiếp tục biểu hiện

Tôi rất biết ơn vì đã có cơ duyên được tiếp nhận những lời dạy từ Thầy và tăng thân. Thầy là một vị thầy tuyệt vời, người đã hiện đại hóa những giáo lý đạo Bụt vốn tồn tại hơn 2500 năm qua. Nhờ những lời giảng của Người, chúng ta có thể thừa hưởng được lợi lạc từ sự thực tập chánh niệm và thấy được tầm quan trọng của bản chất tương quan, tương tức của vạn vật. Tuy sắc thân đã ẩn tàng nhưng Thầy vẫn còn sống mãi với chúng ta! Thế giới của chúng ta thực sự có phước lắm mới được tiếp nhận giáo lý và năng lượng của Thầy.