Đạo Bụt đi vào cuộc đời

Tháng Bảy năm 1954, sau khi hiệp định Geneve được ký kết, đất nước Việt Nam bị chia đôi. Miền Bắc theo chế độ Cộng sản và miền Nam nhanh chóng theo phe chống Cộng sản với sự yểm trợ của Hoa Kỳ. Sự chia cắt đất nước tạo nên một thời kỳ loạn lạc và bất ổn với một số lượng lớn người di cư từ Bắc vào Nam.

Để có thể phát huy sức mạnh và làm cho tiếng nói của Phật giáo có sức ảnh hưởng, Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam, cơ quan thống nhất của tất cả các truyền thống và tông phái Phật giáo ở ba miền trong cả nước, đã được thành lập[i]. Thầy được Ban Giám Đốc Phật Học Đường Nam Việt tại chùa Ấn Quang ở Sài Gòn mời về để cải tổ lại chương trình giáo dục và thực tập cho học tăng và học ni tại đó. Rất nhiều người tu trẻ đã đi theo tiếng gọi của chủ nghĩa Mác xít, gia nhập vào cuộc đấu tranh giành lại độc lập tự do cho đất nước. Họ đã từ bỏ cuộc đời xuất gia để về miền quê giúp người nghèo. Sau này Thầy nói rằng có lúc chính Thầy cũng đã bị lý tưởng ấy thu hút[ii]. Một số người khác, vì cảm thấy chương trình tu học không phù hợp, đã quyết định theo đuổi nền giáo dục ngoài đời để trở thành các bác sĩ, kỹ sư. Trước thực trạng ấy, Thầy đã cố gắng xây dựng một chương trình giáo dục Phật giáo phù hợp hơn để đáp ứng nhu cầu của người trẻ, và lần đầu tiên, tăng sinh tốt nghiệp sẽ được nhận một bằng cấp tương đương với nền giáo dục ngoài đời.

Và thế là từ mùa hè năm 1954, Thầy được cử làm Giám học tại Phật học đường Nam Việt[iii]. “Tôi đã triệu tập một số cuộc họp mặt của hàng trăm thầy và sư cô trẻ“, Thầy nhớ lại, và chúng tôi đã tạo nên một bầu không khí đầy hy vọng, niềm tin và tình thương. Một vị tôn túc trong Tổng hội Phật giáo có đến dự một buổi họp, và lắng nghe các thầy, các sư cô trẻ bày tỏ niềm ước mong sâu sắc nhất của họ đối với nền Phật giáo nước nhà.“[iv] Sau những buổi họp ấy, một chương trình đào tạo mới tại chùa Ấn Quang được đưa ra, lần đầu tiên kết hợp các môn học truyền thống của Phật giáo với các môn thế học như khoa học, toán học, triết học Tây phương, ngoại ngữ, lịch sử và văn chương. Lần đầu tiên bằng cấp của Phật học đường Nam Việt có giá trị tương đương với những bằng cấp ngoài đời.

Thầy còn giúp thành lập một hội Sinh viên và xuất bản tập san có tên là Sen Hái Đầu Mùa. Thầy biết là “Công cuộc duy tân đạo Phật đòi hỏi một cuộc cách mạng về giáo lý, giáo chế, và về giáo sản nữa. Chừng nào các Phật học đường đào tạo được một số người đáng kể, chừng đó cuộc duy tân mới được thực hiện“[v]. Để thử nghiệm hình thức “chủng viện“ (séminaire) kiểu mới, Thầy bắt đầu tổ chức lại mọi phương diện tu học và đời sống hàng ngày của các học tăng. Để giúp cho các lớp học thêm sinh động, Thầy cũng dạy cho họ các bài dân ca và các bài ca Phật giáo mới[vi]. Thầy còn đưa các học tăng đi dã ngoại, đi cắm trại ở biển. Thầy cho dỡ bỏ các bức vách ngăn giữa các phòng ở của các học tăng để cho khoảng 40 học tăng sống chung trong một phòng ký túc xá rộng rãi và thoáng khí. Ở phía trước cư xá có một câu châm ngôn: “Học tăng là sức sống của đạo pháp đang lên”[vii]. Sau này Thầy có viết: “Thật là hạnh phúc khi được tham gia thực hiện giấc mơ mà tôi đã ấp ủ từ lâu[viii].

Thầy dạy các môn Phật pháp căn bản, Lịch sử Phật giáo, Văn chương Việt Nam, ngoài ra còn dạy kỹ năng viết văn và làm thơ. Thầy mời các vị khách tăng đến thuyết giảng mỗi khi có dịp, như Pháp sư Diễn Bồi đến từ Trung Quốc và thầy Ananda Mangala đến từ Ấn Độ. Thầy dạy về thơ của Victor Hugo và khuyến khích các học tăng học tiếng Pháp. Vào lúc 8 giờ tối mỗi ngày, họ học tiếng Pháp trên đài Pháp Á (France Asia) phát qua các loa phóng thanh công cộng ở các góc phố[ix]. Khóa học được yêu thích nhất của thầy là Văn chương Phật giáo, một môn học mới do Thầy tiên phong giảng dạy. Thầy bình giảng về thơ và những bài kệ  bằng tiếng Việt hay Hán Việt của các Tổ, và trình bày các kinh điển Đại thừa trong ánh sáng của nền văn học A-tỳ-đạt-ma (Abhidharma)[x]. Thầy khuyến khích các học tăng thảo luận ngoài giờ về Phật giáo, văn chương Pháp và về thực trạng của đất nước[xi]. Tại Ấn Quang, Thầy cũng bắt đầu dạy một số lớp dành cho những học tăng có trình độ cao hơn về triết học Tây phương, về những triết thuyết của Hegel, Nietzsche, Sartres và Camus, để sau này khi ra giảng dạy, các học tăng có thể trả lời những câu hỏi của các nhà trí thức đương thời[xii].

Đối với các học tăng, đây là một cách giảng dạy rất mới lạ, chú trọng vào việc tạo cảm hứng cho học viên – điều này rất khác so với phương pháp giảng dạy truyền thống trong các viện Phật học. Khi nói đến Thầy thì ai cũng hình dung ra “một vị sư trẻ tuổi mắt sáng đen, trầm ngâm, ít nói, chỉ cười cười, có nói thì nói nhỏ nhẹ từ tốn. Thầy không phê bình ai cả, chỉ lẳng lặng sống im lìm như đang theo đuổi những tư tưởng lớn tinh tế chứa trong bộ óc mình.”[xiii] Tuy vậy, Thầy vẫn nhấn mạnh việc học thuộc lòng tất các bài kinh, thơ, hoặc bài viết mà học viên đang học để chúng đi vào tàng thức và giúp cho học viên phát triển kỹ năng viết lách và làm vốn từ vựng thêm giàu có. Lúc ấy cách đào tạo của Phật giáo truyền thống là đặt trọng tâm vào việc học chữ Hán và Hán Việt. Nhưng Thầy thấy là giúp cho thế hệ tăng sinh trẻ khám phá được cái đẹp và sức mạnh của ngôn ngữ tiếng Việt, cũng như có khả năng viết lách bằng tiếng Việt là điều rất quan trọng. Rất nhiều tăng sinh học với Thầy tại chùa Ấn Quang sau này đã trở thành những thầy giáo và học giả có uy tín[xiv].

Đồng thời với việc trở thành Giám Học tại chùa Ấn Quang (1954), Thầy đã ghi danh để học trong một trường đại học vừa mới được thành lập, đó là trường Đại học Văn Khoa Sài gòn. Muốn ghi danh, Thầy phải đăng ký tên họ chính thức với chính quyền. Vì vậy nên cũng như rất nhiều người trong thời kỳ đầy biến động của đất nước, Thầy đã đổi tên và chọn đăng ký dưới tên Nguyễn Xuân Bảo. Trong khóa sinh viên đầu tiên có Doãn Quốc Sỹ, sau này trở thành những nhà văn nổi tiếng ở Việt Nam.

Từ chùa Ấn Quang, Thầy thường đạp xe đến trường đại học, và sau khi tan học thì đạp xe về lại Ấn Quang để dạy. Một ngày nọ, Thầy không khỏi bất ngờ khi thấy cuốn sách Đông phương luận lý học của Thầy được sử dụng làm tài liệu học trong lớp mà Thầy đang theo học. Thầy chỉ im lặng và giữ điều “bí mật” ấy cho riêng mình. Thầy hoàn tất chương trình đại học và nhận bằng cử nhân Văn chương Pháp và Việt, trong khi vẫn tiếp tục làm thơ, viết báo, viết sách cho xuất bản[xv].

Thầy Thích Trí Không, một trong những học tăng từng học với Thầy trong thời gian đó, đã ghi lại rất rõ ràng những kỷ niệm trong lớp học với Thầy tại chùa Ấn Quang trong những năm 1950. Thầy Trí Không nhớ lại là Thầy đã dạy các học tăng không nên tin những gì họ nghe trên radio, và không bao giờ áp đặt quan điểm của mình lên người khác. Thầy khuyến khích các học tăng suy ngẫm về những gì họ được nghe, tư duy với tinh thần phản biện và quán chiếu một cách sâu sắc.

Chính trong thời kỳ này, vào năm 1955, chính quyền Ngô Đình Diệm – một nhà lãnh đạo theo Cơ đốc giáo – bắt đầu củng cố quyền hành bằng cách sử dụng tất cả mọi phương tiện, bao gồm cả tuyên truyền, dọa nạt và đàn áp những người có quan điểm chính trị đối lập. Người theo đạo Cơ đốc được chính quyền yểm trợ một cách công khai, trong khi đó những người theo đạo Bụt càng lúc càng bị đàn áp và bị đẩy ra lề xã hội. Những hy vọng về một cuộc bầu cử dân chủ để thống nhất đất nước dần dần tắt lịm khi Việt Minh ngày càng chiếm thế thượng phong và chính phủ Ngô Đình Diệm, dưới ảnh hưởng của ngoại quốc, làm mọi cách có thể để ngăn chặn một cuộc tổng tuyển cử tự do. 

Ông Vũ Ngọc Các – chủ bút của nhật báo Dân chủ, một tờ báo trung lập – mời Thầy viết một loạt 10 bài báo quan trọng[xvi]. Ông muốn Thầy chỉ ra sức mạnh và khả năng mang lại ánh sáng cho đất nước của Phật giáo Việt Nam, cũng như chứng minh rằng đạo Bụt không phải là bất cập hay lỗi thời như nhiều người vẫn nói. Và thế là trong tình trạng bất ổn và đầy sức ép của một đất nước bị chia cắt, cái nhìn của Thầy về một đạo Bụt dấn thân đã định hình. Được in ở trang bìa của tờ báo, dưới bút hiệu Thạc Đức với tựa đề Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới, những bài báo táo bạo của Thầy đề ra một hướng đi mới cho dân chủ, tự do, nhân quyền, tôn giáo và giáo dục. Các bài báo này đã gây ra một cú sốc trong cả nước[xvii]. Bài báo thứ mười, cũng là bài cuối trong loạt bài này, là một sự chỉ trích của Phật giáo đối với thuyết “nhân vị“ của Tổng thống Diệm[xviii]. Tháng Hai năm 1957, những bài viết đó được Hội Phật học Nam Việt in thành sách, và chúng đã trở thành chuẩn mực cho một hướng đi đích thực của Phật giáo Việt nam trong tình hình hỗn loạn của đất nước lúc bấy giờ[xix].

Năm 1955, sau bảy năm, Thầy trở về Huế thăm Sư Ông – thầy bổn sư và thăm gia đình. Sư Ông và các huynh đệ ở chùa Tổ rất vui khi thấy Thầy về. Tại Phật học đường Báo Quốc, Thầy được mời chia sẻ với các tăng sinh của trường. Thầy cũng rất hạnh phúc khi được về thăm gia đình và đây là lần cuối cùng Thầy được thấy mẹ Thầy vẫn còn khỏe mạnh[xx].

Khi tên tuổi của Thầy được biết đến nhiều hơn, tại Hội nghị lần thứ hai của Tổng hội Phật giáo năm 1956, Thầy được mời làm chủ bút của nguyệt san Phật giáo Việt nam, cơ quan ngôn luận chính thức của Tổng hội[xxi]. Thầy đã sử dụng hơn mười bút hiệu để viết rất nhiều bài về lịch sử Việt nam, văn chương thế giới (về Tolstoy, Albert Camus, Victor Hugo), triết học, kinh điển Phật giáo, thời sự, truyện ngắn, và làm những bài ca dao mới – nói chung là Thầy sử dụng mọi phương tiện để thúc đẩy hòa giải và nâng cao tinh thần hòa hợp giữa Phật giáo miền Bắc và miền Nam[xxii]. Thầy đào sâu vào lịch sử Việt Nam để đề ra một con đường đưa đất nước ra khỏi hoàn cảnh hiện tại, đặc biệt là vai trò “dấn thân” của Đạo Bụt trong thời kỳ Lý Trần từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIII – vốn đã gây cho Thầy rất nhiều cảm hứng từ khi Thầy còn là một sư chú.

Trong lúc cả Cơ đốc giáo và những thế lực ảnh hưởng ngoại quốc đang chiếm ưu thế, tờ Phật giáo Việt Nam trong vai trò lãnh đạo trở thành một tiếng nói quan trọng của văn hóa dân tộc và truyền thống tâm linh Việt nam. Tờ báo được bán trong các quán sách và sạp báo ngoài phố, đó là một điều khá bất thường lúc bấy giờ[xxiii]. Biên tập tờ báo Phật giáo Việt Nam này là một cơ hội để Thầy góp phần đẩy mạnh việc thống nhất các truyền thống Phật giáo lại với nhau thành một giáo đoàn duy nhất, có đủ sức mạnh đứng vững và đáp ứng lại các hiểm họa và thử thách từ các thế lực chính trị. Với sự thành công của tờ báo, Thầy trở thành một trong những nhân vật nổi bật, có tầm nhìn xa trông rộng. Thế nhưng, xét trên nhiều phương diện thì những quan điểm của Thầy về khả năng đóng góp của Phật giáo Việt Nam đối với tình trạng của đất nước dường như đi trước thời đại quá xa. Cuối cùng, nỗ lực thống nhất Phật giáo của Thầy đã không thành công, một mặt vì sự chống đối của những thành phần thủ cựu trong tổ chức Phật giáo, một mặt vì tư tưởng về một đạo Bụt mới của Thầy chưa được giới cư sĩ hưởng ứng[xxiv].

Trong khi thời cuộc trên đất nước thay đổi một cách nhanh chóng, tình trạng sức khỏe của mẹ Thầy cũng suy sụp trầm trọng. Thầy và anh An đưa mẹ về ở chung tại Đà Lạt. Thầy Thích Giải Thích (anh Nho) và chị cả của Thầy cùng về sống chung để chăm sóc cho mẹ. Cả bốn anh chị em Thầy đã cùng có mặt khi mẹ qua đời vào ngày trăng tròn, tháng chín âm lịch năm 1956. Thầy viết trong nhật ký “Tai nạn lớn nhất đã xảy ra cho tôi rồi!”. Sau này, Thầy giải thích: “Lớn cách mấy mà mất mẹ thì cũng như không lớn, cũng cảm thấy bơ vơ, lạc lõng, cũng không hơn gì trẻ mồ côi.”[xxv]

 

 

[i] Ngày 6.5.1951, năm mươi mốt đại biểu của sáu tập đoàn Phật giáo Nam, Trung và Bắc họp hội nghị tại chùa Từ Đàm, Huế đã đồng thanh quyết nghị thành lập Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam. (Nguồn: Việt Nam Phật Giáo Sử Luận – Nguyễn Lang)

[ii] Mindfulness Bell, issue #34, Autumn 2003

[iii] Từ năm 1953, Thầy đã bắt đầu giảng dạy tại Phật học đường Nam Việt.

[iv] Cultivating the Mind of Love (1996), tr.30.

[v] Trích từ bài viết “Trả về”, tác phẩm Tình người – NXB Lá Bối

[vi] “Năm 1940, cư sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám quy tụ một số thanh niên tri thức tân học tại Huế và thành lập Đoàn Thanh Niên Phật học Đức Dục (Commission d’Études Bouddhique et de Perfectionnement Moral). Đoàn Thanh Niên Phật Học Đức Dục lúc ấy là tượng trưng cho một đạo Phật rất mới. Bài ca chính thức của đoàn được soạn và hát bằng tiếng Pháp” (Trích Việt Nam Phật giáo Sử Luận – chương 28). Họ sáng tác và phổ biến rất nhiều bài hát về Phật giáo. Thầy đã dạy một số bài hát của đoàn cho các học tăng tại chùa Ấn Quang. 

[vii] Trích từ hồi ký của HT. Thích Trí Không, cũng như chia sẻ của Sư Ông ngày 25.5.2014 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, xóm Hạ, với sự có mặt của HT. Như Huệ và HT. Minh Cảnh, trong Đại giới đàn Cam Lộ Vị. Lời chia sẻ này đã được đăng trên Trang nhà Làng Mai: https://langmai.org/cong-tam-quan/thong-tin-sinh-hoat/sinh-hoat-nam-2014/dai-gioi-dan-cam-lo-vi/dai-gioi-dan-cam-lo-vi-hoan-man/

[viii] Cultivating the Mind of Love (1996), tr.30.

[ix] Theo hồi ký của HT. Trí Không, Thầy đã viết thư cho các nhà xuất bản để xin những cuốn sách học tiếng Pháp cho các vị xuất gia trẻ. Ban đầu, các học tăng cảm thấy thích thú với cách học mới mẻ mà Thầy đưa ra, nhưng rồi họ lại nản lòng vì ngữ pháp tiếng Pháp quá khó.

[x] Theo hồi ký của HT. Trí Không, các học tăng ở chùa Ấn Quang thời ấy đã được Thầy dạy những bài thơ đầy tuệ giác của các Thiền sư thời Lý – Trần, trong đó có những bài thơ của Thiền sư Vạn Hạnh. Họ cũng được học các bài kệ của Tổ Quy Sơn.

[xi] Hồi ký của HT. Trí Không

[xii] Trong lớp học này có những người sau này trở thành những danh tăng của Việt Nam như HT. Thích Huyền Vi, HT. Thích Thanh Từ.

[xiii] Hồi ký của HT. Trí Không

[xiv] Như trên

[xv] Như trên

[xvi] Theo hồi ký của Thầy, những bài viết này được đăng vào năm 1955.

[xvii] Pháp thoại của Thầy, ngày 6.5.2008 tại Hà Nội; Hồi ký của HT. Trí Không

[xviii] Tất cả những ai làm việc cho chính phủ Ngô Đình Diệm đều phải theo thuyết Nhân Vị này – một đường lối khác biệt với chủ nghĩa tự do cũng như chủ nghĩa Cộng sản. 

[xix] Đạo Phật Qua Nhận Thức Mới được xuất bản năm 1957 bởi Hội Phật Học Nam Việt. Trong lần đầu tiên phát hành,  5000 cuốn đã được bán hết nhanh chóng.  Nguồn: Hồi ký của HT. Trí Không.

[xx] Hồi ký của Thầy

[xxi] https://thuvienhoasen.org/p118a26248/6/tap-chi-phat-giao-viet-nam

[xxii] Những bút hiệu mà Thầy đã sử dụng như Hoàng Hoa (thơ: Ánh Xuân Vàng, Thơ ngụ ngôn), Thạc Ðức (những bài viết về đạo Bụt nhập thế, hòa giải dân tộc), Nguyễn Lang (Việt Nam Phật giáo Sử Luận), Dã Thảo (những bài báo về đề tài làm mới đạo Bụt, vai trò của đạo Bụt trong xã hội, ảnh hưởng của đạo Bụt đối với triết học Tây phương, cũng như một loạt bài đề nghị đổi mới cơ cấu tổ chức của Phật giáo), Tâm Kiên (dân ca mới), Minh Hạnh (bình luận về văn chương Việt Nam và văn chương Pháp), Phương Bối (thông điệp cho người trẻ), B’su Danglu (làm mới đạo Bụt), Tuệ Uyển (đạo đức Phật giáo), Tâm Quán (truyện ngắn), Thiều Chi (những truyện ngắn, bài viết về các bậc danh tăng) và Nhất Hạnh.

[xxiii] Hồi ký của HT. Trí Không

[xxiv] Trích từ tác phẩm Cultivating the Mind of Love, tr. 30

[xxv] Tác phẩm Bông Hồng Cài Áo được xuất bản lần đầu tiên tại Việt Nam vào năm 1962 với tên Nhất Hạnh.

Tìm một hướng đi mới

Cuối mùa xuân năm 1949, sau hai năm tu học ở Phật học đường Báo Quốc, Thầy – lúc đó 23 tuổi – cùng hai người bạn, những người đã cùng Thầy thành lập tờ Tiếng Sóng, quyết định rời Huế vào Sài gòn tiếp tục con đường tu học[i]. Vì cuộc chiến Đông Dương lần thứ nhất vẫn còn đang tiếp diễn, Thầy và các bạn đã chọn đi đường vòng, có lúc phải đi thuyền để tránh các đoạn đường bị thiết quân luật. Trên đường đi, những người xuất gia trẻ này đã khẳng định hạnh nguyện trở thành những vị bồ tát của hành động bằng cách chọn cho mình một cái tên mới. Cả ba vị đều đồng lòng lấy tên có chữ “Hạnh“, có nghĩa là hành động. Vậy là Thầy (sư chú Phùng Xuân) trở thành “Nhất Hạnh“ (hành động duy nhất), hai vị kia có tên là“Chánh Hạnh“ và “Đường Hạnh“[ii]. Từ ngày đó trở đi, Thầy đã được biết đến dưới pháp hiệu Thích Nhất Hạnh.

Khi đến Sài Gòn, trong lúc cuộc kháng chiến chống Pháp còn đang tiếp diễn, Thầy và các bạn đã trú ngụ và học tập tại chùa Ấn Quang cũng như một số chùa khác. Đôi khi chỉ ở một vài tuần hay một vài tháng trong khi tiếp tục cố gắng theo đuổi con đường học hỏi đã tự đề ra. Sau một thời gian ngắn, vào mùa thu 1949, quyển thơ đầu tay Tiếng Địch Chiều Thu của Thầy đã được xuất bản, gồm khoảng 50 bài thơ, trong đó có cả một kịch thơ. Tiếp theo đó, tập thơ Ánh Xuân Vàng gồm những bài thơ được làm theo thể thơ “tự do“ cũng được xuất bản[iii]. Tập thơ của Thầy chuyên chở những trải nghiệm, những khổ đau, mất mát trong chiến tranh đã được độc giả đón nhận một cách nồng nhiệt.

Thầy và những người bạn của mình là những vị tu sĩ Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam tìm học thêm những môn tân học. Thầy và các bạn đã tận dụng thư viện Quốc gia tại Sài gòn cho việc học của mình. Trong truyền thống Phật giáo Việt Nam, các vị xuất gia không được phép học các môn thế học. Nhưng Thầy và các bạn, song song với việc học Tam tạng kinh điển, lại rất hăng hái học các môn khoa học, văn chương thế giới, ngoại ngữ, triết học và tâm lý học. Sau này Thầy hồi tưởng lại: “chúng tôi tin rằng những môn học này có thể giúp chúng tôi làm cho sự thực tập đạo Bụt gần gũi với đời sống. Ta cần nói ngôn ngữ của thời đại để giảng bày giáo lý của Bụt theo một cách mà mọi người có thể hiểu được“[iv].

Mùa thu năm 1950, Thầy đã cùng thầy Trí Hữu thành lập nên chùa Ấn Quang. Chùa làm bằng mái tranh, vách đất, hồi đó gọi là chùa Ứng Quang. Sau này chùa Ấn Quang trở thành Phật học đường Nam Việt – một viện Phật học với tinh thần đổi mới. Thầy là vị giáo thọ trẻ nhất trong Phật Học Viện[v]. Thầy tiếp tục học hỏi, nghiên cứu và vào mùa xuân năm 1950, cuốn sách đầu tiên của Thầy về Phật học, có tên là Đông phương luận lý học đã được NXB Hương Quê ấn hành. Quyển sách bàn thảo về luận lý học Đông Phương trong ánh sáng của triết học Tây Phương theo Aristotle, Hegel, Marx và Engels.

Cũng trong giai đoạn này, Thầy và những người bạn của mình bắt đầu có những hành động vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống. Họ thuộc về số tu sĩ Phật giáo đầu tiên dám đạp xe đạp trên đường phố[vi]. Thầy đã có một bước đi khá táo bạo là ghi danh tham dự kỳ thi Tú tài ở Sài gòn vào tháng 9 năm 1951, lấy mảnh bằng cần thiết để bước vào đại học[vii].

Vào tháng 10 năm 1951, Thầy được thọ giới Tỳ kheo ở tuổi 25, tại Đại giới đàn được tổ chức tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn, do Hòa thượng Thích Đôn Hậu làm Hòa thượng đường đầu[viii]. Sau khi quyển sách Đông phương luận lý học của Thầy được xuất bản, Thầy được mời lên Đà Lạt để biên tập tạp chí Phật giáo Hướng Thiện, đồng thời hướng dẫn các tập sự xuất gia tại một trong những ngôi chùa ở đó. Thầy cũng hướng dẫn tu học cho một nhóm học tăng tại chùa Linh Quang[ix]. Hào hứng khám phá những chân trời mới, Thầy viết những bài báo về triết học Phật giáo và một đạo Bụt mới, phóng tác một vở kịch dựa trên kịch bản Le Tartuffe của Molière, sau này được in với tựa đề Cậu Đồng[x]. Để chuẩn bị cho Tết Nguyên đán vào tháng 2 năm 1952, Thầy đã giúp các học tăng dựng vở kịch này. Khi nhìn lại thời gian ấy, Thầy viết: “Năm đó tôi 24 tuổi, đầy năng lượng sáng tạo, là một nghệ sĩ, một nhà thơ. Trên tất cả mọi thứ, tôi muốn giúp làm mới lại đạo Bụt ở Việt Nam để có thể đáp ứng lại nhu cầu của người trẻ.“[xi]

Dù cuộc chiến tranh chống Pháp ở Đông dương vẫn đang tiếp diễn, và những thế lực Thiên chúa giáo đô hộ đang tìm mọi cách có thể để chiếm ưu thế trở lại, những người Pháp trí thức sống tại Đà Lạt lạ thay lại rất hiếu kỳ và tôn trọng Phật giáo. Và hàng tuần Thầy đều có bài giảng cho họ tại chùa Linh Sơn. Lúc ấy, những tờ báo Pháp như Tư tưởng Phật giáo (La Pensée Bouddhique), do bà Marguerite La Fuente ở Paris làm chủ bút, được phát hành ở Sài gòn. Tờ báo cung cấp một nguồn nghiên cứu nghiêm túc, có tính hàn lâm và rất phong phú về đạo Bụt để Thầy tham khảo. Lấy cảm hứng từ tờ tạp chí Phật giáo Pháp là tờ Hoa Sen Xanh (Le Lotus Bleu), Thầy nhanh chóng đổi mới tạp chí Hướng Thiện thành cỡ nhỏ hơn, và đổi tên thành tạp chí Liên Hoa.

Trong khoảng thời gian đầu những năm 1950, Thầy phải chia thời gian của mình ra cho hai nơi là Đà lạt và Sài gòn, nơi Thầy dạy học, viết báo và hoàn tất chương trình Tú tài. Những bài giảng về Chỉ và Quán của Thầy tại giảng đường hội Phật Học Nam Việt (trụ sở tại chùa Phước Hòa, Bàn Cờ, Sài Gòn) đã được làm thành sách Chỉ Quán Yếu Lược[xii]. Thỉnh thoảng Thầy được mời dạy các khóa học ở Đồng Nai Thượng. Thật không dễ dàng chút nào cho Thầy về mặt tài chánh để duy trì cuộc sống độc lập. Thầy và các bạn lại không đi về hướng nhận sự bảo trợ tài chính từ cư sĩ. Tiền nhuận bút từ các bài viết và sách của Thầy giúp duy trì những nhu cầu căn bản nhất, nhưng không phải lúc nào cũng có. Nhiều lúc Thầy không có đủ thuốc men và nghỉ ngơi cũng không đủ, vì vậy sức khỏe của Thầy trong thời gian đó rất kém và khá mong manh.

Cuối năm 1952 tại Đà Lạt, Thầy và anh trai tên là An (ở nhà gọi là Bé Anh) cùng thành lập trường trung học và tiểu học Tuệ Quang. Đây là ngôi trường tư thục đầu tiên của Phật giáo do các vị xuất gia phụ trách điều khiển, đem lại cho các gia đình Phật tử một chương trình giáo dục có hệ thống, mà cho đến thời điểm ấy chỉ có thể tìm được tại các trường Cơ đốc giáo của người Pháp[xiii]. Trong chương trình đào tạo của trường Tuệ Quang có các môn về khoa học và cả tiếng Pháp. Các vị xuất gia trẻ có thể được miễn học phí, nếu điều kiện tài chính khó khăn.

Những bài giảng, bài viết của Thầy được đăng trên báo Hướng Thiện từ năm 1951 bắt đầu được xuất bản thành sách. Hai cuốn sách Là Phật tử (NXB Hương Quê) và Gia đình tin Phật (NXB Đuốc Tuệ) được phát hành vào năm 1953, và được trích đọc hàng tuần trong chương trình về Phật giáo của đài phát thanh lúc bấy giờ. Đây là những bước khởi đầu của Thầy trong việc xây dựng, phát triển những pháp môn thực tập hữu hiệu dành cho người trẻ, cho các gia đình, cũng như những thực tập liên quan đến sự truyền thông trong gia đình, trong môi trường làm việc. Lúc đó Thầy hy vọng là trong tương lai Thầy có thể “thấy các thầy và các sư cô điều hành các trường trung học, mẫu giáo và trung tâm y tế, áp dụng thiền tập vào công việc phụng sự giúp đời, nghĩa là không chỉ nói về lòng từ bi, mà biểu lộ lòng từ bi qua hành động.”[xiv]

 

 

 

[i] Trong tác phẩm Creating True Peace: Ending Conflict in Yourself, Your Community and the World (2001) tr.22, Thầy đã nói: “Tôi rời Phật học đường Báo Quốc vì tôi thấy những bài giảng và phương pháp thực tập ở đó không đáp ứng được những đòi hỏi của thực trạng xã hội Việt Nam lúc bấy giờ. Nhưng tôi không từ bỏ con đường tu của mình.” Trong tác phẩm Cultivating the Mind of Love (1996) tr.21, “Chúng tôi rời Phật học đường Báo Quốc ở Huế, bởi vì chúng tôi cảm thấy những bài giảng ở trường không đáp ứng được nhu yếu của chúng tôi.”

[ii] Tài liệu cá nhân chưa được công bố của Thầy. Chữ “Hạnh” trong tên của Thầy và hai người bạn đồng tu gợi nhớ đến Thiền sư Vạn Hạnh, một bậc danh tăng kiệt xuất vào thế kỷ X-XI, tinh thông đạo Bụt, đạo Khổng và đạo Lão. Thiền sư đã từng là cố vấn của vua Lê Đại Hành. Vạn Hạnh nghĩa là “một vạn hành động”, còn Nhất Hạnh nghĩa là “một hành động duy nhất”. Sau này khi nói về pháp hiệu của mình, Thầy nói rằng: không giống với bậc tiền bối lỗi lạc của mình, Thầy cần tập trung vào một việc duy nhất mà thôi. Nguồn: Sallie B. King, “Thich Nhat Hanh and the Unified Buddhist Church of Vietnam: Nondualism in Action,” in Christopher S. Queen and Sallie B. King (Eds.) Engaged Buddhism: Buddhist Liberation Movements in Asia (1996), Chương 9.

[iii] Tiếng Địch Chiều Thu được xuất bản với tên Nhất Hạnh vào năm 1949 bởi NXB Long Giang. Tiếp sau đó là tác phẩm Thơ Ngụ ngôn được ra mắt đọc giả với bút danh “Hoàng Hoa”, do NXB Đuốc Tuệ ấn hành vào năm 1950. Không lâu sau đó, cũng trong năm 1950, tập thơ Ánh Xuân Vàng được xuất bản.

[iv]  Tác phẩm Cultivating the Mind of Love (1996), tr.22.

[v]  Pháp thoại ngày 27 tháng 6 năm 1999, tại xóm Thượng, Làng Mai; và pháp thoại ngày 6.5.2008 tại Hà Nội. Chùa Ấn Quang được thành lập năm 1949. Thầy Trí Hữu và Thầy là hai người đầu tiên sáng lập ra chùa Ấn Quang. Ngày nay, chùa Ấn Quang là một trong những ngôi chùa nổi tiếng nhất ở Tp. Hồ Chí Minh.

[vi] Pháp thoại ngày 10.5.2014. Thầy và các bạn đạp xe dọc bãi biển ở Nha Trang.

[vii] Tại trường trung học Vương Gia Cần ở Sài Gòn. Vào thời ấy, việc người tu đi học thế học là không phù hợp.

[viii] Tiểu sử HT. Thích Đôn Hậu (Trích: Tiểu sử danh tăng Việt Nam thế kỷ XX – tập 1, TT. Thích Đồng Bổn chủ biên, Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh ấn hành năm 1995)

[ix] Để biết thêm về những hoạt động của Thầy tại Đà Lạt vào năm 1950, có thể đọc tác phẩm

 Cultivating the Mind of Love (1996).

[x] Những bài viết của Thầy được xuất bản thành sách Gia Đình Tin Phật bởi NXB Đuốc Tuệ vào năm 1953. Qua các bài viết này, Thầy đưa ra những phương pháp thực tập mới mẻ và cụ thể để người Phật tử có thể áp dụng những giáo lý của Bụt vào trong đời sống gia đình; ngoài ra còn hướng dẫn những nghi thức tụng niệm rất ý nghĩa mà người Phật tử có thể thực tập tại nhà.

[xi] Trích từ tác phẩm Cultivating the Mind of Love (1996), tr.11

[xii] Chỉ Quán Yếu Lược do Hội Phật Học Nam Việt xuất bản năm 1955, in lại từ tạp chí Từ Quang. 

[xiii] Tác phẩm “Bây giờ mới thấy” – NXB Phương Đông, trang 42. Đến năm 1970, có 72 trường tiểu học và 65 trường trung học tư thục được xây dựng dựa trên mô hình này. Các trường này có tên là trường Bồ Đề, với 58.000 học sinh. Đến năm 1975, tất cả các trường này đều trở thành trường công, dưới sự quản lý của Bộ Giáo dục.

[xiv] Cultivating the Mind of Love (1996), tr.22.

Đời sống xuất gia: Gốc rễ truyền thống

Lúc bấy giờ Việt Nam đang bị Nhật chiếm đóng (1940-1945), bên ngoài khuôn viên chùa tình hình rất căng thẳng. Lương thực, thực phẩm hết sức khan hiếm và đỉnh điểm là nạn đói năm Ất Dậu (1945). Thế nhưng không khí bên trong chùa thì bình an và ấm áp tình huynh đệ. Thầy vẫn thường hay nhắc đến những năm làm sa di như là một thời kỳ hạnh phúc[i]. Sư chú Phùng Xuân có liên hệ gần gũi với thầy bổn sư và được Người thương yêu rất mực. Cuộc sống của sư chú ở chùa Từ Hiếu rất đơn sơ[ii]. Trong chùa không có điện, không có nước máy. Nhiệm vụ hàng ngày của sư chú là đốn củi, gánh nước giếng, quét sân chùa, làm vườn và chăn bò. Đến mùa thì giúp gặt, đập và xay lúa. Khi được làm thị giả cho thầy, mỗi sáng sư chú dậy từ rất sớm, đốt lửa nấu nước pha trà dâng lên thầy. Chùa theo truyền thống “bất tác bất thực“ nên tất cả mọi người trong chùa, từ vị lớn nhất đến người mới vào chùa đều tôn trọng quy tắc này.

Sư chú được dạy phải hoàn toàn có mặt và chú tâm vào công việc, dù đó là việc rửa bát, đóng cửa, thỉnh chuông đại hồng, hay thắp hương. Sư chú học thuộc lòng quyển Tỳ Ni Nhật Tụng Thiết Yếu bằng chữ Hán, do thiền sư Độc Thể biên tập. Trong đó có khoảng 45 bài kệ để mỗi khi làm bất cứ việc gì trong cuộc sống hàng ngày, sư chú cũng có sẵn một bài kệ thích hợp để thầm đọc và nhắc nhở mình giữ gìn sự chú tâm[iii]. Sư chú học cách một vị xuất gia ngồi, đi, ăn, và tụng kinh với lòng từ bi và sự bình an. Sư chú tham gia hai thời công phu sáng tối và cúng ngọ bằng chữ Hán. Sư chú cảm thấy tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh rất hùng hậu, làm tinh thần phấn chấn và khỏe khoắn. Có một lần sư chú được đi theo Sư Ông đến viếng chùa Hải Đức ở Huế. Sư chú nhìn thấy một vị thiền sư đang ngồi. “Ngài không phải đang ngồi thiền trong thiền đường mà chỉ đơn giản là đang ngồi trên một cái sập gỗ (bộ ván gỗ). Ngài ngồi rất đẹp, rất thẳng, mềm mại và tự nhiên lắm. Thầy rất ấn tượng trước hình ảnh ấy. Ngài trông thật an nhiên và thư thái. Tự nhiên, trong trái tim của chú sa di phát sinh một lời nguyện, một sự ưa thích là làm sao mình có thể ngồi được như vậy. Ngồi được như vậy là hạnh phúc rồi, không cần nói gì hết, không cần làm gì hết, chỉ cần ngồi thôi.“[iv]

Trong chùa, Thầy tiếp nhận sự dạy dỗ và rèn luyện theo cách thức của các chùa truyền thống. Kiến thức về Hán văn của Thầy ngày càng tiến bộ. Thầy tranh thủ cả những lúc đi chăn bò để học thêm và là người duy nhất trong chùa biết nói tiếng Pháp. Những bài viết của Thiền sư Mật Thể (1912-1961) và nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (1883-1940) đã gây cảm hứng rất lớn cho Thầy[v]. Hai vị này đã thấy được bề dày lịch sử của Thiền tông Việt Nam và khả năng đạo Bụt có thể đem lại một “mùa xuân mới“ cho đất nước, một đạo Bụt mới mà vào thời điểm đó đang được khởi xướng bởi nhiều nhà cải cách hiện đại ở nhiều nước[vi]. Ở nửa thế kỷ đầu của thế kỷ XX, có những người Việt Nam đã nhận thấy rằng đạo Bụt đã trở nên lỗi thời và già cỗi, không còn phù hợp để đáp ứng lại những thử thách của thời hiện đại và ảnh hưởng của những thế lực đô hộ đang thống trị. Dưới sự đô hộ của người Pháp, Thiên Chúa giáo chiếm ưu thế và được xiểng dương, trong khi đó thầy tu Phật giáo thì lại bị cho là lỗi thời, mê tín, dốt nát và thất học.

Thầy đã chứng kiến cảnh quân Nhật chiếm đóng Việt Nam và nạn đói khủng khiếp năm 1945. Bước chân ra khỏi cổng chùa, Thầy có thể thấy xác người chết đói trên đường và cảnh những chiếc xe tải chở xác đem đi. Thầy và các huynh đệ đồng tu rất nóng lòng muốn hành động để thay đổi tình trạng. “Tình trạng đất nước, xã hội, và những khổ đau đã thúc đẩy những người con trai, con gái lên đường. Là một người thanh niên trong hoàn cảnh ấy thì phải nên làm một cái gì đó cho đất nước.

Thực tại kêu gào cách mạng
Trái ý thức chín rồi
Cánh cửa
Không thể nào còn khép lại
[vii]

Mặc dù rất nhiều người xuất gia trẻ muốn làm cách mạng theo lời kêu gọi trong truyền đơn của Việt Minh, Thầy vẫn tin rằng nếu đạo Bụt có sự đổi mới và phục hồi lại những giáo lý cũng như những thực tập cốt tủy thì có thể thực sự giúp làm vơi bớt khổ đau trong xã hội, góp phần vào việc khôi phục hòa bình, thịnh vượng và độc lập cho dân tộc, như ông cha ta đã từng làm trong các thời đại Lý Trần[viii].

Năm 1947, không lâu sau khi được thọ mười giới sa di, Sư Ông – bổn sư của Thầy – đã gởi Thầy đến Phật học đường Báo Quốc tại Huế để theo học chương trình Phật học truyền thống[ix]. Thầy đã nghiên cứu và học hỏi các kinh Bát đại nhân giác, kinh Vô thường, kinh Tứ thập nhị chương, kinh Di giáo và Tâm lý học Phật giáo (trong đó có 51 tâm hành). Trong năm thứ hai, Thầy được học về giới luật, luận lý Nhân Minh học  (hetu vidya), Kinh A Di Đà và nghiên cứu những tài liệu chính của Duy Thức Tông (Yogācāra School), bao gồm Ba Mươi Bài tụng Duy ThứcĐại Thừa Bách Pháp Minh Môn Luận của Ngài Thế Thân[x]. Trong số này, có nhiều văn bản Thầy đã học thuộc lòng bằng chữ Hán. Chương trình học còn bao gồm cả văn chương đạo Khổng như Tứ thưNgũ kinh. Thầy tiếp tục nghiên cứu thêm về luận lý học Phật giáo, Kinh Thủ Lăng Nghiêm và giáo lý của Tông Thiên Thai, trong đó có tác phẩm Tiểu Chỉ Quán của Đại Sư Trí Giả.

Có một phong trào thi phú rất mạnh tại chùa Báo Quốc. Giáo viên và học tăng thường xuyên trao đổi, đàm đạo thi phú với nhau. Mười hai tuổi, Thầy đã bắt đầu làm thơ, và khi vào chùa Từ Hiếu, Thầy vẫn tiếp tục sáng tác. Sau này Thầy nói rằng những giây phút thật đẹp ở chùa Từ Hiếu đã khiến cho “Chú Phùng Xuân không thể không trở thành thi sĩ“. Chính tại chùa Báo Quốc tài năng về thơ của Thầy đã được khuyến khích và nuôi dưỡng[xi].

Việc học hành của Thầy diễn ra trong bối cảnh chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946-1954). Sau khi Nhật rút quân, Việt Minh tiến hành một cuộc chiến tranh du kích chống lại quân đội Pháp nhằm chấm dứt sự đô hộ của Pháp tại Việt Nam[xii].  Hơn 50 nghìn người đã thiệt mạng trong cuộc chiến này. Đối với người dân Việt Nam lúc bấy giờ, đây là một cuộc tranh đấu giành độc lập dân tộc, một nền độc lập mà Ấn Độ đã giành được từ Anh vào năm 1947. Trong bối cảnh đầy bạo động và xung đột, các ngôi chùa đã trở thành nơi che chở cho các chiến sĩ cách mạng trong những lúc nguy nan[xiii]. Mặc dù không có vũ khí và bất bạo động nhưng có nhiều vị xuất gia, trong đó có cả những người bạn thân thiết của Thầy đã bị bắn chết[xiv]. Lính Pháp thường xuyên bố ráp các chùa để tìm bắt quân kháng chiến hoặc tịch thu lương thực. Thầy nhớ rất rõ có một cuộc bố ráp mà lính Pháp buộc các thầy phải giao cho họ số thóc còn sót lại trong chùa. Trong thời gian bất ổn này, Thầy đã tình cờ làm bạn với một người lính Pháp đóng quân tại nhà máy nước gần chùa Từ Hiếu[xv]. Sau này Thầy nói rằng giống như rất nhiều thanh niên và người tu trẻ cùng tuổi, Thầy bị thu hút bởi chủ nghĩa Cộng sản và sự hứa hẹn là hành động cách mạng sẽ mang lại một sự thay đổi cho hoàn cảnh[xvi]. Nhưng Thầy lại có niềm tin là con đường của đạo Bụt cũng có thể cống hiến một giải pháp trong tinh thần bất bạo động.

Tại Phật học đường Báo Quốc, Thầy và các huynh đệ học tăng tại chùa Báo quốc đã thành lập tờ nội san có tên là Hoa Sen. Sau một vài số, nhận thấy nội dung của tờ báo hơi mang tính lý thuyết, Thầy đã lập một tờ báo khác lấy tên là Tiếng Sóng. Nhưng tờ báo này đã bị đình bản vì những tư tưởng quá cấp tiến mà nó chuyển tải[xvii]. Thầy tiếp tục đọc các tạp chí Phật giáo cấp tiến như tờ Tiến Hóa. Tờ báo khai thác ý tưởng về một đạo Bụt không chỉ chú trọng đến việc chuyển hóa tâm thức, mà còn chuyển hóa môi trường và các điều kiện xã hội trên một bình diện rộng lớn hơn, bao gồm những nguyên nhân kinh tế, chính trị sâu xa đưa đến nghèo đói, áp bức và chiến tranh[xviii]. Báo Tiến Hóa đăng các bài viết nói về sự quan trọng của việc nghiên cứu khoa học và kinh tế để hiểu gốc rễ thật sự của khổ đau mà không chỉ tụng niệm và cầu nguyện. Lấy cảm hứng từ tinh thần này, Thầy và các huynh đệ rất hăng hái muốn mở rộng chân trời của mình, khao khát được đọc sách khoa học, triết học và văn chương nước ngoài vừa mới bắt đầu được in ấn ở Việt Nam. Trong khi đó, các môn học được dạy tại Phật học đường Báo Quốc vẫn mang đậm tính truyền thống, nhấn mạnh đến nghi lễ và tụng niệm mà không trực tiếp giúp giải quyết những vấn đề đang xảy ra xung quanh.

Khi học đến năm thứ hai, Thầy và các học tăng vận động ban giảng huấn thay đổi nội dung chương trình học để thích hợp hơn với hoàn cảnh đương đại. Những học tăng cảm thấy cách dạy và học cũ không đáp ứng được nhu cầu của chính họ, hay nhu cầu của một đất nước đang tranh đấu chống chế độ đô hộ để giành độc lập. Mặc dù ban giám hiệu của trường đã lắng nghe và hiểu được những nhu yếu của học tăng, nhưng có những giáo viên của trường chưa sẵn sàng cho sự thay đổi, vì vậy cuộc vận động đã bị thất bại[xix].

 

 

[i] Thầy đã viết về những tháng ngày hạnh phúc ấy trong Con nghé nhỏ đuổi chạy mặt trời” –  trong tập thơ “Thử tìm dấu chân trên cát– NXB Lá Bối. Điều này cũng đã được chia sẻ trong phần trả lời vấn đáp ngày 24.7.2012 tại Làng Mai (câu hỏi số 4).

[ii] Được kể lại trong tác phẩm “Tình người” – NXB Lá Bối

[iii] Thầy đã học Tỳ Ni Nhật Dụng Thiết Yếu (của thiền sư Độc Thể), Sa Di Luật Nghi Yếu Lược (của thiền sư Châu Hoằng) và Quy Sơn Đại Viên Thiền Sư Cảnh Sách (của thiền sư Quy Sơn).

[iv] Pháp thoại ngày 4.12.2011.

[v] Bây giờ mới thấy (NXB Phương Đông – 2014), tr.27

[vi] Chẳng hạn như Đại sư Thái Hư (1890-1947) và Đại sư Tinh Nghiêm ở Trung Quốc. Thiền sư Mật Thể đã theo học và tiếp nhận những tư tưởng đổi mới của Đại sư Tinh Nghiêm.   

[vii] Thầy bình thơ đêm giao thừa – ngày 11.02.2002

[viii] Trích tác phẩm “Tình người” của Thầy – truyện “Trả về

[ix] Không may là những tài liệu lưu trữ tại Phật học đường Báo Quốc đã bị đốt vào năm 1975 và những tài liệu còn sót lại cũng bị cháy rụi trong một vụ hỏa hoạn xảy ra sau đó.

[x] Pháp thoại ngày 15.2.2009 và tài liệu cá nhân chưa công bố của Thầy

[xi] Pháp thoại ngày 9.6.2013 và trích từ hồi ký của Thầy

[xii] Cuộc chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất kéo dài tám năm (1946 – 1954). Sau khi Nhật rút quân khỏi Việt Nam, Pháp đưa quân trở lại nhằm tái chiếm và đưa Việt Nam trở lại chế độ thuộc địa, nhưng vấp phải sự kháng cự quyết liệt của người dân Việt Nam.

[xiii] Trong lá thư ngày 13.10.2009, với tựa đề “Âm thanh huyền diệu của chiếc hồ cầm” gửi các đệ tử xuất gia ở Bát Nhã, Thầy đã viết rằng: “Ngày xưa khi còn là một người xuất gia trẻ, trong thời gian cách mạng chống Pháp, Thầy đã từng tìm cách che chở cho những chiến sĩ cách mạng gặp bước nguy nan tìm cách tỵ nạn trong chùa. ”

[xiv] Trong số những vị xuất gia bị Pháp bắn chết có thầy Tâm Thường, một người bạn rất thân của Thầy. Điều này đã được ghi lại trong tác phẩm Bây giờ mới thấy (NXB Phương Đông – 2014), trang 32.

[xv] Xem tác phẩm “Tình người” – NXB Lá Bối

[xvi] Mindfulness Bell, issue #34, Autumn 2003; pháp thoại ngày 23.01.2001ngày 11.2.2002

[xvii] Pháp thoại ngày 17.4.2014 tại xóm Mới, Làng Mai trong khóa tu mùa xuân

[xviii] Những tài liệu cá nhân chưa được công bố của Thầy

[xix] Trích từ tài liệu cá nhân chưa được công bố của Thầy. Giám viện của Phật học đường Báo Quốc lúc bấy giờ là Hòa thượng Trí Thủ.

Thời thơ ấu

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh, tên khai sinh là Nguyễn Đình Lang, sinh ngày 11 tháng 10 năm 1926 trong một đại gia đình tại cố đô Huế, miền Trung Việt Nam[i]. Cha của Thầy là Nguyễn Đình Phúc, người làng Thành Trung (nay thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế). Ông làm quan trong triều đình nhà Nguyễn thời Pháp thuộc, đảm trách công việc di dân lập ấp. Mẹ là bà Trần Thị Dĩ, người làng Hà Trung, tỉnh Quảng Trị[ii]. Thầy là con áp út trong số sáu người con. Thầy có ba người anh lớn, một người chị và một em trai út sinh sau Thầy không lâu. Cho đến khi lên năm tuổi, Thầy sống trong nhà của ông bà nội cùng với đại gia đình gồm các chú bác và anh em họ. Đó là một ngôi nhà lớn có sân, vườn trong thành nội.

Năm Thầy lên bốn tuổi, cha của Thầy được phái đến vùng miền núi ở phía Bắc tỉnh Thanh Hóa, cách nhà khoảng 500 cây số, để giám sát việc khai phá rừng làm đất canh tác cho nông dân nghèo. Một năm sau đó, cả gia đình Thầy chuyển về huyện Nông Cống, Thanh Hóa để sống cùng với cha. Thầy học tiểu học ở đó và khi nghỉ hè thì đi học thêm ở các lớp dạy tư tại nhà. Thầy được ghi danh đi học với tên mà cha mẹ đặt cho là Nguyễn Đình Lang. Vốn hiếu học, ngoài giờ ở trường, Thầy còn dành thời gian rảnh để trau dồi thêm quốc ngữ, tiếng Pháp và tiếng Hán cổ. Thầy thích thú đọc những cuốn sách hay những tờ báo Phật giáo mà anh Nho, anh trai của Thầy, đem về nhà. Đây là người anh mà Thầy rất thương kính và ngưỡng mộ. Anh Nho cũng dạy Thầy cách vẽ truyền thần, thậm chí còn dạy Thầy cả cách chụp và rửa ảnh từ một cái máy do anh tự chế.

Trong nhiều bài pháp thoại sau này, Thầy thường nhớ lại một khoảnh khắc vô cùng quan trọng, có lẽ vào năm Thầy lên chín tuổi, đó là khi Thầy tình cờ nhìn thấy hình Bụt trên bìa của một tạp chí Phật giáo mà anh Nho mang về. Hình ảnh Bụt ngồi thật an nhiên trên bãi cỏ với nụ cười từ bi đã chiếm lấy tâm trí của cậu bé và để lại trong cậu một dấu ấn sâu đậm về sự bình an và tĩnh lặng. Hình ảnh ấy thật tương phản với những khổ đau và bất công mà cậu nhìn thấy xung quanh mình, trong bối cảnh đất nước nằm dưới sự đô hộ của người Pháp. Bức hình đã đánh thức ước muốn rất rõ ràng và mãnh liệt trong lòng cậu bé, ước muốn được giống như Bụt – hiện thân của sự tĩnh lặng, bình an, thảnh thơi – và có thể giúp những người xung quanh cũng làm được như vậy[iii]. Năm Thầy khoảng mười một tuổi, vào một buổi tối sau khi ăn cơm xong, Thầy cùng các anh trai và hai người bạn ngồi chơi, trò chuyện với nhau về ước muốn mình sẽ làm gì khi lớn lên. Có người muốn làm bác sĩ, có người muốn làm luật sư. Anh Nho của Thầy là người đầu tiên trong nhóm muốn trở thành một người tu. Ban đầu, ý tưởng đi tu thật là mới mẻ với những người còn lại trong nhóm, nhưng sau một hồi nói chuyện với nhau thì cả nhóm đều đồng ý là sẽ đi tu hết. Sau này Thầy có nói: “Trong buổi nói chuyện đó, có một ước muốn đi lên trong thầy rất rõ ràng. Thầy biết là tận sâu trong lòng mình, thầy muốn làm một người tu”[iv].

Khoảng sáu tháng sau đó, trong một chuyến đi dã ngoại do trường tổ chức tới một ngọn núi thiêng trong vùng, cậu bé đã có được sự trải nghiệm tâm linh đầu tiên, theo như Thầy diễn tả sau này[v]. Khi các bạn cùng lớp ngồi ăn trưa, cậu đã háo hức một mình đi khám phá ngọn núi này, vì nghe nói có một ông đạo sống trên núi[vi]. Cậu không tìm được ông đạo nhưng, vừa khát vừa mệt, cậu tình cờ thấy một cái giếng thiên nhiên có nước rất mát và tinh khiết. Cậu bé vốc nước uống rồi nằm xuống tảng đá cạnh bên ngủ một giấc ngon lành. Trải nghiệm đó đem đến cho cậu một cảm giác mãn ý vô cùng sâu sắc. Cậu có cảm tưởng mình đã gặp được ông đạo dưới hình thức cái giếng và đã tìm được một thứ nước ngon nhất trên đời để thỏa mãn cơn khát[vii]. Trong đầu cậu bé đi lên một câu tiếng Pháp: J’ai gouté l’eau la plus délicieuse du monde (tôi đã nếm được thứ nước ngon nhất trên đời). Từ ngày ấy trở đi, cậu nuôi ước muốn xuất gia.

Năm Thầy lên 12 tuổi, anh Nho quyết định xuất gia. Con đường mà anh Nho – người anh mà thầy vô cùng quý kính – chọn để bước đi đã gây cảm hứng cho Thầy. Anh Nho xuất gia tại chùa Đại Bi ở Thanh Hóa, cách nhà khoảng 15km[viii]. Thời gian đó, rất khó để cha mẹ chấp nhận chọn lựa này của anh Nho, bởi vì cha mẹ biết rằng cuộc sống của một người xuất gia có thể rất khó khăn. Dù vậy Thầy vẫn muốn xuất gia cùng với anh, nhưng Thầy đã chờ cho đến khi được cha mẹ cho phép. Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng những bài viết và các câu chuyện Phật giáo mà Thầy được đọc đã gây cảm hứng và cho Thầy ý tưởng là đạo Bụt có thể giúp mang lại nhiều công bằng, tự do và thịnh vượng hơn cho xã hội Việt Nam[ix]. Không lâu sau đó, anh Nho đã được Ôn Trú trì chùa Đại Bi, Thiền sư Trừng Pháp Chân Không gửi đi Huế để tiếp tục tu học tại chùa Từ Hiếu. Thầy rất háo hức muốn được đi cùng. Cuối cùng thì cha mẹ đã đồng ý cho Thầy thực hiện ước mơ xuất gia, Thầy theo anh Nho vượt 500 cây số đường dài ngược về phía Nam.

Năm 1942, lúc 16 tuổi, Thầy được xuất gia với thầy bổn sư là thiền sư Chân Thật (1884-1968), thuộc dòng thiền Lâm Tế chánh tông và phái Liễu Quán[x]. Lúc mới vào chùa, Thầy được gọi là Điệu Sung. Ba năm sau, vào sáng sớm ngày rằm tháng 9 (âm lịch) năm 1945, Thầy chính thức được thọ giới sa di. Khi thọ Năm giới, Thầy được nhận pháp danh là Trừng Quang, nghĩa là ánh sáng tịch tĩnh. Khi thọ giới sa di, Thầy được bổn sư đặt pháp tự là Phùng Xuân 逢春, có nghĩa là “đi gặp mùa xuân“. Đây là tên mà Thầy được gọi trong chùa.

 

 

 

[i] Thầy thuộc thế hệ thứ 15 của dòng họ Nguyễn Đình. Trong dòng họ của Thầy có nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu – một danh nhân của Việt Nam – thuộc thế hệ thứ 9 của dòng họ Nguyễn Đình.

[ii]Bà có pháp danh là Trừng Thính. Cha mẹ của Thầy đã thọ Năm Giới khi lên thăm Thầy tại chùa Từ Hiếu vào dịp Tết Nguyên đán năm 1947.

[iii] Tờ báo đó là tờ Đuốc Tuệ. Câu chuyện này đã được ghi lại trong cuốn sách A Pebble for Your Pocket (2001).

[iv] Pháp thoại của Thầy, ngày 8.6.1992

[v] Thầy đã kể câu chuyện này trong buổi vấn đáp tại trường đại học Brock, Toronto, Canada vào ngày 15.8.2013; cũng như trong buổi vấn đáp ngày 19.7.2009 tại Làng Mai, Pháp.

[vi] Ngọn núi đó có tên là Núi Na, ở Thanh Hóa. Câu chuyện về ông đạo ở Núi Na đã từng xuất hiện trong tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ – một danh sĩ ở thế kỷ 16. Có thể nó dựa trên một câu chuyện có thật về một vị quan đời Trần lui về ẩn cư trên núi vào thế kỷ 14. Để tìm hiểu thêm, xin xem tại đây.

[vii] Câu chuyện này đã được kể lại trong tác phẩm The Hermit and the Well (2001).

[viii] Anh Nho xuất gia với Thiền sư Trừng Pháp Chân Không tại chùa Đại Bi ở Thanh Hóa, với pháp danh là Thích Giải Thích. Nhiều thập kỷ sau, vào năm 2010, Thầy đã lấy tên Chùa Đại Bi để đặt cho nơi ở của quý sư cô ở Viện Phật học Ứng dụng châu Âu (EIAB) tại Đức.

[ix] Một trong những tạp chí Phật học mà Thầy được đọc lúc khoảng 9 tuổi là tờ Đuốc Tuệ, trong đó có những bài viết về Nhân gian Phật giáo, tức là đề tài Phật giáo đi vào cuộc đời. Trong bài pháp thoại được đăng trên Mindfulness Bell #08, mùa xuân 1993, với tựa đề “Cultivating our Deepest Desire”, Thầy chia sẻ: “Tôi nhớ trong tờ báo đó có một loạt bài viết về chủ đề đạo Bụt đi vào cuộc đời – một đạo Bụt được thực tập trong gia đình và xã hội mà không chỉ trong chùa mà thôi. Những bài viết ấy đã thắp lên trong tôi ước muốn tỉnh thức, giác ngộ.”

[x] Thiền sư Chân Thật thuộc thế hệ 41 của tông Lâm Tế và thế hệ thứ 7 của phái Liễu Quán. Thiền sư có pháp danh là Thanh Quý 清季, pháp tự là Cứu Cánh 究竟 và pháp hiệu là Chân Thật 真寔.

Cáo phó: Thiền sư Thích Nhất Hạnh viên tịch

Tổ Đình Từ Hiếu

Đạo Tràng Mai Thôn

Nam Mô Đức Bổn Sư Bụt Thích Ca Mâu Ni

Kính khải bạch chư tôn Trưởng lão Hòa thượng, chư Thượng tọa Đại đức Tăng Ni,

Kính thưa quý vị Thân hữu, Thiền sinh và Phật tử cư sĩ các giới khắp nơi trên thế giới,

Sau những năm tháng an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, vào lúc 01:30 ngày 22 tháng 01 năm 2022 (nhằm ngày 20 tháng Chạp năm Tân Sửu), Thiền sư pháp hiệu trước Nhất sau Hạnh, Niên Trưởng Trú trì Tổ đình Từ Hiếu đã thâu thần thị tịch tại Tổ đình, nơi Người đã xuất gia cách đây tám mươi năm, trụ thế 96 tuổi và 70 hạ lạp.

 

Thiền sư Thích Nhất Hạnh – Sư Ông Làng Mai là bậc thầy hướng dẫn tâm linh có công hạnh hoằng hóa rộng rãi và ảnh hưởng sâu dày trên khắp thế giới. Thiền sư đồng thời là một nhà văn hóa, một nhà văn, một nhà thơ, một học giả, một sử gia và một nhà hoạt động hòa bình. Thiền Sư được biết đến qua những buổi thuyết giảng công cộng cho cả hàng chục ngàn người và hơn 120 tác phẩm xuất bản giá trị. Thiền sư đã mở ra hướng đi và phát triển những pháp môn thực tập với nhiều khoá tu dành cho các nhà giáo dục, thanh thiếu niên, nghệ sĩ, doanh nhân, các nhà lãnh đạo, y bác sĩ… Bên cạnh sự nghiệp hoằng pháp Thiền sư cũng đã tổ chức nhiều Đại Giới Đàn và lễ Truyền Đăng, Việt hoá Nghi lễ và tân tu Giới bản để tiếp dẫn hậu lai. 

 

Mục sư Martin Luther King vinh danh Thiền sư như là “một Thánh tông đồ của hòa bình và bất bạo động” khi đề cử Người cho giải Nobel Hòa bình vào năm 1967. Trong gần 40 năm sống xa quê hương, Thiền sư là một trong những người tiên phong mang đạo Bụt, đặc biệt là pháp môn chánh niệm đến xã hội phương Tây và góp phần xây dựng một cộng đồng Phật giáo Dấn thân cho thế kỷ XXI với gần 1250 đệ tử xuất gia, hàng triệu đệ tử tại gia và hàng trăm triệu độc giả trên khắp năm châu. Rất nhiều học trò của Thiền sư đã gặt hái được nhiều hoa trái trong sự thực tập và tiếp nối được sự nghiệp hoằng hoá mà Thiền sư trao truyền suốt những thập kỷ qua.

 

lược Tiểu s

  • Thiền sư Thích Nhất Hạnh, thế danh Nguyễn Xuân Bảo, sinh năm Bính Dần (1926) tại làng Thành Trung, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Là con kế út trong gia đình có sáu anh chị em, cha là cụ ông Nguyễn Đình Phúc, mẹ là cụ bà Trần Thị Dĩ.
  • Năm 1942, xuất gia tại Tổ đình Từ Hiếu với Thiền sư Thanh Quý Chân Thật, được ban pháp danh Trừng Quang.
  • Tháng 9 năm 1945, thọ giới Sa di với Bổn sư, được ban pháp tự Phùng Xuân.
  • Năm 1947, theo học Phật học đường Báo Quốc, Huế.
  • Năm 1949, rời Huế vào Sài Gòn tiếp tục tu học. Bắt đầu sự nghiệp sáng tác với pháp hiệu Thích Nhất Hạnh, một trong nhiều bút hiệu của Thiền sư. Đồng sáng lập chùa Ấn Quang, làm giáo thọ Phật học đường Nam Việt.
  • Tháng 10 năm 1951, thọ Giới Lớn tại chùa Ấn Quang, Sài Gòn  với Hòa thượng Đường đầu Thích Đôn Hậu.
  • Năm 1954: Tổng Hội Phật Giáo giao trách nhiệm cải cách giáo dục, làm Giám học Phật Học Đường Nam Việt.
  • Năm 1955, làm chủ bút Nguyệt san Phật giáo Việt Nam, cơ quan ngôn luận của Tổng hội Phật Giáo Việt Nam.
  • Năm 1957, thành lập Phương Bối Am, Bảo Lộc.
  • Năm 1961 – 1963, tham học, nghiên cứu và giảng dạy tại đại học Princeton và Columbia, Hoa Kỳ. Sáng tác đoản văn “Bông Hồng Cài Áo”.
  • Năm 1964, được mời trở về Việt Nam tham gia lãnh đạo Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN), thành lập Viện Cao đẳng Phật học Sài Gòn tại chùa Pháp Hội (tiền thân của Viện đại học Vạn Hạnh) và nhà xuất bản Lá Bối. Làm chủ bút tuần san Hải Triều Âm, cơ quan ngôn luận của Viện Hóa Đạo.
  • Năm 1965, thành lập trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội.  Năm 1966, thành lập Dòng tu Tiếp Hiện. 
  • Ngày 1.5.1966, được Bổn sư phú pháp truyền đăng tại chùa Từ Hiếu và được kế thừa Trú trì Tổ đình Từ Hiếu sau khi Bổn sư viên tịch.
  • Ngày 11.05.1966, rời Việt Nam kêu gọi Hòa bình, bắt đầu 39 năm lưu vong. 
  • Năm 1967, được mục sư Martin Luther King Jr. đề cử giải Nobel Hòa bình.
  • Năm 1968 – 1973, vận động hòa bình cho Hội nghị Hòa bình Paris (1968-1973). Trong thời gian này, được mời dạy môn “Lịch sử Phật giáo Việt Nam” tại trường đại học Sorbonne, Pháp Quốc và soạn Việt Nam Phật giáo Sử luận 3 tập với bút hiệu Nguyễn Lang.
  • Tháng 9 năm 1970, được GHPGVNTN chính thức đề cử làm lãnh đạo Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Hội nghị Paris. 
  • Tháng 5 năm 1970, tham gia soạn thảo Tuyên ngôn Menton về vấn đề tàn hại sinh môi, ô nhiễm môi trường và sự gia tăng dân số. Cùng các cộng sự gặp ông U Thant, Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc và được ông cam kết yểm trợ.
  • Năm 1972, chủ trì Hội nghị Môi trường có tên Đại Đồng với nội dung: sinh thái học bề sâu, tính tương tức và tầm quan trọng của việc bảo hộ trái đất. 
  • Năm 1971, thành lập Phương Vân Am, Paris.
  • Năm 1976, cứu giúp thuyền nhân và thực hiện chương trình “Máu chảy ruột mềm”.
  • Năm 1982, thành lập Đạo tràng Mai Thôn tại Pháp.
  • Năm 1998, thành lập Tu viện Thanh Sơn, Hoa Kỳ; năm 2000, thành lập Tu viện Lộc Uyển, Hoa Kỳ.
  • Năm 1999, cùng với các chủ nhân giải Nobel Hòa bình soạn thảo Tuyên ngôn 2000 về một nền hòa bình và bất bạo động cho thiên niên kỷ mới.
  • Năm 2005, trở về Việt Nam lần thứ nhất. Thành lập tu viện Bát Nhã, Bảo Lộc.
  • Năm 2007, trở về Việt Nam lần thứ hai, tổ chức ba Đại Trai Đàn Bình Đẳng Chẩn Tế tại ba miền.
  • Năm 2008, trở về Việt Nam lần thứ ba, thuyết giảng tại lễ Vesak Liên Hiệp Quốc.
  • Từ năm 2008, thành lập Viện Phật học Ứng dụng Châu Âu, Đức; Tu viện Bích Nham, Tu viện Mộc Lan, Hoa Kỳ; Thiền đường Hơi Thở Nhẹ, Paris; Làng Mai Thái Lan; Viện Phật học Ứng dụng Châu Á, Hong Kong;  Tu viện Nhập Lưu, Úc; Ni xá Diệu Trạm, Ni xá Trạm Tịch, Việt Nam, tiếp tục mở rộng công trình hoằng pháp và xây dựng Tăng thân trên khắp thế giới.
  • Tháng 10 năm 2018, trở về an dưỡng tại Tổ đình Từ Hiếu, Việt Nam.
  • 01:30 giờ ngày 22 tháng Giêng năm 2022, an nhiên thị tịch tại Thất Lắng Nghe, Tổ đình Từ Hiếu. 

Nhất tâm đảnh lễ Tân Viên Tịch, Tự Lâm Tế Tông Tứ Thập Nhị Thế, Liễu Quán Pháp Phái Đệ Bát Thế, Từ Hiếu Tổ Đình Niên Trưởng Trú Trì, Mai Thôn Đạo Tràng Quốc Tế Khai Sơn, Huý Thượng Trừng Hạ Quang, Tự Phùng Xuân, Hiệu Nhất Hạnh Thiền Sư, Nguyễn Công Hoà Thượng Giác Linh.

 

Chúng con sẽ cập nhật thông tin về chương trình Tang lễ trên Trang nhà Làng Mai

Xem thêm:

 

Kinh Duy Ma Cật

VIMAXAKIRTI NIRDESA

Sao gọi là không “an trú nơi vô vi”? Bồ Tát quán không, nhưng không lấy không làm đối tượng tu chứng. Bồ tát tu tập về vô tướng và vô tác nhưng không lấy vô tướng và vô tác làm đối tượng tu chứng. Tu tập vô sanh mà không lấy vô sanh làm đối tượng tu chứng. Quán niệm vô thường mà không bỏ việc lợi hành. Quán niệm về khổ mà không chán ghét sinh tử. Quán niệm về sinh diệt mà không đi vào tịch diệt. Quán niệm về buông thả mà thân vẫn thực hiện các pháp lành. Quán niệm sự không qui túc mà vẫn qui túc theo vạn pháp. Quán niệm vô sanh mà vẫn nương vào hữu sanh để gánh vác nhiệm vụ. Quán niệm về vô lậu mà vẫn còn ở thế giới nhân duyên. Quán niệm về vô hình mà vẫn tiếp tục hành động để giáo hóa. Quán niệm về không vô mà không bỏ đại bi. Quán niệm về tính cách hư vọng, không bền, không nhân, không chủ, không tướng của các pháp mà không từ bỏ công trình phước đức, Thiền định và trí tuệ. Bồ Tát tu các pháp như thế gọi là không trú nơi vô vi. 
Bồ Tát cũng vì có đầy đủ phước đức mà không trú ở vô vi, và đủ trí tuệ mà không chấm dứt ở hữu vi. Vì lòng thương lớn mà không trú vô vi, vì muốn thực hiện đại nguyện mà không chấm dứt ở hữu vi.

 

Kinh Bảo Tích

SIKSHASAMUCCAYA RATNAKUTA

Hành giả tìm tâm, tâm nào? Tâm tham, tâm giận hay tâm si? Tâm quá khứ, tâm hiện tại hay tâm vị lai. Tâm quá khứ không còn. Tâm vị lai chưa có. Tâm hiện tại không trú.

Này Ca Diếp, tâm không thể nắm bắt từ bên trong hay bên ngoài, hay ở giữa. Tâm vô hướng vô niệm, không có chỗ sở y, không có nơi qui túc. Chư Phật không thấy tâm trong quá khứ, trong hiện tại và trong vị lai. Cái mà chư Phật không thấy thì làm sao quán niệm nổi. Nếu có quán niệm thì chẳng qua là sự quán niệm về sinh diệt của các đối tượng tâm ý. Tâm như một ảo thuật, vọng tưởng điên đảo cho nên có sinh diệt muôn trùng. Tâm như nước trong dòng sông không bao giờ dừng lại. Vừa sinh đã hoại diệt. Tâm như ngàn lưỡi đao do nhân duyên mà có. Tâm như chớp giật loé lên rồi tắt. Tâm như không gian nơi muôn vật đi ngang. Tâm như bạn xấu tạo tác nhiều lầm lỗi. Tâm như lưỡi câu đẹp nhưng nguy hiểm. Tâm như ruồi xanh ngó đẹp nhưng rất xấu. Tâm như kẻ thù tạo tác nhiều nguy biến. Tâm như yêu ma tìm nơi hiểm yếu để hút sinh khí người. Tâm như kẻ trộm, trộm hết căn lành.

Tâm ưa thích hình dung như mắt con thiêu thân, ưa thích âm thanh như trống trận, ưa thích mùi hương như lợn thích rác bẩn, ưa thích vị ngon như ruồi thích thức ăn thừa, ưa thích xúc giác như con ruồi sa đĩa mật. Tìm tâm hoài mà không thấy tâm đâu. Đã tìm không thấy thì không thể phân biệt được. Những gì không thể phân biệt được thì không có quá khứ và hiện tại lẫn vị lai. Những gì không có quá khứ hiện tại lẫn vị lai thì không có mà cũng không không.

Hành giả tìm tâm bên trong cũng như bên ngoài không thấy. Không thấy tâm nơi ngũ uẩn, nơi tứ đại, nơi lục nhập. Hành giả không thấy tâm nên tìm dấu của tâm và quán niệm : tâm do đâu mà có? Rồi ý thức rằng hễ khi nào có vật thì có tâm. Vậy vật và tâm có phải là hai thứ khác biệt?

Không có cái gì là vật, cái đó cũng là tâm. Nếu vật và tâm là hai thứ thì hoá ra tâm có tới hai tầng? Cho nên vật chính là tâm… Vậy thì tâm có thể quán tâm không. Không, tâm không thể quán tâm. Một con dao không thể tự cắt mình, ngón tay không tự sờ mình, tâm không thể quán mình.

Bị dằn ép tứ phía, tâm phát sinh mà không có khả năng an trú, như con vượn chuyền cành, như hơi gió thoảng qua. Tâm không có tự tính. Biến chuyển rất nhanh chóng, bị cảm giác làm dao động, lấy lục nhập làm môi trưởng, duyên thứ này tiếp thứ khác. Làm cho tâm ổn định, bất động, tập trung an tĩnh, không loạn động, đó gọi là Quán niệm tâm ý.

 

Lời chúc và câu đối Tết Nhâm Dần 2022

Trong dịp chào đón năm mới Nhâm Dần, tăng thân Làng Mai có hai câu đối “Ngày xuân trên hoà dưới thuậnBốn mùa trong ấm ngoài êm” làm món quà gởi đến quý thân hữu để quý vị có thể in lên giấy hồng điều đón xuân và thực tập với tăng thân.

Nhiều năm qua, tăng thân Làng Mai luôn gởi đến đại chúng câu đối trong mỗi dịp Tết về. Lúc cón trẻ, Sư Ông từng viết câu đối để làm quà cho những gia đình tại Việt Nam. Câu đối lúc ấy trở thành một ngọn nến sáng giữa đêm dài chiến tranh. Có những năm Sư Ông viết câu đối chỉ có hai chữ, hay bốn chữ để đại chúng thực tập. Câu đối trong truyền thống Làng Mai mang theo trái tim của sự thực tập. Câu đối được dán lên một cách trang trọng, chánh niệm để thưởng thức trong khoảnh khắc đầu năm, và trở thành tiếng chuông nhắc nhở chúng ta thực tập suốt năm. Sự thực tập ấy trở thành một nguồn năng lượng tập thể nuôi lớn tuệ giác của mỗi thành phần trong tăng thân, giúp chúng ta “xây dựng tình huynh đệ, đi với nhau như một dòng sông và thực tập để làm lớn thêm ba đức là trí đức, ân đức và đoạn đức, để thực hiện được sự nghiệp giác ngộ tập thể”. (Giới Tiếp Hiện)

Khi chúng ta nói “trên hoà dưới thuận”, cũng như khi người Việt nói “kính trên nhường dưới”, điều đó không có nghĩa là ta phân chia ranh giới rành mạch ai trên ai dưới, ai anh ai em; điều đó không có nghĩa là trên thì trên thôi, dưới thì dưới thôi, không khác được. Nó chỉ có nghĩa như trong một chỗ ngồi quá đường, chúng ta sẽ nhận diện rất rõ ta cũng là anh, là chị mà ta đồng thời cũng là em, ta cũng ngồi trên mà đồng thời ta cũng ngồi dưới. Đó là sự tương tức và vô ngã trong tất cả mọi chỗ ngồi. Cái thấy đó đưa mình đến sự ứng xử cũng biểu hiện được tuệ giác vô ngã. Vô ngã là tuệ giác mà không phải là một lời tuyên bố. Vô ngã không có nghĩa là không thầy, không trò, không sư anh, sư chị, sư em, không cha mẹ, không con cái gì nữa. Vô ngã thì dù ta làm thầy, làm trò, làm anh, làm em, làm cha mẹ hay làm con cái, ta đều thực tập được. “Trên hoà dưới thuận” nghĩa là mình làm thầy cho ra thầy, mình làm sư anh, sư chị cho ra sư anh sư chị, mình làm sư em cho ra sư em, mình làm con cháu cho ra con cháu, mình làm cha mẹ cho ra cha mẹ. Mình hiện thân trong tất cả những bóng dáng đó, bóng hình nào cũng suy nghĩ, nói năng và hành xử có thuận có hoà, có đầy sự hiểu biết, cảm thông, nâng đỡ và thương yêu. Duy biểu học gọi đó là Đại viên cảnh trí và Diệu quan sát trí. Sự thực tập này giúp ta vượt thoát mặc cảm như bị chèn ép, mặc cảm rằng người trên dùng quyền, hay người dưới không nghe lời, giúp ta vượt thoát mặc cảm hơn người, thua người, bằng người. 

Sự thực tập đó càng sâu thì trong ta có ánh sáng, nhờ đó mà những gì xảy ra quanh ta cũng được chánh niệm chiếu soi rõ ràng. “Trong ấm ngoài êm” đi theo “trên hoà dưới thuận” một cách song hành. Những từ ngữ diễn đạt rất đơn giản nhưng chuyên chở tuệ giác của tổ tiên. Trở về với tự thân, nuôi dưỡng những hạnh phúc đang có bằng bước chân và hơi thở chánh niệm, bằng lời nói ái ngữ, bằng cái nhìn bao dung và hiểu biết, chúng ta giữ gìn tâm thương yêu và biết cách hiến tặng niềm vui cho cuộc đời.

Trong giờ phút thiêng liêng đón mừng xuân mới, bốn chúng Làng Mai kính chúc quý thân hữu một năm mới thật nhiều sức khỏe, nhiều niềm vui, bình an và có nhiều hoa trái trong sự thực tập. Tăng thân kính tri ân tất cả quý vị đã đồng hành và yểm trợ cho Tăng thân trong suốt một năm đầy thử thách vừa qua.

 

Tải câu đối Tết tại đây

 

 

Trở về ôm lấy em bé thương tích.

Trích từ sách ” Đi gặp mùa xuân” của Sư Ông Làng Mai.

Nhiều người trong chúng ta có một thời thơ ấu đã từng đi ngang qua những giai đoạn rất khó khăn và có nhiều thương tổn( traumatisme) rất nặng. Nên ta thường không muốn nhớ lại những giai đoạn khổ đau đó. Mỗi lần tiếp xúc với những kỉ niệm đau buồn ấy thì ta chịu không nổi, cho nên cơ chế tự tồn, tự vệ trong mỗi chúng ta có khuynh hướng vùi chôn đi những kỉ niệm đau thương đó ở những vùng xa thẳm của tâm thức. Khi có một người nào tới khơi dậy mối thương tâm đó thì ta khóc, buồn khổ và có khi không ăn cơm được trong một, hai hay ba ngày. Em bé trong ta có thể đang bị thương tích rất nặng. Nhưng vì không có đủ sức mạnh cho nên trong quá khứ mấy chục năm vừa rồi ta chỉ muốn trốn tránh và không dám gặp mặt em bé ấy. Cho nên em bé ấy vẫn tiếp tục đau khổ và đòi hỏi sự săn sóc, thừa nhận từ chúng ta. Vì sợ khổ nên chúng ta luôn trốn tránh và làm ngược lại chuyện đó. Phương pháp của đạo Bụt là thực tập như thế nào để chế tác được năng lượng chánh niệm. Với năng lượng đó chúng ta không cần phải sợ hãi nữa mà có thể trở về gọi đích danh em. Ôm lấy và nói chuyện với em. 

Đầu tiên là nhận diện. Này em bé trong tôi đang bị thương tích, tôi biết em đang có mặt đó. Trong những năm vừa qua, tôi đã rất tệ bạc, bỏ em một mình bơ vơ với những vết thương nặng nề. Bây giờ, tôi đã trở lại. Xin em cho phép tôi ôm em vào lòng. Tội nghiệp em quá! Mình ôm ấp và nói chuyện với em bé thương tích trong mình như vậy. Nếu cần thì cả hai chị em cùng khóc với nhau. Trong giờ thiền toạ cũng được. Hãy nói chuyện với em bằng ngôn ngữ vắng lặng. Trong rừng mình có thể nói chuyện với em. Mình với em không phải là hai mà cũng không phải là một. Đã có nhiều người thực tập theo pháp môn này và sau một thời gian thì thấy có sự thuyên giảm và được chuyển hoá, trị liệu.  Mối liên hệ giữa họ với những người thương cũng trở nên dễ dàng hơn. Khi đã thực sự trở về chữa trị cho em bé bị thương trong ta rồi thì ta có đủ sức mạnh và  khả năng để hiểu và thương những người xung quanh ta nhiều hơn. Người em, chị, anh kia có thể cũng đang có một em bé bị thương tích nặng nề ở trong họ và ta có thể giúp người đó được. Cho nên sau khi đã chửa trị cho mình rồi, ta thấy liên hệ giữa ta và những người khác trở thành tốt đẹp, dễ dàng hơn. Bởi vì ta đã có nhiều hiểu biết và bình an hơn. 

 

 

 Trong ánh sáng của kinh Trung Đạo Nhân Duyên, cho ta thấy được rằng em bé thương tích trong ta không chỉ là ta mà đó cũng chính là mẹ của ta. Tại vì trong suốt cuộc đời, mẹ đã từng đau khổ và bị thương tích rất nhiều. Có thể mẹ chưa gặp được chánh pháp để biết được phương pháp trở về ôm lấy em bé bị thương trong mẹ. Vì vậy em bé bị thương trong ta cũng chính là mẹ ta đang bị thương. Ta cần ôm lấy em bé đó bằng tất cả tình thương yêu. Trong khi ôm lấy em bé ấy, ta cũng đang ôm lấy hết những em bé trong quá khứ của nhiều thế hệ. Ta vỗ về và trị liệu cho chúng. Sự thực tập này không phải là cho cái ngã của ta mà là thực tập cho không biết bao nhiêu thế hệ của tổ tiên và con cháu. Khi đã ôm ấp được em bé bị thương tích ấy, ta cũng đã ôm ấp được mẹ và cha của ta. Nếu không làm bây giờ thì bao giờ ta mới làm? Em bé ấy luôn có mặt đó. Nhưng  ta thường hay bỏ quên. Bây giờ ta phải trở về, nhận diện, ôm ấp, công nhận sự có mặt của em. Phải cùng khóc với em và dùng năng lượng của chánh niệm để mà trị thương cho em. Em bé đó ở đâu? Em bé đó nằm trong tất cả các tế bào của cơ thể. Không có tế bào nào của ta mà không có em bé thương tích nằm trong đó. Những tế bào của danh và sắc. Tâm thức của chúng ta được làm bằng những tế bào cho nên trong mỗi tế bào ấy đều có em bé thương tích đang nằm bơ vơ và đợi chờ được quan tâm, săn sóc. Ta không cần tìm đâu xa. không cần tìm về quá khứ, ba trăm năm về trước. không cần đi tìm về những thời đại thạch khí. không cần tìm về thời thơ ấu hoặc là thời ông cố, ông ngoại. Tại vì tất cả những dữ liệu, sự thật đó. Tất cả những đau thương, những em bé bị thương tích đó hiện bây giờ đang nằm trong phút giây hiện tại, trong từng tế bào của danh và sắc. Ta chỉ cần trở về và tiếp xúc là thấy được. Cũng như tuệ giác của tổ tiên, của Bụt. Hạnh phúc của tổ tiên, của Bụt cũng đang có mặt trong từng tế bào của cơ thể. Ta phải biết trở về và lợi dụng những yếu tố đó, những hạnh phúc đó, những tuệ giác đó để chế tác năng lượng chánh niệm, năng lượng thương yêu mà ôm ấp lấy em bé bị thương. Đau thương nằm trong từng tế bào. Hạnh phúc, tuệ giác cũng nằm trong từng tế bào của ta. Bụt đã trao truyền, tổ đã trao truyền, Thầy đã trao truyền cho ta tuệ giác đó. Ta hãy trở về, với hơi thở, với bước chân để chế tác năng lượng của chánh niệm, của tuệ giác và nhờ năng lượng đó ta có thể ôm ấp, trị liệu em bé thương tích trong ta.