Bài 12 – Quán tưởng với sự tàn hoại sắc thân người thương

Bài 12 – Quán tưởng với sự tàn hoại sắc thân người thương

1.   
Thở vào, tôi thấy người mình thương nằm chết trên giường / Người thương
Thở ra, tôi mỉm cười nhìn xác người thương / Cười xác người thương

2.   
Thở vào, tôi thấy xác người thương tím bầm / Xác người thương tím bầm
Thở ra, tôi mỉm cười nhìn xác người thương tím bầm / Cười xác người  thương tím bầm

3.   
Thở vào, tôi thấy xác người thương phình ra / Xác người thương phình ra
Thở ra, tôi mỉm cười nhìn xác người thương phình ra / Cười xác người thương phình ra

4.   
Thở vào, tôi thấy xác người thương hôi hám / Xác người thương hôi hám
Thở ra, tôi mỉm cười nhìn xác người thương hôi hám / Cười xác người thương hôi hám

5.   
Thở vào, tôi thấy xác người Thương có ruồi nhặng và những con dòi lúc nhúc
/ Xác người thương có ruồi nhặng và những con dòi lúc nhúc

Thở ra, tôi mỉm cười nhìn xác người thương đầy ruồi nhặng và những con dòi lúc nhúc   
/ Cười xác người thương đầy ruồi nhặng và những con dòi lúc nhúc

6.   
Thở vào, tôi thấy người thương chỉ còn là bộ xương trắng hếu
/ Người thương là bộ xương trắng hếu

Thở ra, tôi mỉm cười với bộ xương trắng hếu của người thương 
/ Cười bộ xương trắng hếu của người thương

7.   
Thở vào, tôi thấy người thương chỉ còn là những xương tươi rải rác
/ Người thương khúc xương tươi rải rác

Thở ra, tôi mỉm cười nhìn những khúc xương tươi rải rác của người thương
/ Cười xương tươi rải rác của người thương

8.   
Thở vào, tôi thấy người thương chỉ còn là những khúc xương khô cứng
/ Người thương xương khô cứng

Thở ra, tôi mỉm cười nhìn những khúc xương khô cứng của người thương
/ Cười xương khô cứng của người thương

9.   
Thở vào, tôi thấy người thương chỉ còn là những khúc xương mục trở thành cát bụi
/ Người thương xương mục thành cát bụi

Thở ra, tôi mỉm cười nhìn những khúc xương mục trở thành cát bụi của người  thương        
/ Cười xương mục trở thành cát bụi của người thương

Bài tập này giúp ta thấy được sự thật là người thương của ta một ngày nào đó sẽ chết và ta không thể tránh được điều đó. Cũng như trong bài tập trước, các hình ảnh trong cửu tưởng quán có thể được thay thế bằng những hình ảnh đơn giản của sự quàng liệm, chiếc quan tài, lò thiêu, hũ tro, tro trộn với đất hoặc hòa trong nước sông hay nước biển.

Thấy được cái chết của người thương, ta sẽ có thể buông bỏ được mọi giận hờn và trách móc, và ta sẽ biết sống ngọt ngào với người đó, chăm sóc cho người đó và làm cho người đó hạnh phúc.Ý thức về vô thường sẽ được thắp sáng trong ta và hàng ngày ta sẽ không còn dại dột trong lời nói, việc làm và ý tưởng, để tránh gây thêm đổ vỡ và gieo tưới những hạt giống khổ đau trong người đó và trong ta.

 

 

Bài 02 – Buông thư toàn thân

Bài Tập Thứ Hai – Buông thư toàn thân

 

 

Thở vào, biết thở vào / Vào
Thở ra, biết thở ra / Ra

Hơi thở vào càng sâu / Sâu
Hơi thở ra càng chậm / Chậm

Thở vào, ý thức toàn thân / Ý thức
Thở ra, buông thư toàn thân / Buông thư

Thở vào, an tịnh toàn thân / An tịnh
Thở ra, lân mẫn toàn thân / Lân mẫn

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, thanh thản toàn thân / Thanh thản

Thở vào, cười với toàn thân / Cười
Thở ra, buông thả nhẹ nhàng / Buông thả

Thở vào, cảm thấy mừng vui / Mừng vui
Thở ra, nếm nguồn an lạc / An lạc

Thở vào, an trú hiện tại / Hiện tại
Thở ra, hiện tại tuyệt vời / Tuyệt vời

Thở vào, thế ngồi vững chãi / Vững chãi
Thở ra, an ổn vững vàng  / An ổn

Bài này tuy dễ thực tập nhưng hiệu quả thì to lớn vô cùng. Những người mới bắt đầu thiền tập nhờ bài này mà nếm được sự tịnh lạc của thiền tập. Tuy nhiên, những người đã thiền tập lâu năm cũng vẫn cần thực tập bài này để tiếp tục nuôi dưỡng thân tâm, để có thế đi xa.

Hơi thở đầu (vào, ra) là để nhận diện hơi thở. Nếu đó là hơi thở vào thì hành giả biết đó là hơi thở vào. Nếu đó là hơi thở ra thì hành giả biết đó là hơi thở ra. Thực tập như thế vài lần tự khắc hành giả ngưng được sự suy nghĩ về quá khư, về tương lai và chấm dứt mọi tạp niệm. Sở dĩ được như thế là vì tâm hành giả đã để hết vào hơi thở để nhận diện hơi thở, và do đó tâm trở thành một với hơi thở. Tâm bây giờ không phải là tâm lo lắng hoặc tâm tưởng nhớ mà chỉ là tâm hơi thở (the mind of breathing).

Hơi thở thứ hai (sâu, chậm) là để thấy được rằng hơi thở vào đã sâu hơn và hơi thở ra đã chậm lại. Điều này xảy ra một cách tự nhiên mà không cần sự cố ý của hành giả. Thở và ý thức mình đang thở (như trong hơi thở đầu) thì tự nhiên hơi thở trở nên sâu hơn, nghĩa là có phẩm chất hơn. Mà khi hơi thở trở nên điều hòa, an tịnh và nhịp nhàng thì hành giả bắt đầu có cảm giác an lạc trong thân và trong tâm. Sự an tịnh của hơi thở kéo theo sự an tịnh của thân và tâm. Lúc bấy giờ hành giả bắt đầu có pháp lạc, tức là thiền duyệt.

Hơi thở thứ ba (ý thức toàn thân, buông thư toàn thân): Hơi thở vào đem tâm về với thân và làm quen lại với thân. Hơi thở là cây cầu bắc từ thân sang tâm và từ tâm sang thân. Hơi thở ra có công dụng buông thư (relaxing) toàn thân.
Trong lúc thở ra hành giả làm cho các bắp thịt trên vai, trong cánh tay và trong toàn thân thư giãn ra để cho cảm giác thư thái đi vào trong toàn thân. Nên thực tập hơi thở này ít ra là mười lần.

Hơi thở thứ tư (an tịnh toàn thân, lân mẫn toàn thân): Bằng hơi thở vào, hành giả làm cho an tịnh lại sự vận hành của cơ thể (Kinh Niệm Xứ gọi là an tịnh thân hành); bằng hơi thở ra hành giả tỏ lòng lân mẫn săn sóc toàn thân. Tiếp tục hơi thở thứ ba, hơi thở này làm cho toàn thân lắng dịu và giúp hành giả thực tập đem lòng từ bi mà tiếp xử với chính thân thể của mình.

Hơi thở thứ năm (cười với toàn thân, thanh thản toàn thân): Nụ cười làm thư giãn tất cả các bắp thịt trên mặt (có đến hàng trăm bắp thịt trên mặt). Hành giả gửi nụ cười ấy đến với toàn thân như một dòng suối mát. Thanh thản là làm cho nhẹ nhàng và thư thái (easing). Hơi thở này cũng có mục đích nuôi dưỡng toàn thân bằng lòng lân mẫn của chính hành giả.

Hơi thở thứ sáu (cười với toàn thân, buông thả nhẹ nhàng): Tiếp nối hơi thở thứ năm, hơi thở này làm cho tan biến tất cả những gì căng thẳng (tentions) còn lại trong cơ thể.

Hơi thở thứ bảy (cảm thấy mừng vui, nếm nguồn an lạc): Trong khi thở vào hành giả cảm nhận nỗi mừng vui thấy mình còn sống, khoẻ mạnh, có cơ hội săn sóc và nuôi dưỡng cơ thể lẫn tinh thần mình. Hơi thở ra đi với cảm giác hạnh phúc. Hạnh phúc luôn luôn đơn sơ và giản dị. Ngồi yên và thở có ý thức, đó có thể là một hạnh phúc lớn rồi. Biết bao nhiêu người đang xoay như một chiếc chong chóng trong đời sống bận rộn hàng ngày và không có cơ hội nếm được pháp lạc này.

Hơi thở thứ tám (an trú hiện tại, hiện tại tuyệt vời): Hơi thở vào đưa hành giả về an trú trong giây phút hiện tại. Bụt dạy rằng quá khứ đã đi mất, tương lai thì chưa tới, và sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại mà hành giả tiếp xúc được tất cả những mầu nhiệm của cuộc đời. An lạc, giải thoát. Phật tính và niết bàn…tất cả đều chỉ có thể tìm thấy trong giây phút hiện tại. Hạnh phúc nằm trong giờ phút hiện tại. Hơi thở vào giúp hành giả tiếp xúc với những mầu nhiệm ấy. Hơi thở ra đem lại rất nhiều hạnh phúc cho hành giả, vì vậy hành giả nói: hiện tại tuyệt vời.

Hơi thở thứ chín (thế ngồi vững chãi, an ổn vững vàng): Hơi thở này giúp hành giả thấy được thế ngồi vững chãi của mình. Nếu thế ngồi chưa được thẳng và đẹp thì sẽ trở nên thẳng và đẹp. Thế ngồi vững chãi đưa đến cảm giác an ổn vững vàng trong tâm ý. Chính trong lúc ngồi như vậy mà hành giả làm chủ được thân tâm mình, không bị lôi kéo theo thân nghiệp, khẩu nghiệp và ý nghiệp có tác dụng làm chìm đắm.

Bài 03 – Hiện tại tuyệt vời

Bài Tập Thứ Ba –  Hiện tại tuyệt vời

 

Thở vào, biết thở vào / Vào
Thở ra, biết thở ra / Ra

Hơi thở vào càng sâu / Sâu
Hơi thở ra càng chậm / Chậm

Thở vào, tôi thấy khoẻ  / Khoẻ
Thở ra, tôi thấy nhẹ / Nhẹ

Thở vào, tâm tĩnh lặng / Lặng
Thở ra, miệng mỉm cười / Cười

An trú trong hiện tại  / Hiện tại
Giây phút đẹp tuyệt vời / Tuyệt vời

Bài này có thể thực tập bất cứ ở đâu, trong thiền đường, ngoài phòng khách, ở dưới bếp hay trong toa xe lửa.


Hơi thở đầu là để đưa thân và tâm về hợp nhất, đồng thời giúp ta trở về an trú trong giây phút hiện tại, tiếp xúc với sự sống màu nhiệm đang xảy ra trong giây phút ấy. Sau khi ta thở như thế trong vài ba phút, tự nhiên hơi thở trở nên nhẹ nhàng, khoan thai, êm hơn, chậm hơn, sâu hơn, và cố nhiên ta cảm thấy rất dễ chịu trong thân cũng như trong tâm. Đó là hơi thở “sâu, chậm” thứ hai. Ta có thể an trú với hơi thở ấy lâu bao nhiêu cũng được. Rồi ta đi qua hơi thở “khoẻ, nhẹ”. Ở đây ta ý thức được tính cách nhẹ nhàng (khinh an) và khoẻ khoắn (tịnh lạc) của thân tâm, và thiền duyệt tiếp tục nuôi dưỡng ta. Thiền duyệt là cái vui của thiền định, thường được ví dụ cho thức ăn. Hơi thở tiếp theo là “lặng cười” và “hiện tại tuyệt vời” mà ta đã thực tập trong bài thứ nhất.

 

Bài 04 – Không gian thênh thang

Bài Tập Thứ Tư – Không gian thênh thang

 

 

Thở vào, tôi biết tôi thở vào / Vào
Thở ra, tôi biết tôi thở ra / Ra

Thở vào, tôi thấy tôi là hoa / Là hoa
Thở ra, tôi cảm thấy tươi mát / Tươi mát

Thở vào, tôi thấy tôi là núi / Là núi
Thở ra, tôi cảm thấy vững vàng / Vững vàng

Thở vào, tôi trở nên mặt nước tĩnh / Nước tĩnh
Thở ra, tôi im lặng phản chiếu trời mây đồi núi / Lặng chiếu

Thở vào, tôi trở nên không gian mênh mông / Không gian
Thở ra, tôi cảm thấy tự do thênh thang / Thênh thang

Bài này có thể được thực tập vào buổi đầu của tất cả các giờ thiền toạ, hoặc có thể được thực tập trong suốt buổi thiền toạ để nuôi dưỡng thân tâm, tĩnh lặng thân tâm và đạt tới buông thả tự do.

Hơi thở đầu có thể được thực tập được nhiều lần cho đến khi đạt tới trạng thái thân tâm là một. Nó kết hợp thân và tâm thành một khối nhất như.

Hơi thở thứ hai đem lại sự tươi mát. Con người đáng lý phải tươi mát như một bông hoa, bởi chính con người là một bông hoa trong vườn hoa vạn vật. Chúng ta chỉ cần nhìn các em bé xinh xắn là thấy điều đó. Hai mắt trong là những bông hoa. Khuôn mặt sáng với vừng trán hiền lành là một bông hoa. Hai bàn tay là hai bông hoa…Chỉ vì lo lắng nhiều mà trán ta nhăn, chỉ vì khóc nhiều và trải qua nhiều đêm không ngủ nên mắt ta đục…Thở vào để phục hồi tính cách bông hoa của tự thân. Hơi thở ra giúp ta ý thức là ta có thể và đang tươi mát như một bông hoa. Đó là tự tưới hoa cho mình, đó là từ bi quán thực tập cho bản thân.

Hơi thở thứ ba là núi vững vàng giúp ta đứng vững những lúc ta bị xúc động vì những cảm thọ quá mãnh liệt. Mỗi khi ta lâm vào trạng thái thất vọng, lo lắng, sợ hãi hoặc giận dữ, ta có cảm tưởng như đang đi ngang qua một cơn bão tố. Ta như một thân cây đang đứng trong cơn lốc. Nhìn lên ngọn, ta thấy cành lá oằn oại như có thể bị gãy ngã hoặc cuốn theo cơn lốc bất cứ lúc nào. Nhưng nếu nhìn xuống thân cây và nhất là cội cây, biết rằng rễ cây đang bám chặt vững vàng trong lòng đất, ta sẽ thấy cây vững chãi hơn và an tâm hơn. Thân tâm ta cũng thế. Trong cơn lốc của cảm xúc, nếu ta biết rời khỏi vùng bão tố (tức là vùng não bộ) mà di chuyển sự chú ý xuống bụng dưới nơi huyệt đan điền (ở dưới rốn chừng hai phân) và thở thật sâu thật chậm theo công thức là núi vững vàng ta sẽ thấy rất khác. Ta sẽ thấy ta không chỉ là cảm xúc của ta. Cảm xúc đến rồi đi, và ta sẽ ở lại. Dưới sự trấn ngự của cảm xúc, ta có cảm tưởng mong manh, dễ vỡ, ta nghĩ ta có thể đánh mất sự sống của ta. Có những người không biết cách xử lý những cảm xúc mãnh liệt của họ: khi khổ đau quá vì thất vọng, sợ hãi hay giận hờn…họ có thể nghĩ rằng phương pháp duy nhất để chấm dứt khổ đau là chấm dứt cuộc đời mình. Vì vậy nhiều người, trong đó có những người rất trẻ, đã đi tự tử. Nếu biết ngồi xuống trong tư thế hoa sen mà thực tập hơi thở là núi vững vàng, họ có thể vượt thoát được giai đoạn khó khăn đó. Trong tư thế nằm ngửa ta cũng có thể thực tập hơi thở này. Ta có thể theo dõi sự lên xuống (phồng, xẹp) của bụng dưới và hoàn toàn chú tâm vào bụng dưới. Như vậy là ta đã đi ra khỏi và không trở lại vùng bão tố. Thực tập như thế cho đến khi tâm hồn lắng dịu và cơn bão tố đi qua. Tuy nhiên ta không nên đợi đến khi có tâm trạng khổ đau rồi mới thực tập. Nếu không có thói quen, ta sẽ quên mất sự thực tập và sẽ để cho cảm xúc trấn ngự và lôi kéo. Ta hãy thực tập hàng ngày để có thói quen tốt, và như thế mỗi khi có những cảm xúc khổ thọ đến ta sẽ tự nhiên biết thực tập để xử lý và điều phục chúng. Ta có thể chỉ bày cho những người trẻ thực tập để giúp họ vượt thoát được những cơn cảm xúc quá mạnh của họ.

Nước tĩnh lặng chiếu là hơi thở thứ tư có mục đích làm tĩnh lặng thân tâm. Trong kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt có dạy “thở vào, tôi làm tĩnh lặng tâm tư tôi…”. Đây chính là bài ấy, với hình ảnh hồ nước tĩnh lặng, giúp ta thực tập dễ dàng hơn. Mỗi khi tâm ta không tĩnh, tri giác ta thường sai lầm: những điều ta thấy, nghe và suy nghĩ không phản chiếu được sự thật, cũng như mặt hồ khi có sóng không thể nào phản chiếu được trung thực những đám mây trên trời. “Bụt là vầng trăng mát, đi ngang trời thái không, hồ tâm chúng sanh lặng, trăng hiện bóng trong ngần” là ý ấy. Những buồn khổ và giận hờn của ta phát sinh từ tri giác sai lầm, vì vậy để tránh tri giác sai lầm, ta phải luyện tập cho tâm được bình thản như mặt hồ thu buổi sáng. Hơi thở là để làm việc ấy.

Không gian thênh thang là hơi thở thứ năm. Nếu ta có quá nhiều bận rộn và ưu tư, ta sẽ không có thanh thản và an lạc, vì vậy hơi thở này nhằm đem không gian về cho chúng ta, không gian trong lòng và không gian quanh ta. Nếu ta có nhiều lo toan hoặc dự án quá thì ta nên bỏ bớt. Những đau buồn oán giận trong ta cũng vậy, ta phải tập buông bỏ. Những loại hành lý ấy chỉ làm cho cuộc đời thêm nặng. Nhiều khi ta nghĩ rằng nếu không có những hành lý kia (có thể là chức tước, địa vị, danh vọng, cơ sở, người tay chân…) ta sẽ không có hạnh phúc. Nhưng nếu xét lại ta sẽ thấy rằng hầu hết những hành trang đó đều là chướng ngại cho hạnh phúc của ta, liệng bỏ được thì ta có hạnh phúc. “Bụt là vầng trăng mát, đi ngang trời thái không”…Trời thái không là không gian thênh thang, vì vậy hạnh phúc của Bụt rất lớn. Có một hôm ngồi trong rừng Đại Lâm, ngoại ô thành Vaisali, Bụt thấy một bác nông dân đi qua. Bác nông dân hỏi Bụt có thấy mười mấy con bò của bác không. Bác nói những con bò đó đã đi xổng mất và hai sào đất trồng vừng của bác năm nay cũng bị sâu ăn hết; bác bảo bác là kẻ đau khổ nhất trên đời, có lẽ bác phải tự tử. Bụt bảo bác đi tìm bò ngả khác. Sau khi bác nông dân đi rồi, Bụt quay lại tươi cười nhìn các thầy khất sĩ đang ngồi với Bụt. Bụt nói: “Các thầy có biết là các thầy có hạnh phúc và tự do hay không? Các thầy không có con bò nào để mất cả”. Thực tập hơi thở này giúp ta buông bỏ những con bò của ta, những con bò trong tâm cũng như những con bò ở ngoài.

Bức thư tình

(Trích trong sách “Giận” của Sư Ông Làng Mai)

Có một thiếu phụ người Pháp thường cất giữ những bức thư tình của chồng. Ông ta đã viết cho bà những bức thư rất đẹp trước khi hai người cưới nhau. Cứ mỗi lần nhận được thư là bà say mê đọc từng câu, từng chữ, từng dòng thư ngọt ngào, thương yêu. Bà rất quý những bức thư đó và cất giữ vào trong một cái hộp đựng bánh bích-qui.  Một buổi sáng nọ, trong khi dọn dẹp ngăn tủ bà tìm thấy cái hộp bích-qui đựng những bức thư năm xưa. Đã lâu lắm bà không thấy cái hộp bích-qui đó. Cái hộp lưu giữ biết bao kỷ niệm đẹp của những ngày đầu, khi mà cả hai người còn trẻ, còn yêu nhau thắm thiết, khi mà cả hai đều nghĩ rằng nếu không có người kia thì chắc sống không nổi.

 

 

Nhưng mấy năm gần đây, cả hai vợ chồng đều rất đau khổ. Họ không còn thiết nhìn nhau. Họ không còn muốn nói chuyện với nhau. Họ không còn viết thư cho nhau. Trước ngày bà tìm thấy cái hộp bích-qui, chồng bà cho hay là ông ta sẽ đi xa vì công chuyện nghề nghiệp. Có lẽ là ông không vui thích gì khi ở nhà. Có thể là ông đi xa để tìm đâu đó một chút hạnh phúc, một ít niềm vui. Bà biết vậy. Khi chồng bà cho bà hay là ông phải đi họp ở New York bà trả lời “Nếu cần thì anh cứ đi.” Bà đã quen với cái lệ này rồi. Rồi sau hai ngày, thay về nhà như đã định, ông điện thoại về, “Anh cần ở lại thêm hai ngày nữa vì có việc cần.” Bà chấp nhận dễ dàng chuyện đó, vì dầu cho ông có ở nhà bà cũng chẳng hạnh phúc chi mấy.

Sau khi gác điện thoại bà đi dọn dẹp ngăn tủ và khám phá ra cái hộp. Đó là cái hộp đựng bánh “LU”, một loại bánh bích-qui nổi tiếng bên Pháp. Đã lâu lắm bà không mở hộp. Bà gác cái chổi qua một bên và mở nắp hộp. Một mùi thơm dịu quen thuộc tỏa ra. Bà rút ra một lá thư rồi đứng đó để đọc. Bức thư mới ngọt ngào làm sao, đầy hiểu biết và thương yêu. Bà cảm thấy mát mẻ như một mảnh đất khô cằn vừa được mưa tưới.  Sau đó bà đem cái hộp vào bàn, ngồi xuống đọc hết tất cả các bức thư, cả thảy là ba mươi sáu hay ba mươi bảy bức. Hạt giống của hạnh phúc vẫn còn đó trong bà. Những hạt giống đó lâu nay đã bị vùi lấp trong đau khổ, nhưng vẫn còn đó. Cho nên khi đọc những bức thư đầy thương yêu của chồng viết khi còn trẻ, những hạt giống hạnh phúc chôn vùi trong sâu kín tâm thức bà đã được tưới tẩm.

Trong những năm gần đây, chồng bà đã không sử dụng ngôn ngữ ấy nữa. Nhưng bây giờ, đọc những bức thư, bà nghe như chồng bà đang nói những lời ngọt ngào của năm xưa. Ngày xưa hai người đã thật sự có hạnh phúc. Tại sao mà bây giờ hai người sống như trong địa ngục? Bà hầu như đã quên đi là chồng bà đã từng nói với bà những lời yêu thương như thế nhưng đó đã là sự thật. Ông ta đã từng có khả năng nói những lời như vậy.

 

Tưới Tẩm Những Hạt Giống Hạnh Phúc

Trong suốt hơn một giờ ngồi đọc thư bà đã tưới tẩm những hạt giống của hạnh phúc trong bà. Bà nhận ra rằng cả chồng bà và bà đều thiếu khéo léo. Cả hai đã tưới tẩm những hạt giống đau khổ của nhau và không có khả năng tưới tẩm những hạt giống hạnh phúc. Sau khi đọc tất cả những lá thư bà quyết định ngồi xuống và viết cho chồng bà một bức thư để nói cho ông ta biết rằng ngày xưa, lúc mới quen nhau, bà đã hạnh phúc như thế nào. Bà viết rằng bà mong tìm lại được những hạnh phúc của ngày nào. Và bây giờ thì bà lại có thể viết cho ông câu “Anh yêu dấu!” với tất cả chân tình.

Bà đã để ra bốn mươi lăm phút để viết bức thư. Đây là một bức thư tình đích thực – gửi cho chàng thanh niên dễ thương đã viết cho bà những bức thư cất trong hộp bích-qui. Trong thời gian đọc thư và viết thư mất gần ba giờ đồng hồ, bà đang thực tập thiền quán mà không biết là mình đang thực tập thiền quán. Sau khi viết xong bức thư lòng bà cảm thấy rất nhẹ nhàng. Thư chưa được gửi đi, chồng bà chưa đọc nhưng bà cảm thấy khỏe hẳn ra. Những hạt giống hạnh phúc trong bà đã được khơi dậy và tưới tẩm trở lại. Bà lên lầu và đặt bức thư lên bàn ông. Sau đó, suốt ngày bà rất hạnh phúc. Bà hạnh phúc vì những bức thư đã tưới tẩm những hạt giống tích cực trong bà.

 

 

Trong khi đọc những bức thư và viết thư cho chồng, bà giác ngộ vài điều. Cả hai người đều đã vụng về. Cả hai không biết cách giữ gìn hạnh phúc mà đáng ra họ vẫn có quyền hưởng. Trong khi nói năng, trong khi hành xử họ đã tạo địa ngục cho nhau. Cả hai chấp nhận sống với nhau như một gia đình, như một cặp vợ chồng nhưng không có chút gì hạnh phúc. Hiểu như thế bà tin tưởng rằng nếu cả hai người cùng cố gắng tu tập thì hạnh phúc có thể phục hồi. Bà tràn đầy hy vọng và không còn đau khổ như những năm qua.

Người chồng về nhà, lên phòng và thấy bức thư trên bàn. Trong bức thư bà đã viết: “Em chịu trách nhiệm một phần về sự đau khổ của chúng ta, về tình trạng chúng ta không được hạnh phúc mà đáng ra chúng ta phải được hưởng. Chúng ta hãy làm mới lại, hãy tái lập truyền thông. Hãy thực hiện bình an, hòa điệu và hạnh phúc cho nhau.”  Ông đọc bức thư rất kỹ và quán chiếu sâu sắc về những điều bà viết. Ông không ngờ rằng ông cũng đang thực tập thiền quán. Nhưng quả thật là ông đang thực tập như bà, bởi vì khi đọc thư của bà, những hạt giống hạnh phúc trong ông cũng được tưới tẩm. Ông ở trên phòng rất lâu. Ông quán chiếu và khám phá ra những tuệ giác như bà đã khám phá ngày hôm qua. Nhờ vậy hai vợ chồng đã có cơ hội làm mới và tái lập hạnh phúc.

Đời bây giờ, thiên hạ và những cặp tình nhân không viết thư cho nhau nữa. Họ chỉ nhắc điện thoại lên và nói, “Tối nay có rảnh không? Chúng ta đi chơi nhé!” Thế thôi!  Còn đâu là những kỷ vật để cất giữ, nâng niu! Thật là tội nghiệp! Bạn phải tập viết thư tình trở lại đi! Viết cho những người thương của bạn. Người thương đây có thể là cha, là mẹ của bạn. Cũng có thể là con trai, con gái, là anh, là chị hay là bạn bè của bạn. Hãy dành thì giờ để viết xuống những ân tình yêu thương.

Phép Lạ Nho Nhỏ

Có nhiều cách để tái lập truyền thông. Nếu bạn cảm thấy khó khăn khi nói chuyện với con, thì sao bạn không thử thực tập hơi thở chánh niệm, bước chân chánh niệm một, hai ngày, rồi sau đó bạn ngồi xuống và viết cho con bạn một lá thư: “Con ơi, ba biết rằng con đang đau khổ. Ba là ba của con và ba biết rằng ba chịu một phần trách nhiệm bởi vì ba đã không biết cách trao truyền cho con những gì tốt đẹp nhất của ba. Ba biết rằng con không thể nói cho ba biết về những đau khổ của con. Ba muốn rằng tình trạng này được thay đổi. Ba muốn luôn luôn có đó để giúp con. Cha con ta hãy giúp nhau để cải thiện truyền thông giữa cha con ta.” Bạn phải học nói với ngôn ngữ như thế.

 

 

Tiếng nói thương yêu sẽ cứu chúng ta. Lắng nghe với tâm từ bi sẽ cứu chúng ta. Đó là một phép lạ mà ta có thể làm được, nhờ tu tập. Ta có khả năng làm chuyện đó. Ta có dư bình an, thương yêu và hiểu biết trong chiều sâu tâm thức. Phải cầu cứu đến khả năng đó của ta, cầu cứu Bụt tự thân. Với sự nâng đỡ của bạn bè và tăng thân chúng ta có thể bắt đầu làm mới và tái lập truyền thông.

 

 

Nhóm chúng mình

 

Nhóm chúng mình kỳ lạ lắm, phải không anh?         

Tôi sửa soạn ra đây, là một dòng tâm đẹp


Một góc an lành, một lời xin phép


Chép thành câu, thành chữ, để nuôi nhau.

        

Nhóm chúng mình, thiên lý rộng đến đâu?

Quen nhau mười năm, hoặc chỉ vài ba tháng  

Có cốc nước gừng, chia nhau mỗi sáng


Có chén trà thơm, ngưng đọng những mùa yên.      

        

Mỗi người là một bức tranh riêng


Đâu phải đi chung là hiểu tận tường mong ước       

Cái muốn nơi anh, tôi dễ gì thấu được


Cả vũ trụ muôn màu, tâm thức ấy anh mang.

        

Vậy mà cùng nhau đi một quãng thiệt là xa     

Dáng vẻ đôi vai đã trở thành quen mắt lắm    

Dung dị giữa đời, hết lòng cùng mưa nắng      

Cõi tâm hiền, đâu ngần ngại lúc cho đi.  

        

Nhóm chúng mình, đơn giản có vậy thôi


Tự nhiên thấy thân nhau hơn như năm tháng

Đời giàu có, những buổi trời hửng sáng


Đồi xanh cao sương sớm đợi bình minh.         

        

Ngày vui đó, ngày ưu tư cũng đó


Lạ lùng như trang gió thổi lời kinh


Như mắt theo mây, để sông núi nghiêng mình         

Mà cúi xuống trước vòng quay nhận thức.      

        

Nhóm chúng mình, bắt buông từng dấu hỏi    

Em có nhớ không, ta đã trả lời chưa?


Chờ đến khi nao, lòng dạ ấy yên vừa


Tâm thức tự vẽ một đường đi thoát lối. 

 

Có những dáng hình, tưởng nhiều nhưng là một

Họ trở thành nhau ngày nào đó chẳng hay     

Cách nói, cách đi, cách nhìn nhận thế gian này         

Chung một niệm thương yêu, đầy hy vọng.    

        

Anh đã biết, lời ai từng mở lối


Chạm đáy linh hồn, nơi sâu nhất nguồn tâm


Dù nhớ hay quên qua ngần ấy những thăng trầm    

Chẳng lẽ cứ lòng vòng trong đại thể!     

        

Nhóm chúng mình, tìm cho ra thế giới


Mà anh, tôi, sông, núi,… chẳng ngoài nhau     

Cuộc sống này vơi bớt những thương đau      

Một khối lớn sẽ chữa lành thương tích lớn.    

        

Anh ngồi lại, tìm dòng tâm nguyên thủy


Tôi thấy bên đời, vạn chất sáng nuôi nhau      

Vũ trụ chan hòa, không trước không sau         

Cách sự thật đây còn bao nhiêu hơi thở nữa.

        

Nhóm chúng mình, giữa tuổi hoa lối ngõ        

Nơi dòng sông chia hai nửa hoàng hôn  

Còn nhau đây, can đảm những tâm hồn

Thầy được thấy các con mình, là tri kỷ.  

Chân Pháp Khả

 

Trái tim tương tức

Sư cô Chân Đức 

Mùa an cư năm nay (17.9.2020-15.12.2020), đại chúng đã có cơ hội nhìn sâu vào chủ đề “không phân biệt” dưới góc nhìn tâm phân biệt biểu hiện nơi cá nhân mình và sự biểu hiện của nó trên thế giới. Đây cũng là một cơ hội để tìm cách làm lớn mạnh hạt giống không phân biệt trong mỗi người chúng ta. Chân Đức xin chia sẻ dưới đây một chút những gì mình đã học hỏi được. 

Trong bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, thầy có nhắc đến cuộc thí nghiệm do một cô giáo người Mỹ thực hiện trong lớp học với học sinh người da trắng thuộc các gia đình trung lưu. Cô giáo đã chia lớp học ra làm hai nhóm: nhóm thứ nhất gồm các em mắt xanh, và nhóm thứ hai gồm các em mắt nâu. Trước tiên cô bảo các học sinh mắt xanh rằng vì có mắt xanh nên các em thông minh, và bảo các em học sinh mắt nâu là vì mắt nâu nên các em không thông minh. Khi Chân Đức nghe nói về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức nghĩ thầm: “Một nhà giáo sao lại có thể làm như vậy?”. Cô giáo cũng có nói rằng cô cảm thấy không thoải mái chút nào trong suốt cuộc thí nghiệm, nhưng cô nghĩ rằng nó rất đáng công để thử. Các em học sinh sẽ có thể học được một bài học thực tế từ đời sống thật. 

Sau khi các em học sinh mắt xanh nghe nói tính thông minh có thể được căn cứ theo màu mắt,sự tự tin của các em gia tăng và các em học khá hẳn lên. Trong khi đó, các em học sinh mắt nâu mất hết tự tin và học kém đi. Ngày hôm sau, cô giáo lại nói với các em điều ngược lại làm sự tự tin của các em học sinh mắt nâu tăng lên, và các em mắt xanh thì mất hết tự tin. Cuối cùng, cô cho cả lớp biết đó chỉ là một cuộc thí nghiệm. Sau đó, cả lớp đều học khá hẳn lên vì các em đều nhận ra rằng khả năng học tốt là một khả năng bẩm sinh, có sẵn trong mỗi cá nhân. Một điều quan trọng khác nữa mà các em học được là không nên kỳ thị người khác vì vẻ ngoài của họ. 

Cô giáo theo dõi học sinh trong lớp cho đến khi các em trưởng thành. Sau khi các em đã ra đời đi làm, các thành viên trong lớp vẫn tiếp tục gặp gỡ và chia sẻ kinh nghiệm về sự thực tập không kỳ thị theo cách thức mà người da trắng tầng lớp trung lưu thường không làm. 

Sau khi nghe chia sẻ về cuộc thí nghiệm này, Chân Đức có dịp nhìn vào tâm phân biệt của chính mình và tự hỏi: “Mình có đánh giá người khác dựa vào bề ngoài của họ không?”. Chân Đức bắt đầu thấy mình phân biệt như thế nào khi nhìn vào vẻ bề ngoài. Khi thấy một sư cô hay một thầy mà Chân Đức có ấn tượng tốt, trong lòng Chân Đức ghi nhận “mình thích người này”, trong trường hợp ngược lại thì “mình không thích người này”. Chân Đức không thấy người ấy trong hiện tại như chính họ. Đây là một tập khí sâu dày mà Chân Đức có thể sửa đổi bằng cách dùng chánh niệm quán chiếu về cảm thọ và tri giác. Trong những buổi pháp đàm sau bài pháp thoại của thầy Pháp Lai, quý thầy, quý sư cô và nhiều vị thiền sinh đến từ các quốc gia khác nhau đã chia sẻ về tâm phân biệt biểu hiện dưới kinh nghiệm cá nhân của họ về vấn đề phân biệt chủng tộc. Thí dụ như ở Việt Nam, người miền Nam phân biệt người miền Bắc; tại Guatemala, người gốc Latinh phân biệt người bản địa. 

Trong một đoạn video ngắn do thầy Pháp Linh chia sẻ, chúng ta nhận thấy trẻ con có thể kỳ thị chính mình dựa trên vẻ bề ngoài. Mộtembédamàucóthểnóirằngconbúpbê da màu là không đẹp, con búp bê da trắng mới đẹp. Người ta có thể mất tự tin vì những thông điệp nhận được từ xung quanh. Một sư cô sang Úc tị nạn nói với Chân Đức rằng trở ngại lớn nhất của sư cô là mặc cảm sâu dày mình là một người tị nạn. Sư cô đã nhận ra việc chuyển hóa mặc cảm tự ti ấy có ý nghĩa đến mức nào. Chân Đức cũng nhận ra rằng việc làm người khác tự tin hơn quan trọng đến thế nào. Có những người vì vẻ bên ngoài hay vị trí xã hội (thí dụ người tị nạn) bằng cách này hay cách khác đã nhận được thông điệp rằng họ là thấp kém. Họ đã nhận thông điệp ấy từ khi còn thơ ấu, hay có khi trước đó nữa, do tổ tiên trao truyền lại. Bởi vì tổ tiên của họ có thể cũng đã nhận cùng một thông điệp ấy. 

Thầy Pháp Linh cũng chia sẻ một đoạn video với một thí nghiệm khác được tiến hành ở Ba Lan. Ở đó, người tị nạn từ Trung Đông, Syria được sắp xếp thành cặp với người Ba Lan. Một người Ba Lan bản xứ ngồi đối diện với một người tị nạn, và họ chỉ ngồi nhìn vào mắt nhau, không nói năng hoặc suy nghĩ gì cả. Đã có một sự cảm thông vượt thoát ngôn từ được thiết lập giữa hai người, một sự thấu hiểu lẫn nhau vượt lên trên giới hạn của kiến thức và tâm phân biệt. Chúng ta học từ Bồ tát Quán Thế Âm cách nhìn bằng con mắt từ bi, và đây là khả năng mà tất cả loài người chúng ta đều có sẵn. Tuy nhiên, chúng ta cần phải tập luyện qua những tương tác hàng ngày, để có thể nhận ra khi nào chúng ta đang không nhìn bằng mắt thương. 

Chân Đức cũng có dịp lắng nghe vài cô thiền sinh da đen, thành viên của tăng thân, qua Zoom. Nhóm có bốn người, hai người da trắng và hai người Mỹ da đen. Sau một lần họp mặt, Chân Đức mời một thầy người Tây phương hướng dẫn lần gặp kế tiếp vì nghĩ rằng thầy làm khá tốt. Thầy ấy từ chối và bảo rằng tại sao chúng ta không mời một người khác? Vì thế Chân Đức đã mời một cô người da đen và thấy cô đã hạnh phúc như thế nào khi được mời làm chủ tọa buổi lắng nghe sâu sau đó. 

Năm 2016, khi Chân Đức đến Hội Chủng viện Thần học ở New York đại diện Sư Ông nhận Huân chương Liên hiệp, tại đó có lễ khánh thành một phân khoa mới với ba giảng viên là người da đen. Chúng tôi được cho biết là Hội dự định sẽ có 50% người da màu trong phân khoa. Ở đây, người ta muốn gửi đi một thông điệp mới thay thế cho thông điệp cũ mà mọi người đã tiếp nhận từ lâu nay là một người da đen không học giỏi bằng một người da trắng. Chúng ta có thể cho rằng hướng đi này là phù hợp với đạo đức. Nó không phải là việc sửa sai quá khứ mà hơn thế nữa, nó cung cấp cho xã hội một cái nhìn mới. 

Một số thành viên tăng thân người da đen và da màu đặt câu hỏi là tăng thân của chúng ta góp phần như thế nào trong thông điệp này? Ai trong chúng ta cũng muốn đem giáo pháp chia sẻ cho đồng bào của mình. Các thầy, các sư cô người Việt muốn đem pháp môn Làng Mai về chia sẻ ở Việt Nam; các thầy, các sư cô người Trung hoa muốn đem pháp môn Làng Mai về Trung quốc, vậy thì lẽ đương nhiên người Mỹ da đen cũng muốn chia sẻ pháp môn với đồng bào người Mỹ da đen của họ. Ở Baltimore, tăng thân người da màu đã sở hữu được một nhà thờ cũ, đủ rộng rãi cho vài trăm người, biến nó thành một nơi mà người da đen và người da màu có thể đến với nhau như một tăng thân, cùng chia sẻ và tham gia các sinh hoạt văn hóa. Họ nói rằng các pháp môn cần được chia sẻ trong một bối cảnh hoàn toàn không mang tính tôn giáo. 

Ngôn ngữ sử dụng để chia sẻ giáo pháp phải phù hợp với người tiếp nhận. Do đó, khi giới thiệu sự thực tập cho người da màu, tiếng Mỹ được sử dụng có thể sẽ rất khác với tiếng Mỹ dùng giới thiệu pháp môn cho người da trắng, là nhóm của đa số. Người sử dụng ngôn ngữ phù hợp nhất cho người da màu chính là người da màu. Giáo pháp luôn luôn nhu nhuyến như thế. Cũng như ở Việt Nam, giáo pháp đã tiếp thu các yếu tố của văn hóa Việt thời trước đạo Bụt, như bàn thờ Tổ tiên chẳng hạn. Ở Tây Tạng và Nhật, đạo Bụt cũng tiếp thu văn hóa của các nước này. Ở Tây phương đạo Bụt cũng cần phải như vậy. Có nghĩa là người Mỹ da đen, người Mỹ bản xứ… cần một đạo Bụt thấm nhuần văn hóa Mỹ. Bạn có thể thắc mắc là: chúng ta không thể chỉ có một đạo Bụt Bắc Mỹ duy nhất cho tất cả mọi người tới từ bất cứ nguồn gốc nào hay sao? Không ai muốn có sự chia rẽ, càng có nhiều điểm chung càng tốt. Tuy nhiên, chúng ta cũng vẫn cần chăm sóc những nhu cầu riêng của mình. Nhưng nếu thực sự muốn làm lớn lên tâm không phân biệt của mình, chúng ta cần chăm sóc những nhu cầu riêng này trong tinh thần tương tức “hạnh phúc của bạn là hạnh phúc của tôi, và khổ đau của bạn cũng là khổ đau của chính tôi”. 

Chúng ta công nhận nhu cầu của người Mỹ da đen trong việc phát triển một ngôn ngữ mà họ thấy phù hợp cho chính đồng bào của họ. Thế nhưng sau cùng, chúng ta cũng vẫn cần đến với nhau. Thí dụ như trường hợp những khóa tu cho nhiều lứa tuổi đã được tổ chức. Chúng ta cần phong trào Wake Up của người trẻ bởi vì những người trẻ có những nhu cầu riêng biệt, nhưng điều đó không ngăn ta tổ chức các khóa tu cho mọi lứa tuổi để tất cả mọi người có thể cùng chia sẻ kinh nghiệm và sự thực tập với nhau. Ai thực tập niệm, định, tuệ cũng sẽ có sự giác ngộ. Sự giác ngộ ấy vượt thoát màu da, chủng tộc và, một cách rất tự nhiên, sẽ mang mọi người đến với nhau. 

Trong bài pháp thoại về lập trường đạo đức kiên định (moral courage), sư cô Lăng Nghiêm chia sẻ về khuynh hướng thủ thế tiềm ẩn trong ta, về bản năng bảo tồn bản sắc nằm sâu trong mỗi chúng ta. Thật khó để chúng ta đôi khi nhìn sự vật bằng cặp mắt của người khác nếu như ta không có tuệ giác tương tức. Lập trường đạo đức kiên định là khả năng buông bỏ tự tánh riêng biệt của ta. Sư cô Giác Nghiêm cũng nói về ao ước nguyên thủy và cái sợ nguyên thủy làm ta không có khả năng hiểu và chấp nhận người khác. 

Sư cô Thuận Nghiêm nói về việc ta sinh ra trong những đặc quyền hoặc trong sự thua thiệt như thế nào. Tương lai của một em bé sơ sinh da trắng trên phương diện giáo dục, vị trí xã hội, chămsócytếhơnhẳnsovớinhữnggìmàmột em bé sơ sinh da đen sinh ra trong cùng một thời điểm tại nước Mỹ nhận được. 

Trong khóa an cư năm nay, Chân Đức có ý thức hơn về những khổ đau do sự phân biệt chủng tộc gây ra trong thời đại của chúng ta. Chân Đức bắt đầu thấy, trong tư cách là một người thực tập, mình có thể làm gì để gửi một thông điệp khác ra thế giới. Chân Đức có thể có chánh niệm hơn về tâm phân biệt của mình. Đôi khi sự phân biệt cần thiết và hữu ích, nhưng có lúc nó lại dẫn đến những tri giác sai lầm và khổ đau. Trong một buổi vấn đáp, thầy Pháp Biểu có nói rằng ngôn ngữ tự nó đã có tính phân biệt. Vì vậy khi sử dụng ngôn ngữ để phân biệt ta nên để ý một chút. Thí dụ như khi nói: “Các sư cô là như thế này…” hay “Các thầy là như thế kia…”, có thể sẽ có một ít sự thật trong câu nói mang tính khái quát hóa đó. Nhưng chúng ta đừng nên bị kẹt và nên biết là ta đang nói một câu có tính cách phân biệt. Ta cũng hay nói những câu như “các thầy, các sư cô người Việt” trong nghĩa đối đãi với “các thầy, các sư cô người Tây phương”. Có khi nói như vậy cũng có vẻ thích hợp, nhưng điều quan trọng là khi sự phân biệt ấy đi lên trong tâm thì ta phải tự hỏi chính mình về giá trị của nó và biết rằng ta đang khái quát hóa một điều chưa chắc đã 100% chính xác. 

Trong khóa an cư này, Chân Đức cùng một thầy nữa có cơ hội thực tập lắng nghe sâu với một vài thành viên người da đen trong tăng thân. Lắng nghe sâu là một trong những pháp môn quý báu nhất mà Sư Ông đã trao truyền cho chúng ta. Và thật may mắn, trước khi đại dịch Covid xảy ra chúng ta đã có phương tiện truyền thông trực tuyến để có thể chia sẻ và lắng nghe nhau mà không cần phải di chuyển. Việc lắng nghe sâu là một yếu tố căn bản trong công tác xây dựng tăng thân. Nó cũng là bước thứ nhất và quan trọng nhất trong sự thực tập bao dung. Ta có thể hỏi người kia: “Bạn có thể nói cho tôi nghe tôi đã hành xử như thế nào làm cho bạn khổ?”. Chỉ cần lắng nghe sâu thôi chúng ta đã có thể biết mình cần phải làm gì cho tình trạng khá hơn. Chúng ta có thời gian. Nếu ta cần có ba buổi lắng nghe sâu thì ta không nên cố gắng dồn tất cả vào một buổi. 

Loài người chúng ta có vẻ dẫn đầu tất cả các loài trong vấn đề kỳ thị. Việc ông George Floyd bị sát hại là một tiếng chuông cảnh tỉnh cả thế giới về thực trạng này. Chỉ có một con đường duy nhất để đi tới mà thôi: ta phải có một tâm thức và trái tim tương tức. Thực tập chánh niệm, nói năng nhẹ nhàng, nhìn và lắng nghe sâu như một tăng thân sẽ giúp chúng ta đạt tới vô phân biệt trí. 

Chùa Cam Lộ, xóm Hạ, ngày 20.12.2020 

Người xuất sĩ bình dị

Áo nâu, nón lá và guốc mộc 

Tháng 6 năm 1994, khi đặt chân đến xóm Thượng, chùa Pháp Vân, Làng Mai, Pháp, hình ảnh gây ấn tượng mạnh mẽ trong tôi là được tiếp xúc với Sư Ông trong chiếc áo tràng nâu cũ giản dị, phai phai màu. Và tôi càng ấn tượng hơn khi thấy Sư Ông đi đôi guốc, không phải guốc mộc mà guốc màu đen, quai nâu, một sản phẩm được sản xuất từ Hà Lan hay Đan Mạch. Tôi hơi tò mò rồi tìm hiểu nơi quý thầy tại sao ở đây Sư Ông và quý thầy đa số đều đi guốc. Sau đó, tôi được biết là mặc áo tràng, nhật bình nâu và đi guốc mộc là hình ảnh của một ông thầy tu truyền thống. Ở Việt Nam, ngày xưa các thầy đều đi guốc mộc trong tu viện. Tôi rất ấn tượng và hạnh phúc vì biết mình sẽ được mặc chiếc áo nâu và đi guốc mộc sau khi được xuất gia. 

Khoảng tầm năm 1998 – 1999, Sư Ông đã cho đặt mua guốc mộc từ Việt Nam sang để cho các thầy, các sư cô mang. Ở Làng vào các khóa tu mùa Hè, Sư Ông và tăng thân vẫn đắp y ăn cơm quá đường. Mỗi thầy, sư chú, sư cô đều được phát cho một đôi guốc mộc làm bằng loại gỗ cây thị hoặc gỗ cây sầu đông và quai nhựa trong suốt. Thú thật, các thầy, các sư cô, nhất là các vị xuất gia người phương Tây khi thấy guốc mộc đó là nhăn mặt, không thích mang. Mang vào rất khó đi và trông nó yểu điệu thế nào ấy. Nhưng dù không thích cũng phải mang, ít nhất là vào những buổi ăn cơm quá đường. Tôi nhớ trong tu viện có sư anh cả Giác Thanh, nhất quyết không mang. Nhưng vì thương kính Sư Ông nên cuối cùng thầy cũng mang. 

Sau đó không lâu, Sư Ông dạy lược phần đắp y khi ăn cơm quá đường. Mặc chiếc áo tràng nâu, đi guốc mộc, mang nón lá là đẹp lắm rồi và cũng rất trang nghiêm. Một trong những lý do mà càng về sau Sư Ông càng lược bớt những yếu tố lễ nghi là vì thiền sinh đến tu học càng ngày càng đông. Và để cho họ không cảm thấy quá đầy bởi các lễ nghi do đa phần họ đến từ các truyền thống khác như Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo,… Một số người có thể sẽ bị dị ứng với những yếu tố tôn giáo khiến họ không có cơ hội tiếp xúc được với nguồn tuệ giác thâm sâu của đạo Bụt. Đó cũng là lý do mà Làng Mai không xây chùa có mái cong theo kiểu truyền thống, không thờ tự theo kiểu truyền thống mà chỉ tạo dựng tu viện theo mô hình một ngôi Làng (Village), một cộng đồng sống hài hòa với thiên nhiên. 

Cũng từ năm đó, tăng thân bắt đầu mặc áo tràng nâu, đi guốc mộc, mang nón lá trong các buổi ăn cơm quá đường. Sau này vì đi lại khó khăn, nhất là đối với các thầy, đặc biệt các thầy, sư chú người phương Tây nên guốc mộc kiểu Việt Nam đã bị mai một, nhưng tăng thân vẫn đi loại guốc Hà Lan hay Đan Mạch. Qua thời gian, áo tràng hay nhật bình nâu và chiếc nón lá đã trở thành biểu tượng và trang phục của văn hóa xuất sĩ Làng Mai. Thiền sinh khắp nơi trên thế giới khi nhìn thấy một vị xuất sĩ trong chiếc áo tràng nâu và nón lá thì họ nhận diện ra được ngay đó là quý thầy, quý sư cô Làng Mai. Ở Làng Mai, các thầy và các sư cô được phép sử dụng ba màu cho y phục: màu vàng cháy là màu y (sanghati), màu nâu và màu lam. Năm 2018, trước khi Sư Ông về lại Việt Nam, trong một buổi họp mặt giáo thọ châu Á tại Làng Mai Thái Lan, chúng tôi bàn về chuyện y phục và đặt vấn đề có nên dừng sử dụng màu lam không. Đang lúc có nhiều ý trái chiều thì Sư Ông đến, chúng tôi trình lên sự việc và xin Sư Ông chỉ dạy. Sư Ông lập tức chỉ tay vào màu nâu. Thế là từ đó, ở Thái Lan các thầy, các sư chú, sư cô chỉ dùng màu nâu cho y phục. 

Gìn giữ văn hóa 

Tôi nhớ có lần Sư Ông rầy la hai thầy khách Việt Nam đến tham dự khóa tu dành cho người xuất gia tại tu viện Kim Sơn, California, Mỹ. Đó là vào năm 2001. Hai thầy khách đã đến tham dự khóa tu trong trang phục áo tu của truyền thống Đài Loan. Tất nhiên là áo tu và giày dép theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc. Nhìn từ trên xuống dưới không tìm đâu ra dấu vết của nét văn hóa y phục của người xuất gia Việt Nam. Sư Ông đang đi dạo, thấy hai thầy ăn mặc như thế, Sư Ông gọi lại và nghiêm dạy. Tôi nhớ từng câu rõ mồn một: 

-“Quý thầy làm cái gì vậy? Tại sao quý thầy lại ăn mặc cái kiểu như thế? Dân tộc mình đã bị đô hộ một ngàn năm chưa đủ sao? Quý thầy muốn làm nô lệ tiếp nữa hay sao? Tại sao quý thầy không biết tự hào mặc chiếc áo tràng nâu thuần Việt, không mặc những bộ vạt hò thuần Việt mà lại đi mặc mấy bộ y phục như thế? Quý thầy là những người đi tiên phong trong trách nhiệm gìn giữ văn hóa. Nếu quý thầy không làm, không gìn giữ thì làm sao mà khích lệ người dân gìn giữ được?”. 

Hai thầy nghe Sư Ông rầy một trận thất kinh, choáng váng. Lời nhắc nhở ấy như tiếng hét của một vị thiền sư nhằm thức tỉnh thế hệ xuất gia trẻ đang chạy theo xu hướng mất gốc, đang hướng ngoại mà quên rằng mình là người xuất gia Việt Nam, mình có truyền thống, bản sắc văn hóa xuất sĩ của mình. Sư Ông là người thầy đặc biệt tôn trọng và quan tâm đến vấn đề văn hóa, thấy các thế hệ xuất gia trẻ hướng ngoại, Sư Ông không ngần ngại nhắc nhở để họ biết tự hào khi mặc y áo truyền thống xuất sĩ Phật giáo Việt Nam. Đó là màu nâu sồng giản dị mà bao thế hệ thầy tổ đã mặc và giữ gìn. Người xuất gia phải là người luôn đi tiên phong trong trách nhiệm gìn giữ văn hóa, đặc biệt là trong nếp sống và công việc hành đạo của mình! 

Trong những chuyến hoằng pháp tại Trung Quốc năm 1999, 2001, 2002, Sư Ông và tăng thân được tiếp đón tới các tu viện, chùa chiền để diễn thuyết, pháp thoại, hay hướng dẫn khóa tu… Sư Ông luôn xuất hiện trong chiếc áo tràng nâu, đôi guốc mộc và chiếc nón lá. Hiếm khi Sư Ông đắp y trong các buổi lễ cung nghênh, tiếp đón. Phật giáo Trung Quốc đa phần rất nặng về lễ nghi long trọng. Và có vẻ như trước cái hình thức lễ nghi long trọng như thế, Sư Ông có dụng ý muốn giới thiệu cho họ thấy lại cái đơn giản, mộc mạc của một người xuất sĩ, phong thái của một thiền giả, vốn là nét đặc thù trong nhà thiền mà họ đã từng biết đến từ các bậc thiền sư trong truyền thống thiền của họ. Trong những sự kiện như vậy, có hai màu tương phản rõ ràng: hình thức trang nghiêm long trọng của y giáo phục rực rỡ màu vàng, đỏ (một số chư tăng ở Trung Quốc đắp y màu đỏ, áo hậu màu vàng, thường phục màu lam) và sự giản dị, mộc mạc, chân chất của màu nâu từ tăng thân Làng Mai. Người Trung Hoa luôn tự hào họ là người anh cả, Phật giáo ở Việt Nam là du nhập từ Trung Hoa. Nhưng theo sử sách thì không hẳn như vậy. Qua tác phẩm Thiền sư Khương Tăng Hội, chúng ta thấy có thể Phật giáo ở Trung Hoa do ngài Khương Tăng Hội truyền qua vào cuối thế kỷ thứ II và đầu thế kỷ thứ III. Qua thời gian, cũng ít thấy có vị tăng nào tiếp tục công việc hoằng pháp qua Trung Hoa từ Việt Nam. Mãi đến thế kỷ 20 – 21 mới có Thiền sư Thích Nhất Hạnh sang Trung Hoa hoằng pháp trong chiếc nón lá và áo tràng nâu giản dị của một tu sĩ Việt Nam. 

Các thầy, các sư cô, sư chú thuộc tăng thân Làng Mai chỉ mặc y phục như áo vạt hò, áo nhật bình, áo tràng thuần truyền thống Phật giáo Việt Nam mà không mặc những mẫu y phục kiểu các sư tăng Trung Quốc hay Đài Loan. Như các kiểu áo cổ La hán hay áo tràng có sợi dây thòng xuống bên hông phải và có những đường chỉ chạy sít nhau ở cổ áo. Nói tới đây tôi nhớ năm 2008, tôi rời tu viện Bát Nhã ra Hà Nội gấp để làm một số việc, nghĩ là đi một hai hôm rồi vào lại nên không mang theo đồ đạc gì nhiều, chỉ mang trên mình một chiếc áo tràng. Ở Hà Nội, tôi bị mất giấy tờ, không đi đâu được và cuối cùng phải rời Việt Nam. Trước khi đi, tôi ghé mua một cái áo tràng ở tiệm bán y áo gần chùa Quán Sứ, nhưng ở đó họ chỉ bán áo tràng của người xuất sĩ kiểu Trung Quốc. Tôi đã mua một cái để mặc. Về tới xóm Thượng, Pháp, tôi mặc cái áo tràng đó vào hầu Sư Ông tại thất Ngồi Yên. Sư cô Định Nghiêm thấy tôi mặc cái áo đó bèn la lên:“A! Thầy Pháp Niệm mặc áo sư Tàu”. Sư Ông nhìn với ánh nhìn “thông điệp”, và tôi hiểu rằng Sư Ông không muốn tôi mặc cái áo đó. Thời đó, để có một chiếc áo tràng hay nhật bình nâu tại Làng Mai là khá hiếm và tôi biết tôi cần tạm sử dụng chiếc áo tràng này. Thế là sau khi về phòng, tôi đã cắt bỏ hết các sợi chỉ trên cổ áo và hai sợi dây lòng thòng đó đi. Thế là ổn. 

“Phật tánh không phân chia Nam Bắc” nhưng mỗi dân tộc đều có văn hóa Phật giáo thấm nhuần những nét văn hóa mang bản sắc riêng của dân tộc đó. Văn hóa thì rất đa dạng và phong phú. Người ta nói rằng văn hóa còn thì đất nước còn. Điều này luôn đúng ở mọi thời đại. Theo Sư Ông Làng Mai, người xuất gia là những người luôn tiên phong cho việc gìn giữ văn hóa. Văn hóa chúng ta đang nói đến ở đây là văn hóa y phục của người xuất sĩ trong truyền thống đạo Bụt Việt Nam. Là người tiên phong trong công cuộc làm mới đạo Bụt, để cho đạo Bụt thích ứng được với những nhu cầu của thời đại, nhưng Sư Ông Làng Mai đồng thời cũng là một người có thể nói là vô cùng bảo thủ, nhất là trong việc khôi phục và giữ gìn những giá trị hay, đẹp của truyền thống dù với những chi tiết rất nhỏ như đôi guốc mộc, chiếc nón lá và y phục màu nâu: áo tràng, nhật bình và vạt hò. 

Hình ảnh ông thầy tu Việt Nam trong chiếc áo tràng hay nhật bình nâu và chiếc nón lá đã trở nên một hình ảnh thân quen đối với cộng đồng quốc tế, cũng giống như hình ảnh một người phụ nữ Việt Nam trong chiếc áo dài và nón lá bài thơ. Người phương Tây khi thấy một ông thầy tu mang áo tràng nâu và đội nón lá thì biết ngay đó là ông thầy tu truyền thống Việt Nam. Mỗi dân tộc, truyền thống Phật giáo đều có y phục đặc trưng của họ, nhìn vào họ là biết họ thuộc dân tộc nào, truyền thống Phật giáo nào.

Chân chất màu thiền 

Áo tràng nâu, đôi guốc mộc và chiếc nón lá không chỉ là vấn đề văn hóa trang phục mà nó còn nói lên tinh thần giản dị, chân chất và thanh thoát của một ông thầy tu. Ngày xưa, các ngài đều chỉ mặc áo tràng nâu, đi guốc mộc và đội nón lá. Sư Cố Thanh Quý cũng thường hay chống gậy, đội nón lá đi chơi khắp vườn chùa hoặc khi xuống đường tham gia cuộc vận động bất bạo động năm 1963. Hình ảnh đó trong lòng Phật giáo, nhất là Phật giáo miền Trung, đã trở thành bất diệt. Là một cảm hứng để thế hệ sau noi theo mà tập sống một đời sống giản dị, chân chất và thanh thoát của một người tu. Hình ảnh này hiện nay vẫn còn được một số các vị xuất sĩ gìn giữ, còn phần nhiều đã mai một đi. Màu y áo của chư tăng bây giờ đã biến dạng khá nhiều, cái màu đất nâu, giản dị, chân chất, thanh thoát của Nâu sồng từ trở màu thiền đang dần bị thay thế. Tôi luôn cảm thấy ấm áp và biết ơn khi nhìn thấy những vị vẫn còn giữ được nét “sồng” tâm linh ấy. 

Tôi luôn cảm thấy ấn tượng mỗi khi nhìn thấy bóng dáng người xuất sĩ, dù họ xuất hiện một mình hay với một đoàn thể có khi lên tới hàng trăm người. Họ đi từng bước thong dong trên các đường phố náo nhiệt, đông người để hóa duyên, khất thực, độ người, giúp đời như ở thành phố New York, London, Los Angeles, Hà Nội hay Sài Gòn… Ấn tượng trong tôi thật sâu đậm khi tận hưởng những giây phút cùng Sư Ông và tăng thân đi trên các vùng cao nguyên núi đồi của tu viện, đặc biệt trong các buổi ăn cơm quá đường. Tôi biết dù Sư Ông và tăng thân xuất hiện ở đâu, hình ảnh áo nâu và nón lá trong bước đi thong dong, thầm lặng, tĩnh tại luôn gây ấn tượng mạnh trong lòng người và tạo cảm hứng cho tất cả nhớ quay về với nếp sống giản dị, tri túc và thảnh thơi. 

Con gái của ba và biển cả

 Sư cô Chân Trăng Biển Tuệ xuất gia ngày 18 tháng 11 năm 2020 tại Tổ đình Từ Hiếu, trong gia đình cây Hoa Mộc. Hiện nay sư cô đang sống và tu học tại ni xá Diệu Trạm, Huế.

 

 

Ba kính thương!
Diệu Trạm chỉ cách nhà mình tầm 45km nhưng thời tiết mưa lạnh vẫn làm con nhớ nhà, nhớ về phá Tam Giang và nhớ bếp củi của mạ. Mạ thường nhen lửa vào mỗi tối trời mưa lạnh và mỗi buổi sáng sớm khoảng ba đến bốn giờ, lúc ba mạ vừa đi thả lưới trở về. Bên bếp lửa, ba mạ cùng hơ tay và đôi chân thô ráp cho ấm lên rồi mới đi ngủ. Ngoại trừ những ngày giông bão, dù cho trời mưa lạnh cách mấy ba mạ cũng gắng ra phá Tam Giang đánh bắt để có tiền nuôi ba anh em chúng con ăn học.

Bây chừ con gái của ba đã xuất gia tròn một tháng rồi. Khi con nhận được tên mới Chân Trăng Biển Tuệ, con vui lắm. Cái tên mới của con là biển, là nước, là quê hương nơi ba và con lớn lên. Mới ngày nào đó ba đã khóc và ngăn cản không cho con đi tu, cái không khí trầm lặng thiếu tiếng cười ấy con vẫn chưa quên. Con ở bên này nghe được bên kia cửa sổ cuộc nói chuyện của ba mạ và anh Minh khá căng thẳng. Ba nói: “Không cho đứa mô đi hết, một đứa đi đã đứt ruột đứt gan rồi, bây chừ mà đi nữa là tao chết cho bây coi”. Nói rồi ba bỏ vào nhà lớn, lên giường nằm im không ăn tối, cho đến sáng hôm sau ba mới dậy. Còn mạ và anh đều cứng rắn cố thuyết phục ba, dù buồn nhưng mạ đã sẵn sàng tinh thần trong một năm qua. Trước đó một năm, khi sư chú Trời Nắng Mới (em trai con) vừa mới xuất gia, con xin đi tu nhưng không được. Nhà mới sửa lại nên con cần phải đi làm để trả tiền ngân hàng. Thấy tình hình trong nhà căng thẳng nên con rất lo. Chỉ ít ngày nữa là quý thầy, quý sư cô và các anh chị trong tăng thân Tự Do – Huế về sinh hoạt quán niệm ở nhà mình và trên phá Tam Giang. Lỡ ba giận ba làm gì đó không hay thì con phải làm răng đây? Lúc đó con chỉ biết cầu nguyện và thầm gọi Sư Ông: “Sư Ông ơi! Sư Ông yểm trợ năng lượng cho con và gia đình con Sư Ông nhé!”.

Có Bụt, Tổ và Sư Ông lo rồi

Ngày nớ rồi cũng tới, tăng thân đã về nhà. Thiệt bất ngờ khi con thấy ba chào đón quý thầy, quý sư cô và các anh chị nhiệt tình. Ba còn tham dự thời khóa trọn ngày cùng tăng thân. Trong buổi pháp đàm, ba chia sẻ là ba đã chấp nhận cho con đi tu rồi. Ôi, con nghe chị kể lại mà vui quá chừng. Ba đã cảm nhận được năng lượng từ tăng thân và tình huynh đệ dành cho nhau trong một ngày qua. Ba đã yên tâm! Con thật sự biết ơn tăng thân nhiều lắm.

Những ngày con sắp vào chùa làm tập sự là khoảng thời gian hạnh phúc đối với con. Ba rủ con với bọn trẻ trong xóm chạy ghe ra phá tắm, chơi ngụp lặn coi ai lặn lâu hơn, ai bơi nhanh hơn và trồng cây chuối dưới nước nữa… Ba cũng trồng hoa mười giờ và làm chong chóng cùng bọn trẻ. Ba thật sự trở về làm một em bé mười tuổi, là bạn của con và bọn trẻ.

Buổi tối cuối cùng ở nhà, ba, mạ, dì, chị Khỏe và con cùng ngồi thiền tụng kinh gởi năng lượng bình an cho con. Sau đó ba ngồi lại dặn dò: “Đã không chịu lấy chồng rồi thì chừ gắng mờ tu răng cho có hạnh phúc, tu thì phải tu cho trọn đời…”

Vào chùa ba biết điều đầu tiên con hạnh phúc là chi không? Đó là con không còn ăn những bạn cá, bạn cua nữa. Con biết ba cũng thương các bạn cá, bạn cua lắm, nhưng vì mưu sinh, là cái nghề từ tổ tiên ông bà truyền lại cho ba và con cháu, ba đã gắn bó từ thuở niên thiếu cho đến năm hơn 60 tuổi. Ba đã kiên trì tập bỏ thuốc lá, là thứ giúp cho người ngư dân ấm lên trong những đêm khuya lạnh cóng. Trong suốt thời gian hơn năm năm mạ bệnh, ba đi làm một mình trên đầm phá, sáng sớm vào bờ, có cá ngon là ba để dành nấu cho mạ dù có những đêm ba làm được chừng bốn đến năm mươi ngàn, hay nhiều hơn nữa là chỉ một trăm ngàn đồng. Có lần con đi thả lưới với ba, con đã làm cho ba bực bội vì cái tội làm rối lưới. Ba phải dừng lại để gỡ ra rồi mới tiếp tục chống đò đi. Ba phải dùng sức nhiều mới đi lại được, rứa mà con lại giận và trách móc ba vì khi mô ba cũng la lối. Năm phút sau ba bắt chuyện vui vẻ với con nhưng con vẫn im lặng không cười. Bỗng dưng một cơn mưa đá rơi xuống, hai ba con chạy vào mui đò để núp, ngồi ngắm mưa đá rơi… và con đã cười lại với ba.

Sau ngày sư chú Trời Nắng Mới xuất gia, cả nhà đã quyết định chuyển nghề, không để ba đi đánh bắt cá nữa. Ba đã suy nghĩ một thời gian rồi chấp nhận buông cái nghề đã gắn bó với ba từ rất lâu. Mạ cũng bắt đầu ăn chay trường. Đó là một sự thay đổi lớn của nhà mình. Con thấy con rất may mắn khi được sinh ra trong ngôi nhà có đầy đủ tình thương của ba mạ, anh chị em và bạn bè.

Con biết ơn tổ tiên ông bà, ba mạ đã trao truyền cho con những hạt giống lành thiện, chân quê, biết thương người. Dù còn những hạt giống chưa dễ thương như bực bội, so sánh,… con xin chuyển hóa và tiếp nối những gì tổ tiên đang gửi gắm cho hai chị em chúng con.

Con kính tri ân Bụt, Tổ, Sư Ông và tăng thân đã cho con có cơ hội sống trong môi trường lành thiện, dạy cho con cách sống với lòng biết ơn, làm một người đẹp hơn – đẹp từ tâm.

Ba mạ, anh chị ơi, tu cùng hai chị em con cho vui nhé! À, khi mô có dịp ba nhớ hát “Vè cá”cho con nghe với nhé!

Thương ba nhiều

Con gái của ba và biển cả