18. Ba té xuống hồ nước
17. Gà cứng đầu không chịu ăn bo bo
16. Hai cây sồi trốc gốc
15. Cô Margaret đem tặng gia đình Tý một con dê
14. Tý gặp chú jean-pierre, người chăn cừu
Sáng hôm sau, trời hửng nắng. Chú Dũng đưa Tý và Miêu đi thăm Xóm Hạ. Trước hết chú đưa Tý và Miêu đi viếng các ngôi nhà. Có cả thảy là tám cái nhà ở Xóm Hạ. Tất cả đều nằm trên lưng đồi. Ðầu xóm là nhà bác Mounet, có rất nhiều cửa kính và có giây leo leo kín cả tường. Cách nhà bác Mounet vài mươi thước là nhà của gia đình Tý. Giữa hai nhà có một dãy cây tùng rất xanh dùng làm hàng dậu. Tất cả mọi ngôi nhà đều được xây bằng đá. Chú Dũng nói những ngôi nhà này đã được xây cất trước đây chừng hai trăm năm. Tường rất dày, dày có tới bảy hay tám tấc. Mái nhà được lợp bằng ngói âm dương. Sát nhà của Tý là nhà “se” rất rộng. Nhà “se” (tiếng Pháp là chai) là chỗ để làm rượu nho. Có máy ép nho và có nhiều hầm chứa rượu. Ngôi nhà kế là một nơi dùng để chứa rơm, còn lớn hơn nhà của Tý nữa. Nhà này có một lối vào rất lớn. Cửa vào xây bằng đá tảng theo hình vòng cung; có hai cánh cửa gỗ to tướng khép lại. Cửa này phải là người lớn mới đủ sức mở hay đóng. Nhìn vào Tý thấy rơm được chất đầy từng bó thật lớn. Chú Dũng nói nhà này sẽ được làm thành thư viện và thiền đường cho Xóm Hạ. Nhà kế là một cư xá, nghĩa là một cái nhà để ở. Nhà này có bốn phòng ngủ và một phòng lớn vừa làm phòng khách vừa làm nhà bếp. Ở đây cũng có nơi để đốt lò sưởi. Kế bên lại có một nhà làm rượu nho trong đó có nhiều hầm chứa rượu. Phía trước cư xá, Tý thấy một giếng nước xây bằng đá có ống bơm tay. Vòng ra phía sau, đi chừng năm mươi thước nữa, Tý thấy có một cái nhà khác. Chú Dũng nói nhà này vốn là một cư xá nhưng lâu nay đã được dùng cho cừu ở. Bên trong, Tý thấy rất nhiều rơm và nhiều máng nước để cừu uống. Vòng ra phía trước có một ngôi nhà khác. Chú Dũng nói nhà này ngày xưa người ta dùng làm chỗ sấy mận.
– Sấy mận là gì hả chú Dũng? Miêu hỏi.
– Sấy mận là đốt lửa để sấy cho trái mận khô lại. Ở vùng này có một thứ mận gọi là pruneaux d’Agen ăn ngon lắm, nhưng quá nhiều thành ra người ta phải sấy cho khô để dành và đem sang bán cho các nước Âu Châu khác. Mận sấy là một nguồn lợi tức quan trọng của vùng này.
Chú Dũng cho biết lâu nay người ta không sấy mận trong nhà này nữa. Trái lại, họ dùng ngôi nhà để nuôi gà và nuôi heo. Ði xa hơn nhà sấy mận chừng năm mươi thước nữa, Tý và Miêu thấy một dãy nhà dài, dài chừng sáu mươi thước. Chú Dũng nói nhà đã được dựng lên để sấy thuốc lá. Hiện nay vì không trồng thuốc lá nữa cho nên nhà lại dùng để chứa rơm. Nhà có mái lợp bằng những tấm xi măng dợn sóng và không có vách.
Xem xong các ngôi nhà, chú Dũng, Tý và Miêu xuống thăm vườn nho, hai cây sồi cổ thụ và hồ nước. Vườn nho đã trụi lá. Những gốc nho cao hơn Tý và lớn gần bằng bắp tay của chú Dũng. Chú Dũng bảo trong mùa Ðông này, chú phải cắt tỉa các cành nho thì mùa thu năm sau nho mới có trái. Bác Mounet đã hứa chỉ cho Ba và chú Dũng cách tỉa, làm cỏ và bỏ phân cho vườn nho.
Qua khỏi vườn nho, chú Dũng dừng lại bên cây táo (pommier). Chỉ vào những trái táo đỏ chói còn lại trên cây, chú Dũng nói:
– Táo này ngon lắm. Hôm trước Sư Ông và chú Dũng đã hái được mấy giỏ rồi. Những trái còn lại Sư Ông bảo để dành cho Tý và Miêu hái.
Lập tức Tý bám lấy thân cây táo leo lên. Miêu cũng bắt chước anh. Ðây là lần đầu tiên Tý được hái trái táo trên cây táo và cắn vào một trái táo khi chân còn đứng trên cành táo.
Trái táo rất ngọt. Chú Dũng bảo tại Xóm Hạ có vào khoảng mười cây táo, mười cây lê, bốn cây mận, tám cây đào tiên, tám cây anh đào và năm cây hồ đào. Chú bảo hiện giờ trái hồ đào rụng nhiều lắm, Tý và Miêu có thể tha hồ đi lượm. Hạt hồ đào ăn béo lắm, nhưng trước khi ăn phải lấy đá đập bể cái vỏ cứng bên ngoài. Cây hồ đào tiếng Tây gọi là noyer. Chú Dũng nói vườn ruộng Xóm Hạ rộng lắm, không thể đi thăm hết trong buổi sáng được. Chú đưa Tý và Miêu tới thăm hai cây sồi cổ thụ. Hai cây sồi lớn thật, lớn hơn hai cây sồi trong trí tưởng tượng của Tý nhiều. Ba người đi phía dưới và nghe gió thổi vi vu trên cành lá. Một ngọn gió thổi qua hơi mạnh làm trái sồi rụng xuống như mưa. Tý đợi cho hết gió mới ngước mắt nhìn lên. Cành lá sum suê che kín hết cả trời. Nghe nói những cây sồi này đã sống hơn ba trăm tuổi. Ðối với hai cây sồi này, ngoại chỉ là một thiếu nhi… Chú Dũng lượm hai trái sồi, một đưa cho Tý, một đưa cho Miêu. Chú nói bọn gà ưa ăn trái sồi này lắm.
Nhắc đến gà, chú Dũng cười. Chú nói với Tý và Miêu:
– Nhà mình đã có tám con gà rồi. Của dì Marie-Paule cho. Dì nói nên nuôi gà để có trứng mà ăn cho bổ. Trong đất làng có mấy mẫu bắp sắp được gặt. Mai mốt, khi bắp đã gặt xong, Tý và Miêu sẽ đi mót những trái bắp sót đem về để nuôi gà.
Bỗng Tý nghe nhiều tiếng lục lạc. Tiếng lục lạc càng lúc càng gần, càng lúc càng rõ. Tý chưa kịp hỏi thì chú Dũng đã đưa tay chỉ về phía hai cây táo. Theo tay chỉ, Tý thấy một đàn cừu rất đông, một đàn cừu ít nhất cũng có tới vài trăm con, đang rộn rịp đi tới. Phía sau, có một người mặc áo ấm dài, đầu đội nón len, chân đi ủng, tay cầm một cây gậy dài, đang lùa cừu đi tới.
– Ðó là chú Jean-Pierre, người chăn cừu, chú Dũng nói. Chú Jean-Pierre đang lùa cừu tới ăn cỏ quanh hai cây sồi cổ thụ. Lẫn trong đàn cừu, Tý thấy có cả những con dê. Có cả một con dê con đang lẩn quẩn bên chân con dê mẹ. Chú Dũng tới bắt tay chú Jean-Pierre rồi giới thiệu Tý và Miêu. Chú cho Tý và Miêu biết rằng nhà chú Jean-Pierre ở cách đây chừng ba cây số. Chú Jean-Pierre chăn cừu, chăn dê, làm pho-mai sữa cừu và pho-mai sữa dê đem ra chợ bán. Chú được phép cho cừu và dê ăn cỏ ở đây cho tới hết tháng mười một. Chú Dũng vuốt tay áo ấm của Tý và cho Tý biết áo của Tý được làm bằng lông cừu. Tý nhìn lại bầy cừu. Lông của chúng lấm lem. Có con vướng bùn cả mình đen thui. Lông cừu như thế mà làm được những cái áo ấm trắng nõn thì tài thật. Chú Dũng bảo mỗi đầu hạ, người ta hớt lông cừu cho cừu mát, và đem lông ấy đi bán cho người chế tạo sợi len. Những người này đem lông cừu giặt thật sạch. Họ còn giặt lông cừu bằng những chất hóa học khiến cho lông cừu trở thành trắng nõn. Họ lại có thể nhuộm lông cừu bằng đủ thứ màu. Áo của Tý được đan bằng len trắng và len nâu. Len chỉ có nghĩa là lông cừu. Len là một từ ngữ lấy từ chữ laine của Pháp. Ngày xưa ở nước ta có người gọi áo len là áo lông cừu, hoặc là áo cừu. Áo ấm được gọi là áo ngự hàn, tức là áo để ngăn cái lạnh.
Gần sát vườn nho là ruộng bo bo. Người ta trồng bo bo để cho trâu bò gà vịt ăn. Chú Jean-Pierre nói với chú Dũng là bọn cừu ưa bo bo lắm. Nếu chú vô ý một chút, tức thì bầy cừu tấn công vào ruộng bo bo. Chú bảo loài cừu thích ăn bo bo cũng như loài người thích ăn bánh bông lan vậy. Câu ví von đó làm cho Miêu bật cười. Miêu ưa ăn bánh bông lan vô cùng.
Tới hồ nước, chú Dũng chỉ cho Tý và Miêu thấy những cây cao, thẳng và ốm mọc bên bờ hồ và bảo đó là những cây bạch dương. Lá bạch dương đã úa vàng và sắp rụng. Chú Dũng chỉ hồ nước và nói với hai đứa:
– Mai mốt mình sẽ mua vài con vịt thả xuống hồ nước này để chúng bơi cho đẹp.
Chú cho Tý và Miêu biết là trong vườn nhà còn một hồ nước lớn bằng mấy mươi hồ nước này, nhưng ở hơi xa và phải mang ủng mới đi thăm được. Chú nói là mùa xuân tới, chú sẽ trồng nhiều mẫu bắp, nhiều mẫu hướng dương và đủ loại rau đậu để đủ ăn trong gia đình.
Khi ba chú cháu về tới nhà, thì Ba và Mẹ đã tháo mở các thùng hành lý và sắp đặt mọi thứ vào kho, vào kệ và vào tủ. Mẹ đã tìm thấy chỗ để gạo, để muối, để soong, nồi, và chảo. Cô Chín đã lo chu đáo mọi thứ. Trong tủ lạnh có đủ thức ăn cho một tuần lễ. Trong kho, có rất nhiều ly tách, soong chảo, muỗng, nĩa. Cô Chín nói những thứ này là do dì Marie-Paule, Marie-Thé và chú thím Charles đem đến tặng cả. Mẹ bằng lòng nhất là mười cái chén và mười đôi đũa mà Cô Chín đã mua ở tiệm thực phẩm Á Ðông. Mẹ nhờ Tý săn sóc Chó Con, và đi vào bếp chuẩn bị bữa cơm trưa Việt Nam đầu tiên trên đất Pháp, trong nhà bếp của Mẹ.
13. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng
Xe lửa tới ga Libourne thì đã năm giờ chiều. Gia đình phải xuống đây và thay xe lửa khác. Nửa giờ đồng hồ sau, xe tới ga Sainte Foy.
Tý nắm tay Miêu. Hai đứa xuống trước. Mẹ ẵm Chó Con. Ba dìu Mẹ xuống xe. Trời đã tạnh mưa nhưng bầu trời đầy mây. Ga Sainte Foy nhỏ xíu. Có bốn người đứng đón gia đình Tý ở sân ga. Chú Dũng, cô Chín, Sư Ông và một người Pháp. Bốn người thấy gia đình Tý đều cười. Chú Dũng đến ôm hai đứa trong tay. Cô Chín đến đỡ Mẹ. Sư Ông đến cầm tay Ba. Người Pháp cũng đến bắt tay Ba. Ba đã gặp ông này trong chuyến đi kỳ trước. Sau này Tý biết tên ông là Mounet, người hàng xóm của gia đình Tý, và gọi ông là bác Mounet.
Cô Chín không khác trong bức hình chụp dưới giàn su là mấy. Cô mặc áo mưa dài màu đen. Cô nhìn hai đứa, cười. Khi Tý và Miêu đến vòng tay chào cô, cô vuốt tóc và đọc đúng tên họ từng đứa: “Ðây là Lê Hải-Triều-Âm phải không? Và đây là Lê-Thiều-Quang.”
Ba đưa Tý và Miêu tới gần Sư Ông, và bảo hai đứa chắp tay cúi đầu chào. Tý thấy Sư Ông không giống gì với hình ảnh mình tưởng tượng trong óc lâu nay cả. Sư Ông không có bộ râu dài bạc nào cả, trái lại tóc Sư Ông vừa ngắn vừa đen. Nước da Sư Ông sạm nắng cũng đen thui. Sư Ông cũng không già như Tý nghĩ. Sư Ông mặc áo quần nâu vừa xấu vừa cũ, bên ngoài lại khoác áo mưa màu đất sét, trông rất dơ. Tuy nhiên Sư Ông cũng chắp tay trước ngực chào lại hai đứa một cách cẩn thận. Tý hơi mắc cỡ khi thấy Sư Ông nhìn mình. Mà Sư Ông cứ nhìn Tý hoài.
Có hai chiếc xe hơi đi đón gia đình Tý, xe cô Chín và xe bác Mounet. Chú Dũng, Tý và Miêu ngồi xe bác Mounet cùng với những thùng hành trang. Ba, Mẹ, Chó Con và Sư Ông đi xe cô Chín. Xe Tý đi trước. Xe ra khỏi thành phố, đi về miền quê. Xe đi quanh co và vượt qua những cánh đồi màu xanh thoai thoải. Chừng nửa giờ đồng hồ thì xe rẽ vào một cái xóm có khoảng năm sáu cái nhà. Chú Dũng chỉ vào một trong những căn nhà ấy và nói:
– Ðó là nhà của mình.
Xe bác Mounet đậu ngay trước cửa nhà. Cửa xe mở, Tý và Miêu vừa bước ra thì chiếc xe vàng của cô Chín cũng vừa tới. Mọi người xuống xe. Chú Dũng, Ba và bác Mounet khiêng những thùng hành lý xuống, đem vào nhà. Cô Chín ẵm lấy Chó Con trên tay Mẹ, và đưa Mẹ, Tý, Miêu và Chó Con vào nhà bếp, nơi đây có lửa đang cháy và nổ lép bép trong lò sưởi. Mọi người đến ngồi quanh lò sưởi và hơ tay trên lửa.
Bên ngoài trời đã tối sầm lại và còn lắc rắc mưa. Cô Chín đưa mọi người đi xem các căn phòng trong nhà. Nhà bếp khá rộng; ở giữa có đặt một bàn ăn tròn có tám chỗ ngồi. Có tủ đựng chén bát. Có một cái tủ lạnh cũ kê ở sát tường. Có bếp để nấu cơm. Bếp nấu bằng gaz. Có chạn úp chén bát. Có bồn rửa chén với vòi nước lạnh và nóng. Cô nói rằng tất cả những bàn ghế giường tủ trong nhà đều do các bạn của cô mang tới tặng. Phần lớn họ là người Pháp. Chừng bốn năm hôm nữa, họ sẽ đến chơi và cả nhà sẽ gặp họ.
Bên cạnh nhà bếp có một căn phòng vuông. Cô Chín nói sau này căn phòng có thể dùng làm buồng ngủ cho Tý với Miêu. Tý nghĩ thầm là chắc Miêu sẽ không chịu. Từ nhỏ tới lớn Miêu chưa bao giờ ngủ khác phòng với Mẹ. Mọi người đi sang hành lang nơi đó có kê sẵn một cái kệ đựng các dụng cụ cần thiết hàng ngày. Từ hành lang, cô Chín dẫn mọi người sang phòng khách. Ở đây có một lò sưởi bằng củi, trong lò củi đang cháy. Có một bộ ghế dựa có nệm màu cam. Trong góc phòng được kê một cái bàn nhỏ trên đặt một cây đèn. Ðối diện với bộ ghế nệm là một kệ sách. Tầng trên có kê một tượng Phật nhỏ và một bình bông. Tầng giữa có nhiều sách. Tầng dưới có một máy vô tuyến truyền hình đã cũ. Cô Chín nói cái máy truyền hình này cô xin được của chú Charles, để mọi người nghe tiếng Pháp cho quen tai. Giấy dán tường toàn là hình nai và cây rừng. Miêu rất thích.
Bên trái phòng khách là phòng chú Dũng, có tủ đựng áo quần. Ðối điện với giường chú Dũng là một cái giường đôi dành cho Miêu và Tý. “Ngủ với chú Dũng chắc Miêu cũng chưa chịu,” Tý thầm nghĩ. Mọi người trở qua phòng khách và đi vào buồng đối diện. Ðây là buồng ngủ của Ba Mẹ và Chó Con. Ba Mẹ mỗi người có một cái giường lớn. Chó Con có một cái giường nhỏ rất xinh kê sát giường của Mẹ. Ở đây cô Chín đã đốt lò sưởi điện để cho Chó Con khỏi bị lạnh. Mẹ trao Chó Con cho Ba và nói: “Anh đặt Chó Con vào giường của nó đi. Tay của anh hên hơn tay của em.” Ba nâng lấy Chó Con và đặt nó vào chiếc giường có nệm bông trắng tinh. Chó Con còn ngủ. Cô Chín lại đưa mọi người trở lại hành lang để ra sau xem phòng tắm, cầu tiêu và kho chứa vật liệu.
Xem xong, mọi người trở lại nhà bếp. Cô Chín cho biết cơm đã nấu sẵn; thức ăn cũng vậy, chỉ cần hâm lên thôi. Một lát sau, cơm nước đã được dọn lên bàn. Ba và chú Dũng ngồi cạnh Sư Ông. Tý ngồi bên cô Chín. Miêu ngồi gần Mẹ. Sư Ông chắp tay lại. Mọi người cùng chắp tay. Cô Chín quán niệm: “Hôm nay được ăn bữa cơm đoàn tụ sau mười mấy năm trời, chúng con xin cám ơn đức Phật. Chúng con lạy Phật cho trên đất nước Việt Nam, gia đình nào cũng được đoàn tụ và trên bàn ăn của nhà nào cũng có đủ cơm ăn cho tất cả mọi người.” Tý cảm thấy ấm áp trong lòng. Cô Chín mời mọi người cầm đũa. Ðúng là cơm Việt Nam rồi. Chiều nay trên bàn ăn có canh chua khóm, có dưa cải kho, có bắp cải luộc, có nấm kho măng và có nước chấm Maggi. Mọi người vừa ăn vừa nói chuyện rất vui, giống như Tết. Giữa bữa cơm, Sư Ông đứng dậy lấy thêm củi bỏ vào lò sưởi. Bên ngoài trời vẫn mưa lắc rắc.
Cơm xong, chú Dũng đi pha trà. Uống xong chén trà thứ hai, Sư Ông đứng dậy chúc mọi người ngủ ngon. Sư Ông phải về sơn cốc có việc cần. Cô Chín sẽ lái xe đưa Sư Ông đi. Mọi người đứng dậy chắp tay để đưa tiễn Sư Ông. Xe đi rồi, Ba trở vào nói: “Hôm nay chúng ta nên đi ngủ sớm. Suốt ngày ngồi trên xe lửa chắc ai nấy đều đã thấm mệt.” Ba nói thế nhưng không có ai đi ngủ cả. Mọi người lại đi thăm các căn phòng trong nhà một lần nữa rồi về ngồi quây quần bên bếp lửa.
Ðêm ấy, không ai nghe theo sự sắp xếp của cô Chín, không ai chịu ngủ trên chiếc giường đã dọn sẵn cho mình. Không ai chịu ngủ trong phòng riêng của mình cả. Tất cả mọi người đều ôm mền gối của mình vào phòng khách để ngủ chung. Ba nói: ”Ngủ chung vừa vui vừa tiết kiệm được điện và củi đốt.” Ở trong phòng khách làm gì có giường ngủ. Ba và chú Dũng đi khiêng nệm từ các giường cá nhân vào lót trên sàn phòng khách. Tý cảm thấy không khí quen thuộc như trong trại tỵ nạn. Ở theo kiểu nhà Tây mỗi người một phòng có vẻ lạnh lẽo và buồn bã quá. Ngủ theo kiểu này ấm hơn và vui hơn. Chú Dũng ngủ trên ghế trường kỷ có nệm màu cam. Tất cả những người khác ngủ trên sàn nhà có lót nệm. Ðêm ấy Tý ôm Miêu ngủ ngon cho tới sáng.
12. Gia đình tý đi định cư
Chó Con ra đời ngày mồng năm tháng mười, sớm hơn lời tiên đoán của bác sĩ một tuần. Nó cân nặng được ba ký tám trăm gờ ram. Mẹ sinh Chó Con ở viện bảo sanh Strasbourg. Chỉ có Ba được túc trực ở nhà thương và được đi thăm. Tý và Miêu phải đi học. Mẹ và Chó Con ở lại nhà thương hai hôm. Chiều hôm thứ ba, khi Tý và Miêu đi học về thì Mẹ và Chó Con đã được chở về nhà bằng xe tắc xi rồi. Tý bỏ cặp sách vở, đi vào thăm Mẹ và Chó Con. Trông thấy Tý, Mẹ cười, nhưng Tý thấy Mẹ có vẻ mệt. Tý đặt tay lên trán Mẹ. Rồi nó nhìn Chó Con. Chó Con đang ngủ. Bàn tay Chó Con nhỏ xíu. Bàn chân Chó Con nhỏ xíu. Cái gì cũng nhỏ xíu. Thật giống như một con búp bê. Miêu đã tới sau lưng Tý. Nó đưa tay nắm nhẹ bàn tay của Chó Con. Hai đứa tha hồ ngắm em bé. Tý có cảm giác là lạ. Gia đình Tý bây giờ có thêm một người. Tý có hai thằng em. Nó cảm thấy mình lớn hẳn lên.
Mẹ không đủ sữa cho Chó Con bú. Bác sĩ cho em bé bú thêm sữa bột Lacmil. Ban ngày ở trường có lúc Tý quên là ở nhà đã có thêm Chó Con. Về tới nhà nó mới nhớ. Lập tức nó leo cầu thang thật nhanh để về nhìn mặt em bé. Em bé mở mắt nhìn. Nhưng cái nhìn của em còn mơ hồ lắm. Chắc em bé chưa thấy gì rõ đâu. Chắc em bé chưa nhìn rõ mặt Tý. Vài ngày sau, Tý đã được phép ẵm em bé. Tý ẵm em bé đi quanh trong phòng, vừa đi vừa hát bài cái cò, cái vạc, cái nông:
Giọng Mẹ có vẻ mệt. Tý hơi lo lắng. Hôm em bé ra đời, Ba đã đánh điện cho cô Chín. Cô Chín đã gởi thuốc bổ về cho Mẹ, và thuốc bổ đã tới rồi. Mẹ đã uống thuốc bổ, nhất là thuốc bổ xương, bắp thịt và gân cốt; nhưng Mẹ vẫn cảm thấy nhức nhối. Mẹ đi đứng chưa được bình thường.
Chó Con thay đổi từng ngày. Ðôi mắt nó càng lúc càng có tinh thần. Tý có cảm tưởng là nó đã thấy được mặt Tý. Tý giúp Mẹ pha sữa cho em bé và thay tã cho nó. Hễ đi học về là Tý quấn quýt bên thằng Chó Con. Ban đêm trong giấc ngủ, thỉnh thoảng nó nghe tiếng em bé khóc. Nó biết những lúc đó Mẹ đang lo pha sữa hay thay tã cho em, nhưng vì buồn ngủ quá nên Tý không thể dậy giúp Mẹ được.
Trời càng lúc càng lạnh. Gần như ngày nào cũng có mưa. Hồi còn ở quê nhà, chưa bao giờ Tý thấy trời lạnh như vậy. Áo của bác Thành đem tới cho, Tý đã mặc vào nhiều lớp nhưng vẫn thấy lạnh khi đi ra ngoài. Trong nhà thì ấm lắm, Mẹ và Chó Con chắc là không bị cảm lạnh đâu. Nhưng Ba thì đã bị sổ mũi. Tại trường, Tý và Miêu phải chạy chơi thật nhiều trong giờ ra chơi thì mới thấy ấm lên được. Một bữa chiều Mẹ nói với Ba: ”Anh ơi, mình nên về nhà của mình ở miền Nam cho rồi.” Ba nói: “Nhưng em còn yếu thì đi làm sao được?” Mẹ trả lời: “Em khá rồi. Hôm qua chị Nga có tới thăm và cho em một thứ thuốc. Em uống vào thì thấy hết nhức. Tuy em chưa bước được vững chãi như ngày xưa, nhưng em nghĩ, em có thể đi được. Mình ngồi cả ngày trên xe lửa chứ có đi bộ đâu mà sợ. Ðến nơi thì đã có cô Chín đi đón bằng xe hơi rồi mà.” Ba suy nghĩ một hồi rồi Ba gật đầu. Ba đi xuống văn phòng của trung tâm, tìm cách điện thoại cho cô Chín. Rồi Ba trở lên, và bắt đầu thu xếp áo quần và hành trang. Ba nói ngày mốt tức là ngày thứ ba, hăm sáu tháng mười, cả gia đình sẽ lên xe lửa đi về miền Nam. Tý và Miêu giúp Ba. Thấy ba cha con làm lăng xăng, Mẹ ngồi yên không nổi. Ba bảo Mẹ nằm nghỉ nhưng Mẹ cứ năn nỉ Ba để cho Mẹ giúp một tay. Ba kiếm những thùng giấy lớn, sắp mọi thứ đồ đạc vào và ràng dây thật kỹ. Nào có đồ đạc gì quý giá đâu. Chỉ có áo quần cũ của người ta cho, nhiều thứ không ai mặc vừa, nhưng Mẹ vẫn nhận. Mẹ nói mình có thể cắt những thứ ấy ra để may lại những thứ mà mình mặc vừa. Những muỗng, nĩa và dao bằng nhựa thu lượm được Mẹ cũng không bỏ. Những viên đường có bọc giấy, những hộp mứt tý hon để dành được trong những buổi ăn sáng, Mẹ cũng đem theo. Rồi còn là những cái lon bằng nhôm, những đôi giép Nhật Bổn đứt quai, những con dao cùn và mẻ đã lượm được, những tờ báo cũ, vân vân… Mẹ cũng đem theo. “Cái gì cũng có thể có ích lợi cho mình sau này”, Mẹ nói. Mẹ là một người phụ nữ Việt Nam đảm đang, tiết kiệm đúng mực. Cho đến nửa đêm hôm đó, cả nhà đã làm ra được bốn kiện hàng to tướng, ràng giây chằng chịt. Ba nói ngày mai Ba sẽ nhờ người chở những thùng này ra ga và gởi trước về ga Sainte Foy ở miền Nam nước Pháp, nơi gia đình sẽ tới, và luôn tiện mua vé xe lửa cho cả nhà. Ba gọi những thùng hàng của Ba là “hành lý không đi theo người”. Chiều hôm sau, vào giờ bãi học, Tý đưa Miêu tới chào cô giáo. Nó đã soạn sẵn câu nói rồi, cho nên khi nó nói, cô giáo hiểu ngay. Cô giáo xoa đầu cả hai đứa và chúc hai đứa “bon voyage”, nghĩa là lên đường bình an. Tý và Miêu học với cô như thế là gần bốn tháng.
Tối hôm đó, gia đình Tý được gia đình bác Nga đãi cơm Việt Nam. Gia đình bác Nga đã định cư tại Strasbourg lâu rồi. Mẹ quen với bác Nga ở trong nhà bảo sanh, bởi bác Nga vừa sinh em bé được hai hôm thì Mẹ được chở tới. Bữa cơm đó ngon lắm. Có một món mà Ba rất thích. Ðó là món canh hẹ có đậu hủ. Ba nói: thấy mặt bát canh cũng như là thấy mặt quê hương. Ngày đó Ba đã đi chào ông giám đốc trung tâm tạm cư và tất cả những người quen. Sáng mai, bác Thành sẽ đem xe hơi tới lúc năm giờ sáng để đưa gia đình Tý lên xe lửa. Cô Chín đã nói với Ba là ngày mai tốt lắm cho sự xuất hành và dọn nhà. Cô cũng nói rằng chú Dũng đã về nhà trước một tuần rồi, và hiện giờ đang chuẩn bị nhà cửa cho khang trang để đón gia đình. Chiều mai chú Dũng sẽ ra ga đón cả nhà. Nghe tin đó, Tý cảm thấy rộn ràng trong lòng. Chưa đi ngủ mà Tý đã mong cho đêm chóng hết.
11. Ba đi miền nam xem nhà
Bác sĩ nói với Ba rằng vào khoảng một tháng nữa thì em bé ra đời. Bác sĩ lại nói thêm em bé là con trai. Lâu nay Tý cứ âm thầm mong rằng em bé sẽ là con gái. Tý đã có một em trai rồi; nếu có thêm một em gái nữa thì vui quá. Nhưng khi nghe Ba kể lại lời bác sĩ, Tý không cảm thấy buồn. Có thêm một em trai nữa cũng vui lắm. Tý lớn hơn Miêu ba tuổi. Hai anh em chơi với nhau vui lắm. Em trai thứ hai của Tý sẽ nhỏ hơn Tý mười tuổi. Nó sẽ không thể chạy chơi với Tý ngoài sân ngay được, nhưng Tý sẽ cưng nó lắm. Tý sẽ ẵm nó. Hồi Miêu mới sinh, Tý còn nhỏ quá, không ẵm Miêu được. Giờ đây Tý sẽ tha hồ ẵm em bé mới. Tý sẽ thọc lét cho nó cười. Tý sẽ dạy cho nó nói tiếng nói đầu tiên như: Ba, Mẹ, Tý, Miêu, Việt Nam. Tiếng Ba và tiếng Mẹ là dễ nói nhất. TiếngViệt thì hơi khó đối với một em quá trẻ. Ba đã có tên cho bé rồi. Ba đặt tên cho nó là Chó Con, bởi vì năm nó sinh là năm Tuất. Tuổi Tuất là tuổi con chó. Còn tên khai sinh của nó là Lê Nhật Tâm. Nhật Tâm, Ba nói, là trái tim mặt trời. Hồi Mẹ bắt đầu mang thai nó (hồi đó gia đình Tý còn ở đảo Palawan) thì Ba đọc cuốn Trái Tim Mặt Trời mà cô Chín đã gởi sang cho Ba. Ba đọc cuốn sách đó trong nhiều ngày và nhiều đêm. Tý cũng đã thử đọc cuốn đó, nhưng Tý không thấy thích bằng đọc cuốn Văn Lang Dị Sử. Tý chỉ đọc chừng mươi trang rồi bỏ.
Trưa thứ bảy sau đó, gia đình Tý được một gia đình người Lào mời đi ăn đám giỗ. Gia đình này trước đây ba năm cũng đã từng cư trú trong trại tạm cư Strasbourg. Bây giờ họ đã định cư tại thành phố Strasbourg. Ba có quen với gia đình này. Hôm ấy Tý được ăn một bữa ăn Lào. Trên bàn có xôi và có thịt vịt. Mọi người rửa tay sạch và ăn bằng tay chứ không dùng đũa. Chiều hôm đó, cô Chín điện thoại cho Ba. Cô mời Ba xuống miền Nam có chuyện cần. Biết em bé sắp sinh và Ba cần có mặt thường trực bên Mẹ, cô chỉ mời Ba đi có bốn hôm. Cô nói về miền Nam Ba sẽ gặp cả Sư Ông và chú Dũng. Sáng ngày hôm sau, Ba ra ga đáp xe lửa về miền Nam. Trước khi ra đi, Ba căn dặn Mẹ nhiều điều. Ba nói là Ba sẽ gọi điện thoại cho Mẹ.
Tại trường, Tý đã bắt đầu hiểu được một ít những điều cô giáo nói trong lớp. Mỗi khi nói gì với Tý, cô nói rất chậm rãi. Giọng cô rất trong trẻo. Hình như cô có chú ý nhiều tới Miêu và Tý. Miêu độ rày không còn gây hấn với ai nữa. Nó nghe lời Ba căn dặn. Tuy nhiên nó có cách trả đũa của nó đối với những đứa ưa chọc ghẹo và bắt nạt nó. Nó làm bộ thua chạy để cho đối phương đuổi. Ðối phương đang đuổi hăng thì nó đứng lại một cách đột ngột. Anh chàng kia liền tông vào nó và té xuống. Ðã chuẩn bị rồi nên Miêu không té, cũng không bị đau. Nếu anh chàng kia té, đó là tại lỗi anh chàng chạy theo Miêu, chớ không phải là vì Miêu xô nó té. Trên nguyên tắc, Miêu không có lỗi gì.
Nhiều lúc Tý có cảm tưởng là Miêu khôn hơn nó. Vì khôn cho nên nhiều lần Miêu đã lôi kéo Tý vào những tình trạng khó xử. Tý nhớ hồi thằng Ngữ bệnh không đi học, có lần Miêu đã rủ Tý bỏ học để đến chơi với Ngữ và luôn dịp xem vô tuyến truyền hình. Nhà Ngữ có một máy ti-vi cũ, nhưng còn coi được. Tý và Miêu rất thích những phim giễu. Lại có những phim đánh kiếm, những phim về người da đỏ và những phim rượt bắt rất sôi động. Tý nói với Miêu: “Coi ti-vi thì thích rồi, nhưng làm sao mình nói dối với bác Nga (bác Nga là mẹ Ngữ) là hôm nay trường nghỉ học? Mình ôm tập vở sờ sờ ra đây mà!” Miêu chỉ cho Tý cách mở nút áo và dấu cuốn tập và cây bút trong ngực rồi gài nút lại. Trời xui đất khiến gì mà Tý đã nghe Miêu. Sáng hôm ấy coi truyền hình thì thích thật, nhưng chiều hôm đó, Tý cứ ăn năn hối hận mãi. Tý nhớ hối hận là đã đánh lừa Ba, đánh lừa Mẹ, đánh lừa bác Nga và đánh lừa cả cô giáo Duyên. Tý biết là bọn học trò trong lớp Tý đứa nào cũng đã từng có lần trốn học đi chơi và chuyện Tý bỏ học một buổi để đi coi phim cũng là chuyện thường xẩy ra cho những đứa trẻ còn vào tuổi Tý, nhưng Tý không hiểu sao mình lại thấy thắc mắc nhiều hơn những đứa khác. Tý cảm thấy không yên tâm. Miêu hồi đó chưa đầy sáu tuổi. Tý nghĩ rằng Miêu chưa biết về trách nhiệm. Tý là anh Hai, trách nhiệm là ở nơi Tý.
Ba đi miền Nam về vui lắm. Ba báo tin là mình đã có nhà rồi, và có thể định cư bất cứ lúc nào mình muốn. Ba nói nhà nằm ở Xóm Hạ trong Làng Hồng. Nhà có phòng ngủ, phòng khách, phòng chú Dũng, phòng Tý và Miêu, nhà bếp, nhà tắm và cầu tiêu riêng nữa. Ba nói nhà bếp khá rộng, có lò sưởi đốt củi, và vào mùa đông cả gia đình có thể ngồi quây quần trước lò sưởi. Hiện chưa có bàn ghế và giường tủ gì hết, nhưng cô Chín nói là các bạn cô sẽ mang những thức ấy tới trong vài hôm nữa. Ba lại cho biết rằng xung quanh nhà có rất nhiều đất để trồng rau. Muốn trồng bao nhiêu rau cũng có đất. Nhà đã có nước máy. Trong vài hôm nữa, điện sẽ được bắt vào. Cả nhà nghe tin rất mừng. Ba lại lấy cả bản đồ của Làng Hồng đưa ra cho cả nhà xem và chỉ cho mọi người thấy đâu là ngôi nhà tương lai của mình, đâu là giếng nước, đâu là vườn nho.
– Nhà mình có vườn nho nữa hả Ba? Miêu hỏi.
Ba trả lời:
– Có một vườn nho trái ăn ngọt lắm. Nho này có thể làm rượu được. Sang năm vào khoảng đầu tháng mười các con tha hồ mà đi hái nho.
Ba cũng cho biết là trường học của Tý và Miêu cách nhà chừng ba cây số, và buổi sáng sẽ có xe trường ghé qua nhà để rước hai đứa. Buổi trưa Tý và Miêu sẽ ăn cơm tại trường. Buổi chiều, xe chở hai đứa về tận nhà.
Thôi, vậy là hai đứa phải ăn cơm Tây mỗi ngày một lần rồi. Ba nói buổi cơm chiều mới là quan trọng. Mẹ hứa là chiều nào cả gia đình cũng sẽ ăn cơm Việt Nam đàng hoàng. Tý biết Mẹ mà hứa thì chắc chắn có rồi. Tý và Miêu đâu cần phải lo lắng nữa.
Ba kể là ba đã gặp chú Dũng. Chú Dũng đã mua được xe gắn máy rất tốt. Ba và chú Dũng đã cùng Sư Ông và cô Chín đi thăm khắp cả đất đai của Làng Hồng, và bốn người đã dự tính mùa Xuân năm sau sẽ trồng những thứ hoa màu nào. Chú Dũng dự định trồng đủ thứ: nào khoai tây, nào củ hành, nào đậu que, nào bắp cải, nào bí rợ… Tý cảm thấy nhớ chú Dũng quá. Nhớ đến muốn phát khóc. Chú Dũng mới xa Tý và Miêu có ba tháng chứ có lâu đâu. Vậy mà coi như đã mấy năm. Chừng nào đi định cư, Tý và Miêu sẽ lại được sống chung với chú. Tý và Miêu rất thích được chơi đùa với chú Dũng. Bên trại Palawan, hai đứa thường chạy để chú rượt theo. Chú rượt rất giỏi. Bắt được Tý, chú ôm Tý thật chặt. Chừng nào Tý phải kêu lên và thú nhận là chịu thua thì chú mới buông Tý ra. Có khi Tý và Miêu hợp tác với nhau ôm chặt chú lại và đố chú chạy thoát. Nhưng dù Tý và Miêu có cố gắng hết sức để ôm thì cũng chỉ trong một chốc lát chú đã vùng ra được.
– Chừng nào mình dọn về nhà mình hả Ba? Tý hỏi.
– Sau ngày Chó Con ra đời chừng vài ba tuần lễ. Mình phải đợi cho em bé cứng cáp rồi mới lên đường được. Mẹ các con cũng phải được tĩnh dưỡng ít ra là trong vài tuần.
Rồi Ba kể cho cả nhà nghe là ở Xóm Hạ có hai cây sồi lớn và đẹp lắm. Cây nào cũng trên ba trăm tuổi. Sư Ông, cô Chín, chú Dũng và Ba đã ngồi dưới bóng hai cây sồi ấy để ăn trưa một lần. Trong cành lá có cả ngàn con chim trú ẩn. Ngồi dưới bóng sồi mát lắm. Hai cây sồi chỉ cách nhà chừng bảy mươi thước. Ba nói Sư Ông rất thích hai cây cổ thụ này. Ba định là sau này vào những ngày hè mình sẽ treo võng trong bóng cây để nằm nghỉ trưa.
Tối hôm ấy, Tý đã nằm mơ thấy hai cây sồi. Tý thấy hai cây sồi có tàn lá lẩn khuất trong mây. Có một đàn chim trắng bay liệng trên đó. Tý chưa biết cây sồi là gì. Tý chỉ biết đó là hai cây thật lớn, lớn còn hơn những cây vú sữa ở quê ngoại.
10. Ba mua hộp tăm
Ba của Tý ngày xưa làm việc tại Trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội. Trường này đào tạo các cô các chú trẻ tuổi và gởi họ về miền thôn quê để giúp đỡ dân làng về các mặt y tế, giáo dục, tổ chức và kinh tế. Trường ở làng Phú Thọ Hòa, gần Cầu Tre, không xa thành phố Sài Gòn. Hồi đó nhà của Tý ở sát trường và thỉnh thoảng Tý được Mẹ dẫn tới nơi làm việc của Ba để thăm Ba. Tý nhớ dãy hành lang dài mà Ba thường đưa Tý đi dạo. Ba nắm tay Tý đi dọc hành lang. Các cô các chú đông lắm, có cả mấy trăm người. Họ được gọi là tác viên. Họ học để về giúp dân, chỉ dẫn cho dân những phương thức trồng trọt và chăn nuôi theo khoa học mới. Họ lại mở trường dạy thiếu nhi thôn quê học chữ và mở trạm y tế để chăm sóc thuốc men cho những người đau yếu. Ba làm tổng thư ký của trường cho nên Ba hay đi dạy đây đó, có khi phải tới tận những vùng có chiến tranh ở miền Trung xa xăm. Tý nhớ những hàng cau thẳng tắp trồng ở sân trường Xã Hội. Tý nhớ ngôi chùa Lá trong khuôn viên trường và những khóm trúc tươi tốt phía hông chùa. Ba nói những khóm trúc ấy là do Sư Ông trồng. Trước chùa lại có mấy cây lựu. Tý nhớ tiếng tụng kinh rất hay của thầy Thật Trí vị chủ trì chùa Lá. Hồi đó, nhà của Tý còn ở Cầu Tre chứ chưa dời về Thủ Ðức. Phía sau nhà có mấy bụi bông giấy. Phía trước có mấy cây trứng cá. Lại có một cây chùm ruột rất nhiều trái. Mỗi khi lên chơi, anh Tèo con má Sáu thường thọc trái trứng cá và hái chùm ruột cho Tý. Có một hôm Mẹ làm mứt chùm ruột ăn rất ngon. Nhà Tý hồi đó có một con chó Mực. Còn một ít chùm ruột, Mẹ đem phơi khô trên một cái mẹt, định bỏ vào keo để dành thì con Mực đi ngang làm đổ cái mẹt. Mứt chùm ruột rơi xuống đất và con Mực đã ăn hết. Mỗi khi trời mưa, quanh nhà có rất nhiều vũng nước. Nếu trời mưa liên tiếp nhiều ngày thì ở các vũng nước ấy có cá. Anh Tèo bắt được rất nhiều cá từ các vũng nước ấy. Ban đêm, tiếng ễnh ương và tiếng ếch nhái kêu vang dậy. Hồi ấy Miêu còn nhỏ. Nó chưa biết đi. Mỗi khi đến trường Xã Hội thăm Ba, Mẹ thường ẵm Miêu theo. Các cô các chú tại trường ai cũng cưng Tý và Miêu. Ai cũng xoa đầu Tý. Ai cũng muốn ẵm Miêu. Ba đối xử với các “tác viên” rất thân thiết. Ba gọi họ là đồng sự.
Ba nói rằng hồi còn làm ở trường Xã Hội. Ba đã từng dự tính làm Làng Hồng với thầy Châu Toàn, tức là thầy giám đốc của trường. Ba nói thầy Châu Toàn đã tìm ra đất làm Làng Hồng ở miền cao nguyên. Làng Hồng là làng của cô chú tác viên, là nơi các tác viên và con cái của họ cư trú. Như vậy Làng Hồng cũng là làng của Tý và Miêu, bởi vì Ba cũng là một tác viên.
Tý hỏi: “Bên Pháp này làm gì có tác viên hả Ba? Tại sao ba phải làm Làng Hồng?”
Ba cười: “Có chứ con. Cô Chín là một tác viên. Ba là một tác viên. Sư Ông cũng là một tác viên. Bên này cũng có nhiều cô chú đang làm việc xã hội và giúp đỡ các thiếu nhi đói ở các nước kém mở mang. Người Việt cũng có mà người ngoại quốc cũng có. Hôm Ba về Am Phương Vân, Ba gặp nhiều cô chú như thế. Ba cũng gặp những cô chú tác viên người Pháp, người Hòa Lan, người Anh và người Thụy Sĩ nữa.”
Tý ngạc nhiên. Tý biết thế nào là hình dung của một cô hoặc một chú tác viên người Việt. Nhưng Tý không thể tưởng tượng ra được một cô tác viên người Anh hay một chú tác viên người Hòa Lan. Thấy vẻ mặt ngơ ngác của Tý, Ba cười:
– Rồi con sẽ có dịp gặp họ.
Cuối tháng chín, trời đã bắt đầu lạnh. Mọi người phải mặc thêm áo. Bác Thành có đem tới nhiều áo quần để biếu cho cả nhà, nhưng Ba chọn được rất ít. Người Ba hơi ốm, nên phần nhiều các thứ áo quần người ta đem tặng đều quá rộng đối với Ba. Có lần Ba chọn được một cái quần vừa ý, Ba thích lắm. Ba cứ mặc cái quần đó hoài.
Em bé đã cựa quậy và đạp nhiều trong bụng Mẹ. Mẹ phải đi thăm thai hàng tuần. Ba đưa Mẹ đi bằng xe buýt. Có một hôm thăm thai xong, Mẹ đề nghị với Ba là cùng đi bộ về. Ba đồng ý. Hai người đi thong thả bên hè phố. Bỗng Mẹ nhận ra một tiệm bán thực phẩm của người Á Ðông phía bên kia đường. Ba đưa Mẹ qua, và hai người vào thăm cửa hàng. Lâu quá không trông thấy những thực phẩm Á Ðông, Mẹ rất mừng khi thấy lại các mặt hàng. Hai người đi thăm hết các mặt hàng. Nào đậu xanh, nào đậu đen, nào bún tàu, nào nấm mèo, nào bánh tráng, nào hột sen, nào măng chua… “Em đâu có ngờ bên này họ bán đủ hết mọi thứ như vậy” Mẹ nói. Họ bán cả trái xoài, trái sầu riêng, mít, rau om, ớt tươi, rau tía tô và cọng bạc hà nữa. Ba nói ở miền Nam người ta có thể trồng được cả rau tía tô và cây bạc hà. Ba và Mẹ lại đi xem xét gần một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, khi ra về, Ba chỉ mua độc có một hộp tăm.
Ba nói:
– Sau này đi chợ, em phải tẩy chay tất cả những sản phẩm Thái Lan. Em đừng mua bánh tráng Thái Lan, nước mắm Thái Lan, rau om Thái Lan…
Ba đã nghe nói nhiều đến những cảnh thương tâm trên biển cả do những người cướp Thái Lan gây ra. Nhiều lúc tức giận quá, Ba nói: “Trong số mười người Thái Lan thì đã có mười một người là cướp biển.” Hồi còn ở trại Palawan, Tý cũng thường được nghe nói về cướp biển Thái Lan và Tý cũng ghét người Thái Lan lắm. Ở trại Palawan, hầu hết mọi người đều tỏ ý căm phẫn đối với người Thái. Cho đến nỗi khi nghe quân đội Việt Nam đồn trú ở Miên đánh thẳng qua biên giới Thái, có người còn vỗ tay reo mừng. Họ muốn bộ đội của chính quyền Cộng Sản Việt Nam qua đánh phá Thái Lan để giúp họ trả thù cho những người tỵ nạn bị hải tặc Thái cướp bóc, hãm hiếp và giết chóc. Mẹ nói với Tý: ”Ðâu phải là người Thái nào cũng là hải tặc. Cũng có những người làm ruộng, đi buôn, xây cất và vá may chớ.”Chiều hôm nay, Mẹ nói với Ba: “Người làm bánh tráng thì không làm hải tặc, người làm hải tặc thì không làm bánh tráng. Anh ghét hải tặc mà không mua bánh tráng Thái Lan là anh giận cá chém thớt. Xứ nào cũng có người tốt người xấu. Người Việt cũng có kẻ tốt người xấu. Anh đâu có bắt đày kẻ khác vào các trại học tập, anh không đi xâm chiếm Căm Pu Chia, nhưng anh cũng là người Việt Nam. Ðành rằng một người làm xấu thì cả bọn mang nhơ, nhưng mình phải biết nhìn với con mắt phân biệt hơn.”
Tuy vậy, Tý nghĩ bụng rằng sau này nếu Mẹ có đi chợ mua bánh tráng thì có lẽ Mẹ sẽ mua bánh tráng làm ở Việt Nam hơn. Hồi còn ở quê, Tý đã thấy nhiều gia đình làm bánh tráng. Họ phơi bánh tráng đầy ngoài sân, trên những cái giá đan bằng tre. Nếu không bán được bánh tráng thì những gia đình ấy sẽ đói. Nhưng Tý lại mường tượng trong óc những gia đình làm bánh tráng ở Thái Lan. Chắc họ cũng làm bánh tráng theo kiểu những gia đình Việt Nam làm, và họ cũng phơi bánh tráng ngoài sân như những gia đình Việt Nam phơi. Rồi Tý nghĩ: nếu họ không bán được bánh tráng thì con họ cũng sẽ đói. Giống hệt như ở Việt Nam. Nghĩ tới đây, Tý thấy khó giải quyết quá. Tý cảm thấy chuyện đời rắc rối hơn lâu nay mình tưởng.
