19. Chú Dũng ăn cơm tây với dì Marie Thérèse

Một buổi trưa thứ bảy đi học về, Tý chạy ra thăm hai mẹ con con dê mà Tý buộc ở gần giếng nước thì không thấy chúng ở đó. Tý ngạc nhiên. Tý nghĩ là Ba, Mẹ hoặc chú Dũng đã dời chúng đi một nơi khác có cỏ ngon hơn. Cỏ độ rày hiếm lắm; trời lạnh, cỏ mọc không được. Tý thường hay buộc dê ở gần những bụi ngái (ronces), bởi vì dê ưa ăn lá và đọt cây này lắm. Cây ngái này mọc ra từng bụi, có những cọng vươn dài, đầy gai, có khi dài tới hai ba thước. Mùa đông, dây ngái vẫn lên.
Tý còn chưa tìm ra được con dê thì Miêu đã ra gọi Tý về ăn cơm trưa. Trưa nay, Me làm món bí rợ hầm với đậu xanh ngon lắm. Ðến phiên Miêu quán niệm trước bữa ăn. Miêu chắp tay. Mọi người chắp tay. Miêu chậm rãi nói: “Hôm nay, quanh bàn ăn có Ba, có Mẹ, có chú Dũng, có anh Hai, có Chó Con, con được ăn cơm có canh bí rợ rất ngon do Mẹ nấu, con nghĩ tới những bạn trẻ ở Việt Nam. Con lạy Bụt cho mọi đứa trẻ như con hôm nay cũng đều có cơm ăn như con. Con xin cám ơn Bụt.”
Hôm nay, trong khi quán niệm, Tý không được chăm chú lắm. Trí tưởng của Tý hơi chạy bông lông. Tý thấy con mèo nhỏ đang ngồi chễm chệ trên tủ chè, mắt lim dim như là nó đang nghe Miêu nói. Tý nghĩ hai con mèo và hai con dê cũng là những sinh vật thân thiết trong gia đình. Chúng làm cho đời sống hằng ngày của Tý và Miêu thêm vui. Có thể trong khi quán niệm, mình cũng có quyền nhắc tới chúng.
Giữa bữa ăn, Ba nói dì Marie Thérèse muốn mời hai anh em Tý sáng thứ tư tuần sau tới dự lễ sinh nhật của thằng Baptiste tại nhà nó, ở lại ăn cơm trưa rồi chiều dì sẽ chở về. Ba bảo Ba đã nhận lời. Ba muốn cho Tý và Miêu có dịp chơi đùa và nói chuyện với trẻ con Tây để tập nói tiếng Pháp cho mau giỏi. Tý và Miêu ít ưa tới nhà Tây để chơi lắm. Hai đứa chỉ ưa về nhà chơi với nhau mà thôi. Ở nhà có Ba, có Mẹ, có chú Dũng, có Chó Con, vui hơn nhiều. Lại có những đống cát cao lù lù phía giếng, hai anh em tha hồ chơi và moi cát làm thành những con đường hầm bí mật thông nhau. Tý và Miêu thấy mình chơi với Tây không sướng. Tuy nhiên, hai đứa phải nghe lời Ba.
Hình như chú Dũng cũng không ưa chơi với Tây. Chú kể chuyện là hồi chú mới về, cô Chín cứ ưa gởi chú tại nhà dì Marie Thérèse để chú luyện Pháp văn. Hồi đó Mẹ chưa sinh Chó Con, và Tý còn đang ở trại tạm cư Strasbourg. Một hôm cô Chín chở chú tới nhà dì Marie Thérèse rồi bỏ chú lại đó. Hồi đó tiếng Tây của chú còn yếu hơn bây giờ nhiều lắm. Một mình chú phải nói chuyện và phải trả lời bao nhiêu câu hỏi của chú Francois và của dì Marie Thérèse. Ðến bữa ăn, họ đâu có cho chú ăn cơm. Họ cho ăn một món gì lạ lắm. Lá tỏi tây (poireaux) xắt nhỏ ra, trộn với trứng gà rồi đem bỏ lò. Chú chẳng nuốt được mấy miếng cho nên bụng đói meo. Ấy vậy mà còn phải ngồi moi chữ Tây trong óc để trả lời những câu hỏi của chú Francois nữa. Chiều hôm đó, sau khi cô Chín tới chở chú về nhà thì vừa gặp lúc chú Charles và các dì Anne Marie và Marie Paule chở một xe tủ bàn tới. Chú Dũng phải khiêng rất nặng trong khi bụng chẳng có hột cơm nào. Mãi đến tối mịt khi người ta ra về hết chú mới được ăn bún thang do cô Chín nấu. Trời lạnh, bụng đói, chú ăn luôn ba tô bún thang.
Giữa bữa ăn Tý nhớ tới hai mẹ con con dê và Tý hỏi Ba xem Ba đã đem dê đi cột ở đâu. Mẹ nói Ba đã cho chú Charles hai con dê rồi. Tý tưởng Mẹ nói đùa. Nhưng Ba đã nghiêm nét mặt. Ba nói:
– Sáng hôm nay hai con dê đã nhổ cọc lên và chạy lung tung. Chúng đã ăn trụi nhiều cây Ba và chú Dũng mới trồng. Chúng ăn trụi luôn cả cây hồng dòn mà cô Nga bên Mỹ gửi tặng. Thấy hai con dê làm hại quá cho nên nhân dịp sáng nay có chú Charles và dì Anne Marie tới, Ba đã năn nỉ họ đem về nuôi giúp rồi. Ba đã cho đứt họ hai mẹ con dê.
Mọi người im lặng ăn, không ai nói lời nào. Tý nghẹn, không nuốt được miếng cơm trong cổ. Tý buông đũa xuống. Miệng Tý mếu, nhưng Tý không dám khóc thành tiếng. Nước mắt chảy cả vào cơm.
Tý không ăn được nhưng cũng không dám bỏ đũa đứng dậy. Tý biết rõ là mình đã làm cho mọi người ăn mất ngon, nhưng Tý không có cách gì khác. Nó không thể không buồn và không khóc. Tý đã thương con dê con quá rồi. Nó biết từ nay mỗi buổi chiều đi học về nó sẽ không còn chạy ra chơi với dê nữa. Nó sẽ không còn cho dê ăn trong lòng bàn tay của nó. Nó sẽ không còn ôm đầu dê vào lòng để vuốt ve. Nó sẽ không còn đưa đầu gối của nó cho con dê húc. Ðộ rày, hai cái sừng của con dê con đã mọc lên khá cao và khi nó húc, đầu gối của Tý đã hơi đau đau. Nhưng Tý rất thích cái cảm giác hơi đau đau ấy, cái cảm giác gây nên do cái đầu dễ thương của con dê nhỏ. Mẹ nói:
– Thôi, để mình đi xin lại con dê con cho nó.
Ba im lặng. Tý biết một khi Ba đã quyết định về một điều gì rồi thì khó mà làm Ba thay đổi ý kiến lắm. Mẹ không dám nói nữa. Có khi Mẹ cũng sợ Ba như Tý và Miêu sợ.
Chiều hôm ấy có Sư Ông đến chơi. Nghe chuyện Tý mất con dê, Sư Ông cũng buồn lắm. Sư Ông mời Tý lên Xóm Thượng ở lại với Sư Ông một đêm, và hứa sẽ kể cho Tý một chuyện đời xưa. Tý nói với Mẹ. Mẹ bảo Tý lên xin phép Ba. Ba bằng lòng.
Tối hôm đó ở Xóm Thượng, Sư Ông tự tay nấu cơm đãi Tý. Có món đậu hủ chà bông. Có món su le xào. Lại có món phô mai kho. Trước khi ăn cơm, Sư Ông dạy Tý một phép quán niệm mới, không cần dùng lời. Chỉ cần chắp tay, thở ra và thở vào ba lần, thật sâu và thật nhẹ, trong khi biết rõ là mình đang ngồi đó, trước mâm cơm. Quán niệm theo kiểu này tuy lâu một chút nhưng rất dễ làm, và trong khi làm, Tý cảm thấy khỏe và vui trong lòng.
Tý ngồi nói chuyện với Sư Ông trước lò sưởi. Sư Ông và Tý đã khiêng bỏ vào dưới ống khói một gốc cây thật lớn. Gốc cây này đã cháy cả đêm mà không hết. Bên gốc cây ấy còn có nhiều khúc củi nhỏ. Củi nổ lép bép. Sư Ông rót cho Tý một ly nước trà và hỏi Tý về chuyện con dê. Tý lại rơm rớm nước mắt. Sư Ông nói thứ bảy tuần sau đi thăm chú Charles, Sư Ông sẽ đưa Tý đi theo để Tý thăm con dê con của Tý. Sư Ông nói nếu Tý muốn thì lâu lâu hai ông cháu lại sẽ đi thăm con dê con một lần. Nhà chú Charles ở cách nhà Tý khoảng năm mươi cây số.
Lạ quá, nghe Sư Ông nói chuyện, Tý thấy bớt buồn rất nhiều. Sư Ông hỏi Tý tại sao Miêu đã không buồn khi nghe tin Ba đã cho chú Charles con dê con. Tý nói có lẽ vì Miêu không thương con dê con bằng Tý. Sư Ông nói Miêu có nhiều tình cảm, nhưng Miêu quan tâm đến chuyện hiện tại hơn chuyện đã qua. Tý nghĩ là Sư Ông nói đúng. Có lần cô Chín chở hai anh em Tý đi thăm một người bạn ở Miramont. Ngồi trên xe chỉ có Tý trả lời cô Chín và góp ý với cô về những chuyện có liên hệ tới ngày xưa ở Việt Nam. Miêu không có ý kiến gì cả. Trái lại, Miêu cứ hỏi cô Chín tía lia về những cái Miêu thấy hai bên đường. Ðúng là Miêu chỉ chú ý tới hiện tại.
Sư Ông hỏi thăm Tý về đời sống ở quê nhà. Tý nói cho Sư Ông nghe về quê ngoại ở xã Phú Hưng, về dì Sương, về anh Tửng con của cậu Năm. Sư Ông cũng hỏi về ngôi nhà của Tý ở Cầu Tre và ngôi nhà sau này của Tý ở Làng Báo Chí Thủ Ðức. Rồi Tý kể cho Sư Ông nghe về thằng Ngữ, đứa bạn thân nhất của Tý ở Việt Nam.
Sư Ông hỏi Tý rất nhiều về Ngữ. Sư Ông hỏi tại sao Tý lại thân với Ngữ hơn hết trong số các bạn ở trường. Tý cố tìm cách để nói cho Sư Ông hiểu nhưng khó quá. Khi người ta thương là người ta thương, nói lý do tại sao mình thương thì thật là khó quá. Nhưng Tý cũng cố gắng tìm ra vài lý do. Ví dụ tại vì Ngữ không bao giờ thất hứa với Tý. Tại vì Ngữ không thô tục như nhiều đứa khác. Tại vì Ngữ không bao giờ gây lộn với ai. Tại vì Ngữ… hạp với Tý. Sư Ông cười. Sư Ông thêm: Cũng tại vì con và Ngữ hai đứa hiểu nhau phải không? Tý gật. Tý nói với Sư Ông: một trong những mơ ước lớn của Tý là Ngữ có thể vượt biển qua đây với Tý. Sư Ông bảo Tý nên viết thơ cho Ngữ. Tý đi đã gần hai năm trời mà chưa viết thơ về cho Ngữ, đó là một điều làm cho Sư Ông ngạc nhiên. Khi người ta là bạn thân với nhau, người ta trông tin nhau. Sư Ông bảo tối nay trước khi đi ngủ, trong khi Sư Ông viết sách thì Tý đi viết thơ cho Ngữ, “viết thơ cho người bạn thân nhất của mình.” Tý dạ.
Ðêm ấy hai ông cháu lên phòng, đốt lò sưởi điện. Sư Ông trao cho Tý một cây bút và vài ba tờ giấy trắng.

18. Ba té xuống hồ nước

Mấy tuần lễ đầu, sau khi dọn về nhà mới, Mẹ chỉ nấu ăn bằng lò củi. “Nấu bằng lò củi vừa ấm vừa đỡ tốn gaz,” Mẹ nói. Giá tiền một bình gaz là sáu mươi tám quan; Mẹ không muốn xài phí như thế. Nhờ vậy mà trong những giờ nấu ăn, nhà bếp rất ấm. Nhưng lò củi đốt rất tốn củi. Muốn cho lò đủ nóng để sôi cơm sôi canh, Mẹ phải đốt lò nóng đến mức tối đa. Mỗi thước củi người ta bán tới hai trăm đồng, gần bằng giá ba thùng gaz. Vào những ngày nghỉ học, Tý và Miêu hay đi kiếm củi giúp Mẹ. Nhưng củi của hai đứa kiếm được chỉ là những cành khô và mục, đốt mau tàn lắm. Vì vậy Ba và chú Dũng quyết định đi mua một cái cưa máy, gọi là cưa sên. Gọi như vậy là vì cưa có một sợi dây sên tương tợ như sợi sên xe đạp. Người Pháp gọi thứ cưa này là troconneuse. Cưa này được dùng chuyên môn để đốn cây làm củi. Cái cưa sên của Ba và chú Dũng mua tốt lắm. Với cây cưa ấy, Ba và chú Dũng đã cưa được năm sáu thước củi để cho Mẹ đốt lò và nấu ăn. Vào những ngày mưa không cày bừa gì được, Ba và chú Dũng mặc áo thật ấm đi ra ngoài cưa củi. Trước hết, hai người cưa củi ở khu rừng xa gần hồ nước lớn. Sau đó, Ba và chú bắt đầu hạ những cành nhỏ của hai cây sồi cổ thụ. Mỗi lần đi học về, Tý và Miêu thường nghe tiếng cưa sên kêu vang ngoài hồ nước. Hai đứa rất ưa tới xem Ba và  chú Dũng cưa củi. Cái cưa sên cưa ngon lành quá. Một khúc cây đường kính rộng tới hai tấc mà chú Dũng có thể cưa đứt ngang trong vòng không đầy nửa phút. Nhưng Ba không muốn hai đứa lại gần. Ba sợ những mảnh gỗ bay vào mắt hai đứa.
Những thân sồi lớn như những thân voi; hai đứa ưa leo lên để đi chơi trên ấy. Ði cho tới khi gặp những cành gồ ghề không thể đi tiếp được nữa. Tại nách của một cành sồi lớn, Tý có thể nằm gọn lỏn như nằm trong một cái giường. Bác Mounet nói những thân sồi này rất đáng giá. Người ta sẽ xẻ những thân sồi này ra thành từng tấm ván lớn. Những thứ bàn ghế làm bằng gỗ sồi rất cao giá. Ba ước ao làm được một bộ ván sồi thật dày, thật bóng theo kiểu những bộ ván gỗ ở quê nhà.
Có một hôm Miêu bị cảm sốt không đi học được. Tý đến trường một mình. Tại trường, Tý nhận thấy có nhiều đứa vắng mặt. Chiều hôm ấy về nhà, Tý được Mẹ cho hay là Chó Con lên cơn sốt.
Sáng hôm sau, Ba không dậy nổi. Ba cũng bị sốt. Mẹ cũng kêu là nhức mỏi trong mình. Chỉ có chú Dũng và Tý là không sao. Ba lấy thuốc Calgluquine ra cho mọi người uống. Chú Dũng và Tý không uống. Hôm ấy chú Dũng đi làm việc ngoài hồ một mình, không có Ba đi theo. Tý lại đi học một mình. Chiều đi học về, Tý ngửi thấy mùi dầu Cù Là nồng nặc cả nhà. Chắc mọi người đã được cạo gió. Mẹ cố gắng nấu cơm, nhưng không ai thiết ăn uống gì. Tý và được có mấy miếng rồi buông đũa. Thấy Mẹ nhìn, Tý cố gắng ăn hết chén cơm. Chú Dũng cũng ăn rất lơ là. Mọi người đi ngủ sớm. Sáng hôm sau, Tý lên cơn sốt. Nó bắt đầu ho. Chú Dũng cũng ho. Cả nhà ngã bệnh. Tý nghỉ học.
Bác Mounet qua thăm thấy tình trạng này liền gọi giây nói cho bác sĩ. Bác sĩ tới cho thuốc cảm và thuốc ho. Bác Mounet nói hơn phân nửa dân làng đều đã bị cúm, kể cả ông Xã. Uống thuốc bác sĩ cho, chỉ có Mẹ và Chó Con là thấy tình trạng phần thuyên giảm. Ba và chú Dũng càng uống thuốc ho thì càng ho thêm. Tình trạng ấy kéo dài tới bốn hôm. Hôm sau, cô Chín tới. Cô đề nghị Ba và chú Dũng đổi thuốc khác. Cô cũng đề nghị đổi thuốc cho Miêu. Cô lại bắt cả nhà uống thêm sinh tố C mỗi ngày. Cô nói chính anh chàng Miêu đem bệnh cúm ở trường về truyền cho Chó Con, rồi sau đó truyền cho mọi người.
Bệnh cúm của cả nhà dây dưa đến cả tuần sau mới dứt. Ba với chú Dũng không quen ở không nên cảm thấy khó chịu trong thời gian phải ở trong nhà. Vừa thấy tình trạng sức khỏe khá hơn, Ba đã rủ chú Dũng ra hồ để cưa gỗ tiếp. Hôm đó trời còn lạnh lắm. Ba lỡ chân té xuống hồ. Ở chỗ Ba té nước hồ cạn lắm. Nhưng nước hồ lạnh buốt. Nước hồ thấm vào mấy làn áo ấm làm Ba cóng quá, không cử động được. May quá, lúc đó có chú Dũng đứng bên. Chú nhảy xuống, xốc Ba dậy rồi cõng Ba vào nhà. Từ hồ về tới nhà, con đường dài gần trăm thước. Mẹ vội vàng cởi áo cho Ba, thay áo cho Ba. Mẹ đi làm một ly nước trà đường rất nóng để Ba uống, và xoa bóp cho Ba ấm. Tuy vậy, Ba vẫn bị cảm sốt trở lại, và phải mất hơn một tuần sau mới hết.
Một buổi sáng đang chơi ở sân trường, Tý nhận thấy có gì như bột đang rơi trên tóc Miêu. Ngửng nhìn lên, Tý thấy thứ bột ấy đầy trời. Còn đang ngẩn ngơ, Tý bỗng nghe bọn thằng Baptiste kêu lên: “La neige! la neige!” Tý chợt hiểu. Ðây là tuyết! Tuyết đang rơi! Ðây là lần đầu tiên trong đời, Tý thấy tuyết rơi. Bọn học trò đứa nào cũng mừng. Có đứa đưa hai tay lên đón tuyết. Có đứa há miệng ra cho tuyết rơi vào lưỡi. Tuyết rơi đẹp quá. Tý không biết ở nhà, Ba có biết là tuyết đang rơi không. Không biết là Mẹ và chú Dũng có biết tuyết đang rơi không. Nếu có Tý ở nhà thế nào Tý cũng vào nhà kéo Mẹ ra xem.
Tuyết rơi đều. Ngồi trong lớp, thỉnh thoảng Tý nhìn ra ngoài, hy vọng rằng tuyết còn rơi mãi. Trời đã chiều theo ý Tý. Tuyết rơi cho tới giờ tan học. Ngồi trên xe trường, Tý nhìn ra đồi nương giờ đây đã trắng xóa dưới một lớp tuyết trắng. Chiều hôm ấy khi đi học về, Tý và Miêu biết là có Sư Ông đến chơi với Ba nhưng Tý và Miêu ham chơi tuyết quá nên đã rủ nhau ra trước Tham Vấn Ðường chơi tuyết, cho tới tối, quên cả mọi thứ, quên cả chào Sư Ông. Ðêm hôm ấy, Miêu bị sổ mũi trở lại.
Những chuyện rủi cứ nối đuôi nhau mà tới. Chủ nhật hôm sau, có gia đình anh Paul, con của bác Mounet về thăm. Bác Mounet đưa họ qua chào gia đình Tý. Trong khi mọi người nói chuyện ở nhà bếp, con chó lông xù của anh Paul tới cắn vào đầu con mèo con của Tý. Con mèo con la lên một tiếng rồi nằm quỵ. Hoảng kinh, Tý tới nâng mèo lên. Tay nó dính máu. Miệng Tý bắt đầu mếu. Bác Mounet xô ghế đứng dậy. Bác đỡ lấy con mèo trên tay Tý. Răng chó cắn thủng vào đầu mèo và còn làm bể mũi của mèo. Bác bảo anh Paul choàng áo tơi lên cho bác, và lái xe đưa bác đi thú-y-sĩ ở Eymet.
Con mèo nằm tại bệnh viện thú y hai ngày mới được đem về. Trong thời gian ấy, Tý lo cho nó quá. Ði học Tý cũng lo cho nó. Về tới nhà, Tý cũng lo cho nó. Hôm bác Mounet chở con mèo về, Tý mừng quá. Nó ôm lấy con mèo. Con mèo còn có vẻ yếu quá. Tý xin Mẹ cho nó uống sữa Lacmil. Ba nói: “Mạng sống con người ở Việt Nam không được quý bằng mạng sống của một con mèo.”
Mấy hôm sau, tình cờ Tý tìm được một con mèo con thứ hai. Nó lớn bằng hai con mèo của Tý vừa bị chó cắn. Có lẽ nó là chị của con mèo này. Tý cho hai chị em ở chung. Hai con mèo ưa nhảy lên bàn ăn và lên cả tủ chè để phá, nhưng vì cưng Tý nên Mẹ làm ngơ. “Hai đứa ở với nhau chắc là vui hơn,” Tý nghĩ. Ừ nhỉ. Nếu Tý không có Miêu thì chắc là Tý buồn lắm. Nhưng mà Tý có phước hơn hai con mèo. Không những Tý có Miêu mà Tý còn có Ba, Mẹ, chú Dũng và có Chó Con. Tý còn có cả con dê con nữa. Con mèo không biết cha nó là ai, và cũng không biết mẹ nó ở đâu. So sánh với Tý thì Tý là người sung sướng nhất trên đời rồi.

17. Gà cứng đầu không chịu ăn bo bo

Cô Chín nói sang năm vào giữa tháng bảy, khi Làng Hồng mở cửa sẽ có rất đông thiếu nhi Việt Nam về làng. Cô thêm rằng có thể có hai ba chục đứa, và tụi nó sẽ ở lại làng hơn cả tháng. Tý và Miêu rất ngạc nhiên. Ðây là một miền quê hẻo lánh; Tý và Miêu chưa bao giờ nghĩ là có thể có nhiều trẻ em Việt Nam về đây như thế được. Nếu tụi nó về đây đông như vậy thì vui lắm. Cô Chín đã nói thì chắc là có thật. Nhưng mà Tý vẫn có cảm tưởng rằng điều này khó xẩy ra lắm. Mấy tháng nay ở đây, chỉ có hai anh em nó chơi chung với nhau. Có khi hai anh em chơi với thằng Chó Con. Nhưng Chó Con còn nhỏ quá, hai anh em chỉ có thể ôm nó và nựng nó. Chiều nào đi học về hai đứa cũng chạy vào thăm em. Chó Con lớn chậm quá. Chừng nào nó mới có thể chạy chơi ngoài trời với Tý và Miêu?
Nhưng Tý và Miêu cũng có những người bạn khác. Không phải là mấy đứa tây con và đầm con ở trường đâu. Học chung với tụi nó cả mấy tháng rồi mà Tý và Miêu chưa thực sự thân với đứa nào cả, trừ thằng Baptiste. Bạn đây là một con dê con và một mèo con. Tý và Miêu đã để rất nhiều thì giờ để chăm sóc hai con này.
Con dê của dì Margaret cho đã sinh ra được một chú dê nhỏ. Mới sinh ra được hai ngày con dê đã dài được năm tấc rồi! Ðó là một con dê con rất đẹp. Lông nó màu sô-cô-la rất mịn. Hai mắt nó ươn ướt. Cái mõm của nó cũng ươn ướt. Nó uống sữa của mẹ nó được chừng năm hôm thì nó bắt đầu bắt chước mẹ nó ăn cỏ. Tý đi kiếm một sợi dây buộc nó vào với sợi dây xích của mẹ nó. Như vậy khi ăn cỏ, hai mẹ con ăn gần nhau. Hai mẹ con chỉ có thể xa nhau nhiều lắm là bốn thước.
Trời càng lạnh thì cỏ càng ít. Tý phải đem bắp cho hai mẹ con con dê ăn thêm. Con dê con ăn bắp ngay trong lòng bàn tay của Tý. Ban đêm, để cho hai mẹ con con dê đỡ lạnh, Tý cột chung trong chuồng cừu. Chuồng cừu hiện không có con cừu nào.
Có hôm ăn bắp nhiều, con dê mẹ đi tiêu chảy, nằm oẹp. Ba bảo Tý nghiền nát một viên Ganidan và pha vào nước ấm cho dê mẹ uống.
Con dê con có hai cái sừng nhỏ xíu mới nhô lên trên đầu nó. Tý rất thích ôm cái đầu con dê con trong hai tay mình. Trò chơi mà Tý ưa nhất là đưa đầu gối của mình cho con dê con húc. Con dê con húc khá mạnh nhưng không đủ để làm cho đầu gối Tý đau. Buổi chiều nào, khi đi học về, Tý cũng vào thăm thằng Chó Con trước, chơi với nó một lát rồi mới chạy ra tìm con dê con và đưa đầu gối cho dê húc.
Ðã hai ba phen Tý bị Mẹ rầy vì hai mẹ con con dê đã nhổ được cọc cắm và chạy đi ăn lá cây tùng và những chiếc đọt của cây hồng dòn mà Ba mới trồng. Tý tự nhủ là mình phải đóng cọc thật sâu để cho hai mẹ con con dê không còn nhổ lên và chạy hoang được. Ba nói Ba và chú Dũng đã bỏ biết bao nhiêu công phu để trồng cây; nếu Tý không giữ được hai mẹ con con dê thì Ba sẽ bị bắt buộc phải trả chúng lại cho dì Margaret.
Tý lo sợ. Nó đã thương con dê quá mức; bây giờ nếu Ba trả dê cho dì Margaret chắc là nó buồn lắm. Nó tới vò đầu con dê con và bảo dê đừng có ráng nhổ cọc của nó.  Nó cũng đến gần con dê mẹ để căn dặn như thế. Nhưng nó biết căn dặn là một chuyện mà đóng cọc cho chắc lại là một chuyện khác. Khốn nỗi, trời cứ mưa hoài; đất ở đâu cũng mềm quá. Ðóng sâu đến mấy cũng không thể gọi là hoàn toàn bảo đảm.
Bạn thứ hai của Tý và Miêu là một con mèo con. Tý bắt được con mèo này trong kho chứa rơm. Nó là một trong mấy đứa con của một con mèo hoang đã vào trốn trong kho chứa rơm để sinh đẻ. Một hôm Tý và Miêu đi chơi vẩn vơ trong kho rơm thì nghe tiếng mèo con kêu. Tý nhảy lên đống rơm tìm. Nó bắt được con mèo con. Con này có lẽ là con nhỏ nhất. Mấy con kia, mèo mẹ đã đem đi dấu ở một nơi khác. Tý và Miêu đem con mèo con vào nhà, đặt nó gần lò sưởi cho ấm. Nhưng con mèo con vẫn khóc và vẫn run. Hôm đó có Sư Ông tới chơi. Sư Ông đi lấy một cái thùng giấy, bỏ nhiều giẻ rách vào trong ấy và đặt mèo con vào. Sư Ông bảo Tý để cái thùng gần lò sưởi. Con mèo con chịu nằm yên trong ấy. Tý xin phép Mẹ lấy một muỗng bột Lacmil của Chó Con pha vào nước ấm cho mèo con uống. Mèo con uống sữa rất ngon lành.
Ngoài việc săn sóc cho dê và mèo, Tý còn việc săn sóc gà vịt nữa. Bốn bao bắp, gà đã ăn hết ba; vậy mà chúng chưa đẻ cho gia đình Tý được một cái trứng nào. Ba bảo có thể vì trời lạnh quá nên gà không đẻ trứng. Chú Dũng nói có thể là vì có hai con vịt ở chung cho nên gà ghét mà không đẻ trứng. Theo chú Dũng thì mấy con vịt dữ lắm, chúng cứ ăn hiếp gà hoài. Mà thật vậy, Tý đã từng thấy một con vịt nhảy lên lưng một con gà và cắn nó làm cho con gà rụng cả lông. Chú Dũng nói phải đợi tới mùa xuân mới có thể làm chuồng gà và chuồng vịt riêng được. Hai chuồng này sẽ làm xa nhà, gần hồ nước, để vịt có thể bơi lội.
Mấy hôm rồi Tý nghe lời Mẹ đem bo bo (sorgho) cho gà và vịt ăn. Chúng nó chê không chịu ăn. Mẹ nói: “Cứ để đó, hễ chúng đói quá thì chúng phải ăn.” Nhưng chúng không ăn. Chúng nhịn đói luôn mấy hôm. Tý định lấy bắp cho chúng, nhưng Tý không dám. Mẹ có vẻ giận. Mẹ nói: “Ở Việt Nam, người mà còn phải ăn bo bo, huống nữa là gà. Gà bên này hư thân mất nết đã quen. Phải tập cho chúng ăn bo bo.” Bọn gà vẫn không chịu ăn. Chúng nó cứng đầu quá. Mà Mẹ vẫn không chịu thua. Mẹ nghĩ tới trẻ em bên nhà, có khi không có cả bo bo mà ăn, cho nên Mẹ giận gà. Bên nào cũng không chịu thua bên nào. Bên nào cũng nhất quyết giữ vững lập trường của mình. Cho đến một hôm chú Charles tới thăm và la lên rằng gà ốm quá, rằng gia đình Tý đã bỏ đói gà. Ba thuật lại tự sự. Chú Charles cười, nói rằng ngày mai chú sẽ chở tới tặng thêm hai bao bắp nữa cho gà. Chú dặn phải kiên nhẫn. Tới mùa xuân gà mới đẻ nhiều trứng. Tý bắt đầu cho gà ăn bắp trở lại.
Chú Jean-Pierre có đem tới cho gia đình một bánh phô-mai làm bằng sữa dê. Chú nói phô-mai này ngon và bổ lắm. Chú Jean-Pierre là người chăn cừu. Phô-mai này do chính tay chú làm lấy. Ba, Mẹ và chú Dũng mỗi người cắt một miếng nhỏ để ăn thử, nhưng ai cũng không thấy ngon. Chưa ai quen với mùi sữa dê và mùi phô-mai sữa dê. Cả nhà có ý định đem tặng bác Mounet chỗ phô-mai còn lại.
Chú Jean-Pierre cao và lớn. Trước đó một tháng chú bị sưng cổ rất đau. Chú đã thử nhiều thứ thuốc nhưng không thấy bớt. Chú nói ban đêm đau quá, chú ngủ không được. Ăn cũng không được. Cô Chín cho chú một thứ trụ sinh, dặn về uống cho đều trong năm ngày. Năm hôm sau, hết bệnh, chú tới cám ơn cô Chín. Bác Mounet hỏi cô Chín để xem cô đã cho chú Jean-Pierre thứ dược thảo nào. Cô Chín cười, không trả lời. Chú Jean-Pierre cũng cười. Bác Mounet nghĩ cô Chín là người Á Ðông thì chắc là cô đã cho chú Jean-Pierre uống thuốc Á Ðông.

16. Hai cây sồi trốc gốc

Cách nhà chừng một trăm thước, sát bên vườn nho, Ba và chú Dũng đã dựng lên một cái nhà lợp bằng ni-lông để trồng rau. Nhà này dài hai mươi thước và rộng bốn thước. Cô Chín gọi cái nhà trồng rau ấy là nhà mặt trời; còn bác Mounet gọi cái nhà ấy là serre. Sư Ông đã đem từ sơn cốc về nhiều bụi hẹ và rất nhiều cây cải bẹ xanh con con để trồng trong ấy. Ba cũng gieo hạt ngò và hạt cải bẹ xanh để trồng thêm. Nhà mặt trời ấm lắm. Vào mùa đông ngò cải và một vài thứ rau khác có thể mọc và lớn lên trong nhà mặt trời. Nhà mặt trời khá cao; đứng giữa nhà Ba phải nhón gót thì mới đưa tay đụng tới nóc nhà được. Ban đêm khi trời lạnh, rau cải khựng lại không mọc. Nhưng ban ngày, nếu có nắng, thì không khí trong nhà mặt trời ấm lên, rau lớn rất nhanh. Bác Mounet gọi những tấm ni-lông là films thermiques. Chú Dũng dịch ra tiếng Việt là phim nhiệt. Sư Ông nói ở sơn cốc nhờ có một cái nhà mặt trời nhỏ mà Sư Ông có đủ rau để ăn suốt mùa đông. Khi có nắng, cả nhà làm việc trong nhà mặt trời vừa ấm vừa vui. Có khi Ba và chú Dũng nóng quá, phải cởi áo ngoài móc lên trần nhà. Nhiều khi ở ngoài trời đang mưa mà ở trong nhà chú Dũng vẫn phải tưới.
Bác Mounet làm nghề chế tạo những đồ đồng như chân đèn, hộp đồng, chảo đồng vân vân… để trang hoàng trong nhà. Ba nói ngày xưa bác đã tốt nghiệp trường canh nông và từng khai thác một nông trại lớn. Về sau, vì bác gái bệnh nên bác phải đổi nghề để có thể làm việc ngay tại trong nhà để đồng thời chăm sóc bác gái. Bác hứa sẽ hướng dẫn cho Ba và chú Dũng trong việc khai thác nông trại. Bác đã đưa Ba và chú Dũng đi chọn mua được một chiếc máy cày cũ hiệu John Deere mạnh sáu mươi lăm mã lực. Ba và chú Dũng đã xử dụng được máy cày nhờ sự hướng dẫn của bác. Ngày xưa ở Trường Xã Hội Ba cũng đã từng thử lái máy cày, nhưng đó chỉ là những chiếc máy cày nhỏ xíu.
Chú Dũng cày được hơn một mẫu thì trời mưa liên tiếp, không cày tiếp được. Còn trên mười mẫu chưa cày. Nghe nói phải cày trong mùa đông thì đến đầu xuân đất mới tốt được. Ba và chú Dũng dự trù trồng mận, trồng bắp và trồng hoa hướng dương. Hướng dương trồng để lấy hột làm dầu ăn. Bác Mounet nói rằng mùa thu vừa qua, rất nhiều nông dân trong vùng đã trúng mùa hoa hướng dương. Cô Chín rất ưa trồng hoa hướng dương. Cô bảo đồng hướng dương với hàng triệu bông hoa xoay về phía mặt trời mọc là một cảnh tượng rất đẹp. Hôm tiếp tân, cô Chín đã hát một bài hát trong đó có
bông hướng dương. Cô hát:
Em đi ngang qua đồng hoa hướng dương
Hàng vạn bông hoa ngoảnh nhìn về
phương đông chói sáng
Ý thức em, mặt trời tỏ rạng
Bàn tay em gieo hạt cho mùa sang năm…
Phải có nắng liên tiếp ba ngày đất mới tạm khô để máy cày có thể đi xuống ruộng. Ðàng này mưa liên miên từ ngày này sang ngày khác không ngớt. Thỉnh thoảng trời tạnh được nửa ngày. Rồi trời lại mưa. Một buổi chiều thứ bảy, gió bắt đầu thổi mạnh. Ba ra lệnh đóng chặt tất cả mọi cánh cửa, cửa kính cũng như cửa song. Gió càng lúc càng dữ dội. Mưa gió bắt đầu gào thét suốt đêm hôm đó và kéo dài suốt cả ngày chủ nhật. Chiều chủ nhật Ba có việc phải mở cửa đi ra ngoài. Ðến khi trở vào, Ba nói suýt tý nữa gió thổi bay cả Ba đi. Nhà có nhiều chỗ dột. Chú Dũng nói gió đã thổi bay mất nhiều miếng ngói trên mái. Gió thổi mạnh khiến cho khói ở ống khói lò sưởi không bay lên được và còn bị thổi ngược vào phòng ngủ. Ba phải đi tắt lò củi và mở lò điện. Ðến khuya, điện bị cắt, lò sưởi điện cũng tắt. Nhà bị lạnh. Ba lại lui cui dậy đốt lò củi. May thay, lúc ấy trời đã gần sáng và gió đã dịu lại.
Sáng thứ hai, Tý và Miêu không đi học bởi vì xe trường không đến rước. Bác Mounet trai qua thăm. Bác cho biết cây cối đổ ngã rất nhiều và cột điện cũng vậy. Giây điện đứt nhiều nơi. Sở điện khí đang nỗ lực gửi người đi sửa chữa những nơi hư hại. Bác nói hy vọng tối đến thì có điện lại. Bác bảo trường học đóng cửa. Rồi bác cho biết là hai cây sồi cổ thụ đã bị bão thổi trốc gốc.
Cả nhà giật mình. Mọi người khoác áo chạy ra nhìn. Hai cây sồi đã trốc gốc thật. Cây này nằm đè lên cây kia, trông rất thảm thương. Tý cảm thấy nằng nặng trước ngực. Nó nghĩ tới Sư Ông. Sư Ông cưng hai cây sồi này lắm. Nếu Sư Ông biết hai cây sồi đã ngã chắc là Sư Ông sẽ khóc. Giờ này Sư Ông ở trên Xóm Thượng. Tý nóng ruột muốn biết Sư Ông còn ở trên ấy bình an không và nhà cửa trên ấy có đứng vững không. Trên Xóm Thượng có một cây đề rất lớn. Tý cầu Bụt cho cây đề ấy còn đứng vững.
Cả nhà trừ Chó Con, theo bác Mounet ra thăm hai cây sồi. Ðứng trước cảnh tượng hai cây cổ thụ trốc gốc, Ba cứ chép miệng hoài. Cảnh tượng hoang tàn quá. Tý cảm thấy như một cái gì linh thiêng vừa sụp đổ. Hai cây sồi cổ thụ thật là những vật linh thiêng. Mọc mầm, lớn lên, sống trên ba trăm năm, hai cây sồi đã từng chứng kiến biết bao nhiêu đổi thay trong vùng này. Khi hai cây sồi lớn lên thì nhiều ngôi nhà ở Xóm Hạ chưa được xây dựng. Có người đã sanh ra và có người đã chết đi. Có người đi về phương xa lập nghiệp. Nhưng hai cây sồi vẫn còn đó, reo hò với gió, tươi cười với nắng, âu sầu với mưa. Chú Dũng tính nhẩm trong óc rồi nói rằng hai cây sồi này đã chứng kiến cảnh mặt trời mọc tới một trăm lẻ chín ngàn năm trăm lần. Bây giờ chúng đã ngã xuống. Những chiếc rễ lớn như những chiếc chân voi chổng ra, ngang ngửa trên mặt đất.
Bác Mounet giải thích: trời mưa lâu quá cho nên đất trở nên mềm nhũn. Lá sồi rụng chậm hơn mọi thứ lá cho nên còn bám đủ trên cành. Khi nước đọng vào, cành lá nặng bằng trăm lần những cây khác. Vì vậy cho nên hai cây sồi đã phải ngã quỵ trước sức gió.

15. Cô Margaret đem tặng gia đình Tý một con dê

Ở Strasbourg, Tý đã hiểu sơ lược những điều cô giáo nói, nhưng tại trường làng ở đây, Tý chẳng hiểu được một tiếng. Sau này cô Chín cho Tý biết đó là tại thầy giáo nói giọng Nam. Giọng Nam khác với giọng Bắc khá nhiều. Thầy giáo của Tý tên là Rivière.
Chỉ ba hôm sau ngày về định cư, Tý và Miêu đã được cô Chín chở lên trường làng và xin cho hai đứa vào học. Tại trường, Tý và Miêu chỉ quen với một đứa học trò độc nhất. Ðó là thằng Baptiste, con thím Marie-Thé ở trong làng, người đã đến thăm và đem cho gia đình Tý mấy thước củi để đốt lò sưởi. Củi của mẹ Baptiste cho toàn là gốc nho rất khô, rất cứng, đốt rất đượm và rất bền.
Mấy hôm nay gia đình Tý khám phá ra được một loại áo quần mặc vào rất ấm: đó là áo quần lót mặc sát vào người như một lớp da thứ hai vậy. Người Pháp gọi thứ áo quần này là sous-vêtements. Ðầu tiên hết, cô Chín mua về tặng cho mỗi người một bộ. Tý và Miêu mỗi người cũng có một bộ nhỏ xíu. Ai mặc vào cũng thấy ấm. Mặc thứ ấy vào xong, người ta mới mặc áo thun hay áo sơ mi và thêm các loại áo len ra ngoài. Ba cười và nói rằng nếu không mặc áo lót thì có mặc bao nhiêu áo len ra ngoài cũng không thấy ấm.
Trời đã lạnh lắm, người nào cũng thở ra hơi. Da môi của chú Dũng bị nứt nẻ. Da môi của Ba thì thâm tím lại. Mẹ uống thuốc cô Chín cho đã hết đau. Ba và chú Dũng đã đưa cả gia đình, trừ Chó Con, đi thăm hết mọi ngõ ngách của vườn ruộng. Hồ nước mà chú Dũng nói hôm nọ nằm gần sát khu rừng mà Ba và chú Dũng thường tới đốn củi. Hồ nước rất sâu và rất dài. Ba cấm không cho Tý và Miêu lai vãng tới đó, nếu không có người lớn đi kèm. Chừng một tuần lễ sau khi gia đình Tý dọn về nhà, Ba tổ chức một buổi tiếp tân tại nhà để cô Chín giới thiệu với Ba những bạn hữu đã giúp đỡ cô trang bị nhà cửa để đón gia đình Tý về. Cô Chín và Mẹ đã làm được rất nhiều chả giò và chuối chiên. Chú Charles và cô Anne Marie lại đem tới một ổ bánh bông lan rất lớn. Các cô chú tới rất đông, khoảng chừng ba mươi người, phần lớn là người Pháp. Có chừng bốn đứa trẻ con người Pháp và hai đứa người Anh. Hai đứa trẻ người Anh là con của cô Margaret. Cô Margaret đã từng đem tới cho gia đình Tý bốn con gà mái. Hôm nay đến dự lễ tiếp tân cô đem thêm cho Mẹ một con dê. Cô nói con dê này sẽ cho ra đời một con dê con trong vòng mấy tuần lễ nữa. Sữa dê bổ lắm, cô nói, và ta nên lấy sữa này cho Chó Con uống để nó mau lớn. Con dê được cột vào một sợi dây xích, đầu sợi dây có một cái cọc sắt. Cô dạy cho Tý đóng cọc xuống một nơi còn cỏ xanh để cho con dê ăn cỏ.
Buổi tiếp tân rất vui. Có cả ông Xã bà Xã tới dự. Ba kể chuyện vượt biên của gia đình Tý. Ba nói rất chậm rãi. Khi Ba kể đến hồi ghe bị tàu Cap Anamur đuổi theo, không khí đầy hồi hộp. Ba nói hồi đó trên ghe chưa ai biết đó là tầu cứu trợ. Mọi người sợ đó là tàu Nga hoặc là tàu tuần tiễu của chính quyền. Mọi người sợ nó bắn chìm ghe.
Sau khi ăn bánh và uống trà, cô Chín đề nghị làm văn nghệ. Có rất nhiều người hát. Có nhiều bài hát tiếng Pháp. Có vài bài bằng tiếng Anh. Cô Chín cũng hát bài tiếngViệt. Tý cũng hát một bài. Ðó là bài Trường Làng Tôi. Tý hơi mắc cỡ bởi vì ai cũng nhìn vào Tý hết.
Mấy mẫu bắp được gặt xong, Mẹ bảo Tý và Miêu mang bao theo Mẹ ra ruộng mót bắp. Ba người mót trong bốn ngày liền và trảy được bốn bao tạ bắp đầy. Có hôm Sư Ông về chơi, Sư Ông cũng ra mót bắp chung với Miêu và Tý. Ba và chú Dũng đã làm xong máng ăn và máng uống cho chuồng gà. Mỗi buổi chiều đi học về, Tý có bổn phận lấy bắp cho gà ăn và lấy nước cho gà uống. Có hai con vịt, chú Dũng cũng thả chung trong bầy gà. Hồ nước lạnh quá, chú không dám thả vịt xuống.
Một buổi sáng chủ nhật kia, khi thức dậy, Tý thấy lạnh. Nhìn ra ngoài trời, Tý thấy trắng xoá. Tưởng là có tuyết, Tý reo lên. Chú Dũng cũng vừa dậy. Tý kéo chú Dũng tới gần cửa sổ chỉ cho chú thấy cảnh tượng bên ngoài. Cả hai chú cháu đều chưa bao giờ thấy một cảnh tượng như thế. Cả hai chú cháu đều nghĩ đó là tuyết.
– Tý mặc áo cho thật ấm và mang ủng vào. Mình đi ra ngoài xem tuyết.
Tý chạy đi mặc áo quần và mang ủng. Tý lại đội thêm cái mũ len. Chú Dũng và Tý mở cửa đi ra ngoài. Trời lạnh thật. Ủng của hai chú cháu dẫm trên những cọng cỏ nghe rất dòn. Nghe dòn như rơm khô. Bỗng Tý phát giác ra rằng nước ở trong cái bồn phía ngoài sân đã đóng lại thành nước đá. Chưa bao giờ Tý thấy nước đóng lại thành nước đá như vậy. Tý gọi chú Dũng. Chú Dũng cũng chưa từng thấy nước đá ngoài trời. Ðây là mùa đông đầu tiên của cả hai chú cháu tại Pháp. Chú Dũng đưa tay đẩy rồi nâng lên một tảng nước đá tròn như chiếc bánh tráng dày tới khoảng mười lăm ly.
Ở Việt Nam Tý chỉ biết nước đá cục uống với chanh đường, hoặc nước đá bào ăn với xi rô lạnh buốt. Nước đá phải được chế tạo bằng máy. Ở đây nước tự nhiên đóng lại thành đá. Tý nghĩ mình có thể đem nước đá này vào để làm chanh đường. Nhưng Tý bật cười. Trời này lạnh quá, ai mà thèm nước đá chanh đường. Tý đỡ tảng nước đá trên tay chú Dũng. Hai tay Tý lạnh cóng. Hai tay Tý đau buốt. Tý trao tảng nước đá lại cho chú Dũng. Hai chú cháu đem cái ”bánh tráng nước đá” vào nhà để khoe với Ba, Mẹ và Miêu. Ai cũng sáng mắt ngạc nhiên. Ba và Miêu đã mặc áo và đi ủng xong. Mọi người trừ Mẹ và Chó Con, lại đi ra ngoài để quan sát. Mặt nước hồ cũng đã đóng lại thành nước đá. Tý và Miêu lượm những viên sỏi chọi xuống mà mặt nước đá vẫn không vỡ. Mặt nước đá chỉ vỡ khi chú Dũng thọc gậy xuống. Nuớc đá đóng lại trên mặt hồ dày khoảng một phân tây.
Trưa hôm ấy, có cô Chín lại chơi. Tý thuật lại cho cô nghe câu chuyện đi chơi nước đá. Cô Chín nói cái chất trắng trên cỏ kia không phải là tuyết. Ðó là sương đóng băng. Tiếng Tây gọi là givre hay là gelée blanche. Hôm ấy cô đem biếu cho gia đình Tý một cái hàn thử biểu. Hàn thử biểu chỉ ba độ dưới không. Cô nói ở vùng này ít khi có tuyết lắm. Vài năm tuyết mới rơi một lần.

14. Tý gặp chú jean-pierre, người chăn cừu

Sáng hôm sau, trời hửng nắng. Chú Dũng đưa Tý và Miêu đi thăm Xóm Hạ. Trước hết chú đưa Tý và Miêu đi viếng các ngôi nhà. Có cả thảy là tám cái nhà ở Xóm Hạ. Tất cả đều nằm trên lưng đồi. Ðầu xóm là nhà bác Mounet, có rất nhiều cửa kính và có giây leo leo kín cả tường. Cách nhà bác Mounet vài mươi thước là nhà của gia đình Tý. Giữa hai nhà có một dãy cây tùng rất xanh dùng làm hàng dậu. Tất cả mọi ngôi nhà đều được xây bằng đá. Chú Dũng nói những ngôi nhà này đã được xây cất trước đây chừng hai trăm năm. Tường rất dày, dày có tới bảy hay tám tấc. Mái nhà được lợp bằng ngói âm dương. Sát nhà của Tý là nhà “se” rất rộng. Nhà “se” (tiếng Pháp là chai) là chỗ để làm rượu nho. Có máy ép nho và có nhiều hầm chứa rượu. Ngôi nhà kế là một nơi dùng để chứa rơm, còn lớn hơn nhà của Tý nữa. Nhà này có một lối vào rất lớn. Cửa vào xây bằng đá tảng theo hình vòng cung; có hai cánh cửa gỗ to tướng khép lại. Cửa này phải là người lớn mới đủ sức mở hay đóng. Nhìn vào Tý thấy rơm được chất đầy từng bó thật lớn. Chú Dũng nói nhà này sẽ được làm thành thư viện và thiền đường cho Xóm Hạ. Nhà kế là một cư xá, nghĩa là một cái nhà để ở. Nhà này có bốn phòng ngủ và một phòng lớn vừa làm phòng khách vừa làm nhà bếp. Ở đây cũng có nơi để đốt lò sưởi. Kế bên lại có một nhà làm rượu nho trong đó có nhiều hầm chứa rượu. Phía trước cư xá, Tý thấy một giếng nước xây bằng đá có ống bơm tay. Vòng ra phía sau, đi chừng năm mươi thước nữa, Tý thấy có một cái nhà khác. Chú Dũng nói nhà này vốn là một cư xá nhưng lâu nay đã được dùng cho cừu ở. Bên trong, Tý thấy rất nhiều rơm và nhiều máng nước để cừu uống. Vòng ra phía trước có một ngôi nhà khác. Chú Dũng nói nhà này ngày xưa người ta dùng làm chỗ sấy mận.

– Sấy mận là gì hả chú Dũng? Miêu hỏi.

– Sấy mận là đốt lửa để sấy cho trái mận khô lại. Ở vùng này có một thứ mận gọi là pruneaux d’Agen ăn ngon lắm, nhưng quá nhiều thành ra người ta phải sấy cho khô để dành và đem sang bán cho các nước Âu Châu khác. Mận sấy là một nguồn lợi tức quan trọng của vùng này.

Chú Dũng cho biết lâu nay người ta không sấy mận trong nhà này nữa. Trái lại, họ dùng ngôi nhà để nuôi gà và nuôi heo. Ði xa hơn nhà sấy mận chừng năm mươi thước nữa, Tý và Miêu thấy một dãy nhà dài, dài chừng sáu mươi thước. Chú Dũng nói nhà đã được dựng lên để sấy thuốc lá. Hiện nay vì không trồng thuốc lá nữa cho nên nhà lại dùng để chứa rơm. Nhà có mái lợp bằng những tấm xi măng dợn sóng và không có vách.

Xem xong các ngôi nhà, chú Dũng, Tý và Miêu xuống thăm vườn nho, hai cây sồi cổ thụ và hồ nước. Vườn nho đã trụi lá. Những gốc nho cao hơn Tý và lớn gần bằng bắp tay của chú Dũng. Chú Dũng bảo trong mùa Ðông này, chú phải cắt tỉa các cành nho thì mùa thu năm sau nho mới có trái. Bác Mounet đã hứa chỉ cho Ba và chú Dũng cách tỉa, làm cỏ và bỏ phân cho vườn nho.

Qua khỏi vườn nho, chú Dũng dừng lại bên cây táo (pommier). Chỉ vào những trái táo đỏ chói còn lại trên cây, chú Dũng nói:

– Táo này ngon lắm. Hôm trước Sư Ông và chú Dũng đã hái được mấy giỏ rồi. Những trái còn lại Sư Ông bảo để dành cho Tý và Miêu hái.

Lập tức Tý bám lấy thân cây táo leo lên. Miêu cũng bắt chước anh. Ðây là lần đầu tiên Tý được hái trái táo trên cây táo và cắn vào một trái táo khi chân còn đứng trên cành táo.

Trái táo rất ngọt. Chú Dũng bảo tại Xóm Hạ có vào khoảng mười cây táo, mười cây lê, bốn cây mận, tám cây đào tiên, tám cây anh đào và năm cây hồ đào. Chú bảo hiện giờ trái hồ đào rụng nhiều lắm, Tý và Miêu có thể tha hồ đi lượm. Hạt hồ đào ăn béo lắm, nhưng trước khi ăn phải lấy đá đập bể cái vỏ cứng bên ngoài. Cây hồ đào tiếng Tây gọi là noyer. Chú Dũng nói vườn ruộng Xóm Hạ rộng lắm, không thể đi thăm hết trong buổi sáng được. Chú đưa Tý và Miêu tới thăm hai cây sồi cổ thụ. Hai cây sồi lớn thật, lớn hơn hai cây sồi trong trí tưởng tượng của Tý nhiều. Ba người đi phía dưới và nghe gió thổi vi vu trên cành lá. Một ngọn gió thổi qua hơi mạnh làm trái sồi rụng xuống như mưa. Tý đợi cho hết gió mới ngước mắt nhìn lên. Cành lá sum suê che kín hết cả trời. Nghe nói những cây sồi này đã sống hơn ba trăm tuổi. Ðối với hai cây sồi này, ngoại chỉ là một thiếu nhi… Chú Dũng lượm hai trái sồi, một đưa cho Tý, một đưa cho Miêu. Chú nói bọn gà ưa ăn trái sồi này lắm.

Nhắc đến gà, chú Dũng cười. Chú nói với Tý và Miêu:

– Nhà mình đã có tám con gà rồi. Của dì Marie-Paule cho. Dì nói nên nuôi gà để có trứng mà ăn cho bổ. Trong đất làng có mấy mẫu bắp sắp được gặt. Mai mốt, khi bắp đã gặt xong, Tý và Miêu sẽ đi mót những trái bắp sót đem về để nuôi gà.

Bỗng Tý nghe nhiều tiếng lục lạc. Tiếng lục lạc càng lúc càng gần, càng lúc càng rõ. Tý chưa kịp hỏi thì chú Dũng đã đưa tay chỉ về phía hai cây táo. Theo tay chỉ, Tý thấy một đàn cừu rất đông, một đàn cừu ít nhất cũng có tới vài trăm con, đang rộn rịp đi tới. Phía sau, có một người mặc áo ấm dài, đầu đội nón len, chân đi ủng, tay cầm một cây gậy dài, đang lùa cừu đi tới.

– Ðó là chú Jean-Pierre, người chăn cừu, chú Dũng nói. Chú Jean-Pierre đang lùa cừu tới ăn cỏ quanh hai cây sồi cổ thụ. Lẫn trong đàn cừu, Tý thấy có cả những con dê. Có cả một con dê con đang lẩn quẩn bên chân con dê mẹ. Chú Dũng tới bắt tay chú Jean-Pierre rồi giới thiệu Tý và Miêu. Chú cho Tý và Miêu biết rằng nhà chú Jean-Pierre ở cách đây chừng ba cây số. Chú Jean-Pierre chăn cừu, chăn dê, làm pho-mai sữa cừu và pho-mai sữa dê đem ra chợ bán. Chú được phép cho cừu và dê ăn cỏ ở đây cho tới hết tháng mười một. Chú Dũng vuốt tay áo ấm của Tý và cho Tý biết áo của Tý được làm bằng lông cừu. Tý nhìn lại bầy cừu. Lông của chúng lấm lem. Có con vướng bùn cả mình đen thui. Lông cừu như thế mà làm được những cái áo ấm trắng nõn thì tài thật. Chú Dũng bảo mỗi đầu hạ, người ta hớt lông cừu cho cừu mát, và đem lông ấy đi bán cho người chế tạo sợi len. Những người này đem lông cừu giặt thật sạch. Họ còn giặt lông cừu bằng những chất hóa học khiến cho lông cừu trở thành trắng nõn. Họ lại có thể nhuộm lông cừu bằng đủ thứ màu. Áo của Tý được đan bằng len trắng và len nâu. Len chỉ có nghĩa là lông cừu. Len là một từ ngữ lấy từ chữ laine của Pháp. Ngày xưa ở nước ta có người gọi áo len là áo lông cừu, hoặc là áo cừu. Áo ấm được gọi là áo ngự hàn, tức là áo để ngăn cái lạnh.

Gần sát vườn nho là ruộng bo bo. Người ta trồng bo bo để cho trâu bò gà vịt ăn. Chú Jean-Pierre nói với chú Dũng là bọn cừu ưa bo bo lắm. Nếu chú vô ý một chút, tức thì bầy cừu tấn công vào ruộng bo bo. Chú bảo loài cừu thích ăn bo bo cũng như loài người thích ăn bánh bông lan vậy. Câu ví von đó làm cho Miêu bật cười. Miêu ưa ăn bánh bông lan vô cùng.

Tới hồ nước, chú Dũng chỉ cho Tý và Miêu thấy những cây cao, thẳng và ốm mọc bên bờ hồ và bảo đó là những cây bạch dương. Lá bạch dương đã úa vàng và sắp rụng. Chú Dũng chỉ hồ nước và nói với hai đứa:

– Mai mốt mình sẽ mua vài con vịt thả xuống hồ nước này để chúng bơi cho đẹp.

Chú cho Tý và Miêu biết là trong vườn nhà còn một hồ nước lớn bằng mấy mươi hồ nước này, nhưng ở hơi xa và phải mang ủng mới đi thăm được. Chú nói là mùa xuân tới, chú sẽ trồng nhiều mẫu bắp, nhiều mẫu hướng dương và đủ loại rau đậu để đủ ăn trong gia đình.

Khi ba chú cháu về tới nhà, thì Ba và Mẹ đã tháo mở các thùng hành lý và sắp đặt mọi thứ vào kho, vào kệ và vào tủ. Mẹ đã tìm thấy chỗ để gạo, để muối, để soong, nồi, và chảo. Cô Chín đã lo chu đáo mọi thứ. Trong tủ lạnh có đủ thức ăn cho một tuần lễ. Trong kho, có rất nhiều ly tách, soong chảo, muỗng, nĩa. Cô Chín nói những thứ này là do dì Marie-Paule, Marie-Thé và chú thím Charles đem đến tặng cả. Mẹ bằng lòng nhất là mười cái chén và mười đôi đũa mà Cô Chín đã mua ở tiệm thực phẩm Á  Ðông. Mẹ nhờ Tý săn sóc Chó Con, và đi vào bếp chuẩn bị bữa cơm trưa Việt Nam đầu tiên trên đất Pháp, trong nhà bếp của Mẹ.

13. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng

Xe lửa tới ga Libourne thì đã năm giờ chiều. Gia đình phải xuống đây và thay xe lửa khác. Nửa giờ đồng hồ sau, xe tới ga Sainte Foy.

Tý nắm tay Miêu. Hai đứa xuống trước. Mẹ ẵm Chó Con. Ba dìu Mẹ xuống xe. Trời đã tạnh mưa nhưng bầu trời đầy mây. Ga Sainte Foy nhỏ xíu. Có bốn người đứng đón gia đình Tý ở sân ga. Chú Dũng, cô Chín, Sư Ông và một người Pháp. Bốn người thấy gia đình Tý đều cười. Chú Dũng đến ôm hai đứa trong tay. Cô Chín đến đỡ Mẹ. Sư Ông đến cầm tay Ba. Người Pháp cũng đến bắt tay Ba. Ba đã gặp ông này trong chuyến đi kỳ trước. Sau này Tý biết tên ông là Mounet, người hàng xóm của gia đình Tý, và gọi ông là bác Mounet.

Cô Chín không khác trong bức hình chụp dưới giàn su là mấy. Cô mặc áo mưa dài màu đen. Cô nhìn hai đứa, cười. Khi Tý và Miêu đến vòng tay chào cô, cô vuốt tóc và đọc đúng tên họ từng đứa: “Ðây là Lê Hải-Triều-Âm phải không? Và đây là Lê-Thiều-Quang.”

Ba đưa Tý và Miêu tới gần Sư Ông, và bảo hai đứa chắp tay cúi đầu chào. Tý thấy Sư Ông không giống gì với hình ảnh mình tưởng tượng trong óc lâu nay cả. Sư Ông không có bộ râu dài bạc nào cả, trái lại tóc Sư Ông vừa ngắn vừa đen. Nước da Sư Ông sạm nắng cũng đen thui. Sư Ông cũng không già như Tý nghĩ. Sư Ông mặc áo quần nâu vừa xấu vừa cũ, bên ngoài lại khoác áo mưa màu đất sét, trông rất dơ. Tuy nhiên Sư Ông cũng chắp tay trước ngực chào lại hai đứa một cách cẩn thận. Tý hơi mắc cỡ khi thấy Sư Ông nhìn mình. Mà Sư Ông cứ nhìn Tý hoài.

Có hai chiếc xe hơi đi đón gia đình Tý, xe cô Chín và xe bác Mounet. Chú Dũng, Tý và Miêu ngồi xe bác Mounet cùng với những thùng hành trang. Ba, Mẹ, Chó Con và Sư Ông đi xe cô Chín. Xe Tý đi trước. Xe ra khỏi thành phố, đi về miền quê. Xe đi quanh co và vượt qua những cánh đồi màu xanh thoai thoải. Chừng nửa giờ đồng hồ thì xe rẽ vào một cái xóm có khoảng năm sáu cái nhà. Chú Dũng chỉ vào một trong những căn nhà ấy và nói:

– Ðó là nhà của mình.

Xe bác Mounet đậu ngay trước cửa nhà. Cửa xe mở, Tý và Miêu vừa bước ra thì chiếc xe vàng của cô Chín cũng vừa tới. Mọi người xuống xe. Chú Dũng, Ba và bác Mounet khiêng những thùng hành lý xuống, đem vào nhà. Cô Chín ẵm lấy Chó Con trên tay Mẹ, và đưa Mẹ, Tý, Miêu và Chó Con vào nhà bếp, nơi đây có lửa đang cháy và nổ lép bép trong lò sưởi. Mọi người đến ngồi quanh lò sưởi và hơ tay trên lửa.

Bên ngoài trời đã tối sầm lại và còn lắc rắc mưa. Cô Chín đưa mọi người đi xem các căn phòng trong nhà. Nhà bếp khá rộng; ở giữa có đặt một bàn ăn tròn có tám chỗ ngồi. Có tủ đựng chén bát. Có một cái tủ lạnh cũ kê ở sát tường. Có bếp để nấu cơm. Bếp nấu bằng gaz. Có chạn úp chén bát. Có bồn rửa chén với vòi nước lạnh và nóng. Cô nói rằng tất cả những bàn ghế giường tủ trong nhà đều do các bạn của cô mang tới tặng. Phần lớn họ là người Pháp. Chừng bốn năm hôm nữa, họ sẽ đến chơi và cả nhà sẽ gặp họ.

Bên cạnh nhà bếp có một căn phòng vuông. Cô Chín nói sau này căn phòng có thể dùng làm buồng ngủ cho Tý với Miêu. Tý nghĩ thầm là chắc Miêu sẽ không chịu. Từ nhỏ tới lớn Miêu chưa bao giờ ngủ khác phòng với Mẹ. Mọi người đi sang hành lang nơi đó có kê sẵn một cái kệ đựng các dụng cụ cần thiết hàng ngày. Từ hành lang, cô Chín dẫn mọi người sang phòng khách. Ở đây có một lò sưởi bằng củi, trong lò củi đang cháy. Có một bộ ghế dựa có nệm màu cam. Trong góc phòng được kê một cái bàn nhỏ trên đặt một cây đèn. Ðối diện với bộ ghế nệm là một kệ sách. Tầng trên có kê một tượng Phật nhỏ và một bình bông. Tầng giữa có nhiều sách. Tầng dưới có một máy vô tuyến truyền hình đã cũ. Cô Chín nói cái máy truyền hình này cô xin được của chú Charles, để mọi người nghe tiếng Pháp cho quen tai. Giấy dán tường toàn là hình nai và cây rừng. Miêu rất thích.

Bên trái phòng khách là phòng chú Dũng, có tủ đựng áo quần. Ðối điện với giường chú Dũng là một cái giường đôi dành cho Miêu và Tý. “Ngủ với chú Dũng chắc Miêu cũng chưa chịu,” Tý thầm nghĩ. Mọi người trở qua phòng khách và đi vào buồng đối diện. Ðây là buồng ngủ của Ba Mẹ và Chó Con. Ba Mẹ mỗi người có một cái giường lớn. Chó Con có một cái giường nhỏ rất xinh kê sát giường của Mẹ. Ở đây cô Chín đã đốt lò sưởi điện để cho Chó Con khỏi bị lạnh. Mẹ trao Chó Con cho Ba và nói: “Anh đặt Chó Con vào giường của nó đi. Tay của anh hên hơn tay của em.” Ba nâng lấy Chó Con và đặt nó vào chiếc giường có nệm bông trắng tinh. Chó Con còn ngủ. Cô Chín lại đưa mọi người trở lại hành lang để ra sau xem phòng tắm, cầu tiêu và kho chứa vật liệu.

Xem xong, mọi người trở lại nhà bếp. Cô Chín cho biết cơm đã nấu sẵn; thức ăn cũng vậy, chỉ cần hâm lên thôi. Một lát sau, cơm nước đã được dọn lên bàn. Ba và chú Dũng ngồi cạnh Sư Ông. Tý ngồi bên cô Chín. Miêu ngồi gần Mẹ. Sư Ông chắp tay lại. Mọi người cùng chắp tay. Cô Chín quán niệm: “Hôm nay được ăn bữa cơm đoàn tụ sau mười mấy năm trời, chúng con xin cám ơn đức Phật. Chúng con lạy Phật cho trên đất nước Việt Nam, gia đình nào cũng được đoàn tụ và trên bàn ăn của nhà nào cũng có đủ cơm ăn cho tất cả mọi người.” Tý cảm thấy ấm áp trong lòng. Cô Chín mời mọi người cầm đũa. Ðúng là cơm Việt Nam rồi. Chiều nay trên bàn ăn có canh chua khóm, có dưa cải kho, có bắp cải luộc, có nấm kho măng và có nước chấm Maggi. Mọi người vừa ăn vừa nói chuyện rất vui, giống như Tết. Giữa bữa cơm, Sư Ông đứng dậy lấy thêm củi bỏ vào lò sưởi. Bên ngoài trời vẫn mưa lắc rắc.

Cơm xong, chú Dũng đi pha trà. Uống xong chén trà thứ hai, Sư Ông đứng dậy chúc mọi người ngủ ngon. Sư Ông phải về sơn cốc có việc cần. Cô Chín sẽ lái xe đưa Sư Ông đi. Mọi người đứng dậy chắp tay để đưa tiễn Sư Ông. Xe đi rồi, Ba trở vào nói: “Hôm nay chúng ta nên đi ngủ sớm. Suốt ngày ngồi trên xe lửa chắc ai nấy đều đã thấm mệt.” Ba nói thế nhưng không có ai đi ngủ cả. Mọi người lại đi thăm các căn phòng trong nhà một lần nữa rồi về ngồi quây quần bên bếp lửa.

Ðêm ấy, không ai nghe theo sự sắp xếp của cô Chín, không ai chịu ngủ trên chiếc giường đã dọn sẵn cho mình. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng của mình cả. Tất cả mọi người đều ôm mền gối của mình vào phòng khách để ngủ chung. Ba nói: ”Ngủ chung vừa vui vừa tiết kiệm được điện và củi đốt.” Ở trong phòng khách làm gì có giường ngủ. Ba và chú Dũng đi khiêng nệm từ các giường cá nhân vào lót trên sàn phòng khách. Tý cảm thấy không khí quen thuộc như trong trại tỵ nạn. Ở theo kiểu nhà Tây mỗi người một phòng có vẻ lạnh lẽo và buồn bã quá. Ngủ theo kiểu này ấm hơn và vui hơn. Chú Dũng ngủ trên ghế trường kỷ có nệm màu cam. Tất cả những người khác ngủ trên sàn nhà có lót nệm. Ðêm ấy Tý ôm Miêu ngủ ngon cho tới sáng.

12. Gia đình tý đi định cư

Chó Con ra đời ngày mồng năm tháng mười, sớm hơn lời tiên đoán của bác sĩ một tuần. Nó cân nặng được ba ký tám trăm gờ ram. Mẹ sinh Chó Con ở viện bảo sanh Strasbourg. Chỉ có Ba được túc trực ở nhà thương và được đi thăm. Tý và Miêu phải đi học. Mẹ và Chó Con ở lại nhà thương hai hôm. Chiều hôm thứ ba, khi Tý và Miêu đi học về thì Mẹ và Chó Con đã được chở về nhà bằng xe tắc xi rồi. Tý bỏ cặp sách vở, đi vào thăm Mẹ và Chó Con. Trông thấy Tý, Mẹ cười, nhưng Tý thấy Mẹ có vẻ mệt. Tý đặt tay lên trán Mẹ. Rồi nó nhìn Chó Con. Chó Con đang ngủ. Bàn tay Chó Con nhỏ xíu. Bàn chân Chó Con nhỏ xíu. Cái gì cũng nhỏ xíu. Thật giống như một con búp bê. Miêu đã tới sau lưng Tý. Nó đưa tay nắm nhẹ bàn tay của Chó Con. Hai đứa tha hồ ngắm em bé. Tý có cảm giác là lạ. Gia đình Tý bây giờ có thêm một người. Tý có hai thằng em. Nó cảm thấy mình lớn hẳn lên.

Mẹ không đủ sữa cho Chó Con bú. Bác sĩ cho em bé bú thêm sữa bột Lacmil. Ban ngày ở trường có lúc Tý quên là ở nhà đã có thêm Chó Con. Về tới nhà nó mới nhớ. Lập tức nó leo cầu thang thật nhanh để về nhìn mặt em bé. Em bé mở mắt nhìn. Nhưng cái nhìn của em còn mơ hồ lắm. Chắc em bé chưa thấy gì rõ đâu. Chắc em bé chưa nhìn rõ mặt Tý. Vài ngày sau, Tý đã được phép ẵm em bé. Tý ẵm em bé đi quanh trong phòng, vừa đi vừa hát bài cái cò, cái vạc, cái nông:

Cái cò cái vạc cái nông
Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò?
– Không, không, tôi đứng trên bờ
Mẹ con nhà vạc đổ ngờ cho tôi
Chẳng tin thì ông đi đôi
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia!
Tý ngừng lại hỏi Mẹ:
Ði đôi là đi đâu hả Mẹ?
–  Ði đôi là đi thưa kiện. Ðôi có nghĩa là đôi chối, nghĩa là nói qua nói lại trước mặt một người làm chứng để cho sáng tỏ sự thật.

Giọng Mẹ có vẻ mệt. Tý hơi lo lắng. Hôm em bé ra đời, Ba đã đánh điện cho cô Chín. Cô Chín đã gởi thuốc bổ về cho Mẹ, và thuốc bổ đã tới rồi. Mẹ đã uống thuốc bổ, nhất là thuốc bổ xương, bắp thịt và gân cốt; nhưng Mẹ vẫn cảm thấy nhức nhối. Mẹ đi đứng chưa được bình thường.

Chó Con thay đổi từng ngày. Ðôi mắt nó càng lúc càng có tinh thần. Tý có cảm tưởng là nó đã thấy được mặt Tý. Tý giúp Mẹ pha sữa cho em bé và thay tã cho nó. Hễ đi học về là Tý quấn quýt bên thằng Chó Con. Ban đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng nó nghe tiếng em bé khóc. Nó biết những lúc đó Mẹ đang lo pha sữa hay thay tã cho em, nhưng vì buồn ngủ quá nên Tý không thể dậy giúp Mẹ được.

Trời càng lúc càng lạnh. Gần như ngày nào cũng có mưa. Hồi còn ở quê nhà, chưa bao giờ Tý thấy trời lạnh như vậy. Áo của bác Thành đem tới cho, Tý đã mặc vào nhiều lớp nhưng vẫn thấy lạnh khi đi ra ngoài. Trong nhà thì ấm lắm, Mẹ và Chó Con chắc là không bị cảm lạnh đâu. Nhưng Ba thì đã bị sổ mũi. Tại trường, Tý và Miêu phải chạy chơi thật nhiều trong giờ ra chơi thì mới thấy ấm lên được. Một bữa chiều Mẹ nói với Ba: ”Anh ơi, mình nên về nhà của mình ở miền Nam cho rồi.” Ba nói: “Nhưng em còn yếu thì đi làm sao được?” Mẹ trả lời: “Em khá rồi. Hôm qua chị Nga có tới thăm và cho em một thứ thuốc. Em uống vào thì thấy hết nhức. Tuy em chưa bước được vững chãi như ngày xưa, nhưng em nghĩ, em có thể đi được. Mình ngồi cả ngày trên xe lửa chứ có đi bộ đâu mà sợ. Ðến nơi thì đã có cô Chín đi đón bằng xe hơi rồi mà.” Ba suy nghĩ một hồi rồi Ba gật đầu. Ba đi xuống văn phòng của trung tâm, tìm cách điện thoại cho cô Chín. Rồi Ba trở lên, và bắt đầu thu xếp áo quần và hành trang. Ba nói ngày mốt tức là ngày thứ ba, hăm sáu tháng mười, cả gia đình sẽ lên xe lửa đi về miền Nam. Tý và Miêu giúp Ba. Thấy ba cha con làm lăng xăng, Mẹ ngồi yên không nổi. Ba bảo Mẹ nằm nghỉ nhưng Mẹ cứ năn nỉ Ba để cho Mẹ giúp một tay. Ba kiếm những thùng giấy lớn, sắp mọi thứ đồ đạc vào và ràng dây thật kỹ. Nào có đồ đạc gì quý giá đâu. Chỉ có áo quần cũ của người ta cho, nhiều thứ không ai mặc vừa, nhưng Mẹ vẫn nhận. Mẹ nói mình có thể cắt những thứ ấy ra để may lại những thứ mà mình mặc vừa. Những muỗng, nĩa và dao bằng nhựa thu lượm được Mẹ cũng không bỏ. Những viên đường có bọc giấy, những hộp mứt tý hon để dành được trong những buổi ăn sáng, Mẹ cũng đem theo. Rồi còn là những cái lon bằng nhôm, những đôi giép Nhật Bổn đứt quai, những con dao cùn và mẻ đã lượm được, những tờ báo cũ, vân vân… Mẹ cũng đem theo. “Cái gì cũng có thể có ích lợi cho mình sau này”, Mẹ nói. Mẹ là một người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tiết kiệm đúng mực. Cho đến nửa đêm hôm đó, cả nhà đã làm ra được bốn kiện hàng to tướng, ràng giây chằng chịt. Ba nói ngày mai Ba sẽ nhờ người chở những thùng này ra ga và gởi trước về ga Sainte Foy ở miền Nam nước Pháp, nơi gia đình sẽ tới, và luôn tiện mua vé xe lửa cho cả nhà. Ba gọi những thùng hàng của Ba là “hành lý không đi theo người”. Chiều hôm sau, vào giờ bãi học, Tý đưa Miêu tới chào cô giáo. Nó đã soạn sẵn câu nói rồi, cho nên khi nó nói, cô giáo hiểu ngay. Cô giáo xoa đầu cả hai đứa và chúc hai đứa “bon voyage”, nghĩa là lên đường bình an. Tý và Miêu học với cô như thế là gần bốn tháng.

Tối hôm đó, gia đình Tý được gia đình bác Nga đãi cơm Việt Nam. Gia đình bác Nga đã định cư tại Strasbourg lâu rồi. Mẹ quen với bác Nga ở trong nhà bảo sanh, bởi bác Nga vừa sinh em bé được hai hôm thì Mẹ được chở tới. Bữa cơm đó ngon lắm. Có một món mà Ba rất thích. Ðó là món canh hẹ có đậu hủ. Ba nói: thấy mặt bát canh cũng như là thấy mặt quê hương. Ngày đó Ba đã đi chào ông giám đốc trung tâm tạm cư và tất cả những người quen. Sáng mai, bác Thành sẽ đem xe hơi tới lúc năm giờ sáng để đưa gia đình Tý lên xe lửa. Cô Chín đã nói với Ba là ngày mai tốt lắm cho sự xuất hành và dọn nhà. Cô cũng nói rằng chú Dũng đã về nhà trước một tuần rồi, và hiện giờ đang chuẩn bị nhà cửa cho khang trang để đón gia đình. Chiều mai chú Dũng sẽ ra ga đón cả nhà. Nghe tin đó, Tý cảm thấy rộn ràng trong lòng. Chưa đi ngủ mà Tý đã mong cho đêm chóng hết.

11. Ba đi miền nam xem nhà

Bác sĩ nói với Ba rằng vào khoảng một tháng nữa thì em bé ra đời. Bác sĩ lại nói thêm em bé là con trai. Lâu nay Tý cứ âm thầm mong rằng em bé sẽ là con gái. Tý đã có một em trai rồi; nếu có thêm một em gái nữa thì vui quá. Nhưng khi nghe Ba kể lại lời bác sĩ, Tý không cảm thấy buồn. Có thêm một em trai nữa cũng vui lắm. Tý lớn hơn Miêu ba tuổi. Hai anh em chơi với nhau vui lắm. Em trai thứ hai của Tý sẽ nhỏ hơn Tý mười tuổi. Nó sẽ không thể chạy chơi với Tý ngoài sân ngay được, nhưng Tý sẽ cưng nó lắm. Tý sẽ ẵm nó. Hồi Miêu mới sinh, Tý còn nhỏ quá, không ẵm Miêu được. Giờ đây Tý sẽ tha hồ ẵm em bé mới. Tý sẽ thọc lét cho nó cười. Tý sẽ dạy cho nó nói tiếng nói đầu tiên như: Ba, Mẹ, Tý, Miêu, Việt Nam. Tiếng Ba và tiếng Mẹ là dễ nói nhất. TiếngViệt thì hơi khó đối với một em quá trẻ. Ba đã có tên cho bé rồi. Ba đặt tên cho nó là Chó Con, bởi vì năm nó sinh là năm Tuất. Tuổi Tuất là tuổi con chó. Còn tên khai sinh của nó là Lê Nhật Tâm. Nhật Tâm, Ba nói, là trái tim mặt trời. Hồi Mẹ bắt đầu mang thai nó (hồi đó gia đình Tý còn ở đảo Palawan) thì Ba đọc cuốn Trái Tim Mặt Trời mà cô Chín đã gởi sang cho Ba. Ba đọc cuốn sách đó trong nhiều ngày và nhiều đêm. Tý cũng đã thử đọc cuốn đó, nhưng Tý không thấy thích bằng đọc cuốn Văn Lang Dị Sử. Tý chỉ đọc chừng mươi trang rồi bỏ.

Trưa thứ bảy sau đó, gia đình Tý được một gia đình người Lào mời đi ăn đám giỗ. Gia đình này trước đây ba năm cũng đã từng cư trú trong trại tạm cư Strasbourg. Bây giờ họ đã định cư tại thành phố Strasbourg. Ba có quen với gia đình này. Hôm ấy Tý được ăn một bữa ăn Lào. Trên bàn có xôi và có thịt vịt. Mọi người rửa tay sạch và ăn bằng tay chứ không dùng đũa. Chiều hôm đó, cô Chín điện thoại cho Ba. Cô mời Ba xuống miền Nam có chuyện cần. Biết em bé sắp sinh và Ba cần có mặt thường trực bên Mẹ, cô chỉ mời Ba đi có bốn hôm. Cô nói về miền Nam Ba sẽ gặp cả Sư Ông và chú Dũng. Sáng ngày hôm sau, Ba ra ga đáp xe lửa về miền Nam. Trước khi ra đi, Ba căn dặn Mẹ nhiều điều. Ba nói là Ba sẽ gọi điện thoại cho Mẹ.

Tại trường, Tý đã bắt đầu hiểu được một ít những điều cô giáo nói trong lớp. Mỗi khi nói gì với Tý, cô nói rất chậm rãi. Giọng cô rất trong trẻo. Hình như cô có chú ý nhiều tới Miêu và Tý. Miêu độ rày không còn gây hấn với ai nữa. Nó nghe lời Ba căn dặn. Tuy nhiên nó có cách trả đũa của nó đối với những đứa ưa chọc ghẹo và bắt nạt nó. Nó làm bộ thua chạy để cho đối phương đuổi. Ðối phương đang đuổi hăng thì nó đứng lại một cách đột ngột. Anh chàng kia liền tông vào nó và té xuống. Ðã chuẩn bị rồi nên Miêu không té, cũng không bị đau. Nếu anh chàng kia té, đó là tại lỗi anh chàng chạy theo Miêu, chớ không phải là vì Miêu xô nó té. Trên nguyên tắc, Miêu không có lỗi gì.

Nhiều lúc Tý có cảm tưởng là Miêu khôn hơn nó. Vì khôn cho nên nhiều lần Miêu đã lôi kéo Tý vào những tình trạng khó xử. Tý nhớ hồi thằng Ngữ bệnh không đi học, có lần Miêu đã rủ Tý bỏ học để đến chơi với Ngữ và luôn dịp xem vô tuyến truyền hình. Nhà Ngữ có một máy ti-vi cũ, nhưng còn coi được. Tý và Miêu rất thích những phim giễu. Lại có những phim đánh kiếm, những phim về người da đỏ và những phim rượt bắt rất sôi động. Tý nói với Miêu: “Coi ti-vi thì thích rồi, nhưng làm sao mình nói dối với bác Nga (bác Nga là mẹ Ngữ) là hôm nay trường nghỉ học? Mình ôm tập vở sờ sờ ra đây mà!” Miêu chỉ cho Tý cách mở nút áo và dấu cuốn tập và cây bút trong ngực rồi gài nút lại. Trời xui đất khiến gì mà Tý đã nghe Miêu. Sáng hôm ấy coi truyền hình thì thích thật, nhưng chiều hôm đó, Tý cứ ăn năn hối hận mãi. Tý nhớ hối hận là đã đánh lừa Ba, đánh lừa Mẹ, đánh lừa bác Nga và đánh lừa cả cô giáo Duyên. Tý biết là bọn học trò trong lớp Tý đứa nào cũng đã từng có lần trốn học đi chơi và chuyện Tý bỏ học một buổi để đi coi phim cũng là chuyện thường xẩy ra cho những đứa trẻ còn vào tuổi Tý, nhưng Tý không hiểu sao mình lại thấy thắc mắc nhiều hơn những đứa khác. Tý cảm thấy không yên tâm. Miêu hồi đó chưa đầy sáu tuổi. Tý nghĩ rằng Miêu chưa biết về trách nhiệm. Tý là anh Hai, trách nhiệm là ở nơi Tý.

Ba đi miền Nam về vui lắm. Ba báo tin là mình đã có nhà rồi, và có thể định cư bất cứ lúc nào mình muốn. Ba nói nhà nằm ở Xóm Hạ trong Làng Hồng. Nhà có phòng ngủ, phòng khách, phòng chú Dũng, phòng Tý và Miêu, nhà bếp, nhà tắm và cầu tiêu riêng nữa. Ba nói nhà bếp khá rộng, có lò sưởi đốt củi, và vào mùa đông cả gia đình có thể ngồi quây quần trước lò sưởi. Hiện chưa có bàn ghế và giường tủ gì hết, nhưng cô Chín nói là các bạn cô sẽ mang những thức ấy tới trong vài hôm nữa. Ba lại cho biết rằng xung quanh nhà có rất nhiều đất để trồng rau. Muốn trồng bao nhiêu rau cũng có đất. Nhà đã có nước máy. Trong vài hôm nữa, điện sẽ được bắt vào. Cả nhà nghe tin rất mừng. Ba lại lấy cả bản đồ của Làng Hồng đưa ra cho cả nhà xem và chỉ cho mọi người thấy đâu là ngôi nhà tương lai của mình, đâu là giếng nước, đâu là vườn nho.

– Nhà mình có vườn nho nữa hả Ba? Miêu hỏi.

Ba trả lời:

– Có một vườn nho trái ăn ngọt lắm. Nho này có thể làm rượu được. Sang năm vào khoảng đầu tháng mười các con tha hồ mà đi hái nho.

Ba cũng cho biết là trường học của Tý và Miêu cách nhà chừng ba cây số, và buổi sáng sẽ có xe trường ghé qua nhà để rước hai đứa. Buổi trưa Tý và Miêu sẽ ăn cơm tại trường. Buổi chiều, xe chở hai đứa về tận nhà.

Thôi, vậy là hai đứa phải ăn cơm Tây mỗi ngày một lần rồi. Ba nói buổi cơm chiều mới là quan trọng. Mẹ hứa là chiều nào cả gia đình cũng sẽ ăn cơm Việt Nam đàng hoàng. Tý biết Mẹ mà hứa thì chắc chắn có rồi. Tý và Miêu đâu cần phải lo lắng nữa.

Ba kể là ba đã gặp chú Dũng. Chú Dũng đã mua được xe gắn máy rất tốt. Ba và chú Dũng đã cùng Sư Ông và cô Chín đi thăm khắp cả đất đai của Làng Hồng, và bốn người đã dự tính mùa Xuân năm sau sẽ trồng những thứ hoa màu nào. Chú Dũng dự định trồng đủ thứ: nào khoai tây, nào củ hành, nào đậu que, nào bắp cải, nào bí rợ… Tý cảm thấy nhớ chú Dũng quá. Nhớ đến muốn phát khóc. Chú Dũng mới xa Tý và Miêu có ba tháng chứ có lâu đâu. Vậy mà coi như đã mấy năm. Chừng nào đi định cư, Tý và Miêu sẽ lại được sống chung với chú. Tý và Miêu rất thích được chơi đùa với chú Dũng. Bên trại Palawan, hai đứa thường chạy để chú rượt theo. Chú rượt rất giỏi. Bắt được Tý, chú ôm Tý thật chặt. Chừng nào Tý phải kêu lên và thú nhận là chịu thua thì chú mới buông Tý ra. Có khi Tý và Miêu hợp tác với nhau ôm chặt chú lại và đố chú chạy thoát. Nhưng dù Tý và Miêu có cố gắng hết sức để ôm thì cũng chỉ trong một chốc lát chú đã vùng ra được.

– Chừng nào mình dọn về nhà mình hả Ba? Tý hỏi.

– Sau ngày Chó Con ra đời chừng vài ba tuần lễ. Mình phải đợi cho em bé cứng cáp rồi mới lên đường được. Mẹ các con cũng phải được tĩnh dưỡng ít ra là trong vài tuần.

Rồi Ba kể cho cả nhà nghe là ở Xóm Hạ có hai cây sồi lớn và đẹp lắm. Cây nào cũng trên ba trăm tuổi. Sư Ông, cô Chín, chú Dũng và Ba đã ngồi dưới bóng hai cây sồi ấy để ăn trưa một lần. Trong cành lá có cả ngàn con chim trú ẩn. Ngồi dưới bóng sồi mát lắm. Hai cây sồi chỉ cách nhà chừng bảy mươi thước. Ba nói Sư Ông rất thích hai cây cổ thụ này. Ba định là sau này vào những ngày hè mình sẽ treo võng trong bóng cây để nằm nghỉ trưa.

Tối hôm ấy, Tý đã nằm mơ thấy hai cây sồi. Tý thấy hai cây sồi có tàn lá lẩn khuất trong mây. Có một đàn chim trắng bay liệng trên đó. Tý chưa biết cây sồi là gì. Tý chỉ biết đó là hai cây thật lớn, lớn còn hơn những cây vú sữa ở quê ngoại.

10. Ba mua hộp tăm

Ba của Tý ngày xưa làm việc tại Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Trường này đào tạo các cô các chú trẻ tuổi và gởi họ về miền thôn quê để giúp đỡ dân làng về các mặt y tế, giáo dục, tổ chức và kinh tế. Trường ở làng Phú Thọ Hòa, gần Cầu Tre, không xa thành phố Sài Gòn. Hồi đó nhà của Tý ở sát trường và thỉnh thoảng Tý được Mẹ dẫn tới nơi làm việc của Ba để thăm Ba. Tý nhớ dãy hành lang dài mà Ba thường đưa Tý đi dạo. Ba nắm tay Tý đi dọc hành lang. Các cô các chú đông lắm, có cả mấy trăm người. Họ được gọi là tác viên. Họ học để về giúp dân, chỉ dẫn cho dân những phương thức trồng trọt và chăn nuôi theo khoa học mới. Họ lại mở trường dạy thiếu nhi thôn quê học chữ và mở trạm y tế để chăm sóc thuốc men cho những người đau yếu. Ba làm tổng thư ký của trường cho nên Ba hay đi dạy đây đó, có khi phải tới tận những vùng có chiến tranh ở miền Trung xa xăm. Tý nhớ những hàng cau thẳng tắp trồng ở sân trường Xã Hội. Tý nhớ ngôi chùa Lá trong khuôn viên trường và những khóm trúc tươi tốt phía hông chùa. Ba nói những khóm trúc ấy là do Sư Ông trồng. Trước chùa lại có mấy cây lựu. Tý nhớ tiếng tụng kinh rất hay của thầy Thật Trí vị chủ trì chùa Lá. Hồi đó, nhà của Tý còn ở Cầu Tre chứ chưa dời về Thủ Ðức. Phía sau nhà có mấy bụi bông giấy. Phía trước có mấy cây trứng cá. Lại có một cây chùm ruột rất nhiều trái. Mỗi khi lên chơi, anh Tèo con má Sáu thường thọc trái trứng cá và hái chùm ruột cho Tý. Có một hôm Mẹ làm mứt chùm ruột ăn rất ngon. Nhà Tý hồi đó có một con chó Mực. Còn một ít chùm ruột, Mẹ đem phơi khô trên một cái mẹt, định bỏ vào keo để dành thì con Mực đi ngang làm đổ cái mẹt. Mứt chùm ruột rơi xuống đất và con Mực đã ăn hết. Mỗi khi trời mưa, quanh nhà có rất nhiều vũng nước. Nếu trời mưa liên tiếp nhiều ngày thì ở các vũng nước ấy có cá. Anh Tèo bắt được rất nhiều cá từ các vũng nước ấy. Ban đêm, tiếng ễnh ương và tiếng ếch nhái kêu vang dậy. Hồi ấy Miêu còn nhỏ. Nó chưa biết đi. Mỗi khi đến trường Xã Hội thăm Ba, Mẹ thường ẵm Miêu theo. Các cô các chú tại trường ai cũng cưng Tý và Miêu. Ai cũng xoa đầu Tý. Ai cũng muốn ẵm Miêu. Ba đối xử với các “tác viên” rất thân thiết. Ba gọi họ là đồng sự.

Ba nói rằng hồi còn làm ở trường Xã Hội. Ba đã từng dự tính làm Làng Hồng với thầy Châu Toàn, tức là thầy giám đốc của trường. Ba nói thầy Châu Toàn đã tìm ra đất làm Làng Hồng ở miền cao nguyên. Làng Hồng là làng của cô chú tác viên, là nơi các tác viên và con cái của họ cư trú. Như vậy Làng Hồng cũng là làng của Tý và Miêu, bởi vì Ba cũng là một tác viên.

Tý hỏi: “Bên Pháp này làm gì có tác viên hả Ba? Tại sao ba phải làm Làng Hồng?”

Ba cười: “Có chứ con. Cô Chín là một tác viên. Ba là một tác viên. Sư Ông cũng là một tác viên. Bên này cũng có nhiều cô chú đang làm việc xã hội và giúp đỡ các thiếu nhi đói ở các nước kém mở mang. Người Việt cũng có mà người ngoại quốc cũng có. Hôm Ba về Am Phương Vân, Ba gặp nhiều cô chú như thế. Ba cũng gặp những cô chú tác viên người Pháp, người Hòa Lan, người Anh và người Thụy Sĩ nữa.”

Tý ngạc nhiên. Tý biết thế nào là hình dung của một cô hoặc một chú tác viên người Việt. Nhưng Tý không thể tưởng tượng ra được một cô tác viên người Anh hay một chú tác viên người Hòa Lan. Thấy vẻ mặt ngơ ngác của Tý, Ba cười:

– Rồi con sẽ có dịp gặp họ.

Cuối tháng chín, trời đã bắt đầu lạnh. Mọi người phải mặc thêm áo. Bác Thành có đem tới nhiều áo quần để biếu cho cả nhà, nhưng Ba chọn được rất ít. Người Ba hơi ốm, nên phần nhiều các thứ áo quần người ta đem tặng đều quá rộng đối với Ba. Có lần Ba chọn được một cái quần vừa ý, Ba thích lắm. Ba cứ mặc cái quần đó hoài.

Em bé đã cựa quậy và đạp nhiều trong bụng Mẹ. Mẹ phải đi thăm thai hàng tuần. Ba đưa Mẹ đi bằng xe buýt. Có một hôm thăm thai xong, Mẹ đề nghị với Ba là cùng đi bộ về. Ba đồng ý. Hai người đi thong thả bên hè phố. Bỗng Mẹ nhận ra một tiệm bán thực phẩm của người Á Ðông phía bên kia đường. Ba đưa Mẹ qua, và hai người vào thăm cửa hàng. Lâu quá không trông thấy những thực phẩm Á Ðông, Mẹ rất mừng khi thấy lại các mặt hàng. Hai người đi thăm hết các mặt hàng. Nào đậu xanh, nào đậu đen, nào bún tàu, nào nấm mèo, nào bánh tráng, nào hột sen, nào măng chua… “Em đâu có ngờ bên này họ bán đủ hết mọi thứ như vậy” Mẹ nói. Họ bán cả trái xoài, trái sầu riêng, mít, rau om, ớt tươi, rau tía tô và cọng bạc hà nữa. Ba nói ở miền Nam người ta có thể trồng được cả rau tía tô và cây bạc hà. Ba và Mẹ lại đi xem xét gần một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, khi ra về, Ba chỉ mua độc có một hộp tăm.

Ba nói:

– Sau này đi chợ, em phải tẩy chay tất cả những sản phẩm Thái Lan. Em đừng mua bánh tráng Thái Lan, nước mắm Thái Lan, rau om Thái Lan…

Ba đã nghe nói nhiều đến những cảnh thương tâm trên biển cả do những người cướp Thái Lan gây ra. Nhiều lúc tức giận quá, Ba nói: “Trong số mười người Thái Lan thì đã có mười một người là cướp biển.” Hồi còn ở trại Palawan, Tý cũng thường được nghe nói về cướp biển Thái Lan và Tý cũng ghét người Thái Lan lắm. Ở trại Palawan, hầu hết mọi người đều tỏ ý căm phẫn đối với người Thái. Cho đến nỗi khi nghe quân đội Việt Nam đồn trú ở Miên đánh thẳng qua biên giới Thái, có người còn vỗ tay reo mừng. Họ muốn bộ đội của chính quyền Cộng Sản Việt Nam qua đánh phá Thái Lan để giúp họ trả thù cho những người tỵ nạn bị hải tặc Thái cướp bóc, hãm hiếp và giết chóc. Mẹ nói với Tý: ”Ðâu phải là người Thái nào cũng là hải tặc. Cũng có những người làm ruộng, đi buôn, xây cất và vá may chớ.”Chiều hôm nay, Mẹ nói với Ba: “Người làm bánh tráng thì không làm hải tặc, người làm hải tặc thì không làm bánh tráng. Anh ghét hải tặc mà không mua bánh tráng Thái Lan là anh giận cá chém thớt. Xứ nào cũng có người tốt người xấu. Người Việt cũng có kẻ tốt người xấu. Anh đâu có bắt đày kẻ khác vào các trại học tập, anh không đi xâm chiếm Căm Pu Chia, nhưng anh cũng là người Việt Nam. Ðành rằng một người làm xấu thì cả bọn mang nhơ, nhưng mình phải biết nhìn với con mắt phân biệt hơn.”

Tuy vậy, Tý nghĩ bụng rằng sau này nếu Mẹ có đi chợ mua bánh tráng thì có lẽ Mẹ sẽ mua bánh tráng làm ở Việt Nam hơn. Hồi còn ở quê, Tý đã thấy nhiều gia đình làm bánh tráng. Họ phơi bánh tráng đầy ngoài sân, trên những cái giá đan bằng tre. Nếu không bán được bánh tráng thì những gia đình ấy sẽ đói. Nhưng Tý lại mường tượng trong óc những gia đình làm bánh tráng ở Thái Lan. Chắc họ cũng làm bánh tráng theo kiểu những gia đình Việt Nam làm, và họ cũng phơi bánh tráng ngoài sân như những gia đình Việt Nam phơi. Rồi Tý nghĩ: nếu họ không bán được bánh tráng thì con họ cũng sẽ đói. Giống hệt như ở Việt Nam. Nghĩ tới đây, Tý thấy khó giải quyết quá. Tý cảm thấy chuyện đời rắc rối hơn lâu nay mình tưởng.