Nương tựa Tam bảo – Tùy thuận trí

 

Đây là bài pháp thoại ngày 10.01.2013 tại thiền đường Hội Ngàn Sao, chùa Cam Lộ, xóm Hạ, Làng Mai
trong khóa An C
ư Kết Đông 2012-2013.



Quay về nương tựa nơi Tam Bảo

Trong đạo Bụt, đối tượng của sự quy y là Bụt, Pháp và Tăng. Chúng ta thường nghĩ là mình đã hiểu nhưng thật ra có lẽ ta chưa hiểu rõ thế nào là quy y Tam Bảo. Nếu thực sự quy y Tam Bảo thì ta sẽ có hạnh phúc ngay lập tức, ta không còn do dự hay nghi ngờ nữa và ta có rất nhiều năng lượng. Chúng ta phải hiểu rõ thế nào là Bụt, Pháp, Tăng thì ta mới có chỗ nương tựa đàng hoàng.

Sáng nay đại chúng đã tụng bài “Chắp tay búp sen“. Đây là một bài nương tựa Tam Bảo dành cho trẻ em. Tôi đã phải để cả năm mới viết xong bài này, tại vì viết một bài tụng cho trẻ em rất là khó, ngôn ngữ dùng phải đơn giản để các em có thể hiểu được. Khi làm xong tôi rất mừng. Trong bài có định nghĩa thế nào là Bụt, Pháp và Tăng.

Nếu so sánh với Tam Bảo của Phật giáo thì ta thấy Chúa Ba Ngôi của Thiên Chúa giáo khó hiểu hơn, trừu tượng hơn. Bụt, Pháp và Tăng là những cái gì rất cụ thể. Trong bài tụng viết cho thiếu nhi, Bụt được định nghĩa là một vị thầy chuyên dạy hai thứ là Hiểu và Thương. Chúng ta tự hỏi mình đã biết thương, biết hiểu chưa? Nếu biết hiểu và biết thương thì ta là một người có hạnh phúc. Nếu ta không có hạnh phúc, ta không thấy thoải mái trong đời sống hằng ngày là tại vì ta chưa biết hiểu, ta chưa biết thương. Bụt trước hết là một vị thầy dạy hiểu và thương và vị thầy này có rất nhiều phụ tá. Hiểu được cũng khó mà thương được cũng khó.

 

Hiểu và thương được mình trước khi hiểu và thương được người khác

Trước hết, ta phải hiểu được mình là ai. Ta phải hiểu được những yếu kém, những khổ đau, những bế tắc của mình. Ta cũng phải hiểu được luôn những yếu tố tích cực mà ta chưa bao giờ thấy trong ta. Muốn hiểu được, ta cần phải có rất nhiều công phu. Ta tưởng ta hiểu được mình rồi nhưng thực ra ta chưa hiểu được mình nhiều, hơn nữa đôi khi ta còn hiểu lầm. Ta chưa biết mình là ai. Ta chưa hiểu được nỗi khổ niềm đau, ta chưa thấy được giá trị của mình. Những điều Bụt dạy giúp cho ta hiểu được chính mình. Hiểu được thì ta sẽ chấp nhận được mình. Trong chúng ta có những người không chấp nhận được cha mẹ, dòng họ và không chấp nhận được chính bản thân mình tại vì họ không có khả năng hiểu.

Bụt dạy những phương pháp quán chiếu để chúng ta có thể hiểu được chính mình, để chúng ta có thể chấp nhận và thương được chính bản thân mình. Hiểu được mình, chấp nhận và thương được mình thì mới có thể nghĩ tới chuyện hiểu người khác, chấp nhận và thương người khác. Nếu không thì càng thương ta càng làm cho người kia khổ. Đáng lý ra thì tình thương phải mang lại hạnh phúc, nhưng trong phần lớn các trường hợp thì càng thương ta lại càng làm cho người kia khổ và ta cũng khổ theo. Đó không phải là tình thương. Vì vậy ta cần một vị thầy dạy ta thương. Bụt là một vị thầy rất thực tế. Ngài dạy trước tiên ta phải hiểu, chấp nhận và thương được mình. Sau đó ta mới có thể hiểu, chấp nhận và thương được người khác.

Là một người xuất gia, ta có chí hướng muốn giúp đời. Nhưng nếu trong tâm ta còn nhiều khổ đau, bức xúc, bất mãn, cô đơn thì ta sẽ không có hạnh phúc. Ta không hiểu được mình, ta không chuyển hóa, không thương được ta thì làm sao sau này ta có thể giúp được cho người khác? Vì vậy trong những ngày tháng tu tập, ta phải làm thế nào để hiểu, chấp nhận và thương được chính mình.

Chúng ta thường than rằng: “Không ai hiểu tôi, không ai thương tôi!“ Trong khi đó thì ta không hiểu ta và ta cũng không thương được ta. Ta không hiểu, ta không thương được ta thì làm sao ta làm cho người khác hạnh phúc? Người xuất gia cũng như người tại gia, nếu ta không có hạnh phúc thì ta cũng không có khả năng giúp được cho ai.

 

Phật thân

Bụt nói Ngài không phải là một vị thần linh. Bụt trước tiên là một con người như tất cả chúng ta. Siddharta đã từng là một con người như chúng ta và cũng đã từng khổ đau. Có những điều kiện vật chất đầy đủ và những quyền hành, danh vọng trong hoàng gia nhưng Siddharta không cảm thấy hạnh phúc. Siddharta đã bỏ hoàng cung để đi tìm hạnh phúc và đã khám phá ra rằng hạnh phúc thật sự đó từ hiểu và thương mà có, hiểu và thương được mình để có thể hiểu và thương người khác. Điều này cha của Ngài và các vị quan triều đình, các nhà chính trị đã không làm được, vì vậy Ngài không muốn đi theo con đường của họ. Ngài muốn tìm một con đường khác, đó là tâm chí của Siddharta.

Chúng ta đi xuất gia hay đi tu tập là để tìm một con đường khác, một con đường có thể đem lại hạnh phúc. Đó là con đường của hiểu và thương, mà Bụt là một vị thầy dạy cho ta hiểu và thương. Chúng ta tới với Bụt không phải là vì Bụt có quyền phép có thể ban những phép lạ làm cho ta hết đau khổ. Đó là mê tín, không phải là đạo Bụt. Bụt là một vị thầy chỉ cho chúng ta phương pháp tu tập để giúp cho ta có thể hiểu và thương. Bụt không phải là một vị thần linh. Chúng ta phải tự cứu lấy mình, Bụt chỉ giúp chúng ta mà thôi. Trong kinh có nói: “Bờ bên kia là bờ của hạnh phúc, tự do. Đứng bên này ta không thể cầu nguyện để bờ bên kia chạy sang bên này cho ta bước lên. Ta không thể gọi Bờ bên kia ơi, hãy sang bên này cho ta bước lên, mà ta phải làm bè, làm thuyền, rồi dùng bè hay thuyền đó để chèo sang bờ bên kia“. Đó là phương pháp của Bụt. Vì vậy cầu nguyện không phải là phương pháp hay nhất trong đạo Bụt.

 

Pháp thân

Trong đạo Bụt, phương pháp hay nhất là hành trì để có thể hiểu và thương. Có những phương pháp rất hay mà nếu hành trì theo đúng thì chúng ta có thể bỏ bờ bên này và sang bờ bên kia rất nhanh. Muốn bay từ đây sang Mỹ chúng ta phải mất ít nhất là bảy giờ đồng hồ. Nhưng ta đang giận mà ta biết điều phục cơn giận thì chỉ trong vài phút là ta có thể vượt thoát sang bờ bên bên kia tức là bờ của sự không giận dữ. Khi đang bị trấn ngự bởi sự giận dữ là ta ở bờ bên này, dập tắt được ngọn lửa giận dữ thì ta qua bờ bên kia ngay. Paramita có nghĩa là bờ bên kia. Đó không phải do sự cầu nguyện mà là do sự thực tập mà có.

Hơn nữa Bụt không phải là một vị thầy bên ngoài mà còn là vị thầy bên trong, tại vì mỗi chúng ta đều có tính Bụt trong lòng. Chúng ta có khả năng hiểu và thương, đó là Bụt bên trong. Nếu ta không có hạt giống của hiểu và thương thì làm sao mà có hy vọng. Nhưng vì chúng ta đều có hạt giống của hiểu và thương nằm trong chiều sâu tâm thức cho nên chúng ta mới có hy vọng. Đó gọi là Phật tánh. Chúng sanh, ai cũng có Phật tánh cho nên vị thầy mà ta quy y đó nằm ngay trong tâm thức của ta. Chúng ta phải có niềm tin là mình làm được, nếu Siddharta đã làm được thì chúng ta cũng làm được. Như vậy mới thật sự là quy y.

Quy y không phải là nương tựa vào một thế lực bên ngoài mà trước hết là nương tựa vào thế lực bên trong. Ta phải tin rằng mình có thể làm được chuyện đó, nếu không tin thì ta sẽ không có tương lai. Đó là chuyện chuyển hóa  khổ đau, có hạnh phúc, có khả năng hiểu, thương và làm hạnh phúc cho người. Có niềm tin thì ta có hạnh phúc ngay. Khi tin vào Phật tánh, tin vào vị thầy đang dạy cho ta hiểu và thương thì ta cũng tin vào Pháp. Pháp là phương pháp hành trì, nhờ phương pháp đó mà ta có thể vượt sang bờ bên kia. Bụt là gì? Bụt là người có Pháp, ta có thể học được Pháp của Bụt. Mỗi người trong chúng ta phải có công phu thực tập và phải biết cách thực tập. Ví dụ như học làm đậu hủ vài ngày thì ta biết cách làm đậu hủ, mỗi khi có đủ điều kiện thì ta có thể làm được đậu hủ. Nếu biết phương pháp thì ta có thể chuyển hóa được nỗi buồn, cơn giận và chế tác được niềm vui, hạnh phúc. Không có Pháp ta sẽ không làm được, vì vậy ta phải quy y Pháp.

Pháp không phải là một cái gì ở bên ngoài cũng như biết làm đậu hủ không phải là cái gì ở bên ngoài. Pháp là phương pháp đưa ta từ bến mê mờ sang bờ giải thoát, từ bến khổ đau sang bờ an lạc. Nếu không có Pháp thì người kia không phải là Bụt và ta cũng không có tánh Bụt trong lòng.

Mỗi người có hình hài bằng xương thịt của mình gọi là nhục thân. Nhưng nếu có thực tập thì chúng ta cũng có Phật thân (Buddha body), tại vì chúng ta tin rằng mình có hạt giống của hiểu và thương. Mỗi người đều có Phật thân. Nếu học được phương pháp tu tập, biết thở, biết cười, biết đi, biết lắng nghe, biết hiểu, biết chuyển hóa thì ta có Pháp thân. Có Pháp thân rồi thì ta không còn lo sợ nữa, đi đâu ta mang Pháp thân đi theo, có khó khăn thì ta mang Pháp thân ra để giải quyết. Pháp thân là vật tùy thân của ta.

 

Tăng thân

Thân thứ ba là Tăng thân. Tăng thân rất quan trọng. Sau khi Siddharta thành đạo, mục đích đầu tiên của Ngài là xây dựng một Tăng thân. Siddharta biết rằng nếu không có một Tăng thân thì cho dù là một vị Bụt cũng không làm nên được sự nghiệp gì. Chính Bụt cũng nương tựa Tăng thân. Nếu không có thầy Sariputra, thầy Mahamogalla, thầy Katyayana, v.v… thì Bụt cũng không làm nên được sự nghiệp giúp đời như ta đã thấy. Vì vậy Tăng thân rất quan trọng.

Tăng thân là đoàn thể của những người thực tập theo Bụt, gồm những người có khả năng chế tác được niệm, định và tuệ, những người biết chuyển hóa khổ đau và chế tác được an lạc. Cố nhiên là có những người giỏi hơn những người khác. Dù Tăng thân chưa được toàn hảo nhưng ta thấy trong Tăng thân có năng lượng của niệm, định và tuệ, có khả năng chế tác niềm vui và chuyển hóa khổ đau. Vì vậy ta phải nương tựa vào Tăng thân. Là người xuất gia hay người tại gia, ta sẽ không làm nên việc gì nếu ta không có niềm tin nơi Tăng thân và không nương tựa vào Tăng thân. Chính Đức Thế Tôn cũng phải nương tựa vào Tăng thân. Nếu không có những người như thầy Xá Lợi Phất thì Bụt đã không thực hiện được sự nghiệp độ sinh kéo dài đã mấy ngàn năm.

Tăng thân là gì? Tăng thân là chỗ cho ta nương tựa, vì vậy ta phải đi với Tăng thân như một dòng sông. Có người hỏi Đức Thế Tôn:

    Làm sao để giọt nước này đừng bốc hơi?

      Đức Thế Tôn nói:

        Cho nó xuống dòng sông.

          Nếu ở một mình thì thế nào giọt nước cũng bốc hơi. Nhưng khi nó đồng nhất mình với dòng sông thì nó có thể đi ra biển. Chúng ta cũng vậy, người xuất gia hay tại gia mà có chí nguyện giúp đời thì ta phải biết nương tựa Tăng thân. Ta phải để cho Tăng thân giúp ta, hướng dẫn ta, giáo dưỡng ta, chỉ đường cho ta đi. Nếu ta không có niềm tin nơi Tăng thân, không nương tựa Tăng thân thì chắc chắn là ta không có tương lai.

          Thân là một cơ thể được làm bằng những tế bào. Trong thân ta có hàng tỷ tế bào, nhưng không có tế bào nào đơn độc cả. Những tế bào đều làm việc chung, mỗi tế bào đều đi theo hòa điệu với các tế bào khác. Nếu một tế bào sống riêng lẻ không nương tựa vào những tế bào khác thì tế bào đó sẽ chết. Là người xuất gia hay người tại gia, ta phải nương tựa vào Tăng thân để được hướng dẫn và bảo hộ. Đó gọi là nương tựa Tăng thân.

          Nhìn vào trong cơ thể của mình, ta thấy hàng tỷ tế bào nhưng không có tế bào nào muốn làm chủ cả. Các tế bào sống bên cạnh nhau và mỗi tế bào có những phương tiện để truyền thông với những tế bào khác. Điển hình nhất là các tế bào thần kinh não bộ, mỗi tế bào đều dính với hàng trăm, hàng ngàn tế bào khác, và các tế bào óc liên lạc với nhau thường xuyên. Nhờ liên lạc với nhau thường xuyên như vậy nên các tế bào óc mới chế tác được những ý niệm, những tư tưởng, những quyết định mà không cần có một chỉ huy trưởng để điều động.

          Tăng thân cũng vậy. Tăng thân là một cơ thể, trong đó mỗi người chúng ta là một tế bào. Chúng ta phải có sự truyền thông thường xuyên với các tế bào khác trong Tăng thân. Như vậy chúng ta mới có sự hòa điệu, chúng ta giúp nhau, nâng đỡ nhau. Nếu có những tế bào hơi yếu thì nhờ sống chung với những tế bào khác mà chúng được nuôi dưỡng và mạnh lên. Mỗi tế bào đều phải thải ra những chất dư thừa và tiếp thu những chất dinh dưỡng. Các tế bào liên hệ với nhau để làm công việc đó, để tế bào nào cũng có thể tiếp nhận chất dinh dưỡng và thải ra cặn bã.

          Nhìn vào cơ thể con người, chúng ta biết cách vận hành của các tế bào thì nhìn vào Tăng thân chúng ta cũng thấy rõ ràng như vậy. Nếu Tăng thân không hành xử như một cơ thể con người thì Tăng thân sẽ không khỏe mạnh, không hạnh phúc và không làm được sứ mạng của mình. Tăng thân Làng Mai đã từng tổ chức các khóa tu khắp nơi trên thế giới. Trong mỗi khóa tu có rất nhiều người được chuyển hóa, tìm lại được hạnh phúc. Nhưng sau rời khóa tu trở về trú xứ của mình, nếu không có Tăng thân hay một đoàn thể tu học địa phương để nương tựa thì ta có thể đánh mất sự thực tập của mình và rơi trở lại trạng thái cũ. Vì vậy vào ngày cuối của khóa tu, chúng ta thường tổ chức những buổi hội thảo để trở về thiết lập một Tăng thân nho nhỏ tại địa phương của mình để chúng ta có thể giúp nhau duy trì sự thực tập, nuôi lớn Tam Bảo trong đời sống hằng ngày của mình. Vì vậy không những người xuất gia nương vào Tăng thân mà người tại gia cũng cần phải nương vào Tăng thân.

          Xây dựng Tăng thân là một việc rất quan trọng. Siddharta là một người rất giỏi trong việc xây dựng Tăng thân. Ngay trong năm đầu hành đạo mà Tăng thân xuất gia của Ngài đã lên tới 1000 người. Ngày mà ta quỳ xuống tiếp nhận giới luật là ta phát lời nguyện nương tựa vào Tăng để ta có thể tiếp nối được sự nghiệp của Bụt sau này. Lời nguyện đó chúng ta phải nhớ. Ta phải để Tăng thân dìu dắt, nâng đỡ, giáo dưỡng mình. Ta phải mở lòng ra nói cho các anh, các chị biết những khó khăn, bế tắc của mình để cầu sự giúp đỡ. Nếu hành xử được như vậy thì tự nhiên sẽ có sự chuyển hóa và ta bắt đầu có hạnh phúc. Có hạnh phúc thì sự thực tập sẽ rất nhanh, nếu không thì ta giữ sự bế tắc năm này sang năm khác và ta sẽ không thực hiện được chí nguyện đã có từ khi ta phát nguyện.

          Trong 30 năm qua, Làng Mai đã gieo trồng hạt giống của chánh pháp khắp nơi. Hiện nay đã có rất nhiều Tăng thân được thành lập tại các nước. Ở Đức đã có gần 70 Tăng thân, bên Anh còn nhiều hơn nữa. Ở Mỹ đã có ít nhất là 500 Tăng thân. Chúng ta thấy rất rõ là nếu không có Tăng thân thì ta sẽ không duy trì được sự thực tập của mình để đi trên con đường chuyển hóa và trị liệu. Vì vậy công việc dựng Tăng rất là quan trọng. Sau khi tới Làng Mai hay tới một khóa tu để thực tập thì ta được chuyển hóa. Nhưng nếu khi về nhà, ta không tiếp tục thực tập thì ta sẽ đánh mất sự chuyển hóa đó. Muốn tiếp tục thực tập thì cách hay nhất là ta nhìn chung quanh, tìm những yếu tố để thiết lập một Tăng thân địa phương. Đó là sự thực tập xây dựng Tăng thân.

          Ngày xưa Đức Thế Tôn đã làm công việc đó và các thế hệ tiếp theo cũng đã làm công việc đó. Có được một Tăng thân thật sự tu học là ta có được một viên ngọc quý. Tăng thân không chỉ đơn thuần là một đoàn thể, vì có thể có một đoàn thể mà trong đó người ta không có khả năng chế tác hỷ và lạc, người ta không có khả năng hòa giải, chế tác tình huynh đệ và chuyển hóa khổ đau. Như vậy thì dù cho tổ chức đó được gọi là tổ chức Phật giáo thì đó cũng không phải là Tăng. Tăng là một đoàn thể mà trong đó phải có sự hòa hợp và tình huynh đệ. Tăng là một đoàn thể gồm những người có khả năng chế tác hỷ, lạc và tình huynh đệ, những người có khả năng chuyển hóa những khổ đau, giải quyết những khó khăn và những khúc mắc xảy ra trong đời sống hằng ngày. Một đoàn thể có khả năng chế tác được niệm, định, tuệ, hỷ và lạc được gọi là chân Tăng (true Sangha).

          Là một chân Tăng thì đã có Bụt và Pháp ở trong đó. Ta tìm Bụt và Pháp ngay ở trong Tăng. Vì vậy cho nên xây dựng Tăng cũng là xây dựng Bụt và xây dựng Pháp. Trong chân Tăng có chân Pháp và chân Phật.

          Trong Tăng thân của ta thế nào cũng có những anh, chị hay những em có niềm tin nơi Tam Bảo, có hạnh phúc, có từ bi, có khả năng chế tác hỷ, lạc. Trong những người đó, chúng ta thấy có chất Bụt và chất Pháp. Ta cần những người như vậy. Trong Tăng thân mà có những người đó thì rất là quý. Khi một người có đạo đức, từ bi, có tuệ giác và tình huynh đệ tới thăm Tăng thân thì ta có khuynh hướng muốn mời người đó ở lại với mình tại vì người đó ở trong Tăng thân thì làm giàu cho Tăng thân mình, làm cho Tăng thân mình càng ngày càng có phẩm chất. Tăng thân có phẩm chất thì khả năng độ đời, giúp người sẽ lớn hơn.

           

          Tùy thuận trí

          Trong kinh Như Thị Ngữ, Bụt có nói về Niết bàn. Câu này cũng có trong học phẩm Nê Hoàn của kinh Pháp Cú chữ Hán:

          Này các vị Tỳ Kheo, ở đời có cái sinh, cái hữu, các tác và cái hành. Nhưng cũng có cái không sinh, không hữu, không tác, không hành. Tại vì nếu không có cái không sinh, không hữu, không tác, không hành thì cái có sinh, có hữu, có tác, có hành sẽ không có nẻo thoát.

          Câu này rất nổi tiếng và trong suốt khóa tu mùa Đông này chúng ta sẽ học câu đó. Trên bình diện tích môn hay sự thật ước lệ thì có sinh, có hữu, có tác và có hành. Hễ có sinh thì có diệt, có hữu thì có vô, có tác thì có tác giả và thọ giả, có hành thì có hữu vi và vô vi. Nhưng nhìn kỹ vào những gì có sinh, có diệt, có có, có không, có tác giả, có thọ giả, có hữu vi, có vô vi thì ta khám phá ra một cái gọi là không sinh, không diệt, không tác, không hành. Quán sát trên bề mặt ta thấy dường như là có sinh, có diệt, có có, có không, có tác giả, có thọ giả, có hữu vi, có vô vi. Nhưng nhìn cho sâu thì ta thấy bản chất của sự vật là không sinh, không diệt, không có, không không, không tác giả, không thọ giả, không hữu vi, không vô vi.

          Làng Mai hay dùng ví dụ của đám mây. Nhìn bề ngoài ta thấy đám mây có sinh, có diệt, có có, có không. Nhưng nhìn cho kỹ thì ta thấy đám mây không sinh, không diệt, không có, không không. Tại vì sinh là từ không mà trở thành có mà đám mây không từ không trở thành có, và diệt là từ có mà trở thành không mà đám mây cũng không thể nào từ có trở thành không. Đám mây chỉ trở thành sương, thành tuyết, thành mưa mà thôi. Bản chất của đám mây là không sinh, không diệt, không có, không không. Con đường quán chiếu giúp ta nhìn sâu vào tích môn để thấy được bản môn gọi là tùy thuận trí (anulomatajñāna).

          Ta sử dụng tùy thuận trí, nhìn vào những sự vật có sinh, có diệt, có có, có không để tìm ra được thực tại không có, không không, không sinh, không diệt. Giáo lý trung đạo giúp chúng ta vượt thoát khỏi những cặp đối lập như có và không, sinh và diệt, dơ và sạch, chủ thể và đối tượng, một và nhiều. Giáo lý duyên khởi và trung đạo giúp ta đi từ thế giới của tích môn vào thế giới của bản môn, từ sự thật ước lệ tới sự thật tuyệt đối.

            Đối với cặp đối lập sinh-diệt thì tùy thuận trí sử dụng ý niệm tương sinh (inter-arising) hay câu sinh (co-arising), tiếng Phạn là sahajāta, saha là cùng, jāta là sinh. Các pháp không tự mình sinh ra hay tự mình diệt đi được. Ta không thể tự mình sinh ra mà phải dựa vào những cái khác để được biểu hiện. Ý niệm tương sinh hay câu sinh giúp chúng ta thoát ra khỏi ý niệm sinh. Một pháp không thể tự mình sinh ra hay sinh ra cái khác, vì vậy ý niệm sinh không phù hợp với thực tế. Thoát ra được ý niệm sinh thì đồng thời ta cũng thoát ra được ý niệm diệt. Đó là tùy thuận trí: nhờ ý niệm tương sinh mà ta vượt thoát được ý niệm sinh và diệt.

              Đối với cặp hữu-vô thì tùy thuận trí sử dụng ý niệm tương tức (inter-being), tương hữu hay câu hữu . Tương tức, tiếng Phạn là sahabhūta. Ta không thể nào tự mình có mặt hay làm cho một cái khác có mặt, ta phải cùng nhau có mặt. Chúng ta dùng ý niệm tương tức để thoát ra khỏi ý niệm có, dùng ý niệm câu hữu thay thế cho ý niệm hữu. Thoát được ý niệm có thì đồng thời cũng thoát được ý niệm không. Nhờ ý niệm tương tức mà ta thoát ra khỏi ý niệm có và không.

                Đó là nhờ tài năng của tùy thuận trí. Ta vẫn sử dụng danh từ và ý niệm, nhưng sử dụng rất khéo theo trí tùy thuận để từ từ thoát ra khỏi danh từ và ý niệm. Ta dùng những ý niệm mới là tương sinh và tương tức để thoát ra khỏi những ý niệm cũ là sinh-diệt và có-không. Và khi thoát ra được rồi thì chúng ta phải bỏ những ý niệm đó đi. Cũng như ta dùng thuổng để đào giếng, đào giếng xong rồi thì ta phải cất thuổng đi, không cần phải mang nó theo suốt đời. Tương sinh và tương tức giúp ta vượt thoát sinh-diệt và hữu-vô.

                  Vô tác là vô ngã. Vào thời của Đức Thế Tôn thì những người theo Bà la môn giáo có niềm tin vào một thần ngã, vào một linh hồn bất diệt. Linh hồn bất diệt đó đi luân hồi, tạo nghiệp và thọ báo. Đó là tín ngưỡng về luân hồi, nghiệp và báo của Bà la môn giáo. Nhưng đạo Bụt không công nhận có một linh hồn bất diệt. Có một tâm thức nhưng đó không phải là linh hồn bất diệt. Tâm thức đó rất vô thường, nó là một dòng chảy luôn luôn biến chuyển. Chúng ta có ảo tưởng là nó thường tại, nhưng thật ra nó biến chuyển trong từng giây phút. Cũng giống như trong ban đêm có một người cầm cây đuốc quơ thành vòng tròn. Đứng xa nhìn chúng ta thấy có một vòng lửa nhưng thật ra đó chỉ là những đóm lửa nối tiếp nhau rất nhanh cho ta ảo giác có một vòng lửa. Tâm thức của ta cũng vậy, tâm thức được làm bằng những giây phút của cảm thọ, của tâm hành, của tri giác và nó sinh diệt không ngừng làm cho ta có cảm tưởng là có một dòng liên tục. Nhìn sông Marne ta tưởng sông Marne luôn luôn là sông Marne. Nhưng thật ra trong mỗi giây phút sông Marne đều đã đổi khác, ta nhìn lên rồi nhìn xuống thì nước sông đã biến đổi khác rồi. Đó là ảo tưởng của ta về sự tồn tại liên tục. Trong khi đó thì Bà la môn giáo cho rằng có một linh hồn trường cửu, bất diệt. Đạo Bụt nói có một cái, nhưng cái đó không phải là linh hồn trường cửu bất biệt. Đó là tâm thức biến chuyển dưới hình thức này rồi dưới hình thức khác.

                  Ví dụ như vào năm 2010 có một người tạo nghiệp, ta gọi đó là tác giả (kẻ làm). Và tới năm 2013 thì quả chín. Vậy người tạo nghiệp đó có trước năm 2010 rồi đi qua năm 2011 và năm  2012, khi tới năm 2013 thì người đó gánh chịu kết quả và ta gọi là thọ giả (người chịu). Vậy người đó là một cái gì bất biến. Người ta đặt câu hỏi: “Vậy thì tác giả và thọ giả là một người hay là hai người?“ Theo lý vô thường thì dòng sông của giây phút này không còn là dòng sông của giây phút trước nữa. Cho rằng nó là cùng một dòng sông là sai, là một ảo tưởng. Mười năm sau trở về lại, ta thấy rằng “dòng sông Marne vẫn còn đây“ là không đúng. Nước sông hoàn toàn mới, tất cả những sinh vật sống trong đó đều thay đổi. Như vậy người tạo nghiệp năm 2012 và người thọ báo năm 2013 không phải là một người. Ta với em bé 5 tuồi trong album gia đình không phải là một người mà cũng không phải là hai người. Vì vậy người ta không thể trả lời được câu hỏi “tác giả và thọ giả là một hay là hai?“, tại vì cho là một thì sai mà cho là hai cũng không đúng. Câu trả lởi của Bụt là trung đạo, không phải một cũng không phải hai.

                  Tùy thuận trí đề nghị một ý niệm mới gọi là tương tác (inter-acting), tiếng Phạn là sahakrta, để giúp ta vượt khỏi ý niệm tác giả và thọ giả. Tác giả và thọ giả nương vào nhau mà có. Cũng như cha và con, ta nghĩ rằng có cha trước rồi mới có con sau. Nhưng trước khi con xuất hiện thì ta không thể gọi người đó là cha, cha và con được biểu hiện cùng một lần. Không có tác giả thì không có thọ giả, và không có thọ giả thì không có tác giả. Tác giả và thọ giả là những giả danh (conventional designation), không có thực thể, luôn luôn biến chuyển. Tác giả và thọ giả đều không có một bản chất trường cửu. Ý niệm tương tác giúp ta thoát khỏi ý niệm tác giả và thọ giả là hai thực thể riêng biệt.

                    Hành là samskrta (formation), là các pháp, là sự vật. Chúng ta thường nói “cái này sinh ra cái kia“. Nhưng thật ra cái này sinh ra cái kia và cái kia cũng sinh ra cái này. Cũng như trong trường hợp cha và con. Cha sinh ra con và con cũng sinh ra cha tại vì nếu không có con thì người kia cũng không được gọi là cha. Nếu trái sinh ra phải thì phải cũng sinh ra trái, phải và trái đồng thời có mặt. Các hành đều như vậy, đều do sự tập hợp của những điều kiện bên ngoài mà có. Ví dụ như bông hoa là một hành. Sở dĩ bông hoa biểu hiện ra được là nhờ có những yếu tố khắp nơi trên thế giới quy tụ về. Những yếu tố không phải hoa đó (conditioning, tiếng Phạn là samskāra), tới giúp làm ra bông hoa (conditioned, tiếng Phạn là samskrta). Bông hoa được điều kiện hóa, nếu có đủ điều kiện thì hoa biểu hiện. Một bên là nhân, một bên là quả và hai bên làm nhân quả cho nhau. Cũng như bên trái và bên phải, bên phải dựa vào bên trái mà biểu hiện và bên trái dựa vào bên phải để biểu hiện, hai bên nương vào nhau gọi là tương hành (inter-conditioning).

                      Tất cả các hành nương vào nhau để biểu hiện. Cái này sinh ra cái kia và cái kia sinh trở lại ra cái này. Một hình ảnh rất đẹp trong kinh mà Bụt dùng làm ví dụ là hình ảnh của một bó lau: Ba hay bốn cây lau dựa vào nhau thì mới đứng vững. Các hành cũng vậy, không có cái này thì không có cái kia, không có cái kia thì không có cái này. Ba cây lau đứng vững được là vì chúng có nhau.

                      Thấy như vậy tôi rất vui nên tôi viết câu thư pháp: Tu es donc je suis. (Tại vì em có đó cho nên tôi có đây). You are therefore I am. Đó là tương hành. Câu này trả lời câu của Descartes: Je pense dons je suis (Tôi tư duy tức là tôi đang có). Nói như Descartes là không thực tế, tại vì tôi có là vì những điều kiện không phải tôi đang có đó. Nhìn mặt trăng, ngôi sao, mặt trời hay sương ta thấy tất cả đều là “tu“. Vì có sương, có sao, có mặt trăng hay mặt trời đó cho nên mới có tôi đây. Nếu không có chúng nó thì làm sao tôi có được?

                      Bốn ý niệm mới tương sinh, tương tức, tương tác, tương hành giúp chúng ta vượt thoát bốn cặp đối nghịch cũ là sinh và diệt, hữu và vô, tác giả và thọ giả, hữu vi và vô vi. Đó là tài năng của tùy thuận trí căn cứ trên duyên khởi và trung đạo để giúp cho ta từ tích môn đi sâu vào bản môn, từ sự thật ước lệ đi tới sự thật tuyệt đối. Nhà triết học Hòa Lan Spinoza nói rằng Thượng đế chính là thiên nhiên. Chúng ta thử tìm sự liên hệ giữa tạo hóa (créateur) và tạo vật (créature). Trong ánh sáng của tương hành, nếu tạo hóa tạo ra tạo vật thì tạo vật cũng tạo ra tạo hóa. Tạo hóa và tạo vật không phải là hai thực thể riêng biệt. Không thể lấy tạo hóa ra khỏi tạo vật và cũng không thể lấy tạo vật ra khỏi tạo hóa.

                      Spinoza chủ trương Thượng đế (deus) là thiên nhiên (natura). Natura có hai phần: natura naturans và natura naturata

                      Phần natura naturans chúng ta không thấy được, còn phần natura naturata chúng ta có thể thấy được. Trăng sao, trời đất, cây cỏ, mọi loài thuộc về phần natura naturata. Spinoza nói rõ ràng rằng: Natura naturata không thể nào tồn tại ngoài natura naturans, có nghĩa là nhìn vào natura naturata ta thấy natura naturans, không thể nào lấy natura naturans ra khỏi natura naturata hay lấy natura naturata ra khỏi natura naturans. Natura naturans đại diện cho tạo hóa (造 化) hay Thượng đế và natura naturata tượng trưng cho tạo vật ( 物). Ta thấy rõ tính tương sinh, tương tức, tương tác và tương hành giữa hai cái, ta không thể tách rời cái này ra khỏi cái kia. Tại vì cái này có cho nên cái kia có, tại vì cái kia có cho nên cái này có. Đó là tính bất nhị giữa natura naturans (tạo hoá) và natura naturata (tạo vật). Spinoza đã tới rất gần với đạo Phật.

                       

                      Tùy Thuận Duyên Khởi Tương Ưng Không

                      Từ trong kinh Tùy thuận Duyên Khởi Tương Ưng Không chúng ta có cụm từ tùy thuận duyên khởi tương ưng Không.

                      Trên bình diện tương đối thì có sinh, hữu, tác và hành. Ở bình diện tuyệt đối thì có vô sinh, vô hữu, vô tác, vô hành. Vô sinh là không sinh, không diệt. Vô hữu là không có, không không.

                      Vô tác là không có tác giả và thọ giả như những thực thể riêng biệt và thường tại. Tác giả và thọ giả không phải là một linh hồn bất tử mà là một dòng liên tục luôn luôn biến chuyển, vô thường và vô ngã. Ngã là một cái gì thường tại, bất diệt. Giáo lý vô tác dạy về vô ngã, không có ngã mà chỉ có một dòng liên tục.

                      Giáo lý vô hành nói về vô pháp. Tất cả những hiện tượng mà ta thấy, bề ngoài giống như có nhưng bên thì chúng trống rỗng, chúng là Không. Chúng không có cốt lõi, không có tính cách trường cửu, vĩnh viễn, bất diệt. Ví dụ như bông hoa, nhìn bề ngoài rất đẹp nhưng bên trong chỉ toàn là những cái không phải hoa tới làm thành hoa. Hoa không có cái ngã riêng biệt. Vô hành dạy về Không (Emptiness, śūnyatā). Không là một giáo lý thậm thâm vi diệu.

                      Nhưng mấy trăm năm sau khi Bụt nhập diệt người ta chỉ phát huy giáo lý vô ngã mà không phát huy giáo lý Không. Tông phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvāstivāda) là một bộ phái có nguồn gốc từ Thượng Tọa Bộ (Sthaviravāda). Thượng Tọa Bộ và Đại Chúng Bộ (Mahāsānghika) xuất hiện từ sự phân chia bộ phái 140 năm sau khi Bụt nhập Niết bàn. Đại Chúng Bộ đông hơn và trẻ hơn, Thượng Tọa Bộ ít hơn và già hơn. Thượng Tọa Bộ có vẻ thủ cựu (conservative) và hơi cứng nên Đại Chúng Bộ tách riêng ra và có những tư tưởng phóng khoáng, tiến bộ, muốn thích ứng với thời đại.

                      Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ phát triển giáo lý vô ngã, làm ra những bộ luận Abhidharma rất dày để phát triển giáo lý vô ngã như một chủ thuyết. Sau này Thượng Tọa Bộ phân ra làm hai là Phân Biệt Thuyết Bộ và Hữu Bộ. Khi vua A Dục lên ngôi và thống nhất nước Ấn Độ thì Hữu Bộ đã ra đời và chủ trương: Ngã không pháp hữu . Trong khi đó thì Bụt nói các pháp đều trống rỗng.

                      Phân Biệt Thuyết Bộ được cảm tình của vua A Dục nhiều hơn nên Hữu Bộ di cư lên miền Bắc ở vùng Kashmir hiện nay. Hữu Bộ lập một cơ sở rất lớn, tồn tại hơn 1000 năm, sáng tạo ra rất nhiều tác phẩm về A Tỳ Đạt Ma, trong đó có Tỳ Bà Sa Luận (Maha-vibhāsā-śāstra). Từ căn cứ này Phật giáo đã truyền sang các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều tiên, v.v…

                      Những chủ trương của Thượng Tọa Bộ hơi cứng và có tính cách giáo điều, ví dụ như khi nói về vô ngã thì nói: “Làm gì có người? Không có ta nên không có người (pudgala)”. Một thầy đang ngồi thì có một người đàn ông tới hỏi:

                        Dạ bạch thầy, thầy có thấy một người đàn bà đi ngang qua đây không?
                        Thầy nọ trả lời:
                        Tôi không thấy người đàn bà nào cả. Tôi chỉ thấy một mớ tập hợp của da, xương, thịt, móng tay, v.v…đi ngang qua đây thôi.

                          Trả lời như vậy thì có vẻ quá lý thuyết và giáo điều. Trong khi đó thì Bụt không giáo điều như vậy. Ngài dùng danh từ “tôi” và “thầy” rất rõ ràng: “Thầy A Nan, thầy có muốn đi lên đồi chơi với tôi không?” Trên bình diện chân lý tương đối, chúng ta thấy thánh và phàm khác nhau, Phật và chúng sinh khác nhau, thầy và trò khác nhau. Vì vậy sau đó có một bộ phái phản ứng lại, đó là bộ phái Pudgalavāda. Pudgalavāda chủ trương “có người” và trích ra những câu Bụt nói trong kinh. Trong kinh Anguttara Nikaya Bụt nói: “Này các vị Tỳ kheo, có một người mà sự xuất hiện trên đời này đem lại lợi lạc cho không biết bao nhiêu người khác. Người đó là ai? Người đó là một vị Bụt.” Những phái chủ trương “có người” có rất đông người theo như: Độc Tử Bộ (Vātsiputrῑya), Chánh Lượng Bộ xuất hiện từ Độc Tử Bộ (Sammitῑya).

                          Pudgalavāda chủ trương phải có người để tu học và chịu trách nhiệm về hành động của mình. Pudgalavāda nói rất mạnh: Cho rằng không có ngã, không có người là một tà kiến, không phù hợp với thực tế. Nhìn bên ngoài, ta thấy giống như họ đi ngược lại với giáo lý vô ngã, nhưng thực ra đó là một phản ứng đối lại với thái độ cứng ngắt của Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ. Những người theo phái Pudgalavāda khá đông. Lúc thầy Huyền Trang từ Trung Quốc sang Ấn Độ du học vào thế kỷ thứ 7 đã có 60 ngàn thầy theo phái Pudgalavāda.

                          Một bộ phái khác cũng chống lại thái độ giáo điều cứng ngắt của Thượng Tọa Bộ là Kinh Lượng Bộ (Sautrāntika). Kinh Lượng Bộ không tin vào những bộ Abbidharma dày cộm mà chỉ chuyên trích dẫn kinh Bụt. Kinh Lượng Bộ, Chánh Lượng Bộ và Độc Tử Bộ cùng chĩa mũi dùi vào Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ để chống lại thái độ cứng ngắt và bảo thủ của hai bộ phái này.

                          Vào khoảng 100 năm trước Thiên chúa giáng sinh phong trào Đại Thừa xuất hiện và sản xuất ra những kinh dạy về giáo lý Không tức giáo lý vô hành, tại vì Thượng Tọa Bộ và Hữu Bộ chỉ chú trọng vào giáo lý vô ngã mà không chú trọng tới giáo lý thậm thâm vi diệu của Không. Phong trào Đại Thừa chủ trương: Ngã không mà pháp cũng không. Đó là phát súng thần công của Đại Thừa. Tất cả các kinh Bát Nhã xuất hiện vào thời đó chỉ dạy về một cái, đó là Không (Emptiness). Đại Thừa có vẻ nhu nhuyễn, mềm dẻo hơn nên sau mấy trăm năm đã chiếm được đa số.

                          Thấy như vậy, chúng ta biết rằng đạo Bụt chưa chấm dứt mà vẫn còn đang tiếp tục phát triển. Cái thấy của chúng ta về lịch sử của đạo Bụt rất cần thiết để chúng ta biết mình cần phải làm gì và không nên làm gì trong thời đại hiện nay. Giáo lý về Không có thể là giáo lý tối hậu của Bụt. Ý niệm về Không diễn tả được chiều sâu của bản môn tức Niết bàn, tại vì bình diện của không sinh, không diệt, không có, không không, không tác, không hành được tóm tắt bằng chữ Không (true Emptiness, śūnyatā). Nhưng trong kinh cũng nói rất rõ Không không có nghĩa là không có gì hết, Không chỉ có nghĩa trống rỗng.

                          Tuệ giác của Bụt trong kinh Ca Chiên Diên là: Chánh kiến 正 là cái thấy vượt thoát hữu và vô. Nói vô ngã là cũng còn kẹt vào ý niệm , nói ngã không pháp hữu thì còn kẹt vào ý niệm không. Chữ Không giúp chúng ta thoát ra khỏi ý niệm có và không, tại vì ý niệm có và không không thể diễn tả được sự thật tuyệt đối. Các pháp không phải có cũng không phải không, các pháp là trung đạo. Chữ Không có nghĩa là không phải có cũng không phải không. Nhưng nếu ta hiểu chữ Không là abhāva thì rất kẹt. Có lẽ thầy Sariputra sợ người ta hiểu lầm chữ Không và cho rằng đạo Bụt chủ trương thuyết hư vô đoạn diệt nên thầy đã nhận mạnh về giáo lý vô ngã mà không chú trọng về giáo lý Không. Vì vậy phải đợi đến mấy trăm năm sau thì giáo lý Không mới được phát triển. Trong kinh có nói: Thà rằng bị kẹt vào ý niệm có còn hơn là bị kẹt vào ý niệm không. Giáo lý Không được đưa ra để giúp ta vượt thoát ý niệm có-không, nhưng nếu ta bị kẹt vào ý niệm không thì lúc đó ngay cả Bụt cũng không thể chữa được cho ta. Chữ Không là một phương tiện mà không phải là cứu cánh và không phải là một lý thuyết. Chúng ta học được một điều rất quan trọng: Dù là vô thường, vô ngã hay Không thì đó không phải là những chủ thuyết mà là những dụng cụ, là ngón tay để chỉ mặt trăng. Nếu kẹt vào ngón tay thì ta sẽ không thấy mặt trăng.

                          Bụt đã dùng hình ảnh của ngón tay: Giáo lý của ta là ngón tay. Dù là giáo lý vô thường, vô ngã, Tứ diệu đế hay Bát chánh đạo thì nó cũng chỉ là ngón tay mà thôi. Anh phải khôn khéo nhìn theo hướng của ngón tay để thấy mặt trăng, còn nếu đi tìm mặt trăng trong ngón tay thì anh sẽ thất bại.

                          Bụt cũng dùng một hình ảnh rất hay là hình ảnh của chiếc bè: Giáo lý của ta là chiếc bè giúp anh qua sông. Bờ bên kia không phải là chiếc bè. Qua được bờ bên kia rồi thì anh phải để chiếc bè xuống, đừng vác lên vai mà đi hoài.

                          Trong kinh Kim Cương có một câu rất rõ ràng: Pháp mà còn phải bỏ xuống huống hồ là không phải Pháp (Even the Dharma you have to put it down). Chúng ta phải hiểu tất cả giáo lý của đạo Bụt là những phương tiện, những dụng cụ ta sử dụng để đạt tới giải thoát. Giải thoát rồi thì ta phải bỏ nó đi. Vì vậy đạo Bụt có tinh thần phá chấp, hoàn toàn không giáo điều (dogmaticism) và không cuồng tín (fanaticism).

                          Kinh Người Áo Trắng – Chất liệu tâm linh – Năm giới

                           

                          1. Kinh Người Áo Trắng

                          Kinh Người Áo Trắng, nguyên là Ưu Bà Tắc kinh, upāsaka sutra, là kinh 128 Trung A Hàm, hay kinh A. III. 211 Tăng Chi Bộ của tạng Pali. Ưu bà tắc là cư sĩ nam, là người thân cận với người xuất gia. Người tại gia là người thân cận với người xuất gia, thân cận để học hỏi và thực tập nên gọi là cận sự: cận sự nam (upāsaka) và cận sự nữ (upāsikā). Người xuất gia cần người tại gia và người tại gia cần người xuất gia.

                          Đi xuất gia thì không được mặc áo trắng mà phải mặc áo màu gọi là hoại sắc.

                          2. Kinh Giáo Hóa Người Bệnh

                          Người bệnh là người đang hấp hối. Kinh Giáo Hóa Người Bệnh hay kinh Độ Người Hấp Hối là kinh 26 Trung A Hàm hay kinh M. 143 Trung Bộ của tạng Pali.

                          Kinh Người Áo Trắng

                          Điểm nổi bật trong kinh Người áo Trắng là Bụt dạy người cư sĩ chỉ cần thực tập hai pháp môn sau đây là có đủ hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Đó là:

                          1. Năm giới ()
                          2. Bốn tùy niệm tức bốn tâm cao đẹp (tăng thượng tâm )

                          Bụt nói rất rõ: Nếu người tại gia thực tập theo hai pháp môn trên thì có thể có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại mà không có khó khăn gì. Không có khó khăn có nghĩa là sự thực tập này rất dễ chịu, ta không cần phải lao nhọc, phải gồng lên để thực tập. Thực tập theo hai pháp môn trên thì:

                          – Ta có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại gọi là hiện pháp lạc trú .

                          – Ta chắc chắn không rơi trở lại vào những con đường khổ đau tức con đường địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và atula.

                          – Ta có thể đạt được quả vị nhập lưu (vào dòng) tức là gia nhập vào một dòng đi về tương lai, đi về hạnh phúc và giải thoát, cũng như ta muốn đi Paris và ta đã lên ngồi trong TGV (xe lửa) hướng về Paris thì chắc chắn là ta sẽ tới Paris. Vào dòng thì thế nào ta cũng được giải thoát hoàn toàn. Bụt nói ta chỉ sinh ra lại trong cõi hệ lụy bảy lần là tối đa. Nếu làm ăn khá thì ta sinh trở lại một hay hai lần hoặc ngay trong kiếp này ta cũng có thể được  giải thoát hoàn toàn.

                          Cụm từ “an trú hạnh phúc trong hiện tại một cách dễ dàng và không có khó khăn gì“ được lặp lại nhiều lần trong kinh.

                          Xá Lợi Phất, thầy nên ghi nhớ rằng một người đệ tử áo trắng, nếu thực tập được như thế là đã chấm dứt được sự sa đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh và các đường dữ khác; đã chứng được quả Tu Đà Hoàn (vào dòng), không còn thối đọa vào các ác pháp. Người ấy chắc chắn đang đi về nẻo chánh giác và chỉ cần qua lại tối đa bảy lần nữa trong các cõi trời và cõi người là có thể đạt đến biên giới của sự hoàn toàn giải thoát diệt khổ.

                          Kinh chỉ cho chúng ta rất nhiều điều:

                          Đức Thế Tôn dạy rằng chúng ta không thực tập để có hạnh phúc trong tương lai hay để có sự giải thoát và giác ngộ sau này mà thôi. Trước hết ta phải có hạnh phúc, giải thoát và giác ngộ ngay bây giờ. Trong đó có hàm ý: Không có con đường đưa tới hạnh phúc, hạnh phúc chính là con đường. Nếu ta thấy đau khổ trong khi tu là không đúng. Trong khi tu ta phải có hạnh phúc thì mới đúng. Nếu nghĩ rằng phải cực khổ bây giờ để trong tương lai có được hạnh phúc là ta không đi đúng con đường. Giáo lý “hiện pháp lạc trú“ (drstādharmasukhavihara) rất quan trọng trong đạo Bụt. Drstā là hiện pháp, sukhavihara là lạc trú hay lạc cư. Nhưng nhiều tông phái, nhiều chùa đã đánh mất giáo lý này. Ta tu như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại dù ta là cư sĩ. Ta không cần phải lao nhọc mà vẫn hạnh phúc trong giây phút hiện tại (không có khó khăn gì), ta phải tu cho khéo (Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm). Cũng với pháp môn đó, nếu khéo tu thì ta có hạnh phúc ngay lập tức, còn không khéo tu thì ta cứ vật lộn hoài mà vẫn không đưa tới kết quả.

                          Quá khứ không còn nữa, tương lai thì chưa tới, những gì chúng ta thấy trong hiện tại là hiện pháp. Hạnh phúc phải có trong hiện pháp. Ta phải có hạnh phúc trong khi tu và phải tu như thế nào để đừng mệt nhọc, mất sức, chịu đựng. Ta phải ngồi thiền như thế nào để có hạnh phúc, đi thiền như thế nào để có hạnh phúc, tụng kinh như thế nào để có hạnh phúc. Nếu ta cố gắng mệt nhọc, thân tâm rã rời là không đúng. Ta phải khéo tu.
                          Hiện tại bảo đảm cho tương lai. Ta không rơi trở lại con đường của hệ lụy, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
                          Ta được vào dòng giải thoát và thế nào ta cũng được giải thoát hoàn toàn.
                          Kinh này không chỉ trả lời cho những mối quan tâm thường nhật của con người, mà cũng trả lời cho mối quan tâm tối hậu của con người. Con người có những mối quan tâm của đời sống hằng ngày như làm sao để có sức khỏe, để được che chở, để được an cư lạc nghiệp, v.v…Nhưng người cư sĩ cũng có mối quan tâm tối hậu. Họ cũng muốn biết: Sau này mình sẽ đi về đâu? Họ rất bận, họ không có thì giờ nhưng lâu lâu họ cũng hỏi: “Không biết mình từ đâu tới và mình sẽ đi về đâu? Sau khi chết mình sẽ như thế nào?“ Đó là mối quan tâm tối hậu.

                          Giữa ba chất liệu tín mộ, chất liệu tâm linh và chất liệu chú thuật không có ranh giới rõ ràng

                          Tuy dạy cho cư sĩ nhưng Bụt cũng làm thỏa mãn hai loại quan tâm: làm sao để có hạnh phúc trong đời này và làm sao để thấy được tương lai, thấy được mình đang đi về đâu. Trong kinh có rất nhiều chất liệu tâm linh.

                          Chúng ta phải để ý một chi tiết là trong kinh Bụt gọi các cư sĩ là thánh đệ tử. Thánh đệ tử là đệ tử, tuy là cư sĩ nhưng có chất thánh (holy element) trong họ. Khi có năng lượng của niệm, định và tuệ thì ta có chất thánh trong con người của mình. Chất thánh đó bảo hộ ta, làm cho ta hạnh phúc và đưa ta đi tới. Chất thánh không từ ngoài đi vào mà là do tự ta chế tác ra bằng sự tu tập năm giới và bốn phép tùy niệm.

                          Đạo Bụt cung cấp cho người cư sĩ chất liệu tâm linh (the spiritual element) chứ không phải chỉ cung cấp sự tín mộ như nhiều người đã hiểu lầm. Tín mộ là chỉ tin tưởng vào những thế lực bên ngoài. Giữa chất liệu tâm linh và chất liệu tín mộ (the devotional element) không có một ranh giới rõ ràng, vì vậy có những phép thực tập mà bề ngoài thấy như tín mộ nhưng bên trong rất tâm linh vì trong đó có niệm, định và tuệ. Ví dụ như chúng ta lạy trước tượng Phật, bề ngoài trông giống như pháp môn tín mộ. Bụt là người, ta cũng là người, người này lạy người kia tại vì trong người kia có chất liệu thánh. Ta là người hoàn toàn không có khả năng và ta lạy cầu xin một vị Phật, vị bồ tát, vị thánh nhân cứu giúp mình. Lạy như vậy giống như một sự tín mộ.

                          Tuy nhiên, tùy theo cách lạy, trước khi lạy ta quán chiếu: Người lạy và người được lạy đều không có tính cách riêng biệt.

                          Lạy Đức Thế Tôn, Ngài là Bụt, con là chúng sanh nhưng con thấy Bụt được làm bằng những chất liệu không phải Bụt, trong đó có chúng sanh. Con tuy là chúng sanh nhưng con có chất Bụt trong lòng. Nhận thức như vậy, con thấy con có trong Bụt và Bụt có trong con.

                          Quán chiếu như vậy rồi lạy xuống thì không phải là sự tín mộ, cầu xin mà là sự thực tập. Lạy xuống trước tượng Phật, bề ngoài giống như một sự tín mộ nhưng bên trong là một hành động quán chiếu. Người ta thường hay lẫn lộn tín mộ và tâm linh.

                          Ngoài chất liệu tín mộ và chất liệu tâm linh còn có chất liệu chú thuật (the magical element). Người theo đạo Thiên chúa cũng tin tưởng vào những thế lực ma quái. Khi cảm thấy có thế lực ma quái thì người ta đưa cây thánh giá ra trước mặt và nghĩ rằng ma quái phải rút lui. Cây thánh giá tuy được làm bằng gỗ hay bằng sắt nhưng nó có thần lực. Đó là chất liệu chú thuật. Chúng ta cũng có câu thần chú để mỗi khi gặp ma ta đọc lên thì ma chạy. Đó cũng là chất liệu chú thuật.

                          Không có ranh giới rõ ràng giữa ba chất liệu tín mộ, tâm linh và chú thuật, ví dụ như Tâm Kinh Bát Nhã. Tâm Kinh là một kinh nói về tuệ giác cao nhất (the perfect understanding). Tâm Kinh Bát Nhã giúp ta quán chiếu thấy được tất cả đều không có tự tánh để ta vượt thoát những khổ đau, sợ hãi (độ nhất thiết khổ ách). Tâm Kinh Bát Nhã là một hình thái sinh hoạt tâm linh cao nhất (prajñā paramita). Nhưng có người tụng Tâm Kinh để có công đức, sáng trưa chiều đều tụng, tụng ba bốn chục năm mà vẫn không hiểu. Cũng như chú Chuẩn Đề và chú Đại Bi, người ta tụng năm này sang năm khác mà không hiểu gì cả. Người ta tin tưởng rằng tụng chú để đuổi tà ma. Cũng như những thầy tụng chú Lăng Nghiêm để nữ sắc đừng tới kéo mình, nhưng có thầy dù tụng năm này sang năm khác mà nữ sắc vẫn kéo đi như thường. Ta có câu thần chú, khi nằm mơ thấy ma ta đọc lên câu thần chú nhưng con ma nhe răng cười chẳng sợ gì cả. Tâm linh có thể trở thành tín mộ và tín mộ có thể trở thành chú thuật.

                          Có những thuyền nhân vượt biển chỉ đem theo một bản Tâm Kinh. Họ tin rằng bản Tâm Kinh có thể cứu họ khỏi những cơn sóng gió ngoài biển, tránh thoát loài thủy quái và những tên hải tặc. Tôi có những đệ tử đem theo cuốn “Nẻo về của ý“ khi vượt biển. Họ nghĩ cuốn sách đó rất linh thiêng, trong đó có nói về Tâm Kinh. Khi sử dụng văn bản Tâm Kinh để bảo hộ cho mình thì có thể ta có sử dụng một ít chất liệu tâm linh nhưng ta sử dụng chất liệu tín mộ nhiều hơn. Có thể ta tin rằng có Tâm Kinh trên thuyền thì hải tặc không dám tới. Đó là chất liệu chú thuật. Khi người Anh tới xâm chiếm nước Miến Điện bằng máy bay, xe tăng và súng đạn thì có những Phật tử mang bùa chú đi tới trước súng đạn vì họ nghĩ rằng có bùa chú trên người thì súng bắn không lủng. Họ đưa tay lên trời bắt ấn vì họ tin rằng làm như vậy thì máy bay sẽ rớt xuống.

                          Thọ trì năm giới để bảo đảm tự do và hạnh phúc

                          Nhưng khi đọc kinh Người Áo Trắng thì chúng ta thấy chủ ý của Bụt là cho người cư sĩ chất liệu tâm linh. Năm giới là sự thực tập giúp cho ta đừng sa đọa vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Mỗi giới bảo đảm cho ta một tự do. Ví dụ như giới thứ năm là “không vướng vào vòng ma túy“, nếu ta giữ giới thứ năm này thì ta không vướng vào ma túy rất rõ ràng. Năm giới bảo đảm cho ta năm không gian tự do. “Không rơi trở lại vào tình trạng hệ lụy“ không phải là chuyện siêu hình mà là chuyện rất thực tế và rất khoa học. Giữ năm giới thì ta có năm khoảng trời tự do thật lớn, thân tâm ta được thanh tịnh, mạnh khỏe và ta có nhiều niềm vui. Đây không phải là một sự hứa hẹn hão huyền về một hạnh phúc tương lai. Giữ năm giới thì ta có hạnh phúc ngay lập tức. Ai đã thọ năm giới thì biết giờ phút mà ta quỳ xuống nhận năm giới là ta có hạnh phúc liền. Ta thấy mình có một con đường và năm giới sẽ bảo hộ cho mình, mình sẽ có rất nhiều tự do khi thọ trì năm giới. Bụt dạy người cư sĩ phải thọ trì năm giới thì mới bảo đảm được hạnh phúc của mình. Hạnh phúc đó ta không phải chờ lâu, ta có thể có ngay trong giây phút hiện tại.

                          Nhưng nói như vậy không có nghĩa là người xuất gia không cần năm giới. Người xuất gia thọ 250 giới nhưng 250 giới đó rốt cuộc vẫn nằm trong năm giới. 250 giới có nhiều chi tiết hơn nhưng vẫn phát xuất từ năm giới. Theo truyền thống thì năm giới rất đơn sơ: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không uống rượu. Nhưng năm giới trong kinh Người Áo Trắng có giới tướng rất rõ ràng. Nương trên tinh thần của kinh Người Áo Trắng ở Làng Mai chúng ta có năm giới tân tu với đầy đủ giới tướng, phản chiếu được tinh thần Tứ đế và Bát chánh đạo trong đó có chánh kiến. Khi quyết tâm thực tập theo năm giới thì ta chắn chắc có tự do, hạnh phúc và niềm vui ngay trong giây phút hiện tại. Điều này rất khoa học, không có gì là mê tín dị đoan. Đó là chất liệu tâm linh, trong đó có niệm, định và tuệ.

                          Bốn tâm cao đẹp

                          Bốn tâm cao đẹp là niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng và niệm Giới.

                          Niệm Bụt

                          Niệm Bụt không phải là cầu xin ân huệ từ một thế lực bên ngoài. Niệm Bụt làm cho tâm ta được tịnh hóa. Bụt là một con người như mình, nhưng nhờ sự thực tập mà chuyển hóa được những phiền não, khổ đau. Khi niệm Bụt ta có một niềm tin là ta cũng có thể làm như Bụt, tại vì nếu Bụt là con người mà làm được thì ta là con người, ta cũng có thể làm được. Vì vậy diễn tả Bụt như một thần linh là một điều tai hại, làm cho người ta không thể với tới được. Bụt phải là một con người. “Đường xưa mây trắng“ là bộ sách mà trong đó tác giả đã tìm đủ mọi cách để phục hồi tính người của Bụt. Thấy Bụt như một con người ta sẽ dễ dàng tới tiếp cận, còn nếu Ngài là một thần linh thì rất khó mà tiếp cận. Bộ “Đường xưa mây trắng“ có công đức giúp cho ta thấy được Bụt là một con người để ta tiếp cận được dễ dàng và ta niềm tin là ta cũng sẽ làm được như Bụt. Những đức tính như Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn là những đức tính mà chúng ta cũng có thể có được. Đó là 10 danh hiệu của Bụt.

                          Cư sĩ Cấp Cô Độc, mỗi khi nghĩ tới Bụt là ông có hạnh phúc ngay. Trong cuộc đời, nếu ta có được một người quen như vậy thì rất hay, mỗi nghĩ tới người đó thì tự nhiên ta có hạnh phúc tràn trề. Trong trường hợp của ông Cấp Cô Độc thì người đó là Bụt. Thầy Xá Lợi Phất biết rất rõ là ông Cấp Cô Độc đang đau nhức, nhưng nếu thầy nhắc tới Bụt thì chắc là ông sẽ bớt đau ngay. Thiền hướng dẫn của thầy Sariputra rất khôn ngoan.

                          Niệm Pháp

                          Pháp là một đối tượng của tùy niệm, anusmrti. Niệm Pháp ta cũng có hạnh phúc rất nhiều. Pháp đại diện cho Bụt, Pháp là chất liệu của một vị Bụt. Sở dĩ Bụt là Bụt là vì Ngài có Pháp thân. Pháp thân là sự thực tập, là tuệ giác, là cái cho ta tự do và hạnh phúc. Pháp không phải là một cái gì xa xôi, ta có thể trực tiếp tiếp cận Pháp mà không cần phải qua trung gian của một người nào dù cho người đó là một tăng lữ.

                          Pháp là gì? Pháp có tính cách thiết thực, hiện tại, không phải là cái gì mơ hồ thuộc về thế giới siêu nhiên và tương lai. Đặc tính của Pháp là samdittika, có nghĩa là có tính cách thiết thực trong giây phút hiện tại như thở vào, thở ra. Thở vào, thở ra là chuyện chúng ta có thể thấy trong giây phút hiện tại. Nếu để tâm vào hơi thở và thở vào ta sẽ thấy trong khi thở ta đem thân về với tâm và hơi thở vào làm cho thân của ta hay cảm thọ của ta lắng dịu xuống. Đó là chuyện thiết thực hiện tại (samdittika). Pháp không phải là cái ta mong ước ở tương lai. Sự thực tập và hạnh phúc xảy ra ngay trong giây phút hiện tại. Nó vượt thoát thời gian (ākālika), nó có hiệu nghiệm ngay trong giây phút hiện tại và không bao giờ mất tính hiện tại của nó. Giáo pháp mâu nhiệm này, ta có thể tự mình thực chứng (ehipasika) mà không cần phải qua một trung gian. Ehipasika là tự mình tiếp cận và chứng nghiệm. Đây không phải là sự tín mộ, cầu xin.

                          Diệu pháp của Đức Thế Tôn, con đường mà con đang nguyện đi theo, là giáo pháp đã được nhiệm mầu tuyên thuyết. Giáo pháp đó là thiện thuyết (well proclamed), là giáo pháp có thể chứng nghiệm ngay trong giây phút hiện tại (samdittika), là giáo pháp có giá trị vượt thoát thời gian (ākālika), là giáo pháp mà mọi người có thể đến mà tự thấy (ehipasika), là giáo pháp có công năng dẫn đạo đi lên, là giáo pháp có công năng dập tắt phiền não, là giáo pháp mà người trí nào cũng có thể tự mình thông đạt.

                          Đây không phải là sự lạy lục cầu xin, không phải là sự tín mộ mà trước hết là tâm linh, là tuệ giác. Vì vậy giáo pháp Đức Thế Tôn hiến tặng cho người tại gia là một loại giáo pháp cao, thuần túy, không đòi hòi một niềm tin mù quáng. Khi tâm ta tiếp cận được với ba viên ngọc quí tức Bụt, Pháp và Tăng thì tự nhiên ta có hạnh phúc, ta cảm thấy có sự che chở bởi năng lượng niệm-định-tuệ được chế tác ra trong sự thực tập.

                          Hạnh phúc ngay trong hiện tại

                          Niệm Bụt, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, ta không cần phải niệm Thiên để được sinh lên cõi trời. Ta đang có hạnh phúc trong giây phút hiện tại, mà nếu có hạnh phúc ở cõi này thì cõi này đã là cõi trời. Người ta muốn sinh Thiên hay sinh cõi Tịnh độ, nhưng nếu đã có hạnh phúc ở đây rồi thì ta không cần Thiên giới hay cõi Tịnh độ nữa. Cụm từ “hiện pháp lạc trú“ đã được lặp lại sáu lần trong kinh. Là người xuất gia, nếu muốn đem Phật pháp chia sẻ với người cư sĩ thì ta phải nhớ làm thế nào để họ được sống hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại, đừng hứa hẹn với họ Niết bàn, Tịnh độ hay Thiên đường. Đó là ý của Bụt, ta phải sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại. Chuyện này không khó khăn gì và phương pháp thực tập lại rất dễ chịu. Ta có thể làm hay hơn nữa, khi có hạnh phúc thì ta chứng được quả vào dòng cùng đi với tứ chúng. Nếu đi một mình như một giọt nước thì ta sẽ bốc hơi, đi như một dòng sông với đại chúng thì chắc chắn là ta sẽ đi ra biển. Vào dòng là không đi lui nữa. Đã vào dòng rồi, dù có được giải thoát hoàn toàn trong năm kiếp hay trong hai kiếp nữa thì ta cũng đã yên, ta không còn lo sợ. Hơn nữa ta đang có hạnh phúc nên ta không cần phải giải thoát mau một cách hấp tấp.

                          Chúng ta có những phép thực tập dành cho cư sĩ mà người xuất gia cũng có thể tham dự được. Nếu khéo léo thực tập thì những pháp môn đó có chất liệu tâm linh nhiều hơn chất liệu tín mộ:

                          Lễ kính

                          Nhất giả, lễ kính chư Phật: Sự thực tập đầu tiên là bày tỏ sự kính ngưỡng của mình đối với Bụt. Bên ngoài sự thực tập này giống như một hành động tín mộ, nhưng nếu ta biết cách thì sự thực tập có chất liệu tâm linh rất cao. Muốn lễ Bụt ta phải quán chiếu Bụt là ai, ta là ai, giữa ta và Bụt có sự liên hệ nào. Biết được giữa ta và Bụt không có sự ngăn cách thì tuệ giác sẽ phát hiện ra trong khi ta lạy xuống. Sáng nay, khi đọc Sám pháp địa xúc tôi cũng lạy xuống như các thầy, các sư chú và các đạo hữu nhưng trong khi lạy tôi quán chiếu là mình đang lạy với tất cả dòng họ huyết thống và tâm linh mà không phải là một cá nhân đang lạy xuống. Đó là có chất liệu tâm linh. Ta cũng thấy được là người đang lạy và người được lạy không tách rời nhau tại vì trong tổ tiên tâm linh cũng có Bụt. Trong khi lạy ta tiếp xúc được vô ngã, tiếp xúc được tính bất nhị giữa Bụt và chúng sanh. Cái lạy đó không phải là tín mộ. Tuy bên ngoài có vẻ giống như ta cầu xin sự che chở, cầu xin một chút hạnh phúc, một chút tâm linh nhưng thật ra trong khi lạy ta chế tác ra hạnh phúc, chế tác tự do và chế tác tâm linh.

                          Xưng tán

                          Nhị giả, xưng tán Như Lai: Xưng tán là ca ngợi, ta ca ngợi Bụt là bậc thầy của loài trời, loài người. Bụt đã qua tới một cách nhiệm mầu, đã diệt trừ được những phiền não, đã điều phục được con người dù là những người ngang ngược nhất. Nếu biết quán chiếu ta thấy mình đang đi trên con đường của Bụt và mình cũng đang thực hiện những điều Bụt đã làm. Xưng tán đem lại những tuệ giác, những tự do và làm cho phiền não, tham vọng, hận thù tan biến đi tại vì chúng ta đang hướng về một cái gì rất đẹp. Phương hướng rất quan trọng, khi biết được phương hướng quay về thì ta buông bỏ được rất nhiều hệ lụy. Vì vậy con người phải có một hướng đi. Trong kinh có nói làm thân con lạc đà chở nặng cũng chưa thật sự là khổ, chỉ khi nào không biết được hướng đi mới thật là khổ. Khi lễ kính và xưng tán là ta biết đi về hướng nào, ta muốn đi về hướng của Bụt, của Bồ Tát. Hướng về đó là ngoảnh lưng lại với những cái khác. Xưng tán Như Lai đem lại hạnh phúc ngay trong khi xưng tán.

                          Cúng dường

                          Tam giả, quản tu cúng dường: Chúng ta thường nghĩ cúng dường là cung cấp cho người xuất gia bốn thứ cần thiết như thức ăn, áo quần, thuốc men và chỗ ở gọi là tứ sự cúng dường. Cúng dường thì có công đức, công đức này giống như một trương mục tiết kiệm để này ta xài dài dài sau này. Thật ra nếu cúng dường bằng chất liệu tâm linh thì ngay trong lúc cúng dường ta buông bỏ, ta có niềm vui, có hạnh phúc, tự do. Khi ta giúp được cho người bớt khổ và có niềm vui thì hạnh phúc tới ngay trong lúc đó chứ không phải chỉ có trong tương lai.

                          Hơn nữa có nhiều thứ cúng dường, ta cúng dường thực phẩm, áo quần, thuốc men nhưng ta cũng có thể cúng dường Phật pháp. Ta đem đạo Bụt ra để giúp cho người khác bớt khổ, ta cho họ một giờ tham vấn và với kinh nghiệm, với tuệ giác của mình trong một giờ đó ta có thể kéo họ ra khỏi địa ngục. Đó là một loại cúng dường, còn quan trọng hơn là cúng dường cơm áo. Ta ngồi với một người đang trẩm luân, khổ não không có lối ra và ta quán chiếu, nhìn rõ, hiểu thấu nỗi khổ niềm đau của người đó rồi tìm cách đưa họ ra khỏi thế giới của địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh. Đó là một hình thức cúng dường. Không cần phải có tiền mới cúng dường được, ta chỉ cần có tình thương và tuệ giác là có thể cúng dường rất nhiều. Đó là cúng dường Pháp.

                          Cúng dường hương không phải để có mùi thơm. Thay vì đốt một cây nhang ta đốt cả bụm, tưởng rằng làm như vậy là có nhiều công đức. Chư tổ đã dạy ta phải biết cách cúng dường hương. Chúng ta có những bài dâng hương rất hay:

                          Giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương. Con có giới, có định, có tuệ, có giải thoát và con đem cúng dường lên Bụt.

                          Cúng dường như vậy thì công đức vô lượng, cúng dường không cần nhiều tiền mà chỉ cần tâm của mình.

                          Sám hối

                          Tứ giả, sám hối nghiệp chướng: Sám hối không phải là xưng tội. Với sự chứng minh của tăng thân, của sư anh, sư chị, của chư Bụt và chư Bồ Tát ta nhìn lại con người của mình để thấy ta đã đi tới đâu, ta đã thành công chỗ nào và chưa thành công chỗ nào để ta có thể đi tới.

                          Sám pháp địa xúc là một pháp môn rất hay, là một quá trình quán chiếu để chuyển hóa mà không phải là một hành động thú tội và cầu xin. Ở xóm Thượng sáng nào chúng ta cũng thực tập Sám pháp địa xúc. Ví dụ ta nói: Bạch Đức Thế Tôn, lâu nay con đi như bị ma đuổi, con không có an lạc trong từng bước chân. Con sinh ra đời để đi như vậy thì rất uổng. Trong khi Đức Thế Tôn đi từng bước thảnh thơi, an lạc, hạnh phúc, nuôi dưỡng trị liệu mà con lại đi như vậy thì con không xứng đáng làm học trò của Ngài. Con lạy xuống ba lạy hứa với Đức Thế Tôn là từ nay trở đi mỗi bước chân của con sẽ có vững chãi, an lạc, thảnh thơi, nuôi dưỡng và trị liệu. Đó là sám để đưa tới tuệ giác và lành mạnh hóa đời sống của mình.

                          Tùy hỉ

                          Ngũ giả, tùy hỉ công đức: Chúng ta phải có tâm niệm vui khi người khác thành công. Người kia có hạnh phúc thì ta mừng cho người đó. Ta không ganh tị, tranh đua với người đó. Thấy bất cứ điều gì có tác dụng đưa nhân loại đi tới, giúp cho con người bớt khổ thì ta đều yểm trợ. Đó gọi là tùy hỉ công đức. Ta thấy những thực hiện của người đó cũng là những thực hiện của mình và những gì ta thực hiện cũng là để cho người đó có hạnh phúc.

                          Ta có 10 hạnh của đức Phổ Hiền mà quí vị phải tự học lấy:

                          Lục giả, thỉnh chuyển pháp luân.

                          Thất giả, thỉnh Phật trụ thế.

                          Bát giả, thường tùy Phật học.

                          Cửu giả, hằng thuận chúng sanh.

                          Thập giả, phổ giai hồi hướng.

                          Phóng sinh

                          Chúng ta có những sự thực tập như phóng sinh tức thả chim, thả cá. Sự thực tập này cũng đem lại hạnh phúc, nó không hẳn là sự tín mộ mà là tâm linh. Phóng sinh đem lại rất nhiều niềm vui vì ta bảo hộ cho các loài chúng sinh. Ăn chay là một trong những hành động phóng sinh đẹp nhất. Nếu ăn chay mà ta đau khổ thì thà là đừng ăn chay còn hơn. Ta phải có hạnh phúc trong khi ăn chay, ta có niềm vui vì mình không cần ăn thịt của chúng sinh, mình bảo hộ cho sinh môi, mình cho trái đất một tương lai.

                          Tu tạo công đức: Giúp người nghèo, người cô đơn.

                          Xây tháp,

                          Đúc chuông

                          In kinh

                          Ăn chay

                          Cúng thí thực

                          Đeo tượng Phật: Đeo tượng Phật hay thờ Phật để nhắc ta hình ảnh của Phật, để nhắc rằng ta đã có con đường thì đeo tượng Phật có tính cách tâm linh. Nếu nghĩ tượng Phật này rất linh thiêng, đem theo trong xe ta sẽ không bao giờ gặp tai nạn thì đó là sự tín mộ.

                          Trong kinh này Bụt dạy về tâm linh nhiều hơn sự tín mộ. Ngài rất coi trọng người cư sĩ, Ngài biết người cư sĩ có thể thành đạt rất nhiều. Chúng ta có thể nghĩ rằng sự thực tập trước tiên là chất liệu tâm linh có khả năng chế tác giới, định và tuệ. Nhưng nếu không khéo thì tất cả sự thực tập tâm linh trở thành sự thực tập tín mộ, trong đó có thể có cả sự thực tập ma thuật. Muốn đem Phật pháp truyền bá rộng rãi trong nhân gian ta phải nắm được vấn đề để đừng làm thoái hóa đạo Bụt, để đừng làm mất đi bản chất của đạo Bụt. Ví dụ trong kinh Bụt dạy người cư sĩ phải thực tập như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại và hạnh phúc trong hiện tại sẽ bảo đảm cho tương lai. Nếu khuyên người ta nên phát tâm nhàm chán cõi đời này để cầu sang một cõi khác là không đúng theo nguyên ý của Bụt. Bỏ hiện tại để tìm cầu tương lai là không đúng với bản hoài của Bụt. Trong kinh Bụt có nói tới cõi trời như một chỗ ta có thể sinh ra trở lại để tu học mà không phải chỗ cuối cùng. Chỗ cuối cùng của chúng ta là giải thoát hoàn toàn.

                          Người ta nói cúng dường cho các thầy thì sau này được sinh lên cõi trời là không đúng. Ta có thể được sinh lên cõi trời nhưng đó không phải là mục đích chính. Mục đích đầu tiên là phải có hạnh phúc ngay trong giây phút hiện tại và được sinh lên cõi trời hay lên cõi Tịnh độ chỉ là những sản phẩm phụ mà thôi. Lấy sản phẩm phụ làm mục tiêu là không đúng, mục tiêu là sống hạnh phúc ngay lập tức. Ta phải giúp Bụt, ta phải phục hồi lại giáo lý nguyên thỉ của Ngài. Ta phải cống hiến phương pháp tu như thế nào để người ta có hạnh phúc, có giải thoát, có tự do ngay trong giây phút hiện tại và hạnh phúc đó bảo đảm cho tương lai. Không phải là Bụt không nghĩ tới tương lai, nhưng Ngài nói tương lai tùy thuộc hiện tại, nếu hiện tại ta có hạnh phúc thì chắc chắn là ta sẽ có hạnh phúc trong tương lai.

                          Kinh Giáo Hóa Người Bệnh

                          Sau khi đã thực tập dưới sự hướng dẫn của thầy Xá Lợi Phất thì ông Cấp Cô Độc thoát ra khỏi sự sợ hãi. Người sắp chết thường rất sợ hãi, họ không biết mình sẽ đi về đâu. Biết rõ tính của vạn pháp là không tới, không đi, không có, không không, không sinh, không diệt thì cư sĩ Cấp Cô Độc chết một cách rất nhẹ nhàng. Cư sĩ đã nhắn lại một thỉnh cầu: Phần lớn người cư sĩ chỉ lo chuyện làm ăn, buôn bán, gia đình, sự nghiệp mà không có thì giờ để học hỏi giáo pháp nhiều. Tuy vậy trong số cư sĩ cũng có những người có khả năng và thì giờ để tiếp thu và hành trì giáo pháp mầu nhiệm mà thầy Xá Lợi Phất đã trao truyền hôm nay. Xin thầy A Nan về bạch với Đức Thế Tôn cũng nên ban phát giáo lý bất sinh bất diệt, vô khứ vô lai cho người cư sĩ.

                          Vì vậy trong những khóa tu Làng Mai tổ chức tại Âu Châu hay Mỹ Châu đều có một bài giảng cuối cùng về không sinh không tử. Đó là thể theo lời thỉnh cầu của cư sĩ Cấp Cô Độc, một khóa tu bảy ngày mà không có giáo lý về sinh tử để đáp ứng lại mối quan tâm tối hậu thì vẫn còn chưa đầy đủ.

                          _____________

                          Văn bản:

                          Kinh Người Áo Trắng
                          Kinh Giáo Hóa Người Bệnh

                          Hoa trái của người xuất gia

                           

                          Tôi có viết một bài 11 trang đánh máy tóm tắt lại những ý chính của những bài pháp thoại chúng ta đã nghe trong khóa mùa Đông này. Tư liệu này dành cho các vị đã tham dự khóa tu mùa Đông để các vị đọc lại những gì đã nghe trong khóa tu mùa Đông năm nay. Có thể ta đã nghe nhưng ta đã quên, đã làm rơi rụng nhiều. Vì vậy bài này giúp cho ta nhớ lại cốt tủy của những điều ta đã được nghe. Quí vị có nhớ bài “Lá Thư Viết Cho Nhà Khoa Học Trẻ“ năm ngoái không? Bài đó tóm tắt lại những ý chính của khóa tu mùa Đông năm ngoái. Bài này tóm tắt lại những điều ta đã học trong khóa tu năm nay. Chúng ta đọc và nắm cho vững để tiếp tục nghe những bài pháp thoại mới.

                          Hoa trái thực tập của người xuất gia

                          Một ông vua bị bệnh tâm thần, ông tên A Xà Thế (Ajātaśatru), là con của vua Tần Bà Sa La (Bimbisāra). Ông bị bệnh tâm thần tại vì ông đã giết cha để lên làm vua và bây giờ ông hối hận. Hồi đó Bụt đang còn sống, vua Bimbisāra rất thân với Bụt.

                          Một hôm vua Bimbisara đang ngồi trên xe loan thì thấy một thầy ôm bình bát đi rất đẹp, rất thảnh thơi trên đường phố thành Vương Xá. Vua rất ấn tượng nhưng không xuống xe để hỏi thăm, tại vì vua thấy làm như vậy thì quá đường đột. Vua ra lệnh cho một người hầu cận đi theo ông thầy đó để biết chỗ ở của ông. Ông thầy đó là Siddharta khi chưa thành đạo.

                          Siddharta là một vị hoàng tử cho nên cách đi, đứng đã đẹp rồi. Nhưng khi thành một người xuất gia thì cách đi, đứng lại càng đẹp hơn nhờ có chánh niệm và chánh định. Điều này làm cho vua rất ấn tượng. Sau khi biết được chỗ ở của Siddharta trong thành phố, một hôm vua đem vài người tùy tùng theo đi thăm Siddharta. Lúc đó Siddharta vừa đi khất thực về, đang ở trên một ngọn đồi ở ngoại ô thành phố. Xa giá tới chân đồi, vua bảo tùy tùng ngồi đợi, vua đi bộ lên đồi và hai người đã gặp nhau lần đầu. Vua rất mộ đạo, muốn có một vị thầy giỏi làm cố vấn cho vua để vương quốc có thêm giá trị. Các nhà chính trị thường muốn trong nước có một nhà lãnh đạo tôn giáo có uy tín để vương quốc của mình có được một chiều sâu tâm linh. Vua Bimbisāra cũng vậy, vua đã thỉnh Siddharta về làm quốc sư dạy cho vua và làm thầy của cả nước. Vua mời rất trân trọng nhưng Siddharta đã từ chối:

                          • Tôi tu chưa chứng đạo, tôi không thể nào làm thầy của quí vị.

                          Hai người nói chuyện với nhau và vua Bimbisāra tìm ra gốc gác của Siddharta. Thì ra ông thầy tu này cũng là con của một ông vua và cũng sẽ trở thành vua. Nhưng ông ta đã bỏ ngôi vua để làm một ông thầy tu. Vua có nói hớ một câu:

                          • Nếu Ngài muốn, tôi sẽ cắt chia cho Ngài một nửa vương quốc này.

                          Siddharta nghĩ: “Mình đã bỏ một vương quốc rồi mà bây giờ còn nhận một nửa vương quốc để làm gì?“ Ngay chiều hôm đó, Siddharta rời bỏ thành phố vì sợ bị quấy rầy lần thứ hai. Nhưng trong buổi nói chuyện hôm đó Siddharta có hứa với vua Bimbisāra một điều: “Khi thành đạo tôi sẽ trở về giúp vua“. Vì vậy sau khi thành đạo thì Siddharta trở về nhưng không trở về một mình mà trở về với một tăng thân trên 1000 thầy. Lúc đó, Siddharta đã độ được cho trên 1000 người xuất gia, phần lớn là những người theo đạo thờ thần lửa cư trú ở làng Uruveda. Vua nghe tin Đức Thế Tôn cư trú với một ngàn vị khất sĩ trong Rừng Kè (Palm Grove). Vua dẫn theo hoàng gia cùng các viên chức trong triều đình thân hành tới thăm Bụt. Đây là lần đầu hai người gặp lại nhau sau khi Bụt thành đạo. Lúc đó Bụt còn rất trẻ, chưa đến 40 tuổi.

                          Khi Bụt về thành Vương Xá thì người trẻ phát tâm xuất gia rất đông. Lúc đó chưa có giáo đoàn Tỳ kheo ni. Vua Bimbisāra đã trở thành người yểm trợ Bụt hết lòng, vua vừa là bạn vừa là đệ tử của Bụt.

                          Nhưng vua Bimbisāra có một hoàng tử không được dễ thương, đó là thái tử A Xà Thế (Ajātaśatru). Thái tử rất ham làm vua và được một phe đảng yểm trợ. Có một lần A Xà Thế giấu gươm trong áo, đi vào cung định giết cha mình nhưng bị quân hầu bắt được. Quần thần đòi xử tử thái tử, nhưng vì vua thương con quá nên tha đi. Nhất là vì vua là đệ tử của Bụt nên không nỡ xử tội thái tử.

                          Nhưng vì ý đồ muốn làm vua lớn quá nên Ajātaśatru vẫn chứng nào tật đó, tìm đủ cách để làm vua sớm ngày nào hay ngày đó. Nhà chính trị thường muốn có sự yểm trợ của nhà tôn giáo. Ajātaśatru cũng muốn có được sự yểm trợ của tăng đoàn của Bụt nhưng Bụt không đồng ý yểm trợ nên chính quyền đã tìm đủ cách để chia rẽ giáo đoàn của Bụt. Vì vậy trong giáo đoàn của Bụt có sự chia rẽ, trên 500 thầy đã đi theo Devadatta để lập một giáo đoàn mới.

                          Cuối cùng Ajātaśatru đã đảo chánh, bắt giam phụ hoàng, định để cho chết đói. Hoàng hậu Vaidehi năn nỉ quá nên Ajātaśatru cho phép bà vào thăm vua. Hoàng hậu giấu vài nắm cơm trong tóc đem vào cho vua ăn. Quân lính bắt được và tịch thu nên vua sắp chết đói trong tù. Hoàng hậu đã nghĩ ra nhiều cách như sau khi tắm xong bà thoa một lớp cháo hồ lên thân thể rồi mới mặc áo vào. Quân lính khám không thấy thực phẩm nên cho vào. Vào gặp được vua bà cởi áo và lột lớp hồ đó ra cho vua ăn. Thái tử thấy vua chưa chết mới khám phá ra thái hậu đã đem thức ăn vào cho vua nên từ đó cấm không cho thái hậu vào thăm vua nữa. Cuối cùng vua Bimbisāra chết và thái tử làm lễ đăng quang. Giáo hội nhà nước cư trú trên núi Tượng Đầu yểm trợ thái tử hết lòng. Bụt và giáo đoàn của Ngài không đến dự lễ đăng quang tại vì nếu dự lễ đăng quang là yểm trợ cho một chính quyền bất nhân, bất hiếu, vô đạo, không đúng với tiêu chuẩn đạo đức của đạo Bụt. Vua Ajātaśatru nghĩ rằng Bụt là bạn của cha mình ngày xưa nên chắc là Bụt thù ghét mình lắm. Vua không biết Bụt là một người rất nhân từ, không đem lòng ghét bỏ ai cả. Bụt chỉ thương, thương cả những người có tội lỗi. Một hôm con của vua Ajātaśatru đòi đem theo con chó vào ăn cơm. Theo luật của Hoàng gia thì không được đem theo chó khi ăn cơm, nhưng vua cưng con quá nên cho con đem chó vào. Vua nói với thái hậu Vaidehi:

                          • Con không cho nó đem chó vào nhưng nó cứ đòi quá nên con để nó đem chó vào, vậy con xin lỗi mẹ.

                          Thái hậu nói:

                          • Con thương con của con nên con cho nó đem con chó theo, đó là chuyện thường, mẹ có thể chấp nhận được. Con có biết là ngày xưa cha của con cũng thương con như vậy không? Để mẹ kể cho con nghe cha con thương con như thế nào.

                          Rồi bà kể cho vua nghe vài câu chuyện ngày xưa:

                          • Có một lần ngón tay trỏ của con bị sưng lên và nhức cho đến đỗi cả đêm con khóc và không ngủ được. Cha con phải ngậm ngón tay đó suốt đêm để cho nó ấm và mủ bưng ra để cho con bớt đau. Cha con đã hút mủ trong ngón tay ra và vì nếu nhả ngón tay của con để nhổ mủ ra thì con sẽ bị đau nên cha con đã nuốt mủ vào luôn trong bao tử của mình.

                          Nghe những câu chuyện như vậy, vua hối hận vô cùng. Từ đó về sau, vua bị bệnh tâm thần không ai chữa được. Các vị đạo sĩ các giáo phái khác được mời tới cũng không chữa trị được tâm bệnh của vua. Lúc đó Bụt đang cư trú dưới chân núi Thứu trong vườn xoài của bác sĩ Jivaka. Bác sĩ Jivaka đã có lần nói với vua Ajātaśatru:

                          • Nếu muốn bớt bệnh thì đại vương phải đi thăm Bụt. Tôi nghĩ chỉ có Đức Thế Tôn mới có thể giúp cho đại vương hết bệnh.

                          Vua Ajātaśatru nói:

                          • Không được đâu. Chắc là Bụt Gautami rất giận tôi tại vì tôi đã giết bạn của Ngài.

                          Bác sĩ Jivaka nói:

                          • Đại vương đừng nói như vậy. Bụt là một người nhân từ, lòng từ bi của Bụt rất lớn. Bụt không hề giận ai, Bụt không có kẻ thù. Đó là một con người tuyệt vời có lòng từ bi rất lớn và có thể ôm lấy tất cả mọi người. Nếu đại vương muốn, tôi sẽ tổ chức một cuộc viếng thăm.

                          Chiều hôm đó trời trong và mát nên vua chịu đi với bác sĩ Jivaka tới thăm Bụt dưới chân núi Thứu. Vua đi với một đoàn tùy tùng khá đông, tới gần núi Thứu vua hỏi bác sĩ Jivaka, bác sĩ Jivaka cũng đã từng chữa bệnh cho Bụt và chăm sóc sức khỏe cho tăng đoàn:

                          • Bụt ở một mình hay ở với nhiều người?

                          Bác sĩ Jivaka nói:

                          • Đức Thế Tôn luôn luôn ở chung với các thầy. Hiện bây giờ có khoảng 1000 thầy đang ở với Bụt. Khi tới đại vương sẽ thấy các thầy ngồi chung quanh Bụt rất đông.

                          Nhưng tới chân núi rồi mà vua thấy đêm thanh cảnh vắng. Vua sợ nghĩ: “Sao có 1000 người mà lại không có một tiếng ồn nào hay là nó lập mưu đặt bẫy để giết mình“. Vua run lên, Jivaka nói:

                          • Bệ hạ đừng sợ, sự im lặng này là sự im lặng hùng tráng của người tu.

                          Xuống voi, vua thấy có ánh lửa thấp thoáng trong vườn xoài. Vua đi theo bác sĩ Jivaka vào tịnh xá và thấy một cảnh tượng rất trang nghiêm: cả ngàn thầy ngồi rất im lặng và Bụt ngồi phía trước. Jivaka vào báo tin có hoàng đế tới thăm và Bụt ra đón. Hôm đó Bụt nói một kinh cho vua Ajātaśatru, kinh do câu hỏi của vua đặt ra. Theo nguyên tắc khi bệnh nhân tới bác sĩ tâm lý trị liệu thì phải nói bệnh của mình ra, nhưng vua lại hỏi câu:

                          • Thưa Thế Tôn, tại sao người trẻ đi tu đông như vậy, có ích lợi gì mà họ đi tu đông như vậy?

                          Một câu hỏi rất đơn sơ bởi vì vua ngạc nhiên thấy người trẻ đi theo Bụt rất đông mà người nào cũng tươi mát, hạnh phúc, khoan thai. Nghe câu hỏi đó, Bụt nói một kinh gọi là kinh Sa Môn Quả tức hoa trái của sự thực tập của người xuất gia:

                          Ví dụ như có một người nô lệ đang làm công cho một nhà giàu. Một hôm người đó gặp một vị thầy đang đi khất thực. Thấy vị này thảnh thơi, an lạc quá nên người nô lệ so sánh với mình: “Tại sao có một người thảnh thơi, an lạc như vậy còn mình thì cực khổ và lệ thuộc như thế này. Mình không có phẩm chất của một con người, mình chỉ làm nô lệ cho người ta, bị người ta đánh mắng, sai làm việc”. Người nô lệ nói chuyện với thầy đó thì thầy nói: ”Muốn thoát khỏi thân phận nô lệ thì anh chỉ cần đi xuất gia thôi. Nếu anh muốn thì tôi sẽ giới thiệu để anh được đi xuất gia”.

                          Mấy ngày sau người nô lệ được xuất gia, được một bình bát và ba cái áo và thoát ra khỏi thân phận nô lệ ngay lúc đó. Từ một nô lệ mình trở thành một vị khất sĩ, và không ai có quyền chủi mắng, đánh đập, sai bảo một vị khất sĩ. Chỉ trong mấy ngày, người đó thoát ra khỏi tình trạng kỳ thị giai cấp, sự phân biệt chủ tớ, giàu nghèo hay sang hèn và trở thành một người có nhân phẩm như mọi người khác. Đó là hoa trái đầu tiên của người xuất gia.

                          Vua nói:

                          • Hay quá! Hay quá! Xin Đức Thế Tôn nói tiếp nữa đi!

                          Kinh này là kinh Sa Môn Quả tức kinh Hoa trái của người xuất gia, mà hoa trái đầu tiên là thoát ra khỏi thân phận tù đày và sự kỳ thị.

                          Bụt nói tiếp:

                          Là người xuất gia, việc đầu tiên là ta thọ trì giới luật như giới không nói dối, không trộm cắp, không tà dâm. Ta thọ trì 250 giới, mỗi giới đều cho ta tự do. Khi ta giữ giới không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy thì ta không bao giờ làm nô lệ cho rượu và các chất ma túy. Những người nghiện rượu và ma túy mất tự do của họ. Ta giữ giới thứ năm, không uống rượu, không sử dụng các chất ma túy thì ta có một khoảng tự do. Ta giữ giới thứ hai, không ăn trộm hay ăn cướp thì không ai có quyền bắt ta bỏ tù. Mỗi giới đem lại cho ta tự do, người xuất sĩ vì giữ 250 giới nên có 250 thứ tự do. Hoa trái thứ hai của người xuất gia là có rất nhiều tự do.

                          Vua nói:

                          • Hay quá! Hay quá! Trẫm nghe là hiểu liền. Xin Đức Thế  Tôn hãy dạy tiếp.

                          Bụt nói:

                          Là một người xuất gia thì ta không có tài sản, không có tiền bạc, châu báu nên ta không cần canh gác, ta không sợ mất gì cả. Nếu có tiền bạc, châu báu thì kẻ cướp có thể xông vào giết ta để chiếm đoạt. Ta không có gì ngoài một bình bát và ba y nên ta ở trong trạng thái rất an ninh. Dù là một vị thủ hiến, một vị toàn quyền hay một vị bộ trưởng thì ta cũng không có được an ninh như vậy. Người xuất gia buông bỏ tất cả tài sản nên không có gì để sợ mất. Người xuất gia có an ninh lớn và an ninh đó là hoa trái thứ ba của sự thực tập của người xuất gia.

                          Vua nói:

                          • Hay quá! Hay quá! Đức Thế Tôn nói dễ hiểu quá. Trẫm hiểu liền đây là hoa trái của sự thực tập của người xuất gia.

                          Chúng ta chỉ có một bình bát. Ta không có tài sản, không có trương mục trong ngân hàng nên ta không sợ bị mất mát, bị đánh đập, bị ganh ghét.

                          Bụt nói:

                          Này đại vương, đó chỉ mới là ba hoa trái đầu, còn rất nhiều hoa trái khác nữa. Người xuất gia không chạy theo danh vọng, quyền hành, sắc dục, không theo đuổi sự nghiệp ngoài đời nên có rất nhiều thì giờ để ngồi thiền, đi thiền và tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống chung quanh mình, thấy được vẻ đẹp của thiên nhiên, tiếp xúc được với những gì tươi mát, lành mạnh để nuôi dưỡng và trị liệu mình. Có được nhiều thì giờ là hoa trái thứ tư của sự thực tập của người xuất gia. Ở ngoài đời người ta rất bận, không có thì giờ để thở, để ăn cơm.

                          Chưa hết, đại vương, người xuất gia học hỏi và thực tập niệm, định và tuệ, biết thở, biết đi trong chánh niệm. Vì vậy cho nên người xuất gia biết cách chế tác được những giây phút vui mừng và hạnh phúc.

                          Nếu có chánh niệm thì ta có thể tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống và chế tác được niềm vui. Ta thấy mình có rất nhiều điều kiện hạnh phúc. Chỉ cần có mặt trong giây phút hiện tại là ta có thể tiếp xúc được với những điều kiện hạnh phúc ta đang có, như là: hai mắt của ta đang sáng, hai tai của ta đang nghe rất rõ, hai chân của ta còn khỏe. Với sự thực tập niệm và định, người xuất gia có thể chế tác được hỷ và lạc lúc nào ta muốn. Đó là hoa trái thứ năm của người xuất gia.

                          Hơn nữa vì có niệm, định, tuệ nên người xuất gia biết cách chăm sóc và quản lý nỗi khổ niềm đau của mình. Người xuất gia biết nhận diện, ôm ấp và xử lý nỗi khổ niềm đau của mình để chuyển hóa chúng và được nhẹ nhàng hơn trong thân và tâm. Đó là một hoa trái khác của người xuất gia.

                          Vua nói:

                          • Hay quá! Hay quá! Những điều Đức Thế Tôn dạy, trẫm hiểu rất dễ dàng. Ai ngờ rằng đi tu mà có được nhiều hạnh phúc, nhiều lợi lạc, nhiều hoa trái như vậy. Những chuyện đơn sơ như vậy mà lâu nay trẫm lại không biết.

                          Bụt nói:

                          Chưa hết đâu bệ hạ, còn nữa. Người xuất gia là người có cơ hội học về quán vô thường, vô ngã, nhận diện những phiền não của mình như đam mê, giận dữ, tuyệt vọng, ganh tị, những sợi dây ràng buộc tâm mình, không cho tâm mình thảnh thơi, an lạc. Khi sử dụng quán chiếu vô thường, vô ngã thì mình thoát ra khỏi những mặc cảm hơn người, thua người hay bằng người. Mình không còn mong muốn, ganh ghét, hận thù. Mình thấy rất thoải mái, an lạc. Mình có rất nhiều giải thoát, rất nhiều tự do.

                          Vua nói:

                          • Hay quá! Hay quá! Vậy mà trẫm không biết, trẫm tưởng những người đi tu là những người làm biếng không muốn lo chuyện đời.

                          Bụt nói:

                          Chưa hết đâu đại vương! Người xuất gia còn học được phương pháp quán chiếu tự tánh của các pháp và thấy được các pháp không sinh không diệt, thoát ra ngoài ý niệm sinh diệt và không còn sợ hãi sống và chết nữa, thản nhiên trước cái còn cái mất, cái sinh cái diệt. Khi người xuất gia đạt tới quả vị đó, thấy được cái không sinh không diệt, không có không không, không còn không mất thì người xuất gia có tự do rất lớn. Mỗi giây phút của đời sống người xuất gia là mỗi giây phút không sợ hãi, và hạnh phúc đó người thường không thể biết được. Chỉ khi nào đạt tới cái thấy không sinh không diệt, không còn không mất, không tới không đi thì lúc đó mới có sự tự do lớn.

                          Vua nói:

                          • Bạch Đức Thế Tôn, con chưa chứng nghiệm được điều này, nhưng con biết rằng nó có thể có được.

                          Bụt nói:

                          Chưa hết đâu đại vương. Người xuất gia, tuy không làm chính trị, nhưng sự có mặt của người xuất gia giúp cho nhiều người bớt khổ. Sự có mặt thảnh thơi, những bước chân, những nụ cười của người xuất gia làm cho xã hội thấy rõ rằng có một nếp sống nhẹ nhàng, hạnh phúc. Nhờ chuyển hóa được những phiền não, khổ đau của mình trở thành an lạc, hạnh phúc nên người xuất gia có thể giúp được nhiều người trong xã hội có thể làm được như mình. Tuy không làm chính trị, kinh tế nhưng người xuất gia rất có ích lợi cho cuộc đời.

                          Điều này chắc đại vương cũng thấy, nếu xã hội chúng ta không có đạo đức thì sẽ có bạo động, hận thù, khổ đau rất nhiều. Sự có mặt của đạo đức là một yếu tố rất quan trọng cho xã hội. Trong xã hội, mỗi người phải có một chiều hướng tâm linh đạo đức thì mới vượt thắng được nỗi khổ niềm đau. Người xuất gia, tuy không làm công việc chính trị, xã hội, kinh tế nhưng sự có mặt đạo đức của người xuất gia có thể giúp được cho rất nhiều người bớt khổ.

                          Nghe Bụt nói, vua rất cảm kích. Tuy không tham vấn Bụt về bệnh tâm thần của mình nhưng vua biết là Bụt thương mình, Bụt không thù, không giận mình và vua cảm thấy rất nhẹ nhàng. Vua lạy xuống nhận làm đệ tử của Bụt và tự nhiên những bức xúc, những khổ đau tâm thần của vua thuyên giảm rất nhiều. Vua được trị liệu ngay trong khi nghe Bụt thuyết pháp. Khi chào Bụt đi về trong người của vua rất nhẹ, vua biết y sĩ Jivaka đã giúp mình rất nhiều. Nếu không có y sĩ Jivaka thì vua không có cơ hội được trị lành bệnh.

                          Tất cả câu chuyện được ghi vào một kinh trong Trường Bộ gọi là kinh Sa Môn Quả tức kinh nói về hoa trái thực tập của người xuất gia.

                          Quán vô thường là phép quán căn bản

                          Câu hỏi “Chuyện gì sẽ xảy ra sau khi ta chết?” là một câu hỏi rất phổ thông. Trong bất cứ xã hội, quốc gia hay văn hóa nào người ta cũng hỏi câu hỏi đó. Người ta muốn biết sau khi chết thì mình còn hay không còn gì nữa.

                          Có những người tự xưng là khoa học gia cho rằng sau khi chết thì không còn gì nữa. Họ rơi vào trong cái gọi là đoạn kiến (the wrong view of annihilation). Nếu ngược lại ta cho rằng khi chết, tuy hình hài ta tan rã nhưng mình vẫn còn nguyên là mình, ta có một linh hồn bất tử thì ta rơi vào một tà kiến khác gọi là thường kiến (the wrong view of eternalism).

                          Những ý niệm như sinh và diệt, có và không, thường và đoạn là những phạm trù tư tưởng (mental categories), là những cái khung không thể chứa được sự thật. Quán chiếu sâu sắc ta thấy sự thật vượt thoát những phạm trù tư tưởng. Ở Làng Mai, chúng ta thường quán chiếu đám mây, nhìn bề ngoài ta thấy hình như đám mây có sinh ra và chết đi, có khi có, có khi không có. Nhưng nhìn kỹ, ta thấy đám mây không sinh cũng không diệt, không có cũng không không. Điều này có thể được chứng minh bằng khoa học. Trước khi là đám mây thì đám mây đã là cái gì khác. Nó đã là hơi nước đi lên từ đại dương. Nó là hơi nước do chúng ta thở ra, chúng ta đã thở ra đám mây mà không biết. Hơi nước là mây tuy chưa có tướng của đám mây. Đám mây không thể từ không mà trở thành có, vì vậy đám mây là vô sinh. Khi đám mây còn là hơi nước thì ta không thấy nên ta tưởng đám mây không có. Ta bị kẹt vào tướng, hơi nước không có tướng của đám mây nhưng nó chính là mây. Khi hơi nước gặp khí lạnh thì tướng mây của nó lộ ra. Khi mây biến thành mưa hay thành tuyết thì nó không phải từ có trở thành không. Cái có không thể nào trở thành cái không. Đám mây không thể nào chết nên nó là bất diệt. Mây trở thành tuyết hay thành mưa, tuyết và mưa là hậu thân, là sự tiếp nối của đám mây. Vì vậy chúng ta có thể thấy một cách dễ dàng bản chất của đám mây là không sinh không diệt, không có không không. Đám mây không nằm trong khuôn sinh và diệt cũng không nằm trong khuôn có và không hay trong khuôn thường và đoạn.

                          Không thấy đám mây trên trời, ta nói đám mây chết rồi và ta hỏi đám mây còn hay không còn, bây giờ đám mây ở đâu? Khi người thân của ta chết, ta cũng hỏi câu tương tự: ”Người thân của tôi ơi, bây giờ anh đang ở đâu?” Và ta đặt câu hỏi: ”Sau khi không còn là đám mây nữa thì cái gì đã xảy ra, đám mây còn hay không còn?” Trong kinh có câu hỏi: “Sau khi nhập diệt thì Đức Thế Tôn còn hay không còn hay vừa còn vừa không còn hay vừa không còn vừa không không còn?“ Nhưng Bụt nói bốn phạm trù tư tưởng đó không chuyên chở được sự thật. Sự thật nằm ngoài những phạm trù tư tưởng.

                          Giáo lý trung đạo

                          Trong giáo lý đạo Bụt có ý niệm về trung đạo. Trung đạo (the middle way) thoát ra khỏi những cực đoan (extrême): Một bên là sống một bên là chết, một bên là còn một bên là mất, một bên là sinh, một bên là diệt, một bên là một, một bên là khác.

                          Từ vô thường, chúng ta có thể quán sát để thấy được sự thật này. Trên con đường của thời gian có một điểm, ở điểm đó có một người gieo nhân tức kẻ làm hay tác giả  và ở một điểm khác thì quả chín và có một người gặt quả gọi là người chịu hay thọ giả . Từ khi gieo nhân đến khi gặt quả có một khoảng thời gian hai, ba giờ đồng hồ hoặc hai, ba năm, vậy người gieo nhân và người gặt quả là một người hay là hai người? Trong ánh sáng của vô thường thì tất cả đều sinh diệt trong từng sát na. Dòng sông của giây phút này không còn là dòng sông của giây phút trước. Tôi của bây giờ không phải là tôi của giây phút trước, tôi của 30 tuổi không phải là tôi của 5 tuổi. Thấy hình của mình lúc 5 tuổi trong album gia đình, ta đặt câu hỏi:”Tôi bây giờ là một hay là khác với tôi lúc 5 tuổi?” Cho rằng người làm và kẻ chịu là một thì không đúng. Thời gian đã qua, ta đã thay đổi, ta bây giờ không giống ta lúc 5 tuổi. Ngược lại cho rằng ta bây giờ và ta lúc 5 tuổi là hai người khác nhau cũng không đúng.

                          Ý niệm một, sameness (đồng , nhất ) là một cái khung và ý niệm khác, otherness (dị ) cũng là một cái khung. Như vậy người làm và kẻ chịu không phải một cũng không phải khác gọi là trung đạo, có nghĩa là xa lìa cả hai cực đoan một và khác. Khi được hỏi câu “Sau khi chết rồi thì ta còn hay không còn?” thì ta phải trả lời theo trung đạo. Một là sameness, khác là otherness; sự thật không phải một cũng không phải hai, sự thật là trung đạo. Sinh, diệt, hữu, vô, một, khác, còn, mất là những phạm trù tư tưởng, mà sự thật thì vượt thoát khỏi những phạm trù tư tưởng. Ta không thể dùng những cái hộp để chứa đựng sự thật. Cái thấy đó là do sự quán chiếu về vô thường mà có. Quán chiếu về vô thường là phép quán căn bản. Quán chiếu về vô thường thì ta có thể vượt thoát khỏi những cặp đối lập (pair of opposites). Vậy đối với câu hỏi “Sau khi Đức Thế Tôn nhập diệt, hình hài tan rã rồi thì Ngài còn hay không?”, nếu là một học trò thông minh của Ngài thì ta trả lời: ”Nói còn không đúng mà nói không còn cũng không đúng, tại vì còn hay không còn là hai tà kiến. Chánh kiến là trung đạo”.

                          Cái nhìn vô tướng

                          Thật ra thì vấn đề dễ hơn nhiều. Quán chiếu thì ta thấy ta đã khác hơn nhiều so với ta lúc 5 tuổi. Nhưng trong đầu ta vẫn cứ nghĩ là một, ta bị vướng vào ý niệm đồng nhất, có một cái ngã thường tại nên mới có vấn đề. Nhìn cho kỹ một chút, ta thấy là Đức Thế Tôn còn chứ không phải không còn. Ta có thể sờ mó được Đức Thế Tôn, Ngài còn nhưng không phải còn dưới hình thái cũ. Chính ta đây, ta cũng không còn dưới hình thái của ta lúc 5 tuổi. Nhìn tuyết, ta thấy tuyết rất khác với mây nhưng nó chính thật là mây. Nhìn với cái nhìn vô tướng thì ta sẽ thấy được Đức Thế Tôn rất dễ.

                          Bác Anh Việt, người đã làm những bài nhạc kinh, bây giờ chúng ta không thấy bác bằng xương bằng thịt nữa. Nhưng mỗi ngày chúng ta vẫn thấy được bác. Khi lên tụng bài “Tào khê một dòng biếc” thì ta thấy rõ ràng là bác Anh Việt vẫn còn. Đó là nhạc Anh Việt còn trong bài hát, còn trong chúng ta và còn trong nhiều cái khác nữa.

                          Bây giờ nhìn vào các giáo đoàn đang hoạt động, nhìn vào chính bản thân mình là một vị xuất gia hay một vị cư sĩ, ta thấy ta là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn. Ta là tuyết, là sự tiếp nối của mây. Ta tiếp xúc được với sự liên tục của Đức Thế Tôn rất dễ dàng. Vì vậy câu hỏi ”Đức Thế Tôn còn hay không còn?” không đáng được đặt ra. Đức Thế Tôn còn nhưng không còn theo hình thức của một cái ngã. Nói Đức Thế Tôn không còn cũng đúng một phần, tại vì Ngài không còn dưới hình thức cũ, nhưng không phải là không còn gì cả.

                          Ta thấy rõ ràng rằng Đức Thế Tôn tiếp tục sự nghiệp của Ngài. Đạo Bụt đi tới đâu thì giúp cho xã hội ở đó có nhân tính hơn, ít bạo động hơn. Ở Việt Nam, nếu không có đạo Bụt thì ta không có được thời đại Lý, Trần. Lý, Trần là hai triều đại rất từ bi. Trước đó có nhiều bạo động, người ta chém giết nhau và có nhiều hình phạt như bỏ vào vạc dầu sôi, cho voi dày ngựa xé. Sau khi đạo Bụt giáo hóa được dân tộc thì những hình phạt đó không còn nữa. Đức từ bi thấm nhuần vào người làm chính trị cũng như vào trong dân chúng. Ở Tây Tạng, Trung Quốc hay Miến Điện, nhờ có đạo Phật đi vào mà rất nhiều bạo động được chuyển hóa. Đọc lịch sử của các quốc gia Á Đông theo đạo Phật, ta thấy nhờ sự giáo hóa của đạo Phật mà mức độ của sự bạo động giảm đi rất nhiều. Đó là sự tiếp nối của Đức Thế Tôn, ta phải thấy Siddharta ở nơi đó. Ta đừng đi tìm Siddharta như là một người thuộc dòng họ đó, có màu da đó, có giọng nói đó, ngôn ngữ đó, cũng như ta đừng đi tìm đám mây dưới hình thức đó, màu sắc đó. Uống một tách trà ta phải thấy đám mây trong đó.

                          Đặt câu hỏi và tìm những câu trả lời cho “có hay không” mất rất nhiều thì giờ. Ta biết không có gì sinh cũng không có gì diệt. Ý niệm sinh là sai mà ý niệm diệt cũng là sai, vậy tại sao ta phải hỏi “còn hay không còn”? Ta đã công nhận đám mây là không sinh không diệt thì tại sao ta phải hỏi đám mây còn hay không còn. Đã công nhận bản chất của thực tại là không sinh không diệt thì tại sao ta lại phải đặt câu hỏi “còn hay không còn”, tại vì “còn và không còn” là một hình thức khác của “sinh và diệt”. Thấy được tính không sinh không diệt thì tất cả những lo âu, sợ hãi của mình không còn nữa và ta có tự do lớn.

                           

                          Vô sinh bất diệt

                          Khi thoát khỏi một cặp đối nghịch như cặp sinh diệt, ta thật sự thấy được không sinh không diệt thì đồng thời ta cũng thoát khỏi những cặp đối nghịch khác, tại vì các cặp đối nghịch nương vào nhau mà được thành lập. Nếu sự vật không có sinh, không có diệt thì nó cũng không có hữu, không có vô, tại vì sinh là từ vô trở thành hữu và diệt là từ hữu trở thành vô. Khoa học cũng đã tìm ra được “không sinh không diệt”. Luật thứ nhất của nhiệt động học tức luật bảo tồn năng lượng (la loi de la conservation de l’énergie) đã nói về “không sinh không diệt”: vật chất và năng lượng không sinh không diệt. Chúng ta không thể chế tác được vật chất cũng không thể làm cho vật chất mất đi. Chúng ta không chế tác được năng lượng cũng không thể làm cho năng lượng biến mất. Ta chỉ có thể làm cho vật chất trở thành năng lượng hay trở thành một vật chất khác và ta chỉ có thể làm cho năng lượng trở thành vật chất hay trở thành một năng lượng khác. Lavoisier nói rất rõ: Không có gì sinh, không có gì diệt. Tất cả đểu chuyển biến. (Rien ne se crée, rien ne se perd. Tout se transforme). Đây là một câu nói rất đúng với tinh thần bất sinh bất diệt.

                          Thân của chúng ta là vật chất, nhưng vật chất cũng là năng lượng. Vật chất có thể trở thành năng lượng và năng lượng có thể trở thành vật chất. Vật chất và năng lượng là một. Tâm của chúng ta cũng là năng lượng và năng lượng có thể trở thành vật chất, vì vậy ta phải xét lại ý niệm “thân và tâm là hai cái khác nhau”. Ta có thể thấy tâm là một loại năng lượng và thân cũng là một loại năng lượng, mà năng lượng thì không thể nào chết được. Thân của ta có vẻ như tiêu hoại nhưng thật ra nó không chết được.

                          Nhưng có bao nhiêu nhà khoa học nắm vấn đề? Họ tìm ra được sự thật đó nhưng vẫn quên như thường. Ta đọc trong Tâm Kinh: tướng Không của các pháp là không sinh cũng không diệt, không thêm cũng không bớt, không dơ cũng không sạch, tức là thực tại tối hậu thoát ra khỏi những phạm trù tư tưởng, những ý niệm. Hiện nay khi nhìn vào vũ trụ các nhà khoa học vẫn đặt câu hỏi: Vũ trụ từ đâu mà có? Vũ trụ sinh ra như thế nào? Một ngày nào đó vũ trụ có tan tành hay không? Vũ trụ sẽ hủy diệt như thế nào? Như vậy các nhà khoa học vẫn đặt câu hỏi căn cứ trên ý niệm có và không. Do đó người ta đưa ra những thuyết như thuyết Big Bang để giải thích sự hình thành của vũ trụ, vũ trụ từ không trở thành có như thế nào và họ bị kẹt vào trong ý niệm sinh. Kẹt vào ý niệm sinh thì đồng thời cũng kẹt vào ý niệm diệt, trong khi đó khoa học đã khám phá ra rằng: không có gì sinh và không có gì diệt. Tại sao người ta lại còn đặt vấn đề tại sao vũ trụ có, hay tại sao vũ trụ không có? Cái thấy “bất sinh bất diệt”chỉ mới nằm trong óc mà chưa đi sâu vào, tại vì khi đã chứng nghiệm được vô sinh bất diệt thì những ý niệm có và không, một và khác, còn và mất sẽ không còn nữa. Nắm được thì ta có thể áp dụng được cái thấy đó vào trong đời sống hằng ngày.

                          Quan niệm bất thối chuyển

                          Trong đạo Bụt có quan niệm bất thối chuyển, có nghĩa là không rơi trở lại trong cõi hệ lụy và luân hồi. Mọi người đều mong muốn là khi đạt được tới rồi thì ta ở đó hoài không rơi xuống nữa. Cũng như một người bị bệnh trầm cảm đã được chữa trị khỏi bệnh, nhưng nếu làm ăn không đàng hoàng thì người đó sẽ rơi xuống trầm cảm trở lại. Đạt tới chỗ không rơi trở lại nữa gọi là bất thối chuyển.

                          Nhiều người tin rằng khi tu mà đạt tới quả vị bất thối chuyển thì sẽ không bao giờ đau khổ nữa. Vì vậy có quan niệm Niết bàn hữu dư y và Niết bàn vô dư y. Niết bàn hữu dư y là Niết bàn chưa tuyệt đối, những phiền não còn ngủ đâu đó và ta có thể buồn, giận trở lại. Niết bàn vô dư y là Niết bàn tuyệt đối, những phiền não không bao giờ có thể trồi lên trở lại. Chúng ta, người nào cũng khao khát cái tuyệt đối nên bắt buộc cuối cùng là phải tới chỗ toàn giác mà thôi.

                          Chúng ta mong muốn một sự toàn hảo (perfection) tức là sự vắng mặt của sự không toàn hảo (imperfection). Toàn hảo và không toàn hảo cũng là một cặp đối nghịch mà ta phải thoát ra. Tôi thường quán chiếu và thấy rằng: Người ta nói Đức Thế Tôn đã chứng ngộ, Ngài là một bậc giác ngộ hoàn toàn. Nhưng tại sao mỗi ngày Ngài cũng ngồi thiền, đi thiền và thực tập như các thầy khác. Đã thành Phật rồi mà Ngài còn thực tập làm gì? Chúng ta đặt câu hỏi: Tại sao thành Phật rồi mà còn phải ngồi thiền? Ngồi thiền có phải để thành Phật hay không? Như vậy là chưa đạt tới bất thối chuyển hay sao?

                          Theo nguyên tắc thì tất cả đều vô thường (chư hạnh vô thường). Nếu ta tin đó là sự thật thì Bụt cũng vô thường, niềm vui cũng vô thường, giác ngộ cũng vô thường. Niềm vui là một thực tại sống động, sự giác ngộ cũng là một thực tại sống động. Bất cứ thực tại sống động nào cũng đều vô thường. Vì vậy niềm vui hay sự giác ngộ cũng có thể tàn hoại. Niềm vui của ta, ta phải nuôi dưỡng thì nó mới được lâu dài. Sự giác ngộ, ta cũng phải nuôi dưỡng thì nó mới được lâu dài. You have to nourish your enlightenment because it is also impermanent. Bụt cũng phải nuôi dưỡng sự giác ngộ và tâm bồ đề của mình, nuôi dưỡng niềm vui và sự giải thoát của mình. Vì vậy Bụt vẫn tiếp tục thực tập. Bất thối chuyển có nghĩa là nếu biết phương pháp thì ta sẽ không rớt trở lại. Bất thối chuyển không có nghĩa là đi tới một trạng thái vĩnh viễn không bao giờ rơi xuống, tại vì trong ánh sáng của vô thường thì không có gì là vĩnh viễn cả. Nếu tất cả đều vô thường thì Phật cũng vô thường.

                          Vậy thì Phật tánh có vô thường hay không? Phật tánh là một ý niệm, và ý niệm đó được thành lập bằng một ý niệm khác là chúng sinh tánh. Một bên là phàm (worldlyness) còn một bên là thánh (holiness), không có phàm thì không có thánh. Cũng như sen với bùn, không có bùn thì không thể làm ra bông sen. Chất thánh được làm bằng chất phàm, hết chất phàm thì chất thánh cũng không còn. Nếu theo đúng con đường trung đạo và tuệ giác vô thường thì ta phải công nhận điều này. Có thánh là có phàm, phàm nằm ngay trong thánh cũng như nhìn vào bông sen ta thấy có bùn, lấy bùn ra khỏi bông sen thì bông sen cũng không còn. Đó là cái thấy bất nhị. Nếu tưởng tượng có bông sen mà không có bùn, có thánh mà không có phàm là sai. Nếu tưởng tượng có bồ đề mà không có phiền não là không đúng. Nhưng có một sự thật mà ta công nhận là mình có thể chuyển phiền não thành bồ đề và nếu làm ăn không đàng hoàng thì bồ đề lại trở thành phiền não. Đức Thế Tôn biết rõ điều đó nên Ngài vẫn ngồi thiền như chúng ta, Ngài không muốn bồ đề của mình trở thành phiền não.

                          Chúng ta phải hiểu chữ bất thối chuyển như vậy, khi có một sự thực tập vững vàng thì ta không sợ phải rơi xuống trở lại. Ta phải bỏ đi sự tin tưởng ngây thơ rằng một khi đã đạt tới toàn giác rồi thì ta không cần phải làm gì nữa cả. Chất thánh, chúng ta có thể chế tác được. Ta có tham lam, giận hờn, si mê, quên lãng. Nhưng nếu biết cách ta có thể chế tác niệm, định và tuệ. Niệm, định, tuệ là những năng lượng thánh mà những năng lượng thánh đó được chế tác bằng năng lượng phàm. Nếu biết cách ta có thể chuyển năng lượng phàm thành năng lượng thánh, cũng như ta có thể chuyển bùn thành sen. Theo cái thấy bất nhị thì phàm và thánh tương tức với nhau.

                          Một hôm tôi chiêm nghiệm thì thấy rằng mình không cần Niết bàn vô dư y, có Niết bàn hữu dư y là đủ rồi. Tuy còn một chút phiền não nhưng đã biết cách chuyển hóa thì ta không cần phải lo lắng nữa. Là một người tu ta có khả năng chuyển hóa phiền não hay không? Những phương pháp chuyển hóa, Bụt đã dạy và thầy đã trao truyền cho ta. Ta biết xử lý nỗi khổ niềm đau, một cơn giận hay một cơn buồn hay không? Nếu đã biết thì ta không lo sợ nữa, ta có hạnh phúc ngay bây giờ. Bùn có đó nhưng ta không sợ tại vì ta đã biết cách làm ra sen. Phiền não có đó nhưng ta không lo tại vì ta đã biết cách làm ra bồ đề. Hạnh phúc có thể có ngay trong giây phút hiện tại. Vấn đề là ta có con đường hay không, con đường đó là con đường bát chánh. Bụt đã dạy con đường bát chánh đưa tới Niết bàn, chỉ cần nhìn vào con đường là ta thấy được Niết bàn. Cũng như chúng ta đã nói: Giữ một giới là ta có một tự do, giữ hai giới là ta có hai tự do, ta có tự do ngay lập tức. Niết bàn là tự do, là sự lắng dịu đó. Niết bàn hay giải thoát không phải là cái gì ta nhắm tới ở chỗ khác và ở tương lai. Niết bàn, giải thoát, an lạc, niềm vui có thể có ngay trong giây phút hiện tại. Nếu có con đường thì trong đời sống hằng ngày ta có thể chế tác được hỷ, lạc, hạnh phúc và tự do. Nếu có con đường ta có thể xử lý được những nỗi khổ niềm đau, chuyển hóa khổ đau trở thành an lạc. Ta không cần phải đi đâu, không cần phải tìm gì, ta đã có tất cả trong giây phút hiện tại.

                          Bốn loại thức ăn

                          Loại thức ăn thứ nhất là đoàn thực, tức là những thức ăn đi vào miệng của chúng ta. Chánh kiến cũng là biết phân biệt những đoàn thực có hại và những đoàn thực không có hại. Chúng ta phải biết những thức ăn và thức uống nào gây tàn phá và làm mất sự điều hòa trong cơ thể. Khi chúng ta ăn những món hiền lành và bố dưỡng thì chúng ta cũng biết. Ðó gọi là chánh kiến. Ta thực tập chánh kiến ngay trong đời sống hằng ngày, trên bàn ăn và trong khi nấu ăn, chứ không phải chỉ thực tập trong thiền đường mà thôi. Trước khi ăn chúng ta nói: “chỉ xin ăn những thức ăn có tác dụng nuôi dưỡng và ngăn ngừa tật bệnh”, đó là chánh kiến áp dụng khi ăn và khi nấu ăn.

                          Nói về đoàn thực, Bụt đã dùng hình ảnh của hai vợ chồng nhà kia ăn thịt con. Hai vợ chồng này mang đưá con trai duy nhất đi qua sa mạc. Họ nghĩ rằng số lương thực đem theo là đủ dùng cho chuyến đi. Nhưng chưa ra khỏi sa mạc họ đã hết thực phẩm. Hai vợ chồng biết rằng cả ba người sẽ chết đói. Cuối cùng họ phải đành tâm ăn thịt đứa con để sống mà ra khỏi sa mạc. Họ vừa ăn thịt con vừa khóc. Bụt hỏi rằng: “Này các thầy, khi hai vợ chồng đó ăn thịt đứa con thì họ có thấy thích thú gì không?” Các thầy thưa: “Bạch đức Thế Tôn, làm sao thích thú được khi biết mình đang ăn thịt con.” Bụt dạy: ” Trong đời sống hằng ngày, trong khi tiêu thụ, chúng ta cũng phải biết thức ăn của mình đã có thể được tạo ra bằng sự đau khổ cùng cực của kẻ khác, của những loài sinh vật khác.”

                          “Hai tay nâng bát cơm đầy,
                          dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần.”

                          Ăn không có chánh niệm, ta tạo khổ đau cho mọi loài và khổ đau cho chính bản thân ta. Khi ta hút thuốc, uống rượu, ăn nhiều thức béo vào, là ta đang ăn bộ phổi của ta, đang ăn buồng gan, trái tim của ta, ta tự đang ăn thịt ta. Nếu là cha, là mẹ thì lúc đó ta đang ăn thịt con ta tại vì các con cần có cha mẹ mạnh khỏe, tươi vui. Và nếu cha mẹ trong khi ăn uống mà tàn hại thân thể của chính mình thì chính cha mẹ đang giết con. Thành ra ăn như thế nào để đừng tạo ra những khổ đau cho các loài và đừng tạo khổ đau cho chính mình, đó là chánh niệm và chánh kiến. Ðạo Bụt trong cả Nam Tông và Bắc Tông đều tin rằng chúng sanh từ đời này sang đời khác thay phiên lần lượt làm cha làm mẹ của nhau. Vì vậy mỗi khi ăn thịt, chúng ta hãy có ý thức rằng có thể ta đang ăn thịt cha mẹ hay con cái của ta. Do đó chúng ta đã tập ăn chay và tập không sát sanh.

                          Loại thức ăn thứ hai là xúc thực. Chúng ta có sáu căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Chúng tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp. Ta phải thấy rằng việc tiếp xúc đó có đem chất độc vào người hay không. Ví dụ như khi ta xem truyền hình, mắt ta tiếp xúc với hình sắc. Phải thực tập chánh kiến xem chương trình truyền hình kia có đưa vào trong tâm ta những độc tố như sợ hãi, căm thù và bạo động hay không. Có những phim mang lại cho lòng ta sự hiểu biết, lòng từ bi, chí quyết tâm muốn giúp người, quyết tâm không làm những điều lầm lỗi. Ta biết ta có thể xem phim đó. Ấy là ta thực tập chánh kiến. Người lớn cũng như trẻ em, trong khi xem phim, phải biết thực tập chánh kiến. Phải biết rằng có những chương trình truyền hình chứa đựng rất nhiều độc tố như bạo động, căm thù và dục vọng. Ngay cả những phim quảng cáo cũng khơi động thèm khát, dục vọng hay sợ hãi của người ta. Khi xem một tờ báo không có chánh niệm, chúng ta có thể tiếp nhận rất nhiều độc tố. Ðọc xong ta có thể mệt nhoài vì những điều ta đọc có thể khiến chúng ta chán nản, lo lắng và ghê sợ. Chính những câu chuyện hàng ngày cũng có thể mang nhiều độc tố. Ðó là xúc thực.

                          Chánh kiến phát sinh ra chánh niệm và chánh niệm cũng làm phát sinh chánh kiến. Tôi biết rằng nhìn, nghe và tiếp xúc với những gì thì thân tâm tôi sẽ khỏe khoắn, nhẹ nhàng và an lạc và tôi quyết định mỗi ngày tiếp xúc với những chất liệu đó. Còn nhữõng thứ làm tôi mệt, tôi buồn, tôi lo, tôi giận thì tôi sẽ tránh không tiếp xúc. Ðó là chánh niệm về xúc thực, có được nhờ chánh kiến về xúc thực. Bụt dạy rằng con người rất dễ bị thương tích, trên cơ thể cũng như trên tâm hồn. Bụt đã dùng hình ảnh một con bò bị lột da dẫn xuống sông. Dưới sông có hàng vạn loài sinh vật li ti bu lại hút máu và rỉa thịt con bò. Và khi ta đưa con bò tới đứng gần một bức tường hay một cây cổ thụ, cũng có những sinh vật li ti sống trên bức tường và trong cây cổ thụ bay ra, bám vào con bò để hút máu. Nếu chúng ta không giữ gìn thân và tâm bằng chánh kiến và chánh niệm thì các độc tố trong cuộc đời cũng bám lại và tàn phá thân tâm ta. Năm giới mà chúng ta tiếp nhận và hành trì là bộ da bao bọc thân thể và tâm hồn ra. Nếu không hành trì năm giới là chúng ta không thực tập chánh kiến. Và trong mỗi chúng ta vốn đã có hạt giống của chánh niệm. Thực tập chánh niệm cũng như tạo ra những kháng thể để chống lại sự thâm nhập của các độc tố kia.

                          Loại thức ăn thứ ba là tư niệm thực. Ðó là những nỗi ước ao ta muốn thực hiện cho đời ta. Mong muốn làm giám đốc một hãng buôn lớn, hay mong muốn đậu bằng tiến sĩ, những mong muốn như thế thâm nhập vào người ta giống như một thức ăn. Mong muốn là một loại thực phẩm gọi là tư niệm thực. Ước muốn mạnh sẽ giúp ta năng lượng để thực hiện hoài bão. Nhưng có những loại tư niệm thực làm cho ta khổ đau suốt đời. Như danh, lợi, tài và sắc. Muốn được mạnh khỏe và tươi vui, muốn được giúp đỡ cho gia đình và xã hội, muốn bảo vệ thiên nhiên, tu tập để chuyển hóa, để thành một bậc giác ngộ độ thoát cho đời.vv.. thì đó là loại tư niệm thực có thể đưa tới an lạc, hạnh phúc.

                          Về tư niệm thực, Bụt kể chuyện một người bị hai lực sĩ khiêng người kia ném xuống hầm lửa đang bốc cháy. Bụt nói rằng khi ta bị những tư niệm thực bất thiện chiếm cứ, bị danh, lợi, tài và sắc lôi cuốn thì cũng như ta bị những anh chàng lực sĩ kéo đi liệng xuống hầm lửa. So đó người tu học phải có chánh kiến, phải nhận diện được tư niệm thực trong ta là loại nào.

                          Loại thức ăn thứ tư là thức thực. Chúng ta là sự biểu hiện của thức, gồm có y báo và chánh báo. Chánh báo là con người gồm năm uẩn của ta và y báo thuộc hoàn cảnh chung quanh ta. Vì hành động từ nhiều kiếp xưa nên bây giờ ta có chánh báo này, với y báo này. Chánh báo và y báo đều là sự biểu hiện của tâm thức. Khi làm công việc nhận thức, tâm cũng giống như cơ thể đón nhận các món ăn. Nếu trong quá khứ tâm thức ta đã tiếp nhận những thức ăn độc hại, thì nay tâm thức ta biểu hiện ra y báo và chánh báo không lành. Những gì ta thấy, nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, suy tư, tưởng tượng,tất cả những thứ ấy đều như muôn sông chảy về biển tâm thức. Và những vô minh, hận thù và buồn khổ của ta đều trở về biển cả của tâm thức ta. Vì vậy ta phải biết mỗi ngày chúng ta nhận vào tâm thức của ta những món ăn nào. Chúng ta cho nó ăn từ, bi, hỷ, xả hay là chúng ta cho nó ăn trạo cử, hôn trầm, giãi đãi, phóng dật?

                          Về thức thực, Bụt đã dùng hình ảnh một người tử tù và ông vua. Buổi sáng vua ra lệnh lấy 300 lưỡi dao cắm vào thân thể của một tử tội. Tới buổi chiều vua hỏi: ” Người tù đó bây giờ sao?” – “Tâu bệ hạ, nó còn sống.” – “Vậy thì đem hó ra, lấy 300 lưỡi dao đâm qua người nó một lần nữa.” Và buổi tối, vua hỏi: ” Kẻ đó bây giờ ra sao?” – ” Còn sống.” – ” Hãy lấy 300 mũi dao đâm qua thân thể nó một lần nữa!” Bụt dùng ví dụ đó để nói chúng ta cũng đang hành hạ tâm thức của ta y như thế. Mỗi ngày chúng ta đâm 300 mũi dao của độc tố vào trong tâm thức ta. Những mũi dao của tham lam, giận dữ, ganh tỵ, hờn giận, thù oán, vô minh.

                          Bốn ví dụ kể trên được chép trong Kinh Tử Nhục. Tử Nhục là thịt của đứa con. Bốn ví dụ nghe rất ghê sợ, có tác dụng răn bảo chúng ta phải tỉnh táo giữ gìn chánh niệm.

                          Thích Nhất Hạnh

                          Có Bụt trong xe không?

                          (Trích pháp thoại của Thầy ngày 31/10/2013 tại xóm Thượng – phần I)

                          Kính thưa đại chúng, hôm nay là ngày 31 tháng 10 năm 2013. Chúng ta đang ở tại thiền đường Nước Tĩnh, xóm Thượng, trong khóa tu mùa thu. Sáng nay tại Phương Khê, khi thức dậy thì ở ngoài là 3 độ C. Làng Mai đang vào mùa thu, lá chưa vàng nhiều. Sáng nay có sương mù nhưng khi mặt trời lên thì sương cũng tan hết. Hôm nay Thầy có cơ hội kể lại một ít về chuyến đi vừa qua ở Bắc Mỹ. Chiều nay, có thể các vị khác sẽ tiếp tục kể. Thầy chỉ kể vài nét chính thôi.

                          Cầu nguyện Đất Mẹ cho một ngày mưa

                          Chuyến đi vừa qua kéo dài hai tháng hai mươi ngày. Trước khi lên đường, Thầy không được khỏe lắm, còn ho. Sang tới Canada vẫn còn ho. Nhưng chuyến đi này rất may mắn. Sau khóa tu Canada thì Thầy hết ho. Ở Mỹ, mình có ba tu viện: tu viện Bích Nham ở New York, tu viện Mộc Lan ở Mississippi và tu viện Lộc Uyển ở California. Ba nơi đều không có mưa; trời nắng kéo dài và trong rừng suối khô cạn. Nhưng khi tăng đoàn tới thì cả ba nơi đều có mưa. Ban đầu thì là Bích Nham. Thầy tới được chừng ba, bốn ngày thì trời bắt đầu mưa. Rất là hạnh phúc. Các loài chúng sanh, kể cả loài người nữa, đều hạnh phúc. Cây cối cũng rất là hạnh phúc.

                          Mộc Lan cũng vậy. Thiếu mưa rất lâu, nhưng sau khóa tu cho người Việt thì có mưa. Vì vậy mà khóa tu cho người nói tiếng Mỹ được hưởng cái sự mát mẻ đó, rất là hay. Tại tu viện Lộc Uyển, nắng lâu ngày quá nên nhiều cây sage đã bắt đầu chết. Vì vậy trước khi về Lộc Uyển,  Thầy đã bắt đầu chú nguyện, gửi năng lượng cầu đất Mẹ và cha Trời cho mưa, nhưng đến khi xuống tới phi trường Los Angeles rồi thì nghe nói vẫn chưa có mưa. Vì vậy mà ngồi trên xe, Thầy tiếp tục chú nguyện. Thầy nói: Tăng đoàn Làng Mai xin đất Mẹ và trời Cha cho một ngày mưa hoặc một đêm mưa. Và đôi khi Thầy nghĩ đất Mẹ và cha Trời chưa thương Tăng đoàn Làng Mai đủ để trời mưa, cho nên Thầy cầu cứu với đất Mẹ là tất cả các loài chúng sanh ở trong rừng, kể cả các loài cây cối đang rất mong đất Mẹ cho một ngày mưa, một đêm mưa.

                          Và cuối cùng thì có mưa. Chiều hôm đó, Thầy ngồi thiền trong nhà và nhìn ra thấy mưa rất đẹp, trong lòng có rất nhiều hạnh phúc. Ngày hôm sau Thầy đi thăm cây, và thấy rõ ràng là cây cối đang rất hạnh phúc. Chỉ cần năm ngày sau là các cây sage lấy lại phong độ, bắt đầu cho ra những đọt non. Thành ra chuyến đi này rất may mắn, có ba trận mưa tại ba trung tâm của mình.

                          Chuyến đi này có rất nhiều khóa tu, nhiều ngày quán niệm, và nhiều buổi diễn thuyết công cộng. Phái đoàn làm việc rất nhiều. Các thiền sinh cũng như quần chúng được hưởng rất nhiều lợi lạc. Không những vậy mà các thầy các sư cô ở tại ba tu viện đều có cơ hội đi theo Thầy và tăng đoàn trong suốt chuyến đi. Thành ra thầy trò và huynh đệ có cơ hội làm việc chung với nhau, ngồi với nhau, đi với nhau, phụng sự với nhau, rất là hạnh phúc.

                          Bụt có ngồi trong xe không?

                          Có một hôm ngồi trên xe bus, Thầy hỏi vị thị giả của Thầy: “Con nghĩ là Đức Thế Tôn có ngồi trong xe với mình hay không?”. Thầy Pháp Nguyện trả lời: Dạ có. Thầy nói: có chắc hay không? Hôm ấy có tới ba chiếc xe bus. Thầy ngồi trong một chiếc, và còn hai chiếc kia… Muốn biết là có Bụt ngồi trong xe hay không, chuyện đó cũng dễ thôi.

                          Nếu trong xe năm chục người ngồi mà có một người thôi đang thở trong chánh niệm thì có nghĩa là Bụt đang ngồi trong xe. Mà nếu có hai người, ba người, năm người cùng thở, cùng ngắm phong cảnh trong chánh niệm thì sự có mặt của Bụt rất là rõ ràng. Và nếu tất cả năm chục người đều đang thở thì chuyện đó là chuyện rất mầu nhiệm. Thầy có nói rằng chỉ cần trong xe có một người thở trong chánh niệm thôi là đã có Bụt ở trong xe. Và có Bụt ở trong xe thì tất cả mọi người trong xe đều được bảo hộ bởi năng lượng đó và trong xe có an ninh hơn nhiều.

                          Ngồi trong xe, xe bus hoặc xe van hoặc xe thường, nếu quý vị muốn hỏi câu hỏi “có Bụt ngồi trong xe này hay không?” thì quý vị có thể tự trả lời được. Mình có quyền làm cho Bụt có mặt trong xe hay không? Nếu mình thở trong chánh niệm thì mình biết chắc là có Bụt đang ngồi trong xe và cả xe đều được bảo vệ.

                          Ngồi trên máy bay từ San Francisco về Paris, Thầy cũng có hỏi: Có Bụt ở trong máy bay này hay không? Câu trả lời rất rõ. Muốn có Bụt trong máy bay thì mình chỉ cần thở trong chánh niệm. Thành ra mình có một quyền năng rất lớn mà mình không biết. Nếu có hai người, ba người thở thì sự có mặt của Bụt càng rõ ràng hơn nữa. Cho nên Thầy muốn các vị, từ xóm Thượng đi xuống xóm Hạ hay đi về xóm Mới, khi ngồi trên xe nên hỏi: trong xe này có Bụt ngồi với mình hay không?

                          Thầy nhớ trong một chuyến đi Ấn Độ do giáo thọ Shantum Seth tổ chức, mình đi một phái đoàn tới 300 người, vì vậy cho nên mình có tới 11 chiếc xe bus. Và Thầy muốn là trên chiếc nào cũng có Bụt ngồi cả chứ không phải chỉ có chiếc của Thầy. Cho nên Thầy yêu cầu trên mỗi chiếc xe bus đều có một cái chuông, lâu lâu mình thỉnh một tiếng chuông cho mọi người thở. Và khi mọi người đều thở thì chắc chắn là có Bụt đang ngồi trong xe với mình. Bụt đang ngồi với mình thì mình có hạnh phúc nhiều hơn, có an ninh nhiều hơn. Thành ra muốn biết là Bụt có ở trong xe hay không, câu trả lời rất dễ.

                          Khắp nơi trên thế giới, tăng thân mình khi đi xe nên có chuông trên xe. Phải có một cái chỗ để chuông. Ở Việt Nam cũng như ở các nước Phật giáo, trong xe hơi người ta thường treo tượng Bụt, hoặc là treo một túi kinh trong đó có Bát Nhã Tâm Kinh,v.v., nhưng không có nghĩa rằng khi mình có treo tượng Bụt thì có Bụt ở trong xe. Dù tượng Bụt làm bằng plastic, hay làm bằng ngọc đi nữa thì cái đó cũng không phải là Bụt. Chỉ khi nào trong xe có người thở và nhìn trong chánh niệm thì khi đó mới có Bụt thật mà thôi. Cho nên Thầy đề nghị từ nay về sau, trong mỗi xe của tu viện đều phải dán lên câu: Có Bụt ngồi trong xe không? Và khi lên xe thấy câu đó thì mình có thể nói: thôi, để mình làm cho Bụt có mặt đi! Nếu những người khác đang bận lo lắng, bận suy nghĩ về những chuyện khác thì mình làm việc này cho họ.

                          Ngày hôm qua Thầy đã viết xuống câu thư pháp “Bụt có ngồi trong xe không?” hay là câu “Có Bụt trong xe không?”. Từ nay về sau trên mỗi xe, hoặc là xe bus, hoặc là xe van hoặc xe thường đều nên dán câu đó, và chúng ta cũng cần có thêm một cái chuông nhỏ nữa. Và vị nào lái xe thì khi đại chúng đã lên xe rồi, có thể nhắc: không biết có Bụt ở trong xe hay không? Và nhờ một người thỉnh chuông cho mọi người thở. Đó cũng là một phương pháp thực tập chánh niệm.

                          Có Bụt trong cuộc đời là chúng ta đã có hạnh phúc nhiều lắm! Nhưng đâu phải chỉ có Bụt trong cuộc đời, mà mình còn có nhau nữa, cho nên hạnh phúc đó rất là lớn! Vì vậy khi mình thỉnh chuông thì mọi người sẽ không nói chuyện, không suy nghĩ mà trở về với hơi thở và ý thức rằng mình đang có Bụt trong cuộc đời và mình cũng đang còn có nhau. Còn hạnh phúc nào lớn hơn thế nữa?

                          Đọc thêm:

                          Phần 2: Bụt có khổ không?

                          Phần 3: Anh muốn làm gì với đời anh?

                          Truyền thông bằng niệm hương

                          Tại sao sự truyền thông bị bế tắc?

                          Có những cặp cha con không nói chuyện được với nhau. Cha không muốn nhìn mặt con và con cũng không muốn nhìn mặt cha. Mỗi khi nghĩ tới con là người cha có sự bực tức, và đứa con khi nghĩ đến cha là có sự bực tức. Có những cặp vợ chồng cũng không nói chuyện được với nhau, không nhìn được mặt nhau. Mỗi khi nghĩ tới người kia thì không có hạnh phúc. Chúng ta đã làm ăn như thế nào để đi tới tình trạng này? Nếu đi tới tình trạng này rồi thì có thể có một đường thoát hay không?

                          Ngày xưa, khi biết tin vợ mình có mang em bé thì trong lòng mình có sự rung động kỳ diệu. Mình cảm thấy hạnh phúc khi sắp được làm cha. Và đối với người thiếu phụ, khi được bác sĩ báo tin mình có thai thì cũng có sự xúc động lớn. Tuy em bé chưa sinh ra, nhưng mình đã có tình thương rồi. Khi có em bé ở trong bụng,  mình cảm thấy đời đẹp hơn, tươi hơn, có niềm vui hơn, và mình có thể nói chuyện với em bé mỗi ngày không chán. Tình thương rất là mầu nhiệm. Khi ăn cái gì mình cũng nghĩ rằng thức ăn này sẽ đi vào trong em bé, khi uống cái gì cũng nghĩ rằng cái mình uống sẽ đi vào trong em bé nên mình hết sức cẩn thận. Khi lo lắng cái gì cũng nghĩ rằng cái lo lắng của mình sẽ đi vào trong em bé cho nên mình tìm cách không có lo lắng, sợ hãi, buồn phiền. Và người cha cũng vậy. Người cha biết rằng nếu mình làm cho người vợ khổ đau, lo lắng thì sẽ hại cho em bé, cho nên người cha trở thành nhẹ nhàng hơn, nói năng dịu dàng hơn. Có sự thay đổi như vậy là tại vì cả hai người đều thương con. Như vậy tình yêu, tình thương với đứa con bắt đầu rất là đẹp. Vậy thì  tại sao bây giờ mình không nhìn được mặt con, nghĩ tới chuyện từ con, hay mỗi khi thấy mặt nó là nổi cáu? Tại mình không biết tu!

                          Ngày xưa, khi thấy người thiếu nữ đó mình rất cảm động. Đó là một nàng tiên đẹp từ bên trong đẹp ra. Mình cứ luôn nghĩ rằng: nếu cưới được người này thì mình mới có hạnh phúc được, và nếu thiếu người này thì đời sống không có gì vui và mình không thể nào sống được. Chỉ cần nhìn người đó là mình có hạnh phúc, chỉ cần nghe giọng người đó nói, dù là qua điện thoại, cũng đủ để có hạnh phúc rồi. Nhưng bây giờ tại sao mình không nhìn mặt nhau được, mình không nói chuyện với nhau được? Tại sao truyền thông bị bế tắc và mình nghĩ tới chuyện ly dị? Đó là câu hỏi. Cho nên cần phải có một cách sống, một cách nói năng và suy tư nào đó để giúp mình tái lập được truyền thông và xây dựng lại tình thương, để tìm lại được hạnh phúc ngày xưa.

                          Sở dĩ mình không nhìn được mặt người kia, không nói chuyện được với người kia là tại vì trong lòng mình có những cái gọi là nội kết. Nội kết là một danh từ Phật giáo, có nghĩa là những nút thắt, tiếng Anh gọi là knots. Khi người kia nói hay làm một điều gì đó tạo ra nỗi khổ, niềm đau trong lòng mình, mình không biết cách tháo gỡ nên đã để nó trở thành một cái cục, giống như cục sạn ở trong thận và nó còn đó hoài. Đó là nội kết, một nội kết khổ đau. Mình không có khả năng tháo gỡ nội kết đó, và người kia cũng không có khả năng giúp mình tháo gỡ cho nên cái nội kết đó còn mãi. Cái khổ đau do câu nói hay hành động của người kia tạo ra cứ còn mãi, và vài ngày hôm sau lại có thêm nội kết mới trong khi nội kết cũ chưa tháo gỡ được. Cứ như vậy sau nhiều tháng, nhiều năm thì mình có quá nhiều nội kết, và vì vậy cho nên mình không nhìn mặt người kia được. Mình sợ người kia sẽ nói, sẽ làm những điều gì nó tưới tẩm những nội kết cũ và nó sẽ tạo ra những cái nội kết mới. Trong chúng ta ít nhiều cũng có những nội kết. Nhiều nội kết do tự mình làm ra, do sự si mê của mình, người kia không làm mình khổ mà cứ tưởng rằng người kia muốn làm mình khổ. Và những nội kết do sự vụng về của người kia gây ra tạo thành những khối được kết tụ lại trong tâm mình và mình không tháo gỡ được, không chuyển hoá được.

                          Phép lạ của sự hòa giải

                          Trong những khóa tu mà mình tổ chức ở tại Âu Châu, Mỹ Châu, Á Châu, Úc Châu luôn luôn có những cặp vợ chồng và cha con hòa giải được với nhau sau bốn, năm ngày thực tập. Đau khổ kéo dài trong nhiều năm nhưng mà chỉ cần tu 5 ngày, 6 ngày là có khả năng tháo gỡ và hoà giải được. Mà phép lạ của sự hoà giải, của sự chuyển hoá luôn luôn xảy ra trong các khoá tu mà phần lớn người tới tu học không phải là Phật tử, họ là những tín đồ của Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo… Mình là Phật tử, nhiều thế hệ đã theo đạo Bụt, nhưng tại sao mình không biết thực tập để thoát ra được mà chịu chết như vậy?

                          Vậy nên mình phải đứng dậy, phải nắm lấy giáo pháp để tu tập. Và mình cần thấy rằng: nếu người không phải là Phật tử sau năm ngày tu tập có thể chuyển hóa và tái lập được truyền thông thì tại sao mình là người Phật tử mà lại không làm được. Chắc chắn mình có thể làm được, và mình có thể làm hay hơn! Có niềm tin đó là bởi vì  mình đã từng tiếp nhận hạt giống của chánh pháp ở trong con người của mình rồi.

                          Và khi tu tập, mình có thể tháo gỡ và chuyển hoá được những nội kết trong mình. Phương pháp làm mới của Làng Mai nhằm mục đích không để cho nội kết tiếp tục được thành hình. Vì vậy nên mỗi tối thứ sáu, hai vợ chồng, hai cha con, cả gia đình cần ngồi xuống để làm mới. Làm mới là một phương pháp tháo gỡ nội kết. Mình ngồi với nhau, im lặng nghe chuông, mình thở để làm cho lắng dịu tâm và thân mình. Ở giữa vòng tròn của gia đình có một bình hoa, khi mình muốn chia sẻ thì bình hoa đó sẽ được đưa tới trước mặt mình, mình cầm bông hoa lên và thở ba hơi rồi nói, dầu chỉ có hai người cũng vậy. Chẳng hạn như nói : “Anh ơi, ngày hôm kia anh nói một câu làm cho em đau, em muốn anh biết cái điều đó. Em đau lắm! Em không hiểu tại sao anh lại nói một câu như vậy? Câu ấy nó có thể làm tan vỡ tình nghĩa của chúng ta. Đó là một nội kết mà em đã cất giữ hai ngày rồi. Trong hai ngày này em đã cố gắng để tháo nó mà chưa làm được. Anh giúp em đi, anh giúp em tháo cái nội kết đó đi, nếu anh không giúp thì ai giúp em bây giờ. Nói cho em biết tại sao anh đã nói một câu như vậy, anh đã làm một cái điều như vậy,…”.

                          Khi cầm bông hoa mình có thể nói như vậy, và nói bằng cái giọng không trách móc, không buộc tội, nói bằng giọng khẩn thiết yêu cầu người kia giúp đỡ. Tại khi mình thương nhau, mình cần đến nhau và khi mình nói như vậy thì người kia sẽ có cơ hội quán chiếu, nhìn lại. Và nếu người kia thấy rằng mình có lỗi thì xin lỗi, nếu người kia thấy đây là một chuyện hiểu lầm thì sẽ tìm cách cắt nghĩa. Có như vậy mới tháo gỡ được nội kết. Đừng để cho nội kết đó ở lâu trong con người của mình. Đó là phương pháp làm mới mỗi tuần. Các thầy, các sư cô có thể đã trình bày phương pháp làm mới để giải tỏa nội kết rồi, nhưng mà mình phải tiếp tục học thêm. Mình cần phải nắm cho vững pháp môn, và mỗi tuần đều thực tập làm mới thì mới giữ được hạnh phúc. Và như thế sẽ không đi tới tình trạng không nhìn được mặt nhau, không nói chuyện được với nhau, truyền thông bế tắc.

                          Giữa cha con cũng vậy. Nếu cha làm khổ con thì con cũng có thể dùng phương pháp ái ngữ để thưa với cha rằng: “Những điều ba nói đã làm cho con đau. Con đã cố gắng trong mấy ngày nay mà không tháo gỡ được. Có thể là con hiểu lầm ý của ba, ba không muốn nói như vậy nhưng con nghĩ đi nghĩ lại vẫn chưa thấy được điều đó. Cho nên ba phải giúp con, để con có thể nói chuyện được với ba và ba nói chuyện được với con”. Mình không dùng áp lực, dùng quyền hành làm cha của mình để bắt đứa con phải tuyệt đối vâng theo lệnh của mình. Tại vì làm như vậy thì có thể đánh mất truyền thông. Và khi giữa cha và con không còn truyền thông nữa thì không có hạnh phúc, cha cũng không có hạnh phúc và con cũng không có hạnh phúc. Con có thể nói ra tất cả những điều gì trong lòng của mình cùng cha, với điều kiện là mình nói lễ phép, nói sự thật những đau khổ của mình. Và cha phải có thì giờ và cho con một cơ hội để nó nói ra những nỗi khổ niềm đau của nó, để có thể giúp cho con thấy được sự thật, giúp cho con đi ra khỏi hiểu lầm, hoặc nếu cha có vụng về thì có thể xin lỗi con. Tôi là thầy nhưng mà nhiều khi tôi đã xin lỗi đệ tử của tôi.

                          Phương tiện truyền thông thực sự

                          Người ta nghĩ rằng điện thoại và internet có thể giúp cho người ta truyền thông với nhau tốt. Hiện bây giờ nơi nào cũng có điện thoại hết, ở bên Trung Quốc điện thoại nhiều hơn ở Âu Châu nữa. Khi mình muốn gửi một thông điệp, một cái thư thì chỉ trong một phút sau, nửa phút sau là người bên kia nhận được. Phương tiện truyền thông rất đầy đủ, rất phong phú nhưng trong khi đó cha không nói chuyện được với con, vợ không nói chuyện được với chồng thì những phương tiện truyền thông đó được dùng vào việc gì?

                          Khi những nhà sản xuất điện thoại nói về phương tiện truyền thông thì họ nói rằng: “We bring people together”, chúng tôi giúp cho mọi người tới gần nhau. Điều ấy chưa chắc đã đúng! Điện thoại hai ba cái, bên này hai cái điện thoại, bên kia hai cái điện thoại nữa, hai túi bốn cái điện thoại chưa hẳn là mình đã truyền thông được với người kia. Quí vị nên biết là bốn mươi năm qua, Thầy không có điện thoại cũng không dùng điện thoại, ấy vậy mà Thầy không bị cắt đứt truyền thông với các đệ tử hay là những người thân. Thầy chỉ viết thư thôi, có khi thư cả tháng mới tới được người kia. Thành ra mình đừng tưởng là khi có điện thoại trong túi là mình có thể truyền thông được. Trong truyền thông Phật giáo có một phương tiện truyền thông rất hay. Đó là thắp nhang, đốt trầm.

                          Tú Uyên – Giáng Kiều

                          Có một câu chuyện thật đã xảy ra tại thủ đô Thăng Long – Hà Nội. Hôm nay tôi xin kể lại cho quí vị nghe. Có một cặp vợ chồng đã từ lâu không nhìn mặt nhau, làm khổ nhau, vậy mà rốt cuộc họ truyền thông lại được với nhau và làm hoà với nhau. Mà phương pháp truyền thông của họ không phải là điện thoại. Tại vì thời đó chưa có điện thoại, đó là đời Lê Thánh Tông. Câu chuyện này được nữ sĩ Đoàn Thị Điểm (*) viết lại trong tác phẩm ”Truyền Kỳ Tân Phả”.

                          Trong “Truyền Kỳ Tân Phả”, Đoàn Thị Điểm có viết truyện của một anh chàng tên là Tú Uyên sống vào đời vua Lê Thánh Tông, đời hậu Lê, tức cách đó trên mấy thế kỷ. Tú Uyên là chàng sinh viên đẹp trai, thông minh nhưng có một vài tật xấu như không biết lắng nghe, không biết nói lời ái ngữ, lại ưa uống rượu. Tú Uyên học trường đại học. Hồi đó chưa gọi là trường đại học mà gọi là trường Đại tập, học để đi thi. Tú Uyên không phải là một người con trai có hạnh phúc, tại vì có những khó khăn với bố, với mẹ, không biết lắng nghe, không biết nói lời ái ngữ, và tánh rất nóng. Vì vậy trong lòng Tú Uyên có rất nhiều nội kết và gây ra những nội kết cho bố mẹ, thành ra anh không có hạnh phúc trong gia đình. Đến khi đi vào trường học thì cũng thói nào tật đó, cho nên chơi với ai cũng không chơi được lâu, vài ba tuần là la mắng người ta, chửi người ta, rốt cuộc là không có bạn, thành ra sống rất cô đơn.

                          Ban đầu Tú Uyên cũng có những người bạn rất dễ thương, những cô thiếu nữ rất xinh đẹp, nhưng chơi một hồi mấy người kia ngán bỏ đi hết tại vì cái tánh không chịu lắng nghe, không biết nói những lời ái ngữ, nổi nóng lên thì nói và làm những  điều mất tình, mất nghĩa. Cho nên anh chàng rất cô đơn, không có bạn.

                          Một hôm Tú Uyên đi chùa Ngọc Hà, tức là chùa Bà Ngô ở Hà Nội bây giờ. Tú Uyên đi chùa không phải để nghe pháp thoại, không phải để tụng giới, không phải là để thực tập thiền hành, thiền tọa, mà đi chùa chỉ hy vọng gặp một vài cô gái để kết làm bạn thôi. Bữa đó anh tới cổng tam quan của chùa thì thấy có một đoàn hành hương từ trong chùa đi ra, trong số đó có một cô rất xinh đẹp. Anh ta choáng váng. Anh đã từng thấy những cô gái đẹp nhiều lần rồi nhưng mà chưa bao giờ thấy có một cô đẹp như vậy. Vì vậy nên đi vào trong sân chùa rồi, anh quyết định quay trở ra để đi theo cô đó, nhưng mà rủi cho anh ta, những người đi hành hương tiếp tục đi vào, thành ra anh phải chờ những người kia đi vào hết rồi mới đi ra được, khi đi ra thì người thiếu nữ kia biến mất.

                          Từ đó về sau, hình ảnh của cô gái kia cứ lảng vảng trong đầu, anh không thể nào quên được. Đêm nằm mơ thấy hình bóng đó, và không ăn được, không ngủ được, lòng cứ tơ tưởng tới nét mặt của cô gái kia. Anh ta đi tới đền Bạch Mã để xin xăm bói quẻ, coi mình có duyên gì với cô gái đó hay không, làm thế nào để gặp lại. Đêm về, anh nằm mơ thấy một ông cụ nói: ”Sáng sớm mai đi ra ngoài cầu Đông thì sẽ có cơ hội” – Cầu Đông tức là phố Hàng Đường bây giờ ở Hà Nội. Mộng như thế anh chàng ngủ không được nữa, cứ thức đợi trời sáng. 6 giờ sáng trời còn chưa rõ, anh đã đi ngoài đó rồi. Và khi đi ra ngoài đó thì thấy có một tiệm bán giấy, bán bút, bán tranh nhưng mà chưa mở nên anh đứng đợi với hy vọng mình sẽ được gặp người đó ở trong quán sách. Khi tiệm sách đó mở cửa thì anh ta đi vào, trong lòng cũng có ý muốn mua một ít bút, một ít mực và một ít giấy. Lúc vào thì thấy có một bức tranh mà người trong tranh giống hệt cô gái anh đã gặp ngày hôm kia. Do đó anh đã bỏ hết tất cả tiền có trong túi để mua tấm tranh đó, không cần mua sách vở, bút mực gì nữa hết. Đem bức tranh về, anh chàng treo trên tường để ngắm cho đỡ nhớ. Đi học về, anh ta làm một tô mì gói để ăn, và vì nhớ cô gái đó thành ra mỗi bữa anh làm hai tô và để hai đôi đũa, một tô cho anh và một tô để mời cô kia.

                          Trong cuộc sống đời thường, có những chàng trai, những cô gái rất cô đơn. Đôi khi mình ngồi nói chuyện với chính mình, nói chuyện với cái bóng của mình, rất là cô đơn tội nghiệp. Xã hội đông đảo như vậy với biết bao nhiêu người trẻ nhưng mà mình vẫn hết sức cô đơn. Mà mình đâu phải là không đẹp trai. Mình rất đẹp trai mà vẫn cô đơn như thường, tại vì cái tánh của mình xấu, không biết lắng nghe, không biết nói ái ngữ, có nhiều đam mê, có nhiều tật xấu, có nhiều bạo động trong người. Trong xã hội có những người họ nói chuyện với con người không được, nên họ mua một con mèo hay một con chó để nuôi và để cưng con mèo, con chó đó. Họ mua những hộp thức ăn rất đắt tiền cho con mèo của mình và trút tình thương của mình vào con mèo đó hay là con chó hoặc con chim đó. Thương một con mèo dễ hơn thương con người, đôi khi mình nói tầm bậy tầm bạ, con mèo không có giận. Tội nghiệp như vậy đó!

                          Có một bữa anh ta buồn quá, nuốt mì không vô nên mới nhìn chăm chú lên cô gái thì tự nhiên thấy cô gái nháy mắt một cái. Lạ quá, người trong tranh mà sao nháy mắt được. Anh ta dụi mắt rồi nhìn lại thì thấy không có nháy gì hết. Một lát nhìn lên thì thấy cô ta mỉm cười. Khi người ta cô đơn, người ta có thể tưởng tượng ra như vậy. Nhưng mà sự thật thì anh rất ngạc nhiên, anh thấy cả thân hình cô động đậy, rồi cô bước từ trong bức tranh xuống thành ra một con người bằng xương, bằng thịt rõ ràng. Quí vị có biết, sau khi bước xuống, cô nói cái gì với anh không? Câu đầu tiên mà cô nói với anh chàng sinh viên đó là: ”Tô mì như vậy mà anh ăn được thì tôi cũng phục anh thiệt!”. Sau khi bảo anh đợi một chút cô biến mất, hai phút sau cô xuất hiện với một cái giỏ rau rất xanh và thơm, có rau ngò, hành hoa, có đủ thứ hết, rồi cô loay hoay chút xíu là có hai tô mì rất thơm ngon. Cô đúng là một nàng tiên xuất hiện trong cuộc đời của anh, anh ta hạnh phúc quá chừng.

                          Tôi ngưng kể chuyện này một chút để nhắc quý vị rằng: trong đời quý vị, nàng tiên của quý vị có thể đã hiện ra rồi đó. Nàng tiên đó có thể là mẹ của mình hay là bố hoặc bạn của mình. Chuyện này không phải là chuyện tưởng tượng, chuyện có thiệt. Mỗi người trong chúng ta đều có một nàng tiên hoặc là hai, ba nàng tiên; hoặc là một ông tiên, hay hai, ba ông tiên đã hiện ra rồi. Họ rất dễ thương. Có người đó, không khí trong nhà khác hẳn, rất hạnh phúc. Chúng ta có phước quá đi cho nên mới có một nàng tiên hiện ra trong cuộc đời của mình.

                          Nhưng mà mình biết điều gì sẽ xảy ra tiếp trong câu chuyện rồi. Vì tánh nào, tật đó khó thay đổi nên chỉ sống được mấy ngày có hạnh phúc, anh ta trở lại tánh cũ. Anh ta nói những câu rất nặng nề, rồi có những cử chỉ không dễ thương, và còn đi về trễ. Khi uống rượu say về anh chửi mắng, đánh đập cô tiên ấy. Cô tiên đó có tên là Giáng Kiều, một người đẹp từ trên trời đi xuống. Giáng Kiều hết lòng khuyên anh nên tu tập, nên đi chùa, và nên giữ giới, tụng giới. Ban đầu anh ta cũng nghe theo, anh ta cũng đi chùa, cũng nghe pháp thoại. Có bữa hai người cùng vào ngồi nghe pháp thoại. Trong khi tất cả mọi người chăm chú nghe Thầy giảng thì anh ta không nghe. Bài pháp thoại không đi vô trong người anh ta.

                          Hồi đó chưa có điện thoại, người ta chỉ có thể viết thư, mà viết thư bằng chữ Hán chứ chưa có tiếng Việt nữa, thì phương pháp duy nhất để truyền thông là viết lá thư, hoặc là nhắn một người đi tới để nói lại thông điệp ấy. Trong nghi lễ Phật giáo, trong truyền thống của dân tộc mình, khi muốn truyền thông thì phải thắp hương. Mình muốn có sự cảm thông giữa mình với tổ tiên thì mỗi ngày mình phải thắp hương. Mình thắp hương lên bàn thờ tổ tiên để giữ sự truyền thông giữa mình với tổ tiên. Người nào cũng có gốc rễ hết. Cây có cội, nước có nguồn và con người thì có tổ tiên, vì vậy văn hoá của người Việt là phải có một bàn thờ tổ tiên trong gia đình và người mà không truyền thông được với tổ tiên là một người mất gốc.

                          Vì vậy thắp hương lên bàn thờ tổ tiên là một sự thực tập của người Việt. Mỗi ngày phải thắp một nén hương và đứng im lặng trước bàn thờ tổ tiên. Mình liên hệ, tiếp xúc được với tổ tiên trong giây phút im lặng đó. Mỗi ngày phải lấy khăn để lau bàn thờ cho bụi đừng dính vào đó. Bề ngoài ngó vào giống như là mê tín dị đoan nhưng mà đó là một hành động rất văn minh. Tại vì sự thật là khi mình bị phóng thể thì mình không thể có hạnh phúc được, vì vậy cho nên mình phải có gốc rễ nơi tổ tiên, mình phải biết tổ tiên mình là ai, như vậy mới có sự truyền thông, khi đó mới có sự lưu thông trong con người của mình. Còn nếu không biết tổ tiên của mình là ai, không có sự truyền thông với tổ tiên của mình thì mình là một con người bị cô lập hoá trong xã hội, và mình cũng không thể tiếp xúc được với con, với cháu và với bạn bè của mình.

                          Theo truyền thống Việt Nam, tuy là không nói ra sách vở nhưng mà mỗi nhà đều phải có một bàn thờ. Bàn thờ tổ tiên đó là văn minh chứ không phải là mê tín đâu. Mỗi ngày chỉ cần một phút, hai phút để lau bàn thờ ấy. Trong khi lau bàn thờ để cho khỏi bụi thì tâm mình hướng về tổ tiên, và khi thắp một cây nhang thì mình đừng nghĩ tới chuyện công ăn việc làm chỉ nghĩ tới tổ tiên thôi. Trong khi đứng nửa phút trước bàn thờ tổ tiên thì mình có sự tiếp xúc với tổ tiên. Điều này là một hành động rất thông minh, rất văn minh.

                          Sự thờ cúng tổ tiên có ý nghĩa như vậy nên chúng ta cần phải học, chỉ cần như vậy thôi là mình không bị cắt đứt gốc rễ với tổ tiên. Cha mình cũng là tổ tiên, nhờ cha mà mình tiếp xúc được với quá khứ tổ tiên của mình; và con mình cũng là sự nối tiếp của mình, nhờ con mà mình đi được về tương lai, nhờ cha mẹ mà mình đi được về quá khứ. Khi cha và con cộng tác thì có cả tương lai và có cả quá khứ. “Ta vẫn có ngày mai, ta vẫn còn quá khứ, nên hôm nay ta vẫn sống nhẹ nhàng”. Nếu quá khứ bị cắt đứt, tương lai bị cắt đứt thì không có hạnh phúc. Vì vậy cho nên cha giận con là một thảm họa trong gia đình. Khi cha với con truyền thông được với nhau thì cả hai cha con đều cùng có quá khứ và tương lai hạnh phúc. Đó là điều mà chúng ta cần phải thấy.

                          Đây là vấn đề văn minh chứ không phải là vấn đề tôn giáo và tín ngưỡng, cho nên phải gấp rút tái lập lại truyền thông giữa hai cha con thì mới có tương lai và quá khứ được. Do đó, dù mình có đi ra ngoại quốc thì mình cũng phải giữ bàn thờ của tổ tiên. Cho dù nhà mình có nhỏ, dù mình là sinh viên chỉ có một cái phòng rất nhỏ, mình cũng phải có một cái góc nào đó để thờ tổ tiên, để thắp một cây hương. Ở trong chùa cũng vậy, cũng thắp hương, cũng đốt trầm. Và riêng trong chùa thì người ta không phải chỉ đốt nhang, trầm mà thôi. Trong truyền thống Phật giáo thì có năm thứ nhang, năm thứ hương ấy nếu đốt được thì có công hiệu gấp ngàn lần chỉ đốt hương trầm thôi. Ngoài đời chỉ có hương chiên đàn, hương trầm, ở trong chùa ngoài những thứ đó còn có năm thứ hương nữa, đó là giới hương, định hương, tuệ hương, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương.

                          Giới hương tức mình đốt hương bằng sự trì giới, giữ gìn năm giới. Mình không nói dối, không la mắng và dùng lời ái ngữ đó là giới thứ tư. Mình không uống rượu, không sử dụng chất ma tuý, không có tiêu thụ những sản phẩm có độc tố, đó là giới thứ năm. Mình không có tà dâm, không ăn nằm với những người không phải là vợ hay chồng của mình. Rồi mình biết bảo hộ sinh mạng, bảo hộ môi trường, đó là giới thứ nhất, là bất sát. Khi mình sống như vậy là mình đang cúng dường một thứ hương gọi là hương giới, loại hương này quý hơn cả hương trầm. Vì vậy cho nên khi đứng trước đức Thế Tôn thì mình chắp tay mà nói rằng: “Con nay xin dâng hương lên đức Thế Tôn, và hương của con dâng lên là hương giới, hương định, hương tuệ, giải thoát hương, giải thoát tri kiến hương”. Là Phật tử, mình phải biết thắp loại hương đó chứ không phải chỉ thắp hương mua ở ngoài chợ.

                          Hôm ấy Thầy ở chùa Ngọc Hồ giảng về bài “Ngũ phần hương” ấy. Nhưng anh chàng Tú Uyên đâu chịu nghe, anh nghe anh chán, chỉ có Giáng Kiều ngồi nghe pháp thoại còn chàng ta cứ nghĩ chuyện gì đâu, nghĩ chuyện chiều nay mình uống rượu gì, mình đi chơi với ai. Vì vậy cho nên bài pháp cũng vô nhưng độ chừng một hai phần trăm thôi. Bởi chứng nào tật đó nên anh ta cứ uống rượu say, đi chơi về khuya và khi nói hơi toàn nồng nặc mùi rượu. Khi được Giáng Kiều khuyên, anh ta đã không nghe theo mà còn la mắng, đánh đập nàng nữa. Cho nên bữa sáng đó lúc thức dậy gần 12 giờ trưa thì thấy một mảnh giấy của Giáng Kiều để lại: “Thôi anh ở lại một mình, sống với anh khó quá! Em đi!” và Giáng Kiều bỏ đi.

                          Nhớ lại giờ phút đầu tiên, cái phút mà thấy Giáng Kiều, nháy mắt một cái, mỉm cười một cái và bước ra từ bức tranh thật hạnh phúc biết bao mà kể, cái mối tình lúc ban đầu nó đẹp như thế, vậy làm ăn sao mà đến nỗi bây giờ Giáng Kiều bỏ đi. Trước khi kể tiếp thì tôi xin hỏi quý vị: “Giáng Kiều của quý vị đang còn đó hay là đã bỏ đi rồi, hay sắp sửa bỏ đi?”, “Quý vị làm ăn sao mà bây giờ Giáng Kiều đã nghĩ tới chuyện ly dị, cha muốn từ con, con không có nhìn được mặt cha, vợ sắp bỏ chồng, chồng sắp bỏ vợ?”. Đây là một câu hỏi. Mình làm ăn như thế nào, đã nói những cái gì, đã làm những điều gì, đã gây nội kết cho người đó như thế nào, rồi người đó phản ứng ra sao, gây nội kết cho mình ra sao? Mình là con nhà Phật tử mình, mình có biết tu tập chuyển hoá, tháo gỡ nội kết hay không?

                          Khi Tú Uyên đọc thông điệp:”Thôi em đi, không thể nào sống được với anh nữa. Em chịu thôi!” thì nỗi đau, niềm tuyệt vọng trào lên, và Tú Uyên không muốn sống nữa, có ý muốn tự tử.

                          Trong xã hội bây giờ, số thanh niên thiếu nữ đi tự tử đông lắm. Ở Hồng Kong, số người nhảy từ cao ốc 40 tầng xuống để chết thật nhiều, ở bên Pháp mỗi ngày có khoảng 30 thanh niên tự tử, bên Anh nhiều hơn, Nhật Bản cũng rất là nhiều, Việt Nam cũng vậy. Tại sao như thế? Tại mình lâm vào tình trạng tuyệt vọng nên đôi khi mới mười mấy tuổi đã tự tử rồi. Cho nên Tú Uyên không phải chuyện ngày xưa, Tú Uyên là chuyện ngày hôm nay, đang xảy ra rất gần.

                          Trong khi đi kiếm sợi dây thòng lọng để treo cổ, thì tự nhiên anh ta nhớ lại kỷ niệm lúc hai người tới chùa Ngọc Hồ và nghe giảng. Sau khi nghe giảng xong lúc đi ra thì Giáng Kiều hỏi: ”Anh có thích bài pháp thoại nàykhông?”. Anh chàng nói: “thích” nhưng kỳ thực anh ta đâu có nghe. “Thầy nói là mình muốn truyền thông với nhau thì mình phải thắp nhang, mai mốt ví dụ em bỏ anh đi chỗ khác, anh muốn em trở về thì anh phải thắp nhang’” Khi nhớ lại được câu đó anh liệng cái thòng lọng đi, và chạy ù ra ngoài chợ rồi mua một bó nhang.

                          Vì nóng nảy nên thay vì thắp một cây nhang giống như mấy thầy ở đây, anh ta lại thắp hết cả bó nhang do đó khói bay lên mù mịt. Anh ta ngồi chờ mười lăm phút không thấy Giáng Kiều hiện ra trở về, nửa giờ rồi một giờ rưỡi, hai giờ cũng vậy, cứ ngồi đó mà chờ. Nhờ chờ đợi nên tự nhiên anh ta có cơ hội ngồi yên như vậy, đây là lần đầu tiên trong đời anh ta chịu ngồi yên, ngồi yên tức là ngồi thiền đó.

                          Trong khi ngồi yên, tâm anh ta lắng xuống nên không còn nghĩ tới chuyện chết nữa, và anh ta bắt đầu thấy được những điều ngày xưa anh ta không thấy. Anh ta đã đối xử với ba mẹ như thế nào, làm cho ba mẹ đau khổ ra sao, đã nói năng hành động nóng nảy như thế nào, đã đối xử tệ bạc với bạn bè ra sao? Tất cả những cuốn phim quá khứ đều lần lượt trở về, anh ta nhìn thấy lại hết, có sự phản quang đó là nhờ ngồi thiền. Mình bận rộn quá, không biết nhìn lại cách mình sống như thế nào trong quá khứ, và anh thấy rõ ràng mối tình của mình đối với Giáng Kiều quá đẹp. Trong đời mình có một người như Giáng Kiều xuất hiện rất là hiếm, vậy mà mình đã ăn ở như thế nào, đã đánh đập, chửi mắng ra sao để cho Giáng Kiều phải bỏ đi?

                          Hối hận quá đi, và lần đầu tiên hai giọt nước mắt của anh ta chảy xuống, lần đầu tiên anh ta biết hối hận. Tú Uyên nghĩ rằng: nếu Giáng Kiều trở lại, nếu phước đức ông bà còn mà Giáng Kiều trở lại thì nhất định là mình quyết sẽ sống một cách khác, mình sẽ giữ giới. Từ nay trở về sau, mình sẽ không uống rượu, đừng để say sưa, đừng đi chơi tối nữa; mỗi khi mình nói điều gì phải thở cho nó nhẹ rồi mới nói, không có nói những điều làm cho người kia đau lòng nữa. Khi lòng dặn lòng như vậy thì tự nhiên trong vòng nửa giờ đồng hồ, tâm của Tú Uyên lắng xuống, thanh tịnh trở lại và trong người thấy mát mẻ, khỏe khoắn, tìm thấy con đường đi. Vừa lúc đó anh ta nghe tiếng gõ cửa, Giáng Kiều xuất hiện trở lại.

                          Đó là hiệu lực của việc ngồi thiền. Ngồi thiền là để nhìn lại, để thấy con đường của mình đi, để tái lập lại được sự bình an trong lòng mình. Đó là nhờ đốt hương không phải mua ở ngoài chợ, mà là hương giới, hương định và hương tuệ. Tuệ tức là trí tuệ, là khả năng thấy được những lỗi lầm của mình, thấy được con đường mà mình phải đi. Vì vậy cho nên chúng ta là con nhà Phật tử, chúng ta đừng chỉ đốt nhang trầm mua ở ngoài chợ mà phải đốt hương giới, hương định và hương tuệ.

                          Năm giới nhiệm mầu

                          Chúng ta phải biết sử dụng năm giới, thực tập theo năm giới và mỗi hai tuần lễ phải tụng giới với nhau. Ở trên mạng Làng Mai có Nghi thức tụng năm giới bằng tiếng Việt, nếu quý vị muốn tụng giới, quý vị có thể lên mạng và cả gia đình mặc áo tràng cùng tụng giới với đại chúng Làng Mai. Bất cứ lúc nào muốn tụng giới là có thể tụng được. Trong nghi thức đó, Sư Ông Làng Mai làm chủ lễ, thầy Pháp Niệm dâng hương và có năm vị xuất sĩ tuyên giới.

                          Giới thứ nhất là bảo vệ sự sống, giới thứ hai là hạnh phúc đích thực, giới thứ ba là tình yêu đích thực, giới thứ tư là ái ngữ lắng nghe để tái lập truyền thông và giới thứ năm là tiêu thụ trong chánh niệm, không sử dụng ma túy và rượu chè. Nếu mình thực tập theo đúng năm giới như vậy thì mình luôn luôn cúng dường và đốt lên ngũ phần hương, như thế đời sống của mình sẽ thay đổi và Giáng Kiều của mình sẽ không bao giờ bỏ mình đi hết.

                          Cho nên chiều hôm nay mình phải ngồi lại, sau chừng nửa giờ ngồi quán chiếu thì mình phải tới với Giáng Kiều của mình. Giáng Kiều này có thể là bố mình, có thể là mẹ mình, hoặc là anh, chị, em mình và cũng có thể là người bạn hôn phối của mình. Do đó mình phải biết nói lời ái ngữ, mình phải nói: “Này em, trong những ngày tháng vừa qua, anh đã có những vụng về; anh đã nói, đã làm những gây cho em những nỗi khổ niềm đau, những nội kết. Tại vì anh không thực tập chánh niệm nên anh đã tạo ra những nội kết như vậy, anh rất muốn em giúp anh tháo gỡ những nội kết đó. Anh hứa từ đây về sau anh sẽ không làm như vậy nữa. Và nếu khi anh nói một điều gì, làm một điều gì làm cho em đau thì xin em nhắc cho anh để anh có thể thay đổi, em phải giúp anh”.

                          Nói như vậy tức là sử dụng ái ngữ, và người chồng cũng có thể nói với người vợ như vậy, người cha phải nói với người con như vậy. Và theo Thầy người cha phải bắt đầu. Tại vì người cha, người mẹ lâu nay ưa sử dụng quyền hành làm cha, làm mẹ, cho nên khi để cho đứa con bắt đầu thì cũng hơi khó cho nó. Do đó người cha, người mẹ nên bắt đầu. “Con ơi, trong những năm tháng vừa qua, ba có hơi nặng nề với con. Ba chưa thấy được những nỗi khổ, niềm đau, khó khăn của con cho nên ba hay ép buộc con, hay áp đặt những điều ba muốn lên con. Ba đâu có muốn làm cho con khổ, vậy mà ba đã tạo ra những nội kết trong con. Con là tương lai của ba, chính con sẽ mang ba đi về tương lai, ấy vậy mà ba đã tạo ra những nội kết trong lòng con. Bây giờ ba rất hối hận. Con giúp ba, hai cha con mình sẽ tìm cách tháo gỡ những nội kết trong con và trong ba”.

                          Mình có pháp môn, mình là con nhà Phật tử, thành ra nếu mà cha nói được với con như vậy thì con sẽ mở lòng ra và hai cha con sẽ cộng tác, sẽ tu chung, sẽ tụng giới chung. Cho nên ngày hôm nay, tôi muốn quý vị phải dành một khoảng thời gian nào đó để ra ngồi dưới gốc cây một mình nửa giờ rồi nghĩ lại. Mình đừng có đánh mất Giáng Kiều vì Giáng Kiều ngày xưa rất đẹp, cho mình rất nhiều hạnh phúc. Mình có thể khôi phục lại được Giáng Kiều. Trước hết cần phải thay đổi chính mình, sau khi thay đổi được mình thì mình sẽ giúp cho Giáng Kiều của mình trở thành tươi mát, đẹp đẽ như ngày xưa. Không có cái gì mất hết!

                          Chúc quý vị thành công trong công trình tu học của mình.


                          (*) Bà Đoàn Thị Điểm sinh năm 1705, tức là đầu thế kỷ thứ 18 và mất năm 1748. Bà có một người anh tên là Đoàn Doãn Luân, hai anh em rất giỏi về văn chương. Anh Luân lớn hơn em gái 5 tuổi, và cha của họ cũng rất giỏi về văn chương, thành ra Đoàn Thị Điểm tuy là con gái nhưng mà được học và làm thơ rất hay. Đoàn Thị Điểm là một nữ sĩ với tên Hồng Hà nữ sĩ. Bà thường làm thơ, đối họa với cha, với anh. Có bữa đó Điểm đang làm đẹp, ngồi trước một tấm kiếng và vẽ lông mày, lông mi để trang điểm thì anh trai đi ngang qua. Anh Luân ngừng lại thấy cảnh đó rất đẹp, em gái đang trang điểm, nên mới ra một câu đối: ”Đối kính họa mi, nhứt Điểm phiên thành lưỡng Điểm” rồi bảo em gái đối lại. “Đối kính họa mi”, tức là ngồi trước tấm gương mà vẽ lông mày. ‘Nhất Điểm phiên thành lưỡng Điểm”, tức là một em Điểm trở thành hai em Điểm. Tại vì trong kiếng cũng có một em Điểm, ở ngoài này cũng có một em Điểm. Cô Điểm nói: “em đang bận trang điểm, lát nữa ra ngoài chơi em sẽ đối”. Và sau khi trang điểm rồi thì hai anh em đi ra ngoài hồ, lúc đó trăng đã lên và đã chiếu xuống dưới mặt hồ, bây giờ Điểm mới đối lại: ”Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân”. “Lâm trì ngoạn nguyệt” tức là tới hồ để ngắm trăng. “Chích luân chuyển tác song luân” là một vầng trăng trở thành hai vầng trăng, có một vầng trăng ở trên trời và có một vầng trăng ở dưới hồ (vầng trong chữ Hán là luân), một anh Luân trở thành hai anh Luân. “Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân”, tức là ra ngoài hồ ngắm trăng, thì một vầng trở thành hai vầng, một anh Luân mà mình thấy có hai anh Luân.

                          Leo đồi thế kỷ

                          Hôm nay trong pháp hội có sự có mặt của tăng thân Làng Sen Búp ở Úc Châu. Ở Pháp chúng ta đang sống giữa mùa Đông. Ở Úc bây giờ là giữa mùa Hạ. Không gian và thời gian hai nơi đã được phối hợp lại trong buổi pháp thoại này. Tuy đại chúng Làng Mai đang ngồi tại thiền đường Cam Lộ nhưng cũng đang ngồi trong khuôn viên Làng Sen Búp. Tuy tăng thân Làng Sen Búp đang ngồi bên Úc nhưng cũng đang có mặt tại thiền đường Cam Lộ với chúng ta hôm nay.

                          Đầu năm 1996, Làng Mai bắt đầu chế tác một loại pháp thoại gọi là pháp thoại viễn liên (telecom dharma talk). Pháp thoại đầu đã hướng dẫn về chùa Từ Hiếu ở Việt Nam. Tăng thân Làng Mai đã được về chùa tổ trong giờ pháp thoại và đại chúng chùa Từ Hiếu cũng đã có dịp ngồi ở Làng Mai. Đây là pháp thoại viễn liên thứ hai, hướng về châu Úc.

                          Chúng ta hãy tự hỏi là chúng ta có thì giờ để thương yêu hay không, và chúng ta có thương yêu ai hay không? Nếu chúng ta không thương ai thì trái tim chúng ta sẽ khô cằn. Tình thương đem lại hạnh phúc cho ta và cho những người ta thương. Chúng ta muốn thương những trẻ em đói, bị khuyết tật, bị hiếp đáp chẳng hạn. Chúng ta ôm ấp tình thương ấy trong lòng, mong mỏi một ngày nào đó sẽ có thể có cơ hội trực tiếp làm việc giúp đỡ cho chúng. Nhưng khi thực sự tiếp xúc với các em, ta có thể khựng lại, ta có thể phát giác ra rằng có những trẻ em rất khó thương. Chúng có thể thô bạo, chúng nói dối, chúng ăn cắp. Sau một thời gian tiếp xúc với chúng, tình thương của chúng ta có thể bị xoi mòn. Trước kia ta nghĩ thương trẻ em nghèo đói và khuyết tật là dễ, là ngọt ngào, là an ủi, là mầu nhiệm, bây giờ đây tiếp xúc với thực tế, ta có thể hết thương. Khi ta khám phá ra rằng đối tượng thương yêu của ta không ngọt ngào, không dịu hiền, không dễ thương thì ta thất vọng, chán nản, chua chát, bực bội. Nếu ta không thương được một em bé nghèo khổ và khuyết tật thì ta có thể thương được ai?

                          Trong chúng ta ai cũng có một hình ảnh nhiệm mầu về Bụt, một tri giác về Bụt. Ta tin là nếu được gặp Bụt bằng xương bằng thịt thì ta có thể thương ngài liền. Bụt thế nào cũng dễ thương, vì Bụt có đầy chất liệu từ bi và trí tuệ. Nhưng nếu các nhà khoa học tìm được cách để cho ta thấy được hình ảnh thật của Bụt đang ngồi trên núi Thứu cách đây 2.600 năm, liệu ta sẽ thương Bụt như ta đang thương không? Chúng ta nhìn lên trời và thấy được những ngôi sao đã tắt cách đây đến nhiều ngàn năm ánh sáng. Hình ảnh du hành trong không gian có thể là không đi bằng đường thẳng mà đi bằng đường cong. Khi bay từ Paris qua Los Angeles, máy bay đâu có đi đường thẳng. Hình ảnh của Bụt và các thầy trên núi Thứu cũng đã lên đường và đang đi vòng quanh. Nếu ta có dụng cụ khoa học tinh vi, ta có thể đuổi kịp và đón bắt những hình ảnh ấy, và nghe được Bụt đang thuyết pháp bằng tiếng Magadhi. Và nghe Bụt, ta có thể đính chính được những điều sai lầm ghi chép trong kinh điển, kể cả những điều Bụt không nói mà người ta gán cho Bụt. Một sư chú ở xóm Thượng nói: ‘‘Hình ảnh Bụt trong con rất đẹp. Nếu bây giờ con thấy Bụt bằng xương bằng thịt, con cứ sợ là ngài sẽ không đẹp bằng Bụt trong tâm ý con. Thầy ơi, thầy nghĩ Bụt giống ai?’’ Tôi trả lời: ‘‘Có thể Bụt hơi giống Mahatma Gandhi.’’ Sư chú hơi thất vọng. Theo sư chú nghĩ thì Bụt đẹp hơn thánh Gandhi nhiều. Tôi đã từng thăm viếng một số các gia đình dòng họ Thích Ca quanh miền Lâm Tỳ Ni và Ca Tỳ La Vệ, tôi đã có một ý niệm về tầm vóc, nước da và dáng dấp của Bụt.

                          Chúng ta ai cũng xây dựng nên những hình ảnh thật đẹp về Bụt và về Chúa. Chúng ta yêu mến những hình ảnh ấy, nhưng nếu chúng ta gặp Bụt ngoài ga xe lửa Sainte Foy hay gặp Chúa Ki Tô ngoài siêu thị Leclerc thì liệu chúng ta có yêu mến được các vị như ta đã từng yêu mến trong tâm tưởng ta không? Tri giác của ta về Bụt và về Chúa có thể rất khác với Bụt và Chúa trong thực tại.

                          Trong thời đại của Bụt, có người đã không yêu mến Bụt mà còn ghét bỏ người. Có những vị đệ tử xuất gia của Bụt đã bỏ Bụt ra thành lập những giáo đoàn chống đối. Có những người vu khống cho Bụt. Thương yêu không phải là vấn đề hưởng thụ những ngọt ngào. Thương yêu cần phải có hiểu biết. Không hiểu thì không thể thương. Đối tượng thương yêu không dễ thương mà ta thương được, ấy mới gọi là tình thương. Trong chúng ta có nhiều vị muốn về nước để giúp đỡ trẻ em, để đem lại niềm tin và sự đoàn kết giữa người với người. Chiến tranh đã tạo ra bao nhiêu hận thù, thành kiến, chia rẽ và nghi ngờ. Cho nên chúng ta muốn về, bước những bước chân thân yêu trên đất nước quê hương, ôm lấy mọi người, không phân biệt giàu nghèo, đức tin, để làm vơi đi nỗi khổ và giúp người tìm lại an lạc. Nhưng trước khi trở về, chúng ta phải chuẩn bị tu tập. Những người ta muốn thương có thể là không dễ thương chút nào. Những người ấy có thể nghi kỵ chúng ta, thù hận chúng ta, và muốn tiêu diệt chúng ta. Nếu trước khi về mà các vị không thực tập về hiểu và thương thì khi về tới các vị sẽ có thể ghét những người mà quý vị muốn thương.

                          Khi ta đã đánh mất khả năng thương yêu là ta cũng đánh mất đời ta. Ta phải có tinh thần thực tiễn. Đừng nghĩ rằng khi về tới là ta có thể ngồi lại với những thành phần chống báng nghi kỵ nhau và có thể thiết lập ngay được sự truyền thông giữa họ và ta. Ta có thể nói rất hay về sự cần thiết của hòa điệu và hòa giải, nhưng ta có thể không áp dụng được những điều ta nói vào thực tế.

                          Tại Làng Mai, chúng ta sống với nhau hăm bốn giờ đồng hồ một ngày. Chúng ta có thực tập với nhau, nâng đỡ nhau để cùng tạo hạnh phúc cho nhau hay không? Chúng ta có vượt thắng được những quan điểm khác nhau để thực hiện kiến hòa đồng giải hay không? Chúng ta có sử dụng ngôn ngữ từ ái để thực hiện khẩu hòa vô tránh không? Nếu chúng ta thành công được trong những thực tập này, thì ta cũng sẽ thành công được khi về tới quê hương.

                          Có rất nhiều vị thuyết pháp hay về các đề tài hòa giải và sống trong tinh thần hòa hợp. Nhưng không phải ai nói được thì cũng làm được. Chúng ta không nên chỉ nói suông mà không làm. Nếu chúng ta không thực tập được những điều ta nói, thì ta có thể hiến tặng được gì, và hiến tặng cho ai? Nếu các vị giáo thọ như Chân Truyền và Chân Lương không nắm tay nhau, sống và làm việc trong hòa hợp, thì thử hỏi các cháu làm sao có niềm tin nơi tương lai? Chúng ta phải mỗi ngày cố công thực tập kiến hòa đồng giải và khẩu hòa vô tránh. Kiến hòa đồng giải là tổng hợp những cái thấy để cùng nhau hiểu được vấn đề sâu hơn. Khẩu hòa vô tránh là sử dụng ái ngữ đểngười này không làm tổn thương tự ái của người kia. Đó là những gì chúng ta phải thực tập hàng ngày. Nếu chúng ta thất bại trong phép thực tập này thì thử hỏi làm sao con cháu chúng ta có tương lai? Thử hỏi làm sao để các bạn của chúng ta, tuổi trẻ ở Việt Nam, có được một tương lai? Cho nên chúng ta chưa cần phải vội vã đi về cái phía phụng sự; ngay trong khi chúng ta ở đây sống với nhau, đi thiền hành, ăn cơm, pháp đàm, pháp thoại, chúng ta đã có thể thực hiện thương yêu rồi. Tại vì nếu tôi có thể nhìn được người sư em của tôi với con mắt thương yêu, nếu tôi có thể thở và mỉm cười khi người sư anh tôi nói một câu nói không được dễ thương lắm thì đó là tôi đã bắt đầu thương yêu và phụng sự cho những người tôi nguyện thương yêu và phụng sự ở quê hương tôi. Chúng ta không cần phải đi về tương lai, chúng ta không cần phải đi qua bên nớ thì chúng ta mới thương yêu được, chúng ta mới có thể phục vụ họ được. Ngay tại bên này, đi từng bước chân thiền hành, mỉm từng nụ cười chánh niệm, nhìn từng cái ánh mắt thương yêu và chấp nhận, đó đã là những hành động thương yêu đích thực mà chúng ta hướng về quê hương và những người khổ đau cùng khắp trên thế giới.

                          Chúng ta học được của Bụt, của thầy và của tăng thân rất nhiều, và chúng ta thao thức muốn đi ra ngoài để có thể chia sẻ cho người khác những gì chúng ta đã học. Chúng ta muốn đi dạy. Nhưng chúng ta sẽ dạy gì? Nếu ta không có khả năng thở và đi thiền hành, để tháo gỡ những nỗi khổ niềm đau của chúng ta như cái giận, cái buồn, cái ganh, cái tức, thì chúng ta có thể dạy được gì cho kẻ khác? Không lẽ chúng ta chỉ đem tới cho họ những bài pháp thoại, những bài pháp thoại mà chính chúng ta cũng chưa thực sự thâm nhập và chưa đem áp dụng được vào trong đời sống hàng ngày của cá nhân và của tăng thân? Chúng ta phải tự hỏi là nếu đi ra ngoài dạy thì chúng ta sẽ dạy gì. Chúng ta chỉ có thể dạy được bằng kinh nghiệm của chúng ta thôi. Chúng ta không phải là một cái máy thâu thanh và phát thanh. Máy thâu thanh và phát thanh có thể được mua ngoài chợ, và những cuốn băng cũng có thể được mua ngoài chợ. Những người thương của chúng ta cần những gì quan trọng hơn một cái máy phát thanh và một cuộn băng pháp thoại. Họ cần cái kinh nghiệm trực tiếp của chúng ta. Khi chúng ta có khả năng hóa giải được những khổ đau, những hận thù, những ganh tỵ, những buồn bực của chúng ta bằng những phương pháp thực tập rồi thì chúng ta sẽ có đức tin lớn nơi chính ta. Và khi ta nói pháp và chia sẻ pháp môn, lời nói của chúng ta có năng lượng mạnh, bởi vì những gì chúng ta chia sẻ không phát xuất từ những lý thuyết và kinh điển, mà từ khổ đau và sự thực tập của chúng ta. Vì vậy cho nên ở tại Làng Mai tôi thường nhắc nhở quý vị rằng chúng ta chỉ nên dạy những gì mà chúng ta đã làm mà thôi. Ví dụ như chúng ta dạy về cái lạy thứ nhất. Lạy xuống, ta phải thấy được tổ tiên của ta, tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống. Trong số các tổ tiên của chúng ta có những vị gần như là tuyệt hảo, nhưng cũng có những vị còn yếu kém, còn bê bối, nhưng vì họ là tổ tiên của chúng ta nên chúng ta phải chấp nhận họ. Nếu chúng ta không gọi họ là tổ tiên thì chúng ta gọi họ là gì? Trong phương pháp thực tập ba lạy, tất cả những người sinh ra trước ta đều là tổ tiên của ta cả. Ta có những tổ tiên rất trẻ, mới có hai mươi tuổi cũng đã là tổ tiên của ta rồi. Đó là sư anh của ta, sư chị của ta. Ta cũng có những tổ tiên rất già, hai ngàn tuổi, hai ngàn năm trăm tuổi. Có những vị rất hay, rất giải; có những vị còn non yếu, nhưng tất cả đều là tổ tiên của chúng ta. Cha mẹ của chúng ta có thể hư hèn, cha mẹ của chúng ta có thể nghiện ngập, có thể đã làm khổ cho nhau, có thể đã làm khổ ta, nhưng họ vẫn là cha mẹ của ta. Ta phải chấp nhận họ là cha mẹ của ta trước, và chấp nhận được rồi thì ta sẽ có sự bình an. Lúc đó ta mới có thể làm được một cái gì để giúp cho anh ta, chị ta, cha ta, mẹ ta và tổ tiên ta. Còn nếu chúng ta nói rằng người đó không xứng đáng, ta không thể gọi người đó là cha, là mẹ, thì ta sẽ kẹt vào thế bí suốt đời. Ta phải học chấp nhận họ. Sau đó, trong cùng một cái lạy ta tiếp xúc với con cháu của ta, các em của ta, học trò của ta. Có những đứa gần như tuyệt hảo, nhưng cũng có những đứa còn trồi lên trụt xuống, chúng cãi lại ta, chúng không dễ thương với ta, hận thù ta, không chịu thực tập gì cả. Trong cái lạy thứ nhất, ta cũng phải học chấp nhận chúng. Ta chấp nhận tất cả con cháu của ta, những đứa giải và cả những đứa yếu kém. Chỉ khi nào ta chấp nhận được hết thì ta mới có sự an bình và sự tươi mát, và ta mới có thể giúp được con, được cháu của ta mà thôi. Cái lạy thứ nhất là cái lạy chấp nhận.

                          Thực tập ba cái lạy không phải là quỵ lụy cầu xin mà là quán chiếu. Trong cái lạy thứ nhất ta thấy ta hòa đồng vào dòng sinh mạng huyết thống và tâm linh, và ta xóa được cái bản ngã của ta, chính đó là một thực tập căn bản của đạo Bụt. Khắp nơi người ta nói tới vô ngã nhưng những ngôn từ về vô ngã ấy có thể không dính líu gì với đời sống hàng ngày của chúng ta cả. Những pháp môn thực tập tại Làng Mai thực sự là vô ngã quán. Tập quán chiếu cho ý niệm về ngã tan biến đểmình thấy được mình là một với tổ tiên mình, và đã là tổ tiên của mình mình cũng chấp nhận tất cả, dầu hư hèn hay tuyệt diệu. Ta chấp nhận hết tất cả con cháu của ta, dầu con cháu hư hèn hay tuyệt diệu, và tự nhiên ta thấy trào dâng cái hòa bình và cái hạnh phúc ở trong lòng ta trước. Nếu mỗi ngày ta lạy như cái máy mà ta không thực hiện được tuệ giác qua những cái lạy ấy thì đến khi ra dạy người, ta sẽ dạy gì? Nếu ta vẫn còn là một cá nhân biệt lập, một cái ngã tách biệt ra khỏi tăng thân, thấy ta không phải là sư anh của ta, không phải là sư chị của ta, không phải là thầy của ta, nơi này không phải là nơi của mình, thì làm sao ta có thể đi dạy ai được? Tuệ giác về vô ngã ta chưa có, ta chỉ mới có một mớ lý thuyết về vô ngã mà thôi.

                          Pháp môn tại Làng Mai là an trú trong hiện tại. Chỉ có an trú trong hiện tại chúng ta mới khỏi chạy vòng quanh và do đó ta bắt đầu có hạnh phúc. Nếu thực tập quán chiếu, ta sẽ nhận ra rằng những điều kiện để ta có hạnh phúc đã có sẵn ngay trong ngày hôm nay, trong ta và chung quanh ta. Không khí ta thở, những con đường thiền hành ta đi, nước ta uống, sư anh của ta, sư chị của ta, sư em của ta, thầy của ta…, tất cả những điều kiện thuận lợi có đó. Mỗi ngày ta có cơ hội thực tập ngồi thiền chung với tăng thân, đi thiền hành chung với tăng thân, ngồi ăn cơm chánh niệm với tăng thân…, đó là những điều kiện dư dã để ta có hạnh phúc. Nếu ta không biết lợi dụng những điều kiện ấy, không biết thưởng thức chúng mà lại đi tìm những điều kiện hạnh phúc khác thì chúng ta đâu có thể được gọi là người đang sống đúng theo nguyên tắc của sự thực tập. Ở Việt Nam chúng ta thường nói đứng núi này trông núi nọ (standing on the top of one mountain, you look and envy the top of an other mountain). Mình đứng trên một đỉnh núi đẹp mà không biết thưởng thức, lại nhìn sang đỉnh núi kia và nói: ‘‘Trời! Giả dụ ta sang được bên đỉnh núi kia thì đẹp biết mấy.’’ Đây là cái lỗi của rất nhiều người trong chúng ta. Một người vợ có thể thấy ông chồng của một gia đình khác dễ thương hơn ông chồng của mình. Một đứa con có thể nói phân bì là mẹ của bạn mình ngọt ngào hơn mẹ của mình. Có một em bé Hòa Lan đi qua nhà hàng xóm chơi, thấy cái bếp của nhà bên kia rất đẹp, đẹp hơn cái bếp ở nhà, và thấy mẹ của bạn sao mà dễ thương và ngọt ngào hơn mẹ nó. Về nhà nó nói: ‘‘Má ơi, con muốn đổi cái nhà bếp của mình lấy cái bếp bên kia, con cũng muốn đổi mẹ nữa. Mẹ bên kia có vẻ dễ thương hơn.’’ Em bé ấy bây giờ đã tốt nghiệp đại học rồi. Tôi đã gặp nó hồi nó sáu tuổi.

                          Nếu chúng ta cứ đứng núi này trông núi nọ là vì chúng ta không có khả năng sống hạnh phúc trong giây phút hiện tại và trong hoàn cảnh này. Chúng ta không có khả năng nhận diện những yếu tố của hạnh phúc, bây giờ và ở đây, và vì vậy chúng ta thấp thỏm muốn nhảy sang chỗ khác. Trong tăng thân chúng ta, có những người có khả năng sống hạnh phúc trong hiện tại. Điều đó là một điều rất đáng mừng, trong số những người đó có những người rất trẻ. Và cái đó là một vốn liếng rất quý giá của mình.

                          Nếu có khả năng nhận diện được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt ngày hôm nay thì ta đã không có thái độ đứng núi này trông núi nọ. Ta có thể ngồi rất yên ổn trên tòa sen và ta không còn có cảm tưởng ngồi trên một đống lửa, luôn luôn muốn phải thế này, phải thế khác. Nếu an trú được trong hiện tại và có khả năng hạnh phúc ngay bây giờ thì khi là giáo thọ ta cũng có hạnh phúc, mà không phải giáo thọ ta cũng có hạnh phúc. Những người có khả năng an trú trong hiện tại, có khả năng có hạnh phúc thì nói rằng: ‘‘Là giáo thọ hay không là giáo thọ tôi vẫn có hạnh phúc như thường.’’ Tại Làng Mai có nhiều người như vậy. Còn nếu mà không có khả năng hạnh phúc thì dù làm giáo thọ vẫn không có hạnh phúc như thường. Có những người làm sa di, chưa thọ Giới Lớn nhưng vẫn sung sướng với cái địa vị là sa di của mình. Nếu ta bồn chồn, nếu ta ngồi không yên trên cái chỗ ngồi của ta đó là tại vì ta đang có thái độ đứng núi này trông núi nọ. Ta phải chứng tỏ khả năng sống hạnh phúc của ta. Tất cả những điều kiện có trong tôi và xung quanh tôi đã dư dã để cho tôi có hạnh phúc. Một điều may mắn cho chúng ta là trong tăng thân của chúng ta có những người có khả năng như vậy. Khi thấy được những người như thế thì chúng ta sẽ có đức tin nơi chánh pháp, nơi Bụt và nơi tăng thân.

                          chúng ta hãy vẽ trên bảng hình của một trái đồi thoai thoải

                          _2050
                          2000  2100

                          Thế kỷ thứ hai mươi mốt được ví với một ngọn đồi, và chúng ta chỉ cần bước bốn bước nữa thì chúng ta tới cái mốc năm 2000. Chúng ta đang chấm dứt thế kỷ thứ hai mươi và chúng ta sẽ bắt đầu trèo lên cái ngọn đồi của thế kỷ thứ hai mươi mốt. Tôi đã lớn tuổi rồi, không biết là có đi tới được chân đồi hay không, nhưng tôi rất quan tâm tới ngọn đồi của thế kỷ, và ngày nào tôi cũng hình dung tới các con cháu của tôi đang cùng nhau leo lên cái ngọn đồi ấy. Chắc chắn là các vị sẽ có tôi cùng leo. Tôi sống được mấy năm nữa, hai năm, ba năm, bốn năm năm hay là mười năm, điều đó ta không có thể biết trước. Có một điều ta có thể biết trước là tôi sẽ cùng leo ngọn đồi đó với con cháu của tôi. Tôi không bằng lòng với dự tính kế hoạch ba hay bốn năm. Tôi muốn làm dự tính kế hoạch cho mấy ngàn năm. Ta hãy tưởng tượng sư em Pháp Cảnh lúc sư em leo tới đỉnh đồi, đó là vào năm 2050, lúc ấy sư em đã bảy mươi bốn tuổi. Đứng trên đỉnh đồi sư em thấy gì? Nhìn lại sư em thấy con đường tu học của mình và nhìn xuống phía trước mặt sư em thấy tăng thân sẽ cùng leo xuống đồi với nhau. Lúc đó, bảy mươi bốn tuổi rồi cố nhiên sư em sẽ có nhiều đệ tử xuất gia và tại gia, và người ta đã gọi sư em là Sư Ông. Cái điều mà tôi muốn nói đây là chúng ta phải cùng leo ngọn đồi của thế kỷ với tư cách một tăng thân chứ không phải với tư cách một cá nhân. Bí quyết của sự thực tập chúng ta là ở nơi đó. Đi với tư cách một tăng thân thì chúng ta sẽ tới đích, còn nếu đi với tư cách một cá nhân thì chúng ta sẽ không đi tới đâu hết. Và vì vậy cho nên tôi đã quyết định từ lâu rồi là chúng ta sẽ cùng leo ngọn đồi thế kỷ với tư cách một tăng thân. Nghĩa là chúng ta phải xóa đi cái bản ngã của chúng ta và hòa mình vào trong dòng sinh mạng của tăng thân. Sư Ông của các vị, pháp danh là Thanh Quý, đang có mặt với chúng ta ngày hôm nay, trong pháp hội này. Sư Ông đã truyền đăng cho tôi với một bài kệ. Sư Ông đã đưa tôi trên một đoạn đường với tất cả những thương yêu và chăm sóc, và bây giờ tôi cũng đang mang Sư Ông trong con người của tôi để đi và cũng đã trao truyền Sư Ông lại cho quý vị để quý vị mang theo. Nếu không có Sư Ông thì làm sao có tôi? Nếu không có tôi thì làm sao có quý vị? Chúng ta là một dòng sinh mạng, và chỉ khi nào chúng ta thiết kế được như một tăng thân thì đó mới thật sự là một thiết kế, còn thiết kế của cá nhân là điều không đáng cho chúng ta mất thì giờ và tâm lực, bởi vì một cá nhân không là gì, trong khi một tăng thân là tất cả. Tăng thân của Bụt đã chưa bao giờ từng đứt đoạn. Tăng thân của Bụt đã leo hai mươi lăm ngọn đồi thế kỷ, và hôm nay chúng ta mang trong trái tim của chúng ta cái giáo đoàn đã được 2600 tuổi. Chúng ta còn trẻ nhưng mà chúng ta cũng đã rất già.

                          Vậy thì tăng thân của chúng ta không phải chỉ đang ngồi trong pháp thoại này tại thiền đường Cam Lộ hay trong cộng đồng Làng Sen Búp, mà là tăng thân khắp chốn. Tăng thân của chúng ta rất lớn, rất rộng. Các vị đã từng có cơ hội tham dự vào những chuyến đi hoằng pháp trong các năm qua thì quý vị đã bắt đầu có được một ý niệm về tăng thân của chúng ta, tăng thân muôn mầu muôn vẻ. Mỗi thành phần của tăng thân tìm cách phát triển và nuôi dưỡng cho tăng thân bằng những phương tiện khác nhau. Và bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào Sư Ông của các vị cũng có mặt, tôi cũng có mặt, và con cháu của các vị cũng có mặt. Đó là một cái thấy mà chúng ta phải khám phá ra cho kỳ được, đó là cái thấy vô ngã, và chỉ khi nào có được cái thấy đó ta mới bước được một bước thật vững chãi trên đường đời.

                          Các bạn ở bên Sen Búp cũng vậy. Chúng ta không phải là những mảnh nhỏ rời nhau, khổ đau, tách ra ngoài đại thể. Chúng ta là một tăng thân. Chúng ta nương vào nhau, chúng ta biết rằng khi một con ngựa đau thì cả tàu không ăn cỏ. Chúng ta phải thấy rằng khổ đau của người này là khổ đau của người kia. Chúng ta phải thấy nụ cười và niềm vui của người này là nụ cười và niềm vui của người kia. Chỉ khi nào ta sống được như vậy thì giáo lý vô ngã của Bụt mới trở thành sự thật sống động.

                          _____________
                          pháp thoại 28-1-1996, thiền đường Cam Lộ ở xóm Hạ, trong khóa tu mùa Đông

                          Đi gặp mùa xuân

                          Chú bé ngày xưa và chú bé ngày nay

                          Trên cốc Ngồi Yên ở Xóm Thượng có một tấm hình của Thầy chụp vào năm mười sáu tuổi. Hồi đó, Thầy mới đi tu được chừng sáu tháng. Mỗi khi nhìn vào tấm hình ấy, Thầy thấy trong lòng dâng lên một niềm cảm thương, tại vì ở tuổi đó, Thầy đang còn khờ khạo, ngây thơ, chưa biết gì về con đường tương lai, cũng chưa biết được bản chất của Phật pháp, cũng không biết rằng sau này lớn lên mình sẽ tu học như thế nào và hành đạo ra sao ?

                          Hôm trước trên cốc Ngồi Yên, Thầy hỏi sư chú Pháp Cảnh, sư chú trẻ nhất ở trong xóm Thượng, trẻ nhất không có nghĩa là tu sau nhất vì sư chú Pháp Cảnh bây giờ là sư anh của nhiều sư em rồi. “Bây giờ con có muốn Thầy biến thành một chú bé mười sáu tuổi hay hai mươi tuổi hay không? Thầy có thể làm được điều đó.” Sư chú không trả lời. Chắc có lẽ sư chú nghĩ Thầy mình có phép lạ, có thể biến một ông già bảy mươi tuổi thành một chú bé mười sáu tuổi hay một chàng thanh niên hai mươi tuổi.

                          Trong thiền quán, nhìn sâu sắc vào bản thân của mình và vào sự sống, Thầy thấy: mình đã biến thành một chú bé mười sáu tuổi hay một chàng thanh niên hai mươi tuổi. Thầy thấy sư chú Pháp Cảnh cũng như sư chú Pháp Niệm chính là Thầy. Tuy nhiên, giữa sư chú ngày xưa của năm mươi bốn năm về trước và sư chú ngày hôm nay có nhiều sự khác biệt. Sư chú ngày xưa chỉ có một năng lượng rất lớn ở trong lòng: muốn tu và muốn đem đạo Bụt ra làm đẹp cho cuộc đời. Ý niệm muốn tu và muốn đem đạo Bụt ra làm đẹp cho cuột đời rất mạnh ở trong lòng chú bé mười sáu tuổi. Tu như thế nào thì chưa biết, làm đẹp cho cuộc đời như thế nào thì chưa biết, nhưng năng lượng ấy rất lớn ở trong trái tim chú bé ngày xưa.

                          Chú bé ngày hôm nay cũng thế nhưng lại giàu có hơn nhiều. Năm mươi bốn năm tu học và hành đạo cộng với kinh nghiệm khổ đau đã đem lại cho chú bé ngày xưa nhiều tuệ giác để truyền lại cho chú bé ngày nay. Chú bé ngày nay biết con đường mình đi và chứng kiến được sự thành công của sự tu tập chung quanh mình. Chú bé ngày nay tới tham dự vào những khóa tu được tổ chức ở Âu châu, Mỹ châu hay Làng Mai, có thể thấy được sự chuyển hóa và an lạc của những thiền sinh tới tu tập. Chú bé được trao truyền những phương pháp thực tập rất cụ thể như ăn cơm, uống trà, thở, ngồi thiền, lạy v.v… Sự thực tập được soi sáng bởi những lời giảng giải mà chú bé có thể hiểu được một cách rõ ràng.

                          Như vậy, so với chú bé ngày xưa, chú bé ngày hôm nay may mắn và giàu có hơn nhiều. Biết được con đường trước mặt mình là con đường nào, biết được những khó khăn mà mình sẽ đương đầu trong tương lai. Giữa hai chú bé có sự khác biệt, và khi thực tập nhìn sâu, Thầy thấy Thầy là sư chú Pháp Niệm, là sư chú Pháp Cảnh, là sư cô Tuệ Nghiêm, là sư cô Định Nghiêm, v.v… Trong cái thấy đó, không có sự phân biệt ta và người. Khi tu tập quán chiếu sâu sắc, mình không còn thấy ranh giới giữa mình và người. Người kia bây giờ là mình, người kia bây giờ đang tiếp tục sự sống và sự nghiệp mình. Và khi mình thấy được như vậy thì ý niệm về chia ly, về xa cách, về vĩnh biệt, về chết sống sẽ tan biến mất và mình trở nên một con người tự tại và an lạc.

                          Thực tại đẹp hơn giấc mơ

                          Cuộc đời có những khổ đau, có những khó khăn. Nhiều người trong chúng ta không đủ sức để đối phó với những khổ đau và khó khăn đó, cho nên hay có khuynh hướng đi tìm và trú ẩn nơi những giấc mơ. Mơ ước rằng ngày mai mình sẽ được như thế này, ngày kia mình sẽ được như thế nọ. Có khi thiên đường hay cực lạc cũng chỉ là những giấc mơ mình tạo ra cho mình để trốn chạy thực tại, trốn chạy những khó khăn của chính mình trong ngày hôm nay.

                          Các văn nghệ sĩ, các nhà làm phim và các nhà làm kịch biết nhu yếu đó của con người. Họ biết con người không có an lạc trong giây phút hiện tại, cho nên họ luôn luôn muốn tạo ra những giấc mơ để giúp người ta có thể lẩn tránh, giúp người ta có thể quên bớt những đau khổ và những khó khăn của cuộc sống hiện thực. Viết một cuốn tiểu thuyết, làm một cuốn phim, kể một câu chuyện là để cống hiến cho người ta những giấc mơ để người ta được vỗ về, nuôi nấng và ấp ủ, để quên đi những đau khổ trong hiện tại. Con đường văn nghệ, con đường sáng tác của số đông là như vậy. Có nhiều nhà nghệ sĩ nói: “Nếu đời không có những giấc mơ thì làm sao sống được!” Vì vậy, phận sự của các nhà nghệ sĩ là tạo ra những giấc mơ: mơ ước cái này, mơ ước cái khác.

                          Trong khi đó, sự thực tập của chúng ta tại Làng Mai đi ngược hẳn lại với khuynh hướng trốn chạy đó. Chúng ta được dạy rằng: “Tất cả những gì mầu nhiệm của sự sống nằm ngay trong giây phút hiện tại.” Và nếu bỏ giây phút hiện tại thì chúng ta không còn gì nữa. Thiên đường, cực lạc, niết bàn v.v… và những gì mà chúng ta trân quý và ước ao như an lạc, vững chãi, thảnh thơi, v.v… tất cả những cái đó, theo lời Bụt dạy, đều phải được tìm ngay trong giây phút hiện tại. Vì vậy, trở về giây phút hiện tại, chọc thủng giây phút đó để đi vào trái tim của sự sống, đó là sự thực tập của chúng ta. Tại Mai Thôn đạo tràng, chúng ta không chạy theo con đường mà đa số đang chạy theo là tìm tòi sự lãng quên, nương náu vào những giấc mơ để quên đi đau khổ, quên đi những khó khăn hiện thực của cuộc sống.

                          Trong một buổi thiền tọa, Thầy tự hỏi: “Mình có còn giấc mơ nào cần thực hiện không? Mình có còn ao ước nào nữa không?” Trong một thời gian khá lâu, Thầy tìm tòi, phơi bày chiều sâu tâm thức ra mà vẫn không tìm thấy được một đối tượng nào của ước mơ chưa được thực hiện. Ai mà lại không có những giấc mơ? Ai mà lại không có những ước mộng chưa thành? Nhưng hôm ấy trong khi ngồi thực tập quán chiếu, Thầy không thấy có một giấc mơ nào hay một ước vọng nào chưa thành cả. Đó là một điều rất là ngộ nghĩnh.

                          Có khi nhìn trời, nhìn trăng, nhìn sao, nhìn cây, nhìn cỏ, nhìn các sư cô, sư chú, Thầy thấy rằng: “Thực tại đẹp hơn bất cứ giấc mơ nào mà mình có thể mơ tưởng.” Chỉ cần so sánh chú bé ngày xưa, năm mươi bốn năm về trước, với chú bé ngày nay là mình đã thấy được nụ cười rồi. Thấy rõ ràng rằng sự thực tập của mình, con đường mình đi đã đem lại cho mình rất nhiều hạnh phúc. Được sống với tăng thân, được sống với các bạn từ mấy mươi nước tới, được sống với người tại gia và người xuất gia, cùng nhau thực tập con đường của vững chãi, của an lạc, của thảnh thơi, đó đã là một nguồn hạnh phúc lớn. Nó có thể lớn hơn bất cứ một ước mơ nào, vì đây không phải là ước mơ, đây là sự thực.

                          Giờ đây, mỗi khi đi thiền hành ngang qua những cây tùng ở xóm Thượng, Thầy thường dừng lại để ngắm nhìn. Những cây tùng đó tên là Tùng Đại Tây (Cèdre Atlantica). Những cây tùng này được trồng cách đây mười lăm năm và bây giờ đã lên cao, rất hùng vĩ, rất vững chãi. Thầy hay nhìn chúng mỉm cười. Thầy thấy những cây tùng đó là những sư cô và sư chú đang đứng vững vàng trong gió, trong tuyết, trong mưa và Thầy cảm thấy rất hạnh phúc. Một người tu tập cũng vậy, một sư chú, một sư cô, một người Tiếp Hiện, nếu tu tập vững chãi, thảnh thơi, trải qua mưa gió, khắc phục được những khó khăn, đứng vững trong cuộc đời này, một người như vậy có thể đem lại rất nhiều niềm tin, an lạc và hạnh phúc cho những người xung quanh, cho cảnh vật xung quanh.

                          Hiện Pháp Lạc Trú

                          Giờ phút này, trong khi ngồi đây, chúng ta có thể có hạnh phúc rất lớn. Điều quan yếu là chúng ta đang ngồi đây với nhau. Thân của mình thực sự có mặt và tâm của mình cũng thực sự có mặt. Mình không có nhu yếu muốn chạy trốn. Mình ngồi đây với Thầy, với bạn, với sư anh và sư chị trong một buổi pháp thoại. Ngay sự kiện đó đã là một nguồn hạnh phúc, đã là một phép lạ rồi. Còn bài pháp thoại là gì? Có phải mình ngồi đây để nghe pháp thoại không? Và ngồi với nhau có phải là một phương tiện để đi tới một cứu cánh? Hoặc giả bài pháp thoại là một phương tiện để chúng ta có thể tới ngồi chung với nhau trong một buổi sáng hay không? Ngồi là một phương tiện hay pháp thoại là một phương tiện? Đó là những câu hỏi mà chúng ta có thể đặt ra mà không cần trả lời, để thấy rằng pháp thoại cũng là một cái gì rất mầu nhiệm. Ngồi với nhau, chỉ ngồi với nhau để thở, để có mặt bên nhau cũng là một hạnh phúc rất lớn, cũng là một cái gì rất mầu nhiệm.

                          Phương pháp mà chúng ta thực tập tại Làng Mai là “hiện pháp lạc trú” (drstadharmasukhavihara), nghĩa là sống từng giây, từng phút có hạnh phúc ngay trong hiện tại. Căn bản của sự thực tập là những mầu nhiệm của sự sống, những điều kiện của hạnh phúc đã có sẵn trong ta và xung quanh ta. Nếu ta biết ngồi yên, nếu ta biết thực tập đem thân và tâm về một mối, thì tự nhiên ta có thể tiếp xúc với những điều kiện đó của hạnh phúc và ta có hạnh phúc ngay tức khắc. Ta không cần phải chạy đi tìm hạnh phúc ở đâu nữa. Từ hạnh phúc nhỏ, chúng ta đi tới hạnh phúc lớn. Hạnh phúc lớn không thể có mặt ngoài những hạnh phúc nhỏ.

                          Khi nhìn một bông hoa, ban đầu ta thấy màu hoa, rồi đến hình dáng của từng cánh hoa. Nếu biết nhìn sâu thì ta có thể thấy được rằng bông hoa chứa đựng tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ, của sự sống. Bông hoa mang tất cả những mầu nhiệm của vũ trụ trong lòng nó. Khi nhìn bông hoa, có người chỉ mới thấy được một phần mười cái đẹp của bông hoa, một phần mười cái mầu nhiệm của bông hoa. Nhưng những người đã có kinh nghiệm, đã có tuệ giác tuy cũng nhìn vào bông hoa đó, cũng nhìn trong thời gian đó nhưng cái thấy rất sâu sắc. Càng thấy sâu sắc chừng nào, hạnh phúc càng lớn chừng đó.

                          Ngồi thiền cũng vậy. Người mới ngồi thì có thể có một phần hạnh phúc. Người đã biết ngồi và có khả năng ngồi thì tuy cũng ngồi như người kia, cũng ngồi một thời gian ngắn như người kia, nhưng trong thời gian ngồi đó sự vững chãi, sự thảnh thơi và sự hạnh phúc lớn lao hơn nhiều. Do đó, chúng ta biết rằng: hạnh phúc lớn không thể nào có được nếu ta không có hạnh phúc nhỏ. Tu tập là làm thế nào để ta có được rất nhiều hạnh phúc nho nhỏ trong đời sống hằng ngày và như vậy hạnh phúc lớn là điều kiện chắc chắn sẽ xảy ra với chúng ta. Cũng như khi đi thiền hành, chúng ta không nghĩ đến chuyện tới, tại vì đi thiền hành có nghĩa là đi mà không cần tới. Mỗi bước chân đều có thể đem lại an lạc và hạnh phúc cho chúng ta rồi và càng thực tập chúng ta càng có nhiều an lạc.

                          Tại Làng Mai, chúng ta không mơ ước xây một ngôi chùa lớn. Chúng ta không có mơ ước gì cả. Chúng ta chỉ mơ ước một điều mà chúng ta có thể làm ngay hôm nay. Đó là đi cho vững, ngồi cho vững, thở cho có ý thức, biết mỉm cười và biết ăn cơm trong chánh niệm. Mà điều đó không còn là ước mơ nữa. Đó là chuyện mà ta có thể làm được hàng ngày. Đó là sự thực. Sự thực này có thể đẹp hơn bất cứ một ước mơ nào.

                          Đốn Một Cây Tre

                          Có cái ước mơ ngày xưa: khi già, mình muốn trẻ lại. Nhưng ước mơ đó bây giờ cũng không còn nữa, vì ước mơ đó đã thành sự thực rồi. Các sư chú, các sư cô đang là mình và sẽ làm hay hơn mình. Chú bé ngày xưa còn ngây thơ, còn khờ khạo chưa biết đường đi, nhưng các sư chú sư cô ngày nay đã biết phương pháp, biết đối tượng của sự tu tập. Vì vậy cái ước mơ trở về một chú bé mười sáu tuổi hay hai mươi tuổi không còn là ước mơ nữa. Sự thực là Thầy đã hóa phép để trở thành sư chú Pháp Cảnh. Nhìn sư chú Pháp Cảnh, Thầy nói: “Con cũng vậy! Con cũng có thể hóa phép để trở thành ông già bảy mươi tuổi”.

                          Cái phép lạ đó chỉ có thể thực hiện khi mình nắm được bản chất sự thật về dòng sinh mạng của mình. Mình không phải sinh vào năm đó, mình đã sinh từ lâu. Mình sẽ không chết vào năm đó, mình sẽ tiếp tục hoài hoài. Mình có thể vượt thoát sinh tử. Thầy có nói: “Này con! Hôm nay Thầy đã trao truyền cho con một cây đèn mà khỏi phải đi vào thiền đường Nước Tĩnh, khỏi phải đốt hương. Và Thầy mong rằng sau này con có thể truyền lại cây đèn đó cho những người học trò của con. Cố nhiên, con sẽ không cần trao truyền theo phương pháp của Thầy. Con làm sao cũng được miễn là học trò của con cũng nhận được tuệ giác đó.”

                          Bây giờ, Thầy muốn kể vài kỷ niệm về Sư Ông của các con để các con biết rõ thêm về nguồn gốc của mình. Sư Ông pháp danh là Thanh Quý, là người học trò chót của thế hệ Thanh trong giới xuất gia, thuộc dòng Lâm Tế chánh tông. Sư Ông của các con đi xuất gia từ hồi còn rất nhỏ. Tuy nhiên, ở chùa đã lâu nhưng chú bé ngày xưa chưa được chính thức thọ giới sa di vì còn quá nhỏ! Đến khi hòa thượng Hải Thiệu viên tịch, thì sư anh của Sư Ông là hòa thượng Thanh Thái, hiệu Tuệ Minh, đã làm lễ thế độ cho Sư Ông trước Linh Cửu của Bổn Sư, và đặt pháp danh cho Sư Ông là Thanh Quý. Thanh Quý có nghĩa là người đệ tử út mang pháp danh có chữ Thanh đứng đầu. Sư Ông được sư anh nuôi lớn, dạy dỗ, rồi sau đó được sư anh (hòa thượng Tuệ Minh) truyền đăng cho và đặt pháp tự là Cứu Cánh, pháp hiệu là Chân Thật. Bài kệ phó pháp mà sư anh Thanh Thái Tuệ Minh trao cho sư em Thanh Quý Chân Thật là:

                          Chân Thật duy tùng thể tánh trung
                          Thâm cùng vọng thức bổn lai không
                          Thỉ tri thị vật nguyên vô vật
                          Diệu dụng vô khuy chỉ tự công

                          Đây là một bài kệ mà ý nghĩa rất thâm sâu để chúng ta học hỏi và hành trì theo. Thầy được làm thị giả cho Sư Ông chỉ một mùa thôi, vào khoảng ba tháng, và không được làm lần thứ hai vì sau đó còn có nhiều sư em. Có một lần dọn cơm cho Sư Ông, không biết vì thiếu chánh niệm thế nào Thầy đã quên không để một đôi đũa vào trong mâm cơm. Mâm cơm Việt Nam mà thiếu đũa thì nguy lắm! Sau khi đặt mâm cơm trên bàn của Sư Ông, Thầy lui ra đứng khoanh tay sau lưng Sư Ông để chờ xem Sư Ông có cần sai bảo gì không.

                          Hồi đó, Thầy dại lắm! Thầy nghĩ rằng: “Đứng mà không làm gì hết thì rất uổng thì giờ”. Vì vậy Thầy đã lấy cuốn kinh đứng sau lưng Sư Ông mà học; hành động mà bây giờ ta gọi là “tranh thủ thời gian”. Thầy mải đọc kinh nên không thấy rằng mâm cơm của Sư Ông không có đũa. Ấy thế mà Sư Ông không nói gì hết. Sư Ông lấy thìa để ăn cơm, từ đầu đến cuối. Ăn cơm xong, Sư Ông gọi: “Này chú”, Thầy bỏ cuốn kinh xuống, đứng chắp tay. Sư Ông hỏi: “Ngoài vườn của mình còn nhiều tre không?” Ngây thơ Thầy trả lời: Dạ! Bạch Sư Ông! Ngoài vườn mình còn nhiều tre lắm. Nhất là tre cán giáo (tre cán giáo có nhiều măng, ăn ngon lắm!). Sư Ông nói: Vậy thì ăn cơm xong, chú ra vườn đốn một cây tre đem vào đây! Thầy lại: “Dạ.” Rất ngây thơ. Đột nhiên Thầy nghĩ: “Đốn tre làm chi vậy ?” Thầy chắp tay: Bạch Sư Ông! Đốn tre để làm gì ạ ? Sư Ông cười nói: Để vót vài đôi đũa. Chú nhìn xem: trong mâm cơm này không có đôi đũa nào hết. Lúc đó, Thầy mới giật mình sợ hãi. Bài học đó Thầy không bao giờ quên. Bài học thiếu chánh niệm.

                          Ở Làng Mai, chuyện này cũng đã thường xảy ra. Có một lần sư chú Pháp Tạng làm thị giả cho Thầy. Sư chú dọn cơm cho Thầy với một thiền sư khách. Không biết loay hoay làm sao đó sư chú quên đem cơm mà chỉ đem thức ăn thôi! Hôm đó, vị thiền sư khách và Thầy chỉ ăn thức ăn suông.

                          Tiếp Nhận Và Trao Truyền

                          Hồi còn thơ ấu, Thầy được ra ngoài Bắc học, nên bị ảnh hưởng của người Bắc. Thay vì nói theo kiểu Huế: “Mời Sư Ông thời cơm” thì Thầy lại nói: “Mời Sư Ông dùng cơm!” Nghe từ “dùng cơm”, Sư Ông hơi lấy làm lạ nhưng Sư Ông đã chấp nhận dễ dàng. Có một hôm, Sư Ông dẫn Thầy đi và chỉ cho Thầy những cây me đất mọc ở chỗ ẩm thấp và chung quanh mái tam quan. Những cây me đất cao chừng hai tấc, có bốn cánh, năm cánh, vị chua chua. Sư Ông nói: “Có một món này con có thể học được, đó là món canh khoai me đất.” Sư Ông dạy: “Mình chỉ cần đổ một ít nước vào xoong rồi cắt khoai lang ra từng miếng nhỏ bỏ vào nấu cho sôi, khi mềm thì nêm muối rồi cắt vào đó một mớ me đất.” Sư Ông rất ưa món canh này. Lâu lâu, Thầy nấu món canh khoai đó để cúng dường Sư Ông. Trước khi nấu món canh khoai đó, Thầy thường đến chắp tay thưa: “Bạch Sư Ông, hôm nay con muốn cúng dường món canh khoai me đất, Sư Ông có dùng không?” Sư Ông mỉm cười trả lời: “Dùng!”. Thế là Sư Ông đã dùng cái động từ mà Thầy đã dùng.

                          Không bao giờ Sư Ông nói ra bằng lời rằng Sư Ông thương Thầy, nhưng Thầy biết là trong trái tim của Sư Ông luôn có đầy ắp yêu thương… một tình thương ấm áp và cao cả của Thầy đối với trò. Người Á đông vốn là kín đáo. Khi thương, người ta để trong lòng không chịu nói ra. Vì vậy có những đứa con và những đứa học trò cứ tưởng rằng cha mình không thương, Thầy mình không thương. Ở Tây phương, thương thì nói ra. Đôi khi thương ít mà nói thương nhiều, làm cho người ta tưởng là thương nhiều thật. Đó là sự khác biệt giữa hai nền văn hóa.

                          Sư Ông có viết di chúc để lại mà không cho Thầy và ai biết cả. Trong di chúc ghi là sau khi Sư Ông tịch thì Thầy phải kế thế để làm trụ trì tổ đình Từ Hiếu. Nhưng hình như Thầy đã được sinh ra không phải để làm trụ trì, cho nên khi Sư Ông tịch, sư anh của Thầy là thượng tọa Chí Niệm đứng ra đảm trách chức vụ trụ trì của tổ đình Từ Hiếu. Năm 1966 là năm mà Thầy phải rời quê hương để đi vận động hòa bình, bởi vì chiến tranh Việt Nam vào lúc đó đã đến giai đoạn khốc liệt. Khốc liệt đến nỗi ban đêm mình không ngủ được vì sự chết chóc diễn ra hằng ngày, hằng đêm. Ngay tại xung quanh thành phố Sài Gòn, sự chết chóc cũng diễn ra từng ngày, từng đêm. Vì vậy, Thầy nói với các vị cộng sự xuất gia và tại gia: hãy lo lắng mọi công việc ở quê nhà để Thầy có thể xuất ngoại đi vận động chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam.

                          Thầy lên đường vào ngày 11 tháng 5 năm 1966. Năm đó có Nhuần hai tháng Ba. Sau khi bà bác sĩ Hiệu, chị Uyên và chị Phượng, chị Phượng là sư cô Chân Không bây giờ, vận động xin được cho Thầy giấy xuất ngoại. Thầy liền bay về Huế để từ biệt Sư Ông: Bạch Sư Ông! Con phải đi xuất ngoại, ít nhất là ba tháng. Con sẽ cố gắng vận động dư luận thế giới, tìm cách chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Thầy không biết lần đó là lần cuối cùng được gặp Sư Ông. Nhưng hình như có linh tính báo cho Sư Ông biết trước nên Sư Ông nói: Con hãy ở lại thêm một ngày nữa để Thầy làm lễ truyền đăng cho con trước khi con đi. Khuya hôm sau, một lễ truyền đăng được tổ chức trong chánh điện. Sư Ông đã ban cho Thầy bài kệ truyền đăng mà các con đã thấy treo ở trên tường:

                          Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
                          Hành đương vô niệm diệc vô tranh
                          Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể
                          Diệu pháp Đông Tây khả tự thành

                          Ngày xuất gia và được thọ giới sa di, Thầy được trao pháp danh là Trừng Quang, pháp tự là Phùng Xuân. Phùng Xuân nghĩa là gặp mùa xuân. Thầy không thích cái pháp tự này mấy, vì Thầy cho rằng pháp tự này giống tên con gái. Hồi đó, Thầy chưa biết rằng Phùng Xuân là một từ để đối lại với từ Khô Mộc. Khô Mộc tức là cây khô. Giọt nước cam lồ của bồ tát Quan Thế Âm một khi rưới lên cây khô, cây khô đó biến thành một mùa xuân mới.

                          Trong thiền môn, có những đoàn thể không hiểu tu tập như thế nào mà người ta trở thành những cây khô. Vì vậy ngày nay chúng ta có những danh từ Khô Mộc Đường, Khô Mộc Chúng, v.v… Họ ngồi thiền ngày đêm, mục đích là làm sao để những ước muốn, những mơ tưởng của mình khô cạn hết, như một cây khô vậy thôi; làm sao để giải thoát ra khỏi những khổ đau, những bức rức ở trong lòng để đừng đau khổ. Truyền thống thiền đó gọi là “Khô Mộc Thiền”.

                          Đi Về Hướng Mùa Xuân

                          Thiền của chúng ta là thiền của tình thương. Chúng ta thực tập thương yêu hai mươi bốn giờ trong một ngày. Chúng ta đi, cốt yếu vì thương mà đi, chúng ta ngồi cũng vì thương mà ngồi, chúng ta ăn cơm cũng vì thương mà ăn cơm, chứ không phải là để làm khô kiệt dòng suối thương yêu trong lòng của chúng ta. Bụt là một con người của tình thương. Chúng ta phải tiếp nối tình thương của Bụt mới được. Ngày xưa, có một vị thiền sư tên là Đại Hải. Ngài có một bài thơ như sau:

                          Suy tàn khô mộc ỷ hàn lâm
                          Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm
                          Tiều khách ngộ chi giao bất cố
                          Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm

                          Suy tàn khô mộc ỷ hàn lâm: Nghĩa là một cây khô đang suy tàn, dựa vào một khu rừng lạnh.Kỷ độ phùng xuân bất biến tâm: Bao nhiêu lần gặp mùa Xuân nhưng cây khô vẫn giữ nguyên thái độ khô khan của nó.Tiều khách ngộ chi giao bất cố: Người tiều phu đi ngang qua, gặp cây khô đó nhưng không thèm nhìn vì nó khô khan, nó lạnh lùng, trông chán lắm! Dĩnh nhân ná đắc khổ truy tầm: Dĩnh tức là kinh đô của nước Sở (bây giờ là Hồ Bắc). Người nước Sở cực nhọc đi tìm mà không thấy được đối tượng của mình, vì cây khô đó chỉ muốn là một cây khô mà thôi. Trong giới tu học chúng ta, có những người đã quá đau khổ. Mục đích của họ là muốn biến thành cây khô. Tu như vậy không có lợi ích gì mấy cho cuộc đời xung quanh. Vì vậy, ta không thể hiểu được ý nghĩa của Phùng Xuân nếu ta không thấy được bối cảnh của Khô Mộc Thiền.

                          Trong sách Ngũ Đăng Hội Nguyên, có câu chuyện của một bà cụ. Bà cúng dường cho một vị tu sĩ ở trong một am cốc suốt 20 năm. Ngày nào Bà cũng đem cơm đến để cúng dường cho vị tu sĩ đó. Khi không đi được thì bà nhờ cô con gái đem cơm đến cho Thầy. Suốt 20 năm như vậy. Một hôm, bà cụ nói với con gái: Này con, con lên ngồi chơi với Thầy, con xin Thầy ôm con, thử xem Thầy phản ứng như thế nào? Cô thiếu nữ lên am cốc và làm y như vậy. Thầy kia xích ra một bên và đọc hai câu kệ:

                          Khô mộc ỷ hàn nham
                          Tam đông vô noãn khí

                          Nghĩa là:
                          Cây khô dựa vào hòn núi lạnh. Suốt trong ba mùa đông nó không hề có một chút hơi ấm nào cả! Khi cô gái về báo cáo với mẹ, bà cụ ngửa mặt than rằng: Hai mươi năm cúng dường rất là uổng. Ông Thầy tu này không được tích sự gì hết! Chiều hôm đó, bà đến châm lửa đốt cháy túp lều của vị tu sĩ.

                          Chúng ta tu như thế nào để tình thương trong ta luôn đầy tràn, để niềm tin trong ta không cạn mất. Nếu tu chỉ để làm dịu bớt một vài khổ đau ở trong lòng, hay để chạy trốn khổ đau ở cuộc đời thì chưa phải là tu đúng phương pháp. Tu mà không thấy được những khổ đau ở xung quanh, không đem lại sự chuyển hóa, sự tươi mát và hạnh phúc cho người xung quanh ta thì cách tu đó không phải là bản hoài của Đức Thế Tôn. Vì vậy phải vượt qua giai đoạn “Khô mộc”, phải đi để gặp mùa xuân!! Đó là pháp tự mà Sư Ông đã đặt cho Thầy: Phùng Xuân. Nó có một ý nghĩa rất sâu sắc mà hồi đó vì chưa hiểu, vì dại dột, Thầy đã cho rằng cái tên này giống tên con gái.

                          Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành
                          Hành đương vô niệm diệc vô tranh

                          Câu đầu có chữ Nhất. Câu hai có chữ Hành. Nhất hướng là đi chuyên về một hướng. Hướng đó là hướng Phùng Xuân. Do đó, các học trò của Thầy hãy cứ an tâm nhắm vào hướng mùa Xuân mà đi tới. Đắc là được. Kiện hành là một thế đi rất hùng dũng và vững chãi. Đó là Lăng Nghiêm. Tiếng Pháp gọi là “La marche héroique”. Danh từ “la marche héroique” là để dịch chữ surangama. Dịch tiếng hán việt là kiện hành, tức là thế đi hùng dũng. Thế đi của người xuất gia phải là một thế đi dũng cảm. Cho nên, các sư cô và sư chú nên biết mình phải đi như thế nào. Nhất hướng Phùng Xuân đắc kiện hành: Đi về một hướng thôi: gặp được mùa xuân và đạt tới một thế đi vững chãi. Hành tức là hành động. Nếu là động từ thì ta đọc là hành. Nếu là danh từ thì ta đọc là hạnh. Hành tức là active, còn hạnh là action. Hành đương vô niệm diệc vô tranh: Trong hành động, ta phải theo các nguyên tắc vô niệm và vô tranh.

                          Vô Niệm và Vô Tranh

                          Vô niệm tức là không để bị kẹt vào ý niệm. Vô tranh nghĩa là không có óc hơn thua, ganh tỵ với người. Trong bao nhiêu năm hành đạo, Thầy thấy vô tranh dễ làm hơn vô niệm. Trong công cuộc hành đạo, khi có người đến tranh chấp và hơn thua với mình thì Thầy buông bỏ rất dễ, còn vô niệm thì phải thực tập nhiều mới có thể buông bỏ được. Vô niệm là không bị kẹt vào bất cứ một khái niệm hay một ý niệm nào cả.

                          Trong kinh Pháp Bảo Đàn, tổ Huệ Năng định nghĩa vô niệm như sau: nhược kiến nhất thiết pháp bất nhiễm trước thị vi vô niệm. Nghĩa là khi mình đối diện với các pháp mà tâm không bị dính kẹt vào đó thì gọi là vô niệm. Như khi thấy một cái hoa thì ta liền khởi lên ý niệm về nó, cho nó là đẹp và muốn nó thuộc về mình. Đó không phải là vô niệm mà là đang kẹt vào một cái niệm. Có một ý niệm về Thầy, về bạn, về người hàng xóm của mình, chúng ta có thể bị kẹt vào ý niệm đó và chúng ta vướng mắc, giận hờn hoặc tham đắm là do ý niệm đó. Một khi chúng ta đã bị kẹt vào bởi ý niệm đó rồi thì hành động của ta không còn tự do nữa.

                          Chẳng hạn như chúng ta có một ý niệm về hạnh phúc. Chúng ta cho rằng phải như thế này, phải như thế kia mình mới có hạnh phúc, và vì chúng ta bị kẹt vào ý niệm hạnh phúc ấy nên chúng ta không có hạnh phúc. Trong khi đó, hạnh phúc có thể đến với ta một cách rất dễ dàng nếu ta có tự do, nếu ta không bị kẹt vào một ý niệm nào. Ví dụ có một sinh viên nghĩ rằng: “mình phải có bằng Tiến sĩ thì mới có hạnh phúc.” Vậy là chết anh ta rồi. Anh ta bị kẹt vào một ý niệm: phải có bằng Tiến sĩ mới có hạnh phúc.

                          Trong khi đó, rất nhiều người hạnh phúc quá chừng mà không cần có bằng Tiến sĩ gì cả! Tại sao anh lại giam anh vào trong một ý niệm để rồi anh khổ? Cho nên những ý niệm của mình rất nguy hiểm, dù là ý niệm về hạnh phúc, ý niệm về lý tưởng, về Bụt. Mình phải có tự do hoàn toàn. Cho nên trong hành động, chúng ta phải có tự do, phải vô niệm, phải vô tranh thì hành động đó mới là hành động đích thực.

                          Trong ba mươi năm ở quốc ngoại, Thầy đã cố gắng đi theo lời chỉ dẫn của Sư Ông. Trong những năm hành đạo ở quê nhà, Thầy đã sáng lập Viện Đại Học Vạn Hạnh, trường Cao Đẳng Phật Học, trường Thanh Niên Phụng Sự Xã Hội, nhà xuất bản Lá Bối, tuần san Hải Triều Âm, tuần san Thiện Mỹ, v.v… Trong lĩnh vực văn hóa và xã hội, Thầy đích thực thấy câu thứ hai này là kim chỉ nam hướng dẫn cho đời mình. Thầy luôn sống và hành động với tất cả con tim mình để phụng sự mà cố gắng không bị dính kẹt vào một ý niệm, một phe phái hay một sự tranh chấp nào cả.

                          Tâm Đăng Nhược Chiếu Kỳ Nguyên Thể

                          Tâm đăng là cây đèn trong tâm. Mỗi chúng ta đều có một cây đèn bên trong. Chính cây đèn này chúng ta phải thắp lên. Đó là ánh sáng chánh niệm. Ánh sáng duy nhất để chiếu soi vào những ngõ ngách của tâm hồn. Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể: lấy ngọn đèn tâm mà soi rọi trở lại cái bản chất, cái thể tính của mình. Làm được như vậy thì: Diệu pháp Đông Tây khả tự thành. Cái chánh pháp mầu nhiệm tự động được thành tựu thôi, dù ở phương Đông hay phương Tây. Những năm gần đây, có khi Thầy bất giác giật mình. Dường như Sư Ông đã biết trước rằng Thầy có thể đóng góp được ít nhiều cho công trình hoằng pháp ở cả Tây phương và ở Đông phương. Ngày xưa, khi leo lên máy bay để qua Tây phương, Thầy không hề có ý niệm ở lại Tây phương để hoằng pháp. Nhưng sau khi Thầy đã lên tiếng kêu gọi hòa bình rồi, thì các chánh phủ ở Việt Nam không cho phép Thầy trở về nước nữa.

                          Bây giờ chúng ta đi sang danh từ Nhất hành. Nhất là một và hành là hành động. Có một tam muội gọi là nhất hạnh tam muội, có khi gọi là chân như tam muội, có khi gọi là nhất tướng trang nghiêm tam muội. Kinh luận giải thích: trong tam muội này ta quán chiếu được cái tướng nhất như bình đẳng của tất cả các pháp. Đưa mắt nhìn ra, ta thấy vạn sự vạn vật muôn hình vạn trạng, khác biệt nhau và tách rời nhau ra. Nhưng nếu quán chiếu thì ta sẽ thấy tất cả những cái khác nhau đó đều cùng chung một bản thể. Tuy là đa dạng, nhưng nằm dưới cái đa dạng đó có cái một, cái nhất như và cái bình đẳng, vì vậy không cái nào hơn cái nào. Đứng về phương diện hình tướng thì một trái núi lớn hơn một hạt sỏi và chúng ta thấy có sự chênh lệch giữa một trái núi và một hạt sỏi. Nhưng đứng về phương diện nội dung thì trái núi và hạt sỏi là một, chứ không có sự khác biệt. Trái núi mầu nhiệm bao nhiêu thì hạt sỏi cũng mầu nhiệm bấy nhiêu. Nếu không có trái núi thì không có hạt sỏi. Nếu không có hạt sỏi thì không có trái núi.

                          Đứng về phương diện Bụt và chúng sanh cũng vậy. Nếu nhìn về phía hình thức, chúng ta sẽ thấy Bụt khác, chúng sanh khác. Bụt có đại từ, đại bi và đại trí, có thọ mạng vô lượng, còn chúng sanh có tham, sân, si, có sanh tử luân hồi. Nhưng sự phân biệt đó sẽ tan biến đi khi ta an trú vào trong “nhất hạnh tam muội”. Khi quán chiếu ta sẽ thấy được tính cách bình đẳng và nhất tướng của mọi sự và mọi vật trong pháp giới. Tướng đó gọi là tướng “vô sai biệt”.

                          Tâm Đăng

                          Theo phương pháp quán chiếu của nhất hạnh tam muội, trong những tư thế hằng ngày của ta như đi, đứng, nằm, ngồi, tâm ta luôn hướng về cái “định” đó để ta có thể thấy được không có cái gì lớn hơn cái gì, không có cái gì nhỏ hơn cái gì, không có cái gì cao hơn, không có cái gì thấp hơn và chúng ta thấy được tính cách nhất như bình đẳng của vạn sự vạn vật. Ta không cần bước ra khỏi đạo tràng mà vẫn có thể đi vào cõi Hoa nghiêm, cõi Tịnh độ. Đó là định nghĩa của Thầy Long Thọ trong tác phẩm Đại Trí Độ Luận.

                          Thực tập theo khuynh hướng tịnh độ, ban đầu tâm của chúng ta duyên tưởng tới một vị Bụt như Bụt Thích Ca, Bụt Từ Thị hay Bụt Di Đà. Chúng ta để tâm của ta quán chiếu thường trực từ giây phút này tới giây phút khác. Qua vị Bụt đó, chúng ta liên hệ được với tất cả các vị Bụt trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Chúng ta thấy rằng dù cho tất cả các vị Bụt đông đảo bằng số cát sông Hằng, chúng ta vẫn có thể tiếp xúc được qua một vị Bụt và chính bản thân ta cũng là một vị Bụt. Qua bản thân ta, ta có thể tiếp xúc được với tất cả các vị Bụt ở quá khứ, hiện tại và tương lai. Đó là định nghĩa trong kinh Văn Thù Sư Lợi Sở Thuyết Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa.

                          Tại đạo tràng Làng Mai, chúng ta thường thực tập theo tinh thần này. Ban đầu, chúng ta dùng chánh niệm, để thắp lên ngọn đèn tâm. Trong bài kệ này Sư Ông gọi ngọn đèn ấy là “tâm đăng”. Khi ăn cơm, ta biết là ta ăn cơm. Ngồi với tăng thân, ta biết ta đang ngồi với tăng thân. Ngọn đèn của ta đang cháy. Nếu ngồi với tăng thân mà mơ tưởng đến chuyện khác, đến quá khứ, đến tương lai, hoặc lo âu buồn rầu là ngọn đèn của ta đang tắt. Dù Thầy đã có truyền cho ta cây đèn rồi thì cây đèn ấy cũng đang bị tắt như thường. Tâm đăng là cây đèn của lòng mình, phải thắp sáng không những mỗi ngày một lần mà phải thắp sáng suốt ngày trong mỗi giây mỗi phút, tại vì ngọn đèn đó là để chiếu sáng hiện hữu của chúng ta.

                          Trong bài kệ của Sư Ông, ta thấy: “Tâm đăng nhược chiếu kỳ nguyên thể”, nếu cây đèn tâm chiếu được vào nguồn gốc của nó thì ngọn đèn đó là một năng lượng ánh sáng rất thật, chứ không phải là một cái gì trừu tượng. Tất cả chúng ta đều biết ngọn đèn đó là ngọn đèn gì. Trong chúng ta đây ai cũng đều đã học được cách thắp nó lên và giữ cho nó cháy sáng từ niệm này sang niệm khác, từ giờ phút này sang giờ phút khác. Nhờ ánh sáng đó mà chúng ta thấy biết chuyện gì xảy ra trong giây phút hiện tại.

                          Trong thế giới của cảm thọ, khổ thì ta biết là khổ, vui thì ta biết là vui, không khổ không vui thì ta biết là không khổ không vui. Trong thế giới của tri giác, có một ý niệm thì biết là mình có một ý niệm, có một tri giác thì biết là mình có một tri giác. Đó là cái nguyên thể, tức là tâm của mình. Đèn tâm thắp lên từ tâm, trở lại chiếu rọi vào tâm. Phải thắp lên mới thấy được tâm của mình.

                          Nhiều khi tâm của mình đi những nước cờ rất lạ lùng, mình không thể biết. Mình tưởng là mình không như vậy, kỳ thực là mình đang như vậy. Mình có những ganh tỵ, giận hờn, đam mê, v.v… mà mình không biết là mình có. Rồi mình dùng những lý luận rất hay, tự biện hộ rằng: “cái đó không phải đam mê, cái đó không phải là giận hờn, v.v…” Trong tất cả chúng ta luôn luôn có mặt một ông trạng sư. Ông này tìm cách bào chữa cho ta để cho ta có những cảm giác dễ chịu. Nếu không cẩn thận, không có chánh niệm ta sẽ bị đánh lừa, dễ gây đổ vỡ và khổ đau cho chính ta và những người xung quanh, những người mà ta đã nguyện thương yêu và che chở.

                          Thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn tâm lên và giữ cho nó sáng cả ngày đêm. Khi nó tỏa ra ánh sáng thì ta phải theo ánh sáng đó mà nhìn, mà quan sát. Chính nhờ sự quan sát này mà chúng ta thấy được sâu sắc trong lòng của sự vật, trong lòng của những tri giác và những cảm thọ của chính mình và nhờ đó mà mình hiểu được mình. Chính từ cái thấy của mình mà mình được chuyển hóa, được giải thoát. Sự cứu độ, sự cứu chuộc (tiếng Pháp gọi là le salut) và sự giải thoát (la liberation) hoàn toàn căn cứ vào cái yếu tố gọi là “cái hiểu”.

                          Trong Cơ Đốc giáo, chúng ta nghe nói đến sự cứu chuộc bằng ân sủng của thượng đế. Trong đạo Bụt, sự cứu độ chính là bằng sự hiểu biết, bằng tuệ giác (la compréhension). Tuệ giác của ta giải phóng cho ta. Có thể gọi Tuệ giác là Thượng đế cũng được. Nhưng Tuệ giác làm sao có được nếu đèn tâm không được thắp lên? Chúng ta, những thiền giả đang thực tập, mỗi người đều có một ngọn đèn trong tâm. Sự thực tập của chúng ta là thắp ngọn đèn đó lên để quán chiếu ngày đêm, từ giây phút này sang giây phút khác, không ngừng nghỉ. Cái đó gọi là “nhất hạnh tam muội”. Khi đã quán chiếu sâu sắc, ta sẽ thấy ta và Thầy là một, ta với muôn loài chúng sanh là một. Có được cái thấy bình đẳng và nhất như đó, ta đạt đến cái trí gọi là “vô phân biệt trí”. Nhất hạnh tam muội là như thế đó! Vậy là quý vị có thể hiểu được ý nghĩa của hai chữ “nhất hạnh” rồi.

                          Công Án

                          Năm 1946, nước ta đang có chiến tranh với Pháp. Việt Nam tuyên bố độc lập năm 1945, nhưng với sự che chở và nâng đỡ của phái bộ Anh, quân đội Pháp trở lại. Quân đội nhân dân tổ chức kháng chiến để chống lại quân Pháp. Và khi thành phố Huế bị phong tỏa, tất cả Thầy trò đang ở chùa Từ Hiếu được lệnh phải tản cư. Mọi người khăn gói đem theo một ít lương thực cùng vài chai tương. Tưởng rằng chỉ đi vài tuần rồi trở về chứ không ngờ phải đi hàng tháng. Cuối cùng, thức ăn hết. Chỉ còn một phần ba chai tương, thầy trò mới lấy muối và nước sôi đổ thêm vô cho đầy. Ăn xuống còn nửa chai, lại thêm muối và nước sôi nữa. Rốt cuộc tương không còn mùi tương nữa, chỉ là nước muối. Nhiều khi phải đi hái rau tàu bay, rau dền, rau sam ở dưới lòng suối mà ăn.

                          Trước khi tản cư, thầy trò đã đào những cái hố rất lớn ở ngoài vườn, đặt xuống những cái chum, cái lu rồi trút lúa vào, lấp đất lại. Phải chôn đi để khi về có lúa mà ăn. Sau khi hồi cư, Thầy nhớ, một hôm Sư Ông gọi hai sư chú Phùng Xuân và Thiên Chân ra đào một chum lúa về xay để ăn. Hôm đó, Sư Ông cũng ra làm việc với hai chú. Trời nắng gắt, làm được một lúc, Sư Ông đứng dậy. Hai chú ngừng lại nhìn thấy Sư Ông mồ hôi ra nhễ nhãi. Sư Ông nói: “Mệt quá! Chắc khi nào chết thì mới hết mệt”. Thầy còn đang ngơ ngẩn nhìn Sư Ông thì Sư Ông nhìn thẳng vào mắt Thầy và nói tiếp: “Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt?” Câu nói rất đơn sơ mà Thầy nhớ mãi. Nó trở thành một công án của Thầy. Làm thị giả cho Thầy, đôi khi một câu nói của Thầy cũng đủ để cho mình tu suốt đời, đủ để quán chiếu suốt đời.

                          Có chánh niệm thì ta học rất mau và tiến rất mau trên đường tu tập. Ta sẽ không lặp lại những lầm lỗi mà ta đã vấp phải trong quá khứ. Có một lần được Sư Ông sai bảo, Thầy đã hăng hái đi làm, do đó đã mở cửa ra và đóng cửa lại thiếu chánh niệm. Sư Ông kêu vào, không la mắng gì cả. Ngài bảo: Bây giờ con hãy đi ra lại, rồi mở cửa và đóng cửa thế nào cho hay hơn hồi nãy. Thầy xá rồi đi ra. Lần này, Thầy mở cửa và đóng cửa rất có chánh niệm. Sư Ông chỉ cần dạy một lần đó thôi! Sư Ông không cần phải dạy lần thứ hai. Nếu tâm ta không có chánh niệm thì những câu nói đó sẽ qua đi như làn gió thoảng. “Nhưng nếu chết rồi thì ai hết mệt ?” Đó là một công án rất sâu sắc.

                          Chúng ta ai cũng có thể gây lầm lỗi, không ai tránh thoát, vì chúng ta không phải là thánh. Tu tập chánh niệm giúp ta thấy được điều đó. Đôi khi một vài năm sau, chúng ta mới biết là chúng ta có lỗi. Có thể chúng ta đã lỡ lời, có thể chúng ta đã xúc phạm. Điều quan trọng là khi đèn tâm của chúng ta thắp lên thì ta biết rằng: ta đã làm một điều vụng dại. Nếu thấy được như vậy và dặn lòng là sẽ không lặp lại điều lầm lỗi đó nữa thì chỉ một lần lầm lỗi kia thôi cũng đủ để ta học suốt đời.

                          Trong cuộc tấn công tết Mậu Thân 1968, tức là hai năm sau khi Thầy rời bỏ quê hương, có một trái bom rơi vào chùa Từ Hiếu nhưng chỉ làm sập đổ một góc mái nhà mà không gây thiệt hại nào khác. Sau đó, chừng một vài tháng Sư Ông qua đời. Thầy nhận được tin từ Pháp. Sư Ông qua đời mà Thầy không về được, vì Thầy không được phép về quê hương. Thầy buồn lắm!

                          Trong những người Thầy viết thơ để than thở có một ông Thầy tu người Cơ Đốc giáo. Đó là cha Thomas Merton, ở tu viện Trappist tiểu bang Kentucky. Cha Merton là một người tri kỷ của Thầy, đã cùng Thầy trao đổi rất nhiều kinh nghiệm tu học. Thầy viết cho Thomas về cái tin buồn đó. Cha Thomas viết lại an ủi Thầy một câu rất hay: “Thầy của Thầy bây giờ hoàn toàn tự do, chúng ta nên vui về sự ra đi tự do của ngài.” Thầy cảm thấy được an ủi rất nhiều nhờ câu nói đó.

                          Nhiều khi Thầy nằm mơ về chùa, thấy mình bước lên tam cấp vào Ái Nhật Đường. Liêu của Sư Ông nằm về phía tay trái, mỗi khi đi đến đó Thầy luôn cúi đầu xuống dù Sư Ông có ngồi đó hay không. Đó là một tập quán. Mỗi lần nằm mơ được đi về chùa, Thầy thấy Sư Ông vẫn còn đó, Sư Ông ra đón Thầy. Tình Thầy trò vẫn luôn đậm đà, ấm áp như cũ. Sự cung kính, sự thương yêu vẫn còn nguyên vẹn, dầu Sư Ông đã tịch hay chưa tịch, bởi trong trái tim của Thầy luôn có Sư Ông.

                          Hôm nay, chúng ta ngồi đây có Sư Ông đang ngồi với chúng ta -Sư Ông Thanh Quý hiệu Chân Thật- một con người bản tính rất chân thật, rất hiền từ. Thầy còn nhớ rõ là mỗi buổi sáng, khi tăng thân ra làm các công việc thì Sư Ông cũng ra làm việc với mọi người. Ngài đội chiếc nón vành rất lớn, tay cầm chiếc gậy, tới làm việc với nhóm này một chút, nhóm kia một chút. Đó là niềm vui buổi sáng của Sư Ông. Thầy có bổn phận phải trao truyền Sư Ông lại cho các con.

                          Hiện bây giờ, Sư Ông đang nằm trong trái tim của mỗi người chúng ta. Thầy cũng như các con là sự tiếp nối của Sư Ông, của Bụt, của Tổ. Chúng ta có chung một dòng sinh mạng. Mỗi ngày chúng ta càng có thêm Tuệ giác: Tuệ giác của Bụt, của Tổ, của cha ông và của tổ tiên để lại. Chúng ta phải tiếp tục chế tác Tuệ giác đó để có thể sống an lạc và tỉnh thức trong từng phút, từng giây, và mang sự an lạc và hạnh phúc đó trao truyền cho con cháu thế hệ mai sau. Chúng ta không thể chỉ trao truyền một mớ kiến thức khái niệm mà phải trao truyền sự sống an lạc, giải thoát của chúng ta. Chúng ta phải làm sao để cho tình thương và tuệ giác mãi mãi tuôn chảy bất tuyệt trong cuộc đời này. Đó là cách hay nhất, cao quý nhất mà chúng ta báo ơn Thầy Tổ, báo ơn Bụt.

                          ________
                          Pháp thoại ngày 3 tháng 3 năm 1996, tại thiền đường Nến Hồng

                          Nuôi lớn bốn vị bồ tát

                          https://www.youtube.com/watch?v=U0dR5kuQgek&list=PLMG8i-w8rYWm-hwFeM-HD9YE02FNqLty2&index=5

                          Bốn lời quán nguyện hướng về bốn vị bồ tát lớn: bồ tát Quan Thế Âm, bồ tát Văn Thù, bồ tát Phổ Hiền và bồ tát Địa Tạng là để đánh động những hạt giống vững chãi, thảnh thơi và hiểu biết trong con người của mỗi chúng ta. Ban đầu những vị bồ tát lớn như Quan Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền và Địa Tạng có thể được nhìn nhận như những vị bồ tát ở ngoài ta. Nhưng nếu thực tập tinh chuyên và vững chãi ta sẽ thấy được rằng những vị bồ tát đó đang ở trong ta và ta cũng có những hạt giống năng lượng của các vị bồ tát ấy. Có thể những nhà khảo cứu sẽ đặt câu hỏi rằng các vị Quan Thế Âm, Văn Thù Sư Lợi, Phổ Hiền, Địa Tạng có phải là những nhân vật lịch sử không, họ sinh ở đâu năm nào, họ xuất gia năm nào. Được hỏi như vậy chúng ta có thể sẽ bối rối tại vì chúng ta không có những tư liệu đó. Nhưng vì thực tập theo con mắt đại thừa, nên ta thấy được rằng những chi tiết kia không quan trọng. Quan trọng là cái tên ấy và con người ấy có đại diện được cho một cái gì không. Tình thương và khả năng lắng nghe là một cái gì có thật, nhưng ta chỉ tiếp xúc được với tình thương và khả năng lắng nghe khi mà ta tiếp xúc được với một con người. Bồ Tát Quan Thế Âm là một con người, nhưng chúng ta không nghĩ rằng chỉ có con người ấy mới có tình thương và khả năng lắng nghe, tại vì chung quanh ta, trong đoàn thể chúng ta sống, cũng có những người có tình thương và khả năng lắng nghe. Có những người có tình thương khá lớn, có khả năng lắng nghe khá lớn. Có người thì tình thương nhỏ hơn, khả năng lắng nghe nhỏ hơn. Nhưng ai cũng có tình thương, ai cũng có khả năng lắng nghe. Vì vậy cho nên Quan Thế Âm là một nhân vật có thiệt, không phải chỉ trong quá khứ, mà còn có thiệt ngay trong hiện tại. Và chính trong mỗi chúng ta cũng có Bồ Tát Quan Thế Âm. Vì vậy cái quan trọng là cái chất liệu có thật, còn cái hình tướng để biểu lộ chất liệu đó có thể là thiên hình vạn trạng. Cho nên vấn đề Bồ Tát Quan Thế Âm có phải là một nhân vật lịch sử không, điều đó không trở thành một vấn đề quan trọng nữa. Bồ Tát Quan Thế Âm có thể đang có mặt và đang ngồi sát cạnh ta mà ta không biết.

                          Trước hết ta có thể nghĩ rằng Quan Thế Âm Bồ Tát là một khía cạnh của Bụt Thích Ca. Bụt Thích Ca là một nhân vật lịch sử, và trong Bụt Thích Ca cũng có khả năng thương yêu và lắng nghe. Vậy thì ta có thể nói một cách rất đơn giản và rõ ràng rằng Bồ Tát Quan Thế Âm là một khía cạnh của đức Bổn Sư. Đức Bổn Sư có lòng thương lớn và có khả năng lắng nghe, nên là học trò của đức Bổn Sư thì ta phải thực tập thế nào để nuôi lớn cái tình thương ấy và cái khả năng lắng nghe ấy trong ta. Cho nên đức bồ tát Quan Thế Âm là một thực thể có thật, ít nhất là trong đức Thích Ca, trong ta và cố nhiên là trong các vị tổ sư qua các triều đại.

                          Bồ tát Văn Thù Sư Lợi cũng là một khía cạnh khác của đức Bổn Sư, tại vì trong đức Bổn Sư có tuệ giác lớn. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi là biểu trưng cho tuệ giác lớn đó. Vậy thì khi ta xướng lên câu Nam Mô Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi ta cũng tỏ bày sự cung kính của ta đối với đức Bổn Sư, tại vì bồ tát Văn Thù Sư Lợi nằm ngay trong đức Bổn Sư. Và hơn nữa bồ tát Văn Thù Sư Lợi cũng nằm ở trong ta, tại vì ta cũng có hạt giống của tuệ giác. Nếu ta tu hành cho đàng hoàng thì hạt giống của tuệ giác cũng lớn lên và bồ tát Văn Thù Sư Lợi cũng được thể hiện trong ta và ta trở thành bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Vì vậy cho nên vấn đề Ngài có phải là một nhân vật lịch sử hay không không còn quan trọng nữa. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi không những có mặt trong quá khứ mà cũng đang có mặt trong hiện tại và cũng sẽ có mặt trong tương lai. Cũng như Bụt Thích Ca đã có mặt trong quá khứ và đang có mặt trong hiện tại. Tại vì ta đang có mặt đây cho nên ta biết rằng đức Bổn Sư cũng đang có mặt và đức Bổn Sư sẽ có mặt trong tương lai. Ta biết điều đó vì ta sẽ có con cháu và con cháu ta sẽ tiếp nối ta nghĩa là tiếp nối đức Bổn Sư. Cho nên ngay cả vấn đề Bụt Thích Ca có phải là một nhân vật lịch sử không cũng không quan trọng mấy, tại vì nếu ta thấy được và tiếp xúc được với đức Thích Ca một cách rất thực tế thì ta đâu cần phải hỏi những câu hỏi như vậy.

                          Đức Bồ Tát Phổ Hiền cũng thế. Ngài biểu trưng cho hành động lớn. Đức Thích Ca là người có hành động lớn, bởi vì nếu không có hành động lớn thì Ngài đã không thiết lập tăng đoàn, đã không đi giáo hóa từ nước này sang nước khác, đã không dựng nên được một nếp sống văn minh tinh thần mà nhân loại đã và đang được thừa hưởng trong 2600 năm qua. Vì vậy cho nên đức Thích Ca là bồ tát Phổ Hiền, và bồ tát Phổ Hiền là một phần của đức Thích Ca. Khi ta lạy, ta lạy một cái gì rất cụ thể, tại vì ta biết rằng cái ước muốn hành động lớn và cái khả năng hành động lớn cũng có ở trong ta. Tuy rằng nó có thể đang còn yếu kém nhưng nếu ta thực tập nó sẽ lớn lên.

                          Nói tới bồ tát Địa Tạng ta thấy rằng ngài tượng trưng cho đại nguyện. Chữ nguyện này ta có dịch là vow, aspiration, deep longing, promesses. Nguyện là lời thề. Lời thề của đức Địa Tạng là không bỏ nhau. Dầu sao đi nữa tôi sẽ không bỏ anh, dầu sao đi nữa tôi sẽ không bỏ em, nhất là trong khi anh đang còn bị kẹt trong tình trạng đau khổ, tuyệt vọng thì tôi sẽ không thể bỏ anh. Đó là tinh thần bất xả. Trong đạo Bụt có danh từ xả nghĩa là buông bỏ. Có những cái mà ta cần phải buông bỏ thì ta mới có hạnh phúc. Nhưng có những cái ta không thể buông bỏ: đó là những người thương của ta. Ta buông bỏ những người thương của ta thì ta là kẻ không có giá trị gì cả. Mà những người thương của bồ tát Địa Tạng là những người đang đau khổ dưới địa ngục. Đó là tinh thần bất xả. Một mặt ta thực tập xả, một mặt ta thực tập bất xả. Xả là releasing, bất xả là not abandoning. Hai cái có thể đi đôi với nhau, và phải đi đôi với nhau.

                          Trái tim của sự thực tập là chánh niệm. Chánh niệm trong khi ăn, uống, đi, đứng, nằm, ngồi… Chánh niệm này tạo thành năng lượng. Năng lượng được thể hiện ra bốn mặt. Mặt thứ nhất là mặt Bi, tức là tình thương. Thử tưởng tượng đức Bổn Sư Thích Ca không có tình thương. Không tình thương thì đâu phải là đức Bổn Sư nữa. Tình thương là một yếu tố trong bản chất của đức Bổn Sư Thích Ca. Thứ hai là tuệ giác, là trí tuệ, là understanding, là wisdom. Nếu không có đại trí, thì đức Bổn Sư cũng đâu phải là đức Bổn Sư nữa. Và vì vậy đại trí là bản chất thứ hai của Bụt. Trí và Bi viên mãn, đó là lời khen ngợi đức Bổn Sư. Thứ ba là Hạnh (action). Khi đã thấy và hiểu rồi thì thế nào cũng phải thương, mà đã thương rồi thì không thể nào bỏ được. Cái đó gọi là bất xả. Năng lượng của tình thương đưa tới hành động. Thương tức là hành động. Và cuối cùng là khi có hiểu và thương rồi thì cũng có nguyện tức là có lời thề, và lời thề của đức Địa Tạng là “Địa ngục vị không thề bất thành Phật” có nghĩa là “khi nào địa ngục còn chưa trống trơn thì con chưa thành Phật”. Lời nguyện đó cũng là lời nguyện của những người muốn hành động, muốn đi tới những vùng tối tăm nhất, khổ đau nhất để đem tới ánh sáng và niềm an ủi. Vì vậy chánh niệm ở đây được thể hiện bởi lời thề, và đại diện là bồ tát Địa Tạng. Tình thương được thể hiện bằng đức Quan Âm và ngài được nhận diện như là một người có khả năng lắng nghe. Đức Văn Thù đại diện cho Đại Trí. Và Hành Động là đức Phổ Hiền. Phổ có nghĩa là cùng khắp, Hiền có nghĩa là cái lòng tốt. Phổ Hiền được dịch là Universal Goodness. Vì vậy ta đi tới kết luận là bốn vị bồ tát này có mặt trong quá khứ, có mặt trong hiện tại và có mặt trong tương lai. Bốn vị bồ tát này không cần phải là nhân vật lịch sử. Bốn vị bồ tát đó là những thực thể, tại ta biết rằng khả năng thương yêu, khả năng hiểu biết, khả năng hành động và cái nguyện lớn của chúng ta là những điều có thật trong ta, trong đức Bổn Sư và trong những người khác. Tụng đọc bốn lời này là để nuôi lớn lên những năng lượng như vậy trong ta, những năng lượng ấy có ở nơi đức Bổn Sư một cách tràn đầy, có nơi các vị tổ sư một cách tràn đầy và cũng đang có trong những người chung quanh ta. Người nào cũng có những năng lượng ấy cả. Thành thử ta không cần biết đức Văn Thù, đức Phổ Hiền, đức Địa Tạng và đức Quan Thế Âm là những nhân vật lịch sử có thiệt hay không. Ta chỉ cần biết rằng những năng lượng đó là những gì có thật và ta đang tiếp xúc với những gì có thật. Ta không đang vẽ cho ta những hình bóng vẩn vơ để mà thờ phụng.

                          Vấn đề đức tin là vấn đề lớn. Có những người hoài nghi nói rằng giả sử mình thờ phụng Thượng Đế, mà nếu Thượng Đế không có thì mình mất công quá. Ngày nào cũng cầu nguyện, ngày nào cũng đầu tư vào Thượng Đế, lỡ Ngài không có thiệt, thì có phải là uổng công hay không. Mình tính toán, mình quen thói làm nhà buôn, mình đầu tư, cho nên mình xem việc tu hành cũng là một cách đầu tư. Trong lịch sử tư tưởng loài người đã có những câu hỏi như vậy, đã có những người tính toán như vậy. Có người nói: cứ thờ phụng Thượng Đế đi, nếu có Thượng Đế thì mình về thiên đường, nếu không có Thượng Đế thì mình đâu có mất gì. Đó là thói quen tính toán thiệt hơn của những nhà buôn.

                          Tôi biết bằng kinh nghiệm trực tiếp của tôi là đức Quan Âm có thật, tại kinh nghiệm ấy cho biết tình thương có thật. Tôi biết bằng kinh nghiệm trực tiếp của tôi là đức Địa Tạng có thật, tại vì ý chí đi tới những vùng khổ đau để làm công việc nâng đỡ và cứu giúp là năng lượng có thật. Bây giờ trên thế giới có những người đang đi về những phía có đau khổ như vậy. Có những Địa Tạng tuổi còn rất nhỏ nhưng đang đi vào những chốn địa ngục mong cứu giúp và làm nhẹ bớt khổ đau. Đức Địa Tạng đang có mặt trong giây phút hiện tại khắp nơi trên thế giới. Trong lòng ta cũng có một đức Địa Tạng, nhưng có thể là đức Địa Tạng trong ta chưa đủ lớn thành ra bây giờ ta đang không ở địa ngục mà thôi. Nếu đức Địa Tạng lớn thì ta đang ở trong địa ngục, đang làm công việc cứu giúp cho những người khổ đau trong địa ngục. Tuy nhiên ở trong địa ngục mà ta không đau khổ những cái khổ đau của những người đang ở trong địa ngục. Trong ta có nhiều tình thương, tình thương đi tới đâu là đem tịnh độ theo tới đó. Ta ở dưới địa ngục mà vẫn hạnh phúc như thường, càng ở dưới địa ngục lâu thì hạnh phúc của ta càng lớn, tại vì ở đó ta làm những cái có thể thỏa mãn được tình thương của ta, được nhu yếu thương yêu của ta. Địa ngục chính là cái đạo tràng tốt nhất. Chính trong môi trường đó mà ta có thể nuôi dưỡng tình thương và hạnh phúc của ta. Vì vậy cho nên khi một vị Bồ Tát có mặt dưới địa ngục thì địa ngục sáng lên. Vị Bồ Tát không đau khổ vì sự có mặt của vị Bồ Tát làm nhẹ đi rất nhiều những đau khổ của địa ngục. Trong ta ai cũng có một Bồ Tát Địa Tạng. Nếu chúng ta thờ ơ, nếu chúng ta làm lơ và phớt tỉnh về những đau khổ của mọi loài là vì đức Địa Tạng trong ta chưa được ta tiếp xúc. Vậy câu hỏi đức Địa Tạng có phải là một nhân vật lịch sử hay không không phải là một vấn đề với tôi, vì tôi biết đức Địa Tạng có thật bằng kinh nghiệm trực tiếp, vì mắt tôi đã trông thấy những bồ tát Địa Tạng ở khắp nơi, ở trong tổ chức Médecins Sans Frontière, ở trong các tổ chức những người thiện nguyện đang đi vào các vùng đói kém khổ đau ở trên thế giới. Họ không phải là những Địa Tạng thì họ là gì nữa, những vị Địa Tạng lớn tuổi, những vị Địa Tạng nhỏ tuổi, những vị Địa Tạng không muốn trở về với đời sống tiêu thụ của xã hội mà nguyện ở lại càng lâu càng tốt ở những vùng đói kém khổ đau. Địa Tạng là những nhân vật có thiệt, chúng ta phải trả lời như vậy. Đức Địa Tạng cũng đang có ở trong tôi và tôi đang nuôi lớn đức Địa Tạng trong tôi. Với tuệ giác đó, chúng ta đọc những lời quán nguyện này và chúng ta thấy rằng những lời quán nguyện này hoàn toàn không có tính cách cầu khẩn mê tín mà là sự thực tập vun tưới những hạt giống tốt ở trong ta và trong những người sống xung quanh ta.

                          Đức Bồ tát Quán Thế Âm

                          Lạy đức Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ“. Khả năng lắng nghe của con đang còn yếu kém. Mỗi khi buồn giận, con không có khả năng lắng nghe người kia một cách sâu sắc được. Vậy nên những lúc như vậy con rất cần tới ngài, con cần thực tập như ngài. Chúng ta biết chỉ cần lắng nghe người khác trong vòng một giờ đồng hồ với tất cả trái tim thì người kia đã bớt khổ nhiều rồi. Vậy mà ta không biết cách nuôi dưỡng khả năng lắng nghe của mình. Thực tập lời quán nguyện này là thực tập khả năng lắng nghe. “Con xin học theo hạnh bồ tát“, nghĩa là con xin bắt chước bồ tát, biết lắng tai nghe cho cuộc đời bớt khổ. “Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu“. Nghe ở đây không phải là nghe bằng hai tai mà nghe bằng trái tim. Nghe như vậy thì mới có thể hiểu được, và khi hiểu được rồi thì khổ đau của người kia sẽ tự nhiên nhẹ bớt. Người đau khổ nhất trên đời là người có cảm tưởng rằng không ai hiểu được mình. Giờ phút có một người chứng tỏ là đã hiểu được mình, và nghe được mình, thì cái khổ đau đó không còn lớn lao như trước nữa. Cho nên trong số chúng ta nếu ai tìm ra được một người có thể nghe mình và hiểu được mình thì người đó được xem như là đã có hạnh phúc. Ta phải tự đào luyện mình thành một hành giả biết nghe và biết hiểu.

                          Khả năng biết nghe và biết hiểu là khả năng của đức bồ tát Quan Thế Âm và của bồ tát Văn Thù Sư Lợi. Câu này cho chúng ta thấy đức Văn Thù Sư Lợi nằm ở trong đức Quan Thế Âm. Biết nghe tức là biết hiểu, biết hiểu tức là biết nghe, Quan Âm và Văn Thù không phải là hai thực thể riêng biệt. Văn Thù là hiểu mà Quan Âm là nghe. Trong Quan Âm có Văn Thù, trong Văn Thù có Quan Âm. Đó là sự tương tức của hai vị bồ tát lớn. “Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con“. Chú tâm ở đây là định. Nghe thì thân và tâm phải nhất như, mình phải có mặt thật sự. Hoàn toàn có mặt trong giây phút hiện tại để lắng nghe một cách đích xác. Thành khẩn ở đây cũng chỉ có nghĩa là có mặt hoàn toàn. Mỗi người trong chúng ta ai cũng đều có thể làm được như vậy, nhưng chúng ta chưa chịu làm đấy thôi. Chúng ta ai cũng biết thở. Khi thực tập thở có ý thức ta đưa thân và tâm về một mối, để ta có mặt thật sự trong giây phút hiện tại. Ta không đánh mất ta trong tương lai, trong quá khứ, ta có mặt hoàn toàn trong giây phút hiện tại để lắng nghe người kia.

                          Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến“. Thành kiến là những ý kiến đã có sẵn trước. Vì có những ý kiến có sẵn trước rồi nên những điều đang nói không lọt được vào tâm hồn mình. Mình bóp méo tất cả những điều người kia nói. Đức Quan Thế Âm là người biết nghe với tâm không thành kiến. Chúng ta còn có những thành kiến. Khi nghe chúng ta thường bị những thành kiến đó bít lấp và vì vậy ta không chấp nhận và không hiểu được người kia. Thành kiến ở đây là những vọng tưởng mà ta đã chứa chấp sẵn. Tu tập thiền quán là để đả phá những thành trì của thành kiến và cố chấp. Nếu không phá được thành trì của thành kiến và cố chấp thì ta sẽ khổ, và ta sẽ làm cho người khác khổ. Do đó thực tập nghe với tâm không thành kiến là một phương pháp tu hành rất sâu sắc. “Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng“. Chúng ta có tập khí muốn làm quan tòa. Nghe cái gì là muốn phán xét liền, giống như một bức tường hất trái bóng trở lại. Đó là một tập khí xấu. Chúng ta đừng làm một bức tường. Chúng ta phải làm không gian để khi trái bóng được liệng tới thì ta có thể tiếp đón được. Phạm Duy có một bài hát “Em là khoảng trống cho tình đong vào”. Nếu mình là bức tường thì làm sao trái bóng có thể đi vào được. Phải làm khoảng trống thì mới có thể lắng nghe.

                          Có một câu chuyện thiền: Một ông giáo sư triết học tới tham vấn với một thiền sư. Thiền sư mời ông giáo sư uống trà. Trong khi vị thiền sư pha trà, thì ông giáo sư cứ nói liên tục không ngừng. Vị thiền sư muốn dạy cho ông giáo sư một bài học. Ngài rót trà vào ly, và không ngừng rót làm nước trà tràn ra ngoài chén, để trà tràn ra khay, rồi tràn ra bàn. Lúc đó ông giáo sư mới ngừng nói lại và la lớn: “Thôi đừng rót nữa! Thầy không thấy sao, nước tràn ra ngoài như vậy mà cứ rót hoài”. Thiền sư ngưng lại, nhìn lên vị khách quý mỉm cười và nói: “Ông giáo sư cũng đầy như chén trà vậy, làm sao tôi có thể rót thêm trà vào được nữa. Làm sao tôi có thể nói cho ông nghe chút gì về thiền được?”

                          Chúng con xin tập ngồi nghe để hiểu“. Mục đích ngồi nghe là để hiểu. Ta có những cái mê muội trong ta. Khi biết nghe thì nghe những lời nói đúng ta hiểu, mà nghe những lời nói sai ta cũng hiểu. Nghe điều gì ta cũng quán chiếu điều đó. Người ta nói đúng mình cũng học được, nói sai mình cũng học được. Mình học được trong chiều sâu, mình biết tại sao người ta nói như vậy. “Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói“. Có những điều người kia nói ra không được, tại vì họ không có khả năng nói. Khi một thiền sinh có những nỗi khổ niềm đau tới với chúng ta, lúc đầu họ làm như không có nỗi khổ niềm đau nào hết. Nhưng khi đã thực tập vài ngày, cảm được tình thân của ta thì họ bắt đầu nói ra được những khổ đau của họ. Tuy nhiên, họ vẫn giấu không dám nói tới điểm chính, mà chỉ nói những điểm xung quanh thôi. Họ ít dám nói thẳng niềm đau của họ. Ta phải lắng nghe rất kỹ để không những nghe được điều họ đang nói mà còn nghe được những điều họ chưa dám nói. Nếu ta khéo léo hỏi đúng một câu thì họ òa lên khóc và nói cho ta tất cả sự thật. Một cặp vợ chồng nọ có khó khăn với nhau, người vợ tới không nói thẳng là mình có khó khăn với chồng, chỉ nói tới những khó khăn của riêng mình và của các con thôi. Bởi vì cảm thấy ngại ngùng khi phải thổ lộ với một người ngoài rằng tôi có khó khăn với chồng tôi. Chỉ khi tin tưởng lắm thì họ mới dám nói. Do đó khi  ngồi nghe, nếu ta không nghe bằng tất cả trái tim thì  không thể hiểu được, không thể hỏi được những câu hỏi khiến cho người kia bật ra sự thật.” Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi“.

                          Bồ tát lắng nghe làm cho người bớt khổ. Lắng nghe là một phương pháp mầu nhiệm để thiết lập lại sự cảm thông. Trong thời đại chúng ta có những phương tiện truyền thông rất hiện đại như email, fax, điện thoại,… Chỉ cần nửa phút thôi là có thể gởi tin tức tới những nơi rất xa, trong khi đó sự truyền thông giữa những người thân trong gia đình đã trở nên khó khăn. Truyền thông giữa cha con, anh em, vợ chồng hầu như bị cắt đứt. Nền văn minh của chúng ta đang bị phá sản về phương diện đó. Đời sống gia đình không hạnh phúc, giao hảo quốc tế giữa nước này và nước khác trở nên khó khăn, những sắc tộc khác nhau trong một thành phố chống báng và kỳ thị nhau. Cá nhân cũng như đoàn thể không có khả năng truyền thông với nhau nên nảy sinh ra những chống đối, những hiểu lầm. Do đó hạnh tu của bồ tát Quan Thế Âm rất thiết yếu. Ai cũng phải học hạnh lắng nghe để có thể thiết lập lại sự truyền thông.

                          Đức Bồ tát Văn Thù Sư Lợi

                          Lạy đức bồ tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh bồ tát biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người”. Trong đời sống hiện nay, chúng ta chỉ quen “chạy”. Chúng ta chạy trong lòng, chạy như bị ma đuổi. Tuy đang ngồi uống trà hoặc đang ăn cơm ta vẫn tiếp tục chạy, vì thế ta không thấy được sự thật đang xảy ra. Muốn nhìn sâu và hiểu rõ thì chúng ta thì phải dừng lại. “Dừng” là chỉ, “thấy” là quán. Đức bồ tát Văn thù là người thực tập thiền quán, ngài biết dừng lại và biết nhìn sâu. Biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Lòng người là lòng mình và lòng những người xung quanh mình. Lòng đây là những tâm hành như ghét, thương, vui, buồn, giận, sợ hãi, chán nản, hy vọng… tất cả những tâm tư ấy là đối tượng của cái nhìn. Thực tập nhìn như thế nào để thấy được chiều sâu của các tâm hành. Muốn nhìn sâu thì phải dừng lại.

                          Trong khi ngồi, khi đi, khi đứng, khi ăn cơm ta phải thực tập dừng lại. Có thể là mình đang ngồi ăn cơm cùng với đại chúng cả trăm người. Trong số đó có những người đã thực sự dừng lại được để ăn cơm, nhưng một số khác vẫn tiếp tục rong ruổi. Chúng ta chạy đi đâu mà chạy dữ như vậy? Vào giờ ăn mà vẫn còn chạy nữa? Nếu không có khả năng dừng lại thì làm sao có khả năng có hạnh phúc? Hãy dừng lại trong khi ăn cơm. Trong khi ăn cơm ta chỉ ăn cơm mà thôi. Anh có thể làm được chuyện đó không, chị có làm được chuyện đó không? Chúng ta đã chạy trong bao nhiêu đời, trong bao nhiêu kiếp rồi? Bây giờ có cơ hội này, vậy mà ta cũng còn chạy nữa. Tại sao ta không ngồi ăn cơm cho đàng hoàng, tại sao ta không ngồi uống trà cho đàng hoàng, tại sao ta không ngồi thiền cho đàng hoàng, không đi thiền cho đàng hoàng? Thiền hành tuy là đi nhưng mà cũng một pháp môn thực tập để dừng lại.

                          Thiền chỉ và thiền quán là bản chất của sự thực tập. “Chúng con xin tập nhìn bằng tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con“. Chú tâm và thành khẩn tức là có mặt thật sự. Thân, khẩu và ý hợp nhất. “Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến“. Phải phá đổ hàng rào của thành kiến và cố chấp thì ta mới có thể thấy được. Một người Do Thái khi nhìn một người Palestinien thì phải nhìn bằng cách ấy mới thấy được những sợ hãi, khổ đau và ước mơ của người Palestinien. Một người Palestinien khi nhìn một người Do Thái cũng phải nhìn bằng cách ấy mới thấy được những sợ hãi, đau khổ và những ước mơ của người Do Thái. Nếu cả hai bên đều có thể nhìn nhau một cách sâu sắc như vậy thì sẽ thấy rằng bên nào cũng tội nghiệp, bên nào cũng có sợ hãi, hận thù, cũng bị trấn ngự bởi cảm giác không có an ninh. Và khi cả hai bên đều thấy được như vậy thì mới phát kiến ra được sự thật là nếu cứ tiếp tục trừng phạt nhau thì tình trạng sẽ không đi đến đâu. Chi bằng cùng nắm tay nhau ngồi xuống để tìm ra một giải pháp thiết lập lại truyền thông. Nếu người Do Thái và người Palestinien chưa làm được thì chúng ta-những người không phải là Do Thái hay Palestinien, chúng ta phải làm được với nhau. Để rồi chúng ta có thể tới với họ và giúp họ. Nếu có hai người không tới được với nhau, không hiểu nhau thì ta phải đến với cả hai người để giúp cho hai người đó dừng lại việc làm khổ nhau, và tập lắng nghe nhau, nhìn nhau bằng con mắt không thành kiến. Lắng nghe bằng lỗ tai không thành kiến và nhìn bằng con mắt không thành kiến là một phương pháp thực tập rất quan trọng.

                          Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng“. Chúng ta không nhìn bằng con mắt của quan tòa, chúng ta phải nhìn bằng con mắt của người thương. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau. Đây là thực tập Tứ diệu đế. Khổ đau có mặt. Nhìn sâu vào khổ đau để thấy và để hiểu được gốc rễ của nó. Để thấy được tự tính vô thường và vô ngã của vạn vật. Khi thấy được tự tánh vô thường và vô ngã là tự nhiên ta có thể thay đổi cái nhìn và ta chấp nhận được người khác một cách dễ dàng. Tôi với anh không phải là hai thực thể riêng biệt. Nếu anh còn khổ thì tôi còn khổ, nếu tôi còn khổ thì anh còn khổ. Vì vậy chúng ta phải nương vào nhau và giúp đỡ nhau thay vì trách móc hay trừng phạt nhau. “Chúng con xin học theo hạnh bồ tát dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não“. Phiền não tức là tham, sân, si, mạn, nghi và tà kiến. Phiền não ở đây chỉ có thể bị chặt đứt bằng thanh gươm của trí tuệ. Đức Văn Thù có thanh gươm ấy. Ngày xưa dưới cây bồ đề đức Thế Tôn đã dùng thanh gươm ấy. Và giờ đây chúng ta đã được trao truyền thanh gươm ấy. Đó là phương pháp chỉ và quán. Tức là dừng lại và nhìn sâu. Nhìn sâu để thấy bản chất của khổ đau. Nếu không dùng thanh gươm chỉ và quán chúng ta sẽ không đoạn trừ được những sợi dây phiền não đang trói buộc ta. Nếu ta đang khổ, đó là tại vì ta đang bị trói buộc bởi những sợi dây của thèm khát, của giận hờn, của thù oán, của ngã mạn. Và ta phải thực tập ngày đêm để chuyển hóa những tập khí đó.”Dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới“. Nếu mình không có khả năng tự cởi trói cho mình được thì làm sao mong cởi trói cho người khác?

                          Đức bồ tát Phổ Hiền

                          Lạy đức bồ tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của bồ tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống“. Ta đi vào cuộc sống với hành trang nào, nếu không phải với con mắt và trái tim của ta? Con mắt nào có thể đem vào cuộc đời nếu không phải là con mắt của Văn Thù Sư Lợi? Nếu không có con mắt ấy, đi vào cuộc đời ta sẽ bị cuộc đời kéo theo như một dòng nước lũ. Anh đã có con mắt ấy chưa, em đã có con mắt ấy chưa? Nếu chưa có con mắt ấy thì đừng nên vội vã đi vào trong cuộc đời để trở thành chàng dũng sĩ trong truyện Cửa Tùng Đôi Cánh Gài. Ta phải có con mắt của bồ tát Văn Thù và trái tim của bồ tát Quan Thế Âm để đi vào đời. Mà có con mắt của Văn Thù và trái tim của Quan Thế Âm thì ta cũng trở thành bồ tát Phổ Hiền, nghĩa là mình có bàn tay hành động của bồ tát Phổ Hiền. Trong bồ tát Phổ Hiền có bồ tát Quan Âm và bồ tát Văn Thù. Các vị bồ tát có mặt trong nhau. Chúng con nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Đạo pháp không phải là vấn đề miệng lưỡi, đạo pháp là vấn đề thực tập. Anh làm sao để buổi sáng có thể đem đến niềm vui ít nhất cho một người, và buổi chiều ít nhất làm cho một người bớt khổ. Những điều anh nói không đủ để tạo ra sự chuyển đổi. Ta đâu cần làm gì nhiều. Chỉ cần đi, đứng, nằm, ngồi, ăn sáng cho có chánh niệm là đã có thể mang đến niềm vui cho rất nhiều người. Khi trả lời cho anh, cho em, ta trả lời với một nụ cười, đó đã là trái tim của sự thực tập.

                          Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình, và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự“. Đây là một câu nói diễn tả được giáo lý của Làng Mai: “hạnh phúc không phải là vấn đề cá nhân”. Trong liên hệ giữa mình và người kia, nếu kẻ kia khổ đau thì sao mà mình có hạnh phúc cho được. Làm cho người kia nở được nụ cười là mình đã thấy nhẹ trong lòng. Trên con đường lý tưởng, phải làm sao cho con đường ta đi trở thành  con đường vui, bởi nếu không vui thì tu để làm gì? Điều này phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Ngoài đời người ta đã rầu rĩ khổ đau rồi, mình đi tu mà cũng rầu rĩ khổ đau nữa thì đâu có thể giúp đỡ được ai? Trong bài Quy Nguyện có câu: “Tăng là đoàn thể đẹp, cùng đi trên đường vui”. Ngày nào cũng cần chế tác niềm vui. Nếu chưa biết làm cho mỗi giây phút trong đời sống hằng ngày trở thành một giây phút an lạc thì mình chưa nắm được phép tu. Tu cùng nhau là hợp tác với nhau để tạo ra niềm vui trong đời sống hằng ngày. Ta sẽ được nuôi nấng bởi những niềm vui ấy. Tu là nghệ thuật chế tác niềm vui và chuyển hóa khổ đau. Phải đem tài năng và sáng kiến của mình ra để áp dụng trong sự tu tập. Làm sao để mỗi ngày là mội hội vui, mỗi ngày là một ngày tết.

                          Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho mình và cho người.” Chúng ta giàu có hơn chúng ta nghĩ. Mỗi cử chỉ đều có thể đem lại hạnh phúc cho người, vậy mà mình cứ quen thói hà tiện. “Chúng con biết rằng nếu chúng con siêng năng tu tập thì tự thân chúng con là một nguồn an lạc bất tuyệt cho mọi người và cho cả muôn loài“. Ta rất giàu có, ta có thể bố thí, có thể đem lại niềm vui cho rất nhiều người, có thể ban tặng hạnh phúc cho mọi loài. Chỉ cần sống tỉnh thức để bồ tát Quan Âm có mặt trong trái tim, để bồ tát Văn Thù có mặt trong đôi mắt, thì tự nhiên những cử chỉ, những hành động, những lời nói của ta sẽ tạo ra niềm vui cho mình và cho mọi người.

                          Đức bồ tát Địa Tạng

                          Lạy đức bồ tát Địa Tạng, chúng con xin học theo hạnh bồ tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự để có thể đem đến nơi ấy niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai không còn lối thoát, những ai còn bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình nhân phẩm và quyền được làm người“. Có những người đang ngồi dưới đáy vực thẳm nhưng không có cách nào để có thể truyền thông được với bên ngoài, có những người đang bị kẹt vào những tình huống khó khăn và tuyệt vọng. Hiện giờ trên thế giới có rất đông những người như vậy. Nếu không có bồ tát Địa Tạng thì ai có thể đem ánh sáng tới những vùng đó? Trong thế giới chúng ta có rất nhiều người trẻ muốn làm những vị bồ tát Địa Tạng, muốn đem ánh sáng tới những vùng xa xôi và sâu thẳm như vậy. Ở trong một hoàn cảnh đầy đủ về vật chất, có nhân quyền, có tự do, vậy mà chúng ta lại giận hờn nhau, ganh tị với nhau, rồi xâu xé nhau. Chúng ta đau khổ mà không biết rằng cái đau khổ của chúng ta không thấm gì so với đau khổ của những người hiện đang ở trong những  tình huống của địa ngục. Chúng ta phải tu tập như thế nào để trở thành một Địa Tạng trong vô số các vị Địa Tạng? Cánh tay của ta phải với tới được những tình trạng khổ đau và tuyệt vọng đó.

                          Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế.” Địa ngục có thật. Có những vị Địa Tạng đang tìm tới những nơi ấy. Có những địa ngục vắng Địa Tạng, nhưng cũng có những địa ngục bắt đầu có mặt Địa Tạng. Chúng ta phải nhận diện sự có mặt của những địa ngục như vậy ở khắp nơi trên thế giới. Không cần phải đi tới một cõi nào xa xôi mới thấy được địa ngục. Địa ngục nằm ngay bên cạnh chúng ta. Trong những thành phố lớn như Chicago, như New York, như Manila, như thành phố Hồ Chí Minh. Hoặc ngay ở Paris cũng có những vùng địa ngục. Chúng ta phải khám phá ra những địa ngục đó, để đưa bàn tay Quan Thế Âm tới. Ta phải nhờ bồ tát Địa Tạng dẫn ta tới. Đôi khi tưởng rằng ta không góp phần tạo ra các địa ngục ấy, nhưng kỳ thật có thể là ta đã tiếp tay xây dựng chúng. Ta là đồng lõa. Ta bận rộn tiêu thụ. Và trong cuộc sống hằng ngày, ta kẹt vào những nhỏ mọn, ganh tị, buồn chán mà không biết rằng có những địa ngục đang được dựng lên chỗ này hay chỗ khác. Thái độ thờ ơ bất cần của chúng ta là một yếu tố góp phần xây dựng lên những địa ngục như vậy trên trần gian. Chúng ta phải nói rất rõ là :”Con không muốn tiếp sức vào sự xây dựng những địa ngục ấy. Trái lại chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt tới đức vững chãi và kiên trì của đất. Bồ tát“. Địa Tạng có hai đức lớn là đức vững chãi và đức kiên trì. Có vững chãi thì mới kiên trì được. Kiên trì là không dễ dàng bỏ cuộc, dù khó khăn cách mấy cũng bám lấy. “Địa ngôn kiên hậu quảng hàm tàng”. Đất “kiên” và “hậu” nghĩa là vững và dày. “Quảng hàm tàng” là có khả năng chứa đựng lớn. Trong ấy có tình thương, có sự hiểu biết, có thể nâng đỡ, có thể làm chỗ nương tựa. Đó là lời ngợi khen bồ tát Địa Tạng. “Chúng con nguyện tu học để đạt tới đức vững chãi và kiên trì của đất, để trở thành trung kiên và không kỳ thị như đất, và cũng được như đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.” Đất không kỳ thị, dù đổ phân rác vào đất thì đất cũng chấp nhận, đổ sữa lên đất thì đất cũng chấp nhận. Vì đất chuyển hóa được sữa, đất cũng chuyển hóa được phân rác. Đất có khả năng xả, nghĩa là không kỳ thị, không phân biệt, chấp nhận được tất cả để có thể chuyển hóa. Ta hãy tự hỏi mình là ta có khả năng làm chỗ nương tựa cho người khác hay không. Nếu thấy ta còn mong manh, đức còn mỏng, chưa có đủ vững chãi thì ta phải thực tập như thế nào để nuôi lớn thêm đức vững chãi mà làm chỗ nương tựa cho những người xung quanh.

                          Đây là một lá thư nhận được từ địa ngục gởi ra. Lá thư này của anh Nicolas người Mỹ. Lá thư gởi ra được là nhờ một Địa Tạng đã đưa vào địa ngục cuốn The joyful path và cuốn Peace is every step. Các bạn thiền sinh Hoa kỳ đã phát tâm bồ đề mua những cuốn sách ấy gởi vào trong các nhà tù. Có những tù nhân đọc được những cuốn sách ấy đã bắt đầu tu tập và chuyển hóa. Lá thư của Nicolas là một trong hằng ngàn lá thơ gởi tới. Nicolas đã bị kết án tử hình và đang chờ ngày lên ghế điện. Anh cũng đã có dịp được đọc cuốn Living Buddha Living Christ trong tù. Nhà tù này ở tiểu bang Pennsylvania. Thơ viết bằng tiếng Mỹ. Đây là bản dịch:

                          Ngày 28 tháng 12 năm 1997

                          Thưa Thầy,

                          Con không biết là lá thơ này tới được tay Thầy không. Nhưng con mong rằng có một người nào sống cùng địa chỉ của Thầy mở được lá thơ này ra mà đọc để cho con bớt khổ. Địa chỉ Thầy con tìm ra sau cuốn Living Buddha Living Christ mà người ta cho con. Con đã bị lên án tử hình mười bảy năm rồi và tuy rằng cuộc đời của con trong thời gian đó có bao nhiêu khổ đau, bao nhiêu thất vọng, nhưng trong con lại có ý chí muốn vượt thắng những vết thương và những cái sẹo tâm lý và tình cảm đã hằn lên tâm hồn. Những vết thương đó con đã mang theo vào trong tù và chúng đã được chất chứa và lớn lên trong tù. Con đã từng tranh đấu, đã từng vùng vẫy rất khó khăn với sự thù hận trong con. Có những lúc con nghĩ con không thể vượt thoát được. Những lúc đó con cảm thấy bị chúng đè bẹp và nghiến nát. Nhưng lạ thay, con đã học được cách sống sót từ những giờ phút khổ đau quằn quại đó, những giờ phút hờn oán hận thù ấy. Và ước muốn duy nhất bây giờ của con là có thể sống sót được mà không bị điên loạn bởi những hận thù kia, hận thù đối với những người đã bắt con, đã hành hạ con, đã làm cho con khổ đau đến mức cùng tận. Con không biết tại sao con lại có thể làm được chuyện đó, nghĩa là con có thể vượt thoát được những giờ phút mà con sắp hóa điên, để còn có thể giữ được sự an lành trong con. Con đâu có bao giờ nghĩ là con hơn ai, hơn người bên cạnh con chút nào đâu. Con chỉ là một con người tầm thường và con rất biết ơn dù sống trong tù qua mười bảy năm, con còn giữ được cái thăng bằng trong con và con chưa trở thành điên loạn. Với niềm biết ơn đó, con đã có thể trân quý được những gì xảy ra trong đời sống hằng ngày của con. Mỗi khi con nhìn mặt trời lặn, con cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Chỉ cần ngồi sau khung cửa sắt nhìn ra ngoài, con cũng có khả năng hưởng thụ được cái đẹp của cảnh mặt trời lặn. Trong nhà tù trước, con đã ở mười hai năm, và ngày nào con cũng chỉ được nhìn bức tường. Khi con được chuyển sang nhà tù này cánh cửa sổ trong nhà tù mới đã cho phép con thấy được một phần của thành phố với rất nhiều cây xanh. Lần đầu tiên được tiếp xúc với cây cối và một phần của thành phố, con cảm động quá cho đến nỗi con đã khóc nức nở.

                          Khi con đọc cuốn Peace is every step của Thầy và nghe được giáo pháp an trú trong hiện tại thì con lập tức hiểu ngay được giáo lý đó. Lâu nay con có thái độ thù ghét các tôn giáo tại tôn giáo nào cũng có khuynh hướng loại trừ những người không đi theo mình. Vì thế nên con đã gắng đi vào trong con, đã theo đường nội hướng để mong tìm sự an lành bên trong mà thôi. Con biết rằng con chỉ mới bắt đầu học Phật thôi, nhưng con đã có thể thấy được cái đẹp đơn giản trong sự đi tìm và chứng nhập với giây phút hiện tại và nhu yếu phải sống trong chánh niệm. Đời sống trong tù của con rất khó khăn, rất lao khổ, nên con đã học được phương pháp biết trân quý những giây phút ngắn ngủi, và nhờ vậy mà những lo lắng, sợ hãi về tương lai và cái chết không làm cho con điên loạn nữa và không có thể tiêu diệt được tính người trong con. Nhờ vậy mà bây giờ con đã học được cách hành xử như một người Phật tử. Con tin rằng nếu con tiếp tục thực tập thì con sẽ tìm được sự cải hóa từ từ cho đời sống tâm linh của con. Điều con mong ước sâu sắc nhất của con là dầu con có bị hành xử một cách tàn tệ và bạo động đi nữa thì con cũng hy vọng rằng từ cái rác đó con có thể biến nó thành hoa, và con có thể tìm ra cái an bình trong con. Và trong khi đi tìm sự an bình trong con, con có thể chấp nhận được con và con có thể sống rất thoải mái với chính con. Ước mơ của con là một ngày nào đó con được thả ra, và có người tới gặp con, nhìn con một lát rồi nói: “À, anh này đã ở trong tù hai mươi năm với tư cách của một người tử tội vậy mà bây giờ xem cũng còn được quá chứ.” Con chỉ có ước mơ có như vậy thôi. Con viết cho Thầy lá thơ này, hy vọng rằng lời nói của con có thể chia sẻ được với Thầy cái chất người ở trong con, không phải với tư cách của một người tử tù đợi ngày hành quyết, nhưng với tư cách một người đã được gởi vào đây để học hỏi và lớn lên trong một hoàn cảnh không có một hy vọng tối thiểu nào cho tương lai. Xin Thầy hãy bảo trọng sức khỏe của Thầy, hoặc ai đó đang đọc lá thơ này cũng nên tự bảo trọng lấy mình. Cám ơn Thầy hoặc ai đó đã đọc những lời này của con. Nicolas

                          Sau khi đọc xong lá thơ này, tôi có nhờ sư cô Thục Nghiêm gởi cho anh ta một cuốn Thiền Hành Yếu Chỉ, và có viết cho anh một lá thơ ngắn như sau:

                          Dear Nicolas,Thank you for writing. It is very encouraging for us here in Plum Village to know that you are practicing being in the present moment and giving a chance for the best in you to manifest. These jewels are seeds transmitted to you by spiritual and blood anscestors. True freedom is the freedom from afflictions such as despair, anger and hate. There are so many in the world who are not free and who suffer tremendously. They do not have the space within.
                          (Tôi muốn nói rằng nếu trong tù mà anh chưa điên loạn và anh còn giữ được chất người trong anh, và anh không hiểu tại sao anh làm được như vậy thì anh nên biết rằng cái châu báu đó là do tổ tiên tâm linh và tổ tiên huyết thống đã truyền cho anh. Nhờ đó mà bây giờ anh còn sống sót được. Và tuy là anh ở trong tù mà có tự do nhiều hơn chúng tôi, những người ở ngoài này nhưng đang bị hận thù, thèm khát và hối hận giam giữ).

                          We are trying to send you a small book on walking meditation. We hope you can practice mindful walking in your cell and also outside. Please invite others to join you. Try to help other inmates, sharing with them your peace and your capacity to enjoy the wonders of life that are available around and inside of you.

                          (Chúng tôi gởi cho anh tập Thiền hành yếu chỉ. Anh thực tập đi, trong phòng giam của anh và nếu được thì thực tập ở bên ngoài. Anh có thể mời những người bạn tù khác thực tập với anh, giúp đỡ những người đó và làm cho họ nếm được chút ít an lạc và hạnh phúc mà anh có trong khi tiếp xúc với những mầu nhiệm của sự sống.)

                          We will be glad to learn about your success. You can be a truly free person wherever you are.
                          (Chúng tôi ở đây sẽ rất sung sướng nếu được biết anh thực tập thành công ở trong đó. Anh có thể là một người tự do dầu anh đang ở trong tù.)

                          Nurture and develop your compassion and understanding and helping other people around you. That will make you happy and bring a lot of joy to all of us here. Please feel free to write to Parallax or Community of Mindful Living to ask for more books and tapes on the teaching. When you write us please address yourself to sister Thục Nghiêm. She is a nun of American origin, so she can write and read English well. She will represent all of us.
                          Take good care. Love.
                          Thầy

                          (Hãy nuôi dưỡng chất liệu từ bi và hiểu biết trong anh, điều này sẽ làm cho anh tự do và hạnh phúc. Và nếu cần anh cứ viết thơ cho nhà xuất bản Parallax hay Community of Mindful Living để xin thêm sách và băng giảng. Viết thơ cho chúng tôi thì anh đề cho sư cô Thục Nghiêm vì sư cô là người Mỹ, có thể hiểu và viết tiếng Anh một cách rất dễ dàng, sư cô sẽ đại diện tất cả chúng tôi. Hãy bảo trọng. Thầy.)

                          Đây là một lá thơ khác từ trong nhà tù gởi ra. Nhà tù này ở tiểu bang Washington. Đây là một người tù gốc Việt.

                          Đầu thư con xin chúc Thầy được dồi dào sức khỏe và mọi sự được thuận lợi ở Làng Mai. Đệ tử tên là Hùng, là một người rất ngưỡng mộ Thầy và hiện đang cư ngụ tại Airway Correction Center. Trong thời gian qua, đệ tử nhờ ơn những cuốn sách của Thầy chỉ dạy mà đã hấp thọ được rất nhiều về đời sống tươi đẹp và thương yêu. Thời gian xa cha mẹ hiền và bỏ nước ra đi, đệ tử đây đã đi vào con đường tội lỗi. Vì quá ham vui nên đệ tử đã quên mất con đường về nhà mà tổ tiên đã chỉ bảo cho. Nhờ ơn Thầy chỉ dạy qua các cuốn sách mà đệ tử đã may mắn được đọc trong tù, cuốn Being Peace và cuốn A Joyful Path. Những cuốn đó đã giúp cho đệ tử rất nhiều như sự thực tập trở về nguồn gốc và đi trên lối đi của tổ tiên. Trong dòng họ của đệ tử ai nấy đều hướng về Phật giáo và có đôi người đã từng xuất gia. Đệ tử đội ơn Thầy đã mở rộng tầm mắt của đệ tử và mở đường cho đệ tử trở về với con đường của tổ tiên. Nhờ cuốn A Joyful Path, trang 14, mà đệ tử đã có thể viết cho ba của đệ tử một lá thơ để nối lại tình cha con. Ba đệ tử là một người say mê rượu chè và thường đánh đập má đệ tử lúc đệ tử còn nhỏ. Lớn lên con không hết lòng thương ba con. Qua cuốn sách của Thầy con mới thấy được những đau khổ mà ba con đã chịu đựng và con đã có thể viết thơ để hòa giải với ba con và con biết phải làm thế nào để độ cho gia đình con và để cho mọi người có thể hiến tặng nhiều tình thương cho nhau. Đệ tử xin hết lòng cảm tạ công lao của Thầy đã bỏ ra để soạn những cuốn sách quý báu cho con và cho tất cả mọi người. Những cuốn sách của Thầy đã giúp cho rất nhiều người ngay ở trong nhà tù này. Con cũng đồng thời xin thay mặt cho những anh em nào đến sau mà cảm tạ ơn Thầy đã biếu cho những cuốn sách quý đó để chúng con có thể tu luyện trong tù. Con xin chúc cho toàn thể chúng sanh và cho gia đình con nhiều điều an lành. Hùng.

                          Chúng ta không cần đi đâu xa. Chúng ta chỉ cần ở ngay tại chỗ thôi mà vẫn có thể tiếp xúc được với địa ngục. Cánh tay của chúng ta có thể với ra rất dài. Ở bên Anh, tăng thân Anh và Việt của chúng ta cũng đã gởi rất nhiều bản tin, những tờ tạp chí, những cuốn sách viết bằng tiếng Việt và tiếng Anh cho các nhà tù. Và các bạn ở bên Đức cũng đã bắt đầu làm như vậy. Trong khi đó ở bên Mỹ có rất nhiều người đang thực tập thiền quán ở trong tù và nhờ đó họ bớt đau khổ rất nhiều. Có một người thực tập thiền hành trong một nhà tù ở California đã viết thơ cho Thầy và nói:

                          “Con đứng ở trên đầu cầu thang, đang thở và định đi xuống cầu thang có chút việc. Con thấy có những người tù khác đang đi lên và đi xuống. Họ chạy như bị ma đuổi, và nhìn cách đi đứng của họ con thấy được tất cả những đau khổ của họ. Con thấy họ như những trái bom sắp nổ. Con ao ước rằng người nào cũng có thể leo lên cầu thang và bước xuống cầu thang một cách nhẹ nhàng và chánh niệm như con để cho họ bớt khổ.”

                          Có một anh chàng đã viết được nguyên một cuốn sách về sự thực tập của mình ở trong tù và sách đã được một nhà xuất bản tên là Padma Publishing House in ra. Anh ta đã có cơ hội được quy y với một Thầy người Tây Tạng. Thầy đó đã vào trong tù để truyền tam quy và ngũ giới cho anh. Anh tên là Jarvis Master. Trong sách này anh kể nhiều chuyện vui. Có một hôm anh tù ở phòng bên đập cửa và chửi ầm lên, trong khi Jarvis đang thực tập: thở vào tâm tĩnh lặng, thở ra miệng mỉm cười. Anh Jarvis phải ngưng thực tập vì anh chàng bên kia đập phá quá. Chàng kia đang nổi điên. Chàng la: “Thằng chó chết nào đang hút thuốc bên kia, mày phải cho tao nửa điếu.” Anh ta chắc là Jarvis đang hút thuốc mà không chịu chia cho nó hút. Nhưng Jarvis đã bỏ thuốc từ khi mới bắt đầu tập thiền. Anh ta lớn tiếng với người bạn tù bên kia: “Mày là thằng chó chết nào? Tao đã bỏ thuốc từ lâu rồi. Mày xin thuốc hút mà la lối như vậy thì chó nào mà cho. Nếu mày dễ thương nói năng có lễ độ thì họa may tao cũng tìm cách kiếm thuốc cho mày. Anh bên kia nghe như vậy thì ngưng đập phá. Jarvis tuy đã bỏ thuốc lâu rồi nhưng vẫn còn giữ một gói thuốc rê. Anh tính cho, nhưng anh nghĩ là chỉ nên cho một chút ít thôi. Anh lấy ra một tờ giấy, gói lại một phần nhỏ của gói thuốc rồi chuyền qua cho người bạn tù. Tờ giấy anh ta dùng để gói thuốc là một tờ photocopie trang đầu của sách Being Peace mà tác giả là Nhất Hạnh. Chính nhờ nhận được từ ngoài gởi vào một bản photocopie của sách này mà anh Jarvis mới biết thực tập thiền. Anh ta tự nói là nếu mình gởi cho anh chàng kia trang một, có thể nó sẽ đọc và sẽ hưởng được chút ít pháp bảo. Anh bạn tù bên kia có vẻ rất sung sướng khi nhận được gói thuốc của Jarvis. Ba bốn ngày sau Jarvis chuyền qua một ít thuốc nữa và dùng trang thứ hai của sách Being Peace để gói. Rốt cuộc ước mơ của Jarvis đã thành tựu, vì khi đã chuyền hết cả cuốn sách qua rồi thì anh bạn tù trở nên rất im lặng dễ thương, vì anh cũng đang thực tập thiền ở khám bên kia. Từ đó về sau phòng tù bên phải của Jarvis rất yên, vì người kia không những đã nhận được thuốc, được tình thương mà còn nhận thêm giáo lý trong sách Being Peace nữa. Sau đó mấy tháng anh kia được thả. Ngày được phóng thích anh đi qua và dừng lại để cám ơn Jarvis. Hai người, một người ở trong, một người ở ngoài, cùng đọc lên một câu trong sách Being Peace: If you are peaceful, if you are happy, if you can smile, then everyone in our family in our entire society will benefit from our peace (Nếu anh tĩnh lặng, hạnh phúc, nếu mà anh có thể mỉm cười thì tất cả mọi người ở trong gia đình của anh và ở trong xã hội của anh đều được thừa hưởng sự tĩnh lặng và hạnh phúc của anh). Hai bên dị khẩu đồng âm cùng đọc lớn lên câu đó vì cả hai đều thuộc nằm lòng câu kia, trước con mắt ngơ ngác và thán phục của những người cai tù. Cuốn sách của Jarvis viết nhan đề là Finding Freedom: writngs from Death row, do nhà xuất bản Padma Publishing ấn hành năm 1997.

                          Chúng ta đã biết Địa Tạng không phải là một nhân vật thần thoại, Địa Tạng có thật bây giờ và có thể đang ở trong tù để giúp những người bạn tù. Do đó chúng ta không nên phí thì giờ vào những chuyện vô ích không đâu vì chúng ta có thể đóng vai của bồ tát Địa Tạng ngay bây giờ và ở đây, đưa cánh tay ra mà tiếp xúc với những khổ đau không bờ không bến trong những địa ngục đang có mặt ở khắp nơi trên thế giới.

                          ______________________________
                          (Pháp thoại ngày 15 tháng giêng năm 1998 tại Xóm Mới
                          ___________
                          Quán Nguyện

                          Lạy đức Bồ Tát Quan Thế Âm, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết lắng nghe cho cuộc đời bớt khổ. Ngài là trái tim biết nghe và biết hiểu. Chúng con xin tập ngồi nghe với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập ngồi nghe với tâm không thành kiến. Chúng con xin tập ngồi nghe mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con xin nguyện ngồi nghe để hiểu. Chúng con xin nguyện ngồi nghe chăm chú để có thể hiểu được những điều đang nghe và cả những điều không nói. Chúng con biết chỉ cần lắng nghe thôi, chúng con cũng đã làm vơi bớt rất nhiều khổ đau của kẻ khác rồi.

                          Lạy đức Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi, chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, biết dừng lại và nhìn sâu vào lòng sự vật và vào lòng người. Chúng con xin tập nhìn với tất cả sự chú tâm và thành khẩn của chúng con. Chúng con xin tập nhìn với con mắt không thành kiến. Chúng con xin tập nhìn mà không phán xét, không phản ứng. Chúng con nguyện tập nhìn sâu để thấy và để hiểu những gốc rễ của mọi khổ đau, để thấy được tự tánh vô thường và vô ngã của vạn vật. Chúng con xin học theo hạnh Bồ Tát, dùng gươm trí tuệ để đoạn trừ phiền não, giải thoát khổ đau cho chúng con và cho mọi giới.

                          Lạy đức Bồ Tát Phổ Hiền, chúng con xin học theo hạnh nguyện của Bồ Tát, biết đem con mắt và trái tim đi vào cuộc sống. Chúng con xin nguyện buổi sáng dâng niềm vui cho người, buổi chiều giúp người bớt khổ. Chúng con biết hạnh phúc của người chính là hạnh phúc của mình và nguyện thực hiện niềm vui trên con đường phụng sự. Chúng con biết mỗi lời nói, mỗi cái nhìn, mỗi cử chỉ và mỗi nụ cười đều có thể đem lại hạnh phúc cho người. Chúng con biết rằng, nếu chúng con siêng năng tu tập, thì tự thân chúng con có thể là một nguồn an lạc bất tuyệt cho những người thân yêu của chúng con và cho cả muôn loài.

                          Lạy đức Bồ Tát Địa Tạng, chúng con xin theo hạnh Bồ Tát, tìm cách có mặt ở bất cứ nơi nào mà bóng tối, khổ đau, tuyệt vọng và áp bức còn đang trấn ngự, để có thể mang đến những nơi ấy ánh sáng, niềm tin, hy vọng và giải thoát. Chúng con nguyện không bao giờ quên lãng và bỏ rơi những người còn đang bị kẹt trong những tình huống tuyệt vọng, nguyện cố gắng thiết lập liên lạc với những ai đang không còn bị lối thoát, những ai bị bưng bít không có phương tiện lên tiếng kêu gọi công bình, nhân phẩm và quyền được làm người. Chúng con biết địa ngục có mặt khắp nơi trên thế giới và chúng con nguyện sẽ không bao giờ tiếp sức xây dựng thêm những địa ngục trần gian như thế; trái lại, chúng con xin nguyện nỗ lực giải trừ những địa ngục còn đang có mặt. Chúng con nguyện tu học để đạt được đức vững chãi và kiên trì của Đất, để có thể được trung kiên và không kỳ thị như Đất, và cũng được như Đất có thể làm nơi nương tựa cho tất cả những ai cần đến chúng con.

                          Hành trì sám hối và phát nguyện

                          Buổi công phu chiều Chủ nhật trong sách Nhật Tụng Thiền Môn Năm 2000 bắt đầu bằng bài tụng Sám Nguyện. Sám Nguyện gồm có hai phần là sám hối và phát nguyện. Sám nghĩa là làm mới trở lại, bắt đầu trở lại, cam kết rằng ta sẽ không làm như ngày xưa nữa, sẽ không gây ra thêm những lỡ lầm và vụng dại như đã gây ra trong quá khứ. Sám được dịch là bắt đầu trở lại, làm mới trở lại. Nguyện nghĩa là quyết tâm không làm những điều đã từng gây ra đổ vỡ, và quyết tâm làm những điều có thể hàn gắn, thay đổi và đưa tới sự chuyển hóa, gây an lạc cho ta và cho người khác. Nguyện là mong ước, là quyết tâm thực hiện được điều ta mong ước. Mong ước nối lại tình thâm, làm mới và chuyển hóa những khổ đau, tạo ra hạnh phúc. Trong khi tụng bài Sám Nguyện, ta có thể đi ngang qua một quá trình chuyển hóa, tại vì tụng bài này không phải là để cầu xin một đấng tối cao làm cho chúng ta những điều mà ta không làm được. Bài tụng này sẽ hướng dẫn cho chúng ta thực tập. Chúng ta sẽ thấy rằng đây là ánh sáng chiếu vào tự thân và vào hoàn cảnh hiện tại của ta để ta thấy rõ được tình trạng. Khi đã thấy được hiện tại và đã có tuệ giác thì ta biết được con đường đi, tức là biết nên làm gì và không nên làm gì để có thể bắt đầu làm mới. Chúng ta luôn bắt đầu trở lại, nhất định không chịu thua. Bài tụng này là một cơ hội để chúng ta rọi ánh sáng chánh niệm vào tự thân và hoàn cảnh để thấy được những vụng dại và những lỡ lầm trong quá khứ của chính ta. Ta sẽ thấy được con đường tương lai của ta, một con đường trên đó ta sẽ không lặp lại những lỗi lầm và vụng dại ngày xưa. Đây là sự thực tập và ta đừng nghĩ rằng đây là lời cầu xin đối với các đấng thần linh. Sám là công nhận với bản thân là ta đã có những hành động vụng dại, thiếu chánh niệm vì thế đã gây nên đổ vỡ. Nguyện là mong muốn quyết tâm hành động để thay đổi. Bài Sám Nguyện được bắt đầu bằng một đoạn sáu câu giúp ta có thể quán tưởng, hình dung ra một khung cảnh thuận lợi cho sự thực tập sám và nguyện. Đó là khung cảnh mà trong đó chúng ta có thể thiết lập được sự truyền thông:

                          Trang nghiêm đài sen ngự tọa
                          Đại hùng từ phụ Thích Ca
                          Đệ tử lắng lòng thanh tịnh
                          Bàn tay chắp thành liên hoa
                          Cung kính hướng về Điều Ngự
                          Dâng lời sám nguyện thiết tha.

                          Chúng ta quán tưởng đức Thích Ca đang ngồi trên tòa sen. Có bàn thờ hoặc không có bàn thờ, có tượng Bụt hoặc không có tượng Bụt thì ta vẫn quán tưởng được. Đức Thích Ca đối với chúng ta như là một vị thầy, một vị cha tinh thần đầy thương yêu nên ta gọi là từ phụ. Người cha lành ấy có rất nhiều sức mạnh, sức mạnh của trí tuệ, của thương yêu và hiểu biết, chứ không phải là sức mạnh của quyền bính hay tiền bạc. Sức mạnh của đức Từ Phụ đã phát sinh từ hiểu biết và thương yêu lớn, từ sự không sợ hãi khổ đau và lỗi lầm. Sức mạnh này giúp ta biết là ta có thể vượt được khổ đau và lỗi lầm, sẽ không bị chết đuối trong đại dương của đau khổ. Đó gọi là đại hùng, là can đảm lớn. Chúng ta thường ca ngợi Bụt Thích Ca là bậc đại hùng, đại lực và đại từ bi. Chúng ta quán tưởng Đức Thích Ca hiện đang ngự tọa trên một đài sen đẹp, trang nghiêm có nghĩa là đẹp. Đài sen đó là đài sen trong trái tim chúng ta và đức Thích Ca cũng đang ngự tọa trên đài sen ấy. Ngồi bên cạnh đức Thích Ca có một vị Bụt khác cũng đang ngồi trên tòa sen, như trong kinh Pháp Hoa, Bụt Đa Bảo đang ngồi trên tòa sen và xích ra một bên để mời đức Thích Ca cùng ngồi. Hai Bụt ngồi chung. Trong trái tim ta hiện giờ cũng có hai Bụt ngồi chung, đó là Bụt Thích Ca và Bụt của chính ta, tại vì trong mỗi chúng ta đều có sẵn một vị Bụt tương lai. Tất cả chúng sanh đều là Bụt tương lai. Hai vị Bụt là một, không phải ở trong mà cũng không phải ở ngoài. Chúng ta siêu việt ý niệm trong và ngoài. Bụt Thích Ca chính là Bụt của ta, Bụt của ta chính là Bụt Thích Ca. Tọa là ngồi, ngự là chỉ sự có mặt của những bậc đại nhân, như vua hay Bụt. Khi có chánh niệm thì ta cũng đang ngự, ngự trên một tảng đá, một bãi cỏ hay trên chiếc gối ngồi thiền của ta, ngồi một cách rất đẹp đẽ, uy hùng.

                          Đệ tử lắng lòng thanh tịnh

                          Nhờ quán tưởng như vậy mà tâm ta lắng xuống, không còn bận rộn bởi những lo âu, thổn thức và giận hờn. Tâm tư ta an tịnh trở lại. Lắng lòng tức là có sự bình an, trong lòng không dậy sóng. Lắng lòng thanh tịnh là cả một sự thực tập. Chúng ta ngồi thiền, tụng kinh, thực tập hơi thở chánh niệm và lễ Bụt là để lắng lòng thanh tịnh. Tất cả những sự thực tập đó là để trái tim chúng ta lắng xuống, thanh tịnh lại. Làm cho êm dịu lại, tập trung lại, đó là chỉ, là samatha.

                          Gần Wasington DC, tại Oakton, có một trung tâm thực tập chánh niệm (Mindfulness Practice Center) nằm ngay trong thành phố. Các vị giáo thọ bên đó cho biết là mỗi khi họ tổ chức một khóa tu ở xa thành phố thì thiền sinh phải lái xe ra khỏi thành phố và đi khoảng một hai giờ đồng hồ mới tới địa điểm của khóa tu. Từ chỗ đậu xe đi vào khóa tu để ghi tên họ phải đi bộ. Khi tới được chỗ khóa tu thì tâm của họ đã lắng lại được nhiều rồi, họ đã rũ bỏ bớt được một số những lo âu phiền muộn. Họ chứng nghiệm được một ít ly sinh hỷ lạc, nghĩa là đã rời bỏ được một ít những phiền muộn trên con đường từ thành phố tới khóa tu. Những bụi bặm trong tâm đã rơi rớt ở dọc đường trong hai giờ lái xe và trong lúc đi bộ, nhờ đó cho nên khi tới nơi tâm họ đã lắng lại, đã thanh tịnh được khá nhiều. Nhưng tại MPC, Trung Tâm Thực Tập Chánh Niệm trong thành phố, thiền sinh đi thẳng từ cửa xe vào ngay trong thiền đường. Sự căng thẳng của thân thể cũng như sự căng thẳng của tâm hồn còn nhiều, vì thế họ mang vào trong thiền đường rất nhiều bụi bặm của tâm. Khi đang ngồi trong thiền đường mà có chừng năm người như vậy đi vào thì ta thấy không khí đột nhiên trở nên nặng nề ra một cách rõ ràng. Chúng ta phải thực tập lắng lòng thêm, họ cũng thực tập lắng lòng thêm thì trong vòng mười hay mười lăm phút sau, không khí thiền đường mới nhẹ ra như trước được. Tôi có đề nghị là khi tổ chức một trung tâm tu học ta phải làm thế nào để cho thiền sinh đậu xe xa thiền đường. Đậu xe rồi thiền sinh sẽ được hướng dẫn đi thiền hành ngay trên con đường từ bãi đậu xe đến thiền đường. Đi bộ thong thả theo kiểu thiền hành chừng mười lăm phút thì họ đã làm rơi rụng ở dọc đường khá nhiều những bụi bặm của cuộc sống hàng ngày, những lo lắng, những sự căng thẳng trong thân tâm họ. Con người ta nhẹ ra và ta không làm phiền đến những người đang ở trong thiền đường. Quý vị nào đang thiết kế tổ chức một trung tâm tu học, thì nên nghĩ tới điều này, rất quan trọng.

                          Lắng lòng thanh tịnh là để cho những bụi bặm của phiền não, của sự căng thẳng rơi rụng bớt và tâm ta yên lại. Khi tâm đã thanh tịnh thì ta mới có định và mới tiếp xúc được với đức Thế Tôn. Đức Thế Tôn ở trên bàn thờ và đức Thế Tôn ở ngay trong lòng chúng ta.

                          Đệ tử lắng lòng thanh tịnh
                          Bàn tay chắp thành liên hoa

                          Khi chắp tay lên, hai bàn tay của chúng ta trở thành một đóa sen. Bao nhiêu chuyện quá khứ, tương lai, và dự án đều được bỏ đi hết. Chúng ta trở về đối diện với chính mình, với đức Thế Tôn. Đó là sự thực tập. Chúng ta thực tập buông bỏ trong khi chúng ta tụng mười hai chữ ấy với hai bàn tay chắp thành liên hoa. Chúng ta làm thành búp sen và dâng lên đức Thế Tôn một đóa hoa đàng hoàng chứ không phải dâng lên một lò lửa. Chúng ta có được đóa sen đó là do sự thực tập lắng lòng mà có. Nhờ sự thực tập mà lò lửa đã biến thành hoa sen. Lò lửa biến thành đóa sen hồng, liên phát lô trung, là một hình ảnh trong thi ca Phật giáo, bông sen phát sinh từ lò lửa. Chúng ta có một lò lửa ở trong tâm nhưng cũng có một đóa sen thật tươi, thật mát trong tâm. Nếu ta biết thở và biết đi thiền hành thì lò lửa sẽ biến thành hoa sen. Đóa sen của trái tim này không héo được, vì nó không phải được mua ở ngoài chợ hay là hái ở hồ, đóa sen này sinh ra từ sự thực tập của chúng ta. Đóa sen đó làm bằng sự lắng lòng thanh tịnh. Khi muốn có một đóa sen để dâng cúng đức Thế Tôn thì chúng ta liền có.

                          Đệ tử lắng lòng thanh tịnh
                          Bàn tay chắp thành liên hoa
                          Cung kính hướng về Điều Ngự
                          Dâng lời sám nguyện thiết tha

                          Điều Ngự là một danh hiệu của Bụt, nói đủ là Điều Ngự Trượng Phu. Trượng Phu là loài người, Bụt có khả năng điều phục con người trong đó có những thành phần cứng đầu, hung dữ, khó trị.

                          Bài tụng này là về sám và về nguyện, là một cuộc đối thoại giữa chúng ta và đức Thế Tôn. Vì vậy sáu câu tụng đầu tiên này là để giúp chúng ta tạo ra được khung cảnh trang nghiêm và thanh tịnh trong đó sự đối thoại giữa chúng ta với đức Thế Tôn có thể bắt đầu được tự nhiên và dễ dàng. Ngay sáu câu đầu chúng ta đã phải thực tập cho thành công. Đó là khả năng của quán tưởng. Chúng ta quán tưởng có tòa sen, có đức Từ Phụ đang ngồi. Sự quán tưởng đó tạo ra sự thanh tịnh của trái tim, và búp sen này chính là trái tim của chúng ta để dâng lên đức Từ phụ.

                          Đoạn thứ hai của bài là một đoạn sám. Đây là đoạn sám đầu nên chúng ta có thể đánh dấu S1 (sám một). Trong đoạn này chúng ta sám tổng quát, chúng ta nhìn lại tổng quát rồi sau đó chúng ta sẽ nhìn lại những chi tiết trong những đoạn sám khác.

                          Đệ tử phước duyên thiếu kém
                          Sống trong thất niệm lâu dài
                          Không được sớm gặp chánh pháp
                          Bao nhiêu phiền lụy đã gây
                          Bao nhiêu lỡ lầm vụng dại
                          Vô minh che lấp tháng ngày
                          Vườn tâm gieo hạt giống xấu
                          Tham, sân, tự ái dẫy đầy
                          Những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng
                          Gây nên từ trước đến nay
                          Những điều đã làm, đã nói
                          Thường gây đổ vỡ hàng ngày.
                          Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng
                          Nguyện xin sám hối từ đây.

                          Đó là sự thực. Sự thực là chúng ta thiếu phước và thiếu duyên cho nên đã được gặp chánh pháp và đức Thế Tôn hơi trễ. Gặp trễ là vì phước còn ít. Duyên là những điều kiện thuận lợi đưa chúng ta tới chánh pháp. Chúng ta đã thiếu duyên rồi lại còn thiếu phước nữa. Vì thiếu duyên thiếu phước nên ta đã sống trong thất niệm một thời gian khá lâu. Chúng ta đã ngủ một giấc ngủ khá lâu, một giấc ngủ dài có thể từ năm này sang năm khác, hay là từ kiếp này sang kiếp khác. Cho đến khi được gặp chánh pháp thì giấc mơ đã quá dài, và trong giấc mơ thất niệm đó bao nhiêu lỡ lầm vụng dại đã được tạo ra, gây đau khổ cho chúng ta và cho bao nhiêu người khác. Cái không may của chúng ta là thiếu phước và thiếu duyên không gặp được chánh pháp. Ta nhận thấy rõ ràng nguyên do sâu xa nhất của đau khổ là thất niệm. Phiền lụy là phiền não và hệ lụy. Phiền não là những tâm tư đốt cháy con người và làm cho chúng ta điêu đứng như tham dục, giận hờn, si mê, ganh tỵ, sợ hãi, lo lắng và buồn phiền. Hệ lụy là những hoàn cảnh khó gỡ, những tình huống chìm đắm, vướng mắc, không thoát ra được. Hệ lụy là bị kẹt. Phiền não là những tâm hành trói buộc.Vụng dại là không khôn khéo. Dù ta không có ác ý làm cho người kia khổ, không muốn làm cho tự thân ta khổ nhưng vì vụng dại ta đã vẫn gây nên đổ vỡ. Ta không biết cách hành xử, nói năng khéo léo, chưa biết dùng lời ái ngữ cho nên đã làm đổ vỡ và gây khổ đau cho ta và cho những người khác. Lỡ lầm là những điều sai lạc ta đã làm, có khi biết là không nên làm nhưng mà vẫn cứ làm. Ai cũng vậy, ai cũng đã có những lần lầm lỡ. Bây giờ đây, trong khi tụng đọc đoạn này, ta công nhận một cách tổng quát rằng trong quá khứ ta đã có những lầm lỡ và những vụng dại.

                          Vô minh che lấp tháng ngày

                          Cái gốc của tất cả những lỡ lầm, vụng dại là vô minh, nghĩa là sự thiếu sáng suốt. Vô minh cũng là thất niệm, là bóng đêm, là sự thiếu thốn ánh sáng. Minh là ánh sáng, vô là không. Chúng ta đã sống trong bóng tối, đã sống không chánh niệm và đã bước những bước vấp ngã. Chúng ta đã để bóng tối bao trùm ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác.

                          Vườn tâm gieo hạt giống xấu
                          Tham sân tự ái dẫy đầy

                          Trong tự thân của mỗi chúng ta đều có một khu vườn với cây lành trái ngọt. Vì vô minh chúng ta đã để cho những hạt giống xấu rơi xuống vườn tâm và mọc lên quá nhiều gai góc khổ đau. Ta đọc sách, tiểu thuyết, coi ti vi, chuyện trò, giải trí và để cho vườn tâm của ta bị xâm chiếm bởi những độc tố và phiền não. Máy vô tuyến truyền hình được chúng ta tiêu thụ mỗi ngày nhiều giờ. Con cháu chúng ta còn tiêu thụ nhiều hơn. Trong thời gian đó những hạt giống xấu của những chương trình kia đi vào trong tâm thức của trẻ thơ và của chúng ta, những hạt giống bạo động, căm thù và thèm khát cứ tiếp tục được gieo và tưới tẩm. Ta không biết giữ khu vườn của ta, không biết thực tập Năm giới, cứ để vườn tâm gieo hạt giống xấu. Đó là chuyện đang xảy ra cho hàng triệu người trên thế gian. Là người có tu học ta không nên cho phép những hạt giống xấu đó gieo vào ruộng tâm thức của mình. Ta phải là những người làm vườn có ý thức. Tham, sân và tự ái là ba trong những hạt giống xấu nhất.

                          Những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng
                          Gây nên từ trước đến nay

                          Trong quá khứ, ta cũng đã gây ra những lỗi lầm, những nghiệp xấu. Cha ăn mặn thì con khát nước, điều này cũng nằm trong lý nhân quả. Cha với con không phải là hai, cha với con cùng thuộc về một dòng sống liên tục, cha làm lành thì con được hưởng, cha làm dữ thì con cũng lãnh hậu quả. Những gì tổ tiên đã làm thì chúng ta thừa tự. Trong quá khứ những nghiệp sát, đạo, dâm, vọng đã được tạo ra. Sát nghĩa là giết hại, giết hại con người và những loài khác. Đạo là tham lam, trộm cướp, sử dụng và chiếm hữu những cái không phải của mình làm ra, giành quyền lợi cho riêng mình và để cho những người khác đói khổ. Không phải chỉ trong kiếp này mà trong những kiếp trước chúng ta đã có những hành động sát, đạo, dâm và vọng. Dâm tức là tà dâm, những liên hệ tà dục tạo ra sự đổ vỡ trong gia đình, làm khổ người kia, làm tan nát đời người kia và làm tan nát chính đời mình. Có thể ông bà cha mẹ của ta đã từng làm điều đó và bây giờ ta lãnh hậu quả. Vọng là nói dối, nói thêu dệt. Lời nói dối cũng có thể giết người được, cũng có thể làm cho người ta đau khổ đến phải đi tự tử. Phần lớn khổ đau được gây ra do cái miệng. Giữ gìn được cái miệng thì hạnh phúc tăng tiến rất lớn. Trong quá khứ ta đã từng gây nghiệp vọng ngữ, đã nói năng không khéo léo, đã vụng dại gây ra những xáo trộn, nghi ngờ, đã nói những điều không cần thiết làm mất niềm tin. Tu học với nhau ta phải sử dụng chánh niệm trong lúc nói năng. Riêng chuyện giữ gìn được cái miệng và đừng bao giờ nói ra một câu nói ác ngữ đã có thể đem lại hạnh phúc nhiều lắm rồi. Chúng ta hãy thực tập nói những câu chuyện xây dựng, tạo thành những niềm vui.

                          Những điều đã làm đã nói
                          Thường gây đổ vỡ hàng ngày
                          Bao nhiêu não phiền nghiệp chướng
                          Nguyện xin sám hối từ đây

                          Những điều đã làm đã nói gây đổ vỡ là chuyện thường xảy ra. Chúng ta muốn thương yêu, muốn cho người kia có hạnh phúc, nhưng chúng ta vẫn nói và vẫn làm những điều làm cho người đó đau khổ liên miên. Chúng ta gây ra đổ vỡ. Liên hệ giữa ta với người kia càng ngày trở nên khó khăn. Khó khăn là do chúng ta đã nói và làm không chánh niệm. Ta đã gây ra những phiền não cho chính mình và cho những người khác. Những chướng ngại đó bít lấp sự truyền thông làm mất đi hạnh phúc trong đời sống hàng ngày. Ta nhận diện tất cả những thiếu kém, vụng dại, lỡ lầm, vô minh, nghiệp chướng và đổ vỡ. Nhận rõ chúng là nguyên do của khổ đau, ta sám hối với đức Thế Tôn và nguyện không làm như vậy nữa từ giờ phút này.

                          Bây giờ chúng ta đi sang phần kế tiếp gọi là S2. Đoạn này quán chiếu về liên hệ giữa ta và người khác. Phần lớn khổ đau của ta phát sinh từ liên hệ giữa ta với người thân và những người chung quanh ta. Người đó có thể là bạn hôn phối của ta hay là con của ta, hoặc cha, mẹ, anh, chị, em, thầy, hay là huynh đệ của ta. Đó là liên hệ giữa người và người.

                          Đệ tử thấy mình nông nổi
                          Con đường chánh niệm lãng xao
                          Chất chứa vô minh phiền não
                          Tạo nên bao nỗi hận sầu;

                          Nông nổi là sống cạn cợt, không tuệ giác, không tiếp xúc sâu sắc trong từng giây phút của đời sống hàng ngày, nghĩa là không có năng lượng của chánh niệm. Ta đã không có chánh niệm khi nhìn, nghe, nói và làm việc trong đời sống hàng ngày. Lãng xao là quên lãng, là không duy trì chánh niệm, không thực tập miên mật. Vì sống trong thất niệm lãng quên như vậy cho nên trong mỗi giây phút ta đều chất chứa thêm vô minh và phiền não, tạo ra thêm những nỗi oán hận và sầu đau cho ta và cho người khác. Hận là sự giận hờn, sự oán thù, và sầu là nỗi buồn đau của ta và của người kia.

                          Có lúc tâm tư buồn chán
                          Mang đầy dằn vặt lo âu

                          Có những lúc tâm tư ta bị tràn ngập bởi cái buồn và cái chán. Buồn vì không thấy niềm vui trong sự sống, ta sinh ra chán nản không còn nghị lực để đi tới. Buồn và chán là những năng lượng tiêu cực làm ta khổ đau và không còn muốn sống. Sự liên hệ giữa ta và người kia đã trở nên quá xấu, quá khó khăn và ta cảm thấy bất lực. Ta thấy hết hy vọng và tự thấy không có khả năng sống hạnh phúc nữa. Tâm tư ta buồn và chán. Chán ở đây cũng có nghĩa là hết hy vọng, muốn bỏ cuộc. Dằn vặt là hối hận, thứ hối hận không có ích lợi. Trong 51 tâm sở có tâm sở gọi là hối. Tâm sở hối này là một tâm sở bất định, vì nó có thể hoặc tốt hoặc xấu. Hối có thể là một tâm sở thiện hoặc một tâm sở bất thiện. Nó là tâm sở thiện khi nó có nghĩa là sám, là khả năng nhận diện được những lỗi lầm và quyết tâm sẽ không lặp lại. Còn nếu chỉ là mặc cảm tội lỗi đeo sát mình làm cho ta mất hết năng lượng thì nó là một tâm sở bất thiện. Mặc cảm tội lỗi làm cho ta không còn năng lượng để tu tập. Dằn vặt ở đây là sự đau khổ gây ra do mặc cảm tội lỗi. Dằn vặt là sự dày vò. Ta bị dằn vặt bởi những lỗi lầm trong quá khứ mà không vượt thoát lên được, không làm mới lại được. Lo âu cũng là một tâm hành xấu gọi là ưu. Ta sợ hãi về tương lai, ta sợ rằng những cái không tốt đẹp, không hạnh phúc sẽ xảy ra cho ta mà ta không biết làm sao để có thể ngăn chúng xảy ra. Vì không biết cách làm mới, không biết cách chuyển hóa nghiệp cũ cho nên ta cứ mãi sống trong lo âu.

                          Vì không hiểu được kẻ khác
                          Cho nên hờn giận oán cừu

                          Không hiểu được tức là không thấy được những khó khăn, những khổ đau và ước vọng của người kia. Theo giáo lý Bụt dạy, ta chỉ có thể thương khi ta đã hiểu. Hiểu biết là chất liệu cho thương yêu. Ta chưa bao giờ có thì giờ để nhìn kỹ người kia để hiểu được những khó khăn, những tập khí của người ấy. Ta không thấy được môi trường giáo dục và sinh hoạt gia đình của người ấy trong quá khứ cho nên ta mới giận hờn, buồn bực người ấy về những gì người ấy đã nói, đã làm, đã phản ứng. Muốn thương ta phải thấy và phải hiểu những khó khăn, những khổ đau và những tập khí của người ta thương. Ta phải quán chiếu để thấy tại sao người ấy có những khó khăn, những khổ đau, những tập khí đó và khi hiểu rồi thì ta có thể chấp nhận được, và ta sẽ không còn phản ứng một cách giận dữ nữa. Người kia cũng vậy, vì không hiểu được ta nên cũng đã hờn giận và oán cừu. Vì vậy thương nhau trước hết là hiểu nhau. Phải cùng nhau tu tập, phải nhờ tăng thân soi sáng để có thể hiểu được nhau. Thực tập được như vậy thì ta chấp nhận được nhau và tha thứ cho nhau rất dễ.

                          Lý luận xong rồi trách móc
                          Mỗi ngày mỗi chuốc khổ đau
                          Chia cách hố kia càng rộng

                          Đó là cái vòng luẩn quẩn trong liên hệ giữa ta với người kia. Ta thường hay lý luận để đổ lỗi cho người ấy. Ta lý luận rất hay nhưng lý luận không đưa tới kết quả gì. Vậy mà ta vẫn tiếp tục lý luận. Ta chỉ muốn dùng lý luận để giải quyết liên hệ giữa ta với người kia, dù ta biết lý luận chỉ làm cho cái hố ngăn cách giữa hai bên càng ngày càng rộng. Chúng ta phải tự nói với mình là hãy chấm dứt lý luận. Ta đã lý luận bao nhiêu năm rồi mà không thành công. Chỉ có chấp nhận và tha thứ mới có thể giúp ta thay đổi và giúp được người kia. Nếu ta chuyển hóa được thì ta sẽ bớt khổ đi nhiều lắm và người kia cũng nhờ đó mà bớt khổ. Cho nên ta quyết tâm là không lý luận nữa, và nhất là không trách móc. Muốn chuyển hóa liên hệ giữa ta với người kia, muốn thiết lập lại sự truyền thông, ta phải quyết tâm bỏ cái phương pháp lý luận và trách móc. Đó cũng là một trong năm điều nguyện ước trong nghi thức đám cưới của sách Nghi Thức Tụng Niệm Đại Toàn. “Chúng con nguyện tự nhắc nhở rằng sự trách móc, sự hờn giận và lý luận chỉ làm hao tổn hòa khí và không giải quyết được gì. Chúng con biết chỉ có sự hiểu biết và lòng tin cậy mới bồi đắp được hạnh phúc và sự an lạc.” Đó điều ước nguyện thứ tư. Không phải những người đang cưới nhau mới cần phát nguyện như vậy. Là những người sống chung với nhau, muốn có hạnh phúc, chúng ta cũng phải làm giống hệt như vậy. Không lý luận, không trách móc nữa vì mỗi lần lý luận, mỗi lần trách móc là mỗi lần tạo thêm khổ đau. Sở dĩ cái hố chia cách càng ngày càng rộng là vì lý luận và trách móc.

                          Có ngày không nói với nhau
                          Cũng không muốn nhìn thấy mặt
                          Gây nên nội kết dài lâu;

                          Điều này xảy ra rất thường. Thấy cái mặt dễ ghét quá, ta không muốn nói và không muốn nhìn nữa. Ta đã có nội kết với nhau. Trước kia ta đã nguyện thương yêu nhau, sống chung với nhau, chia xẻ tất cả với nhau, nhưng giờ đây cả hai không còn muốn nhìn thấy mặt nhau nữa, không muốn nói chuyện với nhau nữa. Đó là vì chúng ta đã gây quá nhiều khổ đau cho nhau. Rồi vì khổ đau quá nhiều nên ta có khuynh hướng trách móc, đổ lỗi cho nhau. Tôi khổ quá và tôi nghĩ rằng tất cả những cái khổ của tôi là do anh gây ra cho nên tôi ghét, tôi thù anh. Người kia cũng vậy. Sự chán ghét được thể hiện rõ ràng trên nét mặt mỗi người, vì vậy không muốn nhìn mặt nhau là điều tất nhiên. Nhìn nhau mà không hạnh phúc thì ta đâu muốn nhìn nữa. Không biết sử dụng ái ngữ nên khi nói với nhau ta cũng không có hạnh phúc và do đó ta không muốn nói nữa. Hai người cùng thầm lặng đồng ý với nhau là nên cùng nhìn về phía máy vô tuyến truyền hình cho đỡ khổ. Có một nhà văn Pháp tên là Antoine de Saint Exupery nói: ỀThương nhau không phải là nhìn nhau mà là cùng nhìn về một hướng.” Nhưng khi cả hai đều nhìn về hướng vô tuyến truyền hình và không muốn nhìn nhau nữa tức là tình trạng đã trở nên quá khó khăn. Đó là thảm kịch của không biết bao nhiêu gia đình. Có một phóng viên của tờ báo Elle, một tờ báo của phụ nữ tại Paris, tới Làng Mai sống một thời gian với các sư cô để học về phương pháp thực tập. Báo Elle bán rất chạy trong giới phụ nữ Pháp. Tôi có gặp vị ký giả này và đề nghị bà nên viết một bài thực tập để giúp cho phụ nữ Pháp. Tôi đề nghị rằng ở phòng khách của gia đình, trong khi bà với ông đang nhìn máy truyền hình, tức là cùng nhìn về một hướng, bà hãy quay về phía ông, nhìn ông và nói: “Này anh yêu của em! Anh có thể tắt cái máy truyền hình vài phút không? Em có một vài chuyện cần muốn nói với anh.” Bà phải bắt đầu sự thực tập. Cố nhiên là ông sẽ tắt máy truyền hình vì bà đã nói một cách dịu dàng khác với thường ngày. Bấy giờ, trong sự yên lặng bà nhìn ông và hỏi: “Này anh, chúng ta có phải là một cặp có hạnh phúc không?” Câu hỏi đó đã có thể được gọi là thiền rồi. Thiền là can đảm nhìn vào sự thật để tìm ra nguyên do của sự thật đó. Nhìn trực tiếp, không sợ hãi. Nhìn lại thì thấy hai vợ chồng có nhà, có xe, có tủ lạnh, có trương mục tiết kiệm, có đủ thứ, mỗi tuần có thể đi ăn tiệm một hai lần, có thể đi coi hát, vậy mà tại sao họ không có hạnh phúc? Tại vì sự liên hệ giữa hai vợ chồng đã hư xấu mất rồi, đã chứa đầy những khổ đau. Họ đã làm khổ cho nhau, đã gieo vào trong khu vườn của nhau những hạt giống rất xấu. Vì nhìn nhau và nói với nhau không có hạnh phúc cho nên cả hai phải cùng nhìn vào cái máy truyền hình cho đỡ khổ. Người đàn bà có thể hỏi một câu hỏi như thế. Này anh, chúng ta còn trẻ, chúng ta có nhiều điều kiện hạnh phúc, nhưng có thật là ta đang có hạnh phúc hay không? Nếu chúng ta không có hạnh phúc là tại vì sao? Hai chúng ta hãy thử quán chiếu lại để tìm ra những nguyên nhân của tình trạng. Nếu cả hai đồng ý rằng câu chuyện này quan trọng hơn việc coi truyền hình thì họ trở thành một cặp gọi là đồng minh trong chuyến đi tìm sự thật. Nếu thấy được sự thật là họ đã hành xử vụng dại với nhau, đã chỉ biết lý luận trách và móc nhau là họ đã thành công và họ có thể sám nguyện để bắt đầu làm mới. Làm như vậy tức là nhìn sâu để có được hiểu biết về sự thật. Có biết hiểu là có thể giúp nhau được. Nếu hai vợ chồng không có khả năng làm chuyện đó thì họ phải cần đến một người thứ ba, một người bạn. Một người bạn đã từng thực tập chánh niệm, đã từng thực tập thiền quán, đã từng thực tập hòa giải, sẽ giúp được cho hai vợ chồng trong việc thực tập làm mới. Người kia đóng vai trò của Bụt, vai trò của thầy, của thiện trí thức để giúp cặp vợ chồng này. Đôi khi không nhất thiết là cả hai vợ chồng cùng phải thực tập, có thể đọc xong bài báo là người đàn bà có thể tự mình thực tập, cộng với sự giúp đỡ khéo léo của một người bạn tu. Bởi vì sự chuyển hóa của chính mình sẽ dẫn đến sự chuyển hóa nơi người kia. Tự mình giác ngộ và từ sự giác ngộ đó mình giúp cho người bạn hôn phối của mình giác ngộ để hai vợ chồng có thể làm mới trở lại. Phải bắt đầu từ chính mình, phải học phương pháp lắng nghe với hiểu biết với từ bi, học phương pháp sử dụng ngôn từ hòa ái để có thể thiết lập lại truyền thông tại vì cả hai đều đã đánh mất khả năng lắng nghe và nói năng bằng ngôn ngữ từ ái.

                          Gây nên nội kết dài lâu

                          Nội kết là một khối đau khổ ở trong lòng. Nếu ta nhận diện được nội kết và thấy được nguyên do phát sinh ra nội kết thì đó đã là một sự giác ngộ rồi, và ta sẽ tiếp tục đi tới từ giác ngộ đó.

                          Nay con hướng về Tam Bảo
                          Ăn năn khẩn thiết cúi đầu.

                          Ăn năn là hối hận, là tâm sở thiện, là muốn làm mới. Con không muốn làm như vậy nữa, con muốn làm mới. Làm mới với tất cả trái tim của con. Con cúi đầu để phát nguyện với Bụt và với chính con rằng con muốn làm mới. Đó là kết thúc đoạn thứ ba nói về sám hối, làm mới về quan hệ giữa người với người.

                          Bây giờ chúng ta đi tới đoạn thứ tư có thể gọi là S3. Đoạn này có công năng giúp ta thấy được sự cần thiết của sự thực tập chánh niệm và sự nhận diện tập khí của riêng ta.

                          Đệ tử biết trong tâm thức
                          Bao nhiêu hạt tốt lấp vùi

                          Ban đầu ta nghĩ rằng trong ta chỉ có đau khổ, nhưng thật sự ta cũng đang có những hạt giống của hạnh phúc. Điều này rất là quan trọng. Đây là tuệ giác của Duy Biểu Học. Trong ta có những hạt giống xấu nhưng cũng có những hạt giống tốt, trong đó có hạt giống của đại từ, đại bi, đại hùng và đại lực.

                          Hạt giống thương yêu, hiểu biết
                          Và bao hạt giống an vui.
                          Nhưng vì chưa biết tưới tẩm,
                          Hạt lành không mọc tốt tươi.

                          Đây là một sự giác ngộ khác. Giác ngộ rằng trong ta có hạt tốt mà trong người kia cũng có hạt giống tốt. Người kia cũng có thể hiểu, có thể thương và cũng có thể có hạnh phúc. Nhưng trong quá khứ ta chưa bao giờ tìm cách để tưới tẩm những hạt giống ấy để chúng mọc lên và đơm hoa kết trái. Và những hạt giống tốt trong ta cũng chưa được ai tưới tẩm. Chính ta cũng không biết tưới tẩm, cho nên cả hai đều đã không có hạnh phúc. Ở Làng Mai, pháp môn tưới hoa được chỉ dạy rất thường. Ta phải tưới tẩm những hạt giống tốt mà đừng tưới tẩm những hạt giống xấu nơi ta và nơi người kia. Hai bên phải ngồi lại với nhau để ký một hiệp ước, hiệp ước sống chung an lạc. Này anh yêu của em, nếu anh thương em thì xin anh đừng tưới những hạt giống xấu nơi em. Đừng tưới tẩm hạt giống ghen tuông của em, nếu không sẽ em trở thành ra một bà chằng rất khó chịu. Không những em khổ mà em sẽ làm cho anh khổ. Trái lại, xin anh tưới giùm cho em mỗi ngày những hạt giống tốt trong em, hạt giống hiểu biết và thương yêu, những hạt giống của hạnh phúc. Em cũng có thể hiểu, có thể thương, có thể có hạnh phúc và như vậy anh cũng sẽ có hạnh phúc. Phương pháp này gọi là phương pháp tưới tẩm hạt giống một cách khôn khéo (selective watering). Ta biết là ta đang tưới hạt giống nào. Mỗi cái nhìn, mỗi hành động, mỗi lời nói đều có thể có tác dụng tưới tẩm hạt giống tốt nơi người khác. Chú ý để đừng tưới tẩm những hạt giống xấu nơi người kia. Chỉ tưới tẩm những hạt giống nơi người ấy tốt thôi, ta sẽ có hạnh phúc ngay. Nếu tưới tẩm có chánh niệm thì chỉ cần một ngày hoặc hai ngày người kia cũng đã thay đổi. Tôi xin cam kết rằng tưới tẩm một giờ đồng hồ cũng đủ cho quý vị thấy được kết quả tốt. Khi trồng hướng dương, trồng bưởi, trồng quít ta phải tưới nhiều tháng nhiều năm mới có hoa trái. Nhưng người kia rất nhạy cảm, ta chỉ cần tưới một giờ hoặc hai giờ đồng hồ là ta đã có hoa trái. Chúng ta tưới hoa bằng những lời nói dịu dàng, những hành động săn sóc, bằng ánh mắt thương yêu, bằng tuệ giác của ta. Tưới hoa ở đây không có nghĩa là nịnh nọt. Đây là nói lên sự thật, nói ra những điều tốt đẹp nơi người kia. Người kia thế nào cũng có những hạt giống tốt, những tài năng và khả năng làm hạnh phúc cho người và cho mình. Ta chỉ công nhận những hạt giống đó và tưới tẩm những hạt giống đó.

                          Tôi nhớ có lần một cặp vợ chồng ở Bordeaux về dự Phật Đản ở đây. Trong buổi pháp thoại, tôi đã giảng về phương pháp tưới tẩm hạt giống. Bà vợ khóc, hai con mắt đỏ hoe. Sau pháp thoại và thiền hành, tôi nói riêng với ông ấy “Bông hoa của anh héo rồi, anh phải tưới mới được.” Sau lễ Phật Đản, hai vợ chồng trở về Bordeaux. Người đàn ông nghe lời thầy vừa lái xe vừa thực tập tưới tẩm. Từ Làng Mai về Bordeaux đi xe hơi chỉ cần chừng một giờ hai mươi phút. Về tới Bordeaux, người đàn bà trở thành rất tươi mát. Mấy đứa con ngạc nhiên quá vì khi mẹ đi thì héo như thế mà đến khi về thì tươi như thế. Ba đưa mẹ đi và đem về cho các con một bà mẹ rất mới, rất tươi mát và hạnh phúc. Chỉ có hơn một giờ tưới hoa thôi mà kết quả đã tốt như vậy. Ta chỉ cần nói sự thật tích cực. Ta tưới hoa cho người đó và ta cũng đồng thời phải tưới hoa cho ta. Trong khi đi thiền, ngồi thiền, nấu cơm, giặt áo, tụng kinh, niệm Bụt, lễ lạy, nghe pháp và nói chuyện chúng ta hãy tưới tẩm những hạt giống tốt của chính mình và của người khác. Mỗi khi phát hiện rằng hạt giống xấu đang được tưới tẩm và phát triển, ta phải tìm cách ngăn chặn và quay sang tưới tẩm và chăm sóc những hạt giống tốt liền lập tức. Trong ta cũng có khả năng hiểu biết, thương yêu và hạnh phúc. Ta cần phải tưới mỗi ngày. Sự tưới tẩm đó ta áp dụng cho người kia và áp dụng cho ta. Ta phải có can đảm ngăn chặn sự tưới tẩm những hạt giống xấu và ngăn chặn một cách khéo léo, bằng lời ái ngữ kèm theo sự thương yêu. Cả hai vợ chồng đều cần tưới hoa cho nhau. Bởi vì nếu người này có hạnh phúc thì người kia cũng sẽ có hạnh phúc. Cả hai bên cùng ký với nhau một hiệp ước. Ta cũng ký hiệp ước với sư chị, với sư anh, với sư em của ta. Ký hiệp ước với cha, với mẹ ta và với người bạn hôn phối của ta. Đó có phải là lời nguyện mà chúng ta đã nói trong buổi ban đầu hay không?

                          Cứ để khổ đau tràn lấp
                          Làm cho đen tối cuộc đời
                          Quen lối bỏ hình bắt bóng
                          Đuổi theo hạnh phúc xa vời
                          Tâm cứ bận về quá khứ
                          Hoặc lo rong ruổi tương lai
                          Quanh quẩn trong vòng buồn giận
                          Xem thường bảo vật trong tay
                          Dày đạp lên trên hạnh phúc
                          Tháng năm sầu khổ miệt mài.

                          Những câu trên đây nói về sự tu tập. Ta sống như thế nào để có hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại. Đây là trái tim của sự thực tập chánh niệm. Trong quá khứ ta cứ nghĩ là hạnh phúc không thể nào có mặt trong hiện tại. Ta phải đi tìm hạnh phúc trong tương lai. Vì nghĩ rằng những điều kiện của hạnh phúc bây giờ chưa có đủ nên ta mới chạy đi tìm chúng trong tương lai. Hoặc là ta tiếc nuối quá khứ. Trong khi đó giáo lý của Bụt dạy là hiện pháp lạc trú. Nếu chúng ta trở về giây phút hiện tại để nhận diện những điều kiện hạnh phúc đang có mặt thì tự nhiên hạnh phúc tới liền lập tức. Nếu ta không có khả năng an trú trong hiện tại thì ta sẽ dày đạp lên những điều kiện của hạnh phúc đang có mặt. Ta sẽ quanh quẩn trong vòng buồn giận, xem thường bảo vật trong tay. Bảo vật tức là những điều kiện quí báu mà ta đang có, như tuổi trẻ, như hai mắt còn sáng, đôi chân còn khỏe mạnh của mình. Tất cả những cái đó đều có khả năng giúp ta có hạnh phúc. Trở về giây phút hiện tại, ta nhận ra những yếu tố của hạnh phúc đang có mặt chung quanh ta. Nếu ta nhận diện được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt trong hiện tại thì ta sẽ không dày đạp lên trên những điều kiện hạnh phúc đó và tháng năm sẽ không sầu khổ miệt mài như trong quá khứ. Vì vậy những câu này là ánh sáng chiếu soi cho ta để ta biết chấm dứt chuyện bỏ hình bắt bóng, kẹt vào quá khứ, rong ruổi về tương lai, biết trở về với hiện tại để nhận diện hạnh phúc đang có thật trong hiện tại.

                          Gìờ đây trầm xông bảo điện
                          Con nguyện sám hối đổi thay.

                          Sám hối cũng có nghĩa là đổi thay, đổi thay cũng có nghĩa là sám hối. Tóm lại trong đoạn S3 này, chúng ta được học là phải thực tập như thế nào, phải làm như thế nào để không gây ra khổ đau nữa. Dùng ánh sáng chánh niệm chiếu vào để thấy rõ ràng rằng là chúng ta cần phải thực tập tưới tẩm những hạt giống tốt đẹp ở trong ta và trong người kia. Chúng ta cần phải trở về để học sống trong giây phút hiện tại, nhận diện được những điều kiện hạnh phúc đang có mặt để có thể sống theo phương pháp Bụt dạy là hiện pháp lạc cư, sống hạnh phúc ngay trong giờ phút hiện tại, không cần phải có thêm một điều kiện nào nữa. Những điều kiện chúng ta đang có là đủ để có hạnh phúc rồi.

                          Hai đoạn tiếp theo chúng ta gọi là N1 và N2. N tức là nguyện. Sau khi đi qua phần thực tập sám, ta đi tới phần nguyện. Trong hai đoạn này ta sẽ thấy rõ cái gì cần phải làm, ta mở lời thề nguyện cam kết với ta, cam kết với Bụt, cam kết với người kia, dầu người kia không có mặt ở đó, là ta sẽ làm theo lời nguyện này. Phần thứ nhất có thể gọi là N1 và phần thứ hai gọi là N2. Phần thứ nhất N1 chú trọng về năng lượng của tha lực và N2 chú trọng tới năng lượng của tự lực. Nguyện tức là mong ước, là quyết tâm, là cầu thỉnh. Trong phần N1 này chúng ta mong ước và cầu thỉnh Tam Bảo Bụt, Pháp và Tăng yểm trợ để chúng ta có thể làm mới được một cách hữu hiệu. Nguyện là một năng lượng rất lớn trong con người chúng ta, với năng lượng đó chúng ta có thể làm được rất nhiều chuyện. Khi ta đã thấy được con đường và quyết tâm đi trên con đường đó, trong người chúng ta sinh ra rất nhiều năng lượng. Sám có công năng làm phát sinh năng lượng của Nguyện trong ta. Thực tập sám mà năng lượng của nguyện tràn đầy trong con người thì đó là thực tập thành công.

                          Đệ tử tâm thành quy ngưỡng
                          Hướng về chư Bụt mười phương
                          Cùng với các vị Bồ Tát
                          Thanh văn, Duyên giác, Thánh hiền
                          Chí thành cầu xin sám hối

                          Sự thực tập sám hối của chúng ta được đặt trong khung cảnh của sự chứng minh, hộ niệm và nâng đỡ của chư Bụt và chư Bồ tát. Các vị Bụt và các vị Bồ tát ngày xưa cũng đã từng làm ra lầm lỡ và các vị cũng đã biết ngưng lại, làm mới và phát nguyện đi trên con đường sáng ngời. Chúng ta hôm nay cũng làm như thế. Đã từng gây ra những lầm lỡ, bây giờ chúng ta quyết định chấm dứt những lầm lỡ đó và bắt đầu làm mới. Chúng ta cũng làm như chư Bụt và chư Bồ tát ngày xưa đã từng làm, sự kiện đó đưa chúng ta lại gần Bụt và Bồ tát, vì chúng ta là đương sự. Trong khung cảnh sám hối, ta thiết lập được liên hệ truyền thông với tất cả vị Bụt và Bồ tát trong ta và chung quanh ta. Năng lượng của ta là năng lượng cá nhân nhưng đồng thời cũng là năng lượng của tập thể, hai loại năng lượng nương vào nhau mà hình thành cũng giống như là cộng nghiệp và biệt nghiệp. Một cá nhân đang thực tập trong Tăng thân có thể chế tác năng lượng, nhưng Tăng thân cũng đang chế tác năng lượng. Nếu phối hợp được năng lượng của cá nhân vào năng lượng của Tăng thân và thừa hưởng được năng lượng ấy thì sự thành công sẽ rất lớn lao. Ta đóng góp vào năng lượng của Tăng thân bằng sự thực tập cá nhân và ta thừa hưởng năng lượng Tăng thân để cho năng lượng cá nhân được lớn. Tự lực luôn luôn đi đôi với tha lực, trong tự lực có tha lực, trong tha lực có tự lực. Vì vậy đoạn N1 tuy nói về tha lực nhưng cũng có phần tự lực và đoạn N2 tuy nói về tự lực nhưng cũng có phần tha lực; tự lực và tha lực ôm lấy nhau.

                          Cùng với các vị Bồ tát
                          Thanh văn, Duyên giác, Thánh hiền

                          Chúng ta đang hướng về chư Bụt mười phương. Các bậc giác ngộ bằng xương bằng thịt đang có mặt. Bụt là một vị Bồ tát và Bồ tát là một vị Bụt hiện tại hoặc tương lai. Bồ tát là những hữu tình, những chúng sanh, những con người đang thực tập giác ngộ, đang đi tới quả vị giác ngộ. Giác hữu tình hay hữu tình giác. Bồ tát là tiếng gọi tắt của Bồ Đề Tát Đỏa, Bodhisattva, có hai nghĩa: giác hữu tình và hữu tình giác, một chúng sanh đã giác ngộ và đang giúp người khác giác ngộ. Thanh văn tức là đoàn thể của những người xuất gia được trực tiếp nghe Bụt giảng dạy và hướng dẫn tu học. Duyên giác là các bậc tu hành không cần nghe giảng dạy khai thị mà vẫn có thể tự mình quán chiếu nguyên lý duyên sinh mà giác ngộ, có khi gọi là độc giác, tức là tự giác ngộ không cần có sự khai thị giúp đỡ của người khác. Thánh hiền tức là những bậc giác ngộ nằm trong phạm trù bốn đôi và tám bậc giải thoát. Đó là những người đã và đang đi trên con đường tới quả thứ nhất hay là đã đạt được quả thứ nhất, những người đang đi trên con đường đi tới quả thứ hai và những người đã đạt tới quả thứ hai, những người đang đi trên con đường tới quả thứ ba và những người đã đạt tới quả thứ ba, những người đang đi trên con đường tới quả thứ tư và những người đã đạt tới quả thứ tư tức là quả A La Hán. Đó gọi là bốn đôi, chia ra thành tám bậc thánh quả, tất cả đều gọi là Thánh hiền. Quả gần nhất là Nhập Lưu hay là Dự Lưu, tham dự vào trong dòng thánh. Khi thọ giới, bắt đầu thực tập niệm, định và tuệ thì ta đã được tham dự vào dòng thánh quả, tuy chưa đạt được quả thứ nhất nhưng đang đi trên con đường tới quả thứ nhất. Dự Lưu là tham dự vào dòng sông giác ngộ đang tuôn chảy về biển giác ngộ. Dự lưu cũng được gọi là Nhập lưu. Dự là tham dự. Nhập là đi vào. Chúng ta ít nhất cũng là những người đã tham dự vào dòng giác ngộ và đang được gọi là nhập lưu hướng. Khi đã hoàn toàn có mặt trong dòng sông đang xuôi chảy về biển cả thì ta sẽ đạt tới quả Dự lưu. Ai cũng là dự lưu hướng cả, nhưng có người đã đạt thành dự lưu quả, biết rõ ràng mình không bao giờ còn đi lui trở lại. Ví dụ chúng ta đi ra Ga St Foy la Grande, để lấy vé tàu TGV đi Paris. Chúng ta có nguyện là đi tới Paris, tuy chưa leo lên tàu nhưng ta biết rằng ta sẽ leo lên tàu, tại vì ta đã có vé rồi và có chủ định muốn đi Paris. Nếu có ai mời ở lại uống trà hoặc đi chơi ta cũng không ở lại. Không ai kéo ta ra khỏi việc đi Paris được là vì trong ta đã có nguyện và có năng lượng đi Paris. Khi đã leo lên tàu TGV, ta biết xe lửa này sẽ tới Paris trong vòng ba giờ đồng hồ và khi xe bắt đầu chuyển bánh thì ta đã bắt đầu nhập lưu nghĩa là sẽ không trở lui nữa. Tham dự vào rồi thì sớm muộn gì cũng tới. Nhập lưu hướng thế nào cũng đưa tới nhập lưu quả. Với quyết tâm đó chúng ta tham dự vào dòng thánh. Nếu tu học tinh chuyên ta sẽ đạt tới cả bốn quả. Tăng thân gồm những người thuộc về bốn đôi và tám bậc thánh quả, có những người đã đạt tới quả A La Hán. Ở đây chữ Thánh hiền có nghĩa là những bậc nằm trong bốn đôi và tám quả. Thanh văn, Duyên giác, Thánh hiền cũng là những người đã từng làm ra lầm lỗi và đã từng sám hối, đã từng phát nguyện và đã tu học thành công. Chúng ta giờ đây cũng đi theo bước chân họ.

                          Chí thành cầu xin sám hối

                          Chí thành là với tất cả sự thành thật và sự khẩn thiết ở mức độ cao nhất. Xin các vị chứng minh cho con. Ngày hôm nay con nguyện làm mới, nguyện không làm lặp lại những điều lỡ lầm ngày xưa, xin quý vị hãy chứng minh và yểm trợ cho con. Chúng ta cầu tới năng lượng của Thánh hiền và của Tăng thân để chúng ta có thể làm trọn việc này. Tăng thân của chúng ta là một thực tại, không phải là một ý niệm mơ hồ, gồm có những người đã từng làm lầm lỡ nhưng đã từng sám hối, phát nguyện và đang đi trên con đường chuyển hóa và giác ngộ, Tăng thân là chuyện có thật. Nương vào năng lượng này không phải là chuyện cầu xin mê tín. Ngồi trong Tăng thân ta thấy vững chãi hơn là khi ngồi một mình. Tại sao vậy? Tại vì Tăng thân phát ra năng lượng và khi ngồi trong Tăng thân ta tiếp nhận được năng lượng đó. Chúng ta có Tăng thân địa phương và cũng có Tăng thân mười phương. Trong Tăng thân địa phương có thể có những người đã đạt tới thánh quả và trong Tăng thân mười phương chắc chắn có rất nhiều người đạt tới thánh quả trong đó có quả vị La Hán, quả vị Bồ tát, quả vị Bụt. Chúng ta phải biết lợi dụng sự có mặt của Tăng thân trong mười phương, nương vào năng lượng của Tăng thân ấy để ta có thể đi mau trong việc chuyển hóa và trị liệu. Cũng như khi ta có quyết tâm đi Paris, ta sẽ đi Paris bằng cách này hay cách khác. Có những chiếc tàu chợ có thể dừng tại nhiều ga nhưng có những chiếc tàu như TGV đưa chúng ta tới rất mau chóng. Tăng thân cũng như vậy, trong Tăng thân có những vị Bụt và Bồ tát có khả năng giúp đỡ ta tới được mục đích giác ngộ và giải thoát rất mau. Bụt, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác và Thánh hiền là những thực tại có thật trong cuộc đời, là những người đã từng đau khổ, đã từng sám hối và phát nguyện. Vì vậy trong sự thực tập chúng ta phải biết lợi dụng năng lượng của các vị ấy trong mười phương. Đó là ý nghĩa của phần N1 này; nương vào năng lượng của tha lực để thực tập. Trong ánh sáng của năng lượng đó ta muốn được chứng minh là ta đã quyết tâm làm mới lại và sẽ không lặp lại những lỗi lầm ngày xưa. Ta cần sự chứng minh của Tăng thân và của chư Bụt, chư Bồ tát và chư Thánh hiền. Điều này rất là quan trọng, vì tuy một mình ta, ta cũng có thể làm mới và có thể phát nguyện được, nhưng khi ta phát nguyện và làm mới trong sự có mặt của một Tăng thân lớn gồm có Bụt, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác và Thánh hiền thì năng lượng sẽ tăng lên gấp bội. Cũng như khi chúng ta tiếp nhận Năm Giới quý báu với sự có mặt và chứng minh của một Tăng thân đông đảo thì năng lượng của Năm Giới phát hiện hùng hậu ở trong ta. Ở ngoài đời mỗi khi làm đám cưới người ta mời bạn bè tới để chứng kiến sự phối hợp. Sự có mặt của đông đảo bạn bè và gia đình hai bên là năng lượng giúp cho sự cam kết của họ được vững mạnh. Ở đây cũng vậy, sự tu hành, sự phát nguyện của ta cần được đặt dưới sự chứng minh và hỗ trợ của chư Bụt, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác và Thánh hiền. Vì vậy sám hối và phát nguyện trong khung cảnh của Tăng thân thì ta mới dễ thành công. Tăng thân địa phương và Tăng thân mười phương có mặt cùng khắp ở trong vũ trụ cho chúng ta.

                          Chí thành cầu xin sám hối
                          Bao nhiêu lầm lỡ triền miên
                          Xin lấy cam lồ tịnh thủy
                          Tưới lên dập tắt não phiền

                          Triền là trói lại, buộc lại, miên là kéo dài. Trong quá khứ ta đã gây ra lầm lỡ nhưng không phải một lần, mà nhiều lần. Vì ta đơn độc nên thất bại này đã đi theo thất bại khác. Bây giờ nhờ có Tăng thân nên ta được nâng đỡ, ta có thể chấm dứt được những lầm lỡ đó và chúng sẽ không còn kéo dài. Chư Bụt, chư Bồ tát, La hán, Thanh văn và Duyên giác có sự thanh tịnh, có lòng từ bi; đó là chất liệu cam lộ tịnh thủy ở trong lòng của quý vị. Đó là đại trí và đại bi, đó là nước mầu nhiệm. Chúng ta mở trái tim mình ra để xin chư Bụt, chư Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác, Thánh hiền rưới vài giọt nước cam lộ ấy vào trong trái tim đang nóng hổi bốc cháy của ta. Trái tim ta tự nhiên dịu lại. Cam lồ tiếng Phạn là amrta, có khả năng dập tắt phiền não, có khả năng làm cho cây khô héo trở thành cây xanh tươi, làm cho một người chán chường trở nên người có năng lượng, biến sự chết thành sự sống. Thiền đường trong đó chúng ta đang ngồi tên là thiền đuờng Cam Lộ.

                          Xin lấy con thuyền chánh pháp
                          Đưa con vượt nẻo oan khiên

                          Chúng ta thường chìm đắm trong biển khổ đau và sinh tử. Tăng thân và đoàn thể các vị Bụt, Bồ tát, Thanh văn, Duyên giác và Thánh hiền là chiếc thuyền giúp ta vượt biển khổ đau và sinh tử đó. Khi có thuyền, ta chắc chắn sẽ không còn bị chìm đắm trở lại. Chừng nào còn nương vào Tăng thân thì chừng đó ta còn có thuyền.Giờ phút ta rời Tăng thân là ta rời bỏ chiếc thuyền, đánh mất năng lượng bảo hộ vững chắc và những nguy hiểm chìm đắm có thể xảy ra. Vì vậy ai cũng phải quay về nương tựa Tăng thân.

                          Tăng thân đang thực tập theo chánh pháp, vì vậy Tăng thân cũng là con thuyền chánh pháp. Sự thực tập của ta mà yếu đi thì ta có thể chìm đắm, nhưng con thuyền Tăng thân có đủ vững chãi để chuyên chở ta. Trong quá khứ ta đã đi về những nẻo khổ đau oan ức, nhiều khi ta không mở miệng mà diễn tả được những oan khổ ấy; bây giờ nhờ có con thuyền Tăng thân mà ta ra khỏi vùng tủi nhục, oan ức và hệ lụy để đi tới nơi hạnh phúc và tự do. Vì vậy tha lực trước hết được ví như cam lộ tịnh thủy có khả năng dập tắt những não phiền trong tâm, rồi lại được ví như một chiếc thuyền chở chúng ta ra khỏi nẻo hệ lụy và oan khiên. Tất cả chúng ta ai cũng đều cần tới tha lực ấy.

                          Xin nguyện sống đời tỉnh thức
                          Học theo đạo lý chân truyền

                          Đây là lời hứa của chúng ta. Ta đem tự lực này cầu tha lực kia. Cũng như đài phát thanh đang phát ra những chương trình, và tín hiệu của đài phát thanh có mặt khắp nơi trong không gian, nhưng ta phải có một máy thu thanh mở đúng luồng sóng điện thì mới nhận được tín hiệu và nghe được những buổi phát thanh. Ở đây cũng vậy, năng lượng của chư Bụt, chư Bồ tát và chư Thánh hiền đang phát ra rất hùng hậu và chúng ta phải đem máy thu thanh của chúng ta ra, tức là sự thực tập tự lực, thì mới có thể tiếp thu được những nguồn năng lượng ấy. Do đó phần tự lực rất quan trọng. Không có chút tự lực nào thì ta không thể nào hưởng được năng lượng của Bụt và Bồ tát. Niệm Bụt, đi thiền hành, thực tập chánh niệm là ta đặt ta vào trong vùng năng lượng của Bụt và Bồ tát để tiếp nhận được năng lượng lớn của Bụt và Bồ tát. Bụt và Bồ tát không phải là những thần linh trong tưởng tượng, đó là những người bằng xương bằng thịt đã và đang sống quanh ta, những người đã từng đau khổ, đã từng tu tập và đã thoát ra khỏi những khổ đau đó. Mỗi khi ta có niệm, định, tuệ và hướng về nguồn năng lượng của các vị thì ta tiếp nhận được năng lượng ấy. Nhờ tự lực ta tiếp nhận được tha lực, và tha lực ôm lấy tự lực, do đó tha lực với tự lực nương vào nhau mà có mặt.

                          Xin nguyện sống đời tỉnh thức
                          Học theo đạo lý chân truyền

                          Vì lâu nay sống thất niệm nên ta đã bỏ rơi rớt mất đi những gì quý báu đã được tổ tiên trao truyền lại. Có một nền đạo lý đã được truyền lại cho ta từ 2600 năm về trước, đạo lý đó là truyền thống của Bụt Thích Ca Mâu Ni. Đạo lý ấy đã được nhiều thế hệ truyền lại một cách chân chính, không bị bóp méo, không bị biến hình. Cốt tủy của giáo lý đó vẫn còn nguyên vẹn, không bị hiểu lầm và xuyên tạc, nên gọi là chân truyền.

                          Thực tập nụ cười hơi thở
                          Sống đời chánh niệm tinh chuyên

                          Thực tập hơi thở và nụ cười chánh niệm trong đời sống hàng ngày là chuyện mà tất cả chúng ta đều có thể làm. Trong những tư thế đi, đứng, nằm, ngồi và làm việc ta đều có thể đặt ta vào trong chánh niệm. Có niệm có định thì thế nào cũng có tuệ. Nhờ vậy mà chúng ta dự được vào dòng thánh, tiếp nhận được năng lượng của Bụt và Bồ tát. Tinh chuyên có nghĩa là không lười biếng.

                          Bây giờ chúng ta đi sang đoạn chót của bài Sám Nguyện, đoạn N2, là sự thực tập phát nguyện nương nhiều vào tự lực. Chúng ta sẽ thấy rõ ràng những điều mà chúng ta phát nguyện, làm theo và sống theo.

                          Đệ tử xin nguyền trở lại
                          Sống trong hiện tại nhiệm mầu

                          Đây là lời phát nguyện muốn buông bỏ những luyến tiếc hay ray rứt về quá khứ, những lo lắng và sợ hãi về tương lai. Có những lúc ta sống mà cứ luyến tiếc về quá khứ, tự hỏi tại sao mặt trời trong quá khứ đẹp hơn bây giờ, đời sống trong quá khứ đẹp hơn bây giờ. Đó là tâm trạng của những người luyến tiếc quá khứ, không tin rằng sự sống trong giây phút hiện tại cũng đẹp và cũng đáng sống. Thái độ sống đó không phải là thái độ sống của người có chánh niệm. Lại có lúc ta nghĩ rằng chỉ có trong tương lai ta mới hy vọng có hạnh phúc, ta chạy đi tìm hạnh phúc ở tương lai. Đó cũng là một thái cực khác mà chúng ta cần phải buông bỏ. Sự thực tập của chúng ta là hiện pháp lạc trú (drstadharma sukhavihara). Nguyên tắc đầu tiên là phải trở lại sống trong giây phút hiện tại. Nếu ta trở về được trong giây phút hiện tại, thân tâm nhất như, thì ta sẽ tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự sống có mặt trong giờ phút hiện tại. Mặt trời cũng còn sáng rỡ, bầu trời vẫn xanh, chim vẫn hót và những phép lạ của sự sống vẫn còn có trong ta và chung quanh ta. Ta trở về với hiện tại thì ta tiếp xúc được với sự sống. Ta phải làm chuyện đó trong mỗi giây phút của đời sống hàng ngày. Đây không phải là một sự hứa hẹn. Ngồi trong thiền đường, ta phải có an lạc hạnh phúc ngay trong khi ngồi trong thiền đường. Khi ăn cơm ta phải có an lạc ngay trong khi ăn cơm. Làm thức ăn sáng cho Đại chúng hay rửa bát, ta phải có mặt trong những giây phút đó để cho giây phút đó trở thành niềm vui. Bất cứ ngày nào cũng phải là một ngày hội, bất cứ giờ nào trong đời sống hàng ngày cũng là để ca ngợi, để ăn mừng sự sống, thì hạnh phúc sẽ có mặt liền lập tức. Tiếp xúc với sự sống, đó là phương pháp của chúng ta. Chúng ta tiếp xúc với sự sống trong khi ngồi thiền, khi đi thiền hành, rửa bát, nấu cơm, giặt rửa, trong khi thở, trong khi nói cười. Mỗi giây phút ta đều tiếp xúc được với sự sống. Đây là điều ta có thể làm được với điều kiện là ta buông bỏ được quá khứ, buông bỏ được những nỗi sợ hãi lo lắng và hy cầu về tương lai. Chỉ có khi nào hiện tại khổ quá ta mới hy cầu về tương lai mà thôi, nếu hiện tại có hạnh phúc thì tại sao ta phải hy cầu tương lai? Bỏ hiện tại tức là bỏ sự sống, tại vì sự sống chỉ có mặt trong giây phút hiện tại mà thôi.

                          Vườn tâm ươm hạt giống tốt
                          Vun trồng hiểu biết thương yêu

                          Tâm ta là một khu vườn và trong khu vườn phì nhiêu đó mỗi ngày ta nên ươm trồng hạt giống tốt, hạt giống của hiểu biết, của thương yêu, của tha thứ. Chuyện này ta thực tập hàng ngày. Ta đọc sách là để vườn tâm của ta được tiếp nhận những hạt giống tốt, còn nếu đọc sách mà để cho những hạt giống của nghi ngờ, chán nản và buồn bã rơi vào trong tâm thức thì đó là chúng ta đã làm không đúng. Nói chuyện cũng vậy, trong khi nghe một người bạn nói chuyện mà những hạt giống của sự bực bội, chán nản và nghi ngờ được gieo vào trong tâm thức là ta không làm đúng theo phương pháp vườn tâm ươm hạt giống tốt. Nói chuyện thị phi của người khác rất dễ gieo vào tâm thức ta những hạt giống xấu. Trong khi sử dụng máy vô tuyến truyền hình, sách vở, nghe những câu chuyện hàng ngày, ta có thể gieo vào tâm những hạt giống xấu hoặc những hạt giống tốt. Chúng ta quyết tâm chỉ gieo những hạt giống tốt mà thôi. Hai hạt giống tốt quan trọng nhất có trong ta là hạt giống hiểu biết và hạt giống thương yêu. Chúng ta phải tưới tẩm chúng mỗi ngày.

                          Ta thực tập như một người làm vườn, chịu trách nhiệm về khu vườn của mình. Ta nhất định không gieo vào vườn tâm những hạt giống của sự nghi ngờ, buồn phiền và ganh tị. Mỗi lời nói, mỗi hành động của người kia có thể gieo vào trong vườn tâm của ta những hạt giống xấu. Chúng ta là những người cùng thực tập với nhau, ta phải cam kết với nhau là sẽ chỉ gieo cho nhau những hạt giống tốt, trước hết là hạt giống hiểu biết và thương yêu. Em sẽ giúp chị vun trồng những hạt giống hiểu biết và thương yêu nơi chị, chị sẽ giúp em vun trồng và tưới tẩm những hạt giống hiểu biết và thương yêu nơi em. Hai chị em thực tập như vậy là hai chị em làm ra hạnh phúc cho tất cả mọi người. Nguyên tắc thực tập là thế.

                          Xin nguyện học phép quán chiếu
                          Tập nhìn tập hiểu thật sâu
                          Thấy được tự tánh các pháp
                          Thoát ngoài sinh tử trần lao

                          Bốn câu này nói về pháp nhìn sâu, là bản chất và cốt lõi của thiền tập. Thiền tập gồm có hai phần, chỉ và quán; chỉ là dừng lại, quán là nhìn sâu vào đối tượng để thấy được bản chất đối tượng thiền quán của mình. Hai câu đầu trong phần N2 là hiện pháp lạc trú:

                          Đệ tử xin nguyền trở lại
                          Sống trong hiện tại nhiệm mầu

                          Đó là lời phát nguyện, là một quyết tâm thực hiện, quyết tâm sống sâu sắc trong từng giây phút của đời sống hàng ngày. Sống tỉnh thức, còn nếu để cho quá khứ ám ảnh, tương lai lôi kéo thì chúng ta không đi theo được lời phát nguyện và sự hành trì của chúng ta. Hai câu kế tiếp:

                          Vườn tâm ươm hạt giống tốt
                          Vun trồng hiểu biết thương yêu

                          Nói về phép tưới tẩm hạt giống tốt, đặc biệt là hạt giống thương yêu và hiểu biết. Bốn câu tiếp theo:

                          Xin nguyện học phép quán chiếu
                          Tập nhìn tập hiểu thật sâu
                          Thấy được tự tánh các pháp
                          Thoát ngoài sinh tử trần lao

                          Thuộc về quán chiếu: tập trung tâm ý và nhìn sâu. Khi thực tập sống mỗi giờ phút trong chánh niệm ta chế tác năng lượng của chỉ. Và khi dùng định lực và ánh sáng chánh niệm chiếu vào đối tượng là ta thực tập nhìn sâu. Đó là quán. Sự thực tập chánh niệm giúp cho chúng ta sống từng giây phút của đời sống hàng ngày một cách sâu sắc. Tưới cây, làm vườn, ăn cơm, giặt áo, lau nhà đều phải làm trong chánh niệm để chúng ta có thể sống được sâu sắc những giây phút trong đời sống hàng ngày. Thực tập như vậy thì niệm lực và định lực của ta sẽ mạnh. Khi niệm và định mạnh rồi thì chúng ta có thể nhìn sâu để thấy rõ được tự tánh của các pháp. Tự tánh của các pháp là vô thường, vô ngã và niết bàn. Nhìn vào bất cứ hiện tượng nào như là cơ thể của ta hay là cái buồn, cái giận, bông hoa hay đám mây mà có niệm và định thì ta có thể thấy được tự tánh của các pháp. Trước hết là tự tánh vô thường, rồi tới tự tánh vô ngã và sau hết là tự tánh niết bàn. Niết bàn tức là tự tánh không sinh không diệt. Chỉ khi nào thấu hiểu được, tiếp xúc được với tự tánh không sinh không diệt thì ta mới đạt tới giải thoát hoàn toàn. Bốn câu này nói rõ chương trình tu học của ta. Đó là quán chiếu. Chúng ta quán chiếu không phải chỉ trong giờ ngồi thiền. Chúng ta thực tập quán chiếu khi ta nấu cơm, rửa bát, giặt áo hoặc tưới cây. Tại vì chính trong những hành động đó mà chúng ta thực tập niệm và định. Có niệm và có định thì thế nào cũng có tuệ nghĩa là có kết quả của sự quán chiếu. Tuệ là hoa trái của quán chiếu. Tuệ giác là cái thấy sâu sắc về tự tánh của các pháp. Đó là lý do căn bản để chúng ta sống cuộc đời của người tu. Thấy được tự tánh các pháp rồi thì mới thoát ngoài sinh tử trần lao. Trần là bụi bặm. Lao là sự khổ nhục, sự giam giữ làm ta mất hết năng lượng, gây ra mệt mỏi và ràng buộc. Giam hãm trong cuộc đời đầy bụi bặm gọi là trần lao. Ta trôi lăn trong sinh tử. Mục đích của sự tu học là thoát ngoài vòng sinh tử, vòng ràng buộc, đạt tới hiểu biết lớn và thương yêu lớn. Thấy được tự tánh các pháp rồi thì tự nhiên ta sẽ thoát ra khỏi vòng sinh tử và trần lao.

                          Nguyện học nói lời ái ngữ
                          Thương yêu chăm sóc sớm chiều
                          Đem nguồn vui tới mọi nẻo
                          Giúp người vơi nỗi sầu đau.

                          Bốn câu kế tiếp này nói tới kết quả của sự thực tập của ta đối với những người khác, nói tới chí hướng độ người và gây hạnh phúc cho người. Xin nguyện nói lời ái ngữ. Ai cũng có thể nói lời ái ngữ được, nói lời ái ngữ thì tự nhiên đời sống tươi đẹp lên liền lập tức, giống như một phép lạ vậy. Trong ca dao Việt Nam có câu:

                          Lời nói không mất tiền mua,
                          Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

                          Ta không cần mất công sức gì nhiều, chỉ cần học nghệ thuật nói lời ái ngữ là đã có thể tạo ra không biết bao nhiêu hạnh phúc ở trong gia đình, trong xã hội hoặc trong đoàn thể tu học của mình. Ta phải viết vào trong nhật ký, phải phát nguyện là mỗi ngày sẽ nói lời ái ngữ bao nhiêu lần. Nếu liên hệ giữa ta với người kia không được tốt lắm thì nhất định ta phải tập nói ái ngữ với người ấy nhiều hơn cho đến khi mối liên hệ trở nên tốt đẹp. Chuyện này ai cũng có khả năng làm. Thương yêu người khác không phải là chỉ nói ở ngoài miệng. Thương yêu còn phải được biểu lộ trong sự chăm sóc hằng ngày nữa. Ta thương anh, thương em, thương chị ta thì phải tỏ lộ được sự thương yêu và sự chăm sóc ấy. Ta phải quán chiếu để hiểu những khổ đau của người kia và nếu ta hiểu được những khổ đau của người ấy rồi thì ta sẽ không còn vô tình hoặc dại dột mà cứ chạm vào những hạt giống khổ đau của người ấy. Tránh không động chạm vào những khổ đau, trái lại ta phải giúp người ấy tiếp xúc với những hạt giống hạnh phúc có mặt trong chiều sâu tâm thức của người ấy.

                          Đem nguồn vui tới mọi nẻo
                          Giúp người vơi nỗi sầu đau.

                          Đây là chuyện hiện tại, không phải là chuyện tương lai. Ta đang thực tập trong hiện tại. Nhiều khi ta không cần phải đi đâu xa vì những người khổ đau đã tìm tới với chúng ta. Khi có một người khổ đau tìm tới thì ta lại có một cơ hội để giúp người bớt khổ. Đừng nghĩ rằng những người khổ toàn là những người dễ thương, nói rất dễ thương và làm rất dễ thương. Bởi vì nếu họ đã biết nói dễ thương và làm dễ thương thì họ đâu đã bị khổ đau đến nước ấy. Tại vì họ đã nói không dễ thương và làm không dễ thương cho nên họ mới có nhiều khổ đau. Nhiều khổ đau cho nên họ mới tìm tới chúng ta. Vì vậy chúng ta cần giúp họ. Những người nói dễ thương và làm dễ thương đâu cần ta giúp, tại vì thân, khẩu và ý của họ đều tốt và cuộc đời của họ đã có hạnh phúc rồi. Vì vậy khi tới với ta mà người ấy khó chịu, nói năng không dễ thương, hành xử không dễ thương thì ta biết đó chính là cơ hội để ta giúp người vậy. Có như thế ta mới đóng được vai trò của Đức Bồ Tát Quán Thế Âm, đem nguồn vui tới mọi nẻo, không phân biệt. Ta tu học, ta có niềm vui và muốn đem chia xẻ với mọi người. Tu như thế nào để ta trở thành một hồ nước trong. Ta gặp sư anh thì sư anh vui, gặp sư chị thì sư chị vui, gặp sư em thì sư em vui, tại vì ta là hồ nước trong và nước trong hồ của ta được phân phát cho tất cả những con rạch xung quanh. Không nên nói rằng tôi chỉ để dành nước trong cho con rạch này thôi, còn các con rạch kia dễ ghét quá tôi không muốn cho nước trong của tôi chảy về phía đó. Phải phân phát đồng đều và làm sao để nước trong có thể chảy vào được hết tất cả các con rạch.

                          Đền đáp công ơn cha mẹ
                          Ơn thầy, nghĩa bạn dày sâu.

                          Hai câu này nói về sự thực tập báo ân. Chúng ta thực tập báo ân ngay trong hiện tại. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở, mỗi nụ cười của ta đều là một hình thức đền đáp lại ơn thầy, ơn cha mẹ, ơn bè bạn. Chúng ta có bốn ơn là ơn cha mẹ, ơn thầy, ơn bạn và ơn chúng sanh. Ta đừng nghĩ rằng sau khi tu học thành tài rồi ta mới đền đáp được ơn đức ấy. Không! Ta có thể đền ơn ấy ngay trong đời sống hàng ngày bằng sự thực tập của ta. Ta tu hành cho vững chãi thì tự nhiên gia đình của ta vững ra và có hạnh phúc liền lập tức. Mỗi bước chân, mỗi hơi thở của ta là một sự đầu tư vào hạnh phúc của bốn giới đó. Giới thầy, giới cha mẹ, giới bạn hữu và giới chúng sanh. Thành ra ta là một người đầy ân tình, sống có ân có tình và chỉ cần thực tập cho vững chãi và có hạnh phúc thì tự nhiên ta đền đáp được công ơn của cha mẹ, của thầy, của bạn và của chúng sanh trong mỗi giây phút của đời sống.

                          Mười bốn câu trên biểu lộ công trình tu tập gọi là tự lực. Trong chúng ta không ai mà không làm được những điều này. Hễ muốn là làm được và làm với sự yểm trợ của những người cùng tu với ta, rất cụ thể. Ta biết bài sám nguyện này không phải là một bài cầu xin, không phải là sự thực tập xin tội hay rửa tội mà là một bài quán chiếu để ta có cơ hội nhìn rõ tình trạng và thấy rõ được con đường đi của mình. Con đường của chư Bụt, Bồ tát và các vị Thánh hiền đã đi. Sau khi đọc xong bài này năng lượng trong ta tăng tiến rất nhiều. Và ta sẽ đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng và tiếp xử thế nào để có thể thực hiện được chương trình đó.

                          Tín thành tâm hương một nén
                          Đài sen con nguyện hồi đầu

                          Tâm hương là hương giới, định và tuệ. Hương mà chúng ta dâng lên phải là hương đốt từ trái tim mới được. Hương đốt từ trái tim không phải hương trầm, hương chiên đàn mà ta mua ở ngoài chợ. Tâm hương này tức là sự thực tập hàng ngày của chúng ta. Trong đời sống hàng ngày mà có giới, có định và có tuệ thì chúng ta mới có tâm hương để dâng lên chư Bụt và chư vị Bồ Tát. Tâm hương đó là nén tâm hương tín thành. Tín là niềm tin rất vững chãi. Thành là sự thành khẩn của mình. Chúng ta tin tưởng một cách vững chãi và thành thật là con đường mà ta đã chọn là con đường sáng và ta dâng lên Tam Bảo nén tâm hương giới, định và tuệ của ta. Dâng lên bằng tất cả niềm tin và sự chí thành. Ta không tin Bụt như một vị thần linh ban phúc và trừ tai họa, mà tin Bụt là thầy của mình. Chúng ta tin pháp như là con đường đưa tới hạnh phúc. Tin chắc rằng nếu làm được những điều đã nguyện thì hạnh phúc sẽ có được ngay hôm nay và cũng sẽ có trong ngày mai. Đó gọi là tín, chánh tín, không phải là mê tín. Chúng ta hoàn toàn tin tưởng và thật lòng nghĩ như vậy. Với niềm tin vững chãi và lòng chí thành, chúng ta hướng về đài sen, tức là về hướng Bụt đang ngự tọa, cũng chính là nơi trái tim của mình. Chúng ta muốn quay về đài sen chứ không muốn trở lại hầm lửa. Hầm lửa là địa ngục còn đài sen là nơi tươi mát. Hồi đầu tức là quay đầu trở lại.

                          Nguyện đức từ bi che chở
                          Trên con đường đạo nhiệm mầu.
                          Nguyện xin chuyên cần tu tập
                          Vuông tròn đạo quả về sau.

                          Chúng ta có niềm tin nơi con đường, đang đi trên con đường và xin đức Thế Tôn che chở cho chúng ta. Đó là con đường đạo rất nhiệm mầu. Chúng ta hứa sẽ tu tập một cách tinh chuyên, để cho hoa trái của sự giác ngộ và hạnh phúc được thực hiện một cách viên mãn, tròn đầy. Chữ Hán là viên thành, viên thành đạo quả. Viên là tròn. Thành tựu một cách trọn vẹn gọi là viên. Thành tức là thực hiện. Ở đây chúng ta không dùng chữ viên, mà dùng chữ vuông. Vuông tròn cũng là một hình ảnh của sự toàn mỹ. Vuông thì thật là vuông, tròn thì thật là tròn. Đạo quả tức là hoa trái của sự thực tập. Chúng ta tin rằng hoa trái của sự thực tập sẽ tròn đầy trong tương lai. Đây là niềm tin vững chắc của chúng ta. Tin vững chắc là vì những điều ta kể ra đó toàn những điều ta có thể làm được.

                          Tiếp theo bài này là bài chú Diệt Tội. Thất Phật Diệt Tội Chơn Ngôn, Chân Ngôn Diệt Tội Của Bảy Đức Bụt. Bảy đức Thế Tôn đem năng lượng vĩ đại của các vị để ôm lấy ta và giúp ta chuyển hóa. Sau đó tới bài kệ sám hối:

                          Con đã gây ra bao lầm lỡ
                          Khi nói khi làm, khi tư duy
                          Đam mê, hờn giận và ngu si
                          Nay con cúi đầu xin sám hối
                          Một lòng con cầu Bụt chứng tri
                          Bắt đầu hôm nay nguyền làm mới
                          Nguyền sống đêm ngày trong chánh niệm
                          Nguyền không lặp lại lỗi lầm xưa.

                          Bài kệ này tóm tắt lại tất cả những điều ta đã quán chiếu trong bài sám nguyện. Ta công nhận một sự thật. Sự thật về những gì ta đã gây ra khi nói, khi làm, khi tư duy. Đó là ba nghiệp: thân, khẩu và ý. Sự thật về đam mê, hờn giận và ngu si của chính ta. Ta nhận diện đó là động lực chính gây ra những lầm lỡ. Ta muốn chấm dứt, muốn thật sự làm mới. Ta cầu Bụt chứng tri cho ta. Chứng và biết gọi là chứng tri, Bụt làm chứng cho ta và biết cho ta. Cũng vì vậy mà ta đã tới trước bàn thờ Bụt, trước tăng thân để sám hối. Một lòng là nhất tâm, tức là thân tâm được thu nhiếp vào trong định. Ta nguyện làm mới, nhất định làm mới. Chữ nguyền đồng nghĩa với chữ nguyện. Chữ nguyện là tiếng Hán Việt, chữ nguyền là tiếng Việt. Sự làm mới đó chúng ta bắt đầu ngay hôm nay, ngay từ giờ phút này và liên tục để không lặp lại lỗi lầm xưa. Đó là trái tim của sự thực tập, đó là sự cam kết. Chúng ta làm được sự cam kết này là nhờ có tăng thân giúp đỡ. Ngày xưa ta đã từng cam kết rồi nhưng ta đã không làm được tại vì không có tăng thân giúp đỡ, ngày hôm nay thì khác vì ta đang có Tăng thân cùng thực tập và nâng đỡ cho ta.

                          Nam mô Bồ Tát Cầu Sám Hối.

                          Hành động làm mới đó là bản chất của một vị Bồ Tát, là tên của một vị Bồ Tát. Chúng ta chính là vị Bồ Tát đó.

                          Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm
                          Tâm tịnh còn đâu dấu lỗi lầm
                          Sám hối xong rồi lòng nhẹ nhõm
                          Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong.

                          Đây là tuệ giác rất cao của đạo Bụt về vấn đề làm mới. Tất cả những lầm lỗi đều do tâm mà ra. Tâm không chánh niệm gây ra đam mê, hờn giận, ganh ghét, ngu si v.v… Giáo lý này cho ta thấy rõ rằng tất cả những lầm lỗi và những vọng tưởng đều xuất phát từ tâm ta. Nếu đã do tâm mà sinh ra thì những lỗi lầm đó cũng có thể do tâm mà chuyển hóa, cũng như vấp ngã ở đâu thì ta chống ở chỗ đó mà đứng dậy. Những lỗi lầm nào do tâm gây ra thì sẽ từ tâm mà chuyển hóa. “Tội tùng tâm khởi tương tâm sám”. Tội tức là những lầm lỗi. Tội từ tâm sinh ra thì đem tâm mà làm mới. Làm mới trong đạo Bụt không giống như làm mới trong những truyền thống khác. Trong các truyền thống khác có thể là cầu một đấng thần linh tha tội hoặc rửa tội cho ta, nhưng ở đây ta không cầu một đấng thần linh nào làm chuyện đó. Ta biết rằng tội lỗi từ tâm mà ra, nếu ta trở về để chuyển hóa nội tâm thì tự nhiên tội lỗi sẽ tiêu biến. Ta cầu Bụt, cầu Bồ Tát và Tăng thân có mặt là để chứng tri cho ta, để cho sự thực tập trở nên vững chãi. Chứng tri và yểm trợ cho ta, nhưng do chính tâm của ta mới có thể chuyển hóa được tội. Tội tùng tâm khởi tương tâm sám. Tương tức là đem ra. Đây là một giáo lý rất mầu nhiệm. Khi tâm đã chuyển hóa rồi thì tội lỗi tan biến hết như khi mặt trời chiếu trên tuyết thì tuyết sẽ tan. Ta sẽ không còn mặc cảm tội lỗi nữa. Có những người ăn năn, hối hận suốt đời, họ không có niềm vui là vì họ không biết rằng muốn làm cho những lầm lỗi đó tiêu tan đi thì phải chuyển hóa tâm mình. Chuyển hóa tâm, làm mới tâm thì lầm lỗi sẽ tan. Điều này các nhà tâm lý trị liệu cần phải học để có thể giúp cho các bệnh nhân. Làm mới sẽ phát hiện một nguồn năng lượng rất lớn trong con người của ta và chính nguồn năng lượng đó sẽ làm tiêu tan những mặc cảm tội lỗi của quá khứ. Ta sẽ có rất nhiều niềm vui tại vì bắt đầu từ ngày hôm nay trở đi ta tạo được niềm vui cho không biết bao nhiêu người. Người đã bị ta làm khổ sẽ mỉm cười ở trong ta, sẽ tha thứ cho ta. Những dấu vết lỗi lầm không còn nữa và lòng ta nhẹ nhõm. Làm mới xong thì tâm ta nhẹ nhàng. Có những người làm mới một buổi, có những người làm mới luôn bảy ngày, có người làm mới luôn 21 ngày và sau thời gian thực tập họ trở thành một con người mới có nhiều tự do. Tự do như mây trên trời. Hình ảnh ở đây rất đẹp. “Bạch vân tự khứ lai”: Ngàn xưa mây bạc vẫn thong dong. Một đám mây bay thảnh thơi trên không gian, tự mình đi hay tới, thong dong không ai xô đẩy hoặc kềm thúc. Đó là trạng thái của tâm ta sau khi đã làm mới.