Thư gửi Thầy!

 

Huế, 10.10.2025 

Thầy kính thương,

Hôm nay, anh chị em trong Tăng thân trẻ chúng con có cơ hội trở về chùa, sinh hoạt ở phòng thở Thầy đây. Bước vào phòng, con cảm thấy rất ấm áp. Khi thấy quý sư cô đang chuẩn bị những thước phim về Thầy để chiếu cho đại chúng xem trong buổi sinh hoạt tối nay, từng chiếc bồ đoàn được chiếu ngay ngắn, từng ly trà nóng thơm thơm bởi tình Tăng Thân – uống vào, chúng con cảm thấy ngon và biết ơn thiệt nhiều.

       “Chén trà này, khung cảnh này, ngàn năm đâu dễ có ngày hôm nay”.

Biết ơn Thầy đã thắp sáng con đường cho con đi. Để mỗi ngày trôi qua, con sống chân thật và hết lòng hơn với sức khoẻ, tuổi trẻ, gia đình; và con thương yêu Ba Mạ, anh chị em con thiệt nhiều.

Nhìn lại chặng đường mười năm qua, từ khi con bị bệnh đến bây giờ, khi có đủ nhân duyên, phước đức gặp Thầy, gặp Tăng Thân và được thực tập đều đặn, con đã học hỏi và thực tập được rất nhiều điều mà Thầy trao truyền. Con đã biết chấp nhận những mặc cảm yếu kém, căn bệnh của mình, để sống vui và trân quý hơn những điều kiện hạnh phúc mà con đang có. Đó chính là lòng biết ơn. 

Hồi trước, khi chưa gặp Thầy,  con chưa biết sống như thế nào mới gọi là biết ơn. Lòng biết ơn trong con lúc đó còn rất hời hợt và có đôi khi vô tâm lắm. Nhưng từ khi được Thầy mở đôi mắt của con ra, như được tái sinh thêm một lần nữa, con đã biết sống trọn vẹn hơn mỗi ngày. Biết ơn vì con có một gia đình, Ba Mạ và anh chị em luôn yêu thương, đùm bọc, nâng đỡ lẫn nhau. Con biết ơn đôi mắt còn sáng, để mỗi sáng nhìn thấy Ba Mạ vẫn còn đó cho con, thật lòng và ấm áp. Con biết ơn anh Lớn luôn là người bạn đồng hành, kiên nhẫn, thương yêu, dìu dắt con qua nhiều gian khó. Con biết ơn quý Thầy, quý Sư cô và Tăng thân, những người vẫn luôn là sự tiếp nối đẹp của Thầy, để chúng con được tắm mát trong dòng sông tâm linh đầy nuôi dưỡng.

Tình thương và sự có mặt chân thành luôn chữa lành tất cả mọi vết thương. Chính bản thân con đã được trải nghiệm và con có niềm tin rất sâu sắc. Mỗi lúc nhìn Thầy, dù chỉ qua những bài pháp thoại hay những trang sách, nhưng lúc mô con cũng thấy ấm áp, gần gũi và đồng điệu. Càng thực tập, con càng trân quý “sự có mặt“ của những người thương yêu đang ở bên cạnh một cách trọn vẹn và hết lòng.

Con biết ơn Thầy đã làm tái sinh cuộc sống của con thêm một lần nữa. Dù là ở trong hoàn cảnh nào, con cũng đang sống, đang thở, đang cười, đang cầm gậy bước đi thiệt vui. 

      “Con nguyện xin đem Thầy đi về tương lai thiệt đẹp”.

Con biết ơn Thầy nhiều lắm…

Con, Khoẻ

 



Đi gặp những mùa hoa – Phần III

 

                  HẠNH THIÊNG NGUYỀN TIẾP NỐI

                                                                Từ Hiếu – Diệu Trạm, ngày 24 tháng 4 năm 2025

Sư Ông thương kính của chúng con,

Trở về từ Đại Giới đàn Nước Tĩnh và khóa tu xuất sĩ Gìn Giữ Nếp Nhà tại tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan, chúng con có nhiều niềm hạnh phúc muốn chia sẻ cùng Sư Ông và Tăng thân.

Tu viện Vườn Ươm đã đón chào hơn 300 người con về với không gian thênh thang của núi rừng Khao Yai. Từ trên xóm Trời Quang xuống đến xóm Trăng Tỏ, niềm vui hội ngộ nở rộ nơi từng góc nhỏ. Dù đã nhiều lần hay chưa từng đặt chân đến, chúng con đều dâng lên trong lòng những niềm thương mến với mảnh đất này, với những con người đang dựng xây một nơi cằn khô sỏi đá trở nên thánh địa. Vì “Đã trót thương tàng cây đung đưa, bầu trời đung đưa, ghế treo đung đưa trên bãi cỏ một sớm nắng xiên tựa hàng me gió hiền nhè nhẹ thổi nơi Vườn Ươm hôm ấy đàn con trai con gái áo nâu của Bụt vui đùa, ấu thơ về lại; gia tài vẫn giàu Chánh Pháp, giúp nghèo Khổ Đau, tiếng cười theo gió, vang vào thiên thâu.” (Trót thương – Chân Trời Hải Thượng) 

Những ngày được tham dự các buổi lễ Rước Giới Bổn, Truyền Giới và Truyền Đăng đã thắp lên ngọn lửa bồ đề trong chúng con thật sáng tỏ và rõ ràng. Chúng con thấy được sự vĩ đại, trang nghiêm và hùng tráng của Tăng đoàn – nơi dòng chảy chánh pháp tiếp tục được trao truyền qua các thế hệ. Giữa khung cảnh đó, khó có ai mà không cảm thấy chấn động trong lòng. Nhất là khi chứng kiến các sư anh, sư chị thế hệ Trời và Trăng tiếp nhận ngọn đèn chánh pháp. Chúng con cảm thấy vô cùng khâm phục và biết ơn trước hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ của quý thầy, quý sư cô – để ngày hôm nay, có thể nhận lấy ngọn đèn như một sự tiếp nối thiêng liêng đầy trách nhiệm. 

Ngọn đèn đó còn là sự chở che, là niềm tin cậy và sự gửi gắm mà Bụt, chư vị Tổ sư và Sư Ông muốn truyền trao cho các thế hệ con cháu. Là tình thương thầm lặng, đậm đà của Sư Cố đã nuôi dưỡng và yểm trợ Sư Ông trong suốt những tháng năm khó khăn ở nước ngoài. Là đức tin vào tương lai và niềm hạnh phúc lớn của Sư Ông khi thấy các con sống và làm việc yên lặng, hòa thuận như một đàn ong, và trong tình huynh đệ. Cho dù có khó khăn đến mấy, chúng con biết rằng mình đang được Sư Ông ôm vào lòng. Để những niềm thương và tin cậy nơi Người trở thành những ánh lửa ấm áp giữ cho bền bỉ, cho tươi mới trái tim ban đầu của chúng con.

Trong những giờ phút linh thiêng và xúc động ấy, chúng con phát khởi trong mình một lời ước nguyện mạnh mẽ: được lớn lên trong dòng chảy tâm linh này để góp phần làm lớn rộng thêm sự nghiệp của Bụt Tổ. Ước nguyện đó đi cùng chúng con – vượt qua những nghi ngờ và chán nản, cùng các sư anh, sư chị xây dựng tương lai ngay chính bây giờ để có thể đền đáp ân tình cao thâm nghìn trùng của Thầy Tổ. 

Cúi mình lạy xuống nơi thiền đường Voi Trắng, chúng con mong ước cho tất cả các anh chị em chúng con dù ở bất cứ nơi đâu cũng đều chế tác được bình an, hạnh phúc cũng như có thể chấp nhận, bao dung cho những lỡ lầm, vụng dại của nhau để cùng đi trọn con đường.

Sư Ông kính thương, trên hành trình đó chúng con không hề đơn độc vì phía trước luôn có quý sư cha, sư mẹ, sư anh và sư chị của chúng con. Như những dây leo được lên cao nhờ thân cây tùng, cây bách, chúng con phải nương vào lý tưởng cao đẹp và các bậc đại nhân thì mới có thể trở nên người hữu dụng mà làm lợi ích cho thế gian. Vì vậy, mỗi khi có cơ hội được thân cận quý sư cha nơi chùa Tổ, chúng con luôn khởi lên ước muốn được lắng nghe những chí nguyện, thao thức lớn về công trình tiếp nối sự nghiệp chư Tổ mà các sư cha đang gầy dựng.

 

 

Tăng thân muôn dặm một nhà 

Sư Ông từng dạy “càng cắm rễ sâu vào tăng thân chừng nào thì nền tảng của sự thực tập của mình càng vững chắc chừng ấy”. Vì vậy “làm thế nào để xem Tăng thân là nhà, xem đây là tình gia đình?” là một câu hỏi lớn trong cuộc đời tu của chúng con. Sư cha Mãn Thành đã luôn phát nguyện đi theo tăng thân với tinh thần của một dòng sông, không bao giờ chịu làm hạt nước nhỏ, chúng con được học hỏi cách hòa vào dòng sông ấy để thảnh thơi về tới đại dương mênh mông:

“Đối với Mãn Thành, chùa Tổ là nhà của mình. Và từ lâu rồi khi Mãn Thành có ý thức hơn, từ ngày thọ giới lớn, đặc biệt là khi cúi xuống nhận ngọn đèn truyền đăng, nhận lấy sự nhắn nhủ, Mãn Thành thấy nơi này là nơi nuôi cả cuộc đời của mình. Và mình phát nguyện, dù ở góc nào, nếu còn rác, cả về nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, từ trong lòng mình ra đến bên ngoài, mình sẽ luôn cố gắng dọn dẹp, làm cho góc đó sạch đẹp hơn. Những người anh em nào ở chùa Tổ cũng đều có chung suy nghĩ như vậy. Mỗi buổi sáng, những ngôi chùa đều có một nếp sinh hoạt rất ấm áp và dễ thương. Mục đích chính của nếp sinh hoạt này không những để chăm sóc không gian của chùa mà còn là một thông điệp sâu sắc. Mỗi công việc được chia ra cho quý thầy và luân phiên với nhau: chăm sóc chánh điện, làm ở thiền đường, lo ở nhà bếp, dọn nhà vệ sinh, quét lá ở hồ Bán Nguyệt và những con đường,… Ai cũng cố gắng làm cho ngôi chùa đẹp nhất có thể với tất cả khả năng của mình. Và quý thầy đều cảm nhận rằng đây là ngôi nhà chung của mình chứ không phải là một nơi mình đến rồi đi. Chùa Tổ là nhà, là gốc gác của mình rồi.

“Đã là nhà của mình thì phải ở thôi và làm cho nó tốt lên mỗi ngày, dù như thế nào cũng không có thái độ từ bỏ. Quý thầy đi xa rồi trở về cũng đều thấy, ai được ở chùa Tổ nơi núi rừng này là những người có diễm phúc nhất, phước đức nhất vì không phải rong ruổi. Mình đang ở trong một kho gia tài rất lớn, và ở đây chỉ có làm cho mình giàu có lên thôi. Ở chùa Tổ mình có hết rồi – mình có không gian, có thời gian, có những bậc thầy – thì không bao giờ mình phải đi tìm, phải làm thân cùng tử nữa. Vì vậy mình phải chấm dứt cuộc đời lãng tử để tiếp nhận được gia tài ở đây, không đâu khác nữa. Có cái thấy rằng đây là nhà, là nơi có đủ để phát triển bản thân mình từ chiều sâu đến chiều rộng nên mình ở lại, làm sáng lên con người của mình. Và khi đã hoàn thiện được tự thân thì sẽ thắp sáng lên không gian này.

“Thỉnh thoảng vào buổi khuya Mãn Thành thích đi dạo quanh vườn tháp chùa Tổ. Ngồi bên cạnh tháp của Ngài Đệ Nhị đọc những dòng tự bạch cùng 15 lời đại nguyện của Ngài làm mình chấn động. Ở bên tháp ngài Huệ Minh, thầy thấy được cuộc đời Ngài hiện ra. Lâu lâu thầy về tháp Sư Cố hay đi quanh thất Sư Ông,… Ở đâu mình cũng chạm đến, tiếp xúc được với những nguồn xúc thực, tư niệm thực và thức thực của quý Ngài. Các sư em sẽ cảm được rằng quý Ngài đã dọn sẵn những “món ăn” rất ngon lành để mình tự nhiên đón nhận vào lòng. Ở đây không thiếu gì của một con người để mà tìm cầu nữa. Có thiếu thì thiếu một điều duy nhất, là thiếu sự tinh tấn, mình chưa hết lòng, chưa chuyên tâm đủ, để rồi những lang thang, ham muốn dẫn mình đi xa.”

Nối nghiệp Tổ lưu truyền

Được lớn lên từ sự nâng đỡ, chở che của những bậc thầy đi trước, lý tưởng tu học của sư cha Từ Hải được hun đúc nên từ hoa trái đẹp đẽ mà các thế hệ tiền nhân đã dày công vun trồng. Sư cha đã luôn thao thức, âm thầm gìn giữ gia tài quý giá của Thầy Tổ. Ngày hôm nay, khi được lắng nghe sư cha Từ Hải, chúng con nhận ra bao hoa trái của Sư Thúc đang tiếp tục biểu hiện nơi sư cha:

“Thầy phát nguyện rằng dù đi đến đâu, ở trung tâm nào, thầy cũng sẽ học cách để hòa vào với nơi đó. Thầy nghĩ, dù có khác biệt ngôn ngữ, văn hóa hay thế nào đi nữa, mình cũng đang cùng đi trên một con đường, cùng hướng tới sự tỉnh thức và thương yêu. Phải làm sao để có thể sống chung được. Quan trọng là mình đừng để cái ngã dẫn dắt mình đi. Phải chăm sóc và chuyển hóa cho được những mặc cảm hơn, kém, bằng. Tập buông xuống cái tôi cá nhân, để hòa đồng, học hỏi với huynh đệ. Nên hoan hỷ và buông bỏ là những thực tập thầy học hỏi mỗi ngày trong đời sống của mình. Có những lúc thầy không vui với anh em, tập khí nóng nảy nổi lên, có nói những lời không dễ thương với nhau. Nhưng chỉ trong lúc đó thôi, nhiều lắm thì một, hai tiếng sau là xả, không để trong lòng. Điều đó tuy không dễ, nhưng vấn đề là mình muốn thực tập buông bỏ cho được để cùng nhau chung sống và xây dựng.”

Bên cạnh đó, sư cha còn cần mẫn vun trồng những đóa hoa thơm ngát của Sư Cố, Sư Ông và của những vị Bồ tát thầm lặng đi vào cuộc đời:

“Thầy luôn cảm thấy mang ơn dòng truyền chưa từng đứt đoạn của chùa Tổ. Thầy ao ước mình có thể tiếp nối được một phần nào công hạnh của chư vị Tổ sư để dòng truyền thừa sẽ còn được tiếp tục. Sư Cố là một vị thầy đức độ, hiền dịu và khiêm cung. Mỗi khi nhắc đến Sư Cố, là các ôn, các mệ – những người từng nhận được ân tình của Sư Cố, đều cung kính gọi Sư cố là Ôn Mậu Thân. Mậu Thân (1968) là năm Sư Cố viên tịch. Thời xưa rất nghèo, mà cứ vào mỗi dịp Xuân về,  Sư Cố thường hay mua một thẻ hương, một chai xì dầu. Thêm mấy trái bùi chùa Tổ, Ngài chống gậy đi tặng cho những gia đình ở quanh chùa. Xóm giềng là thành trì bao quanh một ngôi chùa. Hành động kết nối đó cho họ cảm nhận được tình thương của nhà chùa đối với người dân. Là đệ tử của Sư Cố, Sư Ông đã tiếp nối hành động này, không chỉ ở Việt Nam mà sang tận miền Nam nước Pháp. Thầy rất muốn giữ gìn được tinh thần đồng sự, tiếp xúc gần gũi với quần chúng như Sư Cố ngày xưa đã từng làm và Sư Ông đã tiếp nối, truyền trao. 

Những năm thập niên 60, Sư Ông đã đưa ra khái niệm “Đạo Bụt dấn thân” (Engaged Buddhism) trong thời cuộc chiến tranh để làm mới lại sức sống đạo Bụt, để đưa đạo Bụt đi vào cuộc đời, phụng sự cuộc đời. Bây giờ là thời bình, nhưng những niềm đau, nỗi khổ vẫn còn đó. Nếu con đường phụng sự xã hội bằng thái độ cởi mở, phá chấp của Sư Ông không được thế hệ sau tiếp cận, học hỏi và tiếp nối để phụng sự thời cuộc, thì đạo Bụt làm sao còn có thể dấn thân? Thầy không làm được những công việc to lớn như chư vị. Làm được chừng nào thì thầy làm chừng đó. Gần đây nhất là khi đi Lào Cai, thầy được cùng với đoàn cứu trợ tiếp tế lương thực và vật dụng cho bà con sau trận bão Yagi. Khi nhìn cho sâu sắc những nỗi khổ của họ, thầy nhận thấy rõ là mình đang có rất nhiều may mắn khi được tu học. Điều đó làm phát khởi trong thầy mong muốn thực tập cho tinh chuyên hơn nữa, để góp đôi bàn tay của mình vào ước nguyện chung “sáng cho người thêm niềm vui, chiều giúp người bớt khổ” của Tăng thân. Đó là hướng đi mà thầy lựa chọn, xuất sĩ và cư sĩ cùng đồng hành với nhau. Trong đó, thực tập chánh niệm là yếu tố đầu tiên và đặt nền tảng cho những sự phát triển khác.”

 

 

 Vì biết tình thương hôm nay còn đủ sưởi ấm ngày mai 

Trong khi đó, một trong những hạnh nguyện mà sư cha Từ Tế và sư cha Mãn Thành đang tiếp nối là mong muốn nuôi dưỡng thế hệ tương lai.

Sư cha Mãn Thành đã lớn lên từ những năm tháng niên thiếu đầy nghịch ngợm, hoang dại, hiếu kỳ và khao khát. Đi qua những trải nghiệm ấy, sư cha hiểu được một phần tâm tư của các sư em nhỏ. Và từ đó, ước nguyện “nâng đỡ và trao truyền cho các sư em” luôn dẫn dắt sư cha trên con đường tiếp nối và phụng sự. Có lẽ Sư Thúc của chúng con đang mỉm cười tin tưởng và khích lệ với những thao thức chân thành ấy. 

“Mãn Thành rất “tham lam” khi nhận thấy mình mong muốn cho các em sau này sẽ tốt hơn thế hệ của mình, sẽ vững chãi hơn và tránh được những chuyện lòng vòng mà mình đã trải qua. Khi vào chùa, điều đầu tiên là để hạnh phúc, xa lìa những thứ khổ đau của cuộc đời đã làm mình chìm xuống và trôi lăn trong vòng tranh chấp. Vì vậy Mãn Thành luôn mong các sư em có được đức tin và đạt được thành tựu của một người tu. Mình là những người đệ tử may mắn vì Sư Ông dạy rất kỹ những pháp hành, những giáo lý và mình có rất nhiều những chỉ bày và cảm hứng từ cuộc đời Sư Ông. Thế nên, các sư em phải nắm cho được pháp của Sư Ông, học cho thấu đáo và làm những gì Sư Ông dạy thật cẩn trọng. Vì chính sự học hiểu và hành trì đó sẽ giúp các sư em trau dồi nội lực để đi tới. Còn nếu vào chùa chỉ để có môi trường thuận lợi, nhàn rỗi mà thỏa mãn với những tiện nghi cá nhân bình thường thì sẽ không bao giờ đi xa được. 

“Rồi đến lúc có sự va chạm, tự thân mỗi người tu phải phát sáng lên, phải đốt cháy những thứ còn tồn đọng trong năng lượng của mình và hướng về sự tỉnh thức. Năng lượng của sự kiên trì, miên mật khi được đốt lên sẽ tạo ra sức nóng giúp quả khinh khí cầu bay lên cao. Còn khi không đủ sức nóng nữa, như lúc Bồ đề tâm bị xói mòn, thì khinh khí cầu sẽ hạ xuống và không còn trông thấy được những khung trời cao rộng. Thành ra Mãn Thành luôn luôn thao thức. Bây giờ mình có con đường, có pháp môn, có cách điều hợp chúng rồi đó, nhưng phải luôn luôn uyển chuyển, phải làm sao cho nhịp nhàng, tương ứng, và tạo ra sức khỏe thân thể và tâm hồn. Trên cả những trăn trở đó, Mãn Thành luôn đặt niềm tin vào các sư em và tạo ra những cơ hội, thử thách để các em vươn tới, chủ động hơn và tiến xa hơn nữa.

“Đối với Mãn Thành, chỉ khi nào mình rơi xuống tận cùng, khi mà khó quá rồi, khổ cùng cực không chịu nổi nữa thì mình mới dùng những từ “khó khăn”, “khổ đau”. Còn những vấn đề nhỏ hơn, ngày xưa thầy nhìn khác, vì mình thường hay đổ lỗi. Các sư em chưa dễ thương, đại chúng có chuyện này chuyện kia khiến mình lùi bước hoặc đứng qua một bên. Nhưng bây giờ Mãn Thành nhìn rõ đó là tính hữu cơ của một dòng chảy. Dòng chảy luôn gặp trắc trở; quan trọng là khi gặp trở ngại mà dòng mạch vẫn tiếp tục, vẫn hướng tới nơi cần đến, sống cùng nhau trong một Tăng thân như những gì Sư Ông và Sư Thúc đã tạo ra, thì tự nhiên tính sáng trong mình tự đi tới thôi. Và khi những chuyện đó xảy ra thì biết mình đang như vậy vì nguyên do của nội tại, không phải vì ngoại tại. 

“Nhận thức ở chùa giúp mình hiểu rõ: mình là một sự tồn tại đẹp đẽ trong trú xứ  này, mình là nhịp nối của những thế hệ trước mình và sau mình. Thành ra làm sao huynh đệ mình có thể tạo ra sự liên kết hài hòa của một cỗ máy, chứ không phải mình xem mình là ai. Làm sao để đi qua những khúc cua cho mượt mà, nhịp nhàng, đừng có để lật. Mà nếu có lật, thì cũng phải lồm cồm ngồi dậy. Hư là phải sửa chữa, nổ máy đi tới và tìm ra nơi chốn mình muốn đến. Cỗ máy vốn có đường về, nhiều khi vì một chút sơ sẩy mình bước trật ra khỏi con đường đó. (Lạc đường cũng vui vì mình có cơ hội khám phá ra con đường mới). Cái quan trọng là cuối cùng mình đến được đích.”

Với chúng con, “ngọn đèn tiếp nối” của tuổi trẻ thật đẹp đẽ với lý tưởng cao cả, kiên định. Dù có lúc le lói, ánh lửa vẫn âm ỉ cháy và được tiếp thêm sức mạnh bởi niềm tin vào chính mình và vào sự thực tập. Còn ngọn đèn của sư cha Từ Tế – đã đi qua biết bao mùa nắng mưa, sương gió – vẫn đang tỏa sáng ấm áp cùng chí nguyện độ đời, giúp người. Đó là cách sư cha báo đáp công ơn sâu dày của Thầy Tổ.

 

 

“Các con biết không. Niềm vui của người tu không phải của riêng mình, mình có được là nhờ phước báu của Bụt Tổ, của người đi trước, của những thiện tri thức. Thiện tri thức là những người nâng đỡ, hướng dẫn mình trên con đường thực tập. Nhưng ngay cả những người gây khó khăn, thử thách cũng là những thiện tri thức của mình. Các con đừng thấy chướng ngại mà cho đó là cái không tốt. Vì chướng ngại cho mình lớn lên trên đường tu. Nếu thầy không bị bệnh nặng thì chưa chắc thầy đã thực tập ngồi thiền, chưa chắc thầy đã thực tập Thái cực quyền, đã nghiên cứu trị liệu sức khỏe bệnh tật như bây giờ. Vì cơ thể có bệnh nên mình mới bắt đầu nghiên cứu, và nó có dáng dấp nên mình đi vào thiền tập rất dễ.

Và thầy thấy mình được hun đúc bởi nhiều phước đức của tổ tông, cùng tình thương yêu và sự yểm trợ của Thầy và huynh đệ xung quanh. Vì vậy, thầy tự nhắc mình phải tu học sao cho không phụ lòng các bậc tiền bối và Tăng thân. Do đó, mỗi khi đủ sức khỏe và thời gian, thầy luôn nuôi dưỡng tinh thần có mặt cùng đại chúng trong các lớp học và các khóa tu.

“Khóa tu nào đi được thì thầy đi, chỗ nào có khó khăn thì thầy giúp. Mặc dù đi khóa tu không đơn giản. Vì khi sức khỏe không đủ, đi máy bay thầy dễ bị say, và thời khóa liên tục thì mệt hơn nhiều so với việc ở nhà. Thế nhưng khi gặp các vị Phật tử thân quen thì thầy vẫn muốn tiếp xúc, hỏi han nhiều. Người ta có niềm vui thì thầy thấy không uổng phí đời mình sinh ra, không uổng phí cuộc đời thực tập. Giúp người ta thoát được chút nào khó khăn là hạnh phúc rất lớn của thầy. 

Trong các lớp học của các sư em hay của các bạn thiền sinh, thầy không quan tâm ai vắng, ai đi học. Không phải thầy không biết ai vắng nhưng thầy không phán xét. Các vị đề nghị thầy phải ra bài tập hay kiểm tra để mọi người chia sẻ sự thực tập. Nhưng thầy thấy điều đó không thật sự cần thiết. Bởi người tu cần thời gian thì mới lớn lên được. Còn các vị cư sĩ vừa lo chuyện vợ chồng, con cái, thời gian đâu mà thực tập. Chỉ cần thực tập được một chút thôi cũng đã rất lợi lạc rồi. Không cần phải thực tập để đạt cho được một thành tựu gì cả. Chỉ cần khi gặp khó khăn, mình biết trở về với hơi thở, thực tập để nuôi dưỡng thân tâm và giữ được sự cân bằng trong đời sống.

“Thầy chỉ dạy dỗ, trao truyền, khích lệ làm sao cho tốt lên. Chứ mình đừng phán xét, trách móc, đòi hỏi cái này, cái kia mà mình tháo gỡ ra đó mới là người tu. Cái đó mới chính là mình đang trả ơn Bụt Tổ, nhớ đến ơn người đi trước, Sư Ông, Sư Thúc. Cho nên trách nhiệm của người tu là phải có chánh niệm, có cái trí. Cái trí là không giải quyết vấn đề với tâm phán xét, đúng sai, dễ thương hay dễ ghét, mà tìm cách tháo gỡ ra. Vì sao vị đó không thích cái này là biết có vấn đề. Mình làm cho vị đó thích hoặc tìm cái khác khiến họ thích hơn. Giúp cho người ấy có khả năng an trú được trong Tăng thân mới chính là người trí. Đừng đặt nặng vấn đề giữa mình và người, đúng và sai, mà luôn tìm cách nâng nhau lên. Khi thầy thấy vấn đề này nọ, thầy không đặt quan niệm đúng sai, phải trái, cái này cái kia mà cứ để tự nhiên nhờ vậy mọi người thấy dễ chịu hơn.

Sư Ông từng dạy: “Không ai là không có tài năng, nếu không có tài này thì có tài khác. Một tài năng căn bản là sống không có vấn đề ở trong chúng”. Là khả năng thực tập ổn định của mình. Chỉ cần thực tập vững là vị đó đã đóng góp được tính vững chãi, bình an và hạnh phúc cho Tăng thân. Còn thành đạt cái gì chưa biết nhưng đời sống mình đừng làm người khác buồn là được. Đôi khi mình đưa ra các tiêu chuẩn, tiêu chí rất lớn. Nhưng trồng cây thì cần có năm tháng, mình ép cho cây phát triển thân lá nhanh quá nhưng bộ rễ chưa vững chắc thì chỉ cần một cơn bão thôi là bật gốc liền. Đời tu cũng vậy, không thể nóng vội mà phải cần thời gian bồi đắp, trau dồi. Tuổi tập sự, sa di các con còn nhỏ cứ vừa tu vừa chơi, tu là rèn luyện thêm vi chất và chơi là va chạm để mình đụng chạm gió sương mà cứng cáp thêm. Khi đã có gốc rễ vững vàng thì đi đâu mình cũng không mất gốc.”

Thưa Sư Ông, chúng con ý thức rằng, giây phút nào chúng con nuôi lớn được năng lượng của lý tưởng và Bồ đề tâm thì giây phút đó chúng con đang thực sự sống xứng đáng với tư cách của người tu. Lý tưởng chính là nhịp đập trong trái tim của mỗi người xuất sĩ, và lý tưởng âm thầm nuôi dưỡng đời sống tu học của chúng con. Bên cạnh đó, chính những sự thực tập rất đơn giản mà vô cùng đẹp mỗi ngày cũng đang từng bước tưới tẩm và làm lớn mạnh chí nguyện của những người con Bụt. Mỗi khi cài từng nút áo nhật bình, chúng con có mặt với  trọn vẹn ý thức rằng, màu nâu sồng của tấm áo vách núi là một lời nhắc nhở cho chúng con về nếp sống thanh bần, giản dị, và về nguồn năng lượng Bồ đề tâm hùng tráng của một người tu.

Thầy trò mình vẫn tiếp tục leo đồi thế kỷ, hiến tặng yêu thương, hiểu biết, thảnh thơi và vững chãi cho cuộc đời hôm nay và mai sau. Con đường xuất gia không phải là một xa lộ êm ái mà là một con đường cheo leo. Thế nhưng, chúng con chỉ cần đi từng bước nhỏ, biết tự khích lệ mình, mỉm cười chào nhau và kiên trì đi tiếp, thì nhất định chúng con sẽ có thể leo đến đỉnh đồi, với rất nhiều niềm vui và hạnh phúc.

Đường Xưa Hoa Nở – Để tạm kết “Đi Gặp Những Mùa Hoa” 

Sư Ông kính thương, những bức thư “Đi gặp những mùa hoa” là chùm niềm vui nho nhỏ các sư bé chúng con kính dâng lên Sư Ông. Những dòng chữ đã được viết nên từ niềm hạnh phúc và biết ơn đối với dòng chảy chánh pháp đang lưu nhuận nơi trái tim tinh khôi và niềm tin vững chãi của chúng con. Sư Ông có hạnh phúc không ạ? 

Chúng con biết sự có mặt của quý sư cha, sư mẹ, sư anh, sư chị của chúng con qua năm tháng là những đoá hoa nở ra từ nụ thơm trong của nguyện ước thuở ban đầu mà chư vị Tổ sư đã truyền đạt lại. Sự có mặt đó cũng chính là gia tài tâm linh quý báu mà thế hệ chúng con đang được tiếp nhận. 

Chúng con sẽ cùng nhau viết tiếp câu chuyện nơi suối nguồn tâm linh này bằng chính sự thực tập của tự thân. Để những đóa hoa đức hạnh tiếp tục nở rộ, dâng hiến cho đời hương thơm của tình thương, tự do và hạnh phúc.

Hướng về Sư Ông với tấm lòng hiếu thảo và kính thương.

Chúng con, các sư bé Diệu Trạm của Sư Ông.

 

 

ĐI GẶP NHỮNG MÙA HOA – PHẦN I

ĐI GẶP NHỮNG MÙA HOA – PHẦN II 



Đi tìm lá tía tô và bông cải vàng trong thơ Thầy

                                                                               

Lá thơm còn đó, hoa vẫn còn đây

Thầy đã hóa thành mây trắng thong dong, nhưng di sản của Thầy vẫn là một nguồn sống vô tận nuôi dưỡng con người, để con người được thật sự sống. Có những học trò  nghe một bài pháp thoại của Thầy mà “chạm” được những điều sâu sắc trong lòng;  có người thì chỉ nhờ một câu thư pháp Thầy viết mà biết bao khổ đau dần lắng dịu tựa như sóng gió thôi xôn xao trên mặt nước hồ thu; cũng có người đọc sách của Thầy mà tìm thấy một lối đi cho cuộc đời mình. Với con, con “gặp” được Thầy, nhận được tình thương và lòng từ của Thầy qua những vần thơ Thầy viết. Có lẽ, con được Thầy “nuôi lớn” trước hết chính bởi những vần thơ dung dị, nơi mùi lá tía tô thơm hương vị quê nhà và sắc hoa cải vàng đẹp như màu nắng mai lên.

 

 

Lá tía tô – Hương quê nhà và bàn tay mẹ

Lá tía tô trong thơ Thầy chính là lá tía tô quê mùa bình dị, chính là chiếc lá rau màu tím, là chiếc lá cỏ thơm mọc nơi góc vườn, bên bậu cửa, trong rổ rau mẹ hái để chuẩn bị cơm chiều. Mỗi khi làm bếp, ngắt chiếc lá tía tô còn vương mùi đất, con lại thầm đọc:

“Một bữa cơm trời mưa
hương tía tô
thu tóm quê nhà sắc, hương, hơi thở.”
(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Thành ra hương tía tô còn ướp hương của một buổi chiều mưa và dậy mùi canh nóng giữa mùa đông; hương tía tô còn mang theo  hơi thở của mẹ, tiếng ru ầu ơ thuở bé, và bỗng chốc quê nhà xa xôi hóa thành quê nhà trong lòng bàn tay. “Breathe, you are alive” -“Thở vào, bạn đang còn sống”, vậy là chỉ một hơi thở vào Thầy giúp con thấy ngay sự sống, thấy ngay được “quê hương nơi này”.

“Lá tía tô thơm
hương mùa thu mới chín.”

(Tôi về lật lại trang xưa, 1971)

Những câu thơ của Thầy luôn nhắc nhớ một miền ký ức êm đềm, nơi quê nhà yên ấm, nơi tình thương có mặt, nơi mỗi bữa cơm là sự đoàn tụ, sum vầy. Thầy viết những câu thơ có màu Việt Nam nhất khi Thầy xa quê trùng trùng cách trở. 

Có phải Thầy đang dạy con tinh thần “hiện pháp lạc trú”, biết an trú trong từng phút giây hiện tại không, thưa Thầy?

Ở một bài thơ khác, một lần nữa lá tía tô biết gọi mùa thu về. Chỉ mấy chữ đơn sơ,  Thầy nhắc con “trở về”. Lá tía tô trong thơ Thầy gợi lên trọn vẹn một mùa thu chín, không vì lời, mà vì con có thể chạm vào được hương vị của sự sống thật chân thật trong đó. Một khung cảnh an vui, mấy lời thơ tưởng như như tả cảnh ngày mùa, nhưng thực ra đó là lá tía tô trong bài thơ có tựa là “Bướm lạc quê hương” (1973). Lúc này, Thầy đã xa quê 10 năm có lẻ. 

“Lá tía tô

Hương mùa thu mới chín

Chim hót lá xanh

Trời mây bình lặng.”

Lá tía tô còn xuất hiện trong bài “Ý thức em mặt trời tỏ rạng” (1972); lúc này lá tía tô không chỉ là một điều bình dị mà như một phép mầu của đất Mẹ:

“Đất mẹ cho em hương quế tần ô
Tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm.”

Từ “mầu nhiệm” của Thầy thật là mầu nhiệm, gây cho người đọc một nỗi tò mò bởi mấy cây rau thơm sao mà mầu nhiệm cho được.  Mà rồi con cũng gắng thực tập miên mật làm sao để thấy “tía tô rau húng rau ngò mầu nhiệm” cho đặng. Thầy có dặn sự sống mỗi ngày đều mầu nhiệm nếu ta có mặt thật sự để chạm vào nó. Thế là tía tô không chỉ là một cây rau thơm, mà còn là bài học về “phép lạ của sự tỉnh thức”. Tới bài “Cúc cu đúng hẹn” (1973), lá tía tô hiện ra như một tín hiệu thân thương, báo hiệu sự có mặt cho nhau:

“Người đã tới thăm, trăng một túi
Lá tía tô gọi hạt mồng tơi…”

Câu thơ như một cánh cửa mở vào thực tại. “Trăng một túi”  là một hình ảnh rất giàu thiền vị; “lá tía tô gọi hạt mồng tơi” như một chỉ dấu của sự sống đang thầm thì từ đất. Chỉ bằng một chiếc lá nhỏ, một hạt mồng tơi, Thầy nhắc nhở con rằng con đang sống, và Thầy đang “mời” con về với xứ sở hiện tại nhiệm mầu. 

 

 

Bông cải vàng – Sự sống trong veo

Lá tía tô dẫn con về với “hương thơm quê mẹ” trong từng hơi thở an trú; vạt cải vàng  trong nắng lại gieo những bình an và hy vọng. Hoa cải trong thơ Thầy hiện lên rất đỗi thật thà, có thể là vườn cải ngoài sân, có thể là ký ức tuổi thơ, nhưng cũng có thể là chính sự sống đang thì thầm trong lòng mình. Trong bài “Bướm bay vườn cải hoa vàng” (1974), Thầy viết:

“Mới hôm qua đây tôi thấy bướm bay từng đàn rộn rã trong khu vườn cải hoa vàng
Mẹ và em còn đó
Gió chiều như hơi thở…”

Mấy câu thơ như một bức tranh thủy mặc. Ở đó, có “bướm bay từng đàn”, tự do và nhẹ nhõm; có khu vườn cải hoa vàng, rực rỡ mà lặng lẽ, yên vui. Có mẹ, có em, có tình thương và sự tiếp nối. Và có cả gió chiều chỉ nhẹ “như hơi thở” mà hiện hữu nhiệm mầu. Khi tâm an trú, thì mọi thứ đều trở nên rất đỗi chân thực phải không Thầy? “Mẹ và em còn đó”, đây không phải là một phát hiện lý trí, mà là một phát hiện bằng trái tim, mẹ chưa bao giờ rời đi và em chưa từng vắng mặt. Và rồi, như một lời khẳng định vững chãi, Thầy viết:

“Vườn cải hoa vàng chính mắt tôi vừa thấy sáng qua
Tôi không ngủ mơ đâu…”

Không phải mơ. Vườn cải đó là thật. Bướm bay đó là thật. Thầy đã thật từ bi chỉ cho con rằng khi con thật sự có mặt, tất cả những điều quý giá vẫn còn đó. Đối với con, những dòng thơ này là những dòng thơ đẹp nhất được viết bằng chất liệu của nắng, của hương cải, của nhịp cánh bướm bay và tình thương của mẹ. 

Trong bài “Bé đã sinh ra rồi” (1973), hoa cải đón nhận một điều kỳ diệu:

“Trên cánh bướm mong manh
Hoa cải rực vàng
Trên lối cũ.”

Chỉ ba dòng thơ như một hơi thở nhẹ đã nhắc nhớ con về nhiệm mầu của sự sống. Một sự sống vừa mới bắt đầu; “bé đã sinh ra rồi”  bên hoa cải, cánh bướm trên con đường cũ. Cái mới sinh không hề riêng biệt với những điều đã cũ. Và rồi, trong bài “Tôi về lật lại trang xưa”, hoa cải lại hiện lên như một phép lạ của thiền quán, một trời vàng trong một hạt cải nhỏ bé. Vậy là chỉ cần nhìn sâu vào cái rất nhỏ, Thầy dạy con  có thể thấy cả một vũ trụ bao la:

“Một trời hoa vàng trong hạt cải
Chắp tay tôi để hoa nở trên búp tuyệt vời.”

Khi con chắp tay búp sen, con tập dừng lại để nhìn sâu thì con thấy được hoa nở. Hoa nở ngay trên “búp tuyệt vời” của hiện tại. Lời thơ sâu sắc, ý thơ đậm màu thiền, một hạt cải Thầy gieo, biết bao nhiêu thương yêu nảy mầm trên khắp thế gian này. 

Và đến “Trời bên ấy sáng chưa” (1975), hoa cải không chỉ còn là biểu tượng của sự sống, mà còn là quê nhà của những người xa xứ. 

“Sau vườn hoa cải rực vàng
Bướm lạc quê hương.”

Thầy chỉ cho dăm chữ, con dường như nghe được sự xao xác trong lòng. Con cũng nhiều lần làm con “bướm lạc”, mịt mù lối về nơi thân và tâm của mình, để bao nhiêu hạt sầu vương. Nhưng mà hoa cải vẫn rực vàng, vẫn lặng yên nở, vẫn lặng yên có mặt, như quê hương, như hơi thở, như Thầy, kiên nhẫn  đợi con trở về.

Nuôi dưỡng và trị liệu

Trong những trang thơ Thầy viết, hình ảnh xứ sở nhiệt đới quê nhà hiện ra thật sinh động: một khu vườn nhỏ với đủ loại lá rau thơm, những bông hoa dân dã, ánh trăng thanh mát và hình bóng những người thương. Lá tía tô và bông cải, những hình ảnh thật gần gũi, đơn sơ đi vào thơ Thầy một cách tự nhiên như hơi thở, nhưng lại mở ra cả một bầu trời thương nhớ. Những nhớ thương ấy có khi là xa xôi, vơi đầy, nhưng cũng có khi chỉ là một rung động thật thà rất khẽ trong lòng. Thơ của Thầy mộc mạc, nhưng mỗi dòng chữ lại có khả năng nuôi dưỡng. Đó là những dòng thơ thấm đượm từ bi, dẫn đường cho con trở về với chính mình. Có những buổi sớm mai, chỉ cần con dừng lại, có mặt với một hơi thở vào, một hơi thở ra, rồi đọc lại vài dòng thơ cũ, con như thấy Thầy đang mỉm cười thật hiền trong nắng sớm, dưới mái hiên nhà, nơi có vườn rau, có bông cải, có một nếp nhà. Dù bao nhiêu năm đã trôi qua, những trang thơ ấy vẫn sống động, vẫn còn nguyên vẹn năng lượng trị liệu. Mỗi khi con đi lạc giữa cuộc đời nhiều biến động, con lại tìm được đường về và được ôm ấp, vỗ về trong chữ nghĩa và trong tình thương sâu nặng của Thầy.

“Nếu gọi tên Thầy, con sẽ tự khắc thấy Thầy ngay

Con đi đâu? 

Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay

Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt

Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc và bên mé rừng đã nở rộ hoa mai.”
(Bên mé rừng đã nở rộ hoa mai)

                                                                          Huyền Dương

 



Lễ Tự Tứ An cư kiết đông 2025-2026

 
Sáng 20.01.2026, chúng xuất gia và tại gia Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ Tự tứ.
Sau đây là một vài hình ảnh:
 

Lễ Tự tứ khoá An cư kiết Đông năm 2025-2026

Cách đây ba tháng, vào ngày 23.10.2025 đại chúng Làng Mai đã làm lễ Đối thú để bắt đầu mùa An cư ba tháng. Thời gian trôi nhanh như một cái chớp mắt. Mới đó mà đã đến ngày Tự tứ kết thúc khóa tu.

Sáng 20.01.2026, chúng xuất gia và tại gia Làng Mai đã vân tập về thiền đường Nước Tĩnh, chùa Pháp Vân, xóm Thượng để làm lễ Tự tứ (pravarana), là thỉnh cầu tăng thân chỉ ra những khuyết điểm của mình do được thấy, được nghe và được nghi trong thời gian cùng sống, cùng tu trong ba tháng. 

Trong truyền thống Làng Mai, suốt 90 ngày an cư, tuần nào đại chúng cũng đều ngồi lại để thực tập soi sáng cho nhau, lần lượt mỗi tuần vài người. Đến cuối an cư, ai cũng đều được soi sáng cả. Vì vậy trong ngày Tự tứ, tất cả các vị xuất gia đều được nhận một bức thư soi sáng của tăng thân. Bức thư này gói ghém tình thương của đại chúng đối với từng người với những bông hoa và những đề nghị thực tập cụ thể cho đương sự.

Trong ba tháng vừa qua, cả ba xóm Thượng (cùng với các vị ưu bà tắc), xóm Hạ và xóm Mới (cùng với các vị ưu bà di) đã cùng nhau tu tập và phụng sự rất miên mật. Phụng sự là bởi vì trong an cư, hầu như mỗi tuần đều có thiền sinh tới tham gia. Đặc biệt, trong hai tuần Noel cùng Tết Tây cũng có vài trăm người tới tu tập mỗi tuần. Ngoài thời khóa riêng mỗi ngày trong từng xóm, hàng tuần, các vị xuất sĩ có một ngày tu quán niệm dành cho xuất sĩ ba xóm vào ngày thứ Năm tại một xóm nào đó. Cùng lúc đó, các vị cư sĩ lại có ngày tu dành riêng cho họ tại một xóm khác. Trong ngày này, các thầy các sư cô được tham dự các lớp chuyên đề, các lớp học giới, nghe pháp thoại, thực tập thiền hành, ăn cơm im lặng và pháp đàm. Các vị cư sĩ cũng có thời khóa gần như thế. Trong mùa an cư năm nay, đặc biệt ở các xóm còn thực tập một ngày hoàn toàn không sử dụng các thiết bị điện tử, im lặng hùng tráng và không sử dụng xe.

Tuệ giác của Sư Ông Làng Mai là khi các vị xuất gia cùng tu tập với cư sĩ trong ba tháng an cư thì sự thực tập của cả hai phía sẽ trở nên miên mật hơn và thật hơn rất là nhiều. Cả xuất sĩ lẫn cư sĩ đều thực tập năm trong sáu phép lục hòa là Thân hòa đồng trú, Giới hòa đồng tu, Khẩu hòa vô tránh, Ý hòa đồng duyệt và Kiến hòa đồng duyệt. Các vị xuất sĩ thì thực tập thêm phép thứ sáu là Lợi hòa đồng quân. Hai giới cư sĩ và xuất sĩ cùng yểm trợ nhau về mọi mặt và gần gũi trong ba tháng là cơ hội để mỗi người có thể hiểu và chấp nhận mình và người khác nhiều hơn. 

Ba tháng an cư kết thúc, đại chúng đã gặt hái được nhiều hoa trái của sự bình an, niềm vui, thư giãn, chuyển hóa nội tâm và xây dựng tình huynh đệ. Có thể thấy rất rõ là cuối khóa tu, gương mặt ai cũng rạng rỡ, vui tươi. Các thầy các sư cô lớn thêm một tuổi tu, công phu có dày dặn hơn một chút. Các bạn thiền sinh cư sĩ có nhiều chuyển hóa, gần gũi, thân thương, gắn bó với nhau như một gia đình. Ra về quyến luyến, thấy Làng Mai đã trở thành một mái ấm tâm linh để trở về.

Xin bấm vào đây để xem bộ ảnh Lễ Tự Tứ

 

Xin bấm vào đây để xem bộ ảnh Lễ Tự Tứ

Giọt nước thành dòng sông

Lễ tưởng niệm Sư Ông tại Làng Mai, Pháp

Ngày nào chúng ta còn được đến với nhau, cùng tu tập và xây dựng tình huynh đệ, thì ngày đó là một ngày đặc biệt. Chủ nhật, 18.01. 2026, đại chúng xuất sĩ và cư sĩ Làng Mai, Pháp đã có một ngày đặc biệt như thế. Hôm ấy “đặc biệt đặc biệt” vì chúng ta đã cùng ngồi thiền, tụng kinh, thiền hành, nghe pháp thoại và ăn cơm im lặng trong tinh thần tưởng niệm ngày Sư Ông, người thầy kính thương của chúng ta, “thanh thản về chơi nơi biển lớn.”

Trong bài pháp thoại buổi sáng, thầy Pháp Hữu có nhắc đến lời Sư Ông trong bức thư để lại cho đệ tử: “Con đường của mình là con đường của từ bi, của hòa giải”. Thật vậy, thông điệp cuộc đời của Sư Ông là thông điệp của từ bi và hòa giải. Điều này có thể thấy không những trong những việc lớn đã được nhắc tới trong nhiều bài báo hay diễn đàn quốc tế mà còn trong những điều nho nhỏ trong cuộc sống hàng ngày của Sư Ông.

Trong thính chúng, có những người chưa bao giờ được gặp Sư Ông qua hình tướng mà  chỉ được thấy trong những bức hình hay những bài pháp thoại được thâu lại. Họ chỉ được tiếp xúc Sư Ông qua giáo lý của Người và qua tăng thân, kiệt tác mà Người để lại cho cuộc đời. Thầy Pháp Hữu đã giúp họ tiếp xúc với con người sống động đầy từ bi và công hạnh của Sư Ông qua những câu chuyện nhỏ. Tuy nhỏ nhưng cũng làm cho nhiều người trong thính chúng không thể ngăn được niềm xúc động.

Lúc mới xuất gia không lâu, còn là một sư chú nhỏ, thị giả Pháp Hữu pha trà cho Sư Ông, Sư Ông dạy: “Con để cho trà ngồi thiền để những lá trà được nước nóng ôm ấp, bao bọc, cho trà có cơ hội tỏa hương và vị trà mới tiết ra đầy đủ. Tuệ giác của mình cũng cần có đủ điều kiện và sự yên lắng để nở hoa. Khi nào con thấy lo lắng, thiếu bình an, trước khi con làm một quyết định, con hãy nhớ lại giờ phút này. Ngồi yên như trà, cho những lo lắng lao xao lắng lại để tư duy của con có căn cứ vững chãi. Khi đó, Thầy tin rằng hành động của con sẽ hay hơn nhiều so với khi con lo lắng, sợ hãi.”

Một lần khác, sau khi Sư Ông cho pháp thoại, mọi người chen nhau rời khỏi thiền đường. Thấy đông quá, thị giả Pháp Hữu tìm cách mở đường cho Sư Ông bằng cách đi lấn tới trước, định bảo mọi người tránh đường. Bỗng thị giả cảm thấy mình bị ai kéo lại, thì ra đó là Sư Ông. Người ra dấu “Không nên, con”. Hai thầy trò cứ theo dòng người đi tới thì thiền sinh tự động nhường đường cho Sư Ông. Ra khỏi thiền đường, hai thầy trò yên lặng trở về thất Ngồi Yên. Trước khi mở cửa bước vào thất, Sư Ông quay lại nói với thị giả: “Thầy chỉ là một giọt nước trong dòng sông tăng thân, là một thành viên bình thường trong chúng, con không cần phải làm cái gì đặc biệt cho thầy hết.”

Sư Ông, Thầy kính thương của chúng con, kể sao cho hết những kỷ niệm đẹp và quý báu mà Thầy đã để lại trong lòng chúng con. Những kỷ niệm ấy quý bởi vì mỗi kỷ niệm là một phần của pháp thân tuệ mạng Thầy trao truyền lại cho chúng con để làm hành trang cho chúng con đi tới trên con đường mà Thầy đã khai mở, con đường hiểu thương, hòa giải và đi với nhau như một dòng sông trong ánh sáng của tuệ giác tập thể.

Giọt nước thành dòng sông, thanh thản Người về chơi biển lớn

Bước chân nên cõi Tịnh, thảnh thơi ta lên dạo đồi cao.

(câu đối do Sư Ông Làng Mai viết, treo trong thiền đường Chuyển Hóa, xóm Thượng)

Chương trình lễ tưởng niệm:
Buổi sáng: Pháp thoại – Thiền hành – Ăn cơm im lặng
Buổi chiều: Lễ tưởng niệm

Hình ảnh buổi lễ tưởng niệm Sư Ông

Khoá tu mùa Hè dành cho người Việt tại chùa Sơn Hạ, Làng Mai – Pháp 2026

 

Khóa tu mùa hè tại Làng Mai, Pháp dành cho đồng bào Việt Nam năm nay sẽ diễn ra tại chùa Sơn Hạ, Xóm Thượng. 

Thời gian: 11.07 đến 03.08.2026

Ngôn ngữ:  Hoàn toàn bằng tiếng Việt, không có thông dịch ra tiếng Anh/Pháp.

Liên lạc: Tất cả mọi thắc mắc về thông báo này xin gửi email về văn phòng ghi danh UH-Office@plumvillage.org

Thời gian khóa tu: 

 

Ngày đến

Ngày đi

Ai có thể tham gia?

Tuần 1

Thứ bảy 11.07

Thứ bảy 18.07

-Người lớn
-Cặp đôi
-Gia đình có con nhỏ từ 5 tuổi trở xuống (không có chương trình sinh hoạt riêng)
-Gia đình có con từ 6-12 tuổi: có chương trình sinh hoạt bằng tiếng Việt.

Tuần 2

Chủ nhật 19.07

Chủ nhật 26.07

-Người lớn
-Cặp đôi
-Gia đình có con nhỏ từ 5 tuổi trở xuống (các cháu không có chương trình sinh hoạt riêng)
-Gia đình có con từ 6-12 tuổi: các cháu có chương trình sinh hoạt bằng tiếng Việt.

Tuần 3

Thứ hai 27.07

Thứ hai 3.08

-Người lớn từ 18 tuổi trở lên
-Cặp đôi
-Gia đình có con nhỏ từ 5 tuổi trở xuống (các cháu không có chương trình sinh hoạt riêng)
-Gia đình có con từ 6-12 tuổi: các cháu có chương trình sinh hoạt riêng bằng tiếng Việt.
-Gia đình có con từ 13-17 tuổi nói tiếng Việt: các cháu có chương trình sinh hoạt riêng bằng tiếng Việt.

Thông tin cho gia đình có con nhỏ – Xin vui lòng đọc kỹ:

Gia đình người Việt có con từ 5 tuổi trở xuống có thể đăng ký đến Sơn Hạ trong tất cả các tuần – Mỗi tuần chỉ có 5 chỗ dành cho các cháu độ tuổi này. Không có chương trình sinh hoạt dành cho các cháu.

Gia đình người Việt có con nhỏ từ 6 đến 12 tuổi có thể ghi danh đến Sơn Hạ trong tất cả các tuần – Mỗi tuần chỉ có 16 chỗ dành cho các cháu độ tuổi này. 

Trong tuần 1 và tuần 2: Sơn Hạ không nhận các cháu thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi. Không có chương trình dành cho các cháu trong độ tuổi này. 

Riêng tuần thứ 3: các cháu thiếu niên từ 13 đến 17 tuổi nói tiếng Việt có thể ghi danh đến Sơn Hạ. Có 16 chỗ dành cho các cháu thiếu niên nói tiếng Việt. Các phụ huynh chỉ nên đăng ký cho con mình đi dự khóa tu nếu các cháu muốn đi. Xin bấm vào đường dẫn này để đăng ký: https://plumvillage.org/event/retreat/summer-retreat-for-vietnamese-friends-at-son-ha-temple-upper-hamlet

Nếu các cháu có thể nói được tiếng Anh hoặc tiếng Pháp thông thạo, xin đăng ký vào danh sách chờ đợi của chương trình thiếu niên (Teen program) ở các xóm như sau: 

  • Các em trai từ 13 đến 17 tuổi, nói và hiểu thông thạo tiếng Anh và cha, mẹ hay người bảo trợ: xin đăng ký về chùa Pháp Vân, Xóm Thượng (năm nay không có chương trình tiếng Pháp).

Các em trai sẽ cắm lều cùng với các em trai khác, và cha mẹ sẽ cắm lều ở nơi dành cho gia đình.

  • Các em gái từ 13 đến 17 tuổi, nói và hiểu thông thạo tiếng Anh hoặc tiếng Pháp và cha mẹ hay người bảo hộ: xin đăng ký về chùa Từ Nghiêm, Xóm Mới.

Các em gái sẽ cắm lều ở cùng với cha mẹ hoặc người bảo hộ.

Quý vị có thể bấm vào đây để đăng ký vào các chương trình dành cho thiếu niên nói tiếng Anh ở đường dẫn này: https://plumvillage.org/event/retreat/summer-opening-2026

* Lưu ý: Cha mẹ hoặc người bảo hộ sẽ chịu trách nhiệm cho các cháu ngoài thời gian sinh hoạt dành riêng cho các cháu trong các chương trình chính thức.

Thông tin cho người lớn:

Người lớn có thể đăng ký đến dự khóa tu trong tất cả các tuần. Có 60 chỗ dành cho người lớn. Xin bấm vào đường dẫn này để đăng ký: https://plumvillage.org/event/retreat/summer-retreat-for-vietnamese-friends-at-son-ha-temple-upper-hamlet

Một số thông tin quan trọng:

  • Chỗ ở chủ yếu là cắm lều. Xin các gia đình cố gắng mang theo lều của mình và các dụng cụ, đồ dùng cần thiết khi ở lều (lều, túi ngủ, gối, đệm lót nằm (đệm hơi nếu có), đèn pin, …)
  • Mỗi người cần mang theo một túi ngủ cho mình.
  • Nếu ở xa không mang theo lều được, một số dụng cụ cắm lều sẽ được cung cấp nếu có yêu cầu. Xin gửi email về uh-office@plumvillage.org để yêu cầu.
  • Số giường dành cho người lớn tuổi hoặc có vấn đề về sức khỏe rất hạn chế. Sau khi đăng ký, xin liên lạc bằng email về uh-office@plumvillage.org nếu có yêu cầu.
  • Không có phòng vệ sinh riêng ở trong phòng. Tất cả đều sử dụng phòng vệ sinh công cộng.
  • Nếu con em quý vị nói các thứ tiếng khác (không phải tiếng Việt), xin bấm vào đây 
  • Mọi thắc mắc xin liên lạc qua email: UH-Office@plumvillage.org

Phần hướng dẫn đăng ký

Gia đình có con từ 12 tuổi trở xuống, hay có con tuổi thiếu niên (chỉ cho tuần thứ 3), người lớn, hoặc cặp đôi có thể theo các bước như sau:

  • bấm vào đây: https://plumvillage.org/event/retreat/summer-retreat-for-vietnamese-friends-at-son-ha-temple-upper-hamlet
  • xin cho biết quý vị đến một mình hay với ai khác.
  • kế đó, chọn giới tính
  • Chọn tuần quý vị muốn ghi danh
  • Sau đó, xem kỹ phần thông tin về các khoản phí và chọn khoản nào quý vị cảm thấy phù hợp với khả năng tài chánh của mình nhất.
  • Sau khi chon khoản phí phù hợp, bấm vào nút “See Availability” ở dưới phần giá biểu để xem các chọn lựa về chỗ ở nơi trang sau.
  • Xin vui lòng điền một mẫu đăng ký cho mỗi người và thêm thông tin người khác vào cuối mẫu đăng ký để chúng tôi biết quý vị là cùng chung một gia đình, hay đi chung với nhau.
  • Mọi thắc mắc xin liên lạc qua email: UH-Office@plumvillage.org

Phần giải thích về phương thức thanh toán và hủy ghi danh:

Đăng ký và thanh toán

Đối với tất cả các khóa tu từ 3.01.2026 trở đi, đóng góp chi phí khóa tu của quý vị sẽ được chia ra làm hai phần:

Phần chi phí chính sẽ đóng góp cho “Chào Mừng tới Làng Mai” (Bienvenue Aux Pruniers S.A.S. (BAP)): để chi trả cho tiền ăn, ở, điện nước, chi phí văn phòng, thuế).

Và phần đóng góp cho Congrégation Bouddhique Zen Village des Pruniers (CBZ) để yểm trợ cho tăng thân xuất sĩ.

Do đó, tài khoản của quý vị sẽ ghi nhận hai lần thanh toán, và quý vị sẽ nhận được hai hóa đơn.

Phương thức chi trả trên mạng  internet: : 

– có thể dùng thẻ tín dụng (Credit card)

– hoặc có thể dùng phương thức thanh toán: Ủy nhiệm thu SEPA (SEPA Direct Debit)

Tất cả các khoản thanh toán được xử lý thông qua cổng thanh toán bảo mật Stripe. Chúng tôi không lưu trữ thông tin thanh toán. Do các quy định nghiêm ngặt của Pháp, chúng tôi không thể nhận tiền mặt, séc hoặc chuyển khoản ngân hàng thủ công cho các khoản thanh toán khóa tu.

Quy định hủy ghi danh:

Nhằm đảm bảo cơ hội tham gia công bằng cho tất cả mọi người, xin chỉ đăng ký giữ chỗ khi quý vị biết chắc mình / gia đình có thể tham dự.

  1. Người ghi danh dự khóa tu xin hủy ghi danh:

Nếu quý vị cần hủy ghi danh:

  • trước khi khóa tu diễn ra từ 28 ngày trở lên: phí sẽ được hoàn lại 100% (trừ đi 100 € phí hành chính và phí hủy)
  • trước khi khóa tu diễn ra từ 14 đến 27 ngày: phí sẽ được hoàn lại 50% (sau khi trừ 100 € phí hành chính)
  • 13 ngày hay ít hơn trước ngày đến khóa tu: Không hoàn phí.

Quý vị nên cân nhắc mua bảo hiểm du lịch để có thể an tâm hơn trong trường hợp cần hủy khóa tu vì những tình huống ngoài dự kiến, như vấn đề sức khỏe cá nhân hoặc việc khẩn cấp trong gia đình. 

Đối với những vị phát tâm đến Làng Mai để hỗ trợ với vai trò tình nguyện viên, phí hủy là 25€ nhằm chia sẻ phần chi phí hành chính đã phát sinh.

2. Hủy ghi danh do Làng Mai:

Làng Mai xin bảo lưu quyền hủy khóa tu trong những trường hợp cần thiết. Nếu điều này xảy ra, quý vị sẽ được hoàn trả toàn bộ số tiền đã thanh toán, bao gồm cả phí hành chính.

Ngoài việc hoàn lại phí đăng ký khóa tu, chúng tôi rất tiếc không thể chịu trách nhiệm thêm đối với các chi phí khác thí dụ như các khoản quý vị đã chi trả trước cho việc sắp xếp chuyến đi của mình, như vé máy bay hoặc thị thực. Vì vậy, chúng tôi tha thiết khuyến khích quý vị mua bảo hiểm du lịch phù hợp để có thể chủ động hơn trong những trường hợp bất khả kháng.

 

Câu đối Tết Bính Ngọ 2026

Tình yêu non nước về trên lá

nhân loại mừng vui rộn nẻo đường

hoa lòng trời đất vô cùng nhỉ

mi một mùa xuân lại nhả hương!

Đường quê – thơ Sư Ông Làng Mai

Kính chúc tăng thân và thân hữu khắp nơi cùng gia quyến một mùa xuân và năm mới Bính Ngọ nhiều bình an, hạnh phúc, niềm vui và sự hòa hợp. Mong quý vị gặt hái được nhiều hoa trái của sự thực tập để có thể trở thành một nguồn an lạc cho chính mình và mọi người xung quanh.

Xin nhấp chuột vào hình dưới đây để tải thư pháp

 

Tiếng Việt                                                                                        Tiếng Anh

THƯ PHÁP DO THẦY PHÁP HỮU THỰC HIỆN