Tôi sẽ chọn thương yêu

Chân Trời Khiết Minh

Thầy Trời Khiết Minh xuất gia năm 2017 trong gia đình cây Bạch Dương. Những hạnh phúc, niềm vui và chuyển hóa trong thời gian sống và tu tập tại xóm Thượng được thầy chia sẻ rất thật và hóm hỉnh (khi còn là một sư chú) trong bài viết sau đây.

“Ai thương?”, “Thương ai?”, hoặc “Thương điều gì?”, mà “Thương là gì?”, “Tại sao lại phải thương?” và “Như thế nào mới là tình thương đích thực?”. Đây là những câu hỏi, hay cũng có thể gọi là công án thiền tập của con trong năm 2020, và chắc hẳn sẽ là một công trình tu tập “đồ sộ, đại bự và siêu to”, chỉ chấm dứt khi và chỉ khi các nhà khoa học chứng minh vô cực có điểm bắt đầu và kết thúc! Phán một câu thế này, con thấy có gì đó không ổn lắm. Lỡ người ta chứng minh được thì sao? Mà thôi kệ, lúc đó hẵng đính chính. Độc giả ắt hẳn là những người rất bao dung và rộng lượng phải không?

Mọi chuyện bắt đầu vào đầu năm 2020, khi con đang “thăng hoa và bay cao” trong sự thực tập. Nhìn đâu cũng thấy hoa thấy hẹ. Diễn tả cho chính xác trạng thái tâm trong chuỗi thời gian ấy là đang cưỡi mây đi ngắm trăng, ngắm chị Hằng Nga cùng các thánh, các tiên không cần đợi họ giáng trần. Tuy nhiên, những bước tiến này cũng khá dài và khá nguy hiểm. Nguy hiểm ở đây là con bị kẹt vào những cảm thọ êm ái, siêu việt kia và cho nó là chuẩn mực của cuộc sống. Vì thế trong tâm lúc nào cũng có sự đòi hỏi, phải chánh niệm sáng trưa chiều tối và ngay cả lúc ngủ cũng thế! Con còn nhớ những lúc con đối trị với thất niệm bằng cách ép thân, ép xác, ép tâm như một sự trừng phạt. Đi từng bước thì gồng mình cứ như đi diễu binh chuẩn bị ra mặt trận kháng chiến giành giật hòa bình thế giới. Ngồi thiền thì bặm môi, cắn răng, nheo mày cứ như vừa bị ai huých cùi chỏ vào hông. Lúc ấy con thường rất khổ sở. Từ trạng thái đi ngắm tiên, và, vèo, trong một nốt nhạc rưỡi, hai bạn đầu trâu mặt ngựa tiễn thẳng xuống địa ngục. Thi kệ cùng những câu tác ý quay về và có mặt cho những mầu nhiệm trong giây phút hiện tại là những thần chú góp phần rất lớn trong việc ngắm tiên của con. Thế nhưng trong những lúc như vậy, đọc bao nhiêu thần chú, gọi mây hô bão, cũng không ra em nào. Biệt tăm cả. Mong cho có một chiếc xe bò xốc xếch để leo ra khỏi động địa ngục này cũng không có. Khổ quá, không biết làm sao! Kho tàng pháp thoại của Sư Ông thì lớn, tìm cho đúng chìa khóa trong lúc này quả không hề dễ. Thực chất, con đã nhận được chiếc chìa khóa này qua những bài pháp thoại về 16 Hơi thở chánh niệm và Bốn lĩnh vực quán niệm nhưng con không nhận thức được điều đó vì công phu và kinh nghiệm thực tập còn rất non nớt.

 

 

Con đã xin phép tham vấn một vị thầy lớn. Sau khi nghe con trình bày sự việc, vị ấy bảo: “Sở dĩ như thế là vì sư em còn kỳ thị chính bản thân mình, kỳ thị những hạt giống bất thiện trong sư em. Hãy thương tất cả những gì trong mình và hãy để tình thương theo thời gian ôm ấp chuyển hóa những hạt giống ấy”. Thoạt đầu con có một hoài nghi hoặc nói đúng hơn là không hiểu. Nói ra thì thật thất lễ. Con rất tôn trọng và trân quý sư anh nhưng trong tâm lúc ấy con thật sự nghĩ: “Sao mà ‘sến’ quá vậy!”. Từ ngày đến Làng, con đã nhiều phen choáng váng với “độ sến” của những câu nói, văn và thơ của quý thầy, quý sư cô. Thoạt nghe qua, con không thể nào chấp nhận được. Có lẽ vì ở ngoài đời con không được nhận những lời ái ngữ như vậy và chưa hiểu tác dụng của chúng. Mà, sao tình thương lại là mấu chốt cho việc gỡ cái nút thắt đại bự này? Kỳ thị ư? Thì đúng là con có cảm nhận được, đâu đó, nó là một trong những lý do chính. Nhưng tình thương và kỳ thị thì liên quan gì, có họ hàng gì với nhau đâu chứ? Nhất là câu “để tình thương theo thời gian ôm ấp và chuyển hóa hạt giống bất thiện”. Nội dung siêu tưởng của các phim khoa học viễn tưởng tầm cỡ thế giới còn thua xa cái khái niệm này – một phạm trù mà con khó lòng không nói từ: chối bỏ.

Cái hiểu khá nông cạn của con về các tâm hành là chúng hiện hữu riêng biệt và cứng ngắc như những khối đá nhấp nhô xù xì. Có sự phân biệt rạch ròi và rõ ràng. Tình thương và các tâm hành bất thiện như hai cục đá vô tri, vô cảm, vô thức mà bảo chúng ôm nhau và chuyển hóa nhau thì đúng là không tưởng. Không! Không tưởng tượng được, dù cho con có đặt hai đứa ngay trước mặt mà sôi nổi chứng minh, chứng tỏ cho chúng! Mặc dù vậy, nhờ phước đức ông bà, thay vì chê bai, bác bỏ dựa trên những cái hiểu đó, cái cục tò mò trong con lại đi lên. Một phần lớn là vì không điều khiển được rồi khổ đến tận cùng với mấy bạn đầu trâu mặt ngựa kia, nên con chẳng còn lựa chọn nào hơn là thử áp dụng phương pháp thực tập và tư duy đó.

Giai đoạn đầu thiệt như là tẩy não, y hệt như lúc con thực tập uy nghi vào năm trước. Thêm một may mắn nữa là hạt giống lỳ lợm trong con khá to và cũng rút kinh nghiệm từ sự thực tập uy nghi nên dù có nhiều phen không thành công, con vẫn cố gắng hết mình. Con luôn để ý những gì mình làm và quay trở về để quán chiếu. Như là một nhà nghiên cứu hóa học nhiệt thành, hôm nay thì đổ chất A vào chất B xem nó phản ứng thế nào, có đúng như giả thuyết hay kết quả mà vị đi trước đã tuyên bố hay không. Không đúng thì, hôm sau, đổ A vào C, và tiếp tục B vào C, v.v. Bên cạnh đó, con thực tập đặt những câu hỏi có tính cách khai mở, đi vào tâm điểm của tâm thức và thực tại. Quan trọng nhất là để cho những trải nghiệm của sự thực tập lên tiếng, những phản ứng của thân và tâm chứng minh hay trực giác tự trả lời, hạn chế tư duy tới mức tối đa. Điều này con được một vị thầy lớn khác chỉ bảo. Đây chính là cột mốc quan trọng thứ hai, yểm trợ cho con đường thực tập và cho phép con gặt hái những cái thấy về bản thân cũng như thực tại trong năm qua. 

Ví dụ dùng hình ảnh lấy chất này đổ vào chất kia, nếu không đúng thì mang đi đổ bỏ nghe dễ nuốt nhưng làm thì ôi thôi, trầy vi tróc vảy. À không! Tróc móng chứ, người chứ có phải cá phải bọ đâu, dân gian mình sao lại truyền nhau thế nhỉ? Sự thật là ngay sau khi được chỉ điểm, con đã cảm giác có một cái gì đó rất lớn mở ra trong lòng. Cái mà vị ấy dạy đánh động tâm con nhất là con đang có sự kỳ thị với những biểu hiện tâm hành mà lúc đó con cho là kẻ thù của mình, kẻ thù không bao giờ ngồi chung trong một buổi tiệc tất niên, nói gì đến chuyện chấp nhận đội chung trời, đạp chung đất. Thất niệm, tán loạn, sợ hãi, lo lắng, đánh giá, vướng mắc v.v. được liệt vào cái mà con gọi là danh sách tội phạm truy nã hạng nặng. Khi chúng xuất hiện là liền lập tức bật còi hú báo động đỏ,  khởi trống, thổi kèn, dựng cờ và khai triển tất cả thiên binh, thiên tướng toàn vũ trụ mà trấn áp. Phải dùng “tiệt chiêu” để giải quyết chúng! Tại sao lại là “tiệt chiêu” mà không phải tuyệt chiêu? Đơn giản thôi, tuyệt chiêu là những chiêu thức hay và mang lại kết quả tuyệt vời. Tuy thế vẫn chưa đủ vì chúng vẫn còn quay lại. Còn “tiệt chiêu” là chiêu thức với tối chủ trương “tiệt chủng hóa” chúng, không cho chúng một cơ hội thoi thóp nào hết! “Ta là chủ nhân của hiện hữu tên là Khiết Minh này, mi là cái gì mà dám làm mưa làm gió ở đây!Ta sẽ xóa sổ đen lẫn đỏ của chúng mi khỏi vũ trụ này!”. Và cứ thế, “hạt giống Hít Le” lên ngôi. Giờ nghĩ lại thật là rùng mình với những tư tưởng ấy.

Cho nên sau đó, khi con nhận thức được những gì mình đang có, thí dụ như tâm hành thất niệm, thì con sẽ thực tập. Con thử phát khởi tư duy như: “Tôi đang thất niệm, buông và thương NÓ”. Thế nhưng lại xuất hiện tư duy khác: “NÓ xấu xí thế này thì thương như thế nào hả trời! Thôi cứ làm vài ngày xem thế nào”. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng trong thân tâm con có một sự gượng ép và gồng gánh không hề nhẹ. Lúc trước, khi con bắt đầu thực tập uy nghi thì kết quả đến liền sau ba, bốn ngày, nhưng thực tập thương mình và những tâm hành bất thiện của mình thì con phải thật sự kiên nhẫn vì mãi đến hơn một tuần mới có dấu hiệu của chút ít thay đổi. Với con, để có những diễn tiến của sự buông bỏ và tình thương thật sự đối với một tâm hành bất thiện, phải mất từ ba tháng đến sáu tháng, mà con cảm nhận đó chỉ là phần nổi của vấn đề, đủ để gãi cho đỡ ngứa thôi. Như đối với tâm kỳ thị, để con nhìn rõ được nàng thì, chỉ cách cái ngày con ngồi viết bài này chừng một tuần đổ lại, con còn cảm giác là mình chỉ thấy rõ được cấu trúc trên bình diện tổng thể của gương mặt nàng – trái xoan, trái xoài hay mận mít gì đó. Còn trán nàng thế nào, nhăn hay láng; mắt nàng thế nào, trong hay đục; da mặt nàng thế nào, hồng hào, trắng tinh hay sô cô la và có bao nhiêu vết nám v.v. thì chắc phải mất thêm vài chục năm nữa. Nhưng ít ra, con thấy nó có dấu hiệu thay đổi dù chỉ là như một hạt bụi. Trên một phương diện nó là hạt bụi nhưng đối với con nó là viên ngọc quý, là tia sáng của hy vọng. Và, hạt bụi này, với sự kiên trì góp nhặt từng ngày của mình, đến một lúc nào đó, sẽ đủ cho con nung thành một viên gạch lót trên con đường đi đến sự tự do đích thực. Nhiều khi chỉ góp được một nắm cát trên tay thôi mà mình đã cảm thấy tự do và hạnh phúc vô cùng. Những phút giây này con thường thấm thía cái câu “Không có con đường đến hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường”. Thậm chí với con, chưa cần tính đến chuyện nhận thức con đường và cái tên của nó, từng hạt bụi, hạt cát mình góp nhặt trên tay để lót cho con đường này đã là tự do và hạnh phúc rồi! 

 

 

Sau khi nhận được dấu hiệu đó, con bắt đầu có sự thay đổi nhận thức về cái chữ thương mà vị thầy kia dạy, cũng như về tất cả những biểu hiện của những tâm hành trong con. Dần dần con tập mỉm cười với tất cả trạng thái thân tâm của mình. Con cũng thay đổi ngôn ngữ dùng để nói với tâm. Thay vì dùng từ “nó” thì con dùng từ “em” hoặc “nàng”. Và cứ thế “Hít Le” chấm dứt nhiệm kỳ, nhường lại ghế nóng cho bạn “Sến Súa”. Câu nói của con cũng thay đổi rất nhiều “Em (sợ hãi, thất niệm, vướng mắc v.v.) đây rồi, em hãy ngồi đây trong vòng tay tôi. Tôi xin lỗi em thật nhiều vì bấy lâu nay tôi đã kỳ thị em, tôi đã dám gọi em là nó này nó nọ, em xứng đáng với tất cả niềm thương yêu tôi đã dành cho bao nhiêu tâm hành thiện khác”.

Nhiều lúc con chỉ cảm nhận được sự bứt rứt khó chịu từ thân. Con thực tập bốn hơi thở đầu trong 16 hơi thở chánh niệm, quay về theo dõi hơi thở, buông thư thân thể. Rồi sau đó con tác ý: “Tôi đang khổ, tôi đang có tâm hành khổ, tôi chưa biết tên em là gì, nhưng không sao, em là một phần hiện hữu của tôi. Tôi có mặt cho em đây và tôi thương em như tất cả”. Cái thương này khởi đầu xuất hiện từ điều kiện là mình vẫn có ý định ngầm đâu đó trong chiều sâu tâm thức là muốn vứt bỏ các em, nhưng càng về sau này thì nó là một tình thương vô điều kiện. Mà yếu tố vô điều kiện này bắt đầu đến từ một sự kiện rất quan trọng trong đời con. Hôm ấy, giữa khóa tu xuất sĩ tại EIAB, con có một nội kết và khổ thọ rất lớn. Tối đó, lúc con ngồi thiền với đại chúng, con thật sự hết cách vì đã dùng nhiều “công cụ” để “đối trị” phiền não: nào là phép quán tưởng về vô thường, vô ngã (Xin chú thích, ở đây con vẫn còn thực tập trên phương diện tư duy chứ chưa phải là trải nghiệm hai thực tại ấy), nào là theo dõi hơi thở, nào là chế tác hỷ lạc… thế nhưng càng làm thì em càng “nặng ký” ra. Gần như là tuyệt vọng, con đành buông hết sự chống trả và đầu hàng. Trong tâm chỉ phát khởi lên một ý nghĩ: “Thôi! Tôi không cần chuyển hóa em nữa. Bây giờ tôi chỉ muốn nhìn rõ mặt em, và hiểu em thôi!”, rồi con ngồi theo dõi hơi thở và “nhìn” tâm của mình. Tự dưng lúc đó cảm xúc nặng nề bứt rứt ngay chính giữa ngực con dần dần được buông lỏng; tiếp theo cảm giác dễ chịu, ấm áp và êm ái lớn dần ra. Trong một khoảng thời gian ngắn sau đó, con không còn cảm nhận khổ thọ nữa. Thay vào đó là một cảm giác nhẹ tênh, lâng lâng, hạnh phúc lạ kỳ. Cũng ngay trong lúc này, lời Thầy nói trong một bài pháp thoại nào đó được lập lại trong ý thức con: “Hạnh phúc và khổ đau là một, không phải là hai”. Và nó dần trở thành một niềm tin rất lớn trong con sau những lần trải nghiệm tương tự như vậy.

Cũng từ đó, con thương yêu và chấp nhận tất cả biểu hiện trong con và sự khác biệt của mọi người xung quanh một cách tự nhiên và dễ dàng hơn rất nhiều. Con có thêm một niềm tin nữa là khi mình có hiểu và thương đích thực thì mình sẽ được tự do!

Để kết thúc bài viết này, con xin được cúng dường độc giả bài thơ ghi lại những cảm nhận của con trong thời gian thực tập tại Làng:

 

Cười với tôi đi,

bằng ánh mắt bao dung và thương mến.

Để cho tôi vơi bớt nỗi cô đơn.

 

Cười với tôi đi,

bằng đôi tai lắng dịu.

Để bao nhiêu nỗi niềm được vỗ về và trái tim tôi rộng mở

 

Cười với tôi đi,

bằng vòng tay vị tha âu yếm.

Để bao nhiêu lỗi lầm được ôm ấp trong tình thương và lòng nhân ái

Vì…

 

Tôi nào muốn như thế

Tổ tiên tôi dạy tôi thế

Người ta dạy tôi thế

Xã hội dạy tôi thế

 

Nếu như có sự lựa chọn…

Tôi sẽ chọn thương yêu mọi người và mọi loài bằng tất cả hiện hữu tôi

 

Cười với tôi đi,

bằng đôi bàn tay ấm áp và rắn chắc,

dắt tôi qua những cánh đồng thơm mùi cỏ non và vạn loài hoa dại,

để được lắng nghe tiếng chim reo và bản giao hưởng của gió và rừng xanh

để tôi được xúc chạm sự sống thiêng liêng và tự do tôi dần tỉnh giấc

 

Cười với tôi đi,

bằng những bước chân vững chãi cùng hơi thở bình an

để mỗi khi cuồng phong ùa về tôi còn có nơi nương náu

 

Cười với tôi đi… cười với tôi đi,

dù không còn gì để cười,

nhưng chí ít nụ cười ấy cho tôi một tia sáng soi lối trong đêm tối tuyệt vọng đảo điên

Và nếu một mai tôi qua đời,

hãy cứ cười bằng những nụ cười xinh tươi nhất

Để nhắc cho tôi biết rằng tôi không đi đâu cả!

 

Năm mới, cơ hội làm mới chính mình

Bài viết dưới đây do BBT trích dịch từ pháp thoại tiếng Anh vào Giao thừa Tết Dương lịch năm 1995 của Sư Ông Làng Mai. Đã 29 lần chúng ta đi qua năm mới từ ngày ấy.  Mỗi lần cầm đến lại thành mới tinh” là một câu thơ của thiền sư Trúc Lâm (pháp danh của vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia). Những gì Sư Ông dạy trong bài pháp thoại vẫn thành mới tinh khi năm mới lại về lần thứ 30. Trân trọng – BBT

Năm mới là một cơ hội để chúng ta làm mới chính mình, để bắt đầu lại từ đầu. Để đón chào năm mới, ai trong chúng ta cũng muốn có mặt trọn vẹn trong giây phút năm mới đến. Năm mới có ý nghĩa đối với tất cả mọi người, bởi vì ai cũng mong ước một năm mới khác với năm cũ, một năm tốt đẹp hơn, nhiều vững chãi, nhiều an ổn, nhiều niềm vui, nhiều hạnh phúc hơn. Vì vậy, ai cũng muốn tự chuẩn bị cho mình để có thể đón chào năm mới; ai cũng cố gắng làm hết sức mình để biến năm mới thành một năm tốt đẹp hơn.

Trong truyền thống Phật giáo có những pháp tu giúp chúng ta tự chuẩn bị để năm mới có thể tốt hơn năm nay. Mỗi khi nói đến năm mới, chúng ta nghĩ đến một vị Bụt có tên là Từ Thị (Maitreya) — vị Bụt của tương lai, Từ Thị có nghĩa là tình thương. Trong năm mới, chúng ta có đủ can đảm để yêu thương trở lại hay không? Bởi vì có những người trong chúng ta đã từng yêu thương và đã từng đau khổ vì thương, nên chúng ta sợ không dám yêu thương nữa.

Ta nên quay về thỉnh ý Bụt Từ Thị xem sang năm mới chúng ta có nên thương yêu trở lại hay không. Chúng ta đã từng thương yêu và có cảm giác mình đã thương yêu bằng tất cả trái tim. Nhưng tình thương ấy đã đem lại cho chúng ta nhiều khổ đau, phản bội, và những tổn thương khác. Vì vậy chúng ta ngần ngại khi nghĩ đến việc yêu thương trở lại.

 

 

Ngày cuối năm là cơ hội để chúng ta quay về nhìn lại cách mình đã yêu thương, cách mình đã sống, để xem có phải bản thân mình cũng chịu một phần trách nhiệm về nỗi khổ của chính mình và về nỗi khổ của người kia hay không. Ta thường có khuynh hướng trách móc người kia về nỗi khổ của mình và người kia cũng có khuynh hướng ấy. Vì vậy ta nên sử dụng cơ hội này để nhìn lại, để thấy rõ cách mình yêu thương, cách mình đối xử với người mình thương. Đây là cơ hội để quán chiếu sâu sắc về bản chất đích thực của tình thương. Và đó chính là một sự thực tập rất đẹp để làm mới lại tình thâm.

Cố nhiên trong năm qua chúng ta đã mắc phải những lỗi lầm. Đôi khi chúng ta không muốn làm, không muốn nói như vậy, ta không hề cố ý. Thế nhưng ta vẫn làm, vẫn nói khiến cả ta và người kia đều khổ. Về phần mình, có thể ta cũng đã có nhiều thiện chí. Nhưng chỉ có thiện chí thôi thì chưa đủ. Ta đã được học rằng thương là khả năng mang hạnh phúc đến cho người kia và giúp người kia bớt khổ. Nhưng muốn thương không có nghĩa là đã biết cách thương một cách đúng đắn. Nhiều bậc cha mẹ rất muốn thương con và làm cho con hạnh phúc, nhưng càng thương, họ càng làm con khổ. Chúng ta cũng vậy. Ta muốn mang hạnh phúc đến cho người khác, nhưng vì thiếu hiểu biết, thiếu kiên nhẫn, nên càng thương càng khiến người kia khổ. Cho nên chỉ có ước muốn thương yêu, muốn làm người kia hạnh phúc không thôi là chưa đủ.

Có một cách rất đơn giản để kiểm tra xem tình thương của mình có làm mình khổ và làm người kia khổ không. Đó là đặt câu hỏi: “Người thương ơi (người thương đây có thể là chính mình hoặc người kia), cách tôi thương có làm em khổ không?” Nếu lắng nghe một cách chân thật, ta sẽ tự tìm ra câu trả lời từ chính mình. Và khi hỏi người kia (trực tiếp hay gián tiếp), ta cũng có thể nghe được tiếng trả lời của họ. “Người thương ơi, anh có nghĩ rằng tình thương của em đã làm khổ anh không?”. Hỏi xong, ta thở vào, thở ra và lắng nghe thật kỹ, câu trả lời sẽ đến. “Người thương ơi, có phải cách em thương làm khổ chị không?”. Nếu ta hỏi rất thật lòng, bằng tất cả trái tim, sự thành khẩn và tha thiết thì người kia sẽ nói cho ta biết.

Chắc là ta cần hỏi câu hỏi ấy một cách thường xuyên bởi vì ngày nào ta cũng có thể gây ra lầm lỗi mà ta không biết. Ta tin rằng cách ta làm, ta nói là với thiện ý làm cho người kia hạnh phúc. Nhưng ta không thể quá chắc chắn về điều đó bởi vì tri giác của ta thường hay sai lầm. Thậm chí khi ta có đầy hảo ý, ta vẫn nhầm lẫn như thường. Ta vẫn không hiểu rõ người ta thương, vì vậy ta vô tình gây đau khổ. Khi nói, ta phải sử dụng ngôn từ. Và ngôn từ ta sử dụng có thể làm tổn thương người khác. Cách ta hành xử hay phản ứng có thể làm đau chính ta hay đau người khác. Rất nhiều người trong chúng ta, khi gây ra lầm lỗi lại muốn trừng phạt chính mình với hy vọng làm mình bớt khổ. Nhưng đó là một sai lầm, bởi làm như vậy, ta làm khổ chính mình mà cũng làm khổ người khác.

Ta không cố ý gây ra lầm lỗi hay gây ra tổn hại. Chỉ vì ta không biết sống sao cho có chánh niệm nên ta mới lập đi lập lại những lầm lỗi ấy trong đời sống hàng ngày. Cho nên ta cần tập sống chánh niệm mỗi phút giây trong đời sống để biết điều gì đang xảy ra trong hiện tại, dù ta có gây ra lầm lỗi hay không. Chánh niệm chính là đức Bụt mà ta có thể mời có mặt với ta suốt 24 tiếng một ngày.

Như vua Trần Thái Tông từng nói: “Nhà Bụt mời cầu không ở lại, đêm đêm thói cũ ngủ bờ lau.” , ta đã quen sống thất niệm, ta không muốn mời Bụt làm người tri kỷ giúp ta sống chánh niệm mỗi giây mỗi phút trong cuộc sống hàng ngày. Khi chánh niệm có mặt, ta sẽ biết mình đã không đủ khéo léo, đã nói năng không có từ bi, đã hành xử không dựa trên sự thương yêu. Nhận ra rồi, ta có thể nói với người kia: “Xin tha lỗi cho tôi, tôi đã không đủ khéo léo, tôi không cố ý làm cho bạn tổn thương.” Và tình trạng có thể thay đổi ngay lập tức.

Khi có ai đó làm tôi khổ vì họ không khéo léo, tôi cũng nhìn để thấy: “Ồ, người này đã hành xử không khéo léo lắm.” Vì vậy tôi hay dặn đệ tử của mình cố gắng nhớ điều này: Khi có ai làm họ khổ thì đừng nên nhìn sự việc dưới góc cạnh thiện hay ác, thiện ý hay ác ý, đúng hay sai mà chỉ nên thấy là có thể người kia đã không đủ khéo léo mà thôi.  Nhìn như thế, ta có thể dễ dàng tha thứ cho người kia. Nếu mình dễ tha thứ cho họ thì họ cũng dễ tha thứ cho mình bởi vì có thể mình vẫn sẽ tiếp tục gây ra lầm lỗi vì sự không khéo léo của chính mình.

Tình thương yêu đích thực gồm có bốn yếu tố là từ, bi, hỷ, xả là bốn tâm vô lượng mà ta có thể học cách để vun trồng, tưới tẩm. Trong những ngày cuối cùng của năm [Dương lịch], chúng ta nên dành thì giờ để nghĩ tới những người ta thương mến. Ta nên ngồi thiền, thực tập thiền hành, dành tất cả sự chú tâm và tất cả chánh niệm của mình cho những người mà ta đã nguyện thương yêu, trong đó có chính bản thân ta. Bởi vì thương yêu chính mình là nền tảng cho tất cả mọi tình thương. “Tôi nguyện thương yêu chính mình, chăm sóc cho mình để tôi có thể có khả năng chăm sóc những người tôi thương.”

Xin tham khảo thêm: 

Làm mới

Thương yêu chính mình 

Chuyển hóa và trị liệu

Lễ xuất gia gia đình Cây Hoa Giấy (Bougainvillea) ngày 21/12/2025

Ở nhà Như Lai, mặc áo Như Lai –  Mừng ngày biểu hiện của tám vị xuất sĩ mới

Kính thưa Đại chúng!

Mùa Giáng sinh, mùa cuối năm luôn luôn là một khoảng thời gian đặc biệt. Đặc biệt vì trong từng khoảnh vườn hay con phố, chúng ta  thấy rõ màu sắc của thời gian. Thời gian và không gian hòa quyện nhau thành một để mùa mừng đức Chúa ra đời trở thành những con đường chào đón đức Chúa, một vị thầy trên con đường tâm linh.

Trong sự thực tập của Làng Mai, Giáng sinh là lúc ta thực tập hiến tặng sự có mặt đích thực đến người thương. Viết một dòng chữ trên tấm thiệp hoa, gói một hộp trà thơm, hay thêm đất cho một chậu lá nhỏ để gởi tặng người thương đều là biểu hiện của lòng biết ơn và sự kết nối. Chúng ta có cùng Tổ tiên tâm linh. Con đường của sự thực tập trở về chăm sóc tự thân và mang lại niềm vui cho mọi người dường như không có ranh giới giữa ta và người kia, giữa cái gọi là của chúng ta và cái gọi là của họ. Hạnh phúc đặt trên nền tảng của hiểu nhau và thương nhau là hạnh phúc chân thật.

Ngày 21 tháng 12 vừa qua, Đại chúng Tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan mở vòng tay tiếp nhận tám vị xuất sĩ nữ mới xuất gia cùng tu học với quý Sư cô thuộc Xóm Trăng Tỏ. Lễ Dẫn thỉnh và Lễ Xuất gia diễn ra với sự có mặt yểm trợ của bốn chúng.

Sau thời gian tập sự tại Tu viện, các vị cư sĩ đã được Tăng thân chấp thuận. Pháp Tác pháp yết-ma bạch tứ được thực hiện để tiến hành truyền Mười giới Sa-di nữ. Đây là cột mốc quan trọng chào đón những vị Bụt của cả hiện tại và tương lai. Quý vị phụ huynh đã được tham dự trọn vẹn hai buổi lễ này, được chứng kiến sự phát tâm mạnh mẽ của con em mình và sự trang nghiêm của cộng đồng các vị xuất sĩ. Tình thương của Tăng thân đã và đang được bồi đắp bởi chính mỗi thành phần trong Tăng thân. Mỗi đợt xuất gia được gọi là một Gia đình xuất gia, một Cây xuất gia. Mỗi Gia đình, mỗi Cây đều được đặt tên. Lần này, quý Sư cô mới thuộc Gia đình xuất gia Cây Hoa Giấy. Loại hoa này có mặt khắp mọi nơi, khoẻ, tươi tắn, biểu trưng cho sự nhẹ nhàng và kiên định.

Quý sư cô mới lần lượt có pháp tự là Chân Thái Hạnh, Chân Bình Hạnh, Chân Hoà Hạnh, Chân Thuận Hạnh, Chân Tuấn Hạnh, Chân Triết Hạnh, Chân Thanh Hạnh, Chân Lương Hạnh.

Trong quyển sách Sám Pháp Địa Xúc hướng dẫn về sự thực tập thiền lạy, kết nối truyền thông với gia đình huyết thống và gia đình tâm linh, chúng ta được học rằng: “Con biết là mỗi khi con ngồi cho có chánh niệm, lưng thẳng, thân và tâm thoải mái, có nụ cười tỉnh thức trên môi là con đang ngồi trong nhà Như Lai.” và “Con mặc áo chánh niệm, con mặc áo trì giới, con mặc áo tam quy, con mặc áo của nếp sống đơn giản và khiêm cung, đó là con mặc áo Như Lai. Không có thứ áo nào mặc đẹp và ấm bằng áo của Như Lai.” Là một vị xuất sĩ, chúng ta có hai mươi bốn giờ vào ra cười nói trong nhà Như Lai, mặc áo ăn cơm Như Lai.

Quý Thầy, quý Sư cô Tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan mến chúc Đại chúng mọi miền có nhiều niềm vui trong sự thực tập. Mỗi khi chúng ta chào đón những vị xuất sĩ mới, chúng ta biết rằng nhà Như Lai thật ấm, thật vui. Xin chúc mừng tám sư cô mới. Xin chúc mừng Giáng Sinh!

Thân mến!

Tăng thân xuất sĩ, Tu viện Vườn Ươm – Làng Mai Thái Lan

Lễ Dẫn thỉnh

Lễ Xuất gia

Mùa Giáng Sinh 2025

Trong những ngày cuối năm, khi Làng Mai lặng lẽ khoác lên mình hơi thở của mùa Giáng Sinh, từng bàn tay cùng nhau chuẩn bị, từng nụ cười thắp sáng bình an. 

Trang trí một cành thông, thắp một ngọn đèn, quét dọn một góc nhà, trao tặng những hộp chả giò – tất cả đều được làm trong chánh niệm, như một lời nhắc dịu dàng rằng: quê hương không ở đâu xa.

Quê hương có mặt khi ta thật sự có mặt.

Trong mỗi bước chân trở về, trong mỗi hơi thở ý thức, ở đó có sự hiện diện và có tình thương chân thật. 

Bộ ảnh này ghi lại những khoảnh khắc rất đời thường ấy – khi Giáng Sinh không chỉ là một ngày lễ, mà là con đường trở về, nơi an trú và thương yêu đang chờ sẵn trong giây phút hiện tại.

 

 

 

Mùa Giáng Sinh 2025

Trong những ngày cuối năm, khi Làng Mai lặng lẽ khoác lên mình hơi thở của mùa Giáng Sinh, từng bàn tay cùng nhau chuẩn bị, từng nụ cười thắp sáng bình an. 

Trang trí một cành thông, thắp một ngọn đèn, quét dọn một góc nhà, trao tặng những hộp chả giò – tất cả đều được làm trong chánh niệm, như một lời nhắc dịu dàng rằng: quê hương không ở đâu xa.

Quê hương có mặt khi ta thật sự có mặt.

Trong mỗi bước chân trở về, trong mỗi hơi thở ý thức, ở đó có sự hiện diện và có tình thương chân thật. 

Bộ ảnh này ghi lại những khoảnh khắc rất đời thường ấy – khi Giáng Sinh không chỉ là một ngày lễ, mà là con đường trở về, nơi an trú và thương yêu đang chờ sẵn trong giây phút hiện tại.

Hướng về Ngày Thiền Thế Giới – Làng Mai tại Liên Hợp Quốc

Năm 2024, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã thông qua một quyết định mang tính lịch sử, chính thức công bố ngày 21 tháng 12 là Ngày Thiền Thế Giới, nhằm nâng cao nhận thức về thiền tập và những lợi ích thiết thực của thiền đối với sức khỏe thể chất và tinh thần. Đồng thời khẳng định quyền của mỗi người được thụ hưởng mức độ sức khỏe cao nhất có thể đạt được.

 

 

Hưởng ứng và thúc đẩy Ngày Thiền Thế Giới, một hội nghị quốc tế với chủ đề “United and Present – Global Solutions from Within: A Mindful Approach to Diplomacy, UN Work, and Beyond” (Hiệp nhất và Có mặt – Giải pháp toàn cầu từ bên trong: Cách tiếp cận chánh niệm trong ngoại giao, công việc của Liên Hợp Quốc và hơn thế nữa) đã được tổ chức từ ngày 9–10 tháng 12 năm 2025 tại Cung điện Liên Hợp Quốc (Palais des Nations), Geneva, Thụy Sĩ. Sư cô Định Nghiêm, đại diện tăng thân quốc tế Làng Mai, đã được mời tham dự với tư cách diễn giả trong phiên thảo luận, chia sẻ về các thực tập chánh niệm của Làng Mai và ứng dụng của thiền trong đời sống cá nhân cũng như trong các môi trường làm việc tập thể.

Thiền và chánh niệm trong công việc toàn cầu

Dựa trên Chiến lược Sức khỏe Tinh thần và An sinh của Hệ thống Liên Hợp Quốc, Sáng kiến Chánh niệm về Nhân quyền của Liên Hợp Quốc, cùng Nghị quyết của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc về Ngày Thiền Thế Giới, hội nghị đã cùng nhau khám phá vai trò của chánh niệm trong việc ngoại giao, bảo vệ nhân quyền và phát triển năng lực lãnh đạo bền vững. Hội nghị nhấn mạnh rằng sự an lành của cá nhân và tập thể không phải là một điều xa xỉ, mà là một nền tảng thiết yếu và khả thi cho sự bao dung, bảo hộ và tiến bộ chung của nhân loại, đồng thời là yếu tố chiến lược giúp tạo nên những tác động toàn cầu sâu sắc và lâu dài.

Hội nghị được khai mạc bằng bài phát biểu chính của Jon Kabat-Zinn, người sáng lập Trung tâm Chánh niệm trong Y học, Chăm sóc Sức khỏe và Xã hội tại Đại học Massachusetts. Sự kiện quy tụ đại diện của nhiều truyền thống tâm linh khác nhau, cùng các cơ quan Liên Hợp Quốc, nhà ngoại giao và nhà nghiên cứu, để cùng tìm hiểu nhìn sâu về cách chánh niệm và lòng từ bi có thể hỗ trợ công việc trong các lĩnh vực nhân quyền và nhân đạo. Các phiên thảo luận cũng làm sáng rõ cách sự tỉnh thức nội tâm và nhân tính chung của con người có thể giúp đặt nhân quyền vào trung tâm của hành động đa phương, từ đó tăng cường hiệu quả, khả năng thích ứng và tính phù hợp trong bối cảnh những thách thức toàn cầu hiện nay.

Phiên thảo luận “Thúc đẩy Ngày Thiền Thế Giới”

Ngày 10 tháng 12, Sư cô Định Nghiêm, đại diện tăng thân Làng Mai, đã tham gia phiên thảo luận “Thúc đẩy Ngày Thiền Thế Giới”, do Giáo sư Mark Williams (Giáo sư Tâm lý học Lâm sàng, Đại học Oxford) điều phối, cùng các đại diện đến từ nhiều truyền thống tâm linh khác nhau gồm có: Cha Cyprian Consiglio (tu sĩ dòng Camaldolese), Khenpo Tenpa Yungdrung (Viện chủ truyền thống Yungdrung Bon), Giáo sĩ trưởng Eric Ackerman (Cộng đồng Do Thái Geneva), Swami Vedanishthananda ji (Lãnh đạo tinh thần và Giám đốc Trung tâm Vedanta Geneva), và Aïcha Redouane (ca sĩ, người diễn xướng thơ Sufi Ả Rập). Các đại diện đã chia sẻ về mối liên hệ giữa thiền và khoa học, cũng như trình bày các nghiên cứu lâm sàng cho thấy thiền có tác dụng làm giảm căng thẳng, hỗ trợ sức khoẻ tinh thần và nuôi dưỡng sự bình an nội tâm. Phiên thảo luận đã tôn vinh thiền tập như một thực tập thiết yếu trong đời sống hằng ngày: nuôi dưỡng hòa bình, sự phản chiếu nội tâm và khả năng kết nối sâu sắc giữa con người, vượt qua ranh giới của các truyền thống và văn hóa.

Thiền và chánh niệm như một trải nghiệm sống động – Thực tập lắng nghe tiếng chuông

Trong phát biểu mở đầu, Tiến sĩ Myriam Oehri, chuyên gia tư vấn của Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hợp Quốc (OHCHR), đã trình bày về sự ra đời của Ngày Thiền Thế Giới và mối liên hệ của ngày này với Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền. Bà cũng chia sẻ về ý hướng và tinh thần của việc thúc đẩy nghị quyết về Ngày Thiền Thế Giới, nhằm nâng cao nhận thức về lợi ích của thiền tập trên toàn thế giới. Mặc dù thiền, dưới nhiều hình thức khác nhau, từ lâu đã là một thực tập mang tính phổ quát, hy vọng rằng thiền cũng có thể trở thành một thực tập thực sự mang tính kết nối và hợp nhất.

Trong phần chia sẻ của mình, Sư cô Định Nghiêm đã giới thiệu thực tập lắng nghe tiếng chuông của Làng Mai — một thực tập rất đơn giản nhưng sâu sắc, giúp mỗi người dừng lại, trở về với hơi thở, lắng dịu, kết nối sâu và có mặt trọn vẹn. Sư cô đã kể lại câu chuyện về hai người cháu gái và những người bạn của các cháu khi tham dự khóa tu Wake-Up dành cho người trẻ (18–35 tuổi) tại Làng Mai vào mùa hè năm ngoái. Khi được hỏi “Điều bạn thích nhất trong khóa tu là gì?”, tất cả đều trả lời: “Con người.” Lần đầu tiên trong đời, các bạn trẻ cảm nhận được một không gian an toàn để có thể trả lời câu hỏi “Bạn có khỏe không?” bằng sự chân thật: “Mình đang rất mệt”, “Mình đang quá tải”, hay “Mình đang gặp khó khăn trong gia đình.” Nhờ đó, các bạn có thể mở lòng, được là chính mình và không sợ bị phán xét. Chỉ sau một tuần, các bạn đã cảm thấy gắn bó với nhau như thể đã sống cùng nhau trong nhiều tháng. Những nỗi lo quen thuộc khi gặp người mới như về cách cư xử, trang phục hay hình ảnh bản thân… dần tan biến, nhường chỗ cho cảm giác an toàn và tin cậy. Chính thực tập lắng nghe tiếng chuông là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo nên môi trường đó.

Sự thực tập lắng nghe chuông được Thiền sư Thích Nhất Hạnh thiết lập từ hơn bốn mươi năm trước, ngay trong những khóa tu đầu tiên tại Làng Mai, là một phần không thể thiếu của đời sống tu học. Cứ mỗi 15, 30 phút hoặc một giờ, tiếng chuông được thỉnh lên, mời gọi mọi người dừng lại, trở về với hơi thở chánh niệm và thư giãn thân tâm. Sau đó, sinh hoạt hay cuộc đối thoại được tiếp tục trong sự tỉnh thức và lắng dịu hơn. Ngày nay, thực tập lắng nghe tiếng chuông đã và đang trở thành một nếp sống trong tất cả các cộng đồng Làng Mai, kể cả xuất gia lẫn tại gia, trên khắp thế giới: trong các buổi họp, trong nhà bếp, trong phòng ăn, và cả trong nhiều doanh nghiệp, tổ chức, trong đó có các công ty tại Việt Nam. Sư cô cũng chia sẻ rằng sự khác biệt trong chất lượng lắng nghe và hiểu biết được cảm nhận rất rõ mỗi khi thực tập này bị quên lãng. Đồng thời, nhắc nhở chúng ta về tầm quan trọng của sự đều đặn trong tu tập, giống như việc học ngôn ngữ, âm nhạc hay thể thao: không cần quá nhiều nỗ lực dồn dập, nhưng cần được nuôi dưỡng mỗi ngày.

Trong suốt phiên thảo luận, Sư cô Định Nghiêm đã nhiều lần được mời thỉnh chuông sau mỗi phần chia sẻ của các diễn giả và để kết thúc buổi gặp mặt. Nhờ đó, tất cả những người tham dự đều có cơ hội trực tiếp trải nghiệm thực tập chánh niệm bằng lắng nghe tiếng chuông: dừng lại, trở về với hơi thở, thư giãn thân thể và làm lắng dịu tâm ý. Trước đó, Sư cô cũng đã hướng dẫn một buổi thiền buông thư (thư giản sâu) và thiền đi cho các đại biểu tham dự hội nghị, mang đến một trải nghiệm sống động về chánh niệm trong đời sống và công việc.

Toàn bộ phiên thảo luận có thể được theo dõi trên UN Web TV.

Hướng về Ngày Thiền Thế Giới – 21/12

Tại Làng Mai, thiền không chỉ là một khái niệm hay một sự kiện, mà là một nếp sống hằng ngày. Tất cả bắt đầu từ một hơi thở ý thức, một bước chân thảnh thơi, hay một tiếng chuông mời gọi ta trở về với giây phút hiện tại.

Nhân Ngày Thiền Thế Giới 21/12, chúng ta hãy cùng nhau thực tập dừng lại giữa nhịp sống bận rộn, trở về với hơi thở và bước chân, để nuôi dưỡng bình an trong tự thân và góp phần xây dựng một thế giới hiểu biết và thương yêu hơn.

 

Tăng thân thân thiện với người đa dạng thần kinh

Trong thế giới hiện đại, nhận thức về sự đa dạng trong xã hội đang dần thay đổi, đặc biệt là khi đề cập đến sự khác biệt về thần kinh. Một trong những khái niệm quan trọng trong phong trào này là “Thuyết đa dạng thần kinh” (Neurodiversity), một lý thuyết nhằm tôn vinh sự đa dạng trong cách thức mà não bộ con người hoạt động.

Thuyết này không chỉ phản ánh một sự hiểu biết mới về sự khác biệt thần kinh, mà còn mở ra cơ hội để xây dựng một xã hội công bằng và bao dung hơn đối với những cá nhân có sự phát triển và chức năng thần kinh khác biệt.

Một trong những khái niệm nổi bật trong thuyết đa dạng thần kinh là sự phân biệt giữa “neurotypical” (thần kinh điển hình) và “neurodivergent” (thần kinh khác biệt). Việc hiểu rõ sự khác biệt này không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về thế giới xung quanh mà còn giúp tạo ra môi trường hỗ trợ và tôn trọng hơn cho tất cả mọi người, bất kể là neurotypical hay neurodivergent.”  (Theo https://tamlyvietphap.vn/neurodivergent-hieu-ve-su-da-dang-than-kinh/)

Cô Sylvia Clare, trong bài viết sau đây cho thấy sự tu tập có thể nhu nhuyến và sáng tạo để đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người trong xã hội hiện đại.

(BBT dịch từ nguyên bản tiếng Anh: Building a Sangha for Neurodivergent-Friendly Practice)

Khởi đầu của một hành trình

Năm 2017 tôi chăm nom hai tăng thân: một ở gần nhà và một ở một thành phố cách nhà hai tiếng đồng hồ di chuyển. Chuyến đi đến nơi thứ hai khá tốn kém và gian nan: đầu tiên tôi lái xe đến bến phà, qua phà, gửi xe, sau đó đón xe buýt, hoặc đi bộ hai dặm đến nơi sinh hoạt. Nói đúng ra, bận về tôi thường được một người bạn trong tăng thân cho đi nhờ nên cũng đỡ nhọc phần nào. 

Nhưng số người tham dự ngày một thưa dần, và cuối cùng tôi phải tự trang trải phí thuê địa điểm. Ba chúng tôi — những người còn duy trì đều đặn — đã quyết định chuyển sang tu học trực tuyến. Ngay lập tức, số người tham dự đã tăng lên vì đáp ứng được nhu cầu của những người sống ở các vùng xa xôi hẻo lánh.

Tăng thân trực tuyến phát triển theo những cách mà chúng tôi không ngờ tới, và chúng tôi quyết định từ đó không còn giới hạn theo địa phương nữa. Khi đại dịch Covid xảy ra, mô hình này trở thành lựa chọn cho mọi người ở Anh.

Trước đại dịch Covid, chúng tôi đã nhận ra rằng nhiều người trong tăng thân có những đặc điểm đa dạng thần kinh (ND). Vì vậy chúng tôi quyết định coi mình là một tăng thân thân thiện với ND và chọn tên cái tên Smiling Sitters (Những người ngồi thiền với nụ cười tươi).

Cách thực tập phù hợp với chính mình

Tôi được chẩn đoán là bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD), là tình trạng tâm lý xảy ra sau trải nghiệm sang chấn mạnh, gây hồi tưởng ám ảnh, căng thẳng, hoặc tránh né. Tôi cũng bị rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD) – tình trạng thần kinh khiến người bệnh khó tập trung, dễ phân tâm, hoặc hiếu động quá mức. Con trai tôi, một nhà tâm lý học bảo rằng tôi cũng hơi bị tự kỷ. Còn chính cháu thì bị ADHD. Con trai của cháu, là cháu nội trai tôi thì vừa bị tự kỷ vừa có ADHD. Thành ra đây là vấn đề của gia đình.

Cách bộ não chúng ta vận hành rất khác nhau để tiếp xúc với thế giới. Những người có bộ não vận hành khác với người khác không phải họ bị thiểu năng; trái lại nhiều khi họ lại rất sáng tạo và tuyệt vời. Nhưng xã hội lại nhìn hiện tượng này như “khuyết tật”. Vì sự giáo dục và kỳ vọng của xã hội bị giới hạn, đôi khi những khác biệt lại trở thành gánh nặng. Điều đó gây ra khổ đau cho những người có bộ não vận hành khác biệt. Như trong trường hợp của tôi. Vì vậy tôi biết mình phải tìm một con đường để cuộc sống của mình được nhẹ nhàng hơn.

Mọi thứ trở nên rõ ràng khi tôi nghe Thầy nói: “Hãy thưởng thức sự thực tập của con.” Tôi chưa từng làm được điều ấy. Tôi biết là mình cần phải thực hiện điều Thầy nói. Tôi đã kiên trì thực tập trong nhiều thập niên với cảm giác thất bại triền miên. Các bạn đồng tu lâu năm nghe tôi cầu cứu bảo rằng tôi nên tiếp tục thực tập. Điều ấy chẳng giúp được gì mà còn làm tôi thấy mình là người thất bại não nề.

Cuối cùng, lời dạy của Thầy giúp tôi nhận ra rằng tôi cần tìm cách thực tập cho phù hợp với chính mình. Không ai có thể làm thay mình điều đó. Từ đó, tôi tự tạo những bài thiền hướng dẫn nhẹ nhàng phù hợp với mình — và thật bất ngờ, nhiều người khác cũng thấy hữu ích.

Nhờ vậy, tôi đã có thể ngồi trọn vẹn trong những buổi thiền ở Làng Mai, Pháp dù năm đầu tiên ở Xóm Mới, tôi vẫn bồn chồn, cựa quậy như một chú chó con đang tập ngồi yên.

Vòng tay tăng thân mở rộng

Người đa dạng thần kinh cần những phương pháp khác nhau để có thể tiếp xúc được với năng lượng chánh niệm. Tăng thân Smiling Sitters ý thức điều ấy nên đã sáng tạo nhiều phương cách khác nhau cho các nhu cầu khác biệt này, trong khi đó vẫn giữ cấu trúc của một buổi sinh hoạt theo mô hình Làng Mai: chào hỏi, chia sẻ tình trạng hiện tại của mỗi cá nhân [còn gọi là báo cáo thời tiết – weather report], hô canh, thiền hướng dẫn, thiền hành, thiền tọa, lắng nghe sâu.

 

Chúng tôi cho phép mọi người tùy ý mở hay tắt camera (hiển thị hình ảnh). Chúng tôi khuyến khích họ chọn cách thiền nào hữu hiệu cho chính họ và liệt kê những chọn lựa ra cho họ.
Có hai bạn có vấn đề về thể chất nên dùng thời gian thiền hành để thực tập uống trà trong chánh niệm. Có bạn thiền bằng cách vuốt ve chú chó của mình, đan len, hay móc len — tất cả đều có thể là thiền. Những vị này có thể tiếp tục kéo dài cách thiền của mình sang thời ngồi thiền nếu muốn.

 

Thời gian ngồi thiền không kéo dài — chỉ mười đến mười lăm phút. Với một số người thần kinh đa dạng, kéo dài sự yên lặng để định tâm có khi trở thành thử thách quá sức. Cá nhân tôi, sau 30 hành thiền tôi đã có thể ngồi lâu được. Nhưng có rất nhiều người vẫn chưa làm được. Chúng tôi tôn trọng khả năng của từng người.

Chúng tôi cũng khuyến khích những hình thức thiền chuyển động, thí dụ như thiền đưa người qua lại (rocking meditation), sử dụng những cử động tự nhiên làm lắng dịu trong khi cơ thể chuyển động. Khi được thực hiện trong chánh niệm, những chuyển động này trở thành thực tập có ý thức và ý nghĩa.

Nhiều người trong chúng tôi mang những tổn thương từ cách đối xử thiếu hiểu biết của gia đình, xã hội, hay trường học đối với nhu cầu của mình — dù chúng tôi chiếm một tỷ lệ dân số đáng kể. Vì vậy chúng tôi luôn hỏi han các thành viên để tìm hiểu xem có bài thực tập nào kích hoạt những phản ứng tiêu cực nơi họ hay không, thí dụ như việc theo dõi hơi thở. Tới thời điểm hiện tại, thực tập theo dõi hơi thở vẫn rất ổn, nhưng có thể một ngày nào đó sẽ không như vậy nữa.

Chúng tôi không đặt nặng các “quy tắc,” vì nhiều người thần kinh đa dạng khó nhớ các quy tắc xã hội, và việc lỡ lời là triệu chứng tự nhiên. Sự linh hoạt chính là cách thực tập từ bi và giúp mọi người cảm thấy an toàn.

Đôi khi có những người đang đối mặt với hoàn cảnh vô cùng khó khăn. Việc chia sẻ một phần câu chuyện, cùng với cách thực tập đang giúp họ ra sao, là điều được chấp nhận. Chúng tôi chia sẻ câu chuyện không phải để đưa ra lời khuyên, mà để nâng đỡ, tìm cách áp dụng sự thực tập vào đời sống. Trong những tình huống như bị buộc phải vô gia cư, điều chúng tôi có thể làm chỉ là giữ không gian cho người đó được chia sẻ và ôm ấp. Chúng tôi đã tiếp xúc với nhiều hoàn cảnh đau lòng và cô đơn khủng khiếp. Trên tất cả, chúng tôi cùng cười thoải mái với nhau về thế giới đầy thách thức nhưng cũng thú vị của người đa dạng thần kinh.

Đi tới bằng sự hiểu biết và thương yêu

Số người đến tham dự sinh hoạt tăng thân mỗi tuần mỗi khác, tuy nhiên bao giờ cũng có một nhóm nòng cốt gồm những người tham dự từ những buổi trực tuyến đầu tiên. Một số người tham gia đều đặn nhưng không nhất thiết đúng giờ, vì họ chỉ có thể tham gia khi điều kiện cho phép. Cuộc sống của họ vốn có nhiều hỗn loạn và bất trắc. Lại có người đến muộn vì quên giờ, đôi khi quá nửa thời gian đã trôi qua họ mới vào, tắt tiếng để không làm phiền người khác.

Môi trường trực tuyến giúp chúng tôi dễ chấp nhận và linh hoạt với những khó khăn về quản lý thời gian mà nhiều người thần kinh đa dạng gặp phải. Hiểu được sự vất vả của mình và của người khác giúp chúng tôi tiếp cận họ với lòng từ bi, nhờ vậy bất cứ một nỗ lực nào của họ cũng được khuyến khích và nâng đỡ để làm cho sự thực tập trở nên có kết quả.

Khi Làng Mai Anh Quốc mở các khóa thực tập chánh niệm, chồng tôi và tôi quyết định đóng góp một khóa dựa trên phương pháp của tôi kết hợp với kinh nghiệm thực tập của anh ấy. Chồng tôi đã thiền tập theo cách riêng của anh ấy hơn năm mươi năm nay. Các khóa học thường kín chỗ. Sang năm, khóa học sẽ được tổ chức tại Being Peace Centre ở Gloucestershire.

Chánh niệm là nếp sống của tôi. Dù những thử thách mà tôi phải đối diện đã giảm bớt nhờ sự thực tập chánh niệm nhưng tôi vẫn luôn là một người thần kinh đa dạng. Và chánh niệm-cùng với tình thương của chồng tôi-đã cứu sống tôi.

Sylvia Clare

Sylvia Clare, Chân Đạo Nhu là một vị Tiếp hiện người Anh, một nhà thơ, nhà viết hồi ký và là một tác giả. Hiện tại bà đang sống ở Isle of Wight, Anh Quốc, nơi bà giảng dạy về chánh niệm, làm vườn và viết lách. Bà thích đi bộ, bơi và đọc. Bà thực tập theo pháp môn Làng Mai 16 năm, nhưng đã hành thiền trên 30 năm. Bà đã có một loạt video ngắn dạy về thiền cho những người thần kinh đa dạng trên YouTube có đề tài: Làm cho chánh niệm dễ hành trì. 

sylviaclare@plumvillage.uk hoặc www.clarity-books.com

Kiến trúc sư xuất sắc cho nền văn hoá hoà bình

                                                                              

Năm 2006, trong khuôn khổ kỷ niệm Đại lễ Vesak Phật lịch 2550, UNESCO dự định tổ chức tại Paris một hội nghị quốc tế để khẳng định vai trò quan trọng của Phật giáo trong việc thực hiện nền văn hóa hòa bình, phi bạo lực. Đại sứ – Đại diện thường trực các nước thành viên có đạo Phật được Ban tổ chức mời dự một cuộc họp trù bị. Rất nhiều giám đốc các trung tâm, cơ sở Phật giáo, nghiên cứu khoa học và chức sắc Phật giáo toàn cầu được mời nhưng không thấy có Sư Ông Thích Nhất Hạnh. Tôi hỏi ông Trưởng ban thì được biết Sư Ông rất nổi tiếng nên luôn bận rộn, thời gian ấy Ngài không có mặt ở Pháp. Ông nói thêm: “Ban tổ chức rất biết ơn nếu ông mời được Ngài”. Tôi không dám hứa mà chỉ nói sẽ cố gắng hết sức. 

Thế là hai vợ chồng tôi cùng với Phạm Bình Đàm, Bí thư thứ hai kiêm Trợ lý Trưởng phái đoàn (Nguyên Giám đốc Trung tâm Biên – phiên dịch quốc gia, hiện là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Hồng Kông) lên đường đi tu viện Làng Mai. Sư Ông Thích Nhất Hạnh cùng với Sư cô Chân Không và thầy Pháp Ấn niềm nở đón tiếp và hướng dẫn chúng tôi đi thăm các cơ sở của tu viện. Làng Mai ở vùng Tây Nam nước Pháp, cách Paris khoảng 600km, là một vùng sơn thủy hữu tình, xa phố thị nên yên bình, rất phù hợp cho tu tập. Những ngôi chùa đơn sơ, gần gũi thiên nhiên với cây xanh, bụi tre, khóm trúc, đầm sen,… chẳng khác gì phong cảnh quen thuộc ở làng quê Việt. 

Thời gian lưu lại Làng Mai, ngoài những buổi thiền tọa, thiền hành, pháp thoại, chúng tôi còn có nhiều dịp hầu chuyện Sư Ông. Buổi đầu tiên, tôi ngỏ lời UNESCO tha thiết mời Sư Ông tham dự và phát biểu tại Hội nghị về Phật giáo với văn hóa hòa bình tại trụ sở. Suy nghĩ giây lát rồi thay vì trả lời, Ngài bảo thất vọng vì UNESCO chỉ nói nhiều, làm ít và Ngài không biết nói gì thêm nữa. Tôi vỡ lẽ đây mới là lý do khiến Sư Ông đã từ chối lời mời của UNESCO. Tuy cảm thấy hơi nản, tôi vẫn tự nhủ: “Tôi ơi, đừng tuyệt vọng!” (Trịnh Công Sơn)

Những buổi mạn đàm sau đó, ngoài những lúc trao đổi về văn hóa Việt Nam, trọng tâm vẫn là về Làng Mai. Sư Ông nhấn mạnh rằng Làng Mai không nói suông mà hành động thực tiễn: Thực hành hòa bình và phi bạo lực không những đối với hàng trăm người xuất gia và người cư sĩ cùng sống ở đó, mà mỗi năm còn đón hàng nghìn người trên toàn thế giới đến tu tập. Thành phần rất đa dạng: trẻ em, sinh viên, cha mẹ, giáo viên, cảnh sát, doanh nhân, nghị sĩ,… Sư Ông nêu vài khóa tu tiêu biểu, như khóa tu bên Mỹ dành cho cảnh sát, nhân viên các trung tâm cải tạo, khóa tu cho các nghị sĩ. Đặc biệt những khóa tu dành cho người Palestine và Israel đã thu được kết quả đáng kể. Sau hai tuần cùng thực tập thiền thở, thiền tọa, thiền hành, lắng nghe lẫn nhau, trao đổi bằng ái ngữ, mọi người đều thấy hóa ra họ có những nỗi khổ như nhau và căn nguyên là những nhận thức sai lầm từ cả hai phía. Họ đã có thể cùng ăn với nhau, cùng nắm tay nhau thiền hành. Trước khi rời tu viện, họ đều hứa khi về nước sẽ động viên những người khác cùng thực hành như mình để giảm bớt khổ đau. 

Trước khi chúng tôi rời Làng Mai, Sư Ông vẫn chưa khẳng định có đến dự hội nghị ở UNESCO hay không mà chỉ mời chúng tôi dự một buổi pháp thoại. Tới cuối buổi, tôi đang phân vân không biết có nên hỏi lại không thì Ngài bỗng nhiên mời tôi có đôi lời với cử tọa. Không thể thoái thác, tôi phác họa nhanh trong đầu mấy ý chính. Trước hết, tôi nói về UNESCO và nền văn hóa hòa bình. Khi mà chiến tranh, bạo lực còn tràn lan trên thế giới, hơn bao giờ hết, UNESCO càng thấy rõ vai trò quan trọng của giáo lý đạo Phật trong việc kiến tạo nền văn hóa hòa bình bền vững. Những việc Làng Mai đã và đang làm trùng khớp với mục tiêu mà UNESCO theo đuổi. Sau đó, tôi điểm lại một vài điều tâm đắc trong nội dung pháp thoại của Sư Ông, nhất là bài học xương máu rút ra từ câu chuyện Thiếu phụ Nam Xương: bị “cái Tôi” sai khiến, người chồng nóng giận không chịu lắng nghe vợ mà dẫn đến thảm cảnh người vợ tự vẫn, gia đình tan nát. Chiến thắng lớn nhất là tự thắng mình, nên dù rất khó chúng ta cũng phải bằng mọi cách chế ngự “cái Tôi” để thực sự lắng nghe, để đi đến thấu hiểu, yêu thương lẫn nhau. 

 

 

Khi tôi phát biểu xong, Sư Ông cảm ơn và tặng tôi một số tác phẩm của Ngài cùng với bức thư pháp tiếng Anh “Present moment, wonderful moment” (Giây phút hiện tại, giây phút tuyệt vời), cốt lõi của dòng tu Tiếp Hiện thuộc phái Phật giáo dấn thân do Ngài sáng lập. Cuối cùng, lại là điều tôi mong chờ nhất, Sư Ông hỏi nếu đến UNESCO sẽ nói gì. Chỉ chờ có thế, tôi đáp ngay xin Sư Ông cứ thẳng thắn phê bình UNESCO và kể chuyện tu tập của Làng Mai là hay lắm rồi ạ. Sư Ông ngẫm nghĩ giây lát rồi bảo sẽ hủy chuyến đi Mỹ để đến dự Hội nghị UNESCO. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm vì đã đạt được mục đích chuyến công du.

Hội nghị quốc tế về đạo Phật tổ chức tại UNESCO đã diễn ra vào tháng 10 năm 2006 như dự kiến. Sư Ông Thích Nhất Hạnh của Làng Mai là một trong những diễn giả của Hội nghị. Không giống đa số người lên đọc bài phát biểu đã chuẩn bị sẵn, Sư Ông chậm rãi bước lên bục, đưa mắt nhìn khắp hội trường rồi bắt đầu kể về những điều mà Ngài và các sư cô, sư thầy cùng các thiền sinh hằng ngày vẫn làm ở Làng Mai. Rồi Ngài đưa ra ba đề nghị cụ thể nhằm hiện thực hóa nền văn hóa hòa bình.

  • Học viện vì hòa bình 

Nhận thức rõ vai trò nổi bật của giáo dục và đào tạo, Sư Ông đề nghị thành lập Học viện vì hòa bình của UNESCO ở mỗi nước thành viên. Làng Mai sẵn sàng cử giảng viên đến dạy mà không đòi hỏi trả lương. Nội dung giảng dạy dựa vào cuốn sách giáo khoa về thực hành hòa bình và phi bạo lực do Sư Ông và các cộng sự biên soạn theo yêu cầu của Tổng giám đốc UNESCO và Tuyên ngôn 2000 cùng chủ đề do Ngài cùng một số vị được giải Nobel Hòa bình biên soạn. (Good Citizens, Parallax Press, 2008)

  • Hội nghị cấp cao Trung Đông

Theo Sư Ông, bạo lực ở Trung Đông có yếu tố tôn giáo, bắt nguồn từ nỗi sợ hãi và thù hằn. Thù hằn nảy sinh do rất nhiều nhận thức sai lầm ở mọi phía. Do đó, từ kết quả thu được của các khóa tu chung giữa người Palestine – Israel tại Làng Mai, Sư Ông đề nghị UNESCO bảo trợ một Hội nghị cấp cao với thành phần là các thủ lĩnh đạo Hồi, Do Thái và Cơ Đốc. Các vị ấy đến và sống cùng nhau vài tuần, cùng ăn uống, đi dạo, hít thở… trong chánh niệm, cùng chăm chú lắng nghe lẫn nhau để hiểu nhau và tiến tới gạt bỏ những nhận thức sai lầm. Sau Hội nghị họ sẽ cùng kêu gọi chấm dứt sự thù địch.

  • Ngày không xe hơi toàn cầu

Môi trường sống đang bị hủy hoại hằng ngày cũng là nguy cơ dẫn đến xung đột. Chúng ta phải thức tỉnh, phải hành động ngay để giảm bớt nỗi đau của Mẹ Trái đất, để lại cho con cháu chúng ta một hành tinh xanh, sạch, đẹp. Một trong những hành động đó là thực hiện “Ngày không xe hơi”. Tại Làng Mai và các trung tâm liên quan khác đã thực hiện mỗi tuần có một ngày không xe hơi. Sư Ông đề nghị UNESCO thực hiện mỗi tháng có một ngày không xe hơi, tiến tới kêu gọi toàn cầu làm theo. Chúng ta đừng nói suông mà phải hành động.

Từng dự nhiều hội nghị, hội thảo tại UNESCO, lần đầu tiên tôi được chứng kiến một hiện tượng hi hữu. Suốt trong thời gian Sư Ông phát biểu, mọi người chăm chú lắng nghe và nhiều lần Ngài phải dừng lại vì những tràng pháo tay sôi nổi, kéo dài. Các vị trong Ban tổ chức cũng bị lôi cuốn vào không khí náo nhiệt đến mức không nhận ra rằng thời gian dành cho Sư Ông hầu như gấp đôi quy định.

Như bóng câu qua cửa, 16 năm đã trôi qua kể từ Hội nghị ấy. Người “đại náo” UNESCO thuở nào đã về cõi vĩnh hằng. Hôm nay, Làng Mai tổ chức lễ tưởng niệm 100 ngày Sư Ông đi xa nên tôi viết những dòng này như một nén hương tưởng nhớ Ngài. Thực ra, Sư Ông không xa mà trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Ta vẫn cảm nhận được hơi thở nhẹ nhàng, giọng nói ấm áp, bước đi chánh niệm của Ngài ở muôn nẻo đường đời. Đúng như Sư Ông từng căn dặn: “Thầy là một thực tại linh động, đang sống, đang có mặt ở khắp nơi. Ở chỗ nào mà có thiền hành, thiền tọa, có pháp đàm, có ăn cơm yên lặng, có sám pháp địa xúc là có Thầy”. Riêng nhà tôi, bức thư pháp Present moment, wonderful moment (Giây phút hiện tại, giây phút tuyệt vời) được treo ở phòng khách khiến chúng tôi cảm nhận rõ hơn sự hiện diện của Sư Ông cùng với bài kệ:

        Thở vào tâm tĩnh lặng

        Thở ra miệng mỉm cười

        An trú trong hiện tại

        Giây phút đẹp tuyệt vời!

Hà Nội, ngày 01.05.2022

Vũ Đức Tâm (Cựu Đại sứ Việt Nam tại UNESCO)

 

 



Lễ xuất gia Cây Bách Xù (Juniper) 17.10 và 19.10.2025

Gia đình cây Bách Xù gồm có 3 sư cô người Việt xuất gia tại chùa Từ Đức vào ngày 17.10.2025 và 3 sư chú người Mỹ xuất gia tại tu viện Lộc Uyển vào ngày 19.10.2025.

Hình ảnh lễ xuất gia tại chùa Từ Đức

 

Hình ảnh lễ xuất gia tại Tu viện Lộc Uyển