23. Tý và Miêu trồng cho con chó một cây mận

Tý nhớ hồi ấy Miêu còn nhỏ quá; Miêu không thể thấy và hiểu được những điều đó. Hoặc có thấy thì Miêu thấy rất lờ mờ. Qua đất Pháp vài ba năm chắc Miêu sẽ quên. Nhưng Tý nghĩ rằng Tý không quên. Tý không muốn quên. Ðó là một điều làm cho Tý khác với Miêu, làm cho Tý khác với những trẻ con Tây cùng lứa tuổi với Tý. Bọn thằng Baptiste, thằng Justin và con Agathe, không thể nào hiểu được tình cảnh của các thiếu nhi bên xứ Tý. Tụi nó chưa hiểu được thế nào là đói khổ, thế nào là bệnh tật mà không có thuốc men. Khi tụi nó nghe nói mỗi ngày có tới hơn bốn mươi ngàn đứa trẻ chết vì đói lạnh và vì tật bệnh, không biết tụi nó có thấy được gì không. Tý thì Tý thấy. Cô Chín có nói rằng cái thấy của Tý làm cho Tý khác hẳn bọn trẻ con Tây phương, và vì vậy Tý hiểu được những điều mà cô Chín nói nhiều hơn tụi nó hiểu.
Ba nói sở dĩ Ba đưa gia đình vượt biên là vì hồi đó Ba ở vào một tình trạng nguy hiểm. Họ đã biết rằng Ba ngày xưa làm Trường Xã Hội. Công an đã đòi Ba tới tra hỏi nhiều lần. Ba nói bất đắc dĩ lắm Ba mới đưa gia đình vượt biển. Vượt biển nguy hiểm lắm. Với lại Ba không muốn sống xa quê hương, Ba không muốn Mẹ và các con của Ba sống xa quê hương, thất thểu trên đất khách quê người. Ba nói nghèo khổ Ba có thể chịu đựng được, nhưng nếu đi “học tập” và để Mẹ và các con của Ba bơ vơ bên ngoài thì Ba không thể chịu đựng được. Vì vậy mà Ba đã quyết định ra đi. Ra đi mà còn giúp được người ở nhà, điều này làm cho Ba vui. Ngày xưa ở Việt Nam, Ba đã làm việc xã hội trên mười năm. Ba nói hồi đó Ba cũng đã giúp khá nhiều trẻ em mồ côi, phần lớn là nạn nhân của chiến tranh. Với sự yểm trợ của cô Chín và các bạn của cô ở nhiều nước Tây phương, trường Xã Hội của Ba đã bảo trợ được gần mười ngàn trẻ em mồ côi dưới mười bốn tuổi. Các chú và các cô ở Trường Xã Hội đã giúp Ba làm công việc này. Ba nói hồi còn đi học, cô Chín cũng đã làm việc để giúp trẻ em đói rồi. Hồi đó cô mới chừng mười tám tuổi, và Tý còn chưa ra đời. Cô rủ các bạn cô đi xin gạo của nhiều nhà trong thành phố để nuôi các em đói ở những khu xóm lao động tồi tàn như Xóm Mả sau rạp Quốc Thanh, Xóm Bàn Cờ. Cô Chín cũng đã làm việc lâu năm với Ba trong Trường Xã Hội. Khi cô ra tới nước ngoài, cô đã tiếp tục vận động để yểm trợ cho Ba làm việc. Khi Trường Xã Hội bị đóng cửa, cô vẫn tiếp tục công việc giúp đỡ trẻ em, trong khi vì lý do an ninh, Ba phải bỏ Trường Xã Hội, đem gia đình về ẩn cư ở Thủ Ðức. Từ năm 1976, cô Chín đã thành lập một Ban Giúp Trẻ Em Ðói để tiếp tục gửi thuốc men và thực phẩm về giúp cho cả hàng trăm thiếu nhi. Cô còn tìm ra được những người trẻ tuổi và có lòng thương, rồi khuyến khích và hướng dẫn những người này lập nên những Tiểu Ban Giúp Trẻ Em Ðói khác. Hiện nay Ba nói, ngoài tiểu ban do Mẹ và chú Dũng phụ trách, còn mười bảy tiểu ban khác. Tiểu ban nào cũng làm việc theo phương pháp của Mẹ và chú Dũng. Ba lại cho Tý biết rằng đến mùa Hè này sẽ có nhiều người của các tiểu ban ấy về Làng Hồng để có dịp gặp gỡ nhau.
Ðiều làm cho Tý vui sướng lâu bền nhất là những cây mận mà Tý và Miêu đã trồng được ở Làng Hồng. Hôm lễ Giáng Sinh các cô các chú có cho Tý và Miêu nhiều đồ chơi và cả tiền ăn quà nữa. Hai anh em đã để dành tiền để trồng mận. Ba nói những cây mận này sẽ sống được cả một trăm năm. Chỉ trong vòng năm năm nữa là mận đã có trái. Những trái mận sẽ được sấy khô để xuất khẩu. Tiền mận bán được sẽ dùng để nuôi thiếu nhi đói ở quê nhà. Tý và Miêu mỗi đứa góp tiền trồng được hai cây mận. Tý và Miêu cũng góp tiền để trồng cho Chó Con một cây mận. Như vậy, ba anh em Tý tuy còn nhỏ mà đã đóng góp được vào công trình nuôi thiếu nhi đói ở quê nhà rồi. Ba và cô Chín cho biết là có rất nhiều đứa như Tý và Miêu rải rác ở Âu Châu và Mỹ Châu cũng đã để dành tiền túi gửi về nhờ trồng mận. Tại Xóm Hạ đã có gần ba trăm cây mận được trồng bằng tiền đóng góp của thiếu nhi Làng Hồng rồi. Ðất trồng mận đã do chú Dũng cày. Trước khi cày phải thuê người vỡ đất. Cây mận của thiếu nhi nào thì mang tên của thiếu nhi ấy, được in trên một tấm thẻ và buộc bằng một sợi thép treo ở thân cây. Tý và Miêu thường ra chăm sóc cho năm cây mận của ba anh em. Hai cây mang tên là Lê Hải Triều Âm, hai cây mang tên là Lê Thiều Quang và một cây mang tên Lê Nhật Tâm. Cô Chín nói đến mùa Hè khi làng mở cửa, thiếu nhi sẽ về chăm sóc các cây của họ. Ðứa nào không về được thì phải viết thư cho Ba hay cho chú Dũng nhờ săn sóc giùm cây mận của mình. Ngoài những cây mận do thiếu nhi đóng góp mà trồng lên, Ba và chú Dũng còn trồng thêm mấy trăm cây mận khác để sau này làm quỹ tự túc của Làng Hồng. Như vậy là tại làng sẽ có cả ngàn cây mận. Sư Ông nói đến mùa Xuân, mận sẽ nở hoa trắng xóa cả làng, đẹp lắm. Ba nói cũng bởi vì Làng Hồng trồng nhiều mận cho nên đối với người ngoại quốc, làng sẽ được đặt tên là Village des Pruniers.
Tý mong chờ đến ngày mận có trái để các bạn thiếu nhi đói ở Việt Nam chóng được nhờ. Năm năm thì lâu quá. Nhưng Ba nói năm năm đi qua rất mau. Tý không thấy thời gian đi mau như Ba. Mỗi khi ăn Tết xong, Tý đợi cả mấy thế kỷ mà Tết vẫn chưa thấy tới. Bây giờ là tháng hai tây. Tháng bảy thì làng mở cửa và bọn con nít Việt Nam sẽ về làng. Chỉ cần đợi có năm tháng mà thôi. Nhưng năm tháng cũng đã lâu, huống hồ là năm năm. Tý đem ý tưởng đó ra nói với Ba. Ba bảo: “Con đừng đợi chờ thì năm năm sẽ qua một cái rụp.” Tý hé thấy sự thật nơi Ba nói. Bởi vì mỗi khi mình chờ đợi một cái gì, thì thời gian chờ đợi lại tự nhiên kéo dài thêm lên.

21. Chú Dũng chạy nhanh như thỏ

Sáng hôm sau, Sư Ông đưa Tý xuống chơi ở Pháp Thân Tạng. Pháp Thân Tạng  là một triền đồi có cây chen lẫn với đá ở Xóm Thượng. Sư Ông và Ba, hai người đều rất ưa Pháp Thân Tạng. Những lần lên Xóm Thượng, Tý hay thấy Sư Ông và Ba đứng nói chuyện dưới Pháp Thân Tạng rất lâu. Trên Xóm Thượng có bốn ngôi nhà, vách xây bằng đá. Ngôi nhà thứ nhất có nhà bếp, nhà khách, nhà tắm và phòng ngủ. Lại cũng có tầng lầu bốn phòng. Hồi hôm Sư Ông và Tý đã ngủ ở một trong bốn phòng ấy. Ngôi nhà thứ hai có thiền đường, mới được trang bị. Ngôi nhà thứ ba và ngôi nhà thứ tư chưa được tu bổ gì cả, nhưng Ba nói là sang năm Ba sẽ tìm cách xây một cái gác trên ngôi nhà thứ ba để làm Tàng Kinh Lâu nghĩa là tầng lầu để chứa Ðại Tạng Kinh mà Sư Ông sẽ mang tới. Tý và Miêu đã được Sư Ông đưa đi khắp nơi ở Xóm Thượng. Có một con đường men theo chân đồi, vòng quanh cả xóm và dẫn đường về Pháp Thân Tạng. Sư Ông nói vào mùa hè, con đường này mát lắm, bởi vì trên đầu mình luôn luôn có cành lá bao phủ. Sư Ông ưa đi thiền hành trên con đường này. Mỗi sáng Sư Ông đều có đi thiền hành. Ba nói đi thiền hành là vừa đi vừa thở, vừa đi vừa quán niệm.
Cô Chín nói là phải dọn dẹp và chuẩn bị rất nhiều thì đến tháng bảy Làng Hồng mới mở cửa được. Ít lâu nay, có mấy người thợ hồ và thợ mộc trong làng tới giúp Sư Ông và Ba sửa chữa lại các căn phòng ở Xóm Hạ và Xóm Thượng. Họ đã làm xong hai cái thiền đường, một cái ở Xóm Hạ và một cái ở Xóm Thượng. Thiền đường ở Xóm Hạ rộng lắm, có thể có đủ chỗ cho một trăm người ngồi. Thiền đường ở Xóm Thượng thì nhỏ nhưng đẹp. Ở Xóm Hạ, bên cạnh thiền đường, Ba và chú Dũng đã trang bị được một phòng để làm thư viện. Mấy tháng trước đây, thiền đường chỉ là nơi chứa rơm; ở đấy Tý đã bắt được con mèo con.
Tý thường gặp Sư Ông và Ba đứng nói chuyện với nhau ở nhiều địa điểm trên Xóm Thượng cũng như ở Xóm Hạ. Chắc là những lúc ấy, Sư Ông và Ba đàm luận về cách thiết trí Làng Hồng. Có một độ, Ba, chú Dũng và cả Sư Ông nữa, lo đào đất và trồng cây tùng ở cả hai xóm. Trên Xóm Thượng, ba người đã trồng được sáu cây tùng lọng (ở đây người ta gọi là pin parasol). Ba nói những cây tùng này khi lớn lên sẽ xòe tàng ra như những cái lọng để che nắng cho người đứng dưới. Ngoài tùng lọng còn có tùng đại tây (ở đây người ta gọi là cèdre atlantique), tùng thiên thọ (ở đây người ta gọi là cèdre déodara) và tùng bút (ở đây người ta gọi là cyprès sempervirens). Ba còn trồng một số cây hồng trái (kaki) ở cả hai xóm nữa. Ba nói ngày xưa ở Việt Nam đã có lúc Ba sắp làm một Làng Hồng trên miền cao nguyên rồi, và ở đó Ba đã dự tính trồng toàn cây hồng trái. Sở dĩ Ba trồng cây hồng trái ở đây cũng vì Ba muốn nối lại công trình ngày xưa.
Ở Pháp Thân Tạng có rất nhiều hang thỏ. Có một lần đi ngang qua Pháp Thân Tạng, Tý và Miêu gặp một đàn thỏ rất đông. Thấy Tý và Miêu, chúng chạy trốn rất mau lẹ. Miêu nói có thể có đến mười mấy con. Tý nghĩ rằng tại Pháp Thân Tạng ít ra cũng có chừng năm mươi chú thỏ cư trú. Bọn thỏ có vẻ hiền. Tý đã từng ao ước được ôm trên tay một con thỏ và đút lá xà-lách cho nó ăn. Thỏ chạy mau lắm, Tý không tài nào rượt theo nó được. Ấy vậy mà có lần chú Dũng rượt theo và bắt được một con thỏ đem về cho Tý. Hôm ấy trời nắng và chú Dũng đang cày ở Xóm Hạ. Bỗng nhiên chú thấy một con thỏ giữa những luống cày. Chú dừng máy cày lại, leo xuống, rượt theo con thỏ. Chú bắt được con thỏ. Khi chú ẵm thỏ về, Tý và Miêu reo lên, quấn quýt bên thỏ. Nhưng con thỏ có vẻ sợ sệt. Tý cho gì nó cũng không chịu ăn. Nó vùng vẫy không ngớt trên tay Tý. Chú Dũng mới bỏ thỏ vào một cái thùng giấy và để hở một nắp thùng ở trên. Bây giờ thỏ mới nằm yên. Tý lấy các thứ lá ngon bỏ vào thùng. Thỏ vẫn nằm yên trong góc thùng. Mấy giờ đồng hồ sau trở lại thăm, Tý vẫn không thấy thỏ ăn. Thỏ có vẻ buồn rầu và lo lắng. Chiều hôm đó có cô Chín tới. Tý khoe với cô Chín con thỏ, và kể cho cô Chín nghe về chuyện con thỏ không chịu ăn lá xà-lách. Cô Chín nói với Tý là con thỏ chưa bao giờ bị bắt như vậy và do đó nó buồn bã, sợ sệt và không có lòng dạ nào để ăn. Cô đề nghị là nên đem nó về chỗ cũ và thả nó đi. Như vậy mới làm cho nó hết sợ và hết buồn. Trở về nếp sống quen thuộc của nó, nó mới thật sung sướng. Tý suy nghĩ rồi Tý đồng ý với cô. Hai cô cháu mang thỏ ra ruộng. Tý đặt thỏ xuống giữa hai luống cây và lùi ra chừng ba thước. Cô Chín cũng vậy. Nhưng thỏ không chạy. Nó ngồi yên bất động. Tý lạ quá. Tại sao thỏ không chạy đi? Tý thấy thỏ bắt đầu gặm mấy cái lá cỏ gần đấy. Ðột nhiên nó vụt chạy về phía rừng, mau như một mũi tên bắn. Cô Chín nói rằng khi mới được thả ra, con thỏ sở dĩ chưa chạy tại vì nó còn đang ngạc nhiên về sự tự do đột ngột của mình.
Tại Pháp Thân Tạng có nhiều dây leo buông thõng xuống từ những cây cao. Tý và Miêu có thể bám lấy các sợi dây này và đu qua một cái hố nhỏ rộng chừng ba bốn thước, vừa đu vừa hét giống như Tarzan vậy.
Sư Ông chỉ cho Tý thấy những khóm cây và những tảng đá đẹp ở Pháp Thân Tạng rồi nói với Tý:
– Mùa hè này mình sẽ treo thật nhiều võng ở đây để ngồi. Con biết không, buổi trưa sẽ nóng lắm và ngồi võng ở Pháp Thân Tạng thì rất mát.
Tý chưa tưởng tượng được cái nóng ở Xóm Thượng và Xóm Hạ. Từ ngày về đây, Tý chỉ thấy lạnh và lạnh.
Trưa hôm ấy Sư Ông trao cho Tý cuốn Am Mây Ngủ bởi Sư Ông biết Tý ham đọc sách. Tý mừng lắm. Tý lại ngồi gần lò sưởi và khởi sự đọc. Ðọc tới chỗ Công Chúa Huyền Trân nói chuyện với chú tiểu Pháp Ðăng thì Tý nghe tiếng Sư Ông gọi. Cơm trưa đã được Sư Ông nấu xong. Hai ông cháu đặt bàn và bày các món ăn lên. Hôm nay Sư Ông dạy Tý ăn im lặng. Hai người không nói với nhau lời nào trong suốt buổi cơm. Tuy vậy, Tý không cảm thấy không khí nặng nề. Trái lại, Tý thấy sự im lặng rất nhẹ nhàng và dễ chịu. Hai ông cháu thong thả ăn; thỉnh thoảng Sư Ông lại gắp thức ăn bỏ vào chén cơm của Tý. Tý nghe tiếng củi nổ lép bép trong lò sưởi. Tý thoáng ngửi thấy mùi củi thơm. Tý có cảm giác là mình đã hết buồn vì chuyện con dê con.
Tý ăn cơm trưa xong thì xe cô Chín từ Xóm Hạ lên. Cô Chín lên đón Tý về nhà. Tý vào chắp tay chào Sư Ông. Sư Ông nhắc Tý đem theo về cuốn Am Mây Ngủ. Rồi Sư Ông đưa Tý ra xe hơi và chắp tay chào Tý.
Về tới nhà, Tý thấy Ba và Mẹ đang làm những bưu kiện thuốc tây để gởi về cho các trẻ em đói và bệnh ở quê nhà.

20. Tý giao đất nước cho ai

Lâu quá không viết thơ và làm bài bằng tiếng mẹ đẻ nên Tý viết cho Ngữ rất cực nhọc. Hồi còn ở nhà có khi nào Tý viết quốc văn cực nhọc như đêm nay đâu. Tý cứ cắn bút hoài. Tý biết là đứng về phương diện hành văn quốc ngữ, lâu nay Tý đã không có tiến bộ đã đành, Tý còn tệ hơn trước là khác. Tý tự nhủ từ đây mình phải trau dồi tiếng mẹ đẻ. Ðọc sách tiếng Việt thì lâu nay Tý vẫn đọc nhưng viết thơ làm văn thì từ gần một năm nay Tý chẳng có dịp. Sư Ông dặn phải viết thơ cho đều. Viết cho Ngữ đã đành, nhưng còn phải viết cho bà Ngoại, cho dì Sương và cho cậu Ứng nữa. Tý nghĩ là mình phải nghe lời Sư Ông, nếu không sau này Tý sẽ không viết được Việt văn trôi chảy. Ðiều đó sẽ làm cho Ba, Mẹ và Sư Ông buồn lắm. Tý viết cho Ngữ về cuộc vượt biển của Tý. Rồi Tý viết về đời sống ở trại Palawan ở Phi. Tới đây, Tý thấy buồn ngủ. Tý viết: “Thôi, tao buồn ngủ rồi, để thơ sau tao sẽ kể tiếp cho mày. Bạn thân của mày, Tý.”
Nhìn sang bàn Sư Ông, Tý thấy Sư Ông vẫn còn ngồi viết. Thỉnh thoảng Sư Ông ngừng lại để nhìn đầu mấy ngón tay của bàn tay cầm bút. Tý nhè nhẹ bỏ bút, rút về giường. Sư Ông đã kê một tấm nệm làm giường cho Tý ở phía tường. Giường của Tý và giường của Sư Ông châu đầu vào nhau. Tý nhè nhẹ cởi bớt áo, vén mền nằm vào giường mình. Sư Ông đã dặn nó là khi nào muốn ngủ thì cứ lẳng lặng một mình đi ngủ trước.
Tý tưởng là Tý sẽ ngủ ngay lúc đó. Ai ngờ nằm hoài mà Tý cũng chưa ngủ được. Tý nhớ tới Ngữ. Sư Ông đã làm cho Tý nhớ tới Ngữ. Tý thấy tội nghiệp cho Ngữ quá. Ba của Ngữ đi học tập ngoài Bắc, sáu năm mà chưa được về. Má của Ngữ phải tảo tần mua bán để nuôi Ngữ. Bác mở một quán cà phê nhỏ ở ngay trước nhà, trong đó bà bán sương sáo, sương sa, nước cam và các loại “cốc tay” trái cây như đu đủ, mận, chuối… Ngày xưa, hồi ba Ngữ còn ở nhà thì không đến nỗi nào. Bây giờ má Ngữ phải bán từ từ những đồ đạc trong nhà để bù vào vốn liếng thường hay thâm thủng. Má Ngữ đã bán cả tủ chè và cả bộ ván gõ. Bây giờ nhà chỉ còn cái tủ lạnh và cái máy truyền hình. Hai thứ này rất cần cho quán cà phê của bà. Tủ lạnh để làm nước đá và để cất giữ trái cây. Máy truyền hình là để cho khách hàng xem. Tại trường, Tý chơi thân với Ngữ, nhưng hai đứa cũng có chơi với bọn thằng Nghị, thằng Nguyên, thằng Thanh, thằng Nghiệp và thằng Ngân. Lạ quá, tụi nó phần lớn đều có tên bắt đầu bằng Ng. Cả Ngữ nữa. Tại sân trường, tụi Tý chơi trò rượt bắt, chơi trò năm mười, chơi trò rồng rắn. Chơi trò rồng rắn phải có ít nhất mười đứa mới vui. Ðây là một trò chơi rất nhộn. Bọn trẻ con ôm bụng nhau thành một hàng dài như con rồng, thằng đứng đầu là đầu rồng, thằng đứng cuối là đuôi rồng. Con rồng mẹ đi tìm thầy thuốc để xin thuốc về cho rồng con. Một đứa đứng riêng làm ông thầy thuốc, đối diện với đầu rồng.
Thầy thuốc hỏi  : Rồng rắn đi đâu ?
Ðầu rồng trả lời : Rồng rắn đi xin thuốc cho con
Thầy thuốc        : Con lên mấy ?
Rồng                  : Con lên một
Thầy thuốc        : Thuốc chẳng hay
Rồng                 : Con lên hai
Thầy thuốc        : Thuốc chẳng hay
Rồng                  : Con lên ba
Thầy thuốc        : Thuốc chẳng hay
Cho đến khi rồng trả lời : Con lên mười.
thì thầy thuốc nói : Thuốc hay vậy.
Và nói thêm : Xin khúc đầu
Rồng trả lời : Xương cùng xẩu
Thầy thuốc  : Xin khúc giữa
Rồng           : Máu cùng me
Thầy thuốc  : Xin khúc đuôi
Rồng           : Tha hồ mà đuổi.
Khi rồng nói xong câu “tha hồ mà đuổi” thì anh chàng làm thầy thuốc bắt đầu tìm cách rượt bắt cho được anh chàng làm đuôi rồng. Anh chàng đuôi rồng trong khi vẫn ôm bụng người đứng trước, cố chạy lùi để tránh trong khi anh chàng làm đầu rồng cố sức chặn ông thầy thuốc lại. Trong lúc đó mọi người reo hò vang dội, nhất là những người đứng xem. Nếu thầy thuốc túm được đuôi rồng thì thầy thuốc thắng. Nếu bị mình rồng cuốn chặt lại thì thua.
Nhớ lại trò chơi đó, Tý như còn nghe cả tiếng la hét nô đùa vang dội của tụi nhỏ ở sân trường. Ðã có lần Tý làm đầu rồng. Ở đây, bên Pháp, làm gì có đông con nít mà chơi trò rồng rắn. Cô Chín nói tháng bảy này có thể có hai ba chục thiếu nhi Việt Nam về. Tý tự bảo nếu có được từng đó đứa, thế nào Tý cũng đề nghị chơi trò Rồng Rắn.
Ở trường Tý, nổi tiếng nhất về nghịch ngợm là bọn thằng Lực và thằng Vũ. Tụi nó chơi nhiều trò động trời như lấy bùn trét vào ổ khóa hoặc lấy trái mắt mèo xát vào ghế ngồi của những đứa khác. Có khi chúng xát cả trái mắt mèo vào bàn thầy giáo và cô giáo. Trái mắt mèo ngứa lắm. Ðộng tới là gãi cả ngày. Hai cô giáo của Tý là cô Duyên và cô Ðào đều đã từng bị chúng phá bằng trái mắt mèo.
Tại sân trường, trước giờ vào học và trong giờ ra chơi, có người bán cà-lem đậu xanh, trái cóc, khoai luộc, chuối chiên và trái chùm ruột. Có khi người ta bán cả những con dế sống để bọn học trò mua đá với nhau. Tụi nó cho dế uống rượu để chúng đá với nhau, gẫy cả càng, sứt cả râu. Ngữ và Tý chẳng ưa trò chơi đó. Còn quà thì Tý ưa trái chùm ruột và cà rem đậu xanh. Khi có tiền, Tý mua cho mình và cho Ngữ. Khi Ngữ có tiền, Ngữ cũng mua cho Tý.
Hồi chiều, Sư Ông có hỏi Tý một câu làm cho Tý rất băn khoăn. Sau khi Tý tả cho Sư Ông nghe về Ngữ và nói rằng Ngữ là một đứa con trai hiền lành, trung thực và thông minh thì Sư Ông hỏi Tý:
– Con có mong trở về sống ở Việt Nam không?
Tý đáp:
– Dạ có.
– Vậy thì con phải suy nghĩ cho kỹ. Thằng Ngữ bạn con, nếu sang được đây thì con sẽ sung sướng rồi. Nhưng nếu những thằng dễ thương như nó mà bỏ nước đi hết thì còn ai ở lại để giữ nước Việt Nam cho nguyên vẹn đến lúc con về? Con có thể giao quê hương của con cho những thằng như thằng Hảo, thằng Lực, thằngVũ hay không? Giao đất nước cho chúng thì còn đâu đất nước mà về sau này?
Nghe Sư Ông nói như vậy, Tý rất băn khoăn. Ðúng rồi. Phần lớn tụi nó ưa gây lộn, nói láo và lừa gạt lẫn nhau. Những đứa như Ngữ hiếm lắm. Giao đất nước cho tụi lỗ mãng và du côn sao được. Nhưng nghĩ rằng nếu tình thế kéo dài rồi mình sẽ chẳng bao giờ gặp lại Ngữ, Tý thấy như đau nhói trong lòng. Nó không biết trả lời ra sao lúc đó. Sư Ông nhìn nó rồi bảo: “Con không cần phải trả lời Sư Ông ngay bây giờ. Con cứ suy nghĩ kỹ đi, rồi vài tuần sau trả lời Sư Ông cũng không muộn.”
Nằm trên giường, Tý nghĩ đến Ngữ. May cho Tý là Tý không cần phải quyết định ngay bây giờ. Tý còn cả mấy tuần lễ nữa để suy nghĩ. Tý ra đi nhưng Ngữ còn ở lại thì cũng như một phần của Tý còn ở lại quê nhà. Sáng mai Tý sẽ xin Ba tem và bì thơ để gởi lá thư vừa viết cho Ngữ. Ngữ được thơ Tý chắc mừng lắm. Ngữ sẽ đem thư của Tý khoe với bác Nga, má của Ngữ. Tý thấy trong óc hình ảnh quán cà phê của bác Nga. Rồi Tý ngủ thiếp đi cho tới sáng.

19. Chú Dũng ăn cơm tây với dì Marie Thérèse

Một buổi trưa thứ bảy đi học về, Tý chạy ra thăm hai mẹ con con dê mà Tý buộc ở gần giếng nước thì không thấy chúng ở đó. Tý ngạc nhiên. Tý nghĩ là Ba, Mẹ hoặc chú Dũng đã dời chúng đi một nơi khác có cỏ ngon hơn. Cỏ độ rày hiếm lắm; trời lạnh, cỏ mọc không được. Tý thường hay buộc dê ở gần những bụi ngái (ronces), bởi vì dê ưa ăn lá và đọt cây này lắm. Cây ngái này mọc ra từng bụi, có những cọng vươn dài, đầy gai, có khi dài tới hai ba thước. Mùa đông, dây ngái vẫn lên.
Tý còn chưa tìm ra được con dê thì Miêu đã ra gọi Tý về ăn cơm trưa. Trưa nay, Me làm món bí rợ hầm với đậu xanh ngon lắm. Ðến phiên Miêu quán niệm trước bữa ăn. Miêu chắp tay. Mọi người chắp tay. Miêu chậm rãi nói: “Hôm nay, quanh bàn ăn có Ba, có Mẹ, có chú Dũng, có anh Hai, có Chó Con, con được ăn cơm có canh bí rợ rất ngon do Mẹ nấu, con nghĩ tới những bạn trẻ ở Việt Nam. Con lạy Bụt cho mọi đứa trẻ như con hôm nay cũng đều có cơm ăn như con. Con xin cám ơn Bụt.”
Hôm nay, trong khi quán niệm, Tý không được chăm chú lắm. Trí tưởng của Tý hơi chạy bông lông. Tý thấy con mèo nhỏ đang ngồi chễm chệ trên tủ chè, mắt lim dim như là nó đang nghe Miêu nói. Tý nghĩ hai con mèo và hai con dê cũng là những sinh vật thân thiết trong gia đình. Chúng làm cho đời sống hằng ngày của Tý và Miêu thêm vui. Có thể trong khi quán niệm, mình cũng có quyền nhắc tới chúng.
Giữa bữa ăn, Ba nói dì Marie Thérèse muốn mời hai anh em Tý sáng thứ tư tuần sau tới dự lễ sinh nhật của thằng Baptiste tại nhà nó, ở lại ăn cơm trưa rồi chiều dì sẽ chở về. Ba bảo Ba đã nhận lời. Ba muốn cho Tý và Miêu có dịp chơi đùa và nói chuyện với trẻ con Tây để tập nói tiếng Pháp cho mau giỏi. Tý và Miêu ít ưa tới nhà Tây để chơi lắm. Hai đứa chỉ ưa về nhà chơi với nhau mà thôi. Ở nhà có Ba, có Mẹ, có chú Dũng, có Chó Con, vui hơn nhiều. Lại có những đống cát cao lù lù phía giếng, hai anh em tha hồ chơi và moi cát làm thành những con đường hầm bí mật thông nhau. Tý và Miêu thấy mình chơi với Tây không sướng. Tuy nhiên, hai đứa phải nghe lời Ba.
Hình như chú Dũng cũng không ưa chơi với Tây. Chú kể chuyện là hồi chú mới về, cô Chín cứ ưa gởi chú tại nhà dì Marie Thérèse để chú luyện Pháp văn. Hồi đó Mẹ chưa sinh Chó Con, và Tý còn đang ở trại tạm cư Strasbourg. Một hôm cô Chín chở chú tới nhà dì Marie Thérèse rồi bỏ chú lại đó. Hồi đó tiếng Tây của chú còn yếu hơn bây giờ nhiều lắm. Một mình chú phải nói chuyện và phải trả lời bao nhiêu câu hỏi của chú Francois và của dì Marie Thérèse. Ðến bữa ăn, họ đâu có cho chú ăn cơm. Họ cho ăn một món gì lạ lắm. Lá tỏi tây (poireaux) xắt nhỏ ra, trộn với trứng gà rồi đem bỏ lò. Chú chẳng nuốt được mấy miếng cho nên bụng đói meo. Ấy vậy mà còn phải ngồi moi chữ Tây trong óc để trả lời những câu hỏi của chú Francois nữa. Chiều hôm đó, sau khi cô Chín tới chở chú về nhà thì vừa gặp lúc chú Charles và các dì Anne Marie và Marie Paule chở một xe tủ bàn tới. Chú Dũng phải khiêng rất nặng trong khi bụng chẳng có hột cơm nào. Mãi đến tối mịt khi người ta ra về hết chú mới được ăn bún thang do cô Chín nấu. Trời lạnh, bụng đói, chú ăn luôn ba tô bún thang.
Giữa bữa ăn Tý nhớ tới hai mẹ con con dê và Tý hỏi Ba xem Ba đã đem dê đi cột ở đâu. Mẹ nói Ba đã cho chú Charles hai con dê rồi. Tý tưởng Mẹ nói đùa. Nhưng Ba đã nghiêm nét mặt. Ba nói:
– Sáng hôm nay hai con dê đã nhổ cọc lên và chạy lung tung. Chúng đã ăn trụi nhiều cây Ba và chú Dũng mới trồng. Chúng ăn trụi luôn cả cây hồng dòn mà cô Nga bên Mỹ gửi tặng. Thấy hai con dê làm hại quá cho nên nhân dịp sáng nay có chú Charles và dì Anne Marie tới, Ba đã năn nỉ họ đem về nuôi giúp rồi. Ba đã cho đứt họ hai mẹ con dê.
Mọi người im lặng ăn, không ai nói lời nào. Tý nghẹn, không nuốt được miếng cơm trong cổ. Tý buông đũa xuống. Miệng Tý mếu, nhưng Tý không dám khóc thành tiếng. Nước mắt chảy cả vào cơm.
Tý không ăn được nhưng cũng không dám bỏ đũa đứng dậy. Tý biết rõ là mình đã làm cho mọi người ăn mất ngon, nhưng Tý không có cách gì khác. Nó không thể không buồn và không khóc. Tý đã thương con dê con quá rồi. Nó biết từ nay mỗi buổi chiều đi học về nó sẽ không còn chạy ra chơi với dê nữa. Nó sẽ không còn cho dê ăn trong lòng bàn tay của nó. Nó sẽ không còn ôm đầu dê vào lòng để vuốt ve. Nó sẽ không còn đưa đầu gối của nó cho con dê húc. Ðộ rày, hai cái sừng của con dê con đã mọc lên khá cao và khi nó húc, đầu gối của Tý đã hơi đau đau. Nhưng Tý rất thích cái cảm giác hơi đau đau ấy, cái cảm giác gây nên do cái đầu dễ thương của con dê nhỏ. Mẹ nói:
– Thôi, để mình đi xin lại con dê con cho nó.
Ba im lặng. Tý biết một khi Ba đã quyết định về một điều gì rồi thì khó mà làm Ba thay đổi ý kiến lắm. Mẹ không dám nói nữa. Có khi Mẹ cũng sợ Ba như Tý và Miêu sợ.
Chiều hôm ấy có Sư Ông đến chơi. Nghe chuyện Tý mất con dê, Sư Ông cũng buồn lắm. Sư Ông mời Tý lên Xóm Thượng ở lại với Sư Ông một đêm, và hứa sẽ kể cho Tý một chuyện đời xưa. Tý nói với Mẹ. Mẹ bảo Tý lên xin phép Ba. Ba bằng lòng.
Tối hôm đó ở Xóm Thượng, Sư Ông tự tay nấu cơm đãi Tý. Có món đậu hủ chà bông. Có món su le xào. Lại có món phô mai kho. Trước khi ăn cơm, Sư Ông dạy Tý một phép quán niệm mới, không cần dùng lời. Chỉ cần chắp tay, thở ra và thở vào ba lần, thật sâu và thật nhẹ, trong khi biết rõ là mình đang ngồi đó, trước mâm cơm. Quán niệm theo kiểu này tuy lâu một chút nhưng rất dễ làm, và trong khi làm, Tý cảm thấy khỏe và vui trong lòng.
Tý ngồi nói chuyện với Sư Ông trước lò sưởi. Sư Ông và Tý đã khiêng bỏ vào dưới ống khói một gốc cây thật lớn. Gốc cây này đã cháy cả đêm mà không hết. Bên gốc cây ấy còn có nhiều khúc củi nhỏ. Củi nổ lép bép. Sư Ông rót cho Tý một ly nước trà và hỏi Tý về chuyện con dê. Tý lại rơm rớm nước mắt. Sư Ông nói thứ bảy tuần sau đi thăm chú Charles, Sư Ông sẽ đưa Tý đi theo để Tý thăm con dê con của Tý. Sư Ông nói nếu Tý muốn thì lâu lâu hai ông cháu lại sẽ đi thăm con dê con một lần. Nhà chú Charles ở cách nhà Tý khoảng năm mươi cây số.
Lạ quá, nghe Sư Ông nói chuyện, Tý thấy bớt buồn rất nhiều. Sư Ông hỏi Tý tại sao Miêu đã không buồn khi nghe tin Ba đã cho chú Charles con dê con. Tý nói có lẽ vì Miêu không thương con dê con bằng Tý. Sư Ông nói Miêu có nhiều tình cảm, nhưng Miêu quan tâm đến chuyện hiện tại hơn chuyện đã qua. Tý nghĩ là Sư Ông nói đúng. Có lần cô Chín chở hai anh em Tý đi thăm một người bạn ở Miramont. Ngồi trên xe chỉ có Tý trả lời cô Chín và góp ý với cô về những chuyện có liên hệ tới ngày xưa ở Việt Nam. Miêu không có ý kiến gì cả. Trái lại, Miêu cứ hỏi cô Chín tía lia về những cái Miêu thấy hai bên đường. Ðúng là Miêu chỉ chú ý tới hiện tại.
Sư Ông hỏi thăm Tý về đời sống ở quê nhà. Tý nói cho Sư Ông nghe về quê ngoại ở xã Phú Hưng, về dì Sương, về anh Tửng con của cậu Năm. Sư Ông cũng hỏi về ngôi nhà của Tý ở Cầu Tre và ngôi nhà sau này của Tý ở Làng Báo Chí Thủ Ðức. Rồi Tý kể cho Sư Ông nghe về thằng Ngữ, đứa bạn thân nhất của Tý ở Việt Nam.
Sư Ông hỏi Tý rất nhiều về Ngữ. Sư Ông hỏi tại sao Tý lại thân với Ngữ hơn hết trong số các bạn ở trường. Tý cố tìm cách để nói cho Sư Ông hiểu nhưng khó quá. Khi người ta thương là người ta thương, nói lý do tại sao mình thương thì thật là khó quá. Nhưng Tý cũng cố gắng tìm ra vài lý do. Ví dụ tại vì Ngữ không bao giờ thất hứa với Tý. Tại vì Ngữ không thô tục như nhiều đứa khác. Tại vì Ngữ không bao giờ gây lộn với ai. Tại vì Ngữ… hạp với Tý. Sư Ông cười. Sư Ông thêm: Cũng tại vì con và Ngữ hai đứa hiểu nhau phải không? Tý gật. Tý nói với Sư Ông: một trong những mơ ước lớn của Tý là Ngữ có thể vượt biển qua đây với Tý. Sư Ông bảo Tý nên viết thơ cho Ngữ. Tý đi đã gần hai năm trời mà chưa viết thơ về cho Ngữ, đó là một điều làm cho Sư Ông ngạc nhiên. Khi người ta là bạn thân với nhau, người ta trông tin nhau. Sư Ông bảo tối nay trước khi đi ngủ, trong khi Sư Ông viết sách thì Tý đi viết thơ cho Ngữ, “viết thơ cho người bạn thân nhất của mình.” Tý dạ.
Ðêm ấy hai ông cháu lên phòng, đốt lò sưởi điện. Sư Ông trao cho Tý một cây bút và vài ba tờ giấy trắng.

18. Ba té xuống hồ nước

Mấy tuần lễ đầu, sau khi dọn về nhà mới, Mẹ chỉ nấu ăn bằng lò củi. “Nấu bằng lò củi vừa ấm vừa đỡ tốn gaz,” Mẹ nói. Giá tiền một bình gaz là sáu mươi tám quan; Mẹ không muốn xài phí như thế. Nhờ vậy mà trong những giờ nấu ăn, nhà bếp rất ấm. Nhưng lò củi đốt rất tốn củi. Muốn cho lò đủ nóng để sôi cơm sôi canh, Mẹ phải đốt lò nóng đến mức tối đa. Mỗi thước củi người ta bán tới hai trăm đồng, gần bằng giá ba thùng gaz. Vào những ngày nghỉ học, Tý và Miêu hay đi kiếm củi giúp Mẹ. Nhưng củi của hai đứa kiếm được chỉ là những cành khô và mục, đốt mau tàn lắm. Vì vậy Ba và chú Dũng quyết định đi mua một cái cưa máy, gọi là cưa sên. Gọi như vậy là vì cưa có một sợi dây sên tương tợ như sợi sên xe đạp. Người Pháp gọi thứ cưa này là troconneuse. Cưa này được dùng chuyên môn để đốn cây làm củi. Cái cưa sên của Ba và chú Dũng mua tốt lắm. Với cây cưa ấy, Ba và chú Dũng đã cưa được năm sáu thước củi để cho Mẹ đốt lò và nấu ăn. Vào những ngày mưa không cày bừa gì được, Ba và chú Dũng mặc áo thật ấm đi ra ngoài cưa củi. Trước hết, hai người cưa củi ở khu rừng xa gần hồ nước lớn. Sau đó, Ba và chú bắt đầu hạ những cành nhỏ của hai cây sồi cổ thụ. Mỗi lần đi học về, Tý và Miêu thường nghe tiếng cưa sên kêu vang ngoài hồ nước. Hai đứa rất ưa tới xem Ba và  chú Dũng cưa củi. Cái cưa sên cưa ngon lành quá. Một khúc cây đường kính rộng tới hai tấc mà chú Dũng có thể cưa đứt ngang trong vòng không đầy nửa phút. Nhưng Ba không muốn hai đứa lại gần. Ba sợ những mảnh gỗ bay vào mắt hai đứa.
Những thân sồi lớn như những thân voi; hai đứa ưa leo lên để đi chơi trên ấy. Ði cho tới khi gặp những cành gồ ghề không thể đi tiếp được nữa. Tại nách của một cành sồi lớn, Tý có thể nằm gọn lỏn như nằm trong một cái giường. Bác Mounet nói những thân sồi này rất đáng giá. Người ta sẽ xẻ những thân sồi này ra thành từng tấm ván lớn. Những thứ bàn ghế làm bằng gỗ sồi rất cao giá. Ba ước ao làm được một bộ ván sồi thật dày, thật bóng theo kiểu những bộ ván gỗ ở quê nhà.
Có một hôm Miêu bị cảm sốt không đi học được. Tý đến trường một mình. Tại trường, Tý nhận thấy có nhiều đứa vắng mặt. Chiều hôm ấy về nhà, Tý được Mẹ cho hay là Chó Con lên cơn sốt.
Sáng hôm sau, Ba không dậy nổi. Ba cũng bị sốt. Mẹ cũng kêu là nhức mỏi trong mình. Chỉ có chú Dũng và Tý là không sao. Ba lấy thuốc Calgluquine ra cho mọi người uống. Chú Dũng và Tý không uống. Hôm ấy chú Dũng đi làm việc ngoài hồ một mình, không có Ba đi theo. Tý lại đi học một mình. Chiều đi học về, Tý ngửi thấy mùi dầu Cù Là nồng nặc cả nhà. Chắc mọi người đã được cạo gió. Mẹ cố gắng nấu cơm, nhưng không ai thiết ăn uống gì. Tý và được có mấy miếng rồi buông đũa. Thấy Mẹ nhìn, Tý cố gắng ăn hết chén cơm. Chú Dũng cũng ăn rất lơ là. Mọi người đi ngủ sớm. Sáng hôm sau, Tý lên cơn sốt. Nó bắt đầu ho. Chú Dũng cũng ho. Cả nhà ngã bệnh. Tý nghỉ học.
Bác Mounet qua thăm thấy tình trạng này liền gọi giây nói cho bác sĩ. Bác sĩ tới cho thuốc cảm và thuốc ho. Bác Mounet nói hơn phân nửa dân làng đều đã bị cúm, kể cả ông Xã. Uống thuốc bác sĩ cho, chỉ có Mẹ và Chó Con là thấy tình trạng phần thuyên giảm. Ba và chú Dũng càng uống thuốc ho thì càng ho thêm. Tình trạng ấy kéo dài tới bốn hôm. Hôm sau, cô Chín tới. Cô đề nghị Ba và chú Dũng đổi thuốc khác. Cô cũng đề nghị đổi thuốc cho Miêu. Cô lại bắt cả nhà uống thêm sinh tố C mỗi ngày. Cô nói chính anh chàng Miêu đem bệnh cúm ở trường về truyền cho Chó Con, rồi sau đó truyền cho mọi người.
Bệnh cúm của cả nhà dây dưa đến cả tuần sau mới dứt. Ba với chú Dũng không quen ở không nên cảm thấy khó chịu trong thời gian phải ở trong nhà. Vừa thấy tình trạng sức khỏe khá hơn, Ba đã rủ chú Dũng ra hồ để cưa gỗ tiếp. Hôm đó trời còn lạnh lắm. Ba lỡ chân té xuống hồ. Ở chỗ Ba té nước hồ cạn lắm. Nhưng nước hồ lạnh buốt. Nước hồ thấm vào mấy làn áo ấm làm Ba cóng quá, không cử động được. May quá, lúc đó có chú Dũng đứng bên. Chú nhảy xuống, xốc Ba dậy rồi cõng Ba vào nhà. Từ hồ về tới nhà, con đường dài gần trăm thước. Mẹ vội vàng cởi áo cho Ba, thay áo cho Ba. Mẹ đi làm một ly nước trà đường rất nóng để Ba uống, và xoa bóp cho Ba ấm. Tuy vậy, Ba vẫn bị cảm sốt trở lại, và phải mất hơn một tuần sau mới hết.
Một buổi sáng đang chơi ở sân trường, Tý nhận thấy có gì như bột đang rơi trên tóc Miêu. Ngửng nhìn lên, Tý thấy thứ bột ấy đầy trời. Còn đang ngẩn ngơ, Tý bỗng nghe bọn thằng Baptiste kêu lên: “La neige! la neige!” Tý chợt hiểu. Ðây là tuyết! Tuyết đang rơi! Ðây là lần đầu tiên trong đời, Tý thấy tuyết rơi. Bọn học trò đứa nào cũng mừng. Có đứa đưa hai tay lên đón tuyết. Có đứa há miệng ra cho tuyết rơi vào lưỡi. Tuyết rơi đẹp quá. Tý không biết ở nhà, Ba có biết là tuyết đang rơi không. Không biết là Mẹ và chú Dũng có biết tuyết đang rơi không. Nếu có Tý ở nhà thế nào Tý cũng vào nhà kéo Mẹ ra xem.
Tuyết rơi đều. Ngồi trong lớp, thỉnh thoảng Tý nhìn ra ngoài, hy vọng rằng tuyết còn rơi mãi. Trời đã chiều theo ý Tý. Tuyết rơi cho tới giờ tan học. Ngồi trên xe trường, Tý nhìn ra đồi nương giờ đây đã trắng xóa dưới một lớp tuyết trắng. Chiều hôm ấy khi đi học về, Tý và Miêu biết là có Sư Ông đến chơi với Ba nhưng Tý và Miêu ham chơi tuyết quá nên đã rủ nhau ra trước Tham Vấn Ðường chơi tuyết, cho tới tối, quên cả mọi thứ, quên cả chào Sư Ông. Ðêm hôm ấy, Miêu bị sổ mũi trở lại.
Những chuyện rủi cứ nối đuôi nhau mà tới. Chủ nhật hôm sau, có gia đình anh Paul, con của bác Mounet về thăm. Bác Mounet đưa họ qua chào gia đình Tý. Trong khi mọi người nói chuyện ở nhà bếp, con chó lông xù của anh Paul tới cắn vào đầu con mèo con của Tý. Con mèo con la lên một tiếng rồi nằm quỵ. Hoảng kinh, Tý tới nâng mèo lên. Tay nó dính máu. Miệng Tý bắt đầu mếu. Bác Mounet xô ghế đứng dậy. Bác đỡ lấy con mèo trên tay Tý. Răng chó cắn thủng vào đầu mèo và còn làm bể mũi của mèo. Bác bảo anh Paul choàng áo tơi lên cho bác, và lái xe đưa bác đi thú-y-sĩ ở Eymet.
Con mèo nằm tại bệnh viện thú y hai ngày mới được đem về. Trong thời gian ấy, Tý lo cho nó quá. Ði học Tý cũng lo cho nó. Về tới nhà, Tý cũng lo cho nó. Hôm bác Mounet chở con mèo về, Tý mừng quá. Nó ôm lấy con mèo. Con mèo còn có vẻ yếu quá. Tý xin Mẹ cho nó uống sữa Lacmil. Ba nói: “Mạng sống con người ở Việt Nam không được quý bằng mạng sống của một con mèo.”
Mấy hôm sau, tình cờ Tý tìm được một con mèo con thứ hai. Nó lớn bằng hai con mèo của Tý vừa bị chó cắn. Có lẽ nó là chị của con mèo này. Tý cho hai chị em ở chung. Hai con mèo ưa nhảy lên bàn ăn và lên cả tủ chè để phá, nhưng vì cưng Tý nên Mẹ làm ngơ. “Hai đứa ở với nhau chắc là vui hơn,” Tý nghĩ. Ừ nhỉ. Nếu Tý không có Miêu thì chắc là Tý buồn lắm. Nhưng mà Tý có phước hơn hai con mèo. Không những Tý có Miêu mà Tý còn có Ba, Mẹ, chú Dũng và có Chó Con. Tý còn có cả con dê con nữa. Con mèo không biết cha nó là ai, và cũng không biết mẹ nó ở đâu. So sánh với Tý thì Tý là người sung sướng nhất trên đời rồi.

17. Gà cứng đầu không chịu ăn bo bo

Cô Chín nói sang năm vào giữa tháng bảy, khi Làng Hồng mở cửa sẽ có rất đông thiếu nhi Việt Nam về làng. Cô thêm rằng có thể có hai ba chục đứa, và tụi nó sẽ ở lại làng hơn cả tháng. Tý và Miêu rất ngạc nhiên. Ðây là một miền quê hẻo lánh; Tý và Miêu chưa bao giờ nghĩ là có thể có nhiều trẻ em Việt Nam về đây như thế được. Nếu tụi nó về đây đông như vậy thì vui lắm. Cô Chín đã nói thì chắc là có thật. Nhưng mà Tý vẫn có cảm tưởng rằng điều này khó xẩy ra lắm. Mấy tháng nay ở đây, chỉ có hai anh em nó chơi chung với nhau. Có khi hai anh em chơi với thằng Chó Con. Nhưng Chó Con còn nhỏ quá, hai anh em chỉ có thể ôm nó và nựng nó. Chiều nào đi học về hai đứa cũng chạy vào thăm em. Chó Con lớn chậm quá. Chừng nào nó mới có thể chạy chơi ngoài trời với Tý và Miêu?
Nhưng Tý và Miêu cũng có những người bạn khác. Không phải là mấy đứa tây con và đầm con ở trường đâu. Học chung với tụi nó cả mấy tháng rồi mà Tý và Miêu chưa thực sự thân với đứa nào cả, trừ thằng Baptiste. Bạn đây là một con dê con và một mèo con. Tý và Miêu đã để rất nhiều thì giờ để chăm sóc hai con này.
Con dê của dì Margaret cho đã sinh ra được một chú dê nhỏ. Mới sinh ra được hai ngày con dê đã dài được năm tấc rồi! Ðó là một con dê con rất đẹp. Lông nó màu sô-cô-la rất mịn. Hai mắt nó ươn ướt. Cái mõm của nó cũng ươn ướt. Nó uống sữa của mẹ nó được chừng năm hôm thì nó bắt đầu bắt chước mẹ nó ăn cỏ. Tý đi kiếm một sợi dây buộc nó vào với sợi dây xích của mẹ nó. Như vậy khi ăn cỏ, hai mẹ con ăn gần nhau. Hai mẹ con chỉ có thể xa nhau nhiều lắm là bốn thước.
Trời càng lạnh thì cỏ càng ít. Tý phải đem bắp cho hai mẹ con con dê ăn thêm. Con dê con ăn bắp ngay trong lòng bàn tay của Tý. Ban đêm, để cho hai mẹ con con dê đỡ lạnh, Tý cột chung trong chuồng cừu. Chuồng cừu hiện không có con cừu nào.
Có hôm ăn bắp nhiều, con dê mẹ đi tiêu chảy, nằm oẹp. Ba bảo Tý nghiền nát một viên Ganidan và pha vào nước ấm cho dê mẹ uống.
Con dê con có hai cái sừng nhỏ xíu mới nhô lên trên đầu nó. Tý rất thích ôm cái đầu con dê con trong hai tay mình. Trò chơi mà Tý ưa nhất là đưa đầu gối của mình cho con dê con húc. Con dê con húc khá mạnh nhưng không đủ để làm cho đầu gối Tý đau. Buổi chiều nào, khi đi học về, Tý cũng vào thăm thằng Chó Con trước, chơi với nó một lát rồi mới chạy ra tìm con dê con và đưa đầu gối cho dê húc.
Ðã hai ba phen Tý bị Mẹ rầy vì hai mẹ con con dê đã nhổ được cọc cắm và chạy đi ăn lá cây tùng và những chiếc đọt của cây hồng dòn mà Ba mới trồng. Tý tự nhủ là mình phải đóng cọc thật sâu để cho hai mẹ con con dê không còn nhổ lên và chạy hoang được. Ba nói Ba và chú Dũng đã bỏ biết bao nhiêu công phu để trồng cây; nếu Tý không giữ được hai mẹ con con dê thì Ba sẽ bị bắt buộc phải trả chúng lại cho dì Margaret.
Tý lo sợ. Nó đã thương con dê quá mức; bây giờ nếu Ba trả dê cho dì Margaret chắc là nó buồn lắm. Nó tới vò đầu con dê con và bảo dê đừng có ráng nhổ cọc của nó.  Nó cũng đến gần con dê mẹ để căn dặn như thế. Nhưng nó biết căn dặn là một chuyện mà đóng cọc cho chắc lại là một chuyện khác. Khốn nỗi, trời cứ mưa hoài; đất ở đâu cũng mềm quá. Ðóng sâu đến mấy cũng không thể gọi là hoàn toàn bảo đảm.
Bạn thứ hai của Tý và Miêu là một con mèo con. Tý bắt được con mèo này trong kho chứa rơm. Nó là một trong mấy đứa con của một con mèo hoang đã vào trốn trong kho chứa rơm để sinh đẻ. Một hôm Tý và Miêu đi chơi vẩn vơ trong kho rơm thì nghe tiếng mèo con kêu. Tý nhảy lên đống rơm tìm. Nó bắt được con mèo con. Con này có lẽ là con nhỏ nhất. Mấy con kia, mèo mẹ đã đem đi dấu ở một nơi khác. Tý và Miêu đem con mèo con vào nhà, đặt nó gần lò sưởi cho ấm. Nhưng con mèo con vẫn khóc và vẫn run. Hôm đó có Sư Ông tới chơi. Sư Ông đi lấy một cái thùng giấy, bỏ nhiều giẻ rách vào trong ấy và đặt mèo con vào. Sư Ông bảo Tý để cái thùng gần lò sưởi. Con mèo con chịu nằm yên trong ấy. Tý xin phép Mẹ lấy một muỗng bột Lacmil của Chó Con pha vào nước ấm cho mèo con uống. Mèo con uống sữa rất ngon lành.
Ngoài việc săn sóc cho dê và mèo, Tý còn việc săn sóc gà vịt nữa. Bốn bao bắp, gà đã ăn hết ba; vậy mà chúng chưa đẻ cho gia đình Tý được một cái trứng nào. Ba bảo có thể vì trời lạnh quá nên gà không đẻ trứng. Chú Dũng nói có thể là vì có hai con vịt ở chung cho nên gà ghét mà không đẻ trứng. Theo chú Dũng thì mấy con vịt dữ lắm, chúng cứ ăn hiếp gà hoài. Mà thật vậy, Tý đã từng thấy một con vịt nhảy lên lưng một con gà và cắn nó làm cho con gà rụng cả lông. Chú Dũng nói phải đợi tới mùa xuân mới có thể làm chuồng gà và chuồng vịt riêng được. Hai chuồng này sẽ làm xa nhà, gần hồ nước, để vịt có thể bơi lội.
Mấy hôm rồi Tý nghe lời Mẹ đem bo bo (sorgho) cho gà và vịt ăn. Chúng nó chê không chịu ăn. Mẹ nói: “Cứ để đó, hễ chúng đói quá thì chúng phải ăn.” Nhưng chúng không ăn. Chúng nhịn đói luôn mấy hôm. Tý định lấy bắp cho chúng, nhưng Tý không dám. Mẹ có vẻ giận. Mẹ nói: “Ở Việt Nam, người mà còn phải ăn bo bo, huống nữa là gà. Gà bên này hư thân mất nết đã quen. Phải tập cho chúng ăn bo bo.” Bọn gà vẫn không chịu ăn. Chúng nó cứng đầu quá. Mà Mẹ vẫn không chịu thua. Mẹ nghĩ tới trẻ em bên nhà, có khi không có cả bo bo mà ăn, cho nên Mẹ giận gà. Bên nào cũng không chịu thua bên nào. Bên nào cũng nhất quyết giữ vững lập trường của mình. Cho đến một hôm chú Charles tới thăm và la lên rằng gà ốm quá, rằng gia đình Tý đã bỏ đói gà. Ba thuật lại tự sự. Chú Charles cười, nói rằng ngày mai chú sẽ chở tới tặng thêm hai bao bắp nữa cho gà. Chú dặn phải kiên nhẫn. Tới mùa xuân gà mới đẻ nhiều trứng. Tý bắt đầu cho gà ăn bắp trở lại.
Chú Jean-Pierre có đem tới cho gia đình một bánh phô-mai làm bằng sữa dê. Chú nói phô-mai này ngon và bổ lắm. Chú Jean-Pierre là người chăn cừu. Phô-mai này do chính tay chú làm lấy. Ba, Mẹ và chú Dũng mỗi người cắt một miếng nhỏ để ăn thử, nhưng ai cũng không thấy ngon. Chưa ai quen với mùi sữa dê và mùi phô-mai sữa dê. Cả nhà có ý định đem tặng bác Mounet chỗ phô-mai còn lại.
Chú Jean-Pierre cao và lớn. Trước đó một tháng chú bị sưng cổ rất đau. Chú đã thử nhiều thứ thuốc nhưng không thấy bớt. Chú nói ban đêm đau quá, chú ngủ không được. Ăn cũng không được. Cô Chín cho chú một thứ trụ sinh, dặn về uống cho đều trong năm ngày. Năm hôm sau, hết bệnh, chú tới cám ơn cô Chín. Bác Mounet hỏi cô Chín để xem cô đã cho chú Jean-Pierre thứ dược thảo nào. Cô Chín cười, không trả lời. Chú Jean-Pierre cũng cười. Bác Mounet nghĩ cô Chín là người Á Ðông thì chắc là cô đã cho chú Jean-Pierre uống thuốc Á Ðông.

16. Hai cây sồi trốc gốc

Cách nhà chừng một trăm thước, sát bên vườn nho, Ba và chú Dũng đã dựng lên một cái nhà lợp bằng ni-lông để trồng rau. Nhà này dài hai mươi thước và rộng bốn thước. Cô Chín gọi cái nhà trồng rau ấy là nhà mặt trời; còn bác Mounet gọi cái nhà ấy là serre. Sư Ông đã đem từ sơn cốc về nhiều bụi hẹ và rất nhiều cây cải bẹ xanh con con để trồng trong ấy. Ba cũng gieo hạt ngò và hạt cải bẹ xanh để trồng thêm. Nhà mặt trời ấm lắm. Vào mùa đông ngò cải và một vài thứ rau khác có thể mọc và lớn lên trong nhà mặt trời. Nhà mặt trời khá cao; đứng giữa nhà Ba phải nhón gót thì mới đưa tay đụng tới nóc nhà được. Ban đêm khi trời lạnh, rau cải khựng lại không mọc. Nhưng ban ngày, nếu có nắng, thì không khí trong nhà mặt trời ấm lên, rau lớn rất nhanh. Bác Mounet gọi những tấm ni-lông là films thermiques. Chú Dũng dịch ra tiếng Việt là phim nhiệt. Sư Ông nói ở sơn cốc nhờ có một cái nhà mặt trời nhỏ mà Sư Ông có đủ rau để ăn suốt mùa đông. Khi có nắng, cả nhà làm việc trong nhà mặt trời vừa ấm vừa vui. Có khi Ba và chú Dũng nóng quá, phải cởi áo ngoài móc lên trần nhà. Nhiều khi ở ngoài trời đang mưa mà ở trong nhà chú Dũng vẫn phải tưới.
Bác Mounet làm nghề chế tạo những đồ đồng như chân đèn, hộp đồng, chảo đồng vân vân… để trang hoàng trong nhà. Ba nói ngày xưa bác đã tốt nghiệp trường canh nông và từng khai thác một nông trại lớn. Về sau, vì bác gái bệnh nên bác phải đổi nghề để có thể làm việc ngay tại trong nhà để đồng thời chăm sóc bác gái. Bác hứa sẽ hướng dẫn cho Ba và chú Dũng trong việc khai thác nông trại. Bác đã đưa Ba và chú Dũng đi chọn mua được một chiếc máy cày cũ hiệu John Deere mạnh sáu mươi lăm mã lực. Ba và chú Dũng đã xử dụng được máy cày nhờ sự hướng dẫn của bác. Ngày xưa ở Trường Xã Hội Ba cũng đã từng thử lái máy cày, nhưng đó chỉ là những chiếc máy cày nhỏ xíu.
Chú Dũng cày được hơn một mẫu thì trời mưa liên tiếp, không cày tiếp được. Còn trên mười mẫu chưa cày. Nghe nói phải cày trong mùa đông thì đến đầu xuân đất mới tốt được. Ba và chú Dũng dự trù trồng mận, trồng bắp và trồng hoa hướng dương. Hướng dương trồng để lấy hột làm dầu ăn. Bác Mounet nói rằng mùa thu vừa qua, rất nhiều nông dân trong vùng đã trúng mùa hoa hướng dương. Cô Chín rất ưa trồng hoa hướng dương. Cô bảo đồng hướng dương với hàng triệu bông hoa xoay về phía mặt trời mọc là một cảnh tượng rất đẹp. Hôm tiếp tân, cô Chín đã hát một bài hát trong đó có
bông hướng dương. Cô hát:
Em đi ngang qua đồng hoa hướng dương
Hàng vạn bông hoa ngoảnh nhìn về
phương đông chói sáng
Ý thức em, mặt trời tỏ rạng
Bàn tay em gieo hạt cho mùa sang năm…
Phải có nắng liên tiếp ba ngày đất mới tạm khô để máy cày có thể đi xuống ruộng. Ðàng này mưa liên miên từ ngày này sang ngày khác không ngớt. Thỉnh thoảng trời tạnh được nửa ngày. Rồi trời lại mưa. Một buổi chiều thứ bảy, gió bắt đầu thổi mạnh. Ba ra lệnh đóng chặt tất cả mọi cánh cửa, cửa kính cũng như cửa song. Gió càng lúc càng dữ dội. Mưa gió bắt đầu gào thét suốt đêm hôm đó và kéo dài suốt cả ngày chủ nhật. Chiều chủ nhật Ba có việc phải mở cửa đi ra ngoài. Ðến khi trở vào, Ba nói suýt tý nữa gió thổi bay cả Ba đi. Nhà có nhiều chỗ dột. Chú Dũng nói gió đã thổi bay mất nhiều miếng ngói trên mái. Gió thổi mạnh khiến cho khói ở ống khói lò sưởi không bay lên được và còn bị thổi ngược vào phòng ngủ. Ba phải đi tắt lò củi và mở lò điện. Ðến khuya, điện bị cắt, lò sưởi điện cũng tắt. Nhà bị lạnh. Ba lại lui cui dậy đốt lò củi. May thay, lúc ấy trời đã gần sáng và gió đã dịu lại.
Sáng thứ hai, Tý và Miêu không đi học bởi vì xe trường không đến rước. Bác Mounet trai qua thăm. Bác cho biết cây cối đổ ngã rất nhiều và cột điện cũng vậy. Giây điện đứt nhiều nơi. Sở điện khí đang nỗ lực gửi người đi sửa chữa những nơi hư hại. Bác nói hy vọng tối đến thì có điện lại. Bác bảo trường học đóng cửa. Rồi bác cho biết là hai cây sồi cổ thụ đã bị bão thổi trốc gốc.
Cả nhà giật mình. Mọi người khoác áo chạy ra nhìn. Hai cây sồi đã trốc gốc thật. Cây này nằm đè lên cây kia, trông rất thảm thương. Tý cảm thấy nằng nặng trước ngực. Nó nghĩ tới Sư Ông. Sư Ông cưng hai cây sồi này lắm. Nếu Sư Ông biết hai cây sồi đã ngã chắc là Sư Ông sẽ khóc. Giờ này Sư Ông ở trên Xóm Thượng. Tý nóng ruột muốn biết Sư Ông còn ở trên ấy bình an không và nhà cửa trên ấy có đứng vững không. Trên Xóm Thượng có một cây đề rất lớn. Tý cầu Bụt cho cây đề ấy còn đứng vững.
Cả nhà trừ Chó Con, theo bác Mounet ra thăm hai cây sồi. Ðứng trước cảnh tượng hai cây cổ thụ trốc gốc, Ba cứ chép miệng hoài. Cảnh tượng hoang tàn quá. Tý cảm thấy như một cái gì linh thiêng vừa sụp đổ. Hai cây sồi cổ thụ thật là những vật linh thiêng. Mọc mầm, lớn lên, sống trên ba trăm năm, hai cây sồi đã từng chứng kiến biết bao nhiêu đổi thay trong vùng này. Khi hai cây sồi lớn lên thì nhiều ngôi nhà ở Xóm Hạ chưa được xây dựng. Có người đã sanh ra và có người đã chết đi. Có người đi về phương xa lập nghiệp. Nhưng hai cây sồi vẫn còn đó, reo hò với gió, tươi cười với nắng, âu sầu với mưa. Chú Dũng tính nhẩm trong óc rồi nói rằng hai cây sồi này đã chứng kiến cảnh mặt trời mọc tới một trăm lẻ chín ngàn năm trăm lần. Bây giờ chúng đã ngã xuống. Những chiếc rễ lớn như những chiếc chân voi chổng ra, ngang ngửa trên mặt đất.
Bác Mounet giải thích: trời mưa lâu quá cho nên đất trở nên mềm nhũn. Lá sồi rụng chậm hơn mọi thứ lá cho nên còn bám đủ trên cành. Khi nước đọng vào, cành lá nặng bằng trăm lần những cây khác. Vì vậy cho nên hai cây sồi đã phải ngã quỵ trước sức gió.

15. Cô Margaret đem tặng gia đình Tý một con dê

Ở Strasbourg, Tý đã hiểu sơ lược những điều cô giáo nói, nhưng tại trường làng ở đây, Tý chẳng hiểu được một tiếng. Sau này cô Chín cho Tý biết đó là tại thầy giáo nói giọng Nam. Giọng Nam khác với giọng Bắc khá nhiều. Thầy giáo của Tý tên là Rivière.
Chỉ ba hôm sau ngày về định cư, Tý và Miêu đã được cô Chín chở lên trường làng và xin cho hai đứa vào học. Tại trường, Tý và Miêu chỉ quen với một đứa học trò độc nhất. Ðó là thằng Baptiste, con thím Marie-Thé ở trong làng, người đã đến thăm và đem cho gia đình Tý mấy thước củi để đốt lò sưởi. Củi của mẹ Baptiste cho toàn là gốc nho rất khô, rất cứng, đốt rất đượm và rất bền.
Mấy hôm nay gia đình Tý khám phá ra được một loại áo quần mặc vào rất ấm: đó là áo quần lót mặc sát vào người như một lớp da thứ hai vậy. Người Pháp gọi thứ áo quần này là sous-vêtements. Ðầu tiên hết, cô Chín mua về tặng cho mỗi người một bộ. Tý và Miêu mỗi người cũng có một bộ nhỏ xíu. Ai mặc vào cũng thấy ấm. Mặc thứ ấy vào xong, người ta mới mặc áo thun hay áo sơ mi và thêm các loại áo len ra ngoài. Ba cười và nói rằng nếu không mặc áo lót thì có mặc bao nhiêu áo len ra ngoài cũng không thấy ấm.
Trời đã lạnh lắm, người nào cũng thở ra hơi. Da môi của chú Dũng bị nứt nẻ. Da môi của Ba thì thâm tím lại. Mẹ uống thuốc cô Chín cho đã hết đau. Ba và chú Dũng đã đưa cả gia đình, trừ Chó Con, đi thăm hết mọi ngõ ngách của vườn ruộng. Hồ nước mà chú Dũng nói hôm nọ nằm gần sát khu rừng mà Ba và chú Dũng thường tới đốn củi. Hồ nước rất sâu và rất dài. Ba cấm không cho Tý và Miêu lai vãng tới đó, nếu không có người lớn đi kèm. Chừng một tuần lễ sau khi gia đình Tý dọn về nhà, Ba tổ chức một buổi tiếp tân tại nhà để cô Chín giới thiệu với Ba những bạn hữu đã giúp đỡ cô trang bị nhà cửa để đón gia đình Tý về. Cô Chín và Mẹ đã làm được rất nhiều chả giò và chuối chiên. Chú Charles và cô Anne Marie lại đem tới một ổ bánh bông lan rất lớn. Các cô chú tới rất đông, khoảng chừng ba mươi người, phần lớn là người Pháp. Có chừng bốn đứa trẻ con người Pháp và hai đứa người Anh. Hai đứa trẻ người Anh là con của cô Margaret. Cô Margaret đã từng đem tới cho gia đình Tý bốn con gà mái. Hôm nay đến dự lễ tiếp tân cô đem thêm cho Mẹ một con dê. Cô nói con dê này sẽ cho ra đời một con dê con trong vòng mấy tuần lễ nữa. Sữa dê bổ lắm, cô nói, và ta nên lấy sữa này cho Chó Con uống để nó mau lớn. Con dê được cột vào một sợi dây xích, đầu sợi dây có một cái cọc sắt. Cô dạy cho Tý đóng cọc xuống một nơi còn cỏ xanh để cho con dê ăn cỏ.
Buổi tiếp tân rất vui. Có cả ông Xã bà Xã tới dự. Ba kể chuyện vượt biên của gia đình Tý. Ba nói rất chậm rãi. Khi Ba kể đến hồi ghe bị tàu Cap Anamur đuổi theo, không khí đầy hồi hộp. Ba nói hồi đó trên ghe chưa ai biết đó là tầu cứu trợ. Mọi người sợ đó là tàu Nga hoặc là tàu tuần tiễu của chính quyền. Mọi người sợ nó bắn chìm ghe.
Sau khi ăn bánh và uống trà, cô Chín đề nghị làm văn nghệ. Có rất nhiều người hát. Có nhiều bài hát tiếng Pháp. Có vài bài bằng tiếng Anh. Cô Chín cũng hát bài tiếngViệt. Tý cũng hát một bài. Ðó là bài Trường Làng Tôi. Tý hơi mắc cỡ bởi vì ai cũng nhìn vào Tý hết.
Mấy mẫu bắp được gặt xong, Mẹ bảo Tý và Miêu mang bao theo Mẹ ra ruộng mót bắp. Ba người mót trong bốn ngày liền và trảy được bốn bao tạ bắp đầy. Có hôm Sư Ông về chơi, Sư Ông cũng ra mót bắp chung với Miêu và Tý. Ba và chú Dũng đã làm xong máng ăn và máng uống cho chuồng gà. Mỗi buổi chiều đi học về, Tý có bổn phận lấy bắp cho gà ăn và lấy nước cho gà uống. Có hai con vịt, chú Dũng cũng thả chung trong bầy gà. Hồ nước lạnh quá, chú không dám thả vịt xuống.
Một buổi sáng chủ nhật kia, khi thức dậy, Tý thấy lạnh. Nhìn ra ngoài trời, Tý thấy trắng xoá. Tưởng là có tuyết, Tý reo lên. Chú Dũng cũng vừa dậy. Tý kéo chú Dũng tới gần cửa sổ chỉ cho chú thấy cảnh tượng bên ngoài. Cả hai chú cháu đều chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như thế. Cả hai chú cháu đều nghĩ đó là tuyết.
– Tý mặc áo cho thật ấm và mang ủng vào. Mình đi ra ngoài xem tuyết.
Tý chạy đi mặc áo quần và mang ủng. Tý lại đội thêm cái mũ len. Chú Dũng và Tý mở cửa đi ra ngoài. Trời lạnh thật. Ủng của hai chú cháu dẫm trên những cọng cỏ nghe rất dòn. Nghe dòn như rơm khô. Bỗng Tý phát giác ra rằng nước ở trong cái bồn phía ngoài sân đã đóng lại thành nước đá. Chưa bao giờ Tý thấy nước đóng lại thành nước đá như vậy. Tý gọi chú Dũng. Chú Dũng cũng chưa từng thấy nước đá ngoài trời. Ðây là mùa đông đầu tiên của cả hai chú cháu tại Pháp. Chú Dũng đưa tay đẩy rồi nâng lên một tảng nước đá tròn như chiếc bánh tráng dày tới khoảng mười lăm ly.
Ở Việt Nam Tý chỉ biết nước đá cục uống với chanh đường, hoặc nước đá bào ăn với xi rô lạnh buốt. Nước đá phải được chế tạo bằng máy. Ở đây nước tự nhiên đóng lại thành đá. Tý nghĩ mình có thể đem nước đá này vào để làm chanh đường. Nhưng Tý bật cười. Trời này lạnh quá, ai mà thèm nước đá chanh đường. Tý đỡ tảng nước đá trên tay chú Dũng. Hai tay Tý lạnh cóng. Hai tay Tý đau buốt. Tý trao tảng nước đá lại cho chú Dũng. Hai chú cháu đem cái ”bánh tráng nước đá” vào nhà để khoe với Ba, Mẹ và Miêu. Ai cũng sáng mắt ngạc nhiên. Ba và Miêu đã mặc áo và đi ủng xong. Mọi người trừ Mẹ và Chó Con, lại đi ra ngoài để quan sát. Mặt nước hồ cũng đã đóng lại thành nước đá. Tý và Miêu lượm những viên sỏi chọi xuống mà mặt nước đá vẫn không vỡ. Mặt nước đá chỉ vỡ khi chú Dũng thọc gậy xuống. Nuớc đá đóng lại trên mặt hồ dày khoảng một phân tây.
Trưa hôm ấy, có cô Chín lại chơi. Tý thuật lại cho cô nghe câu chuyện đi chơi nước đá. Cô Chín nói cái chất trắng trên cỏ kia không phải là tuyết. Ðó là sương đóng băng. Tiếng Tây gọi là givre hay là gelée blanche. Hôm ấy cô đem biếu cho gia đình Tý một cái hàn thử biểu. Hàn thử biểu chỉ ba độ dưới không. Cô nói ở vùng này ít khi có tuyết lắm. Vài năm tuyết mới rơi một lần.

14. Tý gặp chú jean-pierre, người chăn cừu

Sáng hôm sau, trời hửng nắng. Chú Dũng đưa Tý và Miêu đi thăm Xóm Hạ. Trước hết chú đưa Tý và Miêu đi viếng các ngôi nhà. Có cả thảy là tám cái nhà ở Xóm Hạ. Tất cả đều nằm trên lưng đồi. Ðầu xóm là nhà bác Mounet, có rất nhiều cửa kính và có giây leo leo kín cả tường. Cách nhà bác Mounet vài mươi thước là nhà của gia đình Tý. Giữa hai nhà có một dãy cây tùng rất xanh dùng làm hàng dậu. Tất cả mọi ngôi nhà đều được xây bằng đá. Chú Dũng nói những ngôi nhà này đã được xây cất trước đây chừng hai trăm năm. Tường rất dày, dày có tới bảy hay tám tấc. Mái nhà được lợp bằng ngói âm dương. Sát nhà của Tý là nhà “se” rất rộng. Nhà “se” (tiếng Pháp là chai) là chỗ để làm rượu nho. Có máy ép nho và có nhiều hầm chứa rượu. Ngôi nhà kế là một nơi dùng để chứa rơm, còn lớn hơn nhà của Tý nữa. Nhà này có một lối vào rất lớn. Cửa vào xây bằng đá tảng theo hình vòng cung; có hai cánh cửa gỗ to tướng khép lại. Cửa này phải là người lớn mới đủ sức mở hay đóng. Nhìn vào Tý thấy rơm được chất đầy từng bó thật lớn. Chú Dũng nói nhà này sẽ được làm thành thư viện và thiền đường cho Xóm Hạ. Nhà kế là một cư xá, nghĩa là một cái nhà để ở. Nhà này có bốn phòng ngủ và một phòng lớn vừa làm phòng khách vừa làm nhà bếp. Ở đây cũng có nơi để đốt lò sưởi. Kế bên lại có một nhà làm rượu nho trong đó có nhiều hầm chứa rượu. Phía trước cư xá, Tý thấy một giếng nước xây bằng đá có ống bơm tay. Vòng ra phía sau, đi chừng năm mươi thước nữa, Tý thấy có một cái nhà khác. Chú Dũng nói nhà này vốn là một cư xá nhưng lâu nay đã được dùng cho cừu ở. Bên trong, Tý thấy rất nhiều rơm và nhiều máng nước để cừu uống. Vòng ra phía trước có một ngôi nhà khác. Chú Dũng nói nhà này ngày xưa người ta dùng làm chỗ sấy mận.

– Sấy mận là gì hả chú Dũng? Miêu hỏi.

– Sấy mận là đốt lửa để sấy cho trái mận khô lại. Ở vùng này có một thứ mận gọi là pruneaux d’Agen ăn ngon lắm, nhưng quá nhiều thành ra người ta phải sấy cho khô để dành và đem sang bán cho các nước Âu Châu khác. Mận sấy là một nguồn lợi tức quan trọng của vùng này.

Chú Dũng cho biết lâu nay người ta không sấy mận trong nhà này nữa. Trái lại, họ dùng ngôi nhà để nuôi gà và nuôi heo. Ði xa hơn nhà sấy mận chừng năm mươi thước nữa, Tý và Miêu thấy một dãy nhà dài, dài chừng sáu mươi thước. Chú Dũng nói nhà đã được dựng lên để sấy thuốc lá. Hiện nay vì không trồng thuốc lá nữa cho nên nhà lại dùng để chứa rơm. Nhà có mái lợp bằng những tấm xi măng dợn sóng và không có vách.

Xem xong các ngôi nhà, chú Dũng, Tý và Miêu xuống thăm vườn nho, hai cây sồi cổ thụ và hồ nước. Vườn nho đã trụi lá. Những gốc nho cao hơn Tý và lớn gần bằng bắp tay của chú Dũng. Chú Dũng bảo trong mùa Ðông này, chú phải cắt tỉa các cành nho thì mùa thu năm sau nho mới có trái. Bác Mounet đã hứa chỉ cho Ba và chú Dũng cách tỉa, làm cỏ và bỏ phân cho vườn nho.

Qua khỏi vườn nho, chú Dũng dừng lại bên cây táo (pommier). Chỉ vào những trái táo đỏ chói còn lại trên cây, chú Dũng nói:

– Táo này ngon lắm. Hôm trước Sư Ông và chú Dũng đã hái được mấy giỏ rồi. Những trái còn lại Sư Ông bảo để dành cho Tý và Miêu hái.

Lập tức Tý bám lấy thân cây táo leo lên. Miêu cũng bắt chước anh. Ðây là lần đầu tiên Tý được hái trái táo trên cây táo và cắn vào một trái táo khi chân còn đứng trên cành táo.

Trái táo rất ngọt. Chú Dũng bảo tại Xóm Hạ có vào khoảng mười cây táo, mười cây lê, bốn cây mận, tám cây đào tiên, tám cây anh đào và năm cây hồ đào. Chú bảo hiện giờ trái hồ đào rụng nhiều lắm, Tý và Miêu có thể tha hồ đi lượm. Hạt hồ đào ăn béo lắm, nhưng trước khi ăn phải lấy đá đập bể cái vỏ cứng bên ngoài. Cây hồ đào tiếng Tây gọi là noyer. Chú Dũng nói vườn ruộng Xóm Hạ rộng lắm, không thể đi thăm hết trong buổi sáng được. Chú đưa Tý và Miêu tới thăm hai cây sồi cổ thụ. Hai cây sồi lớn thật, lớn hơn hai cây sồi trong trí tưởng tượng của Tý nhiều. Ba người đi phía dưới và nghe gió thổi vi vu trên cành lá. Một ngọn gió thổi qua hơi mạnh làm trái sồi rụng xuống như mưa. Tý đợi cho hết gió mới ngước mắt nhìn lên. Cành lá sum suê che kín hết cả trời. Nghe nói những cây sồi này đã sống hơn ba trăm tuổi. Ðối với hai cây sồi này, ngoại chỉ là một thiếu nhi… Chú Dũng lượm hai trái sồi, một đưa cho Tý, một đưa cho Miêu. Chú nói bọn gà ưa ăn trái sồi này lắm.

Nhắc đến gà, chú Dũng cười. Chú nói với Tý và Miêu:

– Nhà mình đã có tám con gà rồi. Của dì Marie-Paule cho. Dì nói nên nuôi gà để có trứng mà ăn cho bổ. Trong đất làng có mấy mẫu bắp sắp được gặt. Mai mốt, khi bắp đã gặt xong, Tý và Miêu sẽ đi mót những trái bắp sót đem về để nuôi gà.

Bỗng Tý nghe nhiều tiếng lục lạc. Tiếng lục lạc càng lúc càng gần, càng lúc càng rõ. Tý chưa kịp hỏi thì chú Dũng đã đưa tay chỉ về phía hai cây táo. Theo tay chỉ, Tý thấy một đàn cừu rất đông, một đàn cừu ít nhất cũng có tới vài trăm con, đang rộn rịp đi tới. Phía sau, có một người mặc áo ấm dài, đầu đội nón len, chân đi ủng, tay cầm một cây gậy dài, đang lùa cừu đi tới.

– Ðó là chú Jean-Pierre, người chăn cừu, chú Dũng nói. Chú Jean-Pierre đang lùa cừu tới ăn cỏ quanh hai cây sồi cổ thụ. Lẫn trong đàn cừu, Tý thấy có cả những con dê. Có cả một con dê con đang lẩn quẩn bên chân con dê mẹ. Chú Dũng tới bắt tay chú Jean-Pierre rồi giới thiệu Tý và Miêu. Chú cho Tý và Miêu biết rằng nhà chú Jean-Pierre ở cách đây chừng ba cây số. Chú Jean-Pierre chăn cừu, chăn dê, làm pho-mai sữa cừu và pho-mai sữa dê đem ra chợ bán. Chú được phép cho cừu và dê ăn cỏ ở đây cho tới hết tháng mười một. Chú Dũng vuốt tay áo ấm của Tý và cho Tý biết áo của Tý được làm bằng lông cừu. Tý nhìn lại bầy cừu. Lông của chúng lấm lem. Có con vướng bùn cả mình đen thui. Lông cừu như thế mà làm được những cái áo ấm trắng nõn thì tài thật. Chú Dũng bảo mỗi đầu hạ, người ta hớt lông cừu cho cừu mát, và đem lông ấy đi bán cho người chế tạo sợi len. Những người này đem lông cừu giặt thật sạch. Họ còn giặt lông cừu bằng những chất hóa học khiến cho lông cừu trở thành trắng nõn. Họ lại có thể nhuộm lông cừu bằng đủ thứ màu. Áo của Tý được đan bằng len trắng và len nâu. Len chỉ có nghĩa là lông cừu. Len là một từ ngữ lấy từ chữ laine của Pháp. Ngày xưa ở nước ta có người gọi áo len là áo lông cừu, hoặc là áo cừu. Áo ấm được gọi là áo ngự hàn, tức là áo để ngăn cái lạnh.

Gần sát vườn nho là ruộng bo bo. Người ta trồng bo bo để cho trâu bò gà vịt ăn. Chú Jean-Pierre nói với chú Dũng là bọn cừu ưa bo bo lắm. Nếu chú vô ý một chút, tức thì bầy cừu tấn công vào ruộng bo bo. Chú bảo loài cừu thích ăn bo bo cũng như loài người thích ăn bánh bông lan vậy. Câu ví von đó làm cho Miêu bật cười. Miêu ưa ăn bánh bông lan vô cùng.

Tới hồ nước, chú Dũng chỉ cho Tý và Miêu thấy những cây cao, thẳng và ốm mọc bên bờ hồ và bảo đó là những cây bạch dương. Lá bạch dương đã úa vàng và sắp rụng. Chú Dũng chỉ hồ nước và nói với hai đứa:

– Mai mốt mình sẽ mua vài con vịt thả xuống hồ nước này để chúng bơi cho đẹp.

Chú cho Tý và Miêu biết là trong vườn nhà còn một hồ nước lớn bằng mấy mươi hồ nước này, nhưng ở hơi xa và phải mang ủng mới đi thăm được. Chú nói là mùa xuân tới, chú sẽ trồng nhiều mẫu bắp, nhiều mẫu hướng dương và đủ loại rau đậu để đủ ăn trong gia đình.

Khi ba chú cháu về tới nhà, thì Ba và Mẹ đã tháo mở các thùng hành lý và sắp đặt mọi thứ vào kho, vào kệ và vào tủ. Mẹ đã tìm thấy chỗ để gạo, để muối, để soong, nồi, và chảo. Cô Chín đã lo chu đáo mọi thứ. Trong tủ lạnh có đủ thức ăn cho một tuần lễ. Trong kho, có rất nhiều ly tách, soong chảo, muỗng, nĩa. Cô Chín nói những thứ này là do dì Marie-Paule, Marie-Thé và chú thím Charles đem đến tặng cả. Mẹ bằng lòng nhất là mười cái chén và mười đôi đũa mà Cô Chín đã mua ở tiệm thực phẩm Á  Ðông. Mẹ nhờ Tý săn sóc Chó Con, và đi vào bếp chuẩn bị bữa cơm trưa Việt Nam đầu tiên trên đất Pháp, trong nhà bếp của Mẹ.

13. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng

Xe lửa tới ga Libourne thì đã năm giờ chiều. Gia đình phải xuống đây và thay xe lửa khác. Nửa giờ đồng hồ sau, xe tới ga Sainte Foy.

Tý nắm tay Miêu. Hai đứa xuống trước. Mẹ ẵm Chó Con. Ba dìu Mẹ xuống xe. Trời đã tạnh mưa nhưng bầu trời đầy mây. Ga Sainte Foy nhỏ xíu. Có bốn người đứng đón gia đình Tý ở sân ga. Chú Dũng, cô Chín, Sư Ông và một người Pháp. Bốn người thấy gia đình Tý đều cười. Chú Dũng đến ôm hai đứa trong tay. Cô Chín đến đỡ Mẹ. Sư Ông đến cầm tay Ba. Người Pháp cũng đến bắt tay Ba. Ba đã gặp ông này trong chuyến đi kỳ trước. Sau này Tý biết tên ông là Mounet, người hàng xóm của gia đình Tý, và gọi ông là bác Mounet.

Cô Chín không khác trong bức hình chụp dưới giàn su là mấy. Cô mặc áo mưa dài màu đen. Cô nhìn hai đứa, cười. Khi Tý và Miêu đến vòng tay chào cô, cô vuốt tóc và đọc đúng tên họ từng đứa: “Ðây là Lê Hải-Triều-Âm phải không? Và đây là Lê-Thiều-Quang.”

Ba đưa Tý và Miêu tới gần Sư Ông, và bảo hai đứa chắp tay cúi đầu chào. Tý thấy Sư Ông không giống gì với hình ảnh mình tưởng tượng trong óc lâu nay cả. Sư Ông không có bộ râu dài bạc nào cả, trái lại tóc Sư Ông vừa ngắn vừa đen. Nước da Sư Ông sạm nắng cũng đen thui. Sư Ông cũng không già như Tý nghĩ. Sư Ông mặc áo quần nâu vừa xấu vừa cũ, bên ngoài lại khoác áo mưa màu đất sét, trông rất dơ. Tuy nhiên Sư Ông cũng chắp tay trước ngực chào lại hai đứa một cách cẩn thận. Tý hơi mắc cỡ khi thấy Sư Ông nhìn mình. Mà Sư Ông cứ nhìn Tý hoài.

Có hai chiếc xe hơi đi đón gia đình Tý, xe cô Chín và xe bác Mounet. Chú Dũng, Tý và Miêu ngồi xe bác Mounet cùng với những thùng hành trang. Ba, Mẹ, Chó Con và Sư Ông đi xe cô Chín. Xe Tý đi trước. Xe ra khỏi thành phố, đi về miền quê. Xe đi quanh co và vượt qua những cánh đồi màu xanh thoai thoải. Chừng nửa giờ đồng hồ thì xe rẽ vào một cái xóm có khoảng năm sáu cái nhà. Chú Dũng chỉ vào một trong những căn nhà ấy và nói:

– Ðó là nhà của mình.

Xe bác Mounet đậu ngay trước cửa nhà. Cửa xe mở, Tý và Miêu vừa bước ra thì chiếc xe vàng của cô Chín cũng vừa tới. Mọi người xuống xe. Chú Dũng, Ba và bác Mounet khiêng những thùng hành lý xuống, đem vào nhà. Cô Chín ẵm lấy Chó Con trên tay Mẹ, và đưa Mẹ, Tý, Miêu và Chó Con vào nhà bếp, nơi đây có lửa đang cháy và nổ lép bép trong lò sưởi. Mọi người đến ngồi quanh lò sưởi và hơ tay trên lửa.

Bên ngoài trời đã tối sầm lại và còn lắc rắc mưa. Cô Chín đưa mọi người đi xem các căn phòng trong nhà. Nhà bếp khá rộng; ở giữa có đặt một bàn ăn tròn có tám chỗ ngồi. Có tủ đựng chén bát. Có một cái tủ lạnh cũ kê ở sát tường. Có bếp để nấu cơm. Bếp nấu bằng gaz. Có chạn úp chén bát. Có bồn rửa chén với vòi nước lạnh và nóng. Cô nói rằng tất cả những bàn ghế giường tủ trong nhà đều do các bạn của cô mang tới tặng. Phần lớn họ là người Pháp. Chừng bốn năm hôm nữa, họ sẽ đến chơi và cả nhà sẽ gặp họ.

Bên cạnh nhà bếp có một căn phòng vuông. Cô Chín nói sau này căn phòng có thể dùng làm buồng ngủ cho Tý với Miêu. Tý nghĩ thầm là chắc Miêu sẽ không chịu. Từ nhỏ tới lớn Miêu chưa bao giờ ngủ khác phòng với Mẹ. Mọi người đi sang hành lang nơi đó có kê sẵn một cái kệ đựng các dụng cụ cần thiết hàng ngày. Từ hành lang, cô Chín dẫn mọi người sang phòng khách. Ở đây có một lò sưởi bằng củi, trong lò củi đang cháy. Có một bộ ghế dựa có nệm màu cam. Trong góc phòng được kê một cái bàn nhỏ trên đặt một cây đèn. Ðối diện với bộ ghế nệm là một kệ sách. Tầng trên có kê một tượng Phật nhỏ và một bình bông. Tầng giữa có nhiều sách. Tầng dưới có một máy vô tuyến truyền hình đã cũ. Cô Chín nói cái máy truyền hình này cô xin được của chú Charles, để mọi người nghe tiếng Pháp cho quen tai. Giấy dán tường toàn là hình nai và cây rừng. Miêu rất thích.

Bên trái phòng khách là phòng chú Dũng, có tủ đựng áo quần. Ðối điện với giường chú Dũng là một cái giường đôi dành cho Miêu và Tý. “Ngủ với chú Dũng chắc Miêu cũng chưa chịu,” Tý thầm nghĩ. Mọi người trở qua phòng khách và đi vào buồng đối diện. Ðây là buồng ngủ của Ba Mẹ và Chó Con. Ba Mẹ mỗi người có một cái giường lớn. Chó Con có một cái giường nhỏ rất xinh kê sát giường của Mẹ. Ở đây cô Chín đã đốt lò sưởi điện để cho Chó Con khỏi bị lạnh. Mẹ trao Chó Con cho Ba và nói: “Anh đặt Chó Con vào giường của nó đi. Tay của anh hên hơn tay của em.” Ba nâng lấy Chó Con và đặt nó vào chiếc giường có nệm bông trắng tinh. Chó Con còn ngủ. Cô Chín lại đưa mọi người trở lại hành lang để ra sau xem phòng tắm, cầu tiêu và kho chứa vật liệu.

Xem xong, mọi người trở lại nhà bếp. Cô Chín cho biết cơm đã nấu sẵn; thức ăn cũng vậy, chỉ cần hâm lên thôi. Một lát sau, cơm nước đã được dọn lên bàn. Ba và chú Dũng ngồi cạnh Sư Ông. Tý ngồi bên cô Chín. Miêu ngồi gần Mẹ. Sư Ông chắp tay lại. Mọi người cùng chắp tay. Cô Chín quán niệm: “Hôm nay được ăn bữa cơm đoàn tụ sau mười mấy năm trời, chúng con xin cám ơn đức Phật. Chúng con lạy Phật cho trên đất nước Việt Nam, gia đình nào cũng được đoàn tụ và trên bàn ăn của nhà nào cũng có đủ cơm ăn cho tất cả mọi người.” Tý cảm thấy ấm áp trong lòng. Cô Chín mời mọi người cầm đũa. Ðúng là cơm Việt Nam rồi. Chiều nay trên bàn ăn có canh chua khóm, có dưa cải kho, có bắp cải luộc, có nấm kho măng và có nước chấm Maggi. Mọi người vừa ăn vừa nói chuyện rất vui, giống như Tết. Giữa bữa cơm, Sư Ông đứng dậy lấy thêm củi bỏ vào lò sưởi. Bên ngoài trời vẫn mưa lắc rắc.

Cơm xong, chú Dũng đi pha trà. Uống xong chén trà thứ hai, Sư Ông đứng dậy chúc mọi người ngủ ngon. Sư Ông phải về sơn cốc có việc cần. Cô Chín sẽ lái xe đưa Sư Ông đi. Mọi người đứng dậy chắp tay để đưa tiễn Sư Ông. Xe đi rồi, Ba trở vào nói: “Hôm nay chúng ta nên đi ngủ sớm. Suốt ngày ngồi trên xe lửa chắc ai nấy đều đã thấm mệt.” Ba nói thế nhưng không có ai đi ngủ cả. Mọi người lại đi thăm các căn phòng trong nhà một lần nữa rồi về ngồi quây quần bên bếp lửa.

Ðêm ấy, không ai nghe theo sự sắp xếp của cô Chín, không ai chịu ngủ trên chiếc giường đã dọn sẵn cho mình. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng của mình cả. Tất cả mọi người đều ôm mền gối của mình vào phòng khách để ngủ chung. Ba nói: ”Ngủ chung vừa vui vừa tiết kiệm được điện và củi đốt.” Ở trong phòng khách làm gì có giường ngủ. Ba và chú Dũng đi khiêng nệm từ các giường cá nhân vào lót trên sàn phòng khách. Tý cảm thấy không khí quen thuộc như trong trại tỵ nạn. Ở theo kiểu nhà Tây mỗi người một phòng có vẻ lạnh lẽo và buồn bã quá. Ngủ theo kiểu này ấm hơn và vui hơn. Chú Dũng ngủ trên ghế trường kỷ có nệm màu cam. Tất cả những người khác ngủ trên sàn nhà có lót nệm. Ðêm ấy Tý ôm Miêu ngủ ngon cho tới sáng.