Nẻo về của ý – chương 04

 

Nguyên Hưng, không phải tôi chỉ nghe tiếng gọi mầu nhiệm kia trong lúc trăng và rừng nói chuyện hay trong những cơn mưa lớn đầu mùa. Tôi lại còn nghe tiếng gọi ấy và những buổi trưa rất là yên lặng nữa. Những buổi trưa ở quê hương ta, những buổi trưa mà Lưu Trọng Lư nghe thấy cả tiếng gà não nùng xao xác gáy, những buổi trưa mà Vũ Anh Khanh thấy cả nắng lổ đổ rụng lên đầu người viễn khách ở xóm đạo vắng người. Những buổi trưa ấy miền Bắc cũng có, miền Trung cũng có, mà miền Nam cũng có. Tôi không tin rằng buổi chiều, dù rằng những buổi chiều nhìn ra cửa biển, là lúc gợi buồn nhiều nhất. Buổi chiều đối với tôi dù là ở đâu cũng chỉ là đẹp thôi, chứ không buồn. Chỉ có một lúc duy nhất trong ngày có thể gọi là buồn: đó là buổi trưa, vào khoảng một giờ, hay trễ hơn một chút. Buổi chiều cũng như buổi mai, bao giờ cũng linh động, biến ảo và tràn đầy sức sống. Buổi chiều đã không mang màu sắc tàn tạ như người ta thường tưởng, mà trái lại còn hứa hẹn một sức sống rạt rào vào đêm. Tôi thấy vũ trụ sống về ban đêm nhiều hơn. Ban đêm, cái gì cũng linh động, cũng mầu nhiệm, cũng hùng mạnh. Chỉ có loài người mới ngừng hoạt động trong đêm, chớ vũ trụ, từ trăng sao nước mây đến trùng dế cây cỏ đều rì rào mầu nhiệm. Nếu nói đến giờ ngưng đọng, ấy phải là giờ buổi trưa, lúc quá ngọ một chút. Không có một giọt gió. Trời cao cao quá, cao đến im lìm, cao cho đến nỗi trở nên vô cùng sâu thẳm. Cây cối như chết đứng; không nói năng được một lời nào trong giây phút ấy. Mặt trời như thôi miên trái đất và điểm huyệt trái đất bằng con mắt lửa hung hãn của nó khiến trái đất và muôn loài trên trái đất trở thành bất động không còn cựa quậy được nữa. Tôi dám chắc rằng đúng vào giờ phút ấy trái đất không thể nào còn quay được. Phải đợi cho đến khi nào có một đám mây hoặc một tí gió tới cứu vãn thì trái đất mới thoát khỏi được tình trạng bị điểm huyệt và mới có thể tiếp tục cuộc hành trình. Nếu ta thiếp đi vào buổi trưa trong một giấc ngủ ngắn mà thức dậy đúng vào giờ phút ngưng đọng ấy, thì lập tức ta nghe tiếng gọi. Tôi nghe tiếng gọi như thế đã có đến hàng trăm lần rồi Nguyên Hưng, mà lần nào trái tim tôi cũng hồi hộp như nhau. Mà vì vừa mới thiếp đi cho đến lúc chợt tỉnh tôi nghe nó không phải với lý trí của tôi mà với tất cả biển tiềm thức còn đương dâng tràn, còn chưa kịp rút xuống khỏi lằn mức ý thức. Tôi nghe tiếng vũ trụ gọi tôi về, và tất cả bản thể tôi rung động đáp lại tiếng gọi ấy.

Nguyên Hưng, ở Phương Bối tôi cũng trải qua bốn lần nghe như vậy. Rừng cây ít khi nào đứng chết lặng như trong những lúc ấy và trời không bao giờ cao như thế, sâu như thế. Trong giây phút kia, tôi thấy lòng ngập nhớ nhung và một niềm thao thức muốn trở về. Trở về theo tiếng gọi mầu nhiệm. Những lúc ấy tôi có cảm giác như đứng ở một biên giới có sương mù. Nếu tôi làm tan được sương mù ấy, tôi có cảm tưởng nó có thể tan biến trong bất cứ một sát na nào, dễ như không, dễ như nó chưa bao giờ từng hiện hữu, em ơi.

Nguyên Hưng, để tôi nhắc lại cho Nguyên Hưng nghe về đem giao thừa đầu tiên ở Phương Bối. Từ hôm hai mươi sáu Tết, Triều Quang, Từ Mẫn và Thanh Hiện đã tự động kéo về Phương Bối, như con trở về nhà cha mẹ vào những ngày giỗ lớn. Quang ở Dalat về mang theo rất nhiều nhánh bạch mai thật đẹp. (Trước đó, chị Diệu Âm đã cho Như Hiền đem tặng cho chúng ta rất nhiều cây bạch mai con để trồng quanh nhà). Chúng ta bàn với nhau ăn một cái Tết lớn nhất trong đời chúng ta, và ăn tại Phương Bối. Sau một đêm bàn luận, chúng ta đồng ý như sau:

1) Đốt một đống lữa vĩ đại ngay trên đồi Thượng.

2) Cắm trại ở đồi Thượng.

3) Nấu một thùng bánh chưng ở trên đồi Thượng.

4) Cúng giao thừa, đốt pháo ở đồi Thượng.

5) Hội họp ăn bánh chưng, chúc Tết và bình văn ở đồi Thượng.

Cái đống lữa vĩ đại ấy, chắc trong chúng ta không ai có thể quên được. Nguyên Hưng cũng nhớ là để phá rừng trồng trà chúng ta phải đốn ngã hàng trăm cây rừng thật lớn. Những cây ấy, sau khi chúng ta đốt rừng, đã bị cháy xém và khiêng chất thành lại thành đống. Chúng ta đã tốn hết hơn hai ngày mới chất được đống củi. Vì vậy đống củi lửa trại to lớn như một cái nhà và đã được chất lên một cách rất công phu. Trong lòng đống củi vĩ đại, chúng ta đã đặt rất nhiều cỏ khô, lá khô và các cành củi rất dễ bén lửa. Đống củi đã cháy suốt đêm giao thừa và mãi đến sáng ngày mồng hai vẫn còn cho ta than hồng. Nguyên Hưng nhớ không?

Ban đầu thì một số trong chúng ta không tán thành ý kiến cắm trại trên đồi Thượng vì sự sương khuya. Nhưng sau lại, chúng ta quyết định cứ căng lều trên đồi, bởi vì đống lửa vĩ đại sẽ làm tan sương và ấm cả khu đồi. Mà thực vậy, Nguyên Hưng. Không những chúng ta thấy ấm mà nhiều khi còn thấy nóng bức là khác nữa.

Còn bánh chưng, Lý là người Bắc và lý tuyên bố có thể gọi bánh chưng vào hạng đẹp nhất Bắc Hà. Ban đầu ai cũng tưởng là Lý chỉ “ăn to nói lớn” theo kiểu một nhà văn như Lý, nhưng sau khi thấy Lý trổ tài, ai cũng phục lắm. Dì Tâm Huệ mua nếp, đỗ xanh và cung cấp lá rong tươi cho Lý. Hôm gói bánh tôi cũng làm phụ tá cho Lý trong việc lau lá, xếp lá, rọc lá. Lý làm một cái khuôn nhỏ và gói những chiếc bánh chưng nhỏ xíu, vuông vắn, thật đẹp. Bánh chưng được nấu từ lúc năm giờ rưỡi chiều để kịp chín nữa giờ trước giờ Giao Thừa. Mẫn và Hiện đã bắc hai bếp gần dưới chân đồi Thượng, một bếp để luộc bánh chưng, một bếp khác để nấu nước sôi tiếp cho nồi bánh. Bếp phải đặt phía dưới, bởi vì gần đỉnh đồi quá thì sẽ nóng vì đống lửa đỉnh đồi.

Cả nhà chuẩn bị ăn Tết một cách rộn rịp và chính sự chuẩn bị rộn rịp để ăn Tết ấy quả đã là Tết một cách đích thực rồi. Từ lúc ba giờ chiều, Nguyên Hưng và Triều Quang đã vào rừng đốn về những cây tre lớn và cưa ra từng ống một, chất đầy bên lều. Khi thùng bánh chưng sôi, tất cả chúng ta đều tắm rửa, quây quần trong chiếc lều lớn nhất cắm trên đồi, nghỉ ngơi, nghe chương trình phát thanh cuối năm của đài Saigon từ chiếc Sony quen thuộc và ăn cơm, một bữa cơm chiều thật đơn giản. Tha hồ cho chúng ta nói chuyện bốn phương. Hồi ấy thường trú tại Phương Bối mới chỉ có Nguyên Hưng, Lý, Tuệ, dì Tâm Huệ và tôi, còn những người khác là “chim bốn phương bay về đây cả”. Những con chim ấy bay về Phương Bối và tíu tít kể cho nhau nghe những mẩu sinh hoạt những câu chuyện những biến cố đã xảy ra cho chúng từ những phương trời khác nhau. Không ai là không thấy rõ rằng Phương Bối chính là alma mater của mình.

Trên những cây cao còn lại của đồi Thượng và cả trên lan can của thiền thất nữa, Mẫn và Lý đã treo đèn. Vào lúc mười giờ rưỡi, Nguyên Hưng ra lệnh đốt lửa. Thế là chỉ trong nửa giờ sau, đống lửa cháy rực trời trên đồi Thượng. Tàn lửa lên cao, cao ngất, khiến cho một vài người trong số chúng ta tỏ ý lo ngại cho sự cháy rừng. Nguyên Hưng nghĩ, cháy rừng làm sao được khi tàn lửa phải bay lên được bốn trăm thước mới tới được cửa rừng? Tuy vậy, đống lửa vĩ đại soi sáng rực rỡ cả một vùng núi hoang dại. Bởi vì đồi Thượng là chiếc đồi cao nhất trong vùng. Chúng ta trông rõ tất cả những vùng núi bao quanh Phương Bối nhờ ánh lửa rực trời trên đồi Thượng. Có lẽ tất cả thú vật, dân chúng của núi rừng đang ngạc nhiên, và qua kẻ lá, đang hướng những cặp mắt nhìn về đồi Thượng. Xa xa, ta có thể trông thấy ngôi nhà của Đại Hà thấp thoáng trong đồi núi chập chùng. Mười một giờ rưỡi khuya rồi và đống lửa đã cháy lên rất cao. Chúng ta trở về thiền thất cúng giao thừa. Chiếc bánh đầu tiên vớt ra đã được đem lên cúng Phật. Buổi lễ đơn giản và ấm áp chỉ kéo dài vào khoảng 20 phút. Giao thừa đến Mẫn, Hưng, Quang, Hiện, Lý, tất cả đều mang các ống tre liệng dần vào đống lửa vĩ đại. Đó là pháo lệnh giao thừa của Hưng đấy. Các ông tre liên tiếp nổ lớn vang động cả núi rừng và có lẽ làm kinh hoàng cả mọi loài ẩn náu trong rừng. Tôi còn nhớ là các cậu đã quăng vào đống lửa năm mươi mấy ống pháo tre như thế, và không có ống tre nào là không nổ lớn.

Bánh chưng của Lý quả thật là rất ngon – có lẽ cũng ngon nhờ những điều kiện khác nữa, như là không khí đặc biệt của Phương Bối, sự hiểu biết của mọi người, vui vẻ của mọi người và nhất là sự… đói bụng của mọi người. Nói như thế không có hại gì đến cái “uy tín” gói bánh của Lý cả. Mỗi người trong chúng ta phải chúc tất cả mọi người và như thế chúng ta nghe tất cả đến năm mươi bốn câu chúc tết. Dì Tâm Huệ tỏ vẻ nhiều e thẹn nhất dù dì lớn tuổi bằng dì của tất cả chúng ta, và dì đã chúc cho tất cả những câu chúc đơn sơ mà chân thành cảm động.

Tôi nhớ suốt ngày mồng một tết các cậu dã chia thành hai ba toán rủ nhau đi chơi thám hiểm núi rừng. Đến đâu cũng đốt lửa, chặt tre làm pháo đốt vang cả rừng. Thầy Thanh Từ chưa có mặt ở Phương Bối trong cái tết thứ nhất ấy. Nhưng trong cái tết thứ hai, thầy cũng tham dự những trò nghịch ngợm nhất của mọi người. Ở đây ai cũng dễ dàng sẵn sàng để mà “đồng sự”. Kiểu chào của thầy Thanh Từ cũng thay đổi như tất cả mọi người và cả đến những kiểu sinh hoạt khác như đi núi, trồng cây, cắm trại nữa.

Lần đầu lên Phương Bối thăm, thầy Thanh Từ đã tỏ sự ưa thích Phương Bối một cách mặn nồng. Thầy bảo chúng ta nhường cho thầy một ít vùng núi để làm thiền thất. Tôi nói: tất cả rừng núi Phương Bối là của thầy. Thế là sau đó vài ba tháng, nhờ sự giúp đỡ của vài người bạn thân của thầy, chúng ta đã dựng nên một thiền thất ở triền Đông Bắc của đồi Thượng. Nhà thiền này được đặt tên là Thiền Duyệt Thất. Duyệt có nghĩa là sự vui vẻ hoan lạc về tinh thần. Trong bài cúng dường của Nhị Thời Khóa tụng, ta thấy có câu thiền duyệt vi thực nghĩa là thức ăn làm bằng sự hoan lạc của thiền định. Thầy Thanh Từ nghe đặt tên cho nhà thiền như thế thì chịu lắm bèn chấp nhận ngay.

Bên cạnh Thiền Duyệt Thất, chúng ta còn xây thêm một cái hồ chứa nước nữa và thầy Thanh Từ đã tự tay làm một chiếc giàn hoa leo thật đẹp phía trước. Hai bên con đường từ dưới đồi đi lên, thầy đã trồng những cây thông con bứng về từ Djiring. Thầy lại còn trồng thêm bao nhiêu là thứ hoa nữa xung quanh thất. Lúc Thiền Duyệt Thất làm xong, thì chiếc nhà Thượng cũng được khởi công dựng trên chót vót đỉnh đồi. Hai người có công nhất là Triều Quang và Nguyên Hưng. Hợp tác với anh Phương ở ngoài xóm và với hai người Thượng nữa Quang và Hưng đã hoàn thành được chiếc nhà duyên dáng ấy trong vòng một tháng. Vì đứng chót vót trên đỉnh đồi nên nhà Thượng phải được tạo dựng vững chãi. Tôi biết Nguyên Hưng đã tốn rất nhiều công phu vào ngôi nhà ấy. Tôi đã cùng Nguyên Hưng trang trí bên trong và bên ngoài nhà Thượng. Sau này chính nhà Thượng trở thành hình ảnh tượng trưng nhất của Phương Bối. Buổi chiều chúng ta hay quây quần bên nhà Thượng cho đến tối, và nhiều đêm chúng ta đem chăn ngủ ngay ở sàn nhà Thượng. Có đêm rét quá mà trên đồi thì nhiều gió, chúng ta bắt buộc ôm chăn rời nhà Thượng nửa đêm để về nhà cũ. Tôi không quên được những đêm chúng ta đứng trên lan can nhà Thượng ngắm sao ngắm trăng. Những đêm như thế thật là huyền diệu. Sao và trăng gần chúng ta quá. Nhất là sao Mai. Lớn gần bằng một mặt trăng. Không biết ở những nơi như Trúc Lâm, Toàn có thấy sao Mai lớn như thế không. Có những đêm tôi kéo Lý ra khỏi những đống bản thảo dày cộm của Lý để chỉ cho Lý thấy trăng sao thấy sao. Tôi thì cũng ham viết lắm, nhưng vào những đêm nhiều sao như thế này, tôi không thể nào viết được.

Nguyên Hưng, tôi nghe Phương Bối đã trở nên bất an quá, cho nên thầy Thanh Từ cũng đã rời Thiền Duyệt Thất mà về Phú Lâm rồi. Thật là buồn. Hôm tôi từ giả Phương Bối, tôi tưởng thầy Thanh Từ có thể ở lại Phương Bối bình yên. Nhưng mà không. Lâu nay Nguyên Hưng có tiếp xúc với thầy Thanh Từ bằng thư không? Hôm qua, tôi có viết cho thầy Thanh Từ một lá thư. Lá thư còn để đây, chưa có dịp gởi nhà giây thép. Tôi đã viết lá thư ấy trong một tâm trạng bình yên và yêu thương. Nhưng chỉ những người thuộc về “thánh địa” Phương Bối như thầy Thanh Từ, như Hưng, như Lý mới hiểu được tại sao tôi có thể viết như thế mà thôi. Thôi để tôi chép cho Nguyên Hưng đọc một đoạn trong lá thư đó. Đoạn này nằm ở giữa lá thư.

“Tôi đã tìm ra chân lý rồi. Trời ơi có phải là nghe câu ấy thầy đang ôm bụng cười tôi phải không? Tôi nói thật đó mà. Khi tôi thấy nó, tôi giật mình. Nó không phải là ai xa lạ cả. Nó là, thầy ơi, nó là kẻ mà tôi đã gặp từ lâu, đã biết rõ mặt mũi từ lâu. Nó không có chi mới lạ đối với tôi cả. Thế mà tại sao lâu nay, có tới ngàn vạn kiếp rồi, tôi không nhận diện được nó. Lần này thấy nó, tôi ngạc nhiên đến nỗi không biết làm gì hơn là phá lên cười. Cũng giống như bây giờ thầy đang ôm bụng cười tôi vậy.

Tôi hỏi: “Tôi tưởng tên của cậu mày hay như thế thì mặt mũi cậu phải đẹp lắm kia chứ?”.

Nó hỏi lại: “Vậy thầy thấy tôi xấu hay sao?”.

Tôi giật mình nó lại, thì quả thực nó không xấu.

Nó lại hỏi: “Hởi người đã tìm thấy tôi, người sẽ làm gì chiều hôm nay?”

Tôi nghiêm trọng trả lời: “Ta sẽ đi ăn cơm khi ta thấy đói bụng, và sẽ ngủ khi ta thấy buồn ngủ.”

Thầy ơi, hôm từ giã phi trường Tân Sơn Nhất, tôi có mang theo một cái hột gà. Tôi như một con gà ấp trứng, và luôn luôn có một cái hột gà để ấp, đêm và ngày. Tôi mang theo qua bên này một cái hột gà đã ấp từ sáu bảy hôm nay, và những kẻ đưa tôi ra phi trường không có ai hay biết. Họ chỉ biết tôi mang theo một cái áo lạnh và một cây viết Pilot. Nhân viên quan thuế không biết, mà tôi cũng không biết phải khai báo ra làm sao. Tôi nín thinh. Nhưng mà tôi tin ngồi ở Thiền Duyệt Thất, thầy có thể biết. Tôi nhớ cũng đã từng nói cho thầy nghe và hứa với thầy là khi nào hột gà nở ra con gà thì tôi tin cho thầy hay. Thầy có nhớ điều đó không? Hôm nay tôi có thể tin cho thầy biết là thêm một năm ấp ủ, và do khí hậu thuận lợi, con gà đã mổ được vỏ quả trứng và chui ra ánh sáng. Ra khỏi vỏ nó lớn rất mau chóng, không khác gì cậu bé Phù Đổng năm xưa.

Đêm mồng bảy tháng năm vừa qua, tôi được chứng kiến một cuộc đàm thoại giữa Đức Phật và Ma Vương Ba Tuần, Đức Thế Tôn tiếp Ma Vương Ba Tuần tại núi Linh Thứu với tư cách một thượng khách của Ngài. Thầy nghe không, một thượng khách của Ngài. Tôi thích thú lắm. Tôi định sẽ ghi tất cả nội dung của cuộc đàm thoại đó làm thành một cuốn kinh:

“Đức Phật: Xin mời Ngài ngồi.

Ba Tuần: Xin cám ơn Ngài. Gớm cái ông thị giả của Ngài khó tính quá. Khi tôi xưng danh hiệu, ông ta nhất định không cho tôi vào. Ông nói: Nhà ngươi còn đến đây làm gì? Ngươi không nhớ năm xưa dưới gốc cây Bồ Đề, ngươi đã bị đức Thế Tôn đánh bại hay sao? Ngài sẽ không tiếp nhà ngươi đâu. Nhà ngươi là kẻ thù của Đức Phật”. Tôi phải nói khích một câu ông ấy mới cho vào.

Đức Phật (cười): Ngài nói khích như thế nào?

Ba Tuần: Tôi nói: “Phật thì làm gì có kẻ thù. Phật mà còn phân biệt kẻ oán người thân thì đâu có phải là Phật”. Chừng ông ta đã được nghe đâu cái câu ấy của Ngài một vài lần rồi cho nên khi nghe tôi nói khích ông ta động lòng tự ái, cho tôi vào ngay.

Đức Phật: Cái kiểu của ngài thì muôn đời như vậy. Và cứ phải mưu mô mà đi đường cong như vậy thì mới thắng được thiên hạ. Nhưng mà thực ra có dám làm như thế mới được gọi là Ma Vương.

Ba Tuần: Đúng lắm thưa Ngài. Làm Ma Vương bực lắm. Mặc áo thì luôn luôn phải mặc áo giấy. Vẻ mặt thì khi nào cũng phải hoặc nham hiểm, hoặc độc ác hoặc u mê. Thở thì phải thở toàn khói nghi ngờ đen nghịt. Để có hình thức phù hợp. Để cho danh chánh ngôn thuân là Ma Vương mà. Đi đâu thiên hạ cũng tránh, cũng ghét, cũng sợ. Làm Ma Vương quả thực bực lắm.

Đức Phật: Vậy ngài tưởng làm Phật sung sướng lắm hay sao? Thiên hạ dán vào lưng tôi nhiều nhãn hiệu mà tôi không hề tự xưng bao giờ. Thiên hạ đem tôi ra bán buôn. Và cứ tưởng tượng ngồi trên xe hoa để thiên hạ rước đi từng bước gật gù qua các phố bán than, bán thực phẩm, bán nước mắm v.v… thì tôi tưởng Ngài sẽ chẳng bao giờ ước muốn làm Phật, Thế Tôn của nhân loại.

Nghe đức Thế Tôn nói xong, Ba Tuần cười ha hả…”

Nguyên Hưng ơi, tôi chỉ chép Nguyên Hưng đọc từng đó mà thôi nghe.

Không phải tôi sợ rằng Nguyên Hưng nhìn tôi bằng cặp mắt thương hại hay trách móc đâu. Tôi đã nói với Nguyên Hưng rằng tôi viết lá thư đó trong tâm niệm an lành và thương yêu rồi mà. Mai sau nếu chúng ta được trở về Phương Bối thì bản thảo cuốn kinh kia sẽ được để trên bàn giữa của chiếc nhà Thượng. Và sẽ chỉ có những người có căn cơ đại thừa của đại thừa mới được đọc cuốn kinh đại thừa của đại thừa ấy có phải không?…


Nẻo về của ý – chương 03

 

Thứ tư tuần tới, tôi sẽ rời Medford để về lại thành phố. Mùa thu đã sắp đến rồi. Ở bên này, người ta gọi mùa Thù là Mùa Rơi, bởi vì mùa Thu cũng là mùa lá vàng rơi rụng. Cũng như người ta gọi mùa Xuân là Mùa Tuôn Dậy. Lộc non, chồi xanh tuôn dậy như một dòng suối tuôn từ các khe đá. Chắc là Công Viên Bờ Sông cũng đã bắt đầu đẹp. Princeton mùa Thu thì nhất định là đẹp lắm rồi. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một buổi sáng lành lạnh, có nắng, đi trên những thảm cỏ xanh, rất xanh. Chỉ cần một tí gió thôi là bao nhiêu lá phong rụng xuống, rơi vào đầu, vào cổ, vào áo của mình. Mà lá phong rụng không phải chỉ là những lá mang độc một mầu hỏa hoàng thôi đâu nhé. Có thể nói là có những chiếc lá thật là đỏ, đỏ thắm như son. Và từ mầu xanh qua mầu vàng đến mầu đỏ thắm là biết bao nhiêu mầu sắc! Những trận mưa là như thế thật là ngoạn mục.

Tôi rất ưa những loại cây thay lá. Như cây bàng ở quê hương ta chẳng hạn. Ở Phương Bối rừng núi mang mầu xanh suốt năm, kể cả mùa đông rét mướt và mưa gió. Chỉ có một số ít cây thuộc về loại cây thay lá mà thôi, và các cây ấy không đủ nhiều để tạo nên một mùa thu, một mùa rơi rụng, Princeton thật là đẹp, nhưng mà Princeton không có được những nét độc đáo của Phương Bối. Princeton không có những buổi sương mù bao trùm núi đồi và gây cho ta cảm tưởng đang đứng trên mặt biển. Princeton không phản phất hương của hoa Chiều, không có tiếng chim kêu vượn hú vang rừng, không có huyền bí hoang dại như Phương Bối.

Tôi không thể nào quên được những đêm trăng rừng Phương Bối. Nguyên Hưng cũng biết là buổi tối ở trên rừng không giống gì với buổi tối ở đồng quê hay ở thành thị. Mới từng tám giờ tối thôi, ta đã có cảm tưởng như là đêm đã khuya lắm rồi. Màn đêm dày đặc hơn, huyền bí hơn. Xung quanh Phương Bối quyền uy của rừng núi quả đã khôi phục được quyền hành của nó. Ta có thể cảm thấy được những bước chân chậm rãi của chúa sơn lâm và tiếng xào xạc của khu rừng tranh cao quá đầu người khi chúa sơn lâm đi ngang.

Rừng núi hết sức yên lặng. Nhưng cũng hết sức linh động. Những đêm có trăng, nhất là trăng khuya, ở Phương Bối hình như ít ai ngủ được. Có một bữa, ham viết cho đến một giờ khuya tôi không biết rằng Thanh Tuệ đã thức giấc và đang đứng lặng yên sau cửa sổ nhìn ra khu rừng ẩm ướt ánh trăng. Tôi cũng tắt cây đèn bát đi, và lại đứng gần bên Thanh Tuệ. Cả trăng cả rừng đều huyền bí đều mầu nhiệm, và cùng tạo nên một khung cảnh mà chúng ta chưa hề thấy bao giờ trong đời trừ ở Phương Bối. Trăng cũng tuyệt đối yên lặng. Nhưng mà trăng với rừng quả là đang nói chuyện với nhau, nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ gì chúng ta không thể nào biết được. Trăng và rừng trong lúc này không phải là hai mà chỉ là một. Thí dụ ta lấy trăng đi, thì rừng cũng mất. Hoặc giả nếu ta lấy rừng đi thì trăng cũng tan biến. Và chính chúng tôi nữa, chúng tôi là gì lúc ấy? Chúng tôi có thể hiện hữu bên nhau sau khung cửa sáng ấy không nếu một trong hai thứ trăng và rừng kia không hiện hữu?

Nguyên Hưng cũng đã từng say mê những đêm trăng như thế. Riêng tôi, tôi thấy trăng từ mười sáu trở đi mới già dặn mới đủ sức nói chuyện với rừng. Có những buổi khuya tôi đứng một mình – cũng sau cửa sổ lớn đó – nhìn ra khu rừng trước mặt. Hồi đó khu rừng chỉ cách ta độ năm sáu mươi thước. Khu rừng hùng mạnh, và dưới ảnh hưởng của trăng khuya, tự tạo cho mình một hấp dẫn lực kỳ lạ. Có một sức gì thu hút phát xuất từ khu rừng, một cái gì rất hoang dại và cũng rất hùng biện.

Tôi thấy hình như thấp thoáng ở cửa rừng có bóng một người Thượng thân hình đen cháy, hai mắt long lanh, có một người Thượng của hàng ngàn năm về trước chứ không phải như những người thượng bây giờ hay đi ngang qua Phương Bối để tìm rau Rịa. Tôi thấy thức dậy ở trong tôi con người cổ sơ. Tôi muốn liệng bỏ hết chữ nghĩa, liệng bỏ hết văn minh, liệng bỏ hết những áo xống rắc rối trên mình để trần truồng đi vào trong rừng. Đi vào trong rừng làm gì, tôi không biết, nhưng là đi vào thật sâu, đi mãi, đi mãi, dù là trời tối đen, dù là rừng đầy dã thú, đầy gai góc. Tôi thấy nếu tôi bị dã thú ăn thịt mà cũng không sao. Không đau đớn, không hãi hùng, không luyến tiếc. Có thể gọi là êm ái nữa cũng không biết chừng. Tôi đứng như thế, sau khung cửa, rất lâu, để chống lại với tiếng gọi của rừng, của trăng.

Rừng ở Medford hiền quá đi. Tôi nhớ trăng rừng Phương Bối lạ lùng; mình xa cách Phương Bối đã lâu rồi, Nguyên Hưng nhỉ. Nhưng mà từ ngày tôi rời xứ sở đến nay, đã mười sáu tháng qua. Ngày hôm kia tôi làm một bài thơ hai câu như sau:

“gối khuya rừng mộng trăng mười sáu
mười sáu trăng rồi, ngươi biết không?”

Tôi thích hai câu ấy lắm, Nguyên Hưng. Nguyên Hưng cứ nghĩ là rừng Phương Bối trong một đêm không trăng, gồi đầu lên đêm khuya để mà nhớ, để mà thấy trong giấc mơ mặt trăng tròn đầy của ngày mười sáu. Từ ngày xa cách, có phải là mười sáu mùa trăng đã qua rồi hay không? Tôi ưa những tiếng “trăng mười sáu” và “mười sáu trăng” nối theo nhau làm cho hai câu trở thành như một. Như một mà kỳ thực là hai.

Nguyên Hưng, vào cái ngày bắt đầu mùa an cư năm xưa ấy, trời bỗng tạnh mưa. Vào khoảng chín giờ sáng thì Như Thông, Như Ngọc và thầy Châu Toàn lên. Họ mang theo rất nhiều thứ quà để tặng Phương Bối. Tôi còn nhớ đến chiếc giỏ mây thật đẹp mà chúng ta thường dùng để đơm hoa rừng cúng Phật. Và nào là chén, là đĩa, là đũa, là thức ăn. Hồi đó đồi Thượng chưa được dọn sạch nên không thể ăn bữu cơm đầu hạ trên ấy như chúng ta ước muốn. Tuệ cũng đã vào từ lúc sáng sớm. Nguyên Hưng và tôi vẫn còn đang phải loay hoay dọn dẹp thiền thất. Toàn đã vào Rừng Tham Thiền một mình để hái hoa.

Một lát sau chị Diệu Âm và cô Lưu Phương vào, cùng đi hái hoa với Toàn. Chị hái được rất nhiều bông Chiều, những chùm hoa lớn trắng như tuyết. Còn Toàn thì sau khi hái được một ít hoa mẫu đơn đã bị rừng Sim lôi cuốn. Thế là từ lúc đó. Toàn hái toàn những cành hoa Sim. Tôi nhớ ngày hôm đó ở Phương Bối có rất nhiều bình hoa nhỏ mà phần lớn là những bình hoa Sim – nhưng vì Toàn đã trẩy gần hết lá Sim nên các bình hoa kia trông như những bình hoa đào. Cái giỏ mây đầy cả hoa Chiều. Hoa Mẫu Đơn, và một vài thứ hoa khác nữa mà chúng ta không biết được tên họ. Toàn còn chặt cả một đọt thông lớn để cắm vào chiếc ché Thượng men nâu để trên thiền thất. Như Khoa và Thanh Giới cũng đã băng rừng băng núi tìm vào. Các bạn của Phương Bối như thế, cũng đã khá đông. Sau buổi lễ Phật trang nghiêm và ấm áp, chúng ta đưa mọi người đi một vòng ở Phương Bối. Tuy nói một vòng nhưng kỳ thực chỉ là một vòng nhỏ, bởi vì phần lớn đồi núi ở Phương Bối vẫn là hoang vu, không đặt chân đến được.

Những người bạn của Phương Bối đã ở lại đến ba giờ chiều để đàm đạo về những dự tính cho Phương Bối trong tương lai. Rồi thì Toàn cùng với Như Ngọc và Như Thông từ giả chúng ta trước. Họ phải về Saigon và trước khi đi tìm tới xe, họ phải băng rừng đến Đại Hà, rồi Như Khoa và Thanh Giới cũng về, Thanh Tuệ cũng về, bởi vì Thanh Tuệ chưa vào Phương Bối luôn với chúng ta được – lý do là Tuệ còn cưu mang dỡ dang mấy lớp học ở Blao. Buổi chiều ấy, sau khi họ ra về hết rồi, Phương Bối thật vắng lặng và thanh tịnh.

Đưa Tuệ và chị Diệu Âm về xong, chúng ta từ rừng Tham Thiền – nơi có mấy chữ nho viết dọc theo một bảng gỗ đóng trên một thân cây “Đại Lão Sơn Phương Bối Am” – thong thả đi vào. Phương Bối là một thực tại rồi đó, nhưng mà cũng như chiều hôm trước, chúng ta vẫn không chắc là nó có thực. Nó hiện hữu như một cái ráng trời. Ta có thể nghĩ rằng nó muốn tan biến đi lúc nào thì nó tan biến. Có lẽ vì Phương Bối không giống bất cứ một cái gì chúng ta đã gặp, đã thân thiết. Cũng có lẽ vì Phương Bối đối với ta còn mới mẽ quá, nhưng đã thân thiết quá. Lại cũng có lẽ Phương Bối đẹp không cùng. Ta chưa hề nghĩ rằng số kiếp của ta mà lại có thể liên hệ đến một thực hữu kỳ diệu như Phương Bối. Vậy cho nên Phương Bối nửa như là thực nửa như là hư. Ta không nghĩ rằng Phương Bối thuộc về ta. Tôi không bao giờ nghĩ như vậy. Cho nên tôi rất đồng ý với Nguyên Hưng khi Nguyên Hưng nói: Chúng ta thuộc về Phương Bối. Vì câu nói ấy mà sau này Lý thêu dệt thêm ra. Lý nói Phương Bối là “thánh địa”. Chúng ta là “dân” của thánh địa, đi đâu cũng thuộc về thánh địa. Cái tính của Lý thì hay “ăn to nói lớn” như vậy đó mà, Nguyên Hưng.

Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, khi đưa Tuệ và chị Diệu Âm ra về, chúng ta đã đi thẳng lên đồi Thượng, nhìn ra bốn phía. Rồi chúng ta đi vào trong những hàng trà. Đất rất mềm và xốp. Chúng ta men theo bờ rừng và đi mãi xuống gần thung lũng. Bỗng dưng Nguyên Hưng chỉ cho tôi những dấu chân cọp rất mới, in rõ ràng trên nền đất xốp sau những trận mưa hồi hôm. Dấu chân ấy hướng về phía lối cầu Mai. Trời cũng đã chiều rồi. Thanh vắng quá. Tôi hơi ngài ngại, liền rủ Nguyên Hưng trở về. Chúng ta băng qua những đồi chè để trèo lên đỉnh đồi Thượng. Khi vào tới nhà, chúng ta đi đốt lửa, và trời đã rét. Dì Tâm Huệ ngày hôm ấy chưa ở lại được với chúng ta, nên đêm ấy chỉ có một mình tôi với Nguyên Hưng. Chúng ta soạn một bữa cơm chiều rất giản dị, rồi ngồi ăn bên nhau dưới ánh sáng của bốn ngọn đèn nến. Đêm ấy, tôi đã nói cho Nguyên Hưng nghe về những dự liệu văn hóa chúng ta sẽ thực hiện sau này. Trước khi đi ngủ chúng ta đã có một buổi “công phu” ngắn và cảm động.

Tôi đã nhắc Nguyên Hưng nhớ lại những cảnh trăng rừng Phương Bối. Tôi tưởng cũng phải nhắc Nguyên Hưng nhớ lại thêm về những buổi sáng mai trên rừng núi Đại Lão. Hồi đó, chúng ta thường ưa làm việc tay chân vào các buổi sáng. Chỉ trong vòng ba tháng sau ngày chúng ta về, Phương Bối đã trở nên quang đãng và đẹp đẽ. Bởi vì sáng nào chúng ta cũng làm việc tay chân và ngày nào chúng ta cũng có ít ra một người bạn Thượng làm việc trong phạm vi Phương Bối. Sau này ta lại có anh Năm, người con trai hiền lành từ xứ Quảng di cư vào – Năm đã ở lại với chúng ta trong suốt thời gian hưng thịnh của Phương Bối.

Chỉ trừ những ngày mưa, còn thì buổi sáng nào ở Phương Bối cũng đẹp. Buổi sáng Phương Bối thật là linh động. Sáng nào Phương Bối cũng vang động tiếng chim tiếng vượn. Trời Phương Bối rét nên chúng ta không dậy sớm. Thường thường tôi chong đèn ngồi viết đến nửa đêm. Buổi sáng tôi thường thức dậy giữa tiếng chim tiếng vượn. Chính Tuệ và Nguyên Hưng biết rằng tôi chưa khôi phục lại được sức khỏe ngày xưa nên hai người cứ lẳng lặng dậy trước, để yên cho tôi ngủ. Còn dì Tâm Huệ thì ngủ rất ít. Thường thường khi tôi dậy thì đã có nước trà để uống cho ấm bụng. Nồi cháo trắng đỗ xanh lúc ấy đã chín rồi; thường thường chúng ta hay chạy vào bếp sưởi ấm, uống nước và ăn điểm tâm ngay trong cái nhà bếp nghèo nàn nhưng ấm cúng đó, Nguyên Hưng nhớ không.

Nắng mai tuy rất trong và đẹp nhưng không đủ ấm. Cho nên chúng ta phải bắt đầu mỗi ngày bằng công việc tay chân. Làm như thế thì chỉ trong mười phút thì đã thấy ấm người rồi. Hồi đó tôi cũng biết xử dụng phảng, cuốc và mai không kém gì Nguyên Hưng vậy. Nguyên khu đồi Thượng, chúng ta cũng phải để ra hàng tháng mới dọn xong. Bao nhiêu là gốc cây. Bao nhiêu là giây chằng. Bao nhiêu là gai góc. Chúng ta đã làm được không biết bao nhiêu là ghế, là bàn, bằng những nguyên liệu của rừng như mây, như gỗ, ngay trên đồi Thượng. Lại còn có những chiếc ghế treo nữa. Các thầy ở Huế hay ở Sàigon mỗi khi lên thì cứ ưa ngồi hàng giờ trên đồi Thượng và dù lớn cách mấy, vị nào cũng thích ngồi đu trên những chiếc ghế treo.

Buổi mai ở Phương Bối đẹp như một tờ giấy trắng tinh, nguyên vẹn, một tờ giấy trắng tinh có ửng mầu hồng ở góc. Thực vậy, Nguyên Hưng. Chúng ta thức dậy ở Phương Bối với ý thức là chúng ta có trước mặt một ngày trọn vẹn không bị ai xâm phạm. Không phải đi hội họp không phải chờ xe buýt, không phải ngồi ở phòng đợi, không phải thao thức vì những cái rendez-vous. Một ngày trọn vẹn có đủ sáng, trưa, chiều tối, và đẹp như mầu hồng của bình minh. Một ngày trọn vẹn mà ta muốn xử dụng như thế nào cũng được. Nguyên Hưng có thể làm cỏ ở đồi trà, hoặc dọn thêm khu rừng trước mặt, hoặc trồng thêm cây ăn trái, hoặc viết lách hay nghiên cứu. Chúng ta làm được thật nhiều việc, nhưng không bao giờ chúng ta chán việc, bởi vì tất cả những gì ta làm đều do sở thích. Nếu ta không làm cỏ ở đồi chè chẳng hạn, thì anh Năm cũng chịu khó làm và thế nào đồi chè cũng sạch cỏ. Nếu ta không dọn thêm được khu rừng trước mặt hôm nay thì ta có thể làm vào một lúc khác. Chúng ta, tóm lại, muốn làm gì thì làm. Buổi sáng, sau khi ăn điểm tâm, thế nào trong chúng ta cũng có một người đề nghị, là nên đi làm việc sáng hôm nay.

Tôi nhớ hồi đó Phương Bối có Nguyên Hưng, có Tuệ, có Triều Quang, có Lý, có Năm, có Phú, có dì Tâm Huệ và có Tôi. Nếu Nguyên Hưng đề nghị “sáng nay dọn thêm ở khu đồi Thượng” thì ít nhất cũng có ba người hưởng ứng. Hoặc nếu Lý đề nghị “sáng nay làm một con đường xuống thung lủng” thì Lý chắc chắn cũng có người hưởng ứng. Thường thường các đề nghị đều được tất cả mọi người tán thành. Có khi hai người cùng đề nghị một lần, và chúng ta chia ra hai nhóm theo sở thích. Lâu lâu chúng ta lại có một cuộc thám hiểm núi rừng. Ai nấy đều chuẩn bị kỹ lưỡng. Thường thường những cuộc “thám hiểm” như thế kéo dài cả ngày. Chúng ta hay dừng lại ăn trưa và nghỉ ngơi bên một dòng suối. Nhiều hôm Nguyên Hưng và Triều Quang mang về những cây phong lan tuyệt đẹp. Ai nấy đều mệt nhoài. Đêm đến chúng ta ngủ rất ngon.

Trong những buổi đi rừng phục sức của tất cả mọi người đều rất kỳ dị. Nguyên Hưng có nhớ không? ở Phương Bối chúng ta không cần vâng theo luật lệ của… người phàm. Ta có thể đội bất cứ thứ mũ nào, mang bất cứ thứ giầy ủng nào, dùng bất cứ thứ thắt lưng nào. Có khi nhìn vào tấm gương tôi thấy tôi giống như một ông ngáo ộp. Râu thì có khi một tuần chưa cạo một lần. Không phải vì làm biếng mà vì chúng ta có những việc khác ưa làm hơn! Áo thì bằng da dày cộm để gai rừng không bấu rách. Ống quần thì túm lại bỏi vào đôi ủng cao su để khỏi bị vắt xâm nhập. Vai thì mang một cái xách đựng hoặc cơm trưa, hoặc chiếc võng đay, hoặc hộp cứu thương. Tay thì cầm một cái xà gạc hoặc một cây gậy. Những người học tò của tôi ngày xưa nếu có trông thấy tôi trong hình dáng ngáo ộp ấy chắc cũng không thể nào không kinh ngạc cho được. Ăn mặc như thế này để vào lớp giảng thơ Nguyễn Du thì chắc là không được đâu, phải không Nguyên Hưng?

Ở rừng núi chúng ta đi đứng mạnh bạo hơn. Chào nhau ở cửa rừng đôi khi chúng ta không chắp tay trước ngực mà chúng ta đưa một cánh tay thẳng lên trời. Đi lại trên các con đường rừng núi thì không cần bước từng bước đĩnh đạc bệ vệ nữa; chúng ta đi rất mau, hoặc là chúng ta chạy. Từ đồi này chúng ta la hét sang đồi kia. Nguyên Hưng hét to hơn ai hết, như một cái còi xe lửa. Có một điều mà ta thấy rất rõ là ai lên Phương Bối cũng ưa la hét thật to. Tôi nhớ có một lần trèo lên cây thông cao ở Rừng Tham Thiền để đốn một cành thông xanh, Nguyên Hưng hét vang cả núi rừng. Tôi lúc đó đang dọn dẹp thiền thất cũng bị tiếng hét của Nguyên Hưng kích động. Tôi bỏ chiếc chổi lau, chạy ra, nhìn về phía Rừng Tham Thiền. Và buồn cười chưa, tôi cũng hét to để hỏi và để trả lời Nguyên Hưng. Rừng núi lớn lao quá khiến ta có cảm tưởng là bị nhỏ bé lại và vì thế tiếng hét của ta là để phá tan cái mặc cảm là chúng ta bé nhỏ. Có phải không Nguyên Hưng?

Lại cũng có lẽ là vì chúng ta muốn trả thù những công thức giao tiếp của cái xã hội cũ. Trong xã hội đó, nói thì phải nói với giọng giữ gìn, để ý từng câu từng chữ. Xã hội quy định ta phải ăn như thế nào, chào như thế nào. Vì vậy khi lên Phương Bối chúng ta đã có khuynh hướng lật nhào tất cả những luật lệ đó. Và chúng ta chạy hoặc hét là để phá vỡ cái mặc cảm chúng ta bị nô lệ, để chứng tỏ chúng ta có “tự do”. Cũng như ở bên này người ta có cái kiểu chào nhau “How are you” lạt như nước ốc. Câu chào ấy ai cũng thấy vô ích, thế mà không chào thì lại thấy thiếu một cái gì. Có thì là dư, mà không thì lại là thiếu. Buồn cười nhất là khi một người bệnh tới khám bệnh. Bác sĩ hỏi: “ông mạnh giỏi không?” một cách vô ý thức. Và bệnh nhân cũng trả lời “mạnh” một cách vô ý thức. Trong khi đó, ta biết rằng nếu “mạnh” thì bệnh nhân đâu có cần tới bác sĩ làm gì.

Nguyên Hưng, giữa ta và vũ trụ có những liên hệ nào mà mỗi khi vũ trụ kêu gọi, không thể nào cưỡng lại được? Tôi vừa mới viết cho Hưng về trăng rừng, một tiếng gọi hết sức thiết tha ít khi tôi có thể làm ngơ được. Tôi muốn kể cho Nguyên Hưng nghe về những trận mưa đầu mùa. Từ hồi còn bé thơ, tôi đã bị những trận mưa đầu mùa quyến rũ rồi. Hồi đó tôi còn ở đồng quê. Tiếng sấm động. Trời sa sầm xuống thấp. Những giọt nước to nặng đầu tiên rơi lộp độp trên mái ngói. Vài ngọn gió thổi tới đập các cánh cửa sổ ầm ầm. Tôi đã bị kích động ngay sau những hiện tượng đó. Thật giống như prélude của một bản hùng ca vĩ đại. Thế rồi sau một tiếng sấm long trời lỡ đất, mưa trút xuống rào rào như thác đổ.

Những lúc như thế, đố mà tôi ngồi yên cho được. Tôi phải chạy ra, vén màn, dán mắt vào cửa kính. Những đọt cau xa oằn oại. Trong lúc trời đất thét gào. Vũ rụ rung chuyển. Những chiếc lá to bị gió hắt mạnh vào cửa sổ và vách tường. Nước trút xuống ào ào và chảy ồ ồ ngoài sân, trước rãnh. Trong màn mưa bạc, có những con chim quật cánh chống lại với gió với mưa. Trong bản hùng ca đó, tôi cảm nghe thấy rõ rệt tiếng gọi của hồn vũ trụ. Tôi muốn trở thành một đọt cau hay một cây nghiêng ngả oằn oại trong mưa. Tôi muốn trở thành một con chim bay quằn quại giữa trời để chịu đựng sức mưa sức gió. Tôi muốn chạy ra giữa mưa mà hét, mà múa mà quay cuồng, mà cười, mà khóc. Nhưng mà tôi không dám. Bởi vì tôi sợ mẹ tôi mắng.

Trong tiếng ào ạt rạt rào của mưa và gió, tôi ráng lấy tất cả gân cổ hát một bài. Dù tôi có hét to đến mấy người ta cũng không nghe được, bởi vì bản nhạc long trời lở đất đã lấn át hết. Trong khi tôi hát như thế, mắt tôi vẫn không rời cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa, thần trí tôi như bị hút vào cảnh tượng hùng vĩ của trời mưa, và tôi cảm thấy tôi được hòa mình vào trong bản hòa tấu vĩ đại. Tôi thấy dễ chịu. Tôi hát bài hát này rồi bài khác. Sau đó, trời tạnh, hơi đột ngột. Tôi cũng dừng tiếng hát. Thần kinh tôi êm dịu lại và tôi nhận ra rằng trên mi tôi còn đọng một vài giọt nước mắt.

Cho mãi tới ngày nay, tôi cũng vẫn còn giữ cái thói làm như vậy, Nguyên Hưng, tuy rằng có đôi khác chút ít. Tiếng gọi của đất trời vẫn tha thiết và rõ rệt như ngày xưa. Mỗi khi văng vẳng có tiếng gọi ây là tôi lại giật mình, và với tất cả với bản thể của tôi, với tất cả mọi nguyên tử của sinh lý tôi, với mọi đường máu, mọi đường giâythần kinh của thân thể tôi, tôi lắng nghe một cách kính cẩn và thiết tha. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một người mất mẹ đã mười năm, một hôm bất giác nghe tiếng mẹ gọi. Tâm trạng của tôi là như thế đó, mỗi khi tôi nghe tiếng gọi của đất trời. Mới vừa hôm qua đây, trong cảnh rừng mưa, tôi quỳ dưới cửa sổ để nghe bản nhạc hùng của tời, của đất, của rừng, của gió. Cửa sổ để ngỏ, nhưng tôi không đứng dậy đóng lại. Tôi qùy đó, thành kính, đầu hơi cúi thấp, trong khi gió tạt mưa vào ướt cả đầu cả cổ cả áo tôi. Tôi thấy rất được dễ chịu, rất được yên lành trong cử chỉ ấy. Mãi cho dến khi rùng mình, thấy lạnh, tôi mới đứng dậy, đóng cửa và đi thay áo, đốt lò sưởi, trong lúc rừng Medford vẫn cuồng nhiệt gào thét trong cơn mưa…

Nẻo về của ý – chương 02

Mấy hôm nay mưa lớn quá. Nguyên Hưng. Căn nhà gỗ Pomona của tôi bị dột, mưa giọt xuống ướt cả mấy cuốn sách để trên bàn. Tôi phải dời cái bàn đi mấy lần mới tìm ra được một chỗ bảo đảm. Tối hôm qua một đám thanh niên chừng hai chục người từ trại Rangers đã tới thăm Pomona để nghe tôi nói chuyện về đạo Phật. Trong thời gian lưu trú tại đây, tôi làm guest speaker cho cả trại mà. Nói cho nhóm này nghe rồi đến nhóm khác, về đủ các thứ chuyện. Tôi đã nói cho tất cả là tám nhóm rồi kể cả một nhóm cherrokees nhỏ xíu. Nhóm Rangers là nhóm lớn. Họ mang tới mỗi người một ôm củi dể đót trong lò sưởi lều Pomona của tôi. Trời hơi lạnh thành đốt như thế vừa ấm lại vừa vui. Họ ngồi quây quần quanh lò sưởi nghe tôi nói chuyện. Lúc đó tôi mặc chiếc áo nhật bình mầu khói hương, cho nên tôi bắt đầu nói về chiếc áo nhật bình để cho họ biết đây là chiếc áo đặc biệt của những chú tiểu Việt Nam chứ không phải là quốc phục Việt Nam như vài người đã lầm tưởng. “Đáng lẽ thì tôi mặc chiếc áo tràng mầu nâu kia kìa”, tôi vừa nói vừa chỉ chiếc áo treo ở góc phòng, “nhưng vì muốn có cảm giác trẻ con nên tôi ưa mặc áo nhật bình”. Thế rồi tôi đứng dậy mặc chiếc áo tràng vào và giải thích cho họ biết ý nghĩa của mầu nâu. Màu của khiêm nhượng của trầm lặng và của ý hướng đồng sự với người dân quê. Nhân tiện tôi cũng khoác chiếc y màu vàng lên và giải thích cho họ biết thế nào là giải thoát phục và trong những trường hợp nào thì cần phải mang y. Và do đó tôi nói đến sự khác biệt của hai truyền thống Nam Tông và Bắc Tông của đạo Phật và một vài khởi điểm của nhận thức đạo Phật. Rồi tôi chỉ cho họ biết một ít điểm dị đồng căn bản giữa đạo Phật và Cơ đốc giáo là tôn giáo mà họ đang theo. Thường thường những buổi nói chuyện như thế được họ theo dõi một cách rất chăm chú và khi tôi kết thúc buổi nói chuyện, họ đặt rất nhiều câu hỏi. Nếu chỉ cho họ hỏi mãi có lẽ họ sẽ hỏi cho đến hết ngày. Những điều họ tò mò muốn biết thì vô cùng mà thời gian dành cho những câu hỏi thì có hạn. Họ hỏi nhiều câu như: tại sao mái chùa lại cong lên như vậy? Tại sao lại ăn chay? Ông Thầy tu đạo Phật cưới vợ được không? đạo Phật nghĩ về đức Jesus như thế nào? những câu hỏi như thế tuôn ra bất tuyệt. Hồi hôm, để chấm dứt, tôi bảo họ im lặng để tôi đọc cho họ nghe một bài kinh. Tôi đọc bài “vô biên phiền não đoạn”. Khi họ ra về thì đã mười một giờ. Tôi cho thêm ít củi vào lò sưởi, và còn lại một mình tôi ngồi nhìn ngọn lửa bốc cháy. Trời vẫn còn mưa tầm tã. Chắc Saigon cũng đang mưa. Thanh Tuệ từ Đại Hà vừa viết thư cho biết rằng Phương Bối mưa suốt mấy tuần nay, mái nhà Thượng trên đồi đã bị gió thổi bay mất một mảnh lớn. Không biết Tuệ có chịu vào chữa lại hay không, hay là lại để cho gió tốc cả cái nhà Thượng đi mất. Chiếc nhà Thượng cao chót vót trên đỉnh đồi chính mà chúng ta đã mất bao nhiêu công trình mới làm nên được. Chiếc nhà ấy đẹp nhất trong những ngôi nhà rải rác ở các núi đồi Phương Bối, có phải không Nguyên Hưng. Hai mái thật cao như hai bàn tay người Phật tử chắp lại kiểu hiệp chưởng khi chào nhau. Chính trong ngôi nhà Thượng ấy chúng ta đã sống những giờ thật vui vẻ và thanh tịnh. Những giờ học tập, hội thảo, đàm đạo, uống trà và cả nghe âm nhạc nữa. Bữa khánh thành ngôi nhà, tôi còn nhớ, chúng ta đã nấu xôi và chè đậu xanh đãi vỏ ăn mừng. Nhà Thượng được làm theo kiểu nhà sàn, và chúng ta đã ngồi bệt xuống sàn nhà theo kiểu người Nhật và khi đau chân quá thì đổi ra kiểu người Miên.

Tôi ngồi ở Pomona trong một đêm mưa mà cứ tưởng là ngồi ở Phương Bối một đêm mà cả Tuệ, cả Lý, cả Nguyên Hưng, cả thầy Thanh Từ và cả dì Tâm Huệ nữa đều vắng mặt. Có lúc tôi mỉm cười yên lặng một mình. Quả thực mỗi người trong chúng ta đều thuộc về Phương Bối, như Nguyên Hưng đã nói cho tôi xem là Nguyên Hưng có nhớ Phương Bối không nào?

Để tôi nói tiếp về câu chuyện hai mươi lăm mẫu chín ngàn năm trăm hai mươi lăm thước vuông đất rừng ở làng B’su Danglu cho Nguyên Hưng nghe. Sau khi chúng tôi mua khu đất thì chúng tôi hết cả tiền, ngay cả số tiền nhỏ dành để uống thuốc, vì hồi ấy tôi còn chưa được bình phục. Sau khi mở vài cuộc thám hiểm khu rừng núi Đại Lão, bác Đại Hà và tôi quyết định phá đi một khoảnh rừng chứng bốn mẫu để trồng cây trà và một khoảnh khác gần ngọn đồi cao nhất để làm một căn nhà. Phải trồng trà thì mới có phương tiện tự túc, vì Phương Bối sẽ không phải là nơi lui tới của những người thập phương. Phương Bối sẽ chỉ là của riêng chúng ta (Nguyên Hưng xem chúng mình chấp ngã ngã sở ghê chưa) và hoàn toàn do chúng ta tự do sắp đặt và định liệu. Trước hết, phải thuê hàng chục người Thượng tới dùng xà gạc để đốn khu rừng dự định trồng cây trà. Sau đó chừng một tháng, khi thân cây và cành lá đã khô thì đem lửa tới đốt. Phải đốt bốn mặt để cho ngọn lửa chạy vào trung tâm, như vậy tránh được cháy rừng. Đốt xong thì phải dọn rừng, khiên những thân cây bị cháy xém chất thành từng đống lớn. Cành lá thì đã cháy thành tro. Đợi trận mưa đầu mùa tới là đào lỗ chôn thành hàng và gieo hạt trà. Hạt trà thì chúng tôi đã đi xin được rát nhiều ở các đồn điền lớn trong quận. Từng đó công việc đòi hỏi một số tiền. Thanh Tuệ đã phải về Saigon giao thiệp với các nhà xuất bản và phát hành để thâu số tiền bản quyền những cuốn sách mà tôi đã giao cho họ. Với một số tiền của chị Diệu Âm giúp nữa, chúng tôi khởi công. Chính bác Đại Hà một người kinh nghiệm làm rừng, đã chỉ huy công việc giúp chúng ta. Một buổi sáng có nắng cách đó chừng năm tháng, chị Diệu Âm giúp nữa, chúng tôi khởi công. Chính bác Đại Hà, một người bạn có rất nhiều kinh nghiệm làm rừng, đã chỉ huy công việc giúp chúng ta. Một buổi sáng có nắng cách đó chừng năm tháng, chị Diệu âm, Thanh Tuệ và tôi, tất cả đều nai nịt gọn ghẽ, theo bác Đại Hà đi vào khu rừng đã biến thành một đồi chè non. Con đường đi vào chưa được phát dọn và cũng chưa thành một lối đi có dấu mòn. Rừng còn ướt và vắt nhiều quá. Thỉnh thoảng chúng tôi lại phải dừng lại để xem có vắt bám vào chân hay không. Bác Đại Hà thì không ngán vắt một chút nào. Bác kể chuyện có lúc vắt bám đầy cả chân, khi về phải dùng cả một sợi lạt để gạt chúng nó xuống, trước khi rửa chân, xoa dầu khuynh diệp và sưởi lửa. Thanh Tuệ và tôi cũng chỉ hơi sợ vắt mà thôi. Mỗi khi bắt gặp một con vắt đang bám vào chân, chúng tôi ngừng lại và lấy tay rứt nó ra, hơi gớm và hơi rùng mình một tí. Nhưng chị Diệu Âm thì sợ vắt vô cùng. Mỗi khi thấy có vắt bám vào chân thì chị hét lên. Chúng tôi phải dừng lại để mà “bảo vệ” cho chị. Ấy thế mà chừng một năm sau chị không còn sợ vắt nữa.

Mùa hè, chúng ta tha hồ đi trong rừng không sợ vắt. Chúng nó chết tiệt đâu hết cả. Nhưng chỉ mùa mưa tới, rừng ẩm thế là chúng xuất hiện. Bác Đại Hà nói: “Thưa thầy, chúng nó đâu có chết, chúng nó chỉ khô teo đi thôi. Đến mùa mưa là chúng sống lại.” Rồi bác kể chuyện một hôm bác ngồi ăn cơm trưa với công nhân trong rừng. Ăn xong, một anh công nhân tìm một cái tăm xỉa răng. Anh vớ được một cái que xuống sắn đầu lớn đầu bé như một cái tăm. Anh thổi sạch bụi và bắt đầu xỉa. Một lát anh có cảm giác rằng cái tăm động đậy. Thì ra đó là một con vắt chớ không phải là một cái que. Nhờ chất nước bọt, con vắt đã được hồi sinh. Tha hồ cho anh công nhân nhổ nước bọt súc miệng. Có lúc bị vắt đeo mà ta không biết, về đến nhà máu chảy ướt, ta mới hay. Người miền núi có chế ra một thứ thuốc bôi vào hai ống chân khiến cho vắt sợ không bám vào được. Hoặc họ mang theo vôi ăn trầu, có vắt thì bôi vào tí vôi vắt “nhả” ra ngay.

Vui câu chuyện cùng chúng tôi đến đồi chè mới lúc nào không hay. Đồi thật cao. Đây là ngọn đồi cao nhất ở vùng này. Bây giờ ngọn đồi quang đãng, chúng tôi mới có thể nhìn được cảnh vật bên dưới. Thật là một quang cảnh ngoạn mục. Nhìn từ đây, trời xanh xanh hơn, mây trắng trắng hơn. Những ngọn núi xa có mây trắng phủ dưới chân trông như những cù lao nổi giữa biển nước trắng xóa. Nguyên Hưng có biết không. Suốt hai năm trời ở Phương Bối mà buổi sáng nào đứng từ đồi Thượng ta cũng thấy Phương Bôi đẹp. Không có một buổi sáng nào giống buổi sáng nào. Có những buổi sáng thức dậy ta chẳng trông thấy được gì ngoài cửa sổ. Bởi vì sương mù dày đặc. Đứng cách nhau chừng năm sáu thước đã có thể không trông thấy nhau. Có những buổi sáng đứng trên đồi Thượng ta có cảm tưởng rất thực là ta đang đứng trên một hòn cù lao ở hải đảo. Sương mù trắng xóa và bằng phẳng như mặt biển, dàn trải đến chân trời. Các ngọn núi xa là những cù lao. Mãi cho đến gần mười giờ sáng sương mới tan và cảnh tượng mới lại phô bày chân tướng. Mà thực ra ta khó nói được thế nào là chân tướng của cảnh tượng nữa. Mỗi ngày mỗi khác. Mỗi giờ mỗi khác. Phương Bối là một dòng tiếp nối của những cảnh tượng thần diệu. Đó, Nguyên Hưng có nhớ một buổi sáng nọ khi chim hót vang rừng chúng ta đi từ thiền thất lên đến đỉnh đồi Thượng không? Đứng trên đồi ta trông thấy một cặp nai tơ đùa chơi trong nắng sớm, giữa những hàng trà. Những con nai tơ vàng mình có lốm đốm những hàng sao trắng. Chúng ta đã đứng im bất động một lúc lâu, sợ chúng chạy mất. Nắng mai đùa giỡn với những con nai con trên đồi trà. Một lát sau, hai con nai đuổi nhau về phía cửa rừng phía Nam và lẩn mất vào rừng. Chúng ta chỉ còn biết nhìn nhau.

Khu đồi hồi đó tuy đã được trông trà nhưng còn hoang vu lắm Nguyên Hưng. Chúng tôi đi giữa những cây trà mới lên. Các gốc cây đang còn lại nhiều; nhưng theo lời bác Đại Hà chúng sẽ mục nát sau đó một vài năm, không cần phải đào gốc. Vấn đề là đừng cho chúng mọc lộc mới. Mà thực ra số lớn các gốc đã bị đốt cháy không thể nào còn đâm lộc được nữa, để có chỗ làm nhà và làm vườn.

Nguyên Hưng ơi, sau ngày đi thăm ấy độ một năm thì Nguyên Hưng về, lúc ấy Phương Bối đương làm nhà. Bốn mẫu trà kia đã bắt đầu sản xuất chút ít và chị Diệu Âm bàn nên trồng thêm hai mẫu nữa. Lại thêm phải làm một cái nhà bốn gian ngay dưới chân đồi Thượng. Một gian trên cao dùng làm thiền thất. Gian dưới là thư viện và chỗ làm việc. Gian giữa là phòng ngủ. Gian bên là phòng ăn và phòng khách. Khách ở đây là gia đình Đại Hà, là chị Diệu Âm, là Như Thông, Như Ngọc, Như Khoa, Thanh Giới và ít người bạn tri kỷ khác. Kỳ dư ai mà chịu lặn lội lên tới Phương Bối, vừa xa, vừa cao, vừa vắt, vừa nguy hiểm. Nguyên Hưng, hồi đó chúng tôi lúng túng rất nhiều về vấn đề tiền bạc. Tôi phải bán thêm một bản thảo nữa, và kêu gọi sự giúp đỡ của các bạn quen. Ngoài chị Diệu Âm, những người giúp cho chúng ta nhiều nhất là Như Thông, Như Khoa và gia đình Đại Hà. Trong thời gian làm nhà các bác thợ phải đi lên đi về rất vất vả. Chiếc xe vận tải (bánh xe có ràng xích để leo núi khỏi trượt) phải lận đận lắm mới chở được gỗ và nguyên liệu làm nhà đến dưới chân đồi Thượng, bò quanh theo con đường núi đã lở lói và hư hỏng rất nhiều. Con đường này xa bằng ba con đường rừng đi tắt. Mà từ chỗ rẽ của con đường tới chân đồi Thượng, bác Đại Hà đã phải đốt rừng làm một con đường dài trên bốn trăm thước. Chính tôi đã cắm mộc làm thầy địa. Nguyên Hưng này, có lẽ tôi là một ông thầy địa vụng cho nên giờ này chúng ta không được an trú trong Phương Bối mà mỗi người phải lênh đênh một ngả. Tôi phải chừa làm nghề thầy địa đi mới được, có phải không?

Hồi đó Tuệ, Hưng, tôi và chị Diệu Âm hay rủ Như Khoa và bọn trẻ con gia đình Đại Hà vào chân đồi Thượng cắm trại, luôn tiện xem các ông thợ làm nhà. Tội nghiệp chị Diệu Âm; vì chúng ta, chị cứ mỗi tuần rời Mai Lâm ở Di Linh để vào Bảo Lộc một kỳ. Tuy vậy, nhờ làm nhiều việc, leo nhiều núi, chị mạnh khỏe hẳn ra. Ai thấy chị leo núi cũng khen. Như Khoa, nam nhi chi tướng như vậy mà đôi khi còn thua chị. “Mất uy tín” quá, phải không Nguyên Hưng? Vì muốn về Phương Bối trước mùa an cư cho nên chúng ta đã cố gắng rất nhiều. Lúc bấy giờ đường lên Phương Bối đã được phát dọn quang đãng. Cái khu rừng từ cầu Mai lên đến dưới đồi Thượng, cái khu rừng ấy mới đẹp làm sao. Tôi muốn được suốt đời đi trong một con đường rừng như thế. Con đường thơm ngát hoa chiều. Và có một vài thứ hoa gì nữa cũng rất thơm mà chúng ta không biết tên. Mỗi lần lên Phương Bối mà leo tới được cầu Mai là đã thấy khỏe rồi. Thấy như là mình đã tới rồi, tới được cõi của mình rồi. Khúc đường còn lại là khúc đường rừng hấp dẫn nhất mà tôi vừa nói đó. Thầy Thanh Từ sau này rất thích đội một cái nón lá thật to vành và chống một chiếc gậy đi lên đi về con đường đó. Phương Bối hiện ra một cách đột ngột từ một khúc quanh: đồi Thượng sáng lên như một chân trời giác ngộ, một cõi bồng lai, nhất là ngày bắt đầu có chiếc nhà Thượng với hai mái cao vừa hùng vĩ vừa e lệ.

Những cơn mưa gió đến trước mùa an cư làm chúng ta phải cực nhọc nhiều lần. Chúng ta đã có tủ để đựng hai vạn cuốn sách. Chúng ta đã có giường có bàn, chúng ta lại cũng có một chiếc nhà bếp xinh xắn cách đó không xa. Và quý nhất là chúng ta đã xây được một cái hồ đựng nước mưa chứa được chừng vài chục thước khối nước. Những ngày ấy chúng ta rất bận rộn với ngôi nhà mới sắp hoàn thành. Tuệ lúc đó bận dậy học ở trường Bảo Lộc cho nên ít giúp chúng ta được. Nguyên Hưng biết, cũng khá trang nhã. Có một bữa cùng với Nguyên Hưng đứng ở lan can nhìn xuống khu rừng phía trái mà ta thường gọi Rừng Tham Thiền tôi thấy một giải mây giăng ngang từ cửa rừng sang đến gần chân đồi Thượng. Giải mây giống như một giải lụa, bề rộng chừng độ hai thước. Thật là kỳ thú. Tôi với Nguyên Hưng dã chạy xuống đi lại gần giải mây. Tới gần thì không thấy giải mây đâu. Chúng ta thất vọng, bởi vì chúng ta muốn đứng sát một bên giải mây, nhưng khi trèo lên lại lan can nhìn, thì giải mây vẫn còn đó, tuy đã biến hình và loãng dần ra. Rừng Tham Thiền có lẽ là khu rừng đẹp nhất. Khu này có nhiều thông và nhiều cây cao, to, rất hùng vĩ. Khu rừng có vẻ bí mật. Chúng ta đã định thuê chặt đốn tất cả những cây nhỏ và gai góc trong rừng và làm những con đường nhỏ ngang dọc trong ấy. Chúng ta cũng định làm những chỗ ngồi tham thiền và chiêm nghiệm. Cứ từ lâu, chừng năm bảy hôm một, Nguyên Hưng và tôi lại đi vào Rừng Tham Thiền để hái hoa đem về đơm trong một cái giỏ mây cúng Phật. Hoa có rất nhiều thứ, nhưng kỳ nào ta cũng hái hoa Chiều và hoa Trang.

Chỉ còn có ba hôm nữa là đến mùa An cư. Nguyên Hưng và tôi đã định về Phương Bối đúng ngày an cư. Như Ngọc và Như Thông hứa là ngày ấy sẽ từ Saigon lên chơi để “khánh thành” Phương Bối luôn thể… Trời mưa như trút nước. Mưa rồi lại tạnh. Tạnh rồi lại mưa. Như Khoa đã mượn giúp cho Tuệ và Hưng một chiếc xe Jeep để chở hai vạn cuốn sách vào Phương Bối. Sách đựng trong những chiếc bao tải lớn. Chiếc Jeep leo núi một cách mệt nhọc trèo lên trượt xuống. chiếc xe phải hì hục gần suốt một ngày mới chở được hết sách, Nguyên Hưng và Thanh Tuệ trong chuyến chót đã chở vào được thêm một cái tủ, cái tủ trắng rất xinh của Như Thông gửi tặng cho Phương Bối. Tôi còn nhớ trong chuyến ấy, nửa đường các cậu gặp mưa. Cả hai người, Nguyên Hưng cũng giống như Thanh Tuệ. Đều ướt như chuột lột. Thấy mà thương quá. Lúc ấy tôi đang bận bịu xếp sách vào các ngăn tủ. Tôi ra đón Tuệ và Hưng. Tôi bắt Nguyên Hưng vào thay quần áo lau mình thật sạch và trùm chăn kín lại. Tôi định vào đốt lò sưởi cho Tuệ nhưng Tuệ từ chối, đòi về theo xe. Cả Hưng và Tuệ đều run rẩy. Tuệ nói: “Phen này thì chắc ốm to. Có lẽ thương hàn là ít”. Tôi cũng thấy sợ ghê. Các em giãi nắng dầm mưa nhiều quá. Thế nhưng mà không sao. Dì Tâm Huệ dọn cơm chiều lúc bảy giờ tối; bữa cơm đầu tiên ở Phương Bối được dọn ra đàng hoàng trên bàn, ngoài phòng ăn. Tôi đến nói với Nguyên Hưng: “dậy ăn cơm đi Nguyên Hưng.” Nguyên Hưng không chịu, trả lời rằng là chắc hẳn không ăn được. Tôi nài nỉ Nguyên Hưng ra ngồi chơi với tôi trong khi tôi ăn cơm. Nguyên Hưng bèn chịu. Ra tới phòng ăn tôi xới cơm và ép Nguyên Hưng ăn một chén. Nể lời Nguyên Hưng cầm đũa. Thế rồi vui miệng và vui câu chuyện, Nguyên Hưng đã để cho dì Tâm Huệ xới cơm cho Nguyên Hưng tới ba lần. Đêm ấy Nguyên Hưng ngủ ngon không “ốm to” cũng không “thương hàn”. Sáng mai Tuệ lặn lội vào Phương Bối rất sớm. Thì ra cậu ta cũng chẳng “ốm to” chẳng “thương hàn” gì cả. Hôm qua về tới chùa Bảo Lộc, Tuệ thay áo ngay và lau khô mình mẩy. Rót một ly nước trà thật nóng cậu lấy hai viên thuốc cảm để trên table de nuit. Rồi cậu ta trùm chăn lại thật kỹ, chờ cho ly nước bớt nóng để uống thuốc. Trong khi chờ đợi anh ta mở chiếc radio để nghe một bản nhạc của đài Saigon. Thế rồi trong tiếng nhạc êm đềm Tuệ đã ngủ quên. Ly nước nguội dần, nguội dần và trở thành giá lạnh. Mười hai giờ khuya đài Saigon đã giả từ khán giả mà Tuệ vẫn không biết. Tuệ ngủ mê mệt. Cho đến khi tỉnh dậy thì đài Saigon đã “tái ngộ” thính giả và đang dạy thính giả tập thể dục buổi sáng! Mỗi lần nghĩ đến chuyện đó là tôi thấy buồn cười quá đi, Nguyên Hưng.

Trong cùng một đêm đó, Nguyên Hưng và tôi ngủ lại Phương Bối lần đầu. Cánh cửa giữa chưa lắp, thành ra nửa đêm bị gió thổi rơi xuống sàn nhà một cái rầm. Hai chúng tôi đều thức giấc. Nằm bên nhau, chúng ta nghe mưa gió rào rào bên ngoài. Có lẽ là có bão tố ở đâu ấy. Chúng ta đang nằm ngủ trên rừng, cách xa xóm làng đô thị. Rất xa. Chúng ta đã muốn lên tận trên này, phá rừng, làm nhà và dựng cho chúng ta một quê hương bé nhỏ. Tôi không thể nào nằm ngủ được nữa. Tôi rủ Nguyên Hưng trở dậy. Chúng ta đi sờ soạng tìm hộp diêm nhen, đốt một đống lửa và thức bên nhau nói chuyện, cho đến khi tiếng vượn hú hòa với tiếng chim kêu đã vọng vang cả núi rừng. Chúng ta trèo lên đồi thượng. Phương đông, chân trời vẫn chưa ửng hồng. Sương phủ khắp đồi núi xa xa. Phương Bối đã trở thành một cái gì có thực. Có thực một cách hư ảo. Các bạn ở xa chưa ai hay biết rằng ẩn mình trên núi Đại Lão, Phương Bối đã xòe những cánh đồi hoang vu và êm dịu như một chiếc nôi lớn – một chiếc nôi lót bằng bông đá, hoa dại, cỏ rừng – chào đón chúng tôi. Ở đây chỉ có cây rừng, có chim có vượn. Ở đây chúng tôi sẽ xa được trong một thời gian tất cả những xấu xa nhỏ mọn của cuộc đời…

Nẻo về của ý – chương 01

POMONA là cái tên cái nhà gỗ trong rừng của tôi đang ở. Nguyên Hưng cứ tưởng tượng một buổi sáng thức dậy ở Phương Bối Am, lúc bảy giờ. Chim chóc hát vang rừng và ánh sáng tràn vào thành từng vũng lớn. Tôi đến đây vào một buổi tối; xe hơi len lỏi trên những con đường rừng thành ra không thấy gì. Sáng dậy, tôi giật mình vì tiếng chim hót, vì căn nhà gỗ và sự yên tĩnh mà đã hơn một năm nay tôi thiếu thốn. Ở Nữu Ước dù thức dậy lúc ba giờ khuya ta cũng vẫn nghe tiếng xe cộ đi lại. Tôi nhớ hồi mới về Nữu Ước, suốt một tuần lễ tôi không ngủ được. Tôi than phiền với một người quen. Anh ta mua biếu tôi một thứ bông sáp để nhét vào tai khi đi ngủ. Cố nhiên là đỡ ồn rồi, nhưng tôi vẫn không ngủ được bởi vì không thể quên được vì không thể quên được cái cảm giác là lạ trong hai tai. Mãi mấy hôm sau tôi mới làm quen với tiếng ồn và mới ngủ được. Thực ra, tất cả chỉ là vấn đề thói quen. Có người đã quen với tiếng tích tắc của đồng hồ, thiếu nó thì cũng không ngủ được. Nguyên Hưng không nhớ hồi anh Cường lên chơi và ngủ lại Phương Bối Am sao. Đã quen với tiếng xe cộ đường Hồng Thập Tự nên nằm ở Phương Bối anh ấy cũng không ngủ được vì cái yên tĩnh kỳ lạ của núi rừng Đại Lão.

Tôi thức dậy trong một sự yên tĩnh như thế ấy ở Pomona. Tiếng chim hót vang rừng những không thể nói là tiếng ồn. Nó lại càng làm cho sự yên lặng thêm sâu hơn về bề sâu là khác. Tôi khoác chiếc áo nhật bình đi ra ngoài. Thật ra một cảnh tượng thần tiên. Tôi có ngờ đâu căn nhà gỗ này nằm bên một chiếc hồ lớn – lớn hơn cả hồ Dalat. Mặt hồ sáng loáng phản chiếu nắng buổi mai, đẹp rực rỡ như tranh thần thoại. Bờ hồ là cây rừng; lá cành mang nhiều mầu sắc. Trời sắp ngả sang thu rồi đó, Nguyên Hưng.

Tai tôi thoáng nghe tiếng cười đùa. Tôi vừa đi vào con đường mòn vừa gài khuy áo, tìm tới gần chỗ phá xuất ra tiếng nói cười trẻ em. Đi chừng hai trăm thước tôi thấy hiện ra một khu có sân rộng, có tới mấy chục ngôi nhà gỗ như Pomona, nhưng bé hơn Pomona. Bọn trẻ con đang rửa mặt, đánh răng. Đây là Cherrokees, trại của các em nhỏ từ bảy đến mười một tuổi. Rải rác trong rừng còn có năm hay sáu làng nữa, của những lứa tuổi lớn hơn. Khu rừng mấy trăm mẫu này hiện dùng làm trại hè – trại Ockanickon, cho học sinh. Để trốn nắng thành phố, tôi đã về đây, sống với thiên nhiên, với rừng xanh, hồ biếc và trẻ thơ. Tôi sẽ ở lại đây vài ba tuần nữa trước khi trở về lo công việc mùa thu.

Ngay đầu tôi đã ở chơi suốt ngày với các cậu bé làng Cherrokees. Các cậu bắt đâu được một chú nai con mới sinh được ba bốn ngày. Mẹ nó đã bỏ nó đi đâu mất. Các cậu bé đem nó về trại nuôi. Ban giám đốc trại làm cho các cậu ấy một cái nhà lưới rộng, có hai phòng, để nuôi chú nai con. Chúng đặt tên con nai là Datino. Datino có bộ lông mầu vàng điểm nhiều chấm sao trắng rất đẹp. Datino được các cậu bé cho ăn cháo tấm trộn với sữa tươi, và bắp cải non. Sống được tám tuần lễ ở trong trại rồi, Datino đã lớn. Nhờ sự chăm sóc của các cậu bé, nó đã cao chừng bốn tấc tây. Tôi cũng hay quanh quẩn với các em chung quanh cái nhà lưới của Datino và hay hái những cành có lộc non cho Datino gặm. Pomona thanh tịnh quá khiến tôi ít ưa đi đâu nữa. Tôi có đem về đây mấy cuốn sách nhưng không đọc. Nguyên Hưng nghĩ đọc làm sao được khi rừng cây thanh tịnh như thế kia, hồ nước xanh mát như thế kia, tiếng chim hót trong trẻo thế kia. Có những buổi sáng tôi đi vào trong một khu rừng thưa và ở lại đó một mình cho đến chiều. Tôi đi thơ thẩn trong rừng hay nằm dài trên những thảm rêu mềm mại, khoanh tay nhìn trời xanh, mây trắng. Những lúc như thế này tôi thấy tôi đổi khác. Có thể nói là tôi tìm thấy rõ mặt mũi chân thực của tôi thì đúng hơn. Những nhận xét, những cảm nghĩ, những quan niệm không còn giống như những nhận xét những cảm nghĩ những quan niệm hồi tôi còn ở Nữu Ước. Tôi thấy sự vật sáng hơn, khỏe hơn và ít tầm thường hơn. Chiều hôm qua tôi ngồi trên một chiếc thuyền con và tự chèo lên phía Bắc của hồ, trên một cây số. Tôi ngồi chơi giữa những bông súng cho tới khi trời nhuộm mầu tím mới bơi về. Tối quá, tí nữa thì không tìm ra được cái bến xinh xắn của Pomona.

Rừng ở đây không có sim như ở Phương Bối nhưng có một thứ trái cũng tím và ngọt như sim, gọi là blueberries. Sáng hôm nay tôi đưa hai chú bé chừng tám tuổi vào hái blueberries ăn đến chát cả mồm cả miệng. Hai cậu bé nói chuyện huyên thuyên không ngớt. Một cậu nói chuyện ông Ba Bị mà cậu trông thấy hồi hôm. Ông kẹ của cậu có sừng trên trán và đang lúc cậu ngủ, trong một chiếc lều ở Cherokees, thọc tay vào cửa sổ lều định bắt cóc cậu. Cậu nói chuyện một cách say sưa, thành thực. Có lẽ có một ông Kẹ giả nào đó thì mới khiến cậu tin chắc như vậy được. Tôi vừa nghe vừa cười, vừa lo hái blueberries. Hồi lâu, không thấy phản ứng chi, cậu tức quá, dừng lại, nói một cách thất vọng: “Ông không tin lời của em”. Tôi trả lời: “Có chứ, tôi tin, nhưng tin vừa vừa thôi”. “Tại sao?” “Tại vì khó tin quá, tôi cố gắng mới có thể tin em một ít như vậy”. Cậu buồn xo. Chiều đến, cậu dắt tới Pomona một cậu bé để làm chứng. Cậu này cũng kể chính cậu cũng thấy ông Ba Bị. Hai cậu tranh nhau hùng biện, cố làm cho tôi tin. Cuối cùng tôi phải gật đầu công nhận “Thôi được, tôi tin lời hai cậu”. Tôi nói như vậy và đứng dậy đưa hai cậu về trại Cherrokees.

Nguyên Hưng, trong những ngày như ngày hôm nay tôi nhớ Phương Bối quá đi. Có phải là thỉnh thoảng đến Phương Bối, ngày xưa, chúng ta cũng hay mang một vài em bé đi thám hiểm núi rừng Đại Lão hay không? Rừng Đại Lão Sơn hoang vu rậm rạp và nguy hiểm hơn đây nhiều. Chẳng thế mà có bận chúng ta đã gặp cả cọp. Tôi nhớ Phương Bối Am quá cho đến nỗi nhiều đêm nằm mơ thấy về Phương Bối. Nhưng tội nghiệp chưa, chẳng bao giờ về tới được Phương Bối cả. Cứ về gần tới Phương Bối thì y như là có một trở lực gì ngăn chận lại. Vì thế càng nhớ, càng xót xa thêm. Quê hương chúng ta đã không phải là Phương Bối sao? Nguyên Hưng thường nói: “Phương Bối không thuộc về chúng ta. Chính chúng ta thuộc về Phương Bối”. Phải có những ràng buộc mật thiết lắm với Phương Bối mới có thể nói những câu tương tự như vậy. Phải có những gốc rễ ăn sâu vào Phương Bối lắm mới có thể biểu lộ được tình cảm như thế ấy. Tôi biết lắm. Người ta thường nói chỉ có những kỷ niệm đau buồn mới ở lâu với con người. Sự thực không hẳn như vậy. Nguyên Hưng, có phải những ngày sung sướng nhất của chúng ta là những ngày ở Phương Bối không? Và có phải vì những ngày đáng ghi nhớ ấy mà chúng ta hướng về Phương Bối từ bất cứ phương trời nào, nhưng những bông hoa hướng dương kia không?

Những ngày khai sinh của Phương Bối không có mặt Nguyên Hưng. Hồi đó Nguyên Hưng còn ở Dalat. Chúng ta đã đi từ thất vọng này sang thất vọng khác trong niềm ao ước tìm một lối thoát cho chúng ta, cho thế hệ những người trẻ tuổi muốn đem lý tưởng đạo Phật làm đẹp cho cuộc đời. Nguyên Hưng trẻ hơn tôi đến gần mười tuổi, nhưng mà Nguyên Hưng cũng đã chịu biết bao nhiêu nỗi thảm nhục rồi. Chúng ta đã đau khổ vì tình trạng chính trị của đất nước. Chúng ta lại còn đau khổ vì tình trạng của đạo Phật. Hồi ấy chúng ta đã nói tới vấn đề hiện đại hóa đạo Phật. Hồi ấy chúng ta đã cố gắng mọi cách gây ý thức về một nền Phật giáo dân tộc để mong phục hồi sinh lực dân tộc trong ước vọng xây dựng xứ sở. Tôi đã làm báo đã viết sách. Nào báo Hướng Thiện, nào báo Liên Hoa, nào báo Sen Hái Đầu Mùa. Năm 1955, chắc Nguyên Hưng còn nhớ, tôi được Tổng Hội Phật Giáo Việt Nam giao cho chủ bút tờ Phật Giáo Việt Nam. Lúc đó, tôi đã có dịp gây ý thức về một nền Phật giáo nhân bản và dân tộc. Tôi cũng đã thấy rõ tính cách rời rạc phân tán của tổ chức đạo Phật, nên đã cố gắng viết tất cả những gì tôi nghĩ về một nền Phật giáo thống nhất toàn vẹn. Tôi chắc Nguyên Hưng biết rõ những nguyên do gần xa trong ngoài của sự rời rạc. Hơn hai năm sau, tờ báo bị đình bản. Lý do là hết tiền. Nhưng kỳ thực, đó là vì các nhà lãnh đạo Phật giáo miền Trung và miền Nam không chịu đựng được những loạt bài nói về vấn đề thống nhất thực sự. Trong một buổi họp, họ đã lấy cớ hết tiền để kết liễu sinh mệnh của tờ báo. Họ có nói: “Ai lại tờ báo của Tổng hội mà đi dạy Tổng hội về vấn đề thống nhất bao giờ”.

Nguyên Hưng, thế là chúng ta mất khí giới cuối cùng. Chính trị thì khôn ngoan, tìm đủ mọi cách cho tiềm lực dân tộc không có cơ phát hiện. Tổ chức Phật giáo thì thủ cựu, chia rẽ. Chúng ta, những người trẻ tuổi, không có tiền bạc. Không có uy thế, không có một “miếng đất để cắm dùi”, làm sao thực hiện được ước mộng? Sau một thời gian ốm đau tưởng chết, tôi rút về nằm ở ngôi chùa nhỏ bé và an tĩnh ở Blao. Còn Nguyên Hưng và các bạn thì mỗi người phiêu lưu một ngả. Lần thất bại này có lẽ là lần thất bại to lớn nhất có phải không Nguyên Hưng?

Tôi về nằm ở chùa Blao, nhưng cũng không được yên ổn mấy, bởi vì đây là chùa quận hội Phật giáo. thỉnh thoảng có chị Diệu Âm ở Djiring vào đem cho thuốc men, và một ít trái cam tươi. Chị Diệu Âm, mà công trình đối với Phương Bối không phải là nhỏ, nay đã nằm yên dưới lòng đất rồi. Có phải chính nhờ chị mà chúng ta có đủ can đảm và kiên nhẫn để tạo dựng nên Phương Bối phải không Nguyên Hưng?

Tôi xin trở lại câu chuyện những ngày đầu tiên khai sanh Phương Bối. Ấy là vào khoảng Vu Lan năm 1957. Tôi có nói với chị Diệu Âm: “Chúng tôi mất chiếc neo cuối cùng rồi. Có lẽ đức chúng tôi đang còn mỏng quá. Chúng tôi phải trở về trong một cái vỏ cứng để tu luyện trong một thời gian đã. Chị kiếm cho chúng tôi một nơi ẩn dật đi”.

Chị Diệu Âm hồi ấy trú tại Djiring trong một tịnh xá tên là Mai Lâm. Mai Lâm tức là Rừng Mai. Chính vì vậy mà hồi chị mất, để nhớ chị chúng ta đồng ý đặt tên cho chiếc cầu gỗ phía trước cửa rừng Phương Bối là Cầu Mai. Cầu Mai bây giờ có lẽ đã mục nát rồi. Lâu nay, từ Huế, có khi nào Nguyên Hưng lăn lội về ghé thăm Phương Bối và chiếc cầu xinh đẹp đó không?

Chị Diệu Âm nói: “Tôi tiếc không nhường Mai Lâm lại cho các chú được, bởi vì tôi không có thẩm quyền. Chớ nếu tôi nhường được tôi sẽ nhường ngay. Tôi về Huế, ở chùa Thiên Minh”. Quý hóa thay tấm lòng của chị Diệu Âm. Tôi cười, trả lời: “Chị mà về Thiên Minh thì còn tệ hơn là chúng tôi không có chỗ ở”. Và Nguyên Hưng ơi, chính trong những giờ đàm luận ấy mà chúng tôi thấy nẩy sinh trong óc các ước muốn và dự định thành lập một khu tĩnh cư trên rừng Đại Lão. Khu ấy sẽ rất yên tĩnh, sẽ ít ai đến được. Khu ấy sẽ rộng, sẽ có đủ núi đồi, suối, vườn, tĩnh đường, thư viện, thiền thất. Chúng ta cần một nơi như thế, có phải không Nguyên Hưng. Chúng ta phải có một nơi như thế để quay về. Để chữa cho lành những vết thương rướm máu. Để nuôi dưỡng bồi đắp lại những gì mà chúng ta đã phí phạm. Để chuẩn bị cho một cuộc hành trình khác. Niềm tin, sự trong trắng của tâm hồn chúng ta đã bị hao tổn một cách nặng nề. Chúng ta nhận thức được điều đó, và chúng ta quyết định tìm con đường phải đi. Phải trị liệu, phải bồi đắp, phải nuôi dưỡng trước đã. Nếu không, chúng ta sẽ mất chúng ta. Tôi đã ước ao có một nơi do chúng ta mới thực hiện được công trình “tu luyện” cần thiết. Bởi vì chúng ta sẽ không thể làm được gì nếu vẫn phải sống mãi cái đời ăn gửi, nằm nhờ.

Nguyên Hưng biết, hồi đó, chúng ta đã có vào khoảng trên hai vạn cuốn sách. Núi rừng, cây, suối, thiền thất và thư viện hấp dẫn chúng ta như một dòng nước mát đối với kẻ bộ hành trong sa mạc, như gói quà trong rổ chợ của bà mẹ đối với đưa con thơ. Tôi đã bàn với Thanh Tuệ, với chị Diệu Âm. Thế là chúng tôi nhất định thực hiện cho kỳ được. Cái đời bấp bênh của chúng ta phải được rẽ qua một hướng mới.

Đại Lão Sơn vốn là một khu rừng núi phía trên đèo Blao, cách đèo chừng sáu cây số. Từ Saigon lên bằng quốc lộ số 20 đến cây số 180, nhìn sang tay trái về phía những núi đồi cao nhất: đó là rừng Đại Lão. Muốn tới Phương Bối Am, ta phải từ Blao đi về phía đèo bằng quốc lộ. Đến cây số 180, ta phải bỏ quốc lộ băng qua chừng ba cây số đường rừng. Hồi ấy, đất rừng ở đây được xem như là vật sở hữu của những người Thượng. Những khu đất gần hai bên quốc lộ thì hoặc đã được khai thác trồng trọt, hoặc đang còn là đất rừng – nhưng là thứ đất rừng của người Kinh đã mua lại từ người Thượng. Người Thượng thường chịu bán đứt đất rừng cho người Kinh bằng một giá hạ. Vượt ba cây số đường rừng, chị Diệu Âm, tôi và một người bạn tên là anh Điều làm trắc nghiệm viên dừng lại để nhìn ngắm khu rừng núi hùng vĩ và huyền bí trước mặt. Đó là Phương Bối tương lai. Phương là thơm, là quý. Bối là lá bối đa, một thứ palmier lá dài. Ngày xưa chưa có giấy người ta viết kinh trên thứ lá ấy. Phương Bối nói lên được ý hướng quý trọng và phụng sự nền văn học đạo Phật của chúng ta. Phương Bối là lý tưởng của chúng ta có phải vậy không Nguyên Hưng?

Khu rừng núi kia nằm trong địa hạt làng B’su Danglu của người Thượng. Sau mấy tuần khó nhọc chị Diệu Âm, anh Điều và tôi tìm được vị trí và được bản đồ của khu đất chúng tôi muốn mua lại của người Thượng. Khu đất rộng 25 ha 9525, như vậy là gần hai mươi sáu mẫu tây đất rừng. Mà Nguyên Hưng có biết hồi đó chúng tôi mua với giá bao nhiêu không? Hai trăm năm mươi đồng bạc Việt Nam một mẫu. Giá của khu rừng gần hai mươi sáu mẫu là sáu ngàn năm trăm đồng. Nguyên Hưng đừng tưởng chúng tôi bắt ép người Thượng hiền lành để mua đất của họ bằng một giá rẻ đâu nhé. Bởi vì đấy là giá chính thức họ bán cho mọi người. Hồi ấy, chúng tôi có tặng thêm cho những người Thượng kia ba ngàn rưỡi bạc nữa đấy.

Nguyên Hưng có biết chúng tôi mua bán với ai không? công tác mua bán với hai người Thượng hiền lành. Một người tên là K’Briu. Người kia tên là K’Brôi. Cả hai đều không biết chữ. Nhưng vị chánh tổng của họ. Chánh tổng Mã Blao, tên là K’bres và vị quận trưởng Thượng của họ, tên K’Dinh thì biết chữ và ký bằng bút máy. Một buổi sáng tháng tám trời nắng ấm, Tuệ và tôi đi vào quận để làm giấy. Gặp các ông K’Briu, K’Brôi, và vài người nữa. Rồi tôi ký tên vào mua cái văn tự bán đất (Sao lại bán nhỉ. Phải là mua mới đúng chứ?) đầu tiên trong đời. Văn tự đó như sau:

VĂN TỰ BÁN ĐẤT

Giữa hai đàng,

Những người Thượng tên K’Briu, tên K’Brôi dân làng B’su Danglu, tổng Mã Blao quận Blao, tỉnh Đồng Nai Thượng, bên này, và tăng sĩ Nhất Hạnh, nhà ở chùa Phật Học, bên kia.

Đã thỏa thuận như sau: Những người Thượng, chiếu thượng, do văn tự nầy, đã bằng lòng bán đứt cho tăng sĩ Nhất Hạnh một khoảnh đất kê khai như sau:

VỊ TRÍ: Một khoảnh đất diện tích 25ha 9525 (hai mươi lăm mẫu tây chín ngàn năm trăm hai mươi lăm thước vuông) tọa lạc tại làng B’su Danglu quận Blao, tỉnh Đồng Nai Thượng, ngang cây số 180-/-900, quốc lộ 20, Bắc giáp đất ông Trương Út và đất rừng, Nam giáp đất rừng và đất ông Trần Ngọc Quýnh.

Đông giáp đất rừng và đất ông Trần Ngọc Quýnh, Tây giáp đất ông Đặng Văn Lân và đất ông Trương Út. (bản đồ đính hậu).

NGUỒN GỐC: Những người Thượng tên K’Briu, K’Brôi trước sự hiện diện của ông Phó Lý làng B’su Danglu cam kết rằng khoảnh đất trên hoàn toàn thuộc quyền sở hữu của họ, chưa hề cầm cố, để đương hay sai áp, và cũng không phải là công điền công thổ của làng.

QUYỀN SỞ HỮU: Văn tự đoạn mãi này xác nhận sự di chuyển quyền sở hữu và tăng sĩ Nhất Hạnh được trọn quyền sở hữu trên khoảnh đất trên, kể từ ngày thành lập văn tự này.

GIÁ CẢ: Khoảnh đất này đã thỏa thuận đoạn mãi với giá là 6.500đ00 (sáu ngàn năm trăm đồng bạc chẵn) và đã giao trước sự hiện diện ông Đại Diện Hành Chánh Blao, ông Chánh Tổng Mã Blao và ông Quận trưởng đồng bào Thượng chứng kiến cho các người bán đất đã lãnh đủ số tiền và điểm chỉ vào văn tự này vì không biết chữ, không biết ký.

Bên mua phải đăng bộ thổ, đóng bách phần cùng các thứ thuế khác tại bộ điền địa Đà Lạt.

Làm tại Blao ngày mùng 7 tháng 8 năm 19…

Dưới văn tự, có dấu điểm chỉ của K’Briu, K’Brôi của phó lý làng B’su Danglu, có chữ ký của Chánh tổng Mã Blao và K’Bres của quận trưởng Thượng K’Dinh và của ông Quận trưởng quận hành chánh Blao nữa. Bên cạnh chữ ký của K’Brôi, K’Briu, là chữ ký của tôi, tăng sĩ Nhất Hạnh. Thế là, Nguyên Hưng ơi, tôi đã trở thành địa chủ rồi đó. Địa chủ của gần hai mươi sáu mẫu tây đất rừng. Tha hồ sau này cho cộng sản tố khổ. Biết đâu trong khu rừng núi gần hai mươi sáu mẫu ấy, lại không có vài vị chúa sơn lâm lưu trú. Ở nông trại Đại Hà các ông Ba Mươi dã chẳng thỉnh thoảng về chơi ban đêm đó sao?

Nẻo về của ý

Một bó hoa đồng

Ngày xưa có một bác nông phu tánh tình dễ thương, người vợ bác sanh được hai người con thì mất. Bác nuôi hai con cho đến khi thằng anh lên mười sáu tuổi và con em lên mười một thì bác thọ bịnh và qua đời. Theo lời di chúc của bác, hai ngươì con chôn bác trên một đám ruộng nhà, một đám ruộng xung quanh có trồng nhiều cây ô môi và cây so đũa.

Dù nhà nghèo, bác nông phu đã quyết tâm không bán bớt ruộng đất cuả ông cha để laị. Trong di chúc truyền miệng laị sáu đơì, cha ông chúng ta căn dặn rằng: “  con cháu không ai có quyền bán đất.”

Hai anh em nghe noí rằng tổ tiên cách đây sáu đơì đã từ miền trung di cư tới; trước đó đất đai miền naỳ chưa được khai phá, và chưa thuộc quyền sở hưũ cuả bất cứ tư nhân nào. Bốn đám ruộng hiện nay là công trình khai phá của thế hệ đầu tiên vào nam lập nghiệp. Có thể họ không phải là nông phu mà chỉ là người ẩn sĩ, học lấy những nghề để tìm đường thoát khỏi những ràng buộc cuả hoạn lộ chông gai. Từ đó, con cháu trở thành nông phu thuần tuý. Trước khi mất, bác nônh phu đã gọi hai con đến bên giường vá dặn dò nghiêm mật:

-Cha đã từng nói với các con là bốn đám ruộng nhà mình không ai được bán.Sau khi cha mất đi các con phải giữ gìn khai thác những đám ruộng ấy, không cho ai thuê mướn. Đã từ năm đơì nay, cha ông chúng ta tin có vàng có bạc, châu báu chôn ở một nơi trong bốn tấm ruộng đó. N hưng từ ấy đến nay chưa ai tìm ra được. Nghe nói là tổ tiên của chúng ta từ miền Trung vào đây đã chôn dấu những kho tàng ấy.Các ngài có để lại một bài kệ nói trang 44 của cuốn gia phả. Ông nội các con nói rằng bài kệ ấy có thể là chìa khóa đi tìm chỗ chôn kho bảo vật. Đã từ năm đời,chưa ai tìm được bảo vật ,bởi vì chưa ai hiểu được ý nghĩa sâu kín của bài kệ. Ông nội các con có nói với cha rằng,muốn hiểu được ý nghĩa sâu xa của bài kệ thì phải để ra thật nhiều thời giờ mà chiêm nghiệm. Trong suốt cuộc đời của ông nội các con,đất nước chúng ta thường bị loạn lạc,và ông nội các con thường phải đi lánh nạn nhiều lần. nhà của bị tan nát,ông nội các con đã phải cực nhọc lắm mới xây dựng được căn nhà này. Vì thế ông nội các con không có thì giờ để nghiền ngẫm bài kệ. Trước khi mất,ông nội các con có căn dặn lại mọi điều,và hy vọng rằng cha sẽ có tháng rộng năm dài mà chiêm nghiệm về bài kệ. Nhưng than ôi,dù không bị chạy loạn,dù không phải lo cất lại nhà,cha vẫn không có được thì giờ để làm công việc ấy. Sau khi cưới mẹ các con ,cha tưởng rằng công việc đồng áng sẽ nhàn hạ hơn,bởi vì mẹ con cũng là con gái một nông dân cần mẫn lắm. Mẹ con rất đảm đang,không những lo lắng hết công việc trong nhà mà còn giúp cha rất đắc lực trong công việc ngoài đồng. Tuy vậy cha vẫn không có được chút thì giờ rộng rãi cần thiết để làm cái công việc mà bao nhiêu thế hệ mong mỏi mà chưa làm được.

Nay thì hoài bão đã trao về thế hệ các con. Hãy đừng quá bận rộn như cha. Hãy làm đủ ăn mà thôi,đừng phí hết thì giờ vào việc mưu sinh. Các con hãy thay cha mà tìm ra được ý nghĩa sâu xa của bài kệ,tìm ra được kho vàng. Như thế thì mới khỏiphụ lòng của tiên tổ chúng ta nơi chín suối. Cuốn gia phả cha vẫn cất trong chiếc hỗp gỗ đặt trên bàn thờ. Các con phải nhớ là bài kệ ở trang 44.”

Sau khi chôn cất cha xong,hai anh em lạy trước bàn thờ tổ tiên và thỉnh cuốn gia phả xuống, cung kính mở ra đúng trang 44. Người anh đọc bài kệ như sau:

Thượng vô phiến ngõa giá
Hạ vô trác chùy địa
Hoặc dịch phục trực nghệ
Hoặc sách trượng nhi chí
Động chuyển xúc xứ gian
Tợ long dước thôn nhĩ.
(1)

Cả hai ngồi lặng yên thật lâu. Tuần nhang cháy đã gần hết trên bàn thờ,cô em gái mới lên tiếng:

–         Anh hai có hiểu được chút gì không? Em nghe bài kệ hay hay nhưng em chẳng hiểu được chút nào hết.

Người anh không đáp,lẳng lặng xếp cuốn gia phả lại, bỏ vào hộp gỗ,kính cấn đặt lại trên bàn thờ. Cả hai lại sụp lạy trước tổ tiên. Một lúc lâu , người anh nói:

–         Đúng như lời của ông nội dạy. Phải có tháng rộng năm dài mới hiểu lời của tiên tổ. Chúng ta sẽ nghe lời nội dạy. Nhất định là sau khi thu xếp của nhà, chúng ta sẽ để thì giờ thật nhiều để chuyên tâm nghiên cưú về bài kệ.

Năm tháng qua mau.

Hai anh em nhà kia đã xây dựng lại căn nhà tổ tiên thành một ngôi nhà mới. Họ được mùa liên tiếp trong sáu năm,nên dư sức xây laị ngôi nhà. Mái ngói đỏ chói. Những cây mít ngoài sân xanh mát sum xuê,trái trĩu nặng từ gốc tới ngọn. Vựa lúa không khi nào vơi. Hai con trâu đen khoẻ mạnh thay nhau kéo cày vỡ những thửa ruộng đất đen như mun,làm mọc lên những cánh đồng lúa xanh mơn mởn. Hai anh em làm ăn khá giả.Người trong làng hầu hết đều yêu mến hai người. Người anh cũng như người anh,cả hai đều tốt bụng. Có người tới vay lúa, họ không bao giờ từ chối,không bao giờ lấy lãi một thành hai như mọi người. Không có kẻ túng bẩn nào đến gõ cửa mà cửa không mở. Người làm lụng phụ với anh em đều là người chân thật,biết xem của chủ như của mình. Khách khứa vào những ngày kỵ giỗ,ra vào tấp nập. Ai cũng khen là anh em tốt phước. Các cô gái trong làng đều để ý tới người anh. Nhưng chưa bao giờ người anh nghĩ đến chuyện cưới vợ. Anh ta nhất quyết không lấy vợ ,để có thể có nhiều thì giờ nghiền ngẫm tới bài kệ của tiên tổ để lại trong cuốn gia phả trên bàn thờ.

Cô em gái cũng đến tuổi lấy chồng. Các chàng trai làng cũng đều ngắm nghé,bởi vì cô vừa thùy mị xinh đẹp,vừa hiền hậu nhân từ. Cô lại là một người làm ruộng giỏi,giúp anh quán xuyến công việc từ trong tới ngoài. Nhiều người đã nhờ mai mối tới dạm,nhưng cô thảy từ chối. Có lẽ là cô cũng đồng ý với anh cô:sống độc thân để có đủ tự do và thời gian mà tìm ra ý nghĩa của bài kệ.

Nhưng hai anh em chưa ai tìm ra được ý nghĩa cùa bài thơ. Công việc làm ăn tuy chẳng có gì bận rộn quá mức,nhưng cả hai đều không thấy có thì giờ. Nợ nần không có, nhà cửa khang trang,ruộng đất phì nhiêu,mùa màng không thất bát,người làm lụng giúp đỡ không thiếu,tại sau thì giờ lại cứ như tên bay ? có lúc người anh nằm vắt tay trên trán suy nghĩ suốt đêm. Cơ nghiệp của cha ông để lại ,anh đã gánh vác tốt đẹp,nhưng tại sao trong lòng anh thấy không vui? Bài thâm diệu kia có dính líu gì tới cuộc đời anh ? Tại sao chưa tìm ra được ý nghĩa mầu nhiệm của nó thì anh vẫn không thấy trong lòng an ổn ? Anh thật có cần tìm ra kho vàng bạc của cha ông để lại chăng ? Hay chỉ cần làm theo lòng mong đợi từ đời này sang đời khác của họ ? Lắm khi anh tự nghĩ : cơ nghiệp mà anh đã xây dựng,nào nhà cửa,nào vườn tược ruộng nương, chính là trở ngại cho sự tìm kiếm của anh. Một ngày chỉ có hai mươi bốn giờ đồng hồ. Thức dậy ,cơm sáng ra đồng ; bữa trưa nghỉ lưng dưới gốc cây trên bờ ruộng ; buổi chiều chăm lo công việc cho đến khi trâu bò về chuồng. Buổi tối , sau khi tắm rửa và ăn cơm, anh đi ngủ. Ngày nào cũng như ngày nào. Gặp những ngày hội anh cũng nghỉ ngơi rong chơi,tham dự. Nào có bận bịu gì lắm cho đang. Có ai tay không làm mà hàm có nhai đâu. Một ngôi nhà , một vựa lúa , những thửa ruộng , một đàn trâu bò…….đó có phải là một nơi nương tựa căn bản hay không? Trên cái căn bản ấy , taị sao anh chưa lên đường đi tìm? Anh còn thiếu thốn gì ? thì giờ.Ông nội anh nói đến thì giờ. Cha anh nói đến thì giờ. Bây giờ anh cũng nói đến thì giờ. Thì thì giờ đấy – Anh mới có hai mươi tuổi . Làm gì cho hết thì giờ. Tuy nhiên anh không có thì giờ. Không nhà cửa ruộng nương thì không có miếng đất cắm dùi , anh sẽ đi lang thang. Có nhà cửa ruộng nương,anh phải dùng đời anh vào việc chăm sóc nhà cửa ruộng nương. Anh trằn trọc không ngủ. Anh nghĩ đến những đạo sĩ ngày xưa bỏ làng bỏ xóm,bỏ cửa bỏ nhà , đi vào rừng sâu hiu quạnh để tìm đạo. Anh nghĩ : “Ừ,có lẽ phải bỏ hết mới có được thì giờ. Nhưng làm sao mà bỏ. Cơ nghiệp tổ tiên để lại ai lại bỏ đi . Với lại kho vàng nằm trong những đám ruộng của mình. Bỏ đi là mình mất hết.”

Cứ như thế ,năm tháng lại tiếp nối qua mau. Thấm thoát mà chàng nông phu đã gần ba mươi tuổi. Niềm thao thức nói anh không chết , trái lại càng ngày càng sâu đậm hơn. Đời sống hằng ngày trở nên vô vị. Những ngày mùa , lúa chín đầy đồng , thợ gặt hái vui đùa vừa hát vừa làm việc. Những đêm trăng đập lúa , trai gái trong làng hội họp hát hò , anh không còn thấy vui nữa. Cô em gái bảo anh :

–         Hay là anh để em quán xuyến hết mọi công việc nhà cửa và đồng áng để anh hoàn toàn rỗi rảnh mà lo chiêm nghiệm bài kệ ? Em thấy anh không còn hạnh phúc nữa.

Ban đầu,chàng nông phu thấy ý kiến của cô em gái thật hay. Nhưng khi đem ý kiến đó ra thi hành , chàng thấy đó không phải là việc dễ . Đã đành , cô em gái có đủ khả năng quán xuyến mọi việc trong nhà ngoài ngõ , nhưng tại sao anh lại không thể ở không ? Anh đã quen công việc quá rồi, không động tay vào công việc thì anh ngứa ngáy hai tay và đôi mắt . Anh chợt thấy, anh không thể ở không được. Anh đem ý ấy ra nói với cô em gái. Cuối  cùng hai anh em tìm ra được một giải pháp : người anh tạm giao cho em tất cả sự nghiệp , còn mình thì tìm một ngôi chùa miền trung xa xôi , ở lại đấy cho đến khi chiêm nghiệm ra được ý nghĩa của bài kệ. Trong thời gian ấy , cô em gái cứ gửi lúa ra cúng chùa mỗi tháng là mười giạ . Họ nghĩ : Khung cảnh chùa thật là thích hợp cho sự chiêm nghiệm bài kệ. Ở chùa , chàng nông phu sẽ rảnh được hoàn toàn mà suy nghĩ tới bài thơ, không còn bị công việc đồng án ám ảnh nữa. Thế là chàng chuẩn bị để lên đường

Chàng nông phu bước chầm chậm trên con đường làng,khăn gói trên vai . Hôm nay chàng trở về nông trại sau ba năm cư trú nơi thiền môn. Trời nắng, con đường làng vắng vẻ, chàng chưa gặp một bóng người. Đi đến ngã tư có cây đa già, chàng dừng lại tránh nắng. Chàng đặt khăn gói xuống đất và ngồi trên một cái rễ cây. Cảnh vật im lìm . Hồn buổi trưa nao nao .

Ba năm cư trú nơi thiền môn đã giúp cho chàng được những gì ? Ba năm sống trong chùa chàng cũng phải làm lụng như mọi người trong đại chúng. Gánh nước, lặt rau , đốn củi , trồng khoai . Công việc có phần nặng nhọc hơn cả công việc ở nhà , vì ở nhà chàng còn có người giúp việc đỡ đần , còn ở chùa thì ai cũng phải làm việc như nhau . Những giạ lúa cô em gửi ra cúng chùa , không đỡ đần được công việc cho chàng , bởi vì chấp lao phục dịch là một phần của công phu tu hành , không ai tránh khỏi . Bài kệ chàng học thuộc lòng từng câu , từng chữ một . Chàng đọc thầm trong trí hàng vạn lần trong những giờ ngồi thiền . Nhưng không vỡ vạc ra được tí nào . Hai câu đầu chàng cho là bí hiểm nhất :

Trên không manh ngói che

Dưới không chỗ cắm dùi

Một điạ điểm như thế thì thật có khác gì một phi-điạ-điểm . Không lý là một cái ao ? Một cái ao vẫn có thể cắm dùi được . Mà trong bốn thửa ruộng làm gì có ao ? Chỉ có cái ao bèo sau nhà mà thôi. Không lý kho tàng lại chôn dấu dưới đáy ao ? Hay là kho tàng che dấu dưới một tảng đá ? Đúng rồi, trên một tảng đá thì không thể cắm dùi được . Mà trong bốn đám ruộng chàng thường cày bừa , làm gì có một tảng đá nào ? Chàng nghĩ : Một nơi mà “ trên không manh ngói che” thì phải là một nơi lộ thiên . Như vậy thì phải loại ra những nền nhà cũ và mới . Chàng cho là chàng hiểu được câu ấy . Còn câu thứ hai “dưới không chỗ cắm dùi” thì chàng còn phân vân . Đến hai câu :

Hoặc mặc áo lạ lại

Hoặc xách gậy mà tới

Thì chàng càng phân vân hơn . Có thể là nơi chôn cất những tổ tiên đầu đến lập nghiệp ở đây . Hai câu thơ gợi ý đám tang : Nhưng mồ mả tổ tiên đều nằm giữa nghiã địa trong làng , chứ không phải trong bốn thử ruộng . trong đám ruộng xung quanh có trồng cây và sua đũa thì chỉ có mộ của cha mẹ chàng mà thôi . Trong khi đó thì bài kệ đã để lại từ sáu đời rồi . Kho vàng không thể nào được chôn ở nghĩa địa . Hai câu chót cũng làm chàng lạc lõng không kém :

Lúc tiếp xúc động chuyển

Như rồng nhảy đớp mồi

Ban đầu chàng nghĩ đó là địa lý . Có lẻ một thầy địa lý giỏi có thể tìm ra được vị trí chôn cất kho tàng . Vị trí này có lẽ là vị trí con rồng , và miệng con rồng . Một thầy địa lí giỏi có thể quan sát để tìm ra trong bốn thửa ruộng của chàng cái vị trí miệng rồng để giúp chàng đào lên kho tàng của cha ông để lại . Nhưng nghĩ cho kỹ lại , đất ruộng phẳng lỳ trong một diện tích hàng mấy trăm cây số làm gì có rồng xanh hổ trắng ?

Có lần chàng đưa bài kệ cho một vị thượng toạ trong chùa để nhờ ngài giải thích , may ra tìm được ý nào chăng . Vị thượng tọa đọc xong , hỏi chàng  chép được ở sách ngữ lục (1) nào? Nghe nói chép ở một cuốn gia phả , người cau mày , lấy làm ngạc nhiên . Ngài nói người viết ra bài kệ có dáng dấp một bực xuất thế . Theo lời vị thượng tọa , bài kệ chẳng có dính dấp gì tới địa lý hết . Ba năm trôi qua , chàng không hiểu thêm được gì về bài kệ . Chỉ có lòng chàng là có đổi thay ít nhiều . Chàng nhìn sự thật chăm chú hơn . Ước ao tìm thấy kho vàng của tổ tiên yếu đi . tuy vậy , chàng cảm thấy giữa bài kệ và cuộc sống hàng ngày , giữa bài kệ và sự ăn uống ngủ nghỉ , làm việc của chàng có một liên hệ gì mật thiết lắm. Mật thiết như là giòng máu của cha ông còn lưu nhuận trong cơ thể của chàng.

Ánh nắng đã dịu , chiều mát xuống . Chàng đứng lên , nâng khăn gói vác lên vai , và hướng về phía thôn Hạ nhà chàng . Lúa hai bên đường xanh mơn mởn , ngọn lúa gọn nhẹ theo gió chiều . Lòng chàng man mác một niềm vui . Bổng tiếng hát của ai thoảng bay tới trong gió , giọng hát tươi vui như sóng lúa mơn mởn . Chàng dừng lại lắng nghe . Tiếng hát càng ngày càng rõ . Chàng nhận ra đó là tiếng hát của cô em gái chàng . Hướng về tiếng hát , chàng rảo bước đi tìm em , lòng rộn ràng như tết . Đi một quảng nữa , chàng rẽ vào con đường đi tới đình làng .

Từ phía ruộng dâu đi lên , em gái chàng đang đi giữa đàn trâu bò , tay ôm một đóa hoa đồng , vừa đi vừa hát . Cô vẫn chưa trông thấy anh mình . Nhưng kìa ,cô đã trong thấy chàng với chiếc tay nãi trên vai và vội vàng chạy tới . Chàng nông phu cũng chạy lại với em . Thuận tay cô đưa bó hua haí được ngoài đồng cho chàng .

Chàng nông phu bước lùi lại một vài bước , nhìn cô em gái mình . Cô cũng ngước mắt nhìn anh , mỉm cười . Nàng nhìn anh từ đầu đến chân . Nàng nhìn bộ áo nâu chàng mặc , tay nãi màu xám chàng mang trên vai , nàng nhìn vào mắt chàng . Lạ quá , chàng nông phu thấy cái nhìn của em mát rượi như một dòng suối làm thư thái cả thân tâm chàng , Bỗng nhiên bao ưu tư tan biến mất hết , chàng thấy lòng nhẹ nhõm như đám mây bay . Đúng rồi , đó là cô em ruột của chàng , nhưng cái nhìn của cô bao dung và che chở như cái nhìn của một bà mẹ.

Hai anh em lùa đàn trâu bò lên đồi cỏ . Họ đến ngồi trên một mô đất có bóng cây im mát . Chàng bắt đầu kể cho cô em gái nghe ba năm tập tành trên chùa. Nàng nghe chăm chú, không bỏ sót chi tiết nào và không hề ngắt lời chàng .

Chàng kể xong hết chuyện mình rồi quay lại nhìn em. Nước da nàng đen, thân hình nàng mạnh khoẻ, hai mắt nàng sáng và nụ cười thật tươi mát hiền lành. Nàng vốn ít nói. Bây giờ lại càng ít nói hơn. Nhưng trong dáng điệu và cái nhìn của cô em , người anh thấy cô đã tìm ra sự bình an và một nguồn hạnh phúc . Chàng nói thêm cho em nghe về những suy nghĩ sau này của  về bài kệ trong cuốn gia phả, và tỏ ý ngạc nhiên là chàng không còn tha thiết mấy đến việc tìm kiếm kho vàng của tổ tiên đển lại .

Đến lượt nàng kể chuyện nàng :

“ sau ngày anh ra đi , một mình em coi sóc cửa nhà ruộng nương, nhưng em không cho đó là công việc nặng nhọc khó khăn . Cho nên em đã làm công việc đồng áng một cách thảnh thơi. Với sức anh, chỉ trong bảy hôm là anh cày hết ruộng nhà . Em đã để ra đến mười hai hôm, cày thong thả, biết rằng cố gắng làm cho mau xong thì cũng thế thôi; ngày giờ dư ra, biết để làm gì. Công việc nghiền ngẫm bài thơ đã có anh lo liệu .

Nhưng khi cầm lấy bắp cày và thôi thúc con trâu bước tới, em bỗng nghĩ ra một điều mới lạ. Em nói : Chỗ đất mà em đang cày đây có thể là nơi chôn dấu kho vàng . Cày được một khoảng , em lại nghĩ : chỗ đất mà em đang cày đây có thể là nơi chon dấu kho vàng . Nơi nào trong ruộng cũng có thể là nơi chon dấu kho vàng . Suốt tám ngày trời , cày đến đâu là em nghĩ rằng kho vàng được chôn ở đấy. Cho đến cuối ngày thứ tám .

“ Chiều ngày thứ tám khi em đang cày luống cuối cùng của thửa ruộng gần chùa, em bỗng giật mình thấy rằng tất cả ruộng nương của mình , nơi nào cũng là kho vàng , không phải kho vàng cất dấu trong lòng đất mà là kho vàng nơi mỗi tấc đất . Không phải em hiểu theo câu ca dao “ ai ơi đừng bỏ ruộng hoang ,bao nhiêu tấc đất tấc vàng bấy nhiêu” đâu anh . Không phải vì ruộng đất cho mình lúa mà mình quý nó như vàng . Em thấy rõ ràng rằng em quý đất vì nó là đất chứ không phải là vàng .

Rồi em nhìn ra , em thấy cái cày , con trâu ,những đám mây trắng , chân trời và hàng cây bông sứ sau chùa . Em thấy quý cái cày vì nó là cái cày, em quý con trâu vì nó là con trâu , em quý những đám mây vì nó là đám mây , em quý hàng cây bông sứ vì chúng là hàng cây bong sứ . Em nhìn lại em ; em cũng thấy rõ rang em quý em bởi vì em là chính em…Em chợt nghĩ rằng cái em đi tìm không phải là một kho vàng mà là sự có mặt hiển nhiên của em và của mỗi sự vật trong trời đất .

“ Tới đó em sung sướng như người ta khi bắt được vàng . Em về tắm gội , ăn cơm với những người giúp việc , và cảm thấy yêu thương cuộc đời , thương yêu mọi người  , thương yêu mọi vật . Sáng ngày hôm ấy  , em đem trâu ra ruộng tiếp tục cày thửa thứ ba . Suốt ngày hôm ấy và ba ngày kế tiếp sau đó , em cày ruộng với ý thức thật minh mẫn , mỗi giọt mồ hôi của em nhỏ xuống ruộng đều như mang linh hồn em tưới vào đất ruộng . Con trâu thật là một người bạn đường quý giá . Em thấy giữa em và con trâu , không có ai là quan trọng hơn ai, và em thấy giữa chúng em có một mối tương quan mầu nhiệm khôn tả .

“ Nếu em biết viết , chắc em đã viết thơ kể cho anh nghe những điều đó , và nói cho anh biết dù anh không tìm ra được ý nghĩa của bài kệ , dù anh không tìm ra được kho vàng  , thì đời sống của chúng ta vẫn tràn đấy hạnh phúc . Em cứ tiếp tục gửi lúa cho chùa hàng tháng, nghĩ rằng anh cũng như em, khao khát tìm ra kho tàng tổ tiên thì ít mà khao khát tìm ra ý nghĩa bài kệ thì nhiều.

“Riêng em, em cứ mỉm cười không biết nếu tìm ra được kho vàng thì anh và em sẽ dùng vàng để làm gì. Mua them ruộng đất chăng, xây cất thêm nhà cao cửa rộng chăng? Ruộng đất từng này cày chưa đủ sao, nhà cao cửa rộng ai mà coi sóc? Cái nhà của anh, mấy miếng ruộng của anh đã chẳng đủ làm cho anh mệt mà phải lánh về chùa đó sao?

“ Em không tha thiết đến kho vàng. Nhưng bài kệ của tổ tiên để lại, em thấy có gì liên hệ mật thiết đến đời em. Từ ngày anh đọc cho em học thuộc, e thường hay đọc lại một mình. Tới nay em vẫn không hiểu được gì hết. Tuy vậy mỗi lần đọc lên, em thấy rung động trong lòng. Cũng như khi nghe gió kêu xào xạc trong lá sua đũa, em chẳng biết là gió muốn nói gì, em chỉ biết em ưa nghe tiếng gió thổi như thế và cảm thấy gần gũi rất gió với cây.

‘Em không ham muốn gì kho vàng, nhưng nhờ tám ngày cày ruộng trên kho vàng mà em tìm ra được em, được lưỡi cày được con trâu, được đám mây trắng ,đượ cây bông sứ sau chùa. Tối hôm ấy em nằm mơ thấy cha chúng ta nhìn em mà cười, nét mặt rất là hoan hỷ. Em nói với cha: chính anh hai con đã tìm ra kho vàng đó, chớ không phải con đâu.

“Từ ngày ấy, em sống rất thanh thản, ca hát với trâu bò, với nương khoai, ruộng lúa. Em đợi anh về. Anh ở lại trên chùa đến ba năm. Bây giờ anh về, em sung sướng quá.”

Chàng nông phu trẻ lắng nghe những lời nói phát xuất từ đáy lòng của cô em gái. Chàng giật mình khi nghe cô em nói đến phát kiến của nàng về kho vàng. Đã có lần chàng đi sát tới nơi mà chàng chưa đạt qua được. Đúng là cũng có lần chàng cảm thấy không thiết tha tới kho vàng. Đúng là chàng cũng thấy là bài kệ của tổ tiên có liên hệ mật thiết tới chàng như giòng máu tổ tiên hiện đang lưu chuyển trong từng huyết mạch. Có lẽ vì chàng đi tìm nên chàng nên chàng đã không gặp và em chàng đã gặp vì đã không có ý muốn đi tìm. Sáng mai, chàng sẽ đi thăm lại ruộng đồng, nhìn lại bắp cày, con trâu, bông lúa, đển thấy lại lòng mình sau bao nhiêu năm xa cách.

Chàng đứng dậy, nhìn cô em với cặp mắt biết ơn và thân ái. Hai người lên đồi, đùa đàn trâu bò xuống. Trên con đường về nông trại, chàng nông phu nghe trời đất và quê hương như một cánh tay hiền từ ôm trọn lấy lòng chàng.

(1)   Kệ của thiền sư Tịnh Không (1091-1170) trong Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục. Nguyễn Lang dịch như sau:
Trên không manh ngói che
Dưới không đất cắm dùi
Hoặc mặc áo lạ lại
Hoặc xách gậy mà tới
Lúc tiếp xúc động chuyển
Như rồng nhảy đớp mồi .

16. Để tạm kết thúc

Ân và Diệu ngồi trên một chiếc ghe gắn máy chạy xình xịch ngược sông Thu Bồn. Bốn chiếc ghe khác cùng đoàn đang xình xịch theo sau, đi cách nhau chừng hai trăm thước. Đây là đoàn ghe cứu trợ nạn lụt của sinh viên tổ chức. Năm chiếc ghe chở đầy gạo, muối và các phẩm vật cứu trợ khác đang tiến gần đến miền thượng du sông Thu Bồn.

Nhìn nước sông mênh mông, Ân nói với Diệu:

– Lại một trận kịch chiến nữa giữa Sơn Vương và Thủy Vương. Nước đã rút hết, nhưng trong trận Giáp Thìn này nghe nói có trên tám trăm người tử nạn. Còn trâu bò và gia súc chết không biết bao nhiêu mà nói.

Diệu đưa mắt nhìn lên ruộng dâu bên bờ, nói:

Về cuộc tranh chấp giữa Sơn Vương và Thủy Vương, thường thường người ta hay bênh vực Sơn Vương và đổ lỗi cho Thủy Vương. Cùng ở trong cuộc tranh chấp cả mà một người thì vừa có Mỵ Nương vừa được mô tả là không phải thủ phạm trong cuộc tranh chấp; một người thì vừa bị thua thiệt vừa bị kết án là cố tình gây nên cuộc tranh chấp.

– Nhưng chính Thủy Vương là người dâng nước lên đánh Sơn Vương. Sơn Vương chỉ làm công việc tự vệ mà thôi.

– Nhưng dù sao Sơn Vương cũng chịu chung trách nhiệm về cuộc tranh chấp bởi vì ông ta là một trong hai phe tranh chấp.

– Cô muốn Sơn Vương làm gì? Đem Mỵ Nương xuống chia hai cho Thuỷ Vương một nửa hay sao?

Diệu cười:

– Không đến nổi phải làm thế. Nhưng anh em một nhà phải tìm ra giải pháp chứ, không lẽ cứ mỗi năm một lần đánh nhau, thiệt hại cho dân chúng biết là bao nhiêu

Ân đứng dậy đi về phía Diệu:

– Tôi cũng đồng ý với cô là hai người phải ngồi chung lại để tìm ra giải pháp. Nhưng giải pháp nào mới được chứ? Không lý cô bắt người ta phải chấp nhận giải pháp hai ông một bà sống chung, như giải pháp của ông Táo vậy?

Diệu cười lên khanh khách:

– Sao lại không? Tôi thấy giải pháp nào mà chấm dứt sự thiệt hại của dân đều tốt hết. Hai ông một bà cũng được.

Vậy cô không thương hại nàng Mỵ Nương sao?

– Tôi sẽ thương hại nàng Mỵ Nương. Nhưng bây giờ đây tôi đang thương tám trăm người đồng bào tôi vừa mới chết vì cuộc tranh chấp giữa Sơn Vương và Thủy Vương. Tôi thương công chúa Sita vì muốn cứu dân mà phải nuốt qua cổ họng tất cả những chất độc đen ngòm của thủy quái tiết ra trên mặt biển. Tôi đòi hai người phải chấp nhận nhận một giải pháp. Bất cứ giải pháp nào. Họ không thể nhân danh những nạn nhân của cuộc tranh chấp để mà tiếp tục cuộc tranh chấp.

Ân nói:

– Cô hùng biện lắm. Tôi đồng ý với cô. Chúng ta cũng đồng ý với công chúa Sita. Nhưng có điều hình tượng công chúa Sita còn mới mẻ quá, không biết có được nhận vào ngôi đền thần thoại của nước Việt hay không?

Tại sao không? Thần thoại nào cũng do con người sáng tạo; người đời thượng cổ là người, mà người đời nay cũng là người. Thần thoại là hình thái diễn tả nhận thức con người ngày xưa về vũ trụ, về con người và về cuộc đời, chứ không phải là những câu chuyện hoàn toàn do trí tưởng tượng của con người bịa đặt không có dính líu gì đến thực tại. Tại di tích của thành Ốc, tức thành Cổ Loa, người ta vừa khai quật được hàng ngàn mũi tên đồng. Như vậy câu chuyện nỏ thần không phải là không có liên hệ đến việc quốc phòng của Thục An Dương Vương. Công chúa Sita là một thực tại. Trong cuộc tranh chấp hiện giờ, anh thấy có biết bao nhiêu người đã và đang lẳng lặng làm công việc hoà giải, hàn gắn, xây dựng tình huynh đệ. Họ làm những việc đó trong hiểm nguy, và cũng như công chúa Sita, họ từng chấp nhận khổ đau, từng chịu đựng đau đớn trong da thịt mà không than thở một lời. Trong cuộc tranh chấp giữa Sơn Vương và Thủy Vương, nhân vật công chúa Sita ngày xưa bị bỏ quên. Đem công chúa trở lại trong khung cảnh là tiếp tục công trình sáng tạo. Thiếu công chúa Sita thì thực tại không được biểu hiện đầy đủ trong thần thoại Sơn Tinh Thủy Tinh.

– Nhưng nếu làm công việc đó, ta có thể bị kết án là tô điểm những nét mới vào bức họa cổ.

– Tôi không lo điều đó, anh Ân ạ. Những thần thoại được truyền lại không phải do một người sáng tạo, trái lại đã được đi qua sự trau chuốt của nhiều thế hệ, cũng giống như những bài dân ca hoặc những câu ca dao. Nếu công việc trau chuốt kia có giá trị, tự khắc hình thái trau chuốt được đại chúng chấp nhận. Nếu đó chỉ là những uốn nắn vụng về thì chẳng ai dùng để ca hát và truyền tụng. Đại chúng sẽ tức khắc loại những uốn nắn vụng về kia ra để tìm lại hình thái mà họ ưa thích.

– Có lẽ cô nói đúng. Có lần đọc chuyện cổ tích do một nhà văn cận đại kể, tôi thấy ông ta đưa vào một vài hình tượng khá chướng tai. Ví dụ có lần ông kể: “Nghe nói đức Phật nhà ở gần đấy là một người giàu có nhất vùng, bác nông dân tìm tới vay mượn …” Đọc tới đó tôi buồn cười quá, bởi hình tượng về Bụt trong cổ tích Việt Nam chẳng bao giờ có thể là hình tượng một địa chủ nhà giàu … Nói Bụt là dân hành khất, ngày xin ăn tối ngủ gốc cây mà đúng hơn. Có điều tôi nghĩ là những nét sáng tạo mới không thể là những chắp nối có tính cách giả tạo và phi dân tộc. Cái tên Sita hay Nãgajara chẳng hạn, chẳng có tính cách Việt Nam là mấy.

– Vậy những cái tên như Loa Thành hay Kim Quy hoặc những danh từ như Linh Quang Kim Thảo Thần Nỏ Thanh Giang Sứ Giả vân vân . . . Có tính cách Việt Nam hơn không? Ảnh hưởng văn hoá Trung Quốc mạnh cho đến nỗi có người ngỡ rằng danh từ ấy nghe có tính cách Việt Nam hơn những danh từ chữ Phạn. Ngày xưa khu vực đất nước chúng ta là khu vực giao tiếp giữa hai nguồn văn minh. Về sau vì sử dụng văn tự Trung Hoa cho nên ta chịu ảnh hưởng Trung Quốc nhiều hơn Ấn Độ. Về nguồn gốc dân tộc Việt, thần thoại “Rồng Tiên Sanh Trăm Trứng” có thể gọi là thần thoại cơ bản rồi. Vậy mà sách Lĩnh Nam Chính Quái lại còn muốn thêm vào nhiều dây mơ rễ má nữa: Nào là họ Thần Nông, nào Đế Minh, Đế Nghi, nào Lộc Tục … Ngô Sĩ Liên trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư lại còn nói: “Hoàng Đế dựng muôn nước, cho nước Giao Chỉ ở phía Tây Nam, ở xa ngoài đất Bách Việt. Vua Nghiêu sai Hi Thị đến Nam Giao để định đất Giao Chỉ ở Phương Nam . . .” Làm như không có nguồn gốc Tàu và không được tàu công nhận tức là không thể có mặt. Tôi tưởng mình có thể cắt bỏ phứt đi những dây mơ rễ má ấy, và giữ lại cuộc tình duyên đẹp đẽ giữa Tiên và Rồng. Rồi khôi phục trở lại một ít ảnh tượng có nguồn gốc Ấn để lập lại sự thăng bằng. Cho nên những hình ảnh như hình ảnh tiên nữ từ cõi trời Phạm Thiên (Brahma) đi xuống, hình ảnh chim thần garudu, công chúa thủy cung Sita, thủy quái maraka, đều có thể được chấp nhận.

Ân cười:

Chấp nhận hay không đó là quyền của đại chúng. Chúng ta thử đợi chờ chừng … vài trăm năm nữa xem. Nhưng tôi nghĩ rằng công việc mà cô gọi là “sáng tạo tiếp nối” đó, không thể chỉ là những công việc tô điểm về mặt hình thức có tính cách tiểu thuyết hoá. Phải dựa vào những dữ kiện đưa ra trong thần thoại và trong lịch sử để khám phá những sự thực lịch sử. Ví dụ chuyện đức thánh Gióng. Thần thoại này có phải là một thần thoại đánh dấu sự bắt đầu sử dụng vũ khí bằng sắt hay không, điều đó còn cần phải xét nghiệm lại. Nhưng nếu chưa tìm được một lời giải đáp thì ta vẫn chưa nắm được bản chất của thần thoại. Cũng như câu chuyện đất Việt – Thường hiến chim trĩ trắng cho vua Thành Vương nhà Chu. Sách Lĩnh Nam Chích Quái của ta và các sách Hậu Hán Thư, Thượng Thư Đại Truyện và Trúc Thư Kỷ Niên của Trung Hoa đều có chép về chuyện này. Thời Thành Vương nhà Chu, vua Hùng sai sứ thần đem chim trĩ trắng qua tặng nhà Chu. Chu công hỏi tại sao người Giao Chỉ cắt tóc ngắn và vẽ mình, để đầu trần và ngón chân cong? Sau khi sứ giả đã giải thích tại sao, Chu Công lại hỏi đến sứ giả sang thăm có mục đích gì. Sách Lĩnh Nam Chích Quái nói rằng sứ giả đã trả lời như sau:

“Ba năm nay trời không có gió lớn, không mưa dầm, bốn biển lặn sóng Chúng tôi nghĩ là ở Trung quốc có thánh nhân xuất hiện nên mới sang thăm.”

Câu nói đó vừa chứng tỏ tài ngoại giao rất cao của sứ giả ta mà cũng chứng tỏ sự hiểu biết sâu xa của sứ giả ta về văn minh Trung Quốc. Một nhà vừa chính trị vừa văn hoá như vua Thành Vương không thể không nhìn lại bản thân sau khi nghe câu nói ấy. Lĩnh Nam Chích Quái viết tiếp:

“Chu Công kịp nhớ đến ngày xưa Hoàng Đế có thề rằng: Giao Chỉ ở ngoài phương xa, không được xâm phạm đến, liền ban thưởng vật quý cho đoàn sứ giả và tặng một cỗ xe hai ngựa cho đoàn sứ giả về nước.”

Như vậy nghĩa là thế nào? Có phải nhờ tài du thuyết của sứ giả Văn Lang mà nhà Chu bỏ ý định xâm phạm bờ cõi Giao Chỉ? Việc quan trọng là việc tặng chim trĩ trắng hay là việc du thuyết để tranh thủ hoà bình?

*        *          *

Diệu chăm chỉ ngồi nghe Ân nhưng mắt nàng nhìn xuống dòng nước. Nàng có cảm tưởng đang cùng Ân đi xuống thủy cung cầu xin Long Vương lên mặt đất để giải quyết vấn đề đất nước. Nàng nghĩ tới bình tiên dược của Âu Cơ, đến Ngư Tinh, đến công chúa Sita tinh nghịch, và bỗng nhiên mỉm cười.

– Cô cười gì? Ân hỏi.

– Tôi cười anh đang hùng biện một cách ngụy biện. Nhưng thôi, ghe chúng ta đã đến quận Đức Dục rồi. Bác lái ơi, chúng ta ghé vào bến nào đây hả bác?

Người lái ghe cất cao giọng trả lời nàng:

– Bến nào cũng được, lên bến nào thì các anh các chị cũng gặp được đồng bào.

Ân và Diệu cùng đứng dậy, chuẩn bị lên bờ.

Ngày 9 tháng 4, năm 1974

15. Chìm châu

Tin báo quân đội của Triệu Đà vừa vượt biên giới miền Đông Bắc mà chấn động cả nước. Nhưng Mỵ Nương Thanh Châu không tin. Nàng cho là thám tử đã thông báo lầm. Đây hẳn là quân đội xâm lăng của nhà Tần, bởi vì giữa hai nhà Triệu Thục vốn là thông gia với nhau thì không thể nào có chiến tranh được.

Cách đây sáu tháng, trước khi về Triệu thăm nhà, Trọng Thuỷ, chồng nàng, đã tỏ ý lo ngại là không biết nhà Tần sẽ đưa quân sang xâm lược để báo thù lúc nào. Chàng nói: “Trong trường hợp quân Tần qua xâm lược thì cố nhiên hai nước chúng ta phải đồng lòng chống lại. Nhưng nếu việc này xảy ra khi ta còn đang ở bên Triệu, thì không biết phải làm ra cách nào để tìm nàng trong cơn loạn lạc?” Nàng đã ngẫm nghĩ rất lâu trước khi trả lời: “Nếu quân Tần lại sang, chắc là chàng phải ở lại chiến đấu trong hàng ngũ Triệu. Nếu chàng qua Âu Lạc tìm em, thì chàng hãy theo dấu lông ngỗng … Em có một chiếc khăn choàng làm bằng lông ngỗng, đi đến đâu em sẽ rút lông ngỗng rắc ở các ngã ba đường để làm dấu. Cứ theo dấu đó thì chàng sẽ biết em chạy về hướng nào”.

Phụ Vương nàng không nghĩ như nàng rằng đây là quân xâm lăng Tần. Vua nói: “nước Tần đã bại liệt, sắp vào tay người khác, làm sao có thể gửi binh vào Nam được. Ta không ngờ thằng Triệu Đà nham hiểm đến thế. Ký hoà ước rồi giả làm thông gia để có thì giờ chuẩn bị chiến tranh. Thằng Trọng Thuỷ, chồng của con, cũng chỉ là một đứa hèn nhát. Ta rất tiếc là đã gả con cho nó”.

Nghe phụ vương mắng nhiếc chồng như thế, Mỵ Nương Thanh Châu lấy làm đau lòng, bởi vì nàng cho rằng hai người bị nghi oan. Nhưng trong khi cả triều đình đang tin rằng đây là một cuộc xâm lăng của Triệu thì nàng khó mà nói cho cha biết đây là cuộc xâm lâng của Tần. Trọng Thuỷ chẳng nói trước như thế là gì? Tướng Đồ Thư bị giết; gần nửa triệu quân Tần bị đánh tan tành; làm sao nước Tần không căm hận? Còn Trọng Thủy, chồng nàng, thì không thể nào là một người phản bội được. Không ai hiểu chồng bằng vợ. Nàng tin rằng Trọng Thủy đã nhận nước Âu Lạc làm quê hương thứ hai của chàng. Không lý nào chàng lại có thể gây can qua giữa hai nước để làm tan vỡ cuộc tình duyên đẹp nhất trên đời. Với lại chàng cũng dư biết nước Triệu không thể nào thắng nổi nước Âu Lạc. Cha chàng là Triệu Đà đã từng cử binh sang xâm chiếm Âu Lạc; nhưng nhờ có chiếc nỏ thần, phụ vương nàng đã đánh tan quân đội của Triệu Đà và bẻ gãy cuộc xâm lược kia. Chiếc nỏ ấy là của thần Kim Quy cho, có năng lực vô song, mỗi lần dương ra là hàng vạn mũi tên tới tấp bay vào hàng ngũ địch. Chính vì chiếc nỏ thần ấy mà Triệu Đà đã nhận rằng không thể chiến thắng Âu Lạc và do đó đã ký hoà ước với phụ vương nàng. Ranh giới giữa hai bên là sông Tiểu Giang, gần núi Trâu Sơn, nơi Thiên Vương làng phù Đổng đại phá giặc Ân ngày xưa. Sau ngày ký hoà ước, vua Triệu muốn xây dựng hoà bình lâu dài nên đã cho người sang cầu thân với An Dương Vương, xin cưới nàng cho con trai là Trọng Thủy. Hồi mới nghe tin con vua Triệu muốn cưới nàng, Thanh Châu thấy trong lòng e ngại, sợ sệt. Nàng cảm thấy lo lắng. Nhưng làm thân con gái nàng phải nghe lời cha mẹ. An Dương Vương cũng muốn nền giao hảo giữa hai nước trở nên tốt đẹp nên đã nhận lời với điều kiện là Trọng Thuỷ phải theo phong tục Âu Lạc sang ở gởi rể trong vòng ba năm. Đám cưới được tổ chức trong nền hoà bình vừa mới lập lại. Dân chúng thủ đô và khắp nước treo đèn kết hoa mừng cho cuộc tình duyên của ngàn Mỵ Nương nước mình và chàng hoàng tử nước bạn. Dân chúng ăn mừng thoả thích trong ba đêm ba ngày liên tiếp.

Trọng thủy là một chàng trai hào hoa phong nhã và cũng rất si tình. Mỵ Nương rất vừa ý. Hai người yêu nhau thắm thiết. Xe ngựa của hai người đi tới đâu là dân chúng hò reo niềm nở tới đó. Hai vợ chồng được phép đi du ngoạn khắp nơi trong xứ. Có nhiều nơi, ra đón cặp vợ chồng vương giả, trai gái đứng chật cả đường làm xe ngựa kẹt lối không đi tới được nữa. Trọng Thủy lại thích vân du; chàng và Mỵ Nương đi khắp nước non, không bỏ sót khu danh thắng nào. Đến đâu chàng cũng có ghi chép. Thanh Châu không biết chàng ghi chép để làm gì. Tuy vậy nàng không hỏi. Có lẽ chàng muốn ghi lại những kỷ niệm đẹp giữa hai người.

Trọng Thủy mới ở gửi rể một năm thì vua Triệu nhớ con, gởi thư qua vua Thục xin cho Trọng Thủy về thăm. Trọng Thủy cũng nhận được thư vua cha nhắn về. Nhận được thư, chàng âu sầu mất mấy ngày làm Thanh Châu rất lấy làm thương. Chàng ngỏ ý là xin vua Thục cho nàng được về Triệu trong thời gian sáu tháng. Nghe chồng nói thế, nàng sung sướng quá. Nếu được như vậy thì quý hoá biết bao. Đã khỏi phải xa cách nhau trong sáu tháng đằng đẵng, lại được dịp xem nước non nghe nói rất cẩm tú của nhà chồng. Hai người cùng lên gặp An Dương Vương tỏ bày nguyện vọng của họ. Nhưng vua Thục lắc đầu bảo rằng như thế không đúng theo tục lệ Âu Lạc. Vua cười nói rằng theo tục lệ này, người con trai phải ở gửi rể, không những trước khi cưới mà còn sau khi cưới. Thời hạn vua đặt ra là ba năm; bây giờ mới chỉ có một năm thôi thì không thể nào vua để Thanh Châu đi về nhà chồng được, dù chỉ là trong sáu tháng. Thanh Châu biết không phải phụ vương nàng cố chấp vào tập tục hay lời hứa. Vua Thục vì không muốn xa con mà không để nàng đi, vậy thôi. Hai người tâu đến lần thứ ba nhưng An Dương Vương vẫn lắc đầu không chấp thuận.

Thế rồi cuộc phân ly xảy ra. Tuy biết chồng chỉ về thăm nhà có sáu tháng, Thanh Châu vẫn oà khóc như mưa, làm như chồng sẽ phải ở lại nước Triệu mười năm vậy. Trọng Thủy cũng rất buồn. Chàng lưu luyến không nỡ khởi hành. Nhưng rồi cuối cùng chàng cũng phải lên ngựa với một đoàn tùy tùng. Đứng ở sân điện nàng Mỵ Nương trông theo, dáng nàng buồn như dáng liễu.

An Dương Vương nghe tin giặc đến trong khi đang ngồi đánh cờ vây với các lạc hầu: “Bọn Triều Đà không còn sợ chiếc nỏ thần của ta nữa sao”? Vua vừa nói vừa cười, nâng rượu lên nhắp. Nhưng tin tức chiến trường dồn dập bay tới. Quân giặc đang tiến vào các bộ như vũ bão. Vua họp các lạc hầu lạc tường bàn cách đối phó. Mỵ Nương Thanh Châu đứng hầu vua Thục. Nàng vẫn không tin rằng đây là một cuộc xâm lăng của họ Triệu. Nàng vẫn đinh ninh đây là một cuộc chinh phạt của nhà Tần.

Một lạc tướng nói:

– Việc quốc phòng từ khi tướng Cao Lỗ từ nhiệm đã không được chăm sóc kỹ lưỡng. Xem tình thế ở miền biên giới thì biết. Giặc đi đến đâu quân ta tan vỡ đến đó. Sự xích mích giữa anh em trong nhà bao giờ cũng đi đến kết quả tai hại như vậy. Xin đức vua cho lệnh đi tìm tướng Cao Lỗ về giúp nước.

Một lạc hầu mặt trắng ngồi đối diện:

– Tướng tài nước ta không phải chỉ có một mình Cao Lỗ. Chúng ta được sự phò hộ của Long Vương và thần Kim Quy. Chúng ta lại có nỏ thần của Kim Quy. Chắc chắn là chúng ta sẽ đánh tan được giặc.

Vị Lạc Hầu mặt trắng đó, Mỵ Nương Thanh Châu biết, là một người rất chống đối tướng Cao Lỗ. Ông ta vì ganh ghét cá nhân đã rêu rao rằng tướng Cao Lỗ muốn dựa quân đội để lấn áp quyền hành của vua. Thường thân cận ra vào nơi cung khuyết, vị lạc hầu mặt trắng có hai cánh tay dài như vượn kia đã nhiều lần dèm pha khiến cho An Dương Vương càng ngày càng sanh ra lạnh lùng với vị tướng lãnh có công với đất nước. Cao Lỗ là một trong những người chống đối việc thông gia giữa hai họ Triệu và Thục. Ông ta nói rằng một người như Triệu Đà thì ta khó có thể tin cậy được. Thanh Châu tuy không đồng ý với tướng Cao Lỗ nhưng nàng kính phục thái độ thẳng thắn dám ăn nói của ông. Nàng cũng nghĩ như ông rằng phải chú trọng việc tập luyện binh sĩ, lo cho dân no ấm, nhưng nàng lại nghĩ rằng việc thông gia giữa hai nước cũng là một phương pháp tốt để giữ gìn hoà bình. Có điều nàng không ưa là phụ vương nàng quá nghe lời vị lạc hầu mặt trắng mà đối xử tệ bạc với những người có công với đất nước. Tướng Cao Lỗ đã phải từ bỏ chức vụ mình và đi biệt tích. Giống như Lý Ông Trọng ngày xưa.

Thanh Châu còn đang nghĩ tới tướng Cao Lỗ thì có quân vào báo:

– Mặt trận phía Tây Bắc đã vỡ, hiện quân giặc đang ào ào tiến về phía thủ đô Phong Khê.

An Dương Vương vội vã ra lệnh cho các lạc tướng phân phối quân ngũ để trấn giữ thủ đô. Vua vào cung lấy ra chiếc nỏ thần năm xưa đã từng giúp vua đánh tan binh đội của Triệu Đà. Nai nịt gọn ghẽ, vua cầm nỏ thần ra trận.

Quân giặc tiến vào Phong Khê như nước lũ, vượt qua những hàng rào phòng thủ Âu Lạc dễ như chẻ tre. Những đội quân tiên phong của giặc mang theo những tấm liếp bện bằng rơm cỏ. Hàng vạn mũi tên của quân Âu Lạc bắn ra đều bay đến cắm thẳng vào những tấm liếp rơm này. Mất tinh thần, quân tướng Âu Lạc phải dụng phương pháp đánh bộ. Nhưng khi quân Âu Lạc chuyển dụng phương pháp đánh bộ thì quân Triệu cho kỵ binh xông tới. Quân Âu Lạc không chặn nổi kỵ binh. Mặt trận miền Bắc thủ đô liền tan vỡ. Tiếng hò reo của địch quân vang dậy.

An Dương Vương ngồi trên mình ngựa thấy thế nguy, giương nỏ thần ra, bắn vào quân địch. Nhưng nỏ thần, không biết vì sao đã mất hiệu lực. Ngày xưa, mỗi khi giương nỏ thần ra bắn, An Dương Vương thấy sấm chớp loè ra, hàng vạn tia sáng bay vào hàng ngũ địch làm cho quân địch tan vỡ hỗn loạn trong khoảnh khắc. Bây giờ nỏ thần chỉ là một cái móng rùa vô dụng, không còn chút gì quyền phép. Vua Thục chép miệng than lớn:

– Thời của ta đã hết!

Vua quay đầu ngựa trở lại, hai chân thúc mạnh vào hông ngựa. Ngựa của vua phi nước đại về cung. Mỵ Nương Thanh Châu đứng ở ngoài sân điện tay cầm chiếc áo choàng trắng như tuyết; hai mắt đang nhìn ngơ ngác nàng bỗng trông thấy ngựa vua trở về. Nàng vừa kịp chạy ra, thì ngựa An Dương Vương cũng vừa đi tới. Vua từ lưng ngựa nhảy xuống xốc Mỵ Nương đặt lên yên sau của ngựa, và nói:

– Giặc tới nơi rồi, ta phải chạy ngay. Con ngồi cho vững phía sau, ôm lấy ta kẻo ngã.

Vua nhảy lên ngựa, ra roi. Con tuấn mã chồm lên đưa hai người vượt qua những sân điện rộng mênh mông. Phút chốc đã đến cửa Nam. Vua lấy hướng Nam mà chạy.

Ngựa phi nhanh như gió bão. Trời đã chạng vạng tối, nhưng vua Thục vẫn nằm sát lưng ngựa giật cương. Ngựa phi nhanh qua những khu rừng thẫm màu, nhiều lúc hai cha con không thấy rõ con đường trước mặt. Ngựa phi nhanh qua những khu đồi thoai thoải. Gió đập vào mặt Mỵ Nương. Tóc nàng bị gió đánh tung ra bay phấp phới. Mặt trăng đã hiện giữa trời. Trong ánh sáng mờ mờ, ngựa của Thục Dương Vương băng rừng, vượt núi, tìm về miền Nam.

Ngựa phi suốt đêm. Thanh Châu ôm chặt lấy lưng cha nàng, mong cho trời sáng. Đêm dài vô tận. Những ngôi sao trên trời dần dần mờ nhạt.

Bỗng nàng giật mình. Nàng nghe có tiếng vó ngựa của một đoàn người ngựa đang đuổi theo hai người. Vua Thục cũng đã nghe thấy những âm thanh dồn dập đó. Vua ngoái đầu trở lại nhìn. Nhưng vua chưa thấy gì. Chỉ thấy một vài chiếc lông chim bay phấp phới. Vua thúc hai chân và hông ngưa, giật cương tới tấp. Con ngựa chồm lên. Tới một ngã tư, vua cho ngựa rẽ hướng có chân trời đỏ rực.

Mỵ Châu bồn chồn trong dạ. Ai đang đuổi theo cha con nàng? Chỉ có thể là Trọng Thủy. Chỉ có thể là chàng. Chỉ có chàng mới nhận ra vết lông ngỗng. Từ chiều hôm qua đến nay ngồi trên lưng ngựa, thỉnh thoảng nàng rút tay trái ra rứt từng chiếc lông ngỗng trên tấm khăn choàng màu trắng để rải lên mặt đường, nhất là những ngã tư, ngã ba. Nàng làm theo lời hẹn với Trọng Thủy để chàng biết nàng lạc về đâu mà tìm. Nhưng nếu đây là một cuộc xâm lược của quân Tần, thì sao Trọng Thuỷ có mặt trong cuộc tấn công này được? Thôi chết rồi, đây quả là một cuộc phản bội của họ Triệu. Thôi rồi, Trọng Thủy đã đánh lừa nàng. Một tia sáng xẹt nhanh như chớp giật qua trí óc Mỵ Nương Thanh Châu. Nàng nhớ lại có lần Trọng Thuỷ hỏi nàng:

– Nếu quân Tần sang xâm lược hai nước chúng ta, thì chúng ta phải có phương thức chống lại. Bên nước Triệu, đoàn kỵ binh được luyện tập kỹ lưỡng. Đó là một đoàn quân tinh nhuệ. Còn ở Âu Lạc, không biết đã có phương thức nào chống giặc hữu hiệu chưa?

Nàng mỉm cười trả lờI:

Chàng chớ lo cho Âu Lạc. Phụ vương em có một cái nỏ thần của Kim Quy tặng năm mươi năm về trước. Hễ quân Tần đến, phụ vương em đem nỏ thần ra bắn một phát, thế là quân giặc tan.

Trọng Thủy tỏ vẽ mừng rỡ.

– Vậy thì quý hoá quá! Thôi thế thì chúng ta khỏi lo cho Âu Lạc. Nhưng nỏ thần ấy nàng đã được tận mắt thấy chưa? Nàng có dịp đưa tay cầm lấy bảo vật ấy chưa?

– Không những em đã thấy mà em lại còn được cầm lên ngắm nghía và biết hiện giờ phụ vương em cất giữ nó ở đâu nữa. Nếu chàng muốn thấy em có thể sang lấy cho chàng xem.

Trọng Thủy nói:

– Hẳn nhiên là ta rất mong ước trông thấy cái bảo vật đó. Nhưng ta nghĩ em không nên động tới bảo vật của phụ vương

Mỵ Châu cười:

– Bảo vật của phụ vương, nhưng cũng là bảo vật của em! Chàng đợi em một chút.

Nói xong nàng chạy qua tẩm điện vua Thục. Một lát sau nàng trở về với chiếc nỏ thần. Trọng Thuỷ đã quan sát khá kỹ lưỡng, và đưa nỏ thần lại cho nàng ngay khi đó, bảo phải đem trả lại chỗ cũ ngay. Nhưng sau đó một tháng, chàng muốn tỏ ý muốn xem nỏ thần lại lần thứ hai. Cố nhiên là Mỵ Châu chiều chồng. Vì Thục Vương lần này đi vắng tới ba hôm, nàng đã để cho chàng giữ nỏ thần trong tẩm điện của chàng một đêm. Có lẽ người con trai kia đã làm hư nỏ thần, hoặc đã làm một cái nỏ khác tương tự để đánh tráo nỏ thần. Điều đó rất có thể xảy ra mà nàng không biết. Chỉ biết chiếc nỏ mà phụ vương nàng cầm trên tay bây giờ không còn một chút gì thần lực. Nàng đang ngao ngán thì bỗng An Dương Vương ghìm cương ngựa lại. Phía trước là biển cả. Mặt trời đã nhô lên khỏi mặt nước: đại dương đỏ như một biển máu. Con đường mòn đến đây là hết.

Tiếng vó ngựa đuổi theo phía sau vọng lại rõ mồn một. An Dương Vương ngồi trên ngựa nhìn trời, nhìn biển, than lớn:

– Bố và Cái nỡ bỏ ta sao? Thần Kim Quy đâu, sao không đến cứu ta?

Bỗng từ dưới nước, một con Thần Quy màu vàng rực nổi lên. Kim Quy nói:

– Mau lên, giặc ở ngay sau lưng rồi.

Vua Thục ngoảnh lại nhìn phía sau. Một đoàn kỵ binh xuất hiện phía cửa rừng, bụi tung mờ mịt. Mỵ Nương Thanh Châu tưởng vua quay lại nhìn mình. Nàng cho rằng tất cả tai hoạ của đất nước đều do nàng đem lại. Nàng đã quá tin người. Nàng nói:

– Con là gái, nếu có lòng phản nghịch để tìm cách mưu hại phụ vương thì khi chết, xin cho thân xác này biến thành bụi đất. Còn nếu con là người trung tín, chỉ vì ngây thơ mà bị người ta lừa gạt thì xin sau khi chết hóa thành châu ngọc để minh chứng cho tấm lòng chung thủy của con với cha, với dân và với nước.

Mỵ ChâuNói xong, nàng rút chiếc gươm ở lưng vua Thục, đâm vào bụng nàng.

Còn ngơ ngác với lời nói của con, vua Thục không kịp ngăn cản. Thân hình Mỵ Châu đã rơi xuống ngựa, trên bãi cát, mấp mé bờ nước.

– Mau lên đi, giặc ở ngay sau lưng rồi!

Tiếng nói oang oang của thần Kim Quy lại vọng lên. Vua Thục nhảy xuống ngựa quỳ xuống ôm xác con, mắt đầm đìa lệ. Nhưng thần Kim Quy đã kéo vua đứng dậy và trao cho vua một chiếc sừng văn tê bảy tấc. Kim Quy rẽ nước, đưa An Dương Vương vào sâu dưới đáy biển đi về thủy cung. Nước từ từ khép lại.

Đoàn kỵ mã phía sau đã tới. Trọng Thủy, trong nhung phục màu đen, nhảy xuống ngựa. Chàng không nhìn thấy An Dương Vương, chỉ thấy một con ngựa hồng yên cương đầy đủ đang đi men theo bờ cát. Nhìn xuống dưới chân, chàng thấy thân xác Mỵ Châu sóng soài trên cát. Máu nàng thấm loang ra làm đỏ cả một vùng cát trắng.

Kêu lên một tiếng “Thanh Châu”, chàng quỳ xuống ôm lấy xác Mỵ Nương, nhìn thẳng mặt nàng. Thân xác Mỵ Châu đã lạnh. Nét mặt nàng trầm tĩnh và lặng lẽ đến lạnh lùng.

Trọng Thủy khóc như mưa. Chàng xốc Mỵ Nương, đỡ nàng lên ngựa, và ra lệnh cho cả đoàn kỵ mã lên đường về Phong Khê.

Triệu Đà lấy được nước Âu Lạc, gồm cả hai nước Triệu và Âu Lạc, lập thành nước Nam Việt. Trọng Thuỷ đem Mỵ Châu về chôn ở thành Ốc, ngay nơi chỗ hai người ngày xưa đã sống với nhau. Từ đó chàng từ chối không muốn gặp mặt ai hết, kể cả cha là Triệu Đà. Ra vào nơi chốn mà khi xưa cùng Mỵ Nương cùng sống, nhìn lại những nơi Mỵ Nương hay ngồi ngắm trăng, rửa mặt, thay áo, điểm trang, tắm gội. Trọng Thủy nhớ lại tất cả những ngày kỷ niệm ngày xưa. Chịu không nổi niềm đau khổ ray rứt trong lòng, một buổi trưa kia chàng nhảy xuống một chiếc giếng sâu ngoài sân điện mà chết. Sau đó, Triệu Đà dời đô về Phiên Ngung, lập kinh đô ở đây và tự xưng là Triệu Vũ Vương.

Ngư dân làng Cao Xá ở châu Diễn gần núi Mộ Dạ trong khi lặn xuống biển sâu đã tìm được nhiều ngọc châu trong lòng của loài hàu hến. Những con ốc trai này đã ăn máu đào chảy ra từ thi thể Mỵ Châu. Chính ở bờ biển ngư thôn Cao Xá này mà Mỵ Châu đã tự tận.

Có những người ở Phong Khê nói rằng đem những ngọc châu mua được ở Châu Diễn mà rửa bằng nước múc ở giếng ngày xưa Trọng Thủy trầm mình thì sắc ngọc trở thành rực rỡ. Người trong xứ truyền tụng câu chuyện Trọng Thủy Mỵ Châu, và tỏ ý tiếc rằng người con trai kia đã không xứng đáng với tấm chung tình của nàng Mỵ Nương nước họ.

14. Ông trọng

Thủ đô Phong Khê của nước Âu Lạc treo đèn kết hoa và mở hội trong suốt bảy ngày bảy đêm mừng chiến thắng. Quân xâm lược Tần đã hoàn toàn thất bại trên đất Âu Lạc. Không những ở thủ đô Phong Khê mà ở khắp nơi trên đất nước dân chúng đều tưng bừng mở hội. Tiếng trống đồng và tiếng kèn sáo vang lừng từ những ngã tư đô hội và ở các chợ búa. Người ta họp chợ vì mua bán thì ít mà vì những cuộc chơi thì nhiều.

Tuy vậy trong cuộc vui của toàn dân có xen lẫn một niềm tiếc thương, đó là cái tang của Lý Ông Trọng, một trong những kiện tướng đã cầm đầu cuộc kháng chiến chống Tần. Ở huyện Từ Liêm, quê quán của tướng Trọng, dân chúng tổ chức lễ truy điệu vị anh hùng của đất nước một cách long trọng: tượng của vị anh hùng được rước đi suốt ngày đêm trong thành phố, và dân chúng được kêu gọi đóng góp tiền bạc, vật liệu và nhân lực để xây đền kỷ niệm Ông Trọng:

Vị anh hùng kia đã chết không phải vì tay chân Tần mà vì già yếu quá không chịu được cuộc sống gian khổ trong các chiến khu miền ngược. Ông chết năm tám mươi tám tuổi. Tướng Cao Lỗ, một vị tướng lãnh thành của Âu Lạc, đã từ kinh đô về dự lễ tưởng niệm người bạn đồng tâm của mình tổ chức ở huyện Từ Liêm. Tại nơi mà đền thờ của Lý Ông Trọng sẽ được dựng lên, người ta dựng một lễ đài cao trên đó được an trí một bức tượng của Lý Ông Trọng. Tượng làm bằng phên nứa và phết giấy, làm lớn bằng con người thật của Lý Ông Trọng. Tự cổ chí kim chưa ai có một thân hình cao lớn như vị tướng này. Hồi còn sống, ông cao tới hai trượng và ba thước.

Dưới chân tượng, đêm nay có cuộc hát kể cuộc đời của vị anh hùng họ Lý. Một đoàn nhạc công, có sáo, có trống, có đàn nhị, đàn bầu và kèn cùng với bốn mươi nghệ sĩ sẽ ca hát và trình diễn cuộc đời của Lý Ông Trọng. Lạc tướng Cao Lỗ ngồi ở hàng ghế danh dự, bên cạnh quan Bồ Chính địa phương. Cùng ngồi trên hàng ghế là thân thuộc của hai người. Quần chúng tập hợp đông đảo ở công trường. Đuốc thắp sáng choang. Những cây đuốc rực cháy thơm mùi nhựa thông được cắm thành những hàng dài bốn phía công trường. Công chúng vào cửa tự do. Thiếu ghế, quần chúng ngồi xuống bãi cỏ. Tiếng gọi nhau ơi ới. Có những cậu bé và cô bé ngồi trên cổ bố mẹ để nhìn cho rõ. Cuộc trình diễn bắt đầu bằng một hồi trống dài. Mọi người yên lặng. Tiếng sáo, tiếng nhị, tiếng đàn, tiếng kèn cùng nổi lên rộn rịp. Một lát sau, tất cả mọi âm thanh tự nhiên im bặt để cho một nghệ sĩ ngồi xếp bằng trên sàn gỗ, mở miệng dạo đầu:

– Nhớ tám mươi tám năm xưa, trong huyện Từ Liêm, nước Âu Lạc, có một bé thần dị ra đời …

Tiếng kèn tiếng đàn lại trỗi lên, phụ họa. Tướng Cao Lỗ mỉm cười nhớ tới hình dáng của bạn. Ngày xưa, dù mình là người cao lớn, nhưng mỗi khi đi bên bạn ông thường có cảm tưởng mình chỉ là một đứa bé. Lý Thân, phải rồi, hồi đó Lý Ông Trọng còn được gọi là Lý Thân, cao lớn quá đến nỗi ông có thể để cho một đứa bé ba tuổi đứng trên bàn tay của ông. Tuy là bạn của Ông Trọng, nhưng tướng Cao Lỗ nhỏ hơn ông tới mười mấy tuổi, và chỉ cao bằng một phần ba ông.

Hồi đó tướng Cao Lỗ mới hai mươi mốt tuổi, và đang làm đội trưởng trong quân ngũ. Lý Thân vì có sức học và dáng vóc hơn người, được cử làm quan Bồ Chính ở huyện Từ Liêm, dưới triều vua Hùng thứ mười tám. Cao Lỗ được đổi về Từ Liêm và rất được quan Bồ Chính Lý Thân yêu mến. Chàng được Lý Thân yêu mến một phần là vì óc thông minh và trí giàu sáng tạo của chàng. Mấy trăm binh sĩ dưới tay chàng, trong thời hoà bình đã giúp dân cày ruộng, gặt hái, cất lại những ngôi nhà lụp xụp cho các gia đình quả phụ. Giữa quân và dân quả thực có một mối tình cá nước. Trong huyện không xảy ra trộm cướp. Quan Bồ Chính thường hay vời chàng tới công đường để đàm đạo, uống rượu, làm thơ và tổ chức đi du ngoạn núi nước trong vùng.

Rủi thay một hôm kia, một vị Lạc Tướng của vua Hùng đi tuần thám qua huyện gặp lúc hai người vắng mặt tại công đường. Họ đang uống rượu ngâm thơ trên một chiếc thuyền, lênh đênh ngoài sông nước. Vị Lạc Tướng đợi tới chiều mới thấy hai người trở về nhiệm sở. Trước mặt nha môn và binh sĩ, quan Bồ Chính và viên đội trưởng bị quan Lạc Tướng đánh đòn.

Xấu hổ vì bị làm nhục trước mặt mọi người, Cao Lỗ tìm cách vận động để được trở  về Phong Châu. Còn quan Bồ Chính từ đó ít nói năng. Thiếu bạn, quan không còn uống rượu, ngâm thơ và đi du ngoạn nữa. Quan cũng không hề phàn nàn về việc bị làm nhục trước quần chúng. Nhưng sau đó mấy tháng, Cao Lỗ nghe tin Lý Thân từ quan, và đi lánh cư tại một miền xa, không biết tận đâu.

Vì tài năng và đức chuyên cần của mình, Cao Lỗ được thăng chức rất mau trong quân ngũ. Tới khi An Dương Vương lên cầm chính quyền thì chàng được tuyển vào hàng Lạc Tướng. Trong thời gian xây thành Ốc tại thủ phủ Phong Khê chàng được thần Kim Quy để ý, và dạy cho nhiều bí thuật về võ học. Sau khi thành Ốc xây xong, và thần Kim Quy đã từ giã về thủy phủ, chàng được vua Thục triệu vào, đưa cho chiếc móng của Kim Quy và nói:

– Trước khi từ giã, ta có hỏi Kim Quy về phương thức giữ nước. Thần cho ta chiếc móng rùa này và bảo đây là chiếc nỏ thần có thể phá tan được quân xâm lăng. Thần lại cho ta thấy công hiệu của chiếc móng. Ta đưa cho Lạc Tướng nghiên cứu chiếc móng này và phỏng theo đó để chế tạo binh khí dùng vào việc quốc phòng. Nhớ trao móng thần lại cho ta khi công việc xong xuôi.

Vị Lạc Tướng trẻ tuổi bái nhận nỏ thần và đem về nghiên cứu. Chàng thấy đây là một vũ khí rất lợi hại. Chàng liền cho đốn thử những thân cây dâu và mô phỏng theo nỏ thần, làm thành những chiếc cung dài, bắn một lần được mười mũi tên. Chàng cho tuyển mười ngàn binh sĩ chuyên về việc bắn cung. Mỗi viên binh sĩ này được tập luyện rất tinh nhuệ. Có lần chàng mời vua Thục đi xem một cuộc tập trận. Mười ngàn binh sĩ núp trong rừng cây, trong một khoảnh khắc bắn đứt và làm rơi được hàng chục ngàn lá phướn treo lơ lửng trên thao trường tượng trưng cho hàng chục ngàn quân giặc. Vua Thục vỗ vai chàng tỏ vẻ vừa ý. Sau đó, chàng ra lệnh làm ra hàng trăm ngàn mũi tên đồng cất chứa vào kho khí giới.

Nước Âu Lạc được hưởng bốn mươi lăm năm hoà bình thịnh trị. Bỗng một hôm, người trong nước kinh hoàng nghe tin quân xâm lăng của nhà Tần đã tới biên giới Âu Lạc. Tướng Đồ Thư của nhà Tần theo lệnh Tần Thỉ Hoàng đem nửa triệu binh chia làm năm đạo, một đạo đóng ở đèo Đàm Thành, một đạo đóng giữ ải Cửu Nghi, một đạo đóng ở Phiên Ngung, một đạo ở miền Nam Dã, còn một đạo thì đóng ở sông Dư Can. Thám tử Âu Lạc từ biên giới về báo là quân viễn chinh nhà Tần đã đào rộng các đường mương thành kinh để chở lương đi sâu vào đất Lĩnh Nam, và đã chiếm đóng các miền Lục Lượng, Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận ở vào phía Đông Bắc biên giới Âu Lạc. Quân Tần đã đưa Nhâm Ngao và Triệu Đà lên trấn nhậm các đất ấy. Ngao và Đà đều là những người gốc nước Chu.

Sau đó không lâu một đoàn thám tử khác lại về báo tin dữ cho Lạc Tướng Cao Lỗ: đội trưởng Tây Âu là Dịch Hu Tống vừa bị tử thương và quân Tần đang ồ ạt tiến vào đất Âu Lạc. Thế lực của quân Tần mạnh như vũ bão. Chúng dùng ngựa và xe tải lương tiến mau như tên bắn. Số lượng quân Tần lớn bằng ba số lượng quân Âu Lạc. Những nơi mặt trận Âu Lạc tan vỡ, dân chúng tự động bỏ xóm làng và thành phố, lên núi rừng sống chung với cầm thú và tổ chức kháng chiến. Bốn mươi lăm năm hoà bình, quân sĩ không tập luyện; khi quân giặc đến nhiều người sinh ra hốt hoảng. Tướng Cao Lỗ một mặt lo rèn luyện binh sĩ dưới quyền mình, sử dụng cung tên bảo vệ thủ phủ, một mặt gửi những đạo binh tinh nhuệ ra chận đường giặc. Nhưng giặc Tần được lệnh tấn công không lùi, đêm cũng như ngày, tay không rời khí giới, mình không rời áo giáp. Tuy quân Âu Lạc chặn được quân Tần không cho chúng xâm phạm tới thủ đô Phong Khê, nhưng cả miền Bắc nước Âu Lạc đều đã và đang rên siết dưới gót giày quân viễn chinh nhà Tần. Dân chúng lên rừng gieo lúa, dệt vải, chế tạo cung tên và gươm giáo, tổ chức kháng chiến, nhất định không về làng và phố cộng tác với giặc.

Ba tháng sau khi quân Tần xâm nhập Âu Lạc, tướng Cao Lỗ được tin thám tử về báo là Lý Thân đã về nước theo quân giặc. Ông rất lấy ngạc nhiên không hiểu sao một con người như Lý Thân lại có thể theo giặc về nước để tàn hại dân lành. Nhưng tin tức của thám tử liên tiếp bay về kinh sư: tướng Cao Lỗ được thông báo rằng không phải là Lý Thân theo giặc về giết hại dân lành. Trái lại, ông đã về nước để cộng tác với dân chúng tổ chức kháng chiến chống cuộc xâm lược. Hiện ông đang chỉ huy cuộc kháng chiến chống Tần ở các bộ Vũ Định và Châu Diên. Hỏi kỹ về chi tiết cuộc đời Lý Thân thì tướng Cao Lỗ được thám tử cho biết như sau:

“ Sau khi từ chức Bồ Chính quận Từ Liêm, Lý Thân đi ra nước ngoài du học. Ông thường nói: “đời ta phải được tự do như chim loan chim phụng, một lần bay là xa ngoài vạn dặm, đâu có phải để cho thiên hạ làm nhục dễ dàng?” Ông cố công học tập, và sau đó ra làm quan với nhà Chu. Đến khi Tần Thỉ Hoàng lên ngôi, ông được đưa lên chức Tư Lệ Hiệu Úy. Lúc Tần Thỉ Hoàng lo chuyện thôn tính thiên hạ, ông được đưa đi trấn thủ ở Lâm Thao. Tài dụng binh và vóc người to lớn của ông làm cho thanh danh ông càng ngày càng lớn, uy danh chấn động cả nước Hung Nô. Tần Thỉ Hoàng mừng quá, ban cho ông hiệu Ông Trọng, tỏ vẻ tôn kính. Nhờ ông trấn thủ ở Lâm Thao nên quân Hung Nô nằm yên, không dám động binh ở chốn biên thùy miền Bắc nước Tần. Nhưng khi nghe tin tướng Đồ Thư lĩnh nửa triệu quân Tần xâm chiếm các nước miền Nam rồi lại chiếm cả lĩnh thổ Âu Lạc, ông nóng ruột từ chức xin về thăm nhà. Đến biên giới, ông cầm một cây gươm dài xông thẳng đến bọn lính Tần đang canh gác. Thấy ông vĩ đại như thiên thần tất cả bọn lính đều bỏ chạy. Ông một mình tìm về bộ Châu Liêm. Sau khi nghe nói già trẻ trai gái đều bỏ thành phố và làng xóm chạy lên núi ở, ông cũng bèn tìm lên chiến khu. Ở đó, dân chúng tôn ông làm lãnh đạo và xin ông cầm đầu cuộc kháng chiến chống Tần.

Tướng Cao Lỗ nghe tin rất mừng, tìm cách liên lạc với Lý Thân mà bây giờ dân chúng và cả thám tử nữa, đều gọi là Lý Ông Trọng. Theo đường núi vòng quanh các miền Tân Hưng, Vũ Định và Lục Hải, tướng Cao Lỗ đưa quân vào các chiến khu, tiếp tế lương thực và cung tên cho Ông Trọng. Tự mình không thể rời Phong Khê, ông cho các lương tá của ông đến liên lạc và trợ lực cuộc kháng chiến của dân chúng miền Bắc. Ông Trọng nhắn tin về kinh đô, xin An Dương Vương giữ vững kinh đô và miền Nam Âu Lạc. Ông hứa là sẽ lãnh đạo cuộc kháng chiến miền Bắc cho tới thành công toàn diện.

Quân kháng chiến dưới quyền điều khiển của Ông Trọng đã xuất hiện nhiều lần từ rừng sâu, chận đường tiếp tế của quân Tần. Trong khi đó tướng Đồ Thư gặp phải sức kháng cự của quân đội chính quy Âu Lạc không tiến thêm được một bước nào nữa về miền Nam. Hễ xuất quân là bị thất bại. Quân Âu Lạc bắn tên đồng rào rạt như mưa vào quân ngũ Tần. Lực lượng viễn chinh của nước Tần tiêu hao dần dần. Trong sáu năm, không một ai được cởi áo giáp mà nằm nghỉ. Cả đến ban đêm. Đàn bà trẻ con Âu Lạc mà quân Tần bắt được đều bị chúng ép làm việc chuyên chở binh lương và khí giới suốt ngày đêm. Nhiều người chịu không nổi phải thắt cổ chết ở dọc đường.

Một hôm An Dương Vương được báo tin là có sứ giả tướng Đồ Thư vào ra mắt và dâng thư của Tần Thỉ Hoàng. Vua cho mở cửa điện tiếp sứ. Trong thư, vua Tần xin vua Âu  Lạc cho Lý Ông Trọng sang Tần trở lại. Nếu vua Âu Lạc bằng lòng điều kiện đó, thì vua Tần sẽ ra lệnh rút hết quân đội viễn chinh ra khỏi lãnh thổ Âu Lạc.

Một cuộc hội họp cơ mật được tổ chức trong triều. Tướng Cao Lỗ xin vua cho hỏi ý kiến Ông Trọng. Ông Trọng nhắn tin về, nói:

– Chẳng bao giờ tôi lại chịu trở sang Tần. Xin đức vua cùng các lạc hầu và lạc tướng đề phòng âm mưu của địch.

Triều đình Âu Lạc cho sứ giả nhà Tần ra về và không trả lời lá thư ngoại giao. Trong số các lạc hầu, có người cho là vua đã bỏ mất một dịp để vãn hồi hoà bình, cứu dân ra khỏi tình trạng máu lửa đã kéo dài gần mười năm trời. Nhưng vua Thục tin lời của Ông Trọng. Mất Ông Trọng chắc chắn sức chiến đấu của Âu Lạc sẽ suy giảm và quân Tần có thể tiến bước.

Nhưng những cuộc điều tra sau đó của thám tử Âu Lạc đã đem lại nhiều tin tức rất phấn khởi.

Trước hết, miền Bắc nước Tần đang bị quân Hung Nô tấn công như vũ bão. Sở dĩ vua Tần cố đòi cho được Ông Trọng, đó không phải là một mưu kế nhằm làm sút giảm tiềm lực chiến đấu của Âu Lạc mà là một sự cần thiết cho sự chống giữ ở biên thuỳ miền Bắc. Quân Hung Nô biết là Ông Trọng không còn ở Lâm Thao nên đã không ngần ngại tấn công vào đất Tần.

Sau đó, là dân chúng các miền Quế Lâm, Nam Hải và Tượng Quận đã bắt chước dân chúng Âu Lạc bất hợp tác với quân Tần, bỏ lên rừng núi để tổ chức kháng chiến. Hiện lực lượng của quân Tần đã tiêu hao quá nửa. Số người bị bệnh kiết lỵ, sốt rét rừng và thiếu ăn nhiều không thể đếm được. Hiện tướng Đồ Thư đang lo lắng ngày đêm không ngủ.

Điều cuối cùng mà là điều ngộ nghĩnh. Tướng Đồ Thư thay vì báo cáo với vua Tần là Âu Lạc không chịu gởi tiến cống Lý Ông Trọng, lại báo cáo rằng Lý Ông Trọng đã chết. Vua Tần nghĩ rằng Âu Lạc nói gạt, liền cho người sang điều tra xem hư thực. Đồ Thư lại báo cáo về một lần nữa là đã cho điều tra kỹ biết rằng Lý Ông Trọng vì mắc bệnh đi tả đã chết và đã được chôn. Ông ta lại thêm rằng: chính ông ta cho đào mồ của Ông Trọng lên và kiểm soát lại và thấy đó quả thực là thi hài to lớn của Lý Ông Trọng. Vua Tần sau khi nghe báo cáo của Đồ Thư, liền cho lệnh đúc một pho tượng đồng của Ông Trọng đặt ở gần biên giới Hung – Tần. Đó là một pho tượng rỗng ruột, ở trong tượng có thể ẩn nấp năm sáu người. Những người này dùng máy lay động tay chân của tượng, làm như vẻ đó là chính Ông Trọng đã trở về trấn ngự ở biên giới. Vua Tần làm như thế để quân Hung Nô khiếp sợ mà không dám xâm phạm bờ cõi miền Tây Bắc nữa.

Khi vua Thục và quần thần nghe báo về điều sau này, ai cũng bật cười. Mọi người đều tự hào rằng nước Âu Lạc đã có một nhân vật phi thường như Lý Ông Trọng. Khi chính Ông Trọng nghe tin ấy, ông cũng cười. Tuy đã tám mươi bảy tuổi và không còn ra trận mạc nữa, nhưng ông vẫn không ngớt dùng trí óc và kinh nghiệm để điều động guồng máy kháng chiến. Ông báo tin mật về triều đình là sẽ mở cuộc phản công vào mùa mưa tới, và xin vua Thục cho đại quân tấn công từ miền Nam lên vào đúng ngày giờ đã định.

Quả đúng như lời Lý Ông Trọng dự đoán, đến đầu mùa mưa năm tới, quân Tần đột nhiên lâm vào một tình trạng khốn đốn vì thiếu lương thảo. Quân và dân từ miền rừng núi đổ ra tấn công ào ạt. Từ thủ đô Phong Khê và các châu bộ miền Nam như Giao Chỉ, Cửu Chân, Hoài Hoan . . . binh đội tinh nhuệ của Âu Lạc cũng tiến lên miền Bắc như thác lũ. Quân Tần tan vỡ, tướng Đồ Thư bị quân Âu Lạc bắn tử thương, hàng ngàn quân Tần bị bắt sống. Nghe Âu Lạc thành công, và biết sức nhà Tần đã suy giảm, Nhâm Ngao và Triệu Đà cũng đi đôi với quân kháng chiến để đánh bật quân Tần ra khỏi Nam Hải, Tượng Quận và Quế Lâm. Họ bắt giết hết những quan chức do Đồ Thư lập nên để phục vụ cho nền đô hộ nhà Tần. Trong khi dân chúng và binh đội Âu Lạc ùa về đánh phá các căn cứ quân Tần ở các thành thị và làng mạc thì Lý Ông Trọng, vì thức suốt mấy đêm bên bản đồ chỉ huy các trận tuyến, đã lâm bệnh nặng. Người ta khiêng ông về trụ sở giải phóng của bộ Vũ Định. Nhưng đến nửa đường thì ông tắt thở.

Dân Âu Lạc tưng bừng mở hội ăn mừng chiến thắng. Đây là ngày hội thứ ba.

Tiếng reo hò của dân chúng vang dậy khi đoàn nghệ sĩ trình diễn xong màn chót của cuộc đời Lý Ông Trọng. Tướng Cao Lỗ khóc; ông khóc vì không được gặp lại bạn để nói một vài lời tâm sự trước khi bạn chết. Ông khóc vì nhớ lại những kỷ niệm xưa, một huyện Từ Liêm thái bình, đầy tiếng ca hát, hai người bạn trên một chiếc thuyền con với túi thơ bầu rượu, lênh đênh trên quãng trời nước bát ngát mênh mông …

13. Thành ốc

Vua Thục thức suốt đêm không ngủ. Vua mong cho mau sáng để gặp một người tên là “sứ giả của dòng Sông Xanh” mà bàn về việc xây thành Ốc.

Đã từ sáu tháng nay, thành trì của vua xây lên cứ đổ sụp hoài. Vua đã cho tuyển những kiến trúc sư giỏi nhất nước Âu Lạc tới để phụ vào việc xây dựng ngôi thành vĩ đại mà vua mơ ước.

Nhưng nhiều người sau khi nghiên cứu đồ án đã lắc đầu. Một kiểu thành như thế chỉ có tiên trên trời xuống mới xây nổi. Thành rộng hơn nghìn trượng đã đành, nhưng cao, cao quá. Dù xây trên một khu đồi, nhưng làm sao đưa nổi những tảng đá lớn lên cao hàng chục trượng. Làm sao dựng được một cung điện chót vót trên đỉnh thành, với bao lơn nhìn ra bốn phía khi mà con đường dẫn lên cung điện đó là một con đường trôn ốc đi giữa hai dãy thành lũy kiên cố, ngoằn ngoèo bò quanh lên đồi như một con rồng vĩ đại, đi ngang những toà ngang dọc nhìn ra bốn phía, mái xoè ra như hai cánh của những con chim garuda to lớn?

Đã có hàng trăm người thiệt mạng vì tai nạn lao động trong khi xây thành. Dân chúng trong nước đã bắt đầu oan thán.

Nhưng vua Thục quyết tâm xây cho được thành Ốc. Có người bảo là oan hồn của những người chết trong cuộc tai nạn làm mất mạng hơn mấy trăm người. Có người nói rằng ban đêm họ thường nghe có tiếng oan hồn hò reo vang dậy dưới chân thành. Có người nói trong đêm khuya, thỉnh thoảng người ta nghe tiếng đàn ai oán từ bên sông vọng lại. Tiếng đàn như khóc, như than, như kể lể, như nguyền rủa, như đòi mạng. Người ta lại đồn rằng ở dưới chân núi Thất Diệu, có một cái quán rượu, và người con gái của chủ quán bị oan hồn thâm nhập đã vừa hoá điên. Đứa con gái này thường hay nói những câu nói xúc phạm triều đình, khóc cười rất bất thường và kêu tên vua mà đòi mạng. Chủ quán sợ quá, bèn nhốt con gái vào một gian phòng. Ban đêm đi ngang người ta thường nghe tiếng cô gái khóc la thảm thiết.

Vua Thục đã nghe hết những lời thầm thì. Vua không tin, cho nên đã có đêm vua thức giấc để lắng nghe. Tiếng hò reo của âm hồn thì vua chưa nghe. Nhưng tiếng đàn ai oán kia, có một lần vua đã nghe được. Tiếng đàn làm cho vua lo âu, ngại ngùng. Đó là tiếng của một loại đàn dây vua đã từng được nghe trình diễn, nhưng chưa bao giờ tiếng đàn lại sầu thảm và ai oán đến như thế.

Vua biết cuộc chiến tranh lật đổ vua Hùng là một cuộc chiến tranh đẫm máu. Nhưng vua không tin là lại có sự oan hồn báo oán như người ta nói. Tuy nhiên chiếu theo lời của các lạc hầu và lạc tướng, vua cũng đã thiết đàn cầu nguyện Long Vương. Đàn mới thiết lập xong thì có một ông già râu tóc bạc phơ tìm tới. Ông già nhìn vào thành Ốc đang xây lở dở rồi than:

– Xây như thế này bao giờ cho xong được!

Vị Lạc Hầu phụ trách thiết đàn thấy làm lạ liền cung kính mời ông lão vào yết kiến vua Thục. Vua thấy ông già có dáng điệu đáng kính, liền mời lên điện để hỏi:

Xin quý nhân dạy cho biết tại sao quả nhân phí bao nhiêu sức lực mà xây thành này không xong.

Thành này vua xây một mình thì không bao giờ xong. Đợi ngày mai khi có sứ giả của dòng Sông Xanh tới, vua nên nhờ người ấy giúp sức thì mới xây xong được.

Ông già nói xong liền cáo từ đi lập tức, vua mời thế nào cũng không ở thêm.

Chính vì vậy mà vua đã thao thức suốt đêm nay chờ mau sáng để gặp người muốn gặp.

Bỗng vua giật mình. Tiếng đàn ai oán vừa vọng lên. Bây giờ đã quá canh ba. Vua nhỏm dậy, đi ra phòng ngoài. Ngọn đèn dầu bốn tấc để trên án thư như chao động. Vua bước nhẹ tới gần bên cửa, vén màn nhìn ra ngoài. Trời đất trong, sao rất sáng. Tiếng đàn như từ dưới bờ sông vẳng lại. Tiếng đàn kéo dài, lênh đênh, rồi bỗng cao vút lên, chới với như những cánh tay đang vươn ra níu lấy không gian một cách tuyệt vọng. Rồi tiếng đàn lại xuống thấp, thầm thì với loài dế trong cây cỏ não ruột với tiếng gió đang thở dài. Bỗng tiếng đàn ngưng bặt. Sau đó, vua nghe tiếng xoang xoảng như gươm giáo chạm vào nhau, những tiếng ầm ầm như gạch đá đổ vỡ. Vua lấy hai tay ôm đầu. Một lúc sau vua buông thõng hai tay ngồi xuống lắc đầu, như để xua đuổi những bóng hình hư ảo. Gục đầu trên án thư, vua nghĩ đến những ngày thơ ấu là những ngày thanh thản chỉ biết rong chơi. Phụ thân của vua là người quen biết với vua Hùng thứ mười tám, quen nhưng không thân, bởi tính tình họ khác nhau gần như một trời một vực. Hùng Vương thì không lúc nào không đùa cợt, còn phụ thân của vua thì lại tự ái quá nhiều và hay tự quan trọng hoá mình. Khi nghe nói Hùng Vương có nàng Mỵ Nương đẹp tuyệt thế, ông đã cho người đến hỏi Mỵ Nương cho vua. Hồi đó vua đang là một người con trai chưa có chức phận gì. Hùng Vương nghe đâu đã cười ha hả mà trả  lời: “Nếu Thục huynh muốn cưới con gái yêu của ta thì phải đến đây nói chuyện với ta chứ! Ta đâu có thể nói chuyện này với một người mai mối!” Nghe đâu chỉ vì câu nói đó mà họ Thục đã nổi giận đùng đùng, cho rằng vua Hùng ỷ thế làm vua mà miệt thị bè bạn. Ông chứa chất căm hờn trong lòng cho nên đã chiêu tập binh mã, hùng cứ một bộ. Nghe tin vua Hùng gả con gái cho Sơn Vương, ông giận lắm, liền quyết chí đem quân về Phong Châu. Nhưng rồi vì lâm bệnh, họ Thục không tiến binh. Đến khi gần mất, ông gọi vua lại mà dặn:

– Này Phán, sau khi bố mất, con phải đem binh về Phong Châu đánh báo thù.

Vua theo lời di chúc của ông, cử binh đánh Phong Châu. Vua Hùng vì tin cậy quá nơi tài năng của chàng rể và sự yểm trợ của Long Vương nên đã thất bại. Binh tướng của Thục Phán đi đến đâu là quân binh của vua Hùng tan đến đó. Thục Phán tiến quân nhằm vào tháng bảy, trong khi Sơn Vương và Thuỷ Vương đang bận kịch chiến với nhau. Đây là lần kịch chiến thứ mười giữa Sơn Vương và Thuỷ Vương, xảy ra trong mười năm liên tiếp. Những cuộc chiến tranh anh em này đã làm hao tổn rất mau tiềm lực của nước Văn Lang… Sơn Vương bị bao vây trên núi, không đem quân tiếp viện cho Phong Châu được. Đến khi Thủy Vương rút lui thì Phong Châu đã mất. Vua Hùng vì thất vọng quá nhảy xuống giếng sâu mà chết.

Nắm được Phong Châu, Thục Phán lên ngôi vua, chấm dứt nhà Hùng, thành lập nhà Thục. Vua phải đi đánh trong tám tháng mới dẹp được phong trào kháng chiến của những người ủng hộ vua Hùng. Có những người đã tung tin rằng họ Thục là người nước ngoài, từ đất Ba Thục tận trên miền cực Bắc đem quân đội xuống xâm chiếm Văn Lang. Để chứng tỏ điều đó sai, Thục Vương đặt tên nước là Âu Lạc để chứng tỏ mình cũng là dòng giống tiên rồng, và duy trì pháp độ cũ. Vua cũng kén chọn người tài giỏi làm lạc hầu, lạc tướng, cũng gọi các con trai mình là quan lang và con gái là mỵ nương như ở chế độ cũ, cuộc đánh dẹp tuy gian nan, nhưng nhờ tài hành quân khéo léo, vua đã thành công, máu xương do cuộc chiến tranh gây ra đã làm u uất khung trời sáng sủa của nước Văn Lang mà bây giờ được gọi Âu Lạc. Những người chống đối vua, trong khi viết chữ Âu Lạc, thường không chịu viết chữ Lạc theo nghĩa chim Lạc mà lại viết chữ lạc theo nghĩa con thú hình thù quái lạ. Ban đầu vua muốn xây thành trì ở Việt Thường. Nhưng sau đó, nghe lời các lạc hầu vua liền dời đô lên Phong Khê, không xa với thủ phủ xưa của vua Hùng là mấy. Chính trên ngọn đồi cao ở Phong Khê mà vua muốn xây thành Ốc. Vua rất không muốn đóng thủ phủ tại Phong Châu, bởi vì bất cứ một ngọn cỏ hay lá cây nào tại  Phong Châu cũng gợi nên niềm hoài tưởng mười tám vị vua Hùng.

Tiếng một con gà gáy làm vua Thục ngửng đầu dậy. Trời đã tảng sáng. Vua đi rửa mặt, mặc áo, đi hài và ra ngồi ở đại sảnh.

Bỗng có người vào báo sứ giả dòng Sông Xanh đã tới và đang ngồi chờ tiếp kiến.

Vua hỏi sứ giả đến cách nào. Vị lạc hầu đáp:

kim quyLúc trời tờ mờ sáng thì người ta thấy một con rùa Vàng nổi trên mặt sông, từ phía Đông bơi lại. Rùa nói được tiếng người, tự xưng là sứ giả dòng Sông Xanh. Rồi rùa biến thành một ông già râu tóc bạc phơ. Quân hầu đã mời ông ta vào điện.

Vua truyền đón ông già vào, và kính cẩn mời ông ta ngồi trên sập ngự. Ông già nói:

Tôi là Kim Quy, người tay chân của Long Vương được lệnh lên đây giúp vua. Người ta gọi tôi là sứ giả dòng Sông Xanh. Xin nhà vua yên tâm. Thế nào thành Ốc cũng xây xong. Bây giờ ta hãy đi xem qua cho biết.

Vua và Kim Quy sánh vai ra khỏi cung điện. Họ tiến về phía thành Ốc đang xây lỡ dở. Tuy còn lỡ dở, nhưng thành ốc đã bắt đầu biểu lộ hình dáng vĩ đại của nó. Hai người đi lên đồi. Tới đâu, Kim Quy quan sát tới đó, và gật đầu lẩm bẩm một mình những gì không rõ. Cuối cùng, Kim Quy ngừng lại, nhìn vua, nói:

Thành này là một công trình lớn. Tôi chắc chính nhà vua đã nghĩ ra hình thái kiến trúc vĩ đại này. Điều tôi lo ngại là vua đã bắt dân chúng phục dịch và đóng góp nhiều quá. Điều đó rất không nên.

Nhưng nếu xây thành này không xong thì uy tín của triều đình cũng sụp đổ.

Tôi cũng nghĩ như vậy, nên sẽ tìm cách giúp vua tiết kiệm sức dân mà vẫn xây thành xong được như ý muốn. Sáng hôm nay, xin nhà vua cho tôi gặp những kiến trúc sư có nhiệm vụ điều khiển xây thành.

Cuộc họp mặt giữa thần Kim Quy và các kiến trúc sư được tổ chức ngay dưới chân thành Ốc. Kim Quy dùng một chiếc đũa vẽ những hình ngang dọc trên mặt đất để nói chuyện với những nhà kiến trúc. Rồi ông ta đưa những người này lên đồi. Họ dừng lại, đàm luận rất lâu ở những nơi mà hễ xây lên xong thì thành lại sập xuống. Kim Quy đi từ trái sang phải, từ phải sang trái, dùng một cây gậy dài để đo và chỉ trỏ. Rồi ông ta chỉ cách làm một đòn bẩy kiểu mới. Họ đàm luận cho đến chiều tối mới xong.

Khi Kim Quy về tới điện, thì vua Thục đang ngồi đợi cơm. Kim Quy nói:

Bắt đầu từ ngày mai, xin nhà vua chỉ cho giữ lại một nửa số dân phu để làm việc xây thành, còn một nửa số xin vua cho về quê quán làm ăn. Xin nhớ ban tặng thực phẩm, thuốc men và áo quần cho họ. Tôi xin cam đoan chỉ một nửa số dân phu còn lại cũng đủ để xây thành.

Ngày hôm sau, nghe lời Kim Quy, vua tổ chức một đàn chẩn tế vĩ đại ở dưới chân thành. Những tăng sĩ và bô lão trong nước được mời tới dự lễ cầu nguyện. Trên đàn có đủ các thứ xôi, cháo, khoai lang, hạt cốm … để cúng những oan hồn uổng tử chết trong cuộc chiến tranh và mấy trăm người phu chết vì tai nạn trong khi xây thành. Lệnh vua truyền ra là sau khi kết thúc lễ chẩn tế cầu nguyện cho người chết, thì bắt đầu cuộc chẩn tế cho người nghèo. Thực phẩm, thuốc men và vải bô được chất thành từng kho để dành tặng cho những gia đình nghèo khó nhất ở Phong Khê.

Một đêm, trong khi các vị tăng sĩ và bô lão đang tụng kinh cầu siêu cho vong linh những người tử nạn thì vua và thần Kim Quy hoá trang thành thường dân, hướng về núi Thất Diệu. Khi đến quán rượu, họ gõ cửa và tỏ ý xin ngủ trọ lại một đêm. Chủ quán tên là Ngộ Không từ chối:

– Trong quán này ma quỷ thường xâm nhập hò hét suốt đêm, quý khách không thể nào ngủ yên được đâu. Tôi xin dọn cơm rượu cho quý khách dùng, sau đó xin quý khách tìm nơi khác để an nghỉ.

Hai người nhất định ở lại, nói rằng họ không sợ ma quỷ. Chủ quán bất đắc dĩ phải dọn cho hai người một phòng sát phòng cô con gái điên của mình.

Lúc nửa đêm, vua nghe có tiếng gõ cửa gấp rút bên ngoài: hình như có rất nhiều yêu tinh quỷ mỵ đến quấy phá. Vua nghĩ không lẽ một cô gái điên mà có thể làm ra những âm thanh ghê rợn như vậy được, bèn nhìn Kim Quy để hỏi:

Kim Quy nhìn ra cửa nạt lớn:

– Không được quấy phá người ta như thế.

Nhưng tiếng đập cửa và tiếng hò hét vẫn tiếp tục không dứt. Hai cánh cửa bị sức đẩy mạnh từ bên ngoài đang kêu răng rắc sắp gẫy. Kim Quy liền làm phép phóng ra những tia lửa sáng rực. Các oan hồn không xâm nhập được. Ngồi trong phòng, vua vẫn bình yên. Hai cánh cửa vẫn còn kiên cố.

Cuộc quấy phá kéo dài suốt đêm. Đến khi hai người nghe tiếng gà gáy sáng, thì tất cả mọi âm thanh bỗng nhiêm im bặt. Kim Quy tung cửa chạy ra khỏi quán tìm đuổi. Vua cũng chạy theo. Hai người thấy trong màn sương khuya một tia lửa xanh bay vẹt về phía hông núi Thất Diệu và biến mất.

Ngày hôm đó, vua ra lệnh đào trên hông núi Thất Diệu. Thoạt tiên người ta tìm thấy một bộ xương người, và một nhạc khí đời cổ. Tiếp tục đào người ta phát giác hàng ngàn bộ xương người. Chắc chắn đây là một hố chôn tập thể những nạn nhân cuộc chiến tranh vừa xảy ra mấy năm về trước.

Vua truyền đem tất cả những bộ xương ấy, và nhạc khí đào được, rửa sạch đặt vào những chiếc hòm khiêng về trước đàn chẩn tế. Trong bảy đêm bảy ngày, thiên hạ cúng lễ, khóc kể và cầu nguyện. Những người chết này đều có thân nhân ở Phong Khê. Đến tối ngày thứ bảy các bộ xương và cây đàn cổ được đưa lên đàn để làm lễ hoả thiêu. Tất cả dân chúng Phong Khê đều đến dự lễ. Ông chủ quán núi Thất Diệu cũng có mặt trong đám người đi dự lễ. Ông ta kể với những người khác là đứa con gái của ông trưa hôm nay đang la hét như điên bỗng nhiên gục ngã xuống. Ông hoảng hồn đến nâng con dậy. Cô gái chỉ lả đi nhưng đôi mắt ngơ ngác như vừa tỉnh dậy sau một giấc ngủ thật dài. Từ đó, cô ta trở lại bình thường, không còn la hét mê sảng như trước nữa.

Hoả đàn bốc cháy. Thiên hạ đua nhau lấy trầm hương ném vào lửa và chấp tay cầu nguyện. Bỗng thấy từ trên khói một con chim trắng bay lên, bay cao mãi và mất hút trong mây xanh.

Sáng ngày hôm sau, cuộc chẩn tế cho người nghèo bắt đầu. Dân chúng trong nước nghe tin vua Thục, được sự ủng hộ của Long Vương, đang phóng thích tội nhân và làm việc phúc thiện thì bắt đầu có cảm tình với vua mới. Kim Quy nói với vua:

văn lang dị sửĐất nước là đất nước của toàn dân. Phải làm thế nào xoá bỏ hận thù giữa những người anh em thì mới có thể làm cho nước giàu dân mạnh. Xin vua ăn ở cho có nhân đức để toàn dân được nhờ. Điều gốc rễ nhất là phải tôn trọng sự sống của con người. Đừng để cho một ai chết oan. Hãy phá bỏ những sự bất công và áp bức. Như thế trong nước sẽ không có loạn lạc và nhà vua khỏi phải mất công đánh dẹp, sẽ không còn đổ máu. Cõi âm thanh thản thì cõi dương mới an hoà. Bổn phận của vua là lo cho cõi Dương, để dân chúng được thuận hoà và an cư lạc nghiệp.

Vua Thục lắng nghe lời của Kim Quy. Vua tự hứa sẽ làm theo lời ông dặn. Vua đặt vương hiệu là An Dương để tự nhắc nhở mình về trách vụ. An Dương Vương tuần thú trong các bộ, đi đến đâu an ủi và vỗ về trăm họ đến đấy. Vua truyền phóng thích các tội phạm, chia đất cho nông dân nghèo, ban dụng cụ nghề nghiệp cho dân đánh cá, dân dệt vải, và cho những người làm các ngành thợ khác. Vua lại khuyên dân chúng tự nhiên đến khai oan, và ra lệnh xét xử lại tất cả các vụ kiện tụng oan ức.

Tám tháng sau, khi trở về Phong Khê, vua ngạc nhiên thấy thành Ốc đã được xây dựng xong. Thật là một kỳ công của đất nước Âu Lạc. Từ xa, vua đã thấy thành cao sừng sững như hình ảnh cung điện mà một lần vua nằm mộng thấy. Mái cung điện trên đỉnh thành xoè ra như chín cái đầu của một con rồng lớn. Những toà nhà ngang dọc được trang điểm bởi những hình chim garuda và hình thiên nữ múa hát. Những tường lũy kiên cố chạy vòng từ chân thành lên tới đỉnh, quanh co theo đường trôn ốc, ngắt quãng bởi những pháo đài hình quả trám có nhiều cửa sổ trông ra bốn phía.

Phút chốc, An Dương Vương đã đến dưới cổng thành. Kim Quy đã đứng đợi vua tại đây để từ biệt:

– Thành đã xây xong, tôi xin từ giã.

Vua khẩn khoản mời Kim Quy ở lại, nhưng ông già từ chối nói rằng có việc ở thủy phủ phải về gấp.

Buồn bã, vua nói với thần:

– Ơn tri ngộ đối với quý nhân ta chưa hề được đền đáp trong muôn một. Việc nước là việc chung. Tuy thành đã xây xong, dân đã phủ dụ, nhưng còn bao nhiêu việc khác chưa thành. Ta nghe bốn phương có thể dấy động binh đao; trong trường hợp bị xâm lăng, chưa biết có cách nào để giữ nước cho vẹn toàn. Xin quý nhân dạy bảo.

Kim Quy nói:

– Sự an nguy của đất nước tùy ở đức trạch của nhà vua. Nếu vua biết tu nhân tích đức, lo cho mạng sống của dân như lo cho mạng sống của mình thì không lo gì mà ngôi báu không vững bền. Còn việc chống xâm lăng thì thời nào cũng phải tiên liệu. Dân chúng một lòng thì chẳng có cuộc xâm lăng nào thành tựu được. Đó là điểm chính. Tuy nhiên để giúp vua, ta xin tặng một vật mọn này.

Nói xong, Kim Quy cúi xuống tháo một móng chân của mình đưa ra cho vua và nói:

Đây là một cái móng chân của tôi, hình cong như hình dây cung. Chắc vua chưa biết thế nào là công dụng của một chiếc nỏ thần. Xin vua nhìn xem.

Kim Quy dương móng lên, nhắm vào một cây cao cành lá xum sê trước mặt mà bắn. Một âm thanh trong như chuông đồng vọng lên, tiếp theo là tiếng rào rào như mưa đổ. Nhìn ra An Dương Vương thấy tất cả lá trên cây đều đã rụng xuống đất, làm hiện ra những cành cây xương xẩu trơ trụi.

Kim quy nói:

Đây là một chiếc nỏ thần. Hễ giặc vào xâm lăng, lấy nỏ thần bắn thì giặc tan. Trong số các lạc hầu và lạc tướng dưới quyền nhà vua, tôi thấy có nhiều người có tài năng, ví dụ như tướng Cao Lỗ, người còn trẻ mà có nhiều tài ba. Tôi xin vua cho tướng Cao Lỗ việc nghiên cứu và sử dụng nỏ thần này.

Nói xong, Kim Quy từ biệt. Vua tiễn ông ra bờ sông. Kim Quy biến thành rùa vàng bơi trên mặt nước. Trước khi lặn xuống, rùa vàng còn ngóc đầu chào.

An Dương Vương cầm nỏ thần về cung, lòng vui mừng vì có được phương tiện giữ gìn bờ cõi.